Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#1 Posted : Sunday, January 6, 2013 9:44:04 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 291

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

CHUYÊN ĐỀ TIM MẠCH


1/ NHỮNG RỐI LOẠN NHỊP TIM : CÓ NHIỀU PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐIỀU TRỊ ĐỂ XỬ TRÍ TỐT NHỮNG LOẠN NHỊP

CARDIOLOGIE. “ Cái khó khăn chủ yếu là làm sao có thể quan sát rối loạn nhịp vào lúc mà nó xảy ra ”, GS Jean-Luc Pasquié, thầy thuốc chuyên khoa về nhịp tim (rythmologue) thuộc CHU de Montpellier đã nhấn mạnh như vậy. Một điện tâm đồ đơn giản cho phép nhận diện phần lớn các loạn nhịp, nhưng những loạn nhịp này thường nhất xảy ra một cách đoạn hồi. Vài kỹ thuật, như holter tim, ghi nhịp tim trong nhiều ngày hoặc nhiều tháng. Những trắc nghiệm lúc gắng sức (test d’effort) trong vài trường hợp cho phép làm phát khởi loạn nhịp. Điện tâm đồ có thể được bổ sung bởi một siêu âm tim để nhận diện nguồn gốc của vấn đề hay để loại bỏ khả năng của một bệnh lý tim.

Những rối loạn nhịp tim thường gặp thường nhất là hiền tính và không luôn luôn gây nên những triệu chứng. Chúng được phân chia thành hai lớp lớn tùy theo tim đập quá chậm (bradycardie) hay quá nhanh (tachycardie). Tầm quan trọng của các triệu chứng không tương quan với mức độ nghiêm trọng của loạn nhịp, nhưng chúng có thể, ngay cả khi loạn nhịp này không có nguy cơ, làm biến đổi chất lượng sống của các bệnh nhân. “ Các bệnh nhân bị rối loạn nhịp thường nhất kêu van hồi hộp, một thuật ngữ thật ra tập hợp nhiều loại cảm giác”, GS Pasquié đã nhắc lại như vậy. Tim đập quá nhanh, một cách không đều, gây nên những “coups” trong ngực và những triệu chứng này có thể kèm theo khó thở, đôi khi ngay cả khó ở (malaise) hay ngất xỉu.

Những loạn nhịp do một khiếm khuyến chức năng của tâm nhĩ là thường gặp nhất, đặc biệt là rung nhĩ (fibrillation auriculaire). Liên quan với tuổi tác, rung nhĩ bắt đầu sau 50 tuổi, đạt 5-10% những người từ 60 đến 70 tuổi và đến 20% những người trên 80 tuổi. Những phần bị thương tổn của tâm nhĩ gây nên những co bóp nhanh nhưng không hoàn toàn, điều này làm mệt tim nếu rung nhĩ kéo dài.

CHẾT ĐỘT NGỘT KHÔNG GIẢI THÍCH ĐƯỢC

Mặt khác, máu có thể ứ đọng trong các tâm nhĩ và tạo thành những cục máu đông có thể gây nên những tai biến mạch máu, nhất là trong não. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ, nhất là những người già, một điều trị kháng đông khi đó phải được thực hiện.

Những thuốc chống loạn nhịp có thể làm giảm những triệu chứng trong phần lớn các trường hợp. Trong vài trường hợp, có thể phá hủy những vùng bị thương tổn của tâm nhĩ bằng đốt điện.“ Can thiệp này với kết quả không luôn luôn khẳng định, là nặng nề và trong 3 đến 5% các trường hợp, gây nên những biến chứng đôi khi trầm trọng, GS Antoine Leenhardt, thầy thuốc chuyên khoa nhịp tim (cardiologue rythmologue) thuộc bệnh viện Bichat (Paris) đã xác nhận như vậy. Can thiệp này chỉ được thực hiện trong những trung tâm chuyên khoa.”

Loại can thiệp này cũng được xét đến đứng trước tim nhịp nhanh bộ nối (tachycardie jonctionnelle), khi những triệu chứng gây khó chịu và không được kiểm soát tốt bởi những phương thức khác. Một khiếm khuyết dẫn truyền giữa các tâm nhĩ và tâm thất làm tim gia tốc đột ngột và mạnh. Tim nhịp nhanh cũng biến mất một cách đột ngột như khi xuất hiện mà không gây hậu quả.

Các tâm thất cũng là nguồn gốc của những rối loạn nhịp. Các ngoại tâm thu (extrasystoles), tương ứng với một co bóp sớm hay bổ sung của một tâm thất, là thường gặp nhất. Các ngoại tâm thu cho cảm giác rằng tim đã “ manqué le coup ” và có tính chất hiền tính nếu không có bệnh tim kèm theo. Tim nhịp nhanh thất (tachycardie ventriculaire) và rung thất (fibrillation ventriculaire) là hai rối loạn nhịp nghiêm trọng nhất. Khi các tâm thất co bóp quá nhanh hay khi các xung động thất thường (impulsions erratiques) ngăn cản chúng co bóp một cách hoàn toàn, chúng không còn có thể đảm bảo sự lưu thông máu, điều này có thể gây tử vong.

Những loạn nhịp này thường kèm theo một nhồi máu cơ tim và nói chung liên kết với bệnh động mạch vành sau tuổi 40 nhưng cũng có thể xảy ra ở những người trẻ tuổi hơn, gây chết đột ngột, thường vẫn không giải thích được và nguồn gốc có thể là gia đình. Tim nhịp nhanh thất có thể được điều trị bằng thuốc, bằng triệt phá những vùng bị thương tổn hay bằng thiết đặt một implant. Rung thất (fibrillation ventriculaire), gây tử vong nếu không được làm dừng lại bằng một sốc điện. Sốc điện (choc électrique) này buộc các tế bào tim lấy lại một nhịp đập đồng bộ (un battement synchronisé), có thể được phòng ngừa bằng một implant tim.

Các nhịp tim dầu có tiềm năng nghiêm trọng hay chỉ gây khó chịu đều có thể điều trị. Vậy điều hữu ích là cần phải thăm khám ngay khi những cảm giác hồi hộp, đập quá nhanh hay không đều kéo dài nhiều phút và xảy ra một cách đều đặn.
(LE FIGARO 17/12/2012)

2/ NHỮNG IMPLANT TIM CÀNG NGÀY CÀNG KỸ THUẬT

Vào năm 2011, 60.000 máy tạo nhịp tim (stimulateur cardiaque) đã được cấy để kiểm soát những trái tim đập quá chậm, xảy ra ngày càng nhiều bởi vì tim nhịp chậm là một dấu hiệu lão hóa của tim. Những implant này đã có từ những năm 1950 và cho phép gia tốc nhịp tim khi nhịp xuống quá thấp, điều này có thể gây ngất (syncope).

Từ những năm 1980, cũng có những défibrillateur implantable gây sốc điện để khởi phát trở lại những nhịp đập bình thường khi nhịp tim trở nên quá nhanh hay bắt đầu trở thành rung thất (fibrillation ventriculaire), nhờ thế tránh chết đột ngột. Năm qua, 9000 máy phá rung (défibrillateur) được cấy (implanté) ở Pháp. Vài trong số những implant này, những máy tạo nhịp (stimulateur) hay máy phá rung (défibrillateur) từ nay cũng có khả năng tái đồng bộ (resynchroniser) sự kết hợp (enchainement) của những xung động điện khác nhau giữa các buồng tim để đảm bảo một sự co bóp có hiệu quả trong vài trường hợp suy tim.

BATTERIE NON RECHARGEABLE

Các implant tim gồm có một hay nhiều sonde được đặt trong tim và một boitier để dẫn đường các xung động điện. Boitier này, từ nay được thu nhỏ lại, chứa một batterie, những yếu tố đo nhịp tim và những thành phần điện tử có thể định chương trình (programmable), có khả năng quản lý những xung động điện cần được phát ra. Càng ngày càng có nhiều modèle có những yếu tố khác để ghi nhịp tim và truyền những thông tin đi xa, xuyên qua da. Batterie không rechargeable và boitier phải được thay sau 6 đến 10 năm. Đó cũng thường là cơ hội để kiểm tra xem các sonde có cũng cần phải thay đổi hay không.

“ Sự thiết đặt pacemaker được thực hiện dưới gây mê tổng quát, và, xuyên qua một đường xẻ dưới xương đòn, các sonde được đưa vào qua tĩnh mạch đến tận tim, GS Philippe Mabo, thầy thuốc chuyên khoa tim của CHU de Rennes đã giải thích như vậy. Còn boitier được đặt dưới da hay dưới cơ khi bệnh nhân hơi gầy.” Sự điều chỉnh các tham số được thực hiện trong những lần kiểm tra đầu tiên trong hai tháng sau khi đặt. Thực hiện kiểm tra mỗi sáu tháng đối với các máy phá rung (défibrillateur) và mỗi năm đối với các máy tạo nhịp (stimulateur).

Can thiệp bao hàm nhũng nguy cơ và những biến chứng có thể xảy ra. Thí dụ có thể rằng các vi khuẩn được mang bởi dòng máu đến bám vào các sonde trong tim và buộc thầy thuốc khoa ngoại phải lấy chúng đi, điều này đặc biệt khó khăn nếu các sonde đã được đặt lâu trước đó.

“Điều rất quan trọng là bệnh nhân phải hiểu rõ vai trò của máy tạo nhịp của mình và học sống tốt với nó, vì trong đa số các trường hợp, bệnh nhân sẽ giữ nó suốt đời mình, GS Mabo đã nhấn mạnh như vậy. Cần một sự theo dõi tối thiểu để kiểm tra rằng máy tạo nhịp làm tròn những chức năng của nó. Đó là không quên sự hiện diện của nó. ” Mặt khác, vài implant mới đây cho phép các bệnh nhân truyền một cách đều đặn cho thầy thuốc của mình những thông tin thu được từ boitier, với những kết quả đầy hứa hẹn theo một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi kíp của GS Mabo.
(LE FIGARO17/12/2012)

3/ ĐIỀU TRA GIA ĐÌNH ĐỂ CỨU MẠNG

“ Nhiều trường hợp tử vong có thể tránh được chỉ nhờ một cuộc điều tra gia đình đứng trước mỗi trường hợp chết đột ngột không thể giải thích trước 40 tuổi ”, GS Vincent Probst, trưởng centre de référence của những bệnh nhịp tim thuộc CHU de Nantes, đã nhắc lại như vậy.

Ở Pháp, phần lớn trong số 60.000 trường hợp chết đột ngột hàng năm vẫn không giải thích được. Lý do được nêu lên thường là vỡ phình mạch não (anévrysme cérébral), không thể được xác nhận nếu không giải phẫu tử thi. Trong nhiều trường hợp, khi chết xảy ra trước 40 tuổi, có thể đó là một rối loạn nhịp di truyền. “ Nhưng tôi còn thấy rất thường những rối loạn như vậy được phát hiện sau nhiều trường hợp chết đột ngột trong gia đình, GS Probst lấy làm tiếc như vậy. Một điều tra gia đình phải được thực hiện đối với mọi trường hợp chết đột ngột không giải thích được ở một người trẻ.” Mặt khác, kíp của ông vừa phát động một thử nghiệm chương trình, cộng tác với Samu, nhằm tiếp xúc một cách hệ thống các gia đình để đề nghị với họ một phân tích di truyền (analyse génétique). “ Biện pháp không phải luôn dễ dàng được chấp nhận đối với các người thân vì họ cảm thấy khỏe mạnh và có thể cảm thấy lội lỗi là đã truyền một bệnh lý như vậy, nhưng các mạng người có thể được của sống ”, ông đã nhấn mạnh như vậy. Khi không được điều trị, hội chứng QT dài gây nên tử vong trong 20% các trường hợp trước 20 tuổi, nhưng nếu được điều trị đúng đắn, tỷ lệ tử vong sụt xuống dưới 1%. Phần lớn các loạn nhịp di truyền có thể được điều trị bằng thuốc hay nhờ một implant tim. “ Dĩ nhiên, rất hiếm khi một défibrillateur implantable khởi động ở một trong những bệnh nhân này, nhưng nếu khởi động nó làm cho bệnh nhân sống 40 năm ”, GS Probst đã lấy làm phấn khởi như vậy.

Những rối loạn nhịp di truyền thường gặp nhất là hội chứng QT dài (một trên 2500 người), hội chứng Brugada, dysplasie arythmogène du ventricule droit (một trên 5000 người). Tachycardie ventriculaire catécholergique và hội chứng khử cực sớm (syndrome de repolarisation précoce) hiếm gặp hơn. Những loạn nhịp này thường được chẩn đoán trong thời thơ ấu hay hầu như luôn luôn trước 40 tuổi, hoặc nhân một tai biến nghiêm trọng, hoặc khi đọc một điện tâm đồ thường quy cho một kết quả bất thường hoặc sau một điều tra gia đình. 3 centre de référence, Lyon, Nantes, Paris chuyên môn trong việc nhận diện những loạn nhịp hiếm hoi này. “ Điện tâm đồ thường cho phép chẩn đoán, nhưng, trong vài trường hợp, điện tâm đồ hoàn toàn bình thường hay có những bất thường khó phân biệt được ”, GS Probst đã nhấn mạnh như vậy.

Nhiều trường hợp động kinh ở các trẻ em và các thiếu niên thật ra là những rối loạn nhịp gây nên ngất xỉu, với những cử động đột ngột của các chi. Động kinh chỉ có thể phát hiện bằng điện não đồ vào lúc cơn co giật và điện não đồ có thể bình thường đối với thầy thuốc thần kinh. Chỉ có sự không hữu hiệu của điều trị chống động kinh hay sự giám định của một thầy thuốc chuyên về nhịp tim sau đó mới có thể dẫn đến chẩn đoán đúng đắn. Cũng vậy, đứng trước một trường hợp ngất lúc gắng sức của một bệnh nhân trẻ, cần phải thăm khám thầy thuốc chuyên về tim và cần thực hiện một épreuve d’effort.
(LE FIGARO 17/12/2012)

4/ PHÁP : NHỒI MÁU CƠ TIM GIẢM Ở ĐÀN ÔNG

Ngược lại, những trường hợp nhồi máu cơ tim gia tăng ở những phụ nữ trẻ do nghiện thuốc lá.

CARDIOLGIE. Đó là một tin tốt lành không những đối với những kẻ đặc biệt đã ra sức trong công tác phòng ngừa, mà còn đối với tất cả những người Pháp. Số những người phải nhập viện vì nhồi máu cơ tim ở Pháp đã giảm một cách đều đặn trong những năm qua, giữa 2002 và 2008. Ngoại trừ, đối với những phụ nữ từ 35 đến 54 tuổi, nhồi máu cơ tim đang gia tăng rõ rệt từ vài năm nay. Những dữ kiện này, được công bố 6/11 trong Bulletin épidémiologique hebdomadaire, cho thấy rằng việc xử trí các yếu tố nguy cơ đang đi theo chiều hướng tốt và rằng từ nay phải quan tâm các phụ nữ, vốn thường bị loại trừ khỏi công tác điều tra phát hiện và phòng ngừa nguy cơ động mạch vành.

Đối với tỷ lệ tử vong do nhồi máu chứ không phải chỉ những trường hợp nhập viện, khuynh hướng cũng là giảm xuống từ khoảng hai thập niên nay. Sự giảm tỷ lệ tử vong này không thể chỉ quy cho công tác phòng ngừa, mà còn liên hệ với sự cải thiện điều trị của nhồi máu, với thrombolyse (dùng thuốc làm tan một cục máu đông gây tắc nghẽn một động mạch vành của tim) hay angioplastie (khai thông lòng động mạch bị tắc bằng phương pháp cơ học) cấp cứu.

Sự kiện quan tâm đến tiến triển của số những trường hợp nhồi máu trong thời gian (chứ không chỉ tỷ lệ tử vong) cho phép kiểm tra tính thích đáng của những chiến lược phòng ngừa, bao gồm chống nghiện thuốc lá, bệnh béo phì, cao huyết áp, bệnh đái đường, tăng cholestérol-huyết. Để đo lường tiến triển của nhồi máu cơ tim, các thầy thuốc của Institut de veille sanitaire, của Caisse nationale d’assurance-maladie và của khoa tim thuộc bệnh viện Georges-Pompidou đã khảo sát trên cơ sở các dữ kiện được đưa ra bởi Agence technique de l’information sur l’hospitalisation đối với những năm 2002-2008. Đối với năm 2008, 56.102 người đã được nhập viện ở Pháp vì một nhồi máu cơ tim. Toàn bộ, 66% trong số những người này là những người đàn ông, 33% là các phụ nữ. Những người dưới 65 tuổi chiếm 40,5% các trường hợp và những người từ 65-84 tuổi, chiếm 44,5% các trường hợp. Tuổi trung bình vào lúc nhập viện là 68,2 tuổi, nhưng ở đàn ông thấp hơn ( 64,5 tuổi) so với các phụ nữ (75,5 tuổi).

THUỐC LÁ, ĐÁI ĐƯỜNG VÀ BÉO PHÌ ĐỀU CHỊU PHẦN TRÁCH NHIỆM

Ngoài những dữ kiện cho thấy một sự nổi trội nam giới rất rõ rệt, chính sự tiến triển với thời gian là đáng chú ý nhất : giữa năm 2002 và 2008, số những người được nhập viện vì nhồi máu cơ tim đã giảm 7,4%. Đặc biệt số những trường hợp đã giảm một cách rõ rệt ở những người trên 65 tuổi (-13,6%) nhưng đã gia tăng ở những người trẻ tuổi nhất (+3,6%). Nhưng nếu ta xét đến sự gia tăng dân số và sự lão hóa dân số, tỷ lệ những người được nhập viện vì nhồi máu đã giảm 17,2% trong thời kỳ này.

Sự so sánh giữa đàn ông và đàn bà, từ năm 2002 đến 2008, mang lại những yếu tố đáng lo ngại đối với các phụ nữ. Đối với nam giới, sự hạ các trường hợp nhập viện vì nhồi máu cơ tim liên quan đến mọi lứa tuổi nhưng rõ rệt nhất đối với những người trên 65 tuổi. Ở các phụ nữ, ta quan sát thấy một sự gia tăng rõ rệt ở những người dưới 65 tuổi, nhưng một sự giảm ở những người lớn tuổi nhất. Làm sao giải thích tiến triển thuận lợi đối với đàn ông nhưng không thuận lợi đối với đàn bà ? “ Những công trình nghiên cứu được thực hiện nhiều lần bởi registres Monica đã cho phép quan sát một sự giảm tỷ lệ lưu hành của bệnh cao huyết áp và tăng cholestérol-huyết, các tác giả của điều tra đã nhấn mạnh như vậy. Nhưng 3 yếu tố nguy cơ mạch máu đã có một tiến triển đáng quan ngại ở Pháp trong thập niên qua và có thể chịu trách nhiệm sự gia tăng của những trường hợp nhồi máu cơ tim ở các phụ nữ trẻ : thuốc lá, bệnh đái đường và chứng béo phì.”

Mặt khác, nếu những dữ kiện về tỷ lệ tử vong sau nhồi máu cơ tim cho thấy một tiến triển thuận lợi, giữa 2002 và 2008, với một sự hạ khoảng 8 đến 10%, thì tỷ lệ tử vong của các phụ nữ sau một nhồi máu là quan trọng hơn tỷ lệ tử vong của đàn ông. “ Sự giảm những trường hợp nhập viện vì nhồi máu ở đàn ông liên quan đến, ngoài những yếu tố nguy cơ khác, sự giảm chứng nghiện thuốc lá ở họ (65% người hút năm 1965, 30% hôm nay), GS Daniel Thomas (bệnh viện Pitié-Salpetrière) đã đảm bảo như vậy. Sự gia tăng chứng nghiện thuốc lá ở các phụ nữ (10% năm 1965, 30% hôm nay) góp phần giải thích sự tăng cao của những trường hợp nhồi máu cơ tim, mặc dầu những yếu tố khác có lẽ cũng có liên hệ. Dầu thuộc giới tính nào, 80% những trường hợp nhồi máu cơ tim trước 50 tuổi có liên quan với thuốc lá. Những yếu tố khác, như chứng tăng cholestérol huyết gia đình, cao huyết áp nặng, bệnh đái đường, thứ yếu hơn trong lứa tuổi này.”
(LE FIGARO 6/11/2012)

5/ NHỒI MÁU CƠ TIM CÓ THỂ CÓ NGUỒN GỐC DI TRUYỀN

CARDIOLOGIE. “ Gần như mỗi ngày, chúng tôi có một người bệnh bị nhồi máu cơ tim trong khi ông ta không hút thuốc, không bị cao huyết áp, cũng chẳng bị đái đường. Trong trường hợp này, lời giải thích duy nhất là di truyền (hérédité) ”, GS Michel Gallnier, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc CHU de Toulouse đã kể lại như vậy. Cứ 10 bệnh nhân được hỏi thì 9 sẽ kể lại rằng, trong gia đình, những người đàn ông có tim dễ bệnh. Tố bẩm di truyền (préposition génétique) này đối với động mạch vành được các thầy thuốc chuyên khoa tim biết rõ, nhưng gène chịu trách nhiệm đã không được khám phá. Chính hôm nay điều này đã được thực hiện. Hay hầu như vậy. Một kíp các nhà nghiên cứu quốc tế có thể đã khám phá sự biến thiên di truyền (variation génétique) chịu trách nhiệm tính dễ thương tổn (fragilité) này của các động mạch, được truyền từ cha đến con. Sự biến thiên di truyền này được liên kết với một haplotype hiện diện trên nhiễm sắc thế Y, theo một công trình nghiên cứu được công bố trong The Lancet số 9/2/2012.

HAPLOTYPE.

Haplotype là một nhóm các allèle gồm những gène khác nhau nằm trên cùng một nhiễm sắc thể và thường được truyền cùng với nhau. Phát xuất từ điều chứng thực rằng những người đàn ông thường bị bệnh động mạch vành hơn các phụ nữ, các nhà nghiên cứu đã thăm dò vai trò của nhiễm sắc thể Y trong bệnh lý này. Trong lúc khảo sát nhiễm sắc thể Y của 3233 người đàn ông người Anh, các nhà nghiên cứu đã nhận diện 2 haplotype, trong đó một làm gia tăng một nửa nguy cơ bệnh tim, độc lập với những yếu tố nguy cơ được biết như cholestérol, thuốc lá, bệnh đái đường hay cao huyết áp.

Khám phá này như thế có thể giải thích tại sao vài người hút thuốc, coi thường cholestérol của mình và vẫn sống không có vấn đề tim, trong khi những người khác, tiết độ hơn, lại bị nhồi máu cơ tim. Khám phá này, theo vài thầy thuốc chuyên khoa tim giải thích tại sao các phụ nữ có tim ít bị bệnh hơn so với đàn ông. Hay ít nhất tại sao các phụ nữ bị nhồi máu cơ tim 10 năm muộn hơn so với đàn ông. “ Từ lâu chúng ta đã hằng tưởng rằng các phụ nữ được bảo vệ bởi các oestrogène, nhưng vài công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng không phải là như vậy, GS Gabriel Steg, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc bệnh viện Bichat (Paris) đã chứng thực như vậy. Nhìn toàn bộ các phụ nữ ít bị nhồi máu cơ tim hơn đàn ông.”

Phải chăng điều đó có nghĩa là các phụ nữ tránh khỏi những yếu tố di truyền trong bệnh tim ? GS Nicolas Danchin, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou (Paris), vẫn tỏ ra thận trọng : “ Không nên nghĩ rằng tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) chỉ liên quan đến những người đàn ông. Nếu trong gia đình của quý vị có một người cha hoặc mẹ đã từng bị một tai biến tim trước 55 tuổi đối với một người đàn ông và 65 tuổi đối với một phụ nữ, quý vị thuộc diện có nguy cơ.”

Còn đối với những người đàn ông, mặc dầu không có những gène tạo thuận lợi cho bệnh động mạch vành, nhưng điều đó không có nghĩa là trái tim không phải sợ gì hết. Những yếu tố nguy cơ đã được biết như thuốc lá, cholestérol xấu, bệnh béo phì, đái đường, cao huyết áp hay kể cả tình trạng nhàn rổi không hoạt động vẫn là những kẻ thù chủ yếu của trái tim. Chỉ riêng nồng độ lipides trong máu và chứng nghiện thuốc lá cũng đã gây 2/3 những trường hợp nhồi máu trên thế giới. Đối với các thầy thuốc chuyên khoa tim, đó không phải là lúc giảm cảnh giác đứng trước những mối nguy hiểm này. “ Thật vậy các haplotype tác động như những tác nhân phóng đại (amplificateur) của những yếu tố nguy cơ ”, GS Galinier đã gợi ý như vậy.

Chính vì vậy cần báo động và theo dõi những người đàn ông mang những gène này. “ Chúng ta không được lơi lỏng với những người đàn ông được bảo vệ (không có haplotype) nhưng trái lại chúng ta đòi hỏi hơn với những người có tố bẩm đối với các bệnh động mạch vành, GS Jean-Claude Deharo, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc hôpital de la Timone (Marseille) đã giải thích như vậy. Ngay trước khi xuất hiện mọi tai biến về tim, chúng ta có thể xét đến việc làm hạ nồng độ cholestréol ở những người đàn ông này xuống những mức thường được đòi hỏi sau khi bị nhồi máu cơ tim.”

NHỮNG TRẮC NGHIỆM DI TRUYỀN (TESTS GENETIQUES)

Để có thể phân biệt thái độ điều trị tùy theo profil di truyền, phải có khả năng phát triển những trắc nghiệm di truyền. Chúng ta vẫn còn lâu mới đạt được điều đó. Các tác giả của công trình nghiên cứu còn phải xác định một cách chính xác gène hay các gène chịu trách nhiệm. Ngược lại họ đã có một giả thuyết nghiêm chỉnh về cách tác dụng của các gène này. Chúng tác động bằng cách biến đổi hệ miễn dịch của người đàn ông và bằng cách kích hoạt quá trình viêm, được biết là tác động lên thành động mạch làm thoái hóa nó và tạo điều kiện cho sự phát triển xơ vữa động mạch (athérosclérose). “ Công trình nghiên cứu này mở ra những triễn vọng, nếu chúng được xác nhận, có thể dẫn đến những hướng trị liệu mới mà chúng ta rất cần ”, GS Steg lấy làm hớn hở như vậy.

NHỮNG BỆNH LÝ TIM DO DI TRUYỀN

“ Trong trường hợp chết đột ngột ở một người trẻ, trước 40 tuổi, điều cần thiết là phải thực hiện một nghiên cứu trong gia đình ”, GS Antoine Leenhardt thuộc centre de référence des maladies héréditaires, bệnh viện Lariboisière (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Bởi vì trong phần lớn các trường hợp, chúng được gây nên bởi những bệnh tim di truyền (maladie cardiaque génétique). “ Thế mà thường thường, ta chỉ khám phá bệnh vào lúc chết đột ngột, Antoine Leenhardt đã nhấn mạnh như vậy. Điển hình đó là trường hợp của cầu thủ bóng đá gục ngã trên sân cỏ.” Những bệnh tim di truyền thường gặp nhất được quy tụ, một mặt, thành những bệnh cơ tim (cardiomyopathie) và mặt khác, những rối loạn nhịp thuần điện (troubles du rythme purement électriques). Hơn 200.000 người đã bị như thế.
(LE FIGARO 12/3/2012)

6/ TIM PHỤ NỮ NHẠY CẢM HƠN ĐỐI VỚI STRESS

Sự tưới máu tim vẫn không thay đổi sau một xúc cảm mạnh, điều này giải thích tại sao nguy cơ nhồi máu cơ tim gia tăng ở phụ nữ.

CARDIOLOGIE. Là nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở Pháp, các bệnh động mạch vành không gây bệnh giống nhau tùy theo giới tính. Trong khi tần số những tai biến tim ở đàn ông vẫn quan trọng hơn ở phụ nữ, thì phụ nữ lại có nhiều nguy cơ hơn bị những triệu chứng malaise cardiaque sau một xúc cảm mạnh.

Trong khi cố tìm hiểu những lý do của sự cách biệt này, các nhà nghiên cứu của đại học y khoa Pennsylvanie (Hoa Kỳ) đã khám phá rằng lưu lượng máu trong các động mạch vành gia tăng ở những người đàn ông bị stress, nhưng lưu lượng này vẫn không thay đổi ở các phụ nữ, điều này có thể giải thích tình trạng mỏng manh lớn nhất của tim phụ nữ khi bị xúc cảm mạnh.

ĐỘ DẪN MÁU CỦA CÁC ĐỘNG MẠCH.

Thí nghiệm đã được tiến hành ở 17 người đàn ông và phụ nữ có sức khỏe tốt. Truóc hết nhịp tim và huyết áp của mỗi người tình nguyện đã được đo, cũng như “ độ dẫn máu ” (conductance) của các động mạch vành (cung cấp tim máu được oxy hóa) được đánh giá bằng một Doppler. Các “ cobaye ” sau đó phải dùng trí làm những bài tính trong 3 phút. Để gây căng thẳng thêm, các nhà khoa học đã quấy nhiễu các người tình nguyện, bằng cách yêu cầu họ trả lời nhanh hơn hay cho một cách sai lầm rằng những bài tính của họ là sai.

Sau thí nghiệm, các trị số của nhịp tim, huyết áp và độ dẫn máu của các động mạch được đo lại. Kết quả : lúc nghỉ ngơi, đàn ông và phụ nữ có những kết quả gần như tương tự nhau. Sau trắc nghiệm, nhịp tim và huyết áp của họ đã gia tăng trong cùng tỷ lệ. Nhưng trong khi đàn ông được một sự tưới máu tim tốt hơn, thì độ dẫn máu (conductance) của các động mạch phụ nữ vẫn không thay đổi.

“ Điều này cho phép hiểu lý do tại sao trên bình diện tim các phụ nữ phản ứng ít tốt hơn đối với những biến cố gây căng thẳng như việc bị mất một người chồng ”, người phụ trách công trình nghiên cứu, được trình bày ở Congrès de biologie expérimentale, được tổ chức ở San Diego (Californie) bởi Hiệp hội sinh lý học Hoa Kỳ, đã nhận xét như vậy.

“ Mặc dầu công trình nghiên cứu được thực hiện trên một số lượng nhỏ những người tình nguyện, nhưng nghiên cứu này mang lại một hướng suy nghĩ rất thú vị, GS Claire Mounier-Vehier, phó chủ tịch của Fédération française de cardiologie đã bình luận như vậy. Một vấn đề cơ cấu có thể là nguồn gốc của sự khác nhau này về phản ứng đối với stress. Những thay đổi về hormone mà các phụ nữ đã trải qua trong suốt cuộc đời mình có lẽ là một trong những giải thích. Các động mạch của các phụ nữ già nhanh hơn các động mạch của đàn ông : ở tuổi mãn kinh các động mạch của họ cứng đi và dày lên.”

Một cách tổng quát hơn, công trình nghiên cứu này cũng lại nhấn mạnh đến những tác dụng âm tình của tình trạng stress đối với sức khỏe
(LE FIGARO 30/4/2012)

7/ CÁC HORMONE KHÔNG BẢO VỆ PHỤ NỮ

Theo công trình nghiên cứu này, một điều trị bằng hormone sau 60 tuổi gây nguy cơ.

Đó là một điều chứng thực : các phụ nữ ít bị các bệnh tim hơn, nhưng sự khác nhau này giảm đi khi lớn tuổi, sau thời kỳ mãn kinh. Chính vì vậy, từ lâu ta đã hằng tưởng rằng sự miễn dịch này, rất tương đối, của các phụ nữ được quy cho một vai trò bảo vệ của các kích thích tố œstrogène đối với xơ vữa động mạch (athérosclérose). Œstrogène được sản xuất với số lượng ít hơn sau thời kỳ mãn kinh, sau khi các buồng trứng ngừng hoạt động.

Trái lại, theo một công trình nghiên cứu, được công bố bởi Journal of American Heart Association, thì dường như các phụ nữ trên 65 tuổi có một nồng độ kích thích tố oestrogène tăng cao trong máu, có nhiều nguy cơ hơn bị nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Những dữ kiện mới này xuất phát từ một công trình nghiên cứu trên 6.000 phụ nữ, được tiến hành bởi một kíp nghiên cứu của Inserm. Cho đến hôm nay, không có một công trình nghiên cứu nào đã có thể quy một cách rõ ràng các kích thích tố sinh dục (hormones sexuelles) trong máu, được sản xuất một cách tự nhiên bởi cơ thể, cho nguy cơ tim mạch ở các phụ nữ mãn kinh. Ngay cả những công trình nghiên cứu mới đây về điều trị khích thích tố của thời kỳ mãn kinh đã cho thấy không có tác dụng phòng ngừa của việc cho oestrogène ở những phụ nữ mãn kinh.

“ Ta đã quan sát thấy rằng những phụ nữ phát triển một biến cố tim mạch, như nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não, có một nồng độ tăng cao oestradiol (dạng hoạt tính của hormone) ”, GS Scarabin đã giải thích như vậy. Nguy cơ được nhân lên gấp hai ở những phụ nữ có những nồng độ oestradiol tăng cao.

Nguy cơ này độc lập với những yếu tố nguy cơ khác như thể trọng, cao huyết áp, thặng dư cholestréol, bệnh đái đường hay việc hút thuốc. “ Điều này chứng tỏ rằng đó là một yếu tố nguy cơ mới.” Đối với B Scarabin, tốt hơn là tránh cho một điều trị hormone để điều trị mãn kinh, sau 60-65 tuổi.
(LE SOIR 14/6/2012)

8/ CHẤM DỨT HÀ HƠI THỔI NGẠT TRONG NGỪNG TIM

Trong phần lớn các trường hợp chỉ cần xoa bóp tim có thể đủ.

URGENCE. Ở Pháp, 30.000 đến 50.000 trường hợp chết đột ngột xảy ra mỗi năm, thường ở nhà nạn nhân. Trong phần lớn các trường hợp, vô ích, và ngay cả có hại nếu thực hiện hà hơi thổi ngạt (bouche-à-bouche) ở một bệnh nhân bị ngừng tim. Đó là điều vừa được chứng minh bởi một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ. Thật vậy tỷ lệ sống sót của các bệnh nhân đã chuyển từ 18% lên 34% từ khi ta không còn hà hơi thổi ngạt cho bệnh nhân nữa. Ngay cả khi ngừng tim, sự hô hấp bị ngừng lại.

Từ năm 2003, tiểu bang Arizona khuyến nghị các nhân chứng đừng hà hơi thổi ngạt nữa mà chỉ cần ép tim để làm máu lưu thông. Trừ trường hợp chết đuối, điện giật và khi đó là một đứa bé. Trong ba tình huống này sự thông khí theo nhịp 30 ép ngực (compression thoracique) luân phiên với 2 lần thổi khí vào (insufflation d’air) qua miệng vẫn được khuyến nghị.

Những kết quả của công trình nghiên cứu, vừa được công bố on line trong tạp chí của American College of Cardiology, liên quan đến thời kỳ 2004-2010. Những kết quả này xác nhận những ưu điểm của phương pháp không hà hơi thổi ngạt (méthode sans bouche-à-bouche), được chủ trương năm trước bởi GS Gordon Ewy, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc đại học Arizona. Còn được gọi là hồi sinh tim-não (réanimation cardio-cérébrale), phương pháp này, mà mục đích duy nhất là làm máu lưu thông cho đến tim và não, dựa trên nhưng cơ sở sinh lý vững chắc. Bởi vì, khi tim ngừng đập một cách đột ngột, nói chung máu chứa khá đủ oxygène để vẫn còn cung cấp các cơ quan trong 10 đến 15 phút. Tuy nhiên với điều kiện làm máu lưu thông nhờ xoa bóp tim (massage cardiaque).

Để thực hiện những ép ngực phải quỳ xuống bên cạnh nạn nhân, được đặt nằm dài trên một mặt phẳng cứng và, với cẳng tay duỗi thẳng, hãy đặt gót của các bàn tay (chồng lên nhau) ở trung tâm của ngực nạn nhân. Sau đó phải đè đủ mạnh để xương ức được ấn xuống từ 4 đến 5 cm, theo một nhịp 100 đè ép mỗi phút. “ Hàng trăm mạng người đã được cứu sống ở Wisconsin, ở Arizona và ở Texas từ khi hồi sinh tim-não đã được tuân theo ”, GS Ewy, với các con số hỗ trợ, đã lấy làm sung sướng như vậy.
(LE FIGARO 11/12/2012)

9/ CHOCOLAT TỐT CHO TIM

Tốt nhất là chọn chocolat đen với ít đường và mỡ

Quote:
Những điểm chủ yếu :

  • Một quan sát được thực hiện trên 100.000 người tiêu thụ chứng tỏ rằng nguy cơ tim mạch được giảm 37% đối với những người ăn chocolat.
  • Nhưng ta chưa biết nguyên nhân chính xác.
  • Dầu sao tốt nhất là hạn chế, bởi vì đường và mỡ hiện diện trong chocolat có thể hủy bỏ lợi ích này.

Đi mua chocolat mỗi ngày vừa đạp xe đạp cật lực đồng thời nghe những lời khuyên tiết thực của các… con mình : đây là tóm lược độc đáo những lời khuyến nghị chủ yếu từ một loạt công trình nghiên cứu về những phương cách cải thiện về mặt phòng ngừa sức khỏe của mình được trình bày tại hội nghị tim châu Âu, quy tụ 40.000 chuyên gia. Từ lâu có sự tranh cãi về tác dụng bảo vệ của việc tiêu thụ hàng ngày chocolat lên sức khỏe tim mạch : BS Oscar Franco, thuộc Đại học Cambridge, đã tập hợp những công trình nghiên cứu khác nhau trên thế giới để đi đến kết luận rằng ăn chocolat có thể làm giảm 37% nguy cơ tim mạch nói chung và 29% nguy cơ tai biến mạch máu não. Thế mà điều được xác lập là sự thay đổi thói quen ăn uống và lối sống (nhàn rổi không hoạt động quá mức, không tập thể thao, nghiện thuốc lá) là yếu tố chủ yếu để làm giảm ảnh hưởng quan trọng của dọa nhồi máu cơ tim, căn bệnh giết chết 24 triệu người mỗi năm vào năm 2030 nếu ta không thay đổi gì hết các lối sống của chúng ta. “ Chú ý, ở đây muốn nói một sự tiêu thụ có mức độ, từ hai miếng chocolat mỗi tuần đến hai miếng mỗi ngày. Với những dạng thương mãi thường gặp nhất, chocolat nói chung chứa quá nhiều đường và mỡ. Trung bình chocolat chứa 500 calories mỗi 100 g. Do đó tiêu thụ không tiết độ làm lên cân và gia tăng nguy cơ bị bệnh đái đường và bệnh tim. Như thế điều này sẽ hủy bỏ những tác dụng có lợi của sự tiêu thụ chocolat, mà chúng tôi đã quan sát thấy trong những công trình nghiên cứu được thực hiện trên hơn 100.000 người.” Vậy cần ưu tiên chocolat đen, với ít đường và mỡ.

NHỮNG ENDOMORPHINE THIÊN NHIÊN

“ Chúng ta vẫn hoài nghi về những nguyên nhân của tác dụng có lợi này. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy một tác dụng có lợi lên giảm huyết áp và nguy cơ bị bệnh đái đường. Có nhiều giả thuyết, nhất là sự hiện diện của những tính chất chống oxy hóa và chống viêm của cacao và của những flavonoides mà nó chứa. Nhưng tất cả các cố gắng nhằm phân lập và tập hợp chúng trong một viên thuốc không chứa đường cũng như không có mỡ đã bị thất bại. Một giả thuyết khác cho rằng sự khoái lạc do ăn chocolat phóng thích các endomorphine tự nhiên trong não bộ và nhiên hậu chất này có một tác dụng bảo vệ tim mạch. Nhưng điều đó chỉ là một giả thuyết. Dẫu sao, chúng ta chỉ có thể khuyến nghị một sự tiêu thụ chocolat có mức độ. ”

10/ MỘT MŨI ĐIỆN TỬ ĐỂ PHÁT HIỆN SUY TIM

Dự án đã làm ngạc nhiên trong hàng ngũ 40.000 thầy thuốc chuyên khoa tim, đôi khi hoài nghi, ở Hội nghị châu Âu về tim học : các nhà nghiên cứu người Đức đã hiệu chính một cái mũi điện tử có khả năng phân biệt được mùi phát xuất từ da của những bệnh nhân bị suy tim. Điều gây ngạc nhiên nhất là điều đó hữu hiệu ở phòng thí nghiệm nhưng các nhà nghiên cứu chưa thể đặt tên cho phân tử nhận diện một cách chính xác căn bệnh ! “ Tôi phải thú nhận với qúy vị rằng chúng tôi đã đi từ điều chứng thực của các chuyên gia tim. Họ đã ghi nhận rằng các bệnh nhân đau bệnh suy tim có một mùi khác khi tình trạng của họ suy sụp ”, BS Vasileios Kechagias, tác giả chính của công trình nghiên cứu này, được phát triển ở Đại học Iéna, đã giải thích như vậy.

“ Chúng tôi đã đặt cẳng tay của các bệnh nhân bị suy tim mất bù (insuffisance cardiaque décompensée) trong một aquarium có nhiệt độ trên 30 độ để làm cho họ toát ra mồ hôi trong 10 cycle với 3 phút mỗi chu kỳ. Sau đó chúng tôi đã phân tích mồ hôi trong một chromatographe ở pha khí (en phase gazeuse), một loại máy cho phép phân biệt những phân tử của một hỗn hợp rất phức tạp. Sau đó chúng tôi cũng đã làm như vậy với những bệnh nhân bị suy tim, nhưng được bù (insuffisance compensée), không cần một can thiệp cấp cứu, cũng như trên cẳng tay của những người lành mạnh. Các nhà nghiên cứu khi làm công tác phân tích đã không hay biết bệnh nhân thuộc nhóm nào. Họ đã xếp loại các mùi được cảm thấy thành hai nhóm phân biệt và họ đã nhận thấy rằng những bệnh nhân bị suy tim mà một can thiệp là cần thiết (những người bị suy tim mất bù) có một mùi khác với những người khác.

MỘT TRẮC NGHIỆM TA CÓ THẾ SỬ DỤNG TRONG HÀNG NGƯỜI Ở SIÊU THỊ.

Trắc nghiệm sử dụng một censeur de gaz được tạo thành bởi 3 film de métal rất mảnh, khi được làm nóng, phản ứng với da. Trắc nghiệm không hoàn hảo : nó chỉ phát hiện 89% những bệnh nhân cần điều trị và như thế lầm lẫn 11 trường hợp trên 100. Vì vậy các nhà nghiên cứu chuẩn bị da của các bệnh nhân để loại bỏ mọi dấu vết của mùi nước hoa hay những sản phẩm khác có thể đánh lạc hướng “ mũi điện tử ”. Chủ yếu là chúng đã không thể nhận diện thành phần hay phối hợp của các thành phần cho phép máy chtomatographe phân biệt giữa hai nhóm bệnh nhân.

“ Công trình nghiên cứu được theo đuổi, BS Kechagias đã nói tiếp như vậy, mục tiêu là hiệu chính một máy nhẹ như một vòng đeo tay (brachelet) và, một cách không xâm nhập, sẽ cho phép xác định nhanh chóng bệnh nhân nào cần phải giúp đỡ. Ta có thể đề nghị ngay cả trắc nghiệm này cho những người đúng sắp hàng ở siêu thị.

Ngày nay để chẩn đoán suy tim cần phải lấy máu, làm siêu âm tim, điện tầm đồ, ngay cả chụp X quang, những xét nghiệm nặng nề và xâm nhập. Nếu loại thiết bị này (mũi điện tử) cho phép đánh giá một cách nhanh chóng mức độ trầm trọng, thì những xét nghiệm nêu trên sẽ chỉ được thực hiện ở những bệnh nhân nếu điều đó là cần thiết. Và điều này sẽ cho phép can thiệp sớm hơn và hiệu quả hơn, trước khi tình trạng bệnh nhân suy sụp. Dĩ nhiên, chúng tôi còn phải đi qua không biết bao nhiêu chặn đường trước khi đạt được một chiếc máy khá nhẹ, đáng tin cậy và có thể dùng lập lại. Cũng cần phải nhận diện những phân tử nào có liên quan trong việc phát ra mùi ở những bệnh nhân bị suy tim. Ta biết rằng các con chó có thể nhận diện vài loại ung thư qua mùi được phát ra. Mũi điện tử của chúng tôi cũng gần giống như vậy. Ta không biết chiếc mũi này nhận diện cái gì, nhưng nó làm tốt công tác chọn lựa.”

Giả thuyết nghiêm túc nhất để giải thích sự thay đổi mùi này là do hậu quả của một sự biến đổi chức năng thận, một triệu chứng từ lâu được liên kết với suy tim.
(LE SOIR 31/8/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(5/1/2013)



Xem Thêm TSYH các số cũ hơn:

Edited by user Thursday, April 10, 2014 11:33:33 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



thanks 1 user thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 2/5/2013(UTC)
lly (Lynn Ly)  
#2 Posted : Sunday, January 13, 2013 8:21:02 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 292

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

CHUYÊN ĐỀ PHỤ KHOA


1/ NỘI MẠC TỬ CUNG LẠC CHỖ (ENDOMETRIOSE) : HÃY CHẤM DỨT CÁC THÀNH KIẾN
Quote:
  • Nội mạc tử cung lạc chỗ (endométriose) là một bệnh phụ thuộc kích thích tố (maladie hormono-dépendante) :
    • Máu kinh nguyệt được cấu thành bởi những mảnh của nội mạc tử cung (endomètre). Vào lúc bình thường, máu này được thải ra trong kinh kỳ.
    • Trong vài trường hợp, những mảnh này di tản và đến ghép ở những cơ quan lân cận.
    • Những tế bào tử cung này vẫn giữ tính chất phụ thuộc hormone. Vào mỗi kinh kỳ, chúng chảy máu và gây đau.

  • Những cơ quan chính bị ảnh hưởng bởi nội mạc tử cung lạc chỗ :
    • Thành tử cung
    • Bàng quang
    • Buồng trứng
    • Vòi trứng
    • Đại tràng.


Căn bệnh này, gây đau khi có kinh (règles douloureuses) và nguy cơ vô sinh (infertilité), phải được chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt.

GYNECOLOGIE. Nội mạc (endomètre) là một mô bình thường ta tìm thấy ở tử cung, và chỉ ở nơi này mà thôi. Nhưng trong nội mạc tử cung lạc chỗ (endométriose), mô này cũng hiện diện ở những nơi không phải chỗ mà nó thường hiện diện : thí dụ, ở các buồng trứng, đại tràng, những ống dẫn nối thận với bàng quang, Nguyên nhân, một sự trào ngược của máu kinh nguyệt (chứa những tế bào nội mạc tử cung) về phía những cơ quan khác, hay do sự di tản của các tế bào nội mạc vào trong những phần khác của cơ thể qua trung gian của hệ tuần hoàn.

Vì những lý do vẫn còn không được biết rõ, mô của nội mạc tử cung khi đó đến ghép ở vị trí mới của nó, ở đây nó gây nên đủ loại rắc rối, đi từ những cơn đau bụng đúng lúc (vào lúc kinh kỳ) đến triệu chứng đau bụng thường trực, không kể đến tình trạng vô sinh, máu trong nước tiểu hay trong phân… “ Nhiều gène có lẽ có liên hệ trong sự xuất hiện của một nội mạc tử cung lạc chỗ, GS Hervé Dechand, thầy thuốc chuyên khoa phụ sản (CHU Montpellier) đã giải thích như vậy, nhưng những yếu tố môi trường khác có lẽ cũng là nguyên nhân gây bệnh. Thí dụ, ở động vật được cho tiếp xúc với những chất như dioxine, ta tìm thấy một tỷ lệ cao một cách bất thường của bệnh nội mạc tử cung lạc chỗ ở những động vật cái. Vì sự chứng minh đã không được thực hiện ở người, do đó vẫn có thể có sự hoài nghi. ”

Mặc dầu những tiến bộ được thực hiện trong điều trị bệnh nội mạc tử cung lạc chỗ, các phụ nữ nghe nói bệnh này lần đầu tiên chỉ cần lên mạng để có một hình ảnh tai họa, tương ứng với điều mà bệnh nội mạc tử cung đã là cách nay vài năm, nhưng không tương ứng với thực tế ngày nay. “ Ta tính được 80% những thể nhẹ đến trung bình, đối với những thể này ta có những kết quả rất tốt và 20% những thể nặng, mặc dầu phức tạp, nhưng ta cũng có những giải pháp để đề nghị. Chính vì thế, nếu chỉ có một mệnh lệnh, đó là hãy chấm dứt nhiều thành kiến về căn bệnh này.”

“ Cũng cần ngưng việc làm cho các con gái của chúng ta tin rằng quặn mình đau lúc có kinh là việc bình thường, bởi vì đó là nguyên nhân đầu tiên khiến chậm chẩn đoán. Không, đó không phải là bình thường, và chính vì vậy cần phải nói ngay điều đó với thầy thuốc của mình để không bỏ qua khả năng bị nội mạc tử cung lạc chỗ. Xử trí càng sớm thì nhưng cơ may điều trị thành công càng tốt hơn ”, GS Michel Canis, thầy thuốc chuyên khoa phụ sản thuộc bệnh viện Estaing của CHU de Clermont-Ferrand đã nhấn mạnh như vậy.

Một quan điểm được chia xẻ bởi GS Philippe Descamps (thầy thuốc chuyên khoa phụ sản thuộc CHU d’Angers), đối với ông “ không nên do dự đi khám rất nhanh chóng một thầy thuốc biết rõ bệnh nội mạc tử cung lạc chỗ (và hội những bệnh nhân bị bệnh này www.endofrance.org rất hữu ích cho điều đó), vì kẻ thù tệ hại nhất của các bệnh này là không làm gì cả. ”

Một khi chẩn đoán đã được xác nhận, ngoài những thăm dò khác, bởi một siêu âm trong âm đạo (échographie endovaginale) được thực hiện bởi một thầy thuốc siêu âm (échographiste) biết rõ căn bệnh này, điều trị được cá thể hóa. “ Nếu không muốn có thai nữa, mọi trường hợp nội mạc tử cung lạc chỗ phải được điều trị để tránh bệnh tiến triển (hay tái phát nếu ta thực hiện một điều trị ngoại khoa) ”, GS Descamps đã nhấn mạnh như vậy. Điều đó không có nghĩa là nhất thiết ta sẽ cho một điều trị phức tạp : các thuốc phối hợp oestrogène và progestatif (thuốc ngừa thai) được sử dụng liên tục hay một vòng tránh thai chứa progestérone cùng đủ trong những thể nhẹ. Thật vậy, những điều trị ngừa thai (traitement contraceptif) này khiến nội mạc tử cung được nghỉ ngơi do làm biến mất các kinh kỳ. “ Nhờ thế làm thuyên giảm rất nhiều cơn đau và làm ổn định căn bệnh, mặc dầu điều này không giải quyết vĩnh viễn bệnh nội mạc tử cung lạc chỗ ”, GS Dechaud đã nói tiếp như vậy. Giải pháp khác ít được sử dụng hơn bởi vì chịu đựng ít tốt hơn : những điều trị gây một mãn kinh tạm thời (ménopause temporaire). Có những giải pháp để hạn chế những tác dụng phụ.

NHỜ ĐẾN NGOẠI KHOA

Trong trường hợp muốn có thai hay trường hợp thất bại của những điều trị y khoa, quyết định mổ bằng nội soi ổ bụng (coelioscopie), ngoại khoa vi xâm nhập (chirurgie mini-invasive) được thực hiện nhờ một caméra nhỏ, có thể được thực hiện để phá hủy nội mạc tử cung ở bất cứ nơi đâu mà lạc nội mạc tử cung (endométriose) hiện diện, ngoại trừ buồng trứng vẫn được dành ưu tiên cho sự toàn vẹn của nó.

Can thiệp được thực hiện với gây mê tổng quát. Trong những thể nhẹ đến trung bình, thường gặp nhất, người phụ nữ xuất viện sau 24 đến 72 giờ, trung bình với 2 tuần nghỉ việc. Trong những thể nặng, được giao cho những thầy thuốc ngoại khoa rất có kinh nghiệm của những khoa rất chuyên môn, phải tính một tuần nhập viện và một tháng nghỉ việc, trước khi bắt đầu trở lại công việc của mình. Tất cả những can thiệp này diễn biến tốt trong 95% các trường hợp. Và ngay cả đối với 5% những trường hợp có một rắc rối hậu phẫu, vẫn có cách mổ lại trong những tuần hay những tháng sau đó, vì vậy sự lo sợ không được biện minh, thí dụ, phải mang một túi (poche) suốt đời nếu sự triệt trừ mô nội mạc tử cung ở đại tràng hay trực tràng diễn biến xấu ”, GS Canis đã trấn an như vậy.

Sau phẫu thuật này, chỉ có những phụ nữ có một nội mạc tử cung lạc chỗ nặng hay nếu chồng có một tinh dịch bất thường, mới được hướng ngay về một trung tâm thực hiện thụ thai nhân tạo (FIV : fécondation in vivo). Đối với những trường hợp khác (và nếu tuổi của phụ nữ cho phép) các thầy thuốc đợi đến 12 tháng mới đề nghị một FIV. “ Sau rốt, cứ hai phụ nữ thì có một sẽ thành công có được một em bé, một nửa sau phẫu thuật nội soi ổ bụng, còn nửa kia bằng thụ thai nhân tạo (FIV)”, GS Canis đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 29/10/2012)

2/ NỘI MẠC TỬ CUNG LẠC CHỖ : NHỮNG TIẾN BỘ ĐƯỢC CHỜ MONG TRÊN CÁC MẶT TRẬN

“ Những thời hạn trung bình hiện nay giữa lúc một phụ nữ kêu đau bụng lúc có kinh và lúc chẩn đoán nội mạc tử cung lạc chỗ (endométriose) được xác lập là 6 đến 9 năm, điều này dĩ nhiên là quá chậm ”, GS Michel Canis (CHU de Clermont-Ferrand) đã nhận xét như vậy. Chính vì vậy tất cả những gì có thể cho phép một chẩn đoán sớm là một bước tiến thật sự. Và trong lãnh vực này, có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới.

Có ít thông tin về chủ đề này nhưng hiện hữu những hướng nghiên cứu,“ như hướng trích lấy một ít nội mạc bằng đường tự nhiên, bởi vì dường như nội mạc này hơi khác với một nội mạc bình thường, GS Hervé Dechaud, thầy thuốc chuyên khoa phụ sản (CHU Montpellier) đã nói tiếp như vậy. Nếu hướng nghiên cứu này được xác nhận, những trắc nghiệm chẩn đoán đơn giản có thể sẽ ra đời từ nay đến 3 đến 5 năm nữa.” Trong lúc chờ đợi, phải luôn luôn ghi nhớ trong đầu khả năng chẩn đoán này ở những cô gái rất trẻ kêu đau bụng kinh dữ dội và/hoặc sử dụng sớm thuốc ngừa thai với mục đích duy nhất để bớt đau bụng.“ Việc sử dụng sớm vien thuốc ngừa thai ở một thiếu nữ chưa hề giao hợp là một chỉ dấu tốt của đau bụng và do đó phải tìm kiếm một nội mạc tử cung lạc chỗ ”, GS Dechaud về phần mình đã đánh giá như vậy.

Về mặt điều trị nội khoa, trong chỉ định này, ta chờ đợi sự xuất hiện những thuốc điều biến (modulateur) các thụ thể đối với progestérone trong 3 đến 5 năm nữa : chúng có thể cải thiện sự dung nạp đối với điều trị hormone.“ Những loại thuốc khác, nhằm phá hủy nội mạc trong những nơi mà bình thường nó không thể hiện diện, cũng đang ở giai đoạn đánh giá. Chúng cũng có thể đến trên thị trường trong 3 đến 5 năm nữa nếu những thử nghiệm sắp đến tỏ ra chứng thực ”, GS Descamps (CHU Angers) đã đánh giá như vậy. Ngay cả ngoại khoa cũng có đóng góp. Nhờ kỹ thuật “ thực tế gia tăng ” (technique de réalité augmentée), mà mục tiêu là lấy những điểm chuẩn lúc chụp hình ảnh trước phẫu thuật và dán chúng vào hình ảnh thu được khi phẫu thuật soi ổ bụng (coeliochirurgie), như thế ta sẽ lợi được về mức độ chính xác, GS Canis đã hứa hẹn như vậy.

NHỮNG KỸ THUẬT MỚI.

Tiến bộ khác ít ngoạn mục, tuy nhiên không kém phần quan trọng : thu thập những dữ kiện để cho phép xác nhận tốt hơn nhưng chỉ định phẫu thuật. Sau cùng, những kỹ thuật mới đã xuất hiện để phá hủy mô nội mạc khu trú trong buồng trứng, đối tượng của tất cả sự chú ý ở phụ nữ mong muốn có con. Những kỹ thuật này nhờ đến laser, năng lượng plasma hay alcoolisation u nang và tất cả đều có điểm chung là tìm cách gìn giữ tối đa mô buồng trứng.

Vậy thời kỳ, trong đó ta phải hy sinh buồng trứng bị bệnh, đã qua rồi và đó là một điều tốt : thật vậy, vì nội mạc tử cung lạc chỗ không phải là một u ác tính, do đó ta luôn luôn có thời gian để suy nghĩ trước khi lấy quyết định có tính cách vĩnh viễn. “ Sự suy nghĩ này, cần thiết đối với những phụ nữ bị một thể nặng, nhất thiết phải được tiến hành trong một khoa chuyên môn gồm một kíp nhiều chuyên khoa, với một thầy thuốc phụ sản, một thầy thuốc tiết niệu, một thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa và một thầy thuốc chuyên về sinh sản (fertilité) ”, GS Descamps đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 29/10/2912)

3/ NỘI MẠC TỬ CUNG LẠC CHỖ : TÁC ĐỘNG CỦA BỆNH BỊ ĐÁNH GIÁ THẤP Ở PHÁP

Bệnh lạc nội mạc tử cung (endométriose) thiếu được nhận biết. “Tuy vậy cần khẩn cấp công nhận một cách chính thức những centre de référence trong điều trị căn bệnh này, nhất là trong những thể nặng, bởi vì khi đó ngoại khoa đòi hỏi một mức độ chuyên môn quan trọng mà chỉ một kíp đa chuyên khoa mới có thể mang lại ”, GS Philippe Descamps (CHU Angers) và GS Michel Canis (CHU de Clermont-Ferrand) đã nhấn mạnh như vậy.

Cũng cần khẩn cấp làm cho công chúng và các thầy thuốc đa khoa biết rõ hơn căn bệnh này, ảnh hưởng lên một số lượng đáng kể các phụ nữ : khoảng 10% các phụ nữ trong lứa tuổi sinh sản, 1/3 trong số những phụ nữ này kêu đau bụng dưới mãn tính và gần một nửa gặp khó khăn để có một em bé. Điều này càng quan trọng khi có ít công trình nghiên cứu cho thấy rằng ảnh hưởng của bệnh lạc nội mạc tử cung rất là to lớn vì lẽ nhiều trường hợp nghỉ việc, khám bệnh và nhập viện do một điều trị thường quá muộn (ta càng để nội mạc xuất hiện trong những nơi khác nhau thì càng phức tạp để loại bỏ nó)

ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG SỐNG.

Công trình nghiên cứu mới đây của Pháp trong đó GS Canis tham gia (được công bố vào tháng ba năm 2012 trong Human Reproduction) cho thấy rằng phí tổn do bệnh này sinh ra, cũng như sự ảnh hưởng lên chất lượng sống cũng tương tự như phí tổn của một bệnh mãn tính khác như bệnh đái đường.Theo một công trình nghiên cứu khác (Global Study of Women’s Health), sự mất năng suất sản xuất trong lao động khoảng 10 giờ mỗi tuần trong trường hợp lạc nội mạc tử cung nặng.

Những hoạt động không có tính cách nghề nghiệp, như những công việc nội trợ, luyện tập thể dục, đi mua hàng và giữ trẻ cũng bị xáo trộn một cách đáng kể. Hậu quả : ở Hoa Kỳ là nơi phí tổn của lạc nội mạc tử cung được tính bằng con số, phí tổn được ước tính 22 tỷ dollars mỗi năm.

Thế mà không phải tất cả chỉ có thế. Bởi vì sự việc bị đau mãn tính không những ảnh hưởng lên tinh thần của người phụ nữ bị bệnh, mà còn lên tinh thần của cả gia đình bởi vì những di chuyển và những đi ra ngoài đều bị hạn chế. Ngoài ra khi những giao hợp đau đớn và khi ước muốn có con không được thỏa mãn, thì chính đôi vợ chồng có nguy cơ không cưỡng lại được. “ Mặt khác, ở vài trong số những phụ nữ này, hiện tượng đau không chỉ dừng lại ở bệnh lạc nội mạc tử cung, mà còn kèm theo hội chứng ruột kích thích (syndrome du colon irritable), một thể địa đau nửa đầu (terrain migraineux), thậm chí một fibromyalgie, mà ta không thể nói là bệnh nhân có một thể địa đau đớn đặc biệt hay không, hay không biết rằng rằng đau của lạc nội mạc tử cung, nếu không được điều trị thích ứng, có lót đường cho một tình trạng âu lo (anxiété) hay một stress mãn tính thuận lợi cho sự phát sinh những đau đớn khác ”, GS Hervé Dechaud (CHU Montpellier) đã nhận xét như vậy.

Vì tất cả những lý do này, thật sự khẩn cấp cần làm biết rõ hơn bệnh lạc nội mặc tử cung này ở Pháp. Hiệp hội chống lại bệnh lac nội mạc tử cung ở Pháp, Endofrance, ra sức thực hiện điều đó khi viết thư cho các chính trị gia từ năm 2005, đúng là được sự ủng hộ của các dân biểu, nhưng không được Bộ Y Tế đồng ý dù chỉ là một chiến dịch thông tin. Thế thì, sự thay đổi mà các phụ nữ bị bệnh nội mặc tử cung hằng mong chờ, đến khi nào mới thực hiện ?
(LE FIGARO 29/10/2012)

4/ NHỮNG VIÊN THUỐC NGỪA THAI THẾ HỆ THỨ BA : BÁO ĐỘNG ĐÃ ĐƯỢC TUNG RA NGAY NĂM 1995.

Nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận rằng những thuốc ngừa thai“ thế hệ thứ hai” ít nguy có hơn.

CONTRACEPTION. Không có một lý do nào vẫn cứ tiếp tục kê đơn những viên thuốc ngừa thai “ thế hệ thứ ba ”. Tất cả các viên thuốc oestro-progestative làm gia tăng nhẹ nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse), đặc biệt là viêm tĩnh mạch (phlébite), nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire). Nhưng nguy cơ hai lần quan trọng hơn đối với những viên thuốc ngừa thai được gọi là “ thế hệ thứ ba ” và “ thứ tư ” (những thuốc ngừa thai này có chất progestatif là désogestrel, gestodène, norgestimate, drospirénone…) so sánh đối với những thuốc ngừa thai “ thế hệ thứ hai ” (trong đó progestatif là lévonorgestrel hay norgestrel).

“ Sur-risque tương đối thấp, GS Jean-Louis Montastruc (giáo sư pharmacologie médicale,Toulouse) đã nêu lên như vậy. Nhưng một nguy cơ hai lần quan trọng hơn là điều không thể chấp nhận được khi có những thuốc thay thế khác an toàn hơn nhiều. Tôi không hiểu tại sao ta cho đến tháng ba mới dérembourser những viên thuốc ngừa thai này.”

Những nguy cơ của các viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba đã bắt đầu được nghi ngờ vào năm 1995. Chúng đã được xác nhận nhiều lần, đặc biệt từ năm 2005. Tuy nhiên đã phải đợi khi một bệnh nhân ở Pháp đưa đơn kiện vào tháng 12 năm 2012, sau khi bị một tai biến nặng mà bệnh nhân quy cho Méliane, một thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba của Hãng bào chế Bayer, thì Cơ quan dược phẩm sau cùng mới áp dụng những biện pháp để làm giảm bớt những kê đơn. Hàng ngàn đơn kiện chống lại các xí nghiệp dược phẩm cũng đã được tung ra ở Hoa Kỳ.

MỘT SỰ DUNG NẠP TỐT HƠN ĐÃ KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC CHỨNG MINH.

Một viên thuốc ngừa thai thường nhất được cấu thành bởi một sự kết hợp của oestrogène tổng hợp và progestatifs (associations oestroprogestatives). Vào tháng 12 năm 1995, một loạt những công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí The Lancet đã phát hiện lần đầu tiên rằng những viên thuốc ngừa thai mới nhất, được gọi là thế hệ thứ ba, làm gia tăng nguy cơ bị viêm tĩnh mạch (phlébite) hay nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmoanire). Nguy cơ là 3,9 trường hợp mỗi năm trên 100.000 phụ nữ nếu không dùng thuốc ngừa thai, 10,3 trên 100.000 đối với những phụ nữ dùng một viên thuốc ngừa thai “ thế hệ thứ hai ” và 21,3 với viên thuốc thế hệ thứ ba. Rất nhanh chóng, các nhà nghiên cứu hiểu rằng những viên thuốc “ thế hệ thứ ba ” này làm gia tăng sự đề kháng với hệ chống đông tự nhiên của máu, trong khi những viên thuốc thế hệ thứ hai chỉ gây nên một phần một tác dụng như thế.

Các hãng dược phẩm thương mại hóa những viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba này (vả lại đắc giá hơn những viên thuốc “ thế hệ thứ hai ”) đã bắt đầu phủ nhận những kết quả này. Các hãng dược phẩm đã bắt đầu, ở các thầy thuốc kê đơn và những hiệp hội các phụ nữ, những chiến dịch marketing rộng lớn để ca ngợi những đặc điểm của những viên thuốc thế hệ thứ ba này, theo họ, sẽ không làm lên cân, được dung nạp tốt hơn… Điều đã không bao giờ được chứng minh. Một báo cáo của GS Alfred Spira đã kết luận ngay năm 1992, trước khi bắt đầu cuộc tranh cãi, rằng không một công trình nghiên cứu khoa học nào đã chứng minh rằng những viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba là được dung nạp tốt hơn trên bình diện lâm sàng. Mặc dầu thế, dưới sức ép của các hãng dược phẩm, vài loại thuốc cuối cùng đã được remboursé.

Vào tháng 12/2001, sau một báo cáo của Ủy ban châu Âu các biệt dược (Comité européen des spécialités pharmaceutiques) kết luận rằng một nguy cơ huyết khối (thrombose) hai lần quan trọng hơn đối những viên thuốc ngừa thai “ thế hệ thứ ba ”, khi đó Cơ quan dược phẩm ở Pháp đã gởi một bức thư cho các thầy thuốc kê đơn yêu cầu họ xét đến những dữ kiện này, tuy nhiên không hạn chế việc sử dụng chúng.

10 ĐẾN 30 TRƯỜNG HỢP TỬ VONG MỖI NĂM Ở PHÁP

Giữa năm 2005 và 2012, hơn một chục công trình nghiên cứu đã xác nhận nguy cơ gia tăng với những thuốc ngừa thai “ thế hệ thứ ba ”. Ở Hoa Kỳ, vào năm 2007, một thỉnh nguyện thư được tung ra bởi các chuyên gia, yêu cầu cấm chỉ chúng vĩnh viễn. Hoài công. Vào năm 2011, một điều tra rộng lớn được tiến hành ở Đan Mạch, trên 8 triệu phụ nữ, một lần nữa cho thấy nguy cơ ít hơn của những viên thuốc ngừa thai “ thế hệ thứ hai ” sau cùng đã khiến giới hữu trách y tế khuyến nghị các thầy thuốc sử dụng chúng trước tiên. Ở Pháp, những thuốc ngừa thai “ thế hệ thứ ba ” này phần lớn được kê đơn, mặc dầu bằng chứng của một nguy cơ gia tăng mà từ nay được xác nhận một cách rõ ràng. Những viên thuốc ngừa thai loại này chịu trách nhiệm từ 10 đến 30% những trường hợp tử vong mỗi năm trong đất nước của chúng ta.

Không thể tiên đoán những phụ nữ nào sẽ bị huyết khối tĩnh mạch khi dùng thuốc ngừa thai, nhưng vài yếu tố phải báo động. “ Điều rất quan trọng, trước khi kê đơn các thuốc ngừa thai, là phải tìm kiếm những yếu tố nguy cơ của huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse), đặc biệt là những tiền sử cá nhân, những trường hợp trong gia đình ”, GS Jacqueline Conard (chuyên viên huyết học) đã giải thích như vậy. Trong những trường hợp này, phải thực hiện một bilan để tìm kiếm một rối loạn đông máu, nói chung nguồn gốc di truyền, trước khi kê đơn thuốc ngừa thai.

Ta cũng biết rằng sự liên kết thuốc lá và thuốc ngừa thai là có hại. Ngoài ra, chứng béo phì và du lịch bằng máy bay là những yếu tố làm dễ huyết khối tĩnh mạch, vốn được làm gia tăng bởi sử dụng thuốc ngừa thai. “ Phải đả thông tốt các phụ nữ về thuốc ngừa thai mà họ sử dụng, nhưng không nên xúi họ ngừng thuốc đột ngột, như thế có nguy cơ tạo nên một trận dịch IVG (gián đoạn thai nghén tự ý) ”, BS Joelle Belaisch Allart (thầy thuốc phụ khoa, Sèvres) đã cảnh giác như vậy.
(LE FIGARO 7/1/2013)

5/ THUỐC NGỪA THAI CỦA CÔ/BÀ THUỘC THẾ HỆ NÀO ?

Một viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba là gì ? Nhiều phụ nữ không biết viên thuốc ngừa thai mà họ sử dụng thuộc thế hệ nào và bối rối đứng trước cuộc tranh luận hiện nay.

Những viên thuốc được gọi là pilule oestroprogestative liên kết một oestrogène tổng hợp và một progestatif : chính loại progestatif xác định thế hệ của viên thuốc. Những viên thuốc chỉ chứa progestatif (pilule progestative) cần uống nghiêm túc, mỗi ngày vào cùng giờ. Chúng không bị ảnh hưởng bởi nguy cơ nghẽn tắc động mạch phổi (embolie).

Đối với những viên thuốc phối hợp (pilule combinée : viên thuốc chứa oestrogène kết hợp với progestatif), có thể có nhiều công thức, theo tính chất của oestrogène được sử dụng và liều lượng của nó, loại progestatif và sau cùng sự phân bố của các liều của hai hormone này trong chu kỳ kinh nguyệt. Các liều hormone cố định trong mỗi viên thuốc trong chu kỳ đối với những viên thuốc một pha (pilules monophasiques) trong khi chúng cao hơn trong phần hai của chu kỳ kinh nguyệt đối với các viên thuốc hai pha (pilules biphasiques). Cũng có những viên thuốc ba pha (triphasique) hay bốn pha (quadriphasique) làm thay đổi các liều lượng hormone trong 3 hay 4 pha.

Phần lớn những viên thuốc phối hợp đều dùng éthinyl-estradiol (EE) như oestrogène tổng hợp. Chúng được gọi là minidosé, bởi vì chúng chỉ chứa 20 hay 30 micogramme EE trong khi các viên thuốc normodosé được sử dụng trong những năm 1960/70 có liều lượng 50 microgramme.

Trái lại, loại progestatif thay đổi và ta xếp loại các viên thuốc ngừa thai tùy theo sự thay đổi này. Thế hệ thứ nhất với noréthistérone (Triella, Miniphase) hay norgestriénone (Planor), thế hệ thứ hai đối với lévonorgestrel (Adépal, Minidril, Trinordiol, Microgynon) hay norgestrel (Stédiril).

Các progestatif thế hệ thứ ba là désogestrel (Cycleane, Mercilon, Marvelon, Varnoline, Mirlelle, Desopharm), gestodène (Femodene, Harmonet, Minesse, Minulet, Triminulet, Meliane, Melodia, Moneva, Phaev, Carlin, Optinesse) hay norgestimate (Cilest, Tricilest, Elfiprev, Triafemi).

Cũng được xếp vào thế hệ thứ ba những viên thuốc phối hợp chứa drospirénone (Yasmin, Yasminelle, Yaz).

Phải ghi nhận trường hợp đặc biệt của những viên thuốc loại Diane 35, được cấu tạo bởi EE và cyprotérone acétate : mặc dầu trước hết được dùng để điều trị mụn, nhưng chúng thường được sử dụng vì những tính chất ngừa thai. Những nguy cơ huyết khối nghẽn mạch cũng giống đối với những viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba.

Sự phối hợp oestrogène và progestatif cho phép tác động lên nhiều mức để ngăn cản thai nghén. Bằng cách phong bế sự rụng trứng, bằng cách biến đổi thành phần của niêm dich (mucus) ở cổ tử cung (glaire cervicale) để ngăn cản những tinh trùng vượt qua cổ tử cung và sau cùng bằng cách ngăn cản sự làm ổ (nidation) của một trứng được thụ tinh ở xoang tử cung. Các progestatif chủ yếu là những thuốc ngừa thai do làm biến đổi glaire cervicale và bằng cách ngăn cản sự làm ổ.
(LE FIGARO 7/1/2013)

6/ UNG THƯ VÚ : CÁC PROGESTATIFS LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ.

Được sử dụng như thuốc ngừa thai, chúng làm gia tăng gấp hai nguy cơ ở những phụ nữ dưới 44 tuổi, theo một công trình nghiên cứu.

ONCOLOGIE. Từ vài năm nay, những công trình nghiên cứu khác nhau đã chứng minh rằng sự kết hợp progestatifs de synthèse và oestrogènes trong điều trị hormone thay thế (THS : traitement hormonal substitutif) vào lúc mãn kinh làm gia tăng nguy cơ bị ung thư vú ở các phụ nữ.

Nhưng có phải cùng hậu quả đối với progestatifs de synthèse khi chúng được cho đơn độc (không phối hợp với oestrogènes) như thuốc ngừa thai, ở những phụ nữ trẻ tuổi hơn ? Đó là câu hỏi mà kíp của GS Christopher Li (Seattle, Hoa Kỳ) đã tự hỏi lúc đặc biệt quan tâm đến acétate de dépo-medroxyprogetérone (Depo-Provera), bị cáo buộc trong công trình nghiên cứu chính (WHI) về điều trị chứng mãn kinh.

Hợp chất tổng hợp tổng hợp này được cho dưới dạng tiêm ở các phụ nữ không thể dùng thuốc viên một cách đều đặn. Dạng thuốc này, trái với những nước khác, ít khi được sử dụng ở Pháp, ở đây ta thích hơn những implant. Công trình nghien cứu, được công bố vào tháng 4 trong tạp chí Cancer Research, phát hiện rằng acétate de dépomedroxyprogestérone làm gia tăng nguy cơ bị ung thư vú 2,2 lần ở những phụ nữ tuổi từ 20 đến 44. “ Trước 35 tuổi, nguy cơ phát triển loại ung thư này rất thấp. Như thế, mặc dầu nguy cơ được nhân lên hơn 2, nguy cơ tuyệt đối vẫn tối thiểu ”, BS Marc Espié, trưởng Trung tâm các bệnh về vú thuộc bệnh viện Saint Louis, Paris, đã trấn an như vậy.

BIAIS DE SURVEILLANCE

Nếu acétate de dépo-medroxyprogestérone rất ít được sử dụng, các progestatifs dùng bằng đường miệng có thể được kê đơn riêng rẻ trước tuổi mãn kinh. Chúng được chỉ định để ngừa thai, khi bị đau vú, trong trường hợp kinh kỳ quá dồi dào hay trong trong trường hợp nội mạc tử cũng lạc chỗ (endométriose) (bệnh của tử cung). Theo một công trình nghiên cứu rộng lớn E3N, được tiến hành bởi Françoise Clavel-Chapelon, thầy thuốc chuyên khoa dịch tễ học của Inserm, các phụ nữ đã từng sử dụng lần đầu tiên điều trị này giữa 40 tuổi và lúc xuất hiện mãn kinh và như thế trong hơn 4 năm, có một nguy cơ gia tăng 44% phát triển một ung thư vú.

“ Tuy nhiên mối liên hệ nhân quả không rõ ràng, GS Anne Gompel, thầy thuốc phụ khoa thuộc bệnh viện Hôtel-Dieu (Paris) đã cảnh giác như vậy. Những progestatifs, ở những phụ nữ từ 40-50 tuổi, được kê đơn cho những phụ nữ bị mastodynie (vú đau) và trong thời kỳ tiền mãn kinh có nhiều nguy cơ hơn bị ung thư vú. ” “ Sự gia tăng nguy cơ cũng có thể là do một biais de surveillance, BS Marc Espié đã nói như vậy. Những phụ nữ dùng thuốc ngừa thai thường thực hiện chụp tuyến vú hơn. Điều này có thể giải thích những chẩn đoán hơi nhiều (un léger surdiagnostic) trong nhóm những phụ nữ này.”

Giả thuyết khác : các progestatif de synthèse có một tác dụng tăng hoạt chứ không phải khơi mào lên những tế bào tiền ung thư. Điều này có nghĩa là chúng không tạo nên những tế bào ung thư nhưng giúp những tế bào ung thư đã hiện hữu tăng sinh. Dữ kiến làm an lòng : sự gia tăng nguy cơ dừng lại khi ngừng điều trị dầu cho thời gian đã sử dụng là gì.

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA VIÊN THUỐC

Nuit công trình nghiên cứu về các progestatifs, như công trình của kíp Seatle, vẫn hiếm hoi. Những công trình về những thuốc ngừa thai phối hợp oestrogène và progestatif (contraceptifs oestroprogestatifs) (có chất cơ bản là oestrogènes) nhiều hơn và duy trì một cách đều đặn cuộc tranh luận về thuốc ngừa thai và ung thư vú. Chúng ta biết gì hôm nay ? “ Mặc dầu nguy cơ hiện hữu, nhưng nó vẫn vô cùng thấp và chủ yếu liên quan đến những phụ nữ đã dùng thuốc ngừa thai rất sớm sau những kinh nguyệt đầu tiên và trong một thời gian kéo dài trước khi có thai lần đầu đủ tháng (5 đến 10 năm) ”, BS Pascale This, thầy thuốc phụ khoa của Institut Curie (Paris) đã xác nhận như vậy. “Surrisque” ung thư vú liên kết với sự sử dụng một viên thuốc ngừa thai phối hợp oestrogène và progestatif, trong thời gian dùng thuốc và trong 10 năm tiếp theo sau, được ước tính 0,5 trường hợp trên 10.000 phụ nữ, đối với một sử dụng từ 16 đến 19 năm.

“ Trong cán cận những lợi ích-nguy cơ, cũng phải xét đến , ngoài tính hiệu quả ngừa thai, những lợi ích khác của nó như sự điều hoà các kinh kỳ, điều trị mụn, và chứng đau bụng khi có kinh..”, BS Pascale This đã nhấn mạnh như vậy. Ngừa thai bằng viên thuốc ngừa thai phối hợp oestrogène và progestatif, cũng được liên kết với một sự giảm nguy cơ ung thư buồng trứng và nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Ở những phụ nữ có nguy cơ gia đình bị ung thư vú, sau 10 năm sử dụng thuốc ngừa thai, caa chuyên gia khuyên xét đến những phương pháp ngừa thai khác không dùng hormone

1/ Progestatifs intramusculaires/sous-cutané à usage contraceptif

DEPO-PROVERA

acétate de médroxyprogestérone
ampoule seringue im 150 mg/1 ml
ampoule seringue s/c 104 mg/0,65 ml
Liều lượng : được sử dụng như thuốc ngừa thai : 150 mg tiêm mông hay 104 mg tiêm dưới da mỗi 3 tháng.

Médroxyprogestérone được sử dụng như thuốc ngừa thai bằng đường tiêm mông hay dưới da (piqure contraceptive), thời gian tác dụng không thể tiên đoán được và những tác dụng phụ như lên cân, mất kinh và spotting thường gặp : do làm giam những nồng độ oestrogènes, médroxyprogestérone làm giảm mật độ xương trong trường hợp dùng lâu dài.

2/ Progestatifs sous forme d’ implant à usage contraceptif

IMPLANON

étonogestrel được sử dụng dưới dạng implant trong ngừa thai. Mức độ ăn toàn của sự ngừa thai trong thời kỳ được khuyến nghị (đến 3 năm) có lẽ tương tự với mức độ an toàn của những phối hợp oestroprogestative, miễn là implant đã được đặt một cách đúng đắn (điều này rất quan trọng)

3/ Progastatifs oraux à usage contraceptif.

CERAZETTE (désogestrel)

thuốc viên 0,075 mg
1 viên mỗi ngày

MICROLUT (lévonorgestrel)
thuốc viên 0,03 mg
1 viên mỗi ngày
(LE FIGARO 30/4/2012)

7/ ĐIỀU TRỊ CHỨNG MÃN KINH BẰNG HORMONE VẪN LUÔN LUÔN BỊ TRANH CÃI

Một công trình nghiên cứu mới đây biện hộ cho việc phục hồi điều trị hormone.

GYNECOLOGIE. Phải chăng đã đến lúc phục hồi điều trị hormone thay thế (THS : traitement hormonal substitutif) đối với chứng mãn kinh ? Tuần qua câu hỏi khuấy động các thầy thuốc phụ khoa người Pháp họp hội nghị ở Paris. Trong những năm 1980 và 1990, THS (phối hợp oestrogène và progestatif) hầu như được đề nghị cho tất cả các phụ nữ ở lúc mãn kinh. Điều đó xảy ra trước khi một công trình nghiên cứu quy mô lớn của Hoa Kỳ, WHI (Women Health Initiative) được thực hiện trên 16.000 phụ nữ, vào năm 2002 cho thấy những nguy cơ rõ rệt gia tăng bị ung thư vú, huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse) và các tai biến tim-mạch với THS. Kết quả : một sự sụt giảm 73% doanh thu của THS giữa 2002 và 2011. “ Giờ đây chúng ta ở 10 năm sau WHI, GS Patrice Lopres, chủ tịch của Groupe d’ étude de la ménaupose et du veillissement hormonal (Gemvi) đã nhấn mạnh như vậy, ta hiểu tốt hơn tại sao trong công trình nghiên cứu này những nguy cơ thắng rõ rệt những lợi ích ”. Đối với các chuyên gia Pháp, một công trình nghiên cứu được trình bày tháng qua, được mệnh danh là Keeps, khá gây an lòng với điều kiện tôn trọng vài nguyên tắc thận trọng.

Trước hết, GS Lopes đã giải thích như vậy, “ nếu ta quyết định dùng các hormone, thì phải dùng sớm. Tốt nhất là trong 5 năm, tồi nhất là trong 10 năm.” Trong công trình WHI, điều trị đã được bắt đầu khoảng 63 tuổi, hoặc 10 năm sau mãn kinh. “ Một phụ nữ vừa mới mãn kinh có một lớp nội mạc rất lành mạnh trong khi đó sau khoảng 10 năm, có một sự biến đổi của thành các động mạch ”, GS JoAnne Manson, thuộc đại học Havard, mới đây đã giải thích như vậy, lúc trình bày công trình nghiên cứu Keeps, trong đó các phụ nữ tất cả được điều trị trong vòng 3 năm sau khi mãn kinh, “ đó là ý tưởng về một fenêtre d’intervention bénéfique ”, BS Lydia Mariée-Scemama, phó chủ tịch của Association française d’études de la ménopause đã nhấn mạnh như vậy.

NGUY CƠ TIM-MẠCH

Điểm thứ hai, đường cho thuốc và loại hormone được sử dụng. Đường qua da (voie transdermique), phần lớn được kê đơn ở Pháp, có những ưu điểm về mặt an toàn, BS Gabriel André, phó chủ tịch của Gemvi đã phát biểu như vậy. Trong công trình nghiên cứu Keeps, các phụ nữ được điều trị hoặc bằng placebo, hoặc bằng đường miệng, hoặc bằng đường qua da. “Dầu thuộc nhóm nào, đã không có những tác dụng có hại trên bình diện tim mạch, trên số ung thư vú hay nội mạc tử cung, trên các bệnh tĩnh mạch huyết khối nghẽn mạch (maladie veineuse thrombo-embolique) hay trên các tai biến mạch máu não ”, BS Marié-Scemama đã nói rõ chi tiết như vậy. “ Với một điều trị bằng đường miệng, ngay cả với một progestatif không phải tốt nhất, ta vẫn giữ được một lợi ích nếu ta cho chúng ngay giai đoạn đầu của mãn kinh ”, GS Lopes lấy làm mừng rỡ.

Tuy nhiên vẫn cần phải thận trọng, bởi vì, trong công trình nghiên cứu Keeps, các phụ nữ nhận một THS vốn đã có lúc khởi đầu một nồng độ HDL-cholestérol (bảo vệ tim mạch) cao hơn những phụ nữ được điều trị với placebo và thời gian nhìn lại chỉ mới 4 năm. “ Chúng tôi đã ngạc nhiên thấy một sự giảm rõ rệt HDL với các œstrogène dùng bằng đường qua da ”, GS Manson đã báo cáo như vậy. Những tiêu chuẩn trung gian không nhất thiết là điềm tốt đối với nguy cơ tim mạch về lâu về dài. Sau cùng, “ về mặt phát sinh ung thư vú, không có một sự khác nhau giữa đường miệng và đường qua da ”, GS Thierry Maudelonde, thuộc CHU de Montpellier đã nhận xét như vậy.

Con đường phục quyền của THS (mà không ai có thể chối cãi những lợi ích đối với những cơn phừng mặt, khí chất và chất lượng sống, chứng loãng xương) mặc dầu vậy đã không chấm dứt. Những khuyến nghị mới của Haute Autoriré de santé được chờ đợi năm này sẽ không thể loại bỏ một yếu tố quan trọng đè nặng lên hồ sơ lợi ích-nguy cơ của THS. Thật vậy ta đã quan sát thấy một sự giảm những trường hợp ung thư vú mới từ khi sự sử dụng THS sụt giảm trong các nước như Pháp, Hoa Kỳ, Canada, Anh. Do đó khó có thể tiếp tục lập luận rằng sự gia tăng nguy cơ ung thư vú được quan sát với THS chỉ do một“ tác dụng tăng hoạt ” (effet promoteur) lên những tế bào ung thư đã hiện diện trong vú và tác dụng này chẳng qua chỉ phát hiện một ung thư tiềm tàng. “ Sự giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú biện minh cho một vai trò khởi phát (rôle initiateur) hơn là một vài trò tăng hoạt (rôle promoteur) ”, GS Maudelonde đã công nhận như vậy. Nhất là nhiều công trình nghiên cứu, chứ không chỉ WHI, đã phát hiện một nguy cơ gia tăng bị ung thư vú với THS.
(LE FIGARO 10/12/2012)

8/ PHUƠNG PHÁP HỦY TRIỆT SẢN DO THẮT VÒI TRỨNG ĐƯỢC ROBOT HỖ TRỢ (DESTERILISATION TUBAIRE ROBOTISEE) ĐƯỢC THỰC HIỆN LẦN ĐẦU TIÊN Ở PHÁP.

GS Jean-Marc Ayoubi, trưởng khoa phụ sản ở hopital Foche de Suresnes giải thích phương pháp cải tiến này dành cho những phụ nữ mong muốn hủy thắt vòi trứng (déligature des trompe).

Hỏi : Sau khi thắt vòi trứng, vì những lý do nào vài phụ nữ mong muốn được hủy triệt sản (déstérilisation) ?
GS Jean-Marc-Ayoubi : Cuộc đời không phải là một dòng sông êm đềm…những tình huống gia đình có thể tiến triển và khiến các bệnh nhân muốn có một thai nghén mới : quyết định triệt sản đã được thông qua quá nhanh, lấy chồng khác, thay đổi ý kiến, mất một đứa con…

Hỏi : Những kỹ thuật quy ước nào được sử dụng để hủy thắt vòi trứng (déligature tubaire)
GS Jean-Marc-Ayoubi : Kỹ thuật đầu tiên và xưa nhất : hủy thắt vòi trứng bằng mở bụng (déligature par laparotomie) có từ năm 1970. Kỹ thuật này nhằm phục hồi tính liên tục của vòi trứng (anastomose) bằng mở thành bụng.

Hỏi : Những ưu điểm và những bất tiện của kỹ thuật này là gì ?
GS Jean-Marc-Ayoubi : Kỹ thuật này cho phép một mức độ chính xác lớn của các động tác nhưng phải trả giá với những dính (adhérences) quan trọng sau mổ. Sau mổ, những cơn đau bụng buộc bệnh nhân phải dùng thuốc giảm đau, thậm chí các dẫn xuất nha phiến. Thời gian nhập viện kéo dài một tuần và thời kỳ lại sức, khoảng 20 ngày. Những kết quả về mặt thai nghén rất là tốt.

Hỏi : Sự khác nhau nào giữa hủy thắt vòi trứng bằng mở bụng (déligature par laparotomie) và bằng nội soi ổ bụng (déligature par coelioscopie) ?
GS Jean-Marc-Ayoubi : Mở bụng (laparotomie) (chỉ có thể trong những năm 70 và 80) đã dần dần nhường chỗ cho nội soi ổ bụng (coelioscopie). Kỹ thuật này, được sử dụng sau đó, cũng cho phép tái lập sự liên tục của vòi trứng, nhưng bằng những lỗ nhỏ, qua đó phẫu thuật viên đưa vào bụng một bộ phận quang học (optique), các dùi chọc (trocarts) và những dụng cụ nội soi, mà không cần phải mở thành bụng.

Hỏi : Những ưu điểm chính của ngoại khoa bằng nội soi ổ bụng (chirurgie par coelioscopie) này là gì ?
GS Jean-Marc-Ayoubi : Kỹ thuật này, ít chính xác hơn kỹ thuật trước, tuy nhiên dần dần buộc phải thực hiện, bởi vì bệnh nhân có nhiều lợi điểm : đau hậu phẫu ít hơn, thời gian nhập viện ngắn hơn, khoảng 24 giờ. Các bệnh nhân lấy lại hoạt động nhanh hơn vì lẽ thời gian phục sức chỉ kéo dài khoảng 10 ngày. Những biến chứng hiếm hơn, những dính sau mổ (adhérences postopératoires) ít gặp hơn. Nhưng những kết quả này về mặt sinh sản tỏ ra ít thỏa mãn hơn so với những kết quả thu được bằng mở bụng.

Hỏi : Kỹ thuật hủy triệt sản bằng ngoại khoa soi ổ bụng với robot hỗ trợ (déstérilisation robotisée par coelioscopie) là gì ?
GS Jean-Marc-Ayoubi : Đó là thực hiện một can thiệp bằng một phương thức nội soi ổ bụng nhưng với một robot có một cánh tay mang những dụng cụ ngoại khoa. Những động tác được điều khiển bởi thầy thuốc ngoại khoa nhờ những manette. Nhà phẫu thuật ngồi vào một console (trong cùng phòng mổ), đôi mắt nhìn vào một màn ảnh 3 chiều không gian (écran tridimensionnle) trên đó phẫu trường (champ opératoire) được nhìn thấy với một mức độ vô cùng chính xác. Kỹ thuật tái diễn lại một cách trực giác những động tác của phẫu thuật mở bụng (laparotomie) mà không cần phải mở bụng.

Hỏi : Những ưu điểm của can thiệp được hỗ trợ bởi một robot là gì ?
GS Jean-Marc-Ayoubi : Có nhiều ưu điểm : 1. Vì ta có được một khả năng nhìn phẫu trường tốt hơn nhiều theo 3 chiều không gian, nên ta có thể sử dụng những dụng cụ tinh tế hơn, điều này cho phép thực hiện một vi phẫu thuật (microchirurgie) ít xâm nhập hơn và ít gây chấn thương hơn đối với các mô. Các biến chứng xuất huyết ít thường xảy ra hơn. 2. Với kỹ thuật này, đau hậu phẫu ít quan trọng hơn so với những can thiệp quy ước. 3. Thời gian nhập viện ngắn ngủi : khoảng 24 giờ. Thời gian phục sức nhanh : khoảng 1 tuần. 4. Những dính hậu phẫu ít thường gặp hơn nhiều. 5. Những kết quả về mặt thai nghén dường như tốt hơn những kết quả của những kỹ thuật khác.

Hỏi : Kết quả nhìn lại của ngoại khoa được robot hỗ trợ là gì ?
GS Jean-Marc-Ayoubi : Ở Pháp, chúng ta còn trụt hậu. Kỹ thuật này đã được sử dụng từ hơn 5 năm nay ở phía bên kia Đại Tây Dương (Hoa kỳ) và ở châu Âu. Hai công trình nghiên cứu lớn, một ở Hoa Kỳ và một ở Bỉ (mỗi công trình được thực hiện trên hơn 80 bệnh nhân), đã cho thấy những kết quả tuyệt vời về mặt sinh đẻ.

Hỏi : Ở bệnh viện Foch, những kết quả của những can thiệp đầu tiên của ông với kỹ thuật này là gì ?
GS Jean-Marc-Ayoubi : Kíp của chúng tôi đã là kíp đầu tiên ở Pháp thực hiện kỹ thuật này. Trên 3 phụ nữ khoảng 40 tuổi mà chúng tôi đã mổ, hai bà đã có thể cho ra đời đứa con hằng mong ước. Thai nghén và sinh đẻ đã diễn ra không biến chứng. Những trường hợp sinh đầu tiên này đã được công bố trong một bài báo trong tạp chí “ Gynécologie obstétrique & fertilité ”
(PARIS MATCH 20/12-26/12/2012)

9/ ĐỂ ĐIỀU TRỊ U XƠ PHẢI CHĂNG ĐỀU PHẢI CẮT BỎ TỬ CUNG ?

Professeur Hervé Fernandez
Chef du service de gynécologie obstétrique
CHU Bicêtre


Các u xơ tử cung (fibromes utérins) vẫn là bệnh lý thuờng gặp nhất ở nữ giới. Chịu trách nhiệm xuất huyết (nguyên nhân đầu tiên đi khám bệnh giữa 40 và 50 tuổi) và đau bụng vùng chậu (douleurs pelviennes), các u xơ tử cung là nguyên nhân đầu tiên khiến cắt bỏ tử cung ở Pháp.

Thế kỷ XXI đã chứng kiến sự xuất hiện những vấn đề mới trong y khoa, đặc biệt là trong phụ khoa, ở đây khái niệm “ bảo tồn tử cung của mình ” ngày nay ở trọng tâm của những mong chờ của các phụ nữ và khiến các thầy thuốc thực hành ưu tiên những kỹ thuật bảo tồn mới, mỗi khi điều này có thể thực hiện được.

Trước tiên, cần phải nhớ rằng nhiều lắm chỉ 1/3 các u xơ tử cũng sẽ cần một điều trị. Cho đến hôm nay, không có một điều trị nội khoa nào cho các u xơ tử cung, và những điều trị thường được kê đơn, các progestatifs, các thuốc chống viêm, các thuốc giảm đau, nhiên hậu chỉ để điều trị các triệu chứng liên kết với u xơ, nhưng không điều trị chính u xơ. Vậy thì nếu có một chỉ định điều trị, thì điều trị này luôn luôn là ngoại khoa và/hoặc phóng xạ trị liệu.

MONG MUỐN CÓ THAI

Tại sao ý niệm “ bảo tồn tử cung của mình ” đã phát triển ? Các phụ nữ mong muốn giữ sự toàn vẹn vật lý của họ, được hưởng những điều trị ngoại khoa ít hung bạo nhất, điều mà các thầy thuốc thực hành đã thể hiện bằng những kỹ thuật ngoại khoa vi xâm nhập (technique de chirurgie mini-invasive). Ngoài ra, những khả năng sinh đẻ muộn nhờ những kỹ thuật hỗ trợ y khoa sinh đẻ (assistance médicale à la procréation) đôi khi đã đẩy lùi rất nhiều những khả năng có thai sau hơn 40 tuổi và do đó mong muốn giữ tử cung của mình, để có thể thực hiện, ít nhất tiềm năng, một sự sinh đẻ.

Do đó khi ta buộc điều trị bằng ngoại khoa một u xơ tử cung, câu hỏi chủ yếu mà thầy thuốc thực hành phải đặt ra là : bà có mong muốn giữ khả năng thai nghén trong tương lai không ? Nếu câu trả lời là vâng, các kỹ thuật được sử dụng sẽ giữ nguyên vẹn xoang tử cung để cho phép sinh đẻ. Nếu câu trả lời là không, điều đó không nhất thiết buộc cắt bỏ tử cung nhưng có thể cho phép sử dụng những kỹ thuật thay thế hystérectomie.

Ta có thể đề nghị kỹ thuật nào khi một phụ nữ mong muốn giữ tử cung của mình và bảo tồn khả năng sinh đẻ ? Khi triệu chứng chính là xuất huyết và khi chẩn đoán u xơ trong xoang tử cung được xác lập (fibrome sous-muqueux : u xơ dưới niêm mạc), sự cắt bỏ bằng nội soi tử cung (résection hystéroscopique) cho phép lấy đi u xơ hay những u xơ chịu trách nhiệm sự xuất huyết. Kỹ thuật này sử dụng một bộ phận quang học, nối với một caméra, được đưa vào bằng đường tự nhiên xuyên qua cổ tử cung, cho phép quan sát xoang tử cung và, nhờ một năng lượng điện, cho phép cắt bỏ các u xơ. Khi các u xơ tử cung gây đau, khi chúng nằm hoặc là trong thành tử cung, hoặc là về phía ngoài tử cung, ta có thể đề nghị cắt bỏ u xơ bằng nội soi ổ bụng (coelioscopie), nghĩa là không phải mở rộng trên bụng. Kỹ thuật này, nhằm đưa vào qua đường rốn, vào trong bụng, một bộ phận quang học gắn vào một caméra, cho phép lấy ra một hay nhiều u xơ. Trong những trường hợp khác, khi có nhiều u xơ, ta có thể hoặc là phối hợp những kỹ thuật nội soi tử cung hay nội soi ổ bụng, hoặc, trong những tình huống có 3 u xơ hoặc hơn, thực hiện mở bụng (laparotomie), nghĩa là một vết sẹo y hệt như vết sẹo mổ được thực hiện khi mổ lấy thai và lấy ra mỗi u xơ đồng thời bảo tồn sự toàn vẹn của tử cung.

SIÊU ÂM VÀ TÂN SỔ PHÓNG XẠ

Khi các phụ nữ không còn muốn có con nữa, có những giải pháp khác. Nếu triệu chứng chính là một sự xuất huyết, ta có thể phá hủy niêm mạc tử cung (được gọi là nội mạc : endomètre) bằng những kỹ thuật khác nhau.Ta có thể theo phương pháp phá hủy bằng nhiệt, hay bằng năng lượng điện. Những kỹ thuật này có ưu điểm là đơn giản, với hiệu quả trên 80% mà không cần phải khả năng chuyên môn của thầy thuốc khoa ngoại. Ta có thể đề nghị những kỹ thuật embolisation và, trong trường hợp này, chính những thầy thuốc X quang thực hiện nó, mà mục đích là bịt các động mạch dẫn đến các u xơ và do đó tạo nên một hoại tử. Những can thiệp này cần nhập viện 48 giờ để điều trị đau gây nên do ngừng phân bố mạch (vascularisation) của các u xơ và có mức độ hiệu quả từ 80 đến 90%. Những kỹ thuật khác đang được đánh giá, như sự phá hủy các u xơ bằng các siêu âm hội tụ (ultrasons focalisés) hay làm tan cơ (myolyse : phá hủy thành của u xơ) bằng tần số phóng xạ (radiofréquence). Hai kỹ thuật sau cùng này dường như cho phép bảo tồn tử cung và giữ được những khả năng sinh đẻ, với một tính hiệu quả trên các u xơ triệu chứng từ 60 đến 70%. Tuy nhiên, những kỹ thuật này tốn kém, chưa được sử dụng với quy mô lớn và không thể đề nghị một cách thường quy do thiếu thời gian nhìn lại (recul). Chỉ những bệnh nhân được đưa vào trong một đánh giá về tính hiệu quả của những điều trị mới này mới có thể hưởng được điều có lẽ, trong tương lai, sẽ là một bước tiến điều trị.

Như thế, một sự phân tích tỉ mỉ các triệu chứng, những hậu quả lên chất lượng sống và lên sự sinh đẻ sẽ cho phép xác định tốt nhất những bệnh nhân nào sẽ có thể nhận một điều trị ngoại khoa bảo tồn, và những bệnh nhân nào, trái lại, còn phải chịu một hystérectomie, bởi vì chỉ có cắt bỏ tử cung khi đó mới có thể mang lại một chất lượng sống đầy đủ.

Vào bất cứ lúc nào, điều thiết yếu là phải lắng nghe các bệnh nhân, mặc dầu một điều trị bảo tồn có thể thực hiện, nhưng lại mong muốn thực hiện cắt bỏ tử cung, bởi vì can thiệp này còn có thể được xem như là để thoát khỏi mọi sự xuất huyết, mọi biện pháp ngừa thai, để làm dễ việc sử dụng những điều trị chứng mãn kinh bằng hormone khi được chỉ định, vì lẽ khi không có tử cung, progestérone sẽ không cần thiết nữa. Ngoài ra, phải nhắc lại rằng khi một phẫu thuật cắt bỏ tử cung được chỉ định và phần lớn được thực hiện qua đường âm đạo hay bằng nội soi ổ bụng, điều được mong muốn là có thể bảo tồn các buồng trứng, ngay cả khi ta lấy đi các vòi trứng.

Những chiến lược mới này và ý niệm bảo tồn tử cung này đã cho phép những người Anh, trong 15 năm qua, giảm một nửa số những trường hợp cắt bỏ tử cung được thực hiện vì xuất huyết. Như thế, về mặt y tế cộng đồng, phải chứng thực rằng ta có thể làm tiến hóa và làm giảm một cách đáng kể số những trường hợp cắt bỏ tử cung, để có thể xem rằng, trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI này, cắt bỏ tử cung không còn là điều trị đầu tiên của các u xơ đối với những phụ nữ trên 40 tuổi nữa.
.(LE FIGARO 13/2/2012)

10/ TA CÓ THẾ CẢI THIỆN PHÒNG NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG ?

Professeur Jean-Jacques Baldauf
Département de gynécologie et obstétrique
Hopital de Hautepierre (Strasbourg)


Ở Pháp mỗi năm xuất hiện gần 3000 trường hợp mới ung thư cổ tử cung, chịu trách nhiệm gần 900 trường hợp tử vong. Đó là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai bởi ung thư ở những phụ nữ dưới 45 tuổi. Tuy vậy, để chống lại ung thư này, có những biện pháp phòng ngừa nguyên phát và thứ phát rất có hiệu quả.

Một mặt, thời gian tiến triển của những thương tổn tiền ung thư (lésions précancéreuses) thành thương tổn xâm nhập (lésion invasive) nói chung là dài, cho phép xét đến sự lập lại những xét nghiệm phát hiện để khám phá và điều trị một cách hiệu quả những thương tổn này để ngăn ngừa ung thư. Mặt khác, có một tiêm chủng dự phòng ngăn ngừa một cách hiệu quả nhiễm trùng bởi papillomavirus (HPV) và những hậu quả của nó và như thế tránh 70% những ung thư cổ tử cung. Việc không thực hiện công tác phát hiện là một yếu tố nguy cơ quan trọng ung thư cổ tử cung trong toàn bộ các quốc gia phát triển.

Frottis cervical vẫn là phương pháp quy chiếu để phát hiện ung thư cổ tử cung. Đó là một thăm dò đơn giản, ít tốn kém, không có nguy cơ, mà ưu điểm là số những trắc nghiệm dương tính giả rất thấp, đồng thời tránh những thăm dò chẩn đoán tốn kém và gây lo âu, thậm chí những điều trị quá mức. Frottis được khuyến nghị ở những phụ nữ từ 25 tuổi đến 65 tuổi, theo nhịp độ 3 năm một lần, sau 2 frottis âm tính được thực hiện cách nhau một năm. Mặc dầu được phổ biến rộng rãi ở Pháp (hơn 6 triệu frottis mỗi năm) nhưng một bộ phận không nhỏ các phụ nữ chỉ đôi khi hoặc không bao giờ chịu trắc nghiệm này. Tỷ lệ toàn bộ thực hiện frottis được ước tính 58,7%, sụt xuống dưới 50% sau 55 tuổi.

PHARMACOVIGILANCE

Chứng thực rằng sự phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) chứng tỏ sự ưu thế hơn so với sự phát hiện cá thể (dépsitage individuel) (hay ngẫu nhiên) về mặt tính hiệu quả, hiệu năng cũng như tính công bằng và bình đẳng trong việc tiếp cận phòng ngừa, Haute Autorité de santé đã khuyến nghị vào năm 2010 công tác điều tra phát hiện có tổ chức của ung thư cổ tử cung. Sự phát hiện có tổ chức này hiện được tài trợ trong 13 tỉnh của nước Pháp.

Về thuốc chủng, để có được tính hiệu quả tối đa, các thiếu nữ phải được tiêm chủng trước khi xuất hiện một nhiễm trùng bởi HPV (sự tiêm chủng này không có tác dụng chữa lành bệnh) và phải tôn trọng lịch trình tiêm chủng (3 liều trong 6 tháng). Trong những điều kiện thực hiện tối ưu này, hai vaccin hiện được thương mãi hóa (Cervarix và Gardasil) có một tính hiệu quả rất cao (trên 98% đối với sự phòng ngừa những nhiễm trùng dai dẳng và những thương tổn liên quan đến các loại HPV được nhắm đến). Từ tháng ba năm 2007, sự tiêm chủng này nhận được nhiều khuyến nghị sử dụng. Trong số những khuyến nghị này, thường thấy nhất là đề nghị tiêm chủng các thiếu nữ ở tuổi 14, nghĩa là trước khi bắt đầu hoạt động sinh dục. Tuy vậy sự bảo vệ nhờ tiêm chủng vẫn dưới mức tối ưu, vì lẽ tỷ lệ những thiếu nữ đã nhận ít nhất một liều vaccin HPV là dưới 30% đối với diện được nhắm đến là 14 tuổi và chỉ đạt 60% đối với những thiếu nữ từ 17 đến 18 tuổi.

Những vấn đề về những nguy cơ liên quan đến 2 vaccin này làm lo lắng các bệnh nhân, những người hành nghề y tế và giới hữu trách y tế của đất nước.

Ở Pháp, pharmacovigilance (cơ quan cảnh giác dược) đối với 2 vaccin này được điều hòa bởi Afssaps. Cơ quan an toàn các dược phẩm này của Pháp đã thiết đặt một sự theo dõi quốc gia. Bilan mới nhất được thông báo vào tháng 7 năm 2011 cho thấy một tương quan lợi ích-nguy cơ thuận lợi đối với sự tiêm chủng này.Với 4 triệu liều Gardasil được phân phát và 1,5 triệu thiếu nữ được tiêm chủng, số trường hợp những tác dụng phụ nặng vẫn thấp và dưới số được dự kiến trong số những người không được tiêm chủng trong dân chúng. Ngoài ra, sự phân tích mỗi trường hợp được khai báo đã không cho phép xác lập một mối liên hệ nhân quả giữa sự tiêm chủng và những biến chứng được quan sát.

Vaccvin bổ sung cho công tác điều tra phát hiện (bằng frottis) ngăn ngừa những ung thư được gây nên bởi HPV ở những cơ quan khác (âm đạo, âm hộ, hậu môn…) và làm giảm bệnh lý tiền ung thư cổ tử cung và tỷ lệ bệnh tật do điều trị. Ngược lại, công tác điều tra phát hiện vẫn cần thiết ngay cả ở những bệnh nhân được chủng ngừa vì lẽ nguy cơ ung thư cổ tử cung gây nên bởi những loại HPV không được các vaccin nhắm đến hay vì một nhiễm trùng xảy ra trước khi tiêm chủng.

Tính chất bổ sung giữa sự điều tra phát hiện và sự tiêm chủng, được thực hiện một cách tôi ưu, hẳn dẫn đến một sự giảm nguy cơ cá thể bị ung thư cổ tử cung khoảng 98%.

Vào năm 2011, ở Pháp những mục tiêu của sự tối ưu của phòng ngừa này vẫn quan trọng : thứ nhất, phải mở rộng sự tổ chức phát hiện ung thư cổ tử cung trên toàn lãnh thổ. Thứ hai cũng phải cải thiện sự bảo vệ nhờ tiêm chủng chống papillomavirus trước khi xuất hiện những nhiễm trùng, nghĩa là đối với diện đích (những thiếu nữ 14 tuổi), và cải thiện sự tuân thủ 3 liều theo lịch trình
(LE FIGARO 13/2/21012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(13/1/2013)


Xem Thêm TSYH các số cũ hơn:

Edited by user Sunday, January 13, 2013 8:40:23 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



thanks 1 user thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 1/14/2013(UTC)
lly (Lynn Ly)  
#3 Posted : Sunday, January 20, 2013 3:22:29 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 293

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ LUYỆN TẬP THỂ THAO TRỞ LẠI : VÂNG NHƯNG BẰNG CÁCH NÀO ?

Quote:
THỂ THAO VÀ NHÀN RỖI KHÔNG HOẠT ĐỘNG BẰNG CÁC CON SỐ


30 – 5 - 0

Đó là " tiercé gagnant " để bảo vệ trái tim mình, theo Fédération française de cardiologie :
  • 30 phút hoạt động vật lý,
  • 5 trái cây và rau xanh và
  • 0 điếu thuốc mỗi ngày.

8 GIỜ

Hoạt động vật lý mỗi ngày, đó là con số trung bình cách nay...2 thế kỷ.

24%

Những người châu Âu tuyên bố, vào năm 2006, đạt được ngưỡng hoạt động vật lý có lợi cho sức khỏe (30 phút mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần).

10%

Những trường hợp tử vong trên thế giới là do thiếu hoạt động vật lý, theo một công trình nghiên cứu được công bố trong The Lancet 18/7/2012

Đó luôn luôn là cơ hội tốt để tiếp tục hoạt động vật lý.

EFFORT. Tập luyện lại thể thao khi ta đã không làm điều đó từ nhiều năm nay, thậm chí từ nhiều thập niên, và ta đã lên cân, đó là điều dễ nói hơn là dễ làm và cũng dễ hiểu. “ Sai lầm lớn nhất là đặt mốc quá cao khi ta tự bảo rằng ta sẽ chơi thể thao trở lại ở mức mà trước đây ta đã bỏ. Dĩ nhiên điều đó hẳn đưa đến thất bại và đó là cách tốt nhất để nản lòng ngay buổi đầu tiên ! Điều mà ta phải nhắm đến, đó là chỉ cần cử động và tạo cho mình lạc thú ”, BS Jacqueline Jan, thầy thuốc chuyên về thể thao ở Rennes, đã giải thích như vậy.

Nhưng trong khi nhắm đến một sự tái tục dần dần, cần phải có vài điều thận trọng, bởi vì lúc ta già, trái tim ta không còn như trước đây nữa. “ Không cần phải thăm khám thầy thuốc nếu đó chỉ là để bước với một nhịp thanh thản, khi ta không có vấn đề về sức khỏe và điều này dầu tuổi tác như thế nào. Ngược lại, trước hết phải thăm khám thầy thuốc gia đình của mình trước khi bắt đầu trở lại một hoạt động thể thao khác có cường độ mạnh hơn sau 40 tuổi hay nếu như khi ta bước, việc làm này làm phát khởi những triệu chứng như khó thở bất thường, hồi hộp, mệt, khó ở, đau ngực. Khi đó thầy thuốc gia đình đánh giá có cần một ý kiến của thầy thuốc chuyên khoa tim hay không, nếu cần một trắc nghiệm lúc gắng sức (épreuve d’effort) sẽ được thực hiện. Trong trường hợp có tiền sử bệnh phổi hay nghiện thuốc lá, những trắc nghiệm chức năng hô hấp (épreuve fonctionnelle respiratoire) với phân tích hơi thở có thể rất hữu ích ”, GS François Carré (service des explorations fonctionnelles, CHU Rennes) đã nhấn mạnh như vậy.

Một khi thầy thuốc gia đình đã bật đèn xanh, (điều này không ngăn can sau đó phải đi thăm khám khi có chút ít triệu chứng để tránh những tai biến), vấn đề còn lại là phải chọn những hoạt động vật lý của mình. “ Ngoài thi đấu (compétition), mặc dầu không bị cấm chỉ, nhưng những hoạt động dai sức (activités dendurance), như marche nordique, jogging, đạp xe đạp trên đất bằng hay bơi lội, ích lợi nhất đối với hơi thở. Cũng hữu ích để vẫn mềm mai và giữ cân bằng : thể dục nhẹ (gymnastique douce), tài chi và stretching. An toàn nhất là hãy bắt đầu lại ở mức zéro. Rồi gia tăng rất từ tốn thời gian hay cường độ của sự gắng sức, khi ta cảm thấy thoải mái với một giai đoạn đầu. Và để biết ta có cố sức hay không, thật là đơn giản : ta không bao giờ được bị hụt hơi (souffle coupé) đến độ không thể trả lời những câu hỏi đơn giản ”, BS Jean đã phát biểu như vậy.

Trong vòng vài tuần đạt được 3 buổi tập luyện 1 giờ mỗi tuần, điều đó đã là tốt, nhưng không gì bắt buộc phải thực hành cùng loại thể thao : trái lại , sự việc thay đổi cho phép làm những nhóm cơ khác hoạt động. Phải chọn đúng những hoạt động làm vui thích, nếu không, những giải pháp tốt không bao giờ kéo dài được . Bắt đầu lại nhiều môn là một kích thích tốt, với điều kiện tất cả ở cùng mức và cấm mọi tinh thần đua tranh..

CHÚ Ý Ô NHIỄM

Trên thực hành, ta càng già ta càng phải chăm chút lúc đầu và lúc cuối của buổi luyện tập. Điều này có nghĩa rằng tốt nhất là bắt đầu bằng 10 phút bước tích cực để hâm nóng. Và cuối buổi tập dược, phải tái tục 10 phút để làm chậm lại nhịp độ và thực hiện vài động tác giãn (étirement), thí dụ bằng cách dựa vào cây hay một bức tường. Những quy tắc vàng khác được đưa ra bởi các thầy thuốc chuyên khoa tim (www.clucardiosport.com) : “ Hãy bù nước tốt trong khi thực hành thể thao bằng cách uống 3 đến 4 ngụm nước mỗi 30 phút tập luyện. Tránh những hoạt động cật lực với nhiệt độ bên ngoài âm hay, ngược lại, trên 30 độ hay trong trường hợp cao điểm của sự ô nhiễm. Không bao giờ được hút thuốc trong hai giờ trước và sau khi tập luyện và không được tiêu thụ chất kích thích (substances dopantes). Cũng đừng tập thể thao khi sốt, cũng như trong vòng 8 ngày sau khi bị cúm. Nếu tôn trọng những quy tắc an toàn đơn giản này, ta sẽ hạn chế rất nhiều những nguy cơ tai biến ”, GS Carré đã nhấn mạnh như vậy. “ Biện pháp thận trọng cơ bản khác : có một trang bị thích ứng với môn thể thao mình chọn, bắt đầu bằng những đôi giày tốt ”, BS Alain Bernady đã nhắc lại như vậy

Dầu tin chắc rằng thể thao tốt cho sức khỏe, dẫu sao ta cũng vấp phải một chướng ngại đáng kể : đó là không thích thể thao nói chung và tất cả những môn thể thao nói riêng ! “ Không sao, BS Jan đã giải thích như vậy. Có nhiều cách khác để vận động. Đối với những người chỉ mới nhìn thấy một đôi basket đã dội ngược, vẫn còn có môn làm vườn (jardinage) hay công tác nội trợ. Với điều kiện thật sự hết lòng, chứ không phải là một hoạt động nghỉ ngơi. Ngoài ra, bước thay vì dùng xe hơi để đi một quãng ngắn, dùng cầu thang hơn là thang máy, những cơ hội để cử động không thiếu gì.”

Và tin tốt lành, đó là ta chỉ có thể tiến bộ khi ta bắt đầu từ điểm số không. “ Vậy đừng chán nản, hãy nhìn những tiến bộ đạt được và cần nhớ rằng điều quan trọng không phải là những thành tích, mà là giữ sức cơ, tính bền bỉ (endurance) và sự mềm mại của mình, vắn tắt, tạo cho mình những phương tiện để luôn luôn en pleine forme ”, BS Alain Bernady, thầy thuốc chuyên khoa phổi (polyclinique côte basque sud) đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 14/1/2013)

2/ HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ : NHỮNG LỢI ÍCH ĐỐI VỚI TIM, XƯƠNG, TRỌNG LƯỢNG

Nếu 84% những người trên 50 tuổi tuyên bố thỉnh thoảng thực hành một hoạt động vật lý, chỉ còn 44% tuyên bố thực hiện ít nhất 1 lần mỗi tuần và 17% thực hiện một cách bài bản (Centre national pour le développement du sport, enquête 2010). Vậy hơn một nửa những người trên 50 tuổi sẽ được lợi khi luyện tập trở lại thể thao.

Để đạt được điều đó, không cần phải những kỳ công : theo GS François Carré (CHU Rennes), ngay cả lúc thực hành một hoạt động vật lý mức độ vừa phải, những lợi ích sẽ có nhiều. Trước hết, trên bình diện tim mạch : “ Nhờ thể thao, các thành động mạch trở nên mềm mại, do đó hạ huyết áp. Thể thao cũng làm dễ sử lưu thông của các động mạch vành (những động mạch tưới máu tim) và làm gia tăng tính lưu (fluidité) của máu. Một hoạt động đều đặn làm dễ sự tạo thành những huyết quản mới ở tim, thay thế cho những động mạch già nua bị bít. Oxygénation các mô được thực hiện tốt hơn, do đó tim và não là nhưng cơ quan đầu tiên hưởng lợi. Sau cùng máu lưu thông hơn và các động mạch mềm dẻo hơn, điều này càng làm giảm những nguy cơ bị tai biến mạch máu não.

Ưu điểm khác : ở một người trưởng thành có sức khoẻ tốt, sự việc chỉ cần bước nhanh trong 30 phút mỗi ngày (hay mọi hoạt động vật lý khác) làm giảm 40% nguy cơ phát triển về sau một bệnh đái đường, một nguy cơ tim mạch mà ai cũng biết. Và khi bị bệnh đái đường, sự việc giữ một hoạt động vật lý làm dễ dàng hơn việc kiểm soát bệnh đái đường. Điều này được giải thích bởi sự kiện là thể thao làm dễ công việc của insuline là điều hoà nồng độ đường trong máu. Thế mà bệnh đái đường loại 2 (thường xảy ra nhất) đúng là do một insuline không hiệu quả : mệnh lệnh của insuline để làm đường của máu trở lại ở trong các tế bào vẫn không có hiệu quả.

Thể thao cũng làm dễ sự tan mô mỡ, kể cả mô mỡ nằm ở bụng và là xấu nhất cho sức khỏe. Thế mà mô mỡ này sản xuất những phân tử viêm bị nghi là tham dự vào việc phát sinh các ung thư : ngoài ra người ta đã xác lập một cách rõ ràng rằng nguy cơ ung thư được thu giảm ở những người Pháp hoạt động nhất về phương diện vật lý. Không những những người này ít bị ung thư hơn, mà nếu có ung thư thì họ ít bị tái phát hơn.Một hoạt động vật lý đều đặn đồng thời làm giảm những cao điểm tiết vài kích thích tố như oetrogène, testostérone, insuline,, những hormone này cũng làm dễ sự tăng trưởng của vài khối u.

MỘT TÁC DỤNG LÊN TÍNH KHÍ

Không phải chỉ có thế : một nguy cơ bị chứng loãng xương được giảm, một khối lượng cơ quan trọng hơn còn là một lợi ích được chứng tỏ của một hoạt động vật lý. Ở những người bị trầm cảm, 30 phút hoạt động vật lý đều đặn, 3 lần mỗi tuần, có một tác dụng rất dương tính lên tính khí và có lẽ lên lòng tự tin.

Sau cùng, lợi ích cuối, nhưng không phải là kém phần quan trọng : “ Ở người hút thuốc, việc tái tục một hoạt động vật lý giúp quản lý tốt hơn stress và do đó chấm dứt hút thuốc đối với những kẻ muốn nhất cử lưỡng tiện. Đó cũng là một phương tiện tốt để làm giảm nguy cơ tim mạch của mình (tăng cao ở người hút thuốc) ”, BS Alain Bernady, thầy thuốc chuyên khoa phổi (polyclinique cô te basque sud) đã nhấn mạnh như vậy.

“ Tuy nhiên, những kết quả bền vững chừng nào ta chơi thể thao đều đặn ”, nhưng trong trường hợp ngừng chơi, ta mất những thành quả đạt được, BS Carré đã nhận xét như vậy. Vậy phải bắt đầu lại đồng thời tính đến chuyện lâu dài.
(LE FIGARO 14/1/2013)

3/ NHỮNG NGƯỜI HÚT THUỐC VÀ NHỮNG NGƯỜI SUY HÔ HẤP CŨNG CẦN HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ

Rất nhiều người hút thuốc lá, đặc biệt là những người đã bị ảnh hưởng do một sự tắc phế quản, nghĩ rằng thể thao không còn dành cho họ nữa. “ Thật ra, trái ngược lại là đằng khác, BS Alain Bernady, thầy thuốc chuyên khoa phổi (polyclinique côte basque sud) đã giải thích như vậy. Bởi vì nếu có một nhóm người mà hoạt động vật lý lại còn có lợi ích hơn, thì đó là nhóm của những người hút thuốc và những người suy hô hấp.”

Ngay cả đó là một vấn đề sống còn bởi vì, do khó thở, những người bị bệnh phế quản phổi tắc mãn tính (BPCO) thu giảm hoạt động vật lý do phản xạ và trở nên ít hoạt động. Hậu quả : khối lượng cơ (masse musculaire) của họ giảm, họ đánh mất sự thích ứng đối với gắng sức và gặp những khó khăn tăng dần khi phải thực hiện những cố gắng càng ngày càng ít quan trọng. Lại càng gay go cho họ khi thêm vào tình trạng suy hô hấp mãn tính là những bệnh lý khác, đặc biệt là những bệnh tim mạch. Được liên kết vào là một tình trạng loãng xương rất quan trọng, do sử dụng corticoides, chứng nghiện thuốc lá và tình trạng không hoạt động (sédentarité).

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HÔ HẤP

Ngoài ra, tình trạng lo âu và chứng trầm cảm ảnh hưởng lên 1/3 những người bị suy hô hấp. Và những rối loạn giấc ngủ, hơn 2/3 trong số những người này. Hậu quả : chất lượng sống của họ có thể rất bị ảnh hưởng và mặt khác đó là lý do tại sao Sécurité sociale chịu đảm trách phí tổn trong việc giúp họ tái tập luyện dần dần để thích ứng đối với sự gắng sức (réentrainement à l’effort) : đó là phục hồi chức năng hô hấp (réhabitation respiratoire).

Đối với những người mà tình trạng sức khỏe đã bị ảnh hưởng, sự tập luyện lại (réentrainement) được thực hiện bằng một chương trình cá thể hóa (un programme personnalisé), với sự giúp đỡ của một kinésithérapeute, nhưng luôn luôn dưới sự theo dõi y khoa đều đặn. “ Cần phải ghi nhớ rằng tái tục một hoạt động vật lý đều đặn, dầu ở mức độ vừa phải, chỉ có thể mang lại những lợi ích. Ngay cả trong trường hợp nặng, trong đó người nghiện thuốc lá đã khó thở khi đứng dậy từ ghế ngồi, nhưng ngày mai, người bệnh sẽ có thể bước 1m, rồi 2, rồi 10 rồi 100… nhờ một sự tái huấn luyện. Thế mà điều đó cũng đủ để cải thiện một cách đáng kể cuộc sống hàng ngày của người bệnh bởi vì tất cả những hoạt động vật lý vốn không thể thực hiện đối với bệnh nhân lại trở thành trong tầm tay ”, GS François Carré (CHU Rennes) đã nhấn mạnh như vậy.

ĐỘNG CƠ

Tất cả những người hút thuốc không cần ở cùng mức độ phục hồi chức năng : “ thí dụ, khi một người hút thuốc đoạn tuyệt với thuốc lá và bắt đầu hoạt động thể thao (bước ít nhất 30 phút mỗi ngày là tối thiểu), thì người này đã thực hiện sự phục hồi chức năng và điều đó không cần những phương tiện lớn. Thật vậy, việc phục hồi chức năng càng bắt đầu sớm, ngay trước khi xuất hiện những rối loạn hô hấp nghiêm trọng thì công việc này càng ít tốn kém ”, BS Bernady đã ghi nhận như vậy.

Điều cũng rất quan trọng là phải dựa vào các động cơ của mỗi người. Bởi vì đạp xe đạp chỉ để đạp thường chắc sẽ thất bại…trong khi đạp xe đạp để đi kèm theo vợ/hay chồng, thì đã là có động cơ hơn.

“ Sau cùng phải chấp nhận ý tưởng không phải khi nào cũng ở cùng mức độ. Có những ngày có và có những ngày không, điều đó không có nghĩa đó là bắt đầu của sự kết thúc, nhưng chỉ vì ngày hôm đó, ta ít en forme hơn. Không gì nghiêm trọng : ngày mai chắc chắn ta sẽ làm tốt hơn..Hay sau ngày mai ”, BS Jacqueline Jan (thầy thuốc chuyên khoa thể thao, Rennes) đã trấn an như vậy. Khi hoạt động vật lý tái tục, chất lượng sống vút lên cao trở lại và chính đó là điều quan trọng nhất !
(LE FIGARO 14/1/2013)

4/ VIÊN THUỐC THẬT SỰ CHỐNG GIÀ LÀ HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ

VIEILLISSEMENT. Cứ măi tìm kiếm những viên thuốc diệu kỳ (pilules miracles) để già mà vẫn khỏe (bien viellir), và cứ mãi theo đuổi trắc nghiệm những poudres de perlimpinpin mà lợi ích thật đáng ngờ, nhiên hậu ta quên một điều chủ yếu : hoạt động vật lý đều đặn là chiến lược duy nhất đã chứng tỏ tính hiệu quả để cải thiện chất lượng sống của những người già. Hai cuộc điều tra mới được công bố vào tháng hai năm 2012 trong tờ báo Experimental Gerontology xác nhận tác động của việc tập luyện cơ (entrainement musculaire) lên lực cơ, lên tình trạng cân bằng và chất lượng sống. Công trình nghiên cứu này, được thực hiện với sự cộng tác giữa những thầy thuốc Bồ đào nha và Ba tây trên những người từ 60 đến 75 tuổi, cho thấy rằng một chương trình 4 tháng tập luyện khá cật lực và phục hồi musculation với những bài tập dai sức (exercice d’endurance) đã cho phép họ phát triển một lực và một khối cơ (masse musculaire) tương tự với lực và khối lượng cơ mà họ đã có 20 năm trước đây. Đối với các tác giả, có hai lý do tốt để khuyến khích những người trên 50 tuổi luyện tập thể dục : ngăn ngừa các bệnh tim mạch và ngăn cản sự xuất hiện những thiếu sót cơ năng (déficits fonctionnels) liên quan với tuổi tác. Sự tập luyện thích ứng với mỗi cá thể là một biện pháp hiệu quả để cải thiện khả năng vận động và làm giảm nguy cơ phụ thuộc và phế tật đồng thời làm giảm những chi phí về y tế. Bất hạnh thay, thông điệp này vẫn còn khó vượt qua những trang viết của các tạp chí khoa học.
(LE FIGARO 13/2/2012)

5/ NHỮNG LỜI KHUYÊN ĐỐI VỚI CÁC PHỤ NỮ SỬ DỤNG THUỐC NGỪA THAI

Vào lúc mà những phát hiện về các thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba gia tăng, nhiều phụ nữ tự hỏi không biết phải xử trí như thế nào. Sau đây là lời khuyên của các chuyên gia.

Có phải ngừng sử dụng một viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba không ?

Chủ yếu không nên tự ý dừng thuốc ngừa thai bởi vì khả năng sinh sản sẽ trở lại ngay ngày đầu không dùng thuốc và sự ngừng thuốc có thể gây nên một thai nghén ngoài ý muốn. Tuy nhiên nếu ta muốn dừng vì những lý do cá nhân, phải dự kiến ngày một kế hoạch ngừa thai B : túi dương vật, vòng tránh thai, diaphragme hay những biện pháp khác. Để thay đổi thuốc uống ngừa thai chỉ cần chấm dứt plaquette và bắt đầu một loại mới, sau khi ngừng 7 ngày theo lệ thường.

Nguy cơ của những viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba là gì ?

Theo Bộ Y tế (HAS), nguy cơ (sur-risque) xảy ra những biến cố huyết khối nghẽn mạch (nghẽn tắc động mạch phổi, viêm tĩnh mạch) khoảng 0,04% đối với những viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba (hoặc 4 phụ nữ trên 10.000), so với 0,02% đối với các thuốc ngừa thai thế hệ thứ hai và thứ nhất. Nguy cơ này tối đa trong năm đầu tiên và giảm sau đó nhưng vẫn luôn luôn hơi cao hơn đối với những đặc chế thế hệ thứ ba.

Làm sao kiểm tra rằng ta không có một profil nguy cơ ?

Thầy thuốc kê đơn phải đặt cho bệnh nhân những câu hỏi về những tiền sử y khoa và những tiền sử gia đình của bệnh nhân (nghẽn tắc động mạch phổi, viêm tĩnh mạch, nhất là các bệnh tim mạch).

Trong trường hợp trả lời dương tính, có thể thực hiện một bilan để tìm kiếm những rối loạn đông máu. Thật vậy phải biết rằng những yếu tố khác cũng làm gia tăng những nguy cơ liên kết với thuốc ngừa thai dùng bằng đường miệng : chứng nghiện thuốc lá, tình trạng tăng thể trọng, tình trạng không hoạt động vật lý, du lịch bằng đường hàng không và tuổi tác (sau 35 tuổi càng cần thận trọng).

Có phải đi khám thầy thuốc để thực hiện một bilan không ?

Bộ Y tế từ nay khuyên bắt đầu bằng kê đơn một thuốc ngừa thai thế hệ thứ hai cho các phụ nữ đã không bao giờ uống thuốc ngừa thai trước đây (ta nói là “ prescription en première intention ”). Những phụ nữ khác đã dùng thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba có thể chờ lấy hẹn kỳ đến để đề cập vấn đề này với thầy thuốc thường lệ. Nhưng nếu họ lo lắng, họ có thể tiếp xúc nhanh chóng hơn với một người hành nghề y tế có quyền kê đơn thuốc ngừa thai (thầy thuốc phụ sản, thầy thuốc đã khoa, nữ hộ sinh) để bàn bạc thay đổi thuốc ngừa thai.

Thay đổi thuốc có lợi ích gì ?

Bắt đầu từ 31/3, không một viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba nào sẽ được bồi hoàn bởi Sécurité sociale. Ngược lại, những viên thuốc thế hệ thứ hai sẽ vẫn được bồi hoàn. Những viên thuốc này cũng hiệu quả bằng về mặt ngừa thai và có hai lần nguy cơ thấp hơn bị huyết khối tĩnh mạch. Những ưu điểm được gán cho các viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba về mặt mụn (acné), lên cân, nôn, nặng cẳng chân đã không bao giờ được chuẩn nhận bởi một nghiên cứu lâm sàng, Bộ Y Tế đã nhắc lại như vậy.Tuy nhiên, cuối cùng, “ chính bệnh nhân quyết định giải pháp nào phù hợp với mình nhất, bởi vì nếu bệnh nhân cảm thấy không thoải mái, họ sẽ bỏ không dùng thuốc ngừa thai nữa ”, BS Elisabeth Aubény, chủ tịch Hiệp hội ngừa thai Pháp đã nhắc lại như vậy.

Những tác dụng phụ có được dự kiến khi thay đổi thuốc ngừa thai ?

Trước hết điều đó không đặt vấn đề. Tuy nhiên có khi vài phụ nữ bị xuất huyết nhẹ ngoài thời kỳ kinh nguyệt bởi vì viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ hai kích thích niêm mạc tử cung một cách khác. Nhưng điều đó không xảy ra một cách hệ thống.
(LE FIGARO 13/1/2013)

6/ BỆNH SỐT RÉT : VACCIN GÂY THẤT VỌNG.

Sau tất cả những hy vọng dựa vào vaccin mới chống lại căn bệnh gây chết người nhất trong số những căn bệnh nhiệt đới, thì sự vỡ mộng thật là to lớn. Bởi vì thật xa với tỷ lệ 50% được tính đến, những kết quả sau cùng báo cáo chỉ 30% tính hiệu quả.

Một tính hiệu quả chỉ hơi vượt qua 30% một chút, trong khi các nhà nghiên cứu mong chờ hơn 50% như khi giai đoạn đầu tiên của những trắc nghiệm.Sự thất vọng là to lớn khi đọc những kết quả sau cùng thu được ở những em bé được tiêm chủng chống lại bệnh sốt rét với RTS,S, công thức được bảo vệ bởi tập đoàn dược phẩm GlaxoSmithKline và Cơ quan Bill et Melinda Gates. Những phân tích mới được chờ đợi, nhưng 2012 sẽ không phải là năm chiến thắng đối với ứng viên vaccin RTS,S. Và sự vỡ mộng càng to lớn nhất là sau 30 năm nghiên cứu tìm những phương cách chống lại căn bệnh nhiệt đới tàn phá này với 800.000 trường hợp tử vong mỗi năm, và đó cũng để chứng tỏ rằng con người từ nay có thể được bảo vệ chống lại một ký sinh trùng.

UN DEFAUT DE CONCEPTION ?

Trong hồ sơ của chúng tôi trong Science et Vie số tháng giêng 2012 chúng tôi đã dành một bài dài cho niềm hy vọng này. Nhưng cũng có những tiếng nói lạc điệu được cất lên từ khi khởi động những thử nghiệm với quy mô lớn nhất từng được thực hiện về một vaccin chống lại bệnh sốt rét (7 nước châu Phi, hàng ngàn trẻ em được tiêm chủng).

Đối với những kẻ dèm pha, vaccin RTS,S vốn đã thất bại ngay lúc được thai nghén. Một cách chính xác hơn, RTS,S được cấu tạo bởi một protéine, được gọi là CS, một trong những protéine đầu tiên được nhận diện, hiện diện với số lượng lớn ở bề mặt của các ký sinh trùng. Thế mà nhắm đích protéine này là một “ tà thuyết khoa học ” (hérésie scientifique), Pierre Druihle, thuộc viện Pasteur đã nhắc lại như vậy, bởi vì các kháng thể được phát triển chống lại CS sẽ không ngăn cản ký sinh trùng đi qua trong máu người. Thật vậy, những dấu hiệu đầu tiên của tính hiệu quả được phát hiện trong những thử nghiệm sơ bộ chỉ là do một phản ứng viêm tạm thời sau khi tiêm.

Những kết quả mới nhất dường như đi theo chiều hướng này. Vậy đối với những dự án cạnh tranh của RTS,S, phải đi theo bước ngược lại : trước hết tìm những kháng thể bảo vệ ở những người đề kháng tự nhiên với nhiễm ký sinh trùng, rồi trắc nghiệm chúng để nhận diện những protéine đích.

Mặc dầu tỷ lệ hiệu quả bảo vệ được loan báo dưới 50% được dự kiến, nhưng hãng bào chế GSK và cơ quan Bill et Melinda vẫn còn hy vọng đệ trình hồ sơ xin được công nhận trước các cấp y tế thế giới. Tổ chức y tế thế giới, rất quan tâm đến RTS,S trong những giai đoạn đầu của thử nghiệm, đã không có lời bình luận chính thức. Nhưng mối lo âu lộ ra. Bởi vì RTS,S một mình nó đã chiếm phần lớn những kinh phí tài trợ để nghiên cứu chống lại bệnh sốt rét. Thế mà, cuối cùng vaccin tỏ ra không có hiệu quả, sự thất bại này có nguy cơ đưa giới nghiên cứu vào trong tình trạng hoài nghi trong nhiều thập niên.
(SCIENCE ET VIE 1/2013)

7/ ALZHEIMER ĐÚNG LÀ ĐƯỢC LÀM DỄ BỞI SỰ THẶNG DƯ ĐƯỜNG.

Sự quá mức của glucose trong máu, gây nên bởi bệnh đái đường, góp phần vào sự phát triển của bệnh Alzheimer. Lý thuyết này là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành bởi kíp của Pamela Maher, thuộc Viện Salk (Hoa Kỳ). Nhà sinh học thần kinh (neurobiologiste) này đã gây nên một bệnh đái đường loại 1 (bệnh đái đường trong đó sự sản xuất insuline không đủ) ở những con chuột được biết là đề kháng tốt, lúc bình thường, với sự lão hóa não bộ. Kết quả : những động vật gặm nhấm này đã phát triển những vấn đề về trí nhớ, so với những động vật được quan sát ở một loại chuột khác có khuynh hướng sa sút trí tuệ (déclin cognitif). Ngoài ra những rối loạn về trí nhớ này được liên kết với sự xuất hiện trong não những mảng amyloide và protéine Tau phosphorylées, hai chỉ dấu của bệnh Alzheimer. “ Thế mà những biến đổi này nằm tiếp cận với các mạch máu ”, Pamela Maher đã xác nhận như vậy. Một sự kế cận khiến nghĩ rằng “ sự thặng dư đường trong máu có thể đúng là nguyên nhân ”. Nhưng tăng đường huyết phải chăng làm phát khởi quá trình dẫn đến bệnh Alzheimzer, hay chỉ làm gia tốc quá trình này ? Hiện nay không có những điều chắc chắn. Ngược lại, “ những thí nghiệm khác khiến nghĩ rằng bệnh đái đường loại 2 gây nên cũng những rối loạn thoái hóa thần kinh (trouble neuro-dégénératif) ”, nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy. Toàn bộ, bệnh đái đường ảnh hưởng lên 347 triệu người trên thế giới.
(SCIENCE ET VIE 1/2013)

8/ MỘT CON CHÓ BỊ LIỆT BƯỚC TRỞ LẠI NHỜ CÁI MŨI CỦA NÓ.

Quote:
NHỮNG ĐIỂM MỐC

  • Ở Pháp ta ước tính 50.000 số những người từng là nạn nhân của một thương tổn tủy sống.
  • 1200 trường hợp mới đếm được mỗi năm (trong đó 80% là những người đàn ông). 60% những người bị thương ở lứa tuổi từ 16 đến 30 vào lúc xảy ra tại nan.
  • Ba nguyên nhân chính là những tai nạn lưu thông, lao động, và những tai nạn xảy ra trong những hoạt động thể thao.

Các nhà nghiên cứu người Anh đã ghép những tế bào của niêm mạc mũi lên tủy sống của một con chó bị bại liệt. 6 tuần sau, con vật đã thực hiện những cử động đầu tiên.

Đó là câu chuyện của một teckel bị bại liệt, sáu tháng sau khi được ghép bởi những tế bào lấy ở niêm mạc mũi của nó, đã di chuyển trở lại. Những tiến bộ này, được quay phim, thật là ngoạn mục. Lý do để dấy lên niềm hy vọng điều trị những nạn nhân bị thương tổn tủy sống.

Vào tháng sáu năm 2011, các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ đã thành công làm bước trở lại những con chuột nhờ một coctail chimique và một kích thích điện. Lần này, kỳ công, được công bố trong tạp chí Brain, là công trình của một kíp người Anh ở Cambridge, bao gồm những thầy thuốc thú y và những chuyên gia về sinh học tế bào. Ở đây không phải dòng điện, cũng chẳng phải coctail chimique, mà là những tế bào thần kinh đệm khứu giác (cellules gliales olfactives), được lấy trong mũi, ở niêm mạc mũi, và ghép vào thương tổn trong tủy sống. 6 tuần sau khi được tiêm, con chó đã có khả năng thực hiện những cử động đầu tiên. Thế mà nó không phải là con vật duy nhất nhận mũi tiêm này. Khoảng 20 con vật đã nhận cùng điều trị. Tất cả đều bị những thương tổn nghiêm trọng và xảy ra đã lâu, điều đó để loại bỏ những trường hợp khả dĩ phục hồi ngẫu nhiên, trung bình xuất hiện trong vòng sáu tháng sau khi bị chấn thương.

“ Những tế bào khứu giác này được biết là tạo nên một môi trường thuận lợi cho tính dẻo của tế bào thần kinh (plasticité neuronale), Patrick Gauthier, thuộc Laboratoire de neurosciences intégratives et adaptives (LNIA) của đại học Aix-Marseille đã nói rõ như vậy. Chúng kích thích sự mọc trở lại của các sợi thần kinh và sự hóa myéline trở lạI (remyélinisation) của các sợi thần kinh này.”

Patrick Gauthier, nghiên cứu trên chuột, đã chứng tỏ, vào năm 2011, khả năng của những autogreffes tế bào này trong sự sửa chữa các thương tổn của tủy sống vùng cổ, gây nên những bại liệt hô hấp. Vấn đề là mặc dầu trung tâm chỉ huy hệ hô hấp của người rất gần giống với chuột, nhưng sự vận động của một động vật 4 chân như teckel vẫn khác rất xa với vận động hai chân ở người “ Nếu Jasper đã phục hồi được một sự điều hòa của các cẳng chân trước và sau, chúng ta vẫn không biết nhiều về sự phục hồi khả năng nâng đỡ của thân thể.”

Vậy kết quả phải được xem như là một bằng cớ ngoạn mục của một tác dụng tại chỗ của những tế bào của mũi. Việc sửa chữa những đường dài dẫn truyền thần kinh từ não bộ đến tủy sống vẫn cần phải đạt được.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2013)

9/ U PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT : PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỚI

GS François Desgrandchamps, trưởng khoa tiết niệu, bệnh viện Saint-Louis, Paris, xác định chiến lược nhằm cho phép tránh những biến chứng của bệnh u phì đại tuyến tiền liệt (hypertrophie prostatique)

Hỏi : Ông định nghĩa thế nào u phì đại tuyến tiền liệt (adénome de la prostate) ?
GS François Desgrandchamps: Đó là một sự phì đại của phần trung tâm của tiền liệt tuyến. Đó là một bệnh hiền tính gây bệnh cho một người trên hai sau 50 tuổi. Tuyến tiền liệt, lúc to lên, trở nên tăng hoạt tính, co bóp một cách bất thường, điều này cản trở sự bài tiết của bàng quang, do đó bệnh nhân muốn đi tiểu thường xuyên ban ngày cũng như ban đêm.

Hỏi : Những bất tiện quan trọng nào khiến những người đàn ông đi khám bệnh ?
GS François Desgrandchamps: Thường thường họ đến khám chúng tôi quá muộn, và điều đó do 3 lý do.
  • Do thẹn thùng.
  • Do sợ ta loan báo với họ một ung thư.
  • Họ sợ một điều trị làm hại khả năng sinh dục (sexualité) của họ.

Nhưng, đến một giai đoạn mà những bất tiện đã trở thành phế tật, sau cùng họ quyết định vì một sự mệt mỏi do những đêm mất ngủ, những són tiểu không kiểm soát được trong ngày, buộc phải đứng dậy nhiều lần trong một bữa ăn hay nhưng rối loạn sinh dục (troubles sexuels).

Hỏi : Những u phì đại tuyến tiền liệt này được hình thành như thế nào ?
GS François Desgrandchamps: Nguyên nhân chính là tuổi tác : tuyến tiền liệt to lên một cách bình thường với thời gian, nhưng nó tăng thể tích ít hay nhiều tùy theo sự di truyền và vệ sinh đời sống.

Hỏi : Loại vệ sinh đời sống nào ?
GS François Desgrandchamps: Sự nhàn rổi không hoạt động và trạng thái mập mạp (embonpoint) là những yếu tố làm gia trọng. Công trình nghiên cứu mới đây của kíp chúng tôi ở bệnh viện Saint-Louis, được thực hiện trên 4600 người Pháp, đã chứng minh rằng có một mối liên hệ giữa sự gia tăng thể trọng (surpoids) và kích thước của tuyến tiền liệt.

Hỏi : Sau những kết quả của công trình nghiên cứu này, những biện pháp sẽ được thực hiện để điều trị những u phì đại tuyến tiền liệt này là gi ?
GS François Desgrandchamps: Trên phương diện phòng ngừa, chiến lược trước hết được căn cứ trên sự giáo dục vào lúc thăm khám. Bước hai hay ba giờ mỗi tuần, tránh tình trạng thặng dư thể trọng (surcharge pondérale) và đừng ngồi quá lâu trước TV (theo một công trình nghiên cứu mới đây, sau 50 tuổi, ngồi trước TV 40 giờ mỗi tuần làm tăng gấp đôi nguy cơ u phì đại tuyến tiền liệt). Ở những người đã bị u phì đại tuyến tiền liệt, những điều trị tùy theo giai đoạn của bệnh lý, vẫn luôn luôn là nội hay ngoại khoa. Nhưng các bệnh nhân từ nay có thể hưởng hai loại thuốc vừa mới được thương mãi hóa : các anticholinergiques và những inhibiteurs de la phosphodiestérase de type 5. Loại thuốc đầu không những chỉ điều trị tuyến tiền liệt mà còn bàng quang bằng cách làm giảm nhưng co bóp thái quá của nó. Những thuốc thứ hai tác dụng đồng thời lên những rối loạn đường tiểu và sinh dục, rất thường được liên kết. Những kết quả nghiên cứu, được công bố trong tạp chí khoa học “ European Urology ” đã chứng minh tính hiệu quả một của những loại thuốc này.

Hỏi : Còn về ngoại khoa, tiến bộ nằm ở chỗ nào ?
GS François Desgrandchamps: Ta chỉ xét đến ngoại khoa trong trường hợp thất bại của các loại thuốc. Phẫu thuật nhằm làm giảm thể tích của tuyến tiền liệt. Cho đến nay, ta thường quyết định can thiệp quá chậm về mặt ngoại khoa ; thế mà, trên một bàng quang đã bị thương tổn, những kết quả ít tốt hơn. Từ nay, ta sẽ không phải chờ đợi nữa rồi mới đề nghị phẫu thuật ngay khi thuốc men tỏ ra không đủ hiệu quả.

Hỏi : Những tác dụng phụ của những điều trị nội và ngoại khoa ?
GS François Desgrandchamps: Ở 30% các bệnh nhân, điều trị nội khoa có thể có một ảnh hưởng lên dục tính (libido), có thể đảo ngược nếu dùng thuốc. Về các can thiệp ngoại khoa, chúng tạo nên một tinh trạng phóng tinh ngược (éjéculation rétrograde) vĩnh viễn.

Hỏi : Không điều trị, những nguy cơ là gì ?
GS François Desgrandchamps: Ở một tỷ lệ nào đó các bệnh nhân, tình hình có thể vẫn ổn định, thậm chí được cải thiện. Nhưng trong phần lớn các trường hợp, căn bệnh trở nên trầm trọng với thời gian, trạng thái của bàng quang bị biến đổi, đôi khi một cách không đảo ngược. Có hai loại nguy cơ.
  • Sự xuất hiện những biến chứng (nhiễm trùng đường tiểu, máu trong nước tiểu, sự tạo thành sỏi trong bàng quang).
  • Bàng quang bị tắc hoàn toàn, có nguy cơ xảy ra trong tiến triển của bệnh, cần can thiệp cấp cứu để thực hiện một thông tiểu hay một động tác ngoại khoa với cắt bỏ hoàn toàn u phì đại. Không can thiệp nhanh chóng, bàng quang sẽ không thể tháo nước tiểu được nữa, suy thận sẽ xảy ra và, nếu không được điều trị, có thể dẫn đến tử vong sau khi ngừng chức năng của các quả thận.

(PARIS MATCH 1/11-7/11/2012)

10/ STATINES LÀ MỘT LOẠI THUỐC NHIỆM MÀU

Quote:
NHỮNG ĐIỂM MỐC


TÊN : Atorvastatine (Lipitor), Pravastatine (Pravasine), Simvastatine (Zocor)

NĂM THƯƠNG MAI HÓA : Bắt đầu từ những năm 1980

ĐƯỢC CHO PHÉP ĐỂ : Chống lại tăng cholestérol-huyết và phòng ngừa nguy cơ tim mạch

NHỮNG TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN : Chủ yếu thuộc về gan và cơ (đau cơ được ghi nhận ở 1 đến 10% các bệnh nhân). Những tác dụng sinh đái đường, những rối loạn trí nhớ

Quote:
NHỮNG LÝ DO KHIẾN NGHĨ STATINES LÀ MỘT LOẠI THUỐC NHIỆM MÀU

  • CÁC STATINES LÀM HẠ NỒNG ĐỘ CỦA CHOLESTEROL...
    Các statines làm giảm ở người ít nhất 25% nồng độ của cholestérol " xấu " LDL
  • TÁC DỤNG CHỐNG VIÊM CỦA CÁC STATINES
    Cho phép giải thích một phần mà lợi ích của họ thuốc này mang lại ngày nay về mặt phòng ngừa vài loại ung thư hay những gãy xương liên kết với bệnh loãng xương.
  • STATINES TƯỚC MẤT U UNG THƯ NHIỀU YẾU TỐ TĂNG TRƯỞNG
    Statines tước mất những tế bào ung thư cholestérol cần thiết cho sự phát triển của chúng ; hạn chế quá trình viêm của các mô, yếu tố làm dễ sự xuất hiện của một khối u ung thư. Sau cùng, chúng ngăn cản sự tạo thành các mạch máu đi kèm sự phát triển của các di căn.
  • STATINES CŨNG LÀM DỄ MẬT ĐỘ XƯƠNG
    Các statines giúp sự tăng sinh của các tạo cốt bào, là những tế bào nguồn gốc của sự tổng hợp xương. Và, ngược lại, chúng làm dễ sự phá hủy của các hủy cốt bào, những tế bào có khả năng làm tiêu xương.

Quote:
NHỮNG BỆNH TRÊN ĐƯỜNG NHẮM CỦA STATINES


CHỒNG NHỮNG TAI BIẾN TIM MẠCH

Nhiều công trình nghiên cứu cho phép xác nhận rằng tác dụng của các statines (kháng viêm và chống cholestérol) góp phần làm giảm những nguy cơ tim mạch

CHỐNG UNG THƯ

Những tác dụng bảo vệ chống lại ung thư đại trực tràng và chống lại những tái phát của ung thư tuyến tiền liệt đang được đánh giá.

CHỐNG BỆNH LOÃNG XƯƠNG

Nếu những kết quả trên động vật chứng tỏ một sự bảo vệ chống lại gãy xương, những nghiên cứu trên người còn rất hiếm.

Mặc dầu bị tranh cãi, những thuốc chống cholestérol này có những tính chất không thể nghi ngờ chống ung thư và bệnh loãng xương. Nhưng không chỉ có thế.

Thế thì, đến tuổi 50, phải chăng statines sẽ trở nên có lợi cho tất cả mọi người ? Đặt câu hỏi này chẳng khác nào một sự khiêu khích vì lẽ họ các loại thuốc này, trong số đó có atorvastatine, được thương mãi hóa ở Pháp trong điều trị cholestérol dưới tên Tahor, đã bị chỉ trích kịch liệt trong những tháng qua, nhất là do những tác dụng phụ của nó. Tuy vậy Shah Ebrahil và Juan Casas thuộc University College London không do dự đặt câu hỏi này sau khi đã thực hiện một phân tích quy mô rất lớn, phát hiện, về những nguy cơ tim mạch, rằng statines có những tác dụng có lợi lớn hơn so với những nguy cơ bị những tác dụng phụ, và điều này ngay cả đối với những người bị nguy cơ ít nhất.

Ngoài những cuộc tranh luận gây nên bởi sự kê đơn ồ ạt những statines, vài nhà nghiên cứu đánh giá rằng lớp thuốc này chứa tiềm tàng một trong những panacée (thuốc chữa bá bệnh) của thế kỷ XXI. Chúng không những có thể làm giảm rõ rệt nhưng tai biến mạch máu não, mà còn hạn chế sự xuất hiện hay tái phát của vài ung thư. Rộng lớn hơn, tác dụng kháng viêm mạnh của statines tiếp tục làm mê hoặc các nhà nghiên cứu, đều đặn bị ngạc nhiên bởi những hướng áp dụng mới : chống lại bệnh loãng xương, các thấp khớp viêm (rhumatisme inflammatoire), bệnh xơ cứng rải rác.

Được khám phá vào giữa những năm 1970, tuy vậy các statine đã không hứa hẹn một thành công nhanh như chớp như thế, ít nhất trong lãnh vực tim học. Khi nhà sinh học người Nhật Akira Endo trích từ mọi loại nấm vi thể, Penicillium citrinum, mévastatine, lúc đầu đó là trong khung cảnh nghiên cứu về những kháng sinh mới… Nhưng mévastatine sẽ tỏ ra là một chất kháng cholestréol mạnh. Ở người, statines sau đó được phát triển làm giảm ít nhất 25% nồng độ cholestérol LDL, loại cholestérol xấu đối với những động mạch của chúng ta, được tổ chức y tế thế giới xếp vào vị trí thứ tư của những yếu tố nguy cơ tim mạch. Hôm nay, các nhà chuyên khoa tim đánh giá rằng ở những người đã từng là nạn nhân của một tai biến động mạch vành, sự kê đơn statines đã cho phép làm hạ một cách đáng kể tỷ lệ tử vong và tần số những tái phát. Nhưng, trong những năm qua, những công trình nghiên cứu gây kinh ngạc đã gợi ý rằng, ngay cả không có gây nguy cơ tim mạch các statines vẫn có lợi. Những kết quả tuyệt vời..nhưng rất gây tranh cãi.

Nơi mà ta thật sự không trông chờ chúng, đó là trong nghiên cứu chống ung thư. Mặc dầu những dữ kiện còn sơ bộ, và đôi khi mâu thuẫn, nhưng những kết quả thu được trong phòng thí nghiệm lại gây mê hoặc. Bởi vì statines dường như chống lại trên nhiều mặt trận, đồng thời chống lại sự phát triển của các khối u ung thư và trên nhiều loại ung thư. “ Những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã cho thấy, với một mức độ chứng cớ cao, rằng các statines ức chế sự tăng trưởng của nhiều loại tế bào ung thư được cấy ”, Teemu Murtolan, nhà nghiên cứu ở trường y tế công cộng Johns Hopkins Bloomberg (Baltimore, Hoa Kỳ) đã giải thích như vậy. Bằng cách nào ? Đó vẫn còn là một bí mật, nhưng nhiều hướng đã được gợi ra. Thí dụ, tác dụng chống cholestréol của các statines cho phép ngăn cản sự tăng trưởng của các khối u, được biết là tiêu thụ nhiều cholestérol. Những tác dụng chống viêm của statines cũng đóng một vài trò. Theo Michael Detmar, giáo sư pharmacogénomique thuộc Institut de technologie de Zurich (Thụy Sĩ), các statine ngay cả có thể tránh sự xuất hiện của các di căn. Trong một công trình nghiên cứu được công bố vào tháng 9 2012, kíp nghiên cứu của ông đã chứng minh rằng các statines có thể ức chế sự sử dụng cholestérol trong các tế bào của các mạch bạch huyết, cần thiết cho sự tạo thành các di căn.

Cho mãi đến nay, những kết quả này đã ít được xác nhận ở người. “Về ung thư đại trực tràng mà tôi đã nghiên cứu, tác dụng bảo vệ của statines hiện hữu, nhưng vẫn rất thấp, tỷ lệ nguy cơ được giảm khoảng 8% ”, Marc Bardon, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa, thuộc CHU de Dijon đã giải thích như vậy. Nhưng cách cho thuốc phải chăng như nhau để phòng ngừa nguy cơ tim mạch và ung thư ?. Và cả liều lượng ? Và đó có phải là phương pháp tốt để đánh giá tác dụng của các statines lên những bệnh lý khác với sự phòng ngừa nguy cơ tim mạch ở các bệnh nhân ? Đối với Teemu Mutola, có lẽ ta lầm đích : mặc dầu những khuyến nghị trong khung cảnh phòng ngừa ung thư còn xa vời, nhưng chắc chắn phải dành statines “ cho những người có một nguy cơ rất cao hay ở một giai đoạn sớm của ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến ”.

STATINES TỐT CHO XƯƠNG

Ngoài ung thư, những công trình nghiên cứu khác cho thấy một tác dụng phòng ngừa khả dĩ của statines chống lại bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques), bệnh thấp khớp viêm (rhumatisme inflammatoire) hay bệnh loãng xương. Chính tác dụng kháng viêm của statines là tâm điểm của những hiệu quả này, nhưng không chỉ có thế. Như trong trường hợp bệnh loãng xương, ta biết rằng statines có thể làm tăng hoạt những tạo cốt bào (ostéoblastes), những tế bào nguồn gốc của sự tổng hợp xương, và trái lại, gây nên sự tự tiêu hủy của những hủy cốt bào (ostéoclastes), những tê bào có khả năng làm tiêu xương. “ Ở chuột, mật độ xương đã gia tăng khi ta đặt statines lên da ”, Martin Soubrier, thầy thuốc chuyên khoa bệnh thấp khớp thuộc CHU de Clermont-Ferrand, đã kể lại như vậy. Ngược lại ở người, chỉ vài công trình nghiên cứu đã cho thấy một sự giảm số những trường hợp gãy xương ở những bệnh nhân già bị bệnh loãng xương.

Tuy nhiên, những nghiên cứu vẫn tiếp tục, nhất là một statine mới, pitavastatine xuất hiện trên thị trường châu Âu. Thuốc mới này phải chăng sẽ có khả năng hơn để thuyết phục những thầy thuốc chuyên về ung thư và những nhà nghiên cứu khác đang tìm kiếm thuốc chữa bá bệnh mới ? Tương lai chắc hẳn sẽ không chậm nói về điều đó ..
(SCIENCES ET VIE 12/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/1/2013)


Xem Thêm TSYH các số cũ hơn:

Edited by user Sunday, January 20, 2013 3:32:29 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



thanks 1 user thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 2/5/2013(UTC)
lly (Lynn Ly)  
#4 Posted : Saturday, January 26, 2013 4:43:10 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 294

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CHỨNG HÓI : NHỮNG ĐIỀU TRỊ VẪN CÒN TỐN KÉM

Quote:
CHỨNG HÓI

Bằng những con số

20 đến 25
tuổi, đó là lứa tuổi trung bình xuất hiện chứng hói ở đàn ông.
100.000
đó là số các sợi tóc mà một người trung bình có.
50 đến 100
đó là số sợi tóc mà chúng ta rụng mỗi ngày


Quote:
TẠI SAO TÓC KHÔNG MỌC LẠI NỮA ?
  • Di truyền : Trong 70% các trường hợp, chứng hói được truyền qua các gène
  • Stress nặng:
  • Chế độ ăn uống: Thiếu hụt vitamine H và B6
  • Thuốc gội đầu (shampoings): Vài sản phẩm tấn công da đầu
  • Thuốc :Vài loại thuốc (amphétamine, các thuốc chống đông máu)
  • Một phản ứng với các kích thích tố nam
    • Các hormone nam phát khởi một phản ứng ở các nhú bì (papilles dermiques)
    • Phản ứng này có thể làm gia tốc chu kỳ lông (cycle pilaire). Các sợi tóc chết sớm và rụng mà không còn hy vọng mọc lại.


Những giải pháp hiện có
  • Đắp thuốc nước (lotion cutanée) (Minoxidil)
  • Điều trị bằng thuốc uống (Finastéride)
  • Ngoại khoa (ghép tóc vi thể : microgreffe de cheveux)


Hai loại thuốc đã chứng tỏ có hiệu quả và những thứ thuốc khác đang được phát triển.

CHEVEUX. “ Hướng nghiên cứu những chất tương cận của các prostaglandines là tiến bộ nhất, nó có thể dẫn đến một điều trị mới trong hai năm đến, với những kết quả dường như đầy hứa hẹn hơn những điều trị hiện nay ”, BS Pascal Reygagne, giám đốc của Centre Sabouraud (Paris) đã đảm bảo như vậy. Từ nay, hai loại thuốc này đã chứng tỏ có hiệu quả chống lại chứng hói (calvitie) và chúng thêm vào những kỹ thuật ngoại khoa mới để mang lại những giải pháp cho các ông và các bà sống khó khăn với việc bị rụng tóc.

2/3 những người đàn ông bị liên hệ bởi chứng hói, xảy ra sớm hay muộn trong cuộc đời mình và 1/3 trở nên bị hói : đó là một hiện tượng bình thường, liên kết với các kích thích tố nam (hormone androgène) và do đó phần lớn hiện diện ở những người đàn ông. Mặc dầu bình thường, chứng hói biến đổi bề ngoài của gương mặt và có thể có những hậu quả tâm lý quan trọng, nhất là ở những người đàn ông trẻ tuổi. Chứng hói, trong đại đa số các trường hợp có nguồn gốc di truyền và chiếc sọ của một đứa con trai thường sẽ giống với chiếc sọ của cha mình. Vậy có khả năng xét đến một điều trị sớm chứng hói, điều này làm gia tăng nhưng cơ may mang lại thành công.

Ở người đàn ông, những dấu hiệu đầu tiên của chứng hói được quan sát ở vùng thái dương (golfes temporaux), mất tóc ngày càng nhiều cũng như trên vùng cao của sọ. “ Dần dần toàn bộ sọ đều bị ảnh hưởng, ngoại trừ một vành tóc vẫn còn tồn tại cho đến khi chết ”, GS Christian Dubreuil, thầy thuốc ngoại khoa và giáo sư của đại học Claude-Bernard (Lyon) đã nhấn mạnh như vậy.

Khi chứng hói phát khởi đột ngột, phải tìm kiếm một nguyên nhân khác và trước hết là stress. Một chế độ làm gầy (régime amaigrissant) hay cách ăn uống quá mất quân bình cũng là nguyên nhân gây rụng tóc. Vài bệnh ngoài da, vài bệnh hay vài loại thuốc cũng có thể được nhận diện trước mọi can thiệp lên chứng hói.

Tuy nhiên, nếu nguồn gốc là do kích thích tố nam được xác nhận, minoxidil thuốc nước (lotion), đắp trên những vùng bị thương tổn, là điều trị quy chiếu. “ Ít nhất cần 3 tháng để quan sát những kết quả, với một sự mọc lại tóc ở 1/3 các bệnh nhân, vùng tóc rụng ổn định ở 1/3 bệnh nhân khác và không có một tác dụng nào đối với 1/3 người còn lại ”, BS Reygagne đã nhấn mạnh như vậy.

Những tác dụng phụ xảy ra tại chỗ : đỏ, kích thích, ngứa ở nơi da đầu, tóc mỡ.

Nếu giải pháp này không được thỏa mãn, những người đàn ông hói có thể được điều trị bằng một cách khác : finastéride, được dùng bằng đường miệng.“ Ít nhất sau 3 đến 6 tháng, ta quan sát thấy một sự mọc trở lại ở 40% những bệnh nhân, một sự ổn định đối với 40% bệnh nhân khác và không có một tác dụng nào đối với 20% người còn lại ”, BS Reygagne đã chỉ rõ như vậy.

ĐIỀU TRỊ LÂU DÀI

Finastéride có những tác dụng phụ được biết lên đời sống sinh dục của các bệnh nhân nhưng những công trình nghiên cứu vẫn còn gây tranh cãi, nhất là tác dụng về lâu về dài, của sự sử dụng finastéride với liều thấp, như được kê đơn chống lại chứng hói.Thật vậy hai điều trị này phải được dùng rất lâu dài bởi vì chúng không tấn công vào nguyên nhân của chứng hói : ngừng thuốc hàm ý một sự rụng tóc trở lại. Đó là một trong những ưu điểm của những kỹ thuật ngoại khoa, mang lại một kết quả xác định (đọc bài số 3).

Sự xuất hiện của minoxidil trong những năm 1980 và của finastéride vào năm 1999 chống lại chứng hói đã cách mạng hóa việc điều trị, nhưng những điều trị này không hiệu quả ở tất cả các bệnh nhân và không cho những kết quả ngoạn mục. Những điều trị này vẫn tốn kém, cũng như những kỹ thuật ngoại khoa. Vì phần lớn những người đàn ông bị liên hệ, nên nghiên cứu đặc biệt tích cực để tìm ra những giải pháp khác.

NHỮNG TẾ BÀO GỐC

Những tế bào gốc, về lâu về dài, có lẽ sẽ là một hướng điều trị đáng lưu ý nhưng có lẽ tốn kém. Những công trình nghiên cứu khác quan tâm đến những yếu tố tăng trưởng, có thể làm dễ sự xuất hiện những tế bào có chức năng lông (cellules à fonction pilaire) từ những tế bào gốc hiện diện trong da.

Trước mắt hơn, nhiều kíp nghiên cứu đang đánh giá lợi ích của những sản phẩm có chất căn bản là những chất tương cận của prostaglandines : những chất này hiện diện trong các thuốc giọt được sử dụng để điều trị glaucome, làm dễ sự tăng trưởng của các lông mi. Một công trình nghiên cứu của Anh mới đây đã xác nhận rằng bimatoprost có cùng tác dụng lên các nang tóc người và trên bộ lông chuột bị điều tương đương với chứng hói.
(LE FIGARO 21/1/2013)

2/ CHỨNG RỤNG TÓC : CŨNG CÓ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI PHỤ NỮ

Chứng hói (calvitie) thường ít xảy ra hơn ở phụ nữ và đúng hơn được biểu hiện bởi một sự rụng tóc lan tỏa rất hiếm khi dẫn đến một chứng hói hoàn toàn. Mặc dầu hiếm hơn, nhưng các phụ nữ khó sống hơn chứng hói, nhất là trong một xã hội mà bộ tóc là một yếu tố quyến rũ quan trọng. “ Điều quan trọng là đừng chờ đợi quá lâu rồi mới can thiệp khi các nang (follicules) còn có khả năng sản xuất tóc ”, GS Dubreuil, thầy thuốc ngoại khoa và giáo sư ở đại học Claude-Bernard (Lyon) đã nhắc lại như vậy.

Cũng như ở đàn ông, chứng rụng tóc (alopécie) lan tỏa này thường nhất là do một yếu tố tạm thời : stress, bệnh, rối loạn tuyến giáp hay máu, thiếu các chất dinh dưỡng do một chế độ ăn uống không thích ứng hay do một bệnh ngoài da.

Những yếu tố kích thích tố có thể đóng một vai trò quan trọng : tuổi dậy thì, thay đổi hay ngừng thuốc ngừa thai, thời kỳ chu mãn kinh (périménopause) là bấy nhiêu những biến cố gây rụng tóc. Có khi một nồng độ tăng cao của kích thích tố nam (androgène) gây nên một sự rụng tóc ở phụ nữ. Trong trường hợp này, cũng như ở người đàn ông, các sợi tóc ngày càng trở nên mảnh và cuối cùng không mọc lại nữa. Ngoài những nguyên nhân khả dĩ này, những yếu tố di truyền phần lớn đóng một vai trò và việc quan sát mẹ mình có thể chỉ một tiến triển khả dĩ.

MỘT NGHIÊN CỨU ĐANG TIẾN HÀNH

Vào lần thăm khám đầu tiên, người thầy thuốc sẽ thực hiện một loạt các thăm dò để nhận diện những vấn đề khả dĩ gây rụng tóc và điều trị chúng trước khi đề nghị một điều trị cho chính chứng rụng tóc. Điều trị chuẩn là minoxidil 2%, cần đắp trực tiếp lên vùng đáy của da đầu, hai lần mỗi ngày. “ Phải rất chú ý đừng đắp vào những nơi khác, nhất là trên mặt, bởi vì điều này làm dễ sự mọc lông và lông mao ”, BS Reygagne, giám đốc Centre Sabouraud (Paris), hiện đang tuyển mộ các phụ nữ cho một công trình nghiên cứu về một loại thuốc mới, đã nói rõ như vậy.

“ Tốt nhất là tránh đắp thuốc dưới 1 giờ trước khi đi ngủ để tránh làm cho thuốc lan rộng trên gối và do đó có thể trên má trong đêm.” Người thầy thuốc cũng thường phải kê đơn những chất bổ sung dinh dưỡng nhằm làm dễ sự mọc trở lại các sợi tóc lành mạnh.

Không có loại thuốc khác để điều trị chứng rụng tóc của phụ nữ bởi vì finastéride, mặc dầu tác dụng lên chuyển hóa của testostérone nhưng không có tác dụng nào trên cơ thể họ. Minoxidil cho những kết quả sau nhiều tháng, sau đợt rụng tóc ban đầu ở những vùng được điều trị, trên đó những sợi tóc được tái sinh có thể mọc trở lại sau đó. Điều trị này, không được bồi hoàn bởi Sécurité sociale, phải được duy trì liên tục để tránh tóc rụng trở lại. Phí tổn do đó không phải là ít, mặc dầu những biến thể générique từ nay làm giảm giá thành của dược phẩm.

Những điều trị ngoại khoa mang lại một giải pháp thay thế đáng lưu ý với một kết quả dài lâu nhưng với một phí tốn rất cao, lên đến ít nhất 2500 euros. Do đó nhiều phụ nữ chọn lựa đeo tóc giả (perruque), với rất nhiều style mà bộ tóc tự nhiên không thể nào có được.
(LE FIGARO 21/1/2013)

3/ MICROGREFFES : MỘT CÔNG VIỆC ĐÒI HỎI CHÍNH XÁC VÀ DÀI LÂU TRÊN DA ĐẦU.

“ Được thực hiện trong những điều kiện tốt, những kỹ thuật ngoại khoa cấy tóc (implanttaion de cheveux) cho những kết quả rất thỏa mãn ”, GS Christian Dubreuil, thầy thuốc ngoại khoa phụ trách đào tạo chuyên khoa đại học về chứng hói, thuộc đại học Claude-Bernard (Lyon), đã chỉ rõ như vậy. Hơn 90% những bệnh nhân là những người đàn ông, nhưng sự phát triển những kỹ thuật bằng ghép vi thể (microgreffe), thích ứng tốt nhất đối với những chứng hói lan tỏa, khiến càng ngày càng có nhiều phụ nữ xét đến một điều chỉnh ngoại khoa.

Những trường hợp hói rất khu trú được thấy ở những người đàn ông, cho phép trong vài trường hợp, di chuyển những mảnh da đầu từ những vùng nhiều tóc đến những vùng bị rụng tóc hơn. Đối với những người đàn ông khác, có thể xét đến một sự làm giảm khoanh hói đỉnh đầu (tonsure), quan trọng ít hay nhiều, bằng cách lấy đi một phần của vùng rụng tóc. Những kỹ thuật mini hay microgreffe de cheveux từ nay thường được đề nghị nhất.

Những kỹ thuật này nhằm lấy những sợi tóc trong những vùng có nhiều tóc để cấy lại chúng ở những vùng thiếu tóc. Các sợi tóc có thể được lấy thành những dải nhỏ (en bandelettes), được cắt để tạo thành những implant chứa 1 đến 4 sợi để microgreffe và lên đến 8 để minigreffe. Phương thức này để lại một vết sẹo được che dấu bởi các sợi tóc và cho phép cấy đến 5000 sợi tóc.

6 GIỜ CAN THIỆP

Khi vùng cần che phủ hơi ít quan trọng, từ nay có khả năng lấy từng sợi tóc. Sự lấy tóc không để lại sẹo nhưng thầy thuốc ngoại khoa phải cạo các vùng lấy để thu được 2500 sợi tóc để cấy lại (réimplanter). Can thiệp được thực hiện dưới gây mê tại chỗ, kéo dài khoảng 6 giờ, trong hai trường hợp, và cần ít nhất hai người mổ để chuẩn bị những mẫu ghép (greffons), điều này giải thích phí tổn cao của loại ngoại khoa này : khoảng 2 euros mỗi nang tóc.

“ Sau đó phải chờ 6 tháng để thấy kết quả, GS Dubreuil đã nhắc lại như vậy. Các sợi tóc được cấy rụng một cách nhanh chóng, để lại hàng ngàn những điểm đỏ nhỏ trên sọ ”. Sau đó một sợi tóc mới mọc ra, để đạt trung bình 2 cm sau 6 tháng. Những kết quả càng thỏa mãn khi những mong chờ thực tế : mật độ tóc mọc cho phép che khuất sọ với những sợi tóc đã mọc lại, nhưng không tìm lại được mật độ tóc nguyên thủy. Đối với phần lớn các bệnh nhân, phần lớn những mẫu ghép được cấy một cách đúng đắn, với trung bình mất khoảng 10% đến 20%. Đôi khi cần phải thực hiện nhiều can thiệp để đạt kết quả được mong chờ.

Tuy nhiên chất lượng của kết quả trước hết tùy thuộc vào chất lượng của can thiệp. “ Những kỹ thuật này phải được thực hiện bởi một thầy thuốc được đặc biệt đào tạo để làm chủ tốt chính phương pháp, nhưng cũng những điều kiện để làm giảm những nguy cơ liên quan đến mọi can thiệp ngoại khoa ”, GS Dubreuil đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 21/1/2013)

4/ OCYTOCINE, KÍCH THÍCH TỐ TĂNG CƯỜNG LÒNG CHUNG THỦY CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG.

Các nhà nghiên cứu người Đức có lẽ đã khám phá một phương tiện làm cho những người đàn ông chung thủy hơn. Họ đã chứng minh rằng cho ocytocine bằng xịt mũi (spray nasal) có thể biến đổi thái độ của những người tình nguyện khi được đặt trước một người đàn bà quyến rũ.

Phải chăng có một cách để làm cho những người đàn ông trở nên chung thủy ? Dường như đúng là có, nếu ta tin vào một công trình nghiên cứu mới, được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu thuộc đại học Bonn. Và điều đó chẳng có gì là lãng mạn cả, vì lẽ tình yêu có thể phát sinh trong vùng dưới đồi (hypothalamus), cái tuyến nhỏ nằm tuốt ở giữa não, có nhiệm vụ điều hòa sự ăn ngon (appétit) và khả năng tình dục (sexualité) và nhất là, tiết ocytocine, một hormone tự nhiên mà ta gán cho nhiều tính chất đặc biệt.

NHIỀU LỢI ÍCH

Đã từng được sử dụng dưới dạng thuốc để làm gia tăng những co bóp của các phụ nữ khi sinh, được trắc nghiệm như là điều trị chống lại chứng rụt rè, làm dễ sự tự tin và ngay cả mang lại lòng can đảm, được biết là đóng một vai trò quan trọng trong sự quyến luyến của cha mẹ với các người con cũng như trong những hành vi vị tha, đồng cảm hay yêu thương, ocytocine cũng góp phần vào tình yêu và làm dễ những mối quan hệ xã hội.

Những nghiên cứu trước đây, được thực hiện trên chuột đồng, cũng đã cho thấy rằng ocytocine giúp kích thích và tăng cường những mối liên hệ trong một đôi ở nhiều động vật có vú, trong đó có con người, và rằng chất kích thích tố này đóng một vai trò chủ chốt trong chế độ một vợ một chồng (monogamie) của các động vật. Tuy nhiên về mặt tính chung thủy, các công trình đã chưa đi khá xa, theo những nhà nghiên cứu người Đức. Các nhà nghiên cứu này vừa phát hiện sự đóng góp của ocytocine trong lòng chung thủy của những người đàn ông và sự vững chắc của đôi lứa.

NGẠC NHIÊN

Kíp nghiên cứu người Đức đã làm việc với 86 người tình nguyện dị luyến ái (hétérosexuel) thuộc giới tính nam, tuổi trung bình 25 tuổi và được chia thành hai nhóm. Nhóm đầu tiên, gồm 57 người đàn ông, đã nhận một liều ocytocine bằng xịt mũi, trong khi đó một nhóm thứ hai, gồm 29 người đàn ông khác, được cho một huyết thanh sinh lý đơn thuần. Sau 45 phút, những người đàn ông tình nguyện được giới thiệu với một phụ nữ chưa từng được biết, được các nhà nghiên cứu cho là “ quyến rũ ”. Sau đó, người phụ nữ tiến sát dần dần cho đến khi người đàn ông, bất động, nói với cô ta ở khoảng cách nào, thoải mái đối với anh ta, anh ta muốn cô dừng lại. Phuơng cách được lập lại theo hướng khác, lần này người tình nguyện đến gần người phụ nữ cho đến khi đạt được khoảng cách thoải mái.

Giả thuyết lúc đầu là những người đàn ông dưới tác dụng của ocytocine đã để cho người đàn bà đến gần họ hơn, vì lẽ chất này làm gia tăng lòng tin giữa họ với nhau. Các nhà nghiên cứu rất đổi ngạc nhiên khi ở những người đàn ông đã có vợ, chính điều ngược lại đã xảy ra. Những người đàn ông này đã duy trì một khoảng cách lý tưởng 70 cm so với 55 đến 66 cm (khoảng cách xã hội) đối với những người độc thân và những người đàn ông có vợ và đã nhận placebo.

Do đó hormone làm cho dễ gần gũi hơn (sociable) nhưng không làm dễ sự xích lại gần giữa các thân thể và khiến những người đàn ông có vợ thận trọng. Một cơ chế vô thức, vì lẽ tất cả các người tình nguyện đều gán cùng hệ số quyến rũ (coefficient de séduction) cho người đàn bà trong thí nghiệm khi ta hỏi họ sau đó.

NHỮNG HẬU QUẢ THỰC HÀNH

Những kết quả này như thế gợi ý rằng hormone có khả năng làm giảm sự lôi cuốn những người đàn ông có vợ đến những người đàn bà khác. Điều này khi đó giúp làm cho họ trở nên chung thủy hơn. “ Một sự gia tăng nồng độ ocytocine trước hết dường như giữ những người đàn ông ở cách xa một người đàn bà quyến rũ mà họ chưa từng biết đến nhưng không cho phép đảm bảo sự trung thành của người chồng của người đàn bà quyến rũ này.” Tuy nhiên BS Dirk Scheele, tác giả chính của công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy.

Mặt khác, các nhà nghiên cứu người Đức không quên những hậu quả thực hành của khám phá của họ. “ Để tác dụng tiềm năng làm gia tăng sự trung thành của ocytocine, những partenaire nữ của những người đàn ông phải có được sự phóng thích nội tại ocytocine ngay trước khi những người đàn ông chịu một tình huống trong đó họ sẽ gặp những người đàn bà khác ”, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy. “ Thế mà một trong những phương tiện để gây nên một cách tự nhiên sự sản xuất, vốn ngắn ngủi, của ocytocine bởi não bộ là đạt được một khoái lạc cực độ (orgasme). Chỉ cần sự hiện diện của partenaire nữ ở gần hay sự kiện bị đụng bởi partenaire nữ khác cũng có thể đủ ”.

Dẫu sao các nghiên cứu cần được tiếp tục bởi những công trình bổ sung để xác nhận tác dụng này của ocytocine, nhất là với những người tình nguyện nữ.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 15/1/2013)

5/ TRONG LÚC CHỜ ĐỢI NGƯỜI ĐÀN ÔNG LÝ TƯỞNG.

Vitrification (congélation) các noãn bào (ovocytes) cho phép các phụ nữ trẻ bị bệnh bảo tồn nguyên vẹn hy vọng một ngày nào đó có những người con. Nhưng một số ngày càng nhiều những cô độc thân, có sức khỏe tốt, cũng nhờ đến điều trị này, mặc dầu nặng nề và tốn kém. Mục đích của họ : để dành vài noãn (ovules) có chất lượng tốt trong lúc chờ đợi tìm kiếm một người đàn ông lý tưởng.

Những kỹ thuật vitrification các noãn bào, được hiệu chính cách nay vài năm, đã mang lại hy vọng cho nhiều phụ nữ, bằng cách cho phép họ bảo tồn nguyên vẹn những cơ may sinh đẻ của họ.“ Vì sự đông lạnh (congélation) làm ngừng đồng hồ sinh học của các noãn bào (chúng không còn già nữa và không thể bị làm tổn hại bởi những yếu tố bên ngoài), sự đông lạnh phòng ngừa (congélation préventive) là một biện pháp cho phép giữ gìn khả năng sinh sản ”, site internet của UZ Brussel đã tóm tắt như vậy.

Các chuyên viên của UZ Brussel, référence thật sự trong lãnh vực này, mỗi năm đón tiếp nhiều ứng viên. “ Việc nhờ đến kỹ thuật đông lạnh các noãn bào có thể xảy ra vì 3 lý do ”, BS Dominic Stoop, thuộc Centre de Médecine Reproductive (CRG) của UZ Brussel, đã tóm tắt như vậy “ Để gìn giữ khả năng sinh đẻ đứng trước những nguy cơ điều trị (thí dụ như hóa học liệu pháp), để đối phó với một vấn đề di truyền (như mãn kinh sớm) hay do cảm thấy trước (par anticipation).” Mặc dầu hai trường hợp đầu, các động cơ của các bệnh nhân có tính chất y khoa, nhưng những lý do xã hội cũng có thể thúc đẩy vài ứng viên. “ Từ lâu ta nói “ social freezing ” nhưng từ ngữ này đối với chúng tôi dường như không còn có tính chất thời sự nữa. Ở đây chúng tôi thích gợi ra AGE Banking hơn. AGE, dĩ nhiên điều đó muốn nói đến tuổi tác nhưng đó cũng là chữ viết tắt của Anticipation of Gamete Exhaustion (cảm thấy trước sự cạn kiệt giao tử) ”

CÀNG NGÀY CÀNG NHIỀU NGƯỜI TRẺ

Từ năm 2009, Trung tâm y khoa sinh sản (Centre de médecine reproductive) tiếp đón những bệnh nhân độc thân, “ không thấy có giải pháp nào khác ”, muốn làm đông lạnh các noãn bào trong lúc chờ đợi tìm kiếm một người chồng lý tưởng. Trong số 244 ứng viên, 113 đã thực hiện ít nhất một chu kỳ (cycle). Và khoảng 1.921 noãn bào đã được đông lạnh trong khung cảnh AGE Banking. “ Cho mãi đến năm 2011, đa số những bệnh nhân của chúng tôi đến từ Hòa Lan, BS Stoop đã nói tiếp như vậy. "Nhưng từ khi đạo luật đuợc biến đổi, khuynh hướng đã theo chiều ngược lại : trong số các bệnh nhân, một đa số người Bỉ, Hòa Lan, Pháp, 11 phụ nữ đến từ những quốc gia châu Âu khác và ngay cả 5 ứng viên đến từ một lục địa khác, nhất là Hoa Kỳ và Úc.”

Thay đổi khác mà ai cũng biết : các phụ nữ nhờ đến những dịch vụ của UZ Brussel càng ngày càng trẻ tuổi. Trong khi tuổi trung bình là 37,5 tuổi vào năm 2009, thì hôm nay dưới 36 tuổi. Một sự giảm gần 2 năm có thể được giải thích bởi sự kiện là kỹ thuật này, được công chúng biết rõ hơn, hướng về những ứng viên từ nay biết rằng họ phải hành động càng sớm càng tốt. “ Tốt nhất là thu lấy những noãn bào trước khi chúng đạt đến tuổi 35, chất lượng các noãn khi đó tốt hơn. ở chúng tôi, trên 39 tuổI là giới hạn tuổi, khi đó hai vấn đề được đặt ra là số lượng và chất lượng của các noãn.

“ COI CHỪNG QUẢNG CÁO ”

Quyết định cho làm đông lạnh các noãn bào của mình dĩ nhiên không được thông qua một cách nhẹ dạ. Vitrification phí tổn tương đối đắc (2000 euro cho chính điều trị và hơn 1000 euro tiền thuốc men) và điều trị này, mặc dầu không có nguy cơ thật sự (ngay cả ít nguy hiểm hơn so với thụ thai nhân tạo (FIV), nhưng vẫn là thủ thuật nặng nề. “ Sự kích thích kéo dài từ 10 đến 12 ngày và bắt đầu khi bệnh nhân có kinh. Bệnh nhân khi đó nhận những mũi tiêm mỗi ngày. Vào cuối thời kỳ này, ta tiến hành chọc qua đường âm đạo và các noãn bào, trung bình 8 hay 9 mỗi chu kỳ, được đông lạnh.” Mặc dầu không bắt buộc, bệnh nhân thường chọn hai chu kỳ. Số lượng các noãn bào thu được như thế quan trọng hơn (từ 15 đến 20), cũng như phí tổn (6000 euro).

Mặc dầu sự gia tăng số lượng những bệnh nhân, kỹ thuật vitrification các noãn bào vẫn chưa được biết bởi tất cả các phụ nữ trẻ. Tuy vậy, dưới mắt của BS Stoop, một chiến dịch thông tin là không cần thiết. “ Không nên lẫn lộn thông tin và quảng cáo ”, ông đã đánh giá như vậy. “ Tôi nghĩ rằng sẽ là nguy hiểm khi tất cả các phụ nữ đều làm đông lạnh những noãn bào của mình. AGE Banking phải được dành cho những phụ nữ trẻ độc thân không có giải pháp nào khác.”

MÔ BUỒNG TRỨNG : “ ĐANG CÒN TRONG VÒNG THÍ NGHIỆM ”

Nếu đông lạnh các noãn bào đã thuyết phục nhiều ứng viên, một kỹ thuật khác trong tương lai có thể tỏ ra còn hiệu quả hơn : kỹ thuật làm đông lạnh mô buồng trứng. Được trích lấy rồi làm đông lạnh, một phần nhỏ của buồng trứng sau đó được may lại và phát triển như một buồng trứng mới, có một dự trữ quan trọng các noãn. Nhờ kỹ thuật này, nhiều ngàn noãn có thể thu được (trái với chỉ một chục mỗi chu kỳ trong trường hợp đông lạnh các noãn bào). “ Điều này được thực hiện trong trường hợp các phụ nữ được điều trị vì các ung thư ”, BS Dominic Stoop đã chỉ rõ như vậy. “ Ưu điểm thứ nhất là điều đó không chiếm nhiều thời gian, thứ hai là ở số lượng lớn các noãn mà chúng tôi có thể thu được bằng cách này. Nhưng bất tiện chủ yếu, đó là các noãn thu được không được chín mùi.”

Nếu ở Hoa Kỳ, phương pháp này đã được đề nghị cho các phụ nữ trẻ độc thân hội đủ những tiêu chuẩn của AGE Banking, thì chưa phải như vậy ở đất nước chúng ta. “ Chỉ đơn giản là bởi vì kỹ thuật này còn ở trong vòng thí nghiệm. Và chính Hiệp hội y khoa sinh sản Hoa Kỳ đã chỉ rõ điều đó trong một báo cáo tháng 10 năm 2012. Cho đến mãi hôm nay, đông lạnh các các mô buồng trứng đã cho phép sinh ra đời khoảng 20 em bé. Còn kỹ thuật đông lạnh các noãn bào đã vượt qua giai đoạn thí nghiệm từ lâu và đã chứng tỏ những hiệu quả của nó. ”
(LE JOURNAL DU MEDECIN 18/1/2013)

6/ / PHẢI CHĂNG THẬT SỰ CÓ MỘT SỰ GIẢM CỦA KHẢ NĂNG SINH SẢN NAM GIỚI ?

Docteur Jacques Auger
Biologiste de la reproduction
Hôpital Cochin, Paris


Không có một công trình nghiên cứu nào kết luận (hay không) một sự giảm khả năng sinh sản (fertilité) nam giới với thời gian. Đó chủ yếu là do sự khó khăn trong việc xây dựng một công trình nghiên cứu như thế, vì những lý do khác nhau, trong đó có sự kiện là khả năng sinh sản liên quan đến hai partenaire của couple, với vấn đề khả năng phân lập nhiều yếu tố quyết định khả năng sinh sản của partenaire này hay partenaire kia.

Thường có sự lờ mờ không rõ với câu hỏi về sự tiến triển của chất lượng của tinh dịch (sperme) ở người đàn ông, vấn đề được tranh luận từ hơn 20 năm qua. Bắt đầu từ nửa những năm 1990 cho đến nay, hơn 30 công trình nghiên cứu rétrospective về tiến triển của chất lượng tinh dịch trong những quần thể đàn ông khác nhau đã được thực hiện trong những phòng thí nghiệm khác nhau trên toàn thế giới. Vài công trình nghiên cứu, như công trình mà chúng tôi đã tiến hành trong vùng Paris ở những người cha gia đình, những ứng viên hiến tinh trùng (don de sperme), đã xác nhận sự biến đổi theo thời gian của một hay nhiều đặc điểm của các tinh trùng (nồng độ của chúng, khả năng di động của chúng hay tỷ lệ những tinh trùng bình thường về mặt hình thái), còn những đặc điểm khác thì không.

Việc giải thích những kết quả là khó đối với phần lớn những công trình nghiên cứu này. Thật vậy, nhiều trong số những công trình này đã được thực hiện từ những bệnh nhân đến khám vì một tình trạng vô sinh (infertilité), điều này tạo nên một sai lệch quan trọng. Ngoài ra, đối với nhiều công trình, ta nhan thay sự không xét đến, trong phân tích thống kê, những yếu tố được biết điều biến những đặc trưng của tinh dịch, chủ yếu là tuổi tác và thời hạn không hoạt động sinh dục trước khi trích lấy tình dịch.

Sự đối chiếu những kết quả của những công trình nghiên cứu về những biến thiên của chất lượng tinh dịch chỉ rõ những chênh lệch đáng kể của chất lượng trung bình của tinh dịch người từ vùng này đến vùng khác trên thế giới, trong những nhóm đàn ông có thể so sánh. Những khác nhau này đã làm nảy sinh ý tưởng cho rằng, độc lập với những yếu tố di truyền và chủng tộc, những biến thiên này có thể được liên kết với những yếu tố môi trường. Từ đó, nhiều công trình nghiên cứu đã so sánh chất lượng của tinh dịch của những người đàn ông trẻ tuổi có sức khỏe tốt trong những vùng khác nhau của thế giới, kết luận có những dị biệt tùy theo vùng, nhất là về sự sản sinh các tinh trùng, những khác nhau đôi khi rất quan trọng.

Vài trong số những công trình nghiên cứu này gợi ý rằng tinh dịch của những tân binh trẻ có chất lượng ít tốt hơn tinh dịch của những người lớn tuổi hơn (từ những công trình được thực hiện trong cùng vị trí cách nay 20 năm ở những người đàn ông từ 30 đến 40 tuổi vào thời kỳ đó). Tuy nhiên phải tương đối hóa những kết luận được thực hiện ở những người tình nguyện với, gần như luôn luôn, một tỷ lệ thấp những người đàn ông chấp nhận tham dự, những nguy cơ sai lệch khác nhau và cuối cùng những quần thể đàn ông được khảo sát ít có tính chất đại diện của quần thể những người đàn ông ở tuổi sinh sản.

Mặt khác, những công trình nghiên cứu trong động vật chí hoang dã (faune sauvage) chỉ rõ những biến đổi của chức năng sinh sản nằm trong nhiều loài, một vài trong những công trình nghiên cứu này phát hiện một mối liên hệ với những biến đổi môi trường. Những bất thường của những bộ máy sinh dục của người đàn ông (như những tinh hoàn lạc chỗ không đi xuống, khi sinh hay trong năm đầu của đời sống hay một bất thường của chỗ tận cùng của niệu đạo vào dương vật) dường như đang gia tăng, những dữ kiện này cũng được tranh cãi. Ít bị tranh cãi hơn là sự gia tăng quan trọng của tần số của ung thư tinh hoàn trong nhiều nước phát triển, trong đó có Pháp, trong 20 năm qua.

Toàn bộ, câu hỏi về một sự hạ khả năng sinh sản của người đàn ông vẫn không có câu trả lời cho đến hôm nay và cuộc tranh luận về những biến đổi theo thời gian của chất lượng của tính dịch vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, sự kết hợp của các công trình nghiên cứu chỉ rõ nhiều bất thường sinh sản được quan sát ở con đực trong những loài hoang dã khác nhau và những kết quả của những công trình nghiên cứu dịch tễ học cho thấy những biến thiên đáng kể của chất lượng tinh dịch người theo địa lý hay thời gian cũng như sự gia tăng tần số của ung thư tinh hoàn là những dấu hiệu báo động.

Việc nhờ đến, đã trở thành thường xuyên hơn, những chất chỉ dấu tiếp xúc (marqueur d’exposition) đã làm nảy sinh ý niệm nhiều nguyên nhân (multicausalité) trong đó can thiệp những yếu tố môi trường phức tạp như sự tiếp xúc kinh niên với những liều thấp các hỗn hợp các hợp chất hóa học nhưng cũng những yếu tố liên quan với lối sống, thí dụ sự tiếp xúc của thai nhi giới tính nam với thuốc lá trong thời kỳ thai nghén với hậu quả là một sự sản xuất các tinh trùng bi giảm một cách đáng kể. . Một số ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu, chủ yếu là thí nghiệm, chỉ rõ rằng nhiều trong số những yếu tố này khả dĩ làm xáo trộn sự phát triển của bộ máy sinh dục nam trước và ngay sau khi sinh, nhưng cũng vào lúc tuổi dậy thì và sau đó.

Vậy có một nhu cầu khẩn thiết theo đuổi một cách khẩn cấp nghiên cứu trong lãnh vực này. Điều bức thiết là những cơ quan có liên hệ khác nhau ở Pháp, y tế, sinh thái, nghiên cứu, nông nghiệp, công nghiệp, hãy gia tăng các phương tiện của nghiên cứu phức tạp này trong lãnh vực y tế cộng đồng, nghiên cứu sự giao thoa giữa các lãnh vực đa dạng như dịch tễ học, độc chất học sinh sản, độc chất học sinh thái (écotoxicologie) hay sinh học phân tử. Tiếp tục sự theo dõi y tế, phát hiện một cách chính xác những mối liên hệ giữa những tiếp xúc môi trường và những bất thường sinh sản, chỉ với cái giá này mà những câu trả lời mới có thể được mang lạI, về mặt cải thiện những kiến thức nhưng cũng về mặt y tế cộng đồng, chủ yếu để trở nên những chính sách phòng ngừa.
(LE FIGARO 10/12/2012)

7/ METFORMINE : MỘT TÁC DỤNG CHỐNG UNG THƯ ?

Người ta đã đưa ra hai giả thuyết nói rằng hai loại thuốc, aspirine và các statines (statines được sử dụng chống xơ vữa động mạch), có những tác dụng phòng ngừa chống lại nhiều ung thư.

Một dược phẩm được kê đơn rộng rãi như là thuốc hạ đường huyết ở những người bị bệnh đái đường loại 2, metformine có cùng những tác dụng phòng ngừa ; vào năm 2005, một công trình nghiên cứu đã báo cáo một sự hạ tỷ lệ mắc phải ung thư ở những người đái đường được điều trị. Những thử nghiệm thí nghiệm sau đó đã xác nhận tác dụng chống khối u của dược phẩm này (trên những dòng khác nhau những tế bào ung thư người và trên một mô hình động vật ung thư phổi) cũng như một sự gia tăng tính nhạy cảm đối với hóa học trị liệu của những tế bào ung thư của vú, tuyến tiền liệt và phổi. 3 công trình nghiên cứu trên người mới đây cho thấy rằng, ở những người không bị đái đường, một sự hạ 40% nguy cơ ung thư đại trực tràng, một sự giảm trong vòng 6 tuần thể tích khối u của tuyến tiền liệt ở 22 bệnh nhân, một tỷ lệ sống sót được nhân lên 3,7 lần ở 178 phụ nữ bị ung thư buồng trứng so với 239 người khác không sử dụng metformone. Cơ chế tác dụng vẫn còn chưa được hiểu rõ.
(PARIS MATCH 10/1 – 16/1/2012)


8/ STATINES : MỘT TÁC DỤNG CHỒNG UNG THƯ

GS David Khayat, trưởng khoa ung thư thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière, bình luận công trình nghiên cứu Đan Mạch cho thấy một sự liên kết giữa những loại thuốc này và một sự giảm tỷ lệ tử vong do ung thư.

Hỏi : Trong những trường hợp nào ta thường kê đơn statines ?
GS David Khayat : Ta khuyến nghị statines ở những bệnh nhân có một nồng độ cholestérol tăng cao (trên 3g/l) và nhất là khi có những yếu tố nguy cơ khác như cao huyết áp, bệnh đái đường, chứng béo phì ... mối nguy hiểm là sự tạo thành những mảng xơ vữa (plaques d’athérosclérose) trong các động mạch, làm tắc chúng và gây nên, tùy theo những huyết quản bị thương tổn, một nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não. Nhưng những điều trị này bởi statines, không phải là không có những tác dụng phụ, chỉ được kê đơn khi tỷ suất lợi ích-nguy cơ là thuận lợi một cách không thể bàn cãi được.

Hỏi : Trong những trường hợp tăng cholestérol-huyết, tác dụng của statine là gì ?
GS David Khayat : Loại thuốc này, khi qua gan, làm giảm hoạt tính của các enzymes (HMG-CoA) tham dự vào sự tạo thành cholestérol.

Hỏi : Công trình nghiên cứu của Đan Mạch được công bố trong “ New England Journal of Medicine ” đã diễn ra như thế nào ?
GS David Khayat : Công trình nghiên cứu dịch tễ học này, đã kéo dài 14 năm, từ năm 1995 đến 2009, đã theo dõi gần 300.000 bệnh nhân hơn 40 tuổi, những bệnh nhân này được chẩn đoán một ung thư giữa những năm 1995 và 2007. Trong số những bệnh nhân này, 18.721 người đã dùng mỗi ngày các statines (ít nhất trong 6 tháng) trước khi chẩn đoán. Những bệnh nhân khác thì không bao giờ sử dụng statines. Tỷ lệ tử vong do ung thư đã được so sánh giữa hai nhóm này, đồng thời có xét đến những đặc điểm của mỗi bệnh nhân : tuổi tác, giới tính, loại ung thư, kích thước của khối u…Những kết quả đã tỏ ra đáng kinh ngạc ở những người tiêu thụ statines, nhìn toàn bộ tỷ lệ tử vong bởi ung thư đã được giảm 15% và điều đó độc lập với liều lượng sử dụng mỗi ngày. Tuy nhiên cần ghi nhận : những người dùng statines được theo dõi hơn về mặt y khoa vì nguy cơ tim mạch của họ. Như thế ung thư của họ, được chẩn đoán sớm hơn, đã cho phép một sự xử trí tốt hơn và một tiên lượng tốt hơn, điều này có lẽ làm thiên lệch công trình nghiên cứu .

Hỏi : Làm sao giải thích tác dụng của statines lên tiến triển của những tế bào ung thư ?
GS David Khayat : Những tế bào ung thư, cũng như những tế bào lành mạnh, tất cả đều cần đến cholestérol để chế tạo màng tế bào của chúng, nhưng với lượng quan trọng hơn nhiều, bởi vì chúng tăng sinh nhanh hơn. Sự làm giảm nồng độ cholestérol bởi các statines cản trở sự phát triển của màng tế bào, ức chế sự tăng sinh của chúng và nguy cơ di căn. Do đó sự thặng dư cholestérol đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng sinh của các tế bào ung thư.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu khác phải chăng đã phát hiện tác dụng chống ung thư này ?
GS David Khayat : Về chủ đề này, y liệu có khá nhiều tranh cãi. Nếu những kết quả rất gần giống nhau đã có thể được quan sát và công bố trong các tạp chí “ Journal of the National Cancer Institute ” vào năm 2006, và trong“ Cancer ” vào năm 2010, những công trình nghiên cứu lớn khác, lần này được thực hiện trên những người lành mạnh (những nhóm 300.000 người chưa bao giờ bị ung thư) đã chứng minh rằng các statines đã không có một tác dụng phòng ngừa nào. Kết luận của các nhà nghiên cứu : những statines tác dụng lên những nguy cơ tái phát và tử vong, nhưng không tác dụng lên sự phòng ngừa bệnh ung thư.

Hỏi : Ông có nghĩ rằng một ngày nào đó ta sẽ kê đơn statines sau một chẩn đoán ung thư ?
GS David Khayat : Phải chờ đợi những kết quả được xác nhận bởi những công trình nghiên cứu khác trước khi xét đến việc kê đơn chúng cho những bệnh nhân bị một ung thư. Và điều đó đúng, nhất là khi đó là những sản phẩm có những tác dụng phụ.

Hỏi : Trong cuộc đấu tranh chống lại ung thư, những hy vọng nằm ở chỗ nào ?
GS David Khayat : Chẳng còn bao lâu nữa chúng ta sẽ có một y khoa cá thể hóa (médecine personnalisée) thật sự. Nhờ sinh học phân tử và những máy có khả năng séquencer các génome của các khối u (những nhiễm sắc thể của chúng) với một vận tốc không tưởng tượng nỗi, ta sẽ có thể đề nghị với mỗi bệnh nhân một điều trị theo từng cá thể (traitement sur mesure), điều trị này sẽ mang lại những cơ may chữa lành bệnh lớn nhất. Chẩn đoán phân tử này đã được thực hiện trong vài phòng thí nghiệm, trong đó có phòng thí nghiệm mà chúng tôi vừa mở ở bệnh viện Pitié-Salpêtrière.
(PARIS MATCH 3/1-9/1/2013)

9/ PHẢI CHĂNG PLACEBO THẬT SỰ ĐIỀU TRỊ ?

Professeur François Chast
Pharmacien hospitalier
Ancien président de l’Académie nationale de pharmacie


Lúc cho những “ viên thuốc chứa ruột bánh mì ” (pilules de mie de pain) cho vài trong số những bệnh nhân của mình, Corvisart, thầy thuốc của Napoléon, chỉ lập lại một kỹ thuật điều trị xa xưa, vì lẽ những thầy thuốc của Hy Lạp cổ đại đã không do dự kê đơn những mạng nhện hay bụi núi đá (poussières de roche) một cách thành công, họ biết rằng những sản phẩm buồn cười này sẽ không có một hiệu quả gì hết, nhưng trông mong vào thái độ nồng nhiệt lúc kê đơn để mang lại niềm tin cho bệnh nhân.

Ngày nay, các placebo có thể thật sự được xem như là những “ thuốc giả ” , theo ý nghĩa là chúng không chứa hoạt chất (produit actif). Nhưng buộc phải chứng thực rằng, trong hơn 35% các trường hợp, chúng có tác dụng.

Với những công trình nghiên cứu mới, từ nay ta biết rằng tác dụng placebo này xảy ra trong khung cảnh điều trị, trong đó có sự tham dự của bệnh nhân, người kê đơn thuốc, và có lẽ còn hơn thế nữa, mối quan hệ giữa hai người. Apprentissage, trí nhớ, động cơ, sự khen thưởng, sự giảm lo âu là bấy nhiêu những tham số tâm lý giải thích sự tác động của placebo, với hai động lực chủ yếu : hy vọng chữa lành bệnh và sự điều kiện hóa (condionnement), liên kết việc dùng thuốc (placebo hay không) với những thông điệp dương tính cải thiện sức khỏe.

Tác dụng placebo hiện hữu ở mọi lứa tuổi của đời sống, ngay cả ở những nhũ nhi, và ta không ghi nhận sự khác nhau rõ rệt tùy theo giới tính. Những tác dụng placebo có vẻ hiệu quả ít hay nhiều tùy theo bản chất của người bệnh và mối quan hệ với người thầy thuốc của mình, và tùy theo các căn bệnh. Ta cũng nhận xét rằng không những đau và những rối loạn có tính chất tâm lý như lo âu, mất ngủ, những rối loạn dạ dày ruột mà cả dị ứng cũng được cải thiện bởi placebo.

SẢN XUẤT DOPAMINE

Cường độ của nó cũng thay đổi tùy theo lối trình bày hay cách cho thuốc ; tùy theo tiếng tăm và sự quan hệ của người thầy thuốc thực hành, ông ta có gây niềm tin hay không, có tỏ ra chăm chú, có lắng nghe trạng thái tinh thần của người bệnh để phán đoán về sự tôn kính của bệnh nhân đối với uy quyền của chiếc áo trắng cũng như tùy thuộc vào ý chí lành bệnh hay bản chất của sự mong chờ của bệnh nhân.

Hiệu quả placebo chứng minh một cách rõ ràng rằng lễ nghi (rituel) của điều trị là một bộ phận của động tác trị liệu (acte thérapeutique). Chỉ ý tưởng nhận những săn sóc điều trị đã là một yếu tố thiết yếu đối với bệnh nhân, điều này y khoa hiện đại, vội vàng và thường thiên về kỹ thuật, không xét đến là bao nhiêu. Những tác dụng placebo không có tính chất vạn năng và nó không tác dụng trong những bệnh nặng như những nhiễm trùng huyết hay các ung thư. Tuy vậy, tác dụng của nó không chỉ có tính chất chủ quan, như điều đó đã được chứng tỏ trong lãnh vực chống đau. Nhờ những kỹ thuật chụp hình ảnh y khoa, ta đã có thể cho thấy rằng placebo gây nên cũng những biến đổi trong não bộ như morphine, và nhiều công trình nghiên cứu đã phát hiện một phần của hoạt tính placebo đối với điều trị nghiện héroine.

Vẫn trong lãnh vực thần kinh, người ta đã kiểm chứng rằng việc cho một placebo cho phép tăng cường hoạt động của các neurone sản xuất dopamine trong những vùng não bộ liên hệ trong sự phát khởi của bệnh Parkinson. Đó cũng là trường hợp ở những bệnh nhân bị chứng trầm cảm và trong những rối loạn lo âu (trouble anxieux). Trong những bệnh này, dưới tác dụng của một placebo, ta quan sát thấy những biến đổi của hoạt động điện của vài vùng của vỏ não và những tác dụng thần kinh sinh học (effet neurobiologique) lên enzyme cần thiết cho sự sản xuất sérotonine trong các neurone, điều này giải thích tại sao vài bệnh đau nửa đầu (migraine) có thể điều trị bởi một placebo. Cũng có liên hệ với placebo là những hệ miễn dịch và nội tiết. Thí dụ, một cách khá bất ngờ, điều trị kháng sinh chữa bệnh mụn có lẽ hoàn toàn là một hiệu quả placebo.

Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh rằng cách cho placebo cũng quan trọng như chính placebo : thí dụ, trong một thử nghiệm nhằm điều trị đau mãn tính, trong khi ở ngày thứ 15 những viên thuốc placebo tỏ ra hiệu quản hơn lên sự vận động, với cùng hoạt tính lên triệu chứng đau như một điều trị bằng châm cứu, sử dụng những “ huyệt ” cố ý được chọn lầm, sau 6 tuần, chính phương thức (approche) dùng châm cứu làm thuyên giảm tốt nhất triệu chứng đau sau 6 tuần.

SỰ ƯNG THUẬN ĐƯỢC ĐẢ THỐNG.

Thế thì phải chăng một thứ thuốc có thể bị giảm giá trị khi bị cho là “ placebo ” ?

Kê đơn placebo có thể hữu ích mỗi khi tác dụng không mong muốn có nguy cơ lần bước tác dụng điều trị. Trong bất cứ trường hợp nào, sự kê đơn “ vô hại ” này không được vi phạm những nguyên tắc đạo đức tôn trọng sự tự quyết và sự thỏa thuận được soi sáng (consentement éclairé) của bệnh nhân. Ngoài ra có những trường hợp hiệu quả placebo tác động một cách không giấu diếm, khi bệnh nhân ý thức hoàn toàn sự việc. Ngược lại, hãy coi chừng những “ placebo không thuần chất ”, như vitamine C hay những sản phẩm mà chất cơ bản là thực vật, có thể có một tác dụng dược học không liên hệ với rối loạn cần điều trị, với cái giá những tác dụng phụ thật sự và đôi khi nguy hiểm.
(LE FIGARO 24/9/2012)

10/ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT : NHỮNG TRUNG TÂM MỚI ĐỂ ĐIỀU TRỊ CÁ THỂ HÓA.

GS Marion Leboyer, trưởng pôle psychiatrie của bệnh viện Henri-Mondor de Créteil, nữ giám đốc của Fondation FondaMental, giải thích những điều trị toàn thể mới cho phép nhưng liệu pháp cho từng cá thể (thérapie sur mesure) diễn ra như thế nào.

Hỏi : Hội nghị tâm thần học của Pháp mới đây cập nhật hóa những chiến lược mới nhất để điều trị bệnh tâm thần phân liệt. Những triệu chứng của bệnh này là gì ?
GS Marion Leboyer : Căn bệnh này thường bắt đầu một cách âm ĩ. Ta bắt đầu quan sát thấy ở những thiếu niên hay những người trưởng thành trẻ tuổi một khuynh hướng tự cô lập, một sự hững hờ tình cảm và những rối loạn khác nhau báo hiệu bệnh rất khó chẩn đoán. Bởi bệnh lý tiến triển thành từng cơn bộc phát với những đợt trong đó các triệu chứng sẽ trở nặng dần dần, với sự xuất hiện những ảo giác (hallucination), những ý tưởng mê sảng (idées délirantes), một sự thu mình xa lánh xã hội (retrait social), những khó khăn về nhận thức (sự ghi nhớ, khả năng tập trung, sự tổ chức những động tác thông thường của đời sống). Ở một giai đoạn tiến triển hơn, những bệnh nhân này không còn có những tương quan bình thường với những người chung quanh nữa. Trong những trường hợp cực kỳ trầm trọng, khi đó có một nguy cơ từ từ (hiện nay ta thống kê tỷ lệ 10%, với 40% toan tính tự tử). Do đó cần có một chẩn đoán sớm.

Hỏi : Tần số xảy ra của căn bệnh này là gì ?
GS Marion Leboyer : Trung bình 1% dân số bị bệnh này. Bệnh bắt đầu ở người trưởng thành trẻ tuổi giữa 16 và 25 tuổi. OMS xếp loại nó trong nhóm 10 bệnh lý dẫn đến phế tật nhất.

Hỏi : Phải chăng ta đã có thể khám phá những nguyên nhân của những rối loạn tư duy này ?
GS Marion Leboyer : Ta chưa biết được căn nguyên một cách chính xác, nhưng ta biết rằng bệnh tâm thần phân liệt là do sự tương tác giữa một thể địa di truyền (terrain génétique) có tính chất làm dễ và những yếu tố môi trường, như stress..

Hỏi : Bà vừa mới thành lập khoảng 10 trung tâm chuyên khoa. Những trung tâm này hoạt động như thế nào ?
GS Marion Leboyer : Mỗi trung tâm chuyên khoa (centre expert) gồm một kíp nhiều chuyên khoa với những thầy thuốc được đào tạo một cách đặc biệt để chẩn đoán và điều trị bệnh tâm thần phân liệt. Theo yêu cầu của kíp, bệnh nhân được thực hiện một bilan trong vòng 48 giờ (ở hôpital de jour), chủ yếu với những thăm khám tâm thần, thần kinh tâm lý (neuropsychologique), thần kinh, y khoa…các kết quả của những thăm khám này rất hữu ích cho chẩn đoán, mà ở Pháp nói chung chậm hơn nhiều (trung bình 5 năm). Một sự chậm trễ có những hậu quả quan trọng lên tiến triển của bệnh tâm thần phân liệt. Sau đó các chuyên gia nhất trí để đề nghị những liệu pháp thích ứng nhất đối với khuyết tật của bệnh nhân.

Hỏi : Bà có những liệu pháp nào để ngăn cản sự tiến triển của bệnh tâm thần phân liệt ?
GS Marion Leboyer : Sự xử trí toàn bộ bao gồm nhiều phương thức : phương thức dùng thuốc với các thuốc chống loạn thần (antipsychotique) (những loại mới nhất gây ít những tác dụng phụ hơn) và, điều đã tạo nên một bước tiến thật sự trong những năm qua, đó là liệu pháp tâm xã hội (thérapie psychosociale) và một vệ sinh đời sống tốt, nhất là chế độ ăn uống để tránh lên cân, cũng là một phần của những khuyến nghị.

Hỏi : Nhưng liệu pháp tâm lý xã hội này là gì ?
GS Marion Leboyer : Những liệu pháp này bao gồm, thí dụ, những buổi giáo dục tâm lý (psychoéducation) trong đó ta dạy cho bệnh nhân biết rõ căn bệnh của mình. Nếu hiểu căn bệnh, bệnh nhân sẽ nhận thức những nguy cơ của một sự không tuân thủ điều trị và sẽ theo đuổi tốt hơn. Ta cũng đề nghị những buổi “ remédiation cognitive ” để giúp đỡ các bệnh nhân cải thiện trí nhớ, khả năng chủ ý và tập trung của họ. Ta có thể ổn định nhưng không chữa lành căn bệnh.

Hỏi : Những hy vọng nằm ở chỗ nào ?
GS Marion Leboyer : Sau cùng ta bắt đầu có thể nhận diện những yếu tố di truyền làm cho những người dễ bị thương tổn hơn đối với vài yếu tố môi trường. Thí dụ, nhiều công trình nghiên cứu quốc tế đã chứng minh rằng những người mang gène KTI có một nguy cơ lớn hơn phát triển một bệnh loạn thần khi họ sử dụng cannabis. Sự nhận biết những yếu tố này hẳn đưa lại sự hiệu chính những chiến lược phòng ngừa. Khám phá khác : những kết quả của một công trình nghiên cứu lớn ở châu Âu về vai trò của môi trường chứng mình rằng, trong những vùng đô thị, tần số của những bệnh loạn thần này hai lần cao hơn trong vùng thôn quê ! Bây giờ ta tìm cách biết tại sao. Hướng mới : hướng những bất thường của hệ miễn dịch sẽ cho phép thiết đặt những chiến lược điều trị mới. Những nghiên cứu trong tâm thần học đòi hỏi những phương tiện tài chánh.
(PARIS MATCH 13/12 – 19/12/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(26/1/2013)


Xem Thêm TSYH các số cũ hơn:

Edited by user Sunday, January 27, 2013 7:11:16 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



thanks 1 user thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 2/5/2013(UTC)
lly (Lynn Ly)  
#5 Posted : Tuesday, February 5, 2013 5:33:12 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 295

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHỮNG BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC : CÁC CHLAMYDIAS NHỮNG YẾU TỐ GÂY VÔ SINH.

3% các thanh niên từ 18 đến 25 tuổi bị nhiễm, trong khi điều trị rất là đơn giản.

Không phải là một sự tình cờ khi Viện quốc gia phòng ngừa và giáo dục y tế (Impes) Pháp đã quyết định phát động một chiến dịch phát hiện chlamydia, qua Internet, từ 3 tháng 9 đến 15 tháng 10 năm 2012 : “ Chúng tôi tiếp nhận, một cách cổ điển, một điểm cao các phụ nữ trẻ đến làm xét nghiệm vào tháng 9, hoặc bởi vì họ đánh giá đã chịu những nguy cơ vào mùa hè, hoặc bởi vì bạn đường phối ngẫu của họ có chất dịch chảy ra từ niệu đạo, hoặc bởi vì họ lo ngại vì một vấn đề khác : thí dụ các bệnh nấm (mycoses) ”, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa (bệnh viện mới Port-Royal, Paris) đã giải thích như vậy.

Những phụ nữ trẻ này sau khi được khám đã nhận một thông tin hoàn chỉnh nhân cơ hội này : “ Chúng tôi giải thích cho họ rằng chlamydia là một vi khuẩn thường nhất tiến triển một cách im lặng (trong hơn hai trường hợp trên ba, không có một triệu chứng nào ở phụ nữ) trước khi được phát hiện bởi một viêm vòi trứng (salpingite), có thai ngoài tử cung hay thường hơn là một tình trạng vô sinh (stérilité). Ngay cả đó là một trong những nguyên nhân đầu tiên của vô sinh, vậy đó không phải là vô hại. Chúng tôi cũng nói với họ rằng sự phát hiện rất là đơn giản : mẫu nghiệm được lấy từ một écouvillon được đưa vào trong âm đạo của các cô gái và từ nước tiểu ở cậu con trai, và rằng trong trường hợp kết quả dương tính, một điều trị kháng sinh cho cả hai partenaire cho phép giải quyết vấn đề.”, BS Bensimhon đã nhấn mạnh như vậy.

UN DEPISTAGE PAS PRIS EN CHARGE A 100%

Những lý lẽ này đánh trúng hồng tâm : phần lớn các phụ nữ trẻ này chấp nhận điều tra phát hiện và chính như thế mà 7000 trường hợp mới những nhiễm trùng chlamydia được chẩn đoán mỗi năm ở Pháp. “ Ta ước tính rằng 3% các phụ nữ trẻ từ 18 đến 25 bị nhiễm trùng, nhưng trong số những phụ nữ có nhiều bạn đường phối ngẫu, những tỷ lệ lây nhiễm có thể đạt 10% ”, GS Michel Kanier, giám đốc trung tâm lâm sàng và sinh học các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, bệnh viện Saint-Louis đã ghi nhận như vậy.

Chỉ có điều : “ Làm sao công tác phát hiện này lại không được đảm nhận 100% bởi Sécurité sociale, vài phụ nữ trẻ, có lẽ những phụ nữ cần nhất, không đủ điều kiện để tiếp cận sự phát hiện này. Để giải quyết vấn đề này, có những thỏa thuận địa phương với vài trung tâm phát hiện nặc danh và miễn phí (CDAG : centre de dépistage anonyme et gratuit) như những trung tâm ở Paris đảm trách miễn phí sự phát hiện chlamydia ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, nhưng không phải đều như thế ở khắp nơi trên nước Pháp. Khi đó còn lại giải pháp là đến một trung tâm thông tin, phát hiện, chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng lây bằng đường sinh dục (IST : infections sexuellement transmissibles), nhưng những trung tâm như thế không có nhiều. Tuy vậy có một sự nhất trí rất rõ ràng về phía các chuyên gia : mọi người trong tình trạng hoạt động sinh dục (sexuellement active) đã không có được một sự bảo vệ tối ưu (nhờ đến các bao dương vật trong 100% các trường hợp) phải làm một trắc nghiệm phát hiện (test de dépistage), nhất là khi có một sự thay đổi bạn đường phối ngẫu (partenaire). Điều này đủ bởi vì trái với các lậu cầu khuẩn và với tréponème (vecteur truyền bệnh giang mai), sự lan truyền chlamydia qua đường miệng rất hiếm ”, GS Michel Janier đã nhấn mạnh như vậy.

MỘT “ HOME TEST ” ĐẾN Ở PHÁP

Đối với những kẻ ưa thích những phát hiện “ ở nhà ” hơn, được cho là kín đáo hơn, tin vui : đó là một “ home test ” xuất hiện ở Pháp, như điều đã thường được thực hiện trong những nước khác của Liên hiệp châu Âu. Ưu điểm chính : không cần đến phòng xét nghiệm với một y lệnh. Bất tiện chính : trắc nghiệm này không được bồi hoàn bởi Sécurité sociale. Ngoài ra, trong trường hợp kết quả dương tính, dẫu sao cũng phải có một ordonnance để được kê đơn một điều trị kháng sinh, cho mình và cho partenaire, mặc dầu người bạn đường phối ngẫu này không có một triệu chứng nào và đã được làm một test với kết quả âm tính. Thật vậy, không gì nói được rằng người bạn đường phối ngẫu này không ở trong thời kỳ ủ bệnh và do đó anh ta sẽ không là nguồn lây nhiễm trong những này sau đó ”, GS Janier và BS Bensimhon đã nhấn mạnh như vậy.

Hiện nay điều trị chủ yếu dựa vào, đối với người đàn ông cũng như đối với người đàn bà, uống 1 liều duy nhất 4 viên azithromycine, một kháng sinh họ macrolides. Và các giao hợp phải bị cấm chỉ trong 1 tuần, thời gian để thuốc tác dụng. “ Điều đó rất thực tiễn, nhưng vài trường hợp đề kháng được quan sát trên thế giới làm cho các chuyên gia bắt đầu tự hỏi không biết có hợp lý trở lại một điều trị 7 ngày, bằng một kháng sinh thuộc họ cyclines hay không. Khi đó một vấn đề khác được đặt ra : vấn đề tuân thủ tồi điều trị. Như thế, 70% những người được điều trị trong 7 ngày thỉnh thoảng quên uống kháng sinh hay dừng quá sớm bởi vì họ không có (hay không còn nữa) các triệu chứng ”, GS Janier lấy làm tiếc như vậy.

Sau cùng thêm vào một vấn đề nữa : hoặc vì xấu hổ (không đúng) hay vì sợ gieo nghi ngờ vào lòng chung thủy của mình, rất nhiều người bị nhiễm thấy tốt hơn là không nói gì hết. Hậu quả : mặc dầu những chiến dịch thông tin, các con số nhiễm trùng bởi chlamydia vẫn ổn định.
(LE FIGARO 8/10/2012)

2/ CÁC LẬU CẦU KHUẨN NGÀY CÀNG ĐỀ KHÁNG.

Đó là nhiễm trùng chủ yếu đang tăng cao ở những người đàn ông có những quan hệ tình dục với những người đàn ông cũng như ở những người dị tính luyến ái (hétérosexuel), lý do là một sự lơi lỏng trong việc nhờ đến một cách hệ thống những bao dương vật và do việc thực hành làm tình qua đường miệng (sexe oral). “ Thật vậy, lậu cầu khuẩn rất có thể tọa vị trong họng, nhưng không cho một triệu chứng nào, GS Michel Janier (bệnh viện Saint-Louis) đã nhấn mạnh như vậy. Và ngay cả trong trường hợp nhiễm trùng sinh dục, nó có thể tiến triển một cách im lặng trong một thời gian lâu ở phụ nữ, trước khi gây một tình trạng vô sinh (stérilité). Sau cùng chỉ ở người đàn ông mà nhiễm trùng khó mà không được nhận biết, vì lậu cầu gây nên sự xuất hiện triệu chứng đi tiểu rát và mủ niệu (do đó có tên “ đái nóng ” (chaude-pisse). Sự xuất hiện những trắc nghiệm chẩn đoán mới rất đáng tin cậy (những trắc nghiệm PCR dựa trên sinh học phân tử khuếch đại), cho phép tìm kiếm cùng lúc chlamydia và lậu cầu, vậy đó là một tin vui, nhưng hiện nay, những trắc nghiệm này chưa được công nhận bởi Sécurité sociale và do đó chỉ có thể thực hiện ở bệnh viện.”

Do không được phát hiện đủ, nhất là ở phụ nữ và ở những người thực hành làm tình qua đường miệng (sexe oral), lậu cầu khẩu phát triển tốt. Còn đáng lo ngại hơn : trong khi cho đến nay vi khuẩn này nhạy cảm 100% đối với ceftriaxone (Rocephine) (một kháng sinh thuộc céphalosoprine thế hệ thứ ba), nhiều trường hợp đề kháng đã được mô tả trên thế giới, gồm cả ở Pháp. “ Trong nhiều năm, một liều 125 mg là đủ để trừ khử các lậu cầu khuẩn, rồi đã phải chuyển qua 250 mg. Hôm nay, ngay cả cần đến 500mg và ở vài bệnh nhân điều đó không còn đủ nữa. Thế mà chúng ta không có giải pháp thay thế thỏa mãn. Thật vậy, đúng là có một kháng sinh cũ còn có thể có tác dụng (gentalline), nhưng loại thuốc này có tiềm năng độc hại đối với thận, tai và do đó khó sử dụng. Sau cùng hai loại kháng sinh khác đầy hứa hẹn hiện đang được chế tạo, nhưng chúng cũng sẽ phải được sử dụng một cách thận trọng và chỉ hiện diện dưới dạng thuốc tiêm ”, GS Janier đã xác nhận như vậy. Ý kiến này được chia xẻ bởi GS Jean-Paul Stahl, trưởng khoa bệnh nhiễm trùng thuộc CHU de Grenoble. Ông này lo sợ tính chất đa đề kháng của các vi khuẩn đối với các kháng sinh và không chỉ trong lãnh vực các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.

ÍT SỬ DỤNG HƠN CÁC BAO DƯƠNG VẬT

Sau cùng, nhiều nhiễm trùng lậu cầu khuẩn hơn, điều này cho thấy trước sự gia tăng của sự lây truyền những bệnh lây nhiễm qua đường sinh dục nghiêm trọng hơn như VIH hay viêm gan B, do việc lơi lỏng sử dụng các bao dương vật. “ Ở các phụ nữ đã gia tăng những hành vi có nguy cơ (comportements à risque), chúng tôi không do dự đề nghị một điều tra phát hiện toàn bộ những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục chính, từ một mẫu nghiệm máu (đối với VIH, viêm gan B và giang mai), từ một bệnh phẩm âm đạo (chlamydia, lậu cầu) và từ một frottis nhằm tìm kiếm những dấu hiệu gián tiếp nhiễm trùng papillomavirus, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa thuộc bệnh viện mới Port-Royal (Paris), đã nhận xét như vậy. Chúng tôi cũng lợi dụng điều đó để nhắc lại với họ rằng préservatif nữ cũng hiệu quả như préservatif nam để phòng ngừa phần lớn những trường hợp nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.”

(LE FIGARO 8/10/2012)

3/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG NÀY LÀM DỄ BỆNH SIDA

Mỗi năm ở Pháp, 6700 người bị lây nhiễm bởi virus bệnh sida, thường nhất qua đường sinh dục. Những con số của bệnh ở Pháp vì gần như ổn định, nên điều đó có nghĩa là sự bảo vệ bằng các bao dương vật vẫn không đủ.

“ Sự kiện bệnh sida ngày nay được xem như một bệnh mãn tính, được điều trị, có lẽ đã góp phần đưa đến một sự lơi lỏng tinh thần cảnh giác. Tuy vậy phải nhận thức rõ ràng những điều trị này không phải là không có những tác dụng phụ và như thế thật là chán ngắt khi phải uống thuốc mỗi ngày. Cũng vậy, đúng là có một điều trị cấp cứu được đề nghị ở bệnh viện cho những người đã có một giao hợp có nguy cơ với một người huyết thanh dương tính, nhưng phải hành động nhanh và điều trị này không phải là vô hại, GS Stahl, trưởng khoa bệnh nhiễm trung thuộc CHU de Grenoble, đã nhấn mạnh như vậy. Còn về những hứa hẹn vaccin, phải dè chừng những tác dụng loan báo : ta còn rất lâu mới đề nghị một cách thường quy một vaccin và sẽ còn cần nhiều năm trước khi đạt được điều đó ”, GS Stahl đã nói tiếp như vậy.

Nguy cơ lây nhiễm bởi virus của bệnh sida càng quan trọng khi bệnh nhân vốn đã bị một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục khác, như herpès sinh dục, than ôi lại khá thường gặp. Hai triệu người Pháp mang virus này, nguy cơ lây nhiễm đối với partenaire tối đa vào lúc một cơn bộc phát các mụn nước (vésicule). Đúng là có một điều trị kháng virus (aciclovir) được cho trong trường hợp các cơn bộc phát thường xuyên, nhưng không đủ để phòng ngừa nguy cơ truyền nhiễm. Do đó mang bao dương vật là điều không thể thay thế được.

Cũng như thế để tránh sự lây truyền của một bệnh viêm gan B, một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục khác được biết rõ là cũng làm dễ nhiễm trùng bởi HIV. Có nhiều bạn đường phối ngẫu hay là người nghiện ma túy là hai nguyên nhân chính gây nhiễm trùng bởi virus của viêm gan B. Vào giai đoạn viêm gan triệu chứng lây nhiễm, những điều trị với các antirétroviraux cho phép ngăn cản sự xuất hiện của một ung thư gan đối với bệnh nhân và làm giảm rất nhiều những nguy cơ lây nhiễm partenaire. Nhưng để tránh mọi nguy cơ, tốt nhất là được tiêm chủng, thế mà dân Pháp đã trì chậm rất nhiều trong lãnh vực này ”, BS Stahl đã nhấn mạnh như vậy. Một lý do tốt để nghĩ đến phát hiện bệnh : Nói chung sự phát hiện bệnh được đề nghị vào lúc mang thai hay lúc phẫu thuật.

NHỮNG THƯƠNG TỔN ĐÔI KHI GÂY CHẾT NGƯỜI.

Sau cùng, sự hiện diện của một bệnh lây nhiễm đường sinh dục nguồn gốc vi khuẩn cũng làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm bởi virus của bệnh sida. Vậy đó là trường hợp đối với chlamydia, lậu cầu khuẩn, nhưng cũng đối với bệnh giang mai mà ở Pháp không còn được nghe nói đến nữa cho đến những năm 2000, trước khi tái phát trở lại, nhất là trong giới đồng tính luyến ái. Khởi đầu bệnh giang mai có thể gây nên một chancre (vết loét) không đau, rồi vài tuần sau, nổi ban da và hội chứng cúm và, nếu không được điều trị kháng sinh, những thương tổn của não, các dây thần kinh, của tim, đôi khi gây chết người. Thế mà cũng giống như lậu cầu khuẩn, tréponème gây bệnh giang mai có thể sống sót trong họng mà không được nhận biết. Vậy về chiến lược phát hiện các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, đất nước của chúng ta (Pháp) còn có nhiều điều để làm.
(LE FIGARO 8/10/2012)

4/ BÃO TỐ LÊN THUỐC NGỪA THAI

Việc bán thuốc chống mụn Diane 35 (nhưng cũng dùng để ngừa thai) bị đình chỉ ở Pháp nhưng không (chưa) ở Bỉ.
  • 315 phụ nữ Pháp sử dụng thuốc ngừa thai này có 3 tháng để thay đổi thuốc ngừa thai.
  • Cơ quan dược phẩm Pháp đánh giá rằng sản phẩm, được đăng ký như là thuốc chống mụn, cũng được dùng làm thuốc ngừa thai.
  • Quyết định đình chỉ này làm gia trọng mọi nghi ngờ về cán cân nguy cơ-lợi ích của những viên thuốc ngừa thai khác.

Bộ trưởng y tế Pháp Marisol Touraine hôm thứ tư đã khuyên các phụ nữ đang sử dụng thuốc chống mụn (anti-acné) Diane 35 (phần lớn được chuyển sang dùng làm thuốc ngừa thai), “ đừng hoảng sợ ”, trong khi đó cơ quan dược phẩm Pháp đã quyết định đình chỉ loại thuốc này từ nay đến 3 tháng nữa.“ Không nên ngừng một cách đột ngột điều trị này ”. Thật vậy đó là mối lo sợ lớn của những người hành nghề y tế sau khi công bố rút thuốc này ra khỏi thị trường. Ở Bỉ, không có một quyết định tương tự nào đã được thông qua. Chủ đề được thảo luận nhân một cuộc họp của Cơ quan dược phẩm châu Âu. Bỉ sẽ theo lời khuyến nghị của cơ quan này. Ở Bỉ, Diane được thương mãi hóa dưới nhiều tên khác nhau : Claudia, Daphe, Diane, ElisaMylan và Gratiella. Cũng như ở Pháp, sản phẩm hormone này được đăng ký như thuốc chống mụn, chứ không phải như thuốc ngừa thai. Nhưng bởi vì tác dụng của nó có một hiệu quả ngừa thai nên Diane thường được kê đơn làm thuốc ngừa thai do hai hiệu quả.

Quyết định của Pháp chủ yếu được căn cứ trên những nguy hiểm liên kết với điều trị này, 130 trường hợp huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse), trong đó 3 trường hợp tử vong, trong 25 năm. Một lợi ích-nguy cơ được chấp nhận cho đến nay, nhưng hôm nay Cơ quan dược phẩm Pháp từ chối trên cơ sở profil xấu của dược phẩm : “ Phải chăng quý vị chấp nhận profil nguy cơ này trong điều trị chống mụn, trong khi có những thuốc thay thế ? ”, Dominique Maraninchi đã giải thích như vậy. Câu trả lời rõ ràng là không.

ĐỪNG GIÁN ĐOẠN SỬ DỤNG

Chậm lắm là trong 3 tháng nữa, tất cả các hộp thuốc sẽ được rút ra khỏi các hiệu thuốc. Maraninchi, đánh giá rằng Diane “ không phải là viên thuốc ngừa thai tốt ”, tuy nhiên ông đã yêu cầu 315.000 phụ nữ Pháp đừng ngừng thuốc thức thời và tiếp xúc với thầy thuốc gia đình. 3 tháng này sẽ cho phép các phụ nữ liên hệ hướng về những giải pháp khác và nhất là đối với những phụ nữ dùng Diane hay những générique của nó như thuốc ngừa thai, có thời gian chọn một biện pháp ngừa thai khác.

Những quyết định này đập một cách gián tiếp vào hình ảnh của viên thuốc ngừa thai nói chung, bởi vì Diane gây nên những nguy cơ tương tự với những viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ 3 (những viên thuốc chứa désogestrel, gestodène và norgestimate) và thế hệ thứ 4 (chứa chủ yếu drospirénone), mà Cơ quan dược phẩm châu Âu đã tuyên bố đánh giá lại theo yêu cầu của Pháp. Không hề có vấn đề xét đến việc rút tất cả những viên thuốc này ra khỏi thị trường, mà là trả lời câu hỏi: Có cần thiết hạn chế sự sử dụng những loại thuốc này ở những phụ nữ không thể dùng những thuốc ngừa thai phối hợp dùng bằng đường miệng khác ?
(LE SOIR 31/1/2013)

5/ SIDA : TRIỄN VỌNG VACCIN MỚI

Ở khỉ, một vaccin bằng đường miệng trung hòa sự hoạt hóa của những tế bào bị nhiễm cần thiết cho sự tăng sinh của virus.

PANDEMIE. Một vaccin chống virus gây bệnh sida hoàn toàn mới đã được hiệu chính bởi một kíp Pháp-Hoa, được lãnh đạo bởi GS Jean-Marie, thuộc đại học Paris-Descartes, và Louis Wei Lu, giám đốc nghiên cứu thuộc Institut de recherche pour le développement (IRD), ở Montpellier. Được trắc nghiệm trên mô hình động vật tương cận với người nhất, macaque, sự tiêm chủng này đã bảo vệ lâu dài 14 động vật trên 16 chống lại một nhiễm trùng bởi virus gây suy giảm miễn dịch của khỉ, tương đương ở động vật này, của virus sida hay VIH ở người.

PHUƠNG PHÁP ĐỘC ĐÁO

“ Công trình này, Olivier Schwartz, giám đốc của khoa siêu vi trùng học của Viện Pasteur đã xác nhận như vậy, là lý thú và đầy hứa hẹn. Có nhiều thử nghiệm khác về các ứng viên vaccin ở khỉ, nhưng ở đây phương pháp là độc đáo ”. Thật vậy, vaccin này không cần phải tiêm và có thể được cho một cách trực tiếp bằng đường miệng. Một cách tóm tắt, vaccin này trung hòa sự hoạt hóa của các tế bào bị nhiễm, cần thiết cho sự tăng sinh của virus.

Từ khi virus của bệnh sida được nhận diện vào năm 1983 bởi một kíp nghiên cứu của Viện Pasteur, Paris, những cố gắng to lớn đã được dành cho việc nghiên cứu một vaccin chống lại virus này. Tuy vậy, sau 187 thử nghiệm lâm sàng các vaccins, hơn 8 tỷ dollars đã được tiêu phí cho nghiên cứu, chủ yếu bởi recherche publique Hoa Kỳ, sự thất bại là hoàn toàn. Chỉ có 3 thử nghiệm lâm sàng có tầm cỡ đã được tiến hành, thử nghiệm đầu tiên, được gọi là VAX 004, vào năm 1998, đã chẳng mang lại kết quả gì ; thử nghiệm thứ hai, được mệnh danh STEP, đã phải dừng lại sớm vì cùng lý do ; thử nghiệm cuối cùng, RV144, đã được thực hiện ở Thái lan, trên một số lượng khổng lồ 16.000 người tình nguyện, đã thu được một sự giảm 30% những nhiễm trùng mà ta chưa biết một cách chính xác tại sao. Hiện nay, chỉ một thử nghiệm thuộc loại này vẫn đang còn được tiến hành ở Hoa Kỳ.

Một cách nghịch lý, những lý do của sự thất bại này được biết từ khởi thủy bởi các nhà nghiên cứu. Virus của bệnh sida có những đặc điểm duy nhất làm chúng không thể bị túm được một khi đã vào trong cơ thể. Protéine, ở bề mặt của màng tế bào virus sida, cực kỳ thay đổi từ con virus này đến con khác, làm nhầm lẫn những toan tính nhận biết bởi hệ miễn dịch. Lại càng đáng sợ hơn, virus nhắm và phá hủy những tế bào chủ yếu đối với đáp ứng miễn dịch, các tế bào lympho T4, cho phép trừ khử virus. Những virus sida có một yếu điểm mà Jean-Marie Andrieu và đồng nghiệp của ông Louis Wei Lu đã lợi dụng. Để sinh sản, HIV phải chờ cho tế bào mà nó gây nhiễm tự hoạt hóa. “ Bằng cách làm cho cơ thể có khả năng làm bất hoạt những tế bào bị nhiễm của nó, chúng tôi giết trong trứng nước mọi sự tăng sinh của virus ”, GS Andrieu đã nói rõ như vậy.

Một sự bất hoạt như thế được gây nên bởi các vi khuẩn ruột. Những vi khuẩn này hẳn phải gây nên một sự dung nạp của cơ thể của chúng ta đối với chúng. Thí nghiệm đã có thể tiến hành trên khoảng 100 con khỉ nhờ sự hỗ trợ của Viên y học nhiệt đới của Canton (Trung Quốc). Thí nghiệm nhằm cho ruột của các con khỉ tiếp xúc với những nồng độ rất cao của một giống gốc vi khuẩn với sự hiện diện của virus bệnh sida được làm bất hoạt.

Hy vọng của các nhà nghiên cứu là gây nên một sự dung nạp của hệ miễn dịch, cũng sẽ bao gồm virus hiện diện. 3 tháng sau, khi 8 con khỉ, sau khi đã được tiêm chủng và được làm lây nhiễm bởi những liều mạnh virus, không con nào đã bị nhiễm siêu vi trùng, trái lại với những con khỉ không được tiêm chủng, tất cả đều bị nhiễm virus. Hơn 1 năm sau, khi 8 con khỉ một lần nữa bị làm lây nhiễm, 7 con không có một con virus nào trong máu cũng như trong niêm mạc của chúng. “ 3 năm sau, tất cả những con khỉ này vẫn luôn luôn không bị nhiễm virus và khỏe mạnh, Jean-Marie Andrieu đã xác nhận như vậy. Và con khỉ duy nhất bị nhiễm virus, là con khỉ, trong những trắc nghiệm của chúng tôi, đã không phát triển dung nạp ”.

Các nhà nghiên cứu ngay cả cho thấy trong Cell Reports rằng sự tiêm chủng này vẫn có hiệu quả đối với một giống gốc khác của virus, bằng cớ một hiệu quả trung hòa tổng quát hơn của những tế bào bị nhiễm bởi hệ miễn dịch.

CHUYỂN QUA NGƯỜI

Hai bằng sáng chế đã được trình tòa nhân danh IDR, thuộc đại học Paris-Descartes và công ty Biovaxim, được thành lập với sự hỗ trợ tài chánh của một bệnh nhân tỏ lòng biết ơn đối với GS Jean-Marie Andrieu. Giai đoạn kế tiếp, chuyển sang người, tuy nhiên sẽ dành những điều không chắc chắn bởi vì, theo GS Jean
  • Daniel Lelièvre, phụ trách chương trình lâm sàng tiêm chủng ở ANRS (cơ quan nghiên cứu về bệnh sida và những viêm gan siêu vi trùng,“ virus người thay đổi nhiều hơn virus ở khỉ và mặt khác, các con khỉ macaque thường đề kháng với nhiễm trùng hơn so với người ”.

    Trên phương diện thực hành, ngược lại, thí nghiệm dường như có thể tiếp cận. Việc gây nên sự dung nạp với vi khuẩn Lactobacillus phantarum đã cho thấy tính vô hại của nó ở người. Sự hấp thụ bằng đường miệng VIH được làm bất hoạt, được trắc nghiệm một cách rộng rãi ở khỉ, dường như không có một nguy cơ nào, mặc dầu Chính phủ Hoa Kỳ đã chưa cho phép sử dụng như là một vaccin phòng ngừa ở người. Sau cùng, vaccin này cũng có thể dùng để điều trị ở những bệnh nhân huyết thanh dương tính, bằng cách phong bế ở những bệnh nhân này khả năng tăng sinh của virus trong các tế bào bị nhiễm, điều này mang lại một giải pháp thay thế cho liệu pháp chống virus hiện đang sử dụng. Những thử nghiệm theo chiều hướng này ở người, sẽ được bắt đầu ngay năm này trong một nước châu Âu, sẽ cho thấy một cách nhanh chóng là triễn vọng mới của vaccin có tương lai hay không.
    (LE FIGARO 24/1/2013)

    6/ SIDA : MỘT VACCIN ĐIỀU TRỊ MỚI

    Những thử nghiệm lâm sàng của một vaccin chữa bệnh (vaccin curatif) mới sẽ bắt đầu ở Marseille trên 48 người tình nguyện huyết thanh dương tính. Vậy đó không phải là một vaccin ngăn cản mắc bệnh, mà là một loại thuốc có khả năng tăng cường phòng vệ miễn dịch. Mục tiêu là một protéine được gọi tên là Tat (thay thế cho chữ “ transactivating ). “ Ở những người huyết thanh dương tính, protéine này đóng vai trò garde du corps của những tế bào bị nhiễm siêu vi trùng, GS Erwann Loret, người khởi xướng thí nghiệm ở Hôpital de la Conception, đã giải thích như vậy. Cơ thể của những bệnh nhân này không có khả năng nhận biết nó cũng không có khả năng trung hòa nó, điều mà vaccin được thử nghiệm sẽ cho phép.”

    48 bệnh nhân huyết thanh dương tính và hiện đang được điều trị bởi tam liệu pháp (trithérapie) sẽ tham gia vào công trình nghiên cứu. Những kết quả sơ khởi đầu tiên được dự kiến từ nay đến 5 tháng nữa. Chính nhà nghiên cứu vẫn tỏ ra thận trọng. “ Đó không phải là hồi kết thúc của bệnh sida. Ngay cả đó không phải là khởi đầu của sự chấm dứt của bệnh sida.” Nhưng hôm qua, vài người đã loan báo “ première mondiale ”. Đúng như vậy về protéine này, nhưng rất quá đáng khi nói đến ý niệm “ vaccin chữa lành bệnh ” GS Jean-François Delfraissy, giám đốc cơ quan nghiên cứu Pháp về bệnh sida (ANRS), nói rằng “ từ 25 đến 26 công trình thử vaccin ” hiện đang được tiến hành trên thế giới. Vả lại những thử nghiệm trước đã chịu những thất bại quan trọng.

    “ Phải thận trọng khi chúng ta đưa ra những thông điệp cho bệnh nhân ”, Jean François Delfraissy đã giải thích như vậy. Ông xác nhận rằng công cụ tiêm chủng chống lại HIV chưa hiện hữu mặc dầu đã nhiều năm nghiên cứu. Hiện nay, 40% những thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên thế giới nhằm vào những vaccin điều trị chống bệnh sida, so với 60% những vaccin có mục đích phòng ngừa.

    Một vaccin điều trị hiện được trắc nghiệm ở Viện y học nhiệt đới và ở bệnh viện đại học Anvers (Bỉ).
    (LE SOIR 30/1/2013)


    7/ THẤT BẠI NGHIÊM TRỌNG ĐỐI VỚI VACCIN CHỐNG SỐT RÉT.

    MALADIE PARASITAIRE. Được trắc nghiệm trên hơn 6000 nhũ nhi, ứng viên vaccin tiến bước nhất chống lại bệnh sốt rét, RTS,S đã chỉ làm giảm 1/3 những trường hợp sốt rét.

    Sau hàng trăm triệu dollars được đầu tư bởi Hãng bào chế GSK và Fondation Bill&Melina Gates, phải chăng một ngày nào đó ứng viên vaccin chống bệnh sốt rét, RTS,S sẽ được thương mại hóa ? Câu hỏi được đặt ra sau những kết quả mới, thu được trong bối cảnh của một thử nghiệm trên 6537 nhũ nhi châu Phi, tuổi từ 6 đến 12 tuần, được theo dõi trong 1 năm. Thật vậy, RTS,S đã chỉ làm giảm khoảng 30% những cơn sốt rét. Điều này rõ rệt ít hơn những tỷ lệ khoảng 50% thu được năm vừa rồi trong một thử nghiệm trên gần 6000 trẻ em tuổi từ 5 đến 17 tháng.

    Thế mà, các em bé từ 6 đến 12 tuần là một một đích chiến lược. Thật vậy, trong những nước nghèo, mỗi vaccin chống sốt rét, khi được chế tạo, phải được cho cùng lúc với những vaccin nhi đồng khác. Điểm đen khác : “ Tính hiệu quả của RTS,S dường như ít mạnh hơn sau 3 đến 4 tháng ”, Pierre Druilhe, cựu giám đốc của Laboratoire de paludo-vaccinologie của Viện Pasteur, phụ trách phát triển một ứng viên vaccin cạnh tranh, đã chỉ rõ như vậy.

    Chắc chắn là để nhắm ký sinh sinh trùng gây bệnh sốt rét phức tạp hơn nhiều so với một virus. Lý do tại sao hiện giờ chưa có một vaccin chống sốt rét nào cả. Ngoài ra dầu sao, một vaccin chống sốt rét sẽ được sử dụng bổ sung cho những phương pháp bảo vệ khác. Trong số những phương pháp bảo vệ là giường được trang bị bởi những chiếc mùng có tẩm thuốc diệt côn trùng. Trong thử ngiệm này, chính đó là trường hợp đối với 86% các nhũ nhi. “ Trong bối cảnh này, vậy không phải là tồi lắm khi đã thu được một hiệu quả bổ sung khoảng 30% ” Eric Mouzin, chuyên gia dịch tễ học của partenariat “ Faire reculer le paludisme” (Genève) đã phát biểu như vậy.

    NHỮNG NIỀM HY VỌNG HÃO

    Nhưng theo ý kiến của Bill Gates trong một thông báo, tính hiệu quả khoảng 30% này “ kém hơn điều mà chúng ta hy vọng ”, và với những lời nói có ẩn ý, vài chuyên gia không do dự khi nói “ début de la fin ” (khởi đầu của sự cáo chung) đối với RTS,S

    Bởi vì theo các dữ kiện của Tổ chức y tế thế giới, để được một tỷ suất phí tổn-tính hiệu quả (rapport cout-efficacité) đủ, một vaccin chống bệnh sốt rét phải đạt một tính hiệu quả tối thiểu 50%, với một hiệu quả bảo vệ trong hơn 1 năm. Mặt khác, những vaccin cổ điển có một tính hiệu quả trên 80%. “ Theo những kết quả của thử nghiệm này, RTS,S dường như sẽ không trở thành một vaccin thường quy đối với các nhũ nhi ”, Odile Puijalon, chuyên gia bệnh sốt rét thuộc viện Pasteur đã đánh giá như vậy. “ Trong những vùng mà ký sinh trùng rất hiện diện, tính hiệu quả 30% này dẫu sao có thể có một ảnh hưởng dương tính ”, về phần mình Eric Mouzin đã đánh giá như vậy. Nhưng chỉ có những kết quả cuối cùng mới quyết định dứt khoát.

    Chính vì vậy sự đánh giá quy mô lớn của RTS,S sẽ được theo đuổi cho mãi đến năm 2014, lúc đó toàn bộ các kết quả với một theo dõi 30 tháng sẽ được công bố. Ta cũng sẽ khám phá không biết tính hiệu quả của vaccin có sẽ được cải thiện bởi một liều “ booster ” hay không. Liều booster này nhằm kích thích hệ miễn dịch và được cho 18 tháng sau khi cho liều thứ ba của protocole cơ bản.
    (LA RECHERCHE 1/2013)

    8/ MỘT MŨI TIÊM ĐỂ CỨU CON MẮT

    Première mondiale của Bỉ chống lại sự kết dính giữa thủy kính (vitré) và hoàng điểm (macula)
    • Ocriplsmine là điều trị không phải ngoại khoa đầu tiên từng được ghi nhận đối với căn bệnh có thể gây cho bệnh nhân mù lòa này.
    • Nhưng những kết quả vẫn còn khiêm tốn : 20% đã được chữa lành so với 10% đối với những người đã nhận một placebo.

    Chính trong tuần này, ngoài những thử nghiệm lâm sàng, những bệnh nhân đầu tiên trên thế giới có thể nhận một mũi tiêm ocriplasmine, một loại thuốc mới, được phát triển ở Louvain (Bỉ), bởi công ty Thrombogenics. Trước hết thuốc này chỉ có ở Hoa kỳ, một đơn xin phép sử dụng đang được tiến hành ở châu Âu trên cơ sở cùng những kết quả.

    Thuốc này, được cho là một trong những loại thuốc đắc nhất thế giới (sản phẩm, được mệnh danh là Jetrea, được bán 3000 euro chỉ với một mũi tiêm duy nhất 0,5 mg) đã được đăng ký qua một thủ tục rất nhanh sau khi những kết quả dương tính được công bố vào tháng 8 năm 2012 trong New England Journal of Medicine. Quả thật đó là điều trị đầu tiên bằng thuốc từng được đề nghị chống lại bệnh dính thể kính-điểm vàng (adhérence vitréomaculaire). Hiện nay giải pháp duy nhất mang lại cho bệnh nhân để chống lại bệnh này là phẫu thuật nhằm lấy đi thể kính (corps vitré) của mắt. Thể kính là một loại gel, bình thường trong suốt, làm đầy khoảng nằm giữa thủy tinh thể (cristallin) và võng mạc (rétine). Thể kính không cần thiết đối với thị giác và có thể được lấy đi. Bệnh dính thủy kính-điểm vàng, nếu không được điều trị, có thể dẫn đến một sự sụt giảm thị lực, và có thể gây nên những biến chứng, thậm chí những tổn hại không thể hồi phục.

    Thuốc, ocriplasmine, là một protéase, nghĩa là một men (enzyme) làm vỡ những protéine gây nên sự dính tai hại này giữa thủy kính và điểm vàng, dẫn đến một sự suy sụp thị giác, thậm chí gây mù hoàn toàn. Những protéine này, fibronectine và laminine, là những thành phần tự nhiên của interface giữa thể kính và võng mạc. Ocriplasmine phân tách fibronectine, laminine và collagène góp phần vào sự kết dính này. Sản phẩm có khuynh hướng giảm cường độ trước khi thể kính tách khỏi võng mạc. Bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng bởi một nếp nhăn hay một lỗ trong hoàng điểm, một sự bong hoàng điểm hay một phù nề.

    CHỈ MỘT MŨI TIÊM

    Hơn một nửa triệu người trong thế giới phương Tây bị căn bệnh dính thể kính-hoàng điểm (adhérence vitréomaculaire). Thuốc điều trị, sẽ có để sử dụng trong tuần đến, được cho bằng một mũi tiêm duy nhất. Ý tưởng là hầu như thay thế phẫu thuật, hay chỉ làm dễ nó. Những kết quả đáng phấn khởi nhưng không phải nhiệm màu : trên 652 bệnh nhân bị bệnh dính thủy kính-hoàng điểm, 26% đã thấy căn bệnh được giải quyết sau 6 tháng. Một con số khiêm tốn, nhất là nếu ta biết rằng 10% những người đã nhận một placebo cũng đã được chữa lành. Tuy vậy, sự khác nhau, đó là một lãnh vực mà chỉ có ngoại khoa được sử dụng như là giải pháp, đã được đánh giá là đủ quan trọng để các chuyên gia Hoa Kỳ chấp thuận thuốc điều trị. Điều trị này cũng không phải là không có những tác dụng phụ, như chảy máu kết mạc, nhìn mờ, chảy nước mắt, phù hoàng điểm và đau mắt. Những chớp sáng (flash lumineux) và mất thị giác đã được ghi nhận. Nhưng tất cả những triệu chứng này cũng là những triệu chứng của căn bệnh được điều trị. Vậy khó quyết đoán giữa những tác dụng của bệnh và hiệu quả mà thuốc điều trị mang lại.

    Thrombogenics hiện đang tiếp tục phát triển những thử nghiệm đối với những áp dụng nhãn khoa khác của sản phẩm này.

    KHÔNG PHẢI LÀ ĐẮC NHẤT

    3000 euros cho một mũi tiêm duy nhất ½ mg. Đắc hơn vàng… Một giá kỹ lục ?

    Không hẳn như thế. Các thuốc mắc nhất thường được dành để điều trị những bệnh di truyền hiếm. Ví dụ eculizumab, kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) để điều trị bệnh hémoglobinurie paroxystique nocturne, phí tổn 300.000 euros mỗi….năm. Idursulfase, một thuốc điều trị của hội chứng Hunter, phí tổn 280.000 euros. Galsulfase, để điều trị hội chứng Maroteaux-Lamy, phí tổn 270.000 euros mỗi năm.

    Cinryse, để điều trị những bệnh nhân bị bệnh angio-oedème héréditaire, được bán 260.000 euros. Những giá này là những giá trên thị trường Hoa Kỳ và có thể thay đổi rất nhiều tùy theo nước.
    (LE SOIR 7/1/2013)

    9/ ĐỂ DÀNH CÁC NOÃN BÀO ĐỂ KÉO DÀI KHẢ NĂNG SINH SẢN.

    Các thầy thuốc phụ khoa ủng hộ việc tự bảo tồn vì lý do riêng.

    PROCREATION. Thời kỳ có thể sinh sản (période de fertilité) của các phụ nữ càng ngày càng ngắn : tuổi trung bình của thai nghén đầu tiên là 31 tuổi, các phụ nữ trước hết dùng thời gian để học hành, bắt đầu một hoạt động nghề nghiệp và gặp “ người đàn ông của đời mình ”. Rồi khả năng sinh sản nữ giới giảm bắt đầu từ 37 tuổi, những phụ nữ có thai sau 42 tuổi là hiếm. Ngoài ra, “do chứng nghiện thuốc lá rất phổ biến ở các phụ nữ trẻ, tuổi mãn kinh cũng có khuynh hướng giảm ”, GS Jean-Philippe Wolf (Bệnh viện Cochin, Paris) đã đảm bảo như vậy. Do đó thời kỳ trong đó các phụ nữ có thể có một đứa con bi thu giảm một cách nguy hiểm.

    Còn những người đàn ông, sau tuổi dậy thì có khả năng sinh sản suốt đời. Trong trường hợp hóa học liệu pháp chống ung thư, họ có thể bảo tồn tinh dịch đông lạnh trong các ngân hàng không khó khăn.

    VITRIFICATION

    Sự xuất hiện của một kỹ thuật mới bảo tồn các noãn bào nữ bằng một sự đông lạnh cực kỳ nhanh, vitrification, có thể làm tiến triển tình huống này và mang lại cho các phụ nữ khả năng gia tăng làm chủ năng lực sinh sản của họ bằng cách cho phép họ để dành các noãn bào.

    Ở Pháp, kỹ thuật này được cho phép từ tháng 7 năm 2011 trong vài trường hợp, nhưng Collège national des gynécologues et obstériciens français vừa phát động cuộc tranh luận khi đề nghị mở rộng kỹ thuật này cho tất cả phụ nữ mong muốn. Trong một thông báo được công bố cuối tháng 12, Collège này đánh giá rằng “ Sự tự bảo tồn các noãn bào (autoconservation des ovocytes) là một tiến bộ y khoa bởi vì nó là phương pháp duy nhất điều trị chứng vô sinh (infertilité) thật sự có hiệu quả ở tuổi 40 hoặc hơn. Kỹ thuật này cho phép các cặp vợ chồng sử dụng vốn di truyền (capital génétique) của riêng họ ”

    Mặc dầu kỹ thuật vitrification này tạo một bước tiến xã hội chắn chắn, tuy vậy phương pháp này không phải là không nêu lên nhiều vấn đề và, trong tất cả các trường hợp, nó sẽ không cho phép tất cả các phụ nữ sẽ nhờ đến nó để có con.

    “ Vitrification các noãn bào hiện nay có thể thực hiện ở Pháp trong 3 trường hợp : trong khung cảnh hiến noãn bào (don dovocytes) ; trước điều trị có khả năng gây vô sinh ; trong một lần thử thụ thai nhân tạo cổ điển nếu đôi vợ chồng từ chối sự đông lạnh phôi thai, BS Joelle Belaish-Allart (trưởng khoa phụ sản và y khoa sinh sản, trung tâm bệnh viện, Sèves) đã giải thích như vậy ”. Ở ngoại quốc, thực hiện sự bảo tồn noãn bào vì lý đó riêng chủ yếu có thể làm ở Tây Ban Nha, Ý, ở Hoa Kỳ, ở Canada. Điều này có thể được thực hiện ở Pháp trong tương lai trong các trung tâm tư hoặc công.

    Vào lúc này, cũng có thể tự bảo tồn noãn bào (autoconservation ovocytaire) với điều kiện những người phụ nữ yêu cầu điều đó, để đổi lại, tặng một phần các noãn bào của mình, với tính cách hiến nặc danh, để điều trị một phụ nữ vô sinh khác. “ Một chantage như vậy về phương diện đạo đức có vẻ không thể chấp nhận được ”, Collège des gynécologues đã xác nhận như vậy.

    Sự hạ khả năng sinh sản nữ giới với tuổi tác được chứng thực một cách chính xác bởi những công trình nghiên cứu được tiến hành trong hỗ trợ y khoa sinh sản (procréation médicalememnt assistée). “ Sự sụt giảm những tỷ lệ thành công thụ thai nhân tạo (fécondation in vitro) bắt đầu ngay năm 35 tuổi và gia tăng sau 37 tuổi, BS Belaish-Allart đã nói thêm như vậy. Vậy, trong trường hợp lý tưởng, phải cho trích lấy các noãn bào của mình trước 35 tuổi hay chậm nhất lúc 37 tuổi. Thật vậy, trong những trung tâm ngoại quốc, các phụ nữ thường làm như vậy chậm hơn khi họ nhận thức rằng đồng hồ sinh học của họ đã quay và rằng họ đã chưa gặp người chồng của đời mình.”

    Phải chăng ta sẽ có thể làm chậm lại mà không lo lắng tuổi của một thai nghén nhờ một kỹ thuật đông lạnh cực nhanh (vitrification) như vậy ? “ Chú ý sự an lòng giả tạo mà những noãn bào đông lạnh này mang lại, BS Belaish-Allart đã xác nhận như vậy. Một công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng nếu 8 noãn bào có chất lượng tốt được làm đông lạnh cực nhanh (vitrifié), đối với một phụ nữ dưới 39 tuổi, ta có thể hy vọng 62% những cơ may có thai chứ không phải 100%.” Ngoài ra, với tuổi tác, những nguy cơ do thai nghén gia tăng đối với người mẹ cũng như đối với đứa trẻ : sinh non, cao huyết áp, đái đường và mổ lấy thai, cũng như tỷ lệ tử vong mẹ và thai nhi.

    Cho đến lứa tuổi nào ta có thể cho cấy lại (réimplanter), sau khi thụ thai, những noãn bào được làm mất đông và thụ tinh của mình ? Hiện tại không có sự nhất trí trong số những chuyên gia về tuổi giới hạn sử dụng những noãn bào của mình. 43 tuổi ? 45 tuổi ?

    PHÍ TỔN

    Mặt khác, ai sẽ tài trợ cho việc tự bảo tồn noãn bào vì lý do cá nhân ? Assurance-maladie trong khi đó không phải là một căn bệnh ? Chính các phụ nữ, khi đó với một nguy cơ “ thai nghén hai tốc độ ” (grossesse à deux vitesses) ?

    “ Mục đích của tự bảo tồn noãn bào không phải để cho phép có thai sau thời kỳ mãn kinh. Đó là một điều trị phòng ngừa trong trường hợp sụt giảm khả năng sinh sản do tuổi tác. Ước muốn có con càng ngày càng muộn và những kỹ thuật cổ điển không cho phép chống lại sự sụt giảm khả năng sinh sản liên quan đến tuổi tác, BS Belaisch-Allart đã đảm bảo như vậy.Có nhiều phụ nữ 40 tuổi và hơn đến khám vì mất khả năng sinh sản (infertilité) và câu trả lời duy nhất mà xã hội có thể mang lại là nhờ đến hiến noãn bào (don d’ovocytes), mà ta biết những vấn đề khó khăn ở Pháp.”

    Việc cho các phụ nữ biết về khả năng tự bảo tồn các noãn bào cũng sẽ cho phép họ nhận thức những giới hạn trong thời gian về khả năng sinh sản của mình và có lẽ khuyến khích họ phải dự kiến sớm hơn để có con.
    (LE FIGARO 21/1/2013)


    10/ LỢI ÍCH HẠN CHẾ CỦA CÁC THUỐC CHỐNG BỆNH ALZHEIMER.

    Một hiệp hội những người tiêu thụ ở Hoa Kỳ chủ trương không sử dụng những thuốc chống bệnh Alzheimer nữa, vì lẽ chúng thiếu tính hiệu quả.

    NEUROLOGIE. Ở Hoa Kỳ, tuần qua một lời cảnh cáo đến từ một hiệp hội những người tiêu thụ, Consumer Reports. Trong một báo cáo về các thuốc chống bệnh Alzheimer, hiệp hội này nhấn mạnh sự thiếu tính hiệu quả của những thuốc này, cho rằng chúng “ đối với phần lớn các bệnh nhân không có hiệu quả lên các triệu chứng và tiến triển của bệnh. Tuy nhiên hiệp hội những người tiêu thụ ở Hoa Kỳ đã chấp nhận rằng nhiều người có lẽ muốn thử một trong những điều trị này, nhưng trong trường hợp này yêu cầu bệnh nhân không kéo dài sự sử dụng “ nếu không một dấu hiệu cải thiện nào xuất hiện trong ba tháng đầu ”.

    Ở Pháp, trận chiến đã xảy ra vào năm 2011 khi Bộ Y Tế (HAS), sau khi đã thực hiện sự tái đánh giá những thuốc điều trị trong bệnh Alzheimer, quyết định cho chúng lùi lại một nấc trong thang điểm lợi ích y tế (échelle d’intérêt médical) của những thuốc này. Thang điểm này (ASMR) gồm 5 mức. Bộ Y Tế đã cho chuyển từ mức 4 lên mức 5 những loại thuốc anticholinestérasique như donépézil (Aricept), galantamine (Reminyl), rivastigmine (Exelon) và mémantine (Ebixa), có cách tác dụng khác nhau. Theo các chuyên gia, một mức có nghĩa là một sự không có tiến bộ điều trị. Chuẩn bị chiến đấu trong các hiệp hội các bệnh nhân, xem đó là một bước đầu tiên tiến về déremboursement. Nhưng Xavier Bertrand, khi đó là Bộ trưởng y tế, nhắc lại rằng bệnh Alzheimer được đảm nhận chi phí 100% bởi bảo hiểm xã hội và sẽ vẫn như vậy.

    Florence Pasquier, trưởng centre mémoire CHRU de Lille, công nhận điều đó : “ Đúng là không có điều trị có hiệu quả theo ý nghĩa chữa lành bệnh hay làm ngừng tiến triển của nó, nhưng các thuốc có một tính hiệu quả khiêm tốn ”. Để hỗ trợ cho lời phát biểu, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đưa ra những kết quả thuận lợi đối với điều trị của một công trình nghiên cứu được tài trợ năm qua bởi giới hữu trách y tế Anh, Medical Research Council và UK Alzheimer’ s Society. Công trình nghiên cứu “ Domino ”, được công bố vào tháng ba 2012 trong New England Journal of Medicine, GS Pasquier đã nêu lên chi tiết như vậy, đã cho thấy rằng, khi ta dùng một điều trị được sử dụng từ hơn một năm, các kết quả với các trắc nghiệm giảm một cách rất nhanh.” GS Olivier Saint-Jean, trưởng khoa bệnh người già thuộc bệnh viện châu Âu Georges
  • Pompidou (Paris) tỏ ra dè dặt hơn : “ Hiệu quả sau 6 tháng rất là khiêm tốn trên các triệu chứng nhận thức (symptômes cognitifs), và phải dè chừng những hiệu quả được đo lường bởi các trắc nghiệm. Sự xác định một tính thích đáng lâm sàng (được nhận thấy ở các triệu chứng) thường không chắc đúng

    NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỚI

    Đối với GS Gilles Bouvenot, chủ tịch của commission de transparence của Bộ Y tế, “ tình hình đã không thật sự tiến triển kể từ khi tái đánh giá năm 2011. Các thuốc vẫn là những điều trị hỗ trợ đối với sự xử trí y tế-xã hội. Chúng chỉ có một hiệu quả vô cùng giới hạn, trong một thời gian thu giảm và chỉ đối với những bệnh nhân mà ta không thể xác định lúc đầu.”

    May mắn thay nghiên cứu đã mở ra những triễn vọng điều trị khác. Bệnh Alzheimer được biểu hiện bởi một sự giảm các protéine bất thường trong dịch não tủy, các peptide amyloide, và sự tạo thành lắng đọng của các protéine này trong não bộ, các “ mảng amyloide ” có thể thấy được với những kỹ thuật mũi nhọn chụp hình ảnh. Chính những cơ chế này mà các nhà nghiên cứu hôm nay cố dập tắt. Ngoài ra, một công trình nghiên cứu của Úc vừa cho thấy rằng số những thương tổn não bộ tương quan với mức độ nghiêm trọng của những rối loạn trí nhớ. Do đó mục tiêu là phong bế chuỗi sinh học (cascade biologique) nhờ các kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux), còn ở trong giai đoạn thí nghiệm.

    Đối với GS Dubois, thuộc Viện trí nhớ và bệnh Alzheimer và Viện não và tủy sống, những công trình nghiên cứu mới đây chỉ đáng phấn khởi ở những bệnh nhân ở những giai đoạn sớm nhất. Những công trình này cho thấy rằng ta có thể có được một sự biến đổi tỷ lệ peptide amyloide trong dịch não tủy và một sự giảm số lượng những thương tổn não được quan sát bằng PET scan. Một hướng biện minh cho một can thiệp càng sớm càng tốt.

    Vấn đề là hôm nay ta không thể biết ai sẽ tiến triển về một bệnh Alzheimer, khi những dấu hiệu sinh học của bệnh hiện diện. Ngoài ra một công trình nghiên cứu độc đáo vừa được phát động bởi các kíp nghiên cứu của GS Dubois để tuyển mộ 400 người bắt đầu có những vấn đề về trí nhớ. Mặt khác chỉ cần có 70 đến 85 tuổi và mạnh khỏe là đủ. Công trình nghiên cứu này có thể cho phép hiểu tốt hơn những tham số nào sẽ góp phần vào sự tiến triển về phía bệnh Alzheimer. Cần thiết, nếu ta muốn tưởng ra những điều trị sớm, thậm chí phòng ngừa.
    (LE FIGARO 22/1/2013)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (5/1/2013)




    Xem Thêm TSYH các số cũ hơn:

    Edited by user Tuesday, February 5, 2013 5:33:58 AM(UTC)  | Reason: Not specified

  • "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    thanks 1 user thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
    Hoàng Thy Mai Thảo on 2/5/2013(UTC)
    lly (Lynn Ly)  
    #6 Posted : Thursday, February 14, 2013 1:32:30 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 296

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH



    1/ LÀM SAO THOÁT KHỎI BỆNH MẤT NGỦ NẶNG ?

    Trong một nửa các trường hợp, bệnh lý này được liên kết với một bệnh khác mà trước hết cần phải tìm kiếm.

    SOMMEIL. Cứ 5 người Pháp thì có một bị mất ngủ kinh niên (insomnie chronique), trong đó 9% bị mất ngủ nặng (insomnie sévère). Những người bị mất ngủ nặng, một mặt, có một thời gian ngủ mỗi ngày dưới 6 giờ, với một ảnh hưởng mạnh lên những hoạt động ban ngày và mặt khác, những rối loạn giấc ngủ định nghĩa chứng mất ngủ : cần hơn 1 giờ để thiu ngủ, hay thức dậy hơn 1 giờ mỗi đêm, hay có một giấc ngủ không bồi sức (un sommeil non récupérateur), ít nhất 3 lần mỗi tuần từ hơn một tháng. Những người mất ngủ nặng bị những tai nạn thường hơn, họ cũng có một nguy cơ gia tăng bị cao huyết áp, bệnh béo phì và đái đường.

    Tần số mất ngủ mãn tính gia tăng với tuổi tác. Nếu 1/3 những người trên 65 tuổi dùng đều đặn thuốc ngủ, trong một trường hợp trên hai, điều trị này không được biện minh về mặt y khoa, giới hữu trách y tế, mới đây phát động chiến dịch để làm giảm sự tiêu thụ này, đã chỉ rõ như vậy. “ Lúc già, nhu cầu ngủ giảm, giấc ngủ ngắn lại, bị phân đoạn. Ngay cả cấu trúc của giấc ngủ cũng bị biến đổi : giấc ngủ chậm sâu (sommeil lent profond) chiếm 25% thời gian toàn bộ của giấc ngủ ở tuổi 20, những chỉ 4 đến 5% sau 65 tuổi. Vậy không là thực tế khi muốn tìm lại ở tuổi 60 giấc ngủ của thời còn trẻ tuổi ”, GS Yves Dauvilliers , thầy thuốc chuyên khoa thần kinh (CHU Montpellier) đã giải thích như vậy. Thường xảy ra hơn lúc cao tuổi, chứng mất ngủ kinh niên cũng thường xảy ra ở các phụ nữ mà ta thật sự không biết tại sao. Đối với GS Damien Léger (Hôtel-Dieu, Paris), “ những yếu tố kích thích tố, nhưng những sinh đẻ và những săn sóc cho các nhũ nhi cũng có thể làm dễ sự xuất hiện của chứng mất ngủ ”.

    Vì hầu như không thể, trong nhiều đêm trường, thăm dò giấc ngủ của những người mất ngủ này ở phòng thí nghiệm, nên mức độ nghiêm trọng của sự mất ngủ thường nhất được đánh giá trên điều mà họ cảm thấy, và những công trình nghiên cứu về chứng mất ngủ nặng vẫn là ngoại lệ. Lứa tuổi lúc chứng mất ngủ này xuất hiện hướng về những nguyên nhân khả dĩ nhất. Ở một người trẻ, chứng mất ngủ khiến nghĩ hơn đến một bệnh mất ngủ nguyên phát (insommnie primaire), một tố bẩm sinh học (prédisposition biologique) ngủ kém, thường có một tính chất gia đình. Những yếu tố nguy cơ di truyền đã được nhận diện, được truyền bởi người mẹ. Sự mất ngủ khởi đầu thường được tăng cường bởi những thái độ không thích hợp, ngủ sớm hay dậy trễ, sẽ góp phần làm cho chứng mất ngủ trở thành kinh niên.

    Ở những người lớn tuổi hơn, đôi khi mất ngủ từ nhiều năm, trước hết phải loại bỏ sự trách nhiệm của một rối loạn khác. “ Một nửa những trường hợp mất ngủ nặng được liên kết với một bệnh đã không được tìm tòi đủ : ngừng thở ngắn lúc ngủ (apnée du sommeil), hen phế quản, viêm mũi hay viêm phế quản mãn tính, các rối loạn nhịp tim, đau đớn, loạn năng tuyến giáp hay tăng tiết cortisol, bệnh đái đường, bệnh thận…Vậy một bilan sinh học phải luôn luôn được thực hiện trong trường hợp mất ngủ nặng ”, GS Léger đã giải thích như vậy. Đối với ông, “ những trường hợp mất ngủ này được cải thiện dễ dàng nhất, bằng cách điều trị bệnh lý liên kết ”.

    Nguyên nhân khả dĩ khác, hội chứng các cẳng chân không yên (syndrome des jambes sans repos). Hội chứng này chịu trách nhiệm những trường hợp mất ngủ nặng quan trọng. Trong những thể nghiêm trọng, ảnh hưởng 1-2% dân số, vài bệnh nhân ngủ chưa được một giờ mỗi đêm. “ Trong một trường hợp trên hai, đó là một bệnh có tính chất gia đình, liên kết với một sự thiếu hụt sắt trong vài vùng của não bộ, mà các gène đã được biết đến, và đáp ứng với một điều trị đặc hiệu bằng các thuốc agonistes dopaminergiques. Bất hạnh thay, chẩn đoán không luôn luôn được thực hiện ”, GS Dauvilliers đã lấy làm tiếc như vậy. Việc dùng vài loại thuốc cũng có thể là nguồn gốc của những trường hợp mất ngủ nặng, thí dụ những thuốc chẹn beta giao cảm, được kê đơn trong cao huyết áp, làm phân đoạn giấc ngủ nếu thuốc được dùng vào buổi chiều.

    Phức tạp hơn, sự liên kết với một chứng trầm cảm (dépression) được tìm thấy trong 50% các trường hợp mất ngủ nặng mãn tính. Như thầy thuốc thần kinh nhấn mạnh điều đó, “ một bệnh nhân già bị chứng mất ngủ và không bị bệnh trầm cảm có nguy cơ bị trầm cảm. Và một bệnh nhân được điều trị tốt đối với chứng trầm cảm nhưng vẫn mất ngủ, bệnh nhân này có nguy cơ hơn bị tái phát chứng trầm cảm này. Rõ ràng có một vòng luẩn quẩn giữa chứng mất ngủ và chứng trầm cảm, chủ yếu ở người già ”. Không những đó là một mối liên hệ nhân quả, đó còn là một sự liên kết, một comorbidité. “ Chứng mất ngủ và chứng trầm cảm là phản ảnh của cùng một loạn năng thần kinh-sinh học (dysfonctionnement neurobiologique), trước hết được thể hiện bởi sự mất ngủ rồi, lúc trầm trọng, bởi sự trầm cảm ”, GS Joelle Adrien, neurobiologiste (CHU Pitié-Salpêtrière, Paris) đã giải thích như vậy. Một chất trung gian thần kinh (neuromédiateur), sérotonine, đặc biệt có liên hệ trong sự loạn năng này. Những trường hợp mất ngủ nặng và thức dậy sớm gợi ý một hội chứng trầm cảm, nguyên nhân của chứng mất ngủ này.

    Điều trị chứng mất ngủ nặng cần một xử trí đặc hiệu, cá thể hóa, trong đó các thuốc ngủ, đôi khi có lợi trước mắt, nhưng về lâu về dài có nguy cơ gây nên những tác dụng âm tính liên kết với sự phụ thuộc (dépendance) và quen thuốc (accoutumance). Một khi những yếu tố tố bẩm (facteurs prédisposants) đã được nhận diện và điều trị, những liệu pháp nhận thức và hành vi (thérapie cognitive et comportementale) thường hiệu quả nhất.
    (LE FIGARO 12/11/2012)

    2/ BỆNH BÉO PHÌ-GIẤC NGỦ : NHỮNG MỐI LIÊN HỆ NGUY HIỂM.

    Những công trình nghiên cứu dịch tễ học chứng tỏ điều đó : một thời gian ngủ ngắn được liên kết với một tỷ lệ cao mắc bệnh béo phì và đái đường, và chính giấc ngủ là một yếu tố nguy cơ đối với hai bệnh lý này.

    Theo một phân tich méta của Ý trên 45 công trình nghiên cứu (hoặc hơn 600.000 người tham dự), nguy cơ béo phì gia tăng 55% ở những người ngủ trung bình dưới 5 giờ mỗi đêm. Cùng các tác giả đã cho thấy, trong một phân tích méta khác, rằng một thời gian ngủ dưới 6 giờ gia tăng 28% nguy cơ bị bệnh đái đường loại 2.

    ĐIỀU HÒA SỰ THÈM ĂN

    Bù lại, không có những công trình nghiên cứu dành một cách đặc hiệu cho mối liên hệ giữa mất ngủ mãn tính với bệnh béo phì. Những nghiên cứu thử nghiệm hiện nay hướng về những mất ngủ ngắn nhưng xác minh những quan sát dịch tễ học.

    Kíp của Karine Spiegel (Inserm, Lyon) đã cho thấy ở những người trưởng thành rằng một sự hạn chế ngủ trong 2 đến 7 ngày làm biến đổi sự điều hòa thần kinh-nội tiết của sự thèm ăn. “ Leptine, kích thích tố báo hiệu cho não bộ rằng qúy vị đã ăn khá đủ, bị giảm, và ghréline, kích thích tố khác kích thích đói, được gia tăng, cũng như cảm giác đói và sự thèm ăn. Những công trình nghiên cứu khác chứng mình rằng những người có giấc ngủ bị hạn chế ăn nhiều hơn, những thức ăn nhiều mỡ hơn và nhiều đường hơn ”, Nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy. Cùng kíp nghiên cứu đã cho thấy rằng, khi thời gian ngủ bị hạn chế, tính nhạy cảm đối với insuline và độ dung nạp (tolérance) đối với glucose bị giảm, những khuynh hướng này, về lâu về dài, tương ứng với một sự gia tăng nguy cơ bị bệnh đái đường loại 2.

    Một trong những giả thuyết liên quan đến orexine. Như Karine Spiegel đã nói rõ, “ được nhận diện đồng thời trong những công trình nghiên cứu lên giấc ngủ và lên sự dinh dưỡng, neuropeptide này không những kích thích hệ thức tỉnh (système de l’éveil) trong vỏ não, mà còn hệ giao cảm, điều này giải thích tác dụng của nó lên leptine và ghréline, cũng như vùng dưới đồi (hypothalamus), ở đây neuropeptide Y được tiết ra, chất này kích thích mạnh sự thèm ăn và hệ khen thưởng (système de la récompense), làm gia tăng sự khoái lạc liên kết với việc dùng thức ăn. Sự thiếu ngủ ở động vật kích thích hệ này. “ Có lẽ chính sự ức chế không đủ hệ này khi thời gian ngủ bị giảm giải thích hậu quả của một giấc ngủ ngắn lên chứng béo phì và bệnh đái đường.”

    NHIỀU CƠ BỊ MẤT HƠN

    Trong một công trình nghiên cứu khác, những người tăng thể trọng đã theo cùng chế độ ăn uống làm gầy (régime amaigrissant), nhưng ngoài ra vài người phải chịu mất ngủ. Tất cả đã mất cùng trọng lượng, nhưng những người có một giấc ngủ ngắn đã mất nhiều khối lượng gầy (masse maigre), nhiều cơ hơn những người khác. Thế mà, khối lượng gầy lại tham gia vào sự điều hòa glucide.

    Người ta cũng đã chứng tỏ rằng, bằng cách theo dõi những người trưởng thành trong 6 năm, những người ngủ ít nhìn chung lên cân hơn so với những người khác, và rằng gia tăng thời gian ngủ làm kềm hãm sự lên cân của họ.

    Mất ngủ cũng làm gia tăng sự tiết cortisol theo một đường khác. Sự gia tăng này chịu trách nhiệm một sự gia tăng sự tích mỡ tạng (adiposité viscérale) và sự đề kháng với insuline, điều này cùng góp phần vào nguy cơ bị béo phì và đái đường.
    (LE FIGARO 12/11/2012)

    3/ TÌM LẠI NHỮNG ĐÊM NGỦ NGON BẰNG CÁCH KHÁC

    Đối với BS Damien Léger (Hôtel-Dieu, Paris), “ mất ngủ nặng (insomnie sévère) là một quá trình phúc tạp. Phải dành cho nó một thăm khám đặc hiệu, không được bằng lòng cho vội vàng một viên thuốc ngủ khác vào cuối buổi khám bệnh. Nhật ký của giấc ngủ (agenda du sommeil) là một công cụ hữu ích để chuẩn bị cho sự thăm khám này, bằng cách ghi nhận trong khoảng chục ngày những giờ ngủ và những giờ thức dậy, những lúc thức tỉnh vào ban đêm (éveils nocturnes), sự sử dụng thuốc, chất lượng các đêm trường, những giấc ngủ trưa, sự ngủ gà ban ngày… Một mất ngủ nặng dai dẳng từ nhiều năm đòi hỏi thực hiện một bilan chuyên môn trong một thăm khám vì những rối loạn giấc ngủ.

    Những thuốc ngủ, benzodiazépines hay những loại khác, phải được dùng trong một thời gian ngắn. Dùng lâu hơn, tính hiệu quả của chúng không chắc chắn và chúng gây nên một tình trạng quen thuốc có thể khiến phải gia tăng liều lượng. Ngoài ra, ta không biết những hậu quả về lâu về dài của chúng. “Vậy việc kê đơn các benzodiazépine phải dưới 1 tháng. Trong những mất ngủ nặng dai dẳng, ta có thể ngừng chúng, rồi sau đó, trong trường hợp cần, cho trở lại 2 hay 3 đêm mỗi tuần, xen kẽ nhau ”, vị thầy thuốc đã chỉ rõ như vậy. Một ý kiến được chia xẻ rộng rãi bởi tất cả các chuyên gia của giấc ngủ : “ Những loại thuốc này có thể hữu ích để vượt qua một lúc khó khăn, vào một lúc nếu chứng mất ngủ trở nặng. Nhưng phải biết dừng chúng và xét đến việc cai thuốc ngay cả đối với người mất ngủ nặng dùng thuốc ngủ lâu dài. Sau đó, không còn cấp cứu : phải chọn lúc thuận lợi để dùng thuốc, thiết lập một sự theo dõi sát để tránh một tác dụng dối ngược. Nhưng đó là cách tốt nhất để phục hồi giấc ngủ ”, GS Dauvilliers (CHU,Montpellier) đã đánh giá như vậy.

    NHỮNG THÓI QUEN XẤU VÀ NHỮNG Ý TƯỞNG SAI LẠC

    Đối với thầy thuốc thần kinh, một khi đã giải quyết tất cả các bệnh tật khả dĩ gây nên và duy trì một sự mất ngủ nặng, điều trị có hiệu quả nhất dựa trên liệu pháp nhận thức và hành vi (thérapie cognitive et comportementale) (TCC) : “ Phải thay đổi cho được những hành vi (comportements), làm giảm thời gian nằm trên giường và dành nó cho giấc ngủ, tránh những lúc ngủ trưa, gia tăng hoạt động vật lý và thời gian tiếp xúc với ánh sáng ban ngày… Mặt nhận thức cũng quan trọng để thay đổi những tín điều đối với giấc ngủ, vài người mất ngủ tin chắc rằng họ phải cần 8 giờ ngủ mỗi đêm hay muốn tìm lại giấc ngủ trước đây của họ. Phải làm cho họ hiểu rằng những thái độ này là sai lầm, rằng ta ít cần ngủ hơn khi lớn tuổi và phải biết thích ứng với tiến triển này.” Những TCC này cho phép hướng dẫn những người mất ngủ trong nhiều tuần, nhiều tháng, để cố hủy bỏ tác dụng có hại của những thói quen xấu và những ý tưởng sai lạc này.

    Trong số những phương pháp dược học, mélatonine, được dành hơn cho những người già bởi vì sự sản xuất của nó giảm với tuổi tác, có một tính hiệu quả rất thay đổi. Những công trình nghiên cứu cho phép nhắm tốt hơn những bệnh nhân khả dĩ hưởng lợi điều trị này. Một hướng nghiên cứu liên quan đến orexine, bị giảm trong chứng narcolepsie, một rối loạn giấc ngủ được đặc trưng bởi một tình trạng ngủ nhiều ban ngày (hypersommnie diurne). Nhiều anti-orexine đang ở giai đoạn 2 hay 3 của những đánh giá lâm sàng. Nhưng đối với GS Dauvilliers, “ ngoài những phương pháp đặc hiệu này, tương ứng với một cơ chế nào đó, việc xử trí mất ngủ nặng cần có một cái nhìn toàn bộ hơn nhiều, bắt đầu bằng việc loại bỏ tất cả những nguyên nhân thực thể và sự xác định những mục tiêu thực tế với bệnh nhân ”.
    (LE FIGARO 12/11/2012)

    4/ TA CÓ THỂ CHẾT VÌ PHIỀN MUỘN HAY SỢ HÃI ?

    Professeur Jean-Paul Bounhoure
    Cardiologue
    Membre de l’Académie nationale de médecine.


    Những sự khiếp sợ đột ngột, những hành hung vật lý, những tai họa thiên nhiên, những hoàn cảnh gian truân nhất của cuộc đời từ lâu được biết là có ảnh hưởng lên cơ thể của chúng ta, bằng cách tác động lên trạng thái thần kinh-nội tiết (état neuroendocrinien) của chúng ta và sự vận hành chức năng của bộ máy tim mạch của chúng ta. Hầu hết các thầy thuốc còn giữ ký ức kinh hoàng của cái chết đột ngột của các bệnh nhân mình khi được loan báo về một tin bi thảm. Nhiều giai thoại nói về những cái chết đột ngột, nhồi máu cơ tim và các tai biến mạch máu não ở những người bị những căng thẳng quan trọng về mặt cảm xúc. Động đất, những cơn gió lốc, sóng thần (tsunamis), những tình huống xung đột dữ dội, sự hoảng sợ trước mối đe dọa sinh tử, sự đau khổ chịu đựng khi mất bất ngờ một người thân là những sốc tâm lý và tình cảm chất nặng hậu quả, trước mắt và lâu dài, đối với sự ổn định của nội môi của cơ thể chúng ta, đối với hệ thần kinh và nội tiết của chúng ta và đối với trái tim của chúng ta.

    Những tai biến tim này là những syndrome de stress, được gọi là“ broken heart syndrome ”, bởi những người Anglo-Saxons và tako-tsubo ở Nhật Bản, tên phát xuất từ sự tương tự giữa chiếc lọ hai bầu (vase bilobé) được sử dụng bởi những dân chài cá Nhật Bản để bẫy các con mực tuộc (pieuvre) và sự biến dạng cấp tính của tâm thất trái đặc trưng của hội chứng này. Ngoài ra ta chịu ơn những nhà nghiên cứu Nhật Bản đã nhận diện lần đầu tiên vào năm 1991, căn bệnh tim mới này, có liên quan đến 2% dân số, chủ yếu là những phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, nhưng may mắn thay hoàn toàn có thể đảo ngược trong đại đa số các trường hợp.

    Một cách đột ngột, dưới tác dụng của một sốc tình cảm, người bệnh biểu hiện đau ngực hay khó thở, buộc nghĩ đến một nhồi máu cơ tim. Thật vậy, những nhồi máu “ giả ” này chiếm khoảng 15% những trường hợp nhập viện được thực hiện cấp cứu vì nhồi máu cấp tính. Hội chứng stress được chẩn đoán một cách nhanh chóng ngay khi ta chứng thực dạng vẻ bình thường của các động mạch vành, nhưng, ngược lại, một sự biến dạng đặc trưng của tâm thất. Sự loạn năng tâm thất có thể trầm trọng, nhưng nó có thể đảo ngược không để lại di chứng quan trọng trong vài tuần với một tiên lượng tốt. Trái lại, mặc dầu tỷ lệ tử vong thấp và được liên kết với các biến chứng hơn là với những hậu quả của chính hội chứng, các tái phát thường xảy ra.

    Phần lớn được giải thích như vậy sự gia tăng nhiều những trường hợp nhập viện cấp cứu vì nhồi máu sau tsunami de Fukushima và biến cố 11/9 ở Nữu Ước, ở tại đây trong những ngày tiếp theo sau tai họa, ta đã ghi nhận 49% những hội chứng động mạch vành cấp tính nhiều hơn tuần trước

    Một chấn thương càng mạnh khi nó càng đột ngột và dữ dội, tăng gấp 10 sốc cảm xúc và tâm lý của sự khiếp sợ và và tình trạng tang tóc. Bằng cách làm rối loạn một cách sâu đậm tình trạng tim mạch, tình trạng sốc này có nguy cơ làm hoại tử các mô, làm nứt nẻ và làm vỡ các mảng xơ vữa động mạch, làm phát khởi một sự co thắt động mạch (spasme artériel) và gây nên một huyết khối động mạch vành (thrombose artérielle). Chính vì vậy trước hết cần phải lập tức làm dịu sự lo lắng và sự tăng xúc cảm (hyperémotivité) bằng cách kê đơn các thuốc an thần và bằng cách bảo đảm cho những bệnh nhân này một điều trị tâm lý và tâm thần, bởi vì ta biết rằng có những mối liên hệ chặt chẽ giữa stress, những bệnh thần kinh và hệ tim-mạch, và còn hơn thế nữa ở các phụ nữ mà ta biết là họ phản ứng mạnh hơn so với những người đàn ông, vì lẽ nồng độ cortisol, hormone de stress của họ.

    MỖI CÁ NHÂN PHẢN ỨNG MỘT CÁCH KHÁC NHAU VỚI STRESS.

    Ngày nay, các máy khử rung tự động được gắn trong cơ thể (défibrillateur automatique implantable) cho phép phân tích những trường hợp xảy ra loạn nhịp cực kỳ trầm trọng, trong hơn 30% các trường hợp, sốc điện cứu sống (choc électrique salvateur) xảy ra sau những rối loạn nhịp do một tình huống gây căng thẳng, một cảm xúc mạnh mẽ, thí dụ một cơn giận dữ dữ dội. Các stress cấp tính, do tác dụng sinh học và tác động của chúng lên hệ thần kinh giao cảm, góp phần tạo nên tình trạng bất ổn định điện, làm dễ những rối loạn thất trầm trọng và chết đột ngột, và không hiếm xảy ra những tai biến tim chết người trong hàng ngũ những ủng hộ viên say mê nhất nhân một biến cố thể thao, vì thế các kíp Samu luôn luôn trong tư thế sẵn sàng để can thiệp, khi một trận đấu quan trọng diễn ra.

    Nhưng mỗi cá nhân phản ứng một cách khác nhau đối với stress tùy theo một tổng số các yếu tố bao gồm những tố bẩm di truyền và tâm lý, cá tính, những điều kiện môi trường, tuổi tác và những khả năng thích ứng của mỗi cá thể khi đứng trước mối hiểm nguy. Thế mà, một cách nghịch lý, chính cùng stress này có thể đồng thời là điều kiện của sự sống còn của chúng ta hay ảnh hưởng lên sự vận dụng của các hệ phòng vệ, làm chúng trở nên có hại trước mắt hay lâu dài. Một sốc tâm lý như thế có thể làm phát khởi một chuỗi các tương tác phức tạp thần kinh, kích thích tố và sinh học, nguồn gốc của những rối loạn nghiêm trọng ít hay nhiều, đặc biệt ở hệ miễn dịch và hệ thống mạnh vành và tim của chúng ta.

    Thật vậy, stress là một quá trình động về thích ứng tâm và sinh lý của cơ thể với những cưỡng bức vật lý và tâm thần xảy ra đột ngột hay dài lâu, đối với những tấn công phát xuất từ môi trường và lối sống của chúng ta. Nhưng ngày nay ta đã chứng tỏ rằng đáp ứng này, dưới những dạng khác nhau, đối với những tấn công, xảy ra như yếu tố làm dễ hay làm phát khởi nhiều bệnh lý tim mạch. Cấp tính hay mãn tính, stress góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong tim mạch trong toàn dân. Chứng nghiện thuốc lá, bệnh cao huyết áp và bệnh đái đường là những yếu tố làm dễ. Về lâu về dài, stress lúc làm việc, stress mãn tính, đặc biệt thường xảy ra trong thời đại của chúng ta, có liên quan đến tất cả các khu vực hoạt động và xuất hiện như một trong những vấn đề của nền văn minh công nghiệp của chúng ta. Những căng thẳng về tinh thần trong cuộc sống nghề nghiệp, tính chất nguy hiểm của các đồn bót, những điều kiện vật chất khó nhọc, những xung đột xảy ra trong xí nghiệp duy trì một cảm giác khó ở thường trực, trước hết dẫn đến một tình trạng thường xuyên nghỉ việc, rồi sự xuất hiện cao huyết áp, những dạng khác nhau của rối loạn thân thể (troubles somatiques) để sau cùng làm dễ chứng xơ vữa động mạch. Những yêu cầu cao trong công việc, một cảm giác thất vọng kinh niên do quyền quyết định thấp, sự lo âu trước tình trạng không an toàn của việc làm, làm gia tăng nguy cơ bị những tai biến tim mạch. Đáp ứng đối với những stress của đời sống hàng ngày như thế tạo nên một trạng thái căng thẳng cấp tính của cơ thể và tình trạng này sẽ huy động tức thời những khả năng phòng vệ của nó để đương đầu với một tình huống đe dọa. Và phản ứng càng hung bạo khi biến cố càng dữ dội, bất ngờ, làm bất ổn định, hay làm mất cá tính (dépersonnalisant).
    (LE FIGARO 29/10/2012)

    5/ TA CÓ THỂ CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TỪ MỘT XÉT NGHIỆM MÁU ?

    Docteur Marc-Henri Stern
    Directeur de recherche Inserm
    Médecin expert en génétique

    Docteur Olivier Lantz
    Médecin spécialiste en immunologie
    Hôpital de l’Institut Curie


    Phát hiện càng sớm càng tốt sự xuất hiện của các ung thư, hay những tái phát của chúng, là một trong những mục tiêu quan trọng của ung thư học. Mặc dầu những tiến bộ của chụp hình ảnh, khối u tái phát phải đạt một kích thước đủ mới có thể thấy được. Đó chủ yếu là trường hợp đối với những mélanome của mắt : một khi đã lan tràn, ung thư này rất khó điều trị. Một trong những hy vọng là có thể đề nghị càng sớm càng tốt một điều trị cho bệnh nhân có một sự phát tán của ung thư. Nhưng, cho đến hôm nay, những kỹ thuật chụp hình ảnh chỉ có thể phát hiện những di căn đã có một kích thước quan trọng. Do đó nảy sinh ý tưởng phát hiện ADN khối u lưu thông trong máu của các bệnh nhân.

    Lần đầu tiên, chúng tôi đã cho thấy rằng có thể phát hiện ADN khối u lưu thông trong máu của những bệnh nhân bị mélanome di căn của mắt. Sự hiện diện ADN tumoral trong máu tiết lộ sự hiện hữu của một khối u và lượng của ADN này phản ánh kích thước của khối u. Thật vậy đó là một chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) khả dĩ phát hiện rất nhanh sự hiện diện của một khối u hay một tái phát. Mặc dầu được thực hiện trên một số hạn chế những bệnh nhân bị một bệnh hiếm, công trình nghiên cứu này, được công bố trong Clinical Cancer Research vào tháng năm 2012, là một bằng cớ về tính khả thi và lợi ích lâm sàng của khái niệm này. Kỹ thuật này có thể được áp dụng cho bất cứ loại khối u nào bắt đầu từ lúc mà một biến đổi di truyền đặc hiệu đã được nhận diện. Từ một xét nghiệm máu, như thế chúng ta có thể phát hiện ADN tumoral trong máu phát xuất từ một khối u.

    Thật vậy có một hiện tượng hủy hoại tự nhiên những tế bào bình thường hay ung thư trong cơ thể và, điều này, nhằm đảm bảo sự đổi mới của các mô. Các tế bào bị hủy hoại và một phần của vật chất di truyền của chúng xuất hiện trong máu. Vậy, nếu ADN tumoral được phát hiện, điều đó có nghĩa rằng những tế bào ung thư hiện diện trong cơ thể.

    Trước hết chúng tôi đã hiệu chính một kỹ thuật có thể dùng trong lâm sàng để phát hiện ADN tumoral trong máu, nhưng cần biết rằng ADN này có lượng rất thấp so với ADN bình thường phát xuất từ những tế bào khác. Trong một thì đầu, phải xác định làm sao phân biệt ADN tumoral. ADN ung thư có cùng những biến đối với ung thư nguyên phát. Sự hiện diện của những biến dị di truyền này, trong trường hợp này là một sự biến đổi của GNAQ hay GNA11 rất thường gặp trong loại ung thư này, là chỉ dấu (marque) của nguồn gốc của ADN.

    Sau đó chúng tôi đã nhờ đến phương pháp được gọi là “ polymérisation activée par pyrophosphorolyse ” (PAP), căn cứ trên phản ứng dây chuyền bởi polymérase (PCR), để phát hiện sự hiện diện của ba biến dị ponctuel trong hai gène này. Kỹ thuật này liên kết tính nhạy cảm và đặc hiệu vì lẽ nó cho phép nhận diện một biến dị của một tế bào trong số 10.000 tế bào. Kỹ thuật này đơn giản, ít tốn kém và có thể được thực hiện trong bất cứ phòng xét nghiệm sinh học phân tử lâm sàng nào.

    Đứng trên quan điểm lâm sàng, ADN tumoral đã được phát hiện trong những mẫu nghiệm máu của 20 trong số 21 bệnh nhân có một mélanome di căn của mắt. Mặt khác, lượng của ADN này tỷ lệ với khối lượng ung thư (masse tumorale) được đánh giá bằng chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ (IRM). Như thế chúng tôi đã xác lập rằng phương pháp phát hiện này hoàn toàn được thích ứng để xác định sự hiện diện của một ổ ung thư ở những bệnh nhân chỉ bằng lấy máu đơn giản.

    Những công trình nghiên cứu bổ sung đã được dự kiến để đánh giá giá trị tiên lượng của chất chỉ dấu mới này tùy theo giai đoạn tiến triển của các mélanome của mắt. Sự nghiên cứu ADN tumoral có thể cho phép nhận diện rất sớm một u tái phát (có kích thước nhỏ), vậy những bệnh nhân khả dĩ được hưởng một cách tối ưu một liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée). cũng để đánh giá tính hiệu quả của điều trị này nhờ quan sát một sự giảm nồng độ ADN tumoral trong máu. Kỹ thuật này có thể được áp dụng cho tất cả các ung thư trong đó sự biến dị đặc hiệu đã được nhận diện.

    Công trình này, cùng với công trình của những kíp nghiên cứu quốc tế khác, chỉ rằng sự nghiên cứu ADN tumoral lưu thông trong máu có thể bắt buộc trong những năm đến như là kỹ thuật quy chiếu trong việc theo dõi những khối u ác tính được đặc trưng bởi những biến dị của ADN
    (LE FIGARO 5/11/2012)

    6/ YAOURT, TỐT CHO HUYẾT ÁP ?

    CARDIOLOGIE. Chế độ ăn uống ảnh hưởng một cách quan trọng tình trạng sức khỏe của chúng ta. Nhưng chính nhất là toàn bộ những cách nuôi dưỡng thay đổi nguy cơ tim mạch hay bị bệnh đái đường của chúng ta, hơn là một thức ăn đặc biệt. Tuy vậy tốt hơn là ăn trái cây và rau xanh hơn là ních đầy frites và glace à la vanille. Trong khung cảnh này, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã từ lâu khảo sát hiệu quả của yaourt lên huyết áp. Và họ kết luận rằng yaourt có những tác dụng có lợi. Những công trình nghiên cứu của họ đã được đánh giá là đủ có sức thuyết phục nên đã được trình bày tuần qua nhân hội nghị của Hiệp hội tim Hoa Kỳ ở Washington.

    Trong 15 năm, 2000 người tình nguyện có sức khoẻ tốt đã được theo dõi. Lúc đầu, lúc giữa và lúc cuối của điều tra, họ phải điền một bảng câu hỏi chi tiết về tình trạng sức khỏe và chế độ ăn uống của họ. Lượng yaourt được tiêu thụ mỗi tuần nhất thiết phải được chỉ rõ. Sau 15 năm, những người tình nguyện ở họ 2% các calories được tiêu thụ mỗi ngày phát xuất từ yaourt có một nguy cơ ít hơn 30% bị trở thành cao huyết áp. Điều này tương ứng với sự tiêu thụ của 180gyaourt gầy (dung lượng chất mỡ thấp) 3 lần mỗi tuần. Đặc biệt, những người tình nguyện tiêu thụ nhiều yaourt nhất có một huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) thấp hơn những người khác.

    Bởi cơ chế nào, yaourt có thể ảnh hưởng lên mức của huyết áp ? Tác dụng có thể khác với việc chỉ uống sữa đơn thuần ở chỗ nào ? Công trình nghiên cứu không nói rõ điều đó. Ngoài ra hẳn là không đủ nếu hấp thụ tất cả các loại yaourt đường và mỡ, nhưng phải chọn những loại yaourt có 0% chất mỡ và không chứa caramel hay mật hay những đồ ngọt khác. Sau cùng phải biết rằng công trình nghiên cứu đă được tài trợ bởi Viện y tế Hoa Kỳ, với Fondation Danone.
    (LE FIGARO 24/9/2012)

    7/ ĐỂ LÀM GIÃN CÁC ĐỘNG MẠCH : NHỮNG STENTS BIORESORBABLE.

    GS Antoine Lafont, cardiologue interventionnel thuộc bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, trưởng kíp sửa chữa động mạch Inserm U970, giáo sư của đại học Paris-Descartes, đồng sáng lập của société française ART (đã hiệu chính stent biorésorbable châu Âu và đã được Agence nationale de sécurité du médicament (NSM) cho phép đánh giá trên vào năm 2012), giải thích những thiết bị mới này tránh những biến chứng lâu dài như thế nào.

    Hỏi : Ông hay mô tả cho chúng tôi système implantable nhằm làm giãn rộng một động mạch bị hẹp.
    GS Antoine Lafont : Đó là một lò xo nhỏ (petit ressort), bằng kim loại, được chế tạo để khai tắc một động mạch. Protocole gồm có đưa một cathéter được trang bị ở đầu mút bởi một stent, qua động mạch quay (cổ tay) hay động mạch đùi (của bẹn) và đưa nó đến tận vùng bị hẹp, ở đó stent triển khai, đẩy lùi các thành động mạch và mở lỗ của huyết quản. Khi đó máu có thể lưu thông một cách bình thường và mang đến tim oxy mà nó cần.

    Hỏi : Ta đặt một stent trong những trường hợp nào ?
    GS Antoine Lafont : ở những bệnh nhân bị cơn đau thắt ngực (đau tim do oxy mang đến tim không đủ) hay khi một xơ vữa động mạch nghiêm trọng làm hẹp những động mạch của các cẳng chân, gây đau trong các bắp chân khi bước. Chứng xơ vữa động mạch cũng có thể làm thương tổn các động mạch cảnh, khi đó gây nên một nguy cơ đột qụy.

    Hỏi : Tính hiệu quả của những stent kim loại này là gì ?
    GS Antoine Lafont : Mặc dầu stent đã có phép thay thế một số lớn các pontage, tuy nhiên chỉ định của chúng có những giới hạn. Để sử dụng các stent kim loại, chiều dài của hẹp động mạch không được quá quan trọng và những tắc động mạch (obstruction artérielle) không được quá nhiều. Các kết quả tỏ ra thỏa mãn, ngay cả 25 năm sau khi đặt. Nhất là nhờ sử dụng các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (trong đó có aspirine), trong khoảng 12 tháng, để ngăn cản sự tạo thành các cục máu đông. Mặc dầu đó là một gò bó nhưng cần thiết. Cũng như ở tất cả những bệnh nhân bị bệnh động mạch vành, aspirine sẽ vẫn là một điều trị suốt đời. Các stent không chữa nguyên nhân của bệnh, nếu ta không điều trị những yếu tố nguy cơ (thuốc lá, tăng cholestérol-huyết, cao huyết áp, bệnh đái đường), những hẹp động mạch khác sẽ có thể xuất hiện.

    Hỏi : Ta có thể lấy stent đi không ?
    GS Antoine Lafont : Không, bởi vì chúng được xếp lợp trong thành động mạch (sau một phản ứng sẹo), thành động mạch dày lên và có thể phát khởi một phản ứng viêm, có nguy cơ dần dần gây tắc lần nữa động mạch (resténose). Trong những trường hợp hiếm, sự tắc này xảy ra ngay cả một cách đột ngột. Do đó cần theo dõi đều đặn.

    Hỏi : Làm sao, qua thời gian, ta đã tìm cách làm giảm những nguy cơ này ?
    GS Antoine Lafont : Vào đầu những năm 2000, ta đã hiệu chính một kỹ thuật để bọc những stent kim loại này bằng một loại thuốc được phân tán tại chỗ để làm giảm phản ứng hóa sẹo. Kết quả : ta đã cải thiện mức độ dung nạp của các stent nhưng bệnh nhân buộc phải kéo dài sự sử dụng hai loại thuốc chống ngưng kết (đôi khi suốt đời) để tránh mối nguy cơ huyết khối.

    Hỏi : Thành phần của những stent mới có thể tiêu đi (stents résorbables) này là gì ?
    GS Antoine Lafont : Chúng không còn bằng kim loại nữa mà bằng polymère biorésorbable. Sau khi đã khai thông động mạch, chúng giữ động mạch mở cho đến khi các thành hóa sẹo. Rồi chúng tự phá hủy dần dần để biến mất trong khoảng 18 tháng.

    Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ tính hiệu quả của những stents biorésorbables nhất này ?
    GS Antoine Lafont : Đã có nhiều công trình quốc tế, trong đó công trình mới nhất đang được tiến hành trên 1000 bệnh nhân. Những thử nghiệm này đã cho thấy một độ dung nạp tốt.

    Hỏi : Ta có thể đặt bao nhiêu stent trên một bệnh nhân ?
    GS Antoine Lafont : Đối với các stent biorésorbable, không có giới hạn. Đối với các stent kim loại, ở tại chỗ, ta cố giới hạn số lượng đặt.

    Hỏi : Nói tóm lại những ưu điểm của các stent biorésorbable là gì ?
    GS Antoine Lafont : 1. Vì chúng biến mất (như các chỉ tiêu) trong 18 tháng, nên chúng tránh những biến chứng về lâu về dài. 2. Trái với những stent kim loại, ta có thể đặt bao nhiêu stent biorésorbable nếu cần. 3. Chúng cho phép thu giảm 1 tháng thời gian điều trị bởi hai thuốc chống tiếu cầu. 4. Trong vài tháng, thành động mạnh lấy lại tính mềm dẻo của nó, bởi và thành không bị xếp lợp vào trong lồng kim loại của stent.
    (PARIS MATCH 10/1-16/1/2013)

    8/ THẬN TỪ CÁC TẾ BÀO GỐC (PREMIERE MONDIALE)

    Các nhà nghiên cứu Nhật Bản công bố trong Nature Communications một công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng họ đã có được mô thận từ những tế bào gốc đa năng (cellules souches pluripotentes induites : iPS), đây là thành tích đầu tiên trên thế giới. Các quả thận có một cấu trúc phức tạp, rất khó tái tạo một khi bị hư hại.

    Kíp nghiên cứu của Đại học Kyoto đã sản sinh ra các mô của trung bì (mésoderme) mà những quả thận phần lớn được tạo thành, với một tỷ lệ thành công hơn 90% sau khi cấy được 11 ngày. Những khám phá này là một giai đoạn đầu tiên hướng về khả năng ghép mô thận được sinh ra từ những tế bào gốc đa năng (iPS) và mang lại hy vọng cho những bệnh nhân bị những vấn đề về thận hay đang chờ đợi để được ghép thận. Nhưng giám đốc của kíp nghiên cứu, GS Osafune, đã nhấn mạnh rằng còn có nhiều chướng ngại cần vượt qua trước khi đạt đến điều trị y khoa : “ Ta chưa biết là sự kiện ghép những tế bào được tái sinh (cellules régénérées) có sẽ thật sự chữa lành những bệnh thận hay không.”

    Các tế bào gốc đa năng (iPS) được tạo nên từ những tế bào trưởng thành được đưa trở lại trạng thái gần như phôi thai bằng cách làm chúng biểu hiện lần nữa 4 gène để chúng tìm lại một tình trạng chưa chín mùi mới và khả năng biệt hóa thành tất cả các loại tế bào tùy theo môi trường trong đó chúng hiện diện.

    Cùng kíp nghiên cứu cũng đã khám phá rằng những tế bào thượng thận và những tế bào sinh sản có thể được cấy với cùng phương pháp. Giải Nobel y học năm 2012 đã được trao cho Shinya Yamanaka, giám đốc trung tâm nghiên cứu của đại học Kyoto, công bố hôm nay công trình nghiên cứu mới này, và được trao cho người Anh John Gordon, vì đã hiệu chính phương pháp cho phép tại chương hóa những tế bào trưởng thành.

    Ngoài ra, việc sử dụng những tế bào iPS không đặt ra vấn đề đạo đức nào, trong khi có sự tranh luận về tính hợp pháp của việc sử dụng những tế bào trích lấy từ những phôi thai người thừa (embryon humain surnuméraire).

    Tuy nhiên nhiều nhà khoa học nhấn mạnh rằng đó là những tế bào lấy ở một giai đoạn cực sớm ở những phôi thai dẫu sao cũng bị hủy diệt.
    (LE SOIR 24/1/2013)

    9/ PHẢI CHÚ Ý TRỌNG LƯỢNG CỦA CÁC PHỤ NỮ LÚC CÓ THAI

    Barbara Heude
    Epidémiologiste
    Centre de recherche en épidémiologie et
    santé des populations, Villejuif.


    Càng ngày càng có nhiều người có một sự gia tăng thể trọng ở Pháp và trên thế giới. Tình huống này đặt ra một số vấn đề nào đó về mặt y tế cộng đồng, bởi vì sự gia tăng thể trọng và bệnh béo phì có thể có những hậu quả ngắn hạn và dài hạn lên sức khỏe của các cá thể (có nhiều nguy cơ hơn phát triển những bệnh lý như bệnh đái đường và cao huyết áp).

    Các phụ nữ có thai cũng bị liên hệ : chúng tôi đã có thể quan sát, nhờ “ những điều tra quốc gia chu sinh ở Pháp ”, rằng càng ngày càng có nhiều phụ nữ có thai trong tình trạng tăng thể trọng, hay ngay cả béo phì. Đó là một điều chứng thực đáng lo ngại, khi chúng ta biết rằng chứng béo phì được liên kết với một nguy cơ gia tăng bị các biến chứng liên quan đến thai nghén, thí dụ bệnh đái đường thai nghén (diabète gestationnel) hay cao huyết áp. Những hậu quả cũng có thể xảy ra cho sức khỏe của thai nhi, vốn tùy thuộc môi trường dinh dưỡng trong tử cung trong đó nó phát triển. Thí dụ, những trẻ được sinh từ các bà mẹ béo phì có nhiều nguy cơ hơn sinh ra quá to đối với tuổi thai nghén của chúng. Những gia tăng nguy cơ này đã được quan sát trong một công trình nghiên cứu dịch tễ học ở Pháp, công trình Eden, được thực hiện trên 2000 phụ nữ có thai và các em bé của họ, được sự chỉ đạo trong kíp nghiên cứu của chúng tôi ở Inserm.

    MỘT MỐI TRƯỜNG TỐI ƯU TRONG TỬ CUNG

    Chúng tôi đã có thể chứng thực trong những công trình nghiên cứu của chúng tôi rằng vào đầu thế kỷ XXI trung bình các phụ nữ khi có thai lên cân nhiều hơn so với những năm 1970 hay 1980. Thế mà một sự lên cân quá mức trong thời kỳ thai nghén cũng bị liên kết với một nguy cơ quan trọng hơn bị các biến chứng. Tuy nhiên phải ghi nhận rằng, ngược lại, những phụ nữ gầy hay lên cân quá ít trong thời kỳ thai nghén có thêm nguy cơ (sur-risque) sinh non và/hoặc đứa con chịu một sự chậm tăng trưởng trong tử cung.

    Như thế, càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học, trong đó có những công trình của chúng tôi, nhưng cũng những công trình nghiên cứu trên động vật, đều nhất trí nhấn mạnh ở mức độ nào thai nhi cần một môi trường dinh dưỡng tối ưu trong tử cung để phát triển. Vậy tình trạng dinh dưỡng của người mẹ trong thời kỳ thai nghén không những là mot enjeu y tế cộng đồng quan trọng đối với sức khỏe của các phụ nữ mà còn đối với sức khỏe của các em bé. Những enjeu lại còn rộng lớn hơn và liên quan đến sức khỏe của nhiều thế hệ cá nhân tương lai.

    Thật vậy, hiện nay, cả một vạt nghiên cứu dịch tễ học, nhưng cả sinh lý động vật, quan tâm đến những hậu quả về lâu về dài của những điều kiện dinh dưỡng bị biến đổi trong đời sống thai nhi. Những điều kiện dinh dưỡng và môi trường trong đó thai nhi và em bé phát triển có thể ảnh hưởng rất lâu dài lên tình trạng sức khỏe của cá nhân.

    Những cơ chế giải thích những mối tương quan vẫn cần phải được làm sáng tỏ. Một trong những hướng chính được thăm dò hiện nay là hướng của những hiện tượng được gọi là “ épigénétique ”. Génome của chúng ta được cấu tạo bởi những séquence d’ADN nhưng cũng bởi một số rất quan trọng những chỉ dấu (marque) và những phân tử cho phép điều hòa sự biểu hiện của các gène. Những chỉ dấu “ épigénétique ” này có thể được điều biến bởi môi trường, và về lâu về dài ghi trong những tế bào của chúng ta những chương trình vận hành chức năng (programme de fonctionnement) mới, nhưng chính ADN lại không bị biến đổi.

    Trong dịch tễ học, chúng tôi chưa có những phương tiện kỹ thuật để khảo sát những hiện tượng épigénétique này trong những quần thể lớn, nhưng chúng tôi có thể theo dõi trong nhiều năm sự phát triển và sức khỏe của các trẻ em sau khi đã đo lường những tiếp xúc sớm môi trường và dinh dưỡng của chúng. Công trình nghiên cứu Eden đã phát hiện vai trò của tiến triển của trọng lượng của các bà mẹ trước khi có thai và vào lúc bắt đầu thai nghén đối với diễn biến của thai nghén và sự tăng trưởng thai nhi.

    NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LÂU DÀI

    Những kết quả này gợi ý rằng một sự xử lý dinh dưỡng của bà mẹ vào lúc bắt đầu thai nghén, thậm chí trước khi thụ thai, có thể góp phần ngăn ngừa những trường hợp tăng trưởng thai nhi quá mức ; và một sự thay đổi chế độ ăn uống không thôi trong thời kỳ thai nghén không đủ để làm đảo ngược khuynh hướng. Bây giờ phải biết những hậu quả lâu dài hơn của những tiến triển trọng lượng quanh thời kỳ thụ thai và trong thời kỳ thai nghén, điều mà chúng tôi sẽ làm ở Inserm trong công trình Eden, nhưng cũng nhờ những dữ kiện của công trình Elfe đã bắt đầu năm nay và sẽ theo dõi khoảng 20.000 trẻ em trong 20 nom.
    (LE FIGARO 21/11/2011)

    10/ VIÊM GAN C VÀ UNG THƯ GAN : MỘT MỐI LIÊN HỆ TRỰC TIẾP

    Những nhà nghiên cứu người Pháp đã xác nhận vai trò của virus của viêm gan C trong sự xuất hiện của ung thư gan. Độc lập với một xơ gan hay một quá trình viêm nhiễm, virus của viêm gan C kích hoạt một gène có tác dụng làm dễ sự phát triển của những carcinome hépatocellulaire.
    (SCIENCE ET VIE 1/2013)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (14/2/2013)


    Xem Thêm TSYH các số cũ hơn:

    Edited by user Saturday, February 16, 2013 11:23:25 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #7 Posted : Saturday, February 23, 2013 10:18:36 AM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 297

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH



    1/ SỬA CHỮA THỊ GIÁC : NHỮNG GIẢI PHÁP MỚI

    Cận thị, viễn thị, loạn thị, các implant correcteur mang lại những triễn vọng mới.

    VISION. Nếu ta so sánh mắt với một máy ảnh, giác mạc (cornée) của chúng ta (màng trong suốt và nông của mắt) đóng vai trò của thấu kính (lentille) của một vật kính (objectif). Mống mắt (iris), vai trò của cửa điều sáng (diaphragme), mở ra và đóng lại trong phút chốc để ánh sáng đi qua. Về thủy tinh thể, đó là một zoom nhỏ, cần thiết để hiệu chính : thật vậy, lúc nghỉ ngơi, thủy tinh thể được kéo dài ra và được điều chỉnh để nhìn xa. Để cho phép nhìn gần, thủy tinh thể phải co lại nhưng với tuổi tác, nó mất tính đàn hồi. Những hình ảnh được hiệu chính như thế đến võng mạc trước khi được gởi đến vùng thị giác của não bộ, qua dây thần kinh thị giác.

    “ Nhưng khác với một máy ảnh, mắt là một cơ quan phức tạp đến độ chưa bao giờ một kip nghiên cứu nào đã thành công tái sinh hoàn toàn thủy tinh thể một cách nhân tạo. Chỉ vài trong những “ thành phần ” của nó ngày nay có thể thay thế được. Những cải thiện rất quan trọng được đều đặn báo cáo và những người được hưởng nhiều là những người lứa tuổi 60 (hay hơn) bởi vì sớm hay muộn họ phải chịu một thủy tinh thể bị mờ đục (đục thủy tinh thể) ”, BS Laurent Benzacken (trưởng khoa mắt của bệnh viện Robert-Ballanger, Seine Saint-Denis) và GS Paul Dighiero (cựu trưởng khoa mắt ở CHU de Poitiers), đã ghi nhận như vậy.

    Ý tưởng thay thế một bộ phận trong mắt không phải là mới. Tất cả phát xưa từ điều chứng thực, vào lúc Đệ Nhị Thế Chiến, rằng những phi công của Royal Air Force, sau khi đã nhận những mảnh kính vỡ từ cockpit vào trong mắt, đã không bị hiện tượng thải bỏ (rejet) của vật liệu này, được dung nạp rất tốt. Điều chứng thực này đã dẫn đến ý nghĩ rằng phía trong của mắt có khả năng dung nạp những thấu kính hiệu chỉnh (lentille correctrice). Và qua nhiều năm tháng, những tiến bộ đáng kể đã được thực hiện : sau những implant có khả năng điều chỉnh thị giác nhìn xa mà những người sau khi được mổ đục thủy tinh thể đã từng biết đến từ nhiều năm nay, đã xuất hiện những implant điều chỉnh hai tiêu cự (implant correcteur bifocal) (tương đương với những verre à double foyer), rồi những implant nhiều tiêu cự (implant multifocal). Trên 450.000 phẫu thuật thay thế thủy tinh thể được thực hiện mỗi năm, 1/3 ngày nay được thay thế bởi những thấu kính nhiều tiêu cự (lentille multifocale) ”, GS Dighiero đã ghi nhận như vậy.

    Nhưng thế chỗ cho một thủy tinh thể đã bị đục (cataracte), những implant thế hệ mới này cho phép đồng thời giải quyết vấn đề đục thủy tinh thể và tìm lại một thị giác tốt nhìn gần, trung gian và xa. Thật vậy, những rối loạn thị giác khác (cận thị, loạn thị và viễn thị) cũng được điều chỉnh.

    “ Nhờ những tiến bộ này, một người 60 tuổi ngày nay có thể tìm lại một thị giác có chất lượng rất tốt, không phải đeo kính hay lentille, và điều này nhờ một can thiệp keo dài trong ¼ gió, được thực hiện ngoại trú, với một đường xẻ dưới 2 mm. Vậy ta có thể nói đó là một kỳ công ! ” GS Dighiero đã đánh giá như vậy. Và nếu, trong lãnh vực lấy thủy tinh thể ra, những tiến bộ to lớn nhất đã đạt được, ta còn có thể trông vào một kỹ thuật học để làm tiến triển khả năng của các implant mang lại tối đa thị giác thoải mái.

    Điều bất tiện duy nhất của cải tiến này : “ Thủy tinh thể chỉ có thể được thay thế, nhất là ở người cận thị nặng, khi đã có một khởi đầu cataracte. Bởi vì nếu nó được lấy đi quá sớm, nguy cơ bong võng mạc không phải là số không ”, BS Benzacken đã xác nhận như vậy. Chính vì vậy, vài thầy thuốc nhãn khoa đề nghị, ở người cận thị nặng còn trẻ có giác mạc quá mảnh để có thể hưởng được một ngoại khoa khúc xạ (chirurgie réfractaire) bằng laser, đặt trước thủy tinh thể (và không thay thế nó) một thấu kính hiệu chỉnh (lentille correctrice) để bệnh nhân không cần phải đeo kính và lentille

    ANNEAU PERCE

    Giải pháp này không thể xét đến ở những người viễn thị có nhãn cầu quá nhỏ. Và nó chỉ được đề nghị như là biện pháp cuối cùng ở người cận thị nặng, bởi vì sự đặt một implant trước thủy tinh thế không phải là không có nguy cơ gây đục thủy tinh thể (do cọ xát), gây glaucome (do gia tăng áp lực trong nhãn cầu), thậm chí nhiễm trùng.

    “ Sau cùng có thể đặt một lentille nhỏ điều chỉnh chứng lão thị vào trong một giác mạc lành mạnh, hay một vòng nhỏ được chọc thủng ở trung tâm (như thể đồng tử được co lại thường xuyên) để làm gia tăng bề sâu. Những thiết bị nội giác mạc này có thể được đề nghị thay thế cho ngoại khoa khúc xạ bằng laser (chirurgie réfractaire au laser). Ưu điểm : kỹ thuật có thể đảo ngược được. Điều bất lợi : can thiệp này còn confidentielle (được dành cho những người lão thị không thể được điều trị bằng laser) và do đó ta thiếu thời gian nhìn lại về kết quả lâu dài. Vài trường hợp hiếm các thương tổn sẹo đã gây nên một sự sụt giảm thị giác đã được mô tả. Vậy cần một sự đánh giá lâu dài hơn ”, GS Marc Muraine, trưởng khoa mắt của CHU de Rouen, đã đánh giá như vậy.
    (LE FIGARO 4/2/2013)

    2/ NHỮNG BỘ PHẬN THAY THẾ ĐỂ ĐIỀU TRỊ GIÁC MẠC

    Khi giác mạc (cornée) (màng nông và trong suốt của mắt) bị biến dạng, ta nói đó là keratocône (cứ 2000 người Pháp thì một bị chứng bệnh này). Thường nhất, đó là một biến dạng nhẹ và những điều chỉnh bằng kính đeo hay thấu kính (lentille) thường là đủ. Nhưng đối với một số nhỏ các bệnh nhân, giác mạc có thể bị “ gondolé ”, đến độ thị giác vẫn rất bị ảnh hưởng mặc dầu đeo kính điều chỉnh (lunettes correctrices).

    NHÂN TẠO

    “ Đối với những bệnh nhân này, có thể thực hiện một đường hầm (tunnel) nhỏ trong giác mạc nhờ laser, rồi đưa vào đó nhưng cung cứng (arc rigide) (những vòng : anneaux) để cho phép làm căng trở lại mô giác mạc và như thế làm thu giảm biến dạng ban đầu, với những kết quả đáng lưu ý, GS Marc Muraine (CHU de Renne) đã ghi nhận như vậy. Hàng trăm các vòng nội giác mạc (anneaux intracornéens) được đặt như thế mỗi năm trong đất nước chúng ta, với một độ dưng nạp rất tốt.”

    Khi giác mạc đã bị hủy hoại và khi nó bị thoái hóa đến độ không một ghép giác mạc người (greffe cutanée humaine) nào có thể thực hiện thành công, điều đó trở nên phức tạp. Loại tình huống bi thảm này được gặp chủ yếu sau một bỏng nặng do chất hóa học. “ Khi đó có thể đặt một giác mạc nhân tạo (cornée artificielle) (hay kératoprothèse), được chế tạo bằng một vật liệu gần giống với vật liệu được sử dụng đối với những lentille de contact. Bất hạnh thay, khi mô nhằm nhận giác mạc nhân tạo cũng bị hỏng quá độ, nhưng cơ may thành công rất thấp. Ở Pháp 20 giác mạc nhân tạo được đặt mỗi nom ”, GS Muraine nói tiếp như vậy.

    Giác mạc không phải là cấu trúc duy nhất có thể bị thương tổn. Bên trong nhãn cầu, những cấu trúc khác cũng có thể bị. Thí dụ, trong nhãn cầu, một loại vỏ không giãn (coque inextensible), được tiết ra một cách thường trực một dịch sinh lý, thủy dịch (humeur aqueuse). Bình thường, chất dịch này được bài tiết qua một kênh (canal). Nhưng trong trường hợp tắc, chất dịch vẫn ở bên trong mắt và áp lực gia tăng (glaucome), đè ép những sợi của dây thần kính thị giác.

    Để làm hạ áp lực nội nhãn, các thầy thuốc nhãn khoa có thể kê đơn một loại thuốc nhỏ mắt và khi điều đó không đủ, đề nghị một điều trị bằng laser hay ngoại khoa, với mục tiêu chung là loại bỏ thủy dịch để không còn được tạo ra nữa và, như thế làm hạ áp lực nội nhãn. “ Thế mà trong lãnh vực này, từ nay ta có những drain nhỏ cho phép cải thiện ngoại khoa lọc (chirurgie filtrante) ”, G Paul Dighiero (Paris) đã giải thích như vậy.

    THAY THỂ MỒNG MẮT.

    Vẫn luôn luôn về các bộ phận thay thế (pièce de rechange), “ sự xuất hiện của các implant có khả năng thay thế mống mắt, nhưng với một lỗ mở cố định (và do đó, không có sự thích ứng với ánh sáng) chủ yếu hữu ích sau một chấn thương hay, điều xảy ra rất hiếm, khi không có mống mắt lúc sinh. Bệnh không có mống mắt (aniridie) chỉ xảy ra một trường hợp trên 50.000 sinh đẻ ”

    Về thay thế võng mạc, thì phức tạp hơn nhiều. Vả lại đó là lý do tại sao, khi võng mạc bị bong, các thầy thuốc nhãn khoa tìm cách bằng bất cứ giá nào “ hàn lại ” những mảnh bị tách rời, nhờ laser. “ Còn phải đặt cho chúng tiếp xúc, điều này có thể cần phải tiem vào trong dịch kính (vitré) (nằm sau thủy tinh thể) hoặc một khí (gaz), hoặc, trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, một dầu silicone được đặt tại chỗ trong nhiều tuần ”, GS Muraine đã nói tiếp như vậy.

    “ Ở Viện thị giác ở Paris (kíp cua GS José-Alain Sahel), người ta hiệu chính một implant điện tử nối với một camera, cho phép nhận thức ánh sáng và các hình thể : tuy nhiên dây thần kinh phải có khả năng gởi các tín hiệu bởi vì với kiến thức hiện nay ta không biết nối lại hai dây thần kinh với nhau ”, BS Laurent Berzacken (CHU Aulnay-sous-Bois) đã kết luận như vậy.
    (LE FIGARO 4/2/2013)

    3/ NHỮNG IMPLANT THUỐC Ở TRUNG TÂM NHÃN CẦU.

    Sự hiện diện của phù nề bên trong mắt, điều này không bao giờ tốt lắm đối với thị giác, nhất là nếu phù nề này nằm ở hoàng điểm (macula), điểm quan trọng nhất của võng mạc để nhìn thấy một cách chính xác (vision de précision). Thế mà điều đó có thể xảy ra sau một tắc tĩnh mạch trung tâm của võng mạc hay trong bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’age), bệnh võng mạc đái đường (rétinopathie diabétique) (một biến chứng của bệnh đái đường) hay viêm màng mạch nho (uvéite) (viêm trong nhãn cầu). Trong tất cả những tình huống này, các thầy thuốc nhãn khoa do đó tìm cách làm thoái triễn sự phù nề vì dấu hiệu này có thể tồn tại trong nhiều tháng.

    “ Cho đến nay, có thể tiêm thuốc vào trong nhãn cầu, với một thời gian tác dụng tương đối dài : thí dụ 1 tháng đối với Lucentis ”, GS Laurent Benzacken (CHU Aulnay-sous-Bois) đã giải thích như vậy. Nhưng từ ít lâu nay, implant thuốc nội nhãn (implant médicamenteux intraoculaire) đầu tiên được cho phép ở Pháp, Ozurdex, có thể được đề nghị để điều trị phù điểm vàng, nhất là sau khi tĩnh mạch trung ương của võng mạc bị tắc. Đó là một implant nhỏ biodégradable, dài 6 mm, được tiêm vào bên trong nhãn cầu. Ưu điểm : tác dụng của nó trên lý thuyết kéo dài 6 tháng (trên thực tế đúng hơn 4 hay 5 tháng).

    “ Cần thận trọng bởi vì đó là một implant de corticoides, do đó có một nguy cơ không nhỏ bị glaucome thứ phát và chính vì vậy điều trị này bị chống chỉ định trong trường hợp glaucome mal équilibré hay đã cần hơn hai điều trị. Nguy cơ khác, nguy cơ xuất hiện một đục thủy tinh thể, ít có vấn đề hơn. Thật vậy, trong nhóm những bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch trung tâm của võng mạc, nghĩa là những người trên 60 tuổi, ta đã rất thường nhận thấy một đục thủy tinh thể đã được mổ hay sẽ phải mổ sau này. Trong tất cả các trường hợp, sự theo dõi sau khi tiêm implant médicamenteux là chủ yếu : sự theo dõi được thực hiện sau 7 ngày, rồi 1,2,3 và 4 tháng sau khi tiêm mũi đầu tiên. Chỉ khi không xuất hiện các biến chứng, sự theo dõi khi đó được giảm bớt, GS Bahram Bodaghi (CHU Vision et Handicaps, đại học Pierre et Marie Curie, bệnh viện Pitié-Salpêtrière) đã giải thích như vậy.

    Trong khi Ozurdex là implant duy nhất được cho phép ở Pháp, thì Hoa kỳ có một implant được thiết đặt bằng ngoại khoa và không biodégradable, Retisert, phóng thích corticoide trong khoảng 3 năm. Những nguy cơ xuất hiện một glaucome thứ phát cần một can thiệp rất là quan trọng, khoảng 35 %, vì vậy loại implant này không được cho phép ở châu Âu.

    “ Chỉ một giấy phép đưa ra thị trường châu Âu vừa dược cấp cho implant Iluvien 0,19 mg (chứa cùng corticoide như Retisert, nhưng với một liều thấp hơn) để điều trị những người bị bệnh đái đường có một phù hoàng điểm với một thời gian tác dụng lý thuyết kéo dài 3 năm. Sự dung nạp dường như tốt hơn nhưng một sự theo dõi kéo dài là cần thiết trước khi kết luận chính xác hơn. Và mặc dầu không gì được dự kiến trong một tương lai rất gần, nghiên cứu vẫn tiếp tục để cố hiệu chính những chiến lược điều trị tại chỗ khác, nhưng cũng những implant khác nhằm điều trị chứng khô mắt, glaucome và viêm bề mặt nhãn cầu ” , GS Bodaghi đã kết luận như vậy.
    (LE FIGARO 4/2/2013)

    4/ CÁC NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIỂU CÓ THỂ NGHIÊM TRỌNG KHÔNG ?

    Professeur JEAN-PIERRE SRAER
    Néphrologue
    Membre de l’Académie nationale de médecine.


    Các nhiễm trùng đường tiểu, được xác định bởi triệu chứng đau lúc đi tiểu, mủ, thậm chí máu trong nước tiểu, rất thường xảy ra, nhất là ở các phụ nữ.Phần lớn các trường hợp, các nhiễm trùng đường tiểu được điều trị bằng những đợt kháng sinh ngắn ngày, thường không cần nhận diện vi khuẩn hiện diện trong nước tiểu, vậy không cần phải làm kháng sinh đồ. Chúng thường do một nhiễm trùng bởi colibacille.

    Những nguyên nhân cơ thể học của những nhiễm trùng đường tiểu là gì ?

    Ở phụ nữ, vùng hậu môn và niệu đạo về phương diện cơ thể học rất gần nhau. Ngoài ra, trái với người đàn ông, niệu đạo ở phụ nữ rất ngắn. Ở người đàn ông, các nhiễm trùng đường tiểu là do sự thoát tiểu bị trở ngại (phì đại tiền liệt tuyến, sỏi đường bài tiết nước tiểu), gây nên một sự ứ đọng của nước tiểu, làm dễ sự tăng sinh vi khuẩn.

    Những cách làm nhiễm trùng đường tiểu ?

    Bình thường, có 1000 vi khuẩn/ml nước tiểu, nhưng điều đó không có hậu quả bệnh lý nếu đi tiểu đều đặn để tránh sự tích tụ của nước tiểu trong bàng quang. Như thế, sự ô nhiễm nước tiểu ở phụ nữ thường nhất có liên quan đến những vi trùng ruột do cơ thể học của vùng đáy chậu (périnée). Tuy nhiên, nhiễm trùng đường tiểu có thể thứ phát một nhiễm trùng âm đạo, xảy ra sau một giao hợp gây nhiễm, điều này đòi hỏi một vệ sinh tại chỗ nghiêm túc.

    Những trường hợp nào làm dễ những nhiễm trùng đường tiểu ?

    Vài trường hợp thuộc về nội khoa, như bệnh đái đường làm biến mất cảm giác rát bỏng khi tiểu tiện (brulure mictionnelle) ; những điều trị suy giảm miễn dịch hay chống ung thư, là những yếu tố làm dễ của tất cả các nhiễm trùng. Những trường hợp khác là do tuổi tác. Sau 50 tuổi ở đàn ông, phì đại tiền liệt tuyến là nguyên nhân thường gặp nhất. Ở những người già và những người rất già, sự mất nước do thiếu cảm giác khát thường nhất là nguồn gốc của bí tiểu chịu trách nhiệm nhiễm trùng. Ngược lại sự mất khả năng kềm chế cơ vòng tiêu hóa hay tiểu tiện làm dễ một cách đáng kể những nguy cơ lây nhiễm. Để ghi nhớ, những thương tổn thần kinh của đuôi ngựa (queue de cheval) làm biến mất mọi cảm giác đầy tạng (sensation de plénitude viscérale).

    Có phải sợ nhiễm trùng đường tiểu hay không ?

    Ở trẻ em, các nhiễm trùng đường tiểu có thể nghiêm trọng về mặt y khoa. Một nhiễm trùng ở trẻ em phải được thăm dò một cách hệ thống để tìm kiếm một dị dạng của đường tiểu, thường nhất là một hồi lưu bàng quang-niệu quản (reflux vésico-urétéral) hay một hẹp của chỗ nối giữa bể thận (bassinet), thu góp nước tiểu và niệu quản (uretère), dẫn nước tiểu xuống bàng quang. Những dị dạng này phải được điều trị về mặt ngoại khoa một cách rất sớm, nếu không chúng có thể về lâu về dài dẫn đến sự mất chức năng của một thận, thậm chí của cả hai nếu các dị dạng xảy ra hai bên, nhiên hậu đưa đến suy thận mãn tính và những điều trị của nó : thẩm tách máu (hémodialyse) và/hoặc ghép thận. Ở người trưởng thành, các nhiễm trùng đường tiểu rất thường gặp, nhất là ở phụ nữ. Mặc dầu tầm thường và dễ điều trị nhưng chúng đôi khi có thể nghiêm trọng, thậm chí gây chết người, dầu nguyên nhân là gì.

    Khi nào phải lo lắng ?

    Khi một nhiễm trùng đường tiểu kèm theo sốt. Điều đó có nghĩa rằng, ngoài nhiễm trùng đường tiểu, nhiễm trùng đã xâm nhập một cơ quan vệ tinh (organe satellite) : một hay hai trái thận (viêm thận bể thận) và/ hoặc tuyến tiền liệt ở đàn ông (viêm tiền liệt tuyến). Ở phụ nữ vào cuối thời kỳ thai nghén, sự đè ép các đường bài tiết bởi tử cung mang thai có thể kèm theo một nhiễm trùng đường tiểu cao và thường là viêm thận-bể thận.

    Chỉ có các kháng sinh mới có một hiệu quả được chứng minh về mặt khoa học ; chỉ có thuốc mới chứng tỏ tính hiệu quả của chúng. Nhưng, trong tất cả các trường hợp, một điều trị thông thường có thể bắt chước một lành bệnh mặc dầu những quá trình thương tổn không được chữa lành. Chúng có thể tiến triển âm thầm một cách độc lập như điều đó đã được chứng tỏ rõ ràng bởi những thăm dò chụp cắt lớp vi tính hay siêu âm. Khi nhiễm trùng xảy ra hai bên, những chảy mủ (fonte purulente) thật sự của hai thận nghiêm trọng đến độ sự cắt bỏ một trong hai thận đôi khi cần thiết để cứu mạng các bệnh nhân. Những biến chứng tai hại này cùng được quan sát ở những bệnh nhân mang các sỏi đường bài tiết nước tiểu khiến sự bài tiết nước tiểu nhiễm trùng bị bế tắc. Những tắc nghẽn đường tiểu với nhiễm trùng trên đó tạo nên những cấp cứu nội-ngoại khoa thât sự.

    Ở bệnh nhân bị bệnh đái đường, đặc biệt nghiêm trọng là những nhiễm trùng do vi khuẩn kỵ khí, dễ chẩn đoán bởi vì khí có thể thấy được trong các đường bài tiết trên phim chụp bụng không sửa soạn. Tuy nhiên cần phải nghĩ đến việc cho thực hiện thăm dò này. Những nhiễm trùng bởi vi khuẩn kỵ khí thường gây chết người vì lẽ sự đề kháng của các vi khuẩn này đối với các kháng sinh. Chỉ sẽ được nêu lên để ghi nhớ là những suy thận cấp tính do viêm vi cầu thận cấp tính hai bên cần một điều trị bằng thẩm tách máu và kháng sinh thích ứng và kéo dài cho đến khi biến mất mọi thâm nhiễm của nhu mô thận có thể thấy được trên chụp cắt lớp vi tính hay siêu âm.

    Để kết luận, nhiễm trùng đường tiểu thường nhất là thông thường, dễ điều trị, không có hậu quả lên chức năng thận, nhưng cần lưu ý sự cần thiết phải rất cảnh giác ở trê em nhỏ tuổi, ở bệnh nhân sốt, được điều trị một cách ngắn ngủi bởi một kháng sinh mà sốt có thể biến mất nhưng không biến đổi tiến triển của các thương tổn hay ở những bệnh nhân sỏi thận hoặc bị đái đường.
    (LE FIGARO 12/11/2012)

    5/ CÓ NÊN ĂN CHOCOLAT ĐỂ ĐƯỢC THÔNG MINH HƠN ?

    Docteur JEAN-MAIE BOURRE
    Membre de l’Académie de médecine.


    Một thầy thuốc Hoa Kỳ nổi tiếng, chuyên gia về bệnh cao huyết áp, nhà nghiên cứu của Đại học Columbia có uy tín ở Nữu Ước, đã lợi dụng tính thời sự do việc trao giải thưởng Nobel để công bố trong số tháng 10 của một tạp chí y khoa rất đứng đắn một công trình nghiên cứu cho thấy rằng, trong mỗi nước, số lượng giải thưởng Nobel tùy thuộc vào sự tiêu thụ chocolat của nước đó …Sau khi đã đọc những tài liệu xuất bản xác lập rằng sự tiêu thụ flavanols (một lớp phụ của flavanoides hiện diện với lượng đáng kể trong cacao) được liên kết, ở người, với một sự giảm ít hơn hiệu năng trí óc (performance intellectuelle) liên quan đến tuổi tác và ở chuột cao tuổi, với một sự cải thiện đáng kể hiệu năng nhận thức (performance cognitive), như thế chỉ cần bước thêm một bước để suy diễn rằng một sự tiêu thụ quan trọng chocolat cũng khả dĩ làm gia tăng mức độ thông minh trung bình của một quần thể xác định và như thế, tỷ lệ những người có một trí thông minh cao, những người được giải Nobel, theo ông, là những bằng chứng khách quan tốt nhất.

    Thật vậy, kết quả không phải chờ đợi và một sự tương quan đáng ngạc nhiên, nhưng rất tỷ lệ và đáng kể, được phát hiện giữa mật độ giải Nobel và sự tiêu thụ chocolat đối với mỗi người dân. Trong số 23 nước được khảo sát, ở một đầu xuất hiện những nước ít hiệu năng nhất, theo ban giám khảo của Stockholm và những nước ít tiêu thụ chocolat nhất : Nhật Bản, Brésil, Portugal, người học trò kém nhất là Trung Quốc (điều gì sẽ xảy ra khi Trung Quốc sẽ thức tỉnh đối với việc tiêu thụ chocolat ?). Trong hàng trung bình nhỏ, Pháp ở vị trí bình thường. Dĩ nhiên Thụy Sĩ là người học trò giỏi hơn hết. Nhưng Thụy Điển, được tặng thưởng hai lần nhiều giải Nobel hơn dự kiến, tạo sự ngạc nhiên, trừ phí trong tổ quốc của Alfred Nobel người ta có não nhạy cảm hơn đối với những lợi ích của chocolat.

    Một cách nghiêm túc hơn, vậy thì tại sao chocolat hiệu quả lên sự vận hành chức năng não bộ ? Đó có phải là bởi vì chocolat chứa théobromine, caféine và những phân tử “ kích thích ” khác ? Có lẽ không. Bởi vì nó chứa đựng các chất tương cận với cannabinoides ? Cũng không, trừ phi hấp thụ khoảng 100 kilo mỗi ngày trước khi bắt đầu hưởng những hiệu quả của chúng. Bởi vì chocolat chứa các oligoélément, trong đó có magnésium, nổi tiếng hiệu quả chống lại spasmophilie ? Có lẽ. Điều mà ta chắc chắn, ngược lại, đó là, dựa trên những công trình nghiên cứu khoa học, chocolat là một chất kích thích não bộ nhờ dung lượng flavonoides mà nó chứa và những tanin khác, cùng những chất làm tăng “cote santé ” của các trái cây, rượu vang, nhất là chè xanh. Thật vậy, trong số tất cả các thức ăn mà ta tiêu thụ, chocolat là một trong những thức ăn giàu polyphénol nhất và 13% các polyphénol được mang lại bởi thức ăn phát xuất từ chocolat với những hàm lượng lên đến 500mg/100g đối với những chocolat sữa và 840 mg/100 g đối với chocolat đen. Chính chocolat làm hạn chế stress oxydant mà các mô của chúng ta phải thường xuyên chịu đựng, chính những flavonoides, do làm dễ tính lưu (fluidité) của tuần hoàn máu, không những bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch, mà còn làm gia tăng lưu lượng máu trong chất xám não bộ, như những thăm dò quang tuyến đã phát hiện một cách rõ ràng. Phải thêm vào đó là những “ mỡ tốt ” của beurre de cacao, trong đó có acide oléique với những lợi ích của dầu olive và của chế độ ăn uống Địa trung hải lên sự bảo vệ tim mạch ; thế mà những chất mỡ này cũng có 1/3 tính hiệu quả của các oméga 3 được chứa trong các cá mỡ...Và chính những nhà nghiên cứu Na Uy, nơi sản xuất oméga 3 đứng đầu thế giới, đã nói điều đó.

    Mặc dầu không biết là chocolat có làm cho thông minh hơn hay không, nhưng dường như được xác nhận rằng chocolat có thể kéo dài tuổi thọ chỉ qua khoái lạc mà nó mang lại. Là chất chống stress, chất tăng trương lực (tonique), chất kích thích, chocolat góp phần cho khoảng 4% những cung cấp năng lượng của chúng ta, và, nếu không lạm dụng, bởi vì đó là một thức ăn thật sự rất calorique và đó là một con chủ bài quan trọng mang lại sức khoẻ tốt. Chúng ta tiêu thụ 4 kg mỗi năm và mỗi đầu người ; hãy tiếp tục và không tiết độ quá mức.
    (LE FIGARO 12/11/2012)

    6/ NGHIỆN RƯỢU : GIẢM NHỮNG KHÔNG CAI HOÀN TOÀN

    GS Henri-Jean Aubin, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần và chuyên viên về nghiện (addictologue) thuộc bệnh viện Paul-Brousse (Villejuif) mô tả một chiến lược giải độc mới.

    Hỏi : Bắt đầu từ những liều lượng nào ta cho rằng một sự tiêu thụ rượu là có nguy cơ ?
    GS Henri-Jean Aubin: Ta đánh giá rằng sự tiêu thụ là quá mức khi trên 2 ly mỗi ngày đối với phụ nữ và 4 ly mỗi ngày đối với đàn ông. Sự phụ thuộc rượu có thể được thể hiện bằng nhiều cách. 1. Bằng sự thèm uống không cưỡng lại được. 2. Bằng sự mất khả năng giảm hay ngừng tiêu thụ rượu trong khi ta chứng thực những tác dụng có hại lên sức khỏe hay trong các mối liên hệ. 3. Bằng một lối sống càng ngày càng được tổ chức quanh những hoạt động có liên quan sự tiêu thụ rượu ảnh hưởng tại hại lên những công việc khác. 4. Đôi khi bằng sự xuất hiện những triệu chứng cai : run rẩy, vã mồ hôi

    Hỏi : Những hậu quả khả dĩ của chứng nghiện rượu lên cơ thể ?
    GS Henri-Jean Aubin: Những hậu quả này thay đổi tùy theo các cá thể ; thí dụ các phụ nữ dễ bị thương tổn hơn. Một sự tiêu thụ rượu quá mức có thể gây nên, ở gan, một viêm gan do rượu (hépatite alcoolique), một xơ gan và ở một giai đoạn tối hậu, một ung thư. Nhưng cũng gây những thương tổn não bộ : các rối loạn tâm thần, chứng trầm cảm, lo âu, mất trí nhớ. Và các ung thư, nhất là của bộ máy tiêu hóa.

    Hỏi : Sự điều trị cổ điển và những kết quả của nó là gì ?
    GS Henri-Jean Aubin: Cho đến hiện nay, mục đích là đạt được một sự cai rượu hoàn toàn. Bệnh nhân chỉ có thể ổn định nếu không còn uống một ly nào nữa. Để đạt được điều đó, ta kê đơn những thuốc an thần, hoặc lúc thăm khám, hoặc, trong những trường hợp nặng, lúc nhập viện. Nhưng với mục tiêu cai rượu này, ta quan sát ít nhất 50% trường hợp tái phát lúc một năm.

    Hỏi : Phương pháp điều trị mới khác nhau ở chỗ nào và mục tiêu của nó là gì ?
    GS Henri-Jean Aubin: Mục đích đã thay đổi. Ngày nay, nhiều thầy thuốc không còn buộc một cách hệ thống một sự cai rượu hoàn toàn nhưng đề nghị một sự lựa chọn giữa nhịn uống (abstinence) và một sự thu giảm tiêu thụ để thành công uống một cách chừng mực một cách vĩnh viễn. Nhưng vài bệnh nhân thất bại không thể giảm uống dài lâu và cuối cùng hướng về phương pháp nhịn rượu, là mục tiêu an toàn nhất.

    Hỏi : Điều trị diễn biến như thế nào ?
    GS Henri-Jean Aubin: Dầu cho mục tiêu là gì, nhịn rượu hay giảm uống, việc điều trị nhằm giúp đỡ bệnh nhân về mặt tâm lý. Bệnh nhân học cách nhận biết những tình huống làm phát khởi nhu cầu uống và những chiến lược để đương đầu. Người thầy thuốc đặc biệt chú tâm tăng cường động cơ của bệnh nhân, là yếu tố chủ yếu của sự thay đổi. Nếu mục đích là giảm rượu, những giới hạn của sự tiêu thụ được quyết định bằng một thỏa thuận chung. Ta cũng dùng những thuốc sẽ giúp làm giảm sự quá tiêu thụ này. Malmefène vừa được phép thương mãi hóa ở châu Âu. Baclofène, thường được kê đơn ở Pháp, vẫn đang còn được nghiên cứu. Sau cùng, oxybate de sodium cũng ở giai đoạn thử nghiệm ở Pháp và ở châu Âu.

    Hỏi : Những kết quả mà ta đã thu được với phương pháp mới nhất này ?
    GS Henri-Jean Aubin: 3 công trình nghiên cứu quốc tế đã được thực hiện về sự làm giảm uống rượu với nalmefène. Với thời gian nhìn lại từ 6 tháng đến 1 năm, protocole này đã tỏ ra có hiệu quả, và thuốc làm gia tăng nhưng cơ may thành công.

    Hỏi : Ta ngăn ngừa một tái phát như thế nào ?
    GS Henri-Jean Aubin: Nếu mục tiêu là nhịn rượu, ta sử dụng các loại thuốc và một hỗ trợ tâm lý. Nói chung ba loại thuốc được kê đơn. Một có tác dụng can ngăn bằng cách gây một sự khó ở ngay ly rượu đầu tiên và những loại thuốc khác làm giảm sự thèm uống.

    Hỏi : Những người nào có cơ may nhất lành bệnh với những chiến lược khác nhau này ?
    GS Henri-Jean Aubin: Những người mà não bộ không quá bị biến đổi bởi rượu và được hưởng một môi trường gia đình hay xã hội ổn định và an toàn. Tỷ lệ chữa lành tùy thuộc nhiều mức độ nghiêm trọng của những trường hợp và tình huống xã hội.
    (PARIS MATCH 31/1-6/2/2013)

    7/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP : CẦN XÁC ĐỊNH NGAY NHỮNG DẤU HIỆU ĐẦU TIÊN.


    Bệnh phong thấp thường gặp này có thể được làm giảm bớt nếu được điều trị ngay từ đầu.

    ARTICULATIONS. Bệnh viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide) là bệnh thấp khớp viêm mãn tính thường gặp nhất của người lớn. Bệnh thấp khớp này gây bệnh cho khoảng 200.000 người ở Pháp và 6 000 trường hợp mới mỗi năm, những than ôi đôi khi với một chậm chẩn đoán quan trọng. Thế mà, một công trình nghiên cứu được trình bày tuần qua nhân hội nghị về rhumatogie lần thứ 25 của Pháp vừa xác nhận lợi ích của một điều trị sớm …như thế của một chẩn đoán sớm.

    “ Trên một nhóm 813 bệnh nhân, GS Bernard Combe, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp thuộc CHU de Montpellier và chủ tịch của Société française de rhumatologie, đã giải thích như vậy, chúng tôi đã quan sát những kết quả rất thuận lợi bởi vì các bệnh nhân đã thăm khám một cách nhanh chóng một thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp và đã có thể hưởng được một điều trị sớm có hiệu quả với, trong đại đa số các trường hợp, một điều trị nền (traitement de fond) (điều trị có mục đích làm chậm tiến triển của bệnh). Thật vậy từ nay có những điều trị được gọi là nền, méthotrexate và các anti-TNF, làm giảm các thương tổn khớp.

    NGUY CƠ DI TRUYỀN

    Bởi vì nguy cơ, nếu ta không chẩn đoán ngay từ đầu một viêm đa khớp dạng thấp, là để mặc cho một sự hủy hoại không đảo ngược của các khớp xảy ra. Thí dụ, đó là trường hợp, nếu ta chỉ bằng lòng điều trị các triệu chứng đau khớp bằng các thuốc giảm đau hay những chất kháng viêm (AINS, thậm chí corticoides). Một điều trị a priori hợp lý, bởi vì căn bệnh liên kết với những triệu chứng đau khớp và thường với các khớp bị sưng, nói một cách khác những triệu chứng viêm. “ Phải nghĩ đến viêm đa khớp dạng thấp nếu ta bị đau các khớp kéo dài trong nhiều tuần. Nhất là nếu đã có những trường hợp trong gia đình. Phải biết nguy cơ di truyền ”, GS François Cornelis đã nhấn mạnh như vậy.

    Nhà di truyền học này đã phát động cùng với Hiệp hội các viêm đa khớp Pháp “ chiến dịch 100.000 ”, nhằm chiêu mộ chừng bấy nhiêu người có một người bệnh trong gia đình mình. “ Nhờ một bảng câu hỏi, một xét nghiệm máu và một mẫu nghiệm tóc hàng năm, chúng tôi sẽ có một ngân hàng sẵn sàng dành cho các nhà nghiên cứu để khảo sát điều xảy ra trước khi căn bệnh phát khởi ”, ông đã giải thích như vậy.

    Đối với các triệu chứng, ta biết rõ hơn ảnh hưởng của bệnh từ khi ta sử dụng các thang đánh giá cho phép bệnh nhân tự đánh giá tác động của các triệu chứng đau lên cuộc sống hàng ngày, vợ chồng, gia đình và xã hội (EVA hoạt động bệnh nhân). “ Ta càng ngày càng nói về vécu được mô tả bởi các bệnh nhân, nhất là sự mệt nhọc ”, BS Laure Gossec, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp ở Paris, đã nhấn mạnh như vậy. Nhưng bà ta nói thêm rằng “ EVA hay sự mệt nhọc không cho phép tiên đoán tiến triển của thương tổn X quang trong những năm tiếp theo. Để được điều đó, điều đáng kể, đó là số các khớp bị sưng và CRP.” Thật vậy CRP hay VS là những dấu hiệu viêm mà ta có thể tìm thấy gia tăng trong xét nghiệm máu, tùy theo hoạt động của căn bệnh mạnh ít hay nhiều.

    Các nhà nghiên cứu cũng trông cậy nhiều vào sự phát triển của những trắc nghiệm cho phép biết trước là có đáng bắt đầu hay không một điều trị bằng sinh liệu pháp (biothérapie). “ Chúng tôi đã nhận thấy rằng có thể tiên đoán, đối với những bệnh nhân nào, sự đáp ứng với điều trị với méthotrexate sẽ tốt hơn tùy theo số đếm ban đầu của một quần thể đặc biệt các tế bào (những lymphocytes T naifs) ”, BS Vincent Goeb, thầy thuốc khoa thấp khớp thuộc CHU de Rouen đã giải thích như vậy. Nếu điều đó được xác nhận, ta sẽ tránh cho những điều trị tốn kém và không phải là không có những tác dụng phụ ở những bệnh nhân sẽ chỉ có ít lợi ích. Đối với những bệnh nhân khác, lợi ích sẽ vẫn cao hơn những tác dụng không được mong muốn. Hơn ½ các bệnh nhân phải ngừng hoạt động nghề nghiệp dưới 5 năm sau khi bệnh bắt đầu và cứ mười bệnh nhân thì một bị một phế tật nặng ngay trong hai năm đầu.

    Sau cùng, phí tổn kinh tế của bệnh viêm đa khớp dạng thấp cũng quan trọng. Một công trình nghiên cứu được công bố trong Revue du rhumatisme ước tính phí tổn điều trị giữa 1800 và 12.000 euro mỗi năm (trong đó 75% đối với những trường hợp nhập viện), nhưng chủ yếu phí tổn gián tiếp của bệnh, về mặt nghỉ việc và mất năng suất, giữa 1200 và 37.000 euro đối với mỗi bệnh nhân và mỗi năm. Thế mà, tác giả của công trình nghiên cứu nói thêm, “ mặc dầu những phí tổn của sinh liệu pháp vẫn rất cao, tỷ suất giữa sự sử dụng những điều trị này và những phí tổn do căn bệnh trong trường hợp những thương tổn nặng, vẫn rất có lợi. Căn bệnh càng được điều trị muộn, những phí tổn trực tiếp và gián tiếp càng cao ”. Thêm một lý do để chẩn đoán càng sớm càng tốt.
    (LE FIGARO 17/12/2013)

    8/ U VÚ HIỀN TÍNH : CÁC KẾT QUẢ ĐẦY HỨA HẸN CỦA SIÊU ÂM

    BS Edouard Poncelet, trưởng khoa đơn vị chụp hình ảnh phụ nữ ở Centre hospitalier de Valenciennes và Nicolas Laurent, thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến, phó khoa, giải thích kỹ thuật vi xâm nhập đang được đánh giá này.

    Hỏi : Bằng kỹ thuật chụp hình ảnh nào ta phát hiện những fibroadénome, các khối u hiền tính của vú ?
    BS Edouard Poncelet: Thường nhất bằng siêu âm. Dạng vẻ là dạng của một nốt u (nodule) có viền đều đặn, ngược lại với một khối u (masse) khả nghi có viền không đều. Chúng khó có thể phát hiện hơn trên chụp tuyến vú (mammographie) bởi vì chúng có thể bị che dấu bởi tuyến vú. Các phụ nữ bị mắc bệnh nhất thường dưới 50 tuổi. Tùy theo các trường hợp, các khối u này có thể xuất hiện một cách riêng rẻ hay trong cả hai vú.

    Hỏi : Làm sao ta đảm bảo rằng đó là một fibroadénome không thể bàn cãi ?
    BS Nicolas Laurent: Sau khi đã phát hiện một hình ảnh gợi ý, ta theo dõi nó về mặt siêu âm sau 4 tháng, rồi một năm, rồi hai năm …Trong trường hợp nghi ngờ, để có được chẩn đoán một cách chắc chắn, ta thực hiện một sinh thiết, dưới siêu âm, để lấy những mẫu nghiệm từ khối u và cho phân tích chúng.

    Hỏi : Thường thường, ta điều trị các fibroadénome như thế nào ?
    BS Edouard Poncelet: Nếu nốt u (nodule) không làm biến dạng vú và không đau, ta chỉ cần tiếp tục protocole theo dõi lệ thường, nhưng khi bệnh nhân kêu khó chịu hay đau, khi đó chủ yếu cần đến ngoại khoa. 1. Hoặc là ngoại trú, dưới gây mê tổng quát (nhập viện một ngày), để lấy đi những khối u trên 3cm. 2. Hoặc bằng sinh thiết đại thể (macrobiopsie), dưới gây mê tại chỗ, đối với những khối u dưới 3 cm : động tác được thực hiện dưới siêu âm nhằm đưa một aiguille creuse (kích thước lớn hơn kich thước được sử dụng để sinh thiết cổ điển) để hút thương tổn.

    Hỏi : Hãy mô tả cho chúng tôi kỹ thuật mới nhất sử dụng một thiết bị bằng siêu âm.
    BS Edouard Poncelet: Đó là một điều trị được hướng dẫn bởi chụp hình ảnh mà mục đích là phá hủy fibroadénome nhờ những siêu âm hội tụ có năng lượng cao (ultrasons focalisés de haute énergie), “ làm nóng ” khối u ở một nhiệt độ khoảng 70 độ để làm hoại tử nó.

    Hỏi : Buổi điều trị diễn ra như thế nào ?
    BS Nicolas Laurent: Bệnh nhân, sau khi đã nhận một thuốc an thần, được đặt nằm dài trên một bàn khám, vú được giữ ở tư thế vững. Người thầy thuốc với ống thăm dò siêu âm cổ điển, trước hết kiểm tra vị trí của fibroadénome. Sau đó, ông đặt sonde tại chỗ, sẽ phát ra điều trị, bằng cách giới hạn một cách chính xác trên màn ảnh kiểm soát những đường viền của khối u để gìn giữ các mô lành. Sau đó người thầy thuốc bắn các tia siêu âm vào trong thương tổn, luôn luôn dưới sự kiểm soát của siêu âm. Nhờ thuốc an thần, buổi điều trị, khoảng 1 giờ 30 phút gần như không gây đau đớn.

    Hỏi : Tính hiệu quả của liệu pháp này là gì ?
    BS Edouard Poncelet: Một công trình nghiên cứu của Pháp đã đưa vào 20 bệnh nhân trong 3 bệnh viện (Hôpital Jeanne-de-Flandre ở Lille, Trung tâm bệnh viện Valenciennes và Hôpital américain ở Paris) ; một công trình nghiên cứu khác đã được thực hiện ở Bulgarie : 46 fibroadénome đã được điều trị bởi kỹ thuật này trong hai công trình nghiên cứu. Những kết quả đã chứng minh rằng thế tích thương tổn đã giảm khoảng 70% ở 12 tháng theo dõi. Chúng tôi hy vọng một sự biến mất của khối u trong một thời gian gần. Ố tất cả những bệnh nhân kêu khó chịu hay đau trước khi điều trị chúng, những triệu chứng này hoàn toàn thoái lui sau điều trị. Những tác dụng thứ phát đã được biểu hiện ở ba phụ nữ bằng những vết đỏ nhỏ biến mất một cách ngẫu nhiên sau 7 đến 10 ngày.

    Hỏi : Tóm tắt, những lợi ích của kỹ thuật vi xâm nhập này là gì ?
    BS Nicolas Laurent : Ta quan sát 3 ưu điểm chính. 1. Khả năng điều trị nhiều fibroadénome không để lại một vết sẹo nào. 2. Không cần gây mê và điều trị chịu được tốt. 3. Ta có thể điều trị những khối u trên 3 cm, điều này hiện nay không được chỉ định với sinh thiết đại thể.

    Hỏi : Điều trị bằng siêu âm này có sẽ được sử dụng đối với những bệnh lý khác ?
    BS Edouard Poncelet: Ở bệnh viện Pitié-Salpêtrière, những thử nghiệm đang được tiến hành để nghiên cứu tác dụng của nó lên các nốt u hiền tính của tuyến giáp, và ở Viện Gustave-Roussy trên các di căn xương.
    (PARIS MATCH 17/1-23/1/2013)

    9/ MÁY BAY : BƯỚC ĐỂ TRÁNH VIÊM TĨNH MẠCH

    Những chuyến bay đường dài làm dễ nguy cơ viêm tĩnh mạch (phlébite), thậm chí nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire).

    PNEUMOLOGIE. “ Đối với chúng tôi, đó là syndrome de malaise sur la passerelle au petit matin ” (hội chứng khó ở vào sáng sớm trên cầu thang máy bay), BS Philippe Bargain, thầy thuốc của phi trường Roissy đã kể lại như vậy. Sau một chuyến bay hơn 10 giờ, người hành khách trước đó đã uống một viên thuốc ngủ để ngủ, đứng dậy để bước xuống máy bay và cảm thấy khó ở. “ Trong số 60 triệu hành khách mỗi năm của phi trường Roissy, chúng tôi chứng thực khoảng một chục trường hợp mỗi năm, trong đó 2 hoặc 3 trường hợp tử vong ”, Philippe Bargain đã giải thích như vậy. Nguyên nhân của những triệu chứng khó ở này ? Nghẽn tắc động mạch phổi tiếp theo sau một huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse profonde) (hay viêm tĩnh mạch) do sự tạo thành của một cục máu đông trong các tĩnh mạch chi dưới. Lúc đứng dậy sau nhiều giờ không động đậy, người hành khách huy động cục máu đông và gởi nó vào trong tuần hoàn phổi.

    Những tai biến cực kỳ nghiêm trọng này may mắn thay khá hiếm. Vào năm 2001, Samu 93 đã quan sát 56 trường hợp nghẽn tắc động mạch phổi nghiêm trọng trên hơn 135 triệu hành khách. “ Hoặc một tần số 0,4 trường hợp đối với một triệu hành khách và 4,8 trường hợp đối với những chuyến bay trên 10.000 km. Nhưng tỷ lệ thật sự của những biến cố bị đánh giá thấp bởi vì những bệnh nhân với một huyết khối tĩnh mạch sâu hay một nghẽn tắc động mạch phổi không trầm trọng, một biến cố xảy ra thứ phát hay một ngừng tim đã không được tính đến ”, BS Frédéric Lapostolle, tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.

    Tại sao nguy cơ viêm tĩnh mạch gia tăng lúc đi máy bay ? Huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse profonde) phát triển khi có sự hiện diện của một thương tổn của thành các huyết quản, do sự ứ đọng máu trong tĩnh mạch (satse veineuse), và những biến đổi của máu : đó là tam chứng Virschow. Tư thế ngồi, do làm dễ sự đè ép kéo dài các đùi chân lên cạnh của ghế ngồi, là nguồn gốc của các thương tổn của thành các mạch máu. Sư đè ép này cũng làm dễ sự ứ máu trong tĩnh mạch (stase veineuse), gây nên một sự gia tăng độ nhớt của máu (viscosité sanguine). Từ lâu được mệnh danh là hội chứng hạng kinh tế (syndrome de la classe économique), bệnh huyết khối nghẽn mạch (maladie thromboembolique) gây bệnh cho tất cả các hành khách, như hiệp hội của các thầy thuốc chuyên khoa phổi Hoa Kỳ vừa nhắc lại điều đó ngày 7/2 đồng thời công bố những khuyến nghị trong tạp chí Chest.

    “ Toàn bộ, lúc đi máy bay, nguy cơ mắc phải một bệnh huyết khối nghẽn mạch, không nhất thiết trầm trọng, là 1 đối với 5000 chuyến bay ”, GS Joseph Emmerich, thầy thuốc chuyên khoa tim, chuyên gia các bệnh mạch máu ở Bệnh viện châu Âu Georges Pompidou (Paris) đã tương đối hóa như vậy. Tuy nhiên hiệp hội Hoa Kỳ nhắc lại rằng vài yếu tố làm gia tăng khả năng bị một viêm tĩnh mạch lúc đi máy bay. Đó là trường hợp của những tiền sử bị bệnh huyết khối nghẽn mạch, ung thư, phẫu thuật gần đây, tuổi tác, ngừa thai, thai nghén, béo phì, bất động và do sự việc ngồi trên một chiếc ghế cạnh cửa sổ. “ Mặc dầu nguy cơ liên kết với thời gian hành trình được xác lập một cách rõ ràng (bắt đầu từ 5 hay 7 giờ bay), vai trò của những yếu tố khác vẫn không chắc chắn. Nguy cơ dường như gia tăng ở các phụ nữ ”, BS Frédéric Lapostolle đã phát biểu như vậy.

    Sau khi đã nhận diện những hành khách có nguy cơ, các thầy thuốc người Mỹ đã đưa ra một loạt những lời khuyên dành cho những kẻ đi những chuyến bay trên 6 giờ. Các thầy thuốc này chủ trương đi lại thường xuyên, kéo giãn các cơ của bắp chân, nên dùng những ghế ngồi cạnh hành lang và dùng tất và chausette de contention. “ Tôi khuyên uống nhiều. Điều này bắt buộc phải đứng dậy để đi tiểu. Để làm tốt, phải đi lại trong máy bay mỗi giờ, GS Isabelle Quéré, thầy thuốc mạch máu của CHU de Montpellier đã giải thích như vậy. Đối với contention, chú ý đừng bó chặt đầu gối cũng như đáy của đùi, điều đó có thể gây nên một viêm tĩnh mạch ”. Sau cùng Isabelle Quéré hết sức khuyên không nên dùng thuốc ngủ và uống rượu trên những chuyến bay dài tạo nên sự bất động,“ sự ứ đọng máu tĩnh mạch gây nên bởi tư thế khi đó giống hệt với sự ứ đọng của một gây mê, yếu tố của bệnh huyết khối nghẽn mạch ”.

    PHÒNG NGỪA.

    Ngược lại hiệp hội Hoa Kỳ vẫn rất thận trọng về sự phòng ngừa bằng các thuốc kháng đông như aspirine hay các héparine. Một thực hành rất phổ biến ở Pháp. “ Không có lý do để mở rộng một dự phòng bằng aspirine hay héparine”, GS Joel Constans, thay thuốc chuyên khoa mạch máu (Bordeaux) đã nhấn mạnh như vậy. “ Những người có nguy cơ cao đã được điều trị. Không có gì phải làm khác ngoài việc khuyên họ đứng dậy mỗi hai hay ba giờ và bước trong máy bay”, GS Joseph Emmerich đã nhấn mạnh như vậy. Đối với những hành khách đã bị một viêm tĩnh mạch nhưng không được điều tri kháng đông, quyết định sẽ tùy thuộc từng trường hợp.
    (LE FIGARO 13/2/2012)

    10/ NHỮNG THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM MỚI HIỆU QUẢ TRONG VÀI GIỜ ?

    Nếu hiệu quả của các thuốc chống trầm cảm là không thể tranh cãi được, những tác dụng này cần một thời gian lâu mới xuất hiện (nhiều tuần). Kíp của GS Joseph Moskal (Nortwestern University Evanston, Illinois) đã hiệu chính một loại thuốc được cho bằng đường miệng tác dụng lên các thụ thể của những tế bào não được gọi là NMDA. Trong một công trình nghiên cứu lâm sàng trên ngườI, được tiến hành so sánh với placebo, ở 116 người bị bệnh trầm cảm nặng và đề kháng với tất cả các điều trị, loại thuốc này đã tỏ ra có khả năng làm giảm những triệu chứng của các bệnh nhân trong chưa được 2 giờ và làm chúng biến mất trong 24 giờ, không có tác dụng phụ. Kết quả này được chứng thực sau chỉ một lần dùng thuốc và đã được duy trì trong 1 tuần. Loại thuốc này (GLYX-13) tác dụng bằng cách kích thích những nối kết của những tế bào thần kinh của thùy trán (có số lượng bị giảm ở những người bị trầm cảm) và làm đảo ngược tính khí. Những công trình nghiên cứu với thuốc được sử dụng lập lại được dự kiến.
    (PARIS MATCH 31/1-6/2/2013)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (23/2/2013)


    Xem Thêm TSYH các số cũ hơn:

    Edited by user Saturday, February 23, 2013 10:22:24 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #8 Posted : Saturday, March 2, 2013 8:28:20 AM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 298

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHUYÊN ĐỀ TIM MẠCH


    1/ CÁC VAN TIM : NHỮNG THƯƠNG TỐN Ở 10% NHỮNG NGƯỜI TRÊN 70 TUỔI.

    Hẹp van động mạch chủ (rétrécissement aortique) và hở van hai lá (insuffisance mitrale) là những bệnh lý thường gặp nhất.

    CARDIOLOGIE. Đó là một trong những hậu quả của sự gia tăng hy vọng sống : những thương tổn của các van tim gia tăng, chủ yếu do tuổi tác. Nhưng van này cho phép máu đi từ một xoang này qua một xoang khác của tim và ngăn cản máu chảy ngược trở lại : van hai lá (valve mitrale) giữa tâm nhĩ và tâm thất trái, và van động mạch chủ (valve aortique) giữa động mạch chủ và tâm thất trái đối với tim trái, van ba lá (valve tricuspide) giữa tâm nhĩ và tâm thất phải, và van động mạch phổi (valve pulmonaire) giữa tâm thất phải và động mạch phổi đối với tim phải, đều cần thiết cho sự vận hành tốt của bơm tim. Mỗi van được tạo thành bởi 2 hoặc 3 van nhỏ (valvule), những lá mềm dẻo mà chỗ bám trên một vòng sợi (anneau fibreux) được nâng đỡ bởi những cordages tendineux.

    Các bệnh lý van tim gây bệnh cho 10 đến 15% những người trên 75 tuổi. Những bệnh lý thuờng gặp nhất là hẹp van động mạch chủ (rétrécissement hay sténose aortique) và hở van hai lá (insuffisance mitrale). Cũng có, nhưng thường ít gặp hơn, những thương tổn van của tim phải. Ở những người trẻ, các bệnh lý van, hiếm hơn nhiều, chủ yếu là do những dị dạng bẩm sinh. Phong thấp khớp cấp (rhumatisme articulaire aigu), ngày xưa chịu trách nhiệm nhưng di chứng khớp, hầu như đã biến mất. Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (endocardite infectieuse), do sự đi vào trong máu của các vi khuẩn nằm trên các van mà chúng làm thương tổn, mặc dầu khá hiếm, 2000 trường hợp/năm ở Pháp, nhưng trầm trọng. Vài bệnh van thứ phát một quang tuyến liệu pháp. Nguyên nhân khả dĩ khác, sự sử dụng vài loại thuốc, trong đó có Mediator.

    NHỮNG TỐ BẨM DI TRUYỀN

    Sự thoái hóa van động mạch chủ là nguyên nhân chính gây hẹp van động mạch chủ. “ Với tuổi tác, các ứ đọng canxi và sự xơ hóa làm hẹp lỗ van tim, tạo một chướng ngại đối với sự phóng máu. Tiến triển, rất chậm, cần 10 đến 20 năm. Khi lỗ van van động mạch chủ, bình thường từ 3 đến 4 cm2, trở nên dưới 1cm2, những triệu chứng xuất hiện ”, GS Hélène Eltchaninoff (CHU Rouen) đã giải thích như vậy. Quá trình này không chỉ thuần cơ học. “ Vài lý lẽ gợi ý rằng sự viêm, những cơ chế khá tương cận với xơ vữa động mạch và những tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) có thể làm dễ sự hẹp này ”, GS Alec Vahanian (CHU Bichat, Paris) đã chỉ rõ như vậy. Tuần này, New England Journal of Medicine công bố những kết quả của một công trình nghiên cứu cho thấy rằng chỉ một biến thể di truyền, bình thường, của gène mã hóa Lp (lipoprotéine plasmatique) làm tăng gấp đôi tần số của các vôi hóa van tim xảy ra trước hẹp van động mạch chủ.

    Hở van hai lá do thoái hóa (insuffisance mitrale dégénérative) là một rò (fuite) của van phân cách nhĩ với thất trái. Nguyên nhân quan trọng của nó cũng là sự lão hóa : với tuổi tác, các cordage fibreux buộc các van nhỏ (valvule) sẽ bị giãn ra hay bị đứt, các van nhỏ này co rút lại, và van không còn có thể đóng lại một cách hoàn toàn nữa.

    Chẩn đoán bệnh van tim, được nghi ngờ bởi tiếng thổi lúc ấn chẩn, chủ yếu dựa trên siêu âm tim, đôi khi liên kết với chụp hình ảnh. “ Hẹp van động mạch chủ và hở van hai lá có thể tiến triển lâu mà bệnh nhân không cảm thấy một triệu chứng nào, nhưng làm biến đổi dần dần chức năng của tim trái : về lâu về dài, thất trái bị bệnh, phì đại để cung cấp sự gắng sức cần thiết, và chức năng co bóp của nó có thể bị biến đổi, đôi khi không thể đảo ngược được. Chính vì thế, trong vài trường hợp chúng tôi buộc phải can thiệp mặc dầu không có triệu chứng, để bảo vệ tim ”, GS Vahanian đã giải thích như vậy.

    MỘT TIẾN TRIỂN ĐÔI KHI CHẬM

    Chừng nào bệnh vẫn ít nghiêm trọng hay không có tác động lên thất, một sự theo dõi chặt chẽ có thể đủ. “ Ngay khi một bệnh nhân bị bệnh van tim bắt đầu cảm thấy những triệu chứng (khó thở tăng dần lúc gắng sức, đau ngực, mất tri giác), phải xét đến can thiệp, thầy thuốc chuyên khoa tim đã nhấn mạnh như vậy. Thế mà, mặc dầu một chẩn đoán thường nhanh chóng, gần một nửa các bệnh nhân với hở van hai lá không đuợc mổ khá sớm.” Và những bệnh nhân này có một nguy cơ suy tim, thậm chí chết đột ngột.

    Vài loại thuốc đôi khi cần thiết, nhưng điều trị duy nhất của các bệnh van nặng là can thiệp ngoại khoa hoặc bằng đường qua da (par voie percutanée), để điều chỉnh van hay để thay thế nó bằng một van giả (prothèse). Van động mạch chủ luôn luôn được thay thế trong hẹp (sténose), đôi khi được bảo tồn trong hở van động mạch chủ (insuffisance aortique). “ Trong hở van hai lá, ngoại khoa thay thế (chirurgie de remplacement) và sửa chữa van (réparation valvulaire) được sử dụng ngang nhau. Sữa van phải được ưu tiên vì những kết quả tốt của nó, nhưng đòi hỏi những kíp rất chuyên nghiệp ”, Alex Vahanian đã chỉ rõ như vậy. Trong trường hợp thay thế van, những van cơ học hiện có từ một thập niên nay, không bị hỏng, đòi hỏi một điều trị kháng đông suốt đời. Với van sinh học (bioprothèse), điều trị kháng đông không cần thiết nhưng tuổi thọ của van này chỉ khoảng 15 năm.
    (LE FIGARO 18/2/2013)

    2/ HẸP VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ : MỘT CAN THIỆP KHÔNG PHẪU THUẬT

    GS Albert Hagège, trưởng khoa tim thuộc bệnh viện Georges-Pompidou, chủ tịch hiệp hội tim ở Pháp, giải thích kỹ thuật vi xâm nhập mới nhất này để thay thế một van động mạch chủ.

    Hỏi : Khi nào ta nói là suy tim ?
    GS Albert Hagège. Khi bơm (pompe) tim không còn có thể đảm bảo một lưu lượng máu đủ cho tất cả các cơ quan. Không điều trị, tình hình sẽ trầm trọng dần, với một nguy cơ ngạt thở và tử vong do phù phổi. Điều trị quy ước bằng thuốc nhờ đến các thuốc lợi tiểu, các thuốc chẹn beta giao cảm, các thuốc giãn mạch : điều trị này làm dễ công của tim suy, làm giảm các triệu chứng nhưng không cho phép chữa lành bệnh.

    Hỏi : Ông hãy mô tả những triệu chứng đầu tiên ?
    GS Albert Hagège. Bệnh bắt đầu được biểu hiện bởi khó thở và mệt lúc gắng sức (ngừng khi nghỉ ngơi), và bởi phù các cẳng chân. Đó là nguyên nhân đầu tiên khiến phải nhập viện ở Pháp sau 65 tuổi. Siêu âm tim có thể cho phép chẩn đoán, thường nhất là tim không co bóp một cách đúng đắn.

    Hỏi : Ta đã thành công xác lập một cách chính xác những nguyên nhân của bất thường này của tim ?
    GS Albert Hagège. Suy tim có thể là do mọi bệnh tim ở giai đoạn tiến triển. Ở những người trẻ, suy tim hiếm xảy ra, và những bệnh di truyền có thể là nguyên nhân ; ở một tuổi chín mùi, chính nhồi máu cơ tim thường là nguyên nhân ; ở người già hơn, một nguyên nhân rất thường gặp là hẹp van động mạch chủ. Van động mạch chủ là một loại nắp van (clapet) mở ra để cho phép phóng máu và đóng lại để ngăn cản máu trào ngược. Với thời gian, những vôi hóa thường lắng đọng trên van này và gây trở ngại khi van mở, buộc tim phải bơm máu mạnh hơn để phóng máu một cách bình thường : khi đó vì phải làm việc nhiều, tim bị mệt, Bệnh lý rất thường gặp này gây bệnh cho 6% những người trên 65 tuổi, khi nghiêm trọng, dẫn đến suy tim.

    Hỏi : Cho mãi đến những năm vừa qua, kỹ thuật cổ điển để thay thế van động mạch chủ là gì ?
    GS Albert Hagège. Một phẫu thuật ngoại khoa tim mở (à coeur ouvert), cần thiết đặt một tuần hoàn ngoài cơ thể (circulation extra-corporelle) với mở ngực và ngừng hoạt động của tim. Phẫu thuật này là một động tác đặc biệt nặng nề sau 75 tuổi, vì lẽ nguy cơ tử vong so với những người trẻ hơn được nhân lên 3 lần. Lý do tại sao 1/3 những người già bị suy tim, do một hẹp van động mạch chủ nặng, không được mổ.

    Hỏi : Thủ thuật ngoại khoa vi xâm nhập mới nhất cho phép mổ những người già này là gì ?
    GS Albert Hagège. Can thiệp này nhằm thay thế van nguyên thủy bằng một van sinh học (valve biologique, bioprothèse) (nguồn gốc động vật) mà không cần phải mở ngực. Ta đưa vào trong động mạch đùi một cathéter ở đầu mút được gắn một stent (cái lồng kim loại nhỏ). Stent này chứa một van được quấn lại quanh một quả bóng được xả xì (un ballon dégonflé). Stent được đưa đến tận bên trong của van bệnh bị hẹp. Sau khi đã được đặt vào vị trí, ta bơm quả bóng bên trong stent và stent được mở ra như một chiếc dù, cho phép triển khai van sinh học mới đồng thời đè nát những canxi hóa bao quanh nó. Van tức thời tiếp sức, cho phép tim lại hoạt động bình thường. Kỹ thuật này đã được hiệu chính bởi GS Alain Cribier, của thành phố Rouen.

    Hỏi : Những kết quả nào ta đã thu được với kỹ thuật vi xâm nhập này ?
    GS Albert Hagège. Một công trình nghiên cứu của Pháp được thực hiện trên hơn 3000 bệnh nhân, tuổi trung bình 83 tuổi, đã cho thấy rằng, trong 9 trường hợp trên 10, những kết quả đều tốt. Sự cải thiện các triệu chứng ngay cả thường ngoạn mục. Tuy nhiên, những biến chứng có thể xảy ra : van bị rò nếu được đặt không đúng chỗ. Tai biến mạch máu não, thương tổn động mạch qua đó ta đã đưa catheter vào… Nhưng ta ưa thích hơn ngoại khoa trong trường hợp có những vấn đề liên kết như những thương tổn nặng của các động mạch vành hay thương tổn một van tim khác.

    Hỏi : Tóm lại, những ưu điểm của kỹ thuật can thiệp này là gì ?
    GS Albert Hagège. 1. Ít gây chấn thương hơn ngoại khoa tim mở (chirurgie à coeur ouvert). 2. Thời gian can thiệp ngắn hơn. 3. Ít đau hơn, vậy cần ít hơn các thuốc nha phiến. 4. Thời gian nhập viện ngắn hơn. 5. Tái tục hoạt động nhanh hơn. 6. Không có vết sẹo mổ ở ngực.
    (PARIS MATCH 7/2-13/2/2013)

    3/ VAN SINH HỌC (BIOPROTHESE) VA VAN THU NHỎ (VALVES MINIATURES)

    Những bệnh nhân bị một bệnh lý van tim (valvulopathie) thường lớn tuổi, bị những bệnh kinh niên khác hoặc với nhiều yếu tố nguy cơ. Tuổi tác tự nó không phải là một trở ngại đối với phẫu thuật tim hay can thiệp bằng đường qua da (intervention par voie percutanée), được thực hiện trong những khoa tim rất chuyên môn. Thầy thuốc ngoại khoa và thầy thuốc chuyên khoa tim thống nhất với nhau để chọn kỹ thuật thích hợp nhất, sau khi đã xác lập một score de risque đối với bệnh nhân. Tình trạng của các động mạch tim đuợc đánh giá bằng chụp động mạch vành (coronarographie) để, nếu cần, lợi dụng can thiệp để cùng thực hiện một pontage coronarien.

    ĐƯỜNG QUA DA.

    Trong hẹp van động mạch chủ, nếu bệnh nhân không bị chống chỉ định hay không bị đánh giá là có nguy cơ phẫu thuật cao, phẫu thuật tim dưới gây mê tổng quát và tuần hoàn ngoài cơ thể vẫn là điều trị chuẩn. “ Chỉ khi nếu bệnh nhân không thể mổ được hay có nguy cơ phẫu thuật quá cao, khi đó đường qua da, hay TAVI (Transcatheter Aortic Valve Implantation) mới được xét đến bởi kíp y khoa, GS Eltchaninoff đã xác nhận như vậy. Ngoại khoa có một thời gian nhìn lại 20 năm, đủ để đánh giá những kết quả tuyệt vời của nó về lâu về dài. Can thiệp qua da (intervention percutanée) đầu tiên đã được thực hiện cách nay 10 năm bởi GS Alain Cribier, và thời gian nhìn lại vẫn còn quá ít để có thể để đề nghị nó rộng rãi hơn. ” Một ý kiến được chia xẻ bởi tất cả các chuyên gia.

    “ Nhưng đường qua da (voie percutanée), khi nó tạo lại những kỹ thuật ngoại khoa đã được thử thách, cũng được những kết quả rất tốt và chúng tôi rất lạc quan về tương lai của nó ”, GS Vahanian đã nhấn mạnh như vậy. Trong thực tiễn, sự lựa chọn giữa hai kỹ thuật được đặt ra chủ yếu đối với những bệnh nhân tuổi trên 75-80.

    NGOẠI TÂM MẠC BÒ.

    Loại prothèse được sử dụng tùy thuộc vào tuổi tác, tình trạng và ý kiến của bệnh nhân. “ Các van cơ học (valve mécanique) không bị hao mòn, không bị biến đổi, nhưng đòi hỏi một điều trị suốt đời bằng các thuốc kháng đông. Những van sinh học (valve biologique, bioprothèse), mặc dầu chỉ kéo dài 10 đến 20 năm, nhưng không cần điều tri kháng đông. Bắt đầu từ 65 tuổi, van sinh học (bioprothèse) được ưu tiên để tránh bất tiện của các thuốc kháng đông và trước 65 tuổi, tốt hơn là van kim loại (valve métallique), để không phải can thiệp lại. Nhưng một vận động viên thể thao có thể ưa thích hơn một van sinh học để tránh nguy cơ xuất huyết của những thuốc kháng đông, dầu phải bị mổ lại một ngày nào đó ”, thầy thuốc chuyên khoa tim đã giải thích như vậy.

    Nếu kết quả của hai phương này tương đương nhau, sự sử dụng các sinh học có khuynh hướng gia tăng nhất là một kỹ thuật đang còn được đánh giá,“ valve-in-valve ” (van trong van) cho phép đặt bằng đường qua da một van mới trên van sinh học (bioprothèse) đầu tiên nếu van này bị thoái hóa.

    MAY TRÊN MỘT STENT

    Kỹ thuật qua da (technique percutanée) luôn luôn sử dụng một van sinh học (valve bioprothétique), được may vào một stent còn stent này đến cắm vào trong van động mạch chủ nguyên thủy của bệnh nhân. Đôi khi dưới gây mê tổng quát, van này được gắn trên trên một guide, đưa lên đến tận tim, qua động mạch đùi, trừ ở 15% các bệnh nhân có động mạch đùi quá hẹp. Khi đó phải đi qua một đường mạch máu khác, thí dụ động mạch dưới đòn hay qua động mạch cảnh. Can thiệp này chỉ đòi hỏi 2 đến 3 ngày nhập viện. Sự làm thu nhỏ (miniaturisation) của các van hẳn làm dễ sự đi vào động mạch đùi và làm giảm những rò nhỏ nhưng hiếm quanh van giả, điều này không xảy ra khi phẫu thuật.

    “ Trong hở van hai lá (insuffisance mitrale), sự bảo tồn và sửa chữa van hai lá thu được những kết quả tốt hơn khi có thể thực hiện và khi ta can thiệp đúng lúc. Kỹ thuật này đã được thực hiện trong 60 % các trường hợp và còn phải được phát triển ”, GS Vahanian đã nhấn mạnh như vậy. Điều trị bằng đường qua da vẫn còn có tính chất giai thoại. “ Điều trị này nhằm clipper các lá của van hai lá với một thiết bị nhỏ làm giảm lỗ mở và ngăn cản rò. Điều đó chỉ có thể dành cho những bệnh nhân rất có nguy cơ, mà ta không muốn mổ ”, GS Tribouilloy đã xác nhận như vậy.
    (LE FIGARO 18/2/2013)

    4/ NHỮNG TẾ BÀO ĐƯỢC BIẾN ĐỔI THÀNH PACEMAKER

    Lúc biến đổi những tế bào tim thành những pacemaker (những máy tạo nhịp) nhỏ, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã thực hiện một bước tiến khổng lồ hướng về điều một ngày nào đó có thể là một giải pháp thay thế sinh học cho các máy tạo nhịp điện tử dùng pile (pacemaker électronique à pile), được sử dụng từ hơn nửa thế kỷ nay. Thí nghiệm của họ nhằm đưa vào trong những tế bào cơ tim một protéine có khả năng biến đổi chúng thành “ những tế bào tạo nhịp ” (cellules pacemaker). Những tế bào như thế xuất hiện một cách tự nhiên trong quá trình phát triển của cơ quan để tạo thành, ở đỉnh của tâm nhĩ, “ nút xoang ” (nœud sinusal), chịu trách nhiệm sự co bóp tự nhiên và đều đặn của tim. Kíp của Cedars-Sinai Heart Institute ở Los Angeles, đã khám phá rằng sự biến đổi tế bào này là do sự hiện diện của chỉ một protéine, được gọi là Tbx18. Họ có ý tưởng làm biểu hiện chúng trong những tế bào của tim người trưởng thành bằng liệu pháp gène (thérapie génique). Rất đổi ngạc nhiên, các nhà nghiên cứu đã thấy trong vài ngày những tê bào này thu hẹp lại, mất một phần các sợi cơ của chúng và bắt đầu một hoạt động kích thích ngẫu nhiên và đều đặn điển hình của những tế bào tạo nhịp thật sự.

    Phấn khởi bởi sự thành công này, các nhà nghiên cứu đã điều trị những con heo Ấn độ bị bệnh bằng cách gây nên sự biểu hiện của protéine một cách trực tiếp trong trái tim của chúng. Trái tim này, vốn đập rất chậm, đã tìm thấy lại trong nhiều tuần một tần số bình thường. Còn tốt hơn thế, các nhà khoa học trong tạp chí Nature Biochemistry đã cho thấy rằng trái tim của những động vật này đáp ứng một cách bình thường đối với những tín hiệu sinh lý, như adrénaline, làm gia tốc tim, hay acétylcholine, làm chậm nhịp tim, như thế xác nhận sự biến hóa hoàn toàn của những tế bào cơ trong chức năng mới của chúng.
    (SCIENCES ET AVENIR 2/2013)

    5/ TRÁNH CHẾT ĐỘT NGỘT TRƯỚC 40 TUỔI

    Một nửa các trường hợp chết đột ngột là do những bệnh tim di truyền.

    CARDIOLOGIE. Marc-Vivien Foé vào năm 2003 hay Piermario Morosini vào năm 2012. Tất cả chúng ta còn giữ trong đầu những hình ảnh sốc của các vận động viên bóng đá trẻ ngã qụy, bị chết ngay trong lúc còn đang hoạt động. Tuy vậy những cái chết ngoạn mục này chỉ là cây che khuất rừng. Thật vậy, đại đa số những trường hợp chết đột ngột trước 40 tuổi xảy ra ở nhà hay ở ngoài đường, theo một điều tra được thực hiện bởi BS Andrew Krahn của đại học Colombie-Britanique (Canada).

    Ở Pháp, chết đột ngột gây mỗi năm 40.000 nạn nhân. “ Nhưng chỉ 1000 trong số những nạn nhân này bị chết đột ngột lúc một hoạt động thể thao ”, GS Xavier Jouven, thầy thuốc chuyên khoa tim và giám đốc của Centre d’expertise sur la mort subite de l’adulte đã nhấn mạnh như vậy. Có thể tránh được số những trường hợp tử vong. Ở Pháp, chỉ 4% những người sống sót, trong khi ở Seattle (Hoa Kỳ), con số này đạt đến 20%. Trong trường hợp khó ở, một phản xạ duy nhất : gọi 15 và thực hiện xoa bóp tim.

    “ Trong 90% các trường hợp, nguyên nhân có nguồn gốc tim mạch, Xavier Jouven nói tiếp. Sau 45 tuổi, chết đột ngột, trong đại đa số các trường hợp, là hậu quả của một bệnh động mạch vành gây nhồi máu cơ tim. Ở những người trẻ hơn, đa số các trường hợp tử vong là do những bệnh tim không được phát hiện.

    Có bao nhiêu người bị liên hệ ? “ Chúng tôi có ít dữ kiện dịch tễ học, bởi vì phần lớn các trường hợp giải phẫu tử thi không được thực hiện, và thầy thuốc sẽ kết luận đó là do vỡ phình động mạch ”, GS Hervé Le Marec, giám đốc trung tâm xử trí chết đột ngột của người trẻ, ở Nantes, đã giải thích như vậy. Nhưng những người dưới 40-45 tuổi chiếm từ 10 đến 30% những trường hợp chết đột ngột do tim. Hoặc từ 4000 đến 12.000 trường hợp tử vong mỗi năm !“ Một nửa những trường hợp chết đột ngột này liên quan đến những bệnh di truyền ”, Hervé le Marec đã giải thích như vậy.

    Những bệnh tim di truyền thường gặp nhất được tập hợp, một mặt thành những bệnh cơ tim (cardiomyopathies), mặt khác thành những rối loạn nhịp hiếm. Những bệnh lý này thường không thấy được, không có triệu chứng, cho đến khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên, thường gây tử vong, đó là ngừng tim. Vài dấu hiệu báo trước đôi khi có thể xảy ra, như một sự khó ở, ngất hay bất tỉnh. Nhưng những báo động này thường xảy ra không được nhận thấy hoặc không đủ làm lo ngại. “ Một thanh niên suýt chết đuối trong một piscine đáng được thực hiện một bilan tim, GS Antoine Leenhardt, thầy thuốc chuyên về nhịp tim (rythmologue) thuộc bệnh viện Bichat, đã giải thích như vậy. Cũng như một đứa trẻ bị lên cơn co giật trong khi nó đang chạy trong giờ ra chơi. Đó không phải luôn luôn là động kinh.”

    Đối với những người bị thương tổn bởi một bệnh lý không ngờ, thể thao là một yếu tố gia trọng. “ Ở những vận động viên thể thao, sự phát hiện những người chịu loại tai biến này cho phép làm giảm số những trường hợp tử vong. Ý, sau khi buộc thực hiện một điện tâm đồ cho mọi vận động viên thi đấu, đã thấy loại tử vong này giảm rất nhiều ”, GS Daniel Thomas, thầy thuốc chuyên khoa tim ở bệnh viện Pité-Salpêtrière (Paris) đã giải thích như vậy.

    Nhưng nếu đối với những vận động viên thể thao, một công tác phát hiện là điều có thể thực hiện, thì đối với những người có nguy cơ vẫn khó có thể phát hiện được. Chỉ dấu duy nhất : những trường hợp chết trẻ không giải thích được trong gia đình. Một câu hỏi hiếm khi được nêu lên trong khi thăm khám… Ngược lại, mọi trường hợp chết xảy ra đột ngột cần phải thực hiện một bilan đối với toàn thể gia đình. “ Không phải là dễ bởi vì gia đình này khi đó sống trong một thảm họa. Nhưng điều đó là cần thiết ”. Antoine Leenhardt đã nhấn mạnh như vậy. Điều tra gia đình là một bộ phận của biện pháp phòng ngừa vì lẽ chết đột ngột có nguy cơ xảy đến cho những người thân của người quá cố. Thế mà chỉ một gia đình trên 4 trong số những gia đình bị liên hệ thực hiện một bilan… “ Ngày nay, chúng ta có những phương tiện để phòng ngừa những cái chết đột ngột này, nhưng chúng ta khó phát hiện những người có nguy cơ này ”, Hervé le Marec đã lấy làm tiếc như vậy.

    GIA TĂNG SỐ NHỮNG TRƯỜNG HỢP NHỒI MÁU CƠ TIM Ở NHỮNG NGƯỜI TRẺ TUỔI.

    Ngoài những bệnh tim di truyền, một số những trường hợp chết đột ngột nào đó ở những người dưới 45 tuổi cũng có thể do các nhồi máu cơ tim. Mặc dầu không có các dữ kiện dịch tễ học, những dữ kiện gần đây về sự gia tăng những trường hợp nhồi máu cơ tim ở các phụ nữ dưới 55 tuổi, được công bố trong Bulletin épidémiologique hebdomadaire của Viện theo dõi y tế, thật đáng quản ngại.

    “ Những kết quả này khiến nghĩ rằng có một sự gia tăng những trường hợp chết đột ngột do nhồi máu cơ tim ở những người trẻ tuổi hơn ”, GS Nicoals Danchin, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc bệnh viện Georges-Pompidou (Paris) đã công nhận như thế. “ Yếu tố giải thích sự gia tăng những trường hợp nhồi máu cơ tim ở các phụ nữ trẻ chắc chắn là sự gia tăng số những phụ nữ hút thuốc ”, thầy thuốc chuyên khoa tim đã cảnh giác như vậy.

    NHỒI MÁU CƠ TIM TRƯỚC 50 TUỔI : THUỐC LÀ RẤT THƯỜNG LÀ NGUYÊN NHÂN.

    “ Khi một nhồi máu cơ tim xảy ra trước 50 tuổi, ở đàn ông hay phụ nữ, trong 80% các trường hợp, yếu tố duy nhất mà ta phát hiện là chứng nghiện thuốc lá (tabagisme) ”, GS Daniet Thomas (thầy thuốc chuyên khoa tim, bệnh viện Pitié-Salpêtrière) đã giải thích như vậy. Trên 50 tuổi, thuốc lá vẫn còn thường là nguyên nhân trong một tỷ lệ quan trọng các trường hợp, nhưng liên kết với những yếu tố khác như cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết, bệnh đái đường …Ngoài ra, trong một vài gia đình rõ rệt có một tần số tăng cao những bệnh động mạch vành, có lẽ do những yếu tố di truyền. Nguy cơ bị nhồi máu cơ tim được nhân lên 2,5 lần đối với 20 điếu thuốc mỗi ngày và 5 lần đối với 40 điếu mỗi ngày, so với một người không hút thuốc. Thuốc lá làm gia tăng sự co thắt động mạch, làm dễ sự ngưng kết của các tiểu cầu và làm giảm khả năng vận chuyển oxy của các hồng cầu.
    (LE FIGARO 12/11/2012)

    6/ LÀM SAO SỐNG TỐT HƠN VỚI MỘT BỆNH TIM

    CARDIOLOGIE. Một trong những lời khuyên đầu tiên của các thầy thuốc đối với những người bị những bệnh lý “ tim ” (các bệnh động mạch vành, suy tim…) đeu có liên quan đến chế độ ăn uống. Cái khó khăn là ở chỗ ta đụng vào sự thoải mái của những bệnh nhân này và rằng không phải là luôn luôn dễ dàng tống khứ được những thói quen xấu của mình. Khi đó dung hợp chất lượng sống và những đòi hỏi y tế là điều cốt yếu. Các thầy thuốc chuyên khoa tim ý thức rõ đều đó. Ngày 17 tháng giêng, họ dành cả một buổi của XIII Journées européennes de la Société française de cardiologie, cho “ chất lượng sống của người bị bệnh tim ”.

    Làm sao ăn ngon trong khi người ta bi đau tim ? Không nhiều hơn 5 g muối mỗi ngày, dĩ nhiên, hoặc hai lần ít hơn điều được tiêu thụ bởi phần lớn người ta ; tránh những đồ hộp hay những sản phẩm công nghiệp khác, thường là những “mỏ muối ” thật sự (mines de sel) ; ăn ít mỡ hơn, dĩ nhiên. Vấn đề là các chất mỡ thường không thấy được. Dĩ nhiên, mọi người nghĩ rằng vài loại thức ăn chứa nhiều mỡ hơn những thức ăn khác. Các chips, saucisses de Strasbourg, roquefort hay paté de campagne không được hoan nghênh trong chế độ ăn uống của một người bị bệnh tim.

    ĐỪNG CẤM MỠ

    Nhưng mỡ (hay lipides) cũng hữu ích cho cơ thể. Điều quan trọng là chọn lọc và thực hiện một chọn lựa chất lượng, điều này hàm ý xác định rõ chế độ ăn uống của mình. Bởi vì có nhiều loại axít béo, gây phiền nhất là những axít mỡ bảo hòa (AGS : acides gras saturés), ít nhất bắt đầu từ một ngưỡng nào đó.“ Có một mối liên hệ giữa các AGS và tỷ lệ tử vong động mạch vành nhưng dưới 12-13%, mối liên hệ này không rõ rệt ”, BS François Paillard, thầy thuốc chuyên khoa tim ở Rennes đã nhận xét như vậy. Ông nói thêm rằng “ những cung cấp vừa phải có thể chấp nhận được, mặc dầu những người Mỹ nghiêm ngặt hơn những người châu Âu ”. Các AGS này chủ yếu hiện diện trong beurre, crème fraiche, thịt bò, agneau, patisseries và các sauces.

    Nếu có những axít béo mỡ xấu, vậy thì phải có những axit béo mỡ tốt ? Thật vậy, những axít béo không bảo (AGI : acide gras insaturé) có một tiếng tăm khá tốt ở những thầy thuốc chuyên khoa tim. Không ai không biết rằng dầu olive, giàu oméga-9 có nhiều AGI nhưng chính những oméga-3 của đậu nành, colza, noix và cá mỡ (maquereau, saumon, sardien…) là những con cưng của các thầy thuốc chuyên khoa tim. Sự hâm mộ những AGI này đến mức đôi khi hơi quá đáng. “ Trong khi những phân tích méta xác nhận một khuynh hướng giảm tỷ lệ tử vong nhờ chúng, thật ra không phải là như vậy trong những công trình nghiên cứu mới đây với những bệnh nhân có một điều trị bảo vệ tim mạch tối ưu, BS Paillard đã công nhận như vậy. Nhưng trong toàn dân, chúng có một hiệu quả quan trọng bảo vệ tim mạch.” Không được quên rằng những hiệu quả của một chế độ ăn uống lành mạnh một mặt, và những loại thuốc một mặt khác có tác dụng cộng lại với nhau. “ Các trái cây và rau xanh được liên kết với một sự giảm nguy cơ tim mạch cũng ngang với hoạt động vật lý ”, BS Paillard cũng đã nhấn mạnh như vậy. Lại nữa, những lợi ich có tính chất kiêm nhiệm.

    Một cách nghịch lý, mặc dầu các thầy thuốc chuyên khoa tim khuyến khích hoạt động vật lý, nhưng có một loại hoạt động thường tế nhị hơn khi đề cập đến : hoạt động sinh dục (activité sexuelle). Không có công trình nghiên cứu mới nhất để định mức sự gắng sức tương ứng với hoạt động sinh dục còn những công trình cũ hơn mà ta có chỉ liên hệ đến các người đàn ông ”, BS Gilles Bosser, thầy thuốc chuyên khoa tim ở Vandoeuvre-lès-Nancy (Meurthe-et-Moselle) đã nhận xét như vậy. Các thầy thuốc chuyên khoa tim đánh giá rằng những cố gắng tim mạch tương tự nhau, về mặt gia tốc tần số tim, giữa đàn ông và phụ nữ. Sự hoạt động vật lý đều đặn tạo điều kiện cho sự tiếp tục hoạt động sinh dục, chuyên gia này đã nhấn mạnh như vậy. Một trắc nghiệm thực hiện lực gắng sức (test deffort) cũng cho phép làm an lòng các bệnh nhân.

    Vế khác góp phần vào chất lượng sống : du lịch. Đối với BS Stéphane Doutreleau, thầy thuốc chuyên khoa tim ở Strasbourg, “ tất cả tuỳ thuộc vào mục đích của họ : phải chăng du lịch có tính chất văn hóa, nghệ thuật ăn uống (gastronomique), để nghỉ ngơi hay trái lại để tạo hoạt động vật lý ? ” Nơi du lịch chính nó tạo vấn đề do kiêm nhiệm những yếu tố môi trường tác động lên hệ tim mạch như độ cao, lạnh hay nóng, hay xa những trung tâm điều trị. “ Không nên quên rằng những nguy cơ không phải là không có trong thời kỳ nghỉ hè. Ta chết trong lúc du lịch cũng như lúc ở nhà ”, BS Doutreleau đã nhắc lại như vậy.

    NGUY CƠ ĐI MÁY BAY.

    Sự vận chuyển cũng là một yếu tố làm bất động lâu dài và đôi khi những điều kiện đặc biệt, thí dụ khí khô và độ cao trong máy bay. “ 1/3 những người bị bệnh tim cho rằng du lịch bằng máy bay là mệt nhọc và vào cơ hội này họ bị những triệu chứng bất thường ”, BS Doutreleau đã nhấn mạnh như vậy, mặc dầu ông muốn trấn an về nguy cơ huyết khối nghẽn mạch (risque thromboembolique), hay “ hội chứng hạng kinh tế ” (syndrome de la classe économique) : “ Dưới 4 giờ bay, ta cho rằng không có nguy cơ bổ sung.”

    Trong tất cả các trường hợp, tốt hơn là bàn bạc với thầy thuốc trước khi ra đi. Khi đó những lời khuyên thích ứng nhất với mỗi tình huống tùy theo cách vận chuyển, nơi du lịch và những mục tiêu của hành trình. “ Những chuyến du lịch là một tình huống có các nguy cơ cần phải bàn bạc ”, BS Doutreleau đã kết luận như vậy.

    SỰ TRẦM CẢM LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ TIM

    Bị suy tim kèm theo một sự giảm khả năng độc lập, thường là nguồn gốc của stress hay trầm cảm. Ta nhận thấy những trường hợp trầm cảm nặng xảy ra ở người bị suy tim hai lần nhiều hơn những người khác cùng lứa tuổi. Ngoài ra các thầy thuốc chuyên khoa tim đã nhận thấy rằng một người bệnh tim bị trầm cảm có nguy chết trong năm hai lần cao hơn so với một người bị bệnh tim nhưng không bị trầm cảm. “ Trầm cảm cũng được liên kết với một sự tuân thủ chung ít hơn : điều trị và những lời khuyên ăn uống được tuân theo ít tốt hơn, giảm hoạt động vật lý ”, BS Cédric Lemogne, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần thuộc bệnh viện châu Âu Georges Pompidou (Paris) đã ghi nhận như vậy. “ Điều trị chống trầm cảm, các liệu pháp nhận thức và hành vi (thérapie cognitive comportementale), những chương trình quản lý stress có thể có một tác dụng có lợi lâu dài.” Phương pháp này mặc dầu sẽ không làm biến đổi một cách trực tiếp tiên lượng tim mạch, nhưng do cải thiện chất lượng sống và do mang lại cho bệnh nhân một sự kiểm soát tốt hơn những cảm xúc của mình, nên chúng cho phép một sự quản lý tốt hơn phế tật hàng ngày gây nên bởi căn bệnh.[/color]

    (LE FIGARO 20/1/2013)

    7/ BỆNH THỐNG PHONG CÓ THỂ LÀ MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH

    Khi quá thặng dư trong máu, axit uric (dưới dạng urate) kết tủa để tạo thành những tinh thể, có thể lắng đọng trong các khớp và gây nên những cơn thống phong (accès de goutte) ở 15% những người có một tăng axit uric-huyết (hyperuricémie).

    Như GS Bardin (Bệnh viện Lariboisière, Paris) đã giải thích, “ trong quá trình tiến hóa, con người và vài động vật linh trưởng (primate) đã đánh mất một enzyme, uricase, cho phép làm thoái hóa axit uric. Vậy phải loại bỏ nó ”. Khi nồng độ axit uric trong máu gia tăng, sự bài tiết của nó qua đường tiểu tức thời gia tăng để mang nồng độ này trở lại trị số bình thường. “ Ở những bệnh nhân bị bệnh thống phong, sự điều hòa này bị thiếu sót : nồng độ axit uric trong máu của những bệnh nhân này phải gia tăng nhiều hơn nhiều để sự bài tiết của nó qua thận gia tăng.” Vậy những bệnh nhân thống phong tự vệ kém hơn nếu chế độ thức ăn của họ làm dễ tăng axit uric-huyết (hyperuricémie). “ Những công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng tăng axit uric-huyết được liên kết với vài vùng của génome, sau đó được nhận diện như là mã hóa cho những chất vận chuyển (transporteur) axit uric qua thận.”

    Một chất vận chuyển được biết của glucose và những chất vận chuyển các thuốc cũng là những chất vận chuyển axit uric. “ Nhiều yếu tố di truyền có thể làm cho vài người khả dĩ phát triển một bệnh thống phong hơn, mặc dầu vai trò của chế độ ăn uống vẫn quyết định.”

    NHỮNG BỆNH NHÂN CAO HUYẾT ÁP

    Bệnh thống phong được liên kết với nhiều bệnh lý khác, đôi khi làm trầm trọng nó. Nhưng cũng có thể bệnh thống phong tạo điều kiện cho những bệnh lý này. “ Mối liên hệ giữa bệnh thống phong và bệnh béo phì là điều chắc chắn : sự đề kháng đối với insuline (insulino-résistance) đi kèm bệnh thống phong và lót đường cho bệnh đái đường gây nên một sự tiết gia tăng insuline, làm gia trọng thiếu sót bài tiết qua thận ”, GS Lioté (Inserm U606, Paris) đã chỉ rõ như vậy. Những công trình khác nhau, trong đó có công trình mới nhất Gospel của Pháp, được thực hiện trên 1000 bệnh nhân bị thống phong, đã cho thấy rằng 20% những bệnh nhân này có một suy thận mức độ từ trung bình đến nặng.

    Theo cùng công trình nghiên cứu, 50% những bệnh nhân bị thống phong cũng có một cao huyết áp. “ Ngoài ra, một thầy thuốc nhi khoa Hoa Kỳ, điều trị với allopurinol những thiếu niên với tăng axit uric-huyết, nhưng cũng bị cao huyết áp, đã nhận thấy rằng lúc làm hạ axit uric-huyết, ông cũng nhận thấy chứng cao huyết áp được giảm bớt ”, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp đã nhấn mạnh như vậy. Những dữ kiện thí nghiệm ở động vật cũng đi theo cùng chiều hướng. “ Vậy không phải là không có thể rằng tăng axit uric-huyết tạo nên một yếu tố nguy cơ tim mạch. Nhưng thiếu bằng cớ chính thức, mặc dầu một công trình nghiên cứu cho thấy rằng ta có thể làm giảm nguy cơ tim mạch bằng cách giảm tăng axit uric-huyết.”

    Những điều chứng thực khác khiến phải suy nghĩ. Trong cơn thống phong, viêm và trong số những chất trung gian của quá trình viêm này, interleukine-1 (IL-1) đóng một vai trò trung tâm. “ Thế mà IL-1 được tạo thành bằng hai thì : một kích thích đầu tiên làm phát khởi sự sản xuất một tiền chất, một pro-IL-1, chất này sau đó dưới tác dụng của một kích thích thứ hai, bị cắt thành IL-1 hoạt hóa. Theo một trong những giả thuyết hiện nay, tăng axit uric-huyết được kèm theo, trực tiếp hay không, một trạng thái viêm kín đáo, do một sự sản xuất pro-IL-1. Sau đó chỉ cần một kích thích thứ hai, ăn uống quá mức, nhiễm trùng hay những tình trạng khác, để pro-IL-1 biến đổi thành IL-1 hoạt tính và phát khởi cơn thống phong.”

    Vì chứng béo phì, chứng xơ vữa động mạch, tình trạng đề kháng insuline (insulino-résistance) cũng kèm theo một phản ứng viêm như thế, nên ta có thể tự hỏi không biết rằng có phải quá trình viêm dai dẳng và thầm lặng này có tạo mối liên hệ giữa tất các các bệnh lý này hay không
    (LE FIGARO 10/9/2012)


    8/ RỐI LOẠN CƯƠNG ? CHÍNH LÀ TIM BỊ BỆNH

    CARDIOLOGIE. Những chiến dịch lớn quảng bá các loại thuốc chống lại các loạn năng cương (dysfonction érectile) đã được phát động trong những năm trước, khuyên các người đàn ông hãy nói lên điều đó với các thầy thuốc của mình để ông ta giúp họ tìm lại puissance sexuelle nhờ các thuốc gây cương. Từ nay cũng can phải khuyên cũng những người đàn ông này, có lẽ vốn đã nghe và đã áp dụng những lời khuyên trước đây, phải thăm khám thầy thuốc chuyên khoa tim. Một công trình nghiên cứu lớn, được công bố tuần này trong tạp chí PLOS Medicine xác nhận rằng những người bị những loạn năng cương có một nguy cơ gia tăng bị nhập viện vì thương tổn tim mặc dầu họ đã không bao giờ có những rối loạn tim báo hiệu.

    Ngày nay, phải xem những khó khăn nam giới trong hoạt động tình dục như là một dấu hiệu đầu tiên của bệnh lý tim mạch, phải được xét đến để thực hiện một bilan tim sâu và thiết đặt những điều trị cần thiết. Điều này không phải là không tương hợp với một điều trị những trường hợp panne sexuelle. Thật vậy, nguyên nhân của rối loạn cương có thể là một bệnh lý huyết quản tiềm tàng cần phải điều trị và không còn giới hạn nữa ở việc điều trị đơn thuần những khó khăn sinh dục (difficultés sexuelles).

    “ Không phải là một nguyên nhân của các bệnh tim, rối loạn cương thật ra là một triệu chứng hay một tín hiệu của một thương tổn mạch máu thầm lặng và từ nay phải được xem như một chỉ dấu hữu ích đối với người thầy thuốc để tiên đoán nguy cơ bị vấn đề tim mạch ”, GS Emily Bank (Sax Institute, đại học quốc gia Australie) đã xác nhận như vậy. Các nhà nghiên cứu của Institute Sax, để đi đến kết luận này, đã xem xét các hồ sơ của hơn 95.000 người đàn ông tuổi 45 hoặc hơn. Những người đàn ông này lúc khởi đầu đã chấp nhận trả lời một bảng câu hỏi rất chi tiết về lối sống của họ. Trong công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến 7855 trường hợp nhập viện vì nhồi máu cơ tim và 2304 trường hợp chết do tim. So sánh với những người chứng cùng lứa tuổi nhưng không bị bệnh lý tim, những người đàn ông bị nhập viện vì nhồi máu cơ tim trước đây đã từng bị, một cách thường xuyên hơn nhiều, những rối loạn cương.
    (LE FIGARO 4/2/2013)

    9/ RUNG NHĨ : BẢO VỆ KHÔNG CẦN THUỐC CHỐNG ĐÔNG

    Rung nhĩ (fibrillation auriculaire) là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất. Rung nhĩ gây bệnh cho hơn 20 triệu người trên thế giới. Chỉ những tâm nhĩ của tim mới bị liên hệ (các tâm nhĩ đập quá nhanh một cách ít hiệu quả). Những người bị bệnh rung nhĩ có hai điều trị : điều trị nhằm làm giảm tần số tim hay hủy bỏ rung nhĩ, và một loại thuốc khác để ngăn ngừa nguy cơ nghẽn mạch (risque embolique) bằng cách dùng thuốc kháng đông. Những những loại thuốc này không phải là không có nguy cơ xuất huyết. Khi chúng bị chống chỉ định, FDA (cơ quan đánh giá các dược phẩm của Hoa Kỳ) đã cho phép đưa ra thị trường một système implantable cho phép loại bỏ vùng của tâm nhĩ trái (auricule) ở đó 90% các cục máu đông được tạo thành. Phương thức nhằm đưa vào một sonde qua tĩnh mạch đùi : được đưa lên tâm nhĩ phải, nó đi xuyên qua vách dẫn đến tâm nhĩ trái và phóng thích một prothèse “ en parapluie ”, đóng auricule lại. Một công trình nghiên cứu ở 707 bệnh nhân vừa cho thấy rằng kỹ thuật này cũng hiệu quả như các thuốc kháng đông để phòng ngừa những nguy cơ gây nghẽn mạch (embolie) và tử vong với cái giá một tỷ lệ các biến chứng tại chỗ được giảm bớt.
    (PARIS MATCH 14/2 – 20/2/2013)

    10/ CÁC STENT CÓ THỂ THAY THẾ HOÀN TOÀN MỔ BẮT CẦU TIM (PONTAGE CARDIAQUE)?

    Professeur Daniel Loisance
    Chirurgien cardiaque
    Membre de l’Académie nationale de médecine.


    Quote:
    NHỮNG CƠN SỐ

    100.000 hoặc hơn : Số những bệnh nhân được điều trị ở Pháp bằng sự thiết đặt stent.

    25.000 bệnh nhân được điều trị bằng mổ bắt cầu (pontage) ở Pháp.

    38% những trường hợp tử vong ở Pháp là do các bệnh tim mạch.

    56.102 người được nhập viên ở Pháp năm 2008 vì một nhồi máu cơ tim trong đó 66% là đàn ông.


    Cardiologie trong một thời gian lâu đã mang tính chất ngắm nhìn (contemplative), không có khả năng tránh nhồi máu cơ tim và, một tử vong. Ngày nay, các thầy thuốc chuyên khoa tim có những loại thuốc rất có hiệu quả và nhiều kỹ thuật để điều trị những bệnh nhân động mạch vành : các mổ bắt cầu (pontage) đã làm đảo lộn các điều trị của các bệnh nhân trong những năm 1970 và, từ những năm 1980, các stent, những lò xo nhỏ mà ta có thể đưa vào trong một động mạch vành bằng cách chỉ cần chọc vào một động mạch ở bẹn hay ở cánh tay, để điều chỉnh một hẹp động mạch vành, chịu trách nhiệm cơn đau thắt ngực hay, tệ hại hơn, nhồi máu cơ tim. Do tính chất đơn giản của nó, kỹ thuật này (stenting) đã nhanh chóng cạnh tranh với mổ bắt cầu các động mạch vành (pontage des artères coronaires), can thiệp ngoại khoa luôn luôn nặng nề và phức tạp, thường chịu trách nhiệm một sự mệt mỏi lớn và một sự ngừng hoạt động kéo dài, đó là chưa nói đến nguy cơ bị các biến chứng, thậm chí tử vong.

    Nhưng sự thiết đặt một stent trong một động mạch vành cũng không phải là một động tác vô hại. Stent có thể chịu trách nhiệm trực tiếp những biến chứng nặng : tắc đột ngột động mạch vành do sự tạo thành các cục máu đông bên trong stent, với chết đột ngột ; tắc mới xảy ra từ từ ở động mạch, do sự phát triển một sẹo tăng sinh, buộc phải đặt một stent mới. May mắn thay, những tiến bộ đáng kể, được thực hiện từ những năm 1990 về sự dung nạp đối với vật lạ là stent này, đã cho phép một sự cải thiện ngoạn mục những kết quả của kỹ thuật. Tiến bộ nổi bật hơn dĩ nhiên là sự hiệu chính, trong những năm 2000, những stent được gọi là “ couvert ” (được bọc), cho phép phân tán những hoạt chất, được phóng thích dần dần từ bề mặt của treillis métallique, nên làm giảm nguy cơ tạo thành những cục máu đông và tạo điều kiện cho sự hóa sẹo tốt.

    Tuy nhiên, ngày nay, stent không phải luôn luôn là giải pháp vạn ứng, như đã chứng tỏ điều đó những công trình nghiên cứu lâm sàng so sánh. Những công trình này đã cho phép đánh giá tỷ lệ sinh tồn và những biến chứng (hẹp trở lại, nhồi máu cơ tim) trong những nhóm đồng nhất các bệnh nhân được hưởng những điều trị khác nhau. Thật vậy, những loại thuốc mới càng ngày càng hiệu quả đã xuất hiện, hạn chế sự cần thiết phải can thiệp. Nhất là, mổ bắt cầu động mạch vành (pontage coronarien) đã có những kết quả được cải thiện một cách đáng kể do sử dụng những động mạch thay vì những tĩnh mạch, do hiệu chính những can thiệp với tim tiếp tục đập (interventions à coeur battant), bằng những đường xẻ nhỏ, do những tiến bộ của các kỹ thuật gây mê và hồi sức : những nguy cơ bị những biến chứng tức thời đã được thu giảm một cách đáng kể và những kết quả rất lâu dài vẫn rất tốt.

    Dẫu sao phải biết rằng sự tái tạo động mạch vành, dầu bằng cách đặt stent hay bằng mổ bắt cầu (pontage), chỉ có ý nghĩa ở một bệnh nhân biết căn bệnh của mình và làm những cố gắng cần thiết để thật sự kiểm soát những yếu tố nguy cơ. Mổ bắt cầu (ponter) hay đặt stent (stenter) một bệnh nhân từ chối ngừng hút thuốc là một điều vô nghĩa, không những đối với bệnh nhân này mà còn đối với tập thể, phải trả giá cho một thái độ khinh xuất. Một khi điều kiện tiên quyết này được chấp nhận, chỉ có sự đánh giá theo từng trường hợp mới có thể cho phép lựa chọn kỹ thuật tối ưu : chỉ dùng thuốc, stents hay pontages.

    LỰA CHỌN TỐT NHẤT

    Phải tính đến bệnh sử của bệnh nhân (tính chất thâm niên của bệnh động mạch vành của bệnh nhân, những tiền sử nhồi máu), những đặc điểm chung(tuổi tác, trọng lượng, sự hiện diện của các bệnh liên kết), tình huống cardiologique (mức độ trầm trọng của đau và sự đáp ứng với điều trị bằng thuốc, tình trạng của tâm thất). Cuối cùng, sự lựa chọn điều trị tốt hơn sẽ dựa vào những đặc điểm chính xác của các thương tổn động mạch vành, sự phân bố của chúng trên những đoạn khác nhau của mạng động mạch vành, số lượng, hình thái chính xác của chúng.

    Như thế, một bệnh nhân chỉ có một thương tổn duy nhất và khu trú, nhất là trên một nhánh động mạch phụ, sẽ được điều trị bằng thuốc cũng như bằng sự thiết đặt một stent. Ngược lại, nếu ta gặp nhiều thương tổn, phức tạp, lan rộng trên cả một mạng động mạch vành, tốt hơn ta sẽ dùng phương pháp ngoại khoa : sự thực hiện những mổ bắt cầu trên những động mạch khác nhau đảm bảo một kết quả đồng thời hoàn chỉnh hơn đồng thời lâu bền hơn so với việc đặt nhiều stent.

    Giữa hai thái cực này, đó là sự bàn bạc giữa thầy thuốc chuyên khoa tim và nhà phẫu thuật, đồng thời xét đến toàn bộ bệnh nhân, tốt hơn trong những trung tâm dành cho điều trị bệnh động mạch vành, sẽ xác định giải pháp tốt hơn đối với bệnh nhân : stent hay pontage, hay can thiệp phối hợp hai kỹ thuật, với pontage trên động mach chủ yếu và stenting trên những động mach phụ trong cùng séquence opératoire.

    Ngày nay, ở Pháp, hơn 100.000 bệnh nhân được điều trị bằng cách thiết đặt stent, nhưng vẫn còn 25.000 được điều trị tốt hơn bằng mổ bắt cầu (pontage). Ta có thể nghĩ rằng những tiến bộ kỹ thuật mới sẻ cải thiện sự dung nạp và tính hiệu quả của các stent, như thế làm giảm hơn nữa những chỉ định mổ bắt cầu động mạch vành. Những stent, được sử dụng một cách đúng đắn, sẽ có nhiều tương lai hơn.
    (LE FIGARO 7/1/2013)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (2/3/2013)



    Xem Thêm TSYH các số cũ hơn:

    Edited by user Saturday, March 2, 2013 8:36:34 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #9 Posted : Sunday, March 10, 2013 12:16:39 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 299

    CHUYÊN ĐỀ RHUMATOLOGIE

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ CỔ : NẠN NHÂN ĐẦU TIÊN CỦA ĐỜI SỐNG VĂN PHÒNG.

    Quote:
    NHỮNG RỐI LOẠN LIÊN KẾT VỚI TÌNH TRẠNG BẤT HOẠT ĐỘNG Ở VĂN PHÒNG
    • Trạng thái căng cơ cổ (tension cervicale) : Đau ở cổ (cervicalgie) có thể lan xuống hai vai.
    • Viêm gân của các các cơ xoay của vai (Tendinite de la coiffe des rotateurs de l'épaule) : Viêm nhiều dây gân của vai gây đau và làm giảm biên độ của các cử động.
    • Epotrochléite /Epicondylite : Viêm các dây gân gấp và duỗi của bàn tay và các ngón tay.
    • Viêm gân (các bàn tay và ngón tay) : viêm của các dây gân hay các bao gân, gây đau trong cổ tay và/hoặc cánh tay.
    • Syndrome de la loge de Guyon : đè ép dây thần kinh trụ, có thể gây tê cóng hai ngón cuối.
    • Syndrome du canal carpien : đè ép dây thần kinh giữa trong canal carpien, gây tê cóng hay đau ở 3 ngón tay đầu.
    • Đau lưng (Lombalgie) : đau cơ-xương khu trú trong cột sống thắt lưng.
    • Hygroma du genou : sưng bao hoạt dịch (bourse séreuse) gây đau và sưng mặt trước của đầu gối.

    Để tránh những rối loạn cơ xương (TMS : trouble musculo-squelettique) lúc lao động, điều quan trọng là biết tổ chức những lúc nghỉ ngắn.

    POSTURE. “ Ở văn phòng, trái với điều ta hằng nghĩ, những rối loạn cơ-xương là do tình trạng không hoạt động (inactivité) ”, Yves Roquelauren giáo sư y khoa lao động thuộc CHU d'Angers và giám đốc của Laboratoire d'ergonomie et d’épidémiologie về y tế lao động đã nhấn mạnh như vậy. Thí dụ khi nhìn chằm chằm trên một màn ảnh, những căng cơ (tensions musculaires) xuất hiện trong cổ, bị bất động quá lâu, và gây triệu chứng đau cổ (cervicalgie), đứng hàng đầu của những rối loạn cơ-xương ở văn phòng. Ở Pháp những rối loạn cơ-xương là những bệnh nghề nghiệp được indemnisé nhất bởi Sécurité sociale. Viện theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire) chỉ rằng con số những trường hợp rối loạn cơ xương được nhân lên 10 lần trong 10 năm qua, đồng thời ghi nhận một tỷ lệ quan trọng những trường hợp không được khai báo. Có ít con số détaillé ở quy mô quốc gia, nhưng những nghiên cứu vùng cho phép có một hình ảnh chính xác hơn về những rối loạn này, ảnh hưởng chủ yếu các nam nữ công nhân, nhưng đứng hàng hai là những nhân viên (employé), và chủ yếu, theo một công trình nghiên cứu được thực hiện trong Bouches-du-Rhône, những nhân viên của Administration publique.

    Ở văn phòng, những rối loạn cơ-xương chủ yếu ảnh hưởng lên cổ, vai, cổ tay và bàn tay. “ Vị trí của đôi mắt xác định tư thế của mặt và cổ, GS Roquelaure đã nhắc lại như vậy. Nếu công việc cần dùng nhiều thị giác để được chính xác, ta bất động cổ, đôi khi nhiều giờ liên tiếp.” Vậy đau cổ thường gặp ở những nghề nghiệp đòi hỏi sự chính xác như ngoại khoa hay may trên máy, nhưng cũng khi lao động cần sự sử dụng một écran.

    Một phần tư trong số những người có một việc làm ở văn phòng như thế kêu đau ở cổ. Việc sử dụng những điện thoại “ thông minh ” (smartphone) và những tablette numérique với những écran có kích thước nhỏ, dường như làm gia tăng tần số loại đau cổ này, nhất là những loại máy này cũng thường được sử dụng ở nhà. Các nhà nghiên cứu đã có thể quan sát rằng không phải cường độ của sự gắng sức được đòi hỏi lên các sợi cơ khiến làm dễ sự xuất hiện những rối loạn này mà là sự thiếu nghỉ : các sợi cơ bị kích thích một cách thường trực. Những bảng câu hỏi cũng cho thấy rằng đau được cải thiện vào cuối tuần hay khi ta thay đổi hoạt động.

    Mặt khác, vài người dễ bị những rối loạn này hơn, khi cơ của họ không co lại một cách đồng nhất. “ Trong vài trường hợp, chỉ một số nhỏ các sợi cơ bị kích thích khi tư thế không thay đổi. Khi đó những sợi cơ này đóng vai trò những sợi “cendrillon” : chúng bắt đầu làm việc sớm và dừng lại muộn ”, GS Roquelaure đã xác nhận như vậy. Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, những sợi cơ này không còn giãn nữa và chịu trách nhiệm những co cứng (contracture) và đau quan trọng. Stress cũng là yếu tố gia trọng đối với những triệu chứng đau cổ này, bởi vì nó làm dễ sự căng cơ vùng cổ và vai, điều này đôi khi mang lại một dimension psychologique cho những rối loạn này, không đủ giải thích chúng hay điều trị chúng.

    BIẾN ĐỔI TƯ THẾ LÚC LAO ĐỘNG.

    Chỉ cần những ngừng nghỉ ngắn, hoạt động, 5 phút mỗi giờ cũng đủ cho phép các sợi cơ “ bắt đầu lại từ số không ”. Đứng dậy, bước vài bước để thay đổi tư thế có thể đủ. Khi không thể thực hiện những ngừng nghỉ thật sự, phải nghĩ đến việc biến đổi tư thế lao động (posture de travail) : làm việc đứng, định hướng écran một cách khác nhau để thay đổi vị trí của đôi mắt, của cổ và của đôi vai hay để luân phiên những cử động của các cánh tay bằng cách sử dụng con chuột và những raccourcis claviers.Vài logiciel (RSIGuard, MUSKA TMS) cho phép phòng ngừa những rối loạn cơ xương bằng cách nhắc nhở người sử dụng thay đổi tư thế, bằng cách chỉ những bài tập để huy động các cơ hay những mẹo để làm thay đổi những động tác được thực hiện tại nơi làm việc.

    Khi các triệu chứng đau xuất hiện, và khi những sợi cơ mất đi khả năng giãn, các rối loạn có thể khuếch tán trong khắp các chi trên. Việc săn đuổi những thời gian chết, càng ngày càng hiện diện trong tất cả các loại công việc là một yếu tố quan trọng làm gia tăng những bệnh lý này, GS Roquelaure giải thích như vậy. Người ta càng ngày càng cảm thấy tội lỗi khi họ sử dụng thời gian nghỉ.” Tuy vậy đó không phải là thời gian vô ích, và những rối loạn cơ-xương có những hậu quả lên lao động và là một phí tổn quan trọng đối với xí nghiệp và tập thể. Vậy sự phòng ngừa nhằm thiết đặt những chiến lược tập thể, được tổ chức ở quy mô xí nghiệp.
    (LE FIGARO 11/2/2013)

    2/ THAY ĐỔI TƯ THẾ ĐỂ BẢO VỆ LƯNG

    “ Phải nghĩ đến việc bảo vệ lưng mình ở văn phòng, tư thế ngồi kéo dài có thể gây nên những triệu chứng đau lưng (lombalgie) đôi khi trầm trọng ”, BS Charles Msika, thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình ở Paris, hội viên của Société française de chirurgie orthopédique et traumatologique, đã nhắc lại như vậy. Một công trình nghiên cứu được thực hiện ở những người ăn lương của Pays de la Loire cho thấy rằng hơn một nửa những người này kêu đau lưng do làm việc.

    Cũng như đối với những triệu chứng đau cổ (cervicalgie), lao động ở nhà máy là nguyên nhân hàng đầu nhưng những nghề văn phòng là nguồn gốc của một phần lớn những đau lưng (lombalgie) được khai báo. Tư thế ngồi bất động gây nên những đè ép cột sống, với những hậu quả lên các đĩa đốt sống.

    Mặt khác, tình trạng bất động làm mất vận động (démobiliser) các cơ của lưng, chuyển những chức năng nâng đỡ lên cột sống và làm cho lưng nhạy cảm hơn đối với các chấn thương. Dimension psychosociale mặt khác không được xem nhẹ, những điều kiện lao động có một ảnh hưởng quan trọng lên các triệu chứng đau trên toàn bộ cột sống.

    Vậy điều đặc biệt quan trọng là thay đổi một cách đều đặn tư thế sau bureau của mình, đứng dậy để vận động toàn cơ thể và tổ chức poste de travail để làm dễ sự vận động (mobilité). Thay đổi và một cách đều đặn vị trí của imprimante có thể, thí dụ, tránh xoay thân mình theo cùng một hướng, điều này có thể gây nên những co rút đau đớn (contracture douloureuse). Thực hiện một cách đều đặn những động tác kéo giãn (étirements) cũng cho phép chống lại khuynh hướng tự nhiên co rúm lại của cơ thể nếu không được đòi hỏi sử dụng.

    THỰC HÀNH THỂ THAO

    “ Con người là một người thợ săn (chasseur), không chịu đựng được tình trạng bất động hiện đại, GS Yves Roquelaure, giáo sư y khoa lao động thuộc CHU d’Angers đã nhắc lại như vậy. Sự thực hành một sport d’entretien mang lại một câu trả lời cho nhiều vấn đề, ngay cả trước khi nhìn tư thế lúc lao động. ” Thật vậy tình trạng nhàn rỗi không hoạt động có nhiều hậu quả lên toàn bộ cơ thể, nhiều công trình nghiên cứu từ nay đã cho thấy rằng hoạt động vật lý có lợi để ngăn ngừa rất nhiều bệnh lý. Hoạt động vật lý cho phép duy trì những chức năng nâng đỡ của khung xương và các cơ, đặc biệt chung quanh cột sống. “ Sự nhàn rỗi không hoạt động ngăn cản culture posturale và không cho phép tạo những thói quen tư thế tự nhiên nhằm bảo vệ lưng ”, BS Msika đã nhắc lại như vậy.

    Từ nay những con số dường như khá không thay đổi đối với những chứng đau lưng (lombalgie) do lao động, nhưng trong những năm qua, các công trình nghiên cứu đã cho phép chứng thực một sự gia tăng của các biến chứng của lombalgie, với những hậu quả lên đời sống nghề nghiệp của các bệnh nhân. Tuy vậy một cách nghịch lý, sự gia trọng này thường là do sự kiện rằng các bệnh nhân kêu vang ngày càng chậm, do sợ mất việc, với những tình huống đã thành hình mà hậu quả đầu tiên là phải nghỉ việc ngày càng nhiều và ngày càng kéo dài. Sự phòng ngừa do đó vẫn là công cụ hiệu quả nhất để phòng ngừa những hậu quả cá nhân và tập thể của những lombalgie này.
    (LE FIGARO 11/2/2013)

    3/ SYNDROME DU CANAL CARPIEN : LAO ĐỘNG HIẾM KHI LÀ NGUYÊN NHÂN

    Những cảm giác kiến bò trong bàn tay và một sự mất cảm giác của các ngón tay đánh thức bệnh nhân vào lúc giữa đêm : đó là những triệu chứng đầu tiên của syndrome du canal carpien, gây bệnh cho khoảng 3 phụ nữ trên một ngàn và một người đàn ông trên một ngàn người. Khi canal carpien hẹp lại, nó có thể đè ép và kích thích dây thần kinh giữa (nerf médian) nằm trong đó và gây nên những triệu chứng như thế, có thể gia trọng nếu dây thần kinh mất tất cả các chức năng.

    Vậy đó là một bệnh thường xảy ra mà không có một nguyên nhân nào được biết rõ trong đại đa số các trường hợp. Tuy nhiên vài yêu tố có thể làm dễ hay làm gia tốc sự xuất hiện của hội chứng này, như bệnh đái đường, vài bệnh lý hay vài động tác lặp đi lặp lại, thường nhất do lao động. Đó là lý do tại sao đôi khi thầy thuốc khiến phải đánh giá ảnh hưởng của poste de travail lên sự xuất hiện của hội chứng.

    Những thay đổi kích thích tố đóng một vai trò quan trọng và nhiều trường hợp syndrome de canal carpien tạm thời xảy ra trong thai nghén và biến mất một cách ngẫu nhiên sau khi sinh.

    Như Bộ Y Tế đã chỉ rõ, trong đại đa số các trường hợp chẩn đoán chỉ dựa vào thăm khám lâm sàng. “ Trong 9 trường hợp trên 10, sự sử dụng điện cơ đồ (électroneuromyogramme), mặc dầu được thực hiện rộng rãi, nhưng không cần thiết ”, GS Christophe Oberlin, thầy thuốc chuyên khoa ngoại bàn tay thuộc bệnh viện Bichat (Paris) đã xác nhận như vậy và tố cáo những tốn kém vô ích của hệ thống y tế của chúng ta.

    NHỮNG ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN.

    Những trường hợp chữa lành ngẫu nhiên xảy ra trong khoảng 30% các trường hợp, điều này giải thích tại sao, đối với những trường hợp ít nghiêm trọng nhất, nên bắt đầu bằng những điều trị bảo tồn : tiêm ngấm (infiltration) corticoides và/hoặc orthèse có thể đủ để làm thuyên giảm các bệnh nhân. Những phương pháp này cũng cho phép giúp các bệnh nhân trong khi mang thai, trong trường hợp hoạt động gia tăng tạm thời khi làm việc hay khi chờ đợi một can thiệp ngoại khoa.

    Điều trị ngoại khoa của syndrome du canal carpien là một can thiệp thường gặp ở Pháp, đã phát triển rộng rãi cuối những năm 1990, chuyển từ 9537 trường hợp mổ năm 1995 lên 142.405 vào năm 2005. Phẫu thuật nhằm cắt một dây chằng nằm dưới da, nhờ thế giải phóng các cấu trúc trong canal carpien. “ Đó là một can thiệp đơn giản, kéo dài khoảng 5 phút ”, GS Oberlin đã nhấn mạnh như vậy. Ông nói thêm rằng một gây tê tại chỗ cũng đủ và rằng, rất thường, một gây tê tại chỗ-vùng (anesthésie loco-régionale), tốn kém hơn và cần sự can thiệp của một thầy thuốc chuyên khoa gây mê, được thực hiện.

    Can thiệp làm thuyên giảm bệnh nhân nhưng sự thành công lâu dài tùy thuộc vào tình trạng dây thần kinh lúc can thiệp, nhưng cũng tùy thuộc vào chất lượng của sự phục hồi. Nếu dây thần kinh vẫn còn hoạt động, sự phục hồi chức năng cho phép tìm lại một cách nhanh chóng một chức năng bình thường của một bàn tay không triệu chứng. Vậy bàn tay phải được cử động một cách rất nhanh chóng và các phẫu thuật viên thường phải lựa chọn can thiệp cùng lúc trên cả hai bàn tay để ngăn cản bệnh nhân có khuynh hướng chỉ sử dụng bàn tay valide !
    (LE FIGARO 11/2/2013)


    4/ CÓ NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI CHO BỆNH VIÊM GÂN ?

    Docteur Patrick Le Goux
    Rhumatologue
    Service de rhumatologie et de chirurgie orthopédique
    Hôpital Ambroise-Paré Boulogne-Billancourt


    Các dây gân (tendon) là courroie mécanique de transmission nối cơ với những khớp khác nhau của khung xương, như thế cho phép những khớp này cử động. Sự xuất hiện một viêm gân (tendinite), đau một dây gân với sự hiện diện của những thương tổn do những vi chấn thương liên tiếp khi thực hành thể thao (tennis, chạy bộ) hay những động tác của đời sống hàng ngày, là thường gặp. Có những yếu tố khác như sự lão hóa, và chúng có thể ảnh hưởng mọi cá nhân sau 50 tuổi, đôi khi trước đó. Những dây gân bị thương tổn nhất là những dây gân của vai (coiffe) đôi khi với sự hiện diện của những vôi hóa (calcifications), các cùi chõ, đầu gối hay cả chân sau (arrière-pied) (dây gân Achille). Hiếm hơn, một viêm gân có thể đi kèm một phong thấp viêm (rhumatisme inflammatoire) (thí dụ sưng bao gân của các bàn tay trong viêm đa khớp dạng thấp).

    Sự xử trí điều trị các viêm gân đã tiến bộ trong những năm qua, nhờ những tiến bộ trong lãnh vực thăm dò chụp hình ảnh như siêu âm hay chụp cộng hưởng từ (IRM). IRM, được thực hiện trong những thể kéo dài (từ hai đến 3 tháng) mặc dầu được cho nghỉ ngơi, cho phép không những đánh giá những thương tổn dây gân mà còn tình trạng xương và khớp kế cận nơi bám của dây gân. Về siêu âm, được thực hiện sớm hơn bởi vì dễ tiếp cận hơn, nó cho phép hiểu tốt hơn bản chất của thương tổn được gợi lên bởi thăm khám lâm sàng và xác nhận tính chất mới xảy hay mãn tính của viêm gân.

    Hai thăm dò này sẽ xác định, thi dụ : ở cùi chõ, một sự dày lên đơn thuần của tendon épicondylien, hay một vết rách chứng tỏ một giai đoạn tiến triển hơn ; ở gót chân, hoặc là một viêm quanh gân (péritendinite) của dây gân Achille, hoặc là những thương tổn dạng hòn (lésions nodulaires), hoặc là những thương tổn của chỗ bám của dây gân trên xương gót chân.

    Siêu âm cho phép thấy thương tổn tiến triển và được sửa chữa như thế nào bằng cách tìm kiếm một sự gia tăng của nhiệt tại chỗ (hyperémie), tín hiệu được tìm thấy ở Doppler chứng tỏ sự hiện diện của một néovascularisation trong lòng của dây gân.

    Như thế, trong mục đích làm dễ sự hóa sẹo của các thương tổn của các đây gân, trên thực hành hiện nay ta nhận dạng 3 loại điều trị đổi mới có ảnh hưởng tại chỗ : thứ nhất, vài kỹ thuật phục hồi chức năng với những bài tập nhắm đích (exercices ciblées) có một hiệu quả cơ học dương tính lên dây gân bằng cách làm khởi phát vascularisation ở nơi thương tổn. Protocole của Stanish, được biết từ nhiều năm qua, cho những kết quả rất tốt. Đó là những bài tập kéo giãn (exercce d’étirement) phối hợp với một reforcement musculaire cho phép dây gân tìm lại một chức năng bình thường lúc gắng sức, thí dụ dây gân Achille liên quan trực tiếp với bắp chân.

    Điều trị đổi mới thứ hai, những onde de choc cũng có một tác động vật lý cơ học với hiệu quả thuận lợi lên sự phân bố mạch (vascularisation) và sự hóa sẹo của các dây gân. Trong rhumatologie và médecine de sport, ta sử dụng những onde de choc radiale, phát tại chỗ và có năng lượng trung bình, để điều trị những dây gân của vai và cùi chõ nhưng chủ yếu là các dây gân Achille và các chứng đau do cân lòng bàn chân (aponévrose plantaire). Những onde de choc này được sinh ra bởi những xung động (impulsions) kế tiếp nhau, được truyền vào dây gân được điều trị qua trung gian một pièce được đặt tiếp xúc với da ở chỗ thương tổn : khoảng 2000 cú được phát ra trong vài phút cho mỗi séance (tối đa 6 séances). Tại chỗ một sự phóng thích các chất chống đau được phát khởi, cũng như một cơ chế sửa chữa dây gân.

    Sau cùng, cái rất mới là thực hiện những mũi tiêm huyết thanh giàu tiểu cầu hay PRP (plasma riche en plaquettes), trích chất của máu lấy trên chính bệnh nhân và sau khi quay ly tâm, được tiêm trở lại trong dây gân bị thương tổn. Những mũi tiêm này, được thực hiện trong môi trường chuyên môn dưới sự kiểm soát của siêu âm, có một tính vô hại thật sự và gây nên một quá trình sửa chữa thỏa mãn các dây gân bị thương tổn nhờ các yếu tố tăng trưởng được chứa trong các tiểu cầu. Những đánh giá luôn luôn đang được tiến hành để chuẩn nhận những điều trị này, đặc biệt với một công trình nghiên cứu được kiểm chứng : tiêm PRP so với tiêm huyết thanh sinh lý.

    Nguyên tắc tiêm PRP trong các trường hợp viêm gân cấp tính hay mãn tính là một giải pháp thay thế cho những tiêm ngấm corticoides ; những infiltration này mặc dầu có một tác dụng giảm đau nhất thời nhưng không đảm bảo một sự hóa sẹo tốt các thương tổn và do đó chữa lành chúng.

    Tuy nhiên những câu hỏi được đặt ra về tính biến thiên của các phương pháp làm phong phú các tiểu cầu của huyết thanh (enrichissement en plaquettes du plasma), dung lượng và nồng độ tối ưu các yếu tố tăng trưởng, số lý tưởng những lần tiêm phải được thực hiện (2 đến 3) cũng như kỹ thuật được theo : criblage du tendon hay tiêm một lần duy nhất (“ one-shot ”).

    Sau cùng, vài sản phẩm như acide hyaluronique, đã được sử dụng rộng rãi bằng cách tiêm vào khớp để điều trị hư khớp, bắt đầu được trắc nghiệm bằng cách tiêm vào dây gân trong những trường hợp viêm gân.
    (LE FIGARO 18/2/2013)

    5/ NGHĨ GÌ VỀ NHỮNG ĐIỀU TRỊ NỀN CHỐNG HƯ KHỚP NĂM 2013 ?

    Professeur Francis Berenbaum
    Chef du Service de Rhumatologie
    Hôpital Saint-Antoine


    Mặc dầu bệnh hư khớp (arthrose) là một bệnh ảnh hưởng lên hàng triệu người ở Pháp, nhưng bất hạnh thay ngày nay bệnh vẫn không thể chữa lành được. Ta thường biểu hiện bệnh hư khớp dưới dạng một bà rất già, co rúm lại trên chiếc gậy của mình trong khi đó ngày nay gương mặt của bệnh hư khớp đã thay đổi nhiều. Sự gia tăng đáng sợ của thể trọng và do đó của chứng béo phì trong những quần thể thuộc mọi lứa tuổi đã làm trẻ hóa một cách đáng kể căn bệnh này. Ngoài ra sự gia tăng thời gian rổi trong những xã hội hiện đạicủa chúng ta gây nên một sự quan tâm trở lại những hoạt động vui chơi và thể thao có nguy cơ gây chấn thương khớp, trực tiếp hay gián tiếp bởi những ngoại khoa khớp mà chúng mang lại, lót đường cho bệnh hư khớp. Ngày nay không phải là hiếm quan sát những hư khớp tiến triển của đầu gối ngay ở tuổi 40 !

    Vậy những trông chờ của một điều trị hiệu quả không hề giống như trước đây vì lẽ căn bệnh này từ nay gây bệnh một cách đều đặn cho những bệnh nhân đang trong thời kỳ hoạt động nghề nghiệp hay những người về hưu còn trẻ háo hức lợi dụng du lịch hay bắt đầu những hoạt động vật lý mới. Bất hạnh thay chúng ta không có (chưa có) những điều trị thuốc có khả năng làm chậm lại sự phá hủy khớp, nhưng may mắn thay chúng ta có một palette những điều trị có khả năng làm giảm đau và sự trở ngại chức năng do căn bệnh này. Điều đó sẽ cho phép trì hoãn việc đặt toàn bộ khớp giả (prothèse totale articulaire), thường được xem như là giải pháp nhiệm màu nhưng tuy vậy có những hạn chế của nó vì lẽ trong 10 đến 20% các trường hợp triệu chứng đau vẫn dai dẳng, mà nguyên nhân vẫn chưa được hiểu rõ.

    Do đó mục tiêu của điều trị hiện nay là làm giảm tối đa những triệu chứng đau và sự trở ngại cơ năng. Để đạt mục tiêu này ta có nhiều điều trị thuốc. Một vài được dùng bằng đường miệng, những loại thuốc khác được tiêm vào trong khớp. Vài loại thuốc tác dụng một cách nhanh chóng nhưng với một tính hiệu quả ngừng lại vài giờ sau khi sử dụng. Đó là trường hợp của paracétamol, những thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) (cũng có thể được sử dụng dưới dạng crème, gel hay patch) và những dẫn xuất opioide mạnh hay nhẹ (thí dụ tramadol). Đó cũng là trường hợp của các corticoides được tiêm vào trong khớp, rất có hiệu quả trong trường hợp bộc phát viêm nhưng tác dụng chỉ kéo dài vài ngày đến vài tuần. Những điều trị triệu chứng khác tác dụng chậm hơn với một hiệu quả có thể kéo dài nhiều ngày sau khi dùng. Đó là lý do tại sao những điều trị này được gọi là những “ điều trị nền ” (traitements de fond). Họ thuốc này gồm những biệt dược có chất cơ bản là glucosamine, chondroitine, những insaponifiables d’avocat et de soja, diacerhéine. Đó là những điều trị có tác dụng chậm, tác động duy nhất lên các triệu chứng vì lẽ ngày nay không có đủ bằng cớ để cho rằng chúng làm chậm sự phá hủy sụn liên kết với bệnh hư khớp. Tính hiệu quả của những điều trị triệu chứng có tác dụng chậm này vẫn được tranh luận trong y liệu. Chúng có ưu điểm chỉ gây nên ít hoặc không có những tác dụng phụ

    Acide hyaluronique tiêm vào khớp cũng là một bộ phận của những điều trị triệu chứng được gọi là “ nền ” này, lại nữa không được chứng minh về tính hiệu quả lên một sự làm chậm lại lên sự hủy hoại khớp. Điều trị này được thực hiện bằng một hay 3 mũi tiêm cách nhau một tuần. Hiệu quả có thể kéo dài 6 tháng thậm chí một năm.

    GIÁO DỤC TRỊ LIỆU

    Nhưng không nên quên rằng những điều trị thuốc này thường chỉ có một tính hiệu quả hạn chế và chỉ có ít lợi ích nếu chúng không được phối hợp với những điều trị được gọi là “ không dược lý ”, nghĩa là không dựa vào thuốc. Ngày nay ta nhấn mạnh nhiều vào sự thực hiện một hoạt động vật lý đều đặn. Hoạt động này có ưu điểm hạn chế những cứng khớp. Ngoài ra, những chương trình hoạt động vật lý này cũng làm dễ sự mất cân, từ nay là một yếu tố nguy cơ được biết rõ của hư khớp gối, và trong một mức độ ít hơn, của hư khớp háng và của các bàn tay.Những chương trình hoạt động vật lý này có thể được bắt đầu bởi một kinésithérapeute. Việc mang những orthèse (semelles plantaires, genouillère, orthèse của ngón cái…), một canne (trong trường hợp cơn bộc phát của hư khớp gối hay háng), vật lý trị liệu (physiothérapie) và crénothérapie (cures thermales) cũng có thể giúp làm thuyên giảm đau và cứng khớp.

    Như thế, trong lúc chờ đợi sự xuất hiện của những điều trị nền thật sự (nghĩa là có khả năng làm chậm lại sự thoái biến khớp), có lẽ sinh ra từ những nghiên cứu thí nghiệm đang được tiến hành, phải khuyến khích giáo dục trị liệu những bệnh nhân để giải thích rõ với họ làm sao phối hợp những biện pháp dược lý và không được lý này.
    (LE FIGARO 15/2/2013)

    6/ NHỮNG GIẢI PHÁP NÀO ĐỐI VỚI HƯ KHỚP CỔ

    Professeur Jean-Louis Husson
    Service de chirurgie orthopédique et traumatologique

    CHU Rennes
    Membre de l’Académie nationale de chirurgie.

    Docteur Florian Cueff
    Service de chirurgie orthopédique et traumatologique
    CHU Rennes


    Hư khớp cổ (cervicarthrose hay arthrose cervicale) là một bệnh lý thoái hóa (pathologie dégénérative), do đó được liên kết với sự lão hóa. Bệnh hư khớp cổ là nguyên nhân của triệu chứng đau cổ (cervicalgie) riêng rẻ hay kết hợp với đau cánh tay (douleurs brachiales) (névralgie cervico-brachialgie).

    Mọi thương tổn khớp cổ gây nên một sự co cứng cơ (contracture musculaire) sinh đau và là nguồn duy trì thương tổn ban đầu. Chẩn đoán dựa vào một sự hỏi bệnh chi tiết. Ta cố gắng khiến bệnh nhân xác định những dấu hiệu quan trọng cho phép loại bỏ những chẩn đoán đau cổ nghiêm trọng hơn, thứ phát một bệnh lý viêm hay u.

    Thăm khám vật lý được thực hiện thành nhiều giai đoạn. Một thăm khám ấn chẩn cột sống cổ và sự phân tích những cử động của nó là cần thiết. Bắt buộc liên kết một thăm khám vật lý các vai, cột sống ngực và thần kinh của các chi trên. Những thăm khám phụ được hướng dẫn bởi sự nghi ngờ lâm sàng, nhưng thường trước hết thực hiện chụp X quang chuẩn (mặt, nghiêng và ¾). Trong trường hợp nghi ngờ đau cổ thứ phát (cervicalgie secondaire), một thăm khám sinh học có thể thực hiện. Phải luôn luôn loại bỏ chẩn đoán đau cổ thứ phát (cervicalgie secondaire) trước khi kết luận đó là một đau cổ thông thường (cervicalgie commune).

    Điều trị nhờ đến những biện pháp đơn giản và bảo thủ trong hầu hết các trường hợp. Giai đoạn đau ban đầu có thể được làm giảm bởi những thuốc giảm đau có mức thích ứng với đánh giá thị giác của triệu chứng đau. Những thuốc giảm đau này sẽ được liên kết, nếu không có chống chỉ định, với một thuốc kháng viêm stéroide và với một thuốc giãn cơ (myorelaxant). Mang một collier mousse có thể làm bệnh nhân thuyên giảm.

    Những biện pháp vật lý có thể đến bổ sung điều trị. Mésothérapie và châm cứu điều trị một cách hiệu quả những đau quy chiếu (douleurs référées) trong vùng được chi phối bởi những nhánh thần kinh sau (branches nerveuses postérieures). Sự nhờ đến vật lý trị liệu (kinésithérapie) thường được phối hợp ưu tiên với điều trị thuốc.

    Một điều trị nền (traitement de fond) cho phép tránh những tái phát sớm. Điều trị này dựa vào sự phục hồi chức năng cơ (rééducation musculaire) và những vận động dưới ngưỡng đau (mobilisations infradouloureuses). Bệnh nhân phải lợi dụng giai đoạn này để học những động tác nhằm tiết kiệm (économie) cột sống cổ, phòng ngừa những tái phát và duy trì hàng ngày (entretien quotidien).

    ĐAU DÂY THẦN KINH CỐ-CÁNH TAY

    Về những đau dây thần kinh cổ-cánh tay (névralgie cervico-brachiale), chính đau phát xuất từ cổ và lan theo một vùng nhất định trong chi hay các chi trên. Ở cổ ta phân biệt hai nguyên nhân đè ép thần kinh nguồn gốc thoái hóa : thoát vị đĩa đốt sống mềm (hernie discale molle) và đè ép bởi ostéophyte.

    Một cách cổ điển, bệnh cảnh lâm sàng liên kết một sự giảm các cử động của cổ và đau theo một trajet rễ dây thần kinh nhất định, tận cùng trong các ngón tay. Thường đau có một horaire inflammatoire. Bilan bổ sung liên kết những chụp X quang chuẩn được thực hiện ưu tiên một, nhưng thăm dò cơ bản là chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ (IRM). Điện cơ đồ cho phép một phưong pháp về chất và lượng của thương tổn rễ thần kinh, nhưng, chủ yếu cho phép phân biệt những đau dây thần kinh cổ-cánh tay với những syndrome canalaire, thí dụ như syndrome du canal carpien.

    Điều trị bảo tồn luôn luôn là ưu tiên một ngoài những tình huống cấp cứu như một thiếu sót vận động. Liên kết với điều trị thuốc, y hệt điều trị đau cổ (cervicalgie), là sự phục hội chứng năng bằng cách kéo theo trục (rééducation par traction axiale) và vật lý trị liệu giảm đau (physiothérapie antalgique) được chỉ định. Gần 80% những đau dây thần kinh nguồn gốc cổ được chữa lành bằng một điều trị bảo tồn trong 6 tuần.

    Trong trường hợp thất bại ta có thể để nghị một điều trị ngoại khoa. Những chỉ định ngoại khoa được biện minh trong trường hợp thiếu sót vận động, thất bại điều trị bảo tồn mặc dầu được thực hiện tốt và nhất là có một tương quan tốt quang tuyến-lâm sàng. Những kỹ thuật ngoại khoa thay đổi tùy theo những thói quen của phẫu thuật viên và mức độ lan rộng của các thương tổn. Phần lớn các vấn đề có thể được giải quyết bằng đường mổ trước. Chỉ định thay đổi giữa arthrodèse intersomatique (par cage et greffon osseux) và prothèse totale de disque cervical. Kỹ thuật thứ nhất nhằm thay thế đĩa bị bệnh bằng một cage dùng làm hợp nhất hai thân đốt sống. Kỹ thuật thứ hai có cùng mục tiêu, nhưng đồng thời bảo tồn tính cử động liên đốt sống.
    (LE FIGARO 17/12/2012)

    7/ NHỮNG THƯƠNG TỔN SỤN : NHỮNG HY VỌNG CỦA NHỮNG YẾU TỐ TĂNG TRƯỞNG

    BS Marc Bouvard, giám đốc của centre de biologe et médecine de sport de Pau giải thích tác dụng sửa chữa của điều trị mới này.

    Hỏi : Những thương tổn sụn thường gặp nhất là gì ?
    BS Marc Bouvard:Những thương tổn của đầu gối, của háng và của mắt cá chân. Những thương tổn này có thể do những nguyên nhân khác nhau, như một chấn thương, một sự hao mòn của sụn (hư khớp : arthrose), một sự tăng hoạt động của khớp, một hình thái khớp không hoàn chỉnh. Nguyên nhân dẫn đầu thường gặp nhất : bệnh hư khớp (arthrose) gây bệnh cho 1 triệu người ở Pháp.

    Hỏi : Những triệu chứng nào đặc trưng cho những thương tổn này ?
    BS Marc Bouvard:1. Đau ở khớp gây nên bởi hoạt động : mạnh hơn trong khi hoạt động, giảm hay ngừng khi nghỉ ngơi. 2. Sưng khớp, luôn luôn ở nơi thương tổn, biến thiên theo cùng cách. 3. Khớp bị thương tổn gây nên những craquement lúc thực hiện vài cử động, nhất là khi đi xuống (một mặt dốc hay một cầu thang). Sau một thăm khám lâm sàng, chẩn đoán được xác nhận bởi chụp hình ảnh ; chụp X quang, rồi nếu cần, chụp cắt lớp vi tính khớp (arthroscanner), thăm dò này cho phép thấy được một bất thường dưới 1 milimet !

    Hỏi : Sự xử trí cổ điển của những thương tổn sụn này là gì ?
    BS Marc Bouvard:Ở những thiếu niên, những thương tổn này được gọi là “ ostéochondrite ”, trong đó sụn có thể được tái tạo một cách tự nhiên, đôi khi chữa lành một cách ngẫu nhiên. Đối với tất cả những trường hợp khác, có nhiều phương pháp. Một sự làm chậm hoạt động khớp luôn luôn được chỉ định để có được một sự ổn định của thương tổn, (thí dụ một người chạy marathon mà ta đã phát hiện một hư khớp giai đoạn đầu, sẽ được hướng về môn xe đạp). Trong cùng lúc, khi những thuốc chống đau không có hiệu quả, ta thường kê đơn những thuốc kháng viêm. Ở vài bệnh nhân, cần thực hiện những tiêm tại chỗ acide hyaluronique vào trong khớp. Nhưng những điều trị này, mặc dầu chúng làm thuyên giảm tạm thời nhưng không tái tạo lại sụn. Mặt khác, chúng cần được tiêm nhắc lại một cách đều đặn, do đó phải nghiên cứu một phương thức mới.

    Hỏi : Ta gọi “ những yếu tố tăng trưởng ” là gì ?
    BS Marc Bouvard:Vài yếu tố trong các tiểu cầu máu làm dễ sự tạo thành một cục máu đông sẽ làm dừng sự xuất huyết (hémostase : cầm máu). Nhưng trong những tiểu cầu cũng có những protéine được gọi là “ những yếu tố tăng trưởng ” có tính chất làm phát khởi và tổ chức sự sửa chữa các mô bị thương tổn.

    Hỏi : Điều trị với những yếu tố tăng trưởng để làm gì ?
    S Marc Bouvard. Điều trị được thực hiện thành nhiều giai đoạn : ta tiến hành lấy vài tube máu, mà ta sẽ quay ly tâm để trích lấy huyết thanh giàu các tiểu cầu (PRP : plasma riche en plaquettes). Sau đó, trong những điều kiện vô trùng, ta tiêm huyết thanh này vào trở lại trong khớp. Những yếu tố tăng trưởng gắn vào màng của những tế bào sụn và phát khởi một chuỗi các biến cố sẽ dẫn đến một sự sửa chữa rồi sự hóa sẹo của thương tổn. Khi liệu pháp cổ điển thất bại, ta có thể dùng điều trị này như ưu tiên hai. 3 mũi tiêm cách nhau từ một đến hai tuần nói chung là cần để có được một kết quả đáng kể.

    Hỏi : Cho đến hiện nay làm sao ta đã đo được tính hiệu quả trên sụn của phương pháp mới nhất này ?
    BS Marc Bouvard:Những công trình nghiên cứu mới đây đã được tiến hành trong nhiều nước : ở Ý, Tây Ban Nha, ở Slovaquie… trên hàng trăm bệnh nhân. Những kết quả này, tất cả đều dương tính, được công bố trong các tạp chí khoa học “Arthroscopy ”, “ Rheumatology ”, “The American Journal of Sports Medicine ”, đã được căn cứ trên sự giảm thậm chí sự biến mất của đau và sự cải thiện của chất lượng sống. Với thời gian nhìn lại một năm, những kết luận đều phù hợp và mức độ dung nap đều tốt. Thí dụ trong những trường hợp thương tổn sụn của đầu gối, điều trị mới nhất này đã tỏ ra (sau 3 tháng) hiệu quả hơn điều trị được thực hiện do tiêm acide hyaluronique. Những công trình nghiên cứu này được tiếp tục, những công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành. Chúng tôi chờ đợi những kết quả lâu dài hơn.

    Hỏi : Đối với những thương tổn khác nào ta hy vọng có thể sử dụng những yếu tố tăng trưởng này ?
    BS Marc Bouvard:Cơ sở của những hy vọng quan trọng là những công trình nghiên cứu đang được tiến hành để đánh giá tính hiệu quả của chúng trên những thương tổn gân đề kháng và những thương tổn cơ nghiêm trọng.

    Hỏi : Có những chống chỉ định đối với những liệu pháp này không ?
    BS Marc Bouvard:Có ba chống chỉ định : những rối loạn đông máu do một căn bệnh hay một điều trị. Sự hiện diện của những nhiễm trùng hay các khối u bên cạnh. Sự kế cận của một huyết quản lớn hay của một dây thần kinh.
    (PARIS MATCH 24/1-30/1/2013)

    8/ BỆNH THỐNG PHONG : SỰ XUẤT HIỆN CỦA CÁC THUỐC SINH HỌC

    Rất thông thường, điều trị bệnh thống phong được giới hạn vào điều trị cơn thống phong, duy nhất gây đau đớn. Đó là tấn công vào những triệu chứng của bệnh nhưng không vào nguyên nhân của nó.

    Hạn chế tăng axit uric-huyết (hyperuricémie) và ngăn ngừa một cơn thứ hai khi bệnh thống phong đã xuất hiện trước hết dựa vào sự loại bỏ những thức ăn làm dễ căn bệnh này. “Tệ hại nhất, đó là bia, ngay cả không có cồn, bởi vì bia chứa rất nhiều purine, tiền chất của axit uric (acide urique), GS Thomas Bardin (bệnh viện Lariboisière, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Cũng phải tránh các loại rượu mạnh và hạn chế sự tiêu thụ thịt, cá và fruit de mer, chứa nhiều purine. Nguy hiểm khác, các soda đường và các nước vắt trái cây công nghiệp (jus industriel). Chúng chứa nhiều fructose. Thế mà sự biến đổi fructose thành glucose tiêu thụ nhiều ATP, một phân tử mà sự sản xuất làm gia tăng mạnh uricémie. Một chế độ ăn uống rất nhiều calo cũng có hại bởi vì sinh béo phì, làm gia tăng tăng axit uric-huyết.”

    Thuốc chuẩn trong điều trị cơn thống phong là colchicine, làm giảm viêm và đau. Loại thuốc này không phải luôn luôn được dung nạp tốt trên bình diện tiêu hóa, và có thể gây nhiễm độc : vậy không bao giờ được gia tăng liều lượng. “ Ta cũng có thể sử dụng các thuốc kháng viêm và các corticoides, nhất là bằng tiêm ngấm vào trong khớp ”, vị thầy thuốc đã nói thêm như vậy. Vài bệnh nhân bị bệnh thống phong không đáp ứng với điều trị hay có những chống chỉ định vì suy thận, đái đường hay cao huyết áp. “ Sự khám phá vai trò của một interkeukine (IL1) trong quá trình viêm đã mở đường cho những điều trị sinh học (traitement biologique) bằng kháng thể chống IL-1 (anticorps anti-IL1). Những thuốc này chưa được phép thương mãi hóa ở Pháp nhưng đã được sử dụng ở bệnh viện trong những thử nghiệm để điều trị những trường hợp khó này ”, GS Richette (bệnh viện Lariboisière) đã chỉ rõ như vậy.

    Đối với thầy thuốc chuyên khoa khớp, “ điều trị nền của tăng axit uric-huyết trở nên cần thiết khi bệnh thống phong trở nên nghiêm trọng, nghĩa là khi nó được kèm theo bởi một thương tổn thận (sỏi thận), khi các tophus có thể sờ được hay khi chúng làm hỏng xương, hay sau một cơn thống phong thứ hai ”. Đó là một điều trị kéo dài (traitement au long cours). “ Điều trị này nhằm làm giảm sự tạo thành axit uric, nhờ hai loại thuốc, allopurinol hay fébuxostat. Allopurinol đôi khi gây những dị ứng ở da. Vậy trước hết nó phải được cho với liều lượng rất thấp. Mạnh hơn, fébuxostat cho phép điều trị tốt hơn những bệnh nhân bị suy thận ”. Vào lúc đầu điều trị, một sự hạ đột ngột axit uric-huyết (uricémie) có thể làm phát khởi một cơn thống phong. “ Để tránh điều đó, ta bắt đầu điều trị cách xa một cơn, bằng cách cũng cho một ít colchicine để phòng ngừa nó.”

    Một điều trị khác, pégloticase, đã được sử dụng ở nước ngoài và trong môi trường bệnh viện. Đó là một uricase tổng hợp cho phép làm thoái biến acide urique, nhưng thuốc này chưa được cho phép thương mãi hóa. Những loại thuốc khác, nhằm làm giảm sự tạo thành hay làm gia tăng sự loại bỏ acide urique, đang được phát triển.

    Sự phối hợp điều trị nền (traitement de fond), sự loại bỏ những thức ăn làm dễ tăng axit uric-huyết và sự điều trị những bệnh liên kết khác cho phép bình thường hóa axit uric-huyết (uricémie), làm thoái triển các tophus, và đôi khi ngay cả làm giảm các thương tổn xương. Đối tất cả các chuyên gia, sự giáo dục điều trị bệnh nhân là quan trọng trong sự thành công của điều trị bệnh thống phong và đáng được phát triển.
    (LE FIGARO 10/9/2012)

    9/ ĐAU LƯNG : MỘT CĂN BỆNH DO NHIỀU YẾU TỐ

    “ ĐAU LƯNG ” liên quan đến từ 50 đến 70% dân số. Đó là một trong những nguyên nhân đầu tiên gây nghỉ việc trong lao động. Nếu 95% những trường hợp đau lưng thông thường (lombalgie commune) này được chữa lành trong vài ngày, 5% tiến triển thành đau lưng mãn tính (lombalgie chronique), đau đôi khi ngăn cản trong nhiều tháng sự tái tục công việc. Những yếu tố vật lý, tâm lý và xã hội, thay đổi với mỗi bệnh nhân, khi đó thường phối hợp với nhau : các đĩa đốt sống đôi khi bị hỏng, nhưng cũng có sự thiếu vắng hoạt động vật lý, những khó khăn trong nghề nghiệp, bệnh trầm cảm, ly dị, con ốm..Đối với GS Legrand, “ ngay cả trong trường hợp dây thần kinh tọa do thoát vị đĩa, những yếu tố tâm lý xã hội này có thể được nghi ngờ khi triệu chứng đau dai dẳng trong khi những dấu hiệu vật lý khách quan của dây thần kinh tọa đã biến mất hay đang biến mất ”.

    Điều mà BS Rozenberg diễn tả một cách khác : “ Chúng ta không điều trị một scanner hay một IRM, mà là điều trị một cá thể trong toàn bộ của nó. Một người đang bị tai nạn lao động với một đau dây thần kinh tọa thật sự và một thoát vị đĩa đốt sống, một người cũng đang tranh chấp với ông chủ của mình vì tai nạn lao động này, sẽ lành đau dây thần kinh tọa của mình ít nhanh hơn so với một người không phải sống một xung đột như thế. Đó là tầm quan trọng biết nhận diện những yếu tố tâm lý xã hội liên quan.”

    Các lombalgie có một ảnh hưởng mạnh hơn ở thợ thuyền và công nhân viên so với những nghề nghiệp trung gian và các cán bộ. “ Ít có những công trình nghiên cứu đặc biệt dành cho những đau dây thần kinh tọa do thoát vị đĩa, nhưng chúng chỉ rõ một một nguy cơ hơi cao hơn đối với những hoạt động đòi hỏi những tư thế vẹo (posture de torsion) hay chịu những chấn rung (vibration) như những người lái các engins de chantier, GS Yves Roquelaure, chuyên gia về y tế công cộng (CHU d’Angers) đã giải thích như vậy. Giai đoạn tiền phong của một công trình nghiên cứu đang được tiến hành trong Pays de la Loire cho thấy một tỷ lệ những trường hợp thoát vị đĩa được mổ cao hơn ở các y tá, những tài xế xe tải và những manutentionnaire. Công trình nghiên cứu sẽ xác nhận một sự tập trung các rối loạn này trên các loại nghề nghiệp chịu những công việc khó nhọc.”

    Đối với vị thầy thuốc, tính chất đại diện xã hội của tình trạng khó nhọc trong công việc cũng đóng vai trò : “ Thoát vị đĩa của vận động viên tennis nghề nghiệp thường xuyên chịu những lực xoắn và uốn (forces de torsion et d’extension) không làm ai ngạc nhiên. Nhưng xã hội lại ít công nhận hơn rằng một manutentionnaire bị những contrainte physique cũng mạnh như thế.”

    Mặc dầu 20% những tai nạn lao động có nguyên nhân là một lombalgie, nhưng chỉ những trường hợp đau dây thần kinh tọa với, khi làm IRM hay scanner, một thoát vị đĩa phù hợp với những triệu chứng, mới có thể được công nhận là bệnh nghề nghiệp, với điều kiện thực hiện một hoạt động có nguy cơ. những hạn chế này giải thích chỉ 2000 trường hợp được công nhận mỗi năm mặc dầu sức nặng của các trường hợp lombalgie trong y tế lao động.

    ĐIỀU KIỆN TÂM LÝ.

    Trong khi tính khó nhọc của nghề nghiệp có lẽ là một yếu tố nguyên nhân một phần của đau dây thần kinh tọa do thoát vị đĩa, tính chất vất vã này cũng có thể ảnh hưởng lên tiên lượng tiến triển. “ Ngược lại, cùng bệnh lý như nhau, những người sống tốt hoạt động nghề nghiệp của mình chịu đựng tốt hơn chứng đau lưng của mình, trở nên trầm trọng ít hơn so với những bệnh nhân mà những điều kiện tâm lý hay vật lý lao động bị suy thoái. Sự tái tục nhanh chóng công việc cũng là một yếu tố chữa lành và bao hàm sự công tác của tất cả các acteur liên hệ ”, GS Roquelaure đã đánh giá như vậy.

    Một sự bố trí poste de travail phải được xét đến nếu có thể. “ Sự giúp đỡ chuyển nghề (reconversion professionnelle) đôi khi không thể tránh được của các công nhân viên bị ảnh hưởng nhất bởi những lombalgie mãn tính này, cũng phải được cải thiện.
    (LE FIGARO 29/8/2011)

    10/ CHỨNG VẸO CỘT SỐNG : THỂ THAO VÀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU

    “ Tôi có những bệnh nhân en sport études, làm 30 giờ thể thao mỗi tuần hay trong những giờ thể thao chúng được quyền không mang corset orthopédique ”, GS Raphael Vialle, trưởng khoa ngoại chỉnh hình và sửa chữa (chirurgie orthopédique et réparatrice) trẻ em thuộc bệnh viện Armand-Trousseau (Paris), đã nhấn mạnh như vậy. Vậy không có vấn đề cấp một giấy chứng nhận không đủ khả năng chơi thể thao đứng trước một trường hợp vẹo cột sống (scoliose), trái lại là đằng khác : cỡi ngựa (équitation), tennis, cầu lông và danse đều được khuyến nghị cũng như bơi lội.

    Thật vậy, tất cả những hoạt động thể thao đều được khuyến khích, ngay cả ở trình độ cao. Những hoạt động này tạo điều kiện cho một musculature lành mạnh và mềm dẻo, có khả năng bảo vệ lưng và giúp hỗ trợ cho tình trạng không thoải mái của corset. Ngoài ra thể thao có thể tránh phần lớn những triệu chứng đau mà những đứa bé có thể cảm nhận trong lưng, và chỉ rất hiếm khi liên hệ với vẹo cột sống, nhưng đúng hơn là do một tư thế ngồi xấu kéo dài, nhất là vào những giờ trước máy vi tính.

    Thật vậy không có một comportement nào có thể làm gia trọng một vẹo cột sống : tư thế xấu, cartable quá nặng cũng như hoạt động thể thao.Chứng vẹo cột sống chỉ liên quan với sự tăng trưởng của cột sống và, ngoài một điều trị chỉnh hình hay ngoại khoa, không gì có thể làm biến đổi tiến triển của bệnh. Tuy nhiên phải duy trì cơ thể cử động, nhất là trong khi mang một corset : kinésithérapie có thể mang lại một sự hỗ trợ đáng kể cho điều đó.

    “ Tuy nhiên không thể điều chỉnh một vẹo cột sống bằng những buổi kinésithérapie hay những đế chỉnh hình (semelle orthopédique), GS Vialle đã tha thiết nhắc lại như vậy. Chúng tôi thấy những bệnh nhân đến sau hàng trăm buổi vật lý trị liệu, không nhưng đã không có hiệu quả mà còn đã cho phép chứng vẹo cột sống nặng thêm với thời gian ”.

    Như thế các kinésithérapeute có một vai trò quan trọng trong suốt thời gian điều trị, để kèm cặp việc mang corset. “ Chúng tôi biết lưng của những đứa trẻ và chúng tôi có thể tham gia ở việc theo dõi, nhất là để phát hiện tiến triển của chứng vẹo cột sống, Yves Tourjnaski, tổng thư ký của liên đoàn các masseurs kinésithérapeutes rééducateurs đã chỉ rõ những vậy. Chúng tôi cũng giúp đỡ các đứa trẻ bằng những động tác làm dẻo (assouplissements) và kéo giãn (étirements), cho phép tránh không để cho vài vùng bị cứng trong khi những vùng khác lại mềm dẻo, điều này có thể dẫn đến những tình trạng mất cân bằng.”
    (LE FIGARO 24/9/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (10/3/2013)



    Xem Thêm TSYH các số cũ hơn:

    Edited by user Thursday, March 14, 2013 7:39:22 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    thanks 1 user thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
    Hoàng Thy Mai Thảo on 3/11/2013(UTC)
    Users browsing this topic
    Guest
    Forum Jump  
    You cannot post new topics in this forum.
    You cannot reply to topics in this forum.
    You cannot delete your posts in this forum.
    You cannot edit your posts in this forum.
    You cannot create polls in this forum.
    You cannot vote in polls in this forum.