Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
vietbac  
#1 Posted : Tuesday, January 14, 2014 10:43:53 AM(UTC)
vietbac

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 2/22/2012(UTC)
Posts: 54
Location: vietbac

Was thanked: 38 time(s) in 25 post(s)
Việt Bắc xin phép để nêu lên vấn đề về luật đối mà bác Toquoc đã tham khảo ( Posted - 11/09/2001) trong Diễn Đàn của Việt Báo:

Luật đối


Câu đối là hai vế câu đặt sóng đôi,cân xứng về số chữ,loại chữ;nghịch nhau về ý và thanh giọng.

a) Cân xứng về số chữ, bắt buộc: Vế ra bao nhiêu chữ,vế đối bắt buộc phải theo đúng từng chữ ấy,chỗ ngắt câu,chấm phẩy,xuống dòng(nếu có).

Có những câu đối ngắn,như: Trưa chưa? - Chưa trưa <> Trúng chúng ?- Chúng trúng.

Có những câu đối dài , như:

Có là bao,ba vạn sáu ngàn ngày được trăm lần Tết
Ước chi nhỉ, một năm mười hai tháng cả bốn mùa Xuân


b) Cân xứng về tự loại :

Danh từ đối với danh từ,động từ đối với động từ, tĩnh từ đối với tĩnh từ.v.v...

Thực tự(trời, đất,cây cỏ...) đối với thực tự; hư tự (thế,mà,vậy,ru.) đối với hư tự, chữ nho đối với chữ nho, chữ nôm đối với chữ nôm; chữ Tây đối với chữ Tâỵ

Ngoài ra nếu chữ trong vế ra nói về màu sắc,chữ trong vế đối cũng nên nói về màu;hoa quả xứng với hoa quả;t hời tiết cân xứng với thời tiết.

Thí dụ :

Cô Hồng cởi áo cô Hồng trần
Anh Bạch vén quần anh Bạch đái


Hồng <>Bạch : màu sắc
áo <> quần: y phục,danh từ/danh từ

c) Đối về ý, bắt buộc: xanh<>đỏ;đêm <> ngày; sáng<> tối; v.v...
Lựu phun lửa hạ <> Mai chào gió đông

d) Đối về thanh giọng: những chữ thanh bằng (dấu huyền và không dấu) đối với những chữ

Thanh sắc (dấu sắc,hỏi ,ngã ,nặng).

Trong thí dụ trên(Cô Hồng cởi áo cô Hồng trần, Anh Bạch vén quần anh Bạch đái), nếu thay các chữ "anh" trong vế đối bằng "cụ" thì chỉnh cả về thanh giọng, hay hơn.

e) Đối về ẩn ý: đây là phần quan trọng nhất để quyết định mức độ hay hoặc xuất sắc của vế đối.

Thí dụ : Trong truyện Trạng Quỳnh,khi sứ Tàu chột bụng đánh rắm (trung tiện) một tiếng rồi ra vế:

Lôi động Nam bang (sét đánh nước nam). Để trả đũa,Trạng Quỳnh vén quần đái ngay trước mũi thuyền sứ rồi đối : Vũ quá Bắc hải (mưa qua biển Bắc ), vừa đối về ý đen lẫn ý bóng .

Phân loại câu đối

a) Câu tiểu đối: Mỗi vế có 4 chữ trở xuống.

Thí dụ :

Đau quá đòn hằn
Rát hơn lửa bỏng


b) Câu đối thơ: Theo thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
Thí dụ :
Ngũ ngôn

Áo đỏ lấm phân trâu
Dù xanh che dái ngựa

Thất ngôn

Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn


c) Câu đối phú: Làm theo lối đặt câu của thể phú.

-Câu song quan,từ 5 đến 9 chữ đặt liền:

Con ruồi đậu mâm xôi đậu
Cái kiến bò đĩa thịt bò


- Câu cách cú ,mỗi vế hai câu,một ngắn một dài

Ngói đỏ lợp nghè/ lớp trên đè lớp dưới
Ddá xanh xây cống/hòn dưới nống hòn trên


- Câu gối hạc (hay hạc tất),mỗi vế gồm 3 đoạn trở lên,đoạn giữa ngắn (như chân con hạc)

Áo vải thô nặng trịch/lạnh làm mền,nực làm gối/bốn mùa thay đổi bấy nhiêu
Khăn lau giắt đỏ lòm/giải làm chiếu,vận làm quần/một bộ ăn chơi quá thú


toquoc



Phép Làm Câu Đối

Câu đối - Câu đối là những câu văn đi đôi với nhau. Đối tức là ngẫu, mà ngẫu nghĩa là đôi. Vậy đối tức là một đôi. Hằng ngày ta nói đôi đũa, đôi giày hoặc tốt đôi, đẹp đôi đều là gốc ở từ đối mà ra cả.

Liễn - Trong các loại thơ, văn, các câu đi đôi với nhau đều gọi là Liễn.

Từ Liễn là do ở chữ Liên đọc trạnh ra. Ta thường dùng tu Liễn để chỉ hai bức dài bằng lụa hoặc giấy bồi, dưới và trên đều có trục tròn để viết câu đối vào rồi treo lên tường hoặc cột. Khi nói một đôi liễn tức là chỉ một đôi câu đối viết vào giấy đỏ.

Người Tàu thường dùng hai chữ doanh liên hay doanh thiếp để chỉ câu đối và có nghĩa là Liễn hay dán ở cột.

Vế câu đối - Nói tới câu đối là có hai câu và mỗi câu gọi là một vế.

Khi tự mình làm lấy cả hai câu (hai vế) muốn phân biệt câu nọ với câu kia, thì người ta thường gọi một vế là vế trên và một vế là vế dưới.

Khi người ta làm một vế, để cho mình làm vế kia thì vế người ta làm gọi vế ra, Vế mình đáp gọi là vế đối.

Số tiếng (chữ) trong câu đối. - Đúng ra có thể đối từ một tiếng (chữ) trở lên đến nhiều tiếng (chữ)

Những câu đối từ ba tiếng trở xuống một tiếng thường gọi là tiểu đối.

Những câu đối năm tiếng hay bảy tiếng, thuộc về thể thơ nên gọi là câu đối thơ.

Những câu đối bốn tiếng hay sáu tiếng cũng gọi là câu đối thơ vì thơ cũng có lối tứ ngôn là lục ngôn, nhưng những câu ấy có thể không theo luật thơ.

Những câu đối tám tiếng thì cho thuộc về thể thơ hay thể phú cũng được.

Những câu đối từ chín tiếng trở lên thuộc về thể phú (song quan, cách cú) nên gọi là câu đối phú.

Câu đối phú thường chia ra làm hai đoạn, hoặc đoạn trên ngắn bốn, năm tiếng, đoạn dưới dài bảy, tám tiếng. Hay trên dài bảy, tám tiếng và dưới ngắn bốn, năm tiếng cũng được.

Những câu đối dài tới 60, 70 tiếng trở lên đều thuộc hạng câu đối phú.

Những câu đối dài bất cứ mấy tiếng, mà lấy những chữ có sẵn ở trong sách ra để đối lại thì gọi là câu đối súc.


Luật bằng trắc

Đúng lý ra thì cứ tiếng vế ở bên này thuộc âm bằng, thì vế bên kia phaỉ là âm trắc. Hoặc ngược lại, tiếng bên này thuộc âm trắc, thì tiếng vế bên bia phải âm bằng

Tôi tôi vôi
Bác bác trứng


Vế trên Tôi tôi vôi đều thuộc âm bằng, vế dưới Bác bác trứng đều thuộc âm trắc.

Lác đác mưa sa làng Hạ vũ
Ỳ ầm sấm dậy đất Xuân Lôi

Lác đác vần trắc đối với Ỳ ầm vần bằng
Mưa sa làng vần bằng đối với sấm dậy đất vần trắc
Hạ vũ vần trắc đối với xuân lôi vần bằng.

Tuy nhiên cái luật bằng trắc không bao giờ cũng phải bắt buộc nhất định như thế. Lắm khi ở trong một câu đối, vần bằng ở vế trên, cũng có thể đối với vần bằng vế dưới. hoặc vần trắc vế trên, vế dưới cũng có thể đối vần trắc được.

Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
Nhân tình trắng thế lại bôi vôi


Thiên âm bằng,đối với Nhân cũng băng ầm.
Xác âm trắc, đối với trắng cũng âm trắc mà vẫn coi là được.

Những câu đối thơ thì luật bằng, trắc cũng theo như luật bằng trắc ở hai câu thực ( 3 và 4 ) hoặc hai câu luận ( 5 và 6 ) và "Nhất, Tam, Ngũ bất luận " nghĩa là tiếng thứ nhất, thứ ba, thứ năm có thể được miễn trừ, không phải theo đúng luật bằng trắc.

Những câu đối từ tám tiếng trở lên, không còn thuộc về thể thơ mà cũng chưa hẳn vào thể phú, nên luật bằng trắc có khi theo thể thơ, có khi theo thể phú

Thánh tổ bảo thánh tôn ra mở nước
Thần hồn nát thần tính chạy về nhà


Hai vế này cho là theo thể thơ được, vì nó thuộc về thể thơ Bát ngôn và đi suốt một hơi, thì chỉ cốt ở tiếng cuối câu đúng luật bằng trắc là được.

Mười rằm trăng náu mười sáu trăng treo;
Tháng chạp sấm ra tháng ba sấm dậy


Hai vế trên lại coi như thể phú, vì người ta có thể ngắt ra làm hai đoạn và chấm câu. Cho dấu phẩy sau tiếng “náu” và tiếng “ra” mà hai tiếng ấy phải theo đúng luật bằng trắc cũng như hai tiếng ở cuối hai vế, vế trên và vế dưới mới được.

Những câu đối mà mỗi vế có từ chín tiếng trở lên, thì những tiê'ng ở cuối mỗi đoạn có thể đánh dấu phẩy hay những tiếng ở cuối vế ( câu ) phải theo luật bằng trắc cho đúng.

Mở khép càn khôn, có ra tay mới biết !
Ra vào tướng tướng, thử liếc mắt mà coi !


Mỗi vế trên đây có hai giai đoạn, có thể đánh dấu ngắt câu ( , ) và các tiếng khôn, biết ở vế trên. Cũng như các tiếng tướng, coi ở vế dưới phải theo đúng luật bằng trắc.

Cũng nên để ý rằng trong mỗi vế, nếu tiếng cuối đoạn trên thuộc âm bằng thì tiếng cuối đoạn dưới phải là âm trắc. Trái lại ở trên âm trắc, thì ở đoạn dưới phải thuộc âm bằng.

Như câu thí du trên, tiếng khôn ở cuối đoạn trên ( vế trên) thuộc âm bằng thì tiếng biết ở cuối đoạn dưới ( vế trên ) nhất định phải là âm trắc.

Tiếng tướng ở cuối đoạn trên ( vế dưới ) là âm trắc thì tiếng coi ở cuối đoạn dưới ( vế dưới ) cũng nhất định phải là âm bằng.

Những câu đối phú mà hoặc đoạn trên, hoặc đoạn dưới có bảy tiếng thì đoạn bảy tiếng đó theo đúng luật bằng, trắc như ở trong những câu thơ thất ngôn.

Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại
Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi!


Như hai vế đối trên đây, đoạn dưới bảy tiếng là thiên hạ đổ dồn hai mắt lại và đối với anh hùng chỉ có một ngươi thôi đều đã theo đúng luật bằng, trắc của thơ.

Những câu đối phú chia làm nhiều đoạn, nếu những tiếng cuối của bao nhiêu đoạn trên mà thuộc âm bằng. Thì tiếng cuối cua ûđoạn sau cùng phải thuộc về âm trắc, Trái lại những tiếng cuối của bao nhiêu đoạn trên đều là âm trắc thì tiếng cuối ở đoạn sau cùng lại phải thuộc về âm bằng:

Đám công danh có chí thì nên; ơn làng giấy trắng ơn vua giấy vàng; chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên; ngôi tiên chỉ cũng là rất đáng!

Nhờ phúc ấm sống lâu lên lão; anh cả bàn năm anh hai bàn sáu; đãn tiểu tử xênh xang múa trước; tranh tam đa ai khéo vẽ nên!


Mỗi vế trên đây được chia thành bốn đoạn. Ở vế trên, ba tiêng cuối của ba đoạn trước là nên, vàng, trên đều thuộc về âm bằng nên tiếng dáng ở cuối đoạn sau cùng ( cũng như cuối vế ) phải thuộc âm trắc.

Ở vế dưới, ba tiếng cuối của ba đoạn trước là lão, sáu, trước đều thuộc về âm trắc cho nên tiếng nên ở cuối đoạn sau cùng ( cũng như ở cuối vế dưới) lại thuộc về âm bằng

Những câu đối dài năm, bảy mươi tiếng cũng theo luật bằng, trắc như những câu đối phú. Nghĩa là những tiếng cuối các đoạn có thể chấm câu, đều phải dùng bằng đối với trắc hoặc trắc đối với bằng.

Tuy nhiên cũng có khi, người ta không theo đúng như thế. Nhưng cần nhất là, tiếng đứng trước dấu châm câu ở trước đoạn cuối cùng, thế nào cũng phải giữ cho đúng với luật bằng trắc mới được.

Khổ độc - Khổ độc có nghĩa là khó đọc. Đọc không xuôi tai, như trong một vế, đáng lý phải dùng âm bằng, mà ta lại dùng âm trắc. Hoặc phải dùng âm trắc, mà ta lại xài âm bằng. Thì đọc nghe không xuôi tai, khó nghe tức là khổ độc.

Mười mấy khóa còn gì; nhờ trời có phúc có phận;
Năm mươi tuổi thành tài, mừng ông càng dẻo càng dai


Vế trên, tiếng ở cuối đoạn gì đã thuộc âm bằng rồi, vậy mà vế dưới tiếng ở cuối đoạn vẫn xài âm bằng là tài cũng thuộc âm bằng nữa nên đọc không xuôi tai nên, gọi là khổ độc.

Thất luật - Trong một câu đối mà tiếng cuối cùng ở vế trên đã là âm trắc rồi. Tiếng cuối cùng của vế dưới cũng lại là âm trắc nữa. Hoặc tiếng cuối cùng ở vế trên là âm bằng rồi, mà tiếng cuối cùng của vế dưới cũng lại là âm bằng nữa thì gọi là thất luật.

Lúa tám, gặt chín tháng một
Nồi tư, mua năm quan sáu


Vế trên tiếng cuối cùng là một đã là âm trắc rồi. Vế dưới tiếng cuối cùng là sáu cũng lại âm trắc nữa. Nên câu đối này coi như là thất luật.

Câu đối do chính mình làm cả hai vế, thì vế tiếng cuối cùng bao giờ cũng phải thuộc âm trắc. Vì thế, cho nên khi treo câu đối lên tường, hay dán vào cột nhà và cột cổng. Phải chú ý mà treo vế trắc về phía tay phải, ( tay mặt ) vế bằng về phía tay trái của người đứng ở ngoài mà trông vào đọc câu đối, mới đúng cách.

-------

Edited by user Tuesday, January 14, 2014 10:48:36 AM(UTC)  | Reason: Not specified

NNT  
#2 Posted : Thursday, February 13, 2014 7:55:52 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,899
Man
Location: USA

Thanks: 1899 times
Was thanked: 3725 time(s) in 1946 post(s)
Thân gởi tới quí vị thêm 1 tài liệu về câu đối rất xúc tích :

http://www.vietthuc.org/2012/11/17/51178/


Câu Đối Trong Văn Học Việt Nam
Trần Bích San, TS. Trần Gia Thái
November 17, 2012

Dân tộc Việt Nam từ thượng cổ đã tổ chức thành xã hội và sinh sống ở vùng đất Bắc Kỳ và miền cực bắc Trung Kỳ ngày nay. Trong lúc nước ta còn ở trình độ bán khai thì bị Trung Hoa đô hộ hơn một nghìn năm (từ 207 TTL đến 939 STL). Với chủ trương đồng hoá của người Tàu tất nhiên chúng ta không thể tránh khỏi bị ảnh hưởng sâu xa về chính trị, xã hội, tôn giáo, luân lý, phong tục, và nhất là phương diện văn học.

Sau khi Ngô Quyền đánh tan quân nhà Nam Hán trên sông Bạch Đằng, lấy lại được nền độc lập vào năm 939, nước ta vẫn bị lệ thuộc Trung Hoa về phương diện tư tưởng và văn hóa. Chữ Tàu (còn gọi là chữ Hán hay chữ Nho) được dùng làm văn tự của quốc gia trong việc học hành, thi cử, luật lệ, giấy tờ. Kinh, Truyện (Tứ Thư, Ngũ Kinh), sử sách (Bắc Sử, Cổ Văn) của Tàu được dùng làm sách giáo khoa.

Sĩ phu theo đạo Nho, học chữ Hán, thi cử, viết văn bằng chữ Nho, trước tác thơ văn cũng theo các thể văn và lề luật của văn chương Tàu. Cuối thế kỷ thứ 13, Hàn Thuyên sáng tác thi ca bằng chữ Nôm (chữ Việt được biến chế từ chữ Nho) tạo được phong trào viết văn bằng chữ Việt. Nhờ vậy, từ đó về sau mới có thêm nhiều tác phẩm bằng chữ Nôm, nhưng đa số các thể thơ văn đều phỏng theo của Tàu, chỉ có một số ít là của riêng nước ta. Thi ca tuy làm bằng chữ Nôm nhưng làm theo phép tắc thơ Tàu, niêm luật phỏng theo thơ Tàu, thi pháp của ta tức là thi pháp Tàu. Cho tới khi có Chữ Quốc Ngữ, nền văn học lịch triều đã bị văn hóa Trung Hoa ảnh hưởng nặng nề không những về đường tư tưởng mà còn về các thể văn nữa.

CÁC THỂ VĂN

Các thể văn mượn của của Tàu gồm 3 loại:

1. Vận văn: (vận = vần) loại văn có vần gồm thơ Đường Luật, thơ Cổ Phong, Cổ Phú, Đường Phú và Văn Tế.

Vận văn có vần ở câu cuối, hầu hết thi phú chữ nôm đều theo Đường cách. Bài phú sớm nhất của ta hiện còn là về đời Mạc. Văn tế theo thể Đường phú chỉ thấy xuất hiện vào thời nhà Tây Sơn.

2. Biền văn: (biền = 2 con ngựa đi sóng nhau) loại văn không có vần nhưng có đối gồm các thể Câu Đối, Tứ Lục (Chiếu, Hịch, Cáo), Văn Sách, Kinh Nghĩa (lối hát cổ).

Biền văn là loại văn có đối trong câu. Các loại biền văn có rất ít trong văn chữ Nôm. Hai thể văn sách và kinh nghĩa chỉ còn mấy bài của Lê Quí Đôn nhưng tựa như ông làm để đùa cợt với lối văn khoa cử. Thể tứ lục có vào thời nhà Tây Sơn được dùng trong chiếu, cáo, hịch.

3. Tản văn: (Tản = không bị kiềm thúc, tự do) không có vần cũng không cần phải đối, tức là văn xuôi.

Các thể văn của riêng nước ta đều thuộc về văn vần gồm có: lục bát, song thất và các biến thể của 2 loại này là hát nói, sẩm, lý, hề, điên, về tuồng có nói lối.

ĐỐI TRONG THƠ VĂN

Định Nghĩa:

Đối là 2 chữ, câu, hoặc đoạn văn đi sóng đôi với nhau cân xứng cả về ý lẫn lời.

Luật Đối:

Phép đối, một đặc tính của văn Tàu, đóng vai trò rất quan trong trong nền văn học lịch triều nước ta. Ngoài các chữ đối nhau còn có các câu hoặc đoạn văn đối nhau. Không những trong vận văn và biền văn bị bắt buộc phải dùng phép đối, mà ngay cả tản văn tuy không bắt buộc, nhưng đôi khi cũng phải dùng đến cho câu văn được cân đối, xuôi tai, êm ái, du dương.

1. Đối Ý: hai ý tưởng cân xứng nhau, chẳng hạn như trong bài “Chiều Hôm Nhớ Nhà” của Bà Huyện Thanh Quan, câu 3 & 4 là hai cảnh cân xứng trong buổi chiều tà, một bên là hình ảnh vài cánh chim bay về tổ đối lại với một bên là người lữ khách tha hương bâng khuâng nhớ nhà:

Ngàn mai lác đác chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà

2. Đối Chữ: gồm có đối về thanh của chữ và đối về loại của chữ:

- Đối về thanh: vần bằng đối với vần trắc, và ngược lại, vần trắc đối với vần bằng. Trong thể thơ các chữ trong câu đều phải đối về thanh, nhưng trong thể phú, chỉ cần đối một vài chữ theo lệ đã định về thanh mà thôi.

- Đối về loại: hai chữ phải cùng một loại, có 2 loại: một là thực tự (chữ nặng) như trời đất, cây cỏ, nhà cửa, ao vườn…hai là hư tự (chữ nhẹ) như các chữ thì, là, mà, vậy, ru…Thực tự phải đối với thực tự, hư tự phải đối với hư tự. Nói cách khác, 2 chữ đối nhau phải cùng một tự loại: danh từ đối với danh từ, tĩnh từ đối với tĩnh từ, trạng từ đối với trạng từ, động từ đối với động từ… Nếu có chữ Nho thì chữ đối cũng phải là chữ Nho. Thí dụ: câu 5 & 6 trong bài “Đi Thi” của Trần Tế Xương:

Lộc nước cũng nhờ thêm giải ngạch
Phúc nhà may được sạch trường qui
(giải ngạch đối với trường qui)

Nếu 2 câu mà đối được cả về ý lẫn chữ thì được gọi là đối chỉnh hay đối cân.

VẾ CÂU ĐỐI

Vế câu đối là một trong các thể văn của Tàu. Câu đối chữ Nho là Doanh Thiếp hay Doanh Liên (Doanh = cột, Thiếp = mảnh giấy có viết chữ, Liên = đối nhau) là hai câu văn đi sóng đôi với nhau cân xứng cả về ý, chữ, và luật bằng trắc.

Vế câu đối gồm có 2 câu đi song song, mỗi câu là 1 vế. Nếu câu đối do một người làm thì câu trước gọi là vế trên, câu sau gọi là vế dưới. Nếu do hai người làm thì câu của người làm trước gọi là vế ra, câu của người làm sau đáp lại gọi là vế đối. Chữ Nho hay chữ Nôm khi viết từng chữ thì các nét đi từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, nguyên câu thì viết và đọc từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Do đó, khi treo câu đối thì vế trên (hay vế ra) treo bên tay phải, vế dưới (hay vế đối) treo bên tay trái (phải hay trái của người đứng nhìn vào 2 câu đối).(1)

I. CÁC THỂ VÀ LUẬT CỦA VẾ CÂU ĐỐI

Vế câu đối không hạn chế số chữ, dài ngắn thế nào cũng được, gồm 3 thể chính sau:

1.a. Thể Tiểu Đối: câu đối có 4 chữ hoặc ít hơn:

Đông Tây! Đông Tây!
Vắng khách! vắng khách (2)

1.b. Luật Tiểu Đối:
Bằng đối với trắc và ngược lại: bắt buộc vần của chữ cuối vế trên phải ngược lại với vần của chữ cuối vế dưới. Nếu tất cả các chữ của 2 vế cùng đối nhau về bằng trắc thì tốt nhất.

2.a. Thể Câu Đối Thơ: câu đối làm theo thể thơ ngũ ngôn (5 chữ) hoặc thất ngôn (7 chữ).
- Thể ngũ ngôn:

Áo đỏ lấm phân trâu
Dù xanh che dái ngựa
(Xiển Bột)

- Thể thất ngôn:

Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bước thì vương
(Cao Bá Quát)

2.b. Luật Câu Đối Thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của 2 câu thực (3 &4), hoặc 2 câu luận (5 & 6) trong lối thơ ngũ ngôn và thất ngôn.

Lưu ý: nếu thấy câu đối thơ nào không theo luật thơ ngũ ngôn và thất ngôn thì những câu ấy làm theo luật bằng trắc của thể câu đối phú. Thí dụ như câu dưới đây tuy là thất ngôn nhưng không theo luật thất ngôn mà làm theo thể câu đối phú:

Nước trong leo lẻo cá đớp cá
Trời nắng chang chang người trói người

3.a. Thể Câu Đối Phú: làm theo lối đặt câu của thể phú, có 3 loại:

A. Song Quan: (Song quan = hai cửa) là câu đối có từ 6 đến 9 chữ:

Đồ chuyên trà ấm đất sứt vòi
Cuộc uống rượu be sành chắp cổ
(Nguyễn Công Trứ, Hàn Nho Phong Vị Phú)

Miệng nhà quan có gang có thép
Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm
(Trạng Quỳnh)

Trói chân kỳ ký tra vào rọ
Rút ruột tang bồng trả nợ cơm (3)
(Nguyễn Công Trứ)

B. Cách Cú: (Cách = ngăn ra, Cú = câu) mỗi vế câu đối chia làm 2 đoạn:

a. Đoạn trước ngắn, đoạn sau dài:

Đất chẳng phải chồng, / đem gởi thịt xương sao lợi?
Trời mà chết vợ, / thử xem gan ruột mần răng?
(Thày đồ xứ Nghệ khóc vợ)

Đá xanh xây cống, / hòn dưới nống hòn trên
Ngói đỏ lợp nghè, / lớp sau đè lớp trước

Ba cụ ngồi một cỗ, / cụ đủ điều cụ chẳng sợ ai
(Vế ra của Linh Mục Trần Lục)
Một đạo há hai đường, / đạo trộm cắp đạo còn nói láo (4)
(Vế đối của Tam Nguyên Trần Bích San)

b. Đoạn trước dài, đoạn sau ngắn:

Cạm Bẫy Người tạo hóa khéo căng chi! / qua Giông Tố tưởng nên Số Đỏ
Số Độc Đắc văn chương vừa trúng thế, / nỡ Dứt Tình Không Một TiếngVang (5)
(Đồ Phồn khóc Vũ Trọng Phụng mất năm 1939)

Bình gấm phất phơ, / oanh chọc én
Trướng hoa nghiêng ngửa, / phượng đè loan
(Tú Xuất, mừng đôi trai gái mới thành hôn)

C. Gối Hạc (hay Hạc Tất): mỗi vế câu đối có từ 3 đoạn trở lên, đoạn giữa (gọi là đậu câu) thường ngắn xen vào 2 đoạn kia như đầu gối giữa 2 ống chân con hạc.

- Câu đối có 3 đọan:

Ai công hầu, / ai khanh tướng, / trong trần ai ai dễ biết ai?
(Vế ra của Đặng Trần Thường)
Thế Chiến Quốc, / thế Xuân Thu, / gặp thời thế thế thời phải thế! (6)
(Vế đối của Ngô Thì Nhiệm)

- Câu đối có 4 đoạn:

Người nước Nam, / hỏi tiếng Tây chẳng biết tiếng Tây, / hỏi tiếng Tàu chẳng biết tiếng Tàu, / cho nên phải “minh tiên vương chi đạo dĩ đạo”

Nhà hướng Bắc,/người chưa rét thì mình đã rét,/người chưa bức thì mình đã bức,/mới gọi là “tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu”(7)
(Nguyễn Khuyến)

- Câu đối có 5 đoạn:

Đồ vương tranh bá, / thôi nói chi lịch đổi số trời, / hỏi trước sau hơn bốn ngàn năm, / nước biếc non xanh, / bờ cõi ai xây bờ cõi ấy?

Vấn tổ tìm tông, / nay vẫn còn lăng xưa miếu cũ, / kể nhiều ít hai mươi lăm triệu, / con đàn cháu đống, / cỗi cành đâu chẳng cỗi cành đây!
(Ở đền thờ 18 Vua Hùng/đền Thượng)

3.b. Luật Câu Đối Phú:
- Chữ cuối 2 vế phải theo luật bằng, trắc. Chữ cuối vế trên là vần bằng thì chữ cuối vế dưới phải là vần trắc, hoặc ngược lại.
- Chữ cuối của một vế và chữ cuối của tất cả các đậu câu (tất cả các đoạn phía trước đoạn cuối cùng, kể cả đoạn đầu) phải theo luật bằng trắc: Nếu chữ cuối của vế vần bằng thì chữ cuối của tất cả đậu câu phải là vần trắc, và ngược lại.

II. CÁC LOẠI CÂU ĐỐI

Được phân loại theo ý nghĩa, câu đối gồm các loại sau đây:

1. Câu Đối Các Dịp Vui, Buồn: làm trong những dịp vui như chúc thọ, thi đỗ, đám cưới, nhà mới, thăng quan tiến chức, v.v. hoặc trong dịp tang ma, khóc người thân:

- Mừng bạn đỗ đại khoa:
Nhất cử đăng Hoàng Giáp
Toàn gia vô bạch đinh (8)

- Phúng viếng người chết:
Bác đã về rồi, đời đáng chán!
Tôi còn ở lại, rượu cùng ai?
(Tản Đà)

- Khóc vợ:

Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng, tất tưởi chân nam chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc

Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất va vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa, gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm
(Nguyễn Khuyến)

2. Câu Đối Thờ: tán tụng công đức tổ tiên, tiền nhân, thần thánh để treo trước bàn thờ ông bà, đình chùa, miếu mạo:

- Câu đối thờ ông bà:

Kiếm một cơi trầu thưa với cụ
Xin đôi câu đối để thờ ông (9)
(Nguyễn Khuyến)

- Treo ở đền Hùng Vương Phú Thọ:

Có tổ có tôn, có tôn có tổ, tổ tổ tôn tôn, tôn tổ cũ
Còn non còn nước, còn nước còn non, non non nước nước, nước non nhà

3. Câu Đối Tự Thuật/Tự Thán: dán hoặc treo ở chỗ ngồi chơi, nơi trà đàm, thư phòng:

- Cáo quan về quê sống:

Quan chẳng quan thì dân, chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên, nào lình nào cả, nào bàn ba, xôi làm sao, thịt làm sao, đóng góp làm sao, thủ lợn nhìn lâu trơ cả mắt

Già chẳng già thì trẻ, đàn tiểu tử nhấp nhô đứng trước, này phú, này thơ, này đoạn một, bằng là thế, trắc là thế, lề lối là thế, mắt gà đeo mãi mỏi bên tai
(Nguyễn Khuyến)

- Tự vịnh khi chưa thành đạt:

Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông tây nam bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác

Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa, xếp cung kiếm cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh
(Nguyễn Công Trứ)

- Cảnh buồn dạy học tỉnh lẻ:

Nhà lá ba gian, một thày, một cô, một chó cái
Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi
(Cao Bá Quát)

4. Câu Đối Tức Cảnh: nhân cảnh trước mắt mà làm ngay câu đối:

- Trượt té xoạc chân:

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài
(Hồ Xuân Hương)

- Cảnh thanh nhàn trăng thanh, gió mát:

Gió tựa tường ngang, lưng gió phẳng
Trăng nhòm cửa sổ, mắt trăng vuông

5. Câu Đối Đề Tặng:

- Tiệm tóc:

Cười phấn cợt son, tô điểm tóc tai người tứ xứ
Mài dao đánh kéo, mở mang mày mặt khách năm châu

- Hàng thợ nhuộm:

Đã chót nhúng tay, xấu đều hơn tốt lỏi
Quí hồ thuận mắt, thắm lắm lại phai nhiều

6. Câu Đối Trào Phúng:

- Cợt một ông Chánh Tổng bị cách mới được phục chức và có nhà mới:

Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa khả phong giai tị ốc
Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm (10)
(Nguyễn Khuyến)

- Bỡn một ông tên là Long bị chột một mắt mới đậu Phó Bảng khoa thi Võ:

Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại
Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi
(Nguyễn Khuyến)

- Đùa nhà sư già rụng hết răng bị móm và chú tiểu nói ngọng:

Phất phát phóng phong phan, pháp phái phi phù phù phụng Phật
Căn căn canh cổ kệ, cao ca kỷ cứu cứu cùng kinh (11)
(Nguyễn Khuyến)

7. Câu Đối Chiết Tự: (Chiết = bẻ gãy, phân ra, tách ra, Tự = chữ) nghĩa là lấy ra từng nét hoặc từng phần rồi thêm vào một hay nhiếu nét khác của một chữ Hán và đặt thành câu đối:

Chữ Đại là cả, bỏ một nét ngang, chữ Nhân là người, chớ thấy người sang bắt quàng làm họ
Chữ Bì là da, thêm ba chấm thủy, chữ Ba là sóng, chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo (12)

8. Câu Đối Tập Cú: lấy những câu có sẵn trong sách hoặc tục ngữ ca dao để làm câu đối:

Tính ông hay, hay tửu hay tăm, hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa, tuổi ngoại sáu mươi còn mạnh khoẻ
Nhà ông có, có bàu có bạn, có ván cơm xôi, có nồi cơm nếp, bày ra một tiệc thấy linh đình

9. Câu Đối Tết: dán nhà, đền, chùa vào dịp tết Nguyên Đán:

Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đem quỉ tới
Sáng mồng một, lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào
(Hồ Xuân Hương)

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà
(Nguyễn Công Trứ)

Ngoài các loại câu đối trên còn có vài loại linh tinh khác như câu đối dùng dán nơi công đường, câu đối nói lái…Có câu đối vế ra thật khó, chưa có ai đối được cho chỉnh như 2 vế ra dưới đây:

Da trắng vỗ bì bạch (13)
(Đoàn Thị Điểm)

Cha con thày thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương phụ tử.(14)

***

Câu đối đơn giản so với các loại thơ văn khác. Vỏn vẹn chỉ có 2 câu, nhưng chữ nghĩa trong câu đối cô đọng, đãi lọc như lối chọn từ trong thơ. Câu đối hay có văn phong tự nhiên, phóng khoáng thoát ra ngoài khuôn sáo, câu văn mạch lạc, rõ ràng, chữ dùng chính xác, gợi hình tạo được âm hưởng, đọc lên nghe giòn giã, sang sảng.

Ngày xưa khi Hán học còn thịnh hành, câu đối rất phổ quát trong dân gian. Câu đối được treo trong nhà, hai bên bàn thờ ông bà, nơi công đường, đình chùa, miếu mạo. Câu đối được dùng trong việc quan hôn tang tế. Người ta thường sử dụng câu đối trong các dịp vui buồn: chúc thọ, thăng quan tiến chức, mừng thi đỗ, buồn hỏng thi, viếng người chết, khóc bạn hữu, vợ con… Người nào được một nhà khoa bảng tặng cho đôi câu đối là một vinh hạnh. Dịp Tết nhiều người đi nhờ hoặc thuê một ông đồ chữ tốt viết giúp cho câu đối để treo trước cổng hay trong nhà. Ngoài ra, trong việc bang giao với Trung Hoa, giai thoại đối đáp giữa ta và xứ Tàu cho thấy câu đối đã giúp phần nào trong việc bảo vệ quốc thể.

Trần Bích San, TS. Trần Gia Thái

www.vietthuc.org

CHÚ THÍCH

(01) Sau này, từ khi có Chữ Quốc Ngữ, để cho dễ đọc câu đối chữ Việt được treo ngược lại với lối treo câu đối chữ Nho, vế trên (hay vế ra) ở bên trái, vế dưới (hay vế đối) ở bên phải của người đứng nhìn đọc câu đối.

(02) Hoàng Tích Chu, chủ bút báo Đông Tây ở Hà Nội hay lui tới phố Khâm Thiên vì quen thân với bà Đốc Sao là chủ nhà hát cô đầu mặc dù ông không biết đánh trống ả đào và bà chủ cũng chưa hề gõ phách bao giờ. Có một câu đối diễu cợt hai người khi thấy họ Hoàng giơ cao roi chầu đánh mấy tiếng trống dạo “Tom! Tom!, Tom! Tom!” mà âm thanh từa tựa như:
Đông Tây! Đông Tây!

Trong khi bà Đốc gõ dịp phách đáp lại kêu “lát chát, lát chát” âm thanh nghe na ná như:

Vắng khách! Vắng khách!

Câu đối đùa bỡn dí dỏm ở chỗ chữ “đông” là đông đúc, “đông Tây” còn có nghĩa là “nhiều người Pháp”, vế dưới chữ “vắng” đối với “đông”, “khách” còn có nghĩa là người Tàu, “vắng khách” là “ít Tàu” đối với “nhiều Tây”. Thêm nữa, Đông Tây là tên tờ báo của Hoàng Tích Chu, còn vắng khách chỉ sự ế ẩm nhà cô đầu của bà Đốc Sao.

(03) Kỳ ký: tên 2 loại ngựa quí; Tang bồng: gỗ dâu và cỏ bồng, ngày xưa cung làm bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng, thường đi đôi với chữ hồ thỉ, chỉ chí trai vẫy vùng ngang dọc.

(04) Trần Bích San sinh năm 1838 theo học Hoàng Giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị cùng với Nguyễn Khuyến, đỗ Tam Nguyên dưới thời vua Tự Đức. Năm 1875 ông làm Tuần Phủ Hà Nội, Linh Mục Trần Lục (tên thật là Trần Hữu Triêm) mới được phong làm Khâm Sai Tuyên Phủ Sứ từ Phát Diệm lên thăm. Trong lúc trò truyện, muốn thử tài vị Tam Nguyên, Linh Mục Lục đưa ra một vế câu đối nói thác đi là đã nghe được muốn đối nhưng khó quá, nhân dịp gặp nhà đại khoa nhờ đối giùm. Vế ra như sau:

Ba cụ ngồi một cỗ, cụ đủ điều cụ chẳng sợ ai

Vế ra rất khó vì có tới 3 chữ “Cụ” với 3 nghĩa khác khau. “Cụ” là cụ đạo, tiếng gọi các Linh Mục ở miền Bắc, “Cụ” cũng có nghĩa là sẵn sàng, “Cụ” còn có nghĩa là sợ hãi. Ý và lời tỏ ra vừa ngạo mạn, vừa đắc ý của người đang gặp thời. Trần Bích San từ chối vì e rằng vế đối khiếm nhã. Linh Mục Lục cho rằng Trần Bích San không đối nổi nên càng nài ép, nại cớ đây là chuyện văn chương văn hành công khí, không có gì phải e ngại. Trần Bích San lúc đó mới bèn ứng khẩu đối lại:

Một đạo há hai đường, đạo trộm cắp đạo còn nói láo

Dùng chữ “Đạo” đối với chữ “Cụ” là tuyệt hay. Chữ “Đạo” cũng có 3 nghĩa: “Đạo” là cố đạo tiếng dùng gọi các Linh Mục, “Đạo” cũng có nghĩa là con đường, “Đạo” còn có nghĩa là trộm cắp. Ý và lời mỉa mai kẻ tu hành không giữ được đạo hạnh, xu thời theo thực dân Pháp không biết xấu hổ với đất nước mà còn lên mặt đắc chí.

(05) Cạm Bẫy Người, Giông Tố, Số Đỏ, Trúng Số Độc Đắc, Dứt Tình, Không Một Tiếng Vang là tên các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

(06) Ngô Thì Nhiệm, con Ngô thì Sĩ, đỗ tiến sĩ khoa Ất Mùi (1775) đời vua Lê Hiển Tông nhà Hậu Lê, là một danh sĩ Bắc Hà. Khi được Ngô Văn Sở ngầm báo Vũ Văn Nhậm có ý làm phản, Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần thứ 2 (1788) bắt Nhậm và giết đi. Bắc Bình Vương ở lại đặt các quan lục bộ và trấn thủ, để Lê Duy Cẩn làm giám quốc, chủ trì các việc tế lễ, dùng Ngô Thì Nhiệm làm Lại Bộ Tả Thị Lang. Đổi đặt quan quân, chỉnh đốn mọi việc xong, Nguyễn Huệ về Nam, để Ngô Văn Sở ở lại giữ Bắc Hà. Khi quân Tàu sang xâm chiếm nước ta vua Quang Trung đem quân ra Bắc đại phá quân Thanh vào ngày Tết Nguyên Đán năm Kỷ Sửu (1789), rồi sai Ngô Thì Nhiệm viết thư xin giảng hoà. Sau đó mọi việc giao thiệp với nhà Thanh trao cho ông và Phan Huy Ích đảm trách. Năm 1792 ông được cử làm Chánh Sứ sang Tàu. Khi Nguyễn Ánh lấy được Thăng Long, ông bị bắt và giao cho Đặng Trần Thường trị tội (ông và Thường vốn là bạn học thuở nhỏ và cả 2 đều nổi tiếng hay chữ, Thường theo phò Chúa Nguyễn). Thường cho giải ông và Phan Huy Ích ra trước Văn Miếu, trước khi sai lính đánh đòn, ông và Thường đã đối đáp với nhau bằng câu đối trên. Ông bị đòn đau nên khi được đưa về quê thì mất.

(07) “Minh tiên vương chi đạo dĩ đạo” nghĩa là làm sáng tỏ cái đức của vua đời trước mà noi theo. “Tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu” nghĩa là lo trước những điều lo của mọi người.

(08) Hoàng Giáp: Tiến Sĩ đệ nhị giáp. Bạch đinh: chân trắng. Thi một lần đỗ ngay Tiến Sĩ, cả nhà ai cũng có bằng cấp, chức vị, phẩm hàm.

(09) Sắp tới ngày Tết người hàng xóm sai con đem một cơi trầu sang xin Tam nguyên yên Đổ một đôi câu đối về thờ ông bà. Lúc đó Nguyễn Khuyến đang đứng bên bờ dậu đã nghe biết, cười bảo người con:
- Thôi, ta chẳng phải làm nữa, bố anh đã làm rồi!
Người con ngơ ngác không hiểu, Nguyễn Khuyến thong thả đọc cho đôi câu đối giống như lời người bố đã dặn con:

Kiếm một cơi trầu thưa với cụ
Xin đôi câu đối để thờ ông

(10) “Nhất cận thị, nhị cận giang”: thứ nhất gần chợ, thứ nhì gần sông. Tị ốc: do câu “Đường ngu chi thời, khả tị ốc nhi phong” nghĩa là về đời Đường Ngu nước có nhiều người hiền nên nhiều nhà ở liền vách nhau đều được khen thưởng. Vế trên toàn chữ Hán, vế dưới toàn chữ Nôm, đây là câu đối độc đáo nhất trong kho tàng câu đối của nuớc ta.

(11) Câu đối này Nguyễn Khuyến làm để diễu cợt chú tiểu nói ngọng và nhà sư già ở chùa Đọi thuộc tỉnh Hà Nam thiếu đạo đức, tin vào bùa phép bậy bạ. Hai câu chữ Nho dịch nôm có nghĩa là:

Phất phơ cờ phướn bay trước gió, đạo pháp làm phép đốt bùa, bùa đem thờ Phật
Oang oang hòa giọng đọc kệ cổ, cất cao tiếng nghiền ngẫm kinh, nghiền ngẫm đến cùng

Câu đối rất hợp với cảnh chùa nhưng khi đọc lên thì vế trên rõ ra là giọng nói phều phào của vị sư già bị móm rụng hết răng, vế dưới đúng là tiếng nói ngọng líu ngọng lo của chú tiểu phát âm sai một số chữ.

(12) Chữ Hán “Đại” (lớn, cả) nếu lấy đi nét ngang ở trên thì thành chữ “Nhân” (người). Chữ “Bì” (da) thêm 3 chấm thủy bên trái thành chữ “Ba” (sóng).

(13) “Da trắng” cũng là “Bì bạch”. Bì bạch vừa là danh từ vừa là động từ, đọc lên có âm thanh như tiếng vỗ vào da.

(14) “Hồi hương” = về quê; “Phụ tử” = cha con. Nhưng cả 2 chữ còn là tên hai vị thuốc Bắc nữa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Bảo Vân & Quỳnh Liên Tử, Giai Thoại Câu Đối, nxb Quê Hương, Canada, 1983.
- Dương Quảng Hàm, Văn Học Việt Nam, nxb Viet Nam Foundation tái bản, Virginia, Hoa Kỳ 1977.
- Dương Quảng Hàm, Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển, nxb Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục tái bản lần thứ 9, Sàigòn, 1968.
- Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, nxb Bộ Giáo Dục tái bản, Sàigòn, 1968.
- Lãng Nhân, Chơi Chữ, nxb Zieleks, Texas, Hoa Kỳ, 1978.
- Lãng Nhân, Giai Thoại Làng Nho, nxb Nam Chi Tùng Thư, Sàigòn, 1966.
- Lê Kim Ngân, Võ Thu Tịnh, Nguyễn Tường Minh, Văn Học Việt Nam Thế Kỷ Thứ XIX, Phần Cổ Văn, nxb Văn Hiệp, Sàigòn, 1960.
- Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữ Mùi, Các Nhà Khoa Bảng Việt Nam 1075-1919, nxb Văn Học, Hà Nội, 2006.
- Nguyễn Văn Ngọc, Câu Đối, nxb Vĩnh hưng Long, Hànội, 1931.
- Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, quyển 2, nxb Quốc Học Tùng Thư, Sàigòn, 1962.
- Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển 2, nxb Vĩnh & Thành, Hànội 1928, Bộ Giáo Dục tái bản, Sàigòn, 1971.

6 Comments »

Thomas D. Tran says:
November 18, 2012 at 5:48 pm

Kính chuyển đọc bài khảo cứu rất công phu, nên lưu trữ và chuyển tiếp đẻ cùng mở rộng kiến thức văn chương. Cám ơn TS Lưu Đạt đã chuyển đọc bài này.
Kính. Thomas D. Tran
Cao Minh Nguyệt says:
November 18, 2012 at 7:47 pm

Cám ơn anh Đạt đã posted trên diễn đàn Việt Thức bài “Câu Đối Trong Văn Học Việt Nam” rất súc tích và informative.

Xin đa tạ nhà bác học Trần Bích San/TS.Trần Gia Thái đả nhọc công sưu tầm và chia sẻ với chúng tôi.

Kính,

Cao Minh Nguyệt
Vo Dat says:
November 18, 2012 at 7:54 pm

… bài viết khá đầy đủ, chắc tác giả là hậu duệ của Trần Bích San vì thấy ký tên liền nhau. Ông cụ Trần Bích San này đặc biệt lắm, là người duy nhất của Nhà Nguyễn thi 3 kỳ LIÊN TIẾP đều ĐẬU ĐẦU: Giải nguyên (đậu đầu thi Hương, lấy cử nhân), Hội nguyên (đậu đầu thi Hội) và Đình nguyên (đậu đầu thi Đình, lấy Tiến sĩ) nên khi vinh qui, vua Tự Đức ban cho một tấm bảng đặc biệt đề “Liên trúng tam nguyên”. Ông nguyễn Khuyến cũng đậu đầu 3 kỳ thi nhưng thời gian cách quảng.

Nói về câu đối VN, có một đặc điểm mà các nhà nghiên cứu ít chú ý để nói tới hay nhấn mạnh. Câu đối là VN bắt chước Tàu, nhưng VN sáng tạo hơn Tàu . Việt Nam có lối đối Hán-Nôm và đối nói lái, đối nửa Tây nửa ta mà Tàu không thể bắt chước được. Ví dụ:

-Không vô trong Nội nhớ hoài (Không=vô; trong=nội; nhớ=hoài)/-Bán mãi cửa quan sợ cụ (bán=mãi; cửa=quan; sợ=cụ) hay:
-Con cá đối nằm trong cối đá/Chim vàng lông đậu tựa vồng lang.
-Tám giờ xe lửa huýt (tiếng Pháp, huit=tám)/Hai cẳng nằm ngay đơ (deux=2)

… cho vui! Vo Dat
UYEN PHUONG MINH NGUYET says:
November 25, 2012 at 3:32 pm

Bữa nay cuối tuần, rảnh rỗi UPMN vào đọc lại bài “Câu Đối Trong Văn Học Việt Nam ” của Học Giả TBS để học hỏi thêm về câu đối. Bài viết rất công phu, càng đọc thấy bài viết càng hay và giá trị văn học. Bài viết của Học Giả TBS xứng đáng lưu lại cho con cháu chúng ta để biết nguồn gốc của Câu Đối và nhất là cho cả thế hệ chúng ta học hỏi và mở rộng kiến thức.

Cám ơn Học Giả TBS nhiều lắm

Quý mến,

UPMN
LPTrinh says:
November 29, 2012 at 5:02 pm

Bai` viet cua anh TBS kha’ co’ gia’ tri.van chuong va` la` mo^t trong nhung bai` nen luu truyen cho ca’c the^’ he^. sau. (Kho^ng phai? la` co’ gia’ tri. ma` la` vo^ gia’.)
Toi lo’n le^n o’~ Hoa Ky`, nhung~ bai ly’ lua^n. van chuong khong the^? tim` -duoc. de^~ dang`… Anh TBS -da~ nhoc. co^ng suu ta^m` cho -doc gia hoc. hoi? va` hie^u’ bie^t’ the^m…
Cam~ on TS/Hoc Gia TBS.
ChânPhương says:
December 5, 2012 at 8:16 am

Xin được cảm ơn tác giả Trần Bích San về một bài khảo cứu công phu nói đến câu đối trong văn chương. Nhân đọc đoạn dưới đây của tác giả:

“Ngoài các loại câu đối trên còn có vài loại linh tinh khác như câu đối dùng dán nơi công đường, câu đối nói lái…Có câu đối vế ra thật khó, chưa có ai đối được cho chỉnh như 2 vế ra dưới đây:

Da trắng vỗ bì bạch (13)
(Đoàn Thị Điểm)…”

Người đọc chợt nhớ thuở xa xưa khi khao khát được hầu trà và ngóng tai nhe các bậc Cha Chú Bác trong những lúc vãn chuyện thi phú… Trong những điều học được đó:

Về câu đối, Thi Nhân Giáo Sư dạy môn Việt Văn Vũ Hoàng Chương có nói rằng, “Khi chúng ta bàn về các câu đối chữ mà không đề cập những hoàn cảnh bao quát khi xảy ra, thì đó là điều đáng tiếc vô vàn. Bởi vì việc tường thuật được toàn cảnh xung quanh câu đối lúc xảy ra, sẽ cung cấp đầy đủ các yếu tố cần thiết cho độc giả. Nó giúp cho độc giả cảm nhận được cái tinh túy của cả vế xuất lẫn vế đối. Hầu hết các vế đối đều trở thành vô nghĩa hoặc vô duyên nếu độc giả không có được cảm nhận đến từ hoàn cảnh của các vế xuất lẫn vế đối.”

Hôm ấy Hăm Ba Tháng Chạp Tết Tân Sửu bước sang Nhâm Dần (1974) vừa là ngày cúng Táo Quân vừa là ngày giỗ kỵ nên nhà có khách đông. Sau bữa giỗ ban trưa, đứa học trò lớp Bảy trung học ngày ấy lại được dịp hóng những chuyện “chơi chữ” và “giai thoại làng Nho” của người lớn nơi phòng khách.

Sau vài tuần trà câu chuyện của người lớn chuyển sang câu đối mà bà Đoàn Thị Điểm đã lỡm chàng cống sinh:

“Da trắng vỗ bì bạch (13)
(Đoàn Thị Điểm)…”

Đứa học sinh trung học bé bỏng ngày xưa đã rụt rè xin được phép ra vế đối cho câu xuất của nữ sĩ họ Đoàn. Bị Bố trừng mắt mắng vì tội nói leo hỗn hào đối với người lớn, nhưng đứa trẻ lại được Thày giáo của Bố, là thi sĩ VHC, đỡ lời và cho phép ra vế xuất của mình.

Được phép của người lớn, đứa trẻ ngày ấy đã chỉ tay vào nhà trong nơi các anh chị em mình nghe nhạc thiếu nhi từ đài phát thanh Saigon và thưa:

“Tóc xanh nghe phát thanh.”

Vừa nghe xong vế xuất, thi sĩ vỗ đùi đánh đét rồi ha hả cười lớn, “Đấy, anh Ch. (tên của Bố) không cho cháu nói… Tôi chịu, tôi chịu cháu tôi… câu đối của cháu rất chỉnh, các anh ạ: Da đối với tóc. Xanh đối với trắng. Bì là da thì phát là tóc. Bạch là trắng thì thanh cũng là xanh. Nữ sĩ ngày xưa đã “vỗ”, thì hôm nay cháu của ông “nghe”. Ông chịu thằng bé con này của ông. Lại đây ông ôm cái!”

Vừa cười nói, thi sĩ vừa rút ra vài tờ giấy bạc “con hổ” để “lì xì cho cháu mua sách vở bút mực.”

Kể lại chuyện xưa, người đọc không dám có ý khoe khoang vớ vẩn… Chỉ xin được nhắc lại ý của người xưa khi bàn về những vế đối và xuất: Không nên tách rời các câu đối ra khỏi hoàn cảnh xuất xứ của chúng, vì làm thế là đánh mất giá trị thâm trầm vốn có của bản thân các câu đối nói riêng, và của nghệ thuật chơi chữ trong những câu đối, nói chung!

Trân trọng,
Chân Phương.

Edited by user Thursday, February 13, 2014 8:03:35 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest (2)
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.