Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

3 Pages123>
Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#1 Posted : Friday, August 31, 2012 7:42:51 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 231

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ THỤ THAI NHÂN TẠO : 70% CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRỞ THÀNH CHA MẸ.

Phần lớn thành công sinh đẻ nhờ thụ thai trong ống nghiệm (fécondation in vitro), nhưng một vài cặp vợ chồng cuối cùng phải nhận con nuôi hay một hỗ trợ y khoa khác.

REPRODUCTION. Các cặp vợ chồng vô sinh se có những cơ may sinh một đứa con nào khi họ dấn thân vào đoạn đường chiến binh là thụ thai nhân tạo (FIV : fécondation in vitro) ? Hôm nay, bảng thông báo dịch tễ học hàng tuần (BEH : Bulletin épidémiologique hebdomadaire) dành một số rất nhiều tư liệu về tình trạng sinh đẻ được hỗ trợ y khoa (PMA : procréation médicalement assistée) ở Pháp và công bố một điều tra, lần đầu tiên trả lời vấn đề này một cách chính xác. Trên thực hành, từ nay các thầy thuốc có thể tham chiếu kết quả điều tra này khi một bệnh nhân, theo phương pháp thụ thai như thế, sẽ hỏi họ : “Thưa Bác Sĩ, những cơ may nào để điều đó có kết quả ? ” Viện nghiên cứu dân số học quốc gia (Ined : Institut national d’études démographiques), đơn vị 1018 của Inserm, đại học Paris-Sud và Institut mutualiste Montsouris đã phát động một cuộc điều tra từ các hồ sơ của 6507 cặp vợ chồng đã thực hiện một thụ thai nhân tạo lần đầu trong 8 trung tâm của Pháp giữa năm 2000 và 2002. Để biết phần tiếp của đoạn đường mà họ đã trải qua, các nhà nghiên cứu này đã thực hiện một cuộc điều tra giữa năm 2008-2010 để biết các cặp vợ chồng này, tám năm sau, đã đi đến đâu. Các kết quả được công bố hôm qua tiết lộ rằng 70% trong số các cặp vợ chồng này cuối cùng đã có đứa con mà họ mong muốn, mặc dầu không phải chỉ nhờ phương pháp thụ thai nhân tạo (FIV). Những tỷ lệ này làm an lòng đối với những kẻ nói chung rất đau khổ sống tình trạng vô sinh.

Các nhà nghiên cứu đã khảo sát 6502 cặp đã thực hiện một chọc dò noãn (ponction d’ovocytes) đầu tiên giữa năm 2000 và 2002 trong tám trung tâm tham gia vào công trình nghiên cứu. Khi đó các phụ nữ tuổi trung bình 33 tuổi và đàn ông 36 tuổi. Rốt cuộc, sau một số lần thử từ 1 đến 4, 41% các cặp vợ chồng này đã thành công sinh ra đời một em bé còn sống.

59% các cặp vợ chồng đã không có may mắn thực hiện được giấc mơ làm bố mẹ nhờ thụ thai nhân tạo giờ đã ra sao ? Để biết điều đó, giữa năm 2008 và 2010, các nhà nghiên cứu đã tìm lại được và hỏi bằng đường bưu điện, 1100 cặp vợ chồng đã không có con bằng thụ thai trong ống nghiệm giữa năm 2000 và 2002. Điều đó đã cho phép họ khám phá ra rằng 49% các cặp cuối cùng đã thực hiện giấc mơ làm bố mẹ của họ. Với một thời hạn 7 năm từ lúc bắt đầu dò tìm cho đến lúc thực hiện. Trong 19% các trường hợp, các cặp vợ chồng này đã có con nuôi, trong 18% trường hợp do thụ thai tự nhiên và trong 1% các trường hợp nhờ những điều trị sinh sản mới được khởi xướng ở thì hai.

“ Trong một cohorte rétrospective vạch lại hành trình của các cặp vợ chồng đã theo đuổi một điều trị nhờ thụ thai trong ống nghiệm (FIV), 70% trong số họ đã thực hiện được giấc mơ làm bố mẹ sau một thời hạn trung bình từ 5 đến 7 năm, các tác giả đã viết như vậy... Những kết quả này nhắc lại cho chúng ta rằng trong những đoạn đường dài lâu và đau khổ mà các cặp vợ chồng vô sinh đã trải qua, niềm hy vọng vẫn còn có thể. ”

Vào năm 2008, 2,4% các trẻ được sinh ra nhờ sinh đẻ hỗ trợ y khoa (procréation médicalement assistée) ở Pháp, hoặc 20.136 trường hợp sinh đẻ. Các trung tâm của Pháp phải chăng cũng hiệu năng về FIV bằng những trung tâm khác ở ngoại quốc ? Một điều tra, cũng được công bố trong BEH, tiết lộ rằng các kết quả của Pháp hơi thấp hơn các kết quả thu được ở Đan Mạch và Anh, nhưng tương đương với những kết quả của Đức. Ở Pháp, sau một chu kỳ thụ thai trong ống nghiệm, tỷ lệ có thai là 15% và 14,88% ở Đức. Ở Anh, tỷ lệ này là 20,85% và 18,68% ở Đan Mạch
(LE FIGARO 14/6/2011)

2/ VIÊM GAN C

Hai protéine nằm ở các tế bào gan, EGRF và EphA2, đóng một vai trò trong sự đi vào gan của virus viêm gan C. Bằng cách ức chế protéine EGRF bằng một kháng thể và một thứ thuốc được sử dụng trong điều trị ung thư phổi (hai phương pháp khác nhau nhưng bổ sung cho nhau), một nhóm nghiên cứu quốc tế thành công hạn chế sự tương tác giữa virus và gan. Điều đó đã làm giảm sự nhiễm trùng, bằng cách tác động ngay ở giai đoạn đầu. Hiện nay, bệnh viêm gan C được điều trị không tốt. Không có vaccin, và các bệnh nhân thường phát triển những đề kháng đối với các thuốc kháng virus (antiviraux). Khám phá này mở đường cho một dạng liệu pháp mới. Một nghiên cứu lâm sàng theo dự kiến sẽ được bắt đầu vào cuối năm nay.
(LA RECHERCHE 6/2011)

3/ UNG THƯ VÚ : BÉO PHÌ LÀ MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ.

Catherine Muller-Staumont, ở Institut de pharmacologie et de biologie structurale de Toulouse, nghiên cứu vi môi trường (microenvironnement) của các khối u.

Hỏi : Tại sao ung thư vú hung dữ hơn ở các người béo phì ?
Catherine Muller-Staumont : Sau một ung thư đầu tiên, các phụ nữ bị tăng thể trọng có 50% nhiều nguy cơ hơn các phụ nữ khác, phát triển trong vòng 10 năm các di căn khuếch tán đến các cơ quan khác. Cùng với nhóm nghiên cứu của Philippe Valet, thuộc viện các bệnh chuyển hóa và tim mạch, chúng tôi vừa khám phá ra rằng, lúc tiếp xúc với mô mỡ, các tế bào ung thư vú trở nên xâm nhập hơn nhiều và do đó hung hãn hơn trong cơ thể.

Hỏi : Bà đã phát hiện điều đó như thế nào ?
Catherine Muller-Staumont : Chúng tôi đã nhận xét rằng các ung thư vú được bao quanh bởi nhiều tế bào mỡ mà ta gọi là adipocyte. Chúng tôi đã tự hỏi những tế bào mỡ này có đóng một vai trò trong sự phát tán cua ung thư vú hay không. Như thế, chúng tôi đã cấy những tế bào ung thư vú của người và chuột với những tế bào mỡ của hai loài. Sau 3 ngày, những tế bào ung thư đã tách rời nhau và đã xâm chiếm môi trường cấy của chúng. Điều đó không xảy ra nếu không có những tế bào mỡ. Rồi chúng tôi đã tiêm chúng vào các con chuột, và chúng đã tạo thành trong phổi những di căn lớn hơn và nhiều hon so với nếu ta đã tiêm những tế bào ung thư được cấy không có sự hiện diện của các tế bào mỡ.

Hỏi : Các khối u trở nên hung dữ hơn như thế nào ?
Catherine Muller-Staumont : Sau nhiều ngày cấy tiếp xúc với các khối u, các tế bào mỡ chịu những biến đổi quan trọng : chúng đánh mất lipide và tiết những protéine viêm, đặc biệt là interleukine 6. Điều đó cũng đúng nơi các bệnh nhân : chúng tôi đã tìm thấy các adipocyte có cùng những đặc điểm nơi các phụ nữ bị một ung thư vú. Mô mỡ của các phụ nữ có các khối u kích thước lớn tiết nhiều interleukine 6 hơn. Chúng tôi nghĩ rằng quá trình viêm tại chỗ này cho phép các khối u trở thành hung dữ hơn.

Hỏi : Vậy béo phì là một thế địa tốt đối với ung thư vú ?
Catherine Muller-Staumont : Ta còn phải xác nhận xem những biến đổi được quan sát đồng thời ở các adipocyte và trong các khối u có được khuếch đại nơi các bệnh nhân bị tăng thể trọng hay béo phì hay không. Ta biết rằng mô mỡ của những người béo phì có tính chất viêm hơn mô mỡ của những người có trọng lượng bình thường. Vậy thật là logic khi nghĩ rằng mô mỡ kích thích những năng lực xâm nhập của các tế bào ung thư còn nhiều hơn.Nhưng từ nay ta phải công nhận sự xuất hiện của các ung thư như là một trong những biến chứng của chứng béo phì, như ta đã làm như vậy đối với nguy cơ tim mạch hay đối với bệnh đái đường.
(LA RECHERCHE 6/2011)

4/ MỘT THUỐC CHỐNG UNG THƯ SỬA CHỮA TỦY SỐNG.

Nếu một thương tổn tủy sống có nguy cơ dẫn đến bại liệt, đó là bởi vì các sợi thần kinh không nối kết lại được. Bởi vì các sợi thần kinh không tìm ra đường đi của chúng và bởi vì mô sẹo tạo nên một hàng rào không thể vượt qua được. Chính trong lúc trắc nghiệm, nơi chuột, thuốc nổi tiếng nhất trong các loại thuốc chống ung thư, paclitaxel (Taxol), mà nhóm nghiên cứu của Farida Hellal, thuộc Institut Max-Planck de neurobologie ở Đức, đã thành công làm dễ sự tăng trưởng của các sợi thần kinh bị cắt đứt. Loại thuốc này tác động lên các microtubule, các protéine thiết yếu cho cấu trúc của các tế bào. Thuốc làm ổn định các microtubule bị làm rối loạn bởi thương tổn. Như thế các tế bào thần kinh tái tạo dễ dàng hơn theo chiều hướng đúng. Ngoài ra, tác dụng của thuốc chống ung thư làm chậm lại sự tăng trưởng của vết sẹo. Bây giờ các nhà khoa học muốn biết điều trị có hiệu quả nhiều tháng sau khi xuất hiện thương tổn hay không. Ngoài ra họ tin tưởng đối với những trắc nghiệm trên người bởi vì lượng paclitaxel cần thiết thấp và những tác dụng phụ ít hơn so với những tác dụng phụ lúc điều trị một ung thư.
(SCIENCE ET VIE 4/2011)

5/ HỘI CHỨNG DOWN.

Gần 100 năm trước khi khám phá trisomie 21, một người đàn ông đã mô tả những hậu quả của căn bệnh di truyền này và đã cống hiến cuộc đời mình cho việc làm sáng tỏ bệnh trisomie 21 của các trẻ em trong trại tâm thần. Lúc quan tài của ông đi qua, các hiệu buôn hạ các cánh cửa trập xuống và một sự im lặng bao trùm. Một người đàn ông làm điều tốt vừa mới qua đời.

John Langdon Down sinh vào năm 1828 ở Torpoint, trong vùng Cornouailles. Ông bố của ông, Joseph, mặc dầu bán đồ gia vị và buôn dạ, nhưng cũng bán dược phẩm (drogues médicales), đã thành công nhận được tước hiệu dược sĩ. John là một học sinh xuất sắc, nhưng bố ông khẩn khoản muốn ông tiếp tục sự nghiệp thương mãi của mình. Cửa tiệm được mở rộng và đa dạng hóa đến mức trở thành nơi bán hàng gia vị, rán cà phê, bán đồ ngũ kim (quincailllerie), cửa hàng giấy bút (papeterie), vải dệt, hàng bán thuốc (droguerie), cửa hàng dược, và ngay cả giay bảo hiểm ! Nhưng John chẳng có khiếu chút nào về thương mãi. Ở tuổi 18, sau lần gặp gỡ một cô bé gái bị tật nguyền khiến ông muốn biết tất cả về sự khuyết tật tâm thần. Do đó ông đã di Luân Đôn và ký giao kèo tập sự nơi BS Colemans. Ông này dạy ông sử dụng trích máu (saignée), đĩa (sangsues), ventouse và nhổ răng.

PHỤC VỤ GIA ĐÌNH.

Dưới áp lực của gia đình, ông chấp nhận hướng về dược khoa bởi vì hiệu buôn tuyệt đối cần phải có một hội vien (associé) có văn bằng để duy trì tính hợp lệ của tiệm. Trong số 3000 ứng viên, ông là người đầu tiên trong số 80 sinh viên được ủy nhiệm accrédité). Nhưng vi không ưa thích mấy với chiếc áo choàng sọc đứng sau quầy hàng nên ông vui vẻ chấp nhận trở thành phụ tá của một giáo sư hóa học. Bất hạnh thay, trước khi có thể hưởng được sự thăng chức này, ông mắc phải bệnh lao và trở nên gầy mòn.Thời kỳ dưỡng bệnh 3 năm buộc ông trở lại làm việc ở tiệm, như là một người ăn lương tầm thường. Vào lúc 25 tuổi, phải đợi cho đến khi cha chết ông mới dám cưỡng lại áp lực của gia đình, và ghi tên theo học ở một trường y.

HUÂN CHƯƠNG VÀ VINH QUANG.

Tất cả tiền tiết kiệm của ông được trang trải trong thời gian theo học tốn kém ở bệnh viện Luân Đôn. Vốn đã giỏi về hoá học, ông hăng say và thu thập các huy chương vàng hay bạc được trao cho sinh viên giỏi nhất của mỗi ngành. Ông xuất sắc không những trong thực vật học mà còn cả trong ngoại khoa hay sản khoa. Một học trình chắc chắn đã đưa ông đến, vào năm 30 tuổi, văn bằng y khoa, Société des Pharmaciens và ngay cả Collège Royal để . Tiếp theo ông nhận được nhiệm sở BS thường trú sản khoa và giáo sư tư. Sự nghiệp của ông được phát động. Và chính vào lúc đó mà cuộc đời của ông sẽ đổi hướng, bởi vì ông chấp nhận chiếm giữ chức vụ Superintendant médical ở trại tâm thần Earlswood dành cho những người ngu ngốc (idiots), một cơ sở đang trong thời kỳ khủng hoảng, cần phải sắp xếp lại toàn bộ.

Thách thức của ông : nhân đạo hóa bệnh viện tâm thần. Tìm ở đó cách phát biểu ý kiến, đó là thiên chức của chàng thanh niên. Ông tự bồi dưỡng tất cả các môn học cần thiết cho cơ sở, để vừa là thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, trợ tá xã hội (assistant social), giám thị, cố vấn và vừa là người quản lý. Ưu tiên đầu tiên của ông là dạy cho các nội trú sử dụng dao và nĩa ! Ông cấm các hình phạt, khuyến khích các trẻ em và cải tổ sâu rộng phương pháp tâm thần, kể cả đào tạo nhân viên. Vào năm 32 tuổi, ông cưới Mary. Từ lâu nàng động viên ông và chấp nhận đến sống với ông ở trại tâm thần. Nàng mang lại cho ông 4 người con và tham gia miễn phí và vui lòng giải trí các trẻ bị phế tật tâm thần. Mọi chuyện dường như đều tốt đẹp nhất nhưng những quan hệ căng thẳng với cấp lãnh đạo khiến Down phải từ chức vào năm 1868.

SỰ NGHIỆP CỦA CUỘC ĐỜI ÔNG

John và Mary không từ bỏ lý tưởng của họ. Họ mua một ngôi nhà trong vùng ngoại ô Luân Đôn và trong 20 năm đã không ngừng mở rộng ra, dần dần mua lại tất cả các đất đai lân cận. Cơ quan của họ (fondation Normansfield) tiếp nhận khoảng 20 thường trú nhưng lúc John qua đời, con số này là 160. Cơ sở trở nên một kiểu mẫu về tính hiện đại (modèle de modernité) đối với thời kỳ đó, đề nghị xưởng vẽ (ateliers), tennis, cricket, kịch và ngay cả đào tạo nghề nghiệp. Từ ít lâu nay ông đã nhận diện một nhóm bệnh nhân có vẻ người tương tự với dân Mông cổ, nhưng chỉ vào năm 1887 ông mới công bố những đặc điểm chi tiết nhất của những người mà ông mệnh danh là “ những thằng ngốc Mông Cổ ” (idiots mongolien). Down đột ngột qua đời lúc ông 68 tuổi. Vợ ông chỉ còn sống được 5 năm nữa nhưng con trai ông tiếp tục làm sống cơ quan Normansfield. Chỉ vào năm 1961, hai năm sau khi bệnh trisomie 21 được khám phá, các chuyên gia (trong đó có cháu trai của ông) đã đề nghị nên dùng từ ngữ “ hội chứng Down ” thay vì trisomie 21. Vào năm 1965, OMS chuẩn nhận một cách quốc tế tên gọi này.
.(LE GENERALISTE 9/6/2011)

6/ TRISOMIE 21 :THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ ĐÁNG PHẤN KHỞI ĐẦU TIÊN.

Một loại thuốc được trắc nghiệm ở Tây ban Nha có một tác dụng dương tính trên trí nhớ và chức năng vận động tâm thần (psychomotricité).

GENETIQUE. Là một trong những nguyên nhân đầu tiên của phế tật tâm thần nguồn gốc di truyền, benh trisomie 21 (hay hội chứng Down), chẳng bao nữa có thể được chữa trị một phần nào, các chuyên gia của căn bệnh trisomie 21, hội họp nhân Journées internationales Jéromes Lejeune, được tổ chức ở Viện Pasteur từ ngày 24 đến 26 tháng ba năm 2011, đã chỉ rõ như vậy. “ Cách nay 10 năm, đó vẫn còn là điều không thể tưởng được ”, BS Henri Bléhaut, người tổ chức khoa hoc của hội nghị dành cho các bệnh di truyền ve trí thông minh và cũng là người đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về trisomie 21 đã làm chứng vậy.

Hơn 50.000 người bị bệnh trisomie 21 ở Pháp và sống càng ngày càng lâu. Những tiến bộ của y khoa đã chuyển hy vọng sống dưới 30 tuổi trong những năm 1990 lên hơn 60 tuổi hôm nay. Việc phát hiện tiền sinh (dépistage prénatal) của căn bệnh này đã đạt đến giới hạn của nó bởi vì mỗi ngày trong đất nước chúng ta (Pháp) vẫn còn sinh ra một đứa bé bị bệnh trisomie 21, thường nhất là từ một người mẹ trẻ không được xét nghiệm bởi vì ít có nguy cơ. Trisomie 21 có tên như vậy là do sự hiện hữu trong các tế bào của cơ thể của các người bệnh một nhiễm sắc thể bổ sung, nhiễm sắc thể thứ 21, thường được thừa hưởng từ một người mẹ, vì một lý do vẫn còn chưa được giải thích. Các gène dư thừa do nhiễm sắc thể này mang lại gây nên nhiều bất thường về sự phát triển và vận hành chức năng của cơ thể, đặc biệt là sự chậm phát triển trí tuệ (retard mental),

Về mặt điều trị, nhiều tiến bộ mới đây đã mở ra những hy vọng mới biến đổi tiến triển của bệnh. Vào năm 2000, séquençage của nhiễm sắc thể 21 đã cho phép nhận diện phần lớn các gène (khoảng 300), đuợc mang bởi nhiễm sắc thể. Phương pháp này giờ đây tạo khả năng nhắm đích nhiều nguyên nhân di truyền khả dĩ của bệnh và trắc nghiệm tác dụng điều trị nơi động vật.

Vào năm 2009, nhóm nghiên cứu của Jean-Maurice Delabar của đại học Paris-Diderot đã cho thấy rằng ngay lúc sinh, sự ức chế một enzyme dư thừa hiện diện trên nhiễm sắc thể 21 (Dyrkla) điều chỉnh các triệu chứng về nhận thức của bệnh nơi chuột. Các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng để được như vậy, họ có thể sử dụng một chất ức chế tự nhiên của enzyme, một chất chống oxy hóa mạnh trích từ trà xanh, gallate d’épigallocatéchine hay EGCC. Chất có trong thiên nhiên này có ưu điểm bổ sung là không hề có tác dụng phụ và có thể được cho bằng đường miệng.

Vào năm 2010, nhóm nghiên cứu của GS Mara Dierssen, thuộc Centre sur la régulation génomique ở Barcelone (Tây Ban Nha), đã phát động một thử nghiệm lâm sàng, hoàn toàn được tài trợ bởi Fondation Jerome Lejeune. Trắc nghiệm đầu tiên nơi người này đã có vẻ rất dương tính. “ 3 tháng sau khi bắt đầu điều trị, phần lớn các gia đình đã đoán được là đứa con bị trisomie 21 của họ đã nhận EGCG hay một placebo, Mara Dierssen đã xác nhận như vậy, và một tháng điều trị dường như đủ để quan sát thấy một hiệu quả dương tính lên trí nhớ và chức năng vận động tâm thần (psychomotricité). Hiệu quả này biến mất lúc ngừng điều trị. ”

Tác dụng mạnh của EGCG được giải thích bởi vai trò của enzyme Dyrkla trong nhiều quá trình tế bào và điều đó ở tất cả các mức của cơ thể. Sau thử nghiệm tiền phong này, các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha sẽ phát động một công trình nghiên cứu quốc tế trong khoảng một chục trung tâm bệnh viện. “ Các kết quả đáng phấn khởi với EGCG, có được nhưng không bị một tác dụng phụ nào, trái lại là khác, thúc đẩy chúng tôi trắc nghiệm những tham số khác như liều lượng và thời gian điều trị ”, Mara Dierssen đã nói thêm như vậy.

NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ.

Những phương thức khác được trình bày trong hội nghị, nhằm một cách đặc hiệu hơn sự thiếu hụt của trí nhớ và của khả năng học tập nơi những người bị bệnh trisomie 21, cũng cho thấy các kết quả đáng phấn khởi nơi động vật. Vài loại thuốc, như mémantine hay fluoxétine, đã có mặt trong thương trường và chẳng bao lâu có thể được trắc nghiệm nơi người. Ngay cả mặc dầu chúng không phải là không có những tác dụng phụ và chỉ điều trị một khía cạnh của bệnh, các loại thuốc này, từ ít lâu nay, mang lại viễn ảnh làm giảm sự chậm phát triển trí tuệ của những người bị bệnh trisomie 21.
(LE FIGARO 5/4/2011)

7/ NÃO BỘ CỦA NHỮNG NGƯỜI MẮC BỆNH TỰ KỶ ĐƯỢC TỔ CHỨC RẤT TỐT.

Những bệnh nhân tự kỷ (autiste) phát triển những năng lực đặc biệt bằng cách sử dụng não bộ một cách khác. Thí dụ họ sử dụng nhiều hơn dân thường vài vùng của não bộ : “ Dầu cho công tác được thực hiện là gì, những người bị bệnh tự kỷ làm hoạt động quá mức (suractiver) những vùng thị giác (aire visuelle) dành cho việc xử lý thị giác đặc hiệu ”, Laurent Mottron, thuộc đại học Montréal (Canada) đã giải thích như vậy. Ông đã phân tích 26 công trình nghiên cứu chụp hình ảnh, được tiến hành từ 15 năm qua. Những người tình nguyện, bị bệnh tự kỷ hay là không, được cho đối diện với các gương mặt, tiếp xúc với các đồ vật và các chữ, phải phát hiện chúng, nhận diện chúng hay sờ mó chúng. Những người tự kỷ đã thu được những hiệu năng y hệt với các hiệu năng của những người tham gia khác. Nhưng các kích thích trong não bộ lại khác nhau : những người tự kỷ sử dụng nhiều hơn những vùng thái dương và chẩm, chuyên về xử lý thị giác, dùng ít hơn vỏ não vùng trán, chịu trách nhiệm về sự quyết định, sự kế hoạch hóa và sự thực hiện. “ Những người tự kỷ thực hiện công tác với cái giá ít hơn bằng cách sử dụng các vùng tri giác (zone perceptive) không dành cho những công việc được yêu cầu ”, nhà nghiên cứu đã chứng thực như vậy. Ông ưa nói “ sự tái tổ chức ” (réorganisation) hơn là “ sự rối loạn tổ chức ” (désorganisation) não bộ. “ Não bộ của họ thích ứng bằng cách tái phân bố những vùng não bộ cho tri giác thị giác (perception visuelle), ông đánh giá như vậy. Điều này mang lại cho họ những năng lực thị giác đặc biệt, nhất là theo 3 chiều không gian. ”
(SCIENCE ET VIE 6/2011)

8/ MỘT VÕNG MẠC ĐIỆN TỬ MANG LẠI THỊ GIÁC CHO 3 NGƯỜI.

Mang lại thị giác cho các người mù nhờ một võng mạc nhân tạo (rétine artificielle) : đó là mục tiêu được theo đuổi bởi nhiều nhà nghiên cứu, đang gia tăng những thử nghiệm lâm sàng. Chiến công mới nhất ? Thành tích của một nhóm nghiên cứu người Đức của đại học Tubingen, đã phục hồi một phần thị giác (une vision partielle) ở 3 người bị bệnh thoái hóa võng mạc (viêm võng mạc sắc tố : rétinite pigmentaire), nhờ một võng mạc điện tử de haute résolution. Những người mù này hôm nay thấy đủ rõ để có thể nhận biết những đồ vật thông thường và đọc những chữ lớn. “ Phép nhiệm màu ” này dựa trên một puce gồm 1500 điện cực, được cắm dưới võng mạc của các bệnh nhân. Cũng như một võng mạc tự nhiên, võng mạc điện tử bắt trực tiếp ánh sáng và truyền các thông tin đến các neurone thị giác, vẫn còn nguyên vẹn. Ưu điểm của implant này là không cần đến caméra bên ngoài nữa. “ Ngoài việc mang lại một số lượng pixel lớn hơn, implant của chúng tôi là implant đầu tiên theo các cử động nhãn cầu của bệnh nhân ”. Kết quả tốt của chiến lược “ sinh-điện tử ” (bioélectronique) này khiến võng mạc điện tử là một cạnh tranh thật sự với hướng tìm tòi khác do José-Alain Sahel (Viện thị giác Paris) phát triển. Giáo sư này đang tìm cách“ sửa chữa ” những tế bào võng mạc bằng liệu pháp gène (thérapie génique), nhằm chữa lành thật sự bệnh viêm võng mạc sắc tố)
(SCIENCE ET VIE 1/2011)

9/ NGHỆ CÓ THỂ PHÒNG NGỪA ỈA CHẢY.

Clostridium difficile là một vi khuẩn chịu trách nhiệm ỉa chảy do dùng thuốc kháng sinh. Ỉa chảy do Clostridium difficile rất lây nhiễm trong môi trường bệnh viện. Do đó lợi ích của các kết quả thu được in vitro với các trích chất của nghệ (curcuma), được trình bày nhân hội nghị cua Collège américain de gastroentérologie. Được cho với những nồng độ 128 mcg/ml, hoạt chất của nghệ, curcumine, có khả năng ức chế sự tăng trưởng của vi trùng trong canh cấy. Một công trình nghiên cứu sắp bắt đầu để kiểm tra xem nghe có thể ngăn ngừa các bệnh ỉa chảy do Clostridium difficile hay không.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2011)

10/ THAI NHI THIẾU OMEGA 3 CÓ NGUY CƠ TRỞ NÊN MỘT NGƯỜI LỚN BỊ BỆNH TRẦM CẢM

Trong thời kỳ mang thai, nếu thai nhi không nhận đủ oméga 3, một axít béo thiết yếu, thì cá thể đó khi đến tuổi trưởng thành sẽ có nhiều nguy cơ hơn bị bệnh trầm cảm. Thật vậy, một sự thiếu hụt oméga 3 trong não bộ làm rối loạn sự dẫn truyền thần kinh, và điều này ngay lúc thai nhi phát triển trong tử cung. Sophie Layé và Olivier Manzoni (Inra và Inserm, Bordeaux) đã quan sát hiện tượng này trên chuột. Điều này cho phép giải thích sự tương quan được quan sát giữa những chế độ ăn uống nghèo oméga 3, rất phổ biến trong thế giới công nghiệp, và những rối loạn khí chất như bệnh trầm cảm.
(SCIENCE ET VIE 4/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/6/2011)

Edited by user Tuesday, January 29, 2013 6:46:45 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



thanks 1 user thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
ngoc tran on 8/31/2012(UTC)
lly (Lynn Ly)  
#2 Posted : Friday, August 31, 2012 8:02:01 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 232

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ HỘI CHỨNG HẠNG KINH TẾ (SYNDROME DE LA CLASS ECONOMIQUE).

Tư liệu y học nói nhiều về hội chứng hạng kinh tế (syndrome de la classe économique), mà sự mô tả đầu tiên đã có từ năm 1988.Sự thể hiện điển hình nhất là huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse profonde), dầu được phối hợp với nghẽn mạch phổi (embolie pulmonaire) hay không. Tuy nhiên, những biến thể đặc biệt đã được mô tả mới đây.

Thật vậy, các tai biến huyết khối-nghẽn mạch (accident thrombo-embolique) có thể xảy ra đối với mỗi loại du lịch trong đó hành khách phải ngồi, như xảy ra lúc đi autocar hay đi xe hỏa. Chính vì lý đó này mà ta gọi chung là bệnh huyết khối của hành khách (thrombose du voyageur), được định nghĩa như là sự xuất hiện một tai biến huyết khối- nghẽn tĩnh mạch (accident thrombo-embolique veineux) trong 4 tuần sau một hành trình như vậy. Nguy cơ gia tăng với thời gian của hành trình : mặc dầu còn thiếu những công trình nghiên cứu xác định, ta vẫn ước tính rằng nguy cơ tăng gấp đôi sau 8 giờ hành trình.

NGUY HIỂM HƠN LÚC ĐI MÁY BAY.

Nói chung ta chấp nhận rằng nguy cơ lúc đi máy bay cao hơn so với mọi phương tiện vận chuyển khác, với tăng gấp 4 đối với những chuyến bay 8 giờ hoặc hơn. Có thể là sự khác nhau chỉ đơn thuần là do thiếu chỗ, các hành khách bị kẹt trên một diện tích giới hạn, trong một hàng người mà họ phải quấy rầy để đứng dậy và thiếu những khoảng thời gian dừng nghỉ dành cho tập thể diễn ra đều đặn khi du lịch bằng autocar. Ngoài ra ta biết rằng những người tọa vị phía cửa sổ máy bay (hublot) có một nguy cơ gia tăng bị tai biến huyết khối-nghẽn mạch (accident thrombo-embolique). Những đặc điểm riêng đối với những những hành trình bằng máy bay cũng được nêu lên như là những yếu tố nguy cơ bổ sung, như tình trạng mất nước do tỷ lệ độ ẩm bị giảm trong cabine. Tuy nhiên điểm sau cùng này không đủ gây nên sự mất nước đáng với tên gọi của nó. Một yếu tố nguy cơ gây mất nước khác là sự tiêu thụ cồn và các đồ uống chứa caféine trong lúc bay. Việc hạ nồng độ oxy trong cabine cũng được nêu lên. Một công trình nghiên cứu cũng đã cho thấy một sự gia tăng tính đông máu ở những người tình nguyện lành mạnh nhưng trong tình trạng giảm oxy (hypoxie). Những khuyến nghị để phòng ngừa các tai biến huyết khối-nghẽn mạch lúc đi máy bay được tóm tắt trong bảng sau đây :

UserPostedImage

TỪ PHẢI SANG TRÁI RỒI HƯỚNG LÊN CAO

Bấy nhiêu trên là đối với thể cổ điển, tuy nhiên cũng phải tính đến các biến thể. Ta cũng nhận thấy, trong văn liệu y học, những mô tả về những trường hợp của hội chứng hạng kinh tế (syndrome de la classe économique) kèm theo tai biến mạch máu não. Theo PubMed, sự mô tả mới nhất liên quan đến một tài xế vận tải 62 tuổi, đã cảm thấy bị liệt nhẹ (parésie) và những rối loạn cảm giác ở chân trái sau hai ngày ngồi lái xe. Lời giải thích vẫn luôn luôn giống nhau : bệnh nhân này có một lỗ bầu dục không đóng (FOP : foramen ovale perméable), qua đó một cục máu đông đi từ tim phải qua tim trái trước khi đến não bộ. Phải biết rằng FOP được quan sát trong khoảng 25% dân số. Mặc dầu lỗ mở có kích thước thu nhỏ, tuy nhiên phần lớn vẫn được đóng lại, nhưng lỗ bầu dục có thể được mở ra, thí dụ khi thực hiện một thủ thuật Valsalva, hoặc vào lúc máy bay hạ cánh, là lúc ta cảm thấy đau tai.Cũng vậy, trong các trường hợp nghẽn mạch phổi (embolie pulmonaire), áp suất có thể tăng cao trong tim phải, làm cho lỗ bầu dục không đóng (FOP) được mở ra. Trong các FOP có kích thước lớn, sự thông thương trở nên thường trực và do đó có một nối tắc (shunt) trái-phải thường trực. Sau cùng, ta còn ghi nhận trường hợp một người đang thiu thiu ngủ ở một tư thế xấu trong một chuyến bay và do đó một trong các động mạch đốt sống (artère vertébrale) bị rạn nứt, với hậu quả là tai biến mạch máu não. Vậy không phải chỉ có những bắp chân mới có thể đặt một vấn đề tim mạch trong lúc du hành bằng máy bay.
(LE GENERALISTE 28/4/2011)

2/ MỠ CŨNG SẢN XUẤT NHỮNG TẾ BÀO MIỄN DỊCH.

Chống lại các bệnh viêm, như bệnh đái đường, bệnh xơ mỡ động mạch (athérosclérose) hay vài loại ung thư, bằng cách nhắm vào mỡ của các bệnh nhân ? Ý tưởng này có thể được áp dụng nếu các kết quả của các nhà nghiên cứu Toulouse của Inserm và CNRS được xác nhận. Thật vậy, cho đến hôm nay ta thừa nhận rằng việc chế tạo các tế bào của hệ miễn dịch, trong đó vài loại tham gia vào sự xuất hiện của các bệnh viêm (maladie inflammatoire), được thực hiện bên trong tủy xương. Thế mà ở chuột, các nhà khoa học vừa phát hiện rằng có một nơi sản xuất khác : mô mỡ. Mô mỡ chứa những tế bào gốc tương tự với những tế bào gốc của tủy xương, có khả năng sinh ra những tế bào miễn dịch : các dưỡng bào (mastocyte). Những tế bào này được biết về vai trò tích cực của chúng trong các hiện tượng viêm. “ Những kết quả này mở ra những triễn vọng lớn hướng về những áp dụng điều trị ”, Béatrice Cousin, nhà nghiên cứu sinh lý học đã nói như vậy.
(SCIENCE ET VIE 2/2011)

3/ ASPIRINE LÀM GIẢM TỶ LỆ TỬ VONG DO UNG THƯ.

Sự tiêu thụ đều đặn aspirine làm giảm ít nhất 20% tỷ lệ tử vong trong trường hợp của các ung thư thực quản, tụy tạng, não và phổi, theo các nhà nghiên cứu của đại học Oxford. Kết quả quan sát này dựa trên nhiều công trình so sánh giữa việc tiêu thụ aspirine và việc sử dụng một placebo, trong ít nhất 4 năm bởi hơn 25.000 người. Vào tháng mười năm qua, các nhà nghiên cứu này đã ước tính rằng những liều lượng thấp aspirine (khoảng 75 mg) cho phép làm giảm 35% nguy cơ tử vong do ung thư đại trực tràng. Nhưng họ đánh giá là còn sớm để có thể kê đơn aspirine mỗi ngày : còn phải đo cán cân giữa các lợi ích và nguy cơ, nhất là xuất huyết.
(SCIENCE ET VIE 2/2011)

4/ LÀM GIẢM CÁC TRIỆU CHỨNG ĐAU MA (DOULEUR FANTOME) NHỜ GÂY MÊ.

Stein Silva, thầy thuốc gây mê, thành viên của unité “ imagerie cérébrale và handicaps neurologiques ” thuộc Inserm de Toulouse.
Ý tưởng : Bằng cách gây mê một cách nhắm đích vài vùng của cơ thể ta co thể làm thuyên giảm các triệu chứng đau được gọi là của các chi ma (douleur des membres fantomes), được cảm thấy bởi những người bị cắt cụt chi. Sự làm mất cảm giác tự ý (insensibilisation involontaire) này, do buộc não bộ phai tự tổ chức theo một cách khác, cho phép “ cải tạo ” não bộ để ngăn cản nó tạo những triệu chứng đau “ tưởng tượng ”.

Hỏi : Tại sao gây mê có thể điều trị các triệu chứng đau của các chi ma ?
Stein Silva : Vào lúc bình thường, các chi đua tranh nhau để đưa các cảm giác lên não bộ, điều này cho ta một tri giác toàn bộ cơ thể. Khi một chi bị cắt cụt, sự đua tranh này vẫn luôn luôn hiện hữu, nhưng bị mất quân bình : chi còn lại chiếm một tầm quan trọng không cân xứng, trong khi vài circuit liên kết với chi bị cắt cụt gởi những tín hiệu bị não bộ giải thích sai lầm. Như thế, hơn 2/3 những người bị cắt cụt chi vẫn còn có cảm tưởng cảm thấy chi bị mất, và một nửa bảo là họ cảm thấy đau. Thí dụ họ có cảm giác các ngón tay bị đẩy vào trong lòng bàn tay mà họ đã bị đánh mất. Sự gây mê, do làm gây tê một chi, cũng làm mất quân bình các thông tin đi lên não bộ và buộc não bộ phải tự tái tổ chức.Theo những quan sát về các bệnh nhân được gây mê, được thực hiện với nhóm nghiên cứu của chúng tôi, và chúng tôi đang xác nhận bằng chụp hình ảnh não bộ, thì sự tái tổ chức này bắt đầu trong vài phút. Do đó tôi đã có ý tưởng sử dụng gây mê như là biện pháp điều trị, để điều biến (moduler) hoạt động của não bộ và tái lập sự quân bình giữa các thông tin phát xuất từ những chi khác nhau.

Hỏi : Vậy chìa khóa là dạy lại não bộ hoạt động tốt hơn ?
Stein Silva : Đúng như vậy ! Cách nay chỉ mới 10 năm, các thầy thuốc đã hằng nghĩ rằng các đau đớn của các chi ma thuộc về một rối loạn tâm thần. Nhưng bây giờ đây chúng tôi có thể xác nhận rằng chính đúng não bộ can dự vào trong hiện tượng này, và đặc biệt hơn những vùng liên quan đến các cử động. Chúng ta đối diện với các cảm giác có thật, được sản xuất bởi một não bộ hoạt động một cách bất thường. Và ta sẽ có thể điều trị chúng, bằng cách cải tạo não bộ.

Hỏi : Trên thực tiễn, phải tiến hành như thế nào ?
Stein Silva : Ý tưởng là gây mê chi đối diện với chi đã bị cắt cụt. Ví dụ cánh tay phải ở một người đã đánh mất cánh tay trái của mình. Như thế não bộ phải thỏa hiệp với hai chi không gởi thông tin cho nó nữa. Khi đó ta rọi vào bệnh nhân những hình ảnh của hai chi đang cử động, đồng thời bảo bệnh nhân chăm chú vào những cử động này. Như thế não bộ liên kết ý tưởng đưa một cánh tay lên với hình ảnh của một cánh tay đang cử động. Và điều này được thực hiện mà không có thông tin nào khác ngoài thị giác, vì lẽ đó hoặc là chi vắng mặt, hoặc là chi bị gây mê. Điều đó nằm trong một công tác phục hồi chức năng dài lâu, trong đó bệnh nhân học nghĩ đến chi vắng mặt mà không cảm thấy nó.
(SCIENCE ET VIE 6/2011)

5/ MỘT LIỆU PHÁP GENE CHỐNG BỆNH PARKINSON ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM

Các thầy thuốc đã thành công làm giảm các triệu chứng của bệnh Parkinson nhờ một liệu pháp gène (thérapie génique). Một thử nghiệm lâm sàng, được tiến hành bởi một nhóm nghiên cứu Hoa kỳ, đã quy tụ khoảng 60 bệnh nhân bị bệnh Parkinson đề kháng với những điều trị cổ điển. Trong số những bệnh nhân này, 23 người đã nhận một dung dịch chứa đặc biệt gène GAD nhằm tái lập sự sản xuất GABA, một chất dẫn truyền thần kinh bị thiếu hụt trong bệnh Parkinson. 6 tháng sau, khả năng vận động của họ đã gia tăng 23%.
(SCIENCE ET VIE 6/2011)

6/ VACCIN CHỐNG ROTAVIRUS CÓ HIỆU QUẢ

Một chiến dịch tiêm chủng chống rotavirus, được phát động nơi các em bé từ 2007, bây giờ mang lại kết quả, một công trình nghiên cứu của Bộ y tế Ba tây và của Centres for Disease Control Hoa Kỳ đã tiết lộ như vậy. Khoảng 1500 trường hợp tử vong và 130.000 trường hợp nhập viện ít hơn đã được quan sát nơi các trẻ em dưới 5 tuổi từ khi thực hiện chiến dịch tiêm chủng. Rotavirus là một trong những nguyên nhân nhiễm trùng chính của viêm vị tràng (gastroentérite) và của tử vong của các nhũ nhi trong các nước đang phát triển.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2011)

7/ CHỨNG HÓI CÓ THỂ ĐẢO NGƯỢC ĐƯỢC.

Ta hằng nghĩ rằng chứng hói (calvitie) là do sự vắng mặt của các tế bào gốc. Thế mà những người bị sói đầu không có ít những tế bào này so với những người rậm tóc. Chứng hói đầu được giải thích bởi sự bất hoạt hóa của các tế bào gốc trong các nang lông (follicules pilleux). Đó là điều nhóm nghiên cứu của đại học Pennsylvanie đã chứng thực ở những người đàn ông đã nhận một greffe capillaire. Thật vậy các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy các tế bào trong các nang lông của những vùng rậm tóc có một mức độ trưởng thành lớn hơn. Vấn đề còn lại là phải xác nhận những nguyên nhân của sự bất hoạt động này để hy vọng làm phát động trở lại.
(SCIENCE ET VIE 3/2011)

8/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC : SAU CÙNG MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI !

Hỏi : Những đích của bệnh xơ cứng rải rác ảnh hưởng lên hệ thần kinh là gì ?
GS Olivier Lyon-Caen : Có 3 đích bệnh nhắm đến : não bộ, tủy sống, dây thần kinh thị giác. Ở Pháp người ta ước tính số bệnh nhân bị bệnh là 80.000 người, nhất là những người trưởng thành trẻ tuổi. Một quá trình viêm (được gây nên bởi chính hệ miễn dịch cia người bệnh) tấn công bao của các dây thần kinh : myéline. Khi các dây thần kinh này bị thương tổn, chúng không còn có thể dẫn truyền luồng thần kinh được nữa. Từ đó có thể xuất hiện những rối loạn có thể rất nghiêm trọng và gây phế tật. Có hai dạng xơ cứng rải rác : dạng thường xảy ra nhất tiến triển bằng các cơn bộc phát (80% các trường hợp), dạng kia (20) tiến triển dần dần, không có các cơn bộc phát.

Hỏi : Những triệu chứng đầu tiên của xơ cứng rải rác có đặc hiệu cho những thương tổn thần kinh này hay không ?
GS Olivier Lyon-Caen : Chúng thay đổi tùy theo định vị của các thương tổn thần kinh. Triệu chứng thường xảy ra nhất (do thương tổn của dây thần kinh thị giác) là một bất thường thị giác (khi nhãn cầu cử động). Những biểu hiện thường xảy ra khác : các rối loạn cảm giác được biểu hiện bởi các cảm giác kiến bò, tê cóng (ở một hay nhiều chi), bước khó bởi vì cẳng chân dường như nặng nề. Những vấn đề về tiểu tiện có nguy cơ tạo nên phế tật. Nhưng tất cả những dấu hiệu lam sàng này cũng có thể phát hiện những bệnh khác của hệ thần kinh (mà người thầy thuốc phải loại bỏ).

Hỏi : Làm sao đảm bảo chẩn đoán ?
BS Caroline Papeix. Điều bảo đảm chẩn đoán đó là sự lập lại của các triệu chứng. Trong quá khứ, phải chờ đợi sự xuất hiện của các triệu chứng mới để có thể đảm bảo tính mãn tính của chúng. Ngày nay nhờ những tiến bộ rất lớn của chụp hình ảnh (IRM của não bộ và tủy sống), ta có thể phát hiện bệnh xơ cứng rải rác ở giai đoạn đầu, sau một cơn bộc phát duy nhất, với mức độ tin cậy hơn 95%. Một tiến bộ rất quan trọng, bởi vì ta càng điều trị, ta càng có cơ may có hiệu quả.

Hỏi : Cho đến nay ta điều trị như thế nào hai dạng của bệnh xơ cứng rải rác ?
BS Caroline Papeix. Khuyến nghị ngày nay là điều trị sớm ngay khi chẩn đoán được xác định. Chiến lược mới này tỏ ra rất có lợi. Về dạng bệnh với các cơn bộc phát, và để phòng ngừa các cơn bộc phát này, ta cho các thuốc điều biến miễn dịch (immunomodulateur), những loại thuốc ta có thể tiêm mông hay dưới da. Đó là một điều trị nền (traitement de fond), nhằm làm giảm các đợt tấn công cùa những tế bào miễn dịch trở nên hung hãn và kích thích những tế bào miễn dịch có tính chất phòng vệ. Và khi xảy ra các đợt bộc phát, ta cho cortisone để làm giảm phản ứng viêm.

Hỏi : Những kết quả thu được với những protocole này ?
BS Caroline Papeix : Ở đại đa số các bệnh nhân “ có các cơn bột phát ”, ta ổn định được căn bệnh của họ : các đợt bộc pháp càng ngày càng hiếm. Bất hạnh thay, vài bệnh nhân không đáp ứng với điều trị. Các cơn bộc phát tồn tại, phế tật xuất hiện và trầm trọng dần. Theo dòng thời gian, chu vi bước (périmètre de marche) bị thu giảm lại, có thể dẫn đến mất khả năng độc lập (perte de l’autonomie).Đối với những trường hợp mà tiến triển có thể nghiêm trọng, ta đã hiệu chính những điều trị có hiệu quả khác được gọi là những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux). Nhưng những điều trị này có nguy cơ gây nên một bệnh não nghiêm trọng do virus : encéphalopathie multifocale progressive.

Hỏi : Còn đối với những thể phát triển dần dần (forme prigressive), chúng ta ở đâu rồi ?
BS Caroline Papeix : Vẫn không có những điều trị với hiệu quả được chứng minh. Ở những bệnh nhân này, phế tật của họ gia tăng bởi vì bệnh không kiểm soát được.

Hỏi : Thật ra, 1/3 những người bị một thể bệnh với các cơn bộc phát và những bệnh nhân bị một thể tiến triển từ từ đang chờ đợi một điều trị mới ?
BS Caroline Papeix : Không có một loai thuốc mỏi nào đã được thương mại hóa từ hơn năm năm nay. Việc xuất hiện của fingolimod là một bước tiến rất quan trọng ! Ở Pháp loại thuốc này sẽ có ở thị trường vào đầu năm 2012. Các công trình nghiên cứu quốc tế đã được thực hiện trên hơn 1000 bệnh nhân. Nhìn toàn bộ, tất cả đều đã chứng minh một tính hiệu quả hơn tính hiệu quả của các thuốc điều biến miễn dịch (immunomodulateur) đối với những thể có các cơn bộc phát. Ưu điểm khác : fingolimod được cho bằng đường miệng mà không phải tiêm, điều này làm dễ việc sử dụng. Những loại thuốc khác đang được đánh giá trong những trung tâm nghiên cứu khác nhau, trong đó có trung tâm của chúng tôi ở Institut du cerveau et de la moelle épinière (ICM).
GS Olivier Lyon-Caen : Tuy nhiên tôi xin nói thêm rằng tính dung nạp đối với thuốc mới này đã tỏ ra thỏa mãn trong tất cả các công trình nghiên cứu. Nhưng vẫn còn những điều không chắc chắn về những tác dụng phụ trung hạn và dài hạn trên một một số lớn hơn những người được khảo sát. Những chỉ định phải được bàn bạc theo từng trường hợp. Các bệnh nhân cũng nhất thiết phải được theo dõi đều đặn.

Hỏi : Fingolimod phải chăng cũng có thể được kê đơn cho những bệnh nhân với thể bệnh tiến triển từ từ ?
BS Caroline Papeix : Ta hy vọng như thế. Đối với những bệnh nhân này, thuốc hiện nay đang được đánh giá. Những công trình nghiên cứu đã ở giai đoạn III. Các kết quả sẽ có trong hai đến ba năm. Ngoài những tiến bộ về thuốc, chúng tôi đã thiết đặt một tổ chức cơ cấu với những kíp đa nghành (các kiné điều trị, các chuyên gia về tâm lý học, các trợ tá xã hội..). Nhiều ngày được tổ chức để giải thích bệnh lý và tác dụng của các điều trị.

Hỏi : Những công trình về Xơ cứng rải rác ở ICM ?
GS Olivier Lyon-Caen : các công trình này liên quan đến những trục nghiên cứu khác nhau : Thí dụ nhiều nhà nghiên cứu khảo sát những yếu tố di truyền làm dễ sự xuất hiện bệnh. Những nhà nghiên cứu khác khảo sát những phương tiện để bảo vệ myéline, còn những người khác thì nghiên cứu làm sao thực hiện một kỹ thuật ghép...
(PARIS MATCH 1/6-8/6/2011)

9/ 96 PHÚT KHÔNG MẠCH

Đó là trường hợp ngừng tim dài nhất từng được mô tả. Trường hợp này đã được báo cáo trên site của Mayo Clinic Proceedings. Trong thời gian ngừng tim này, người đàn ông, một người Mỹ 54 tuổi, đã nhận 12 sốc điện khử rung (choc de défibrillation) và một xoa bóp ngoài lồng ngực. “Người được phép lạ” (miraculé) đã xuất viện vài ngày sau đó và đã được điều trị căn bệnh đã gây nên ngừng tim kéo dài này.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2011)

10/ SỐNG Ở NÔNG TRẠI LÀM GIẢM NGUY CƠ BỊ HEN PHẾ QUẢN

Những trẻ em sống ở các nông trại có tỷ lệ bị hen phế quản và tố bẩm với dị ứng 30 đến 50% ít hơn so với các bạn sồng ở thị thành. Điều này có phải là do cuộc sống ở ngoài trời ? do hoạt động vật lý ? Do ánh nắng mặt trời ? Có rất nhiều giả thuyết. 2 công trình nghiên cứu quốc tế đề xuất một yếu tố bảo vệ khác : sự hiện diện ở nông thôn của một tính đa dạng hơn của các vi khuẩn không gây bệnh. Các tác giả của những công trình nghiên cứu này đã cho thấy rằng việc tiếp xúc với các động vật của nông trại và các cỏ khổ, cũng như sự tiêu thụ sữa không được tiệt trùng (lait non pasteurisé), làm giảm nguy cơ bị suyễn và tính nhạy cảm với các dị ứng. Họ đã liên kết những lợi ích này với một sự kích thích của he miễn dịch ngay khi còn rất trẻ tuổi, điều này được xác nhận bởi những kết quả mới này : khi được tiếp xúc rất sớm với nhiều loại vi sinh vật rất đa dạng, các trẻ em ở các nông trại có một hệ miễn dịch dung nạp tốt hơn. Giả thuyết khác : việc định cư hệ hô hấp của chúng bởi những vi khuẩn “ tốt ”, ngăn cản sự tọa vị của các vi khuẩn làm dễ bệnh hen phế quản.
(SCIENCE ET VIE 5/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/6/2011)

Edited by user Friday, August 31, 2012 8:03:23 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#3 Posted : Friday, August 31, 2012 8:06:21 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 233

BS NGUYỄN VĂN THỊNH



1/ CÔN TRÙNG CHÍCH HAY RẮN CẮN (PIQURES D’INSECTE OU DE SERPENTS)

Một thông tin tốt làm giảm nguy cơ dị ứng đối với các nọc độc (venin)

ALLERGIE. Với hè và tiết trời nóng bức sắp đến, lại xuất hiện các con ong bầu (frelon) đầu tiên, ong vò vẽ (guêpe), ong mật (abeille) hay đủ loại rắn lục (vipère) với nguy cơ bị chích, bị cắn và bị dị ứng nghiêm trọng. Phải làm gì ? “ Trước hết cần trầm tỉnh, BS Catherine Quequet (allergologue) đã giải thích như vậy, bởi vì, để một phản ứng dị ứng đối với các nọc độc này có thể xảy ra trước hết ta đã phải đã được mẫn cảm trước, nghĩa là trước đó đã bị chích hay bị cắn ít nhất một lần. ”

Ngoài ra, khi ta làm trắc nghiệm đối với nọc độc của bộ cánh màng (venin d’hyménoptères) trong dân chúng, ta thấy rằng khoảng 20% những nguời Pháp được cảm ứng trong khi rất ít có nguy cơ bị một phản ứng dị ứng nghiêm trọng. Tuy vậy ta ghi nhận khoảng hai mươi trường hợp tử vong mỗi năm do phản ứng dị ứng nghiêm trọng đối với nọc độc của bộ cánh màng (venin d’ hyménoptères).

“ Nhiều người nghĩ là mình bị dị ứng và do đó ở trong tình trạng nguy hiểm, bởi vì họ phản ứng lại bằng một phù nề khu trú, đôi khi quan trọng, đối với một vết chích của muỗi hay ruồi trâu (taon) hay bởi vì nơi bị chích hay bị cắn sưng lên nhiều cm. Nhưng chừng nào điều đó vẫn được khu trú, thì không có gì phải thật sự lo lắng cả, BS François Lavand, thầy thuốc chuyên về bệnh phổi và dị ứng (pneumo-allergologue) của CHU de Reims, đã trấn an như vậy. Phản ứng gây quan tâm hơn khi lan rộng trên hơn 10 cm và ảnh hưởng lên khớp gần nhất (khi đó ta nói phản ứng tại chỗ lan rộng) Hay,dĩ nhiên, khi đó là một phản ứng toàn thân với nổi mày đay khổng lồ, phù nề ở xa chỗ chích, co thắt phế quản, thậm chí choáng phản vệ (choc anaphylactique) với khó ở (malaise), gia tăng tần số tim, hạ huyết áp và mất tri giác, điều này cần gọi điện thoại số 15 kêu Samu đến.

“ Trong trường hợp phản ứng tại chỗ lan rộng, ta kê đơn một crème dermocorticoide và bôi tức thời lên chỗ bị chích cũng như một loại antihistaminique dùng bằng đường miệng trong vài ngày ”, BS Lavaud đã xác nhận điều đó. “ Nhưng sau một phản ứng toàn thân, cần phải có một bilan allergologique ”, BS Ponvert đã nhấn mạnh như vậy.

Những trắc nghiệm da với các trích chất của nọc độc (venin) và, nếu cần, một định lượng máu các kháng thể đặc hiệu cho phép xác nhận chẩn đoán.“ Ngoài những lời khuyên thông thường để phòng ngừa bị côn trùng chích, trong trường hợp phản ứng toàn thân, ta kê đơn adrénaline chích (Anapen) cần mang theo mình 24 giờ trên 24 giờ. Phải sử dụng nó ngay khi xuất hiện những dấu hiệu hô hấp và/hoặc ngay khi cảm thấy khó ở, bằng cách chích vào mặt ngoài của đùi, đồng thời giữ stylo tại chỗ trong khoảng 10 giây, rồi xoa nhẹ trong khoảng 10 giây sau khi rút ra.

NHỜ ĐẾN GIẢI CẢM ỨNG (DESENSIBILISATION)

“ Một stylo mới với liều lượng mạnh hơn những liều lượng hiện nay trên thị trường (0,50mg thay vì 0,15mg đối với các nhũ nhi và 0,30 mg đối với các trẻ em và người lớn) được dự kiến. Như thế làm cho điều trị cấp cứu hiệu quả hơn ”, BS Claude Ponvert (khoa nhi và dị ứng học của hopital Necker-Enfants malades, Paris) đã nhấn mạnh như vậy.

“ Chú ý, ngay cả khi ta thấy khỏe hơn sau đó, cũng vẫn phải báo cho secours d’urgence, bởi vì loại tai biến nghiêm trọng này cần nhập viện ít nhất 12 đến 24 giờ. Và ở giai đoạn hai, một giải mẫn cảm (désensibilisation) trong một khoa chuyên môn phải được dự kiến, BS Quequet đã nhận xét như vậy. “ Tức thời, adrénaline cứa mạng sống. Nhưng sau đó, chính sự giải mẫn cảm tránh bị nguy cơ như thế lần nữa. Điều trị giải mẫn cảm kéo dài 3 đến 5 năm và những mũi tiêm ban đầu phải được thực hiện ở bệnh viện. Hơi bị bó buộc nhưng những kết quả là tốt : tính hiệu quả đến 98% đối với dị ứng ong vò vẽ và ong bầu và khoảng 90% đối với những dị ứng với ong mật, BS Lavaud đã kết luận như thế.

Ở Srilanka là nơi rắn cắn thường xảy ra và cac huyết thanh kháng nọc độc (sérum antivenin) có chất lượng trung bình, một công trình nghiên cứu mới được thực hiện trên 1000 bệnh nhân, đã kết luận về lợi ích của việc cho adrénaline phòng ngừa, bằng tiêm dưới da và với liều thấp, đúng sau khi bị rắn cắn để làm giảm những nguy cơ phản ứng dị ứng nghiêm trọng do huyết thanh kháng nọc độc gây ra.

Một biện pháp như thế phải chăng có thể áp dụng ở Pháp, là nơi adrénaline chỉ được dùng để điều trị ? “ Nhất thiết là không ! ”, Các BS Ponvert, Lavaud và Quequet đồng loạt trả lời như vậy. Hai lý do để giải thích điều đó :“ Trái với những quốc gia như Sri Lanka, những phản ứng dị ứng với các vết cắn của rắn vipère là ngoại lẽ ở nước chúng ta. Trường hợp sau cùng ở Châu Âu đã được báo cáo trong tư liệu ở Ba Lan năm 2007 , BS Ponvert đã nhấn mạnh như vậy. Sau đó, về các phản ứng dị ứng đối với các mũi chích của sâu bọ cánh màng (hyménoptères), các lợi ich mong chờ của adrénaline tiêm để phòng ngừa (tránh khoảng 20 trường hợp tử vong mỗi năm) dưới các nguy cơ gặp phải : thật vậy, adrénaline có thể làm gia trọng một bệnh lý tim mạch tiềm tàng và, trong số nhiều người bi chích bởi sâu bọ cánh màng mỗi năm, nhiều người có những vấn đề về tim mạch.
(LE FIGARO 23/5/2011)

2/ CÁC KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG CHỐNG LẠI CƠN THỐNG PHONG.

Trong cơn thống phong (crise de goutte), các kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) có thể là một giải pháp thay thế cho các điều trị chuẩn đôi khi không có hiệu quả hay bị dung nạp kém hay bị chống chỉ định. Đó là điều cho thấy của một công trình nghiên cứu trên 200 bệnh nhân được điều trị bởi một kháng thể đơn dòng mới, anti-interleukine-1-beta với thời gian tác dụng kéo dài : canakinumab. So sánh với cortisone, loại thuốc này, lúc được cho bằng một mũi tiêm duy nhất, chống đau tốt hơn và phòng ngừa nhiều hơn nguy cơ tái phát của các cơn thống phong.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2011)

3/ NHỮNG NGƯỜI HÚT THUỐC BỊ ĐAU HẬU PHẪU NHIỀU HƠN

Những người hút thuốc kêu đau nhiều hơn những người không hút thuốc sau một can thiệp ngoại khoa dưới gây mê tổng quát, theo một công trình nghiên cứu tập hợp 2150 người trưởng thành. Tần số của những trường hợp đau đớn nghiêm trọng đạt 39% ở những người hút thuốc so với 22% ở những người không hút thuốc trong phòng hồi sức, và 54% thay vì 30% sau khi xuất viện. Nguy cơ đau càng cao khi người bệnh càng trẻ hay bị tăng thể trọng và khi thời gian mổ quan trọng.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2011)

4/ THUỐC LÁ CÓ HẠI CHO ĐIỀU TRỊ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP

Một cuộc điều tra được tiến hành trên 1500 bệnh nhân bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp, tuổi từ 18 đến 70, cho thấy rằng các cơ may đáp ứng với điều trị bị giảm trong trường hợp nghiện thuốc lá. Trong 5 năm theo dõi, tỷ lệ đáp ứng với méthotrexate hay với một loại thuốc thuộc lớp inhibiteur du facteur de nécrose tumorale (TNF) ít hơn một nửa so với đáp ứng của những người không hút thuốc nếu ta xét đến những tham số khác (thể địa di truyền, tình trạng lâm sàng, những dữ kiện sérologie).
(SCIENCES ET AVENIR 4/2011)

5/ PROZAC CÓ THỂ GIÚP PHỤC HỒI SAU MỘT TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

Điều trị một bệnh nhân với Prozac sau một tai biến mạch máu não có thể giúp phục hồi khả năng vận động. Đó là kết luận của một công trình của các nhà nghiên cứu của Inserm, được công bố trong tạp chí The Lancet Neurology. Công trình nghiên cứu chứng minh lợi ích của việc cho sớm trong 3 tháng fluoxétine hay một loại thuốc thuộc họ được gọi là ISRS (inhibiteurs sélectifs de la recapture de la sérotonine). Trong số 130.000 trường hợp tai biến mạch máu não mỗi năm ở Pháp, 30.000 người vẫn giữ những di chứng nghiêm trọng.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2011)

6/ NICOTINE LÀM DỄ UNG THƯ.

Là chất kích thích thần kinh, nicotine của thuốc lá cũng làm dễ sự tạo thành của các tế bào ung thư, theo một công trình nghiên cứu của Hoa kỳ (Trường y Havard), được công bố trên PloSONE. Thật vậy nicotine ngăn cản sự phân chia tế bào bình thường xảy ra tiếp theo sau sự tan vỡ của ADN, được gây nên bởi benzopyrène, một trong 66 chất gây ung thư mà những người hút thuốc hấp thụ vào mỗi lần hít khói thuốc vào. Do đó các tế bào phổi mà ADN đã bị biến đổi bởi benzopyrène có thể tiếp tục tăng sinh và tiến triển thành những tế bào ung thư.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2011)

7/ NICOTINE, NGÓN CHÂN VÀ UNG THƯ PHỔI.

Ta có thể tiên đoán ung thư phổi bằng cách đó những nồng độ của nicotine trong các móng của các ngón chân. Và so sánh nguy cơ này với nguy cơ được ước tính căn cứ trên sự tiêu thụ thuốc lá được khai báo bởi bệnh nhân. Đó là điều được cho thấy bởi một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ nơi hơn 800 người đàn ông tuổi từ 40 đến 75, trong đó 1/3 bị ung thư phổi. So sánh với những người chứng mạnh khỏe, và sau khi điều chỉnh theo những yếu tố nguy cơ khác (tuổi tác, trọng lượng, tiêu thụ), ta chứng thực rằng nguy cơ ung thư phổi tỷ lệ với nồng độ nicotine được đo ở các móng chân bchromatographie liquide haute performance.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2011)

8/ TẠI SAO MUỒI THÍCH ĐÀN ÔNG HƠN ?

Các con muỗi thuộc giống Anopheles và Aedes, những vecteur truyền những bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết hay sốt vàng, nhạy cảm với những chất được tiết ra bởi các tuyến bã và flore cutané như ammoniac, acide lactique, hay CO. Nhưng nếu nói chung đàn ông thường bị chích hơn đàn bà, điều đó là do nồng độ và cường độ của mùi hơn là do tính chất của các hợp chất mà họ phát ra.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2011)

9/ COI CHỪNG NHỮNG THIẾU HỤT Ở NHỮNG NGƯỜI ĂN CHAY

Những người ăn chay nghiêm chỉnh (không có một sản phẩm động vật nào) có thể có nguy cơ bị huyết khối, thậm chí xơ mỡ động mạch. Đó và kết luận của một phân tích của nhiều bài báo được thực hiện về sinh hóa học của những người có nồng độ rất thấp của oméga 3 và vitamine B12, so sánh với những người ăn thịt. Với hậu quả, nhất là một sự giảm nồng độ cholestérol HDL, yếu tố nguy cơ của xơ mỡ động mạch.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2011)

10/ ĐÀN BÀ KHI NGỦ LÀM NHIỀU ÁC MỘNG HƠN

Ác mộng có thể được định nghĩa như là một giấc mơ có gánh lo âu mạnh, xảy ra trong giấc ngủ với các cử động nhanh của nhãn cầu (giấc ngủ nghịch lý) và nói chung đánh thức người đang ngủ. Theo kết quả phân tích của một trăm công trình nghiên cứu thì các phụ nữ thường làm nhiều ác mộng hơn đàn ông. Sự khác nhau này được quan sát bắt đầu từ thời kỳ thiếu niên (10-15 tuổi) và trong thời kỳ trưởng thành (18-60 tuổi). Sự khác nhau này biến mất ở người già. Trong thời thơ ấu, không có sự khác nhau giữa trai và gái, nhưng bố mẹ có khuynh hướng đánh giá thấp tần số các ác mộng của trẻ em, ít nhất giữa 7 và 12 tuổi.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(4/7/2011)

Edited by user Friday, August 31, 2012 8:07:10 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#4 Posted : Friday, August 31, 2012 8:22:41 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 234

BS NGUYỄN VĂN THỊNH



1/ SỰ TRỞ LẠI CỦA CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC.
NHỮNG ĐIỂM MỐC


BỆNH GIANG MAI. Được gây nên bởi một vi khuẩn, tréponème pâle (được nhận diện năm 1905), bệnh giang mai đã là bệnh rất gây chết người trong nhiều thế kỷ. Sự khám phá pénicilline vào giữa thế kỷ thứ XX đã cho phép làm bệnh lùi lại rất nhiều. Nhưng số các trường hợp đã lại bắt đầu gia tăng.

CÁC CON SỐ . Vào năm 2006 một công trình nghiên cứu được phối hợp bởi ORS (Obervatoire régional de la santé) ở Ile-de-France đã cho thấy rằng 37% các người đàn ông và 31% các phụ nữ đã không bao giờ được nghe nói về các chlamydiae. Cùng nhóm nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng các phụ nữ đã thay đổi dài lâu hành vi tình dục (comportement sexuel) của họ sau một chẩn đoán nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục (infection sexuellement transmissible) để đuổi kịp hành vi tình dục của các phụ nữ đã không bị nhiễm trùng này. Nhưng không phải như thế đối với các người đàn ông.

BỆNH NẤM (MYCOSE) Phần lớn những người khai đã bị một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục thật ra lại bị một bệnh do nấm (mycose), không được xem là bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục. Trên thực tế, 12% các người đàn ông và 15% các phụ nữ từ 18 đến 69 tuổi khai là đã bị một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục, được công nhận như vậy, trong suốt 5 năm qua.

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU . Một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh mới về những hành vi tình dục của những người Pháp đang được phân tích và sẽ được công bố vào mùa thu năm 2011 bởi ORS Ile-de-France. Những kết quả đầu tiên báo cáo một sự gia tăng trở lại của gián đoạn thai nghén tự ý (IVG : interruption volontaire de grossesse) và những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục ở những người trẻ, cho thấy việc bỏ không sử dụng túi dương vật.

Vài bệnh trong số những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục như bệnh lậu (blennorragie) hay chlamydiose có khuynh hướng gia tăng.

DEPISTAGE. “ Giữa năm 2008 và 2009, sự gia tăng các trường hợp bệnh lậu (gonocoocie) đã đạt đến 52% ở Pháp. Căn bệnh này không còn giới hạn vào các nhóm có nguy cơ nữa nhưng từ nay được quan sát trong toàn bộ dân chúng ” , BS Caroline Semaille, người phụ trách đơn vị VIH/IST/viêm gan B và C thuộc Viện quốc gia theo dõi y tế (INVS : Institut national de veille sanitaire), đã nhấn mạnh như vậy. Căn bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, gây nên bệnh lậu, có một thời gian tiềm phục rất ngắn và tỏ ra là một sentinelle thật sự đối với những hành vi có nguy cơ. Ngoài ra, những con số mới nhất mà IVNS nhận được vào năm 2009, cho thấy một sự gia tăng đáng kể các trường hợp nhiễm trùng gây nên bởi Chlamydia trachomatis, ảnh hưởng lên gần 10% các phụ nữ trẻ trong vài tỉnh.

Sau cùng, mặc dầu sự gia tăng trở lại của bệnh giang mai được quan sát từ năm 2000 (trong khi căn bệnh này vốn gần như đã biến mất trong những năm 1990), rốt cuộc dường như đã bị dập tắt, nhưng số các trường hợp giang mai tiềm tàng (syphilis latente), được phát hiện khi nó không gây nên những triệu chứng rõ rệt nữa, từ nay chiếm 35% những trường hợp được phát hiện.

“ Dầu sao cũng cần phải nhắc lại rằng, ta ở xa các con số của những năm 1980 và đó không phải là một sự bùng nổ của các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, GS Michel Janier, chủ tịch section MST thuộc Hiệp hội khoa Da Pháp, đã chỉ rõ như vậy. Tuy nhiên điều này đặt ra vấn đề về tính hiệu quả của những biện pháp được thiết đặt nhằm ngăn ngừa chúng.”

Mặc dầu khó xác định đâu là nguyên nhân chính xác của những gia tăng này, hai yếu tố dường như đóng một vai trò. VIH đã cho phép tầm thường hóa việc sử dụng bao dương vật, dẫn đến một sự sụt giảm đột ngột các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục vào cuối những năm 1980, nhưng không đủ để ngăn ngừa những nhiễm trùng khác có những cách truyền bệnh khác nhau. Fellation, được thực hiện thường nhất không cần đến bao dương vật, như thế cho phép sự lan truyền của nhiều mầm bệnh. Do đó sự biến đổi của những hành vi tình dục đóng một vai trò quan trọng.

Ngoài ra, mặc dầu vài bệnh nhiễm trùng lây truyền bằng đường sinh dục được phát hiện nhờ những dấu hiệu hiển nhiên như các dịch chảy bất thường ở dương vật, các triệu chứng rát lúc tiểu tiện, các khí hư âm đạo hay sự xuất hiện của những thương tổn khu trú, dầu vậy những thương tổn này thường im lặng không gây triệu chứng. Do đó nhiều người mang bệnh mà không biết, với những hậu quả quan trọng vì lẽ các bệnh lậu hay các bệnh do Chlamydia có thể dẫn đến có thai ngoài tử cung hay vô sinh nơi phụ nữ hay dẫn đến viêm nghiêm trọng của tuyến tiền liệt, của các tinh hoàn và mào tinh hoàn ở đàn ông.

“ Sự điều tra phát hiện là công cụ đấu tranh hiệu quả nhất để nhận diện chúng và điều trị chúng sớm, BS Semaille đã nhắc lại như vậy. Đó là tránh những biến chứng đối với bệnh nhân nhưng cũng để phòng ngừa những lây nhiễm mới, nhất là các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục lại làm dễ sự lây nhiễm bởi VIH. ”

Sau một giao hợp với một bạn đường phối ngẫu mới hay khi mới đây ta đã có nhiều bạn đường tình dục, điều quan trọng là thực hiện một phát hiện bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, mỗi năm lập lại một lần nếu tình trạng nguy cơ kéo dài. Chỉ có sự phát hiện bệnh giang mai là cần phải lấy máu mặc đầu không có những thương tổn có thể thấy được, còn những bệnh lây truyền bằng đường sinh dục khác được phát hiện nhờ một phân tích nước tiểu hay lấy một bệnh phẩm tại chỗ.

Sự xuất hiện những xét nghiệm nhanh hẳn còn làm dễ hơn việc điều trị các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục. “ Trong 5 năm nữa, việc xử trí điều trị các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục sẽ hoàn toàn khác. Đó sẽ là một cuộc cách mạng thật sự bởi vì, trong vòng một giờ, ta sẽ có thể có sự phát hiện, kết quả và điều trị ”, BS Chantal Vernay-Vaisse, trưởng khoa phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục-ung thư
  • chủng ngừa đã chỉ rõ như vậy.

    Những traitement “ minute ”, dùng một liều cao duy nhất kháng sinh đã được khuyến nghị. Chúng cho phép tránh những điều trị lâu dài làm dễ sự xuất hiện các đề kháng đối với kháng sinh. Thí dụ các lậu cầu đã trở nên đề kháng với nhiều kháng sinh và từ nay điều trị phải là một mũi tiêm mông duy nhất 500 mg ceftriaxone.

    Đối với những nhiễm trùng nguồn gốc virus (papillomavirus, herpès, viêm gan) không có điều trị có khả năng triệt trừ các virus, nhưng có một vaccin chống lại papillomavirus và các viêm gan A và B. “ Tiêm chủng là công cụ duy nhất hoàn toàn có hiệu quả. Tiếc thay việc tiêm chủng không được thực hiện rộng rãi nơi các người trẻ, là những đối tượng đặc biệt bị liên quan ”, BS Vernay-Vaidde đã nhắc lại như vậy. Sự tiêm chủng chống lại papillomavirus, hiện nay chỉ nhằm vào các phụ nữ trẻ, cũng có thể được đề nghị cho các người đàn ông.
    (LE FIGARO 27/6/2011)


    2/ “CHLAMYDIA ”, THẦM LẶNG NHƯNG CÓ MẶT

    “ Các nhiễm trùng gây nên bởi Chlamydia đang gia tăng một cách hằng định. Trong Boucles-du-Rhône, chúng tôi đã quan sát, vào năm 2010, một tỷ lệ lưu hành 9,3% ở các phụ nữ trẻ từ 20 đến 25 tuổi ”, BS Vernay-Vaisse, trưởng khoa phòng ngừa bệnh lây truyền bằng đường sinh dục-ung thư-tiêm chủng, đã chỉ rõ như vậy. Sự gia tăng hiện nay của Chlamydiae trachomatis ảnh hưởng chủ yếu các phụ nữ trẻ tuổi sau thời kỳ thiếu niên, nhưng cũng gây bệnh cho các người đàn ông. Ở quy mô quốc gia, các con số đạt đến 3,2% đối với các phụ nữ và 2,5% đối với những người đàn ông giữa 18 và 29 tuổi. Phần lớn nhưng nhiễm trùng đo Chlamydia vẫn thầm lặng không triệu chứng (giữa 60 và 70%) và thường được phát hiện lúc tìm kiếm một bệnh lây truyền bằng đường sinh dục khác hay nhân một thăm khám thường quy. Sự gia tăng được quan sát như thế có thể là hậu quả của một công tác điều tra phát hiện tốt hơn, được làm dễ bởi những xét nghiệm nhanh hơn và dễ đề nghị hơn. Theo INVS, số các trường hợp chẩn đoán đã gia tăng 19% ở đàn ông và 25% ở phụ nữ giữa năm 2008 và 2009.

    “ Đó là căn bệnh của tất cả mọi người, không có nhóm người nào nguy cơ hơn một nhóm khác, BS Chantal Vernay-Vaisse đã cảnh cáo như vậy. Do đó chúng tôi đề nghị phát hiện một cách hệ thống cho tất cả các phụ nữ dưới 30 tuổi vì lẽ có một nguy cơ bị vô sinh.” Thật vậy, trong hầu hết các trường hợp, các bệnh gây nên bởi chlamydia vẫn không có triệu chứng nhưng những hậu quả về lâu về dài của chúng có thể rất là nghiêm trọng. Các bệnh do chlamydia có thể là nguyên nhân dẫn đầu gây nên có thai ngoài tử cung nơi 2% các phụ nữ bị nhiễm trùng và là nguyên nhân gây vô sinh do tắc vòi trứng đối với 3% trong số những phụ nữ này. Ở người đàn ông, trong 5% các trường hợp, nhiễm trùng gây nên bởi chlamydia có thể dẫn đến viêm các tinh hoàn hay mào tinh hoàn. Sự phát hiện bằng PCR, được thực hiện với bệnh phẩm là tia phóng nước tiểu đầu tiên ở đàn ông và bằng một autoprélèvement par écouvillon nơi phụ nữ, từ nay được làm dễ bởi vì nó cho phép một phát hiện rất sớm, không phải chờ đợi những thương tổn vòi trứng được phát hiện nhờ những phân tích máu. “ Sự dễ dàng trong việc sử dụng có thể cho phép một sự điều tra phát hiện đại trà, kể cả bởi những người không thuộc ngành y tế ”, GS Michel Janier, chủ tịch của section MST của hiệp hội khoa da của Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Việc điều trị cũng rất đơn giản và nhanh chóng : 1g azithromycine bằng một liều duy nhất.

    Cũng như các bệnh gây nên bởi chlamydia, nhiều bệnh lây truyền bằng đường sinh dục có thể vẫn không gây triệu chứng và, chừng nào chẩn đoán không được xác lập và điều trị không được thực hiện, những người bị nhiễm trùng có thể tiếp tục truyền bệnh. Vậy điều thiết yếu là có khả năng nhận diện những bạn đường phối ngẫu ngay khi chẩn đoán được xác nhận, để phòng ngừa chúng và cho phép những người này tự điều trị lấy mình.

    “ Vì ta đụng đến vấn đề tình dục, nên điều quan trọng là phải dùng thời gian để thảo luận với bệnh nhân, gây nơi họ lòng tin cậy và tránh mọi phán đoán để các thông tin thu được đúng là tương ứng với thực tế ”, BS Annie Vermersch-Langlin, trưởng khoa da liễu của bệnh viện Valenciennes đã đánh giá như vậy. Tính hiệu quả lớn nhất của chẩn đoán các bệnh gây nên bởi chlamydia có thể chỉ rõ rằng từ nay sự đối thoại được cởi mở hơn.
    (LE FIGARO 27/6/2011)

    3/ “ CHLAMYDIA ” VÀ THAI NGHÉN, CẶP ĐÔI NGUY CƠ

    Vi khuẩn Chlamydia trachomatis là một nguyên nhân thường thấy của bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, nhất là ở phụ nữ. Nhiều công trình nghiên cứu đã đánh giá nguy cơ sinh non gây nên bởi nhiễm trùng do chlamydia này trong lúc thai nghén nhưng các kết quả không hòa hợp. Theo một điều tra mới đây và quy mô lớn, các bệnh gây nên bởi Chlamydia (chlamydiose) có thể có một vai trò quan trọng trong nguy cơ sinh non. Hơn 4000 phụ nữ có thai đã tham dự vào sự theo dõi này bằng bảng câu hỏi với lấy mẫu nghiệm nước tiểu và tìm kiếm C.trachomatis bằng sinh học phân tử (PCR). Toàn bộ, nhiễm trùng đã được tìm thấy ở 4% các phụ nữ. Mặc dầu có tính đến những yếu tố làm gia trọng khác (tuổi dưới 21, nhiều bạn đường phối ngẫu), nguy cơ sinh non, hoặc sinh con từ 35 tuần thai nghén, được nhân lên gấp đôi trong trường hợp nhiễm trùng do chlamydia. Vì vậy, một sự điều tra phát hiện tốt hơn các phụ nữ nguy cơ và sự kê đơn một thuốc kháng sinh thích hợp trong thời kỳ thai nghén sẽ cho phép làm giảm nguy cơ này.
    (SCIENCES ET AVENIR 7/2011)

    4/ TA BIẾT NHIỀU HƠN VỀ PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ

    Mối liên hệ giữa bệnh viêm cận răng (parodontite : viêm các mô nâng đỡ răng) và phình động mạch chủ bụng (anévrisme de l’aorte abdominale) (phần động mạch chủ nằm trong bụng) đã được biết đến, nhưng sự liên hệ nhân quả vẫn cần được xác lập. Một nhóm nghiên cứu người Pháp đã đạt được điều đó nhờ nhận diện những vi khuẩn hiện diện trong động mạch chủ bụng. Phình động mạch (anévrisme) là một sự giãn của động mạch, đôi khi đến độ gây vỡ, do thành huyết quản bị mỏng dần đi. Phình động mạch phát triển từ một chỗ ứ đọng mỡ (một mảng xơ mỡ), chẳng bao lâu được che phủ bởi một cục máu đông (huyết khối), lôi kéo các bạch cầu (các tế bào đa nhân) mà các chất tiết làm thoái hóa thành huyết quản. Những tế bào phòng ngự này đến đây làm gì ? Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy, trong huyết khối của các bệnh nhân được khảo sát, ADN của các vi khuẩn Porphyromonas gingivalis, một tác nhân gây nhiễm trùng của các bệnh viêm cận răng (parodontite). Vậy các tế bào đa nhân trung tính sẽ ở đó để chống lại chúng. Ngoài ra những nhiễm trùng liên tiếp của P.gingivalis ở chuột làm tăng nhanh tiến triển của bệnh phình động mạch.

    “ Vi khuẩn này có lẽ chịu trách nhiệm duy trì quá trình, Olivier Meilhac thuộc Inserm, đã giải thích như vậy. Động tác nhai duy trì việc đi qua trong tuần hoàn, một cách kinh diễn, của các vi khuẩn đến gắn vào huyết khối và lôi kéo các bạch cầu đa nhân trung tính đến tiếp xúc với thành của động mạch chủ : thay vì hóa sẹo, thành động mạch chủ tiếp tục bị thoái hóa.” Giai đoạn kế tiếp : chứng tỏ bằng một thử nghiệm lâm sàng rằng điều trị bệnh viêm cận răng (parodontite) làm ngừng lại tiến triển của bệnh phình động mạch chủ.
    (SCIENCE ET VIE 7/2011)

    5/ CÁC KHÁNG SINH TRÁNH KHỎI PHẢI MỔ RUỘT THỪA.

    Có phải luôn luôn cần đến dao mổ trong trường hợp viêm ruột thừa không biến chứng ? Có lẽ là không. Một công trình nghiên cứu của Pháp vừa cho thấy rằng các kháng sinh cho phép tránh phải mổ trong 68% các trường hợp : trong số 120 bệnh nhân được điều trị bằng kháng sinh, 81 đã không cần đến phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa trong năm tiếp theo sau đó, mặc dầu tỷ lệ bị biến chứng đã tỏ ra cao hơn : 8% đối với 2% ở những bệnh nhân được mổ. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã nghiên cứu khả năng điều trị viêm ruột thừa như ta đã làm đối với viêm túi cùng (diverticulite) (nhiễm trùng của những túi nhỏ được tạo thành trong ruột già) và đã kết luận rằng tất cả hai bệnh lý này đều có thể được điều trị với các kháng sinh. Tuy nhiên tính ưu việt của các kháng sinh còn phải được chứng minh một cách rõ ràng.
    (SCIENCE ET VIE 7/2011)

    6/ UNG THƯ VÚ : HÓA HỌC-PHÒNG NGỪA (CHIMIO-PREVENTION) GÂY TRANH CÃI.

    Phòng ngừa ung thư vú ở các phụ nữ mãn kinh nhờ một loại thuốc ? Chủ đề vừa được đề cập ở hội nghị quốc tế quan trọng nhất tại Chicago (Hoa kỳ) từ 3 đến 7/6. Trung tâm của cuộc tranh luận, đó là những kết quả của một công trình nghiên cứu quốc tế được mệnh danh là MAP3 (Mammary Prevention trial). Đó là một thử nghiệm hóa học phòng ngừa (chimio-prévention), nghĩa là một chiến lược nhằm cho các phụ nữ không bị bệnh một loại thuốc. Trong ba năm, gần 2500 phụ nữ đã nhận hoặc là một loại thuốc nhằm ức chế sự sản xuất các oetrogène, exémestane (Aromasine), hoặc một placebo. Sau 5 năm dùng thuốc mỗi ngày, 11 trường hợp ung thư vú đã được chứng thực trong nhóm exémestane so với 32 trong nhóm placebo, hoặc một sự giảm 66% nguy cơ bị ung thư.

    Profil của các phụ nữ này là đặc biệt. Tất cả đều trong thời kỳ mãn kinh và có ít nhất một yếu tố nguy cơ ung thư vú. Khái niệm hóa học
  • phòng ngừa (chimio-prévention) này (không được cho phép ở Pháp) không tạo nên sự nhất trí. Những tác dụng phụ cua exémestane như mệt mỏi, các cơn phừng mặt hay, nhất là, các đau khớp, khiến các chuyên gia hoài nghi. “ Công trình nghiên cứu này đặt ra một câu hỏi thật sự, GS Eric Lartigan, chuyên gia ung thư học thuộc bệnh viện Oscar-Lambret (Lille) đã giải thích như vậy. Nguy cơ của việc sử dụng exémestane trong 5 năm là gì ? Bất hạnh thay, chúng ta vẫn chưa có câu trả lời. Ta chỉ biết rằng phải điều trị khoảng 2500 phụ nữ để tránh khoảng 20 ung thư. Phải chăng điều đó biện minh cho việc dùng thuốc kéo dài đối với tất cả phụ nữ ? ” Ẩn số khác, thời gian để thực hiện một hóa học-phòng ngừa như thế, bởi vì thời gian nhìn lại của nghiên cứu chỉ mới 5 năm.
    (SCIENCE ET AVENIR 7/2011)


    7/ ĐƯỢC KÍCH THÍCH, NÃO BỘ CÓ THỂ LÀM GIẢM BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC.

    Một ngày nào đó ta sẽ biết sửa chữa những tổn hại được gây nên trong não bộ bởi bệnh xơ cứng rải rác? Một nhóm nghiên cứu quốc tế (Anh, Pháp, Nhật Bản) mở ra một hướng nghiên cứu nghiêm túc. Đó là kích thích những năng lực tự nhiên tự sửa chữa của não bộ để tái tạo “ bao” myéline của các sợi thần kinh bị phá hủy bởi bệnh xơ cứng rải rác. Bao myéline này được chế tạo bởi những tế bào chuyên biệt : các oligodendrocyte. Nếu một thương tổn xuất hiện, các tế bào gốc của các oligodendrocyte sẽ di chuyển đến nơi bị thương tổn, biến hóa thành những oligodendrocyte trưởng thành và khởi động sự sản xuất myéline. Thế mà trong bệnh xơ cứng rải rác quá trình này không hoạt động nữa. “ Mục tiêu của chúng tôi là nhận diện những yếu tố nào phong bế quá trình sửa chữa này, Brahim Nait Oumesmar, thuộc nhóm nghiên cứu Paris đã giải thích như vậy. Khi đó RXRy xuất hiện như là một protéine chìa khóa ”. Một chiếc chìa khóa (“ clé ”) cũng cần thiết cho việc chế tạo myéline. Thế mà RXRy biến mất khi bệnh xơ cứng rải rác phát triển. “ Kinh nghiệm của chúng tôi cho phép nghĩ rằng đó là một cái đích dược lý (cible pharmacologique) tốt để đánh thức tiềm năng của những tế bào gốc của não bộ, theo Anne Baron-Van Evercooren, thuộc Viện não bộ và tủy sống. Những phân tử tổng hợp, các rétinoide, đã được biết có tác dụng tương tác với RXRy. Thay vì tránh làm phát khởi căn bệnh, những điều trị dựa trên rétinoides có thể làm dễ sự tái sinh và sửa chữa của các bao myéline.
    (SCIENCE ET VIE 2/2011)

    8/ NHỮNG NGƯỜI ĐI DẠO, COI CHỪNG TIQUE VÀ BỆNH LYME.

    Cần một thăm khám da mỗi ngày và tốt nhất là có thiết bị thích đáng để trừ khử con acarien to lớn này.

    INFECTION. Được truyền bởi vài loại tique, nhưng không phải tất cả, bệnh Lyme có thể dễ dàng được làm ngưng lại bởi vài khuyến nghị đơn giản mà mọi người đi dạo cần phải biết. Nếu không được xử trí sớm, những biểu hiện thấp khớp (viêm một khớp, chủ yếu là khớp gối), thần kinh, hiếm hơn là tim hay da, có thể xuất hiện sau nhiều tháng. Do đó, tầm quan trọng phát hiện sớm và điều trị bệnh vi khuẩn tương đối thường xảy ra này.

    Để làm giảm các nguy cơ bị tique cắn khi đi dạo trong rừng, khuyến nghị của Bộ y tế đơn giản như sau : mang quần áo dài tay, che phủ và kín. Và bôi các répulsif lên quần áo. “ Nhưng trên thực tế, nhiều người đi dạo coi thường khuyến nghị thứ nhất khi nhiệt độ của mùa hè. Chính vì vậy, biện pháp quan trọng nhất, khi di dạo chơi trong rừng là kiểm tra rằng không một con tique nào đã nằm trên da của chúng ta, nhất là ở nách, ở các nếp của đầu gối và ở phần cao của đùi, hay ở da đầu, GS Stahl, trưởng khoa bệnh truyền nhiễm ở Grenoble và cựu chủ tịch của Hiệp Hội bệnh học nhiễm khuẩn nổi tiếng Pháp, đã nhấn mạnh như vậy. Nếu trường hợp xảy ra như vậy, phải lấy tique đi càng nhanh càng tốt, bởi vì con tique càng ở lâu trên da, thì nguy cơ truyền vi khuẩn càng gia tăng. Để rút con côn trùng không mong muốn này, chủ yếu trước hết đừng tìm cách làm ngủ chúng, như trước đây ta thường chủ trương như vậy, bởi vì người ta đã nhận thấy rằng điều đó làm gia tăng nguy cơ rằng con tique, khi bị gây mê, thả các túi nước bọt chứa các vi khuẩn gây bệnh. Tốt nhất là sử dụng một cái móc chống tique (crochet antitique) bán ở hiệu thuốc (nếu không có, dùng pince à épiler) và kéo tique ra với đầu của nó. Sau đó phải khử trùng với chất sát trùng trong suốt và không có cồn và nhất là theo dõi sự xuất hiện của những dấu hiệu báo một bệnh Lyme khởi đầu.

    Đó là trường hợp của bệnh Lyme giai đoạn đầu nếu, trong những ngày tiếp theo sau đó xuất hiện sốt và một vòng đỏ có khuynh hướng lan rộng ra. Ở giai đoạn này, các kháng sinh cho bằng đường miệng cho phép triệt trừ vi khuẩn không được mong muốn. Khi bệnh cảnh trở nên điển hình và khi có ý niệm bị tique cắn, người thầy thuốc ngay cả không cần tìm sự xác nhận chẩn đoán bằng một xét nghiệm sinh học (thử máu). Các kháng sinh được kê toa tức thời và có tác dụng bởi vì không có vấn đề đề kháng của vi khuẩn.

    Và nếu vẫn không có một điều trị thích đáng, thì một bệnh viêm não một ngày nào đó sẽ xuất hiện, khi đó cần được nhập viện, thậm chí một hồi sức trong những trường hợp nghiêm trọng nhất. Trong những năm về sau có thể xuất hiện một hội chứng sau khi mắc phải bệnh Lyme (syndrome post-Lyme), nguồn gốc của một sự mệt mỏi và các đau khớp mãn tính. Bấy nhiêu các biến chúng sẽ không còn hiện hữu nữa nếu các người dạo chơi trong rừng được thông tin tốt hơn, đồng thời cảnh giác hơn.

    THĂM KHÁM KHI CÓ CHÚT ÍT NGHI NGỜ

    Ở Hoa kỳ, là nơi bệnh Lyme có thể gây bệnh cho một người Mỹ trên 15 người, theo những thống kê bi quan nhất, những công trình nghiên cứu tìm kiếm một vaccin tiến triển tốt. Tuy nhiên, vaccin này không nhất thiết thích ứng ở Pháp, bởi vì các giống gốc vi khuẩn gây bệnh không phải giống nhau. Vì vậy tốt hơn là không nên quá cậy vào vaccin này để không phản ứng lại.

    “ Dầu thế nào đi nữa, trong đất nước chúng ta, căn bệnh rõ rệt ít gặp hơn. Kể cả không có một nguy cơ nào ở vùng cao (trên 1500 m). Chỉ có những vùng như Alsace, Lorraine, Limousin và Auvergne là ghi nhận nhiều người bệnh hơn : con số lên đến một người Pháp đối với 500 người dân ở những vùng này, nhưng dưới một người dân đối với 10.000 trong phần còn lại của lãnh thổ. Cần biết những triệu chứng báo hiệu. Và thăm khám khi có chút ít nghi ngờ, bởi vì sự kê đơn các thuốc kháng sinh thích ứng trong một tuần rất có hiệu quả.

    Sau cùng, các con tique còn có thể truyền cho chúng ta những vi khuẩn khác, đặc biệt là trong miền Nam nước Pháp. Trong hơn 90% các trường hợp, rickettsiose là hiền tính, với một hội chứng cúm xảy ra vào mùa hè. Lại nữa, ta hành động càng nhanh thì càng tốt hơn.
    (LE FIGARO 9/8/2010)

    9/ THUỐC LÁ VÀ CHỨNG BÉO PHÌ CÓ THỂ LÀM DỄ CHỨNG ĐAU DÂY THẦN KINH TỌA.

    Chứng nghiện thuốc lá và bệnh béo phì là hai yếu tố có thể làm dễ sự xuất hiện của chứng đau lưng (lombalgie) hay chứng đau dây thần kinh tọa (sciatique), theo một công trình nghiên cứu trên 12.000 người tuổi trung bình là 14 tuổi, được theo dõi trong 28 năm. Nguy cơ phải nhập viện để điều trị nội khoa hay ngoại khoa một chứng đau lưng hay đau dây thần kinh tọa bị gia tăng đáng kể ở người đàn ông hút thuốc (2 đến 3 lần nhiều hơn những người không hút thuốc) và nơi phụ nữ béo phì (7 lần nhiều hơn những phụ nữ không béo phì).
    (SCIENCES ET AVENIR 7/2011)

    10/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẮP : PHUƠNG PHÁP MỚI ĐỂ ĐƯỢC HIỆU QUẢ HƠN.

    Một công trình nghiên cứu quốc gia quy mô rất lớn, được phối hợp bởi GS Maxime Dougados, trưởng khoa thấp khớp thuộc bệnh viện Cochin, mô tả sự điều trị đổi mới để loại bỏ các thất bại.

    Hỏi : Viêm đa khớp dạng thấp gây thương tổn nhiều khớp bằng cách nào ?
    GS Maxime : Đó là một bệnh thấp khớp viêm (rhumatisme inflammatoire) rất đau đớn, nếu không được điều trị thích ứng tốt, về lâu về dài gây nên sự phá hủy khớp. Hậu quả là những phế tật nghiêm trọng : không thể sử dụng các bàn tay, không thể bước…và, trong những trường hợp rất nghiêm trọng, một tình trạng tàn phế bắt bệnh nhân ở một chỗ trên ghế bành.Vấn đề khác : viêm đa khớp dạng thấp liên kết với những bệnh khác (thí dụ những bệnh lý tim-mạch, các nhiễm trùng, chứng loãng xương..) thường xảy ra hơn trong dân chúng nói chung.

    Hỏi : Ngày nay, ta đạt đến đâu trong điều trị ?
    GS Maxime : Với điều kiện được điều trị sớm và được theo dõi nghiêm chỉnh, từ 10 năm qua, các bệnh nhân hưởng được một cuộc cách mạng trị liệu thật sự với việc thương mãi hóa những loại thuốc mới, và nhất là các sinh liệu pháp (biothérapie). Nhất là, mức độ nghiêm trọng của bệnh phải được theo dõi rất sát để có thể thích ứng điều trị ngay khi căn bệnh được thể hiện.

    Hỏi : Theo những điều tra khoa học mới đây, ta đã thu được những kết quả nào ?
    GS Maxime : Tất cả các công trình nghiên cứu cho thấy rằng một sự theo dõi đều đặn căn bệnh, với sự thích nghi điều trị đối với mỗi dấu hiệu nghiêm trọng nhỏ nhất, có những kết quả rất tốt trong hầu hết các trường hợp. Vấn đề được đặt ra hiện nay liên quan đến cách đảm bảo sự theo dõi này.

    Hỏi : Mục đích của công trình nghiên cứu quốc gia có quy mô rất lớn này, được thực hiện trong 20 trung tâm bệnh viện là gì ?
    GS Maxime : Có hai mục tiêu. Một mặt, kiểm tra rằng bệnh nhân không bị những bệnh liên kết hay ít nhất rằng tất cả các biện pháp phòng ngừa được thực hiện (thí dụ, kiểm tra sổ tiêm chủng để tránh những nhiễm trùng như cúm và vài bệnh phổi ). Mặt khác, dạy cho các bệnh nhân tự mình đánh giá căn bệnh (như ta đã làm đối với bệnh đái đường hay cao huyết áp).

    Hỏi : Bằng những phương tiện nào bệnh nhân có thể tự kiểm soát lấy mình ?
    GS Maxime : Giai đoạn đầu tiên là một y tá được đào tạo vì mục đích này dạy cho bệnh nhân kỹ thuật đánh giá một số điểm (score) được gọi là “DAS”. Việc tính toán dựa trên 4 tiêu chuẩn. 1. Số lượng các khớp bị đau. 2. Số các khớp bị sưng. 3. Tốc độ trầm lắng. 4. Sự đánh giá cá nhân của bệnh nhân (mệt mỏi, các rối loạn về giấc ngủ hay tâm lý...). Số điểm được xác lập dựa trên các con số, khác nhau tùy theo các tiêu chuẩn. Thí dụ : đối với các khớp đau, thang đánh giá là từ 0 đến 28. Các con số được ghi nhận trên một máy tính đặc biệt, cho những kết quả cuối cùng của số điểm DAS. Nếu kết quả trên 5, điều này có nghĩ rằng căn bệnh rất hoạt động. Dưới 2,6, căn bệnh đang thuyên giảm. Để làm dễ việc giảng dạy, Hiệp hội khoa thấp khớp Pháp đã thực hiện một vidéo dành cho các bệnh nhân.

    Hỏi : Ta tuyển mộ như thế nào những y tá có nhiệm vụ giúp đỡ trong việc kiểm soát bệnh viêm đa khớp dạng thấp ?
    GS Maxime : Từ tháng giêng 2011, các y tá được đào tạo một cách chuyên biệt trong những trung tâm khoa thấp khớp. Vai trò của họ là dạy cho các bệnh nhân đánh giá căn bệnh của mình, nhưng cũng khiến tìm những bệnh liên kết. Công trình nghiên cứu quy mô lớn, hiện đang được tiến hành ở Pháp, sẽ đánh giá tầm quan trọng của những tác dụng dương tính của chiến lược mới này.

    Hỏi : Nếu các kết quả tỏ ra thỏa mãn, ta sẽ thực hiện việc điều trị này như thế nào ?
    GS Maxime : Ta sẽ phổ biến chiến lược này cho hàng trăm trung tâm khoa thấp khớp bằng cách đào tạo nhiều y tá mà vai trò là quan trọng và cần được xác định ở Pháp. Về điểm này, Hiệp hội châu Âu thấp khớp học vừa đưa ra những khuyến nghị về vai trò của các y tá trong việc điều trị các bệnh nhân thấp khớp nhất là trong lãnh vực giáo dục và theo dõi. Trong bối cảnh này, công trình nghiên cứu của Pháp hiện đang được theo dõi sát bởi cộng đồng khoa thấp khớp quốc tế.
    (PARIS MATCH 9/6
  • 15/6/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (11/7/2011)
  • "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #5 Posted : Friday, August 31, 2012 8:34:58 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 235

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ GHÉP HAI CẲNG CHÂN ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI.

    Một kíp phẫu thuật Tây ban nha đã ghép cho một bệnh nhân bị cụt chân mà các chân giả không thể lắp vào được.

    ORTHOPEDIE. Trong cuộc cạnh tranh ác liệt giữa các kíp thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình trên thế giới, Tây Ban Nha vừa ghi được một điểm. Lần đầu tiên, các thầy thuốc đã ghép hai cẳng chân cho một bệnh nhân khoảng 20 tuổi tên gọi là Hakim. Anh ta đã bị cắt cụt giữa đùi sau một tai nạn và chỉ có thể di chuyển bằng xe lăn. Cuộc giải phẫu đã diễn ra ở bệnh viện đại học La Fe (Valence), bắt đầu hôm chủ nhật và hoàn thành sáng thứ hai. Cuộc phẫu thuật này đã cần sự hiện diện của 35 thầy thuốc, y tá và trợ tá.

    Pedro Cavadas, thầy thuốc ngoại khoa đã thực hiện phẫu thuật ghép, rất được biết tiếng trong giới ngoại khoa. Hôm nay được 46 tuổi, vào năm 2008 ông đã từng thực hiện phẫu thuật ghép hai cánh tay đầu tiên. Vậy đó là một nhà tiền phong thuộc loại phẫu thuật này. Trên thế giới, các thầy thuốc đã cố gắng ghép các chi dưới, nhưng không thành công. Chủ yếu đó là trường hợp một đứa bé sinh ra với một người em sinh đôi dính nhau ở Canada.

    “ Khi ta bị cưa cụt ở hai đùi thì rất khó mà sống được với các chân giả, GS Noel Martinet, thầy thuốc chuyên khoa y khoa vật lý và phục hồi chức năng ở Nancy đã giải thích như vậy. Bởi vì như thế ta phải tiêu thụ nhiều năng lượng để bước. Những bệnh nhân này có ít khả năng chịu đựng và không có thể vượt qua một lề đường mà không cần đến chiếc gậy. ” GS Jean-Michel Dubernard, năm 2000 đã từng thực hiện phẫu thuật ghép đôi hai bên các bàn tay và cẳng tay ở Lyon, đã tỏ ra rất phấn khởi. Vấn đề trong trường hợp bệnh nhân Tây Ban Nha này là cần phải biết xem anh ta có sẽ nhận làm của mình các cẳng chân không phải của anh ta và phải làm sao để anh ta không phải đi cà nhắc. Mặc dầu GS Dubernard đánh giá rằng loại ghép này “ đáng được thử ” và rằng đó là một“ cải tiến đáng lưu ý ”, nhưng các đồng nghiệp của ông lại tỏ ra dè dặt hơn nhiều. “ Mặc dầu kỳ công kỹ thuật là tuyệt vời, BS Thomas Bauer, thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình thuộc bệnh viện Ambroise-Paré (Boulogne-Billancourt, Hauts-de-Seine) đã đánh giá như vậy. Nhưng ghép một gương mặt phức tạp hơn là ghép những cẳng chân ! Vấn đề thật sự là xem thử bệnh nhân có sẽ sử dụng chúng hay không. Đồng ý, giờ đây anh ta có những cẳng chân nhưng vẫn còn phải biết xem anh ta có sẽ sử dụng chúng như những chân giả hay không.

    “ ETAPE CRITIQUE ”

    Khác với phẫu thuật ghép của chi dưới đầu gối, phẫu thuật ghép đùi chủ yếu có nghĩa là phải nối lại dây thần kinh tọa (nerf sciatique) nhằm mang lại cảm giác cho cẳng chân. Nói một cách khác, để có thể bước đi trở lại, bệnh nhân sẽ không được có những di chứng vận động. “ Nếu bệnh nhân không chỉ huy tốt đôi chân của mình, thì anh ta sẽ phải ngồi xe lăn, BS Bauer đã nói thêm như vậy. Hẹn trong một hoặc một năm rưỡi nữa để nghiên cứu những kết quả đầu tiên. ” GS Laurent Lantiéri, vào năm 2009 đã từng thực hiện ở bệnh viện Henri-Mondor (Créteil,Val-de-Marne) phẫu thuật ghép mặt và hai bàn tay đầu tiên trên cùng một bệnh nhân bị bỏng nặng, lại còn tỏ ra dè dặt hơn. “ Tôi rất thận trọng, ông ta đã tâm sự như thế. Ghép một chi trên hay một chi dưới là việc rất khác nhau. Với các cẳng chân, thời gian để cứng xương lâu hơn nhiều. Và rồi nhất là, ta không phải chống lên một bàn tay ! ” Đối với ông phẫu thuật này nhằm nối lại một dây thần kinh lớn, một động mạch lớn, một tĩnh mạch lớn. “ Về phương diễn kỹ thuật, đó không phải là một vấn đề. Vấn đề là điều gì sẽ xảy ra sau đó ? Ngày nay, còn quá sớm để biết điều đó mặc dầu ta bắt đầu vào trở lại trong một vùng chảy rối (zone de turbulences). Trong 15 ngày nữa phải xem có qua được giai đoạn quyết định hay không, rồi còn phải chờ 6 tháng cho quá trình cứng xương và một năm trước khi tuyên bố cuộc giải phẫu thành công. ” Trong tất cả các trường hợp bệnh nhân không được bước trở lại trước một năm tròn.

    Ở Pháp, ta đã đếm được 8000 trường hợp cưa cụt các chi dưới vào năm 2010. Phẫu thuật ghép này phát động trở lại sự thảo luận về những kỹ thuật ghép “ cải tiến ”. GS Dubernard phàn nàn về những kềm hãm mà Pháp phải chịu trong loại can thiệp này. “ Người ta đã chẳng giúp đỡ ! Mà lại còn kềm hãm. Chúng ta sống trong một hệ thống không thích sự cải tiến, dù đó chỉ là việc hành chánh hay các thầy thuốc không thấy lợi ích của việc ghép so với các chân giả. Thế là chúng ta bị qua mặt bởi những người Tây Ban Nha và Ba Lan, họ có những kíp ngoại khoa ghép tốt hơn. Ở Hoa Kỳ người ta chế tạo các giác mạc, các âm đạo nhân tạo. Còn ở đây thì chẳng có gì hết ”, ông đã lấy làm tiếc như vậy.
    (LE FIGARO 13/7/2011)

    2/ UNG THƯ : NIỀM HY VỌNG PHÁT HIỆN BỆNH SỚM

    Các nhà nghiên cứu của Inserm vừa hiệu chính một kỹ thuật đầy hứa hẹn để phát hiện ADN khối u ung thư trong máu và nước tiểu.

    Truy nã ung thư bằng một xét nghiệm đơn giản : đó là niềm hy vọng nảy sinh từ những công trình của các nhà nghiên cứu Pháp thuộc Inserm. Họ vừa hiệu chính một kỹ thuật cho phép phát hiện sớm một khối u. Và điều này, ngay trước khi một khối u có thể ấn chẩn hay thấy được trên một xét nghiệm chụp hình ảnh nào đó. Bởi vì phát hiện sớm luôn luôn có lợi ngay trước khi các triệu chứng đầu tiên của bệnh xuất hiện, vì tỷ lệ sống còn sau điều trị rất phụ thuộc vào giai đoạn tiến triển của khối u vào lúc chẩn đoán.

    Từ nhiêu năm nay, nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới đã dấn thân vào cuộc chạy đua tìm xét nghiệm sớm. Tiến bộ mới nhất đạt được là bước tiến của của những nhà nghiên cứu người Pháp thuộc Inserm, cộng tác với những đồng nghiệp người Đức của Viện Max Planck và một công ty Hoa kỳ (Raindance Technologies). Họ vừa hiệu chính một kỹ thuật đầy hứa hẹn cho phép phát hiện những dấu vết cực nhỏ của ADN ung thư trong máu và nước tiểu. Thật vậy, khi những tế bào của u ung thư bị chết, chúng phóng thích những chất được chứa trong tế bào, và đặc biệt là ADN, mà sau đó chúng được tìm thấy trong các chất dịch của cơ thể (máu, nước tiểu). Nhưng đó chỉ là những dấu vết cực nhỏ, hoặc dưới 0,001% của toàn bộ ADN, khó mà phát hiện được.

    Những công trình của các nhà nghiên cứu nhằm làm gia tăng tính nhạy cảm trong việc phát hiện nhờ kỹ thuật được gọi là của những giọt rất nhỏ (technique des microgouttelettes). Các trắc nghiệm đã được thực hiện trên những canh cấy tế bào mang gène sinh ung thư (oncogène) Kras, một gène với tiềm năng gây nên nhiều loại ung thư (ung thư bạch cầu, ung thư tụy tạng, ruột già, phổi). ADN của gène trước hết được trích ra và được phân bố trong hàng triệu các giọt nhỏ khá nhỏ để mỗi giọt chỉ chứa một gène đích duy nhất. Rồi ADN được chứa trong các hạt nhỏ đã được khuếch đại bởi PCR (Polymerase Chain Reaction). Đồng thời, những phân tử huỳnh quang, đặc hiệu cho mỗi gène và tương tác với ADN, đã được thêm vào. Sau cùng sự phát huỳnh quang của các giọt nhỏ đã được phân tích bởi laser. Kết quả : nếu giọt nhỏ chứa ADN lành mạnh, nó hiến thành màu đỏ. Màu lục, nếu ADN là ung thư, và không màu nếu không hề có ADN. Kỹ thuật vô cùng nhạy cảm này đã cho phép phát hiện những ngưỡng 20.000 lần dưới ngưỡng nếu được thực hiện bằng một phương pháp thuần lâm sàng.

    Được công bố trong Lab on a Chip, bây giờ đây, ở Pháp, kỹ thuật này sắp được sử dụng trong khung cảnh trị liệu, đối với ung thư phổi và ung thư đại tràng. Bởi vì ADN khối u ung thư chứa nhiều thông tin khác : loại ung thư, tính chất ác tính, tính nhạy cảm hay sự đề kháng đối với các điều trị...bấy nhiêu các thông tin quan trọng sẽ cho phép đề nghị nhanh chóng với bệnh nhân một điều trị thích ứng hơn vì được cá thể hóa. Tái ngộ trong 5 đến 10 năm nữa cho một sự sử dụng thường quy.
    (SCIENCES ET AVENIR 7/2011)

    3/ RADIOGRAPHIE MỘT VI KHUẨN GIẾT NGƯỜI

    Một giống gốc rất độc lực của Escherichia coli đã gây ít nhất 30 trường hợp tử vong ở Âu châu, chủ yếu là ở Đức, và nhiều trăm trường hợp lây nhiễm trong những tuần qua. Nguồn gốc của cơn khủng hoảng này, có lẽ là các hạt nẩy mầm sống (graines germées crues) được trồng ở Basse-Saxe. Đó là điều được loan báo bởi giới hữu trách y tế Đức ngày 10/6. Làm sao một vi khuẩn ruột thông thường của các động vật có vú, “ ngôi sao ” của các phòng xét nghiệm bởi vì dễ cấy, lại có thể trở nên gây bệnh như thế ? Mặc dầu Escherichia coli là một vi khuẩn nói chung sống cộng sinh (commensal) (nghĩa là duy trì những liên hệ tốt với ký chủ của nó), nhưng vài giống gốc có tính chất độc hại và có thể là nguồn gốc của các ngộ độc thức ăn rất nghiêm trọng. Nhưng hiện nay, các trận dịch thuộc loại này phần lớn được gây nên bởi các Escherichia coli entérohémorragique (ECEH) thuộc sérotype 0157: H7 (một tên gọi được xác định tùy theo những dấu hiệu lâm sàng được quan sát ở các bệnh nhân, đó là những triệu chứng ỉa chảy xuất huyết trong hệ tiêu hóa, thậm chí suy thận nghiêm trọng và đôi khi gây chết người). Thế mà, giống gốc là nguồn gốc của cuộc khủng hoảng y tế hiện nay, thuộc sous-type 0104 : H4, trước đây đã không bao giờ can dự vào trong một trận dịch.

    Cũng như tất cả các giống gốc ECEH, nó phóng thích các độc tố(vérotoxines hay Shiga toxines) đến gắn vào trên một loại thụ thể nào đó, những Gb3, ở bề mặt của những tế bào của nội mô huyết quản của thận, của đại tràng và của não bộ. “ Những giống gốc 0104-H4 được phân lập có rất nhiều các yếu tố độc lực không điển hình và một profil đề kháng kháng sinh rõ rệt ”, Estelle Loukiadis, thuộc LMAP (Phòng thí nghiệm nghiên cứu vi sinh vật thực phẩm gây bệnh) ở Lyon, đã giải thích như vậy. Những triệu chứng của một nhiễm trùng bởi ECEH phần lớn gồm có đau bụng quặn và ỉa chảy có máu ít hay nhiều. Và trong khoảng 10% các trường hợp, xuất hiện một biến chứng nghiêm trọng, một hội chứng tiêu máu-urê-huyết (SHU : syndrome hémolytique-urémique), được đánh dấu bởi suy thận và những thương tổn thần kinh với những biến chứng có thể nặng nề. Thế mà tỷ lệ SHU gần 3 lần cao hơn trong trường hợp 0104 : H4. Còn phải chờ đợi những phân tích sâu về mặt di truyền của giống gốc mới này mới có thể hiểu được những lý do của tính độc lực đặc biệt này.
    (SCIENCES ET AVENIR 7/2011)

    4/ ESCHERIC VA CÁC “ COLI ”

    Trở nên vi khuẩn “ é-coli ” qua miệng của các phóng viên, nhưng ai biết Escherichia muốn chỉ điều gì ? Thầy thuốc nhi khoa và chuyên gia vi trùng học người Đức này, năng động, nghiêm túc, đầy ý chí và rất nhân bản đáng để ta tỏ lòng ngưỡng mộ.

    Theodor Escherich sinh năm 1857 ở Ansbach, Đức. Cha ông là một thầy thuốc và mẹ ông là con gái của một viên đại tá. Ông được 5 tuổi thì mẹ mất và gia đình phải dời chỗ ở. Hoạt bác và hay pha trò, ông được phó thác cho các thầy tu dòng Tên (jésuite) ở Áo. Nhưng vào năm 19 tuổi ông trở lại Đức theo học y khoa ở Wurzburg rồi trong những trường đại học của Kiel, Berlin và Munich, ở đây ông tốt nghiệp vào năm 24 tuổi. Sau đó ông được chọn làm phụ tá thứ nhất của thầy thuốc nội khoa nổi tiếng Karl Gerhardt. Ông này đánh thức nơi ông sự ưa thích môn nhi khoa, ngoài ra Gerhardt là nhà xuất bản của sách giáo khoa nhi khoa bằng tiềng Đức đầu tiên, một tác phẩm đồ sộ gồm 16 tập gây ấn tượng. Escheric viết luận án tiến sĩ y khoa về bệnh dịch tả của trẻ em. Thầy bảo trợ của ông thúc đẩy ông hướng về một môn khoa học vừa mới ra đời, vi khuẩn học, và gởi ông đi Naples như là sứ giả khoa học trong thời kỳ dịch bệnh choléra. Tiếp theo, ông say mê những kỹ thuật vi khuẩn học và nhận biết nhanh chóng Vibrio cholerae trong phân của các bệnh nhân, giỏi hơn những nhà thông thái tại nơi ông làm việc.

    THẦY THUỐC NHI KHOA, NHƯNG KHÔNG CHỈ CÓ THẾ.

    Mặc dầu mối duyên tình đối với các vi khuẩn, Escheric vẫn tiếp thục theo con đường nhi khoa và, để đạt được điều đó, ông giã từ nước Đức, ít được trang bị, để đi Vienne và bệnh viện của các trẻ em Ste Anne, bệnh viện nhi đồng nổi tiếng thứ ba, sau những bệnh viện nhi đồng của Paris và Saint-Péterbourg. Theodore cũng bắt đầu những nghiên cứu vi khuẩn học về khuẩn chí của sữa mẹ và vi khuẩn chí ruột (microflore intestinale). Vào lúc 27 tuổi, ông trở lại Munich để có được học vị hậu tiến sĩ cần thiết ở Đức,“ habilitation ”. Sau đó ông hướng các nghiên cứu của ông theo 3 hướng : xác định khuẩn chí ruột bình thường của trẻ em và những thay đổi ngay sau khi sinh, xác định vai trò của các vi khuẩn trong sự tiêu hóa và khám phá mối liên hệ giữa những khái niệm này và vài tình trạng bệnh lý của trẻ em.

    THEODORE VÀ CÁC VI KHUẨN CỦA MÌNH

    Ở Munich, ông làm việc với một người học trò của Robert Koch, mà ông sẽ gặp ở Berlin. Như thế ông biết được từ miệng của người thầy này làm thế nào để có thể cấy những vi khuẩn trong phân. Trong khi các đồng nghiệp của ông chỉ nói đến hai vi khuẩn trong phân của các đứa bé, thì Escheric đếm được 19, các trực khuẩn và cầu khuẩn. Ông mô tả các Campylobacter, Enterococci và có lẽ Bacillus subtilis và Pseudomonas. Ông sử dụng kỹ thuật nhuộm màu của Christian Gram và học một phương pháp cấy trong môi trường kỵ khí (culture anaérobie). Escheric chứng tỏ rằng cứt su (méconium) là vô trùng và sự định cư của vi khuẩn ở ruột (colonisation bactérienne intestinale) xảy ra trong vòng vài giờ sau khi sinh. Ông mô tả sự lên men đường với sự sản xuất khí điển hình, như thế đoạn tuyệt với giáo điều xác nhận rằng sự dinh dưỡng không đóng một vai trò quan trọng nào lên khuẩn chí. Sau đó ông mô tả chi tiết vi khuẩn ruột thông thường nhất : Bacterium coli commune, là Escherichia coli hiện nay của chúng ta, và Bacterium lactis aerogenes (Klebsiella pneumoniae). Chúng ta đang ở vào năm 1884, Escheric được 27 tuổi khi trinh bày bằng miệng (présentation orale), được 29 tuổi khi xuất bản chuyên khảo, dưới dạng thèse 177 trang.

    PHỤC VỤ CHO BÀ MẸ VA TRẺ EM

    Được xem như, trong nhi khoa, là nhà vi khuẩn học lỗi lạc nhất của thời đại mình, vào năm 33 tuổi ông được mời để lãnh đạo clinique pédiatrique de Graz, ở Áo. Những năm tháng này sẽ là những năm tháng hạnh phúc nhất của đời ông, lúc đó ông hiện đại hóa triệt để cơ sở, nhưng cũng là lúc ông cưới Margaretha và trở nên hai lần làm bố. Ông xác nhận sự nguy hiểm của sodium trong sữa bò, nhấn mạnh giá trị của việc cho bú sữa mẹ và đề nghị cân em bé trước và sau khi cho bú. Ông khám phá ra sự can dự của các coli trong những nhiễm trùng đường tiểu, mà ông gọi là “ colicystites ” (viêm bàng quang do coli), nhưng ông cũng khám phá ra sự hiện diện của các kháng độc tố (antitoxine) trong huyết thanh của các trẻ em bị bệnh bạch hầu và chứng tétanie do bệnh giảm năng tuyến cận giáp trẻ em (parathyroidie infantile). Trước sự khẩn khoản của ông đứng trước tỷ lệ tử vong của các nhũ nhi, hoàng đế Franz Joseph chấp thuận cho ông xây Institut Impérial pour le Soin Maternel et infantile. Năm 1911, Escheric qua đời vào năm 54 tuổi do bị tai biến mạch máu não. Thầy thuốc nhi khoa tiền phong này sẽ không biết đến sự danh tiếng mà vi khuẩn coli mãi mãi mang lại cho ông. Vi khuẩn này được đặt tên một cách vĩnh viễn (Escherichia coli) vào năm 1958.
    (LE GENERALISTE 14/7/2011)

    5/ CÓ PHẢI DÙNG VITAMINE TRONG LÚC CÓ THAI ?

    Professeur Dominique Luton
    Membre du Collège national des gynécologues et
    obstétriciens français


    Một số dị tật nào đó, đặc biệt là tật nứt đốt sống (spina bifida) (tủy sống bị hở ở phía sau, được gọi một cách khác là khuyết tật đóng của ống thần kinh (défaut de fermeture du tube neuronal), bị gây nên một cách rõ rệt hoặc là do một sự thiếu hụt acide folique (vitamine B9), hoặc là do sự không sử dụng acide folique bởi cơ thể. Hiện tượng này đặc biệt được nghiên cứu kỹ bởi các nước anglo-saxon. Vì lý do này, nhiều protocole nhằm cho acide folique đã được thực hiện để làm giảm tỷ lệ của những dị tật này, mặc dầu không tránh được chúng một cách hoàn toàn. Vài quốc gia, như Hoa Kỳ, đã thiết đặt những chương trình nhằm làm phong phú thức ăn với acide folique ; những chương trình khác chủ trương chỉ cho những vitamine này tùy theo trường hợp.

    Lý tưởng là các vitamine phải được dùng trước khi thụ thai. Chúng tôi nhấn mạnh đặc biệt tầm quan trọng của một thăm khám trước khi thụ thai (consultation préconceptionelle), để cho phép, bên cạnh những lời khuyên khác, kê đơn vitamine này. Nếu không có lời khuyên trước khi thụ thai, các phụ nữ không được hưởng một sự phòng ngừa tối ưu những dị tật thai nhi nhờ việc cho bổ sung acide folique. Thế mà, sự cho bổ sung này chỉ có thể hiệu quả hoàn toàn nếu được bắt đầu trong 4 tuần trước khi thụ thai và được tiếp tục cho đến 15 tuần thai nghén.

    Việc sử dụng acide folique làm giảm 40 đến 80% nguy cơ gây khuyết tật đóng của ống thần kinh (DFTN : défaut de fermeture du tube neuronal) và có lẽ vài dị tật bẩm sinh như các bệnh tim bẩm sinh, các bất thường của đường tiết niệu, các tật sứt môi-khẩu cái (fentes labio-palatines), các bất thường các chi.

    Vài bệnh nhân có nguy cơ gia tăng phát triển một DFTN, nhất là trong những trường hợp sau đây : bệnh đái đường phụ thuộc insuline ; bệnh động kinh được điều trị bởi acide valproique hay carbamazépine ; bệnh béo phì.

    Liều lượng được khuyến nghị ở Pháp bởi HAS (Haute Autorité de santé) là 0,4mg/ngày nếu không có tiền sử và 5mg/ngày đối với những phụ nữ có nguy cơ cao.

    SỰ ĐÀO TẠO CÁC THẦY THUỐC.

    Mặc dầu những lời khuyến nghị, việc sử dụng trước khi thụ thai acide folique vẫn rất ít ỏi ở Pháp. Tuy vậy, sự phòng ngừa này là đơn giản, ít tốn kém, phù hợp với những dữ kiện hiện nay của tư liệu y học để phòng ngừa các DFTN. Việc tăng cường thăm khám trước khi thụ thai cho phép cải thiện sự cấp bổ sung acide folique.

    Một công trình nghiên cứu trên 8528 phụ nữ có thai đã cho thấy rằng chỉ 9,2% đã hưởng được sự cho bổ sung folates trước giai đoạn cuối của tam cá nguyệt thai nghén đầu tiên. Một công trình nghiên cứu khác được tiến hành trên 735 bệnh nhân đã sinh đẻ trong 16 nhà hộ sinh ở Paris, tiết lộ rằng 2% các phụ nữ đã nhận các thông tin về acide folique qua trung gian của giới truyền thông, của một thầy thuốc hay của những nguồn khác. Tuy nhiên, 66,9% trong số những phụ nữ này không biết vai trò của acide folique trong thai nghén, chỉ 8,5% nêu lên sự phòng ngừa các dị tật. Ngày nay tỷ lệ sử dụng acide folique đang gia tăng nhưng rõ ràng vẫn không đủ.

    Lại còn một thông điệp rõ ràng : phải sử dụng acide folique khi ta muốn có thai và tiếp tục sự sử dụng này it nhất cho đến tháng thứ ba của thai nghén. Những chương trình đào tạo các thầy thuốc và đại chúng được thực hiện một cách đều đặn.
    .(LE FIGARO 27/6/2011)

    6/ CÁC NẾP NHĂN : LIỆU PHÁP TẾ BÀO MỚI.

    Cơ quan dược phẩm nghiêm túc của Hoa Kỳ (FDA) vừa chấp thuận việc đưa ra thị trường một liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) nhằm điều trị các nếp nhăn ở mặt. Được nghĩ ra bởi GS Robert Weiss (đại học John Hopkins de Baltimore), liệu pháp này nhằm lấy và trích từ da của các bệnh nhân những tế bào da (các nguyên bào sợi : fibroblaste). Những tế bào này sản xuất tất cả các protéine cấu trúc da và đảm bảo tính đàn hồi của chúng, nhất là collagène, élastine và acide hyaluronique. Các nguyên bào sợi được cấy trong phòng thí nghiệm rồi được tiêm trở lại cho các bệnh nhân. Đó là một liệu pháp trong đó mỗi cá thể chính mình là người cho (donneur), do đó không có nguy cơ bị thải bỏ. Protocole dự kiến, ngoài việc lấy ban đầu những tế bào da, 3 mũi tiêm cách nhau 5 tuần. Giới hữu trách đã đưa ra ý kiến dựa trên những kết luận của hai công trình nghiên cứu. Các công trình này đã đưa vào 421 bệnh nhân và trong đó liệu pháp tế bào đã được so sanh với một placebo. Trong 10% các trường hợp, các kết quả thu được đã có sức thuyết phục với các nếp nhăn mũi-môi (rides naso-labiales) được lấp đầy và được xóa đi. Những tác dụng phụ do chích, phần lớn nhẹ (sưng phồng, kích thích, đau đớn...) đã biến mất trong vòng dưới 1 tuần. Ở tất cả các bệnh nhân lợi ích được duy trì 6 tháng. Thời gian của tính hiệu quả này sẽ là đối tượng của những công trình nghiên cứu bổ sung.
    (PARIS MATCH 4/7-12/7/2011)


    7/ CÓ THỂ UỐNG MỘT ÍT RƯỢU VANG TRONG KHI CÓ THAI KHÔNG ?

    Professeur Dominique Luton
    Membre du Collège national des gynécologues et
    obstétriciens français


    Ở Pháp, rượu thuộc về di sản văn hóa và gastronomique của chúng ta. Việc khai thác rượu nằm trong một logic thị trường, với tất cả những hậu quả kinh tế mà điều đó giả định (sự tiêu thụ quốc gia, xuất cảng, nguồn ngoại tệ...) Thí dụ, theo truyền thống, rượu đi kèm nhiều lễ nghi hội hè của chúng ta (các cuộc họp gia đình, bữa ăn công tác) và đôi khi hiện diện một cách gần như bắt buộc trong những mối tương tác xã hội của chúng ta. Nhưng rượu cũng hiện diện, mặc dầu ít hơn vào thời đại của chúng ta, trong cuộc sống hàng ngày, với, đối với một vài người, những lần uống liên tiếp quan trọng ít hay nhiều, không được nhận thức là nguy hiểm. Một hiện tượng khác là hiện tượng “ binge drinking ”, giống với la bonne “ cuite ” ngày xưa, với những hậu quả đôi khi gây chết người. Ngày xưa được cho là có nhiều đặc tính tốt, được sử dụng ngay cả một cách gần như để điều trị nhân dịp Tour de France, nhưng ngày nay rượu phải được xem như có thể là một drogue dure.

    Người ta đã chứng minh về mặt khoa học rằng rượu và thai nghén không thuận hòa nhau. Hội chứng nhiễm độc rượu thai nhi (syndrome d’alcoolisme foetal) đã được mô tả trong những năm 1950 ở Pháp, đặc biệt trong những vùng phía bắc và phía Tây. Rượu có thể gây nên nhiều triệu chứng, hiện diện ở những mức độ khác nhau nơi thai nhi bị ảnh hưởng : một khuyết tật tăng trưởng, các bất thường hình thái của gương mặt và sọ, sự suy giảm miễn dịch, các bất thường đủ loại (tim, não...), và những bất thường thần kinh, và thương số thông minh bị hạ thấp và những khó khăn trong sự hội nhập xã hội.

    Những hậu quả này là do rượu trong máu người mẹ đi xuyên qua nhau, như thế làm cho thai nhi bị tiếp xúc trực tiếp. Bình thường, rượu được biến hóa ở gan của người mẹ, nhưng điều này cần có thời gian, và những thay đổi nơi mỗi cá thể làm cho mỗi người thải độc chất này một cách nhanh chóng ít hay nhiều. Không có xét nghiệm cho từng cá nhân để tiên đoán tốc độ thải bỏ này. Ở thai nhi, mức độ tiếp xúc lại còn nghiêm trọng hơn, bởi vì gan của thai nhi, chưa được thành thục, không cho phép một sự thải bỏ tối ưu. Như thế, mặc dầu mức độ nghiêm trọng của thương tổn thai nhi có thể được liên kết với tầm quan trọng của một sự nhiễm độc mãn tính hay một sự nhiễm độc rượu cấp tính, những liều nhỏ có thể gây nên những thương tổn không đảo ngược đối với chức năng não bộ của thai nhi, sẽ kéo dài suốt cả cuộc đời.

    Sự phòng ngừa hội chứng nhiễm độc rượu thai nhi (syndrome d’alcoolisation foetal) và sự xuất hiện của những di tật do rượu buộc không được uống rượu, lý tưởng là ngay trước khi thụ thai, bởi vì chỉ cần một đêm say sưa trước khi chẩn đoán thai nghén cũng có thể dẫn đến một thương tổn thai nhi không đảo ngược được. Mặc dầu những lời khuyến nghị, gần 40% các phụ nữ tiêu thụ rượu trong suốt thời kỳ thai nghén và 5% có một mức độ nhiễm độc tăng cao. Tỷ lệ nhiễm độc rượu trong thời kỳ thai nghén biến thiên từ 21 đến 70,5%, tùy theo phương pháp phát hiện được sử dụng. Thông điệp là rõ ràng : vậy hoàn toàn không nên uống rượu (ngay cả rượu vang) trong khi có thai, ngay cả với lượng nhỏ.
    (LE FIGARO 27/6/2011)

    8/ CÁC SỢI TRONG THỨC ĂN LÀM GIẢM CÁC NGUY CƠ

    Những lợi ích của chúng có nhiều : các sợi thức ăn (fibres alimentaires) hoạt hóa nhu động ruột và loại bỏ những sản phẩm có tiềm năng gây ung thư, làm giảm sự hấp thụ đường, làm dễ sự mất cân, có những tính chất kháng cholestérol và chống viêm. ..Công trình nghiên cứu lớn nhất từng được thực hiện về chủ đề này, do Viện Y tế Quốc Gia (National Institutes of Health) Hoa Kỳ thực hiện, vừa được công bố. Một quần thể gồm 219.123 đàn ông và 168.999 phụ nữ tuổi từ 50 đến 71 đã được theo dõi trong 9 năm. Những người tham gia đã trả lời đều đặn một bảng câu hỏi cho phép xác định một cách chính xác chế độ ăn uống của họ (với những yếu tố nguy cơ của mỗi người). Vào cuối công trình, 20.126 trường hợp tử vong ở những người đàn ông và 11.330 ở các phụ nữ, đã được liệt kê.Tỷ lệ tử vong nói chung của những người tiêu thụ nhiều nhất các sợi đã được giảm 22% so với tỷ lệ tử vong của những người tiêu thụ kém. Tỷ lệ tử vong tim mạch đã được giảm 34% ở phụ nữ và 24% ở đàn ông. Các tỷ lệ tử vong do các bệnh nhiễm trùng hô hấp được giảm 46% ở phụ nữ và 32% ở đàn ông và các tỷ lệ tử vong do các bệnh nhiễm trùng giảm được 59% ở phụ nữ và 56% ở đàn ông. Những thức ăn giàu sợi nhất là ngũ cốc (cám, bánh mì hoàn toàn, gạo...), các légumineuses (lentille, đậu trắng...), các trái cây (chuối, pruneau..) và các rau xanh (artichaut, carotte, laitue...).

    (PARIS MATCH 13-20/7/2011)

    9/ LÃO THỊ : CÁC KẾT QUẢ ĐÁNG PHẤN KHỞI CỦA NHỮNG INLAY INTRACORNEEN ĐẦU TIÊN.

    BS Jean-Marc Ancel, thầy thuốc ngoại nhãn khoa, giải thích kỹ thuật cải tiến này, được trình bày ở hội nghị ngoại khoa khúc xạ (chirurgie réfractaire)

    Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của lão thị ?
    BS Jean-Marc Ancel: Đó là một sự lão hóa của thủy tinh thể, vào khoảng 45 tuổi, được thể hiện bởi sự đánh mất khả năng điều tiết. Ta không thể nhìn gần và nhìn xa được nữa nếu không đeo kính. Vậy cần phải mang kính để đọc. Những người vốn đã có những kính được dùng cho một vấn đề thị giác khác (cận thị, lão thị) buộc phải mang các verrre tăng độ dần. Các thấu kính (lentille) là một giải pháp thay thế nhưng, trong vài trường hợp, chúng không chịu được tốt. Và nhất là, chúng tạo một sự bó buộc trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, chất lượng của thị giác không phải luôn luôn tối ưu.

    Hỏi : Ngoài việc mang kính hay thấu kính (lentille), ngày nay những giải pháp khác là gì ?[/color]
    BS Jean-Marc Ancel: Laser và thủy tinh thể nhân tạo (cristallin artificiel) cho phép sự điều chỉnh này. Mục đích của laser là bù lại những hậu quả của lão thị bằng cách làm biến đổi độ cong của giác mạc. Mục đích của thủy tinh thể nhân tạo là thay đổi thủy tinh thể bị biến đổi bằng một thủy tinh thể khác thích nghi với thị giác của bệnh nhân.

    Hỏi : Những giới hạn của hai chiến lược này là gì ?
    BS Jean-Marc Ancel: Với những kỹ thuật laser, ta thu được những kết quả tốt, nhưng có một hiệu quả quá hạn chế trong thời gian, tối đa 3 đến 7 năm, cần phải sửa lại. Những đợt sửa chữa này không phải luôn luôn có thể thực hiện được bởi vì, đôi khi, giác mạc không thể chịu được những can thiệp liên tiếp. Ngoài ra mặc dầu những phương thức này cho phép một thị giác nhìn gần tốt, trong vài trường hợp, thị giác nhìn xa bị ảnh hưởng. Điều này bắt buộc lại phải mang kính. Những thay đổi thủy tinh thể nhằm vào những người viễn thị (chứng lão thị trở nên trầm trọng), chỉ chiếm từ 10 đến 15% dân số. Đó là một ngoại khoa chỉ liên quan đến một thiểu số các bệnh nhân. Vì thế cần tìm kiếm những điều trị khác.

    Hỏi : Kỹ thuật mới sử dụng những inlay intracornéen là gì ?
    BS Jean-Marc Ancel: Một inlay là một đĩa nhỏ bằng plastique mà ta đưa vào bên trong giác mạc, sau khi đã cắt giác mạc một lá mỏng (lamelle) mà sau đó ta sẽ đặt nó lại vào vị trí. Mục đích của phương phương thức này là điều chỉnh thị giác nhìn gần mà không làm biến đổi thị giác nhìn xa (như trường hợp của vài laser). Can thiệp, dưới gây mê tại chỗ, diễn ra trong một thời gian ngắn (10 đến 15 phút) và không gây đau đớn.

    Hỏi : Những kết quả là gì ?
    BS Jean-Marc Ancel: Ngay ngày hôm sau thị giác nhìn gần tỏ ra rất tốt. Để tìm lại một thị giác nhìn xa tốt, mang lại một sự thoải mái thật sự, phải chờ đợi khoảng 1 tháng. Sau đó, cần phải theo dõi hàng năm.

    Hỏi : Thời gian nhìn lại với kỹ thuật inlay này ?
    BS Jean-Marc Ancel: Nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện ở Nhật Bản và ở châu Âu. Những công trình nghiên cứu mới nhất đã được công bố trong tạp chí khoa học “ Journal of Cataract & Refractive Surgery ” vào năm 2010 và 2011. Các kết quả trung hạn tỏ ra ổn định và đã được trình bày nhân hội nghị nhãn khoa thường niên vừa qua. Hơn 6000 bệnh nhân đã được mổ trên thế giới. Ở Pháp, kỹ thuật này đã được thực hiện trong vài cơ sở bệnh viện công và tư. Nhưng dĩ nhiên, chỉ có sự theo dõi rất dài hạn mới cho phép đảm bảo về thời gian của tính hiệu quả và tính vô hại hoàn toàn của nó.

    Hỏi : Ông hãy nói rõ những chỉ định đặc hiệu đối với can thiệp này ?
    BS Jean-Marc Ancel: Những chỉ định trước hết nhằm đến những người lão thị trẻ tuổi từ 45 đến 50 tuổi, buộc chỉ phải mang kính (hơn 50% dân số) nhìn gần. Nhưng cũng có những chống chỉ định : những biến dạng của giác mạc, những giác mạc quá cứng hay những di chứng làm sẹo.. Trong những trường hợp mà thị giác tiến triển dài lâu một cách quan trọng, ta có thể dự kiến một sự thay đổi inlay bởi vì can thiệp có thể hoàn toàn đảo ngược được vì lẽ ta không trích ra một mô giác mạc nào.

    Hỏi : Nói tóm lại, những ưu điểm của kỹ thuật mới nhất này là gì ?
    BS Jean-Marc Ancel:
    1. Một sự điều chỉnh tốt thị giác nhìn xa cũng như nhìn gần.
    2. Tính đảo ngược của thủ thuật trong trường hợp tiến triển
    3. Tính toàn vẹn của giác mạc được bảo tồn

    (PARIS MATCH 16/6 – 22/6/2011)

    10/ TRÍ NHỚ Ở PHỤ NỮ : PHÒNG NGỪA BẰNG TESTOSTERONE.

    Nhiều công trình khác nhau đã chứng thực rằng các phụ nữ bị sa sút trí tuệ (démence) có những nồng độ testostérone đặc biệt thấp. Nhóm nghiên cứu của BS Sonia Davidson, thuộc đại học Melbourne, đã muốn kiểm chứng xem kích thích tố nam có thể có một tác động lên trí nhớ và những năng lực nhận thức của phụ nữ hay không. Nồng độ testostérone bình thường ở người đàn ông biến thiên từ 200 đến 1000 nanogramme đối với mỗi décilitre máu, trong khi nồng độ này 15 lần thấp hơn ở phụ nữ. Ở người lành mạnh, testostérone giảm sút với thời gian cho đến khoảng 75 tuổi, khi đó nồng độ testostérone hạ nhiều với tuổi tác ở người phụ nữ, nhất là sau thời kỳ mãn kinh. Công trình nghiên cứu Úc đã chia 30 phụ nữ mãn kinh từ 47 đến 60 tuổi thành hai nhóm. Một nhóm đã nhận trong 26 tuần testostérone, nhóm kia thì không. Kết quả : những bệnh nhân được điều trị với testostérone đã có được một nồng độ testostérone tương đương với nồng độ thường được đo nơi các phụ nữ ở tuổi sinh đẻ. Và các hiệu năng nhận thức của họ (như trí nhớ..) đã được cải thiện rõ rệt.
    (PARIS MATCH 30/6-4/7/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (20/7/2011)

    Edited by user Friday, August 31, 2012 8:35:49 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #6 Posted : Friday, August 31, 2012 8:42:24 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 236

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH



    1/ THANH QUẢN NHÂN TẠO CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ ĐƯỢC THỬ NGHIỆM

    CHIRURGIE. Một ngày nào đó phải chăng ta sẽ tránh khỏi phải mở khí quản (trachéotomie : thực hiện bằng phẫu thuật một đường xẻ để làm dễ sự hô hấp), thường không thể tránh được sau khi đã cắt bỏ thanh quản ? Đó là mục tiêu mà nhiều kíp mổ đang theo đuổi bằng những con đường khác nhau. Phẫu thuật ghép toàn bộ thanh quản (greffe totale) vẫn là trường hợp ngoại lệ bởi vì không thể áp dụng đối với những bệnh nhân được mổ vì một ung thư. Vả lại, cho đến nay chỉ có hai trường hợp ghép toàn bộ đã được thực hiện. Kỹ thuật khác, được trắc nghiệm ở Ý : tái tạo thanh quản từ một chiếc xương sườn của bệnh nhân. Chiếc xương sườn này được biến đổi để tạo cho nó hình dáng của cơ quan và được phân bố mạch (vascularisé) bằng ghép (implantation) vào trong cẳng tay rồi thiết đặt bằng cách nối nó với những huyết quản của cổ.

    Ở Pháp, GS Christian Debry, thầy thuốc ngoại ORL của các bệnh viện đại học của Strasbourg, nhằm vào một hướng khác : một thanh quản nhân tạo (larynx artificiel) mà ông hy vọng nhờ nó, nhiên hậu, làm cho phẫu thuật mở khí quản trở thành vô ích. Trong những tháng đến, kíp của ông sẽ tiến hành thử nghiệm đầu tiên trên khoảng một chục bệnh nhân.

    Mỗi năm gần 1200 người chịu một phẫu thuật mở khí quản vĩnh viễn (trachéotomie définitive) ở Pháp, là nơi ta thống kê được 20.000 người được mở khí quản (trachéotomisés). Phẫu thuật này, được thực hiện sau khi cắt bỏ thanh quản vì một ung thư thường do nghiện thuốc lá, hầu như luôn luôn đồng nghĩa với sự tách rời xã hội và nghề nghiệp đối với bệnh nhân.

    Là cơ quan phức tạp, bình thường thanh quản bảo đảm 3 chức năng : nó cho phép nói nhờ các dây thanh âm có nhiệm vụ điều biến giọng nói, nhưng cũng cho phép thở và dinh dưỡng mà không bị “ lạc đường ” (fausse route), nhờ sự đóng phản xạ của khí quản lúc thức ăn đi vào thực quản. Việc cắt bỏ thanh quản thường buộc phải tạo nên một mở khí quản vĩnh viễn (trachéotomie définitive) để cho phép sự hô hấp, sự dinh dưỡng tiếp tục được thực hiện bằng đường bình thường. “ Mục tiêu của chúng tôi, GS Debry đã chỉ rõ như vậy, đó là tránh mở khí quản vĩnh viễn nhờ một sự tái tạo hoàn toàn thanh quản theo một phương thức nhằm liên kết những kỹ thuật ngoại khoa và việc sử dụng những vật liệu sinh học sốp (biomatériaux poreux). Được ghép vào vị trí của thanh quản, prothèse này cho phép (đó là điều quan trọng nhất và khó khăn nhất) một sự hô hấp và nuốt xảy ra đồng bộ nhờ một hệ thống kép các van, điều này làm cho việc đóng khí quản đã được mở có thể thực hiện được và như thế cho phép tái lập một giọng nói, trong thời gian đầu là tiếng thì thầm. ”

    Thanh quản giả này, mà thầy thuốc ngoại khoa và các nhà nghiên cứu của đơn vị 977 Biomatériaux et ingénierie tissulaire của Inserm nghiên cứu từ nhiều năm nay, cứng như sụn của thanh quản, nhằm tránh mọi nguy cơ bị tiêu đi (do bị tiêu hóa bởi cơ thể).

    MỘT SỰ THIẾT ĐẶT ĐƯỢC THỰC HIỆN QUA HAI THÌ.

    Vi cấu trúc của thanh quản giả này, được cấu tạo bởi các billes de titane 200 đến 600 micron, được thiết kế để làm dễ sự định cư (colonisation) vào nó bởi những tế bào cơ và sụn, sẽ tái tạo dần dần các mô. Thanh quản giả gồm hai phần mà việc đặt sẽ được thực hiện thành hai thì. Phần sinh cơ năng (partie biofonctionnelle), vĩnh viễn, sẽ được đặt bằng đường ngoại khoa ngay sau khi cắt bỏ thanh quản, trước khi điều trị bằng rọi tia X, phải được thực hiện trong hai tháng. Phần kia, cơ năng (partie fonctionnelle), sẽ được đặt vài tuần sau và sẽ đến ráp vào phần sinh chức năng. Phần chức năng sẽ được thay thế theo chu kỳ.

    “ Nếu kỹ thuật này có kết quả tốt, chúng tôi hy vọng rằng nó sẽ thay thế dần dần thủ thuật mở khí quản ”, GS Debry đã tâm sự như vậy. Tuy nhiên bất hạnh thay đối với những bệnh nhân đã được mở khí quản thì kỹ thuật này chỉ mang lại ít hy vọng. “ Thử nghiệm này không được chỉ định cho những bệnh nhân đã được mở khí quản, và dường như họ rất ít có khả năng một ngày nào đó hưởng được kỹ thuật này bởi vì các mô của những người đã được mở khí quản, hóa sẹo, đã chịu tác dụng của các tia X. Thực hiện một can thiệp trong những tình huống này, trong khi tình trạng của những người này đang ổn định, sẽ khiến họ chịu những hệ lụy tệ hại nhất.”

    Sau khi đã trắc nghiệm những khía cạnh khác nhau của phẫu thuật và mới đây đã được sự cho phép, GS Debry nói là đã “ sẵn sàng ”. Nhưng thầy thuốc ngoại khoa của Strasbourg này vẫn muốn tỏ ra thận trọng : “ Cũng như tất cả những phẫu thuật được thực hiện lần đầu, điều không chắc chắn chiếm phần quan trọng. Chúng tôi không muốn tạo nên những niềm hy vọng không được cân nhắc. Vả lại, những toan tính thực hiện này nuôi dưỡng lẫn nhau : giải pháp sẽ được giữ lại trong tương lai có lẽ sẽ được rút ra từ những phương thực hiện nay.”
    (LE FIGARO 17/7/2011)

    2/ MỔ THỰC QUẢN BẰNG ĐƯỜNG MIỆNG

    Điều chủ yếu
    • Một căn bệnh của thực quản đôi khi được mổ bằng cách cắt một phần của cơ thực quản.
    • Một kỹ thuật mới, được thực hiện ở Nhật bản, cho phép không còn cần phải đi qua bụng, mà qua miệng của bệnh nhân.
    • Ưu điểm : một lối vào cơ tốt hơn và có khả năng ít biến chứng hậu phẫu hơn, như trào ngược dạ dày, ngày nay thường xảy ra.


    Những điểm mốc.

    Khi cơ của thực quản hoạt động không tốt

    Bệnh thực quản không giãn được (achalasie de l’oesophage) chỉ một căn bệnh gây phế tật, ngăn cản ăn uống bình thường. Không chỉ có trọng lực của trái đất khiến thức ăn “ đi xuống ” từ miệng đến dạ dày, mà chủ yếu là những co bóp cơ của thực quản. Quá giãn, những co bóp này có thể gây nên một sự trào ngược từ dạ dày (reflux gastrique). Và nếu những co bóp quá mạnh, thức ăn không còn qua được nữa hay rất kém, đó là achalasie. Các hậu quả là một sự trào ngược (régurgitation) hay những cơn đau ngực. Những loại thuốc làm giãn (médicaments relaxants) có thể đủ, nhưng đôi khi cần đến một phẫu thuật.

    Điều đó đã xảy ra hôm chiều thứ ba trong một phòng mổ của bệnh viện đại học Erasme (ULB) : lần đầu tiên ở Bỉ, một bệnh nhân đã được mổ chứng bệnh achalasie của thực quản, căn bệnh ngăn cản bệnh nhân ăn uống bình thường, bằng cách sử dụng những dụng cụ nội soi, được đưa qua miệng, mà không hề phải mở bụng, là điều cho đến nay vốn cần thiết cho loại phẫu thuật này.

    Đặc điểm của cuộc giải phẫu, được tiến hành dưới sự giám sát của giáo sư Haruhiro Inoue, thuộc Đại học Yokohama, vị giáo sư này vốn đã hiệu chính kỹ thuật và đã mổ hơn 100 bệnh nhân ở Nhật, là những hình ảnh được bình phẩm đã được truyền trực tiếp cho hàng trăm người tham dự Hội nghị châu Âu về gastroentérologie và endothérapie diễn ra ở Bruxelles. Đặc điểm của hội nghị này là hiểu một cách trực tiếp nhiều cuộc giải phẫu, trong đó cử tọa, các chuyên gia đến từ 64 nước trên thế giới, có thể đặt nhiều câu hỏi về những kỹ thuật cải tiến được triển khai.

    Trong trường hợp điều trị chứng bệnh achalasie, trong đó cơ vòng thực quản (sphincter oesophagien) khép lại quá chặt dưới sự kích thích của cơ bao quanh nó, điều cải tiến là không cần phải trỗ những lỗ trong bụng để đưa những dụng cụ ngoại khoa vào. “ Đó không chỉ là ưu điểm duy nhất ”, giáo sư Jacques Devière, trưởng khoa gastro-entérologie của bệnh viện Erasme và là người chủ chốt của hội nghị đã giải thích như vậy. “ Nhà phẫu thuật cũng có thể lấy đi một phần của cơ không thể tiếp cận được với cách thức cổ điển. Hôm nay, ta chỉ có thể lên khoảng 5 cm trên tâm vị thực quản (cardia). Với kỹ thuật cải tiến này, các nhà phẫu thuật sẽ có thể tiếp cận được suốt cả chiều dài của cơ.

    ÍT BIẾN CHỨNG HƠN.

    Điều trị hiện nay nhằm làm giãn cơ này bằng quả bóng nhỏ (ballonnet). Điều đó làm thuyên giảm từ 60 đến 70% các bệnh nhân. Nhưng đôi khi cần phải phẫu thuật cắt cơ này qua đường bụng. Ở đây, ống nội soi (endoscope) sử dụng lớp dưới niêm mạc (sous-muqueuse) của ống tiêu hóa, của mô sợi, như lối vào (voie d’accès) lớp cơ (couche musculeuse), đảm bảo sự chịu đựng và sự co bóp của nó. ”

    Trong trường hợp của bệnh achalasie, những co bóp quá yếu nên không thể làm lưu thông thức ăn, hoặc những co bóp không được đồng bộ (désynchronisé). “ Ở đây ta tách lớp dưới niêm mạc (sous-muqueuse) ra khỏi lớp cơ (musculeuse) để tạo nên một vùng can thiệp phẫu thuật, cho đến tận cơ vòng thực quản dưới (sphincter oesophagien inférieur), rồi ta cắt các sợi. Một trong những giả thuyết, đó là khi ta chỉ cắt các sợi vòng (fibres circulaires) mà không cắt các sợi dọc (fibres longitudinales), ta sẽ tấn công tốt hơn vào những co bóp không thích hợp của thực quản và ta gây nên ít hồi lưu dạ dày-thực quản hơn, đây là biến chứng thường xảy ra của kỹ thuật hiện nay. Ta có thể tưởng tượng rằng, trong một tương lai gần, kỹ thuật này sẽ mang lại một sự cải thiện đối với tất cả các trường hợp achalasie, nhưng chỉ có một công trình nghiên cứu so sánh mới sẽ có thể trả lời cho câu hỏi này. ”
    (LE SOIR 27/6/2011)

    3/ KÍCH THÍCH ĐIỆN CHỐNG BẠI LIỆT HAI CHI DƯỚI.

    NEUROLOGIE. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ lần đầu tiên đã thử nghiệm một phương pháp phối hợp kích thích điện (électrostimulation) và phục hồi chức năng vận động (rééducation locomotrice) trong điều trị bệnh bại liệt hai chi dưới (paraplégie).

    “ Một mức độ phục hồi chức năng chưa từng có ở một bệnh nhân bị bại liệt hai chi dưới. ” Chính như thế mà Grégoire Courtine, thuộc đại học Zurich, Thụy Sĩ, và các đồng nghiệp của ông, đã đánh giá những kết quả của các công trình của nhóm nghiên cứu của Susan Harkema, ở Hoa Kỳ. Nhóm này đã khảo sát trường hợp của Rob Summers, một người Mỹ 23 tuổi, bị bại liệt hai chi dưới từ 5 năm nay, sau một tai nạn công lộ. Tủy sống của anh ta đã bị cắt đứt một phần ở mức đốt sống cổ cuối cùng (C7). Anh ta mặc dầu vậy vẫn còn bảo tồn vài cảm giác trong các cẳng chân, nhưng không có thể cử động chúng được nữa. Từ nay, nhờ một chương trình phục hồi chức năng (rééducation) và sự kích thích điện lên tủy sống, anh ta có thể thực hiện được vài cử động của các cẳng chân và đứng lại được.

    Thử nghiệm lâm sàng, được tiến hành bởi kíp của Susan Harkema thuộc khoa ngoại thần kinh của đại học Louisville, trong tiểu bang Kentucky, nhằm đánh giá sự kích thích tủy sống trong điều trị bệnh bại liệt hai chi dưới. Những thí nghiệm ở động vật đã cho thấy rằng phuơng pháp này cải thiện khả năng vận động. Do đó các thầy thuốc ngoại thần kinh đã cắm (implanter) một máy kích thích (stimulateur), được cấu tạo bởi 16 điện cực, vào trong cột sống, ở phần dưới của lưng của bệnh nhân. Thiết bị này được kèm theo một hộp điều khiển (boitier de commande) để phát kích thích và điều chỉnh cường độ. Suốt trong 80 buổi luyện tập vật lý, bệnh nhân đã có thể đứng được nhờ một bộ yên cương (harnais). Rồi dần dần, bệnh nhân đã chịu được trọng lượng của mình và bước vài bước trên một tấm thảm lăn (tapis roulant) với sự hỗ trợ của các kinésithérapeute.

    HOẠT ĐỘNG CƠ.

    Đối với các tác giả, một giải thích cho sự thành công này là dòng điện được phóng ra từ các điện cực đã làm hoạt động trở lại nhưng đường thần kinh vốn không bị làm thương tổn trong lúc tai nạn và đã kích thích những neurone vận động. Khi đó những neurone này đã có thể gởi những tín hiệu đến các cơ của các cẳng chân và gây nên cử động. Vả lại hoạt động cơ đã được xác nhận bởi điện cơ ký (électromyographie). Ngoài ra, tủy sống dường như đã điều chỉnh một cách thích hợp hoạt động cơ nhằm đáp ứng lại những thay đổi tư thế của các cẳng chân và của phần còn lại của cơ thể, như thế cho phép một bước đi tương đối được phối hợp. Thật vậy, được kích thích bởi các điện cực, tủy sống đã có thể xử lý những thông tin giác quan (informations sensorielles) được truyền từ các bàn chân và các cẳng chân này, một cách độc lập đối với não bộ. Những thông tin này làm dễ sự kiểm soát thăng bằng và những bước chân. Ngược lại, tủy sống gởi những chỉ thị thích đáng đến các cơ của các cẳng chân.

    “ Đó là một công trình nghiên cứu rất lý thú, Philippe Thoumie, thuộc khoa phục hồi thần kinh-chỉnh hình của bệnh viện Rothschild, Paris, đã nhận xét như vậy. Nhưng không chắc chắn rằng phương pháp này sẽ cải thiện hoạt động hàng ngày của các bệnh nhân bị liệt hai chi dưới ; còn rất lâu mới có thể bước đi tự động được.” Những kết quả này phải được xác nhận ở những bệnh nhân khác.
    (LA RECHERCHE 7/2011)

    4/ STRESS VÙNG ĐÔ THỊ ẢNH HƯỚNG LÊN NÃO BỘ CỦA CHÚNG TA NHƯ THẾ NÀO ?

    NEUROLOGIE. Sống trong thành phố có một hậu quả lên các rối loạn tâm thần.

    Điều chủ yếu :
    • Sống trong thành phố không phải là không có hậu quả lên não bộ
    • Một nhóm các nhà khoa học trên thế giới cho thấy stress làm biến đổi hoạt động của não bộ như thế nào ở những người sống trong vùng đô thị.
    • Và trong chừng mực nào thành phố ảnh hưởng lên sức khỏe tâm thần của chúng ta.

    Công trình nghiên cứu được công bố hôm nay trong tạp chí Nature. Được thực hiện ở Đức và Canada, công trình nghiên cứu lần đầu tiên cho thấy, nhờ chụp hình ảnh chức năng (imagerie fonctionnelle), não bộ của dân thị thành khác với não bộ của những người sống trong những vùng nông thôn hay những thành phố có kích thước nhỏ (dưới 10.000 dân) như thế nào.

    “ Khi ta sinh ra và lớn bên trong một thành phố với tầm cỡ quan trọng, ta có nhiều nguy cơ hơn những nơi khác phát triển những rối loạn về khí chất, thậm chí cũng bị những rối loạn về lo âu (anxiété), Jean Pruessner, thuộc Viện đại học về sức khỏe tâm thần Douglas, Montréal đã giải thích như vậy. Nhà nghiên cứu, đồng ký tên công trình nghiên cứu hôm nay, nói rõ : “ Nguy cơ phát triển một rối loạn lo âu (trouble anxieux) ở dân thành thị là 21% cao hơn những người sống trong một môi trường ít mật độ hơn. Con số này chuyển thành 39% đối với những rối loạn về khí chất (trouble de l’humeur). Và chúng ta cũng biết rằng ở thành phố, số lượng những người bị bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie) hai lần cao hơn so với những nơi khác. ”

    Trong bối cảnh này, thật hợp lý khi tự hỏi thành phố ảnh hưởng như thế nào lên sinh học của não bộ của những người dân của nó. Chính về vấn đề này mà Jean Pruessner và các đồng nghiệp thuộc Viện sức khỏe tâm thân của Đại học Heidelberg (Đức) đã nghiên cứu. Trong khi cho một loạt những người tình nguyện lành mạnh chịu những trắc nghiệm khác nhau, và trong khi quan sát nhờ chụp hình ảnh chức năng (imagerie fonctionnelle) các vùng của não bộ phải chịu những trắc nghiệm này, các nhà nghiên cứu đã có thể phát hiện hai dị biệt to lớn giữa dân thành thị và nông thôn.

    “ Ở những người thành thị, chúng tôi nhận xét thấy một đáp ứng mạnh mẽ hơn và quan trọng hơn của vùng hạnh nhân (amygdale) lúc tiến hành những trắc nghiệm này, Pruessner đã chỉ rõ như vậy. Phần này của não bộ đã được biết là phản ứng lại với những tình huống căng thẳng (situations de stress). Vậy vùng hạnh nhân hoạt động nhiều hơn ở dân thị thành. ”

    Cũng vậy, cortex cingulaire, một vùng có liên quan trong sự điều hoà những cảm xúc âm tính, dường như hoạt động hơn ở những người lớn lên trong thành phố.

    Cortex cingulaire đóng một vai trò trong sự cân bằng tâm thần (équilibre psychique) của chúng ta. Hoạt động của nó bị giảm khi bị một trầm cảm thần kinh (dépression nerveuse). Trong trắc nghiệm này, hoạt động lớn hơn của cortex cingulaire chứng tỏ cơ chế “ phòng vệ ” được thiết đặt bởi não bộ của những người thành thị đứng trước những biến cố âm tính, thí dụ một trắc nghiệm...gây căng thẳng như trắc nghiệm mà những người tình nguyện đã phải chịu đựng !

    Sự phát hiện của những cơ chế này được bổ sung bởi một dữ kiện khác. Những mối liên hệ giữa cortex cingulaire và hạnh nhân có thể bị làm xáo trộn do sự kiện sống ở vùng đô thị, công trình nghiên cứu đã tiết lộ như vậy.

    Điều này có thể giải thích về nguồn gốc của vài rối loạn tâm thần. Sự bội hoạt (suractivité) của vài vùng của não bộ chắc chắn là một chỉ dấu đáng lưu ý đối với các nhà nghiên cứu. Nhưng những nối kết (connexions) giữa các vùng khác nhau này phải chăng cũng quan trọng như thế ?

    Chính đó là một lãnh vực nghiên cứu lý thú được mở ra. Nhất là nếu ta quan tâm đến tiến triển của dân số thế giới. “ Vào năm 1950, chỉ 30 dân số thế giới sống ở thành phố, Daniel Kennedy và Ralph Adolphs, thuộc Caltech (Californie) đã nhắc lại như vậy. Ngày nay tỷ lệ này là 50% và có lẽ sẽ là 70% vào năm 2050. ”

    Biết rõ hơn tác động có thể có của thành phố lên sức khỏe tâm thần của các người dân là điều rất lý thú.
    (LE SOIR 23/6/2011)

    5/ TIM TƯ THẾ TỐT ĐỂ ĐIỀU TRỊ

    Ở những người già, vài tham số tim mạch có thể biến thiên tùy theo tư thế của bệnh nhân lúc điều trị, và điều này mặc dầu có dùng thuốc hay không. Khi bệnh nhân nằm ngửa với đầu ở tư thế nghiêng theo một góc 20 độ (nghĩa là không có gối), mạch có khuynh hướng gia tăng và huyết áp (trương tâm và thu tâm) có khuynh hướng gia tăng. Ngược lại, những tham số tim mạch này không bị biến đổi bởi tư thế nằm nghiêng về phía trái hay phải, nói chung là những tư thế được ưa thích bởi những người già, có lẽ bởi vì tư thế này mang lại một sự thoải mái tốt hơn đối với tim.
    (SCIENCES ET AVENIR 4/2011)

    6/ POLYPE CỦA THẬN : MỘT KỸ THUẬT CHỤP HÌNH ẢNH CẢI TIẾN CHO PHÉP PHÁT HIỆN NHỮNG KHỐI U.

    Hỏi : Những ung thư của các niệu quản (uretère) của thận có thường xảy ra không ?
    GS Olivier Traxer: Tỷ lệ lưu hành của chúng là từ 0,3% đến 0,4% của toàn bộ các ung thư. Những u ác tình của các niệu quản thận tất cả đều có cùng nguồn gốc : sự thoái hóa của một polype.

    Hỏi : Ta có biết các yếu tố nguy cơ không ?
    GS Olivier Traxer: Yếu tố nguy cơ số 1 : nhiễm độc thuốc lá, nhưng cũng xảy ra đối với vài nghề nghiệp trong đó ta sử dụng các chất nhuộm màu chứa benzène hay toluène. Mới đây ta cũng đã nhận thấy rằng cũng có một thế trạng gia đình (terrain familial).

    Hỏi : Ta nghi ngờ sự hiện diện của loại ung thư này như thế nào ?
    GS Olivier Traxer: Sự hiện diện của máu trong nước tiểu (hématurie : tiểu ra máu) là dấu hiệu báo động đầu tiên. Sau đó một scanner bụng cho phép thấy được polype trong một niệu quản của thận (và đôi khi trong cả bàng quang).

    Hỏi : Ngày nay, kỹ thuật cổ điển nào để lấy đi một polype của các niệu quản của thận ?
    GS Olivier Traxer: Mãi cho đến vài năm gần đây, để lấy đi một polype, bất hạnh thay, ta phải lấy đi quả thận và niệu quản của nó (néphro-urétérectomie) : điều trị triệt căn, hiệu quả nhưng gây hủy hoại vô cùng, bởi vì không thể chỉ lấy một mình niệu quản và để lại thận. Mặt khác, trong 8% các trường hợp, các khối u hiện diện ở hai qua thận. Từ ít lâu nay, ta có thể lấy đi những polype này bằng một kỹ thuật mới. Đó là một phương thức vi xâm nhập (un procédé mini-invasif) sử dụng một dụng cụ nội soi (endoscope) được trang bị bởi một caméra : urétéroscopie laser. Với kỹ thuật hiện đại này, ta chỉ lấy đi polype và giữ lại quả thận và niệu quản của nó (điều trị bảo tồn). Sau đó ta gởi mẫu nghiệm cho phòng xét nghiệm để phân tích. Khi có nhiều polype, người thầy thuốc chỉ lấy đi một polype duy nhất để phân tích và đốt những polype khác bằng laser.

    Hỏi : Tùy theo những kết quả được phân tích, giai đoạn tiếp theo là gì ?
    GS Olivier Traxer: Nếu kết quả phân tích cho thấy polype là ung thư, nhà phẫu thuật buộc phải trở lại điều trị triệt căn và như thế phải hy sinh không những niệu quản, mà cả quả thận nữa. Nếu polype được cho là hiền tính, ta sẽ có thể theo dõi bệnh nhân với một xét nghiệm scanner và một nội soi mỗi 6 tháng trong 2 năm.. rồi mỗi năm.

    Hỏi : Với protocole nội soi thông thường đối với polype hiền tính, những kết quả là gì ?
    GS Olivier Traxer: Nguyên tắc của kỹ thuật mới này là tốt, nhưng những “ công cụ ” cho đến nay không phải luôn luôn được hiệu năng lắm, đôi khi với một cái nhìn hơi mờ đối với polype. Vậy ta có thể để sót lại một phần của khối u và khối u này có thể tiến triển thành ung thư.

    Hỏi : Những tiến bộ mới đây nào cho phép nhìn thấy tốt hơn toàn bộ polype và như thế tránh để sót lại một phần của nó ?
    GS Olivier Traxer: Tiến bộ đạt được nhờ sự thiết đặt các caméra numérique cực kỳ thu nhỏ (minituarisé). Kỹ thuật nội soi được sử dụng giống nhau, nhưng lần này khả năng nhìn vô cùng rõ ! Sự khác nhau giữa những dụng cụ nội soi (endoscope) cũ và mới có thể so sánh với sự khác nhau giữa các màn ảnh truyền hình của những năm 60 và những màn ảnh numérique của chúng ta ngày nay ! Nhờ sự chính xác của những “ công cụ “ mới này ta không còn bỏ sót một polype nhỏ có kích thước cỡ milimet. Và rất mới đây, một tiến bộ khác lại còn cải thiện chất lượng nhìn : sự thiết đặt những caméra mới, được chế tạo để soi sáng niệu quản với màu xanh và lục (với một chùm của mỗi màu). Ánh sáng xanh lục này cho phép thấy được những huyết quản nhỏ xíu bên trong một polype. Sự hiện diện của chúng rất gợi ý những tế bào ung thư. Kỹ thuật thăm dò mới nhất này, được gọi là “ chụp hình ảnh bằng những dải hẹp ” (NBI : imagerie par bandes étroites), phối hợp với các caméra numérique, đã tạo nên một bước nhảy vọt khủng khiếp trong việc phát hiện những polype của niệu quản của thận.

    Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào chứng minh tính hiệu quả lớn này ?
    GS Olivier Traxer: Nhóm nghiên cứu của chúng tôi ở bệnh viện Tenon mới đây đã công bố những kết quả của công trình nghiên cứu thế giới đầu tiên được thực hiện trên 27 bệnh nhân (nhưng hiện nay con số này là 80). Những kết luận đã rất là có tính thuyết phục, NBI đã cho phép chúng tôi phát hiện các khối u 20% nhiều hơn so với kỹ thuật numérique riêng rẻ.
    (PARIS MATCH 30/6 - 4 /7/2011)

    7/ PARIS ĐƯỢC TRANG BỊ DAO MỔ GAMMA (GAMMA KNIFE)

    Được phát minh bởi một thầy thuốc ngoại thần kinh Thụy Điển, dao mổ Gamma (Gamma Knife) là một kỹ thuật phát xạ cực kỳ hiệu năng và chính xác. Con dao mổ này cho phép, mà không cần phải mở sọ, không cần ngoại khoa liên kết và không gây đau, phá hủy một một mục tiêu trong não (une cible cérébrale), dầu đó là một khối u hiền tính của đáy sợ, một u bao Schwann của dây thần kinh thính giác (neurinome du nerf auditif), những di căn não hay một dị tật mạch máu. Con dao mổ Gamma được cấu tạo bởi một tập hợp 200 chùm phân biệt, rất hẹp và mỗi chùm có một năng lượng rất thấp, tất cả được tập trung duy nhất vào mục tiêu. Các liều được phát ra trong một thời gian ngắn, cộng lại với nhau. Ở ngoại biên của mục tiêu, sự phát xạ lên vùng lành mạnh của mỗi chùm không gây nên một thương tổn nào. Buổi điều trị kéo dài 30 đến 180 phút. Trước đó mục tiêu được xác định bởi IRM và Scanner. Máy vi tính sau đó cho phép xác định chiến lược tốt nhất, tùy theo độ sâu, vị trí chính xác của mục tiêu và căn bệnh gây nên. Sau Marseille và Lille, Sau cùng Paris được trang bị bởi dao mổ Gamma này ở bệnh viện Pité-Salpêtrière.
    (PARIS MATCH 26/5-31/5/2011)


    8/ MỘT TRÁI TIM NHÂN TẠO “ HOÀN TOÀN ” ĐƯỢC GHÉP NƠI NGƯỜI.

    Cuối năm 2011, trái tim nhân tạo hoàn toàn đầu tiên sẽ được ghép cho người. Trái tim này được chế tạo để được đập nhiều năm trong lồng ngực của các bệnh nhân.

    Đó là một thế hệ mới tim nhân tạo được chế biến bởi công ty Carmat ở ngoại ô Paris. Một trái tim được gọi là “ hoàn toàn ”, bởi vì nó được dùng để ghép cho một bệnh nhân trong nhiều năm, và không chỉ nhằm để chờ đợi một ghép cơ quan sống (greffe d’organe vivant). Sau những simulation numérique và những thử nghiệm trên bê, trái tim nhân tạo đầu tiên thuộc loại này sẽ được ghép cho người vào tam cá nguyệt cuối của năm 2011.

    Những trái tim nhân tạo, hiện đã có. Bắt đầu bằng trái tim nhân tạo của công ty SynCardia Hoa Kỳ, đã được ghép cho hơn 900 bệnh nhân. Những hệ thống phức tạp này, có hình thái rất khác với trái tim sống, nhằm cho phép bệnh nhân suy tim chờ đợi một trái tim thật sự.Với tuổi thọ 9 năm, cơ quan được chế tạo bởi công ty Carmat sẽ còn đi xa hơn. Ngay từ đầu, thầy thuốc chuyên khoa tim Alain Carpentier đã tưởng tượng ra nó như là có thể thay thế tim của những người bị suy trong nhiều năm.

    Mặc dầu nặng hơn một trái tim thật sự (900 g thay vì 350), trái tim giả này muốn là một sao y nguyên bản của trái tim người : nó có cùng thể tích, và được tạo nên bởi hai tâm thất, được ngăn cách bởi một màng mềm, để có một co bóp y hệt với co bóp của tim tự nhiên. Mỗi tâm thất được điều hòa một cách độc lập nhằm bắt chước sự vận hành chức năng của trái tim người.

    Sau hết, mặt trong của trái tim nhân tạo này được bao bọc bởi một vật liệu đặc biệt để tránh sự tạo thành các cục máu đông. Được trang bị bởi các bộ phận đo áp suất (capteur de pression) và nghiêng kế (inclinomètre), trái tim này biết được tư thế của bệnh nhân và thích ứng nhịp của nó đối với hoạt động của bệnh nhân. “ Đó là trái tim duy nhất trên thế giới thuộc loại này ”, Alain Carpentier đã giải thích như vậy. Để chế tạo ra nó, ông đã liên kết với các kỹ sư của aéronautique.

    Vấn đề là còn phải xem nó có phục vụ như được mong chờ không. Alain Carpentier và nhóm nghiên cứu của ông, nhiên hậu khắc phục được tình trạng thiếu tim sống đồng thời tránh được nguy cơ thải bỏ ghép (rejet de greffe) và những điều trị làm suy giảm miễn dịch. Giá của trái tim nhân tạo này cũng giống với phí tổn của một phẫu thuật ghép tim : 150.000 euros.
    (LA RECHERCHE 7-8/2011)

    9/ PHỔI CỦA CHÚNG TA GIÀU NHỮNG TẾ BÀO GỐC

    Trong vài vùng của hai lá phổi của chúng ta, còn tồn tại những tế bào không được biệt hóa (cellules indifférenciées) có khả năng đổi mới y hệt và biệt hóa thành nhiều loại tế bào..nói một cách khác, đó là những tế bào gốc (cellules souches) ! Đó là khám phá gây ngạc nhiên được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của Piero Anversa, ở Havard Medical School (Boston, Hoa kỳ) từ những lá phổi của những người trưởng thành đã chết sau khi đã thỏa thuận cho cơ quan.“ Những tế bào gốc này là đặc hiệu cho các lá phổi và không có gì khác với những tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires) có thể sinh ra bất cứ cơ quan hay mô nào. Nhưng những tế bào gốc của phổi không phải là không đáng lưu ý ”, Piero Anversa đã giải thích như vậy. Bằng cớ là ông cùng với nhóm nghiên cứu đã thành công sửa chữa những lá phổi bị thương tổn của chuột sau khi đã trích và cấy các tế bào gốc này trong phòng thí nghiệm, rồi tiêm vào lại trong hai lá phổi bị thương tổn. Những tế bào gốc này đã hội nhập vào cơ quan bị bệnh, tạo nên các tiểu phế quản, những phế nang và những huyết quản phổi. Còn hơn thế nữa, các nhà nghiên cứu đã có thể thu hồi lại những tế bào gốc người (cellules souches humaines) được ghép này nơi chuột để sửa chữa những lá phổi bị thương tổn của một con chuột khác. Việc khám phá của nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ dấy lên một niềm hy vọng mới đối với bio-ingénierie và sự tái tạo các mô. “ Không còn nghi ngờ gì nữa những tế bào gốc mà chúng tôi đã nhận diện sẽ có những áp dụng quan trọng trên lâm sàng ”, vị thầy thuốc đã kết luận như vậy.
    (SCIENCE ET VIE 7/2011)

    9/ UNG THƯ TINH HOÀN GIA TĂNG Ở PHÁP.

    Những công trình nghiên cứu được công bố hôm qua cũng cho thấy một sự gia tăng những dị tật sinh dục (malformations génitales) ở các bé trai.

    SANTE PUBLIQUE. Các ung thư tinh hoàn (cancer du testicule) cũng như những dị tật sinh dục ở các bé trai đang gia tăng trong đất nước của chúng ta. Đó là nội dung của hai báo cáo được công bố hôm qua bởi Viện theo dõi y tế (InVS : Institut de veille de la santé) và đã được yêu cầu bởi Roselyne Bachelot, lúc đó là bộ trưởng y tế. Mục tiêu là xem, ở Pháp, những bệnh lý này có càng ngày càng nhiều như đã xảy ra đối với những nước Tây phương khác hay không. Trong bối cảnh này, những công trình khác để đánh giá sự tiến triển của khả năng sinh sản nam giới (fertilité masculine) cũng đang được tiến hành. Vài hiệp hội và các thầy thuốc đã quy kết vai trò của các thuốc trừ sâu (pesticide) và những chất làm rối loạn nội tiết (perturbareur endocrinien) trong việc làm phát sinh những căn bệnh này. Trong báo cáo của mình, các chuyên gia của Viện theo dõi y tế không phát biểu về những nguyên nhân của một hiện tượng nào đó, đối với Viện hiện nay vẫn còn hạn chế.

    Chứng tinh hoàn ẩn (cryptorchidie) (bất thường trong đó tinh hoàn, không đi xuống trong bìu dái vào lúc sinh) là một yếu tố nguy cơ của ung thư tinh hoàn. Tật lỗ đái lệch thấp (hypospadias) là một di tật của dương vật, trong đó niệu đạo (urèthre) mở ra ở mặt dưới của dương vật, chứ không phải đầu cuối của nó. Trước sự gia tăng số các trường hợp được báo cáo trong vùng Languedoc-Roussillon, InVS đã thực hiện một công trình nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này. Được công bố vào năm 2004, công trình nghiên cứu này đã cho thấy rằng tỷ lệ của hai loại dị tật được mổ này của bé trai ở Languedoc-Roussillon cũng giống với tỷ lệ trung bình quốc gia.

    Hai công trình nghiên cứu được công bố hôm nay liên quan đến thời kỳ 1998-2008. Những công trình nghiên cứu này, một mặt cho thấy một sự gia tăng 2,5% tỷ lệ hàng năm những bệnh nhân được mổ vì ung thư tinh hoàn, xảy ra chủ yếu ở những người đàn ông từ 20 đến 64 tuổi. Ung thư này mặc dầu không thường xảy ra (2200 trường hợp vào năm 2005, dưới 100 trường hợp tử vong mỗi năm), sự gia tăng trị số tuyet đối vẫn tương đối thấp, nhưng đúng là có sự gia tăng này. Và, mặt khác, một sự gia tăng những tỷ lệ hàng năm của những can thiệp ngoại khoa đối với tật lỗ đái lệch thấp (hypospadia) (1,2%) và chứng tinh hoàn ẩn (cryptorchidie) (1,8%) ở bé trai dưới 7 tuổi ở Pháp.

    Công trình nghiên cứu về các chứng tinh hoàn ẩn và tật lỗ đái lệch thấp được mổ ở Pháp từ năm 1998 đến 2008 ở bé trai dưới 7 tuổi từ những thống kê bệnh viện. Công trình nghiên cứu này cho thấy một tỷ lệ can thiệp ngoại khóa 2,51 trên 100 trẻ em trai dưới 7 tuổi ở Pháp đối với các trường hợp tinh hoàn ẩn và 1,10 trên 1000 đối với những trường hợp dị tật lỗ đái lệch thấp. Số lượng những can thiệp hàng năm ở bệnh viện là 6800 đối với những trường hợp tinh hoàn ẩn và 3000 đối với dị tật lỗ đái lệch thấp. Những biến thiên quan trọng tùy theo vùng không được giải thích và không giống nhau giữa các dị tật được khảo sát.

    Công trình nghiên cứu về những ung thư tinh hoàn cho thấy một sự gia tăng tỷ lệ bệnh nhân được mổ giữa năm 1998 và 2008 phù hợp với sự gia tăng đã được báo cáo trong thời kỳ 1980-2005. Những thay đổi tùy theo vùng (tỷ lệ cao nhất ở Lorraine, Alsace, Bretagne và Pays de Loire ; tỷ lệ thấp nhất ở Langue-doc-Roussillon và Ile-de-France) không được giải thích và không thể so sánh với những thay đổi được quan sát đối với những dị tật bẩm sinh được nghiên cứu. “ Điều quan trọng là cần phải ghi nhận rằng loại của các công trình nghiên cứu được thực hiện, nhằm mô tả, không cho phép xác lập một sự liên kết giữa việc xuất hiện những bệnh lý được khảo sát và những yếu tố nguy cơ, dầu đó là do môi trường hay không ”, những nhà khoa học của Viện theo dõi y tế đã giải thích như vậy. Đối với Bernard Jegou, giám đốc nghiên cứu ở Inserm (Rennes) và là chuyên gia về những vấn đề này, hai công trình nghiên cứu này rất là quan trọng, bởi vì sau cùng chúng cho phép Pháp đuổi kịp sự chậm trễ của mình trong việc đánh giá những bất thường sinh dục. “ Chúng ta như thế hòa nhập vào một trào lưu quốc tế, ông đã giải thích như thế. Tất cả vấn đề là phải biết xem những bệnh lý khác nhau này có phải có một nguồn gốc chung hay không hay đó chỉ là những vấn đề khác nhau. Ngoài ra, những nguyên nhân môi trường phải được nghiên cứu. Những giả thuyết khác nhau đã được đưa ra, như sự tiếp xúc của người mẹ trong thời kỳ thai nghén với những yếu tố khác nhau về môi trường, hóa học, với rượu, với thuốc men… ”
    (LE FIGARO 27/5/2011)

    10/ NHỮNG CHIẾN LƯỢC MỚI CHỐNG SÂU RĂNG

    Ngoài vệ sinh, phòng ngừa nhằm phát hiện tình trạng giảm khoáng hóa (hypominéralisation).

    ODONTOLOGIE. Khó mà đo lường được ở mức độ nào ở Pháp tình trạng răng của các trẻ em đã được cải thiện trong vòng vài thập niên. Vào năm 1964, một đứa trẻ 12 tuổi trung bình có 12 trường hợp sâu răng, so với 4,24 năm 1987 và chỉ 1,6 vào năm 2007. Những lý do của sự thụt lùi này ? Sự phát triển của phòng ngừa bằng vệ sinh răng và sự đánh răng ít nhất hai lần mỗi ngày, và nhất là sự cung cấp fluor, bằng đường tổng quát ở những trẻ có nguy cơ hay tại chỗ, nhờ thuốc đánh răng. Nhưng, theo nhiều chuyên gia, họp hội nghị gần đây ở Paris, vẫn còn có thể tiến bộ để làm giảm thêm tác động của sâu răng ở trẻ em.

    Đối với Bs Jean-Patrick Druo, chủ tịch Hiệp hội odontologie pédiatrique Pháp, việc phát hiện và điều trị tình trạng giảm khoáng hóa (hypominéralisation) xảy ra ở các răng hàm và răng cửa phải được chăm chú hơn. Được biết hơn dưới tên MIH, sự giảm khoáng hóa xảy ra ở những trẻ 6 tuổi khi xuất hiện những răng cửa rồi răng cửa vĩnh viễn. Tình trạng giảm khoáng hóa này đang gia tăng, với 5 đến 15% các trẻ em bị ảnh hưởng ở châu Âu, nhiều hơn nhiều trong vài nước. Thế mà MIH lại lót đường cho các sâu răng.

    Mặc dầu dạng vẻ không thẩm mỹ của những vết trắng hay vàng này làm quan tâm các bệnh nhân, tuy nhiên họ vẫn không biết rằng chúng chủ yếu là một dấu hiệu của sự dễ vỡ (signe de fragilité). “ Những chiếc răng này có một bất thường cấu trúc, đôi khi có thể nhận thấy được ngay khi chúng ló ra ở lợi răng. Do ít được khoáng hóa hơn, men răng (émail) của chúng ít có khả năng chịu dửng hơn, điều này làm dễ sự xuất hiện sâu răng. Những chiếc răng cũng trở nên tăng nhạy cảm (hypersensible), do đó khó điều trị hơn, ông ta đã giải thích như vậy. Mức độ nghiêm trọng của thương tổn thay đổi đối với mỗi đứa trẻ, đối với mỗi chiếc răng. Mức độ nghiêm trọng này có thể được giới hạn ở vài vết, nhưng men răng cũng có thể gần như có thể không còn hiện hữu và răng có thể có khuynh hướng vụn ra.” Các răng hàm càng bị thương tổn, thì các răng cửa cũng sẽ như vậy.

    MỘT BÓT ĐÁNH RĂNG MỀM VÀ MỘT THUỐC ĐÁNH RĂNG THÍCH ỨNG.

    Sâu răng là một bệnh do nhiều yếu tố (maladie multifactorielle) mà ta không biết rõ những nguyên nhân. “ Mặc dầu thuốc men trong thời kỳ thai nghén không đóng một vai trò, nhưng 80 các trẻ mẹ chịu tình trạng giảm oxy mô (hypoxie) lúc sinh ra đời và 60% các trẻ sinh non có trọng lượng thấp đều bị ảnh hưởng bởi chứng bệnh sâu răng này. Môi trường của đứa bé sau khi sinh cũng dường như là yếu tố quyết định. Những chất gây ô nhiễm môi trường, trong đó vài chất cũng đi vào trong sữa mẹ, các bệnh nhiễm trùng trong thời thơ ấu, những tình trạng thiếu hụt calcium và vitamine D, các bệnh viêm mũi hay viêm tai xảy ra nhiều lần, được liên kết với một nguy cơ gia tăng .”, thầy thuốc chuyên khoa đã giải thích như vậy. Người nha sĩ phải đánh giá sớm những yếu tố nguy cơ này, việc khám răng bắt buộc vào lúc 6 tuổi phải được cổ vũ tốt hơn. “ Những chiếc răng hỏng phải được điều trị ngay khi chúng xuất hiện : đó là giải cảm ứng (désensibiliser) chúng và tái khoáng hóa (reminéraliser) chúng bằng một vernis có dung lượng fluor cao. Việc phòng ngừa sâu răng dựa trên sự đánh răng với một bàn chải mềm mại và một thuốc đánh răng có fluor thích ứng theo tuổi, cũng như dựa vào sự bịt các rãnh răng (sillons dentaires), vốn là những điểm dễ vỡ ”, ông đã nói thêm như vậy.

    Yếu tố nguy cơ khác không được biết đến, các máy chỉnh hình rằng (appareils d’orthodontie) multibagues để dựng đứng các chiếc răng lại : chúng làm gia tăng 30 lần nguy cơ gây sâu răng và biện minh cho một sự theo dõi tăng cường các chiếc răng. Ngược lại, vài ý nghĩ sai lệch đáng được chấn chỉnh. GS Michel Sixou, khoa trưởng phân khoa chirurgie dentaire, Toulouse, đã hết sức nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hệ sinh thái miệng (écosystème buccal) trong việc phòng ngừa chứng sâu răng. “ Miệng là một cửa ngõ, một vùng tiếp xúc giữa môi trường bên ngoài và bên trong. Phải có một bộ phận lọc mạnh để ngăn cản sự đi đến của các vi khuẩn gây bệnh, mặc dầu ít và không nhiều. Bộ phận lọc này, chính là hệ sinh thái vi khuẩn (écosystème bactérien) của miệng, mà ta phải gìn giữ sự cân bằng và tính đa dạng, ông đã nêu lên như vậy. Tụ cầu khuẩn vàng (staphylocoque doré), chịu trách nhiệm chủ yếu của sâu răng, sẽ chỉ tăng sinh trong những điều kiện thuận lợi. Thế mà đường lại làm dễ sự tăng trưởng của nó, như thế làm gia tăng sự sản xuất các chất chuyển hóa và những chất này sẽ khơi mào quá trình làm mất chất khoáng (déminéralisation) của răng và quá trình sâu răng. ” Vấn đề, ít nhất là răng, không phải vì các trẻ em ăn đường : mà vấn đề là chúng phải đánh răng sau đó để loại bỏ đường và ngăn cản vi khuẩn này dính và tăng sinh. Gìn giữ hệ sinh thái miệng (écosystème buccal), đó cũng là lựa chọn thuốc đánh răng thích ứng. “ Vậy chủ yếu không phải là thuốc đáng răng có tác dụng rất kháng khuẩn hay chứa những hoạt chất nếu miệng lành mạnh, để không làm biến đổi hệ sinh thái.” Điều chủ yếu là chất lượng của việc đánh răng, với một bót đánh rằng được thay đổi thường xuyên.

    Sau con số trung bình 1,6 trường hợp sâu răng đối với mỗi đứa trẻ, một nửa các trẻ em 12 tuổi, thuộc giới khá giả, không hề bị sâu răng, trong khi 20% , chủ yếu phát xuất từ những gia đình nghèo khổ, tập trung 80% những trường hợp sâu răng, hoặc 4,83 sâu răng đối với mỗi trẻ em.
    (LE FIGARO 30/5/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (26/7/2011)

    Edited by user Friday, August 31, 2012 8:48:14 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #7 Posted : Friday, August 31, 2012 10:09:48 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 238

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ 11 RỐI LOẠN TÂM THẦN : BỆNH TRẦM CẢM

    A. Bệnh trầm cảm là gì ?

    Bệnh trầm cảm (dépression) được định nghĩa là một tổng thể các triệu chứng xuất hiện nhanh chóng ít hay nhiều. Theo Manuel diagnostique et statistique des troubles mentaux (DSM-IV), một người có thể được chẩn đoán là trầm cảm nếu người này, trong hơn hai tuần, có ít nhất 5 trong số những triệu chứng sau đây, trong đó có ít nhất 2 triệu chứng đặc hiệu (nghĩa là tượng trưng cho bệnh) :
    • Những triệu chứng được gọi là đặc hiệu : khí chất buồn rầu, không quan tâm hay thích thú, cảm giác phạm tội hay giảm giá quá mức (sentiment de culpabilité ou de dévalorisation excessive), muốn chết.
    • Những triệu chứng được gọi là không đặc hiệu : các rối loạn giấc ngủ, mệt, các cử động chậm chạp hay kích động, các rối loạn về sự thèm ăn (mất hay lên cân), khó tập trung, mất nghị lực (perte d’énergie).


    B. Ai bị liên hệ ?

    Tổ chức y tế thế giới đánh giá rằng chứng trầm cảm gây bệnh cho 3% dân số thế giới.Những con số này có thể bị đánh giá thấp bởi vì không phải tất cả những người bị trầm cảm đều đi thăm khám bệnh, nhất là trong những nước ít phát triển, và rằng bệnh trầm cảm có thể bị che khuất bởi những bệnh khác. Ở Pháp, Viện phòng ngừa và giáo dục y tế quốc gia đã tiến hành một điều tra vào năm 2005.Cuộc điều tra này đã tỏ ra mang lại nhiều điều bổ ích : 18% những người được hỏi đã trải qua một đợt trầm cảm quan trọng, các phụ nữ hai lần nhiều hơn đàn ông. Mặt khác, một công trình nghiên cứu, được tiến hành bởi Ngân hàng quốc tế năm 1992, cho thấy rằng chứng trầm cảm là nguyên nhân đứng thứ tư trên thế giới gây phế tật (xã hội và nghề nghiệp), trước cả những bệnh tim. Ngoài ra, đó là một bệnh gây chết người, vì lẽ 15% những người bị bệnh trầm cảm mức độ quan trọng tự tử.

    C. Những nguyên nhân là gì ?

    Quá trình hiệu chính các thuốc trầm cảm làm sáng tỏ rất nhiều về cơ chế của căn bệnh. Các thuốc chống trầm cảm này tác động ở các khớp thần kinh (synapse), là những vùng ở đấy các neurone trao đổi thông tin dưới dạng các phân tử, được gọi là những chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteur). Những chất dẫn truyền này, được phát ra bởi tế bào thần kinh thượng nguồn (neurone amont), bị bắt giữ bởi tế bào thần kinh hạ nguồn (neurone aval), rồi trở lại trong khoang liên khớp (espace intersynaptique), ở đấy chúng bị bắt lại bởi tế bào thần kinh thượng nguồn nhằm cho một sự trao đổi kế tiếp. Bằng cách ức chế sự bắt giữ lại (recapture) các chất dẫn truyền thần kinh (nhất là noradrénaline và sérotonine), các thuốc chồng trầm cảm đầu tiên, xuất hiện vào năm 1957, làm gia tăng nồng độ của các chất dẫn truyền thần kinh trong khoang liên khớp. Như thế bệnh trầm cảm là do vài chất dẫn truyền thần kinh bị thiếu : giả thuyết này được phổ biến rộng rãi. Nhưng “ trên thí nghiệm ta đã không bao giờ xác nhận rằng sérotonine đóng một vai trò khởi phát trong bệnh trầm cảm ”, Cedric Lemogne, nhà nghiên cứu của centre émotion thuộc CNRS đã phát biểu như vậy. Mặc dầu có các chỉ dấu : những người tự tử có một nồng độ bất thường của các thụ thể đối với sérotonine ; những sản phẩm thoái biến của sérotonine ít hiện diện ở những người bị trầm cảm...nhưng không có bằng cớ.

    Do đó vài nhà nghiên cứu đã tìm kiếm về phía nguyên nhân đầu tiên đã được biết của bệnh : stress, thường là do những biến cố bất hạnh và cơ thể phản ứng lại bằng cách làm gia tăng nồng độ của glucocorticoides trong máu. Mặc dầu những chất này chuẩn bị cho cơ thể để đương đầu với mối hiểm nguy, nhưng những messager này có thể trở nên độc hại, Andrei Radtchenko, thầy thuốc tâm thần của bệnh viện Issy-les-Moulineaux đã giải thích như vậy. “ Bắt đầu từ đợt trầm cảm thứ ba, ta quan sát thấy những thương tổn não bộ. Nhiều vùng, nhất là hồi hải mã (hippocampe) và vỏ não trước trán (cortex préfrontal), bị giảm thể tích, và những hiệu năng nhận thức (performances cognitives) của các bệnh nhân bị ảnh hưởng vì điều đó.” Thật vậy stress ức chế sự tạo thành những neurone mới. Nhưng khó mà xác nhận rằng bệnh trầm cảm là một sự thoái hóa tế bào thần kinh do stress : không phải tất cả những người bị trầm cảm đều có một nồng độ glucorticoide cao một cách bất thường..

    Sau cùng cái nét chung cho tất cả những người bị trầm cảm vẫn là họ cảm thấy bị bệnh, không nhất thiết có lý do thực thể rõ ràng. Robert Dantzer, nhà nghiên cứu thuộc đại học Illinois (Hoa Kỳ) theo một giả thuyết lạ kỳ : “ Trong những khoa ung thư, một nửa các bệnh nhân được điều trị với interféron và interleukine (những phân tử được phóng thích một cách bất thường lúc bị viêm) càng phát triển trầm cảm khi họ càng nhận các mũi tiêm.” Chứng trầm cảm có phải là kết quả của một quá trình viêm ? Giả thuyết, thoạt nhìn có vẻ kỳ cục, được tăng cường khi ta đã chứng thực rằng những người bị viêm nhiễm (các bệnh tim mạch, chứng béo phì hay ngay cả sau một vaccin) bị trầm cảm hơn người thường. “ Điều này không có nghĩa là mọi bệnh trầm cảm là một phản ứng viêm, Robert Dantzer đã kết luận tạm thời như thế. Nhưng vài trường hợp trầm cảm đề kháng với các loại thuốc có thể được giải thích như thế.”

    Các nhà khoa học đã không ngừng chạy theo đủ hướng tìm tòi. Theo Philippe Fossati, thầy thuốc tâm thần học thuộc CNRS, “ quan niệm mà ta có về bệnh trầm cảm đã trở nên phức tạp hơn. Dĩ nhiên sérotonine can thiệp vào một lúc nào đó. Nhưng quá trình sinh tế bào thần kinh (neurogenèse), sự đau đớn, viêm nhiễm, quá trình nhận thức (cognition), di truyền, sự căng thẳng xã hội (stress social) ...tất cả điều đó cũng có một vai trò.”

    D. Làm sao điều trị

    Bệnh trầm cảm là một trong những bệnh được điều trị tốt nhất... miễn là nó được chẩn đoán đúng lúc. Thế mà theo một báo cáo của Quốc Hội Pháp (2006), dưới một người trên ba bị bệnh trầm cảm ở Pháp được hưởng một điều trị thích đáng. Tuy vậy, bên cạnh các liệu pháp nhận thức-hành vi (thérapie cognitivo-comportementale), nhằm quản lý tình trạng stress, những cảm xúc, nhiều loại thuốc đã chứng tỏ một tính hiệu quả nào đó. Tuy vậy khoảng 30% các trường hợp trầm cảm đề kháng với các thuốc chống trầm cảm.
    (SCIENCES ET VIE, HORS SERIE 6/2011)

    2/ MỘT LOẠI THUỐC ĐỂ PHÒNG NGỪA UNG THƯ VÚ.

    Ở các phụ nữ mãn kinh có nguy cơ, một điều trị bằng hormone làm giảm 65% sự xuất hiện một khối u ung thư.

    ONCOLOGIE. Tránh thuốc lá và rượu, ăn quân bình, cử động ...Việc phòng ngừa các ung thư trước hết phải là những thay đổi về các hành vi. Nhưng thuốc men cũng có thể có một vai trò, ít nhất trong các khối u của vú. Một nhóm nghiên cứu quốc tế các nhà nghiên cứu vừa tiết lộ rằng một liệu pháp hormone với exemestane (Aromasine) cho phép làm giảm 65% sự xuất hiện của các ung thư này. Những kết quả của công trình nghiên cứu của họ, được tiến hành nơi 4.500 phụ nữ mãn kinh, đã được trình bày vào weekend này ở Chicago (Illinois) tại hội nghị lần thứ 47 của Hiệp hội Ung thư học lâm sàng Hoa Kỳ (Asco). Những kết quả này cũng được công bố trong tờ báo nổi tiếng New England Journal of Medicine (NEJM).

    Mỗi năm, 1,3 triệu ung thư vú được chẩn đoán trên thế giới, 52.000 ở Pháp. Vài phụ nữ được xem là có nguy cơ cao, do một biến dị di truyền BRCA1 hay BRCA2 hay những yếu tố khác như những tiền sử gia đình, lớn tuổi, những bệnh hiền tính của vú..Nhưng ngoài gia tăng sự theo dõi, ít phương pháp có thể được đề nghị để phòng ngừa. Phẫu thuật cắt bỏ vú, rất triệt để, chủ yếu dành cho những phụ nữ với một biến dị BRCA1 hay 2, chịu một nguy cơ quan trọng bị ung thư vú.

    Hormone liệu pháp với những thuốc chống lại oetrogène, tamoxifène và raloxifène, được hợp thức hóa ở Hoa kỳ, nhưng hai loại thuốc này ít được kê đơn do những tác dụng phụ nghiêm trọng : ung thư tử cung, nghẽn mạch phổi. Ở Pháp, những loại thuốc này không được cho phép để phòng ngừa. GS Paul Goss (đại học Havard, Boston), người tìm tòi chính của công trình nghiên cứu được trình bày tại Asco, và những đồng nghiệp của ông đã trắc nghiệm một thuốc chống oestrogène khác, exemestane, thuộc họ của những chất ức chế aromatase. Ở các phụ nữ mãn kinh, những loại thuốc này đã trở nên liệu pháp hormone chuẩn để phòng ngừa những tái phát của ung thư vú. Trong chỉ định này, chúng đã tỏ ra có hiệu quả hơn và ít độc hơn tamoxifène, do đó nảy sinh ý tưởng nghiên cứu chúng để phòng ngừa nguyên phát, trước khi một ung thư vú đầu tiên xuất hiện.

    Tổng cộng, 4560 phụ nữ mãn kinh có nguy cơ cao bị ung thư vú (không biến dị nhưng tuổi hơn 60, hay với những yếu tố nguy cơ khác như những tiền sử về những thương tổn của vú) đã được tuyển mộ trong nhiều nước. Một nửa đã được điều trị một viên exemestane mỗi ngày, nửa kia bởi một placebo. Trung bình với 3 năm nhìn lại, 43 ung thư xâm nhập (cancer invasif) đã xuất hiện : 32 trong nhóm placebo và 11 trong số những phụ nữ được điều trị, hoặc một tỷ lệ giảm 65%. Những tác dụng phụ (phừng mặt, đau khớp) hơi thường xảy ra hơn ở những người được điều trị, nhưng chất lượng gần như tương đương trong hai nhóm. Không có độc tính tim mạch hay xương nào được quan sát, cũng không có sự tăng quá mức nhưng ung thư khác.

    Tuy nhiên thời gian nhìn lại 3 năm vẫn còn giới hạn. Chúng ta có một điều trị phòng ngừa hiệu quả hơn và dung nạp tốt hơn điều trị hiện nay, đó là một phương pháp mới cần phải thông báo cho phụ nữ, Paul Gross đã đánh giá như vậy, đồng thời xác nhận rằng thời gian tối ưu của liệu pháp này là từ 3 đến 5 năm. Hai nhà bình luận của NEJM đi xa hơn. “ Các ung thư vú là nguyên nhân đứng thứ hai của tử vong do ung thư và là một trong những chẩn đoán đáng sợ nhất đối với phụ nữ Hoa Kỳ. Ngày nay ta có những kiến thức và công cụ để làm giảm tỷ lệ tử vong này. Ta không còn có cớ để thoái thác. Chúng ta còn chờ đợi gì ? ”

    ĐAU KHỚP.

    Tuy nhiên chiến lược này không tạo nên sự nhất trí. “ Các chất ức chế aromatase gây nên ở 30% các bệnh nhân những đau khớp có thể gây khó chịu. Cho một điều trị gây nên những tác dụng phụ cho người nào đó không kêu ca gì cả là điều đáng bàn cải, GS Pierre Kerbrat (CHU de Rennes) đã nêu lên như vậy. Theo thầy thuốc chuyên khoa ung thư này, việc phòng ngừa các ung thư vú trước hết phải là chế độ ăn uống và một hoạt động vật lý đều đặn mà tính hiệu quả đã được chứng tỏ.

    GS Pascal Pujol, người phụ trách thử nghiệm ở Pháp, ông cũng tin rằng xét vì các kết quả, các phụ nữ có nguy cơ cao sẽ có động cơ trong việc sử dụng thuốc. Vấn đề là phải biết trong khung cảnh nào. Ở Pháp cũng như ở Hoa kỳ, exemestane đang rơi vào trong lãnh vực công. Hai thử nghiệm hóa liệu pháp khác với các chất ức chế aromatase đang được tiến hành, trong đó một được chỉ đạo bởi GS Pujol ở những phụ nữ có biến dị BRCA1 hay 2. Tuy nhiên công trình nghiên cứu này của Pháp, được thực hiện bởi Unicancer (Fédération française des centres de lutte contre là cancer) tiến triển khó khăn. Trên 500 phụ nữ cần thiết, chỉ có 120 đã được tuyển mộ.
    (LE FIGARO (6/6/2011)

    3/ ASPIRINE ĐỀ PHÒNG NGỪA UNG THƯ ?

    Robert Benamouzig là trưởng khoa dạ dày ruột thuộc bệnh viện Avicenne, Bobigny

    Hỏi : Một công trình nghiên cứu dịch tễ học về mối liên hệ giữa việc sử dụng aspirine và ung thư vừa được công bố. Công trình này cho thấy điều gì ?
    Robert Benamouzig :Công trình nghiên cứu này cho thấy rằng một liều thấp aspirine (75mg mỗi ngày) trong ít nhất 5 năm, làm giảm 20% tỷ lệ tử vong, tất cả các ung thư cộng lại. Để đạt đến kết luận này, nhóm của Peter Rothwell, thuộc đại học Anh Oxford đã thực hiện một phân tích méta từ 8 thử nghiệm lâm sàng, nguyên thủy được tiến hành để đánh giá tác dụng của loại thuốc này lên những bệnh tim mạch. Toàn bộ, 25.570 bệnh nhân đã nhận hoặc là aspirine, hoặc là một placebo. Theo quá trình theo dõi trong 20 năm, những trường hợp tử vong bởi ung thư (nhất là những ung thư đại trực tràng và của thực quản) là ít quan trọng hơn đối với những người đã sử dụng aspirine.

    Hỏi : Ta đã có thể mong chờ một tác dụng bảo vệ của aspirine ?
    Robert Benamouzig : Vâng, ta đã nghi ngờ điều đó : từ hai chục năm nay ta quan sát thấy rằng ung thư đại trực tràng ít thường xảy ra hơn ở những người sử dụng đều đặn aspirine. Ta cũng biết rằng aspirine cũng như những thuốc kháng viêm khác, ức chế các enzyme có liên quan trong sự tăng sinh của các khối u. Nhưng nhờ những thử nghiệm trên một số lớn các bệnh nhân, Peter Rothwell và nhóm nghiên cứu của ông mới đây đã mang lại những luận cứ mới về tác dụng bảo vệ của aspirine chống lại ung thư đại trực tràng, rồi bây giờ đây tác dụng của nó chống lại hầu hết các ung thư.

    Hỏi : Những kết quả này sẽ mang lại những áp dụng đối với thực hành hàng ngày không ?
    Robert Benamouzig : Theo ý kiến của tôi, aspirine phải được kê đơn để phòng ngừa ung thư đại trực tràng, đặc biệt đối với những người có một nguy cơ cao, nhất là có yếu tố gia đình. Nhưng không có vấn đề kê đơn để phòng ngừa cho tất cả mọi người hay tự dùng thuốc lấy. Thật vậy, ngay cả với liều thấp, aspirine vẫn có thể gây nên xuất huyết dạ dày ruột trong khoảng 1% các trường hợp. Vậy không nên tạo một cách sai lầm nguy cơ cho những người có nguy cơ thấp, bởi vì, đối với họ, lợi ích của việc sử dụng aspirine sẽ thấp hơn nguy cơ gặp phải. Cũng không nên bắt bệnh nhân sử dụng aspirine quá lâu một cách vô ích : tác dụng bảo vệ xuất hiện sau 5 đến 10 năm, vậy aspirine chỉ có thể bắt đầu được sử dụng khoảng 50 tuổi mà thôi, trừ trường hợp những người có một nguy cơ cao bị ung thư sớm. Vậy vấn đề hiện nay là tính tỷ suất lợi ích đối với nguy cơ của việc sử dụng hàng ngày aspirine để xác định phương pháp ngăn ngừa này sẽ hữu ích đối với những ai.

    Hỏi : Những khuyến nghị phải chăng chẳng bao lâu nữa sẽ được soạn thảo ?
    Robert Benamouzig : Xác định một cách chính xác giới hạn mà lợi ích của aspirine vượt quá nguy cơ không phải dễ dàng. Phải cần thời gian để các chuyên gia tổ chức và hội họp để soạn thảo những khuyến nghị. Do đó tôi e ngại rằng điều đó còn cần đến vài năm trước khi phương pháp này được áp dụng trong thực tiễn.
    (LA RECHERCHE 2/2011)

    4/ HƯỚNG VỀ MỘT SỰ PHÁT HIỆN SỚM CỦA UNG THƯ TRONG MÁU VÀ NƯỚC TIỂU?

    Một kỹ thuật phát hiện ung thư sớm đã được hiệu chính bởi các nhà sinh học người Pháp của CNRS và Inserm (đại học Strasbourg và Paris-Descartes), với sự hỗ trợ của những nhà nghiên cứu người Đức và Mỹ. Đó là một phương pháp phát hiện ADN u ung thư trong máu hay nước tiểu. Khi một tế bào chết, nó phóng thích vào trong máu (hay chất dịch khác) ADN, một thành phần của các gène của tế bào này. Trong trường hợp ung thư giai đoạn bắt đầu, ADN u ung thư hiện diện với lượng cực nhỏ đến độ không thể phát hiện bằng những kỹ thuật hiện nay. Các nhà nghiên cứu đã xây dựng một kỹ thuật phát hiện những ngưỡng (seuil) 20.000 lần dưới những ngưỡng có được bằng những phương thức cổ điển. ADN được trích ra từ u ung thư được phân bố cho hàng ngàn những giọt nhỏ, khá nhỏ để mỗi giọt chỉ chứa một gène. Những giọt nhỏ này (được nhuộm màu bởi một thuốc thử để nhận diện chúng) sau đó được phân tích bằng miễn dịch huỳnh quang (immunofluorescence). Khi chúng nhuộm màu đỏ, ADN là lành mạnh, khi chúng trở thành màu lục, ADN bị bệnh. Những nghiên cứu để hợp thức hóa được dự kiến. Nếu những kết quả này được xác nhận, chúng sẽ dùng để chẩn đoán tiền lâm sàng ung thư.
    (PARIS MATCH 16/6 – 22/6/2011)

    5/ UNG THƯ : NHỮNG TIẾN BỘ CHƯA TỪNG CÓ CHỒNG LẠI U HẮC TỐ ÁC TÍNH.

    Một loại thuốc nhắm đích (médicament ciblé) và một miễn dịch liệu pháp kéo dài tỷ lệ sống sót trong trường hợp di căn.

    ONCOLOGIE. Đó là khởi đầu của một kỷ nguyên mới đối với các mélanome, những ung thư da đáng sợ nhất. Lần đầu tiên, hai loại thuốc đã cho phép gia tăng tỷ lệ sống sót của những người bệnh bị các thể di căn. Những kết quả của hai công trình nghiên cứu quốc tế này, được xem như là một trong những biến cố của hội nghị thứ 47 của hiệp hội Hoa Kỳ về ung thư học lâm sàng (Asco), diễn ra ở Chicago, đã được trình bày ở buổi họp khoáng đại trong một căn phòng rộng lớn với 15 màn ảnh khổng lồ. Nhiều ngàn thầy thuốc chuyên khoa ung thư đã tham dự và đã vỗ tay các thuyết trình viên. Song hành, hai thử nghiệm này đã được công bố trong New England Journal of Medicine.

    Trong khi số lượng ung thư gia tăng không đổi, các u hắc tố ác tính trong đa số các trường hợp được chữa lành nhờ phẫu thuật. Nhưng những khối u không mổ được hay với những di căn có một tiên lượng đáng sợ, bởi vì cho đến nay chúng đề kháng với tất cả các điều trị. Được đưa ra thị trường vào năm 1975, dacarbazine, vốn là hóa học liệu pháp quy chiếu, chỉ có hiệu quả nơi 10% các bệnh nhân. Và nhiều cố gắng từ nhiều thập niên để chống lại những ung thư này bằng cách kích thích những phòng ngự miễn dịch, thí dụ bằng các vaccin, đã không bao giờ có được những kết quả chứng thực.

    Hai loại thuốc mới nhiều hứa hẹn tác dụng một cách hoàn toàn khác. Thuốc đầu tiên, vemurafenib, được bào chế bởi hãng dược phẩm Roche, nhằm vào một biến dị của một gène được gọi là Braf. Với sự hiện diện của bất thường gène này, hiện diện trong 50% các u hắc tố ác tính, những tế bào ung thư có một sự tăng trưởng nhanh hơn. Thuốc thứ hai, ipilimumab (các hãng bào chế Bristol-Myers Squibb) là một kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) có tác dụng kích thích vài tế bào miễn dịch để giúp đỡ cơ thể loại bỏ những tế bào ung thư.

    Cách nay một năm, vermurafenib đã thu được những kết quả sơ bộ đầy hứa hẹn ở những bệnh nhân mang biến dị Braf. Những hy vọng này được xác nhận trong một công trình nghiên cứu giai đoạn 3 (giai đoạn cuối trước khi thương mãi hóa), được thực hiện trên 675 bệnh nhân, đã nhận hoặc là điều trị nhắm đích, hoặc là dacarbazine.

    Với một thời gian nhìn lại vài tháng, vemurafenib đã làm giảm 63% tỷ lệ tử vong so với hóa học liệu pháp, và nó cho phép kéo dài đáng kể tỷ lệ sống sót mà không có sự tiến triển của khối u : hơn 5 tháng so với 1,6 tháng với hóa học liệu pháp. Cứ hai bệnh nhân thì có một đã đáp ứng với điều trị nhắm đích, trong khi tỷ lệ đáp ứng là 5% đối với hóa học liệu pháp. Các kết quả thuyết phục đến độ tất cả các bệnh nhân thuộc nhóm hóa học liệu pháp đã được điều trị với vemurafenib.

    CHẲNG BAO LÂU NỮA TRÊN THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU.

    Tuy nhiên, liệu pháp nhắm đích này, được sử dụng dưới dạng thuốc viên, gây nên nhiều loại phản ứng phụ : những vấn đề gan ; đau khớp ; và những rối loạn da, trong đó sự xuất hiện, ở 12% các bệnh nhân, những ung thư da khác ít nghiêm trọng hơn các u hắc tố. Mặc dầu một thời gian nhìn lại vẫn còn giới hạn (tối đa khoảng 2 năm), vemurafenib chẳng bao lâu sẽ được cho phép ở Hoa Kỳ và châu Âu.

    Công trình nghiên cứu khác, cũng ở giai đoạn 3, đã so sánh ở 500 bệnh nhân, một điều trị bằng hóa học liệu pháp riêng rẽ với điều trị phối hợp liệu pháp hóa học ipilimumab. Phương pháp này đã cho phép làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong, với những kết quả được duy trì trong thời gian. Với một thời gian nhìn lại 3 năm, tỷ lệ sống sót lại còn hai lần cao hơn trong nhóm nhận phối hợp của hai loại thuốc, trong khi không phải như vậy trong nhóm hóa liệu pháp riêng rẽ. Tuy nhiên, kháng thể đơn dòng không hoạt tính ở tất cả các bệnh nhân, và nó có thể gây nên những tác dụng phụ có tiềm năng nghiêm trọng, trong đó có viêm gan. Thuốc cũng đã được sự chuẩn y của giới hữu trách Hoa Kỳ.

    Trong lúc chờ đợi được đưa ra thị trường châu Âu, các bệnh nhân người Pháp đã có thể hưởng hai loại thuốc mới này bởi những thủ tục được gọi là cho phép sử dụng tạm thời. Đối với BS Caroline Robert (Viện Gustave-Roussy, Villejuif), đã tham gia vào hai thử nghiệm lâm sàng, từ nay vấn đề chủ yếu là xác định những phối hợp điều trị (combinaisons thérapeutiques).
    (LE FIGARO 7/6/2011)

    6/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA U HẮC TỐ VÀ CÁC KÍCH THÍCH TỐ.

    Để biết rõ hơn về vai trò của các hormone trong sự xuất hiện của u hắc tố (mélanome) ở các phụ nữ, một công trình nghiên cứu của Pháp đã theo dõi 92.000 phụ nữ của Education nationale. Trong vòng 15 năm, trong số những phụ nữ này, 460 u hắc tố ác tính, trong đó 80% là những u xâm nhập, đã được chẩn đoán. Ngoài sự tiếp xúc với các tia tử ngoại, nguy cơ xuất hiện của ung thư da này càng thấp nếu những kinh nguyệt đầu tiên của các phụ nữ càng chậm, nếu chu kỳ kinh nguyệt của họ càng không đều và nếu tuổi mãn kinh càng sớm. Những kết quả cần được xác nhận.
    (SCIENCES ET AVENIR 8/2011)

    7/ INTERNET, GPS VA SMARTPHONE ẢNH HƯỞNG LÊN NÃO BỘ CỦA CHÚNG TA.

    Những điểm chủ yếu :
    • Sự gia tăng những công nghiệp học mới về thông tin có một tác động lên não bộ của chúng ta.
    • Chúng ta không còn tích trữ thông tin như trước đây.
    • Trí nhớ của chúng ta đã trở thành thỏa hiệp (mémoire transactive)
    • Bây giờ là lúc của phản xạ google.

    Internet có mặt khắp nơi : ở văn phòng, ở nhà, trong ordinateur portable, trong các tablette, máy điện thoại của chúng ta. Trong vòng 10 năm, những tiến bộ của Internet đã như vũ bão. Và cùng với chúng, chính tất cả cách của chúng ta ghi nhớ thông tin đang biến đổi sâu đậm. Đó là tất cả những gì mà Betsy Sparrow, phó giáo sư của khoa tâm lý học của Đại học Columbia, Hoa Kỳ, đã tiết lộ.

    Nhà nghiên cứu đã có ý tuởng này cách nay 4 năm, lúc xem truyền hình. Người ta chiếu một phim đen trắng. Sparrow, khi đó là nữ sinh viên, đã nhận ra một nữ diễn viên đóng vai phụ nhưng bà không nhớ tên của nữ diễn viên này là gì. Bà liền nắm lấy smartphone của mình và gõ vài chữ, trong đó có chữ Gaslight, nhan đề của chuyện phim. Và bà nhận diện tức thì tên của nữ nghệ sĩ ấy.

    4 năm sau, khi đó trở thành giáo sư tâm lý học, Sparrow trở lại sự việc này trong tạp chí Science. Lần này, với một câu hỏi chính xác : phải chăng sự phát triển bùng nổ của internet đã biến đổi cách nghĩ của chúng ta hay ít nhất, cách ghi nhớ những thông tin của chúng ta ?

    Để làm sáng tỏ sự việc, bà đã bắt một loạt các sinh viên chịu 4 trắc nghiệm. Một trong những trắc nghiệm này quan tâm đến cách mà các sinh viên sẽ phản ứng khi đứng trước một loạt các câu hỏi về những sự kiện chính xác. Phần lớn các sinh viên được trắc nghiệm đã bắt đầu bằng một tìm kiếm trên internet để tìm câu trả lời, cho những câu hỏi không bình thường như “ con mắt đà điểu lớn hơn não bộ của nó : đúng hay sai ? ”

    Trong một loạt các trắc nghiệm khác, các sinh viên phải ghi nhớ một loạt các định nghĩa. Họ có thể đánh các ghi chú lên ordinateur. Nhà nghiên cứu nữ đã nói với một nửa của nhóm rằng các thông tin này được lưu trữ và với một nửa kia của nhóm rằng trí nhớ của ordinateur sẽ bị trút sạch trước giai đoạn thứ hai của trắc nghiệm, giai đoạn mà các sinh viên phải trả lời những câu hỏi khác nhau về những định nghĩa này. Các kết quả : những sinh viên, khi biết rằng những ghi chép của họ sẽ bị xóa, đã ghi nhớ những định nghĩa tốt hơn những người nghĩ có thể nhờ đến fichier informatique cho phần hai của bài tập.

    MỘT TRÍ NHỚ BÊN NGOÀI TẬP THỂ.

    “ Việc tiếp cận dễ dàng informatique, với mạng (web) và những công cụ của nó đã biến đổi cách mà chúng ta thu nhận thông tin, bà đã đánh giá như vậy. Tiến triển này đóng góp phần lớn cho trí nhớ “ transactive ”. Ý niệm này đã được nghĩ ra cách nay 30 năm bởi một nhà nghiên cứu tâm lý học khác : BS Daniel Wegner, nhà nghiên cứu ở đại học Havard. Đó là một sự chuyển vị (délocalisation) của trí nhớ, một loại trí nhớ tập thể bên ngoài (mémoire externe collective).

    “ Điều đó tự nó không có gì mới, Betsy Sparrow đã nói như vậy. Và đó không phải là một ý niệm có liên hệ với informatique. Trong một nhóm những người, thí dụ trong một xí nghiệp, kiến thức và những tài liệu lưu trữ được chia sẻ giữa nhiều người ký thác (dépositaire). Nếu tôi muốn biết một sự việc chính xác, một biến cố được lưu trữ, tôi sẽ tiếp cận với nguồn ký thác : một đồng nghiệp, một thư viện, một nơi lưu trữ. Đó là một trí nhớ thỏa hiệp (mémoire transactive). ”

    “ Ý niệm mấu chốt trong trí nhớ thỏa hiệp, đó là biết ai giữ thông tin nào. Trong trường hợp cần, khi đó ta biết ai để tìm đến để có câu trả lời cho câu hỏi của mình ”,Wegner, giáo sư ở Havard đã xác nhận như vậy.

    “ Với internet, những động cơ tìm kiếm và những cơ sở các dữ kiện của nó, đó là cùng một điều như nhau, Betsy Sparrow đã đánh giá như vậy. Và những trắc nghiệm được tiến hành với những sinh viên của bà đã chứng tỏ điều đó, trí nhớ của chúng ta đang trong thời kỳ đột biến thỏa hiệp (en pleine muttaion transactive).

    Các ordinateur và các động cơ tìm kiếm trên mạng đã trở thành một loại hệ thống trí nhớ ngoài có thể tiếp cận theo mong muốn mà trí nhớ con người đang thích ứng ”, bà đã kết luận như vậy
    (LE SOIR 21/7/2011)

    8/ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN : GIỮ GÌN TỐT HƠN CHỨC NĂNG CƯƠNG (FONCTION ERECTILE)

    GS Abdel-Rahmene Azzouzi, trưởng khoa niệu học của CHU d’Angers, giải thích kỹ thuật mới photothérapie dynamique đối với những ung thư tuyến tiền liệt có nguy cơ thấp.

    Hỏi : Tần số của các ung thư tiền liệt tuyến và những nguy cơ gặp phải theo các giai đoạn là gì ?
    GS Abdel-Rahmene Azzouzi : Ung thư tuyến tiền liệt là ung thư đầu tiên ở người với hơn 70.000 trường hợp mới mỗi năm. Có 4 giai đoạn khác nhau.1. Một giai đoạn khu trú ít phát triển (stade localisé peu évolué) cũng được gọi là nguy cơ thấp, với một khối u được phát hiện rất sớm, chỉ trên sinh thiết. 2. Một giai đoạn khu trú tiến triển hơn (stade localisé plus évolué), trong đó ung thư có thể được phát hiện về mặt lâm sàng nhưng đã không vượt qua bao nang (capsule) của tuyến. 3. Một giai đoạn tiến triển tại chỗ (stade localement évolué), trong đó khối u đã vượt quá bao nang tuyến tiền liệt, và đã xâm lấn các túi tinh dịch (vésicules séminales)... 4. Một giai đoạn “ di căn ” (stade métastatique) với thương tổn chủ yếu ở xương và/hoặc của các hạch, thậm chí của các cơ quan ở xa.

    Hỏi : Làm sao ta đảm bảo một cách rất chính xác về một trong những giai đoạn này ?
    GS Abdel-Rahmene Azzouzi :Trước hết, bằng một phân tích máu đo nồng độ PSA (antigène spécifique de la prostate) và không được vượt quá 4. Phải luôn luôn liên kết xét nghiệm này với một thăm khám trực tràng. Nếu nồng độ PSA tăng cao hay nếu thăm khám trực tràng phát hiện một bất thường, khi đó phải thực hiện một sinh thiết dưới sự kiểm soát của siêu âm, mà kết quả là cần thiết để xác định chẩn đoán.

    Hỏi : Cho mãi đến nay, tùy theo giai đoạn, những phương thức cổ điển là gì ?
    GS Abdel-Rahmene Azzouzi : Vào giai đoạn sớm nhất, nên dự kiến một theo dõi sát, với một thăm khám nồng độ PSA mỗi 3 tháng và một sinh thiết mỗi 12 đến 18 tháng. Vào giai đoạn tiếp theo, có nhiều giải pháp được gọi là chữa lành. 1. Curiethérapie (kỹ thuật phóng xạ liệu pháp trong) đối với những ung thư có những tế bào ít xâm lấn. 2. Phóng xạ liệu pháp ngoài (radiothérapie externe), trong đó ta rọi tia X toàn bộ tuyến. 3. Phẫu thuật với cắt bỏ hoàn toàn tuyến tiền liệt. Một đề nghị lựa chọn điều trị phải được trinh bày với bệnh nhân, tùy theo tính đặc thù của ung thư : ở giai đoạn tiến triển tại chỗ (stade localement avancé), một quang tuyến liệu pháp, liên kết với một hormone liệu pháp, hay một phẫu thuật với cắt bỏ tuyến hoàn toàn (sau đó có thể cần một quang tuyến liệu pháp bổ sung). Vào giai đoạn di căn, ta điều trị với hormone liệu pháp.

    Hỏi : Những nguy cơ về tác dụng phụ của những protocole này là gì ?
    GS Abdel-Rahmene Azzouzi : Phóng xạ liệu pháp cũng như phẫu thuật có những nguy cơ rất nhỏ về chứng són tiểu. Nhưng trong hai phương pháp này, vấn đề quan trọng vẫn là vấn đề rối loạn cương (trouble de l’érection). Với curiethérapie, những rối loạn này cũng có nhưng ít hơn.

    Hỏi : Kỹ thuật mới photothérapie dynamique là gì ?
    GS Abdel-Rahmene Azzouzi : Photothérapie dynamique của tuyến tiền liệt là một điều trị đang được đánh giá. Phương thức vi xâm nhập này nhằm phá hủy một cách đặc hiệu vùng trong tuyến tiền liệt mang ổ ung thư, mà không phải lấy nó đi bằng phẫu thuật. Mục đích : làm ngạt (asphyxier) khối u bằng cách làm tắc những mạch máu nuôi dưỡng bé nhỏ cần thiết cho sự tăng trưởng của nó. Protocole liên kết tác dụng của một ánh sáng laser với tác dụng của một chất làm nhạy cảm ánh sáng (produit photosensibilisant). Với gây mê tổng quát, thầy thuốc ngoại khoa thiết đặt, qua đường nội trực tràng (par voie endorectale) một ống thăm dò siêu âm (sonde d’échographie), sẽ cho phép thấy được tuyến tiền liệt trên màn ảnh. Sau đó, qua tầng sinh môn, ông ta sẽ cắm các mũi kim vào trong vùng ung thư của tiền liệt tuyến. Trong mỗi chiếc kim, một sợi laser sẽ được đưa vào. Sau khi tiêm chất làm nhạy cảm ánh sáng, các sợi laser sẽ được khởi động để phá hủy một cách chính xác ổ ung thư. Những kết quả hiện nay cho thấy một sự giảm rõ rệt những nguy cơ bị những di chứng sinh dục so với những điều trị cổ điển và không bị chứng són tiểu. Từ năm 2008, ở CHU d’Angers, nhóm của chúng tôi đã điều trị 64 bệnh nhân. 10 bệnh nhân đã bị một tái phát hay một sự tiến triển của bệnh. 7 trong số những bệnh nhân này lại được điều trị với photothérapie dynamique và những bệnh nhân khác chịu những phương pháp cổ điển.

    Hỏi : Những ưu điểm chính của phương pháp mới đang được đánh giá này là gì ?
    GS Abdel-Rahmene Azzouzi : 1. Kỹ thuật vi xâm nhập này trong 85% các trường hợp bảo tồn chức năng cương. 2. Không có nguy cơ bị són đái. 3. Chỉ cần nhập viện từ 24 đến 48 giờ. 4. Trong trường hợp tái phát, nếu ung thư vẫn ít hung dữ và có kích thước nhỏ, ta có thể lập lại điều trị (trong trường hợp trái lại, ta sẽ hướng về một liệu pháp cổ điển).
    (PARIS MATCH 27/7/2011)

    9/ NHỮNG NẾP NHĂN CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN CHỨNG LOÃNG XƯƠNG.

    Thăm khám các vết nhăn trên gương mặt phải chăng sẽ cho phép có một ý nghĩ về tình trạng xương của các phụ nữ tiền mãn kinh ? Vâng, một công trình nghiên cứu được trình bày nhân hội nghị thường niên thứ 93 của Hiệp hội Nội tiết học đã trả lời như vậy. Sự phân bố và độ sâu của các nếp nhăn đã được đánh giá bởi một thang đặc hiệu được gọi là Lemperle, ở khoảng một chục vị trí của gương mặt và cổ ở khoảng 100 phụ nữ ở giai đoạn đầu của thời kỳ mãn kinh.

    Sự đối chiếu những kết quả với những dữ kiện của absorptiométrie biphotonique đã cho thấy rằng số lượng và độ sâu của các rãnh da (sillons cutanés) là quan trọng. Sự tương quan này độc lập với tuổi tác và được kiểm tra bởi mật độ khoáng của xương (densité minérale osseuse) của toàn cơ thể. Sự thoái biến của collagène có thể giải thích điều quan sát này, sẽ phải được xác nhận trước khi có thể được sử dụng để tiên đoán nguy cơ mãn kinh tùy theo tình trạng giãn (relachement) của da.
    (SCIENCES ET AVENIR 8/2011)

    10/ ĐAU VÙNG THẮT LƯNG (LOMBALGIE) KHI LÀM VIỆC : PHẢI LÀM GÌ ?

    Đau lưng (lombalgie) là một trong những nguyên nhân đầu tiên của tình trạng tàn phế (invalidité) sớm và mất việc. Đau lưng là nguồn gốc của khoảng 12% trường hợp nghỉ bệnh dài hạn. Ngoài sự đau đớn mà nó gây ra trên bình diện cá nhân, đau lưng đối với xí nghiệp là một yếu tố gây phí tổn và mất năng suất.

    Tỷ lệ kêu đau lưng trong vài hoạt động cho thấy một cách rõ ràng rằng có những nghề nghiệp có nguy cơ (métiers à risques) : 45 đến 76% xảy ra ở các aides-soignantes, 54% ở các công nhân ngành xây dựng, 57% ở các thợ sơn trong ngành xây dựng. Cần ghi chú rằng mặc dầu tần số gia tăng trong những nghề nghiệp này đối với dân chúng nói chung (30-45%), tuy nhiên dị biệt không to lớn lắm.

    Sự chuyển bằng tay những gánh nặng với những cử động xoay và/hoặc gấp thân mình, cũng như sự điều khiển những máy cơ học tạo nên những chấn động rung (vibrations), là những yếu tố nguy cơ cơ học được công nhận. Tuy nhiên chứng đau lưng có một tính chất nhiều yếu tố đặc biệt với những yếu tố cá nhân di truyền xác định.

    Bên cạnh những yếu tố nguyên nhân, có những yếu tố tiên lượng ảnh hưởng lên tác dụng hay những hậu quả của chứng đau lưng, thí dụ thời gian mất khả năng làm việc (incapacité de travail). Trong số những yếu tố tiên lượng này, ta tìm thấy chú yếu những yếu tố tâm lý xã hội (facteur psychsocial) như sự thỏa mãn với công việc, những xung đột trong kíp làm việc, khả năng quyết định độc lập, sự công nhận và sự khen thưởng những cố gắng được thực hiện…

    MẤT NĂNG LỰC LÀM VIỆC KÉO DÀI: HÃY PHẢN ỨNG NHANH.

    Những mối nguy hiểm của một hội chứng đau có khuynh hướng kéo dài được biết rõ : bất động kéo dài, déconditionnement physique et psychologique, mất tự tin, tiến triển thành trầm cảm, xuất hiện những rối loạn chức năng khác. Thêm vào là những thông điệp mâu thuẫn rất sinh bệnh lý, gây nên, thí dụ kinésiophobie (sợ vài cử động làm gia trọng thương tổn và mất niềm tin đối với các thầy thuốc. Một vòng luẩn quẩn thành hình, kết tinh và cố định kinh nghiệm đau đớn.

    Một sự mất năng lực kéo dài có thể là giai đoạn đầu tiên của mất việc, như những con số sau đây cho thấy điều đó : sự tái tục việc làm ở cùng người chủ tùy theo thời gian mất năng lực là < 50% các trường hợp đối với một mất năng lực từ 3 đến 6 tháng, < 20% các trường hợp đối với một thời gian nghỉ bệnh hơn 12 tháng và < 10% các trường hợp đối với một mất năng lực kéo dài trên 24 tháng. Làm sao cho người bệnh vẫn giữ việc làm và không chuyển qua chế độ thụ động (invalidité permanente hay préretraite : tình trạng tàn phế vĩnh viễn hay trước khi về hưu) là một mục tiêu quan trọng của việc xử lý.

    LÀM SAO PHONG NGỪA NHỮNG TRƯỜNG HỢP MẤT NĂNG LỰC KÉO DÀI ?

    Sự phòng ngừa nguyên phát (prévention primaire) không liên quan đến thầy thuốc gia đình mà đúng là thầy thuốc chuyện khoa lao động và người chủ. Người chủ rất được lợi nếu thiết lập những biện pháp nhằm cải thiện những điều kiện lao động trên quan điểm cơ năng (ergonomique) (sự bố trí nơi làm việc), sự vận chuyển các gánh nặng hay một cách tổng quát hơn, những điều kiện môi trường...mà ta đã thấy tạo một yếu tố tiên lượng quan trọng cho sự tái hòa nhập nhanh chóng của những người đau lưng (lombalgique). Những mối lợi đối với giới chủ ở nhiều mức khác nhau : giảm tổn phí do thời gian lao động bị mất, do sự mất năng lực sản xuất, do phải tuyển mộ nhân viên mới và do sự đào tạo những thành viên mới.

    Còn về sự phòng ngừa thứ phát, ta phân biệt 3 giai đoạn can thiệp : giai đoạn cấp tính hay sớm (phase aigue ou précoce) (6 tuần mất năng lực) là giai đoạn của chỉ riêng thầy thuốc gia đình, vì người thầy thuốc chuyên khoa lao động không được thông báo và mặt khác không có vai trò pháp lý ở giai đoạn này. Vào giai đoạn bán cấp (phase subaigue) (từ 6 tuần đến 5 tháng), các tác nhân là thầy thuốc gia đình, thầy thuốc chuyên trách về lao động và médecin-conseil của cơ quan bảo hiểm (la mutuelle). Bắt đầu từ tháng thứ 6, đó chủ yếu là ngăn ngừa tình trạng tàn tật (invalidité).

    ĐIỀU TRỊ MỘT TRƯỜNG HỢP ĐAU LƯNG CẤP TÍNH (LOMBLGIE AIGUE) : VÀI KHUYẾN NGHỊ.

    Đối với chứng đau lưng thông thường (cần phân biệt với các đau rễ thần kinh (douleur radiculaire) và những bệnh lý thực thể nguyên nhân), phải đưa ra cho bệnh nhân những thông điệp dương tính : hãy vẫn hoạt động chừng nào có thể được, hãy tiếp tục trong chừng mực có thể được những hoạt động bình thường hay tái tục chúng càng nhanh càng tốt. Đau lưng thường xảy ra nhưng hiếm khi nghiêm trọng và phải tránh không để chứng đau lưng xâm chiếm cuộc sống của bệnh nhân. Tính chất chẩn đoán ban đầu được thông báo cho bệnh nhân đóng một vai trò quan trọng và có thể có một tác dụng iatrogène : không phải là không quan trọng khi nói với bệnh nhân rằng ông ta bị lumbago hay thoát vị đĩa đốt sống (hernie discale). Trong lãnh vực này có những niềm tim sai lạc ở các bệnh nhân (thoát vị đĩa =giải phẫu, lombalgie = cần thăm dò chụp hình ảnh, điều trị lý tưởng = nằm nghỉ trên giường ), có khuynh hướng ấn định một cách hàm ý tính chất nghiêm trọng của chứng đau lưng. Vậy người thầy thuốc trước hết phải cố nhấn mạnh tính chất thông thường của bệnh đau lưng : theo các điều tra, ta ước tính rằng ¾ dân chúng đã bị ít nhất một đợt đau lưng vào một lúc nào đó. Trong đối thoại với bệnh nhân, phải nêu lên quan điểm của mình về việc tái tục làm việc, dầu đó với vài biện pháp bố trí.
    (LE GENERALISTE 12/5/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (10/8/2011)

    Edited by user Saturday, September 1, 2012 3:40:17 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #8 Posted : Saturday, September 1, 2012 3:58:37 AM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 239

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ 11 RỐI LOẠN TÂM THẦN : LOẠN NĂNG ĐỌC (DYSPLEXIE)

    Đứa trẻ chỉ được xem là bị loạn năng đọc (dysplexique) khi nó rất khó khăn trong việc tập đọc : có nghĩa là nó bị chậm hai năm so với lứa tuổi của nó. Nhưng trước hết phải kiểm tra rằng nó không phải chỉ là một kẻ đọc tồi. Đặc biệt phải đảm bảo bằng những trắc nghiệm không dựa trên đọc, rằng trẻ không bị suy sút trí tuệ (déficience intellectuelle) (hoặc một thương số thông minh dưới 70). Cũng phải chắc chắn rằng trẻ lui tới trường một cách đầy đủ, và không bị những rối loạn nghiêm trọng về giác quan (trouble sensoriel) (đặc biệt là thị giác), thần kinh hay tâm lý

    AI BỊ LIÊN HỆ ?

    Các nhà nghiên cứu ước tính rằng 3 đến 5% các trẻ em ở lứa tuổi học đường bị chứng loạn năng đọc (dyslexie). Nhưng như một báo cáo của Inserm được công bố năm 2007 nhấn mạnh, ở Pháp ta không có một công trình nghiên cứu dịch tễ học nào có tầm cỡ để đưa ra một con số.

    Thế mà, như Franck Ramus, phụ trách về nghiên cứu ở CNRS, đã ghi nhận, ngôn ngữ và hệ thống chữ viết của nó có một ảnh hưởng lên tỷ lệ lưu hành của chứng loạn đọc : chứng bệnh này gia tăng với số các chữ không theo quy tắc (mots irréguliers), và với sự phức tạp của các tương ứng giữa các âm vị (phonème) (đơn vị âm thanh nhỏ nhất của lời nói) và những tự vị (graphème) (tương đương chữ viết của chúng). Như thế, sau một cuộc điều tra được tiến hành ở Hoa Kỳ và ở Ý, người Mỹ Scott Lindgren của đại học Iowa và nhóm nghiên cứu của ông đã thu được những tỷ lệ lưu hành từ 4,5 đến 12% so với 3,6 đến 8,5% ở Ý. Tiếng Anh có những đặc điểm gần với tiếng Pháp, chính dựa trên những công trình nghiên cứu dịch tễ học nói tiếng Anh mà những đánh giá Pháp được thực hiện.

    NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA CHỨNG LOẠN ĐỌC ?

    “ Mãi cho đến những năm 1970-1980, ta vẫn cho rằng chứng loạn đọc là một rối loạn thị giác. Nhưng từ 30 năm nay, có một sự nhất trí rộng rãi cho rằng đó trước hết là một vấn đề âm vị học (problème phonologique) ”, Franck Ramus đã giải thích như vậy. Thật vậy ta biết rằng sự học đọc là một quá trình tạo mối liên hệ giữa các chữ (lettre) và âm thanh. Theo lý thuyết “ âm vị học ” (théorie phonologique), chứng loạn đọc do đó phát xuất từ sự khiếm khuyết của hệ thống biểu tượng tâm thần (représentation mentale) và xử lý các âm của lời nói, làm rối loạn sự thụ đắc đọc.

    Trong những năm qua, nhiều công trình chụp hình ảnh não đã hỗ trợ cho ý tưởng này. Ví dụ người ta đã chứng tỏ rằng trong khi đọc, một vùng thị giác nằm ở bán cầu đại não trái, vỏ não của phần dưới thùy thái dương (cortex temporal inférieur), đặc biệt có nhiệm vụ xử lý sự nhận biết bất biến các chữ (hình dạng của các chữ, sự liên kết giữa các chữ nhỏ và những chữ viết hoa, các thống kê về ngôn ngữ), nối kết với những vùng chuyên biệt trong sự xử lý âm vị học (phonologie) của ngôn ngữ và của ngữ vựng tinh thần (lexique mental). Thế mà sự tổ chức của các mạng giữa các vùng dường như bị biến đổi ở những người bị chứng loạn đọc.

    Những công trình nghiên cứu khác đã nhấn mạnh một sự giảm thể tích chất xám trong hai trong vùng này : vùng trán (aire frontale) và vùng đỉnh-thái dương (aire pariéto-temporale). Sau cùng, ngay năm 1985, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã quan sát trong lúc giải phẫu tử thi ở những người loạn đọc những bất thường trong sự di chuyển của các neurone tại những vùng này trong thời kỳ phát triển bào thai. Mặt khác, từ ít lâu nay, di truyền học đã cho phép nhận diện nhiều gène tạo nên những yếu tố nguy cơ đối với chứng loạn đọc. Thế mà tất cả những gène này dường như có liên hệ vào trong sự di chuyển của các neurone (migration neuronale).Vậy nguyên nhân của rối loạn cần phải được tìm về phía đó. Sau cùng, đối với một số các trường hợp, dường như rối loạn có nguyên nhân thị giác hay...một loại nguyên nhân khác. “ Có nhiều giả thuyết về vấn đề này, vẫn còn phải được xác nhận ”, Frank Ramus đã ghi nhận như vậy.

    LÀM SAO ĐIỀU TRỊ ?

    Những trẻ bị chứng loạn đọc thường nhất được điều trị bởi các chuyên viên chỉnh âm (orthophoniste). Những chuyên gia này sẽ thiết đặt những phương tiện để bù phế tật đồng thời dạy đọc một cách khác, bởi vì một trẻ bị loạn đọc sẽ vẫn như vậy suốt đời, ta không thể chữa lành rối loạn này. Tuy nhiên vài công trình nghiên cứu về chủ đề này cho thấy rằng việc điều trị phải tích cực và ngắn ngủi : 4 đến 5 buổi mỗi tuần, trong hai tháng. Thế mà, đó không phải là những khuyến nghị của Cơ quan an toàn y tế của các sản phẩm y tế Pháp (Afssaps).

    Có phải vì thế mà phải cho rằng điều đó không có một hiệu quả nào ? “ Hiện nay, ta vẫn còn mù tịt, nhưng thật sự có một vấn đề to lớn về việc không có sự đánh giá.” Ngoài ra các thực hành không phải luôn luôn giống nhau đối với mọi chuyên viên chỉnh âm. Đó là chưa kể đến những trẻ bị chứng loạn đọc hầu như luôn luôn bị những rối loạn liên kết khác như chứng tính toán khó (dyscalculie), dysorthographie, chứng mất thực dụng (dyspraxie), những rối loạn về sự chú ý, nhưng rối loạn lo âu...), việc điều trị hoàn chỉnh nói chung đòi hỏi sự can thiệp của những nghề nghiệp khác : nhà tâm lý liệu pháp, psychomotricien...

    Về chứng loạn đọc do một rối loạn thị giác, những điều trị khác đã được đề nghị, từ nặng nề nhất (bịt một mắt lại) cho đến nhẹ nhàng nhất : lentilles hay lunettes teintées, lunettes à prismes, kích thích thính giác, kích thích bán cầu đại não, phục hồi các phản xạ cổ (réflexe archaique), các chất bổ sung dinh dưỡng...)

    Phần lớn những phương pháp này, vì chưa được đánh giá về mặt khoa học, nên không được sự nhất trí của các chuyên gia. Kết quả, mặc dầu những kiến thức được tích luỹ, chứng loạn đọc vẫn là một casse tete thật sự đối với trẻ em cũng như bố mẹ.
    (SCIENCE ET VIE, HORS SERIE 6/2011)

    2/ CHẨN ĐOÁN LOẠN NĂNG ĐỌC NHỜ CHỤP HÌNH ẢNH.

    Chụp hình ảnh não bộ những thiếu niên bị chứng loạn đọc (dyslexie) là phương tiện tốt nhất hiện nay để phát hiện những trẻ sẽ có thể sửa được phế tật của chúng, các nhà nghiên cứu của Ecole de médecine de Stanford ở Californie (PNAS, 4/1/201) đã loan báo như vậy.

    Các nhà nghiên cứu trước hết đã ghi bằng cộng hưởng từ chức năng (IRM fonctionnelle) sự hoạt hóa, trong khi đọc, của não bộ của những thiếu niên 14 tuổi bị chứng loạn đọc, rồi đo lại 2 năm rưởi sau đó. Những trẻ đã tiến bộ nhất trong việc đọc là những trẻ sử dụng nhiều nhất một vùng của não bộ bên phải, hồi trán dưới (gyrus frontal infeieur), và cũng có những nối kết (connexions) tốt nhất giữa vùng này và những vùng của thính giác. Khi đã hội đủ những tiêu chuẩn này, Fumiko Hoeft và các đồng nghiệp của mình tiên đoán được một sự cải thiện đọc ở hơn 70% các thiếu niên bị loạn đọc, và ngay cả ở 90% những trẻ này nếu tổng thể những dữ kiện não được xét đến..

    NHỮNG BÀI TẬP ĐẶC HIỆU.

    Hồi trán dưới (gyrus frontal inférieur) phải đã được biết là được sử dụng bởi những trẻ loạn đọc vào lúc đọc, và điều này càng nhiều khi khi chúng càng lớn tuổi, trong khi hoạt động của bán cầu đại não trái có tính chất quyết định với với những người đọc bình thường. Như thế công trình nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của bán cầu đại não phải trong những cơ chế bù được thiết đặt với các trẻ bị chứng loạn đọc. Những kết quả này cũng xác nhận rằng một chiến lược não bộ thay thế đọc có thể được phát triển ở vài trẻ em bị loạn đọc và các tác giả gợi ý rằng những phương pháp học đọc khác có thể có lợi hơn cho chúng.

    Phải chăng từ nay có thể phân tích mọi trẻ bị chứng loạn đọc bằng cộng hưởng từ của não bộ ? “ Không, Ghislaine Dehaene, thầy thuốc nhi khoa và chuyên gia của đơn vị neuro-imagerie cognitive à Sarlay đã nói như thế. Công trình nghiên cứu này không được làm quên rằng mỗi trẻ em là mỗi cá biệt duy nhất và chứng loạn đọc là một hiện tượng phức tạp do nhiều yếu tố. Tuy nhiên một sự khó khăn trong sự phân biệt vài âm thanh dường như là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với sự xuất hiện sau này của chứng loạn đọc và có thể được phát hiện ngay khi sinh trong những gia đình đặc biệt bị ảnh hưởng. Loại nghiên cứu dựa trên chụp hình ảnh não bộ này cũng có thể cho chúng ta những hướng thăm dò nhằm giúp các trẻ em bù lại những thiếu sót của chúng.

    Ở Pháp, chứng loạn đọc ảnh hưởng khoảng 5% các trẻ em và được thể hiện bởi một sự khó khăn trong việc liên kết các chữ và âm thanh, nhất là đối với những âm ngắn như p,t,b. Chẩn đoán, được thực hiện bởi thầy thuốc gia đình, có thể dẫn đến những bài tập đặc biệt nhằm cho phép điều chỉnh một phần khuyết tật này. Rối loạn học đọc này có một yếu tố di truyền, các tiền sử gia đình hiện diện trong gần 70% các trường hợp. Chứng loạn đọc có thể bị làm gia trọng do một sự luyện tập đọc kém, điều này giải thích một phần tại sao các trẻ trong những gia đình nghèo thường bị ảnh hưởng nhất. Có nhiều phương pháp để điều chỉnh chứng loạn đọc này ở trẻ em, nhưng “ trong phần lớn các trường hợp, Ghislaine Dehaene đã xác nhận như vậy, phương pháp giáo dục tốt nhất vẫn luôn luôn là sự thực hành đọc ngay tuổi nhỏ nhất, dầu chỉ bằng các bande dessinée hay internet ”.
    (LE FIGARO 16/1/2011)

    3/ TA BIẾT TẠI SAO NICOTINE LÀM MẤT CẢM GIÁC ĐÓI.

    Những người hút thuốc ăn ít hơn những người khác...và họ nhận thấy như thế, nhất là khi họ ngừng hút thuốc ! Marina Picciotto và các cộng sự của trường y Yale, Hoa Kỳ, vừa chọc thủng màn bí mật của tác dụng này của điếu thuốc lá. Nguyên nhân : nicotine gắn vào các neurone POMC của não bộ. “ Trong vùng dưới đồi, các neurone này là thành phần của circuit điều hòa chuyển hóa, Marina Picciotto đã giải thích như vậy. Sau một bữa ăn những neurone này được hoạt hóa, báo hiệu cảm giác no nê và khiến ngừng ăn uống. Nicotine lai còn làm cho những tê bào này hoạt động hơn. ” Các nhà nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng cytisine, một loại thuốc được kê đơn ở Đông Âu để giúp những người nghiện ngừng hút, hoạt động cùng cách y hệt. Đây là một hướng nghiên cứu cần đào sâu để giúp những người hút thuốc không bị lên cân khi ngừng hút.
    (SCIENCE ET VIE 8/2011)

    4/ PHÌNH MẠCH (ANEVRISME) : 8 THÁI ĐỘ CẦN PHẢI TRÁNH.

    ĐIỂM CHỦ YẾU :
    • Sự tiêu thụ cà phê, cola, hoạt động vật lý mạnh, những giao hợp.
    • BS Vlak, ở Hòa Lan, đã nhận diện 8 thái độ khả dĩ làm gia tăng nguy cơ vỡ một phình động mạch não (anévrisme cérébral).
    • Những thói quen này đều có một điểm chung : tất cả chúng đều làm tăng huyết áp.

    Monique Vlak là thầy thuốc chuyên khoa thần kinh. Bà làm việc tại centre médical universitaire Utrecht, ở Hòa lan. Tuần này, bà vừa công bố một bài báo nói về những tiền sử của khoảng 250 trường hợp vỡ phình mạch (rupture d’anévrisme) được thống kê ở Hòa lan trong 3 năm qua. Một công trình nghiên cứu dài lâu, được công bố trong tạp chí Hoa Kỳ Stroke, mang lại nhiều điều bổ ích.

    “ Chúng tôi đã hỏi những bệnh nhân này về các thói quen trong cuộc sống của họ từ 3 tuần đến 1 giờ trước khi tai biến mạch máu não xảy ra, bà đã giải thích như vậy. Chúng tôi đã trắc nghiệm khoảng 30 tham số (paramètre). Chính như thế mà chúng tôi đã có thể nhận diện 8 hành vi có nguy cơ (comportements à risques). Hay ít nhất 8 hành vi khả dĩ làm gia tăng nguy cơ phình động mạch.”

    Những hành vi này là gì ? “ Chúng đều có một điểm chung. Chúng có tính chất làm gia tăng một cách nhanh chóng và tạm thời sức căng thành động mạch (tension artérielle) của các bệnh nhân, Monique Vlak đã xác nhận như vậy.

    Nguy cơ được thêm vào quan trọng nhất là do tiêu thụ cà phê (+ 10,6% nguy cơ), bà nói rõ như vậy. Sau đó là tập thể dục kéo dài (+ 7,9%), sự việc hỉ mũi mạnh (+ 5,4%), các giao hợp (+ 4,3%) hay cả việc đi cầu khó khăn (+ 3,6%). Sự tiêu thụ soda và cola làm gia tăng nguy cơ vỡ khoảng 3,5% trong khi sự việc bị trái ý hay giận dữ làm gia tăng nguy cơ lần lượt 2,7% và 1,3%. Còn về rượu, nó cũng làm gia tăng, nhưng vì quá ngắn ngủi nên không được xem là một yếu tố nguy cơ thật sự, các nhà nghiên cứu đã đánh giá như vậy.

    Công trình nghiên cứu tiết lộ rằng tuổi trung bình của những bệnh nhân này là 54,7 tuổi khi tai biến. Trong số những người này, ta ghi nhận tỷ lệ ở phụ nữ 3 lần nhiều hơn đàn ông.

    Điều đó cho ta những hướng để khuyên tốt hơn những bệnh nhân được chẩn đoán phình mạch, Monique Vlak đã xác nhận như vậy. Dĩ nhiên ta khó có thể ngăn cản người ta hỉ mũi khi họ bị cảm cúm. Trái lại ta có thể tác động lên những yếu tố khác, như sự tiêu thụ cà phê hay điều trị chứng táo bón.”
    (LE SOIR 6/5/2011)

    5/ QUANG TUYẾN CAN THIỆP LÀ GÌ ?

    Professeur Jean-Michel-Bartoli
    Chef du pôle imagerie au CHU de la Timone (Marseille)


    Nếu chụp X quang là cần thiết để chẩn đoán phần lớn những bệnh y khoa, nó cũng cho phép đảm bảo sự hướng dẫn các can thiệp y khoa trong những điều kiện chính xác và an toàn tối ưu. Tài liệu thu thập về hoạt động của các thầy thuốc Pháp bởi Hiệp hội quang tuyến Pháp (SFR : Société française de radiologie) đã cho thấy rằng vào năm 2009 có hơn 530.000 động tác quang tuyến can thiệp (radiologie interventionnelle) đã được thực hiện và con số này đang gia tăng một cách hằng định.

    2/3 của những động tác này là nhằm chẩn đoán : đó là những chọc dò (ponctions), những sinh thiết (biopsies) mà nguyên tắc là, bằng đường qua da (par voie percutanée), hướng dẫn một chiếc kim đến một thương tổn nhằm lấy một mẫu nghiệm để phân tích. Việc hướng dẫn bằng hình ảnh cho phép đảm bảo đầu kim được đặt ở vị trí tốt trong lòng thương tổn và tránh những cơ quan nguy hiểm. Các sinh thiết rất được bệnh nhân dung nạp tốt, được thực hiện ngoại trú và nói chung chỉ cần một gây tê tại chỗ đơn giản bởi vì đường kính của kim hiếm khi vượt quá 2 hay 3 mm. Chất lượng lấy mẫu nghiệm mô rất tốt và trong phần lớn các trường hợp khỏi phải nhờ đến mổ sinh thiết. Tất cả các vùng của cơ thể, đặc biệt là những vùng sâu nhất, có thể hưởng được một chọc dò sinh thiết (ponction biopsie) và những cơ quan thường liên quan nhất bởi những động tác này là vú, tuyến giáp trạng, gan, thận, phổi và xương.

    Gần 1/3 các động tác quang tuyến cần thiết liên quan đến những can thiệp nhằm điều trị (intervention à visée thérapeutique), đuợc hướng dẫn bởi chụp hình ảnh. Một tổ chức đặc biệt cho hoạt động này được dự kiến trong các phòng khám và các khoa quang tuyến.

    Tính chất xâm nhập ít hơn của quang tuyến can thiệp (trước hết thực hiện qua da, giảm thời gian nhập viện và nằm ở phòng hồi sức sau can thiệp) là một điểm thuận lợi khác nhưng không được quên rằng tất cả các can thiệp trước hết phải được xét đến qua tính hiệu quả của chúng và rằng ngoại khoa trong nhiều trường hợp vẫn là điều trị chuẩn. Ngoài những thủ thuật tiêm ngấm được hướng dẫn bởi tia X (infiltrations radioguidées), những kỹ thuật củng cố xương (consolidation osseuse) bằng cimentoplastie và các chuyển đạo (dérivation) (đường tiểu, mật) mà tính hiệu quả đã được biết rõ, phải nhấn mạnh về những tiến bộ trong hai lãnh vực : quang tuyến can thiệp huyết quản (radiographie interventionnelle vasculaire) và điều trị các ung thư bằng đường qua da. Những thủ thuật khai thông các động mạch ngoại biên bị hẹp trong những năm 1980 đã nhanh chóng chứng tỏ tính hiệu quả của chúng (angioplasties, endoprothèses-stents, stent-graft hay endoprothèse couverte) và những thầy thuốc chuyên khoa khác như các nhà ngoại khoa mạch máu cũng đã sử dụng chúng để điều trị.

    EMBOLISATION

    Lợi dụng kiến thức về navigation endovasculaire này, các nhà tiền phong, và trong số họ có nhiều thầy thuốc người Pháp rất có đầu óc phát minh, trong những năm 1970 đã nghĩ ra việc làm tắc toàn thể hay một phần một mạch máu bệnh lý. Embolisation ra đời và, từ đó, được phát triển thường trực với những matériel de navigation và d’occlusion càng ngày càng an toàn về mặt largage và tính hiệu quả : các vòng xoắn kim loại (spires métalliques), hay coils, rồi microcoils à largage contrôlé, colles bio-compatibles, produits sclérosants và polymères, các particules rồi microparticules có thể tiêu đi hay không và bây giờ chứa các thuốc hóa học trị liệu). Gây nghẽn mạch nhằm cầm máu (embolisation à visée thérapeutique) để làm ngưng hay phòng ngừa một xuất huyết, ngoại hay nội, được chỉ định ưu tiên một đối với các xuất huyết do chấn thương, các xuất huyết sau khi bong nhau (hémorragie de délivrance) xảy ra sau khi sinh hay xuất huyết màng não do vỡ phình mạch trong sọ.

    Trong tất cả các trường hợp, nguyên tắc đều giống nhau : xác định vùng chảy máu bằng siêu âm và scanner, rồi tiếp cận nhờ navigation endovasculaire qua chọc dò động mạch ở nếp gấp vùng bẹn và làm bít lại thương tổn động mạch để làm ngừng chảy máu, đồng thời bảo tồn khả năng sống của cơ quan bị thương tổn (thí dụ tử cung trong hémorragie de délivrance).

    Những kỹ thuật phá hủy khối u qua da là cải tiến mới nhất của quang tuyến can thiệp. Có nhiều kỹ thuật, và trong khi vài kỹ thuật đang còn được đánh giá như các siêu âm hội tụ (ultrasons focalisés) hay các “ micro-ondes ”, những kỹ thuật cắt bỏ bằng nhiệt (technique de thermoablation) như tần số phóng xạ (radiofréquence) hay liệu pháp đông lạnh (cryopthérapie) được sử dụng thông thường trong lâm sàng.
    (LE FIGARO 4/4/2011)

    6/ MỘT ANTIRETROVIRAL CÓ HIỆU QUẢ CHỐNG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG.

    Lopinavir, một antirétroviral được sử dụng rộng rãi để chống lại HIV, cũng tác dụng lên các tế bào bị nhiễm bởi HPV (papillomavirus humain), một virus chịu trách nhiệm 500.000 trường hợp mới ung thư cổ tử cung trên thế giới mỗi năm. Theo Ian Hampson (thuộc đại học Manchester, Anh), “ antirétroviral này tái hoạt hóa một quá trình phòng vệ tế bào chống lại virus đã được biết rõ, nhưng bị phong bế bởi HPV ”. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu phải tấn công vào một chướng ngại đáng kể trước khi hy vọng áp dụng trực tiếp : những liều lượng hiệu quả trong thí nghiệm in vitro 10 đến 15 lần lớn hơn những liều lượng được sử dụng chống lại HIV.
    (SCIENCE ET VIE 8/2011)

    7/ MARIE CURIE ĐÃ MỞ RA MỘT LÃNH VỰC KHOA HỌC.

    Soraya Boudia là maitre de conférences en histoire et sociologie des sciences et techniques. Là chuyên gia về lịch sử khoa học hạt nhân, bà tiến hành các nghiên cứu ở Viện nghiên cứu liên ngành về khoa học và công nghiệp ở Strasbourg. Bà đã từng là giám đốc của viện bảo tàng Curie Paris.

    La Recherche : Tại sao Marie Curie đã đến Paris ?
    Soraya Boudia : Quyết định của Manya Sklodowska (tên khai sinh của Marie Curie ) đến Paris vừa có tính chất cá nhân đồng thời có tính chất thế hệ.Về mặt cá nhân, quyết định này phát xuất từ một thỏa thuận với người chị cả, Bronya. Người chị này đã quyết định theo học y khoa, điều mà bà không thể thực hiện trong một nước Ba lan dưới sự chiếm đóng của Nga, ở đó các phụ nữ không được theo học đại học. Hai chị em đã ký kết một hiệp ước : Manya ở lại Ba lan để làm việc và tài trợ một phần cho việc theo học của Bronya và, khi người chị đã an cư lập nghiệp, bà này đến lượt sẽ tài trợ phí tổn học đại học cho Manya. Ngoài ra, vào thời kỳ đó, Paris đã tạo một lực hút đối với nhiều sinh viên, đặc biệt là những sinh viên của các nước Đông Âu. Khi đó Paris là đỉnh cao trí thức và không gian tự do mà mọi giới trẻ mong muốn tìm kiếm. Đối với các phụ nữ, dầu sao những người cùng chung tham vọng trí thức như bà, Paris có lẽ có một sức quyến rũ còn lớn hơn, bởi vì đại học mở cửa đối với họ.

    Hỏi : Trong những điều kiện nào, Marie Curie đã đến Paris ?
    Soraya Boudia : Như thế sau khi đã nôn nóng nhiều năm trời, Marie Curie đến Paris vào năm 1891. Khi đó bà được 24 tuổi. Sau cùng bà tiếp xúc được cái cội nguồn khoa học mà bà đã không ngừng mơ tưởng, ông bố của bà trong một lá thư gởi cho Bronya đã viết như vậy. Trước hết cư trú ở nhà chị mình, bà tìm được một căn phòng tuy bé nhỏ nhưng tốt. Đó là những điều kiện sống tương đối đơn giản, nhưng những hoàn cảnh này làm bà vui lòng. Bà sung sướng, bởi vì bà tiếp cận được với một kiến thức và tận hưởng sự tự do to lớn của mình. Cái cảm giác tự do khác biệt với thời kỳ chờ đợi trong đó bà làm cô giáo trong một tỉnh của Ba Lan. Ngay cả trong những điều kiện vật chất bấp bênh này, Paris vẫn biểu hiện một sự cởi mở to lớn, đáp ứng với những nguyện vọng của bà. Bà ghi tên vào phân khoa khoa học, vào thời kỳ đó là Sorbonne. Một cách nhanh chóng, bà tỏ ra là một sinh viên xuất sắc, có một đam mê thật sự đối với khoa học và một năng lực làm việc to lớn. Nghiêm trang và quyết tâm, bà có được văn bằng cử nhân vật lý vào năm 1893. Năm sau, bà lấy được văn bằng cử nhân toán.

    Hỏi : Cuộc gặp gỡ với Pierre Curie diễn ra như thế nào ?
    Soraya Boudia : Vào đầu năm 1894, với bằng cử nhân vật lý trong tay, Marie Curie được Société pour l’encouragement de l’industrie nationale giao nhiệm vụ nghiên cứu một công trình về những tính chất từ học của thép, điều này chứng tỏ sự công nhận mà bà bắt đầu có được trong thế giới bé nhỏ những nhà vật lý. Để tìm kiếm một phòng thí nghiệm được trang bị tốt để thực hiện công trình này, bà đã nhờ đến một người bạn Ba lan. Anh ta vừa mới quen một nhà vật lý đang nghiên cứu từ học ở Trường vật lý và hóa học công nghiệp (EPCI : Ecole de physique et chimie industrielle). Đó là Pierre Curie. Người bạn này giới thiệu họ với nhau nhân một buổi dạ vũ. Ngay tức thì, như có một lực hút họ lại với nhau.
    Đó là cuộc gặp gỡ của hai con người vốn đã có cái gì tuyệt đối, rất đòi hỏi ở những kẻ khác và ngay với chính mình, và chia sẻ một đam mê chung đối với khoa học, đặc biệt là vật lý. Sự trao đổi thư từ giữa họ với nhau và những hồi ký của Marie Curie sau đó chứng tỏ một quan hệ rất sâu đậm giữa hai tâm hồn. Vào lúc cuộc gặp gỡ này, bà có ý định trở lại Ba lan để giảng dạy ở đó. Là người có tinh thần dân tộc, bà tôn thờ đất nước Ba lan và mong muốn giúp đỡ những người đồng hương bị áp bức bởi chế độ Nga sa hoàng. Nhưng “ giấc mơ khoa học chung ” (rêve scientifique commun) đã thắng giấc mơ ái quốc (rêve patriotique) : bà quyết định ở lại và họ cưới nhau vào tháng 7 năm 1895. Như thế bà trở thành Marie Curie.

    Hỏi : Bà đã chọn chủ đề của luận án của bà như thế nào ?
    Soraya Boudia : Marie Curie dự kiến chuẩn bị một luận án, đó là giai đoạn hợp lý để xây dựng một sự nghiệp khoa học. Những công trình của bà về những tính chất từ của thép đã được chú ý, nhưng chính về một chủ đề hoàn toàn mới mà bà đã hướng về từ cuối năm 1897, đó là sự khảo sát các tia uranium (rayon uranique).
    Các tia uranium, một bức xạ (rayonnement) không thấy được và có khả năng đi xuyên cơ thể, được sinh ra từ muối uranium, vốn đã được khám phá bởi Henri Becquerel vào năm 1896. Tia bức xạ này kích thích sự tò mò của cộng đồng khoa học. Bức xạ uranium này dường như khác với các tia X được phát hiện bởi Rontgen một năm trước đó. Phải chăng bà đã chọn nghiên cứu chủ đề này cùng với Pierre Curie ? Khó mà nói được. Pierre cho phép bà sử dụng một khoảng khiêm tốn dành cho nghiên cứu của ông ở Trường vật lý và hóa học kỹ nghệ (EPCI). Ông cũng đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc thiết đặt một hệ thống thực nghiệm chính xác, sẽ có tính chất quyết định sau này đối với các công trình nghiên cứu của họ. Marie có lẽ đã quan tâm đến các tia uranium bởi vì bà có một kỹ thuật đo lường có thể thực hiện trong sự thăm dò một hiện tượng mà ta khó hiểu được. Phương thức của bà là so sánh những loại quặng khác nhau, để biết xem những loại quặng khác với những quặng của uranium có phát ra những tia nổi tiếng này hay không. Ý tưởng này không phải của bà, bởi vì Lord Kelvin, nhà vật lý người Anh nổi tiếng, đã thử một phương thức tương tự vài tháng trước đó nhưng không thành công.

    Hỏi : Bà đã thu được những kết quả nào ?
    Soraya Boudia : Chỉ sau vài tháng, bà thu được những kết quả mở ra những hướng đáng lưu ý. Với một hệ đo lường chính xác và sử dụng những kiến thức của nhà hóa học, bà nhận thấy rằng trong những quặng uranium có một nguyên tố mà ta không biết và phát ra một bức xạ mạnh hơn bức xạ của uranium. Rất thích thú, Pierre tham gia vào công trình của vợ mình và họ loan báo đã khám phá một nguyên tố 400 lần hoạt tính hơn uranium, mà Marie đề nghị đặt tên là polonium. Vào cơ hội này, họ phát minh ra chữ “ radioactivité ” (tính phóng xạ), hoạt động ở xa. Tiếp tục công trình, họ loan báo sự khám phá một nguyên tố thứ hai 900 lần hoạt tính hơn uranium và họ đặt tên là radium.
    Sau đó họ mất nhiều năm tháng để làm tinh khiết những yếu tố này để có thể phân tích chúng. Khám phá này đặt ra một nghi vấn : đâu là nguồn gốc của bức xạ phát ra từ vài nguyên tố, nhưng không có một nguồn bên ngoài ? Câu hỏi này là điểm bắt đầu của một tìm kiếm mà nhiều nhà vật lý và hóa học theo đuổi, và sẽ làm đảo lộn các quan niệm của chúng ta về bản chất của vật chất và những điều xảy ra trong đó. Pierre và Marie Curie đã góp phần mở ra một lãnh vực nghiên cứu mới trong vật lý và hóa học và đó là lý do tại sao sự khám phá những nguyên tố mới này rất là được chú ý. Marie Curie được giải thưởng Nobel vật lý vào năm 1903, chính là năm bà bảo vệ luận án. Bà chia sẽ giải thưởng này với Pierre Curie và Henri Becquerel.

    Hỏi : Những dụng cụ khoa học nào họ đã sử dụng trong cuộc tìm kiếm này ?
    Soraya Boudia : Điều đặc trưng công tác của Marie và Pierre Curie là hiệu chính một phương pháp đo lường radioactivité dựa trên sự đo lường một dòng điện. Hệ thống thí nghiệm của họ gồm 3 dụng cụ : một chambre d’ionisation, một điện kế và một thạch anh áp điện (quartz piézoélectrique). Thạch anh áp điện này đã được hiệu chính bởi Pierre và em ông là Jacques khi họ khám phá ra áp điện (piézoélectricité), tức là khả năng của vài tinh thể sản xuất điện khi ta nén ép chúng. Ông tìm ra một sự sử dụng mới trong lãnh vực radioactivité.
    Để phát hiện tính phóng xạ (radioactivité) trên thị trường, Pierre Curie, rồi một vài trong số các học trò của ông như Albert Laborde sẽ chế tạo một dụng cụ mới ít mỏng manh hơn và dễ sử dụng hơn thạch anh áp điện và điện kế, đặc biệt là máy nghiệm điện xách tay (électroscope portatif). Là máy được tiêu chuẩn hóa, cần ít sự khéo léo hơn là những dụng cụ phòng thí nghiệm, máy áp nghiệm sẽ được sử dụng đại trà, để thăm dò mìn và trong kỹ nghệ uranium. Bắt đầu từ những năm 1930, dụng cụ được biến đổi, nhưng Marie Curie vẫn gắn bó cho đến cuối đời bà hệ thống đo lường được hiệu chính bởi Pierre. Chính con gái bà Irène và con rể bà Frédéric Joliot sẽ thực hiện một chuyển tiếp về một dụng cụ mới gồm những chambre à brouillard, những máy đếm hạt (compteur de particules) và sau này những máy gia tốc (accélérateur).

    Hỏi : Bằng cách nào vợ chồng Curie đã cung cấp cho mình quặng, cần thiết cho công trình nghiên cứu của họ.
    Soraya Boudia : Trong lúc phát triển rất sớm những mối quan hệ với công nghiệp. Ta thường có trong đầu hình ảnh của cặp vợ chồng Curie, làm việc đơn độc trong một nhà kho hư nát trong cái lạnh băng giá. Vợ chồng Curie là những nhà khoa học rất “ lý tính ” (rationnel). Rất nhanh chóng họ đã hiểu rằng họ không thể tiến hành nghiêm chỉnh các công trình của họ nếu không có nhiều cộng tác. Khi phải xử lý những lượng lớn quặng để trích ra từ đó polonium và radium, họ đã tìm cách thành lập một xưởng xử lý bán công nghiệp.Để được điều đó, họ đã nhờ đến Société centrale des produits chimiques, mà trước đây Pierre đã từng tiếp xúc, bởi vì công ty này chế tạo và thương mãi hóa các dụng cụ đo lường. Mối liên hệ với công nghiệp này đã luôn luôn mang hai ý nghĩa. Vợ chồng Curie sử dụng công nghệ để xử lý quặng với quy mô lớn. Và công nghiệp thì hưởng được các năng lực chuyên môn của Marie Curie để thực hiện những thủ thuật xử lý hóa học.

    Hỏi : Người ta đã tìm thấy một cách nhanh chóng những áp dụng đối với radium ?
    Soraya Boudia : Vợ chồng Curie rất quan tâm đến những áp dụng trong y khoa. Trước hết Pierre, con trai và cháu trai là thầy thuốc, ngay năm 1900 đã thí nghiệm những tác dụng của radium lên chính cơ thể của mình, đã kể lại trong một báo cáo cho Viện Hàn lâm Khoa Học một thương tổn trên cánh tay mình ! Ngay những năm đầu của thế kỷ XX, nhiều thầy thuốc đã công nhận lợi ích của radium trong điều trị một căn bệnh được xem là nan y, bệnh ung thư. Khi đó người ta bắt đầu điều trị các ung thư bằng những bức xạ được tập trung (rayonnements concentrés). Curiethérapie, nhằm đặt trực tiếp vật liệu phóng xạ (matériau radioactif) lên khối u, như đang được thực hiện ngày nay, phát xuất từ những công trình này. Các nhà khoa học không nắm được những áp dụng khác của radium. Marie Curie sinh ra một nguyên tố sẽ có một thành công vô tiền khoáng hậu. Nguyên tố này tỏa sáng trong bóng tối. Vì radium phát ra năng lượng, nên ý tưởng sử dụng năng lượng này trở nên một phương tiện thương mãi với các thuốc làm đẹp, đồ hóa trang,, nước, các sản phẩm dành cho em bé : radium “ élixir de vie ”.. Sự phát triển của radium trong lãnh vực thương mại lên cao điểm trong những năm 1930.

    Hỏi : Phải chăng bà đã huy động để chống lại những mối hiểm nguy của các bức xạ ?
    Soraya Boudia : Marie Curie lên án việc sử dụng rộng rãi radium trong lãnh vực thương mại. Bà cũng cho rằng công nghiệp radium đã không có những biện pháp bảo vệ các nhân viên của mình. Bà tham gia vào một ban giám định (commission d’expertise) của Viện hàn lâm Y học năm 1925 để yêu cầu phải thực hiện một sự kiểm tra tối thiểu đối với các nhà máy (chứ không phải các phòng thí nghiệm). Bà cũng công khai ủng hộ chiến dịch đòi công nhận các bệnh nghề nghiệp do các bức xạ gây nên, sau cái chết của hai trong số các nhà nghiên cứu cũ của bà làm việc cho công nghiệp radium. Tuy nhiên, Marie từ chối cấm chỉ việc sử dụng radium và đánh giá thấp các nguy hiểm của radioactivité, kể cả đối với bà, cho đến cuối đời mình.

    Hỏi : Sự huy động này có lan rộng đến những lãnh vực khác ?
    Soraya Boudia : Marie Curie đã sử dụng sự nổi danh của mình cho vài sự nghiệp, nhưng ta cảm thấy nơi bà một sự nghi kỵ sâu xa đối với vài giới truyền thông. Sự dấn thân đầu tiên thường xuyên và không lay chuyển là đối với khoa học và nghiên cứu. Ví dụ bà đã không do dự sử dụng tiếng tăm của mình để giúp phát triển một nghiên cứu được tài trợ bởi quốc gia. Trong những năm sau chiến tranh bà đã dành nhiều nghị lực, cùng với Jean Perrin, Paul Langevin và Emile Borl, để bảo vệ một cách công khai sự cần thiết tạo một nghiên cứu khoa học, được tài trợ bởi công quyền. Cuộc đấu tranh cua họ chủ yếu đã đưa đến một sự công nhận thật sự nhà nghiên cứu là một nghề nghiệp và đưa đến sự thành lập CNRS. Về những vấn đề chính trị và xã hội, bà đã tỏ ra thận trọng nhiều hơn, mong muốn người ta không sử dụng với mục đích xấu sự nổi tiếng của mình. Thí dụ, mặc dầu Marie là một biểu tượng của tư tưởng bình quyền từ con người bà, từ cách giảng dạy và lãnh đạo phòng thí nghiệm của bà, nhưng bà đã luôn luôn từ chối giữ vai trò phát ngôn viên của phong trào đòi bình quyền. Về chính trị, Marie Curie, mặc dầu cùng chung những giá trị tả khuynh, nhưng đã không bao giờ dấn thân một cách công khai, trái với những người bạn của bà như Paul Langevin, thân cận với đảng cộng sản, hay như Jean Perrin. Có lẽ đó không phải là do sợ dấn thân nhưng đúng hơn là một sự ngờ vực đối với giới truyền thông đã từng hô hào chống lại bà trong những năm 1910 và đã để lại nơi bà một dư vị cay đắng.

    Hỏi : Bà đã ảnh hưởng những nhà khoa học kế nghiệp bà như thế nào ?
    Soraya Boudia : Marie Curie là một nhà khoa học quốc tế với một sự nổi tiếng không chối cãi được mặc dầu đôi khi bà vấp phải sự thù địch hay sự châm chọc của vài trong số những đồng nghiệp nam giới của bà. Sự kiện các cánh cửa đưa vào Viện hàn lâm khoa học đã khép kín đối với bà chỉ là một trong những thí dụ về những khó khăn mà bà đã gặp phải. Tính bền bỉ của bà đã đóng một vai trò trong việc bà được coi trọng trong thế giới khoa học. Sự thành công xây dựng một kíp nghiên cứu, điều khiển một phòng thí nghiệm, là một tấm gương đối với những nhà khoa học đến từ nước ngoài làm việc với bà. Einstein đã nói rằng bà là nhà khoa học lớn nhất mà ông đã biết đến. Mặt khác, vào thời đại bà, bà có một kiến thức về vật lý khiến người ta thường xuyên tham khảo ý kiến bà. Bà đã tham gia các hội đồng Solvay, quy tụ đều đặn tinh hoa của những nhà vật lý và hóa học trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến thế giới, và đã đóng một vai trò đáng kể trong các ủy ban quốc tế về những đơn vị đo lường. Bà vẫn là một mô hình và một nguồn cảm hứng đối với các thế hệ những nhà khoa học, nam hay nữ.
    (Les Dossiers de la Recherche, 2/2011)

    8/ TRUYỀN MÁU : MỘT LOẠI SÂU BIỂN VẬN CHUYỂN OXY

    Hémoglobine mang oxy đến các cơ quan và các mô qua trung gian các hồng cầu, vì vậy trong trường hợp xuất huyết cần phải truyền máu. Những chất dẫn xuất khác nhau của hémoglobine người đã được chế tạo, nhưng điều bất tiện của những dẫn chất này là gây co thắt các mạch máu và nhiên hậu gây nên cao huyết áp. Một công ty sinh công nghệ học của Pháp, Hermarina, được BS Franck Zal thành lập, đề nghị sử dụng hémoglobine của một con sâu biển (ver marin) nhỏ, Arenicola marina, có khả năng mang một cách tự nhiên oxy đến các tế bào. Các nhà nghiên cứu đã hiệu chính một kỹ thuật trích và thanh lọc hémoglobine phát xuất từ con sâu biển này, được cấy bằng thụ tinh nhân tạo. Được trắc nghiệm trên chuột bị choáng xuất huyết, hémoglobine biển này đã được dung nạp rất tốt trên phương diện miễn dịch học và đã không gây cao huyết áp. Hémoglobine của sâu biển này cũng rất ổn định và có năng lực oxygénateur mạnh. Ta đang chờ những kết quả thử nghiệm nơi người. Trung tâm nghiên cứu y khoa của Hải Quân Hoa kỳ vừa ký một hợp đồng hợp tác với Hermarina
    (PARIS MATCH 28/7 – 3/8/2011)

    9/ U HẮC TỐ : MỘT BƯỚC TIẾN QUAN TRỌNG.

    BS Christina Mateus và BS Caroline, trưởng khoa bệnh ngoài da thuộc viện Gustave-Roussy (Villejuif) và phụ tá, giải thích tác dụng của những loại thuốc điều trị mới mà các kết quả đã được trình bày ở Hội nghị quốc tế ung thư học ở Chicago.

    Hỏi : Tại sao u hắc tố (mélanome), loại ung thư da này, lại đáng sợ như thế ?
    BS Caroline Robert : Bởi vì các di căn phát triển ở 20% các bệnh nhân trong đó ung thư rất hung dữ hay được phát hiện quá chậm. Ở Pháp hiện nay ta thống kê khoảng 8000 trường hợp mới mỗi năm và 1.500 trường hợp tử vong. Tỷ lệ mắc bệnh của u hắc tố ác tính đã không ngừng gia tăng.

    Hỏi : Những đặc điểm nào khiến ta phải nghi ngờ u hắc tố ?
    BS Christina Mateus : Một vài u hắc tố phát triển từ một mụt ruồi duyên (grain de beauté) đậm màu, những u hắc tố khác xuất hiện dưới dạng một vết sắc tố (une tache pigmentée) giống chúng. Trong những trường hợp hiếm hơn, những ung thư này có thể không hề được nhuộm sắc tố, điều này làm cho chẩn đoán khó khăn hơn. Nhưng đặc điểm quan trọng nhất là một tính chất tiến triển trong thời gian (une évolutivité dans le temps). Tùy theo những trường hợp, vết sắc tố lan ra theo bề mặt hoặc nổi cộm lên, thay đổi màu sắc …những đường viền không đều cũng là một dấu hiệu.

    Hỏi : Ta có biết những yếu tố làm dễ không ?
    BS Christina Mateus : Vâng, một sự tiếp xúc quá quan trọng với ánh sáng mặt trời, những yếu tố di truyền như da có màu nhạt, những tiền sử gia đình có u ác tính, nhiều mụt ruồi duyên..

    Hỏi : Làm sao đảm bảo chẩn đoán ?
    BS Christina Mateus : Khi ta nghi ngờ một u hắc tố, thì phải lấy nó đi và gởi mẫu nghiệm này đến một phòng xét nghiệm để thăm dò.

    Hỏi : Cho đến hôm nay, tùy theo những giai đoạn, những điều trị quy ước là gì ?
    BS Caroline Robert : Khi u hắc tố được chẩn đoán ở một giai đoạn sớm, nó được lấy đi bằng phẫu thuật. Khi ung thư này được khám phá ở một giai đoạn di căn, ta thực hiện một hóa học liệu pháp với các thuốc như dacarbazine, fotémustine (Muphoran)...Nhưng các kết quả đều tồi.

    Hỏi : Sau cùng, hai loại thuốc mới đối với những trường hợp u hắc tố di căn này đã tỏ ra có hiệu quả, tác dụng của chúng là gì ?
    BS Caroline Robert : Với loại thuốc thứ nhất, ipilimumab, đó là một điều trị miễn dịch liệu pháp (immunothérapie) nhằm kích thích hệ phòng ngự miễn dịch (các tế bào lympho “ sát nhân ”). Những loại thuốc này ức chế một thụ thể (CTLA-4) bình thường có nhiệm vụ điều hòa sự tấn công của những tế bào miễn dịch để ngăn không cho chúng lồng lên (s’emballer) (do đó tạo nguy cơ xảy ra những vấn đề tự miễn dịch). Bằng cách kềm hãm tác dụng của thụ thể này, ipilimumab làm gia tăng tính hiệu quả của các “ chiến sĩ ” của hệ phòng vệ.

    Hỏi : Thuốc của điều trị thứ hai là gì ?
    BS Caroline Robert : Thuốc thứ hai này, vermurafenib, tấn công trực tiếp những tế bào ung thư. Phải biết rằng khoảng 50% các u hắc tố mang một gène bất thường được gọi là “ BRAF ”. Gène này chế tạo (mã hóa) một protéine trở nên rất nguy hiểm bởi vì nó gây nên một sự tăng sinh vô tổ chức của các tế bào ung thư. Vermurafenib tác động bằng cách phong bế một cách hiệu quả protéine có hại này.

    Hỏi : Những kết quả nào ta thu được với hai liệu pháp mới này ?
    BS Caroline Robert : Đối với các u hắc tố di căn (mélanome métastasé), chúng ta đã chờ đợi 50 năm và sau cùng mới có một điều trị có hiệu quả ! Các công trình nghiên cứu được thực hiện với ipilimumab trên 502 bệnh nhân. Ngày nay với một thời gian nhìn lại 4 năm, ta đã thống kê được những trường hợp thuyên giảm kéo dài ở khoảng 15% trong số những bệnh nhân này. Trong khi đó, với hóa học liệu pháp, tiên lượng nói chung u tối ở những giai đoạn tiến triển này. Với vemurafenib, thời gian nhìn lại ngắn hơn : trung bình một năm. Công trình nghiên cứu được thực hiện ở 675 bệnh nhân đã chứng tỏ một tính hiệu quả nhanh chóng của điều trị (ngay những tuần lễ đầu tiên) ở hơn 50% các bệnh nhân. Tuy nhiên tính hiệu quả này đã tỏ ra ít dài lâu hơn so với miễn dịch học liệu pháp.

    Hỏi : Những tác dụng phụ của những điều trị này là gì ?
    BS Christina Mateus : Ipilimumab, vì kích thích mạnh mạnh tác dụng cua những tế bào miễn dịch, nên có thể gây nên những biểu hiện tự miễn dịch (da bị mất sắc tố, những rối loạn tiêu hóa, viêm gan...) nhưng thường nhất, ta có thể điều trị những phản ứng này bằng các corticoides. Vemurafenib có khả năng làm xuất hiện những loại ung thư khác ít nguy hiểm hơn u hắc tố và có thể chữa lành bằng phẫu thuật. Những tác dụng phụ khác có thể xảy ra như sự gây nhạy cảm ánh sáng (photosensibilisation) của da đối với ánh nắng và những triệu chứng đau khớp.

    Hỏi : Ở Pháp khi nào các bệnh nhân có thể hưởng được những điều trị mới này ?
    BS Caroline Robert : Những loại thuốc này có sẵn trong những trung tâm chuyên khoa nhờ một giấy phép tạm thời do Afssaps cấp. Trong những tháng đến chúng sẽ được sử dụng một cách thông thường.
    (PARIS MATCH 4/7-12/7/2011)

    10/ NHIỆT : CHÚ Ý NHỮNG BIẾN CHỨNG TĨNH MẠCH

    Ở những người có tố bẩm với các bệnh giãn tĩnh mạch (maladies variqueuses) (18 triệu ở Pháp), những kỳ nghỉ hè dưới ánh nắng mặt trời, nếu không có biện pháp thận trọng đặc biệt, có thể bị hỏng do sự xuất hiện của các giãn tĩnh mạch (varices), những varicosités... thậm chí nghiêm trọng hơn, những trường hợp viêm tĩnh mạch (phlébite) (ở Pháp hơn 700.000 trường hợp mỗi năm). Vì tình trạng mất nước (déshydratation) làm dễ phản ứng viêm của các huyết quản, nên cần phải uống ít nhất 1,5 đến 2 lít nước mỗi ngày. Đối với những người bị bất túc tĩnh mạch (insuffisant veineux), BS Jean-Pierre Titon, thầy thuốc chuyên khoa mạch máu (angiologue) đưa ra 4 lời khuyến nghị chính.
    • Mỗi ngày sử dụng một thuốc tăng trương lực tĩnh mạch (tonifiant veineux), do tác dụng chống lại giãn tĩnh mạch gây nên bởi nhiệt, nên hạn chế sự tạo phù nề ở các mắc cá chân.
    • Ở biển, hãy bơi thường xuyên và bước đi trong nước, để hưởng một hydromassage của các cẳng chân (rất tốt đối với hồi lưu tĩnh mạch).
    • Nhất thiết tránh phơi nắng giữa ngọ và 16 giờ vì khi đó tia nắng quá mạnh làm dễ sự xuất hiện các varices và varicosités.
    • Mang chaussettes hay các bas de contetion để đi du lịch (máy bay, xe hơi, tàu hỏa), thời gian hơn 3 giờ.

    Nếu mặc dầu với những biện pháp thận trọng này nhưng varices và varicosités vẫn xuất hiện, khi đó chúng sẽ có thể được loại bỏ bởi các điều trị khác nhau : scléro-laser phối hợp với lạnh, vi phẫu thuật...
    (PARIS MATCH 21/7-27/7/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (19/8/2011)

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #9 Posted : Saturday, September 1, 2012 4:08:38 AM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 240

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH



    1/ 11 RỐI LOẠN TÂM THẦN : HỘI CHỨNG TĂNG ĐỘNG (HYPERACTIVITE HAY HYPERKINETIC SYNDROME)

    Vào đầu thế kỷ XX, người ta hằng nói về những đứa trẻ mơ mộng, trong cung trăng. Hay trái lại người ta nói chúng có tính lăng xăng, nghịch ngợm, thậm chí vô giáo dục. Thời kỳ đó nay đã qua rồi. Không phải do vấn đề giáo dục, ngày nay người ta nhấn mạnh đến rối loạn tâm thần : những đứa trẻ này được chẩn đoán là bị chứng rối loạn thiếu chú ý, có hay không có tình trạng tăng động (TDAH : trouble de déficit de l’attention avec ou sans hyperactivité). Dĩ nhiên, còn có khi bố mẹ của các đứa trẻ này bị chỉ trích, như trường hợp bà má của Donovan, 9 tuổi đã thú nhận : “ Người ta nhìn chúng tôi và nghĩ rằng nó đáng bị đánh đòn.” Tuy nhiên với sự quảng bá bởi giới truyền thông về những công trình nghiên cứu phát xuất từ các nhà tâm lý học, các thầy thuốc tâm thần và các nhà sinh-thần kinh (neurobiologiste), càng ngày càng có nhiều những trẻ em thuộc loại này đi khám bệnh, và được hưởng một điều trị y khoa. Nhưng tầm quan trọng cũng như nguồn gốc của rối loạn này vẫn còn được bàn cãi.

    TÍNH TĂNG ĐỘNG (HYPERACTIVITÉ) LÀ GÌ ?

    Đó là một rối loạn liên kết những triệu chứng khác nhau về sự không chú ý (inattention) (sai lầm khi làm bài tập, thiếu tổ chức, lơ đễnh, quên lãng, mất đồ vật…) với những triệu chứng khác nhau của tình trạng xung động (impulsivité)/tăng động (hyperactivité) : đứa trẻ không đứng yên một chỗ, leo trèo khắp nơi, nói quá nhiều, v.v (tình trạng tăng động : hyperactivité) ; nó khó chờ đợi đến phiên mình, quấy phá những kẻ khác,…(tình trạng xung động : impulsivité). Trong Manuel diagnostique et statistique des troubles mentaux IV (DSM-IV), một khi đã loại bỏ những rối loạn khác (loạn tâm thần, tâm thần phân liệt), chỉ cần có, từ hơn 6 tháng qua, (và với sự xuất hiện của vài dấu hiệu trước năm 7 tuổi), 6 trong số nhung triệu chứng khác nhau đối với một trong hai tình trạng này (tính tăng động và tính xung động) ta đã có thể chẩn đoán TDAH.

    AI BỊ LIÊN HỆ BỞI BỆNH NÀY ?

    Vì lẽ danh sách các triệu chứng khá nhiều đối với sự lơ đãng và cũng vậy đối với tính tăng hoạt động/tính xung động, nên số lượng các trẻ em có thể bị TDAH là quan trọng. Và thật vậy, lúc so sánh tỷ lệ lưu hành của rối loạn này, theo định nghĩa của DSM-IV hay theo định nghĩa của OMS (đòi hỏi đồng thời dấu hiệu lơ đãng và tính tăng hoạt động), nhà xã hội học người Mỹ Manuel Vallée, thuộc đại học Berkeley (Californie) cho thấy rằng những con số thay đổi từ 5% (ở Hoa Kỳ, vốn theo định nghĩa DSM) xuống 1% (ở châu Âu, với định nghĩa của OMS). Các nhà nghiên cứu nhất trí nói rằng rối loạn này thường xảy ra ở con trai hơn con gái và rằng ở 30 đến 80% các trường hợp vẫn còn tồn tại khi trở thành người lớn.

    NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA CHỨNG TĂNG ĐỘNG LÀ GÌ ?

    Lý thuyết nổi bật nhất, ở Hoa Kỳ cũng như ở châu Âu, là lý thuyết về một sự thiếu sót dopamine (chất dẫn truyền thần kinh). Phân tử này, cho phép vài loại neurone liên lạc với nhau, tham dự vào trong nhiều chức năng của não bộ. Thế mà, vào năm 1937, thầy thuốc Hoa Kỳ Charles Bradley nhận xét rằng các trẻ nghịch ngợm lúc được điều trị bởi một thuốc kích thích tâm thần (psychostimulant) được gọi là benzédrine thì trở nên chú ý hơn. Trong những năm 1960, nhiều nhà nghiên cứu đề xuất vai trò của những dược phẩm thuộc loại này lên dopamine vì chúng làm gia tăng sự dẫn truyền thần kinh. Do đó, nhiều nhà khoa học theo lý thuyết này : vì lẽ benzédrine, và sau nó là méthylphénidate (được thương mại hóa ở Pháp dưới tên Ritaline), làm yên những trẻ bị hội chứng tăng động, nên có lẽ những trẻ này bị thiếu dopamine.

    Từ đó đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu. “ Hôm nay, tổng số các bài báo khoa học liên quan đến TDAH vượt quá 18.000 ”, nhà sinh-thần kinh (neurobiologiste) Pháp François Ganon đã bình luận như vậy. Nhưng, đối với chuyên gia về dopamine này, mặc dầu không thể tranh cãi rằng méthylphénidate “ làm gia tăng sự chú ý của các trẻ em bị chứng tăng động, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng thiếu dopamine. Đó là một lập luận có vẻ đơn giản và vững chắc, ông nói tiếp như vậy, nhưng khuyết điểm của nó được biết đến từ lâu ” Ngay năm 1978 như một bài báo được công bố trong Science đã giải thích, chứng minh rằng một chất kích thích tâm thần có cùng tác dụng ở các trẻ bình thường.

    Và nhà nghiên cứu không cạn hết lý lẽ. Vào năm 1999, một kíp nghiên cứu khác loan báo trong The Lancet rằng họ giữ bằng cớ về nguồn gốc sinh học của TDAH : chất vận chuyển (transporteur) của dopamine, một phân tử đảm bảo sự bắt giữ lại (recapture) dopamine bởi các tận cùng thần kinh, có số lượng dồi dào hơn ở những người bị chứng TDAH, với hậu quả là một nồng độ dopamine trong máu ít hơn. Lời loan báo được công bố ngay trong báo chí và các hiệp hội phụ huynh. Vấn đề : bằng cớ này chỉ dựa trên... 6 trường hợp. Nhưng chủ yếu các kết quả của công trình nghiên cứu này đã được cải chính sau đó. Ngoài ra những yếu tố di truyền, việc thiếu sắt hay việc tiếp xúc với chì cũng có thể bị quy kết. Lại nữa, nhà sinh-thần kinh học (neurobiologiste) người Pháp tỏ ra hoài nghi, vì lẽ những kết quả mâu thuẫn cho đến hôm nay : mặc dầu rõ ràng là TDAH thường xảy ra hơn trong vài gia đình (các nhà di truyền nói căn bệnh này di truyền 80%), nhưng điều đó không có nghĩa là nguyên nhân thuần túy di truyền, những tương tác giữa gène và môi trường có lẽ có tính chất quyết định. Theo François Gonon, hướng phát triển của bệnh sau một tiếp xúc với chì dường như là một hướng vững chắc, ít nhất trong những nước ít phát triển, ở đây dân chúng không được bảo vệ. Nhưng cũng phải xét đến nhiều yếu tố nguy cơ khác như trình độ xã hội của bố mẹ, sự sinh non, chứng nghiện rượu và nghiện thuốc lá trong thời kỳ thai nghén, sự ngược đãi và cũng đừng quên rằng TDAH rất thường được liên kết với những rối loạn khác : trouble d’opposition (rối loạn chống đối), rối loạn học tập (trouble des apprentissages) (dyslexie : chứng loạn đọc hay những “ dys ” khác), trouble des conduites, trạng thái lo âu, trầm cảm… vậy không những có một TDAH, mà là những TDAH.

    LÀM SAO ĐIỀU TRỊ ?

    Cần điều trị theo từng trường hợp. Ở Pháp, phương thức tâm lý trị liệu (démarche psychothérapeutique) được đặt ưu tiên, nhưng điều này không loại trừ một điều trị với Ritaline. “ Đó là một loại thuốc mà ta đã có nhiều thời gian nhìn lại và dường như không nguy hiểm. Nhưng phải đảm bảo rằng không có một vấn đề tiềm tàng, và chỉ sử dụng nó như là biện pháp cuối cùng. Bởi vì, nếu việc kê đơn trở nên quá đại trà, điều đó sẽ tạo nên, như ở Hoa Kỳ, một vấn đề xã hội ”, François Gonon đã phát biểu như vậy. Hiện nay ở Pháp việc sử dụng Ritaline rất được quy chế hóa, trong khi những người Mỹ ít dè xẻn hơn : từ 3 đến 10% những trẻ em dưới 10 tuổi đều sử dụng Ritaline.

    (SCIENCE ET VIE, HORS SERIE 6/2011)2/ ĐIỀU TRỊ CÁC TRẺ EM TĂNG ĐỘNG (ENFANT HYPERACTIF) : COI CHỪNG NHỮNG SAI LẦM.

    La Journée pour la recherche về rối loạn này đã cho phép BS Eric Konofal, thầy thuốc thực hành của bệnh viện Robert-Debré, nhà nghiên cứu lâm sàng thuộc Inserm, chứng minh tính hiệu quả của một điều trị theo từng trường hợp.

    Hỏi : Ở trẻ em, những triệu chứng gây nên bởi rối loạn tăng hoạt (trouble d’hyperactivité) nào phải báo động bố mẹ ?
    BS Eric Konofal: Theo một công trình nghiên cứu của Pháp, người ta ước tính rằng 3,5 đến 5,6 % các học sinh bị chứng tăng động (hyperactivité). Tất cả đều có 3 triệu chứng phối hợp nhau :
    1. Một sự không chú ý (inattention) : không ngừng lơ đãng, tâm trí của chúng luôn luôn ở một nơi nào khác (trong lớp, ở nhà hay khi vui chơi giải trí). Chúng không nghe những điều mà người ta nói với chúng.
    2. Một tình trạng xung động (impulsivité), chứng tỏ hoàn toàn không có khả năng suy nghĩ trước khi hành động, và điều đó trên bình diện vận động cũng như trí tuệ.
    3. Một tình trạng tăng động (hyperactivité) : bị kích động thường trực, chúng không đứng yên một chỗ.

    Hỏi : Làm sao đảm bảo chẩn đoán ?
    BS Eric Konofal: Bằng cách thăm khám một thầy thuốc chuyên khoa bệnh viện để loại bỏ mọi nguyên nhân khác (bệnh thần kinh nhi đồng hay mãn tính, những vấn đề tâm thần thoáng qua...). Sau đó đứa trẻ sẽ được phó thác cho một kíp nhiều chuyên khoa (équipe pluridisciplinaire) gồm orthophoniste, psychologue, psychomotricien). Kíp này sẽ đánh giá tầm quan trọng của rối loạn và chiến lược điều trị cần phải theo.

    Hỏi : Những hậu quả của tình trạng tăng động (hay TDAH) này ở các trẻ em là gì ?
    BS Eric Konofal: 1. Trước hết, các kết quả học đường làm thất vọng vì thường bị hỏng ở các kỳ thi. Bị phạt bởi các giáo viên, các trẻ cảm thấy bị giảm giá trị (dévalorisé).
    2. Những xung đột trong gia đình và với các bạn trong lớp. Trong giờ chơi chúng rất thường bị cô lập. Bởi vì đó là một rối loạn kéo dài suốt đời, nên nếu không có những biện pháp kèm cặp nghiêm túc, những trẻ này đến tuổi trưởng thành sẽ có nguy cơ ở trong một tình huống bấp bênh bởi vì không có nghề nghiệp cố định, và bị cô lập về mặt xã hội.

    Hỏi : Những trung tâm nào có những kíp chuyên môn cho những trẻ em này ?
    BS Eric Konofal: Các service đã được thiết lập trong nhiều bệnh viện : ở Paris, tại bệnh viện Robert-Debré, nhưng cũng có ở tỉnh, trong những CHU khác nhau, trong đó có CHU de Lyon, Montpellier hay cả Bordeaux.

    Hỏi : Cho mãi đến nay, những sai lầm trong điều trị là gì ?
    BS Eric Konofal: Đã quá lâu rồi ta thường xem triệu chứng tăng động (hyperactivité), như là yếu tố chủ yếu, trong khi tình trạng tăng hoạt này là một hậu quả của sự không chú ý (inattention) và sự lơ đãng này cũng sinh ra tính xung động (impulsivité). Vậy trước hết ta đã muốn điều trị tình trạng kích động (agitation) này, và ta đã làm điều đó với các thuốc an thần kinh (neuroleptique), điều này làm gia trọng tình trạng sức khỏe của những đứa trẻ vì làm cho chúng lo âu và ngay cả trầm cảm. Rồi ta đã cứ tiếp tục trong sai lầm khi kê đơn cho chúng những thuốc chống trầm cảm (antidépresseur) và những thuốc giải ưu (anxiolytiques). Kết quả : những trẻ em này ở lâu trong tình trạng sai lầm điều trị, điều này gây nên một cảm giác phạm tội (sentiment de culpabilité) ở bố mẹ. Ngày nay lúc khám bệnh, ta thường tiếp những người trưởng thành bị bệnh ngay từ thời bé thơ và họ đưa cho chúng ta những đơn thuốc không bình thường ! Vài người trong tình trạng hoàn toàn hoảng sợ, và đôi khi sau khi đã rơi vào tình trạng nghiện rượu hay nghiện ma túy.

    Hỏi : Ngày nay chiến lược phải theo để điều trị là gì ?
    BS Eric Konofal:
    1. Giải thích cho bố mẹ rằng từ nay ta có thể chữa được vấn đề của con em họ.
    2. Điều trị TDAH bằng những chất kích thích hệ thần kinh trung ương và những chất kích thích sự thức tỉnh khác (thí dụ : méthylphénidate), mà liều lượng được thích ứng với tuổi và trọng lượng.Ở trẻ em, những thuốc này phục hồi khả năng hướng sự chú ý thích hợp vào mỗi tình huống và cho phép chúng tập trung. Trong vài trường hợp, cần phối hợp protocole này với những buổi liệu pháp hành vi (thérapie comportementale) với một nhà tâm lý học.

    Hỏi : Có những điều trị nào khác không ?
    BS Eric Konofal: Ở bệnh viện Robert-Debré, người ta đã cho thấy rằng những trẻ tăng động (hyperactif) này thiếu sắt, do đó ta đã kê đơn cho chúng một điều trị dựa trên muối sắt. Các công trình nghiên cứu đang được tiến hành với những loại thuốc mới. Những kết quả đáng phấn khởi sẽ được thông báo vào hội nghị sắp đến ở Berlin.
    (PARIS MATCH 26/5 – 31/5/2011)

    3/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM LÀM MỌC LẠI CÁC NEURONE.

    Nhờ những công trình nghiên cứu trên chuột, một nhóm nghiên cứu Pháp-Mỹ đã cho thấy rằng fluoxétine (Prozac) làm gia tăng sự sản xuất những neurone mới trong một vùng não bộ được gọi là hải mã (hippocampe). Những tế bào thần kinh này cho phép điều hòa những kích thích tố của sự căng thẳng (hormone de stress) và như thế tác động lên chứng trầm cảm.
    (SCIENCE ET VIE 8/2011)

    4/ CHỨNG KHÓ PHỐI HỢP ĐỘNG TÁC (DYSPRAXIA) : PHẾ TẬT BỊ CHE DẤU CỦA CÁC TRẺ EM “ QUÁ VỤNG VỀ ”.

    Chứng khó phối hợp động tác (dyspraxie) gây phế tật cho khoảng 250.000 trẻ em ở Pháp, bắt đầu được các nhà nghiên cứu khảo sát.

    PEDIATRIE. Chúng làm đổ tất cả những gì chúng đụng đến, cần giúp đỡ để mặc quần áo, khó khăn khi vẽ và viết. Tuy nhiên, mặc dầu bề ngoài như vậy, những trẻ em này không những chỉ vụng về hay lơ đãng. Chúng còn bị một rối loạn thật sự về sự điều hòa vận động (coordination motrice), được gọi là chứng khó phối hợp động tác (dyspraxie), có thể rất gây phế tật cho chúng trong cuộc sống hàng ngày và ở trường học.

    Cũng như chứng loạn đọc (dyslexie), chứng khó phối hợp động tác (dyspraxie) là một bệnh lý đặc hiệu của sự học tập, xảy ra ở những trẻ có trình độ thông minh bình thường. Nhưng trái với những khó khăn khi đọc của chứng loạn đọc (càng ngày càng được xác định và nghiên cứu), chứng khó phối hợp động tác vẫn còn không được biết rõ, kể cả bởi những nhà nghiên cứu. Có lẽ còn dài lâu hơn. Nhóm nghiên cứu của BS Ghislaine Dehaene, trưởng kíp chụp hình ảnh thần kinh (neuroimagerie) của sự phát triển, thuộc unité Inserm U562, đang lao mình vào một dự án nghiên cứu để nhận diện những cơ chế gây nên phế tật này, nhất là nhờ chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ (IRM). Sự thăm dò não bộ của các trẻ sơ sinh và các trẻ em là một địa hạt tương đối mới. “ Thần kinh học (neurologie) trước hết đã phát triển nhiều ở người lớn. Ở trẻ em, đã phải chờ sự xuất hiện của các kỹ thuật không xâm nhập, như chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ, để có thể chứng kiến một sự bùng nổ của các nghiên cứu ”, BS Dehaene đã giải thích như vậy nhân một cuộc viếng thăm phòng thí nghiệm của ông, được tổ chức bởi Fondation pour la recherche médicale. Cơ quan này đã cấp một kinh phí 240.000 euro cho dự án nghiên cứu về chứng khó phối hợp động tác (dyspraxie).

    Được phát hiện thường nhất lúc học tiểu học, bệnh lý của sự phát triển não bộ này thường xảy ra : 5 đến 7% những trẻ từ 5 đến 11 tuổi bị liên hệ, theo những công trình nghiên cứu dịch tễ học. Hoặc tiềm tàng có “ 250.000 trẻ em ở Pháp, một em ở mỗi lớp học ”, BS Caroline Huron, nhà nghiên cứu nữ cùng nhóm Inserm/CEA đã diễn đạt như vậy. Những rối loạn điều hòa, có thể cũng ảnh hưởng lên hệ mắt, trở nên đặc biệt gây tro ngại vào lúc học viết. Và để làm hiểu những điều mà các trẻ em này chịu đựng, nhà nghiên cứu đề nghị cử tọa tham gia vào một thí nghiệm nhỏ bằng cách nhìn một vidéo trong vài phút. Trong vidéo này hai đội cầu thủ basket (một mang số hiệu trắng, còn đội kia mang số hiệu đen) chuyền bóng cho nhau. Trong thời kỳ đầu, Caroline Huron yêu cầu những người tham dự đếm số lần giao bóng của đội cầu thủ mang số hiệu trắng và tất cả đều nhận thấy sự đáp ứng tốt. Nhưng vào thời kỳ hai khi bà bảo xem cùng phim, mà không phải đếm gì cả, toàn thể cử tọa nhận thức rằng một vận động viên đã đi xuyên qua sân chơi.“ Suốt cả cuộc đời, những người bị chứng khó phối hợp động tác (dyspraxique) phải chú ý quá mức điều họ làm, do đó bị các khó khăn khi phải làm hai việc cùng một lúc, thí dụ vừa nghe cô giáo vừa viết ”, Caroline Huron đã nhấn mạnh như vậy.

    Để giúp những trẻ này trong học trình, Caroline Huron, cùng với những nhà nghiên cứu khác, đã tạo nên một hội nhằm giúp các trẻ trong tình huống phế tật có thể hội nhập học đường, và đặc biệt là những trẻ bị chứng khó phối hợp động tác. Bây giờ thách thức của kíp của BS Dehaene là phải nhận biết những cơ chế não bộ gây nên những rối loạn điều hòa này để đề nghị những buổi tái huấn luyện thích hợp. Trong giai đoạn đầu, các nhà nghiên cứu sẽ đánh giá một cách chính xác các năng lực số (compétence numérique) (tính toán, so sánh lượng) so với năng lực của những trẻ bình thường cùng lứa tuổi. Sau đó sẽ nghiên cứu khả năng viết và những hiệu năng thị giác. Song song, những thăm khám chụp hình ảnh cộng hưởng từ hạt nhân (IRM) sẽ cho phép xác định vị trí những bất thường não bộ liên kết với chứng khó phối hợp động tác. Những kết quả sẽ được chờ đợi trong 3 năm đến.
    (LE FIGARO 16/2/2011)

    5/ QUÁ NHIỀU ALBUMINE TRONG NƯỚC TIỂU CÓ HẠI CHO CHỨC NĂNG NHẬN THỨC CỦA CÁC LÃO NIÊN.

    Sự hiện diện của albumine trong nước tiểu với những nồng đó quá mức ở những người trên 65 tuổi chứng tỏ một sự biến đổi của chức năng thận, liên kết với những bất thường vi huyết quản. Nhưng những biến đổi này cũng có thể ảnh hưởng lên não bộ. Đó ít nhất là điều được gợi ý bởi một công trình nghiên cứu. Thật vậy, những trắc nghiệm về hiệu năng nhận thức (test cognitif) càng thoái biến khi tỷ suất những nồng độ albumine/créatinine trong nước tiểu càng cao. Trị số ngưỡng bệnh lý (valeur seuil pathologique) là 30mg albumine/24 giờ.
    (SCIENCES ET AVENIR 7/2011)

    6/ MỘT GIỌT MÁU TIÊN ĐOÁN GIỚI TÍNH.

    Điểm chủ yếu :
    • Trai hay gái ? Một xét nghiệm máu ở người mẹ có thể tiên đoán điều đó ngay ở tuần lễ thứ bảy.
    • Những trắc nghiệm này chỉ có thể được sử dụng một cách hợp pháp để phát hiện những phôi thai bị đe dọa mắc phải căn bệnh có liên quan đến giới tính (maladie liée au sexe).
    • Phương pháp này chứng tỏ tính hiệu quả và tính chất ít xâm nhập của nó

    Biết giới tính của em bé sẽ được sinh ra đời. Hôm nay đó là một thông tin xuất phát từ siêu âm được thực hiện ở các bà mẹ tương lai vào khoảng giữa tuần lễ 20 và 22 của thai nghén. Nhưng có những lý do quan trọng hơn để xác định sớm hơn giới tính của đứa trẻ : khi đứa trẻ này bị một căn bệnh chỉ xảy đến cho những trẻ em thuộc một giới tính nhất định, như bệnh hémophilie hay bệnh Duchenne, chỉ ảnh hưởng lên các cháu trai. Thông tin cho bố mẹ kịp thời có thể giúp quyết định thực hiện sẩy thai điều trị (avortement thérapeutique) rất sớm để làm giảm thiểu hậu quả sinh lý hay đạo đức.

    Trong khi thăm dò phát hiện được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới nhằm mục đích này luôn luôn là chọc màng ối qua bụng (amniocentèse), thì hôm nay một kỹ thuật cải tiến nhằm xác định giới tính nhưng chỉ cần lấy máu ở người mẹ đang được đánh giá bởi một công trình nghiên cứu rộng rãi nhất từng được thực hiện.

    NGÀY TUẦN LỄ THAI NGHÉN THỨ 7.

    Các kết quả được công bố hôm nay bởi tờ báo quy chiếu Jama : các nhà nghiên cứu đã xác định rằng các xét nghiệm máu, căn cứ trên một sự khuếch đại của mật mã di truyền (amplification du code génétique) của những tế bào phôi thai lưu thông trong máu của người mẹ, đáng tin cậy từ 95 đến 99% để xác định giới tính của trẻ em. Về phương diện kỹ thuật, trắc nghiệm này phát hiện những mảnh của nhiễm sắc thế Y trong máu, mặc dầu người mẹ không có chúng trong mật mã di truyền của chính mình. Các nhà nghiên cứu cũng xác định rằng các trắc nghiệm có mức độ đáng tin cậy ngay tuần lễ thứ bảy của thai nghén, trong khi những trắc nghiệm khác, mặc dầu muốn xác định giới tính ngay tuần lễ thứ 5 nhưng không mang lại đủ mức độ đáng tin cậy. Các nhà nghiên cứu sử dụng phản ứng dây chuyền (réaction en chaine) bởi polymérase en temps réel, có tính chất tiên đoán tốt hơn về giới tính của đứa trẻ so với những kỹ thuật cũ hơn.

    Kết luận của các nhà nghiên cứu: “ Kỹ thuật này hữu ích trong lâm sàng để phát hiện những thai nhi có nguy cơ bị những bệnh liên kết với giới tính và đòi hỏi những trắc nghiệm theo dõi sâu.”

    Công trình nghiên cứu này sẽ hợp thức hóa về mặt khoa học một việc làm đã rất phổ biến trong các bệnh viện mũi nhọn. “ Chúng tôi sử dụng trắc nghiệm này trong tất cả những trường hợp trong đó chúng ta nghi ngờ rằng một trẻ em có thể bị một bệnh di truyền liên kết với giới tính, GS Corinne Hubinont, thầy thuốc chuyên khoa sản thuộc Cliniques Universitaires Saint-Luc (UCL, Bỉ) đã giải thích như vậy. Hoặc là bởi vì bố mẹ đã có một đứa con bị bệnh, hoặc là bởi vì một bệnh sử gia đình gợi nguy cơ này. Lợi ích chủ yếu là trắc nghiệm này đáng tin cậy và không xâm nhập. Trong khi chọc dò màng ối qua bụng (amniocentèse), mặc dầu mang lại cùng thông tin, nhưng được liên kết với một tỷ lệ sẩy thai tu 0,5 đến 3%. Vậy đó là một nguy cơ vô ích trong khi ta có được một trắc nghiệm máu không tạo nên những nguy cơ này. Điều đó cho phép làm an lòng các bà mẹ. Nếu kết quả dương tính, khi đó chúng ta sẽ tiến hành những thăm khám bổ sung.”

    Tuy nhiên, kỹ thuật cải tiến này không phải được áp dụng cho mọi trường hợp : “ Rõ ràng có những yêu cầu muốn thực hiện loại xét nghiệm này để chọn giới tính của đứa con tương lai của mình, mà không có một lý do điều trị nào cả. Một yêu cầu nhu vậy bị cấm chỉ bởi luật pháp và chúng tôi theo dõi để loại bỏ một cách hệ thống những yêu cầu thuộc loại này.”
    (LE SOIR 10/8/2011)

    7/ VÒI EUSTACHE

    Thuật ngữ rất quen thuộc này không phải do Saint Eustache mà đúng hơn là do Bartholomeo Eustachi, nhà cơ thể học người Ý của thế kỷ XIV.

    Bartholomeo sinh ra đời ở San Severino, có lẽ vào năm 1513. Là con trai của Mariano Eustachi, một thầy thuốc nổi tiếng và thuộc gia đình quý tộc, ông theo học trung học (enseignement humaniste) và thụ đắc một kiến thức tuyệt vời về tiếng Hy Lạp, Hébreu và Ả rập, đến độ có thể tự mình viết những bản dịch của Avicenne và đọc những bản văn của Hippocrate. Ông học y khoa ở Rome tại Viện triết lý Archiginnasio della Sapienza và bắt đầu hành nghề vào khoảng năm 1540. Tài năng của ông sớm được chú y bởi duc d’Urbino, chọn ông làm thầy thuốc riêng, rồi sau đó nhanh chóng đến lượt anh của công tước, đức hồng y Giulio della Rovere. Ông hội nhập vào giáo sư đoàn (élite professorale) của Collegia della Sapienza, đại học tương lai của Rome, và trở thành giáo sư cơ thể học. Chức vụ này cho phép ông thực hiện các phẫu tích trên những người chết thuộc hai bệnh viện chủ yếu, Santo Spirito và Consolazione. Những tác phẩm đầu tiên của ông chỉ có từ năm 1561, lúc ông gần 50 tuổi, và một phần những tác phẩm nhằm bảo vệ những tác phẩm của Galien (thầy thuốc Hy lạp của thế kỷ II), mặc dầu sau đó ông chấp nhận là đã bảo vệ nhiều sai lầm của thầy mình.

    MỘT NHÀ CƠ THỂ HỌC NGOẠI HẠNG

    Chuyên luận của ông về thận chứng tỏ một kiến thức đầy chi tiết về cơ quan, hơn nhiều kiến thức của những nhà cơ thể học đã đi trước ông. Chuyên luận của ông gồm một bài mô tả đầu tiên hết về tuyến thượng thận và một sự xác định đúng đắn về cấu trúc thận và những biến đổi cơ thể học của nó, đã được đề cập một cách ngắn ngủi bởi Vésale, người cùng thời với ông. Trong Opuscula anatomica, Eustachi lấy căn cứ của công trình mình trên sự phẫu tích thai nhi và những trẻ em rất nhỏ tuổi, và có điểm độc đáo là nghiên cứu những loại mô cho đến khi đó không được chú ý đến : các chiếc răng. Chuyên luận của ông mô tả các răng sữa và các răng thứ phát (deuxième dentition) cũng như thành phần của men răng và ngà răng. Ông cũng có đưa ra một giải thích đầu tiên về sự nhạy cảm của cấu trúc cứng của răng. Sau đó là chuyên luận của ông về thính giác và sự mô tả nổi tiếng của ông về màng nhĩ, về các cơ và dây thần kinh của xương bàn đạp (étrier) và...của “ vòi ”(trompe) mang tên ông (vòi Eustache) (thật hợp lý vì sự mô tả chính xác của ông), mặc dầu sự đề cập đầu tiên hết đã có từ Almaceon de Sparte, 4 thế kỷ trước thiên chúa giáng sinh.Vào thời kỳ đó, Almaceon đã cho rằng các con dê thở không những bằng mũi mà bằng cả vòi Eustache. Một lý thuyết cho rằng Shakespeare đã dựa vào sự thông thương giữa tai giữa (oreille moyenne) và hầu, được khám phá bởi Eustachi, để tạo ra cái chết của cha của Hamlet, bị đổ thuốc độc vào trong tai, nhất là sự hấp thụ trực tiếp của vài chất trong ống tai đã từng được biết đến. Eustachi cũng mô tả những tĩnh mạch azygos và đặt tên mình cho một valvule, van ngăn cách tâm thất phải với tĩnh mạch chủ dưới, điều này chứng tỏ rằng ông có một kiến thức rất to lớn về cấu trúc tim.

    NHỮNG TRANH MINH HỌA ĐẦU TIÊN BỊ ĐÁNH MẤT.

    Vào năm 1552, lúc 39 tuổi, Eustachi đã nghĩ ra 47 bức tranh khắc cơ thể học (planche anatomique) và được thực hiện bởi một nghệ nhân, Pier Matteo Pini, vài bức được khắc trên đồng và được chuẩn bị cho một cuốn sách về những tranh luận cơ thể học không bao giờ được công bố. Chỉ có 8 tranh minh họa được dùng cho Opuscula anatomica và 39 hình vẽ bị biến mất trong những năm dài. Chúng được tìm thấy lại 162 năm sau trong tài sản của một hậu duệ của một người thừa kế của Eustachi ở viện hàn lâm y khoa, Giovanni Lancisi. Được xuất bản vào năm 1714 kèm theo những bản văn hiện đại, các bức tranh vẽ chứng tỏ Eustachi đã là một nhà cơ thể học chuyên sâu đến mức độ nào. Các cơ, xương, ngực, bụng, các cấu trúc huyết quản, nhưng cả não bộ và hệ thần kinh giao cảm, tất cả được vẽ với một mức độ chính xác không thể tin được, bằng những lớp kế tiếp nhau và theo ba chiều không gian ! Eustachi được xem như là nhà cơ thể học so sánh (anatomiste comparatif) đầu tiên, đánh giá những khác nhau giữa động vật và con người, nhưng vì không công bố, nên nhiều trong số những khám phá của ông đã được gán cho những người khác sau này. Bị bệnh thống phong (goutte), ông từ bỏ giảng dạy nhưng tiếp tục phục vụ hồng y. Chính vì vội đến Fossombrone theo lời yêu cầu của hồng y mà ông bị chết ở dọc đường trên Via Flamina vào năm 1574 lúc ông được 61 tuổi. Vào năm 1913, để kỷ niệm lần sinh nhật lần thứ 400 của ông, một đài kỷ niệm để vinh danh ông được dựng lên ở Rome. Hiện nay, cuốn Opuscula anatomica của ông đáng giá 30.000 euros.
    (LE GENERALISTE 11/8/2011)

    8/ NGUY CƠ BỊ BỆNH PARKINSON ĐƯỢC LÀM GIA TĂNG BỞI BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

    Bệnh đái đường làm gia tăng nguy cơ mắc phải bệnh Parkinson. Sau nhiều công trình nghiên cứu, một điều tra rộng lớn tái xác nhận điều đó. Gần 2.000 người bị bệnh Parkinson đã được so sánh, mỗi người với những người chứng (những người lành mạnh). Nhìn toàn bộ, nguy cơ gia tăng 1/3 trong trường hợp bị bệnh đái đường, được chứng tỏ bởi nhập viện, thăm khám ngoại trú hay điều trị với thuốc chống bệnh đái đường. Sự tương quan này có thể được giải thích bởi những bất thường chuyển hóa của insuline, chung cho cả hai bệnh này.
    (SCIENCES ET AVENIR 8/2011)

    9/ NHỮNG THUỐC TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG ACTOS VÀ COMPETACT BỊ RÚT RA KHỎI THỊ TRƯỜNG.

    Afssaps đã đồng ý đình chỉ những loại thuốc này vì lý do nguy cơ gia tăng gây ung thư.

    SANTE PUBLIQUE. Sau cùng, Cơ quan an toàn y tế của các sản phẩm y tế của Pháp (Afssaps) đã quyết định đình chỉ sự thương mãi hóa các thuốc chống bệnh đái đường Actos và Competact. Pioglitazone, được thương mãi hóa dưới tên Actos và Competact, có mặt trên thị trường từ những năm 2000. Ủy ban cảnh giác dược của Afssaps đã đánh giá rằng, xét vì nguy cơ ung thư bàng quan có thể quy cho loại dược phẩm này, ngoài những tác dụng phụ khác đã được biết (lên cân, suy tim, phù, gãy xương...), phải tức thời đình chỉ sự thương mại hóa nó.

    Từ nhiều tháng nay, số phận của Actos và Competact (có hoạt chất được gọi là pioglitazone) đang còn được tranh cãi vì những thuốc này bị buộc tội làm dễ ung thư bàng quang. Hai thuốc này của hãng bào chế Nhật Bản Takeda là những thuốc còn lại cuối cùng của một classe pharmaco-thérapeutique (glitazone) vì Avandia đã được rút ra khỏi thị trường vào tháng 9/2010. Những thuốc này làm hạ đường huyết và hémoglobine glyquée, nhưng chúng không được công nhận bởi giới hữu trách y tế như là một thuốc chống bệnh đái đường đúng nghĩa. Actos và Competact đã thuộc vào danh sách 77 loại thuốc được theo dõi bởi Afssaps vào cuối tháng giêng vừa qua.

    Vào năm 2003, FDA đã thực hiện một công trình nghiên cứu về những tác dụng phụ của pioglitazone. Nhưng những kết quả không đáng kể. Vào tháng 9/2010 : FDA đưa ra một lời báo động bởi vì cơ quan này đánh giá rằng pioglitazone làm dễ sự xuất hiện các ung thư của bàng quang. Vào tháng 10/ 2010 tạp chí y khoa Prescrire báo cáo cho Caisse nationale d’assurance-maladie về những mối lo ngại đối với Actos và Competact. Kết luận : phân tích tình hình của 1.491.060 bệnh nhân đái đường được theo dõi từ năm 2006 đến 2009 “ củng cố lý thuyết về sự hiện hữu của một mối liên hệ đáng kể về mặt thống kê giữa việc sử dụng pioglitazone và tỷ lệ ung thư bàng quan ”, công trình nghiên cứu của Cnam đã đánh giá như vậy. Nhóm bệnh nhân đã sử dụng pioglitazone ghi được một sự gia tăng 22% những trường hợp ung thư.

    Pioglitazone, được dùng để điều trị bệnh đái đường loại 2, thuộc họ các glitazones được khám phá trong những năm 1980-1990 và có một cách tác dụng hoàn toàn mới. Những loại thuốc này đã được bán ở châu Âu từ năm 2002. “ Những loại thuốc thuộc họ glitazone này làm di chuyển mỡ của cơ và gan về phía mô mỡ và do đó làm gia tăng tính nhạy cảm đối với insuline và làm kềm hãm tiến triển của bệnh. Lúc đầu các loại thuốc này rất được ưa thích do cách tác dụng độc đáo vì thuốc tác động trực tiếp lên cơ chế của bệnh, sự đề kháng đối với insuline gây nên sự giảm tiết insulin ”. Thuốc đầu tiên thuộc họ này, troglitazone, đã được rút ra khỏi thị trường ở Hoa Kỳ vào đầu những năm 1990 do sự gia tăng những trường hợp viêm gan chết người. Thuốc thứ hai, rosiglitazone (Avandia) chịu chung số phận vào năm 2010 đó nguy cơ tim mạch gia tăng. Pioglitazone (được thương mãi hóa dưới tên Actos và competact), đã được đưa ra thị trường vào năm 2000, ngày nay bị lên đoạn đầu dài. Những kết quả của một công trình nghiên cứu, được công bố năm 2005 phát hiện nguy cơ tử vong do nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Tạp chí Hoa Kỳ Diabetes Care đã công bố vào 22/4 năm nay những kết quả của một công trình nghiên cứu phát hiện một nguy cơ gia tăng bị ung thư bàng quan ở những bệnh nhân được điều trị bởi pioglitazone từ hơn 2 năm. Công trình nghiên cứu này đã so sánh nguy cơ bị ung thư bàng quan đối với những bệnh nhân nhận pioglitazone và những bệnh nhân nhận những loại thuốc chống đái đường khác. “ Công trình này kết luận một nguy cơ hơn 80 trường hợp ung thư bàng quan đối với 100.000 bệnh nhân được điều trị bởi pioglitazone, so với dưới 70 trường hợp đối với 100.000 người bệnh được điều trị bởi những loại thuốc chống đái đường khác ”, giáo sư André Grimaldi, trưởng khoa diabétologie của bệnh viện Pitié
  • Salpetrière (Paris) đã tóm tắt như vậy. Giáo sư Jean-Louis Montastruc (Pharmacologue, Toulouse) thì dứt khoát hơn : “ Bây giờ có đủ dữ kiện để rút loại thuốc này không chậm trễ, ông đã xác nhận như vậy. Vả lại, đáng lý ra loại thuốc này không bao giờ được cho phép.” một quan điểm được chia sẻ bởi GS Daniel Marzin (Pharmacologue, Lille). Theo ông, pioglitazone đúng là một “ promoteur ” của ung thư bàng quan.
    (LE FIGARO 3/5 &10/6/2011)

    10/ CAFEINE ĐỂ BẢO VỆ CHỐNG UNG THƯ DA.

    Điểm chính yếu
    • Caféine trung hòa một enzyme trong giai đoạn tiền ung thư, trước khi u đã phát triển hoàn toàn.
    • Ta có thể nghĩ đến việc sử dụng caféine dưới dạng crème để phòng ngừa và ngay cả chữa lành vài ung thư da.
    • Vẫn cần những trắc nghiệm dài lâu.

    Từ vài thập niên qua, ta đã quan sát thấy một mối liên hệ giữa việc tiêu thụ cà phê và sự thu giảm của vài ung thư. Thí dụ một công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng những người đàn ông uống ít nhất 6 tách cà phê mỗi ngày thấy nguy cơ phát triển loại ung thư tiền liệt tuyến gây chết người nhất giảm 60%. Ta cũng đã chứng thực cùng cơ chế bảo vệ đối với vài ung thư da, nhưng không hiểu được cơ chế phân tử làm phát sinh những ung thư này. Chính đúng cơ chế này mà các tác giả của một công trình nghiên cứu được công bố tuần này trong Annales de l’Académie nationale américaine des sciences (PNAS) vừa khám phá.

    Các kết quả cho thấy rằng những tác dụng bảo vệ của caféine chống lại các tia tử ngoại, có thể được giải thích bởi sự trung hòa của một enzyme trong thời kỳ tiền ung thư, trước khi khối u đã phát triển hoàn toàn.

    Khám phá này nhiên hậu có thể cho phép chống lại tốt hơn ung thư da, loại ung thư thường xảy ra nhất trên hành tinh, mặc dầu phần lớn không phải là các u hắc tố (mélanome) (thể nặng nhất) và thường có thể chữa lành nếu được chẩn đoán khá sớm.

    Nhưng phải sử dụng caféine dưới dạng nào ? Bằng cách uống ? Đắp lên da ? Và với những lượng nào ?

    “ Chắc chắn rằng công trình nghiên cứu rất chuyên sâu này sẽ dẫn đến những triễn vọng quan trọng không những về mặt phòng ngừa các ung thư mà còn là giải pháp khả dĩ để điều trị các ung thư đã phát ra ”, GS Pierre Vereecken, trưởng khoa Dermatologie của Cliniques universitaires Saint-Luc (UCL) đã phát biểu như vậy.

    “ Cứ 75 người Bỉ thì có một sẽ bị u hắc tố vào một ngày nào đó trong cuộc đời mình, nhưng tính dễ mắc bệnh rất là thay đổi tùy theo loại da, mà ta xếp thành 6 loại. Vậy ít có khả năng phát triển một công cụ phòng ngừa dựa trên caféine cho toàn thể dân chúng. Sự ngăn ngừa nguyên phát của ung thư da trước hết phải dựa trên việc giảm tiếp xúc với ánh nắng. Nhưng sử dụng tại chỗ caféine, nếu sự hữu ích được xác nhận, sẽ hữu ích hơn ở những bệnh nhân có nguy cơ phát triển một carcinome da. Như là trường hợp những bệnh nhân có một thương tổn quan trọng gây nên bởi ánh nắng, những bệnh nhân đã lưu trú trong vùng nhiều ánh nắng trong những thời kỳ kéo dài. Hay là những bệnh nhân với tình trạng suy giảm miễn dịch (immuno-suppression) do một căn bệnh hay do ghép cơ quan.”

    NHIỀU ĐIỀU TRỊ KHÔNG CẦN PHẢI MỔ HƠN

    Nhưng caféine cũng có thể được sử dụng như là thuốc : “ Việc bào chế sẽ đặc biệt hữu ích vì lẽ loại thuốc chứa caféine này sẽ được thêm vào kho vũ khí gồm những điều trị không cần phải mổ của các carcinome, càng ngày càng nhiều thêm từ nhiều năm qua, như việc sử dụng imiquinol, một thuốc có tác dụng kích thích khả năng miễn dịch chống lại những tế bào khối u. Hay quang liệu pháp động (photothérapie dynamique), liên kết acide delta-aminolevulinique và các làn sóng ánh sáng được phân cỡ. Nhưng việc phát triển một công cụ mới chắc chắn đòi hỏi nhiều năm phát triển và trắc nghiệm. Đặc biệt phải kiểm tra tính chất không độc hại của nó đối với con người.

    CAFEINE TÁC DỤNG NHƯ MÀN CHẮN ÁNH NẮNG MẶT TRỜI

    Các nhà nghiên cứu của Đại Học của tiểu bang Washington đã biến đổi về mặt di truyền các con chuột để làm giảm trong da của chúng chức năng của protéine ATR. Men này đóng một vai trò chủ chốt trong sự tăng sinh nguy hiểm của các tế bào đã bị thương tổn bởi các tia tử ngoại (rayon ultraviolet). Các nghiên cứu đã cho thấy rằng caféine ức chế ATR. Ở đây vì ATR được ức chế một cách nhân tạo, nên ta làm gia tăng sự phá hủy các tế bào mà ADN bị hư hỏng hay đã trở nên ác tính.

    Kết quả : ở các con chuột bị tiếp xúc với những tia tử ngoại khiến tác dụng của protéine ATR bị giảm, nên các khối u da đã phát triển 3 tuần sau đó. Sau 19 tuần tiếp xuất với các tia tử ngoại, các con chuột đuợc biến đổi về mặt di truyền (để làm giảm chức năng của protéine ATR) có 69% các u da ít hơn, và 4 lần ít hơn những khối u ác tính. Sự tiếp tục rọi các tia tử ngoại sau cùng (sau 34 tuần) đã làm thương tổn những tế bào da của các con chuột được biến đổi về mặt di truyền. Theo các nhà nghiên cứu, bôi crème chứa caféine lên da có thể góp phần ngăn cản sự xuất hiện của các ung thư. Ngoài ra, caféine hấp thụ các tia tử ngoại, tác dụng như một màn ngăn ánh nắng mặt trời (écran solaire).
    (LE SOIR 18/8/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (27/8/2011)

    Edited by user Saturday, September 1, 2012 4:47:15 PM(UTC)  | Reason: Not specified

  • "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #10 Posted : Saturday, September 1, 2012 4:47:48 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 241

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ KHI NÀO CẦN PHẪU THUẬT ĐỂ ĐIỀU TRỊ MỘT THOÁT VỊ ĐĨA ĐỐT SỐNG (HERNIE DISCALE) ?
    NHỮNG ĐIỂM MỐC


    LƯNG. Khi bạn nói “ tôi thấy nặng không chịu được nữa ”, về một tình huống nghề nghiệp, gia đình hay một tình huống nào khác, bạn có nguy cơ bị chứng đau lưng chết tiệt, cái lương tri đại chúng đã nói như vậy. Điều đó không sai, nhiều thầy thuốc cũng đã nói như vậy. Nhưng thường nhất có những nguyên nhân vật lý thật sự. Trong đó thoát vị đĩa đốt sống (hernie discale), do sự xê dịch về phía sau của nhân (noyau) hiện diện trong đĩa liên đốt sống (disque intervertébral).

    NGUỒN GỐC. Các thoát vị có những nguyên nhân khác nhau nhưng chúng có thể xảy ra thường hơn ở những người nâng những vật nặng, nhất là khi nghiêng mình ra trước các cánh tay duỗi thẳng. Những người dọn nhà không bị nhiều hơn những kẻ khác, có lẽ bởi vì họ biết mang trong những tư thế tốt. Những người giao hàng với những kiện hàng ít nặng hơn có thể bị nguy cơ hơn, cũng như những người làm những động tác tái diễn với sự nén ép lên cột sống hay những conducteur d’engin de travaux gây nên những chấn động rung (vibrations)

    KHÁM BỆNH. Sau khi thăm bệnh ở thầy thuốc gia đình, trong trường hợp chứng đau lưng kéo dài hay trở nặng, cần phải thăm khám thầy thuốc chuyên thấp khớp. Trong những trường hợp nặng nhất, sự thăm khám một thầy thuốc chuyên khoa thần kinh trở nên cần thiết.

    ĐIỀU TRỊ. Mặc dầu trong phần lớn các thoát vị kèm theo đau dây thần kinh tọa tự chữa lành, điều trị nhằm làm giảm đau bằng những thuốc giảm đau (antalgique) và chống viêm bằng những thuốc kháng viêm (antiinflammatoire). Những thuốc giãn cơ (myorelaxant) cũng có thể được sử dụng cũng như những tiêm ngấm corticoides. Ngoại khoa chỉ được chỉ định trong dưới 5% các trường hợp.

    HOẠT ĐỘNG. Đối với bệnh đau dây thần kinh tọa, tốt hơn là vẫn hoạt động, một cách có mức độ và không nằm giường như đã từng được khuyến nghị trước đây. Ngày nay ta biết rằng điều đó không mang lại một lợi ích điều trị nào hết trong khi nếu vẫn tiếp tục hoạt động ta làm dễ sự chữa lành. Dĩ nhiên phải đảm bảo tư thế của mình, ngồi hay nằm.

    Bệnh lý của vùng lưng có thể gây nên chứng đau dây thần kinh tọa (sciatique) rất đau đớn, nhưng những chứng đau này thường tự chữa lành một cách ngẫu nhiên.

    RHUMATOLOGIE. Thoát vị đĩa (hernie discale) thường được xem là trầm trọng. Đó là điều sai lầm, GS Erick Legrand, thầy thuốc bệnh thấp khớp của CHU d’Angers đã giải thích như vậy : “ Chụp cộng hưởng từ (IRM) và cắt lớp vi tính (scanner) cho thấy rằng 15% những người từ 30 đến 50 tuổi mang một thoát vị đĩa nhưng hoàn toàn không đau. Những thoát vị đĩa không triệu chứng này thường xảy ra hơn nhiều so với những cơn đau mà chúng gây nên ở vài bệnh nhân ” Nằm chèn giữa các đốt sống, những đĩa liên đốt sống có chức năng của những cai giảm chấn đối với cột sống.“ Mỗi đĩa liên đốt sống được cấu tạo bởi một vòng sợi (anneau fibreux) ôm chặt một nhân rất mềm mại. Những sợi này có thể mòn đi, bị đứt, và khi đó khiến cho nhân di chuyển về phía sau và nhô ra trong ống sống (canal rachidien). “ Thoát vị ” đĩa này khi đó có thể đè lên các rễ của một dây thần kinh, gây nên một phản ứng đau đớn ”, vị thầy thuốc nói rõ như vậy.

    ĐAU ĐẶC THÙ.

    “ Sự đè ép do thoát vị tác động lên rễ thần kinh làm phát khởi một phản ứng viêm. Điều này gây đau, chính do phản ứng viêm này.”, BS Sylvie Rozenberg (CHU Pitié-Salpêtrière) đã nhấn mạnh như vậy. Điều này đuợc GS Legrand minh họa bởi một công trình nghiên cứu : “ Các bệnh nhân, vốn có một thoát vị đĩa được thấy rõ lúc ban đầu, đã được tái khám một năm sau khi lành chứng đau thần kinh toạ : 1/3 không còn có thoát vị đĩa nữa, thoát vị này đã giảm ở một 1/3 bệnh nhân khác, nhưng vẫn y hệt trong 1/3 bệnh nhân còn lại. Như thế triệu chứng đau có thể biến mất mặc dầu thoát vị vẫn tồn tại.” Scanner không thể phân biệt thoát vị nói riêng với quầng (halo) của phản ứng viêm gây nên bởi sự đi vào của nhân trong ống sống ; phản ứng viêm này biết mất khi lành bệnh, như thế nhanh hơn là chính thoát vị đĩa.

    Thường nhất, thoát vị đĩa xảy ra giữa hai đốt sống thắt lưng (vertèbre lombaire) cuối, hay giữa đốt sống thắt lưng cuối và đốt sống cùng (vertèbre sacrée) đầu tiên, là nơi phát xuất của các rễ của dây thần kinh tọa (sciatique). Hiếm hơn, các thoát vị xảy ra ở các đốt sống thắt lưng nằm phía trên có thể gây đau ở mặt trước của đùi, đuợc phân bố bởi dây thần kinh đùi (nerf crural) (cruralgie). Vùng lưng hầu như không bao giờ bị ảnh hưởng, trái với những đốt sống cổ ở thấp là nơi đôi khi một thoát vị có thể gây đau cổ (cervicalgie).

    Đau của đau dây thần kinh tọa là rất đặc hiệu : nó gây đau toàn bộ chi dưới từ mông đến các ngón chân, và theo đường đi của rễ của dây thần kinh tọa bị liên hệ : mặt ngoài của đùi và của bắp chân, lưng bàn chân và ngón cái đối với rễ thần kinh thắt lưng thứ 5 (L5), lòng bàn chân và ngón chân út đối với rễ thần kinh cùng thứ 1 (S1). Triệu chứng đau đặc trưng này đôi khi kèm theo những cảm giác kiến bò và sự mất cảm giác trên cùng đường đi của dây thần kinh ”, GS Legrand đã xác nhận như vậy. Thường xảy ra nhất ở người trưởng thành trước 60 tuổi, cơn đau thường bắt đầu với đau lưng dữ dội sau một gắng sức, đau ở chi chỉ xuất hiện một hay hai ngày sau. “ Chỉ có những yếu tố nguy cơ được biết : một tiền sử đau dây thần kinh tọa, thể thao trình độ cao và một bệnh hiền tính của sự tăng trưởng đốt sống, bệnh Scheuermann ”, GS François Rannou, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp (CHU, Cochin, Paris) đã giải thích như vậy. Có một tố bẩm gia đình. “ Cường độ của sự đau đớn và lộ trình của nó dọc theo chi là điển hình đến độ chụp cắt lớp vi tính (scanner) thường vô ích để xác nhận đau dây thần kinh tọa ”, GS Legrand đã nhấn mạnh như vậy. Chụp X quang dành để loại bỏ những bệnh khác. Chứng đau lưng thông thường (lombalgie commune), thường xảy ra hơn, lại ít gây đau hơn, và triệu chứng đau không lan tỏa xuống dưới mông và đùi.

    Trong dưới 1% các trường hợp, đau dây thần kinh tọa kèm theo bại liệt một phần của bàn chân hay, hiếm hơn, những rối loạn đường tiểu do phong bế đồng thời nhiều rễ thần kinh bởi một thoát vị to lớn.“ Trong hai tình huống này, thoát vị phải được mổ cấp cứu và thầy thuốc sẽ đòi hỏi tức khắc một chụp cắt lớp vi tính và ý kiến của một thầy thuốc ngoại khoa chuyên về cột sống.”
    THƯỜNG CHỈ LÀ MỘT ĐỢT DUY NHẤT.

    Điều trị của đau dây thần kinh tọa nhằm chống lại đau bằng paracétamol hay một loại thuốc opioide nhẹ hay mạnh, và chống viêm bằng một thuốc kháng viêm không phải stéroide. “ Thuốc phải được dùng đều đặn và không phải chỉ khi cơn đau xuất hiện, với liều lượng tối đa tức thời nhằm loại bỏ nhanh chóng quá trình đau ”, BS Rozenberg đã đánh giá như vậy.

    Nếu không có sự cải thiện sau hai hoặc ba tuần, có thể thực hiện tiêm ngấm (infiltration) corticoide bằng đường ngoài màng cứng (par voie épidurale), giữa hai đốt sống. Thường nhất, điều trị này cho phép làm cho cơ thể chịu được sự đau đớn trong lúc chờ đợi sự chữa lành ngẫu nhiên trong 3 tháng đối với 75% các bệnh nhân. “ Sự tiến triển tự nhiên hướng về sự chữa lành trong đại đa số cac trường hợp phải được cân bằng với mức độ nghiêm trọng của vài động tác ngoại khoa được đề nghị, GS Legrand đã báo trước như vậy. Nhưng không có một yếu tố nào cho phép tiên đoán thời hạn của cơn đau và hướng vài bệnh nhân sớm hơn về một điều trị ngoại khoa. ” Một can thiệp ngoại khoa phải được giới hạn vào những tình huống xác định, nhất là đợt đau dây thần kinh tọa này thường nhất chỉ xảy ra một lần.
    (LE FIGARO 29/8/2011)

    2/ ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA : ƯU TIÊN NHỮNG PHUƠNG PHÁP ĐÃ QUA THỬ THÁCH.

    “ Quá trình viêm được gây nên bởi thoát vị kèm theo một phản ứng thoái hóa (dégradation), “ tiêu hóa ” (digestion) những thành phần của thoát vị, càng quan trọng khi thoát vị càng to lớn. Vậy những thoát vị lớn có lẽ có khả năng nhất được cải thiện bởi điều trị nội khoa, nghĩa là những thoát vị trước hết không nên mổ, GS Rannou, người điều khiển một kịp nghiên cứu về sinh học của sụn (Inserm U747) đã nhấn mạnh như vậy. Đau dây thần kinh tọa thường tự chữa lành. Người thầy thuốc chỉ ở đó để làm giảm thời gian mà bệnh nhân phải chịu đựng một cơn đau không thể chịu nổi.” Điều trị đầu tiên nhờ đến những thuốc chống viêm và các thuốc giảm đau, đôi khi các thuốc làm giãn cơ (myorelaxants) chống lại những co thắt cơ đi kèm. “ Thường điều đó không đủ, ông nói thêm như vậy. Và phải thực hiện 2 hay 3 mũi tiêm ngấm (infiltrations) corticoides, có một tác dụng đồng thời giảm đau và rất chống viêm, đồng thời có thể làm giảm đau lưng bằng cách cho mang một corset.”

    Trong hầu hết các trường hợp, điều trị này cũng đủ. Ngoại khoa có thể được xét đến khi đau đề kháng với điều trị bằng thuốc và với những mũi tiêm ngấm, ngăn cản sự tiếp tục việc làm và những hoạt động trên 5-6 tuần, hay khi bệnh nhân bị một đợt đau dây thần kinh tọa mới. Nhưng ngoại khoa không bao giờ có tính cách phòng ngừa. Trên thực tiễn, ngoại khoa chỉ thật sự được chỉ định cho dưới 5% các trường hợp.

    Can thiệp ngoại khoa này, sau khi bệnh nhân đã thăm khám chuyên khoa, có thể được thực hiện bởi một thầy thuốc ngoại thần kinh hay một thầy thuốc chuyên khoa chỉnh hình rất có kinh nghiệm, mà thầy thuốc gia đình vẫn là người chủ yếu nhất để hướng định bệnh nhân. Đó là kỹ thuật hiệu quả nhất để làm giảm thời hạn lành bệnh. Nhưng giải phẫu không phải là vô hại và có thể tạo nguy cơ sau này bị hư khớp và sự không vững đốt sống.

    CẦN PHẢI TRÁNH : ĐĨA ĐỐT SỐNG GIẢ (PROTHESE DISCALE)

    “ Động tác ngoại khoa có thể rất hạn chế và chỉ lấy đi thoát vị mà không đụng đến đĩa liên đốt sống, hay phối hợp sự lấy đi thoát vị với việc nạo đĩa liên đốt sống. Khuynh hướng hiện nay là hạn chế vào thoát vị, mà không đụng đến đĩa liên đốt sống, GS Legrand đã giải thích như vậy. Việc lựa chọn kỹ thuật, ngoại khoa cổ điển (chirurgie classique) trong đó ta mổ cột sống hay ngoại khoa nội soi vi xâm nhập (chirurgie endoscopique mini-invasive), là công việc của kíp mổ. Không có một công trình nghiên cứu khoa học nào đã chứng minh những kết quả của kỹ thuật nào hơn kỹ thuật nào về một tiêu chuẩn khách quan như thời hạn tái tục hoạt động. ”. Một ý kiến không được GS Rannou hoàn toàn đồng ý vì đối với ông “ ngoại khoa nội soi (chirurgie endoscopique) có lẽ làm giảm những thương tổn mô không thể tránh được do đường lối cổ điển ”. Cần phải tránh : đĩa liên đốt sống giả (prothèse discale) đôi khi được đề nghị : việc đặt đĩa liên đốt sống giả vẫn là một điều trị thí nghiệm có nguy cơ, với những chỉ định không rõ ràng, không có vai trò trong đau dây thần kinh tọa do thoát vị đĩa, các nhà chuyên gia đã đánh giá như vậy.

    Một đường hướng khác tiếp tục kích thích những nghiên cứu, đó là sự làm giảm thoát vị bằng phương pháp hóa học hay vật lý, bằng đường qua da, dưới sự kiểm soát quang tuyến. Thủ thuật làm tiêu nhân (nucléolyse) bằng cách tiêm vào trong đĩa liên đốt sống một enzyme, papaine, đã bị ngừng áp dụng từ năm 2002, do nguy cơ dị ứng. Những kỹ thuật làm tiêu nhân khác, căn cứ trên sự đưa vào trong đĩa đốt sống, các sợi laser, ozone hay dung dịch cồn, đã từng được phát triển bởi những kíp quang tuyến can thiệp, nhưng cho mãi đến nay không được hợp thức hóa về mặt khoa học.
    (LE FIGARO 29/8/2011)

    3/ 11 RỐI LOẠN TÂM THẦN : CHỨNG SỢ (PHOBIE)

    Sợ các con nhện hay các con rắn, không cảm thấy an toàn trong bóng tối, hay cảm thấy sự căng thẳng (stress) dâng lên trước khi phải trình bày trước đám đông : đó là những phản ứng hoàn toàn bình thường mà nhiều người đã cảm thấy. Nhưng khi những nỗi lo sợ này trở thành bệnh lý và xâm nhập đời sống, các thầy thuốc gọi là những chứng sợ (phobies). Đôi khi, ranh giới giữa sự sợ hãi và bệnh lý thật sự vẫn khá mơ hồ. “ Tất cả điều đó tương đối chủ quan, Antoine Pelissolo, giáo sư tâm thần học ở bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris) đã chấp nhận như vậy. Có hai điểm quan trọng cần phải xét đến : trước hết, chứng sợ (phobie) gây nên một sự khốn khổ thật sự. Sau đó chứng bệnh này làm thay đổi hành vi của bệnh nhân.” Nói một cách khác, có một hố thẳm giữa một sự hoảng sợ xảy ra tình cờ và một nỗi ám ảnh không thể vượt qua được có khả năng xâm chiếm các suy nghĩ ngày và đêm. Thay đổi lề đường khi thấy một con chó là một chuyện, Từ chối đi ra khỏi nhà vì sợ gặp một con chó là một chuyện khác

    CHỨNG SỢ (PHOBIE) LÀ GÌ ?

    Được định nghĩa như là những rối loạn lo âu (trouble anxieux), cũng như tình trạng căng thẳng sau chấn thương (stress posttraumatique) hay những rối loạn ám ảnh xung động (TOC : trouble obsessionnel compulsif), chứng sợ hiện nay được xếp thành 3 loại lớn : trước hết các chứng sợ đặc hiệu quy tụ những sự sợ hãi liên kết với một yếu tố đơn giản. “ Đó là những chứng sợ thường gặp nhất, Antoine Pelissolo đã giải thích như vậy. Ta tìm thấy chủ yếu một chứng sợ vài loài động vật (nhện, các động vật gặm nhấm và đứng đầu là rắn), rồi những sợ hãi liên kết với những điều kiện thiên nhiên như bóng tối hay giông bão, và sau cùng sợ máu hay vài thủ thuật y khoa như các mũi chích.

    Mặc dầu những chứng sợ đặc hiệu (phobies spécifiques) là thường gặp nhất, cũng có một nhóm những chứng sợ khác, không phải là không đáng kể, được gọi là chứng sợ xã hội (phobie sociale). Ở đây, chính cái nhìn của những kẻ khác làm phát khởi cơn lo âu (crise d’angoisse), được biểu hiện bởi sợ đỏ mặt hay sợ nói trước đám đông. Sau cùng, ta tìm thấy những dạng khác nhau của sợ khoảng trống (agoraphobie). Bệnh nhân hoảng sợ trước ý nghĩ không thể thoát ra được một tình huống : sợ đám đông, sợ những khoảng lớn (phobie des grands espaces) hay trái lại sợ vài nơi đóng kín. Như thế ta tính được hàng chục chứng sợ đôi khi rất khác nhau, bao gồm một ít những điểm chung... “Yếu tố cơ bản, đó là sự lo âu dữ dội được phát khởi khi bệnh nhân đối diện với vật gây chứng sợ này. Ta nói là sợ có điều kiện (peur condionnée), sợ phản xạ, Antoine Pelissolo đã tóm tắt như vậy. Trong những trường hợp trầm trọng nhất ta quan sát thấy bệnh nhân tránh tất cả những gì có thể làm phát khởi một cơn hoảng sợ (crise de panique). Thí dụ những người sợ khoảng trống (agoraphobe) vẫn luôn luôn khép kín ở nhà mình ”, nhà chuyên gia về những rối loạn lo âu đã ghi nhận như vậy. Trong những trường hợp thái quá này, như vậy sự sợ hãi có thể biến đổi một cách thật sự hành vi của một người bị bệnh sợ (un phobique), gây nên một sự đau khổ hàng ngày.

    AI BỊ LIÊN HỆ BỞI CHỨNG BỆNH NÀY ?

    Theo những công trình nghiên cứu dịch tễ học khác nhau, người ta ước tính rằng cứ mười người thì có một sẽ bị chứng sợ vào một lúc nào đó của đời mình. Nhưng cũng như chứng trầm cảm (dépression), chúng ta không bình đẳng trước căn bệnh : các phụ nữ bị chứng bệnh này hai lần nhiều hơn so với đàn ông. Mặc dầu nguồn gốc của “ quyền ưu tiên ” này không được làm sáng tỏ.

    NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA CHỨNG SỢ NÀY LÀ GÌ ?

    Để giải mã những cơ chế vô cùng có hiệu lực này, nhiều hướng nghiên cứu đã được khảo sát. Trong số những hướng này, tâm lý học tiến hóa (psychologie évolutionniste) không còn suy nghĩ ở quy mô cá nhân nữa, mà là nhìn lùi lại nhiều ngàn năm. Tại sao có nhiều người sợ nhện (arachnophobe) hơn nhiều những người sợ xe hơi (phobique de la voiture), mặc dầu chứng sợ xe hơi này lại gây nhiều nạn nhân hơn trong những xã hội hiện đại của chúng ta ? Tâm lý học tiến hóa trả lời bằng giả định rằng chứng sợ nhện (arachnophobie) là một sự sợ hãi được thừa kể từ những tổ tiên xa xăm của chúng ta, buộc phải tồn tại trong một điều kiện thiên nhiên đôi khi thù nghịch.

    Một câu trả lời cần được giải mã dưới lăng kính của quá trình tiến hóa. Trải qua nhiều thế hệ, tất cả các loài đều tiến hóa, phát triển những tính chất mới và đánh mất đi những tính chất khác. Nếu một đặc tính có lợi cho sự sinh tồn, cá thể sẽ có nhiều xác suất hơn đạt đến tuổi trưởng thành và do đó truyền tính chất này cho hậu duệ. Lấy lại trường hợp chứng sợ nhện (arachnophobie), một người tiền sử mà bản chất tự nhiên sợ các con nhện có khả năng gây nguy hiểm, thường có nhiều cơ may sống sót hơn. Dưới góc độ này, sự sợ hãi như thế xuất hiện như một đồng minh tuyệt vời để sinh tồn, khiến các giác quan của chúng ta trong tình trạng thức tỉnh và chuẩn bị cơ thể chúng ta phản ứng lại đứng trước mối nguy hiểm. Như thế, theo trào lưu mới của tâm lý học này, các chứng sợ phổ biến nhất trong những xã hội hiện đại của chúng ta phát xuất trực tiếp từ những tổ tiên xa xăm của chúng ta : sợ vài loài động vật (ngày xưa là nguy cơ lớn nhất đời với sự sinh tồn), nhưng cũng sợ đêm tối (peur du noir)(những nơi sâu thẳm của các hang động hay bóng đêm thường cần phải tránh), sợ thấy máu (dấu hiệu của một nguy cơ tiềm tàng gần kề) hay ngay cả sợ khoảng trống (agoraphobie) (cần ở một nơi quen thuộc và an toàn). Một lý thuyết hấp dẫn càng ngày càng được chấp nhận bởi cộng đồng khoa học. “ Chú ý, tâm lý học tiến hóa cũng không giải thích tất cả ”, Antoine Pelissolo đã phát biểu như vậy.

    Ngày nay đó là một lãnh vực nghiên cứu rộng rãi : hiểu làm sao một sự sợ hãi, hiện tượng tự nhiên, có thể biến hóa thành một bệnh lý ở vài cá thể. Nhiều hướng nghiên cứu được khảo sát, từ góc độ tâm lý học (chấn thương, sự xâm nhập của một chứng sợ vào lúc còn bé), đến quy mô phân tử (tầm quan trọng của sérotonine, chất dẫn truyền thần kinh tác dụng lên sự lo âu). “ Điều mà ta biết, đó là những người mắc chứng sợ (phobique) có cùng hệ não bộ như một người bình thường, không có gì thật sự hư hỏng cả, Antoine Pelissolo đã mô tả như vậy, nhưng hệ thống này nhạy cảm hơn nhiều, được phát khởi quá thường xuyên hay quá ầm ĩ. ” Và, đứng hàng đầu những cấu trúc não tăng hoạt là hạnh nhân (amygdale). Một cơ quan có liên hệ…trong quá trình học sợ (apprentissage de la peur).

    LÀM SAO TRỊ ?

    Hiệu quả nhất hiện nay vẫn là liệu pháp hành vi và nhận thức(TCC : thérapie comportementale et cognitive), như đối với nhiều rối loạn lo âu. Mục đích là làm bệnh nhân quên mất sự sợ hãi, Antoine Pelissolo đã giải thích như vậy. Để được như vậy, phải cho bệnh nhân đối đầu với đối tượng gây sợ trong những điều kiện được kiểm soát, để cho não bộ không còn liên kết tình huống với mối nguy hiểm nữa, nhưng với cái gì đó mà ta có thể chế ngự. Một liệu pháp đã có thể tiến triển với sự xuất hiện của thực tế ảo (réalité virtuelle). Được trang bị với một chiếc mũ casque phát ra những hình ảnh theo ba chiều không gian (3D), bệnh nhân có thể di chuyển trong một thế giới ảo (univers virtuel)..và, thí dụ, bất ngờ gặp phải một con nhện. Nhưng lần này, người bị chứng sợ (phobique) biết một cách thích đáng rằng nguy cơ không hiện hữu và rằng sự sợ hãi là không có căn cứ.
    (SCIENCE ET VIE, HORS SERIE 6/2011)

    4/ LIỆU PHÁP 3 LOẠI THUỐC CÁCH MẠNG HÓA ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN C.

    Chữa lành những người bị nhiễm bởi virus của viêm gan C (VHC) ? Ta đang dần dần tiến đến đích. Thật vậy hai loại thuốc, Incivo (télaprévir, Janssen) và Victrelis (bocéprévir, Merck) đã cho phép chữa lành ở 70 đến 80% các bệnh nhân, so với tỷ lệ trung bình 50% trước đây. Sự cho phép đưa ra thị trường những loại thuốc này ở Châu Âu được dự kiến vào tháng chín này. Những loại thuốc mới này phải sẽ được dùng bổ sung cho liệu pháp hai thứ thuốc (bithérapie) (ribavirine và interféron). Chìa khóa của tính hiệu quả của những thuốc này : chúng phong bế protéase, một enzyme của virus của viêm gan C. Tuy nhiên những tác dụng phụ là quan trọng (thiếu máu, hay những vấn đề da thường trầm trọng). Việc xuất hiện này của liệu pháp 3 thứ thuốc (trithérapie) chống VHC sẽ làm tăng gấp ba hoặc gấp bốn số những người mong muốn được điều trị vào năm 2012, theo Cơ quan nghiên cứu quốc gia về bệnh sida và viêm gan siêu vi trùng. Điều này sẽ khiến các bệnh viện bị ứ đọng. Ngoài ra, những điều trị này rất là tốn kém (ở Hoa Kỳ 1000 dollar mỗi tuần) và ta biết ít về việc sử dụng chúng ở những người bị nhiễm đồng thời bởi virus của viêm gan C (VHC) và virus của sida. Mặc dầu số lượng nhiều (40000 trường hợp ở Pháp), nhưng những bệnh nhân này đã không được đưa vào trong những thử nghiệm lâm sàng.
    (SCIENCE ET VIE 9/2011)

    5/ NHỮNG ĐIỀU MÀ MỌI NGƯỜI ĐƯỢC GÂY MÊ CẦN PHẢI BIẾT.

    Từ khi ban hành đạo luật ngày 5 tháng 12 năm 1994, một người được mổ phải được nhận một thăm khám tiền mê (consultation pré-anesthésique) trong những ngày trước khi mổ, trừ trường hợp cấp cứu. “ Vào cơ hội này, điều rất quan trọng là phải báo cáo một tiền sử y khoa như dị ứng, bệnh tật, những trường hợp tử vong trước 60 tuổi trong gia đình, GS Bazin đã nhấn mạnh như vậy. Cũng cần phải xác định rõ : có phải bạn đang nhận một điều trị hay không, không quên báo cáo những loại thuốc hay pommade mà bạn sử dụng không cần toa thí dụ để làm giảm đau ”. Nếu trước đây bạn đã được một lần gây mê, hãy cho biết là mọi chuyện có diễn biến một cách tốt đẹp khi tỉnh dậy không : một cuộc mổ trước đây, đã diễn ra không một tai biến nào, mặc dầu đã cách 20 năm, đó luôn luôn là một chỉ dẫn hữu ích cho một thầy thuốc gây mê ! Bạn hãy nhớ mang lại cho thầy thuốc gây mê những xét nghiệm được thực hiện mới đây (dưới 6 tháng), nhất là nếu những xét nghiệm này cho thấy một bất thường về đông máu, tim, phổi hay thận. Sau cùng bạn phải nói rõ : bạn có hút thuốc không, có uống rượu không (chỉ rõ số lượng), có sử dụng cannabis hay một chất ma túy khác hay không. Thầy thuốc gây mê không phải đến đó để phán xét bạn, nhưng để tránh mọi nguy cơ giao thoa (interférence) với các loại thuốc mà ông ta sẽ sử dụng. Vậy giấu diếm bất cứ điều gì với ông ta chẳng có lợi ích gì cho bạn cả.

    NGỪNG THUỐC LÁ

    “ Ngược lại, điều đó không quan trọng nếu thầy thuốc gây mê tiếp bạn lúc consultation không phải là người sẽ đánh thuốc mê bạn. Đó thường là quy tắc, bởi vì, vì những lý do an toàn (nghỉ ngơi bắt buộc sau khi trực gác), các thầy thuốc gây mê làm việc luân phiên nhau. Điều chủ yếu thật sự, đó là ngày J, thầy thuốc gây mê nắm hồ sơ của bạn và như thế có tất cả những dữ kiện hữu ích trong tay ”, GS Bazin đã nói tiếp như vậy. Và rằng chính bạn cũng không phạm phải sai lầm. Người ta yêu cầu bạn nhịn ăn, ngay cả một can thiệp chỉ cần gây mê tại chỗ-vùng (anesthésie locorégionale) (để phòng trường hợp cuối cùng cần phải thực hiện gây mê toàn thân) nhưng vô ích nếu làm thái quá : không ăn và không uống từ 6 giờ là đủ.

    Ngược lại, phải thật sự nhịn hút thuốc hôm trước và ngay cả buổi sáng ngày mổ, bởi vì nicotine làm tiết dịch dạ dày, do đó có nguy cơ trào ngược acide vào trong các phế quản. Lại còn tốt hơn nếu bạn ngừng hoàn toàn ít nhất 6 tuần trước khi mổ, bởi vì hút thuốc làm gia tăng rất rõ rệt những nguy cơ gây các biến chứng tim, hô hấp và ngoại khoa. Sau cùng khuyên không nên dùng thuốc chống viêm (kể cả aspirine), kể cả dưới dạng pommade hay gel. Và báo động thầy thuốc gây mê trong trường hợp bị đợt nhiễm trùng (cúm, viêm phế quản..) xảy ra ngay trước khi mổ : cuộc mổ không nhất thiết bị hoãn lại, nhưng vấn để đáng được đặt ra.

    Những thận trọng khác cần được tôn trọng đúng hơn thuộc về lãnh vực lương tri : một bonne douche ngay buổi sáng hôm mổ để hạn chế những nguy cơ nhiễm trùng. Son phấn và thuốc đánh móng tay, có thể che khuất một sự thay đổi màu da, phải được cấm chỉ. Còn về bộ răng giả (appareil dentaire), nó phải vẫn nằm trong hộp để không làm vướng một thủ thuật nội thông khí quản có thể xảy ra, cũng như các lentille de contact (quá gây kích thích vì không có nước mắt), các đồ nữ trang và những đồ phụ tùng, có thể gây vương víu.

    Điều đó có vẻ lố bịch, nhưng những tai biến gây mê đã giảm nhiều trong 10 năm, đó cũng một phần là nhờ những quy tắc lương tri này…
    (LE FIGARO 10/1/2011)

    6/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1 CÓ THỂ BỊ DẬP TẮT.

    Sự phát triển của bệnh đái đường loại 1, một bệnh tự miễn dịch, được đặc trưng bởi sự phá hủy của những tế bào tụy tạng beta sản xuất insuline, có thể được kềm hãm và đôi khi ngay cả được làm ngừng lại, công trình nghiên cứu có quy mô đầu tiên về một điều trị bằng kháng thể, được công bố trong tạp chí The Lancet, đã xác nhận như vậy. Mục tiêu này đã đạt được ở vài bệnh nhân với chỉ sau hai tuần điều trị, được lặp lại 6 tháng sau. Trong số 415 người được điều trị, 5% đã không còn cần insuline nữa sau 1 năm và tất cả tự tiêm những liều lượng insuline rõ rệt thấp hơn những liều lượng của nhóm chứng, bằng cớ cho thấy tiến triển của bệnh được làm chậm lại, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Nicole Sherry, thuộc bệnh viện toàn khoa nhi đồng Massachusetts (Boston, Hoa Kỳ) đã ghi nhận như vậy. Ngoài ra, những tác dụng không được mong muốn do kháng thể teplizumab, nhằm vô hiệu hóa hoạt tính phá hủy của các tế bào lympho T, đã có vẻ được giới hạn.

    Những kết quả tốt hơn đã được nêu lên ở những trẻ dưới 12 tháng và những người được điều trị trong 6 giờ sau khi xuất hiện tăng đường huyết, điều này phù hợp với những công trình nghiên cứu trước đây và xác định rõ lãnh vực áp dụng tương lai của liệu pháp cách mạng này đối với một bệnh tự miễn dịch.
    (SCIENCES ET AVENIR 9/2011)

    7/ THUỐC KHÁNG KHÔNG MỚI CHỐNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

    Điểm chủ yếu
    • Hiệp hội tim châu Âu quy tụ 40.000 chuyên gia ở Paris.
    • Rất được trông chờ : một thuốc mới làm giảm những nguy cơ loạn nhịp tim.
    • Giảm 11% tỷ lệ tử vong đối với những bệnh nhân bị rung nhĩ.

    Chắc chắn đó là những kết quả được trông chờ nhất bởi 40.000 thầy thuốc chuyên khoa tim được quy tụ từ hôm chủ nhật bởi Société européenne de cardiologie : một thuốc kháng đông mới làm giảm rất nhiều những nguy cơ tai biến mạch máu não và nghẽn mạch (embolie) ở những bệnh nhân bị rung nhĩ.

    Rung nhĩ (fibrillation), mà đôi khi ta chỉ với tên không chính xác loạn nhịp tim (arythmie), là rối loạn thông thường nhất của tần số tim. Rung nhĩ xuất hiện khi lớn tuổi và gây bệnh cho 6 triệu người Âu châu. Trên 70 tuổi, 5% các bệnh nhân bị rung nhĩ và 10% khi trên 80 tuổi. Ta ước tính rằng ¼ những người trên 40 tuổi bị rung nhĩ vào một ngày nào đó. Đó là một sự co bóp nhanh và không đều của các tâm nhĩ. Ngoài cảm giác khó ở (malaise) và sự khó chịu đôi khi được cảm thấy, hiện tượng này nếu không được điều trị có thể làm phát ra những cục máu đông trong toàn bộ cơ thể.

    Tim, do không còn làm lưu thông máu một cách đùng đắn nữa, có thể gây nên một sự đông máu bất thường của luồng máu và khiến một cục máu đông được tạo thành. Với những hậu quả có thể quan trọng, vì lẽ cục máu đông này có thể, do làm tắt một động mạch, gây nên một huyết khối (thrombose) hay một tai biến mạch máu não có khả năng gây chết người hay gây phế tật năng, thí dụ gây nên một bại liệt nửa người : những bệnh nhân bị rung nhĩ chịu một nguy cơ gia tăng 5 lần !

    Để làm giảm nguy cơ này, từ nửa thế kỷ nay ta sử dụng những loại thuốc, những anti-vitamine K, cho phép điều hòa sự đông máu, điều này làm giảm nguy cơ tạo nên các cục máu đông. Thông thường nhất là warfarine, được biết bởi các bệnh nhân dưới tên Sintrom.

    Điều trị này có hiệu quả tốt, vì lẽ nguy cơ bị tai biến mạch máu não được làm giảm gần 70% ! Nhưng sự bất tiện quan trọng chủ yếu là khi làm giảm quá mức sự đông máu, thuốc này có thể gây nên nguy cơ ngược lại : xuất huyết có thể phát khởi, thí dụ trong sọ hay dạ dày.

    LÀM GIẢM NGUY CƠ.

    Như vậy để tránh gây nên điều xấu hơn là làm điều tốt, phải xác định một cách cẩn thận liều lượng của những loại thuốc cần thiết, phải được thích ứng đối với mỗi cá thế, đồng thời thử máu mỗi tháng và theo dõi điều trị nghiêm túc. Điều đó không phải dễ : những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng, ngay cả trong vài nước phát triển, là nơi thuốc được sử dụng rộng rãi, một nửa các bệnh nhân không hưởng được điều trị làm giảm nguy cơ một cách tối đa.

    Do đó lợi ích phát triển những loại thuốc mới, ít nhất cũng có hiệu quả bằng nhưng có nguy cơ gây xuất huyết được thu giảm. Đó là lý do tại sao, công trình nghiên cứu quy mô lớn về tính hiệu quả của apixaban, được tiến hành trong 39 nước, trong đó có Bỉ, đã được mong chờ. Kết quả : so với warfarine, điều trị hiện nay với apixaban, sau hai năm, làm giảm thêm 21% nguy cơ bị tai biến mạch máu não. Ngoài ra, thuốc chống đông mới này làm giảm 31% nguy cơ gây xuất huyết quan trọng và đưa đến một tỷ lệ tử vong được thu giảm 11%. Về tai biến mạch máu não xuất huyết, nó hầu như được giảm một nửa ! Cứ 1000 bệnh nhân được điều trị, điều đó cho phép tránh được mỗi năm 6 tai biến mạch máu não, 8 trường hợp tử vong và 15 trường hợp xuất huyết quan trọng so với điều trị hiện nay (với warfarine).

    THUỐC CHỐNG ĐÔNG MÁU NÀO ?

    Theo Lars Wallentin, giáo sư của Đaị Học Uppsala (Thụy điển) và tác giả chính của công trình nghiên cứu, xuất hiện hôm nay trong New England Journal of Medicine, lợi ích quan trọng của loại thuốc mới này, có tác dụng ức chế yếu tố Xa, một yếu tố chủ yếu của đông máu, là nó không đòi hỏi xét nghiệm hàng tháng trên cơ sở lấy máu để thích ứng liều lượng thuốc, nhưng chỉ cần một liều duy nhất (5mg), hai lần mỗi ngày, phù hợp đối với mọi profil của các bệnh nhân. “ Cũng vậy chúng ta không bị những vấn đề tương tác với vài loại thức ăn hay những loại thuốc khác mà ta đã từng biết với warfarine. Bằng cớ tốt nhất là tất cả các nhóm bệnh nhân đều thấy việc điều trị được cải thiện, ngay cả trong những nước mà chất lượng của điều trị không cho phép một sự theo dõi sát việc sử dụng warfarine.”

    Còn một câu hỏi khác : hai loại thuốc chống đông máu khác : dabigatran (Pradaxa) và rivaroxaban (Xarelto) mới đây đã cho thấy những tính chất có thể so sánh với apixaban. Mỗi loai tác dụng theo một cách hơi khác và có profil sử dụng của mình và tất cả đều cho thấy những mối lợi đáng kể so với thuốc hiện đang được sử dụng. Thế thì phải chọn loại thuốc nào ? Theo các chuyên gia, điều đó sẽ tùy thuộc vào profil của các bệnh nhân, tùy theo họ có một nguy cơ lớn hơn tạo một cục máu đông hay trái lại, bị xuất huyết. Dầu thế nào đi nữa, ngay cả khi hồ sơ theo diễn biến một cách bình thường, cũng sẽ phải cần nhiều tháng thủ tục trước khi apixaban xuất hiện trong các hiệu thuốc của chúng ta...
    (LE SOIR 30/8/2011)


    8/ CHỨNG ĐỘNG KINH ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẬN NGUỒN.

    Xuất phát từ đâu bệnh động kinh, rối loạn của sự vận hành chức năng não bộ làm tê liệt trầm trọng, do các cơn xảy ra bất ngờ, cuộc sống của gần 1/100 những người Pháp ? Một hướng mới vừa được mở ra bởi BS Christophe Bernard và nhóm nghiên cứu Inserm của ông ở Marseille, cùng với những đồng nghiệp Hoa kỳ của đại học Californie ở Irvine. Để cố trừ khử tận gốc cơn bão điện (orage électrique) giáng vào cả một vùng não bộ, các nhà nghiên cứu đã nhắm vào một protéine được gọi là NRSF, can dự vào trong sự phát triển của não bộ. “ Chúng tôi đã tìm cách phong bế facteur de transcription này, Christophe Bernard đã xác nhận như vậy, bởi vì nó được hoạt hóa trong não bộ khi bị chấn thương ban đầu và sau đó có khả năng kiểm soát sự biểu hiện của nhiều trăm gène khác.” Các nhà nghiên cứu đã tiêm vào trong não bộ của các con chuột bị động kinh một chất ức chế của NRSF và làm sụt giảm 70% số các cơn động kinh, bằng cớ cho thấy rằng một yếu tố chủ chốt làm phát khởi cơn động kinh đã được tìm thấy. Còn hơn thế nữa, các sóng theta, vốn chứng tỏ sự hoạt động bình thường của các mạng thần kinh, sau đó đã tái xuất hiện trong hồi hải mã (hippocampe), nơi xuất phát của bệnh động kinh được khảo sát.

    Kết quả này, được công bố trong Annals of Neurology, gợi ý rằng bệnh động kinh có thể xuất hiện với sự hoạt hóa không thích hợp vào giai đoạn đầu trong sự phát triển của những tế bào thần kinh, qua NRSF, sau một chấn thương vật lý hay nhiễm tùng. Kết quả này cũng mang lại hy vọng điều trị cho 30% các bệnh nhân đề kháng với tất cả các điều trị dược học, một tỷ lệ bất hạnh thay đã không thay đổi từ 60 năm qua.
    (SCIENCES ET AVENIR 9/2011)

    9/ HƯ KHỚP CÁC NGÓN TAY : MỘT THIẾT BỊ ĐỂ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

    BS Thierry Dreano, thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình, CHU de Rennes, giải thích những lợi ích của các implant thuộc thế hệ mới nhất, tái lập sự vững chắc đồng thời làm giảm đau đớn.

    Hỏi : Một hư khớp các ngón tay (arthrose des doigts) gây nên những phế tật nào ?
    BS Thierry Dreano. Căn bệnh này bắt đầu biểu hiện bằng những đau nhức trong các ngón tay, vào lúc sử dụng chúng, nhưng giảm khi nghỉ ngơi. Trong vài trường hợp, các kyste xuất hiện ở các khớp. Ở một giai đoạn tiến triển, bệnh hư khớp này làm biến dạng và làm cứng các ngón tay.

    Hỏi : Phải chăng ta đã xác định được những nguyên nhân của sự phá hủy dần dần của sụn này ?
    BS Thierry Dreano. Chắc chắn có một thể trạng di truyền : có những gia đình bị bệnh hư khớp (familles à arthrose). Ta cũng thường quan sát thấy một sự hao mòn của sụn do sử dụng khớp bị bệnh quá nhiều. Những phụ nữ dễ bị bệnh hơn đàn ông : 20% bị bệnh sau 55 tuổi. Bất hạnh thay, bệnh lý này trở nặng với thời gian.

    Hỏi : Trong cuộc sống hàng ngày, các bệnh nhân của ông chủ yếu than vãn về những điều gì ?
    BS Thierry Dreano. Tất cả tùy thuộc vào khớp bị thương tổn. Bàn tay là một công cụ, và mỗi ngón tay có chức năng của nó. Thí dụ ngón cái, dùng để cầm những đồ vật lớn và cùng với ngón trỏ tạo nên cái kềm. Cùng với ngón út, ta có thể giữ vững một cái cán như cán búa. Vài phụ nữ bị cản trở khi rửa ráy, làm bếp... Ngoài những phế tật chức năng này, một khía cạnh không đẹp của các ngón tay bị biến dạng ảnh hưởng lên họ ghê gớm.

    Hỏi : Những điều trị cổ điển là gì ?
    BS Thierry Dreano. Bệnh này tiến triển thành các cơn bộc phát, khi biểu hiện, có thể cần điều trị bằng thuốc kháng viêm. Nếu sự trở ngại quan trọng, ta có thể đề nghị một can thiệp ngoại khoa. Việc điều trị khác nhau tùy theo những khớp bị thương tổn. Có 3 khớp trong mỗi ngón tay : 1. khớp ở chân ngón tay (khớp bàn-ngón : articulation métacarpophalangienne). 2. khớp ở giữa (khớp liên đốt gần : articulation interphalangienne proximale). 3. khớp của đầu ngón tay (khớp liên đốt xa : articulation interphalangienne distale). Về hai khớp đầu, trong những trường hợp tiến triển, ta tìm cách bảo tồn tính di động nhằm đảm bảo động tác nắm các đồ vật. Để được như thế ta xét đến việc đặt một khớp giả (prothèse) sẽ thay thế khớp bị thương tổn. Khớp thứ ba của đầu ngón tay quá nhỏ để có thể sử dụng một khớp giả. Ta sẽ phong bế khớp này bằng phẫu thuật (arthrodèse).

    Hỏi : Phẫu thuật này (arthrodèse) diễn ra như thế nào ?
    BS Thierry Dreano. Thầy thuốc ngoại khoa sẽ lấy đi sụn bị bệnh và nối hai đầu xương lại với nhau (các đốt ngón tay) để chúng hợp nhất lại và như thế hủy bỏ các đau đớn. Cho mãi tận gần đây, để giữ vững hai đầu xương ta đã sử dụng các broche, rồi các vis. Để củng cố tất cả, ta đặt một nẹp nhỏ sẽ ở tại chỗ khoảng 6 tuần, thời gian cần thiết để cứng xương (consolidation).

    Hỏi : Những bất tiện nào của hai hệ thống này đã khiến phải tìm kiếm một kỹ thuật mới ?
    BS Thierry Dreano. Vì các broche được cố định ở ngoài xương, nên chúng có nguy cơ bị di động và di lệch (và đôi khi ra khỏi da), điều này cần phải lấy chúng đi. Việc đặt vis vào trong xương buộc thực hiện một đường xẻ trong búp ngón tay, dưới móng, điều này có thể gây đau nhức mãn tính.

    Hỏi : Phương thức mới sử dụng implant, một thiết bị mới, là gì ?
    BS Thierry Dreano. Đó là những agrafe bằng kim loại đặc biệt (hỗn hợp titane và nickel) mà ta gấp chúng lại (như một lò xo) rồi đưa vào bên trong. Một khi được đặt tại chỗ, agrafe nới ra và cắm vào trong mỗi đốt ngón tay. Lúc giãn ra, nó đảm bảo cho implant một sự vững chắc rất tốt. Đau hậu phẫu không kéo dài hon 3 ngày và được kiểm soát nhờ các thuốc giảm đau.

    Hỏi : Những ưu điểm của phương thức này là gì ?
    BS Thierry Dreano. 1. Vì sự phục hồi chức năng rất là nhanh và không đau, nên bệnh nhân quên không nghĩ đến rằng implant đã được thiết đặt. 2. Không có một sự vướng víu nào vì thiết bị nằm trong xương. Ta không bị buộc phải mổ lại để lấy chúng đi. 3. Vì những implant này được chế tạo một cách đặc biệt cho khớp này, trong vài trường hợp ta có thể giữ đầu ngón tay hơi gấp xuống để nắm đồ vật tốt hơn. Chống chỉ định duy nhất : một nhiễm trùng ở khớp bị bệnh.

    Hỏi : Thời gian nhìn lại với kỹ thuật đổi mới này ?
    BS Thierry Dreano. Những implant này, được chế tạo cách nay vài năm, trước hết đã chịu nhiều công trình nghiên cứu, tất cả đều thỏa mãn. Ngày nay, hệ thống agrafe được gọi là “W-fuse” này được thiết đặt bởi khoảng một trăm thầy thuốc ngoại khoa ở Pháp.
    (PARIS MATCH 28/7-3/8/2011)

    10/ MỘT POMMADE LÀM CHẬM LẠI SỰ KHUẾCH TÁN CỦA NỌC ĐỘC RẮN.

    Sau khi bị rắn độc cắn, phải hành động nhanh để ngăn cản nọc độc tấn công các mô cơ và hệ thần kinh. Các thầy thuốc Úc đề nghị một giải pháp cho phép kéo dài thời gian trong đó ta có thể thực hiện một điều trị chống nọc độc : một pommade chứa chất oxyde nitrique. Vì quá to tướng để có thể đi thẳng vào máu, nên các độc tố của nọc rắn thường mượn đường bạch huyết. Thế mà, oxyde nitrique ức chế sự co bóp của các cơ trơn, vốn làm dễ sự tuần hoàn của bạch huyết, điều này làm chậm lại sự lan tràn của các độc tố gây chết người trong cơ thể.
    (SCIENCE ET VIE 9/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (5/9/2011)

    Edited by user Saturday, September 1, 2012 4:48:41 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #11 Posted : Saturday, September 1, 2012 4:49:34 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 242

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH



    1/ CHẲNG BAO LÂU NỮA MỘT VACCIN CHỐNG BỆNH SỐT RÉT.

    Sau 40 năm nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng, vaccin đầu tiên chống bệnh sốt rét, căn bệnh mỗi năm giết chết 800.000 người, có thể sẽ có sử dụng từ nay đến năm 2015.

    Từ nay đến 4 năm nữa, thế giới sẽ có một vaccin chống lại bệnh sốt rét. Vaccin đầu tiên chống lại căn bệnh giết chết 800.000 người mỗi năm. Vaccin đầu tiên có khả năng bảo vệ chống lại một ký sinh trùng. Đã phải cần gần 40 năm nghiên cứu để vaccin chống sốt rét tiến bộ nhất, được mệnh danh là RTS, S đạt đến giai đoạn hiện nay. Gần 16.000 trẻ em châu Phi đang tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 (tính hiệu quả), sẽ cho những kết quả đầu tiên vào cuối năm nay.

    Phải nói rằng hơn 80% các nạn nhân của bệnh sốt rét là những trẻ em dưới 5 tuổi. Ở châu Phi dưới Sahara, cứ mỗi 45 giây có một trẻ em bị ngã gục vì căn bệnh này. “ Một vaccin có hiệu quả sẽ là rất quan trọng để bổ sung những phương tiện chống bệnh sốt rét hiện có như mùng được tẩm bởi những thuốc diệt côn trùng và các loại thuốc ”, Bernard Pécoul, giám đốc của Drugs for Neglected Diseases Initiative, ở Genève, đã giải thích như vậy.

    Khoảng 20 vaccin chống bệnh sốt rét đang được thử nghiệm lâm sàng. RTS, S được phát triển bởi hãng bào chế GlaxoSmithKline (GSK) và MVI, sáng kiến về một vaccin chống bệnh sốt rét của tổ chức không chính phủ Hoa Kỳ PATH. Làm sao giải thích phải cần đến nhiều năm như vậy để phát triển vaccin này ?

    Trước hết, đã phải nhận diện phân tử cấu thành hoạt chất của vaccin. Được tiêm vào trong cơ thể, chất này phải có khả năng huy động hệ miễn dịch, để cho hệ miễn dịch học này học nhận biết phân tử này và chống lại nó, vào ngày mà ký sinh trùng được muỗi chích vào cơ thể. Phân tử này được gọi là kháng nguyên, phải được tìm kiếm trong số những protéine hiện diện ở bề mặt của ký sinh trùng. Thế mà, “ việc nhận diện một kháng nguyên sẽ tạo nên một sự bảo vệ tốt trong một vaccin ở một ký sinh trùng, là khó hơn nhiều so với ở một vi khuẩn hay một siêu vi trùng, Pierre Druilhe, thuộc phòng thí nghiệm ký sinh trùng sinh y học (laboratoire de parasitologie biomédicale) của Viện Pasteur (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Bởi vì ký sinh trùng này có 5800 kháng nguyên, hoặc 500 lần nhiều hơn một virus ”.

    Ngoài ra, trong suốt cuộc đời, tác nhân gây bệnh sốt rét, Plasmodium trải qua nhiều dạng khác nhau. Những dạng ký sinh trùng này sống trong máu của nạn nhân người, rồi trong gan, rồi trong hồng cầu, và sau cùng trong muỗi. Mỗi trong những dạng này mang ở bề mặt của nó những kháng nguyên gây nên những phản ứng miễn dịch khác nhau.

    KHÁNG NGUYÊN ĐẦU TIÊN.

    Việc nghiên cứu các kháng nguyên đã bắt đầu ngay cuối những năm 1960. Khi đó quân đội Hoa Kỳ, đang tìm kiếm một phương tiện để bảo vệ các binh sĩ phải đi vào trong những vùng có nguy cơ bị sốt rét, đã trợ cấp các công trình được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của Ruth Nussenzweig, thuộc đại học Nữu Ước. Nhóm nghiên cứu này cố gắng nhận diện các kháng nguyên ở bề mặt của ký sinh trùng vào những giai đoạn đầu của nhiễm trùng (thể sporozoite). Mục đích : chế tạo một vaccin phòng ngừa nhằm vào ký sinh trùng ngay sau khi được truyền bởi muỗi và trước khi ký sinh trùng tấn công những hồng cầu máu, ở đây ký sinh trùng gây nên các triệu chứng của sốt rét : cơn sốt, thiếu máu, thậm chí hôn mê gây chết người.

    Sau cùng, vào năm 1980, kháng nguyên đầu tiên được khám phá. Đó là protéine circumsporozoite. “ Protéine này đã có thể được nhận diện một cách khá dễ dàng bởi vì đó là protéine dồi dào nhất ở bề mặt của sporozoite ”, Dominique Mazier, phụ trách đơn vị miễn dịch và nhiễm trùng thuộc đại học Pierre-et Marie-Curie (Paris), đã giải thích như vậy.

    Được chủng vào một con chuột, protéine circumsporozoite gây nên sự sản xuất nhiều kháng thể. Vậy protéine này dường như là một kháng nguyên đáng lưu ý. Từ đó chế tạo hoạt chất của một vaccin, chỉ là một bước được vượt qua bởi nhóm nghiên cứu của Ripley Ballou, thuộc viện nghiên cứu y khoa Walter Reed của quân đội Hoa Kỳ, trong tiểu bang Maryland, và của các nhà nghiên cứu của GSK. Nhưng các nhà khoa học đã vấp phải một khó khăn khác : không có mô hình động vật nào phát triển bệnh sốt rét khi được chủng ký sinh trùng người Plasmodium falciparum. Do đó, không thể trắc nghiệm trên động vật tính hiệu quả của vaccin được chế tạo. Vaccin phải được trắc nghiệm trên người để biết là nó có hiệu quả hay không. Vào năm 1987, 6 người tình nguyện, vốn đã chưa bao giờ bị sốt rét, được chủng ngừa trước khi được cho chích bởi muỗi bị nhiễm các ký sinh trùng nhạy cảm với điều trị chống sốt rét. Bất hạnh thay vaccin đã tỏ ra ít hiệu quả, 5 người tình nguyện, trong số 6 người này bị nhiễm sốt rét và phải được điều trị.

    CHẤT BỒ TRỢ (ADJUVANT) HIỆU QUẢ.

    Tuy nhiên vào cùng thời kỳ, Joe Cohen, thuộc GSK (Rixensart, Bỉ) có một ý tưởng để làm gia tăng tính hiệu quả của vaccin : sử dụng mẹo mà hãng dược phẩm vừa hiệu chính đối với vaccin của viêm gan B. Cùng với các cộng tác viên, ông kết hợp protéine circumsporozoite của ký sinh trùng với một kháng nguyên của virus của viêm gan B. Toàn thể tạo thành những hạt (particules) có kích thước đủ để được nhận biết bởi hệ miễn dịch.

    Biến thể đầu tiên của vaccin, từ nay được mệnh danh là RTS, S, được trắc nghiệm lần đầu tiên vào năm 1990 ở những người trưởng thành tình nguyện. Than ôi, vaccin này chỉ gây nên một tác dụng bảo vệ thấp chống lại ký sinh trùng. Các nhà nghiên cứu khi đó hiểu rằng cần phải thêm vào vaccin một sản phẩm, được gọi là chất bổ trợ (adjuvant) nhằm kích thích hệ miễn dịch. Nhiều chất bổ trợ được phát triển bởi GSK. Một trong những chất này, được gọi là ASo2, tỏ ra có hiệu quả hơn những chất khác lúc được thử nghiệm trên những người tình nguyện và do đó được giữ lại.

    Sau đó, ngay năm 1998, vaccin RTS, S, được chế tạo với chất bổ trợ ASo2, được trắc nghiệm, ở những người trưởng thành, trong một nước châu Phi ở đó có sự hiện diện của bệnh sốt rét : Gambie. Vaccin được dung nạp tốt và bảo vệ thành công chống lại bệnh sốt rét cho khoảng một nửa những người trưởng thành được tiêm chủng trong hai tháng đầu theo dõi. Rồi vaccin được trắc nghiệm trên những đối tượng được nhắm đến : những trẻ dưới 5 tuổi. Sau đó vào năm 2001, hãng dược phẩm bắt đầu liên kết với tổ chức không chính phủ MVIPATH để “ chia sẻ các phí tổn, các nguy cơ và chuẩn bị những thử nghiệm lâm sàng sắp đến ở châu Phi ”, Christian Loucq, giám đốc của tổ chức này đã tóm tắt như vậy.

    SỰ DUNG NẠP TỐT.

    Một thử nghiệm lâm sàng có quy mô đầu tiên được phát động vào năm 2003 ở Mozambique : hơn 2000 trẻ em tuổi từ 1 đến 4 tuổi nhận hoặc là vaccin RTS, S, hoặc là một placebo. Sau 18 tháng, vaccin dường như được dung nạp tốt và, trong số những trẻ em được tiêm chủng, 35% đã được bảo vệ chống lại nhiễm ký sinh trùng và đã không phát bệnh. Về những trẻ em bị nhiễm ký sinh trùng mặc dầu được tiêm chủng, chúng đã phát triển một dạng bệnh ít nghiêm trọng hơn so với những trẻ không được tiêm chủng : những thể nghiêm trọng được giảm 49%. Lý do ? “ Mặc dầu vaccin không phong bế tất cả các ký sinh trùng, nhưng thuốc chủng này sẽ phong bế một số lượng nào đó, trong số này là những ký sinh trùng đặc biệt độc lực, Dominique Mazier đã giải thích như vậy.

    Những thử nghiệm khác sau đó được tiến hành để xác định liều lượng có hiệu quả nhất và thời gian cần thiết giữa 3 mũi tiêm của vaccin. Ngoài ra vaccin tỏ ra được dung nạp tốt khi được tiêm cùng với những vaccin nhi đồng được khuyến nghị bởi OMS. Một kết quả quan trọng “ bởi vì mục tiêu là đưa vaccin chống sốt rét này vào trong chương trình tiêm chủng mở rộng của OMS ”, Christian Loucq đã ghi nhận như vậy.

    Chỉ có điều là tính hiệu quả của nó trung bình chỉ 30%, nói một cách khác, vaccin này chỉ làm giảm 30% nguy cơ phát bệnh sốt rét. Tại sao ? Đáp ứng miễn dịch gây nên bởi vaccin dường như khá hiệu quả để chống lại các ký sinh trùng khi chúng ở trong máu trước khi đến gan, nghĩa là trong khoảng 30 phút. Ngược lại, đáp ứng miễn dịch dường như không có hiệu quả để tiêu hủy những ký sinh trùng một khi đã thành công đi vào được trong những tế bào gan, ở đây chúng tồn tại khoảng 10 ngày trước khi làm nhiễm trùng máu.

    Do đó một chất bổ trợ (adjuvant), được gọi là ASo1, được hiệu chính để làm gia tăng đáp ứng miễn dịch được gây nên bởi những tế bào bạch cầu gọi là những tế bào lympho T. Vaccin được chế tạo với chất bổ trợ này được trắc nghiệm ở những trẻ em từ 5 đến 17 tháng, ở Kenya và Tanzanie. Các kết quả, được công bố vào năm 2008, cho thấy một tỷ lệ hiệu quả khoảng 50%, sau một thời gian theo dõi 8 tháng và 45% sau 15 tháng.

    Với những kết quả đáng phấn khởi này, GSK và MVI PATH quyết định phát động một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3. Được bắt đầu vào tháng năm 2009 trong 11 địa điểm, được phân bố trong 7 nước châu Phi, thử nghiệm này đã bao gồm gần 16.000 trẻ em : một nhóm gồm những trẻ em từ 5 đến 17 tháng và một nhóm các nhũ nhi từ 6 đến 12 tuần. Những kết quả đầu tiên sẽ được biết vào cuối năm nay. Việc theo dõi các trẻ em được tiêm chủng sẽ được kéo dài cho đến năm 2014. “ Nếu mọi chuyện diễn ra tốt đẹp, một đơn xin phép gởi cho OMS để thương mãi hóa vaccin sẽ được thực hiện cuối năm 2014 ”, Christian Loucq đã giải thích như vậy.

    Vào năm 2006, OMS đã ấn định mục tiêu sao cho vào năm 2015 có được một vaccin khả dụng, với khả năng gây nên một sự bảo vệ, ít nhất 50% trong một năm. Mục tiên này có thể đạt được. Nhưng một tỷ lệ hiệu quả 50% còn xa với điều thường được đòi hỏi bởi giới hữu trách y tế đối với một vaccin. Thí dụ một vaccin chống bệnh sởi phải có một tỷ lệ hiệu quả ít nhất 90%. Tuy nhiên đối với Christian Loucq, điều này không hủy bỏ việc thương mãi hóa : “ Nếu 80% các trẻ em nhận vaccin này, ngay cả với một tỷ lệ hiệu quả 50%, vaccin vẫn có thể cứu được hàng trăm ngàn mạng sống mỗi năm. ”

    Nhưng có được một sự tiêm chủng tốt trong những vùng thiếu thốn về mặt y tế của Châu Phi dưới Sahara không phải là đơn giản. “ Những tỷ lệ các vaccin nhi đồng được chủng, mà OMS khuyến nghị, chỉ từ 20% đến 30% trong vài nơi của những vùng Châu Phi này, Eric Mouzin, thầy thuốc chuyên khoa dịch tễ học đã nhấn mạnh như vậy. Trong trường hợp này, ảnh hưởng về mặt y tế cộng đồng của một vaccin chỉ một phần có hiệu quả là ít quan trọng hơn hiệu quả của những chiếc mùng tẩm các chất diệt côn trùng, từ nay được phân bố rộng rãi, và những xét nghiệm chẩn đoán nhanh của bệnh sốt rét, cho phép điều trị sớm hơn. ”

    KHẢ NĂNG BẢO VỆ TỐT HƠN.

    Mục tiêu của OMS cho năm 2015 có nhiều tham vọng hơn : đó là có được một vaccin có tỷ lệ hiệu quả ít nhất 80% trong 4 năm. Để có thể đạt được điều đó, MVI PATH cùng với phòng thí nghiệm Crucell (Hòa lan) đang tìm một hướng có thể cho phép làm gia tăng tính hiệu quả của vaccin RTS, S. Nhưng còn nhiều vấn để sẽ phải được giải quyết.

    Trước hết, “ điều quan trọng là tìm ra một chất chỉ dấu sinh học (marqueur biologique) xác nhận tính hiệu quả của vaccin để tiên đoán một cách đáng tin cậy một khả năng bảo vệ chống lại bệnh sốt rét ”, Brian Greenwood thuộc phân khoa các bệnh nhiễm trùng nhiệt đới, ở Londres, đã giải thích như vậy. Thí dụ, đối với vaccin chống bệnh rubéole, sự hiện diện của các kháng thể cho phép xác nhận rằng một người đã được bảo vệ. Nhưng đối với vaccin RTS,S ta đã không ghi nhận sự tương quan giữa các tham số sinh học (paramètres biologiques), như lượng các kháng thể, và mức độ bảo vệ.

    Ngoài ra ta không biết rõ cách tác dụng của vaccin. Phải làm sáng tỏ các cơ chế miễn dịch can dự vào trong sự bảo vệ mà thuốc chủng RTS,S mang lại, Dominique Mazier đã nhận xét như vậy. Điều đó cho phép hiểu tại sao vaccin hiệu quả trong vài trường hợp và không trong những trường hợp khác.” Ta cũng có thể chế tạo những vaccin thế hệ thứ hai hiệu quả hơn.

    Sau cùng, “ ta không hiểu rõ lắm bằng những cơ chế nào ký sinh trùng làm thất bại hệ miễn dịch để gây nhiễm ký chủ, hay những đáp ứng miễn dịch được đòi hỏi để chống lại một cách hiệu quả sự nhiễm ký sinh trùng là những đáp ứng nào. Thế mà, việc hiểu rõ hơn những cơ chế căn bản này là thiết yếu để khám phá những kháng nguyên mới, Pierre Druilhe đã nhấn mạnh như vậy. Đối với ông cũng như đối với Dominique Mazier : “ Các kháng nguyên hữu hiệu nhất để chế tạo một vaccin vẫn còn cần phải được khám phá.”
    (LA RECHERCHE 6/2011)

    2/ VIÊM GAN C : HƯỚNG NGHIÊN CỨU TÌM VACCIN.
    NHỮNG ĐIỂM MỐC


    Virus của viêm gan C chỉ có thể truyền bằng đường máu.

    Viêm gan (hépatite) chỉ mọi quá trình viêm nhiễm của gan. Những dạng thông thường nhất là những dạng do siêu vi trùng (được chỉ từ A đến G tùy theo sự nhận diện chúng) và do rượu. Viêm gan được gọi là mãn tính khi kéo dài trên 6 tháng. Viêm gan có thể tiến triển thành một thể nặng hay tối cấp (hépatite fulminante), xơ gan hay ung thư.

    Viêm gan C gây bệnh cho 200 triệu người trên thế giới. Viêm gan C chỉ được truyền qua đường máu (par contact de sang à sang). Ở phương tây, viêm gan C đôi khi được lây truyền lúc truyền máu hay khi sử dụng những sản phẩm máu không được trắc nghiệm, nhưng chủ yếu là do sử dụng chung những dụng cụ tiêm, nhất là ở những người nghiện ma túy.

    Sự lây truyền đôi khi cũng có thể do đường sinh dục (15% các trường hợp). Sự lây truyền khi sử dụng dụng cụ y khoa không được tiệt trùng tốt, chiếm một phần không phải là nhỏ, nhất là trong các nước đang phát triển. Ngoài sự tiếp xúc của các người hành nghề y tế lúc săn sóc điều trị, nguy cơ hiện hữu khi bệnh nhân nhận những săn sóc y tế hay nha khoa. Nguy cơ rất có thể có lúc thực hiện piercing nếu những điều kiện sát trùng tốt không được tôn trọng. Sau cùng việc dùng chung dạo cạo, các bót đánh răng và các dao cắt móng tay, trong vài trường hợp có thể gây nên sự lây nhiễm.

    Những người lành mang trùng. Virus của viên gan C chỉ được nhận diện cách nay 20 năm nên nhiều người bệnh không hay biết, đôi khi virus trú ngụ nhiều năm trời không gây triệu chứng. Bệnh có thể tiến triển thành xơ gan hay ung thư gan và được thể hiện bởi 350.000 trường hợp tử vong mỗi năm trên thế giới.

    Điểm chủ yếu :
    • Cho đến nay không có một vaccin nào tác dụng chống lại 6 loại virus của viêm gan C.
    • Một dự án châu Âu, bằng cách sử dụng những kỹ thuật cải tiến các hạt virus giả (pseudo-particules virales), đã thành công sản xuất một kháng thể tác dụng theo phổ rất rộng này.

    Ngày mai ta sẽ không tìm thấy trong các hiệu thuốc của chúng ta vaccin chống viêm gan C này, được chế tạo nhờ các các hạt virus giả (pseudo-particules virales chimériques). Nhưng nếu có một vaccin như thế vào một ngày nào đó, thì công trình nghiên cứu được công bố hôm nay có thể đã là một cái mốc thiết yếu.

    Giải thích : Virus của viêm gan C gây nhiễm cho 200 triệu người và mỗi năm gây nên 350.000 trường hợp tử vong. Người ta ước tính rằng tỷ lệ tử vong do nhiễm trùng này có thể chẳng bao lâu nữa sẽ vượt quá tỷ lệ tử vong gây nên bởi virus của sida. Đó là nguyên nhân đứng đầu của ghép gan (transplantation hépatique), giải pháp duy nhất khi mọi điều trị trở nên không có hiệu quả.

    Tất cả những toan tính nhằm chế tạo một vaccin đã thất bại, chủ yếu bởi vì virus của viêm gan C, rất không ổn định, có đến 6 kiểu phụ (soustype) khác nhau, và chính mỗi type phụ này lại được chia thành nhiều biến thể (variété). Thật vậy chưa bao giờ có một ứng viên vaccin nào đã có thể cho thấy một tính hiệu quả chống lại các loại khác nhau của virus viêm gan C. “ Thế mà, chính đó là điều mà các nhà nghiên cứu của CNRS vừa xác lập khi họ thu được một kháng thể có một tác dụng vô hiệu hóa được chứng minh trên 6 génotype của virus, theo một phổ rất rộng. Như thế các nhà nghiên cứu mang lại bằng cớ rằng việc chế tạo là có thể thực hiện, mặc dầu những dự án trước đây đôi khi đã bị bỏ rơi vì tin rằng ta sẽ không bao giờ lẩn tránh được tính chất thay đổi to lớn này của virus ”, GS Patrick Goubau, giáo sư siêu vi trùng học của UCL (Bỉ) đã giải thích như vậy.

    Để đi đến những kết quả này, các nhà nghiên cứu của công trình nghiên cứu châu Âu này, do David Klatzmann (thuộc CNRS và Inserm) điều hành (mà các kết quả được công bố tuần này trong “Science Translational Medicine ”) đã sử dụng một công nghệ học dựa trên việc dùng các hạt giả virus “ pseudo-particules virales ”. Những cấu trúc nhân tạo như thế giống với các hạt virus (particules virales) nhưng chúng không có tính chất gây nguy hiểm bởi vì các hạt giả virus này không chứa vật liệu di truyền, điều này ngăn cản virus tăng sinh : “ Khi các protéine sinh đáp ứng miễn dịch được nhận diện một cách rõ ràng, có thể xét đến viec sử dụng chúng một cách trực tiếp để phát triển những thuốc chủng trơ (vaccin inerte) chỉ chứa duy nhất những phân tử sinh kháng nguyên (molécules antigéniques) này. Đó là một kỹ thuật nghiên cứu càng ngày càng được sử dụng, GS Gouban đã giải thích như vậy. Tính độc đáo của kỹ thuật được sử dụng ở đây : những hạt giả virus (pseudo-particule virale) này là“ chimérique ”, nghĩa là được cấu tạo bởi những mảnh phát xuất từ hai virus khác nhau.

    KHÔNG NHỮNG ĐỐI VỚI VIRUS CỦA VIÊM GAN C.

    Điều này phải chăng có nghĩa là ta đang đạt đến đích ? “ Sự kiện điều đó có kết quả không những đối với chuột mà cả macaque, một động vật linh trưởng như chúng ta, là điều đáng phấn khởi. Nhưng chúng ta vẫn còn xa mới có được một vaccin có thể sử dụng được : các nhà nghiên cứu ở đây đã sử dụng 6 mũi tiêm kế tiếp nhau, theo một protocole phức tạp, một phần in vitro. Dĩ nhiên không gì loại bỏ việc sau đó ta tìm được một phương cách đơn giản hơn và cũng hợp lý hơn về phương diện tài chánh để dẫn đến một kết quả như vậy. Nhưng cũng không có gì đảm bảo điều đó. Đó như thể là một maquette chứng tỏ một concept, nhưng ta không thể sử dụng như thế ”. Tuy nhiên những kết quả này có thể được xem là thiết yếu trên đường hiệu chính một vaccin chống lại virus của viêm gan C. Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng những gì mà họ đã chứng minh có thể mang lại những chiến lược tương tự được sử dụng đối với những vaccin chống lại những nhiễm trùng khác, như HIV, bệnh sốt xuất huyết (dengue) hay RSV (virus respiratoire syncytial).
    (LE SOIR 5/8/2011)

    3/ VIRUS GÂY BỆNH ZONA CÓ THỂ LÀM DỄ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC.

    Những dữ kiện thu được trên hơn 300.000 người tuổi trung bình 51 tuổi gợi ý rằng virus gây bệnh zona có thể đóng một vai trò trong sự phát triển của bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques). Trong năm tiếp theo sau giai đoạn nổi ban của zona, tỷ lệ lưu hành của bệnh xơ cứng rải rác là 4 lần quan trọng hơn tỷ lệ được quan sát trong số 900.000 người chứng không bị nhiễm bởi virus (0,009% thay vì 0,003%).
    (SCIENCE ET AVENIR 9/2011)

    4/ MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÀNG BÉO PHÌ, THÌ KHẢ NĂNG SINH ĐẺ CÀNG HẠ THẤP.

    Lần đầu tiên, ảnh hưởng âm tính của một sự gia tăng thể trọng (surcharge pondérale) lên khả năng sinh sản (fertilité) của những người đàn ông đã được xác lập bởi một công trình nghiên cứu rộng rãi của Pháp. Công trình này đã được bắt đầu thực hiện trên 1940 người vào tháng 9 năm 2010. Công trình nghiên cứu này nhằm vào nhiều tham số : thể tích và độ toan (acidité) của tinh dịch, nồng độ, số lượng và tính di động của các tinh trùng, cũng như tỷ lệ những thể không điển hình của những tế bào sinh dục. Các phân tích phát hiện một cách rõ ràng rằng bệnh nhân càng thặng dư thể trọng, thì chất lượng và số lượng của tinh dịch càng giảm. Thế mà bởi vì trọng lượng của một người đàn ông càng gia tăng khi càng lớn tuổi, nhất là sau tuổi tứ tuần, nên trên bình diện thống kê ta quan sát thấy rằng khi một người đàn ông càng già đi, thì chất lượng tinh dịch của ông ta càng giảm xuống.
    (SCIENCE ET VIE 9/2011)

    5/ BỆNH BÉO PHÌ : MỘT VACCIN ĐẦY HỨA HẸN.

    Ghréline là một kích thích tố kích thích ăn ngon miệng. Nồng độ của nó gia tăng trước các bữa ăn và giảm đi khi no nê. Trong trường hợp quá thừa, hormone này làm dễ sự lên cân bằng cách làm gia tăng sự cung cấp thức ăn và làm giảm tiêu phí năng lượng. Trong hội nghị nội tiết học vừa qua ở Boston, nhóm nghiên cứu do GS Mariana Monteiro (đại học Porto) điều khiển đã trình bày những kết quả đáng phấn khởi thu được nhờ một vaccin ở con chuột béo phì. Thuốc chủng qua hệ miễn dịch gây nên sự tạo thành các kháng thể antighréline, phong bế tác dụng của hormone ghréline. Vaccin đã được tiêm vào hai nhóm : nhóm những chuột béo phì, còn nhóm kia gồm những con chuột bình thường. Một nhóm chuột thứ ba dùng làm chứng đã nhận một placebo. Kết quả : Tất cả những con chuột được tiêm chủng đã sản xuất những nồng độ tăng cao các kháng thể antighréline và làm gia tăng các tiêu hao năng lượng của chúng. Vào cuối công trình nghiên cứu, các con chuột béo phì ăn ít hơn nhiều những con chuột đã nhận placebo. Sự mất cân đã diễn ra một cách hằng định.
    (PARIS MATCH 1/9 – 7/9/2011)

    6/ SCANNER LÀM GIẢM TỶ LỆ TỬ VONG CỦA UNG THƯ PHỔI.

    Những ưu điểm được so sánh của chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc (scanner hélicoidal) và của chụp X quang để phát hiện ung thư phổi đã là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận. Nhóm nghiên cứu của Christine Berg, thuộc National Cancer Institute ở Bethesda (Hoa kỳ), vừa dành cho scanner một ưu điểm quan trọng : chụp cắt lớp vi tính cho phép làm giảm 20% số những trường hợp tử vong ở những người đang hút thuốc và những người đã từng hút thuốc. Trước tiên, kết quả không gây ngạc nhiên bởi vì chụp X quang không phân biệt được những cấu trúc cơ thể học của phổi, trái với chụp cắt lớp vi tính (CT scan) tạo nên những hình ảnh dưới dạng lớp cắt (tranches), cho phép nhận diện sớm một khối u. Nhưng lợi thế trên tỷ lệ tử vong cần phải được chứng tỏ. Do đó xuất hiện công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, được phát động vào năm 2002 và nhằm vào 53.500 người đang hút hay đã từng hút thuốc, từ 55 đến 74 tuổi, không có triệu chứng lẩn tiền sử ung thư vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu. Một nửa trong số những người này đã chịu 3 thăm dò phát hiện hàng năm bằng chụp cắt lớp vi tính và nửa kia bằng chụp X quang. Sau khi điều trị những ung thư được phát hiện, cuối năm 2009, các nhà nghiên cứu đã tính được 356 trường hợp tử vong trong nhóm “ scanner ” so với 443 trong nhóm “ chụp X quang ”. Cần xác định rõ : tỷ lệ dương tính giả (chẩn đoán sai) là 1,9% cao hơn với nhóm scanner.“ Cần phải đối chiếu việc giảm tỷ lệ tử vong với những tai hại của những dương tính giả ”, các tác giả đã kết luận như vậy.
    (SCIENCE ET VIE 9/2011)

    7/ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT : GIỮA TUỔI CỦA NGƯỜI CHA VÀ DI TRUYỀN.

    Một mối liên hệ giữa nguy cơ bị bệnh tâm thần phân liệt và tuổi của người cha vừa được xác lập bởi một công trình nghiên cứu của Inserm. Được công bố trong tạp chí Encéphale, bài báo chứng tỏ rằng tần số của căn bệnh phức tạp này gia tăng với tuổi của người cha lúc thụ thai. Bệnh tâm thần phân liệt, gây bệnh cho 24 triệu người trên thế giới, bao gồm những ảo giác (hallucinations) hòa lẫn với những ý nghĩ mê sảng (idées délirantes), Nhóm nghiên cứu của GS Franck Schurhoff, thuộc pôle Psychiatrie của trung tâm bệnh viện Henri-Mondor (Créteil), đã phân tích 13 công trình nghiên cứu được công bố trong 10 năm qua, bao gồm hàng chục ngàn bệnh nhân tâm thần phân liệt mà tuổi của người cha được biết đến. Kết quả thật rõ ràng : nguy cơ nhân lên gấp hai bắt đầu từ 35 tuổi và gấp 4 trên 50 tuổi. Theo các tác giả, vì căn bệnh có một yếu tố di truyền mạnh, nên giả thuyết về sự truyền các biến dị (mutations) xảy ra vào giai đoạn sinh tinh trùng (spermatogenèse) là đáng tin tưởng nhất, mối liên hệ này đã không được nhận thấy nơi người mẹ.

    Một công trình nghiên cứu khác, được thực hiện trên 42 người và được công bố trong Nature Genetics, đã phân tích những trường hợp được gọi là lẻ tẻ (cas sporadiques), nghĩa là không có tiền sử gia đình và thường các công trình nghiên cứu di truyền không xét đến. Nhóm nghiên cứu của Marie-Odile Krebs (Inserm-hopital Sainte-Anne, Paris), cộng tác với các nhà nghiên cứu Canada, đã quan tâm đến việc nhận diện những biến dị di truyền (variations génétiques) được gọi là mới (de novo), nghĩa là hiện diện ở những bệnh nhân nhưng không ở bố mẹ của họ. Thế mà, những biến dị (mutations) được tìm thấy có liên quan đến những gène trước đây đã không bao giờ có can dự. Một hy vọng để làm tiến triển các điều trị. Bởi vì hiện nay, 1/3 các bệnh nhân đề kháng với các điều trị hiện có.
    (SCIENCES ET AVENIR 9/2011)

    8/ MỘT GENE “ NGẮT ”(INTERRUPTEUR) HOẠT HÓA BỆNH ĐỘNG KINH THÙY THÁI DƯƠNG (EPILEPSIE TEMPORALE)

    Trong bệnh động kinh phát xuất từ thùy thái dương (épilepsie temporale), xảy ra sau một viêm màng não hay một chấn thương sọ, một gène trở nên hoạt động trong khi nó vẫn yên lặng vào lúc bình thường. “ Gène interrupteur ” này, được nhận diện bởi Christophe Bernard (Inserm, đại học Aix-Marseille) và được mệnh danh là NRSF (Neuron-Restrictive Silence factor), biến đổi sự biểu hiện của 1800 gène. Phong bế tác dụng của nó ở chuột làm kềm hãm bệnh động kinh và làm giảm số các cơn động kinh. Như thế ta hy vọng có được một điều trị phóng ngừa ở người.
    (SCIENCE ET VIE 9/2011)

    9/ 11 RỐI LOẠN TÂM THẦN : RỐI LOẠN ÁM ẢNH XUNG LỰC CƯỠNG BỨC (TOC : TROUBLE OBSESSIONEL COMPULSIF).

    Thứ ba 19/3/2011, bệnh viện la Pitié-Salpêtrière ở Paris, hội nghị của Hiệp hội về những rối loạn ám ảnh xung lực cưỡng bức của Pháp (Aftoc : Association française des troubles obsessionnels compulsifs). Trên sân khấu của hội trường, Halina cầm micro. Thật khó mà tưởng tượng rằng cô thiếu nữ năng động và tươi cười này chỉ mới cách nay vài tháng đã bị một thể cấp tính của chứng rối loạn ám ảnh xung lực cưỡng bức (TOC ; trouble obsessionnel compulsif). “ Tôi đã không còn sống nữa, cô đã tóm tắt như thế những năm dài đau khổ của cô. Suốt ngày tôi bị hướng vào rối loạn ám ảnh xung lực cưỡng bức của mình : tôi kiểm tra thường xuyên để xem những plaque de cuisson có đúng là đã được tắt hay chưa, cửa đi vào nhà tôi có đúng là được khép kín hay không, Halina đã nhớ lại như vậy. Những chi tiết này tuy có vẻ vô hại, nhưng biến thành ác mộng khi những thủ tục kiểm tra này kéo dài nhiều giờ mỗi ngày.

    RỐI LOẠN ÁM ẢNH XƯNG LỰC CƯỠNG BỨC LÀ GÌ ?

    Cơ sở thật sự của căn bệnh, đó là sự ám ảnh (obsession). Những ý nghĩ tái diễn mà bệnh nhân không thể đuổi ra khỏi tâm trí mình, tạo nên một tình trạng lo âu dữ dội. Để làm dịu bớt nỗi lo âu, khi đó não bộ thiết đặt những nghi thức (rituels), những xung lực thúc ép (compulsions), cho phép làm dịu bớt, một cách tạm thời, người bệnh, đang bị xâm nhập bởi những ám ảnh đủ loại. Thí dụ Halina thường trực lo sợ là đã để cửa mở (ám ảnh). Để là dịu bớt nỗi lo âu gây nên bởi ý nghĩ ám ảnh (pensée obsédante) này, cô đã kiểm tra nhiều chục lần mỗi ngày để xem cửa có đúng là được đóng kỹ hay không (compulsion).

    Hành động kiểm tra (vérification) là đáp ứng thông thường nhất trong số những đáp ứng xung lực cưỡng bức (réponse compulsive), nhưng chứng rối loạn ám ảnh xung lực cưỡng bức (TOC) có thể được biểu hiện bằng nhiều cách khác : “ Có rất nhiều dạng lâm sàng khác nhau : ta đếm được có khoảng 60 dạng TOC khác nhau ”, Bruno Aouizerate, giáo sư tâm thần thuộc centre hospitalier Charles-Perrens de Bordeaux đã xác nhận như vậy. Ví dụ ta tìm thấy những ám ảnh sợ bị lây nhiễm (obsessions de contamination) khiến nhiều bệnh nhân trải qua hàng giờ để lau chùi tất cả hay để rửa các bàn tay cho đến khi chảy máu. Ta cũng nói những ám ảnh mong tìm kiếm sự đối xứng và thứ tự (obsession de symmétrie et d’ordre), gây nên những xung lực thúc ép xếp đặt (compulsion de rangement) hay cả những TOC thúc đẩy các bệnh nhân tích lũy vài đồ vật một cách bệnh hoạn.

    NHỮNG AI BỊ LIÊN HỆ ?

    Chứng rối loạn ám ảnh xung lực cưỡng bức (TOC) thường phát ra vào cuối thời kỳ thiếu niên, mặc dầu có những thể xảy ra sớm hơn. Một lứa tuổi có nguy cơ thường khó xác định bởi vì, như Bruno Aouizerate đã giải thích, một TOC không xảy ra một cách hiển nhiên trong một sớm một chiều.“ Khởi đầu hiếm khi đột ngột : nói chung, bệnh lý xuất hiện một cách âm ỉ. ” Thí dụ các bệnh nhân có thể sống nhiều năm với rối loạn mà không ai phát hiện. Ngay cả ngày nay, ít có bệnh nhân được chẩn đoán một cách đúng đắn và lại còn ít hơn những bệnh nhân đến để được điều trị. Tuy nhiên rối loạn tâm thần này không hẳn là hiếm hoi về mặt dịch tễ học.“ Trong những năm 1950, ta ước tính rằng 0,05% dân chúng bị điều mà hồi đó ta gọi là loạn tâm thần ám ảnh (névrose obsessionnelle), thầy thuốc chuyên khoa tâm thần nói tiếp như vậy. Hiện tại, những công trình nghiên cứu mới nhất báo cáo một tỷ lệ lưu hành từ 2 đến 3%. ” Một con số đặt chứng rối loạn ám ảnh xung lực cưỡng bức trong số những bệnh tâm thần phổ biến nhất.

    NHỮNG NGUYÊN NHÂN LÀ GÌ ?

    Ngoài sự hiện hữu của những thể trạng di truyền thuận lợi (có những “ gia đình bị TOC ”) hay sự hiện diện của những vùng não bộ tăng hoạt (được phát hiện nhờ những tiến bộ chụp hình ảnh thần kinh chức năng (neuroimagerie fonctionnelle), ngày nay một phân tử nhỏ đang lôi kéo sự chú ý của những nhà khoa học. Sérotonine, một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng, dường như đóng một vai trò trong trường hợp rối loạn ám ảnh xung lực cưỡng bức. Ở mức nào ? “ Chúng tôi không biết nhiều, Bruno Aouizerate đã thú nhận như vậy. Lúc đầu, chúng tôi đã chứng thực rằng các thuốc chống trầm cảm có hiệu quả để điều trị TOC là những loại thuốc mà tác dụng dựa trên một sự ức chế quá trình giữ lại sérotonine (recapture de sérotonine) ở các khớp thần kinh. Chúng tôi đã suy diễn một cách đơn giản rằng sérotonine đóng một vai trò quan trọng. ” Từ đó, vài công trình nghiên cứu đã có thể đi xa hơn, thí dụ bằng cách cho thấy rằng ta có thể làm gia trọng những triệu chứng của bệnh TOC bằng cách làm hạ một cách nhân tạo nồng độ của phân tử sérotonine này.

    ĐIỀU TRỊ NHƯ THỂ NÀO ?

    “ Bất hạnh thay, chúng ta không có nhiều người lưu tâm đến những rối loạn lo âu (troubles anxieux) lắm, Bruno Azouizerate đã lấy làm tiếc như vậy. Ngoài ra, các bệnh nhân thường không được thông tin đầy đủ và ngay cả không biết rằng điều mà họ đang trải qua là do một căn bệnh thật sự. ” Thí dụ Halina, sau cùng, đã có thể đặt tên cho căn bệnh, không phải nhờ một thầy thuốc, mà nhờ xem một buổi truyền hình. Cô ta liên lạc với Aftoc (Association française des troubles obsessionnels compulsifs). Cơ quan này hướng cô ta về một liệu pháp nhận thức và hành vi (TCC : thérapie cognitive et comportementale), phương pháp điều trị thông thường nhất nhưng cũng hiệu quả nhất chống lại TOC, phối hợp với vài thuốc chống trầm cảm có tác dụng lên sérotonine.

    Liệu pháp này chủ yếu nhằm đối thoại với bệnh nhân. Hiểu rõ sơ đồ tư tưởng của bệnh nhân để vạch rõ tốt hơn tính chất vô lý của tình trạng ám ảnh của bệnh nhân. “ Ở những người bị chứng rối loạn ám ảnh xung lực cưỡng bức, tình trạng lo âu mạnh hơn trí năng (intellect), Vincent Tribou, nhà tâm lý học lâm sàng chuyên về liệu pháp nhận thức và hành vi (TCC) của rối loạn ám ảnh xung lực cưỡng bức (TOC) đã phân tích như vậy. Mục đích của chúng tôi, đó là làm bệnh nhân hiểu rằng chính sự lo âu làm sai lệch thực tế. ”

    Thí dụ điều đó cần tính toán với bệnh nhân các xác suất : xác suất bệnh nhân đã quên tắt plaque là gì ? Xác suất bệnh nhân đã không thấy plaque được thắp sáng lúc ra đi vào buổi sáng ? Xác suất bệnh nhân đã không cảm thấy một mùi khả nghi ? Một số các câu hỏi cho phép bệnh nhân nhận thức rằng nỗi ám ảnh đáng sợ như thế của bệnh nhân không cân xứng với những nguy cơ thật sự.

    Nhưng, như tên của nó đã chỉ rõ, liệu pháp nhận thức và hành vi (TCC) không chỉ có bài tập về nhận thức, mà còn bao gồm cả một công tác dài lâu về hành vi. “ Ta càng lập đi lập lại một hành động, thì hành động đó càng ghi vào trí nhớ và trở nên tự động, Vincent Trybou đã nói tiếp như vậy. Trong liệu pháp nhận thức và hành vi, ta sẽ dạy cho bệnh nhân tháo gỡ điều đã được học tập : làm lại hành động xung lực cưỡng bức (action de compulsion) để tự động hóa một hành vi mới, sẽ thay hành vi cũ. ” Một cách cụ thể, người điều trị cho bệnh nhân đối đầu với nỗi ám ảnh của mình, như đụng vào một thùng rác mà không được rửa tay sau đó. Để điều trị chứng lo âu, liệu pháp làm bệnh nhân phải trải qua nhiều giai đoạn sinh lo âu (phases anxiogènes). Hiệu quả chứ ?“ Liệu pháp thường được phối hợp với các thuốc chống trầm cảm và ta quan sát thấy trong gần 70% các trường hợp một sự giảm ít nhất 30 đến 35% mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng ”, Bruno Aouizerate đã xác nhận như vậy. Điều đó có vẻ ít ỏi, nhưng đối với Halina, đã chấm dứt liệu pháp nhận thức và hành vi năm vừa rồi, đó là một tiến bộ to lớn. “ Hôm nay, tôi làm nhiều việc, tôi đã đi học lại. Giờ tôi phải đi kiếm con tôi ở trường ! ”
    (HORS SERIE SCIENCE ET VIE 6/2011)

    10/ UNG THƯ VÚ : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ.

    BS Buoillet, thầy thuốc chuyên về ung thư của bệnh viện Avicenne (Bobigny, Paris) bình luận về những kết quả của công trình nghiên cứu mới nhất của Hoa Kỳ, chứng minh một sự giảm nhiều các nguy cơ nhờ hoạt động vật lý đều đặn.

    Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi tỷ lệ luu hành của ung thư vú ?
    BS Bouillet : Ở Pháp mỗi năm 35.000 trường hợp mới được liệt kê. Thật là nhiều ! Nhất là qua nhiều năm tháng các ung thu vú gia tăng một cách hằng định. Nhưng nếu được chẩn đoán sớm, chúng có 80% cơ may được chữa lành.

    Hỏi : Trong số những yếu tố nguy cơ, những yếu tố nguy cơ nào “ có thể được biến đổi ” (modifiable) bằng một vệ sinh đời sống nào đó ?
    BS Bouillet : Về những nguy cơ không thể biến đổi được (risques non modifiables) (nhưng không nhất thiết dẫn đến sự tạo thành một ung thư), ta có thể kể : 1. những tiền sử gia đình ung thư vú ; 2. tuổi kinh nguyệt đầu tiên ; 3. tuổi khi có thai đầu tiên (phụ nữ càng trẻ thì càng có ít nguy cơ ; ngược lại nguy cơ này gia tăng ở các phụ nữ không có con). Những yếu tố nguy cơ có thể biến đổi được (facteurs de risques modifiables) và mới đây được xác nhận bởi những công trình nghiên cứu quốc tế là : 1. những yếu tố nguy cơ gây nên bởi một sự quá tải trọng lượng (surcharge pondérale) ; 2. sự nhàn rổi không hoạt động ; 3. một sự tiêu thụ rượu đều đặn.

    Hỏi : Những kết quả của công trình nghiên cứu quy mô lớn này, mới đây được công bố trong “ Journal of National Cancer Institute ” là gì ?
    BS Bouillet : Công trình nghiên cứu này, do một nhóm các nhà nghiên cứu của Bethesda tiến hành, đã được thực hiện ở 2569 phụ nữ tôn trọng một lối sống hoạt động, được so sánh với 2588 những bệnh nhân chứng khác vẫn giữ những thói quen nhàn rổi không hoạt động. Các kết quả đã rất là chứng thực : ở những phụ nữ xét đến những yếu tố nguy cơ có thể biến đổi này, hoạt động vật lý đều đặn, bỏ rượu và giảm cân, ta đã quan sát thấy một sự giảm 23% nguy cơ phát triển một ung thư vú, so với những phụ nữ chứng. Và khám phá đáng ngạc nhiên : ngay cả những phụ nữ có những yếu tố không thể biến đổi được cũng đã vẫn có thể hưởng lợi (ở một mức độ ít hơn) việc biến đổi vệ sinh đời sống của họ.

    Hỏi : Công trình nghiên cứu mới nhất này có xác nhận những kết quả trước đây không ?
    BS Bouillet : Vâng, 3 công trình được thực hiện ở Nhật Bản, ở Mễ tây cơ và ở Bắc Mỹ mới đây đã được công bố trong nhiều tạp chí khoa học khác nhau. Tất cả các kết luận đều cho thấy cùng những con số : một sự giảm 25% nguy cơ nhờ xét đến những yếu to nguy cơ có thể được biến đổi như tình trạng nhàn rổi không hoạt động, thể trọng và rượu.

    Hỏi : Làm sao ông giải thích những cơ chế sinh học dẫn đến một sự giảm nguy cơ ung thư vú như thế ?
    BS Bouillet : Hoạt động vật lý, việc làm giảm sự gia tăng thể trọng (do đó giảm các mô mỡ) và một chế độ ăn uống lành mạnh không có rượu đều cùng chung sự kiện là làm hạ sự sản xuất quá mức của 3 hormone : các œstrogène, insuline và leptine. Đó là 3 yếu tố tăng trưởng (facteur de croissance) kích thích sự tăng sinh những tế bào ung thư. Khi ta làm giảm nồng độ của chúng, ta cũng làm giảm khả năng nuôi dưỡng những tế bào ác tính vốn đã hiện hữu.

    Hỏi : Sau tất cả những kết quả của các công trình nghiên cứu này, những lời khuyên về vệ sinh đời sống của ông là gì ?
    BS Bouillet : 1. Thực hiện 3 giờ mỗi tuần một hoạt động vật lý : bước nhanh, xe đạp, thể dục nhẹ, bơi lội…2. Tiêu thụ càng ít càng tốt các loại mỡ bảo hòa (graisses saturées), tránh những món ăn có sauce, những món ăn phát xuất từ công nghệ thực phẩm, những loại đường hấp thụ nhanh (sucres rapides). Hạn chế thịt đỏ (viande rouge) xuống còn 300 g mỗi tuần. Chọn những thức ăn có nhiều sợi (brocolis, choux-fleurs..) : những chất sợi do làm tăng nhanh nhu động ruột, loại bỏ những chất bã có khả năng sinh ung thư. Ưu tiên những loại cá giàu oméga 3 : cá ngừ (thon), cá thu (morue), sardine...3. Loại bỏ thuốc lá và rượu.

    Hỏi : Sau một ung thư vú được điều trị, những quy tắc về vệ sinh đời sống này phải chăng cũng có lợi đối với những nguy cơ tái phát ?
    BS Bouillet : Những kết quả của một công trình nghiên cứu được công bố 2010 trong “ Medical Oncology ” cho thấy rằng các quy tắc về vệ sinh đời sống làm giảm 50% những nguy cơ tái phát của những khối u vú này. Vệ sinh đời sống cũng làm giảm tỷ lệ tái phát của những ung thư đại tràng và tuyến tiền liệt.

    Hỏi : Trong công tác phòng ngừa, những chiến lược được thiết đặt bởi các thầy thuốc chuyên ung thư là gì ?
    BS Bouillet : Một hiệp hội, Cami, đã được thành lập nhằm đề nghị đối với những bệnh nhận được điều trị vì một loại ung thư, những buổi hoạt động vật lý đặc biệt (thích ứng đối với tình trạng sức khỏe của họ). Từ nay đã trở thành quốc gia, hiệp hội này đã thiết lập nhiều trung tâm trong các bệnh viện.
    (PARIS MATCH 1/9-7/9/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (16/9/2011)

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #12 Posted : Saturday, September 1, 2012 4:51:06 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 243

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ HÁNG : CÁC KHỚP GIẢ ĐƯỢC THÍCH ỨNG HƠN.

    Sự kiện làm ngừng đau đớn khiến càng ngày càng có nhiều bệnh nhân trẻ muốn được thay khớp háng giả (prothèse de la hanche).

    CHIRURGIE. Mặc dầu 140.000 khớp háng giả toàn bộ (PTH : prothèse totale de hanche) được đặt mỗi năm ở Pháp mang lại lợi ích chủ yếu cho những người vượt qua 60 tuổi và đôi khi những người 90 tuổi, nhưng càng ngày càng nhiều những người trưởng thành còn trẻ thích được mổ không phải đợi chờ hơn là phải chịu giảm hoạt động vì lý do đau đớn.

    Là nguồn cung cấp chủ yếu các ứng viên cho phẫu thuật, bệnh hư khớp háng (arthrose de la hanche) hay coxarthrose, là do sự hao mòn của các sụn của chỏm xương đùi và của ổ cối (cotyle), xoang khớp háng trong đó chỏm xương đùi được đưa vào. “ Hư khớp háng có thể là do những đặc điểm cơ thể học, những dị tật nhỏ xíu, những rối loạn tăng trưởng xương trong thời kỳ thơ ấu hay là hậu quả của một tai nạn, GS Philippe Massin, thầy thuốc giải phẫu chỉnh hình (CHU Bichet, Paris) đã giải thích như vậy. Vài người bị béo phì và việc luyện tập tích cực nhiều loại thể thao (bóng đá, karaté) cũng có thể gây nên hư khớp háng. Ngày xưa là nguyên nhân chính của hư khớp háng, bệnh trật khớp háng bẩm sinh (luxation congénitale de la hanche) đã thoái triển nhiều từ khi ta biết điều tra phát hiện nó lúc trẻ sinh ra đời, mặc dầu chứng bệnh này vẫn còn được thấy ở những người già.

    “ NHỒI MÁU XƯƠNG ”

    Một chỉ định khác của khớp háng giả toàn phần là hoại tử chỏm xương đùi (nécrose de la tête du fémur). Mặc dầu có nguồn gốc mạch máu, nhồi máu xương này có thể có nguyên nhân là chứng nghiện rượu, dùng thuốc corticoides, một tai biến lúc lặn (accident de plongée) hay một tăng triglycéride-huyết.

    Mặc dầu từ lâu khớp háng giả toàn phần là quy tắc trong vài bệnh mãn tính, nhưng nó cũng được sử dụng trong chấn thương xương chậu, và càng ngày càng nhiều trong những trường hợp gãy cổ xương đùi bởi vì nó cho phép một sự phục hồi nhanh hơn so với một khớp giả không hoàn toàn và tránh được các hoại tử xương.

    Khớp giả thay thế phần trên của xương đùi (cổ và đầu xương đùi được cắt bỏ), và ổ cối (cotyle), xoang khớp háng của khung chậu. Trục đứng (pivot), được đẩy vào trong ống tủy cửa xương đùi, được cấu tạo bằng chất titane nếu nó chạm vào trong xương và xương được tái tạo chung quanh, hay bằng thép inoxidable nếu nó được gắn bằng chất ciment. Được đưa lên thân trục này, một đau khớp giả đến khớp vào trong một cupule được gắn vào trên ổ cối (cotyle). Thành phần của hai mặt khớp (couple de frottement), thay đổi tùy theo các khớp giả : kim loại trên polyéthylène, gốm (céramique) trên polyéthylène, kim loại trên kim loại hay gốm trên gốm...

    “ Can thiệp kéo dài khoảng 1giờ 30, dưới gây tê tại chỗ-vùng (anesthésie loco-régionale), tương tự một péridurale, hay với gây mê tổng quát. Gây mê tại chỗ vùng hủy bỏ đau đớn, nhưng không hủy bỏ những tension mécanique và những tiếng ồn, và vài bệnh nhân thích được gây mê hoàn toàn hơn, GS Migaud, thầy thuốc ngoại chỉnh hình (CHU Lille) đã xác nhận như vậy. Lúc mở đường vào khớp cửa hàng không phải dễ. “ Mỗi phẫu thuật viên có lối vào (voie d’abord) ưa thích của mình, trước, trước-ngoài, sau-ngoài...tất cả đều có ưu điểm và khuyết điểm, và bắt buộc một đường vào nào cả, GS Massin đã chỉ rõ như vậy. Điều chủ yếu là phẫu thuật viên nắm vững kỹ thuật của mình, nghĩa là kỹ thuật thường áp dụng khi mổ. ”

    TUỔI THỌ 20 NĂM

    Nhập viện kéo dài 4 đến 5 ngày nếu mọi chuyện diễn ra tốt đẹp. Nhờ điều trị giảm đau, người được mổ thường thực hiện những bước đầu tiên với đôi cannes ngay ngày hôm sau của giải phẫu, và sự tái tục hoạt động hoàn toàn trong 3 tháng, một trên hai không cần những buổi phục hồi chức năng (rééducation). “ Nhưng ngoại khoa gần như ngoại trú (chirurgie ambulatoire), như ở Hoa kỳ, đã là một thất bại vì ở đây người ta cho bệnh nhân xuất viện ngay hôm mổ, GS Philippe Anract, thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình (CHU Cochin, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Tất cả chúng tôi tìm cách ưu tiên động tác ít xâm nhập nhất. Nhưng như thế không có nghĩa là càng ngày càng phải làm giảm đường mổ vào khớp, bằng mọi giá làm cho vết sẹo nhỏ nhất, để rồi không thể đặt khớp giả vào khớp một cách đúng đắn và sau đó phải mổ lại.” Nếu được thích ứng và đặt tốt, một khớp háng giả kéo dài ít nhất 20 năm.

    Mặc dầu rất được tiêu chuẩn hóa, mặc dầu được thực hiện trong những điều kiện vô trùng nghiêm túc, phẫu thuật này vẫn có những biến chứng, mặc dầu tỷ lệ ở mức tối thiểu đối với những kíp mổ tốt nhất : viêm tĩnh mạch (phlébite) (dưới 0,4%), mà ta hạn chế bằng cách cho bệnh nhân bước trở lại tức thì và điều trị kháng đông, trật khớp giả (luxation sur prothèse) (dưới 1%) và những nhiễm trùng (dưới 0,3%), được ngăn ngừa bởi kháng sinh và thay đổi nhiều tùy theo năng lực của các kíp mổ. Chứng béo phì, bệnh đái đường là những yếu tố nguy cơ.

    CÁC TIẾN BỘ

    Đối với GS Migaud, khớp háng giả toàn bộ (PTH) đã trải qua nhiều tiến triển trong những năm qua. “ Khớp giả không ciment đã làm giảm thời gian mổ. Sự phát triển khớp giả với khả năng chuyển động kép (prothèse à double mobilité) (chỏm xương đùi đến khớp vào trong một cupule trung gian còn cupule này di động trong cupule được gắn vào ổ cối của khung chậu) đã làm giảm rất nhiều nguy cơ trật khớp. Tiến triển thứ ba, còn ít phổ biến ở Pháp, đó là resurfaçage, trong đó xương đùi được bảo tồn toàn bộ, và toàn bộ khớp giả được gắn như một capuchon lên đầu xương. Rất kỹ thuật, phương pháp này chỉ áp dụng cho những người có xương bị hao mòn nhưng vẫn lành mạnh và cho phép một sự phục hồi nhanh hơn đồng thời gìn giữ vốn xương (capital osseux), dành cho những phẫu thuật trong tương lai nếu xảy ra. ”
    (LE FIGARO 19/9/2011)

    2/ CÁC KHỚP HÁNG GIẢ : NHỮNG VẬT LIỆU THƯỜNG XUYÊN TIẾN TRIỂN

    Mặc dầu những toan tính thiết đặt khớp háng giả đã bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, nhưng phải đợi đến đầu những năm 60 để chúng thật sự trở nên có chức năng. Từ đó các tiến bộ đã diễn ra thường xuyên, nhất là những tiến triển trong lãnh vực các vật liệu tạo các mặt khớp. Ngày nay, các khớp háng giả sử dụng 3 loại “cặp cọ sát ”(couple de frottement) khác nhau.

    CERAMIQUE (GOM), VẬT LIỆU CHUẨN

    Một trong những cặp cọ sát xưa nhất là cặp “ cứng-mềm (couple dur-mou), với chỏm xương đùi bằng thép ionxydable, bằng cobalt hay céramique, khớp với, về phía khung chậu, trong một cupule bằng polyéthylène được gắn ciment vào ổ cối (cotyle). “ Đó là cặp quy chiếu, với một thời gian nhìn lại 25 năm ”, GS Moussa Hammadouche (CHU Cochin) đã nhấn mạnh như vậy. Những hạn chế chủ yếu, polyéthylène hao mòn, do đó cần phải mổ lại sau một khoảng thời gian khoảng 15 năm, và phóng thích những mảnh vỡ có khả năng tạo một tình trạng tiêu xương (ostéolyse). Để tránh tình trạng tiêu xương này người ta đã chế tạo polyéthylène rất nối kết (hautement réticulé) : bằng cách làm lan tỏa (irradier) vật liệu này, để làm cho nó đề kháng với sự hao mòn.“ Với một thời gian nhìn lại 10 năm, tình trạng hao mòn đã giảm bớt một cách rõ rệt, và không còn tình trạng tiêu xương nữa ”, thầy thuốc ngoại chỉnh hình đã xác nhận như thế.

    Cặp gốm-gốm (couple céramique-céramiqe) cũng đã mang lại nhiều tiến bộ. Đó là cặp được sử dụng nhất hiện nay. “ Cặp này hầu như không bị mòn và những mảnh vỡ hiếm hoi là những chất trơ (inerte), GS Migaud đã chỉ rõ như vậy. Những trường hợp bị vỡ, ngoại lệ, chủ yếu tùy thuộc vào phẫu thuật viên. Trong 1 đến 2% cac trường hợp có thể xuất hiện một tiếng kêu cọt kẹt dai dẳng của khớp giả, đôi khi rất khó chịu và cần phải mổ lại. ”

    KIM LOẠI GÂY THẤT VỌNG.

    Cặp kim loại-kim loại (couple métal-métal), sau một thời kỳ rất được hâm mộ, đã biến mất trong những năm 1975, bởi vì chất lượng của vài khớp giả gây thất vọng. “ Ngoài ra hợp kim chrome-cobalt phóng thích một ít chrome và cobalt trong máu. Nhưng registre scandinave đã cho thấy rằng không có một nguy cơ sinh ung thư nào ”, GS Migaud đã giải thích như vậy. Cặp kim loại-kim loại đã được đưa vào sử dụng lại 20 năm sau.

    Trong những năm qua, một khớp giả kim loại-kim loại, ASR hiệu DePuy (chi nhánh Johnson & johnson) đã bị nhiều biến chứng, nguyên nhân của một tỷ lệ cao những trường hợp phải mổ lại (12%). Những biến chứng đã khiến nhà chế tạo phải rút những khớp giả này ra khỏi thị trường vào năm 2010. Nhiều vụ kiện đang được tiến hành, nhất là ở Hoa Kỳ và Đức. Ở Pháp lúc những khớp giả thuộc loại này được rút ra khỏi thị trường, vào tháng 7 năm 2010, giới hữu trách y tế chỉ được biết 5 trường hợp báo cáo của cơ quan cảnh báo vật liệu (matériovigilance) đối với 379 khớp giả thuộc loại này. “ Rất được sử dụng làm khớp háng giả cổ điển và resurfaçage ở Hoa Kỳ và Anh Quốc nhưng ít được dùng ở Pháp, các khớp giả kim loại-kim loại có đầu to (prothèse métal-métal à grosse tête) đã cho những kết quả đầy tai họa, với nhiều trường hợp phải mổ lại sớm, GS Hammadouche đã xác nhận như vậy. Những hậu quả khác được quan sát thấy với nhiều cặp kim loại-kim loại, “ những phản ứng dị ứng nhất à ở những phụ nữ trẻ và những u giả hiền tính nhưng gây hủy hoại, GS Massin đã nói thêm như vậy.

    Trong việc chế tạo các khớp giả cũng đã đạt nhiều tiến bộ. Khớp giả được gắn bằng xi măng vẫn giữ vị trí ưu tiên. Đối với GS Hammadouche, “ theo các registre scandinave, kỹ thuật gắn vào xương đùi bằng chất xi măng là kỹ thuật đáng tin cậy nhất về lâu về dài, mặc dầu kỹ thuật này đang thụt lùi ở Hoa Kỳ và Pháp.”. Về mặt xương háng, xi măng cũng được ưa thích hơn ở những bệnh nhân già có xương quá mảnh đến độ không thể gắn cupule bằng một cách nào khác. Ưu điểm của gắn khớp giả vào xương đùi không cần chất xi măng (fixation sans ciment) làm thu giảm thời gian giải phẫu và có được một độ cứng rất lớn: trục đứng (pivot), được đẩy vào trong ông tủy xương đùi (canal fémoral), được làm bằng hợp kim titane được bọc bởi hydroxyapatite rất thích xương (ostéophyle). Quá trình tạo xương trong ba tuần sau cùng gắn chặt khớp giả vào xương đùi. Khuyết điểm : đau dai dẳng ở đùi ở vài bệnh nhân.
    (LE FIGARO 19/9/2011)

    3/ VÒI FALLOPE

    Fallope đã mô tả những cấu trúc đa dạng như corde du tympan, những dây thần kinh của nhãn cầu, cơ vòng bàng quang (sphincter vésical), sự phân bố mạch (vascularisation) của dương vật hay mầm răng (germe dentaire). Được mệnh danh là “ Esculape của thế kỷ của ông ”, Fallope nổi tiếng chủ yếu qua những phát hiện về tính chất sâu kín của phụ nữ và của lứa đôi.

    Đó là lời bình luận mà ta tìm thấy trong “ Đại tự điển lịch sử hay sự pha trộn kỳ lạ của lịch sử thiêng liêng và phàm tục ” xuất bản năm 1740, cho thấy rằng, rất nhanh chóng, vòi trứng (trompe) và Fallope đã không tách rời nhau :“ Fallopio (Gabriel), thầy thuốc nổi tiếng sinh ở Modène năm 1523, đã theo học thực vật học, thiên văn học, triết học và nhất là cơ thể học, mà ông đã làm phong phú với những quan sát lỗi lạc... Ông đi khắp một phần lớn châu Âu, và bằng công trình của mình ông đã len lỏi vào trong những bí mật sâu kín nhất của thiên nhiên. Ông đã hành nghề y khoa với nhiều danh tiếng, và được tiếng là một trong những thầy thuốc khéo léo nhất của thời đại mình. Ta chịu ơn ông về sự khám phá các vòi (tubes) hay sừng (cornes) của dạ con, qua đó trứng, mà bây giờ phần lớn các thầy thuốc tin rằng con người được tạo nên, đi xuống từ các buồng trứng để vào tử cung, và ta gọi, vì ông, là các vòi Fallope.

    THẦY THUỐC NGOẠI KHOA THẤT BẠI, NHÀ CƠ THỂ HỌC THÀNH CÔNG.

    Con trai của Geronimo và Caterina Fallopio, Gabriel trước hết đã được dạy dỗ một cách cổ điển, nhưng vào lúc cha ông qua đời, mẹ ông gặp khó khăn lớn về tài chánh và lối thoát duy nhất là phải hành nghề trong giới tăng lữ. Do đó ông trở thành linh mục trong thành phố quê ông, Modène (Y), vào năm 1542, lúc mới 19 tuổi. Nhờ một bước ngoặc nhỏ của số mệnh, ông có thể tài trợ dự định của mình, học y khoa ở thầy Niccolo Machella. Ông này cho phép ông phẫu tích tử thi đầu tiên của mình hai năm sau đó. Tuy nhiên ông sống trong một tình trạng hết sức khốn cùng và chỉ kiếm đủ sống nhờ hành nghề y khoa. Bất hạnh thay cho các bệnh nhân của ông, ông ít có thiên khiếu đến độ nhiều trong số các bệnh nhân của ông bị chết. Ông quyết định bỏ khoa ngoại để theo cơ thể học (anatomie) và các phẫu tích (dissection), mặc dầu ông rất quan tâm đến phát minh những kỹ thuật ngoại khoa mới. Ông được bổ nhiệm làm trưởng bộ môn dược học ở Ferrare rồi bộ môn cơ thể học ở Đại học Pise trong khi ông chỉ mới 26 tuổi. Ở Florence, ông phẫu tích các xác chết của các con sư tử của vườn bách thú Medici và ông nói ngược lại Aristote, vốn mô tả xương là hoàn toàn rắn và không có tủy.

    NHỮNG PHÁT HIỆN CỦA CƠ THỂ CON NGƯỜI.

    Năng khiếu về cơ thể học của ông khiến người ta nghĩ rằng ông thực hiện giải phẫu sống (vivisection) trên người, nhưng dầu những lời cáo buộc này, ông vẫn được bổ nhiệm làm trưởng bộ môn cơ thể học, lần này ở Padoue, lúc ông được 27 tuổi. Những bài giảng của ông thành công đến độ chúng thu hút những sinh viên ưu tú, ngay cả các nhà cơ thể học. Giới hữu trách đại học lại tin tưởng ông và danh tiếng của ông không những được các ông hoàng biết đến mà ngay cả giáo hoàng Jules III. Gabriel Fallopio được gọi là “ Fallopius ”, là nhà phẫu tích (dissecteur) tỉ mỉ, không những nghiên cứu trên người mà còn cả các trẻ em, nhũ nhi và thai nhi. Ông mô tả những nếp gấp của ruột non, sự phát triển của xương và răng còn giỏi hơn điều mà André Vésale đã từng làm và đua tranh với Eustachi trong những mô tả của ông về bộ máy tiết niệu và tai. Nhưng chính trong lãnh vực phụ khoa mà ông là người đổi mới nhất lúc mô tả những vòi nổi tiếng mà ông gọi là “ vel tubae ” do hình dáng loe ra của loa vòi (pavillon), âm vật (clitoris), và ngay cả màng trinh của các trinh nữ, bị tranh cãi hơn nhiều. Chính ông cũng phát minh ra chữ âm đạo (vagin) và bác bỏ quan niệm cho rằng dương vật đi vào trong tử cung trong lúc giao hợp.

    MỘT TRỰC GIÁC THIÊN TÀI.

    Ông xuất bản cuốn sách duy nhất của ông lúc còn sinh thời,“ Observationes anatomicae ” và phải cần đúng 10 năm để tập hợp sau đó những điều ghi chép và gìn giữ tư tưởng của ông. Tất các các vấn đề đều được đề cập đến, chủ yếu trong cơ thể học, nhưng cũng về bệnh giang mai, balnéologie (nghệ thuật điều trị bằng nước nguồn y khoa), ngoại khoa, thành phần của các loại thuốc… sự quan tâm của ông đối với bệnh giang mai, trở thành dịch bệnh ở Âu Châu thời đó, đã thúc đẩy ông chế tạo một hệ thống bảo vệ. Bao dương vật (préservatif) sau đó được thử trên 1000 người đàn ông nhưng không gây nên sự lây nhiễm. Đó là một bao vải (fourreau d’étoffe), được đo theo từng cá thể, và được thắt dưới bao quy đầu bằng một dải hồng, để làm tình. Vì ít kín, nên bao dương vật này đã không được thành công lắm và cho đến mãi thế kỷ XIX mới biến mất. Lúc này bá tước Condom đề nghị nó với vua Charles II nhưng người ta không biết có phải là Fallopius đã gợi ý hay không. Gabriel Fallopio chết ở Padoue năm 1562 vì bệnh tràn dịch màng phổi do lao, lúc ôngchỉ mới 39 tuổi.
    (LE GENERLISTE 8/9/2011)

    4/ GIẾT CHẾT BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT TRONG TRỨNG NƯỚC
    NHỮNG ĐIỂM MỐC


    Hôm nay không có điều trị nào đối với bệnh dengue.

    Bệnh dengue (sốt xuất huyết), cũng được gọi là “ bệnh cúm nhiệt đới ” đã được mô tả ngay năm 1779. Ngày nay không có một vaccin cũng như một điều trị đặc hiệu nào chống lại căn bệnh này, gây dịch trong hơn 100 nước.

    Bệnh nhiễm trùng do virus này gây sốt, đau đầu, đau cơ và khớp, mệt mỏi, nôn, mửa và nổi ban. Ta thường tìm thấy tỷ lệ tiểu cầu trong máu bị giảm.

    Theo những ước tính, 50 triệu người bị nhiễm virus bệnh sốt xuất huyết mỗi năm, trong đó 500.000, nhất là các trẻ em, phát triển thể cấp tính, xuất huyết, được phát hiện năm 1950, giết chết ít nhất 2,5% các trường hợp.

    Khoảng 2,5 tỉ người đang sống trong những vùng có nguy cơ, chủ yếu trong những vùng nhiệt đới Châu Á-Thái Bình Dương và châu Mỹ La Tinh, nhất là trong những vùng đô thị và bán đô thị.

    Công tác chống bệnh hiện nay chủ yếu nhằm bảo vệ cá nhân bằng những thuốc đuổi muỗi (répulsifs) hay với các mùng màn. Dân chúng cũng được kêu gọi tránh những điều kiện thuận lợi cho muỗi, nhất là nước tù hãm.

    ĐIỂM CHỦ YẾU
    • Bằng cách gây nhiễm các con muỗi chịu trách nhiệm sự truyền bệnh với một vi khuẩn, Wolbachia, các nhà nghiên cứu dường như làm ngưng virus của bệnh dengue.
    • Giải pháp này có thể được sử dụng với ít phương tiện trong những vùng bị nhiễm để đẩy lùi dịch bệnh.

    Sử dụng một vi khuẩn để đẩy lùi sự tăng sinh của muỗi truyền virus của bệnh dengue, đó là điều mà những nhà khoa học người Úc vừa thực hiện. Và họ đã không những thực hiện điều này ở phòng thí nghiệm, mà còn cả trong thiên nhiên bằng cách thả hàng ngàn con muỗi trong tỉnh Queensland. Những con muỗi này đã phát triển lấn át những con muỗi truyền thống. Bằng cách sử dụng những con muỗi này, mà khả năng truyền bệnh bị hủy bỏ, các nhà khoa học hy vọng đẩy lùi một căn bệnh gây nhiễm cho hơn 50 triệu người.

    Ngoài việc sử dụng mùng và các chất đuổi muỗi (répulsifs), ta không chống lại được muỗi Aedes aegypti bao nhiêu. Loại muỗi này bị nhiễm virus bệnh sốt xuất huyết đồng thời được nuôi dưỡng nhờ máu người và sau đó tại gây nhiễm cho một người khác.

    MỘT PEMIERE MONDIALE

    Các nhà khoa học, công bố hôm nay trong Nature các kết quả của nghiên cứu, đã có ý tưởng sử dụng một vi khuẩn, Wolbachia, để gây nhiễm con muỗi. Trước hết họ đã sử dụng một giống gốc được biến đổi, chia đôi thời gian sống của các con muỗi, đi từ 30 xuống còn 15 ngày, điều này có nghĩa là một sự giảm các nguy cơ lan truyền của bệnh.

    Nhưng điều đó không đủ : do đó các nhà nghiên cứu đã nhận diện một biến thể của vi khuẩn, có tính chất tuyệt vời làm giảm rất nhiều lượng virus của bệnh dengue mà các côn trùng mang trong các tuyến nước bọt. Ngoài ra, loại vi khuẩn này còn có đặc điểm ngăn cản sự sản xuất trứng khi một con đực bị nhiễm giao cấu với một con cái không bị nhiễm. Đó là điều giải thích sự tăng sinh của dân số các con muỗi bị nhiễm bởi Wolbacteria khi các nhà khoa học thực hiện những thử nghiệm trong vùng Cairns, là nơi mỗi năm những trường hợp bệnh sốt xuất huyết được nhập cảng từ tiểu lục địa châu Á được chứng thực, GS Yves Van Laethem, thầy thuốc chuyên khoa các bệnh nhiễm trùng thuộc bệnh viện Saint-Pierre (Bruxelles) đã giải thích như vậy. Các con muỗi được đưa vào trong môi trường đã phát triển đến độ chiếm 100% dân số muỗi ở một nơi và 80% ở một nơi khác. “ Thoạt đầu, việc dùng vi khuẩn này không gây nguy cơ đối với người hay những côn trùng khác, nhưng dĩ nhiên điều này cần được kiểm tra. Cũng phải đảm bảo rằng kết quả là không có sự lan truyền bệnh sốt xuất huyết, nhưng đó là điều khả dĩ, vì lẽ virus không hiện diện trong nước bọt. Loại biến đổi này có thể được sử dụng để chống lại những virus khác, như virus của sông Nil, hiện diện ở vùng đông nam châu Âu.” Công trình này là trường hợp đầu tiên biến hóa một côn trùng hoang dã để làm giảm khả năng là một vecteur truyền bệnh cho người.
    (LE SOIR 26/8/2011)

    5/ CHỨNG CHÁN ĂN TÂM THẦN (ANOREXIE MENTALE)

    “ Khi tôi bắt đầu bị bệnh, người duy nhất đã thấy điều đó chính là mẹ tôi, Emmanuelle, 34 tuổi, bị bệnh chán ăn từ năm 17 tuổi, đã nhớ lại như vậy. Mẹ đã thấy tôi gầy ốm đi, ăn nhấm nháp trong chiếc đĩa. Tôi đã mất 5 kg trong vòng một tháng.” Mẹ của Emmanuelle đã mang cô đến thầy thuốc gia đình, không tỏ ra lo sợ. Rồi đến một thầy thuốc chuyên về dinh dưỡng, chẩn đoán ra căn bệnh. Nhưng vòng xoắn ốc vẫn tiếp tục. Emmanuelle khép mình lại, càng ngày càng ốm đi, cho đến khi xuống còn 27 kg, hoặc bằng một nửa trọng lượng của những năm đầu học trung học, khi đó một thầy thuốc học đường đã báo động gia đình cô bị ...chứng béo phì ! Trong 17 năm, căn bệnh của Emmanuelle đã trải qua nhiều thời kỳ thuyên giảm, vào lúc có cuộc đua sắc đẹp, những việc vặt...... trong thời kỳ đó Emmanuelle lên cân trở lại. Nhưng cứ mỗi lần bệnh lại tái phát, mặc dầu 12 năm theo tâm lý liệu pháp, (mà cô đã chấm dứt). Cuộc đấu tranh của cô đã chưa hết.

    CHỨNG CHÁN ĂN TÂM THẦN LÀ GÌ ?

    Chán ăn (anorexie) là một rối loạn về hành vi ăn uống (trouble du comportement alimentaire). Chẩn đoán được xác lập khi được phối hợp : mất cân dưới 85% thể trọng tối thiểu bình thường ; một sự sợ bị béo phì quá mức ; chối là không phải gầy gò ; sự mất kinh nơi một cô thiếu nữ, và một trong những yếu tố sau đây : hoặc là một chế độ ăn uống hạn chế (régime restrictif), hoặc những cơn ăn vô độ (boulimie) rồi gây mửa hay sử dụng các thuốc xổ. Tình trạng suy dinh dưỡng tiếp theo sau nói chung được biểu hiện bởi rụng tóc, mệt mãn tính, tình trạng khó ở, các rối loạn đường ruột, sự mất nước, một nồng độ cholestérol tăng cao, sự mất canxi (décalcification), sụt huyết áp. Và tiên lượng thật là nghiêm trọng : Trong khi 40% bệnh nhân được điều trị khỏi bệnh lành lặn, 40% vẫn giữ những triệu chứng đôi khi gây phế tật, và 20% vẫn chán ăn kinh niên, với những biến chứng có thể gây chết người.

    NHỮNG AI BỊ LIÊN HỆ BỞI CHỨNG BỆNH NÀY ?

    Tần số bệnh trong dân chúng thay đổi tùy theo các phương pháp được sử dụng để phát hiện (trắc nghiệm, ngưỡng trọng lượng). Nhưng các con số cho thấy rằng tần số quan trọng hơn ở các phụ nữ (9 đến 10 lần nhiều hơn). Ở các phụ nữ ta ước tính tỷ lệ lưu hành là từ 0,9 đến 2,2% với hai đỉnh cao từ 14 đến 18 tuổi. Tỷ lệ này có thể rất trầm trọng : theo các công trình nghiên cứu, tỷ lệ tử vong là từ 6 đến 9 lần quan trọng hơn đối với những người khác cùng lứa tuổi. Và, như Nathalie Godart, thầy thuốc tâm thần thuộc khoa tâm thần của Institut mutualiste Montsouris (Paris) đã nhấn mạnh, “ mặc dầu từ lâu ta hằng nghĩ rằng bệnh này chỉ liên quan đến các tầng lớp xã hội khá giả, nhưng bây giờ ta cũng biết rằng bệnh chán ăn tâm thần cũng có thể ảnh hưởng tất cả mọi người, ở Pháp cũng như những nơi khác. ”

    NHỮNG NGUYÊN NHÂN LÀ GÌ ?

    “ Không có sự giải thích đồng nhất ”, thầy thuốc tâm thần Nathalie Godart đã nhấn mạnh như thế. Tuy vậy, mặc dầu nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành, nhưng những nguồn gốc của chứng chán ăn tâm thần vẫn không được biết rõ. “ Ngay khi chứng chán ăn tâm thần được nhận diện vào thế kỷ XIX, các bố mẹ đã bị đánh giá là chịu trách nhiệm đã gây căn bệnh này cho con gái mình, trước khi thế kỷ XX chứng kiến sự xuất hiện của các lý thuyết mà đặc điểm chủ yếu là đưa ra một cái nhìn bệnh lý về gia đình hay vài thành viên trong gia đình ”, Cook-Darzens, thầy thuốc trị liệu gia đình thuộc khoa bệnh lý tâm thần của trẻ em và thiếu niên thuộc bệnh viện Robert René (Paris) đã viết như vậy. Nhưng lý thuyết này ngày nay đã hết thời, mặc dầu, như Nathalie Godart đã giải thích, trong các gia đình của những bệnh nhân chán ăn tâm thần (anorexique) có những người có những khó khăn tâm lý, dầu đó là trầm cảm (dépression), lo âu (anxiété), thậm chí cả chán ăn tâm thần. Nhưng ta không biết đó là nguyên nhân hay hậu quả. “Lý thuyết được nhất trí nhất từ nay, đó là chứng chán ăn tâm thần, cũng như chứng ăn vô độ (boulimie) có những nguyên nhân do nhiều yếu tố ”, thầy thuốc tâm thần nói tiếp.

    Đó là những yếu tố di truyền, sinh-thần kinh (neurobiologique), gia đình và văn hóa. Như thế, mặc dầu rối loạn này thường xảy ra hơn ở phụ nữ, nhưng tính chất di truyền của chứng bệnh được ước tính là 70%, mặc dầu không có một công trình nghiên cứu nào liên kết được một cách chắc chắn một gène chính xác với căn bệnh chán ăn này. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đã đưa ra vai trò khả dĩ của sérotonine và dopamine, hai messager hóa học của não bộ có can dự trong những hành vi nghiện ngập.

    Cũng vậy, vài nhà nghiên cứu tiếp tục nhấn mạnh ảnh hưởng của môi trường gia đình (tình trạng sinh non, cha mẹ ly dị sớm, được bảo vệ quá mức, quá mong chờ sự thành công, các rối loạn tâm thần) hay sự tác động của việc làm tăng giá trị của tình trạng mảnh khảnh trong giới truyền thông. Nhưng nhiên hậu, theo Nathalie Godart, chính tất cả tổng thể những yếu tố này, được liên kết một cách thay đổi, sẽ làm xáo trộn sự phát triển tâm thần (développement psychique) của trẻ em và dẫn đến bệnh chán ăn. Chứng chán ăn tâm thần này thường phát khởi vào tuổi dậy thì, thời kỳ của những đảo lộn sinh học và xã hội, như một toan tính nhằm đáp ứng để tái lập một sự quân bình tâm thần (un équilibre psychique) : thật vậy sự gầy ốm cho phép thoái lui về một giai đoạn phát triển trước và lấy lại sự kiểm soát bản thân mình và các mối quan hệ đối với kẻ khác. Do đó, các vòng tăng cường sinh học và tâm lý (boucles de renforcement biologique et psychologique) có thể duy trì rối loạn này. Nói một cách khác, bệnh chán ăn tâm thần tiến triển cho riêng nó. “ Điều đó phong bế các thanh thiếu niên trong những biểu hiện rất tương tự nhau, trong khi các đoạn đường đời và các lịch sử lại rất khác nhau đối với mỗi người ”, Nathalie Godart đã bình luận như vậy. Bà nhấn mạnh : Nhiên hậu, cái cách mà ta ra khỏi căn bệnh chán ăn tâm thần tùy thuộc cách mà ta đã đi vào nó.” Một điều chứng thực chủ yếu để điều trị, “ đã tiến triển nhiều và phải tiếp tục như thế trong một chiều hướng là chiều hưởng của nhiều chuyên khoa ” (multidisciplinarité)

    ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?

    Từ nay việc xử trí được khuyến nghị liên kết với những professionnel de santé và gia đình như là partenaire thérapeutique. Với, tùy theo mức độ trầm trọng, những điều trị ở hopital de jour hay nhập viện, ở trung tâm chuyên khoa. Ở đây một thầy thuốc tâm thần hay một nhà tâm lý học sẽ can thiệp để làm giảm bớt nỗi đau khổ tâm thần, và một thầy thuốc để điều trị những biến chứng của suy dinh dưỡng. Có hai mục tiêu : giúp đỡ bệnh nhân hiểu và thay đổi hành vi mình, nhưng đồng thời thúc đẩy bệnh nhân cải thiện những quan hệ xã hội và tìm lại sự tự tin.
    (SCIENCE ET VIE, HORS SERIE 6/2011)


    6/ KHÓI THUỐC ĐỂ LẠI DẤU VẾT.

    Một nhóm nghiên cứu Canada cho thấy nơi chuột rằng những tác dụng sinh biến dị (effets mutagènes) của khói thuốc lá tác động lên những tế bào sinh sản và do đó có thể ảnh hưởng lên con cháu sau này.

    Ta đã biết rằng thở đều đặn khói thuốc có thể gây nên ung thư và nhồi muá cơ tim. Một công trình nghiên cứu được công bố trong Pnas (Comptes rendus de l’académie des sciences américaines) cho thấy rằng điều đó cũng có thể gây những biến đổi trong hậu duệ, ít nhất là ở chuột. Một nhóm nghiên cứu của đại học Ottawa (Canada) do Carole Yauk điều khiển, đã cho các con chuột tiếp xúc với khói thuốc lá trong 15 ngày, rồi 6 tuần sau đó đã thu nhận các tinh trùng ở giai đoạn cuối của sự phát triển. Sự xem xét một đoạn ADN đã cho thấy rằng nó bị biến dị 4 lần nhiều hơn so với những con chuột đã không thở khói thuốc. Và điều đó xảy ra ngay cả với những liều tiếp xúc thấp, như trường hợp đối với vài chất hóa học hay những rayons ionisants của radioactivité.

    Các tác dụng sinh biến dị của nhiễm độc thuốc lá thụ động (tabagisme passif), đã được biết trên những tế bào của cơ thể hay trên em bé trong tử cung, lần đầu tiên được nhận thấy trên những tế bào sinh sản. “ Điều đó xác nhận tính độc hại của thuốc lá trên các tinh trùng, vốn đã được nhận thấy ở những người hút thuốc ”, BS Dominique Lafon, chuyên gia về độc chất học của INRS (Institut national de recherche et de sécurité) để phòng ngừa các tai nạn lao động và những bệnh nghề nghiệp và tác giả của Thai nghén và lao động, những nguy cơ đối với trẻ se sinh ra đời là gì ?, đã nói như vậy. Thật vậy, những người hút thuốc có những bất thường di truyền của các tinh trùng hay của các noãn bào. Điều này giải thích không những khả năng sinh sản kém hơn, mà còn số trường hợp cao hơn bị các ung thư gan, và có lẽ ung thư bạch cầu (leucémie), được quan sát ở các đứa con của họ, điều này đã được chỉ rõ bởi Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư ở Lyon. INRS đã liệt kê hơn 30 chất hóa học làm biến đổi về mặt di truyền các con cháu hậu duệ ở động vật, nhưng không ở người, do khó tiến hành loại nghiên cứu này. Một hậu quả của nhiễm độc thuốc lá thụ động lên hậu duệ cũng có thể xảy ra nơi chúng ta không ? Đối với Carole Yank và kíp nghiên cứu nghi ngờ có vẻ được loại bỏ, và họ kết luận rằng “ sự tiếp xúc với nhiễm độc thuốc lá thụ động nơi người trước khi thụ tinh có lẽ có những hậu quả vượt quá phạm vi của bản thân mình ”.

    (SCIENCES ET AVENIR 9/2011)

    7/ SIÊU ÂM ĐỂ QUAN SÁT HOẠT ĐỘNG NÃO BỘ.

    Philippe Ryvlin là giáo sư của bệnh viện thần kinh học Lyon và là giám đốc của nhóm nghiên cứu Inserm và CNRS Tiger, chuyên môn trong điều trị bệnh động kinh.

    Hỏi : Một kỹ thuật chụp hình ảnh não bộ (imagerie cérébrale) vừa được hiệu chính. Nó cho phép thực hiện điều gì ?
    Philippe Ryvlin : Nó cho phép phát hiện điều xảy ra trong não bộ (hiện nay là của chuột) với một độ chính xac chưa từng có và với một échelle de temps 200 mili giây. Điều này cho phép kỹ thuật mới này trở thành một kỹ thuật nhanh hơn nhiều so với chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ chức năng (IRMf : imagerie par résonance magnétique fonctionnelle), hiện nay là référence để nghiên cứu sự vận hành chức năng của não bộ. Với sự gia tăng lưu lượng máu như là chứng cớ của hoạt động não, kỹ thuật mới này cho phép thăm dò sự vận hành chức năng của não.

    Hỏi : Nguyên tắc của nó là gì?
    Philippe Ryvlin : Ta sử dụng một sonde phát ra trong não bộ những làn sóng siêu âm đặc biệt. Những làn sóng này “ nảy lên ” trên các tế bào máu và được thu hồi bởi ống thăm dò. Phân tích cho phép tạo một hình ảnh các huyết quản và đo lưu lượng máu với một thang tỷ lệ gần như bé xíu (100 micromètre). Đó là một sự cải thiện rất đáng kể của siêu âm doppler, đã được sử dụng từ nhiều năm qua để thăm dò các huyết quản lớn nơi người.

    Hỏi : Những hạn chế của kỹ thuật này là gì ?
    Philippe Ryvlin : Các trắc nghiệm trên chuột là đáng phấn khởi nhưng não bộ người lớn hơn và nằm sâu hơn. Sẽ phải chế tạo những công cụ mạnh hơn. Nhất là, ta vấp phải cùng vấn đề như đối với siêu âm doppler cổ điển : các siêu âm gặp khó khăn khi phải đi xuyên qua xương, quá dày đặc.

    Hỏi : Thế thì ta sẽ có thể sử dụng kỹ thuật này trong y khoa không ?
    Philippe Ryvlin : Sự kiện não bộ bi khép kín trong một hộp sọ là một trở ngại. Nhưng hai áp dụng y khoa có thể được dự kiến ngay khi dụng cụ được thích ứng với con người. Trước hết là sự sử dụng trong ngoại thần kinh. Thí dụ các cơn động kinh là do những phóng điện bất thường sinh ra một cách ngẫu nhiên và lan tràn trong não bộ. Đôi khi việc lấy đi vùng phát xuất của các phóng điện này là cách duy nhất để làm ngừng các cơn. Ta càng giới hạn vùng này thì ta càng ít tạo bại liệt lúc làm thương tổn một vùng chức năng nằm kế cận. Lúc phẫu thuật, thầy thuốc ngoại khoa mở một cửa sổ nhỏ vào trong hộp sọ. Nhờ cửa sổ này, ông ta sẽ có thể đặt sonde tiếp xúc trực tiếp với não bộ và xác định những vùng của não bộ gây các cơn động kinh. Ta cũng dự kiến sử dụng kỹ thuật này ở các nhũ nhi bằng cách đặt sonde lên thóp (fontanelle) để xem não bộ làm việc. Nhưng phải khảo sát sự vận hành chức năng bình thường của não bộ trước khi phân tích các loạn năng (dysfonctionnements). Việc thăm dò ở nhũ nhi hiện nay có thể được thực hiện bằng IRMf, nhưng trong những điều kiện khó khăn, bởi vì sự thăm khám gây căng thẳng, và cần phải nằm bất động.
    (LA RECHERCHE 9/2011)

    8/ VITAMINE D LÀM GIẢM VIÊM TRONG PSORIASIS.

    Denis Julien, chuyên gia về bệnh vẩy nến (psoriasis), là thầy thuốc chuyên khoa bệnh ngoài da của bệnh viện Edouard-Herriot của CHU de Lyon.

    Hỏi : Một nhóm nghiên cứu người Đức vừa làm sáng tỏ một cơ chế có khả năng chống lại bệnh vẩy nến, căn bệnh kinh niên và mãn tính của da. Đó là gì vậy ?
    Denis Julien : Trong bệnh vẩy nến, một phản ứng viêm dẫn đến sự tạo thành những mảng đỏ (plaques rouges) làm ngứa ngáy ở da. Jurgen Schauver, thuộc đại học Munich và nhóm nghiên cứu vủa khám phá rằng một protéine hiện diện trong da, được mệnh danh là cathélicidine LL-37, có khả năng phong bế quá trình viêm này. Thế mà ta biết rằng sự tổng hợp protéine này được kích thích bởi vitamine D. Vậy điều đó giải thích tại sao vitamine D có hiệu quả để làm giảm bớt quá trình viêm trong bệnh vẩy nến. Vitamine D hiện nay được sử dụng trong điều trị bệnh vẩy nến duới dạng crème để đắp tại chỗ

    Hỏi : Chất cathélicidine này phong bế quá trình viêm như thế nào ?
    Denis Julien : Cathélicidine trung hòa các phân tử ADN tự do trong các kératinocyte, những tế bào chính của da. Phân tử ADN này hiện diện trong tế bào chất của các tế bào này, thay vì được chứa trong nhân hay trong các ty lạp thể như trường hợp bình thường. ADN tự do này xuất phát hoặc từ những tế bào lân cận, hoặc sau khi thoát ra từ nhân tế bào. Và chính ADN tự do này là một trong những yếu tố gây nên quá trình viêm ; sự hiện diện của nó được cảm nhận như là một tín hiệu nguy hiểm đối với hệ miễn dịch. Khi đó hệ này phát động một phản ứng viêm trong da. Đó là điều được chứng tỏ bởi các nhà nghiên cứu người Đức sau khi lần đầu tiên đã quan sát thấy sự hiện diện dồi dào của ADN tự do trong các tế bào da ở các mảng vẩy nến (plaques de psoriasis), trong khi họ đã không phát hiện chúng trong những tế bào da lành mạnh. Sau đó các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ rằng ADN tự do này không hoạt hóa quá trình viêm nếu protéine cathélicidine LL-37 gắn vào chúng.

    Hỏi : Các nhà nghiên cứu đã khám phá quá trình viêm này như thế nào ?
    Denis Julien : Họ đã lấy bệnh phẩm da ở các mảng vẩy nến của các bệnh nhân và những bệnh phẩm da ở những người tình nguyện lành mạnh. Sau đó họ đã so sánh những biểu hiện của các gène để cố khám phá quá trình viêm được hoạt hóa như thế nào và có thể được phong bế ra làm sao.

    Hỏi : Công trình nghiên cứu này có mang lại những hướng điều trị mới không ?
    Denis Julien : Nhằm một cách đặc hiệu vào sự sản xuất cathélicidine LL-37 đồng thời tìm cách khuếch đại nó hẳn không phải là một hướng hay để điều trị các mảng vảy nến. Bởi vì trái lại protéine này có thể làm phát khởi những phản ứng viêm qua những cơ chế khác. Bù lại, công trình nghiên cứu này đề nghị một cơ chế tác dụng mới của vitamine D trong điều trị bệnh vẩy nến và mang lại những hướng mới để hiểu nhưng cơ chế viêm của căn bệnh.
    (LA RECHERCHE 7-8/2011)


    9/ VITAMINE D, THUỐC CHỮA BÁ BỆNH MỚI ?

    Từ lâu vốn chỉ có vai trò lợi ích đối với sức khỏe xương, vitamine D cũng có thể làm giảm sự xuất hiện của vài ung thư và ngay cả bảo vệ tim và não bộ.
    • Vitamine D tùy thuộc vào hai nguồn, thực phẩm và da. Ở da, một phân tử précurseur được biến đổi, nhờ các tia tử ngoại B của ánh mặt trời, thành vitamine D3. Do đó, cho tiếp xúc mặt và các cánh tay với ánh sáng mặt trời đủ mạnh khoảng 15 phút mỗi ngày (ở Pháp giữa tháng 6 và tháng 10) cũng đủ trang trải 50 đến 70% những nhu cầu hàng năm về vitamine D. Đối với phần còn lại, ta tìm thấy trong các loại cá mỡ (saumon, sardine), trứng, ngũ cốc, gan và trong một chừng mực ít hơn, các sản phẩm sữa. Toàn bộ, những người trưởng thành mỗi ngày cần một cung cấp trung bình 10 mcg vitamine D. Một con số có vẻ cao hơn đối với các phụ nữ có thai và những trẻ em dưới 3 tuổi, do các nhu cầu khoáng hóa xương (minéralisation osseuse). Cũng vậy, những người già có nhu cầu gia tăng để bù lại một sự đề kháng sinh lý bị suy giảm (sản xuất ở da ít hơn, hiệu quả lên xương bị thu giảm) cũng như tiếp xúc với ánh nắng mặt trời ít hơn.
    • Vitamine D thiết yếu để duy trì tính chất cứng của khung xương và kích thích, ở trẻ em, sự khoáng hóa (minéralisation) và sự tăng trưởng của xương. Đôi khi ta gọi vitamine D là vitamine của calcium bởi vì nó làm dễ sự hấp thụ của calcium ở ruột, sự tái hấp thụ của nó ở ruột cũng như sự sử dụng của calcium bởi các đại cốt bào (ostéoblaste). Đến độ một sự thiếu hụt vitamine D (dưới 30ng/ml mau), ngay cả với sự cung cấp tốt calcium trong thức ăn, được công nhận làm dễ bệnh loãng xương (ostéoporose) và do đó làm gia tăng nguy cơ gãy xương. Thế mà, gần 2/3 những phụ nữ sau tuổi mãn kinh mắc bệnh loãng xương vốn bị thiếu vitamine D, theo một công trình nghiên cứu được thực hiện trên gần 8600 phụ nữ châu Âu. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, “ một sự cho bổ sung vitamine D một cách hệ thống có vẻ như càng ngày càng hợp lý, bởi vì lượng cung cấp hàng ngày được khuyến nghị hiện nay là quá thấp đối với lứa tuổi này ” BS Bernard Cortet, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp, thuộc CHU de Lille đã giải thích như vậy.
    • Vitamine D làm giảm nguy cơ bị ung thư, bởi vì vài tế bào ung thư có những thụ thể đặc hiệu đối với vitamine D. Lúc gắn vào những thụ thể này, vitamine D phong bế sự tăng sinh của khối u. Ở các động vật chịu những liều cao vitamine D, ta đã có thể quan sát thấy một sự giảm ít nhất 20% thể tích của các u ung thư của vú, của đại tràng, của gan. Ở phụ nữ, nhiều công trình điều tra gợi ý một vai trò phòng ngừa của vitamine D.Ví dụ công trình nghiên cứu 3N, được thực hiện trên 100.000 phụ nữ Pháp chứng thực rằng một sự giảm 25% nguy cơ ung thư vú đối với những phụ nữ có nồng độ vitamine D trong máu cao nhất. Tuy nhiên, “ những thử nghiệm lâm sàng với những liều lượng vitamine D khác nhau còn cần thiết để xác nhận lợi ích này ”, Françoise Clavel-Chapelon (Inserm-Institut Gustave-Roussy), người phụ trách công trình nghiên cứu này, đã xác nhận như vậy.
    • Một sự thặng dư có thể gây nên sự xuất hiện những vôi hóa trong các mô mềm nhất là thận. Tuy nhiên trên lý thuyết phải uống vào hơn 10 lần những liều hàng ngày được khuyến nghị, hoặc 250 mcg/ngày (tương đương với 10 muỗng dầu gan cá thu !). Tuy nhiên trong nhiều công trình nghiên cứu, những liều như thế đã không cho thấy độc hại lên sức khỏe con người. Điều đó gợi ý rằng sự cung cấp những lượng vitamine D bổ sung cao hơn những liều được khuyến nghị có thể vẫn còn có lợi..Nhưng cần phải cẩn thận.
    • Vitamine D bảo vệ tim, như được gợi ý bởi một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, dựa trên sự phân tích những hồ sơ y khoa của hơn 40.000 bệnh nhân : 2/3 những bệnh nhân này bị thiếu hụt vitamine D trong máu và, ngoài ra, bị nhiều bệnh cao huyết áp, đái đường, tăng lipide-huyết (3 yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch) nhiều hơn những bệnh nhân khác. Ngoài ra, những bệnh nhân có một nồng độ vitamine D bình thường trong máu cho thấy một nguy cơ hai lần thấp hơn là nạn nhân của bệnh động mạch vành (coronaropathie), của bệnh động mạch (artériopathie), của nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não.
    • Vitamine D ló lợi đối với những bệnh lý thoái hóa thần kinh (pathologies neuro-dégénératives), đứng đầu là những bệnh Parkinson và Alzheimer. Lại nữa các công trình nghiên cứu gợi ý một mối liên hệ giữa nồng độ vitamine D và tỷ lệ mắc phải những bệnh này. “ Nhưng các công trình nghiên cứu này tự thân không thể xác nhận là một sự thiếu hụt vitamine là nguyên nhân hay hậu quả của căn bệnh ”. BS Laure Esterle (Inserm U 986, Centre de référence des maladies rares du métabolisme de phosphore et du calcium,bệnh viện saint-Vincent-de-Paul, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Các kết quả lại cần phải được xác nhận.

    (SCIENCES ET AVENIR 1/2011)

    10/ BỆNH ĐỘNG KINH : GENE CHỦ CHỐT ĐƯỢC KHÁM PHÁ.

    GS Christophe Bernard, Giám đốc nghiên cứu của Inserm (Marseille), giải thích tiến bộ quan trọng này (được tài trợ bởi Neurodon và Fondation française pour la recherche sur l’ épilepsie) mở đường cho những điều trị phòng ngừa.

    Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những dạng động kinh khác nhau.
    GS Christophe Bernard:Sau bệnh migraine, căn bệnh não này thường xảy ra nhất. Ở Pháp, có từ 500.000 đến 750.000 người bị bệnh, trong đó đa số là trẻ em. Có hai dạng lớn : động kinh toàn thể (épilepsie généralisée) (được gọi là động kinh lớn, “ grand mal ”), xâm chiếm toàn thể não bộ, là dạng thường gặp nhất (70% các trường hợp) ; động kinh một phần (épilepsie partielle) được giới hạn vào vài vùng tế bào thần kinh. Nhưng ta cũng có thể lên cơn mà không bị động kinh : cứ mười bảy người thì có một lên cơn động kinh một lần trong suốt đời mình.

    Hỏi : Những triệu chứng nào làm bệnh nhân tàn tật ?
    GS Christophe Bernard:Các triệu chứng phụ thuộc vào vị trí của ổ động kinh (foyer épileptique). Nếu vùng não bị thương tổn kiểm soát vận động của các chi, cơn động kinh gây nên những cử động co giật bất thường. Nếu vùng bị thương tổn liên quan đến cơ chế thị giác, bệnh nhân có những ảo giác thị giác (hallucinations visuelles). Cơn động kinh toàn thể (crise généralisée) gây nên sự mất tri giác.

    Hỏi : Ta có biết những nguyên nhân của sự rối loạn não bộ này không ?
    GS Christophe Bernard:Có thể có nhiều nguyên nhân : một chấn thương sọ, những di chứng của một tai biến mạch máu não, của một bệnh viêm màng não, viêm não, của một tai biến lúc sinh. Cũng có thể có một thành phần di truyền.

    Hỏi : Cơ chế nào làm phát khởi một cơn động kinh ?
    GS Christophe Bernard: Một tập hợp rất nhiều tế bào thần kinh sẽ cùng nhau phát ra một tần số quá cao các tín hiệu điện. Đó là lý do ta gọi là “ cơn giông tố điện trong não bộ ” (orage électrique dans le cerveau), mà vài yếu tố như stress, sự lo âu, làm dễ sự xuất hiện.

    Hỏi : Hiện nay ta có những thuốc điều trị nào ?
    GS Christophe Bernard: Ta kê đơn vài loại thuốc nhằm ngăn cản sự xuất hiện của các cơn. Đó là những loại thuốc làm giảm tình trạng tăng hưng phấn (hyperexcitabilité) của các tế bào thần kinh nhưng không chữa lành căn bệnh. Số lượng những loại thuốc chống động kinh không ngừng gia tăng từ những năm 1950.

    Hỏi : những kết quả thu được là gì ?
    GS Christophe Bernard: Trong 70% các trường hợp, bệnh động kinh được kiểm soát. Các cơn trở nên rất hiếm hay biến mất. Nhưng mặc dầu các loại thuốc chống động kinh mới, nhưng tỷ lệ đề kháng vẫn không thay đổi : ở 30% các bệnh nhân, các thầy thuốc vấp phải một sự thất bại. Họ không thể ngăn ngừa được các cơn.

    Hỏi : Đối với những bệnh nhân đề kháng với thuốc này, ta phải làm gì ?
    GS Christophe Bernard: Một phẫu thuật ngoại thần kinh nhằm lấy đi vùng não trách nhiệm động kinh. Tỷ lệ thành công quan trọng : từ 70% đến 80% các bệnh nhân được chữa lành. Nhưng có một chống chỉ định không thể tránh được : khi ổ gây động kinh chứa một vùng chức năng chủ yếu, thí dụ kiểm soát ngôn ngữ.

    Hỏi : Kíp nghiên cứu của ông đã đạt được một bước tiến quan trọng trong phòng ngừa các cơn giông não bộ này. Chiến lược mới là gì ?
    GS Christophe Bernard: Các nhóm nghiên cứu đều đã biết rằng sự tấn công ban đầu trong não bộ (ngay trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên) làm biến đổi sự vận hành chức năng (“sự biểu hiện ”) của hàng ngàn gène trong các tế bào. Sự rối loạn gène (désorganisation génétique) này sẽ dẫn đến, đôi khi sau nhiều năm trời, sự tạo thành những ổ gây nên các cơn động kinh. Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, người ta đã tự nếu nghi vấn : tại sao lại có sự loạn năng (dysfonctionnement) như thế ? Những cơ chế nào là nguồn gốc của những loạn năng này ? Các công trình nghiên cứu của chúng tôi đã đưa đến sự khám phá một “ gène chìa khóa ” (gène clé), một loại ngắt điện (interrupteur) (NRSF), có nhiệm vụ thắp sáng vài gène và làm tắt những gène khác, tạo nên những loại court-circuit quan trọng.

    Hỏi : Công cuộc khám phá này có dẫn đến việc hiệu chính một điều trị phòng ngừa mới không ?
    GS Christophe Bernard: Vâng. Ta đã tìm cách vô hiệu hóa tác dụng có hại của gène NRSF bằng những phân tử nhỏ (ODN), giống như những leurres chimiques bắt giữ gène này. Những thử nghiệm đầu tiên của chúng tôi đã được thực hiện ở động vật : một công trình nghiên cứu được tiến hành trên 12 con chuột, trong đó 6 con đã được điều trị. Ở những con chuột sau cùng này, chiến thuật phóng ngừa mới đã giảm 2/3 số các con. Những kết luận đầu tiên này, rất thỏa mãn, mang nhiều hy vọng

    Hỏi : Ông có dự định nghiên cứu trên người hay không ?
    GS Christophe Bernard: Hiện nay, protocole đòi hỏi tiêm thuốc trực tiếp vào trong não bộ, điều này, ở người, hàm chứa nhiều nguy cơ. Vậy sẽ phải hiệu chính một liệu pháp bằng đường miệng. Từ nay chúng tôi có một phương hướng nghiên cứu sẽ cho phép loại bỏ được bệnh động kinh.
    (PARIS MATCH 8/9-14/9/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (26/9/2011)

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #13 Posted : Saturday, September 1, 2012 4:53:22 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 244

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ TÁI TẠO SAU MỘT UNG THƯ VÚ : SỰ LỰA CHỌN CÁC KỸ THUẬT.
    NHỮNG ĐIỂM MỐC


    LỊCH SỬ. Ung thư vú đã được biết từ thuở binh minh của loài người. Ta tìm thấy những tài liệu mô tả trong papyrus Ai cập có từ năm 1600 trước thiên chúa giáng sinh. Ngoài ra, chính Hippocrate đã “ phát minh ” ra chữ ung thư, carcinos, có nghĩa là “ crabe ”, hay cái kềm (pince) ; một thuật ngữ được tạo ra để chỉ dạng vẻ của ung thư khi nó đã rất tiến triển, các tĩnh mạch chạy chung quanh nó khi đó có thể so sánh với các càn của một con cua ”, GS Jacques Rouessé đã mô tả như thế trong tác phẩm cuối cùng của mình, Une histoire du cancer du sein en Occident (Springer). Trong tác phẩm này, ông cũng kể rằng trong một thời gian rất lâu dài, ung thư vú đã được xem là có tính chất lây nhiễm. Chỉ trong thế kỷ XX lý thuyết này mới được từ bỏ.

    ONCOPLASTIE. Theo BS Frédéric Kolb, thầy thuốc ngoại khoa thuộc Viện Gustave-Roussy de Villejuif, phần lớn các phụ nữ có thể được giải phẫu tạo hình vào ngay lúc cắt bỏ khối u. Động tác oncoplastie này, từ nay càng ngày càng thường được xét đến, cho phép ngăn ngừa những hậu quả của ngoại khoa bảo tồn (chirurgie conservatrice), đôi khi chỉ được thấy sau nhiều năm.

    LIPOFILLING. Trong nhiều trường hợp, chỉ cần một mũi tiêm mô mỡ, được lấy trên chính bệnh nhân, cho phép lấp đầy chỗ trống do khối u để lại. Kỹ thuật này, được gọi là lipofilling, chỉ được cho phép ở Pháp để tái tạo sau một ung thư vú, vì các chuyên gia sợ rằng mô mỡ này có thể che khuất các khối u lúc thăm dò X quang và rằng những hormone do mô mỡ này sinh ra làm dễ sự xuất hiện ung thư. Nhiều công trình nghiên cứu đang được tiến hành để khảo sát những nguy cơ này trước khi dự kiến sử dụng kỹ thuật này trên các vú lành mạnh .

    CHIRURGIE. “ Nước Pháp điều trị tốt ung thư vú, nhưng lại không điều trị tốt người phụ nữ có một ung thư vú, GS Laurent Lantieri, thầy thuốc ngoại khoa thuộc bệnh viện Henri-Mondor (Créteil) đã lấy làm tiếc như vậy. Số các phụ nữ mà các vú được tái tạo sau một ung thư chỉ đạt 30% các phụ nữ đã chịu cắt bỏ tuyến vú (mastectomie).” Mỗi năm, 45.000 trường hợp mới ung thư vú được chẩn đoán ở Pháp, trong đó 15.000 cần phải cắt bỏ tuyến vú, tiếp theo sau 5000 trường hợp trong số này sẽ được tái tạo (reconstruction). Haute Autorité de santé (HAS) cho rằng phẫu thuật tái tạo là một bộ phận của điền trị và phải được nêu lên ngay những lần thăm khám đầu tiên với thầy thuốc ngoại khoa, khi các kỹ thuật điều trị được xét đến. “ Để chuyển từ tỷ lệ 30% lên 50% các phụ nữ có vú được tái tạo (một mục tiêu hợp lý), phải đả thông các phụ nữ tốt hơn về những kỹ thuật khác nhau hiện có và cải thiện việc tiếp cận mạng lưới điều trị.”, BS Benoit Couturaud, thầy thuốc ngoại khoa thuộc Viện Curie (Paris) đã nhấn mạnh như vậy.

    Việc lựa chọn kỹ thuật tái tạo tùy thuộc nhiều tham số, đặc biệt tùy thuộc vào những điều trị được thêm vào giải phẫu ban đầu. Kỹ thuật tái tạo được thực hiện nhiều nhất ở Pháp là sự thiết đặt (implantation) một vú giả bằng gel de silicone. Can thiệp đơn giản, được nắm vững, và các nguy cơ gây hoại tử từ nay rất thấp. Khi liệu pháp phóng xạ (radiothérapie) cần thiết, giải phẫu tái tạo không thể được thực hiện ngay cùng lúc với phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú (mastectomie) bởi vì các implant không chịu được các tia phóng xạ. Ngoài ra, da bị phóng xạ có chất lượng kém và lượng không đủ để đưa một implant vào. Vậy giải phẫu tái tạo sẽ được dự kiến giữa 6 tháng và một năm sau khi chấm dứt những buổi phóng xạ liệu pháp.

    Vài thầy thuốc ngoại khoa đề nghị thực hiện một sự kéo căng da bằng cách đưa vào một implant tạm thời mà thể tích có thể được làm gia tăng dần dần. Tuy nhiên kỹ thuật này cần nhiều can thiệp và có thể tỏ ra khá đau đớn. Trong đa số các trường hợp, thầy thuốc ngoại khoa dùng một mảng da và đôi khi cả cơ, nói chung lấy ở lưng và thành bụng. Sau đó bệnh nhân phải sống với một cái sẹo khác với sẹo do phẫu thuật cắt bỏ vú, điều mà vài phụ nữ khó có thể chấp nhận được.

    KỸ THUẬT DIEP

    Từ vài năm nay, những kỹ thuật sử dụng duy nhất các mô của bệnh nhân để tái tạo thể tích ban đầu của vú đã xuất hiện, để tránh phải dùng đến các implant. Thật vậy nhiều phụ nữ tỏ ra ngập ngừng đối với các implant này, mà họ xem như là một vật lạ không được mong muốn hay chỉ vì cảm thấy lạnh với một xúc giác ít tự nhiên. Ngoài ra các vú giả (prothèse mammaire) có một đời sống giới hạn và phải được thay thế sau 10 hay 15 năm.

    Sau cùng, những thủ thuật tái tạo mới bằng tổ chức mô của chính bệnh nhân (tissu autologue) có thể được thực hiện đồng thời với phẫu thuật cắt bỏ vú, ngay cả khi một bức xạ liệu pháp được xét đến, và như thế tránh một can thiệp mới có thể gây chấn thương tâm thần đối với những phụ nữ vốn đã phải chịu sốc tâm lý do phẫu thuật cắt bỏ vú. Kỹ thuật Diep, đặc biệt được biện hộ bởi GS Lantieri, cho phép tái tạo với một mảnh da và mô mỡ lấy trên thành bụng mà không phải đụng đến các cơ. Phương pháp này đặc biệt thích ứng đối với những phụ nữ lớn tuổi hơn, sau nhiều lần thai nghén, đã có một thặng dư mỡ ở vùng bụng.
    (LE FIGARO 26/9/2011)

    2/ GIẢI PHẪU THẨM MỸ : ĐỦ LOẠI IMPLANT CHO TẤT CẢ CÁC PHỤ NỮ.

    “ Từ nay chúng ta có rất nhiều loại vú giả (prothèse mammaire) cho phép chúng ta thích ứng với các mô và ước muốn của bệnh nhân, BS Sydney Ohanna, thầy thuốc ngoại khoa tạo hình (chirurgie plasticien) Paris và chủ tịch danh dự của Hiệp hội ngoại khoa thẩm mỹ (chirurgie esthétique) Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Nhiều dạng prothèse đã được hiệu chính để tái tạo sau một ung thư vú, nhất là khi tất cả vú đã phải bị lấy đi. Các kỹ thuật đặt (implantation) đều giống nhau, nhưng các thầy thuốc ngoại khoa tránh tạo những vết sẹo mới sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú (mastectomie).

    Ngày nay phần lớn các vú giả (prothèse mammaire) được đặt đều được cấu tạo với một màng silicone chứa đầy một gel de silicone lỏng ít hay nhiều. Vật liệu càng được gọi là “ cố kết ” (cohésif), nghĩa là không dễ vụn (friable) cũng không lỏng (liquide), thì càng ít nguy cơ bị những vấn đề do các trao đổi khí (oxy hay CO2) xuyên qua da. “ Nhưng các nếp gấp càng có thể được tạo thành hơn, làm dễ vỡ ”, GS Laurent Lantieri, thầy thuốc ngoại khoa thuộc bệnh viện Mondor (Créteil) đã xác nhận như vậy. Những vú giả chứa đầy dung dịch sinh lý hầu như không được sử dụng nữa.

    Các nhà chế tạo vú giả đã hiệu chính nhiều dạng và thể tích prothèse để các vú bị biến đổi có một hình dạng hoàn toàn tự nhiên tùy theo hình dạng ban đầu của vú, tùy theo tuổi của bệnh nhân và tùy theo kết quả mà bệnh nhân mong muốn.

    DẠNG TRÒN HAY DẠNG CƠ THỂ HỌC.

    Lựa chọn nhiều nhất hướng về hình dạng chung của prothèse, có thể tròn hay cơ thể học. Ở một phụ nữ trẻ, một prothèse tròn thường được chọn nhất. Đối với một phụ nữ lớn tuổi hơn, sau khi đã có nhiều lần thai nghén, từ nay sự chọn lựa thường được hướng về một dạng được gọi là cơ thể học với một phần phình ở bên dưới, như thế tôn trọng hình dạng của một cái vú của người lớn tuổi hơn.

    Tuy nhiên với loại hình dạng này, ta có thể thấy được mọi chuyển động xoay (pivotement) của prothèse và điều này cần phải đươc điều chỉnh bởi thầy thuốc ngoại khoa. Prothèse có thể được đặt trước hoặc sau cơ ngực, tùy theo kích thước ban đầu của vú, profil cùa nó và hình dạng vú giả được chọn lựa.

    “ Nguy cơ chính do thiết đặt một vú giả là hiện tượng vỏ trứng (phénomène de coque), một phản ứng hóa sẹo dẫn đến sự tạo thành mô sợi quanh vú giả trong khoảng 3% các trường hợp ”, BS Ohanna đã xác nhận như vậy. Khi đó cần một can thiệp mới. Cũng có thể rằng, sau nhiều năm hay khi bệnh nhân bị gầy ốm quan trọng, những nếp gấp được tạo thành trong vú giả. Khi đó cần thay vú giả, điều này có thể được thực hiện ngoại trú vì lẽ vị trí thiết đặt prothèse mới vốn đã có rồi.

    Vài thầy thuốc ngoại khoa đề nghị làm gia tăng thể tích vú một ít bằng cách làm đầy với acide hyaluronique. “ Can thiệp rất là tốn kém và phải được lập lại khoảng mỗi hai năm ”, BS Ohanna đã nhắc lại như vậy. Ngoài ra phương pháp này hiện đang bị tranh cãi về mặt khoa học, bởi vì vài chuyên gia cho rằng chất acide hyaluronique có thể làm che khuất, lúc thăm khám X quang, sự hiện diện của một khối u trong vú.
    (LE FIGARO 26/9/2011)

    3/ MỘT NGƯỜI PHÁP NHẬN GIẢI THƯỞNG NOBEL Y HỌC.

    Jules Hoffman, nhà nghiên cứu ưu tú của CNRS, là một trong những người được giải thưởng cùng với hai nhà nghiên cứu khác.

    DISTINCTION. Hôm qua đã phải cần vài phút để tin vui được lan truyền và répondeur của điện thoại cầm tay của ông hoàn toàn bị bảo hòa bởi các message. Nhà sinh học người Pháp Jules Hoffmann là một trong 3 người nhận giải thưởng Nobel về y học. Jules Hoffmans cùng chia sẻ phần thưởng uy tín này với người Mỹ Bruce Beutler và người Canada Ralph Steinman, ông này vài ngày sau đó đã không có cơ may biết được sự thừa nhận này. Nhà nghiên cứu Canada đã qua đời hôm 30 tháng chín vừa qua vì ung thư tụy tạng.

    Là nhà nghiên cứu ưu tú của CNRS, Jules Hoffman, như thế lại thêm một chiến công mới vào một danh sách vốn đã dài các khen thưởng. Ông đang ở trong thủ đô kinh tế Thượng Hải của Trung Quốc với vợ ông thì ông biết được tin là ông được giải thưởng Nobel y học năm 2011. “ Thành thật mà nói, điều đó không ở trong tâm trí tôi ! Nhóm nghiên cứu của tôi và tôi từng đã nhận được một loạt các khen thưởng cấp cao (ông đang còn ở Hong Kong hôm thứ năm để nhận giải Shaw), nhưng tôi không nghĩ là tôi sẽ được giải Nobel. Đó là một giải Nobel y học, nhưng tôi không phải là thầy thuốc cơ mà ! ”, ông đã lấy làm thích thú tâm sự như vậy.

    Thật vậy, từ 40 năm nay, nhà khoa học này chỉ đặc biệt quan tâm đến các côn trùng. “ Các côn trùng đại diện cho 80% các loài động vật được biết, truyền các bệnh gây nguy hiểm cho 1/3 nhân loại và phá hủy 1/3 mùa màng của con người, đó là một nhóm vô cùng quan trọng.”

    Ở Thượng Hải, Jules Hoffman giải thích bằng những lời đơn giản : “ Hai loại miễn dịch cùng hiện hữu, một loại bẩm sinh (immunité innée), còn loại kia là miễn dịch thích ứng (immunité adaptive). Các côn trùng rất đề kháng với các nhiễm trùng. Trong phòng thí nghiệm nơi ông đã chuẩn bị luận án, các côn trùng bé nhỏ đủ loại đã không ngừng được ghép mà không cần một biện pháp vô trùng nào cũng không bị thải bỏ. Một yếu tố chủ chốt đã được khám phá ở ruồi giấm (mouche du vinaigre) là một loại kháng sinh mới đã được sản xuất hàng loạt trong trường hợp tấn công.”

    Vào năm 1966, ông đã đưa ra cái nhìn mới về những cơ chế phòng thủ của các con ruồi do phát hiện vai trò của thụ thể Toll. Jules Hoffman không ngừng nhấn mạnh : các công trình nghiên cứu của ông đã có thể thực hiện được là nhờ nhiều đồng nghiệp trên thế giới. “ Trước hết thụ thể Toll đã được khám phá bởi nhà nghiên cứu người Đức Christiane Nusslein-Volhard. Ngoài ra Toll tiếng Đức có nghĩa là “ không có thể ” (improbable). Sau này, chính nhà nghiên cứu Hoa Kỳ Charles Janeway đã tìm được thụ thể tương đương ở người.”

    Vào giữa những năm 1990, Hoffman và nhóm nghiên cứu của ông đã phát hiện ở ruồi drosophile, một thụ thể của điều mà ta gọi là “ tính miễn dịch bẩm sinh ” (immunité innée), nói một cách khác, một protéine mang những thông tin dẫn đến một tế bào và có thể khởi động một đáp ứng. Nhờ drosophile và nhờ cách mà côn trùng này chống lại nhiễm trùng, Hoffmann đã có thể hiểu được các cơ chế miễn dịch ở nơi người. Hệ miễn dịch bẩm sinh “ có thể tiêu diệt các vi khuẩn và gây nên một phản ứng viêm nhằm phong bế sự tấn công ” trước khi kháng thể xuất hiện, ủy ban trao giải Nobel đã giải thích như vậy. Các công trình của những người được giải thưởng Nobel “ đã mở ra những đường hướng mới để phát triển những biện pháp phòng ngừa và để thực hiện những liệu pháp chống lại nhiễm trùng, ung thư và những bệnh viêm ”, Ban giám khảo của giải Nobel đã nêu lên như vậy. Những công trình nghiên cứu của giải Nobel 2011 sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêm chủng và chống ung thư.

    Với giải Nobel của Jules Hoffmann, nước Pháp tự hào năm nay có được một giải Nobel về y học (những người Pháp sau cùng đã nhận giải này là Jean Dausset năm 1980, rồi François Barré-Sinoussi và Luc Montagnier năm 2008). Thật ra nhà sinh học người Pháp 70 tuổi này (sinh ở Luxembourg nhưng lấy quốc tịch Pháp năm 1970) chỉ nhận ¼ của giải thưởng nổi tiếng Thụy Điển. Người đã từng điều khiển Viện sinh học phân tử và tế bào của Strasbourg giữa năm 1993 và 2005 và đã là chủ tịch của Viện hàn lâm khoa học từ năm 2007 và 2008, đã được tặng giải thưởng vì những công trình nghiên cứu của ông về hệ miễn dịch của các côn trùng.

    Câu chuyện của Jules Hoffmann bắt đầu năm 1941 ở Luxembourg theo gót của một người cha là giáo sư khoa học tự nhiên ở trường trung học. Ông tiếp tục theo học ở Strasbourg, ở đây ông nhận luận án sinh học thí nghiệm (biologie expérimentale) trước khi gia nhập CNRS vào năm 1964, điểm khởi đầu của một sự nghiệp sáng chói. Chính cũng tại phòng thí nghiệm của ông mà ông đã gặp người vợ tương lai của mình, nữ sinh viên năm thứ nhất. Năm 1970, ông đổi quốc tịch Pháp.

    Gương mặt của người cha trở lại tâm trí ông khi Alain Fuchs, chủ tịch CNRS, cho ông hay rằng ông sẽ nhận chiếc huân chương vàng. “ Khi đó tôi gần như muốn khóc, nhà khoa học đã kể lại như vậy rất đỗi ngượng ngùng. “ Cha tôi hồi đó rất chống lại việc tôi đi Pháp, Jules Hoffmann đã giải thích như vậy.“ Ông đã nói với tôi : con sẽ luôn luôn là một người nước ngoài. Về phương diện đạo đức, phần thưởng này biện minh cho lựa chọn của tôi trở thành người Pháp ”, ông đã nói thêm như vậy. Nhưng hôm qua, những lời nói đầu tiên của ông hướng về kíp nghiên cứu của mình. “ Tôi nghĩ đến rất nhiều những người đã từng làm việc với tôi. Trong lãnh vực này, chính hoạt động của một nhóm đã được công nhận ”.

    Mặc dầu các đồng nghiệp của ông đều nêu lên tính rất dễ mến của ông, những đặc tính nhân bản của ông và khả năng của ông tạo động cơ cho nhóm, nhưng trước hết tất cả họ đều nói về ông như một con người khoa học (homme de sciences). “ Tôi đã biết ông ngay từ những bước đầu, Nicole Le Douarin, nhà sinh học nổi tiếng đã kể lại như vậy. Ông rất có khiếu.” Về mặt cá nhân, “ phẩm chất của ông là lòng nhiệt thành ”, Jean-François Bach, thư ký của Viện hàn lâm khoa học khi Hoffmann làm chủ tịch đã kể lại như vậy.” Giải Nobel này, đó là sự xác nhận điều mà tất cả chúng tôi đều hy vọng ”.

    Ở tuổi 70, Jules Hoffmann có dự định sẽ về hưu ? “ Mỗi ngày tôi sẽ đi đến phòng thí nghiệm, nhà khoa học đã nhắc lại như vậy.” Khi ta thật sự yêu khoa học, ta không thể thiếu nó. Nhưng phải có can đảm đừng đóng vai trò người chỉ huy điều khiển tất cả. Phải biết chuyền tay cho nhau ”, Jules Hoffmann đã nói như vậy.

    Nếu Jules Hoffmann cùng chia giải thưởng với hai người trúng giải khác, trong đó người Mỹ Bruce Beutler, thì chính người Canada Ralph Steinmann, đã qua đời hôm thứ sau vừa qua, hưởng một nửa giải do những công trình của ông về hệ miễn dịch thích ứng (système immunitaire adaptif). Năm 1973, Steinmann khám phá khả năng của vài tế bào hoạt hóa và điều hòa “ tính miễn dịch thích ứng ” (immunité adaptive). Sinh năm 1943 ở Montréal, tốt nghiệp đại học McGill năm 1963 ở Montréal, Ralph Steinmann đã nhận văn bằng y khoa của đại học Havard ở Massachusetts năm 1968. Ông đã gia nhập đại học Rockfeller năm 1970 để theo học doctorat. Đại học này xác nhận rằng nhà sinh học đã thành công kéo dài cuộc đời nhờ những công trình nghiên cứu của chính ông.
    (LE FIGARO 4/10/2011 ; LE SOIR 5/10/2011)

    4/ STEVE JOBS : MỘT LOẠI UNG THƯ TỤY TẠNG HIẾM

    Có lẽ ghép gan đã làm ông ta sống thêm được 3 năm.

    Sự ra đi sớm của Steve Job lôi kéo sự chú ý đến bệnh ung thư tụy tạng, căn bệnh mà ông đã mắc phải từ năm 2004 và đã dẫn đến một phẫu thuật ghép gan năm 2009.

    Dạng ung thư mà ông mắc phải được gọi là u thần kinh-nội tiết (tumeur neuro-endocrinienne) của các đảo Langerhans. Các đảo Langerhans là những phần thiết yếu của tụy tạng, đặc biệt chế tạo insuline mà cơ thể cần để biến đổi thức ăn được cung cấp thành năng lượng cho các tế bào.“ Khối u thần kinh-nội tiết là một dạng bệnh hiếm hơn nhiều của ung thư tụy tạng. Ở Bỉ mỗi năm ta chỉ đếm được khoảng 30 trường hợp, trong khi đó ung thư tụy tạng “ thông thường ” gây bệnh cho 600 đến 700 bệnh nhân mới mỗi năm. Ung thư tụy tạng “ thông thường ” này tiến triển nhanh và chính vì lẽ đó người ta không dự kiến ghép gan trong trường hợp này. Nhưng trong trường hợp u thần kinh-nội tiết, ghép gan là một khả năng vẫn còn có thể xét đến, mặc dầu những chỉ định vẫn rất nghiêm túc, vì lẽ đó là một cơ quan hiếm và rất được bệnh nhân tìm kiếm ”, GS Jean-Luc Van Laethem, trưởng khoa lâm sàng thuộc Đơn vị ung thư học dạ dày-ruột của bệnh viện đại học Erasme (ULB, Bỉ) đã giải thích như vậy.

    Nếu cần phải ghép, đó là bởi vì các di căn của ung thư tụy tạng đã đến gan, một cơ quan nằm kế cận. Vào năm 2008, tình trạng sức khỏe của Jobs đã suy sụp đột ngột. Khi đó ông đã được ghép gan từ một thanh niên khoảng 20 tuổi chết trong một tai nạn xe hơi.

    “ Những chỉ định ghép trong trường hợp ung thư là rất hiếm bởi vì các chuyên gia phải sử dụng các chất làm suy giảm miễn dịch để ngăn cản phản ứng thải bỏ (rejet) của cơ quan được ghép. Nhưng khả năng miễn dịch bị làm giảm lại còn thu giảm thêm các khả năng chống lại ung thư và ung thư tiếp tục phát triển. những tế bào hoạt động chống lại bệnh còn lại ít hơn. Mặc dầu không biết hồ sơ bệnh án của Jobs, nhưng có thể rằng ghép và sử dụng những loại thuốc như inhibiteur de tyrosine-kinase, những điều trị đổi mới chống ung thư, đã cho phép ông ta sống thêm được từ 3 đến 4 năm. ”
    (LE SOIR 7/10/2011)

    5/ BỆNH SIDA CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ ĐƯỢC PHÁT HIỆN NHỜ MỘT BIOPUCE !

    Phát hiện bệnh sida và khoảng một chục bệnh nhiễm trùng khác trong vòng chỉ 20 phút và từ một giọt máu đơn giản ? Đó là điều được hứa hẹn bởi“ mChiap ”, một trắc nghiệm máu được sáng chế bởi Samuel Sia, giáo sư của Đại học Columbia (Hoa Kỳ). Với kích thước của một carte de crédit, phòng xét nghiệm bé xíu có thể mang theo này phát hiện những protéine đặc trưng của các bệnh khác nhau qua những phản ứng hóa học trên những nanoparticule bằng vàng và bằng bạc. Một carte chứa nhiều puce và do đó có khả năng phân tích máu của nhiều bệnh nhân. Mặt khác, mỗi puce có thể phát hiện đồng thời nhiều loại nhiễm trùng khác nhau.“ Thiết bị được thiết kế để cho, trên cùng một carte, mỗi trắc nghiệm mang tính chất độc lập và không ảnh hưởng kết quả của những trắc nghiệm khác ”, Vincent Linder, một trong những đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Được trắc nghiệm trên nhiều trăm bệnh nhân ở Rwanda, “ mchip” cho những kết quả, dương tính hoặc âm tính, với một mức độ chính xác gần 100% đối với những nhiễm trùng do HIV và giang mai. Ưu điểm sau cùng : giá cả của nó. Tiềm năng có thể thương mãi hóa với giá từ 1 đến 3 dollar mỗi đơn vị, biopuce này mở ra những triển vọng chưa từng có trong công tác điều tra phát hiện đại trà trong những nước đang phát triển. Giai đoạn kế tiếp từ nay là thích ứng trắc nghiệm với virus của viêm gan B.
    (SCIENCE ET VIE 10/2011)

    6/ LẤN ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI : SẢN XUẤT HỒNG CẦU TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM.

    Nhóm nghiên cứu của GS Luc Douay (bệnh viện Saint-Antoine, Paris) đã vượt qua một giai đoạn quan trọng trong lịch sử truyền máu. Nhóm nghiên cứu này đã hiệu chính một kỹ thuật cho phép thu được trong phòng thí nghiệm, từ một mẫu nghiệm máu đơn giản, một số lượng có thể vô giới hạn các hồng cầu. Từ máu được trích, các nhà nghiên cứu đã phân lập những tế bào gốc được gọi là sinh huyết (hématopoiétique). Những tế bào gốc này được cấy với những yếu tố tăng trưởng, có tác dụng hướng chúng về một sự biến hóa thành những hồng cầu. Vài mililit máu cũng đủ để sản xuất ra 100 tỉ hồng cầu. Trước hết nhóm nghiên cứu của Pháp đã chứng tỏ ở chuột rằng các hồng cầu thu được có chức năng và có một thời gian sống bình thường. Các nhà nghiên cứu vừa trình bày cùng kết quả ở người lành mạnh cũng chính là người cho. Vậy có thể áp dụng cho người.
    (PARIS MATCH 22/9 – 28/9/2011)

    7/ SỐNG TRONG THÀNH PHỐ LÀM RỐI LOẠN CHỨC NĂNG NÃO BỘ.

    CÁC SỰ KIỆN VÀ CÁC CON SỐ

    Chính vào năm 2007 nhân loại đa số thuộc về thành thị. ONU, vào năm 2010, đã đánh giá rằng khoảng 3,5 tỉ người sống ở thành phố, hoặc 50,6% dân số thế giới, so với 29,1% vào năm 1950 và 69,6% được dự kiến vào năm 2050. Vào năm 2010 chỉ 22,2% những người Pháp sống ở vùng nông thôn.

    Sau cùng mối liên hệ giữa nguy cơ bị những rối loạn tâm thần và nơi sinh sống đã được quan sát : chịu một sự căng thẳng (stress), hai vùng não bộ hoạt động nhiều hơn... ở những người thành thị !

    Lần đầu tiên, những hậu quả của đời sống đô thị lên sự vận hành chức năng não bộ đã được mô tả ở mức độ phân tử. Ta đã hằng biết rằng tỷ lệ mắc phải những rối loạn tâm thần ở thành phố lớn hơn : thật vậy, những người đã lớn lên trong những thành phố lớn có hai lần nguy cơ nhiều hơn phát triển bệnh tâm thần phân liệt trong suốt cuộc đời của họ, và những người sống ở thành thị có những nguy cơ bị các rối loạn lo âu hay tính khí cao hơn. Những cho mãi đến nay, những cơ sở sinh học của những tác dụng nầy, liên quan đến sức khỏe tâm thần của hơn nửa dân số trên thế giới, vẫn không được biết rõ.

    Những công trình của các nhà nghiên cứu của đại học y khoa Mannheim, ở Đức, đã làm sáng tỏ điều đó. Thật vậy, họ vừa cho thấy rằng cuộc sống ở thành phố làm biến đổi đáp ứng đối với stress của hai vùng não bộ. Vùng hạnh nhân (amygdale) và cortex cingulaire antérieur lần lượt được hoạt hóa mạnh hơn ở những người sống và lớn lên trong những vùng có mật độ dân số cao. Ngoài ra, sự nối kết cơ năng (connexion fonctionnellle) giữa hai vùng này của não bộ bị giảm ở những người đã lớn lên ở thành phố. Thế mà, hạnh nhân có liên quan trong những rối loạn lo âu và chứng bệnh trầm cảm, trong khi một thể tích thu nhỏ của cortex cingulaire antérieur và một sự nối kết cơ năng ít tốt hơn của vùng vỏ này với hạnh nhân đã được quan sát ở những bệnh nhân tâm thần phân liệt. Sự biến đổi của đáp ứng đối với stress của những vùng này là một hướng tốt để giải thích, ít nhất một phần, tỷ lệ mắc phải những bệnh tâm thần cao hơn ở thành phố.

    Các nhà nghiên cứu có được khám phá này là nhờ sự tham gia vào một trò chơi mà không hề hay biết của 55 sinh viên từ những thành phố và làng mạc của Đức. Bởi vì để tạo ra một tình trạng stress ở những người được nghiên cứu này, kíp của Andreas Meyer-Lindenberg đã phải buộc họ, dưới một sức ép mạnh của thời gian, những trắc nghiệm đánh giá về khả năng nhận thức (test d’évaluation cognitive) với trình độ khá khó để tỷ lệ thành công của mỗi người không vượt quá 40%.

    YÊU TỐ ĐẦU TIÊN, STRESS.

    Hoạt động não bộ của những người tình nguyện, khi được đối đầu thuờng trực với những kết quả xấu của họ và với những lời chỉ trích âm tính của những người thực hiện thí nghiệm, cùng lúc được đánh giá bởi IRM chức năng. Thí nghiệm này mặc dầu đã cho phép phát hiện những hậu quả của đời sống thành thị lên não bộ, tuy nhiên không phát hiện cơ chế của nó. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết cho rằng mức độ stress cao hơn ở vùng thành thị chịu trách nhiệm sự biến đổi về lâu về dài của sự vận hành chức năng của những vùng não can dự vào trong phản ứng đối với stress. Nhưng vai trò của những yếu tố khác, như sự ô nhiễm hay tiếng ồn cũng không được loại bỏ. Trong khi chờ đợi để được hiểu hơn những hiện tượng sinh học, khám phá này đã mang lại một lợi ích chắc chắn, Andreas Meyer-Lindenberg đã giải thích như vậy : “ Bây giờ ta đã tìm ra hậu quả lên não bộ của những tác dụng của đời sống thành thị lên sức khỏe tâm thần, chúng ta sẽ có thể xác định một cách chính xác khía cạnh nào của đời sống đô thị là có hại. Điều này trong tương lai sẽ giúp tổ chức tốt hơn những thành phố.” Một tin vui đối với 6 tỉ dân thành thị được dự kiến ở chân trời năm 2050.
    (SCIENCE ET VIE 9/2011)

    8/ 11 RỐI LOẠN TÂM THẦN : BỆNH NGHIỆN (ADDICTION)

    Đâu là điểm chung giữa một grille de loto, một ly rượu vang, một điếu thuốc lá, một viên ectasy và một paire de tennis ?

    Bề ngoài không có điểm chung nào cả. Tuy vậy, tất cả đều có thể dẫn đến một hành vi nghiện ngập (un comportement addictif). Chúng có thể làm cho “ accro ” (nghiện), cờ bạc, rượu chè, thuốc lá, chất ma túy hay thể thao, nghĩa là gây nên một sự thèm muốn “ trở lại ” không cưỡng lại được điều đó, ngay cả khi hành động này có thể được cảm nhận như là một sai lầm và gây đau khổ. Do đó có nhiều mẫu số chung : tìm kiếm những cảm giác, sự xâm nhập của công việc hàng ngày, sự tiêu thụ thôi thúc hay cưỡng bức (consommation impulsive ou compulsive), mất sự kềm chế, tolérance (cơ thể thích nghi, do đó phải tăng các liều để có được cùng tác dụng) và hội chứng cai thuốc (syndrome de sevrage).

    Bệnh nghiện (addiction) là gì ?

    Theo DSM-IV, sách giáo khoa trong đó các rối loạn tâm thần được liệt kê, tình trạng phụ thuộc (dépendance) tương ứng với “ sự sử dụng không thích đáng của một chất, dẫn đến một détresse hay một loạn năng (dysfonctionnement) lâm sàng đáng kể ”. Nói một cách khác, một người bị nghiện (addiction) khi một liên hệ trở nên bệnh lý giữa người đó và một chất được cho (thí dụ rượu, cocaine, cannabis, thuốc lá,…), hay một hoạt động (như cờ bạc, những thói quen thể thao hay ăn uống quá mức…).

    “ Người bị nghiện tạo một cân bằng cá nhân mới bằng cách hội nhập đối tượng (objet) vào trong cuộc sống của mình, mặc dầu điều đó được thực hiện gây thiệt hại cho những hoạt động khác và làm lâm nguy đời sống xã hội và tình cảm của mình ”, Martine Cador, thuộc Institut de neurosciences cognitives et intégratives d’Aquitaine (Bordeaux) đã nói rõ như vậy. Khi đó hành vi nghiện ngập (comportement additif) có thể tìm cách mang lại khoái lạc (ở đây ta nói “ cường dương ”, renforcement positif) hay làm giảm một tình trạng khó ở (malaise) (đó là “ cường âm ”, renforcement négatif).

    Những ai bị liên hệ ?

    Khó mà xác định vào lúc nào một thói quen (habitude) biến hóa thành tình trạng nghiện (addiction), và do đó khó định rõ số những người bị ảnh hưởng ! OFDT (Observatoire français des drogues et toxicomanies) liệt kê 22,5% những người tiêu thụ đều đặn rượu ; 30.000 trường hợp tử vong mỗi năm có thể quy cho rượu. Còn thuốc lá gây hai lần nhiều hơn những trường hợp tử vong mỗi năm ; 28,9% những thiếu niên 17 tuổi và 26,5% những người trưởng thành trên 18 tuổi là những người hút thuốc mỗi ngày. Còn những người hút đều đặn cannabis chỉ chiếm 7,3% các thiếu niên 17 tuổi và 23% các người lớn. Sau cùng, OFDT đếm được 230.000 người sử dụng có vấn đề (usager problématique) các thuốc ma túy bất hợp pháp (cocaine, héroine…) và 333 trường hợp quá liều gây tử vong vào năm 2007.

    Ngoài ra, theo Viện y tế và nghiên cứu y học quốc gia (Inserm : Institut national de la santé et de la recherche médicale), các nước châu Âu có từ 1 đến 2% nhung người chơi bệnh lý (joueur pathologique), so với 5% ở Bắc Mỹ. Dầu nghiện dưới hình thức nào, những người đàn ông thường bị liên hệ hơn. Sau cùng, nếu một tình trạng phụ thuộc có thể xuất hiện vào bất cứ lúc nào của đời sống, thì thời kỳ từ 15 đến 25 tuổi được xem là thuận lợi nhất.

    Những nguyên nhân là gì ?

    Tất cả các cá thể không bình đẳng trước tình trạng nghiện ngập : ngay cả khi môi trường, nhất là lịch sử của mỗi cá nhân, đóng một vai trò chủ yếu, nhưng vẫn có những tố bẩm di truyền (prédisposition génétique). “ Những yếu tố thuận lợi di truyền này góp phần từ 40 đến 50% vào khả năng mẫn cảm (vulnérabilité) đối với tình trạng phụ thuộc ”, Serge Ahmed, thuộc Institut des neurosciences de Bordeaux, đã xác nhận như vậy. Nhưng cho đến ngày nay, không có một loạn năng đặc hiệu nào đã có thể được phát hiện ở não bộ. “ Chúng ta không thể suy diễn rằng chỉ cần nhìn não bộ của một người để nói rằng người đó bị phụ thuộc, nhà nghiên cứu đã xác nhận như thế. Vì đã không thể nhận diện những cơ sở di truyền của chứng nghiện, nên các nhà khoa học tập trung vào những triệu chứng của nó. Họ đã liệt kê tất cả những đích phân tử (cibles moléculaires) của những chất gây nghiện khác nhau, “ những cửa vào” qua đó các chất này sẽ biến đổi hành vi. Ví dụ ta biết rằng rượu tác dụng lên thụ thể glutamatergique, thuốc lá lên thụ thể nicotinique…

    Tình trạng phụ thuộc (dépendance) khi đó dựa vào hai cơ chế chung : đối tượng gây nghiện (objet d’addiction) làm gia tăng “ tác dụng khen thưởng ” (effet récompense) và làm giảm “ sự kiểm soát ức chế ” (contrôle inhibiteur). Thật vậy, khi não bộ xét thấy một cảm nhận (expérience) là dễ chịu, nó phóng thích dopamine, chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteur) phụ trách về khoái lạc và khen thưởng. Thế mà, các chất gây nghiện, cũng như những hoạt động gây nghiện (activités addictives), “ có đặc điểm hoạt hóa hệ dopaminergique, nghĩa là làm gia tăng ước muốn tiếp tục hay trở lại chất hay hoạt động này, Serge Ahmed đã nói rõ như vậy. Mặt khác chúng làm giảm hệ kiểm soát (système de contrôle) ở vỏ não trước trán (cortex préfrontal). ” Ngoài ra, chúng làm cho dễ mẫn cảm với stress, và chính stress làm dễ quá trình nghiện…một vòng xoắn ốc thật sự !

    Phân tích này, được chấp thuận bởi phần lớn các nhà khoa học, đã bị xét lại bởi Jean Pol Tassin, giám đốc nghiên cứu của Inserm. “ Dopamine không chịu trách nhiệm về tình trạng nghiện ! Không phải bởi vì nó mang lại khoái lạc mà một chất làm cho bị phụ thuộc. Thuốc lá mang lại ít khoái lạc hơn héroine thế mà đứng đầu bảng các chứng nghiện ; tình dục mang lại tối đa khoái lạc nhưng chỉ rất ít người bị nghiện ! ”. Theo ông tất cả xảy ra ở thượng nguồn của dopamine, ở mức hai hệ thần kinh, một hệ can dự vào trong sự nhận thức (noradrénaline) và hệ kia trong sự chịu đựng tâm trạng thất vọng (sérotonine). Sự nghiện gây nên sự mất đồng bộ hóa (désynchronisation) của hai hệ thần kinh này : sự hoạt hóa của hệ này không còn kéo theo sự khởi động của hệ kia nữa : sự thèm muốn không được kềm chế nữa. Ta dùng ma túy để tìm lại một hoạt động chức năng hài hòa, nhưng ta càng sử dụng, ta càng tách đôi !. Cuối cùng,“ người nghiện ” (addict) là kẻ không nhận thức thế giới như những người khác, não bộ của người này bị rối loạn ” . Đối với Jean-Pol Tassin, như thế chỉ bị nghiện với những chất hoá học (thuốc lá, rượu, cocaine…). Trò chơi bệnh lý (jeu pathologique) không gây nên sự mất đồng bộ hóa này, nó chỉ là một biện pháp thay thế cho phép chịu được một phụ thuộc khác.

    Làm sao điều trị ?

    “ Không có phương thức bá bệnh, dược học hay hành vi, để điều trị bệnh nghiện ”, Serge Ahmed đã xác nhận như vậy. Những loại thuốc hiếm hoi hiện có bất hạnh thay chỉ có hiệu quả đối với một thiểu số nhỏ các bệnh nhân. Những chiến lược thay thế (stratégie de substitution), cố gắng theo kèm tốt hơn bệnh nhân, chỉ liên quan đến chứng nghiện thuốc lá và vài loại ma túy. Do đó chỉ còn một phương thuốc : giúp người bệnh chữa lành nhờ kiêng khem hoàn toàn và dài lâu, dầu đó là nghiện có hay không có chất gây nghiện.
    (SCIENCE ET VIE, HORS SERIE 6/2011)

    9/ MUCOVISCIDOSE : BƯỚC NGOẶT LỚN ĐẦY HỨA HẸN TRONG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU.

    BS Franck Dufour, giám đốc khoa học của hiệp hội Vaincre la mucoviscidose, trình bày những kết quả đầu tiên của một công trình nghiên cứu rất đáng phấn khởi.

    Hỏi : Ông có thể giải thích cho chúng tôi bất thường di truyền nguồn gốc của bệnh mucoviscidose ?
    BS Franck Dufour : Mỗi gène “ chế tạo ” (mã hóa) một protéine, yếu tố cơ năng của tế bào. Trong bệnh mucoviscidose (gây bệnh cho 40.000 trẻ em ở châu Âu và 6000 ở Pháp), protéine liên hệ, vốn cho phép cấp nước và làm loãng nhầy trong phổi, bị thiếu hụt. Chất nhầy trở nên quá đặc, nhất là ở đường hô hấp (ở đây các vi khuẩn tìm thấy được một môi trường thuận lợi để phát triển một nhiễm trùng). Hệ tiêu hóa cũng bị rối loạn. Nói chung các hậu quả thường trầm trọng : những cơn ho làm kiệt sức, ứ tiết phổi (encombrement pulmonaire), các vấn đề dinh dưỡng với mất cân, khả năng miễn dịch kém đối với những nhiễm trùng...Ở một giai đoạn tiến triển, mô phổi có thể bị phá hủy, cần ghép để sống còn.

    Hỏi : Làm sao ta có thể đảm bảo chẩn đoán ?
    BS Franck Dufour : Từ năm 2002, việc phát hiện bệnh này bằng một phân tích máu được thực hiện một cách hệ thống ở tất cả các trẻ sơ sinh. Trong trường hợp bất thường, ta bổ sung bằng một xét nghiệm di truyền (để tìm kiếm một gène gây bệnh : CFTR). Sau đó các nhũ nhi bị bệnh được theo dõi trong một trung tâm chuyên môn.

    Hỏi : Hiện nay bệnh được điều trị như thế nào ?
    BS Franck Dufour : Chủ yếu có 3 loại điều trị : dùng các trích chất tụy tạng (extraits pancréatiques) để tiêu hóa, sử dụng các thuốc hít (médicaments inhalés) để làm lỏng chất nhày (mucus), dùng các kháng sinh khi bị nhiễm trùng hô hấp. Mỗi ngày cần những buổi kiné liệu pháp để rút chất nhày khỏi đường hô hấp. Trừ phi bệnh nhân chính mình đã học cách thực hiện những bài tập này. Ta điều trị các triệu chứng nhưng không chữa lành được bệnh.

    Hỏi : Trong lãnh vực nghiên cứu, khám phá mới nhất nào mở ra một đường hướng mới ?
    BS Franck Dufour : Các nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ và Châu Âu, cùng cộng tác, khảo sát những tác dụng của một loại thuốc chống lại một cách đặc hiệu protéine bị hỏng, nguồn gốc của căn bệnh. Các nhà khoa học đã hiệu chính một loại thuốc, VX-770, đã cho phép tái lập chức năng bình thường của protéine bị quy kết này. Các thử nghiệm này đã được thực hiện trên một loại bệnh nhân đặc biệt, mang một bất thường đặc hiệu liên quan đến từ 2 đến 4% các bệnh nhân. Thuốc mới này đã được cho bằng đường miệng trong nhiều công trình nghiên cứu. Công trình nghiên cứu mới nhất (giai đoạn III) được thực hiện trong 48 tuần trên 161 bệnh nhân.

    Hỏi : Những kết luận của công trình nghiên cứu này là gì ?
    BS Franck Dufour : Có rất nhiều kết quả : 1. Một sự gia tăng rất đáng kể chức năng hô hấp. 2. Lên cân khoảng 3 kg. 3. Lần đầu tiên, ta đã chứng minh được rằng nếu ta nhắm vào một protéine thiếu sót, ta có thể biến đổi chất lượng sống của các bệnh nhân.

    Hỏi : Ta có thể nghĩ là có thể chữa lành bệnh mucoviscidose nhờ phương pháp mới này hay không ?
    BS Franck Dufour : Trước khi có thể phát biểu, phải chờ đợi kết thúc những thử nghiệm đang được tiến hành..khoảng hai năm. Khi đó chúng ta có thể đánh giá một cách chính xác mức độ của những lợi ich đã được quan sát. Những kết quả này dấy lên một niềm hy vọng to lớn đối với toàn bộ các bệnh nhân. Những loại thuốc khác, lần này nhắm vào những bất thường đặc hiệu khác của protéine (nghĩa là những loại bệnh nhân khác trong đó một liên quan đến 70% các trường hợp), hiện đang được nghiên cứu, luôn luôn ở Hoa Kỳ và châu Âu. Tầm quan trọng của những công trình này là ở chỗ bây giờ ta tấn công vào nguồn gốc của căn bệnh. Đó là một bước ngoặt vĩ đại !
    (PARIS MATCH 15/9-21/9/2011)

    10/ NGỪNG THỞ DO TẮC LÚC NGỦ : PHUƠNG PHÁP MỚI ĐẦY HỨA HẸN.

    GS Frédéric Chabolle, trưởng khoa ORL của bệnh viện Foch, phê bình những kết quả nghiên cứu của một thiết bị y khoa đang được thử nghiệm.

    Hỏi : Rối loạn cơ năng nào gây nên một cơn ngừng thở ngắn (crise d’apnée) trong lúc ngủ ?
    GS Frédéric Chabolle: Đó là một blocage các đường hô hấp ở họng. Sự tắc này là do một sự giảm trương lực của các cơ, một sự giãn của khẩu cái mềm (voile du palais), của các hạnh nhân xích lại gần nhau…và do lưỡi trụt ra đằng sau. Những đợt ngừng thở ngắn này thường xảy ra (ở 3 đến 4% người lớn). Ở các trẻ em, rối loạn này chịu trách nhiệm 70% những trường hợp mổ amygdale.

    Hỏi : Ta có biết các nguyên nhân của những trường hợp ngột thở này không ?
    GS Frédéric Chabolle: Các nguyên nhân tại chỗ : một xương hàm hơi lùi ra sau, một chiếc lưỡi hay các amygdale quá lớn, một cái cổ bọc đầy mỡ. Cũng có một liên hệ với triệu chứng ngáy : 10% những người ngáy (ronfleur) là những người có những đợt ngừng thở ngắn (“ apnéique ”). Khởi đầu, có những turbulences trong đường dẫn khí với những chuyển động rung của lưỡi gà (luette). Rồi, với sự hẹp lại của các thành họng, không khí không còn đi qua nữa trong hai lá phổi và nồng độ oxy hạ trong máu, do đó tính chất trầm trọng của bệnh.

    Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những hậu quả của những đợt ngừng thở ngắn do tắc (apnées obstructives) này ?
    GS Frédéric Chabolle: Những người bị ngừng thở ngắn (apnéiques) thức dậy mệt mỏi và ngủ gà trong ngày bởi vì giấc ngủ của họ không có tính chất bồi sức (réparateur) (do đó nguy cơ bị tai nạn lúc lao động hay lúc lái xe). Tăng huyết áp gây nên bởi các cơn ngừng thở này có thể gây nên nơi họ những triệu chứng đau đầu mãn tính. Cũng cần nêu lên sự khó chịu đối với người vợ hay chồng, do chứng ngáy này.

    Hỏi : trong những trường hợp nghiêm trọng, có những nguy cơ trầm trọng hơn không ?
    GS Frédéric Chabolle: Vâng. Ta quan sát ở những bệnh nhân này một sự gia tăng các nguy cơ tim mạch, thần kinh, một sự giảm tính dục và đôi khi một hội chứng trầm cảm.

    Hỏi : Ngày nay, việc điều trị như thế nào ?
    GS Frédéric Chabolle: Ta có thể nhờ đến những phương pháp khác nhau. 1. Làm giảm cân ở những người béo phì. 2. Mang một mặt nạ thông khí ban đêm (masque de ventilation nocturne), nối với một máy ép khí (compresseur d’air) bằng một tuyau. 3. Thiết đặt, vào ban đêm, một bộ răng giả (prothèse dentaire) có tác dụng đưa hàm dưới và lưỡi ra trước. 4. Ngoại khoa : ở người lớn, làm giảm các thể tích của màng hầu (voile du palais) và lưỡi ; ở trẻ em, bằng cách cắt bỏ amygdale.

    Hỏi : Các kết quả như thế nào ?
    GS Frédéric Chabolle: Mặt nạ thông khí (masque de ventilation) (ở Pháp được mang bởi khoảng 300.000 người), mặc dầu rất hiệu quả, nhưng có điều bất tiện là không phải khi nào cũng chịu đựng được và phải được mang suốt đời. Răng giả (prothèse dentaire) (hiệu quả trong 80% các trường hợp) chỉ có thể đặt ở những người có bộ răng hoàn chỉnh và hoàn toàn lành mạnh. Bộ răng giả này có bất tiện là về lâu về dài gây nên một sự di lệch của các chiếc răng. Còn về ngoại khoa, điều trị triệt căn duy nhất, tỷ lệ thành công không được bảo đảm và vài tình trạng hậu phẫu có thể rất đau đớn.

    Hỏi : Phương pháp mới được thực hiện như thế nào ?
    GS Frédéric Chabolle: Mục đích là kích thích dây thần kinh lưỡi, để cho trong lúc ngủ lưỡi có thể được đưa ra phía trước vào lúc thở vào. Thiết bị gồm có một máy tạo nhịp (pacemaker) nhỏ được đặt dưới xương đòn. Bằng những sợi dẫn điện, pacemaker được nối với hai điện cực : một nằm dưới da, ở vùng cổ, tiếp xúc với dây thần kinh lưỡi ; điện cực kia được cắm vào ngực, giữa hai xương sườn. Can thiệp được thực hiện dưới gây mê tổng quát. Điện cực ở ngực có nhiệm vụ phát hiện thì đầu của sự thở vào và gởi một tín hiệu cho pacemaker, máy tạo nhip này đến lượt sẽ gởi một kích thích đến điện cực chi phối dây thần kinh lưỡi. Vào cuối thì thở vào, sự kích thích ngừng lại và sự thở ra bình thường. Với kỹ thuật vi xâm nhập này, ta không phải can thiệp vào trong họng.

    Hỏi : Cho đến nay, những kết quả thu được với phương pháp mới này là gì ?
    GS Frédéric Chabolle: Một chục trung tâm, Hoa Kỳ và châu Âu, hiện nay đang thử nghiệm thiết bị mới này (Inspire Medical System). Nhóm nghiên cứu của chúng tôi, ở bệnh viện Foch, là kíp đầu tiên tham gia vào những công trình nghiên cứu này. Các kết quả rất là hứa hẹn : hơn 100 bệnh nhân được đặt máy từ một năm nay, tỷ lệ thành công vượt quá 80%. Ta có thể hy vọng hưởng được thiết bị này từ nay đến 2 hoặc 3 năm.

    Hỏi : Nói tóm lại những ưu điểm chủ yếu là gì ?
    GS Frédéric Chabolle: 1. Phương pháp vi xâm nhập này có tính chất vĩnh viễn. 2. Thời gian nhập viện ngắn : một đến hai ngày. 3. Lúc thức dậy và sau đó không đau đớn. 4. Không động tác nào được thực hiện trong họng. 5. Tỷ lệ thành công đầy hứa hẹn. Có những chống chỉ định như một thể tích màng hầu quá lớn, một hội chứng ngừng thở ngắn rất nghiêm trọng...

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (10/10/2011)

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #14 Posted : Saturday, September 1, 2012 4:55:28 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 245

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ NHỮNG THỦ TỤC ĐƠN GIẢN HÓA CHỐNG LẠI SỎI THẬN

    Các cơn đau quặn thận (colique néphrétique), trong số những cơn gây đau đớn nhất, cần một xử trí cấp cứu.

    REIN. Rất có thể ta đã bị những sỏi thận mà không hay biết. Vả lại đó là trường hợp của rất nhiều viên sỏi nhỏ có kích thước dưới 5 mm và được thải ra một cách ngẫu nhiên mà ta không bao giờ hay biết gì cả. “ Đối với những viên sỏi lớn hơn thì là chuyện khác : chúng có thể đến làm tắc nghẽn các đường tiểu, gây nên một áp lực hầu như không chịu nổi, đến độ nhiều người gọi sự đau đớn này là “ suicidaire ”, GS Christophe Mariat, thầy thuốc chuyên khoa bệnh thận (CHU-Saint-Etienne) đã giải thích như vậy.

    Trong thời kỳ đầu ưu tiên là làm giảm đau. Chính vì thế những thuốc giảm đau mạnh như morphine được cho tức thời. “ Sau đó, ta có thời gian để xem viên sỏi sẽ được thải ra tự nhiên hay không, bằng cách đánh giá kích thước của nó và vị trí của viên sỏi nhờ những phim chụp X quang hay xem có cần phải can thiệp trong những ngày tiếp theo sau đó hay không ”, GS Maurice Laville, thầy thuốc chuyên khoa bệnh thận (CHU Lyon) đã xác nhận như vậy.

    “ Những tình huống duy nhất mà ta phải can thiệp, không phải chờ đợi rồi mới dẫn lưu thận (sỏi thận được điều trị ở thì hai), đó là đứng trước sốt hay run lạnh bởi vì khi đó có nguy cơ thật sự nhiễm trùng thận và nhiễm trùng huyết rất nặng. Hay nếu như bilan X quang cho thấy rằng sỏi gây tắc các đường tiểu và dẫn đến thương tổn thận ở thượng nguồn ”, BS Eric Fontaine, thầy thuốc chuyên niệu học (Bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou) đã nói tiếp như vậy.

    LITHOTRIPSIE, KHÔNG GÂY MÊ.

    Khả năng đầu tiên can thiệp lên sỏi, lithotripsie extracorporelle (nghiền sỏi ngoài cơ thể), đáng lưu ý bởi vì không đòi hỏi gây mê tổng quát : chỉ cần cho thuốc giảm đau là đủ và sau can thiệp thường đơn giản. Máy được cải thiện tốt : không còn cần phải “ phóng ” vào trong một loại bồn tắm đầy dịch để nhận ở đó những onde de choc và như thế làm vỡ từng mảnh các hòn sỏi. Ngày nay, chỉ cần nằm dài, máy sẽ đi đến đối diện với các viên sỏi, sau khi xác định vị trí nhờ X quang, phóng ra những onde de choc. Một buổi nghiền sỏi kéo dài 30 đến 45 phút. Điều thận trọng duy nhất : khi ta dùng thuốc chống ngưng kết (Aspirine, Plavix) hay một thuốc kháng đông, phải báo cáo điều đó bởi vì những thuốc này, nếu không được tạm thời ngừng lại, có thể gây sự tạo thành máu tụ bên trong.“ Với kỹ thuật này, phần lớn các sỏi có đường kính dưới 10mm, thậm chí đến 20mm, có thể được làm vụn một cách an toàn, sự bó buộc duy nhất là phải khám lại thầy thuốc chuyên khoa niệu sau 3 tuần để kiểm tra rằng những mảnh vụn ấy đúng là đã được thải ra và do đó khong cần phải một buổi nghiền sỏi thứ hai ”, BS Fontaine đã nhấn mạnh như vậy.

    Trong trường hợp thất bại hay khi sỏi ở vị trí không tốt (thí dụ, trong phần dưới và thấp của thận, như thế sẽ khó mà lấy được) hay khi ta không thể không điều trị chống đông hay chống ngưng kết, ngay cả trong 24 giờ, khi đó thầy thuốc niệu khoa có thể chuyển qua soi niệu quản (urétéroscopie). Kỹ thuật này nhằm đưa một ống nội soi vào ống niệu quản (uretère), ống nối thận với bàng quang, bằng cách đi ngược lên các đường tiểu tự nhiên “ Soi niệu quản cứng (urétéroscopie rigide) chủ yếu hữu ích để tấn công các sỏi lớn nằm thấp nhất trong ống niệu quản này. Nếu không, từ 4 đến 5 năm nay, thủ thuật dùng ống nội soi mềm (endoscope souple), có đường kinh nhỏ hơn, đã được thật sự phát triển. Điều này cho phép tìm kiếm sỏi cho đến tận trong thận, để làm vỡ vụn chúng bằng laser, siêu âm trong (ultrasons internes) hay những onde de choc tại chỗ. Chỉ có điều soi niệu quản là thủ thuật xâm nhập hơn nghiền sỏi (lithotripsie), bởi vì cần phải một gây mê tổng quát, thậm chí hai nếu trước đây phải đặt một ống thông để bài xuất nước tiểu. Sau đó bởi vì tính chất xâm nhập của thủ thuật này kèm theo một nguy cơ nhỏ bị biến chứng nhiễm khuẩn ”, BS Fontaine đã phát biểu như vậy.

    HIỂU NGUYÊN NHÂN

    Trên khoảng 75.000 can thiệp hàng năm để lấy sỏi, ngoại khoa chỉ còn chiếm 4000 động tác, so với hơn 40.000 đối với nghiền sỏi (lithotripsie) và 30.000 đối với soi niệu quản (urétéroscomie). “ Từ nay ta dành ngoại khoa cho những trường hợp thất bại hiếm hoi của hai kỹ thuật kia hay cho các sỏi rất lớn mà ta biết rằng chúng không có một cơ may nào được thải ra bằng những kỹ thuật khác. Tóm lại là những tình huống khá hiếm ”, BS Fontaine đã đảm bảo như vậy.

    Mặc dầu điều trị cơn đau quặn thận đã tiến triển tốt, tuy vậy việc loại bỏ các viên sỏi gây đau tự nó không phải là mục tiêu. Phải hiểu tại sao điều đó đã xảy ra và nhất là làm gì để tránh phải sống lại một thử thách như thế. Thật vậy, “ khi ta đã từng bị một đợt sỏi thận đầu tiên, thì nguy cơ tái phát trong 3 đến 5 năm tiếp theo sau là trên 50% ! Nói một cách khác, xác suất để biến cố này sẽ tái diễn lớn hơn xác suất được yên ổn ”, GS Bertrand Knebelmann, thầy thuốc chuyên khoa thận thuộc bệnh viện Necker Paris) đã cảnh cáo như vậy.
    (LE FIGARO 3/10/2011)


    2/ SỎI THẬN : LÀM SAO NGĂN NGỪA NHỮNG TÁI PHÁT

    Các nạn nhân của cơn đau quặn thận chỉ có một thèm muốn, đó là một khi cơn đau cấp tính đã được giải quyết : quên đi điều đã xảy đến đối với họ !“ Nhưng nếu ta không tác động vào điều đã cho phép tạo thành những viên sỏi đầu tiên, thì không có một lý do gì để những viên sỏi khác sẽ không được tạo nên sau đó ”, GS Laville đã nhấn mạnh như vậy.

    Ý kiến này được chia sẻ bởi GS Knebelmann : ông cảnh cáo các bệnh nhân của mình: “ Hãy luôn luôn thu hồi viên sỏi đã gây cho bạn biết bao âu lo, hay những mảnh vụn của nó bằng cách lọc nước tiểu của bạn với một miếng gaze, và mang chúng đến phòng xét nghiệp để nhờ phân tích. Sau đó, hãy đi khám thầy thuốc chuyên khoa trong vòng 3 tháng. Đó là điều thiết yếu để biết phải có thái độ xử trí như thế nào và như thế tránh cho bạn một tái phát.” Cũng phải cần thực hiện “ một phim X quang hay một siêu âm đường tiểu mỗi năm, để xem những viên sỏi mới có đang được tạo thành hay không, GS Laville đã xác nhận như vậy.

    MUỐI VÀ PROTEINE ĐỘNG VẬT.

    Khi kết quả phân tích sỏi gây bệnh cho thấy rằng đó là oxalate de calcium, điều này xảy đến trong khoảng 80% các trường hợp, một chế độ ăn uống quá dồi dào protéine động vật và muối thường là nguyên nhân. Vậy phải thay đổi vài thói quen ăn uống xấu và hướng về một chế độ ăn uống loại Địa Trung hải, với nhiều cá, trái cây và rau hơn, nhưng ít thịt và friture hơn.“ Trái lại, giảm tiêu thụ calcium (chủ yếu các sản phẩm sữa) chẳng lợi ích gì. Thật vậy, dưới 1 g calcium mỗi ngày, sự bài tiết của oxalate trong nước tiểu gia tăng. Ngoài ra điều đó kèm theo một nguy cơ thật sự bị mất chất khoáng xương (déminéralisation osseuse) ”, GS Knebelmann đã cảnh cáo như vậy.

    Những biện pháp phòng ngừa hữu ích khác : tránh lạm dụng những thức ăn giàu oxalate (chocolat đen, trà, rhubarbe). Đừng dùng vitamine C liều cao dưới dạng những chất bổ sung thức ăn (compléments alimentaires), điều này làm gia tăng sự bài tiết oxalate trong nước tiểu, cũng như sự việc uống nước bưởi ép.

    UỐNG TRONG NGÀY.

    Và nhất là, uống ít nhất 2,5 lít nước mỗi ngày, được phân đều ra trong ngày, gồm cả lúc đi ngủ. Không phải là chất lượng nước uống, mà chính lượng nuớc và sự phân chia trong ngày mới là đáng kể. Vậy không nên ưu tiên nước rất ít được khoáng hóa. “ Trái lại, khi đó là sỏi acide urique, uống nước giàu bicarbonate de sodium (loại Vichy) để nâng pH nước tiểu lên là cần thiết ”, GS Mariat đã xác nhận như vậy.

    Những biện pháp tiết thực này làm giảm một cách đáng kể nguy cơ tái phát. Mặc dầu vậy, khi các đợt tái phát kế tiếp nhau, thường bởi vì những điều dặn dò về tiết thực không được tuân thủ đúng đắn, các thầy thuốc chuyên về bệnh thận hay niệu học còn có thể hành động : cho một thuốc lợi tiểu thiazide cho phép làm giảm nồng độ calcium trong nước tiểu (nếu theo chế độ ăn ít muối) và như thế làm giảm sự tạo thành các sỏi oxalte de calcium. Trong trường hợp quá nhiều acide urique, ta kê đơn thuốc làm giảm axit uric trong máu (hypouricémiant), như allopurinol.

    Đọc thêm : TSYH số 237, bài số 7

    3/ SỎI THẬN : CÓ NHỮNG ĐỐI TƯỢNG CÓ NGUY CƠ BỊ BỆNH ?

    “ Các sỏi thận thường xảy ra : cứ khoảng 10 người lớn thì sỏi thận gây bệnh cho một và ở đàn ông 2 lần nhiều hơn ở phụ nữ, GS Mariat đã nhắc lại như vậy. Nếu ta là một người đàn ông, nếu ta ở lứa tuổi từ 30 đến 40, nếu ta đã từng ăn uống quá mức với một chế độ ăn kiểu Mỹ, nếu ta bị tăng thể trọng và ta thường uống nước quá ít trong ngày, khi đó ta thật sự có một profil điển hình với nguy cơ bị sỏi thận. ”

    Nhưng những đặc điểm khác cũng có thể góp phần. Thí dụ, có nước tiểu quá axit (điều này được trắc nghiệm dễ dàng chỉ nhờ một bandelette nước tiểu) cũng là một yếu tố nguy cơ, cũng như sự việc bị nhiễm trùng đường tiểu tái diễn. Sau cùng, những tiền sử gia đình bị sỏi đường tiểu có thể thể hiện một khuynh hướng trong gia đình bài tiết quá nhiều calcium trong nước tiểu, mà ta không biết rõ tại sao.

    “ Hiện nay, sự nghiên cứu đã không cho phép nhận diện một gène của sỏi đường tiểu, GS Knebelmann đã giải thích như vậy. Tuy nhiên có nhiều căn bệnh hiếm nguồn gốc di truyền, nói chung do một thiếu sót trong việc vận chuyển các muối khoáng trong thận và kèm theo các sỏi hay tệ hơn, “ néphrocalcinose ” (nhiễm canxi thận), nghĩa là những lớp lắng đọng calcium trong chính quả thận. Thế mà những ứ đọng này có thể làm biến đổi chức năng thận. Như thế, ở đa số các nạn nhân bị sỏi, chúng ta nghĩ rằng có thể có nhiều gène liên hệ ở những mức khác nhau : trong trường hợp quá trình tiêu xương (résorption osseuse) quá quan trọng, trong những rối loạn tái hấp thụ calcium và oxalate của thận hay trong những bất thường hấp thụ của những chất khoáng ở ruột, toàn bộ dẫn đến những thay đổi trong thành phần của nước tiểu. Chúng ta thực hiện những nghiên cứu bằng spectrophotométrie infrarouge, một kỹ thuật tương tự với kỹ thuật được sử dụng trong địa chất để khảo sát những lớp khác nhau cấu thành đất. Chính như thế mà ta nhận thấy rằng không phải tất cả các viện sỏi đều được tạo bởi một cấu trúc đồng nhất duy nhất. Chúng gồm có một nhân (noyau), được cấu tạo bởi nhiều tinh thể và những lớp trung bình và nông, lại được cấu tạo bởi những tinh thể khác, thí dụ oxalate de calcium. Hiểu rõ hơn những lớp này được cấu tạo như thế nào là một thách thức tầm cỡ đối với những năm đến.”

    Trong khi chờ đợi nghiên cứu cho phép nhận diện một cách chính xác hơn những người có nguy cơ cao là gì, những người đã từng bị sỏi có thể cố gắng tác động lên thành phần nước tiểu của mình để hạn chế những nguy cơ tạo thành các tinh thể. “ Không cần thiết làm một bilan và một phân tích nước tiểu nếu ta đã không bao giờ bị sỏi đường tiểu, điều đó tuyệt đối không phải là một trong những khuyến nghị hiện nay. Tuy nhiên dầu sao ta cũng có thể hạn chế những nguy cơ bị một viên sỏi vào một ngày nào đó, nhờ một chế độ ăn uống lành mạnh hơn và nhờ uống nhiều nước hơn trong ngày. Việc cải thiện vệ sinh đời sống này được khuyến nghị đối với thận, nhưng cũng có lợi đối với tim ! Và một công trình nghiên cứu được thực hiện năm 2007 bởi một nhóm nghiên cứu của Đại học Duke, Bắc Carolina Hoa Kỳ, đã cho thấy rằng sự việc uống nước hơi pha chanh làm giảm sự tạo thành các tinh thể trong nước tiểu, có lẽ nhờ citrate mà nó chứa. Thế mà biện pháp này không tạo nguy cơ : một ít nước chanh ép trong nước uống là một phương tiện tốt để mang lại một ít vitamine C tự nhiên trong khi ăn ”, GS Mariat đã kết luận như vậy.
    (LE FIGARO 3/10/2011)


    4/ LIỆU PHÁP GENE ĐÃ CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ CÁC UNG THƯ BẠCH CẦU.

    Manipuler những tế bào miễn dịch bằng liệu pháp gène (thérapie génique), để huấn luyện chúng loại bỏ những tế bào ung thư : đó là ý tưởng được thực hiện bởi các thầy thuốc của đại học Pensylvanie để chống lại ung thư máu thường xảy ra nhất ở những người trên 50 tuổi, leucémie lymphoide chronique. Công trình nghiên cứu này đã được thực hiện trên 3 bệnh nhân, không đáp ứng với mọi điều trị. Một tháng sau khi can thiệp, bệnh bạch của những bệnh nhân này đã thoái biến : hai bệnh nhân đã thuyên giảm hoàn toàn sau 10 tháng. Trong loại bệnh bạch cầu này, những tế bào miễn dịch, những tế bào lympho B, tăng sinh một cách vô tổ chức. Những “ cousin ” của chúng, những tế bào lympho T, đã được phân lập từ máu của các bệnh nhân, được tái lập chương trình (reprogrammé) để tấn công vào những tế bào ác tính rồi được tiêm trở lại vào trong máu. Sự biến đổi nhằm đưa vào, nhờ một virus, gène của một thụ thể có khả năng nhận biết một protéine nằm ở bề mặt của các tế bào lympho B (kháng nguyên Cd19), cũng như gène của một protéine được gọi là protéine de signalisation. Một khi được tiêm vào trở lại, những tế bào lympho T được biến đổi này đã tăng sinh một cách lạ thường, tạo thành một đội quân các clone tấn công vào những tế bào lympho B. Một liệu pháp được thực hiện trước đã phá hủy những lymphocyte T, điều này có lẽ làm dễ sự tăng sinh của những tế bào lympho T được biến đổi về mặt di truyền, David Porter, một trong những tác giả đã nêu ra giả thuyết như vậy. Các thầy thuốc hy vọng lập lại những kết quả này với những ung thư khác. Những thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành.
    (SCIENCE ET VIE 10/2011)

    5/ NHÃN KHOA CỦA FUCHS

    Trong số tất cả các thầy thuốc đã để lại tên mình cho một đặc điểm bệnh lý, Ernst Fuchs là người để lại nhiều nhất. Dystrophie (loạn dưỡng), điểm vàng (tache jaune), teo (atrophie), viêm giác mạc, hiện tượng, hội chứng, viêm thể mi mống mắt khác màu (cyclite hétérochromique), tật khuyết của mắt (colobome), các xoang (cavité) và grille, tất cả được gọi là “ de Fuchs ”. Đó là nói về vị trí của người đàn ông này trong nhãn khoa.

    Ernst Fuchs là người Áo, sinh năm 1851 ở Vienne. Ông nhận một nền giáo dục tuyệt vời, nói tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh và Ý, đọc rất nhiều nhưng cũng rất thể thao. Ông học y khoa đồng thời ông làm việc với tư cách trợ giáo ở Viện sinh lý học Insbruck. Tốt nghiệp năm 23 tuổi, ông bắt đầu tập sự ngoại khoa dưới sự chỉ đạo của Christian Billroth nổi tiếng nhưng rất nhanh chóng ông vừa thực tập ngoại khoa vừa theo học nhãn khoa ở một giáo sư của thành phố Vienne, Carl Ferdinand von Arlt, vị giáo sư này đã đào tạo ông cho đến năm ông được 29 tuổi. Ông trở thành nổi tiếng nhờ một công bố 259 bệnh nhân bị sarcome uvéal và đến lượt mình ông đã trở thành giáo sư ngay năm 1880. Chính ở đại học Liège là nơi ông đã tìm được chức vụ giảng dạy đầu tiên trước khi trở lại Vienne, ở đây ông được bổ nhiệm trưởng bộ môn nhãn khoa uy tín vào năm 1885. Sau đó, ông phát hành một tập giản yếu (précis) về cơ thể học của mống mắt, rồi năm 1889, cho ra đời ấn bản đầu tiên của cuốn sách giáo khoa về nhãn khoa dành cho các sinh viên. Ông là một trong các giáo sư đầu tiên thích cho cours đã được in trước. Để được như thế ông đặt hàng một kỹ thuật mới in những chữ lớn dễ đọc. Sách cổ điển này đã được xuất bản bằng các thứ tiếng châu Âu nhưng cũng bằng chữ Trung Hoa và Nhật bản.

    LIEGE VÀ VIENNE.

    Khi người thầy thuốc chuyên khoa mắt 32 tuổi được bổ nhiệm làm trưởng bộ môn vừa mới được thành lập của đại học Liège, ông rất đổi ngạc nhiên gặp ở đó người mang một tên nổi tiếng, Théodore Schwann, được nêu tên ở trang đầu trong tất cả các traité d’histologie. Ersnt ở lại Liège 4 năm trước khi trở lại Vienne. Chính ở Bỉ mà ông đã thai nghén một cuốn sách nổi tiếng về sự phòng ngừa chứng mù lòa từng đã được đề cập cập đến lúc ông còn đi học. Trở lại Vienne, Fuchs khám bệnh và chiếm giữ ghế trưởng khoa trong 30 năm. Ông từ giả nhiệm sở này năm 1915 khi ông 64 tuổi. Sự nổi tiếng của Vienne khi đó đã rất lan rộng nhờ người tiền nhiệm của Fuchs, nhưng sự rạng rỡ do ảnh hưởng của chính ông thật là khác thường. Theo một bài báo được công bố năm 1897 về bệnh rétinite circinée, ông giải thích những trường hợp của 11 bệnh nhân bị bệnh, được khám phá ở khoảng 70.000 người mà ông đã khám trong chỉ 7 năm rưỡi! Nếu ta tính đến các bệnh nhân của ông lúc ông 30 tuổi, ta có thể ước tính rằng ông đã khám khoảng nửa triệu đôi mắt khác nhau !

    THẦY THUỐC NGOẠI KHOA RỒI VỀ HƯU TRẺ

    Fuchs mô tả một cách cẩn thận cơ thể học của mắt nhưng ông cũng quan tâm những bệnh lý khác nhau của võng mạc trên bình diện cơ thể bệnh lý và ông là một thầy thuốc ngoại khoa khéo léo. Ông nổi tiếng với can thiệp phẫu thuật lên bệnh đục thủy tinh thể bởi vì ông đoạn tuyệt với thói quen giữ bệnh nhân nằm trong vài tuần sau khi mổ, cặp mắt được che bởi một bandeau. Trái lại, sau khi mổ ông khám họ rất nhanh và như thế khám phá rằng biến chứng bong màng mạch (décollement choroide) thường xảy ra hơn dự kiến. Do đó ông nổi tiếng nhanh chóng và từ khắp nơi bệnh nhân đến để khám ông. Vua Ba Tư, Nasr-ed-Din, gởi đến ông người vợ được sủng ái của mình, được những thầy thuốc sở tại chẩn đoán là bị đục thủy tinh thể. Nàng đến kèm theo nhiều phụ nữ khác cũng bị bệnh đục thủy tinh thể, để được mổ bởi vị giáo sư nổi tiếng này. Bất hạnh thay, mặc dầu những phụ nữ đi theo đúng được mổ rất tốt, nhưng Fuchs chứng thực rằng bà vợ vua thật ra bị bệnh glaucome và thị giác của nàng không thể phục hồi lại được. Nhà vua sẽ không bao giờ hiểu được tại sao các thị tì có thể phục hồi lại thị giác còn quý phi của mình thì lại không ! Ở tuổi 64, Fuchs là người rất giàu có khi từ giã nhãn khoa của Vienne. Nhưng đệ nhất thế chiến và tình trạng lạm pháp tiếp theo sau làm ông gần như bị khánh kiệt. Các người bạn của ông và những người hâm mộ ông sung sướng được giúp ông và tài trợ cho ông một vòng qua Hoa Kỳ thuyết giảng. Là người rất ham thích du lịch, ông còn viếng thăm Tây Ban Nha, Ai cập và Tiểu Á. Là người đàn ông trầm tĩnh , nhẫn nại, cao lớn và hơi còm, ông nói tiếng Anh thành thạo, và giữ một tính ham hiểu biết không hạn độ. Ông còn xuất bản khoảng 100 bài báo trước khi về hưu và mất ở Vienne vào lúc gần 80 tuổi vì bệnh nhồi máu cơ tim.
    (GENERALISTE 22/9/2011)


    6/ MỘT VIRUS NGUỒN GỐC CỦA BỆNH CAO HUYẾT ÁP

    Những dạng thông thường nhất của cao huyết áp thật ra là do một virus ! Lý thuyết, mặc dầu gây ngạc nhiên, nhưng lại không kém phần nghiêm túc. Ta có được lý thuyết này là nhờ những thầy thuốc chuyên khoa tim của bệnh viện Chaoyang (Bắc Kinh). Thủ phạm có thể là cytomégalovirus, một virus nguồn gốc của những nhiễm trùng thường nhất là không gây triệu chứng, thuộc họ những virus của herpès và thủy đậu. Những người bị cao huyết áp thường mang những virus này. Trong số khoảng 200 bệnh nhân được theo dõi trong công trình nghiên cứu, 52,7% những người bị cao huyết áp đã bị nhiễm bởi cytomégalovirus, so với 30,9% những người khác. Với sự hiện diện của virus, nguy cơ bị cao huyết được nhân lên 2,5 lần. “ Đây là lần đầu tiên một mối liên hệ giữa cao huyết áp và cytomégalovirus được phát hiện ”, các tác giả đã viết như vậy. Họ nghi ngờ sự can dự của một mảnh ARN được sản xuất bởi virus và được phát hiện trong huyết thanh của những người bị nhiễm trùng. Phân tử này hoạt hóa một phân tử khác (IFR1), can dự trong quá trình miễn dịch và viêm, góp phần vào sự xuất hiện của cao huyết áp.
    (SCIENCE ET VIE 10/2011)

    7/ ALZHEIMER : NHỮNG TRIỂN VỌNG ĐIỀU TRỊ ĐÁNG PHẤN KHỞI.

    GS Bruno Dubois, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, Giám đốc của Viện trí nhớ và bệnh Alzheimer của bệnh viện Pitié-Salpetrière, bình luận những hy vọng được mang lại bởi những kết quả đầy hứa hẹn của công trình nghiên cứu.

    Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh Alzheimer ở não bộ.
    GS Bruno Dubois: Ở Pháp ngày nay, khoảng 850.000 người bị bệnh này. Bệnh Alzheimer là do những thương tổn tế bào nằm trong một vùng chính xác của não bộ, đặc biệt là hồi hải mã (hippocampe). Những protéine bất thường (amyloides) kết tụ để tạo thành những mảng được gọi là “ lão suy ” (plaques séniles). Những mảng này gây nên sự thóai biến của các sợi thần kinh, với sự tích tụ của một loại protéine khác, các protéine tau.

    Hỏi : Những triệu chứng đặc hiệu nào khiến ta nghi ngờ sự khởi đầu của bệnh lý não bộ này ?
    GS Bruno Dubois: Dấu hiệu đầu tiên : những rối loạn trí nhớ về những sự kiện mới xảy ra, nhưng những nguyên nhân khác cũng có thể chịu trách nhiệm, như sự làm việc quá sức, sự trầm cảm. Điều khiến nghĩ đến bệnh Alzheimer ở giai đoạn khởi đầu, đó là sự quên hoàn toàn một biến cố quan trọng mới xảy ra như đám tang của một người thân. Những triệu chứng khác liên kết với vị trí của những thương tổn não bộ cũng có thể phát hiện bệnh, thí dụ, sự mất định hướng trong không gian hay thời gian.

    Hỏi : Ta chưa biết những nguyên nhân chính xác của sự thoái hóa này, nhưng những giả thuyết là gì ?
    GS Bruno Dubois: Trong những dạng rất hiếm hoi, nguồn gốc có thể do sự biến hóa của một gène biến dị (trở nên bất thường). Những dạng này xảy ra ở những người trẻ, truớc 60 tuổi. Ở những người lớn tuổi hơn, từ nay ta biết rằng vài đặc điểm di truyền làm gia tăng các nguy cơ bằng cách làm các neurone dễ bị thương tổn hơn đối với các tấn công khác nhau.

    Hỏi : Tiến triển phải chăng như nhau đối với tất cả các người bệnh ?
    GS Bruno Dubois: Có một sự không đồng đều rõ rệt : ta quan sát thấy những thể suy sụp nhanh chóng và những thể khác cho thấy một mức độ ổn định nào đó. Những rối loạn trí nhớ nghiêm trọng có thể vẫn riêng rẻ trong nhiều năm trời. Trong đại đa số các trường hợp, những thương tổn các chức năng nhận thức liên kết một cách nhanh chóng ít hay nhiều với những vấn đề về trí nhớ này,

    Hỏi : Những kỹ thuật chẩn đoán đã tiến bộ phải không ?
    GS Bruno Dubois: Ta đã tiến bộ một cách đáng kể ! Từ nay, chẩn đoán dựa vào một tổng hợp các dữ kiện. 1. Dựa trên những dấu hiệu lâm sàng. 2. Dựa trên những kết quả của thăm khám chụp hình ảnh (IRM) cho thấy một cách chính xác sự teo lại của vài vùng não bộ, trong đó có hồi hải mã. 3. Dựa trên sự bất thường của dịch não tủy. 4. Pet Scan cũng được sử dụng để phân tích chuyển hóa não.

    Hỏi : Trong khi chưa có điều trị, sự ích lợi của những chẩn đoán sớm này đối với các bệnh nhân là gì ?
    GS Bruno Dubois: Các bệnh nhân có thể có vài quyết định quan trọng hay mong muốn tham gia những thử nghiệm điều trị được tiến hành với những loại thuốc đang được phát triển, trong đó vì loại rất có hứa hẹn.

    Hỏi : Về việc điều trị những bệnh nhân này, những cải thiện mới nhất là gì ?
    GS Bruno Dubois: Nhờ Plan Alzheimer, ta đã có thể thiết đặt những trung tâm tiếp đón ban ngày (centre d’accueil de jour) trong thành phố, những hospitalisation “ de répit ” để soulager thân nhân, và gia tăng số những auxilliaires de vie. Những nơi thông tin vùng đã được xây dựng cho các gia đình để cho phép họ tìm ra những giải pháp xã hội cho những vấn đề điều trị.

    Hỏi : Về mặt nghiên cứu, hướng nào mang nhiều hy vọng nhất ?
    GS Bruno Dubois: Lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu được lèo lái bởi viện nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy một lợi ích thật sự của một loại thuốc mới lên tiến triển của bệnh lý. Với một năm nhìn lại, ta đã thu được, ở những bệnh nhân được điều trị vào giai đoạn đầu của bệnh, một sự giảm 45% sự teo của hồi hải mã, so với nhóm chứng được điều trị với placebo. Đó là một bước tiến quan trọng, đã được trình bày nhân hội nghị thế giới vừa qua về bệnh Alzheimer. Những công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành ở người, đặc biệt với một kỹ thuật miễn dịch liệu pháp cải tiến.

    Hỏi : Có những phương tiện phòng ngừa để làm chậm sự xuất hiện của bệnh Alzheimer không ?
    GS Bruno Dubois: Những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng một vệ sinh đời sống nào đó làm chậm lại các triệu chứng, nhờ tác động lên những yếu tố làm dễ như bệnh đái đường, cao huyết áp, sự nhàn rỗi không hoạt động, chứng béo phì. Một chế độ ăn uống lành mạnh, những hoạt động vật lý và não bộ đều đặn cho phép làm lùi lại một ít sự xuất hiện của các triệu chứng.
    (PARIS MATCH 6/10-12/10/2011)

    8/ NHỮNG THUỐC CHỐNG ĐÔNG MÁU MỚI HIỆU QUẢ HƠN.

    Các chất ức chế thrombine dần dần sẽ thay thế các antivitamine K để phòng ngừa sự tạo thành các cục máu đông. Các antivitamine K tác dụng bằng cách ức chế vitamine K, một chất hoạt hóa sự đông máu. Điều bất tiện của loại thuốc kháng đông này là buộc phải thích ứng một cách đều đặn liều lượng của thuốc nhờ những kết quả của một xét nghiệm được thực hiện mỗi tháng. Các chất ức chế thrombine không có sự bó buộc này. Một công trình nghiên cứu quốc tế đã được tiến hành ở 18.000 bệnh nhân bị rung nhĩ, rối loạn nhịp thường xảy ra nhất. Ở những bệnh nhân này nguy hiểm chủ yếu là sự tạo thành các cục máu đông trong tim và di chuyển lên não, gây nên những tai biến mạch máu não. Một chất ức chế thrombine đã tỏ ra ưu việt hơn về mặt hiệu quả so với antivitamine K. Ta đã liệt kê 21% tai biến mạch máu não ít hơn, 30% những biến cố xuất huyết ít hơn và 11% tỷ lệ tử vong ít hơn.
    (PARIS MATCH 6/10 – 12/10/2011)

    9/ 11 RỐI LOẠN TÂM THẦN : STRESS POST TRAUMATIQUE

    Cựu chiến binh Việt nam, nạn nhân bị hãm hiếp, nạn nhân của một vụ mưu sát, của một vụ bắt làm con tin hay thoát chết sau một tai họa thiên nhiên, tất cả đều có một điểm chung : biến cố bi thảm mà họ đã trải qua có thể dẫn đến một tình trạng stress sau chấn thương. Ngay thế kỷ XIX, rối loạn tâm thần này đã được nêu lên bởi vài thầy thuốc thần kinh. Nhưng thật sự chính sự khủng khiếp của các cuộc đại chiến của thế kỷ XIX đã thúc đẩy các thầy thuốc tâm thần và chuyên khoa thần kinh nghiên cứu bệnh lý liên quan đến sự sợ hãi và trí nhớ này. Và mô tả những triệu chứng của nó, đôi khi ly kỳ.

    Stress sau chấn thương là gì ?

    Các triệu chứng của stress sau chấn thương được xếp thành 3 loại lớn, rõ ràng nhất là triệu chứng xâm nhập (symptôme d’intrusion). Ở đây các ký ức về biên cố gây chấn thương tái xuất hiện một cách không kiểm soát được. Dưới dạng các cơn ác mộng, nhưng chủ yếu khi flash-back. “ Đó không phải là một sự nhớ lại có ý thức (rappel conscient), như khi ta nhớ lại một biến cố đã xảy ra, Aline Desmedt, nhà nghiên cứu thuộc Neurocentre Magendie của Inserm đã giải thích như vậy. Người bệnh sống lại một cách vật lý, trên bình diện cảm giác và tình cảm, đợt chấn thương vừa qua. Những flash-back dữ dội, mà não bộ muốn thoát khỏi với bất cứ giá nào : đó là triệu chứng lẩn tránh (symptôme d’évitement). Người bị bệnh cố tránh để khỏi phải bị đối đầu với tất cả loại kích thích (đồ vật, âm thanh, những tình huống,...) có thể gợi lại cảnh tượng chấn thương (scène traumatique).“ Đối với bệnh nhân, trước mắt, đó là một cách để tự bảo vệ lấy mình, Aline Desmedt đã phân tích như vậy. Nhưng khi từ chối phải đối đầu với chấn thương, bệnh nhân cũng làm kéo dài bệnh lý của mình.” Một triệu chứng khiến bệnh nhân khép mình lại để tránh mọi yếu tố có thể gây nên những kỹ niệm đau đớn. Ngoài ra việc tránh né này thường kèm theo một sự cùn mòn các cảm xúc : các cảm giác lạc thú hay đau đớn bị giảm đi, bệnh nhân trở nên thờ ơ hay hững hờ tình cảm. Ta hiểu tại sao stress posttraumatique thường kèm theo một trạng thái trầm cảm. Sau cùng, đối với loại triệu chứng lớn thứ ba, các thầy thuốc tâm thần gọi là sự gia tăng tính phản ứng sinh lý (réactivité physiologique) : người bệnh nhạy cảm hơn nhiều đối với vài kích thích, như một tiếng ồn đột ngột gây mất ngủ, dễ bị kích thích hay những vấn đề tập trung trí nhớ.

    Những ai bị liên hệ ?

    Cứ 4 người đã từng trải qua một biến cố gây chấn thương tâm thần thì có một phát triển bệnh lý này. Trong dân chúng nói chung, tác động khó đánh giá hơn, vì lẽ tất cả tùy thuộc vào những biến cố gây chấn thương có thể xảy ra. Ở Hoa Kỳ, các công trình nghiên cứu đã đánh giá rằng 7 đến 8% những người Mỹ có thể bị stress sau chấn thương trong suốt cuộc đời họ.

    Những nguyên nhân là gì ?

    Xác định những nguyên nhân của rối loạn này là một công việc gay go, nhưng được làm dễ bởi những tiến bộ kỹ thuật của những thập niên qua, nhất là trong lãnh vực chụp hình ảnh não bộ. Để giải mã những bất thường não bộ đặc điểm của stress sau chấn thương, phải hiểu những cấu trúc của não bộ chúng ta tương tác như thế nào. Hạnh nhân (amygdale) trước hết là trung tâm của sự sợ hãi (centre de la peur), cho phép một phản ứng nhanh đứng trước một kích thích đơn giản nhưng có tiềm năng gây nguy hiểm. Ở động vật, các công trình nghiên cứu đã cho thấy một cách rõ ràng quá trình này. Khi bắt một con chuột chịu một kích thích trung tính (stimulus neutre), thí dụ một tiếng còi, liên kết với một kích thích ghê sợ (stimulus aversif), thí dụ một phóng điện nhẹ, con vật sẽ học một cách nhanh chóng để phản ứng lại, ngay cả khi nó chỉ nghe một kích thích trung tính. Phản ứng này sẽ không xảy ra nếu hạnh nhân bị thương tổn. Nh ư ng đứng trước một tình huống nguy hiểm, hạnh nhân (amygdale) không phải là cơ quan duy nhất xử lý các thông tin. Thí dụ, vỏ não trước trán (précortex frontal) phân tích thông tin này để có một quyến định tốt.
    Một cấu trúc quan trọng khác của não bộ, đó là hồi hải mã (hippocampe). Hồi hải mã cho phép xử lý tập hợp các kích thích, đặt tình huống nguy hiểm trong một bối cảnh chính xác. Trong trường hợp những bệnh nhân bị stress sau chấn thương, chụp hình ảnh não bộ đã cho phép nhận diện nhiều bất thường trong sự vận hành chức năng của các cấu trúc này. Thí dụ hạnh nhân tỏ rất đặc biệt hoạt động, trong khi vỏ não trước trán và thùy hải mã dường như bị biến đổi. Còn kỳ lạ hơn, những trường hợp nghiêm trọng nhất của stress sau chấn thương cho thấy một sự giảm thể tích của thùy hải mả. Những biến đổi này giải thích vài triệu chứng : sự tăng hoạt động (hyperactivité) của hạnh nhân làm dễ những phản ứng sợ hãi đứng trước một kích thích nhắc lại biến cố gây chấn thương, nhưng hoạt động thấp của hồi hải mã và vỏ não trước trán ngăn cản, một mặt, contextualiser kích thích, mặt khác, “ raisonner ” sự sợ hãi. “ Tất cả xảy ra như thể bệnh nhân tập trung vào một điểm nổi bật của chấn thương, mặc cho những yếu tố tình huống (élément contextuel) khác ”. Aline Desmedt đã tóm tắt như vậy. Nhưng một câu hỏi vẫn không có câu trả lời : những loạn năng này phát xuất từ đâu và tại sao chúng xuất hiện ở những người này hơn là những người kia ? Có nhiều giả thuyết (hormone de stress, thể địa tâm lý thuận lợi...), nhưng vẫn còn không chắc chắn.

    Điều trị như thế nào ?

    Theo truyền thống, stress posttraumatique được điều trị nhờ những liệu pháp hành vi và nhận thức : bằng đối thoại và làm cho bệnh nhân chịu chấn thương đã từng gây nên trong quá khứ (qua các hình ảnh, vidéo..), bệnh nhân như thế học cách tương đối hóa kinh nghiệm chấn thương của mình. Nhưng những liệu pháp khác ít quy ước hơn cũng có vai trò. Thí dụ EDMR (Eye Movement Desensitization and Reprocessing) nhằm đối thoại về chấn thương đồng thời lần lượt kích thích các bán cầu đại não (khiến bệnh nhân đưa mắt theo dõi một điểm sáng, nghe những tiếng ồn…). Những kích thích như thế giúp một tái lập chương trình của trí nhớ (une reprogrammation de la mémoire). Mặc dầu đang còn bị tranh cãi, nhưng ngày nay vài thầy thuốc chuyên khoa tâm thần chứng thực những kết quả dương tính của phương pháp này. Sau cùng, vài nhà sinh học nghiên cứu về vai trò của corticostérone, một hormone có can dự trong sự tạo thành những kỹ niệm của chúng ta. Và, tùy theo nồng độ được cho, corticostérone có khả năng tác động lên sự quên hay trái lại lên sự củng cố những ký ức. Một hướng điều trị đang còn ở giai đoạn thử nghiệm.
    (SCIENCE ET VIE HORS SERIE, 6/2011)

    10/ PROGERIA : KỀM CHẾ SỰ LÃO HÓA.

    Là căn bệnh di truyền hiếm, progeria là nguyên nhân của sự lão hóa tăng nhanh. Các trẻ em bị bệnh này có dạng vẻ của những người già và progeria ít xảy ra sau tuổi thiếu niên.

    Căn bệnh này là do một bất thường của một gène sản xuất một protéine độc hại : progérine tích tụ rất nhiều trong các tế bào, ngăn cản sự đổi mới và làm thời gian sống của các tế bào bị ngắn lại. Các tế bào bình thường khi lão hóa cũng sản xuất progérine, nhưng lượng rất nhỏ. Một chất làm suy giảm miễn dịch, rapamycine, đã tỏ ra có khả năng kéo dài đời sống của các nấm men (levure) và ngay cả của chuột. Loại thuốc này phá hủy progérine tế bào cũng như những chất phế thải tương tự khác. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ (các BS Dimitri Krainc và Francis Collins) vừa trắc nghiệm ripamycine một cách thành công trên các tế bào của những người bị bệnh progeria, được cấy ở phòng thí nghiệm. Tuổi thọ của các tế bào đã gia tăng nhiều. Một hướng đầy hứa hẹn chống lại sự lão hóa.
    (PARIS MATCH 15/9 – 21/9/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (19/10/2011)

    Edited by user Saturday, September 1, 2012 4:56:26 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #15 Posted : Saturday, September 1, 2012 5:28:13 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 246

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ PHÁT HIỆN PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ.

    Sự vỡ đột ngột của động mạch này chịu trách nhiệm mỗi năm nhiều ngàn trường hợp tử vong.

    HEMORRAGIE. Phình động mạch chủ gây nhiều tử vong hơn các tai nạn giao thông, từ 6000 đến 8000 trường hợp mỗi năm, thế mà tuy vậy ta hiếm khi nói đến. Có lẽ bởi vì phình động mạch chủ là kẻ giết người xảo trá : không một triệu chứng nào báo trước mối nguy hiểm gây nên do sự giãn làm dễ vỡ thành của mạch máu quan trọng nhất của cơ thể, động mạch chủ. Động mạch này, một khi ra khỏi tim, sẽ vận chuyển máu được oxy hóa đến toàn cơ thể, qua các phân nhánh của nó.

    Được khám phá sớm, phình động mạch chủ được theo dõi và nếu cần được mổ. Nếu không, nó chỉ được biểu hiện vào lúc vỡ. Trong trường hợp tốt nhất các cơn đau bụng báo trước động mạch sắp vỡ. Thế mà 80% những trường hợp vỡ động mạch chủ đưa đến tử vong do xuất huyết nội ồ ạt : cứ hai trường hợp thì một trường hợp tử vong xảy bên ngoài bệnh viện, và một nửa bệnh nhân bị chết khi đến phòng cấp cứu.

    Tuy vậy, ta biết được nhóm có nguy cơ mắc phải bệnh này : 5% những người đàn ông trên 65 tuổi mang một phình động mạch chủ, thường nhất ở bụng (85% các trường hợp). Phụ nữ năm lần ít nguy cơ mắc bệnh hơn. “ Phình động mạch này thường nhất nằm dưới các động mạch thận nhưng có thể có những vị trí khác. Xơ mỡ động mạch (athérosclérose), do làm biến đổi thành của động mạch chủ, đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành phình động mạch. Ngoài tuổi tác và cao huyết áp, phình động mạch chủ bụng còn có những yếu tố nguy cơ chính như chứng nghiện thuốc lá và những tiền sử gia đình phình động mạch, bởi vì có một thể địa di truyền (terrain génétique), GS Jean-Noel Fablani, thầy thuốc ngoại tim mạch (HEGP, Paris) đã chỉ rõ như vậy. Những phình động mạch chủ ngực (anévrisme de l’aorte thoracique), hiếm hơn, chủ yếu có một thể trạng di truyền, như bệnh Marfan, hay được liên kết với một dị tật bẩm sinh của các van động mạch chủ, bicuspidie. Những phình động mạch này gây bệnh cho những người trẻ tuổi hơn.

    Vì thầm lặng không gây triệu chứng, phình động mạch chủ trong 9 trường hợp trên mười được khám phá do tình cờ, thường nhân dịp làm siêu âm, được thực hiện trên một cơ quan khác, như tuyến tiền liệt. “ Các thầy thuốc chuyên khoa tim nên tìm kiếm phình động mạch chủ một cách hệ thống, GS Fabiani đã đánh giá như vậy. Một công tác phát hiện nhắm đích (un dépistage ciblé) ở những người có nguy cơ hiện đang được đánh giá bởi HAS, nhưng cơ quan này, mặc dầu những lý lẽ ủng hộ việc phát hiện phình động mạch một cách hệ thống, lại dường như không đồng ý khuyến nghị này ”, GS Jean-Pierre-Becquemin, thầy thuốc ngoại khoa mạch máu (CHU Henri-Mondor, Créteil) đã lấy làm tiếc như vậy.

    NGUY CƠ LIÊN KẾT VỚI ĐƯỜNG KÍNH PHÌNH ĐỘNG MẠCH

    Chẩn đoán được xác nhận bởi siêu âm, cho phép đánh giá nguy cơ, tỷ lệ thuận với đường kính của phình động mạch, gia tăng 1 đến 2 mm mỗi năm. “ Động mạch chủ bình thường có một đường kính 2 cm. Không có một lợi ích nào khi phải mổ một phình động mạch đường kính dưới 5 cm, bởi vì nguy cơ vỡ dưới 1%. Chỉ cần theo dõi mỗi 6 tháng bằng siêu âm ”, GS Peda Hassen-Khodja, thầy thuốc ngoại khoa mạch máu (CHU de Nice) đã giải thích như vậy. Việc ngừng thuốc lá cũng đủ để làm chậm lại sự tăng trưởng. Trên 5 cm hay nếu phình mạch lớn hơn 1 cm mỗi năm, cần phải mổ, bởi vì nguy cơ vỡ gia tăng 10% mỗi năm. ” Những thương tổn khác, đặc biệt động mạch vành, được điều trị trước khi mổ.

    Khi quyết định mổ, “ sự lựa chọn kỹ thuật được căn cứ trên angio-scanner, cho phép, nhờ nhiều lớp cắt, một sự tái tạo rất chính xác theo 3 chiều không gian của động mạch chủ và môi trường quanh nó ”, thầy thuốc ngoại khoa nói thêm như vậy. Can thiệp ngoại khoa nhằm hủy bỏ áp lực của máu lên thành phình mạch, do đó hủy bỏ nguy cơ gây vỡ. Trong kỹ thuật cổ điển, thầy thuốc ngoại khoa mở bụng và làm ngưng tuần hoàn trong động mạch chủ. Phình mạch được mở ra, mise-à-plat, cục máu đông được lấy đi và các đầu của đoạn mạch nhân tạo (prothèse) (một ống bằng Dacron) được ghép vào động mạch chủ lành mạnh, phía trên và phía dưới, rồi vỏ phình mạch chủ được may lại trên đoạn mạch nhân tạo (prothèse).

    Bằng đường nội mạch máu (par voie endovasculaire), sau khi thực hiện một đường xẻ ở bẹn, endoprothèse (một stent được phủ bằng dacron), dưới sự theo dõi của X quang, được hướng dẫn đưa vào từ động mạch đùi lên đến phình động mạch chủ, ở đây, stent được mở ra và được áp vào, ở trên cao và dưới thấp, thành lành mạnh của động mạch ; stent sau đó được gắn vào thành động mạch chủ với các móc (crochet). “ Tiêu chuẩn lựa chọn chủ yếu là cơ thể học : để có thể đặt endoprothèse, cần phải có đủ một phần động mạch chủ lành mạnh, không bị giãn, ở trên, và những động mạch chậu không bị giãn ở dưới ”, GS Fabiani đã chỉ rõ như vậy. Những endoprothèse thế hệ mới mở rộng kỹ thuật này đến những phình mạch phức tạp hơn hay lan rộng hơn.

    Phẫu thuật bằng đường nội mạch máu (voie endovasculaire), ít nặng nề hơn, cho phép xuất viện sau 4 hoặc 5 ngày, so với 7 đến 10 ngày đối với đường cổ điển. Những phương pháp nội mạch máu đòi hỏi theo dõi đều đặn hơn. Do đó hai kỹ thuật, những ưu điểm và những bất tiện của chúng được bàn bạc tùy theo tình trạng của bệnh nhân. Vấn đề còn lại là vỡ đột ngột phình mạch. Những service như SOS Aorte cố cho một câu trả lời thích ứng đối với vấn đề này :“ Một số điện thoại duy nhất cho phép các thầy thuốc và Samu tiếp xúc một cách liên tục với một kíp ngoai khoa nhiều chuyên khoa rất lành nghề, chuyên môn trong việc xử trí này ”, GS Fabiani đã giải thích như vậy. Tiến bộ khác là các endoprothèse. Theo GS Becquemin, “ được sử dụng trong cấp cứu các endoprothèse cho phép làm ngưng xuất huyết và làm giảm mất máu, như thế làm giảm tỷ lệ tử vong do vỡ từ 47% đến 17%. ”
    (LE FIGARO 10/10/2011)

    2/ PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ : NHỮNG CƠ CHẾ ĐƯỢC HIỂU RÕ HƠN.

    Là một bệnh mãn tính, phình động mạch chủ, gây bệnh cho 5% những người đàn ông sau 65 tuổi, là do một tiến triển chậm : “ Phải cần khoảng 20 năm để cho sự thoái hóa của thành động mạch, gây nên bởi sự tấn công của lipide và xơ mỡ động mạch, biến đổi một động mạch lành mạnh thành một phình động mạch ở giai đoạn đầu ”, GS Jean-Baptiste Michel, thầy thuốc ngoại khoa mạch máu, chuyên viên về điều biến tim-mạch (remodelage cardio-vasculaire) (Inserm U698, CHU Bichat, Paris) đã giải thích như vậy. Thế mà thương tổn này bắt đầu ở người đàn ông ngay tuổi trưởng thành, sớm hơn nhiều so với phụ nữ. Còn về vị trí ưu tiên dưới thận (localisation sous-rénale) của phình động mạch chủ, “ có lẽ là hậu quả huyết động của làn sóng áp suất từ tim (onde de pression cardiaque), một phần được phản chiếu hơi thấp hơn, lên chĩa động mạch chủ (bifurcation de l’aorte) chia thành hai động mạch chậu. ”

    Bề rộng của động mạch chủ chủ yếu giải thích sự cấu thành của những phình mạch này. “ Đó là một động mạch rất vững chắc do các sợi élastine và collagène hiện diện trong chất cơ bản ngoài tế bào (matrice extracellulaire) của nó. Những sợi rất đề kháng này chỉ có thể bị phá hủy bởi vài enzyme. Do bề rộng của động mạch chủ, huyết khối (thrombus) được tạo thành ở đó chủ yếu vẫn dính vào thành động mạch. Cục huyết khối này sẽ lôi kéo mạnh vài loại tế bào, trong đó có những tế bào đa nhân, tiết ra những men sẽ phá hủy dần dần fibrine và élastine của động mạch chủ, khi đó sẽ mất tính chất cứng và bắt đầu giãn ra, GS Michel đã giải thích như vậy. Các cơ chế bình thường ức chế hoạt tính của các enzyme này ít hiệu quả hơn trong thrombus, và thuốc lá lại còn làm giảm hơn tính hiệu quả của chúng. Chính vì vậy thuốc lá là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với những phình động mạch này.

    VỆ SINH TỐT

    Một khi phình mạch đã được tạo thành, tiến triển của nó hoàn toàn không tiên đoán được. Không có một chỉ dấu nào cho phép tiên đoán vào lúc nào sự giãn sẽ bắt đầu gia tăng và nguy cơ bị vỡ của phình mạch này. Theo nhà nghiên cứu, “ việc vi khuẩn đi vào trong máu có thể là một trong những cơ chế làm gia tăng hiện tượng này ”.

    Các vi khuẩn trong miệng và răng thường khá vô hại, nhưng khi gây nên những nhiễm trùng lợi và cận răng (infection gingivale et parodontale) ở người lớn dường như góp phần vào quá trình tuyển mộ (recrutement) những tế bào đa nhân vào trong huyết khối (thrombus). Các nhà nghiên cứu của đơn vị Inserm do GS Michel điều khiển đã phân lập chúng trong các phình mạch của các bệnh nhân và đã cho thấy, ở động vật, rằng kích thước của huyết khối gia tăng khi những vi khuẩn này hiện diện. “ Một vệ sinh răng miệng tốt nhằm vào những vi khuẩn này do đó góp phần vào sự phòng ngừa phình mạch và biện minh cho những chiến dịch thông tin nhằm vào những lão niên, vốn nhạy cảm hơn đối với những loại nhiễm trùng này. ” Mặc dầu không được chứng minh một cách chính thức, các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu và các statine cũng làm chậm lại sự tăng trưởng của các phình mạch này.

    Các cơ chế gây nên sự xuất hiện của các phình mạch ở nhánh lên của động mạch chủ (branche ascendante de l’aorte) thì hoàn toàn khác. “ Chúng có 3 nguồn gốc khả dĩ : một bệnh đơn gène (maladie monogénique) như bệnh Marfan, gây nên những phình mạch ở những người trẻ tuổi, một bicuspidie của van động mạch chủ, khá thường xảy ra (6 đến 10% dân số), và những dạng thoái hóa xuất hiện vào khoảng 70 đến 75 tuổi và phát xuất từ một sự thoái hóa các tế bào cơ trơn của động mạch chủ, mà nguyên nhân vẫn còn không được hiểu rõ ”, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy.
    (LE FIGARO 10/10/2011)

    3/ PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ : TRIỂN VỌNG CỦA CÁC ENDOPROTHESE

    Từ lâu chỉ được dành cho những bệnh nhân với nguy cơ ngoại khoa rất cao, từ nay điều trị các phình động mạch chủ bụng bằng endoprothèse được thực hiện rộng rãi nếu phình động mạch của bệnh nhân đáp ứng những tiêu chuẩn cơ thể học được đòi hỏi đối với kỹ thuật này.

    Vài thầy thuốc ngoại khoa mạch máu đi xa hơn, như GS Stéphane Haulon (CHU de Lille), mở rộng sự sử dụng các endoprothèse vào việc điều trị các phình động mạch chủ phức tạp (anévrisme complexe de l’aorte). “ Một thế hệ các endoprothèse mới cho phép mở rộng chỉ định ngoại khoa nội mạch máu (chirurgie endovasculaire) đối với vài phình động mạch mà cách nay 5 năm còn bị chống chỉ định đối với kỹ thuật này, và cho phép điều trị những phình động mạch phức tạp, kể cả những phình động mạch chủ ngực-bụng lan rộng (avévrisme thoraco-abdominal étendu), bằng cách bao gồm nếu cần những động mạch thận và những động mạch tạng vào trong prothèse. Thật vậy, những endoprothèse mới này được trang bị bởi các fenêtre và những cành ngắn qua đó ta có thể đưa qua những stent nhỏ được phủ bởi polyester đảm bảo từ bên trong sự ăn khớp của các động mạch khác nhau lên phần chính của endoprothèse. ”.

    MỘT NGUY CƠ ENDOFUITE

    Một kỹ thuật cỡ lớn bởi vì sự mở ra toàn bộ được thực hiện trong tuần hoàn động mạch. “ Như thế ta tái tạo hoàn toàn từ bên trong, với một tính chất không rò tốt ”, thầy thuốc ngoại khoa đã giải thích như vậy. Prothèse sur mesure này, được thích ứng đối với những đặc điểm cơ thể học và bệnh lý của mỗi bệnh nhân, đòi hỏi vài tuần sửa soạn và chỉ có thể thực hiện đối với những can thiệp được hoạch định. “ Nhưng nhiên hậu, mục tiêu cũng là phát triển những modèle được tiêu chuẩn hóa để có thể điều trị cấp cứu những trường hợp vỡ động mạch chủ phức tạp (anévrisme complexe) này ”.

    So với điều trị cổ điển, điều trị nội mạch máu chia ba tỷ lệ tử vong tức thời sau mổ. “ Ngược lại, về lâu về dài vẫn tồn tại những điều không chắc chắn, chính vì thế tôi nghĩ rằng tốt hơn phải dành kỹ thuật này cho những bệnh nhân có sức khỏe kém ”, GS Haulon đã đánh giá như vậy. GS Becquemin chia sẻ ý kiến này : “ Những bệnh nhân rất già, những người bị suy thận, với những tiền sử tim và hô hấp, có một nguy cơ cao khi mổ và do đó nên được điều trị bằng phương pháp nội mạch máu (traitement endovasculaire). Điều trị này làm giảm nguy cơ tử vong tức thời, nhưng sau 5 hay 6 năm tỷ lệ tử vong này trở thành y hệt đối với hai kỹ thuật. Đơn giản có lẽ bởi vì tất cả những bệnh nhân này đều già cả, thường với những thương tổn xơ mỡ động mạch khác hay những bệnh lý khác.. ”

    Hậu phẫu cũng khác nhau. Ngoại khoa cổ điển kèm theo những biến chứng hầu như không bao giờ liên quan đến phình mạch (brides cicatricielles, bátn tắc ruột, thoát vị) nhưng có thể phải bị mổ lại. “ Những biến chứng của phương pháp nội mạch máu chủ yếu là endofuites. Sự xê dịch của endoprothèse, một động mạch bàng hệ đôi khi có thể tiếp máu lại hay lại làm tăng áp lực lên phình mạch, do đó 15% những trường hợp can thiệp lại, thường không quan trọng. Chính vì vậy, sự theo dõi một endoprothèse cần chăm chú hơn ”, GS Becquemin đã giải thích như thế.

    Đối với GS Haulon, một tiến bộ khác : “ Các endoprothèse branchées dành cho những phình quai động mạch chủ (crosse aortique), do đó liên quan những động mạch tiếp máu não. Chỉ khoảng 20 bệnh nhân có nguy cơ rất cao bị vỡ, mà tình trạng không chịu được ngoại khoa cổ điển vốn rất nặng nề, đến nay đã được điều trị bởi kỹ thuật này, chỉ mới trong những bước đầu tiên. ”
    (LE FIGARO 10/10/2011)

    4/ PHÒNG NGỪA TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

    Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ cho thấy rằng sự điều trị tích cực sau báo động đầu tiên cho phép làm giảm các tái phát. Điều trị cao huyết áp là cơ bản.

    NEUROLOGIE. Với 120.000 đến 150.000 trường hợp mỗi năm ở Pháp, trong đó một nửa ở những người trên 70 tuổi, tai biến mạch máu não mỗi năm gây nên 32.000 trường hợp tử vong và bấy nhiêu những tàn tật nặng. Đó là nguyên nhân thứ ba gây tử vong sau các bệnh tim-mạch và các ung thư, nguyên nhân thứ hai gây sa sút trí tuệ sau bệnh Alzheimer. Vậy phòng ngừa tai biến mạch máu não, thường nhất do một động mạch tưới máu não bị tắc, là điều chủ yếu : phòng ngừa trước khi xảy ra tai biến mạch máu não hay tai biến thiếu máu cục bộ thoáng qua (accident ischémique transitoire) báo trước tai biến, bằng cách làm giảm những yếu tố nguy cơ mạch máu. Nhưng cũng ở những bệnh nhân sau một tai biến mạch máu não đầu tiên, khi đó có một nguy cơ quan trọng bị một tai biến mới. Gần 80% các tai biến mạch máu não là do một nhồi máu não (infarctus cérébral) được gây nên bởi một huyết khối (thrombus), một trường hợp trên bốn là do những mảng xơ mỡ động mạch (plaques d’athérome) làm hẹp đường kính của các động mạch não, nhưng đôi khi do một rung nhĩ (fibrillation auriculaire), một rối loạn nhịp tim hay một thương tổn những mạch máu nhỏ (microangiopathie). Làm sao tránh tái phát ?

    Mối đe dọa này được giảm nhiều (50 đến 75%) nhờ một điều trị triệt để những yếu tố nguy cơ quan trọng như cao huyết áp, LDL-cholestérol (nho statines) và triglycérides, bệnh đái đường, tình trạng nhàn rỗi không hoạt động (sédentarité), chứng nghiện thuốc lá, bệnh béo phì...và một điều trị chống tiểu cầu bằng aspirine và clopidrogel (Plavix) để làm loãng máu. Khi động mạch cảnh trong (carotide interne), có nhiệm vụ mang máu từ tim lên não, bị tắc ở cổ, ngoại khoa cho phép lấy mảng xơ mỡ đi và làm giảm 60% nguy cơ tái phát. Bắt chước kỹ thuật được sử dụng trong cardiologie, angioplastie par ballonnet với stent được đặt trong động mạch cảnh để duy trì sự thông thương mạch máu, cũng đã được trắc nghiệm, bởi vì thủ thuật này ít xâm nhập hơn ngoại khoa. Nhưng kỹ thuật này nhiên hậu gây nhiều nguy cơ hơn ngoại khoa và chỉ được sử dụng en seconde intention.

    CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU HOA KỲ.

    Một sự làm giãn các động mạch não như thế có cho phép làm giảm các nguy cơ không ? Công trình nghiên cứu Hoa Kỳ SAMMPRIS, được công bố tuần qua trong New England Journal of Medicine, cho thấy rằng không phải là như vậy : sau một tai biến thiếu máu cục bộ thoáng qua (AIT : accident ischémique transitoire) hay một tai biến mạch máu não đầu tiên, 451 trong số những bệnh nhân này đã nhận điều trị nội khoa chuẩn “ tích cực ”. Một nửa trong số những bệnh nhân này cũng đã được làm angioplastie với stent được đặt trong động mạch nội sọ bị teo hẹp nhất. Trong tháng sau khi angioplastie được thực hiện, 14,7% các bệnh nhân của nhóm thứ hai này đã bị một tai biến mạch máu não mới hay bị chết, so với chỉ 5,8% trong nhóm được điều trị nội khoa đơn độc. Một năm sau, có hai lần số trường hợp tử vong nhiều hơn trong nhóm với stent so với nhóm kia. “Angioplastie đôi khi được thực hiện trong chỉ định này ở những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa, nhưng không chắc chắn về lợi ích của thủ thuật này. Từ nay chúng ta có bằng cớ chứng tỏ rằng angioplastie không được sử dụng, ít nhất tức thời, cũng như sau một tai biến mạch máu não đầu tiên, GS Emmanuel Touzé, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh (unité neuro-vasculaire, Bệnh viện Sainte-Anne, Paris), đã giải thích như vậy. Nhưng dầu cho điều trị nội khoa đã đạt được những tiến bộ to lớn, vẫn còn một marge de progression quan trọng.” Đối với GS Jean-Marc Orgogozo (pôle neurologie, CHU Pellegrin, Bordeaux), “ những kết quả này chắc chắn sẽ đánh dấu một coup d’arrêt đối với kỹ thuật này.”

    Sự thất vọng này, dầu cho những tiến bộ thật sự của phòng ngừa thứ cấp (prévention secondaire), lại còn làm nổi bật hơn tầm quan trọng phải làm tất cả để tránh một tai biến mạch máu não đầu tiên. “ Tai biến thiếu máu cục bộ thoáng qua (AIT), với những dấu hiệu như những rối loạn đột ngột về ngôn ngữ, thị giác, vận động, một sự mất cân bằng..., ngay cả khi chỉ kéo dài vài phút, phải khiến bệnh nhân phải đi khám bệnh ngay, dầu cho những dấu hiệu này đã thoái lui sau đó, bởi vì 3% trong số những bệnh nhân này sẽ tiến triển thành một tai biến mạch máu não thật sự trong 48 giờ, và 9% trong tháng tiếp theo, trong khi đó một điều trị nhanh chóng ở unité neuro-vasculaire làm giảm 80% nguy cơ này ”, GS Touzé đã nhấn mạnh như vậy. Mặt khác, sự tích lũy trong chất trắng não bộ nhiều thương tổn mạch máu nhỏ không gây triệu chứng, hoàn toàn không được nhận biết, nhiên hậu gây nên những hậu quả, nhất là về mặt nhận thức, ở những người già cả nhất.Việc chống lại những yếu tố nguy cơ tim mạch, mà trước hết là chống lại cao huyết áp, có tính chất quyết định trong sự phòng ngừa những thương tổn này. Sự khám phá tình cờ chúng ở một bệnh nhân chắc chắn phải xem bệnh nhân này có nguy cơ bị tai biến mạch máu não.” Việc phòng ngừa nguy cơ não-mạch máu (risque cérébro-vasculaire) ở những người già chắc chắn là một trong những enjeu lớn về y tế trong những năm đến.
    (FIGARO 20/9/2011)

    5/ PHÒNG NGỪA TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG TỪ TRƯỜNG

    Rongjia Tao, trưởng bộ môn vật lý của đại học Temple de Philadelphie (Hoa Kỳ)
    Ý tưởng : Khi ta cho máu tiếp xúc với một từ trường (champ magnétique), độ nhớt (viscosité) của máu giảm. Và do đó nguy cơ tạo các cục máu đông giảm. Do đó cho các cánh tay mình tiếp xúc đều đặn với từ trường phát sinh từ các bobine nam châm cho phép làm giảm nguy cơ tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim ở những người có nguy cơ.

    Hỏi : Ông đã đến ý nghĩ này như thế nào ?
    Rongjia Tao : Vào năm 2006, tôi đã khám phá rằng ta có thể làm giảm độ nhớt (viscosité) của dầu thô (pétrole brut) bằng cách cho nó chịu tác dụng của một từ trường song song với chiều tuần hoàn của nó trong một ống. Từ trường này, do làm phân cực các hạt treo lơ lửng trong dầu hỏa, khiến chúng bị kết dính lại. Các hạt khi đó tập hợp lại để tạo thành những chuỗi nhỏ sau đó chảy một cách dễ dàng hơn. Tôi đã nghĩ đến việc sử dụng kỹ thuật này trên máu, vốn chứa nhiều tế bào trôi lơ lửng, nhất là những tế bào hồng cầu. Bởi vì độ nhớt của máu khi tăng cao làm dễ sự tạo thành các cục máu đông, và do đó sự xuất hiện những tai biến mạch máu não và tim. Hiện nay giải pháp duy nhất để làm loãng máu ở những người đã bị một tai biến mạch máu não là dùng những thuốc như aspirine nhưng loại thuốc này có thể gây nên những tác dụng phụ như xuất huyết dạ dày, loét dạ dày-ruột hay ù tai (acouphène). Các từ trường loại bỏ những tác dụng không được mong muốn này. Mặt khác, chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ hạt nhân (IRM), được sử dụng rộng rãi từ nhiều năm nay, đã chứng minh tính vô hại của các từ trường.

    Hỏi : Những kết quả ông đã thu được là gì ?
    Rongjia Tao : Với nhóm nghiên cứu của tôi, chúng tôi vừa cho thấy rằng, trên những mẫu nghiệm máu chảy xuyên qua những ống có đường kính 1 mm (kích thước tương tự với kích thước của vài mao mạch), một sự tiếp xúc trong 1 phút với một từ trường làm giảm độ nhớt hơn 20%. Chủ yếu các hồng cầu kết dính với nhau thành những chuỗi nhỏ nhưng chức năng của chúng không bị biến đổi.Tuy nhiên, sau đó, khi không còn tiếp xúc với từ trường nữa, độ nhớtcàng dần dần tăng lên khi các chuỗi hồng cầu càng bị tan vỡ. Trung bình sau hai giờ, máu phục hồi lại độ nhớt lúc đầu : vậy hiệu quả chỉ có tính chất tạm thời.

    Hỏi : Kỹ thuật này có thể được sử dụng như thế nào ?
    Rongjia Tao : Kỹ thuật này có thể cho phép làm giảm huyết áp của những bệnh nhân bị cao huyết áp. Các bệnh nhân đặt các cánh tay của mình trong những bobine nam châm sinh ra một từ trường mạnh, song song với động mạch của mỗi cánh tay. Bằng cách này, toàn bộ máu sẽ được xử lý trong vòng 15 đến 20 phút. Ta có thể tưởng tượng một thiết bị mang theo người (un dispositif portable), dùng ở nhà. Vấn đề còn lại là thời gian tác dụng. Những kết quả thí nghiệm của chúng tôi cho thấy rằng thời gian tác dụng có thể tăng gấp đôi nếu độ nhớt lúc đầu tăng cao. Vậy chúng tôi có thể tưởng tượng những thử nghiệm lâm sàng với hai buổi điều trị mỗi ngày, một vào buổi sáng và một vào buổi chiều. Kết quả tiếp theo sẽ tùy thuộc vào những thử nghiệm này !
    (SCIENCE ET VIE 10/2011)

    6/ VIRUS CÚM, YẾU TỐ LÀM GIA TRỌNG NHỮNG TAI BIẾN TIM.

    Những dữ kiện thí nghiệm và lâm sàng trong những năm qua đã gợi ý rằng nhiễm trùng cúm có thể đóng một vai trò trong sự phát triển của xơ mỡ động mạch vành. Sự nghi ngờ này được làm tăng thêm bởi một công trình nghiên cứu cho thấy rằng ở những người được điều trị hội chứng động mạch vành, sự tiêm chủng chống cúm làm giảm nguy cơ bị biến chứng tim trầm trọng. Những dữ kiện này, nếu được xác nhận, có thể mở đường cho việc phòng ngừa thứ phát những tai biến tim nhờ tiêm chủng.
    (SCIENCES ET AVENIR 10/2011)

    7/ VI KHUẨN HELICOBACTER PYLORI BẢO VỆ CHỐNG LẠI HEN PHẾ QUẢN

    Trong khi những trường hợp hen phế quản càng ngày càng thường xảy ra ở Phương tây, thì tỷ lệ nhiễm trùng bởi vi khuẩn Helicobacter pylori, có can dự vào trong bệnh loét dạ dày, càng giảm xuống : thế thì hai điều quan sát này có liên quan với nhau hay không ? Đó là giả thuyết được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ, và được trắc nghiệm trên một mô hình chuột bị hen phế quản. Các động vật gậm nhấm bị nhiễm bởi H.pylori tỏ ra ít bị hen phế quản và dị ứng hơn. Sự “ bảo vệ ” này dường như được tăng cường khi nhiễm trùng xảy ra vào ngay lúc sinh. Trái lại, nhiễm trùng bởi H.pylori biến mất khi ta cho chuột những kháng sinh nhằm loại bỏ H.Pylori ra khỏi các con vật này. Nhưng message đi từ dạ dày lên các phế quản xảy ra như thế nào ? Có lẽ qua những tác nhân quan trọng của hệ miễn dịch : các tế bào lympho điều hòa T. Đây là một luận cứ càng ngày càng hổ trợ cho giả thuyết theo đó sự vệ sinh quá mức chịu trách nhiệm, ít nhất một phần, sự gia tăng số các trường hợp dị ứng.
    (SCIENCES ET VIE 10/2011)


    8/ ADENOME DE LA PROSTATE : NHỮNG KẾT QUẢ TỐT CỦA CAN THIỆP VI XÂM NHẬP BẰNG LASER.

    BS Hervé Baumert, trưởng khoa niệu của nhóm bệnh viện Paris-Saint Joseph, bình luận một bài báo được công bố trong “ British Journal of Urology International ” xác nhận những tiến bộ mang lại bởi kỹ thuật đổi mới này.

    Hỏi : Những triệu chứng đầu tiên nào khiến nghi ngờ adénome de la prostate ?
    BS Hervé Baumert: ở Pháp bệnh phì đại hiền tính tuyến tiền liệt (tuyến gia tăng thể tích), ảnh hưởng lên 2 triệu người đàn ông trên 50 tuổi (tuổi tác là một yếu tố làm dễ). Những rối loạn này trước hết được thể hiện bởi triệu chứng muốn đi tiểu thường xuyên và bức thiết, làm mất ngủ và tạo nên một khó chịu hàng ngày.

    Hỏi : Ở một giai đoạn tiến triển hơn, những nguy cơ là gì ?
    BS Hervé Baumert: Những rối loạn này, khi chúng gia tăng, gây nên những biến chứng như nhiễm trùng đường tiểu, có thể ảnh hưởng các tinh hoàn và tuyến tiền liệt, các sỏi bàng quang... Vào một giai đoạn tối hậu, một sự biến đổi của chức năng thận có thể xảy ra. Nhưng một adénome prostatique không thoái hóa thành ung thư.

    Hỏi : Điều trị cổ điển của các adénome de la prostate là gì ?
    BS Hervé Baumert: Điều trị đầu tiên là dùng thuốc. Thường nhất, ta kê đơn hai loại thuốc : những loại thứ nhất là những alpha-bloquant có tác dụng làm giãn các sợi cơ của tuyến tiền liệt nhằm mở rộng canal của niệu đạo (để làm dễ sự đi qua của nước tiểu). Những loại thuốc thứ hai, có tên phức tạp, “ những chất ức chế 5-alpha-réductase ”, làm giảm 30% thể tích của tuyến tiền liệt. Nhưng trong nhiều trường hợp, thái độ xử trí này tỏ ra không đủ.

    Hỏi : Trong trường hợp thất bại, thái độ điều trị là gì ?
    BS Hervé Baumert: Đó là ngoại khoa. Chiến lược tùy thuộc vào thể tích của tuyến tiền liệt. Khi thể tích không quá quan trọng, ta thực hiện cắt bỏ tiền liệt tuyến (lấy phần trung tâm của tuyến), để mở rộng ống niệu đạo bị đè ép. Đối với can thiệp nội soi, ta đi qua những đường tự nhiên (gây mê có thể péridurale). Khi adénome quá lớn, động tác ngoại khoa (adénomectomie) nặng nề hơn ; ta mở phía dưới bụng và bàng quang để đi đến tuyến tiền liệt.

    Hỏi : Những kết quả với hai kỹ thuật này là gì ?
    BS Hervé Baumert : Mặc dầu trong cả hai trường hợp đều thỏa mãn, nhưng hậu phẫu không giống hệt nhau. Sau phẫu thuật cắt bỏ bằng nội soi (résection endoscopique), sự xuất huyết sau mổ cần đặt một ống thông bàng quang và buộc phải nhập viện từ 3 đến 4 ngày. Với adénomectomie, hậu phẫu đau đớn hơn và xuất huyết kéo dài lâu hơn. Điều này cần nhập viện một tuần. Với hai kỹ thuật này, những nguy cơ giống hệt nhau : máu có thể làm tắc ống thông, gây bí tiểu. Khi đó phải lấy cục máu đông đi nhờ một ống tiêm. Một động tác mà bệnh nhân chịu được tốt ít hay nhiều.

    Hỏi : Phương pháp cải tiến mới nhất ít có nguy cơ là gì ?
    BS Hervé Baumert : Đó là một can thiệp vi xâm nhập được thực hiện dưới sự kiểm soát của vidéo, nhờ một laser-bistouri (dao mổ laser) (holmium hay thulium), cắt phần trung tâm của tuyến tiền liệt ra thành nhiều “mảnh nhỏ” và những mảnh này sẽ được hút qua đường tự nhiên (ống niệu đạo) để được phân tích. Ngoài tính hiệu quả của nó, kỹ thuật này có ưu điểm kiểm tra xem, ngoài adénome, có một ung thư trong giai đoạn đầu hay không. Một kỹ thuật thứ hai, lần này với một “ sợi laser ”, hiện đang được đánh giá. Phương pháp này nhằm làm hoại tử phần trung tâm của tuyến.

    Hỏi : Với kỹ thuật laser này, ta cũng đã thu được những kết quả tốt như với ngoại khoa chứ ?
    BS Hervé Baumert : Trước mắt, hai kỹ thuật này đều tương đương nhau. Nhưng với điều trị bằng laser holmium, ta đã ghi nhận ít tái phát hơn. Ưu điểm khác : với kỹ thuật vi xâm nhập này, không có nguy cơ chảy máu lẫn cục máu đông. Ống thông được rút đi trong 24 giờ và thời gian nhập viện ngắn : 24 đến 48 giờ. Mặt khác thời kỳ hậu phẫu ít đau đớn hơn. Việc gần như không có những tác dụng phụ này cho phép mổ những bệnh nhân có sức khỏe kém và những bệnh nhân đang được điều trị bởi những thuốc kháng đông.

    Hỏi : Ở Pháp, ở đâu ta có thể được mổ bằng laser ?
    BS Hervé Baumert : Trong 10 trung tâm, trong đó có trung tâm của chúng tôi ở bệnh viện Saint-Joseph, là bệnh viện đầu tiên sử dụng kỹ thuật này, sau những kíp mổ Hoa Kỳ và châu Âu.
    (PARIS MATCH 13/10 – 19/10/2011)

    9/ CHOCOLAT : TÁC DỤNG BẢO VỆ LÊN HỆ TIM MẠCH ?

    Tài liệu xuất bản mới đây trong “ British Medical Journal ” bởi kíp của GS Oscar Franco (đại học Cambridge, Anh) đã tập hợp những dữ kiện của 7 công trình nghiên cứu xác nhận những giá trị của cacao. Các kết quả được thực hiện trên hơn 114.000 người thuộc hai giới tính, được xếp loại thành nhiều nhóm khác nhau và đã được theo dõi trong 8 đến 16 năm. Kết luận : những người tiêu thụ nhiều chocolat nhất (từ một miếng chocolat hay từ một nước uống chocolat), đã có được, so với những người tiêu thụ thấp nhất, những mối lợi chắc chắn : giảm 37% những bệnh tim mạch, giảm 29% tai biến mạch máu não, 31% bệnh đái đường loại 2 (diabète gras). Trong nhóm này, tỷ lệ tử vong nói chung do những bệnh lý này đã giảm một nửa. Nhưng các tác giả báo động dung lượng calo cao của chocolat làm dễ sự lên cân.
    (PARIS MATCH 13/10 – 19/10/2011)

    Đoc thêm : [url=http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20801&st=0&p=58580&#entry58580]Tổng hợp thông tin về Chocolate (Chocolat / Sô Cô La)
    từ các bài Thời Sự Y Học[/b]

    10/ 11 RỐI LOẠN TÂM THẦN : BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT

    Từ Alfred Hitchcock den Martin Scorsese, nhiều nhà điện ảnh đã đưa bệnh tâm thần phân liệt lên màn ảnh. Sự quyến rũ này đã phần lớn góp phần đại chúng hóa hình ảnh về một người bị bệnh tâm thần phân liệt, mặc dầu rất xa với thực tế y khoa. Thí dụ người ta thường liên kết bệnh lý này với sự nhị hóa nhân cách(dédoublement de la personnalité), một “ rối loạn phân ly của bản sắc (un trouble dissociatif de l’identité) mặc dầu khác hẳn nhau. Cũng vậy một cách nhìn biếm họa (une vision caricaturale) mô tả các bệnh nhân như là những người nguy hiểm. “ Đó chỉ là một thiểu số, Sébastien Machetaux, trưởng khoa lâm sàng bệnh viện Sainte-Anne (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, ngay cả ta không thể nói đó là những bệnh nhân nguy hiểm (patients dangereux), nhưng đúng hơn là những trạng thái nguy hiểm (états dangereux) trong bệnh lý này.” Những năm qua, nhiều công trình nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng những tội ác gây nên bởi những người bị tâm thần phân liệt, thường nhất, được quy cho chứng nghiện ma túy (toxicomanie). Vậy nhiều thành kiến bao quanh căn bệnh có nhiều thể bệnh này (maladie aux multiples formes).

    Bệnh tâm thần phân liệt là gì ?

    Danh sách hùng hậu các triệu chứng của căn bệnh này với 5 sous type khác nhau, được liệt kê trong DSM-IV, sách giáo khoa bàn về những rối loạn tâm thần, làm cho việc định nghĩa bệnh lý này trở thành một công tác khó khăn. “ Ngay cả ta không thể nói đó là bệnh theo đúng nghĩa của nó, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần Sébastien Machefaux đã đánh giá như vậy. Đúng hơn đó là một hội chứng, nghĩa là một tổng hợp của các triệu chứng. ” Những triệu chứng này được xếp thành 3 loại lớn : nhận thức (cognitif), dương (positif) và âm (négatif). Những triệu chứng nhận thức (symptômes cognitifs), ta cũng nói đó là một sự phân ly (dissociation), hoặc một sự tan vỡ giữa những ý tưởng và hành vi hay những cảm xúc (affects), thường là những triệu chứng xuất hiện đầu tiên. Khác xa với hình ảnh được thể hiện bởi Hollywood, những triệu chứng nhận thức gồm có một rối loạn (désorganisation) của tư duy, của cảm xúc (affectif) và của hành vi (comportement), ảnh hưởng lên sự suy xét (discernement), trí nhớ, sự tập trung hay lại nữa việc hoạch định một công tác.

    Những triệu chứng dương (symptômes positifs), được gọi như thế bởi vì chúng được thêm vào các chức năng tâm thần bình thường, quy tụ tất cả những gì có liên quan đến sự hoang tưởng (délire), như những ảo giác (hallucination) (thường là thính giác) hay một cảm tưởng bị truy hại (sentiment de persécution). Sau cùng, những triệu chứng âm (symptômes négatifs), trái lại, tương ứng với một chức năng thiếu ở bệnh nhân. “ Ở Pháp, ta nói nhiều hơn sự khép mình tự kỷ (repli autistique). Bệnh nhân không còn sáng kiến cũng như hoạt động nữa, và bị khó khăn trong việc hội nhập xã hội. ” Trong số nhiều triệu chứng này, mỗi bệnh nhân sẽ phát triển vài triệu chứng hơn những triệu chứng khác, như thế xác định những sous-type của bệnh tâm thần phân liệt. Thí dụ dạng hébéphrénique tương ứng một sự nổi trội của triệu chứng khép mình tự kỷ (repli autistique), trong khi loại paranoide đặc trưng một biểu hiện mạnh các triệu chứng dương hơn.

    Một rừng bệnh tâm thần thật sự, làm cho việc chẩn đoán thường nguy hiểm. “ Nguy cơ đó là lẩn lộn bệnh tâm thần phân liệt với một bệnh lý khác có cùng những triệu chứng, Sébastien Machefaux đã ghi nhận như vậy. Trong vài trường hợp, chẩn đoán hiển nhiên, nhưng vài dạng bệnh tâm thần phân liệt giống với một bệnh trầm cảm không điển hình (dépression atypique), hay giống với một rối loạn lưỡng cực (trouble polaire).”

    Ai bị liên hệ

    Người ta ước tính rằng cứ 100 người thì có một phát bệnh tâm thần phân liệt, trong đại đa số các trường hợp giữa 20 và 30 tuổi. “ Cũng có, nhưng hiếm hơn, những bệnh tâm thần phân liệt xảy ra sớm (schizophrénie précoce) xuất hiện ngay sau tuổi dậy thì, cũng như những bệnh tâm thần phân liệt xảy ra muộn, sau 30 tuổi ”, Sébastien Machefaux đã xác nhận như vậy.

    Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần được phân bố đều nhất trên hành tinh, dầu cho nền văn hóa là gì. Tuy nhiên, bệnh này ảnh hưởng nhiều hơn những người về mặt xã hội được đặc trưng bởi sự thuộc vào một thiểu số, như những di dân.

    Những nguyên nhân của bệnh là gì ?

    Mặc dầu nguồn gốc của bệnh vẫn không được biết rõ, những nghiên cứu mới đây cho thấy rằng đó là một bệnh lý nhiều yếu tố (pathologie multifactorielle). Bệnh lý hàm chứa một thể trạng gène thuận lợi, liên kết với một nguy cơ di truyền quan trọng được xác nhận bởi vài công trình nghiên cứu so sánh đầu tiên về génome. Bệnh cũng được liên kết với những yếu tố môi trường, xảy ra trong tử cung và trong thời thơ ấu, như một nhiễm trùng virus khi thai nghén, một tình trạng stress hay một tình trạng suy dinh dưỡng của người mẹ tương lai (đặc biệt là lúc xảy ra những nạn đói), hay những biến chứng lúc sinh. Sự tiêu thụ cannabis trong thời kỳ thiếu niên cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với những người có một sự mẫn cảm di truyền (vulnérabilité génétique).

    Sau đó bệnh tâm thần phân liệt được thể hiện như là một bệnh của sự phát triển của não bộ. Bởi vì trong thời thiếu niên ở những người lành mạnh có một sự “ tỉa cành ”(élagage) của các khớp thần kinh (synapses) : nhiều nối kết (connexions) giữa các neurone được “ thanh lọc ” trong giai đoạn thành thục của não bộ này. Sau giai đoạn này chỉ có những synapses hiệu năng nhất là còn tồn tại mà thôi. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng, từ ít lâu nay rồi, bệnh xuất hiện do một vấn đề tỉa cành (élagage), quá triệt để ở bệnh nhân tâm thần phân liệt. Nhưng theo một giả thuyết được đưa ra vào năm 2008 bởi David Lewis, thuộc đại học Pittsburgh (Hoa Kỳ), các khớp thần kinh thật ra đã bị thiếu hụt từ lúc ấu thơ ở những người bị bệnh tâm thần phân liệt trong tương lai, và bất thường này chỉ được phát hiện trong thời kỳ tỉa cành (élagage), là khi số cac synapse bị giảm.

    Làm sao điều trị

    Trong giai đoạn đầu điều trị bằng thuốc : các antipsychotiques, hay neuroleptiques. Chúng cho phép làm giảm vài triệu chứng, nhưng với cái giá chịu những tác dụng phụ quan trọng (lên cân, sự sản xuất bạch cầu bị biến đổi, tác dụng lên co thắt cơ). Điều trị bằng thuốc thường được kèm theo một liệu pháp nhận thức và hành vi (thérapie cognitive et comportementale). “ Giáo dục tâm lý (psychoéducation) là rất quan trọng, Sébastien Machefaux đã nhấn mạnh như vậy. Đó là giải thích cho bệnh nhân biết căn bệnh mà bệnh nhân đang mắc phải là gì, những triệu chứng là những triệu chứng nào và ta có thể điều trị chúng ra sao ”. Những liệu pháp nặng nề hơn cũng có thể được đề nghị trong vài trường hợp, như neurostimulation.

    Với các điều trị đa dạng như thế, ta có thể nghĩ rằng có thể chữa lành một người bị tâm thần phân liệt… Sai. “ Ta có thể không bị bệnh nữa và sống một cuộc sống bình thường, nhưng không phải vì vậy mà được chữa lành : bệnh nhân phải tiếp tục theo đuổi điều trị nếu không sẽ bị tái phát, Sébastien Machefaux đã kết luận như vậy. Nếu bệnh nhân được chữa lành, đó là bởi vì ta đã lầm chẩn đoán ! ”
    (SCIENCE ET VIE HORS SERIE 6/2011)

    Đoc thêm : [url=http://www.nhipcauykhoa.net/diendan/index.php?showtopic=20110&st=0&p=56657&#entry56657]Tổng hợp thông tin về Bệnh Tâm Thần Phân Liệt (Schizophrenia)
    từ các bài Thời Sự Y Học[/b]

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (29/10/2011)

    Edited by user Saturday, September 1, 2012 5:29:21 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #16 Posted : Saturday, September 1, 2012 5:29:54 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 247

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ BỆNH HƯ KHỚP (ARTHROSE) : NHỮNG GIẢI PHÁP MỚI THAY THẾ NGOẠI KHOA.

    Những điều trị phối hợp chống đau và chống phế tật.

    RHUMATOLOGIE. Hư khớp (arthrose) không còn được xem như là một sự hao mòn (usure) đơn thuần của sụn khớp do quá trình lão hóa, mà như là một hội chứng ảnh hưởng lên toàn bộ các mô của khớp, và ngay cả những dây gân và các cơ bám vào khớp, François Rannou, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp và giám đốc nghiên cứu Inserm thuộc bệnh viện Cochin (Paris) đã nhắc lại như vậy. Vậy việc điều trị hư khớp phải mutimodal, phải tính đến tất cả những yếu tố góp phần vào quá trình này.”

    Mặc dầu tuổi tác là một yếu tố nguy cơ của bệnh hư khớp, nhưng bệnh này có thể phát triển rất sớm và cần nhiều năm trước khi có những triệu chứng lâm sàng có thể thấy được. Hiện nay, căn bệnh này xảy ra ở 16% những người trên 55 tuổi và gây bệnh cho 70% những người trên 65 tuổi, một con số gia tăng một cách đều đặn từ 20 năm nay. Vào năm 2030, bệnh hư khớp có thể ảnh hưởng lên 20% dân chúng Pháp.

    Hư khớp được biểu hiện bởi triệu chứng đau ở các khớp ; những khớp này có thể cứng, sưng, đỏ và nóng, nhất là trong những đợt viêm. Chẩn đoán có thể được xác nhận dễ dàng bởi X quang, phát hiện một hay nhiều dấu hiệu : tăng mật độ xương (densification), khoang liên khớp bi hẹp lại và sự hiện diện của những cục u xương (excroissances osseuses) nhỏ, những chồi xương (ostéophytes).

    Hiện nay không có điều trị chữa lành bệnh hư khớp : không có một loại thuốc nào đã cho thấy hiệu quả lên sự tiến triển của bệnh. Vậy sự điều trị dựa trên điều trị giảm đau nhưng cũng dựa trên sự cải thiện phế tật cơ năng (handicap fonctionnel) mà hư khớp gây nên, nhất là đối với các khớp của bàn tay, đầu gối và của háng.

    TĂNG THỂ TRỌNG LÀ MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ.

    “ Điều trị đầu tiên được xét đến là nội khoa, và không chỉ dùng thuốc không thôi. Mặc dầu sụn hoàn toàn bị phá hủy, ngoại khoa không nhất thiết là phương pháp tốt nhất ”, GS Francis Berenbaum, trưởng khoa bệnh thấp khớp thuộc bệnh viện Saint-Antoine (Paris) đã giải thích như vậy.

    Đối với hư khớp gối và cổ tay, yếu tố nguy cơ đầu tiên là sự tăng thể trọng. Chỉ cần giảm vài kilo thường cũng đủ làm thuyên giảm những triệu chứng, nhất là ở các đầu gối. Nếu một hoạt động vật lý gây chấn thương có thể làm dễ sự xuất hiện căn bệnh, tình trạng nhàn rỗi không hoạt động là một yếu tố làm gia trọng những triệu chứng đối với tất cả các hư khớp. Vậy cần duy trì hay thiết lập một hoạt động vật lý ở mức độ vừa phải và đều đặn.

    Vật lý trị liệu (kinésithérapie), nhằm huy động các khớp, đã chứng tỏ tính hiệu quả của nó. Các prothèse, cho phép điều chỉnh một khiếm khuyết trong sự định hướng (orientation) trong khớp, đặc biệt có hiệu quả đối với hư khớp ngón cái và cả đầu gối. Việc xử dụng canne không được xem nhẹ, nhất là trong những đợt bộc phát.

    TIÊM NGẤM CORTICOIDES.

    Ngoài những phương thức cơ học này, thường được thêm vào, ngay lúc đầu, một điều trị thuốc giảm đau bởi paracétamol, vẫn là điều trị chuẩn. Những thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) cũng được kê đơn với một tính hiệu quả tương tự với paracétamol nhưng có nhiều tác dụng phụ hơn.

    Nếu những điều trị này không đủ, thầy thuốc có thể kê đơn những dẫn xuất codéine hay tramadol, mà những tác dụng phụ và sự dung nạp kém cần một sự theo dõi sát. “ Có thể thêm những điều trị triệu chứng có tác dụng chậm như glucosamine hay những dẫn xuất avocat và đậu nành, GS Berenbaum đã chỉ rõ như vậy. Trái với những điều mà vài quảng cáo đã đưa ra (từ nay đã bị rút đi), những điều trị này không có một tác dụng cấu trúc nào lên khớp, nhưng vài thử nghiệm đã cho thấy một tác dụng lên triệu chứng hơi cao hơn placebo. ”

    Mặt khác có những loại thuốc có thể được cho tại chỗ. Những mũi tiêm ngấm corticoides cho phép làm thuyên giảm một cách nhanh chóng sự đau đớn và làm giảm thời gian của các đợt bộc phát. Acide hyaluronique cũng có thể được tiêm vào đầu gối, khớp duy nhất trong đó tác dụng của nó đã được chứng minh, với một hiệu quả tạm thời chỉ được quan sát ở vài bệnh nhân. Sau cùng những pommade kháng viêm càng đáng lưu ý khi chúng chỉ gây rất ít tác dụng phụ.

    Trong tất cả các trường hợp, các triệu chứng càng được điều trị tốt nếu bệnh càng được phát hiện sớm, với một sự giảm phế tật rõ rệt hơn. Sự nghiên cứu, mặc dầu tiến triển chậm, một phần do thiếu kinh phí và thiếu sự quan tâm của giới hữu trách, đã bắt đầu phát triển những công cụ chẩn đoán sớm, có thể cho phép vượt một bước lớn nhằm hạn chế những hậu quả của bệnh, trong lúc chờ đợi sự hiệu chính những điều trị chữa lành.
    (LE FIGARO 17/10/2011)

    2/ BỆNH HƯ KHỚP (ARTHROSE) : SỬA CHỮA SỤN VÀ NHỮNG CHỨC NĂNG CỦA NÓ.

    Mặc dầu nghiên cứu cơ bản đã cho phép hiểu rằng sụn không phải là mô duy nhất bị liên hệ trong bệnh hư khớp, nhưng nó vẫn ở trung tâm của những hiện tượng xảy ra trong khớp bị thoái biến (articulation arthrosique). Do đó nhiều kíp nghiên cứu tìm cách làm sáng tỏ những lý do của sự thoái hóa sụn và nhận diện những đích điều trị (cibles thérapeutiques). Các nhà nghiên cứu khác khảo sát những phương cách khác nhau nhằm sửa chữa sụn hay ngay cả làm tái sinh nó.

    Trong một khớp bình thường của người trưởng thành, sụn được cấu tạo bởi những tế bào sụn (chondrocytes). Những tế bào này được bao quanh bởi một chất cơ bản chủ yếu được cấu tạo bởi các sợi collagène và polysaccharides có khả năng giữ nước. Sụn người trưởng thành không chứa các mạch máu, những yếu tố, cần thiết cho các tế bào sụn, được truyền nhờ hiện tượng mao dẫn (capillarité) vào trong các mô, có tác dụng gần như một bọt biển (éponge).

    VÒNG LUẨN QUẨN

    Trong hư khớp, sự vận hành chức năng của các tế bào sụn dường như bị rối loạn và đi vào trong một vòng luẩn quẩn, trong đó sự thoái hóa sụn gây nên sự sản xuất những phân tử, và những chất này lại còn làm gia tăng hơn sự thoái hóa. Bằng cách so sánh sụn của những plaque de croissance với sụn của khớp bị hư biến, các nhà nghiên cứu đã tìm ra những điểm chung. Dường như các tế bào sụn trở nên phì đại và gây một sự vôi hóa (calcification) khớp, cũng y như khi plaque de croissance của xương bị đóng lại.”, Jerome Guicheux, giám đốc nghiên cứu Inserm thuộc CHU de Nantes đã giải thích như vậy.

    Như thế, các huyết quản xâm nhập sụn dần dần, mang theo với chúng nhiều phân tử làm thoái hóa chất cơ bản ngoài tế bào (matrice extracellulaire) của sụn ; chất cơ bản này bị nứt ra và thoái hóa dần dần trong khi quá trình vôi hóa được khởi động. Những công trình nghiên cứu trong lãnh vực này có thể cho phép nhận diện nhiều đích điều trị nhằm làm sinh huyết quản (angiogenèse), những yếu tố làm cho các tế bào sụn lấy lại chức năng mà chúng đã bỏ rơi hay nhắm vào những vi tinh thể canxi (microcristaux de calcium) trong khớp bị thoái hóa.

    Những phương pháp ghép tế bào sụn (greffes de chondrocytes) cũng đã được xét đến, nhưng những thử nghiệm đầu tiên cho thấy rằng đáp ứng của các bệnh nhân rất thay đổi và sụn mới không luôn luôn cho phép một quá trình sửa chữa hiệu quả.

    Vì sụn chủ yếu có một chức năng cơ học hấp thụ các sốc (absorption de chocs), nên nhiều nhóm nghiên cứu đã khảo sát những phương pháp khác nhau để tái tạo nó nhờ các sinh-vật liệu (biomatériaux) để chế tạo một sụn bán nhân tạo (cartilage semi-artificiel). Thế thì mục đích nhắm đến là thiết kế một giàn (échafaudage) rắn chắc bằng một vật liệu tương hợp với cơ thể, trên đó có thể gắn những tế bào có khả năng làm đầy dần dần tất cả espace trong lòng của cái giàn này.

    NHỮNG THỬ NGHIỆM LIỆU PHÁP TẾ BÀO.

    Nhiều vật liệu đang được đánh giá, nhưng việc lựa chọn tốt những tế bào để ghép cũng quan trọng. Những tế bào này phải có khả nag tăng sinh nhanh nhưng cũng làm tròn các chức năng của mô nguyên thủy. Các tế bào sụn, mặc dầu có vẻ thích ứng, nhưng không tăng sinh một cách dễ dàng trong môi trường cấy và có khuynh hướng mất đi chức năng của chúng sau nhiều thế hệ.

    Nhóm nghiên cứu Inserm do GS Christian Jorgensen (Marseille) điều khiển, hôm nay thăm dò hướng của những tế bào gốc và nhất là những tế bào gốc trung mô (cellules souches mésenchymateuses) ; những tế bào này, khi chúng được hướng theo chiều hướng đúng bằng nhiều yếu tố khác nhau, có thể tăng sinh trước khi biệt hóa thành những tế bào sụn.

    Những thử nghiệm liệu pháp gène trên động vật dường như đầy hứa hẹn, nhưng những thử nghiệm trên người chỉ mới ở một giai đoạn rất sơ khởi.
    (LE FIGARO 17/10/2011)

    3/ BỆNH HƯ KHỚP (ARTHROSE) : NHỮNG VI TINH THỂ GIẾT CÁC TẾ BÀO SỤN

    “ Stress microcristallin dường như là một yếu tố quyết định trong sự phá hủy sụn ”, GS Frédéric Lioté, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp và trưởng đơn vị nghiên cứu Inserm ở bệnh viện Lariboisière (Paris) đã chỉ rõ như vậy. Các phim X quang cho phép quan sát, trong các khớp bị thoái hóa (articulation arthrosique), sự hiện diện của các vi tinh thể canxi (microcristaux de calcium) gây nên những cơn viêm được gọi là “ giả thống phong ” (psedo-goutte) nhưng cũng dường như chịu trách nhiệm sự hủy hoại sụn và sự viêm của các mô chung quanh.

    Các nhà nghiên cứu ngày nay biết rằng các vi tinh thể canxi này là hậu quả của một sự sản xuất quá mức các muối canxi, bởi chính các tế bào sụn (chondrocytes) (những tế bào hình tròn và khá lớn, là những tác nhân chính trong sự tổng hợp và bảo trì mô sụn).

    PHẢN ỨNG VIÊM

    Những công trình nghiên cứu in vitro đã cho phép nhận xét rằng sự hiện diện của những vi tinh thể canxi dẫn đến sự sản xuất những phân tử chịu trách nhiệm về lâu về dài phản ứng viêm, sự chết của các tế bào sụn. Khi sụn bị nứt, các vi tinh thể canxi lan tỏa vào trong xoang khớp. Khi đó chúng có thể được hấp thụ bởi màng hoạt dịch (membrane synoviale). Ở đây chúng có thể gây nên viêm màng hoạt dịch (synovite), từ nay được xác nhận rõ trong bệnh hư khớp.

    Những thử nghiệm trên động vật đã cho phép xác nhận rằng việc tiêm những vi tinh thể này vào các khớp dẫn đến một cách nhanh chóng sự phá hủy sụn, với một phản ứng viêm giống với phản ứng viêm do sự hiện diện của một vật lạ trong cơ thể gây nên.

    Hành vi gần như tự sát này của các tế bào sụn có thể do sự kiện là những vi tinh thể canxi làm cứng sụn lại và gây nên một phản ứng bất thường của những tế bào, bình thường vốn được bao quanh bởi một mô khá mềm. Nhiên hậu, toàn bộ khớp bị canxi hóa.

    “ Dường như rằng sự sản xuất quá mức pyrophosphate de calcium và apatite là do sự biểu hiện bất thường của vài bơm màng tế bào (pompe membranaire) của các tế bào sụn, Frédéric Lioté đã xác nhận như vậy. Từ nay những bơm này sẽ được sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong lãnh vực này. Đặc biệt họ hướng về một enzyme có can dự vào trong sự rối loạn của các tế bào sụn và tìm cách hiểu điều gì có thể khởi động sự sản xuất enzyme này.

    Nhiều mục tiêu khác có thể được nhận diện nhằm phong bế, ở người, hiện tượng canxi hóa bất thuờng này.Thật vậy trên nhiều mô hình động vật, các nhà nghiên cứu đã thành công làm giảm bệnh hư khớp bằng cách ngăn cản sự canxi hóa.
    (LE FIGARO 17/10/2011)


    4/ ASPIRINE PHÒNG NGỪA UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG.

    Những bệnh nhân có nguy cơ di truyền rất cao (patients à très haut risque génétique) có thể hưởng lợi nhờ điều trị này.

    PREVENTION. Hy vọng có được một điều trị phòng ngừa ung thư làm sôi nỗi không những các nhà nghiên cứu mà còn cả những người có những nguy cơ cao. Đó là trường hợp những người bị hội chứng Lynch, một bất thường di truyền làm gia tăng một cách đáng kể nguy cơ ung thư, nhất là ung thư đại-trực tràng nhưng cũng những cơ quan khác như nội mạc tử cung. Trong hội chứng hiếm hoi này, nhưng vẫn là nguyên nhân thường gặp nhất của các ung thư đại
  • trực tràng di truyền (cancers colo-rectaux héréditaires), các bệnh nhân đặc biệt phải chịu những nội soi đại tràng (colonoscopie) tối đa mỗi 2 năm ngay ở lứa tuổi 20. Dĩ nhiên mục tiêu là phát hiện sớm ung thư đại-trực tràng mà ta biết gây bệnh cho hơn một trường hợp đối với 3 trong số những bệnh nhân này.

    Công trình nghiên cứu, được công bố hôm nay trong tạp chí quốc tế The Lancet, hẳn sẽ mang lại một ít hy vọng cho những bệnh nhân mà tuổi trung bình lúc được khám phá một ung thư đại-trực tràng là 42 tuổi (đôi khi ngay cả trước 25 tuổi). Thật vậy công trình này cho thấy vai trò phòng ngừa của aspirine. Trên hơn 850 người, một nửa dùng aspirine còn nửa kia dùng một placebo (thuốc không có tác dụng), kết quả cho thấy rằng những bệnh nhân đã uống mỗi ngày 600 mg aspirine trong hai năm đã có nguy cơ ung thư đại-trực tràng giảm 1/3 so với những người dùng placebo. Và có được kết quả này nhưng không chịu những tác dụng phụ đặc biệt nào. Các tác giả đã quan sát thấy 18 ung thư đối với 427 bệnh nhân trong nhóm sử dụng aspirine, so với 30 trên 434 bệnh nhân dùng placebo.

    Vào năm 2008, cũng chính những nhà nghiên cứu này đã không phát hiện tính hiệu quả của aspirine trong nghiên cứu này. Chính nhờ kéo dài thời gian theo dõi những bệnh nhân đã dùng aspirine trong hơn 2 năm mà họ đã nhận thức được tác dụng phòng ngừa của aspirine. Sau hai năm, sự dị biệt giữa hai nhóm bắt đầu xuất hiện nhưng vẫn còn chưa đủ về mặt thống kê để rút ra những kết luận.

    BS David Malka, thầy thuốc chuyên về ung thư tiêu hóa thuộc Viện Gustave-Roussy (Villejuif) tỏ ra lạc quan thận trọng : “ Đó là một công trình nghiên cứu có thể cho phép thêm vào một vũ khí mới (aspirine) bên cạnh sự theo dõi các bệnh nhân nhờ soi đại tràng ”, ông đã giải thích như vậy. Lần này, GS John Burn (Viện y học di truyền, đại học Newcastle) và các đồng nghiệp tỏ ra dứt khoát hơn : “ Những kết quả của chúng tôi, đặt trong mối liên hệ với những nghiên cứu khác mới đây, mang lại một cơ sở chắc chắn để khuyến nghị dùng aspirine để phòng ngừa một cách hệ thống trong hội chứng Lynch ”, ông đã viết như vậy trong The Lancet. Theo họ, vấn đề còn lại là phải xác định liều lượng tốt và thời gian điều trị tốt.

    Tuy nhiên các chuyên gia ngạc nhiên khi có được kết quả này mặc dầu số các polype được phát hiện bằng soi đại tràng đều y hệt dầu bệnh nhân uống aspirine hay không. Thật vậy lý thuyết muốn rằng các polype là giai đoạn đầu tiên trước khi biến đổi thành ung thư. Những kết quả thu được này ở những bệnh nhân với nguy cơ rất cao, do là bệnh di truyền (hội chứng Lynch), phải chăng có thể áp dụng cho những loại khác ? Đâu là tỷ suất lợi ích/nguy cơ của điều trị bằng aspirine trong những trường hợp này, nếu xét đến nguy cơ xuất huyết do aspirine ? Hiện nay những kết quả thu được với những liều lượng thấp aspirine (dưới 100 mg mỗi ngày), được sử dụng trong phòng ngừa những tái phát của các tai biến tim mạch nói chung, đã không cho thấy lợi ích để làm giảm nguy cơ ung thư đại-trực tràng. Ngược lại, đối với những bệnh nhân đã có một ung thư đại-trực tràng được điều trị, những công trình nghiên cứu lại cho thấy một tác dụng phòng ngừa nhưng mức độ vừa phải của aspirine. Vẫn còn quá sớm để có thể dám đưa ra một khuyến nghị chung, ngoài trường hợp hội chứng Lynch.
    (LE FIGARO 28/10/2011)


    5/ PHÁT HIỆN UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG : NỘI SOI TRỰC TRÀNG HAY TEST HEMOCCULT ?

    Professeur Jean-Christophe Saurin
    Hépato-Gastro-Entérologue
    CHU de Lyon


    Ung thư đại-trực tràng (cancer colorectal) thường xảy ra ở Pháp : 37.000 bệnh nhân mới (đàn ông và phụ nữ) bị bệnh mỗi năm và 17.000 người chết vì ung thư này. Cứ 20 người thì có một người sẽ bị ung thư đại-trực tràng vào một ngày nào đó trong cuộc đời mình. Vậy phải phát hiện ung thư này trước khi những dấu hiệu (đau, chảy máu) xảy ra, bởi vì một ung thư được phát hiện do thẳm dò là ít nguy hiểm hơn (ít tiến triển hơn) so với một ung thư đã cho các triệu chứng. Có hai cách phát hiện : tìm kiếm máu trên nhiều mẫu nghiệm phân liên tiếp (test Hemoccult) hay thực hiện một thăm dò đại tràng, nói chung dưới gây mê, với một camera được đặt ở đầu mút của một ông soi mềm (coloscopie). Trong trường hợp thứ nhất (test Hemoccult), ta chỉ soi đại tràng ở những người dương tính (có máu trong phân).

    Khó khăn nhất trong công tác phát hiện ung thư đại-trực tràng không phải là việc thực hiện trắc nghiệm, mà làm thế nào để càng nhiều bệnh nhân càng tốt chấp nhận việc thực hiện bước điều tra phát hiện này. Ở Pháp, sự phát hiện được đề nghị bằng test Hemoccult mỗi 2 năm cho 15 triệu người, giữa 50 và 74 tuổi và không có yếu tố nguy cơ đặc biệt nào về ung thư đại trực tràng. Chiến lược này có nhiều ưu điểm : đơn giản mặc dầu tỷ lệ chấp thuận dưới 50% trong nhiều tỉnh ở Pháp ; chiến lược khá chính xác : một polype lớn hay một ung thư sẽ được phát hiện ở một người trên 10 người có một trắc nghiệm Hemoccult dương tính, hoặc 2% những người được xét nghiệm ; sau hết chiến lược này không quá tốn kém, bởi vì test Hemoccult có một phí tổn vừa phải (dưới 10 euro) và ít người cần đến một nội soi đại tràng.

    Hiệu quả của chiến lược này đã được chứng tỏ : nó làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư đại-trực tràng. Test Hemoccult là trắc nghiệm tốt nhất trong nhóm 15 triệu người có mức nguy cơ ung thư đại-trực tràng được gọi là “ trung bình ” (không có yếu tố nguy cơ đặc biệt) : chủ yếu là bởi vì một bộ phận quan trọng những người này (50%) chấp nhận chịu trắc nghiệm này, vì ít “ xâm nhập ”. Trong nhóm người này, một thăm khám bằng nội soi đại tràng tức thì sẽ ít tốt hơn : kinh nghiệm trong các nước khác cho thấy rằng chỉ 10% những người được đề nghị nội soi đại tràng trong nhóm những người này, chấp nhận chịu thăm dò.

    NHÓM “ CÓ NGUY CƠ CAO ”

    Một nhóm khác, ít hơn nhiều, được gọi là “ có nguy cơ cao ” bị ung thư đại-trực tràng (gấp đôi nhóm có “ nguy cơ trung bình ”, hay một trên mười trong suốt cuộc đời mình) : trong trường hợp chảy máu trong phân, ỉa chảy hay táo bón xuất hiện sau 50 tuổi, trong trường hợp có tiền sử ung thư đại-trực tràng ở những người thân thuộc hay anh chị em (nhất là trước 60 tuổi), trong trường hợp tiền sử cá nhân bị ung thư hay thương tổn tiền ung thư (polype adénomateux) đại-trực tràng hay bệnh viêm mãn tính của ruột.Trong nhóm những người này, soi đại tràng là thăm dò tốt nhất : thăm khám này chính xác hơn bởi vì nó phát hiện gần như tất cả các ung thư đại-trực tràng, tốt hơn trắc nghiệm Hemoccult. Nguy cơ cao hơn bị một ung thư đại-trực tràng biện minh cho thăm dò mặc dầu nặng nề hơn, tốn kém hơn, nhưng phát hiện tốt hơn ung thư đại-trực tràng hay những thương tổn tiền ung thư.

    Tóm tắt : ung thư đại-trực tràng thường xảy ra, phải phát hiện nó để làm giảm số những người bị giết chết mỗi năm bởi ung thư này (khoảng 17.000 người). Đối với phần lớn những người từ 50 đến 74 tuổi, không có triệu chứng lẩn tiền sử, trắc nghiệm tốt nhất là test Hemoccult. Đối với nhóm nhỏ hơn gồm những người có những triệu chứng hay tiền sử đặc biệt, soi đại tràng là thăm dò tốt nhất.. với điều kiện thực hiện nó !
    (LE FIGARO 17/10/2011)

    6/ NHỮNG TÁC DỤNG CHỐNG TRẦM CẢM CỦA CÀ PHÊ.

    Một thử nghiệm, được thực hiện ở đàn ông, đã báo cáo một tác dụng chống trầm cảm của cà phê. Nhưng không gì tương tự như vậy đã được khảo sát ở phụ nữ, mặc dầu hai lần thường bị chứng trầm cảm hơn so với đàn ông (ở các nước phát triển, cứ 5 phụ nữ thì có một bị chứng trầm cảm). Các kết quả của một công trình nghiên cứu, được tiến hành ở hơn 51.000 phụ nữ thuộc công trình nghiên cứu Hoa Kỳ Nurse Health Study và được theo dõi trong 10 năm, mới đây đã được công bố. Những kết quả này cho thấy rằng, ở những phụ nữ uống 2 hay 3 tách cà phê mỗi ngày, nguy cơ bị chứng trầm cảm giảm 20% so với những phụ nữ uống ít hơn 1 tách mỗi ngày (hoặc 73mg caféine mỗi ngày). Nguy cơ giảm 25% ở những phụ nữ uống hơn 4 tách (550 mg caféine mỗi ngày hay hơn). Ngược lại, cà phê không có caféine (café décaféiné), soda có caféine (soda caféiné) và trà không có một ảnh hưởng nào lên chứng trầm cảm. Theo các tác giả, caféine điều hóa (moduler) một cách thuận lợi những tác dụng của dopamine, chất dẫn truyền thần kinh não bộ đóng một vai trò chủ chốt trong tính khí (humeur).
    (PARIS MATCH 3/11-9/1/2011)

    7/ MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG BẮT ĐẦU TỪ TUỔI 50 CÓ PHẢI KHÁM MỘT THẦY THUỐC CHUYÊN KHOA NIỆU KHÔNG ?

    Professeur Pascal Rischmann
    Chef de service d’urologie-andrologie-transplantation rénale
    CHU Rangueil. Université Paul-Sabatier. Toulouse.


    Bắt đầu từ 50 tuổi, nói chung, một người đàn ông dễ bị các bệnh lý hơn. Điều đó không chỉ phụ thuộc vào tuổi tác mà còn vào những tiền sử gia đình và cá nhân, sự hành nghề và những thói quen trong cuộc sống của người đàn ông này. Một kiểm tra huyết áp, một thăm khám ngoài da, sự tìm kiếm bệnh đái đường, và sự phát hiện ung thư đại tràng hiện được khuyến nghị và thầy thuốc gia đình là người đối thoại đầu tiên. Đối với những vấn đề đường tiểu, thầy thuốc điều trị có thể cần thiết thông báo bệnh nhân về những nguy cơ có thể xảy ra.

    Về những ung thư thận và bàng quang, không có thăm dò phát hiện nào được khuyến nghị. Đối với một người nghiện thuốc lá, vào dịp thực hiện một check up, thầy thuốc gia đình nên thực hiện một trắc nghiệm nước tiểu nhờ một bandelette (có thể phát hiện máu trong nước tiểu). Nếu quả là như vậy, nên thăm khám một thầy thuốc chuyên về niệu khoa (urologue).

    Về tuyến tiền liệt phải hiểu rõ rằng nhiều tình huống có thể xảy ra. Viêm cấp tính, thậm chí nhiễm trùng (viêm tuyến tiền liệt), mặc dầu khá hiếm nhưng triệu chứng ầm ỉ, khiến bệnh nhân nhanh chóng đi khám bệnh và thực hiện những thăm khám phụ cho phép hướng định việc điều trị.

    Phì đại hiền tính tuyến tiền liệt (HBP : hypertrophie bénigne prostatique) hiện diện ở hầu hết tất cả những người đàn ông bắt đầu từ 40 tuổi, nhưng cứ mỗi 5 người đàn ông mới có 3 người có triệu chứng. Ngoài bệnh nhân có những triệu chứng, không nên thực hiện thăm dò phát hiện đối với những trường hợp khác. Sự kiện thường đi tiểu về đêm, trải qua những tình huống buồn tiểu khẩn trương hay đôi khi cảm giác bị bế tắc là những dấu hiệu cần phải thăm khám để thực hiện bilan. Chẩn đoán HBP được thực hiện bằng một thăm khám trực tràng đơn giản. Về điều trị HBP, có thể có nhiều thái độ khả dĩ : theo dõi đơn thuần không điều trị, các thuốc gồm 3 họ lớn với những cách tác dụng khác nhau hay, trong trường hợp thuốc không có hiệu quả, điều trị ngoại khoa, được chỉ định ở khoảng 1 bệnh nhân trên 10. Điều trị ngoại khoa nay đã tiến triển nhiều để trở nên ít xâm nhập hơn và thich ứng đối với mỗi bệnh nhân hơn : Có một sự khác nhau lớn về cách điều trị giữa một người đàn ông 55 tuổi từ chối dùng thuốc một cách thường trực, và một người đàn ông 85 tuổi bị bí tiểu, nhưng sức khỏe kém hơn và thường dùng nhiều loại thuốc : các điều trị được cá thể hóa.

    CÓ PHẢI PHÁT HIỆN UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT KHÔNG ?

    Có lẽ như các bạn đã biết, vấn đề này đang được tranh luận và tôi sẽ giải thích cho các bạn tại sao.

    Ung thư tuyến tiền liệt xuất hiện ở phần ngoại biên của tuyến, khác với phì đại hiền tính tuyến tiền liệt (HBP), và vì lý do này chỉ sinh ra những triệu chứng đường tiểu trong giai đoạn muộn. Nếu ta chờ đợi cho những triệu chứng này xuất hiện rồi mới lo âu, ta sẽ gần như luôn luôn chứng thực rằng bệnh khi đó đã quá tiến triển để có thể được chữa lành và ta chịu một nguy cơ tăng gấp đôi bị những biến chứng tại chỗ và sự xuất hiện của các di căn.

    Mặt khác ta biết rằng trong đa số các trường hợp, ung thư tuyến tiền liệt tiến triển chậm và có thể cần hơn 10 năm trước khi trở nên đe dọa tính mạng. Đó là lý do tại sao việc phát hiện không còn có lợi ích nữa ở những người đàn ông mà tuổi thọ trung bình về mặt thống kê không vượt quá 10 năm, nghĩa là trên 75 tuổi. Do đó có lợi ích nếu thực hiện công tác phát hiện ung thư tuyến tiền liệt trước lứa tuổi này.

    NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NÓI GÌ ?

    Công trình nghiên cứu có quy mô lớn nhất là một công trình của châu Âu, được thực hiện trên hơn 180.000 người trong 8 nước, trong đó 40.000 ở Pháp. Nếu ta xét đến quan điểm tỷ lệ tử vong liên kết một cách trực tiếp với ung thư tiền liệt tuyến, công trình nghiên cứu này đã cho thấy một lợi ích không phải bàn cãi khi thăm dò phát hiện những đối tượng từ 55 đến 69 tuổi. Sự khác nhau được chứng minh hiện nay là rất quan trọng vì lẽ mức độ dị biệt là làm giảm 40% tỷ lệ tử vong khi chẩn đoán được thực hiện sớm. Trong lứa tuổi này, việc không điều tra phát hiện sẽ có nguy cơ ngoại trừ chấp nhận ý nghĩ rằng một bệnh khác sẽ làm ảnh hưởng tuổi thọ sớm hơn là ung thư tiền liệt tuyến. Thật vậy, kinh nghiệm cho thấy rằng trong những nước phát triển đa số các người đàn ông thích được thăm dò phát hiện (thăm khám trực tràng và thử máu, tiếp theo sau là làm sinh thiết theo tỷ lệ 1 trên 10) bởi vì họ hiểu rằng một khối u được phát hiện sớm có thể được điều trị dễ dàng hơn : điều đúng với những ung thư khác cũng đúng với ung thư tiền liệt tuyến, đó là một quy tắc chung trong ung thư học.

    HƯỚNG VỀ NHỮNG ĐIỀU TRỊ CÁ THỂ HÓA.

    Do thời gian tiến triển của ung thư, chính sách phát hiện có một mặt trái : đó là nguy cơ điều trị quá mức (surtraitement), nghĩa là điều trị bằng những phương tiện triệt để những ung thư có mức độ ác tinh vào lúc chẩn đoán không biện minh cho một phương pháp như vậy. Chính vì vậy, điều quan trọng là xác định những đặc điểm của các khối u vào lúc chẩn đoán để có thể áp dụng cho chúng những điều trị được thích ứng với thể tích và mức độ ác tính của chúng.Càng ngày ta càng thường n đề nghị hơn một điều trị nhằm làm trì hoãn (traitement différé) (theo dõi tích cực) hay một điều trị bảo tồn như curiethérapie hay siêu âm hội tụ (ultrasons focalisés) khi khối u ít ác tính hay bệnh nhân tương đối lớn tuổi. Điều trị triệt để được chỉ định khi khối u lớn và cho thấy (hay thụ đắc) những đặc điểm ác tính. Trong đại đa số các trường hợp, điều trị này là một can thiệp ngoại khoa mà ta gọi là cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt (prostatectome totale). Can thiệp này, cũng như những điều trị triệt để khác (radiothérapie), có một nguy cơ gây những di chứng cơ năng như són tiểu và rối loạn cương. Về chứng són tiểu xảy ra sau cắt bỏ tuyến tiền liệt, nguy cơ này được làm chủ tốt hơn và trong trường hợp chứng són tiểu nghiêm trọng kéo dài (dưới 2% các trường hợp), vẫn có thể điều trị. Về chức năng cương (fonction érectile), câu hỏi rất rộng bởi vì nó tùy thuộc vào tuổi tác, thể tích khối u, điều trị được thực hiện và, để đơn giản hóa, khó đặt ngang nhau một người đàn ông 55 tuổi với một khối u nhỏ và một người đàn ông 68 tuổi với một thể tích khối u lớn : người thứ nhất có tat cả cơ may phục hồi chức năng cương, trong khi người thứ hai ở trong tình huống ngược lại. Chính vì thế, các thống kê đưa ra một tỷ lệ trung bình 50% nguy cơ bị biến đổi chức năng cương.

    Một bệnh nhân muốn được điều tra phát hiện phải được đả thông về tất cả điều đó : về những phương cách chẩn đoán, về những nguy cơ liên kết với sự tiến triển, cũng như về nguy cơ các di chứng do điều trị. Phải biết rằng các chiến lược càng ngày càng được cá thể hóa và có tính đến những mong muốn của bệnh nhân về mặt lựa chọn đời sống (choix de vie) với điều kiện những lựa chọn này có thể tương hợp với loại khối u được chẩn đoán. Sau cùng, những chỉ định điều trị và sự thực hiện chúng phải phù hợp với những khuyến nghị của Hiệp hội niệu học Pháp.

    Các bạn thấy đó, chủ đề thật rộng lớn. Vào lúc đầu, sự thăm khám một thầy thuốc niệu khoa là không cần thiết. Ngược lại, việc thông tin bởi thầy thuốc gia đình rất là quan trọng.
    (LE FIGARO 23/5/2011)

    8/ BỆNH DUPUYTREN

    Thầy thuốc độc đoán, nhà thuyết trình ngoại hạng, phương châm của ông : “ L’homme ne doit rien redouter tant que la médiocrité ”. Kiêu hãnh với các đồng nghiệp, dịu dàng với các bệnh nhân, ông để lại một cảm tưởng nhập nhằng, vừa được thán phục nhưng lại vừa bị ác cảm.

    Guillaume Dupuytren sinh năm 1777 trong ngôi làng Pierre-Buffière, gần Limoges (Pháp), ở đây cha ông là một nhà luật sư ít tiếng tăm. Ở tuổi 12, một người láng giềng, sĩ quan kỵ binh, mang ông lên Paris và trả tiền cho ông ăn học. Lúc 16 tuổi, ông có ý định nhập ngũ nhưng bố ông muốn ông trở thành thầy thuốc ngoại khoa và ghi tên ông vào école médico-chirurgicale St Alexis de Limoges. Tuy vậy ông thích học ở Paris hơn, mặc dầu ông phải sống trong một tầng hầm mái (mansarde) và phải dùng mỡ của những tử thi đã được phẫu tích để thắp sáng chiếc đèn bàn của mình ! Bởi vì, ở tuổi 18, ông đã phụ trách tất cả các cuộc mổ tử thi và đã giảng dạy cơ thể học với tư cách phụ tá (assistant). Ông tốt nghiệp lúc 20 tuổi. Được bổ nhiệm chef des travaux anatomiques 4 năm sau, ông viết chuyên luận đầu tiên về cơ thể bệnh lý và giảng dạy cùng với một người phụ việc (adjoint) không ai khác hơn là Laenec, mặc dầu giữa hai người không được hòa thuận với nhau bao nhiêu.

    MỘT GRAND PROFESSIONNEL NHIỀU THAM VỌNG.

    Dupuytren rất say mê cơ thể học và đã cống hiến nhiều cho các thầy thuốc ngoại khoa, khi đó táo bạo hơn là thông thái. Ông được bổ nhiệm chirurgien-chef adjoint của bệnh viện Hôtel-Dieu. Lần này, chính với cấp trên mà một cuộc tranh đua đã diễn ra với kết cục ông là người thắng cuộc, thay thế thượng cấp sau 7 năm, ở tuổi 38. Nhờ ông, trong 20 năm, bệnh viện Hôtel Dieu đã có tiếng tăm không ai cạnh tranh nổi. Là người tỉ mỉ, thậm chí ám ảnh (obsessionnel), Dupuytren tỏ ra tàn nhẫn và cầu toàn. Ông dùng năng lực và tính nhanh nhẹn của trí tuệ để phục vụ cho tham vọng không giới hạn của ông. Khía cạnh ít gây thiện cảm này biến mất ngay khi ông ngỏ lời phát biểu, vì lẽ ông là nhà diễn thuyết làm mê hoặc, với một kiến thức y khoa gây thán phục và đa dạng. Khi đó người ta thường nói về ông “ ông ta là Napoléon của ngoại khoa, người đứng đầu trong số những nhà ngoại khoa, và người đứng chót trong số những người đàn ông ”. Ông thăm các bệnh nhân được mổ ngay lúc 7 giờ sáng và đặt tầm quan trọng vào động tác chữa lành bệnh ngang hàng với việc theo dõi hậu phẫu. Các bài thuyết trình của ông được trình bày vào những buổi tối, trước một cử tọa khoảng 100 thầy thuốc trẻ đến từ rất xa để nghe ông nói về những trường hợp bệnh trong ngày…và để nghe về sự khinh bỉ của ông đối với những đồng nghiệp.

    MỘT NHÀ HÙNG BIỆN HƠN LÀ MỘT NHÀ VĂN

    Dupuytren không thích dùng ngòi bút và chính các học trò của ông, vào năm 1832, đã viết và xuất bản những Leçons orales de clinique chirurgicale. Đối với các thầy thuốc ngoại khoa đương thời, cống hiến này rất quý giá bởi vì ông trình bày những trường hợp trong ngày từ bệnh sử, chẩn đoán phân biệt, cho đến cơ thể bệnh lý, điều trị, hậu phẫu và đôi khi giải phẫu tử thi. Các chủ đề rất đa dạng, từ ngoại khoa chỉnh hình (orthopédie) cho đến gastroentérologie, rồi điều trị bỏng, vào một thời kỳ gây mê chỉ dựa vào thuốc phiện (opium), các dây thừng vững chắn và những nhân viên bệnh viện vai u thịt bắp ! Dupuytren không những mô tả chứng co cứng (contracture) mang tên ông (contracture de Dupuytren) mà còn tạo ra một kỹ thuật mổ để hủy bỏ nó. Ông là người đầu tiên mổ lấy đi một cách thành công hàm dưới và mổ torticolis spasmodique. Bài mô tả bệnh Dupuytren được công bố lúc ông 55 tuổi và, mặc dầu đã được trình bày bởi những thầy thuốc khác, bệnh này vẫn đáng được mang tên ông bởi vì ông là người đầu tiên thấy ở đó một thương tổn cân mạc (lésion aponévrotique), chứ không phải một thương tổn gân cơ (lésion tendineuse). Được dịch ra tiếng Anh, sự khám phá của ông được công bố trong The Lancet. Ẩn bản lần thứ hai của Leçons orales de clinique chirurgicale, được công bố sau khi ông qua đời, chứa 17 trường hợp co cứng, gồm căn nguyên, triệu chứng học, chẩn đoán phân biệt và điều trị bằng aponévrotomie.

    MỘT VINH QUANG QUÁ NGẮN NGỦI.

    Vua Louis XVIII chọn ông làm thầy thuốc ngoại khoa riêng và phong ông làm nam tước (baron). Dupuytren sau đó là nhà giải phẫu của vua Charles X, được thể hiện trên một bức tranh ở viện bảo tàng Carnavalet, trong một cử tọa tham gia một cuộc mổ đục thủy tinh thể. Với khả năng thăm khám 10.000 bệnh nhân mỗi năm, ông trở thành người giàu có nhất trong thời đại ông. Nhưng vào lúc ông được 55 tuổi, Dupuytren bị một đột qụy ngay đang khi lên lớp và cố đứng vững cho đến cuối bài thuyết trình của mình. Từ đó ông bị giảm sức và một năm sau, ông vứt gant mổ và từ bỏ các chức vụ của mình. Ông còn đi du lịch đó đây và được nhiệt liệt hoan hô ở Ý. Lúc trở về, sức khỏe của ông kém dần và ông qua đời lúc được 58 tuổi. Ông để lại 200.000 franc cho đại học y khoa Paris để xây dựng viện bảo tàng cơ thể bệnh lý Dupuytren, luôn luôn mở cửa cho tất cả mọi người.
    (LE GENERALISTE 6/10/2011)

    9/ BENZODIAZEPINES VÀ ALZHEIMER : MỘT MỐI LIÊN HỆ KHÔNG ĐƯỢC XÁC LẬP.

    GS Frédéric Rouillon, trưởng khoa Lâm sàng các bệnh tâm thần và não bộ của bệnh viện Sainte-Anne, trả lời những lo âu gây nên do sự quảng bá của giới truyền thông về một mối liên hệ khả dĩ giữa các thuốc hướng tâm thần (psychotropes) và bệnh Alzheimer.

    Hỏi : Một công trình nghiên cứu của Bordeaux về những thuốc hướng tâm thần (psychotropes), rất được quảng bá trong giới truyền thông, làm lo âu các bệnh nhân đang được điều trị. Những loại thuốc nào bị lien hệ ?
    GS Frédéric Rouillon: Đã có một sự lộn xộn, trong sự truyền đạt trực tiếp cho đại chúng, về những kết quả của công trình nghiên cứu này. Nhiều bệnh nhân đã nghĩ là hiểu được rằng tất cả các lớp thuốc được kê toa đối với những bệnh của não bộ (các thuốc chống trầm cảm, các thuốc chống loạn tâm thần) đều bị liên lụy. Phải xác định rõ ràng công trình nghiên cứu này không liên hệ đến tất cả các thuốc hướng tâm thần (psychotropes) nhưng chỉ một họ trong số những thuốc này mà thôi : các benzodiazépines. Đó chủ yếu là những thuốc ngủ (somnifères)và những thuốc an thần (tranquillisants) mà nước chúng ta là nước tiêu thụ số 1 của châu Âu !

    Hỏi : Những kết quả của công trình nghiên cứu này có đề cập một sự gia tăng 50% nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer với benzodiazépines. Nhiều bệnh nhân, không hiểu ngôn ngữ khoa học, đã nghĩ rằng họ có 50% nguy cơ mắc phải bệnh này.
    GS Frédéric Rouillon: Dĩ nhiên những kết quả thống kê này không có nghĩa là một nửa trong số những người được điều trị bởi benzodiazépine sẽ bị ảnh hưởng bởi bệnh lý này, nhưng nguy cơ mà những người này phải chịu được nhân lên 0,5 lần ! Hãy lấy thí dụ một căn bệnh mà tần số xuất hiện trong dân chúng là 2%. Nếu một công trình nghiên cứu cho thấy rằng một yếu tố gia trọng gây nên một sự gia tăng 50% nguy cơ, điều này muốn nói rằng tần số của bệnh này sẽ chuyển qua 3%.

    Hỏi : Sự lẩn lộn này có lẽ là do sự kiện các kết quả của công trình nghiên cứu này đã được thông báo trực tiếp cho đại chúng. Thường thường, protocole cần tôn trọng bởi các nhà nghiên cứu là gì ?
    GS Frédéric Rouillon: Khi những công trình của một nhóm nghiên cứu đưa đến những kết luận, thủ thuật cổ điển là đề nghị những kết luận này, trong thời gian đầu, cho một tạp chí khoa học, mà ủy ban đọc (comité de lecture) sẽ đánh giá chất lượng và khả năng chúng sẽ được công bố hay không. Chính sau khi được công bố cho giới y khoa các nhà báo của những tờ báo lớn mới có thể cho độc gia tiếp cận. Rồi, để cho những kết quả này được đánh giá là hoàn toàn có tính chất thuyết phục, chúng phải được xác nhận bởi những công trình nghiên cứu khác. Nhưng, vài nhà báo đã không tôn trọng lịch trình của các nhà nghiên cứu !

    Hỏi : Trong những trường hợp nào ta kê đơn những benzodiazépines ?
    GS Frédéric Rouillon: Những thuốc hiện đang được sử dụng nhất, như flunitrazépam (Rohypnol), bromazépam (Lexotan), lorazépam (Témesta) tác dụng lên vài thụ thể của não bộ trong mục đích hủy bỏ tình trạng lo âu (anxiété) và mất ngủ. Trong đại đa số các trường hợp, những điều trị này phải được cho trong một thời gian ngắn (một đến vài tuần). Việc tiếp tục phải được đánh giá lại bởi thầy thuốc.

    Hỏi : Tại sao những thuốc benzodiazépine này phải được cho trong một thời gian ngắn ?
    GS Frédéric Rouillon : Mặc dầu những loại thuốc này thường đuợc dung nạp tốt, chúng vẫn có thể gây nên ở vài bệnh nhân những tác dụng phụ : ngủ gà ban ngày, chóng mặt, sự mất điều hòa vận động, khó tập trung, rối loạn trí nho…và nhất là sự phụ thuộc thuốc. Vậy cần phải ngừng thuốc dần dần để tránh sự tái xuất hiện của các triệu chứng hay hội chứng cai thuốc (syndrome de sevrage) (tình trạng dễ bị kích thích, chảy mồ hôi, nôn) càng thường xảy ra nếu bệnh nhân đã tiêu thụ một loại benzodiazépine trong hơn 3 tháng. Trong trường các rối loạn vẫn tồn tại, ta có thể xét đến một loại thuốc hướng tâm thần khác (như các thuốc chống trầm cảm, một thuốc an thần không phải benzodiazépine…) hay một tâm lý liệu pháp.

    Hỏi : Nhưng những thuốc chống trầm cảm cũng không phải là không có những tác dụng phụ.
    GS Frédéric Rouillon : Về lâu về dài, những thuốc chống trầm cảm (antidépresseurs) đối với những bệnh nhân lo âu có hiệu quả hơn các benzodiazépines. Ta có thể so sánh các benzodiazepines với aspirine được cho trong trường hợp sốt và các thuốc chống trầm cảm với các thuốc kháng sinh, sẽ điều trị nguyên nhân. Không có thuốc nào là không có những nguy cơ : phải cân bằng những nguy cơ này với những lợi ích được mong chờ.

    Hỏi : Hôm nay ý kiến của các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh và tâm thần về mốỉ liên hệ giữa các benzodiazépines và nguy cơ bị bệnh Alzheimer là gì ?
    GS Frédéric Rouillon : Các kết quả có được cho đến nay không cho phép xác lập một cách không bác được rằng một điều trị với benzodiazépines là một trong những nguyên nhân của bệnh Alzheimer. Nhưng, nếu cuộc luận chiến này có thể làm cho người Pháp sử dụng chúng một cách hợp lý hơn, thì điều đó quả là hữu ích !
    (PARIS MATCH 20/10 – 26/10/2011)

    10/ MIỄN DỊNH LIỆU PHÁP ĐẦY HỨA HẸN CHỐNG BỆNH BẠCH CẦU

    CANCEROLOGIE. Một nhóm nghiên cứu Hoa Ky đã thành công biến đổi khả năng phòng vệ tự nhiên (défenses naturelles) của hai bệnh nhân để chúng có thể tiêu diệt các khối u. Một năm sau các bệnh nhân vẫn luôn luôn trong tình trạng thuyên giảm hoàn toàn.

    Biến đổi về mặt di truyền các tế bào bạch cầu của các bệnh nhân ung thư để chúng tấn công các tế bào ung thư. Nhờ thích ứng kỹ thuật miễn dịch liệu pháp (immunothérapie) này, Michael Kalos và các đồng nghiệp của đại học Pennsylvanie vừa thu được những kết quả ngoạn mục lên bệnh bạch cầu lympho mãn tính (leucémie lymphoide chronique), dạng phổ biến nhất của các ung thư máu : đối với hai trong ba bệnh nhân được điều trị như thế, tất cả các dấu hiệu của bệnh đã biến mất. Một năm sau, những bệnh nhân này vẫn luôn luôn trong tình trạng thuyên giảm hoàn toàn.

    Bệnh bạch cầu lympho mãn tính (LLC) được đặc trưng bởi một sự tăng sinh bất thường của vài bạch cầu, các tế bào lympho B. Để tấn công chúng một cách trúng đích chừng nào có thể được, các thầy thuốc trước hết đã trích trong cơ thể những bạch cầu khác, những tế bào lympho T. Sau đó, nhờ một virus vô hại, các thầy thuốc đã đưa vào trong génome của những tế bào lympho T này một cấu tạo di truyền đặc biệt : cấu tạo này cho phép các tế bào lympho T gắn vào một protéine được gọi là CD 19, hiện diện trên bề mặt của các tế bào lympho B. Sự gắn vào này có hai hậu quả : tế bào lympho T phá hủy tế bào lympho B và tăng sinh. Sau cùng, các tế bào lympho T bị biến đổi đã được tiêm vào trong cơ thể của ba bệnh nhân.

    Coctail génétique đổi mới này đã tỏ ra rất có hiệu quả. Thật vậy, số các tế bào lympho T được biến đổi đã được nhân lên 1000 lần sau khi được tiêm vào cơ thể của các bệnh nhân và hoạt tính của chúng đã kéo dài trong máu và tủy xương hơn 6 tháng. Ngoài ra, mỗi trong những tế bào lympho này đã làm chết ít nhất 1000 tế bào ung thư. Sau cùng, gần 1 kg khối u đã bị phá hủy ở mỗi trong 3 người tình nguyện ! “ Từ lâu các nhà khoa học tìm cách khai thác sức mạnh của hệ miễn dịch để chống lại các ung thư, như ung thư bạch cầu (leucémie), Sébastien Maury, thầy thuốc chuyên khoa huyết học thuộc bệnh viện Henri-Mondor de Créteil và chuyên gia về miễn dịch liệu pháp của Inserm, đã xác nhận như vậy. Nhưng mãi cho đến nay, các nhà khoa học đã không thành công nhắm đích một cách đúng đắn khối u ung thư, và duy trì hoạt động của các tế bào lympho T được sử dụng trong cơ thể của các bệnh nhân.”

    Bây giờ vấn đề còn lại là phải xác nhận sự thành công này trên một số lượng những bệnh nhân lớn hơn. Có lẽ cũng phải cải thiện phương thức để ngăn cản một sự phá hủy quá quan trọng những tế bào lympho B lành mạnh, cần thiết để chống lại các nhiễm trùng. “ Nhưng nhờ những kết quả gây ấn tượng này, kỹ thuật có thể được trắc nghiệm một cách nhanh chóng ở những giai đoạn ít tiến triển hơn của bệnh, Valérie Lapierre, thầy thuốc điều trị tế bào (thérapeute cellulaire) thuộc Viện Gustave-Roussy de Villejuif, đã đánh giá như vậy. Hiện nay kỹ thuật điều trị này trước hết là một hy vọng thật sự đối với những bệnh nhân đề kháng với hóa học liệu pháp ; trong trường hợp này ghép tủy xương từ một người cho tương hợp (donneur compatible) là điều trị duy nhất. ” Thế mà đây là một cuộc giải phẫu rất nhiều nguy cơ nhưng chỉ có hiệu quả trong 50% các trường hợp.
    (LA RECHERCHE 10/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (7/11/2011)

    Edited by user Saturday, September 1, 2012 5:33:46 PM(UTC)  | Reason: Not specified

  • "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #17 Posted : Saturday, September 1, 2012 5:34:23 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 248

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ BỆNH THỦY ĐẬU : HIỀN TÍNH … NHƯNG KHÔNG PHẢI LUÔN LUÔN.

    Hiếm khi nghiêm trọng, tuy nhiên căn bệnh do virus này có thể thức dậy về sau dưới dạng bệnh zona.

    VIRUS. Ngày xưa được gọi là “ vérette ”, “ petite vérole volante ” hay “ vérolette ”, bệnh thủy đậu qua các tên gọi của nó đã luôn luôn chứng tỏ không phải là bệnh nghiêm trọng. Thật vậy, căn bệnh rất lây nhiễm của tuổi bé thơ này thường nhất là hiền tính và không gây đau đớn. Nhưng bệnh có thể cho những biến chứng hiếm, tức thời hay về sau, khi virus của bệnh thủy đậu, nằm tiềm ẩn từ nhiều năm, bổng tỉnh dậy dưới dạng zona.

    Ít có trẻ em thoát được bệnh lây nhiễm này. Nếu, ở tuổi 15, 10% trong số những trẻ em này chưa mắc phải bệnh thủy đậu, thì ở tuổi 20, 96% được miễn dịch. Tỷ lệ mắc bệnh, được ước tính nhờ các thầy thuốc của réseau Sentinelles, là 766.323 trường hợp đối với năm 2010. “ Do không có chính sách tiêm chủng mở rộng (vaccination généralisée), bệnh thủy đậu khá ổn định mỗi năm và phản ảnh sự lưu thông tự nhiên của virus trong dân chúng ”, GS Emmanuel Grimprel, pédiatre-infectiologue (bệnh viện Trousseau, Paris) đã xác nhận như vậy.

    Trong 94% các trường hợp, bệnh xảy ra trước 10 tuổi, với một cao điểm giữa 1 và 4 tuổi và lứa tuổi trung bình là 3 tuổi. “ Từ lâu ta đã hằng tin rằng sự bảo vệ của nhũ nhi bởi các kháng thể của người mẹ kéo dài trong năm đầu.Thật ra, sự bảo vệ này bắt đầu giảm từ tháng thứ 3, và đến tháng thứ 6 phần lớn các trẻ không còn được bảo vệ nữa. Mặc dầu hiếm, những thể nặng và những biến chứng, thường xảy ra ở lứa tuổi này hay ở thiếu niên và người trưởng thành, chịu trách nhiệm 3500 trường hợp nhập viện và khoảng 20 trường hợp tử vong mỗi năm.

    Virus varicelle-zona hay VZV, chủ yếu được truyền qua đường hô hấp. Trong thời gian tiềm phục 2 đến 3 tuần, virus tăng sinh và xâm chiếm cơ thể. Sau đó những ban đỏ nhỏ xuất hiện trên thân mình và trên toàn bộ cơ thể, rồi chẳng bao lâu sau tạo thành những mụn nước (vésicules) chứa chất dịch trong suốt. Những ban sẽ khô đi trong vài ngày để tạo một vẩy kết (croute), nếu không bị gãi, sẽ rơi đi không để lại dấu vết. Điển hình cho bệnh thủy đậu, những thương tổn ở những giai đoạn khác nhau cùng hiện diện, chứng tỏ những đợt tăng sinh virus kế tiếp nhau. Sự xuất hiện của những thương tổn này có thể kèm theo sốt và số lượng của chúng thay đổi từ vài thương tổn đến nhiều trăm. Đứa bé có thể gây nhiễm trong 2 đến 4 ngày trước khi phát ban và cho đến khi tạo thành các vẩy kết.

    Điều trị chủ yếu là triệu chứng. “ Các thuốc chống virus (antiviraux) không có lợi ích trong những trường hợp hiền tính này bởi vì chúng tác dụng lên sự tăng sinh của virus (réplication virale), thế mà sự tăng sinh này đã dừng lại 24 đến 48 giờ sau khi bệnh bắt đầu, hoặc thầy thuốc hiếm khi khám đứa bé sớm như thế ”, GS Grimprel đã giải thích như vậy : “ Phải làm dễ quá trình hóa sẹo tự nhiên, do đó tắm đứa bé, làm khô và thấm lâu bằng nút gạc rồi mặc cho nó quần áo dài để làm bớt gãi. Eosine hay gel de calamine làm khô một phần nào các thương tổn. Các thuốc sát trùng như chlorhexidine không chứng tỏ hiệu quả chống lại các bội nhiễm.”

    HÀNH ĐỘNG NHANH TRONG TRƯỜNG HỢP BỘI NHIỄM.

    Nguồn gốc vi khuẩn, những trường hợp bội nhiễm này là biến chứng chính của bệnh thủy đậu. Nguy cơ gia tăng với số lượng các thương tổn ; những thương tổn này xảy ra do hàng rào da bị vỡ, cho phép đi vào những tụ cầu khuẩn hay những liên cầu khuẩn, bình thường hiện diện trên da. “ Nguy cơ này gia tăng ở nhũ nhi, thường bị lây nhiễm trong gia đình do một trẻ lớn hơn, do đó một sự tiếp xúc với virus kéo dài và một bệnh thủy đậu thường nặng hơn, trong khi đứa trẻ chưa được sạch sẽ. ” Các thương tổn không gây đau. “ Nếu một trong những thương tổn lớn ra, trở nên đau đớn, nóng, đỏ, nếu sốt vẫn cao, đó có thể là một bội nhiễm và phải nhanh chóng khám thầy thuốc để được kê đơn các kháng sinh, vị giáo sư đã nhấn mạnh như vậy. . Đôi khi, sự bội nhiễm có thể dữ dội, bởi vì các vi khuẩn này, nhất là các liên cầu khuẩn, xâm nhập và cũng tiết ra những độc tố. Vài trường hợp tử vong được quan sát mỗi năm được giải thích như thế. ” Những biến chứng khác của thủy đậu ảnh hưởng đứa bé lớn tuổi hơn. “ Những biến chứng này chủ yếu là thần kinh : viêm tiểu não (cérébellite) (một tình trạng viêm tiểu não tạm thời, thường hiền tính), hiếm hơn nhiều là những trường hợp viêm dây thần kinh (névrite) nhỏ hay viêm não, những thương tổn gan hay huyết học.” Nguy cơ khác, co giật do sốt (convulsion fébrile) : “ Nếu sốt cao, nếu đứa bé suy kiệt, từ chối ăn uống, rên rỉ …tốt hơn là gọi thầy thuốc.” Ở thiếu niên hay người trưởng thành, chịu đựng bệnh thủy đậu kém hơn đứa trẻ, bệnh thủy đậu cũng có thể gây nên những biến chứng hô hấp. Vì vậy ta chủ trương tiêm chủng phòng ngừa khi chúng không được miễn dịch.

    NHỮNG CƠ CHẾ KHÔNG ĐƯỢC BIẾT RÕ.

    Vaccin, mặc dầu có hiệu quả, nhưng chỉ được khuyên dùng đối với vài nhóm nguy có cơ. “ Quyết định này căn cứ trên sự theo dõi dịch tễ học liên tục về căn bệnh, hành tung của nó, điều này cho phép mỗi năm xét lại những khuyến nghị tiêm chủng, BS Thierry Chambon, thuộc réseau Sentinells, đã giải thích như vậy. Sự theo dõi dịch tễ học này cũng giúp cho những nhà nghiên cứu, bởi vì nhiều ẩn số vẫn còn tồn tại về sự lan truyền của bệnh ”. Ý kiến này cũng được nhất trí bởi BS Catherine Sadzot, virologue spécialiste du VZV (đại học Liège) : “ Những cơ chế, nhờ đó virus vẫn tồn tại sau khi bị thủy đậu, ở trạng thái tiềm ẩn trong những hạch thần kinh cảm giác và những cơ chế về sự tái hoạt động của nó dưới dạng zona, vẫn còn không được hiểu rõ lắm. ” Mức độ nghiêm trọng của vài bệnh thủy đậu, những triệu chứng đau gây nên bởi zona, biện minh sự quan tâm liên tục của các nhà nghiên cứu đối với virus này.
    (LE FIGARO 31/10/2011)

    2/ BỆNH THỦY ĐẬU :TIÊM CHỦNG CHỈ ĐƯỢC KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHỮNG NHÓM NGUY CƠ.

    Mỗi người có thể được tiêm chủng với tính cách cá nhân chống lại bệnh thủy đậu. Trên thị trường có hai vaccin khá tương tự nhau, được sản xuất từ cùng một giống gốc (souche) virus sống được làm giảm độc lực (Oka), được cấy trên những tế bào người. Tuy vậy, ở Pháp, trái với những nước khác (Hoa Kỳ, Đức hay Nhật), Haut Comité de santé publique đã không khuyến nghị tiêm chủng đại trà (vaccination universelle) các trẻ em chống lại căn bệnh này.

    Tại sao theo chọn lựa này ? “Vì virus bệnh thủy đậu được truyền một cách rất dễ dàng, do do để có được tác dụng phòng ngừa mong muốn, phải đạt được một tỷ lệ tiêm chủng vượt 90% dân số đối với một vaccin cần hai liều tiêm. Nếu ta không đạt được tỷ lệ tiêm chủng cao này, ta không thể tác động lên sự truyền của virus, và nguy cơ dịch bệnh vẫn tồn tại. Nhưng dịch bệnh này khi đó ít xảy ra hơn ở trẻ nhỏ, vốn được bảo vệ tốt hơn bởi thuốc chủng, nhưng lại chuyển về những người lớn tuổi hơn, không được tiêm chủng và không bị mắc bệnh thủy đậu sớm hơn, vì lẽ virus lưu hành ít hơn. Kết quả : những trường hợp thủy đậu nghiêm trọng hơn, GS Emmanuel Grimprel đã giải thích như vậy. Vả lại đó là điều đang xảy ra hôm nay với bệnh sởi, đối với bệnh này ta đã không vượt quá tỷ lệ tiêm chủng 80% trong 20 năm. Với một kết quả tồi như vậy đối với bệnh sởi mà tiềm năng nghiêm trọng hơn, chúng tôi đã kết luận rằng không nên khuyến nghị tiêm chủng đại trà chồng lại bệnh thủy đậu để tránh sự lão hóa của các trường hợp và một nguy cơ gia tăng bị bệnh thủy đậu biến chứng (varicelle compliquée). ”

    Khía cạnh khác cần được xét đến trong quyết định này, đó là ảnh hưởng của việc tiêm chủng mở rộng này lên bệnh zona. Bệnh zona xảy ra do một sự tái hoạt động (réactivation) của virus ở một người vốn đã từng bị bệnh thủy đậu, chủ yếu là do sự kiềm chế không đủ bởi miễn dịch tự nhiên thụ đắc chống lại nó. Đó là lý do tại sao bệnh zona xuất hiện khi bị giảm miễn dịch và ở những người lớn tuổi (ngay 60-70 tuổi) có hệ miễn dịch trở nên ít hiệu quả hơn. “ Bằng cách làm giảm sự lưu hành của virus bằng một tiêm chủng mở rộng, ta làm giảm những cuộc gặp gỡ tình cờ với virus trong suốt cuộc sống, những tiếp xúc này là những rappel bảo vệ tự nhiên và giải thích tại sao các thầy thuốc chuyên khoa Nhi ít bị zona như vậy. Thế mà, những người già, do ít tiếp xúc với virus hơn, nên ít có rappel tự nhiên hơn. Vì ta không biết chất lượng và thời gian bảo vệ do thuốc chủng mang lại so với bảo vệ do bệnh thủy đậu gây nên, nên ta sợ một sự gia tăng những trường hợp zona hiện nay xuất hiện sớm hơn. Vài chỉ dấu từ những nước đã theo chính sách tiêm chủng mở rộng gợi ý rằng quả đúng là như vậy.”

    NHỮNG NGƯỜI TRÊN 12 TUỔI.

    Những lý do này giải thích tại sao việc tiêm chủng chỉ được chỉ định đối với những nhóm có nguy cơ : những trẻ trên 12 tuổi nhưng không bị bệnh thủy đậu (hay những trẻ không nhớ có bị bệnh hay không), những người hành nghề y tế và những trẻ thuộc lứa tuổi ấu thơ. Những người chờ đợi để được ghép, và do đó nhận điều trị làm suy giảm miễn dịch, được tiêm chủng để phòng ngừa. Ngược lại, ta không thể tiêm chủng những người bị suy giảm miễn dịch bằng một thuốc chủng sống được làm giảm độc lực (vaccin atténué vivant), nhưng ta chủng những người chung quanh trong gia đình để hạn chế nguy cơ. “ Sau cùng, thời kỳ cuối của thai nghén là một thời kỳ nguy cơ đối với bệnh thủy đậu. Trong trường hợp huyết thanh âm tính, tiêm chủng phải được đề nghị một cách hệ thống đối với những phụ nữ dự định có thai ”, GS Chidiac đã nhấn mạnh như vậy. Mọi tiêm chủng chống lại bệnh thủy đậu ở một phụ nữ ở tuổi sinh sản phải được thực hiện xét nghiệm huyết thanh (sérologie) trước đó và kèm theo một biện pháp ngừa thai ít nhất 3 tháng.
    (LE FIGARO 31/10/2011)

    3/ ZONA : SỰ THỨC DẬY GÂY ĐAU CỦA VIRUS VZV

    Chấm dứt bệnh thủy đậu không có nghĩa là chấm dứt những thù địch giữa virus (VZV) và ký chủ của nó. Ở tất cả những người bị nhiễm, VZV vẫn tồn tại ở trạng thái tiềm ẩn trong cơ thể. “ Trong thời kỳ bệnh thủy đậu, virus“ cousin ” của virus de l’herpès này nằm trong những thương tổn da, tiếp xúc với những tận cùng thần kinh cảm giác. Từ đó, virus đi ngược lên đến tận các hạch cảm giác (ganglions sensoriels), ở đây nó vẫn ở trong trạng thái tiềm ẩn dưới dạng ADN circulaire, BS Catherine Sadzot, virologue của đại học Liège đã giải thích như vậy. Những cơ chế tiềm ẩn (mécanisme de latence) này không được biết rõ. Nhưng chúng ta đã chứng minh rằng sự tổng hợp bình thường, gồm 3 giai đoạn, của các protéine virus, khi đó bị phong bế ở cuối giai đoạn đầu tiên ” Những cơ chế tái hoạt hóa (réactivation) của VZV (sẽ tiếp tục trở lại chu kỳ và tái xuất hiện dưới dạng zona) vẫn không được biết rõ. “ Nhưng hệ miễn dịch của ký chủ đóng một vai trò quan trọng. Sự tái hoạt động (réactivation) này thường xảy ra hơn ở những người có hệ miễn dịch trở nên ít hiệu quả hơn, hay những người bị suy giảm miễn dịch bởi một nhiễm trùng hay sau một phẫu thuật ghép, nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Đôi khi chỉ cần cảm cúm hay một stress cũng đủ. Có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, sau 60 tuổi, zona xảy ra theo tỷ lệ ½. “ Một kích thích không được biết rõ gây nên sự tái hoạt động của virus, và hệ miễn dịch suy yếu cho phép mang virus trở lại đến da của vùng được phân bố bởi dây thần kinh liên hệ. ” Sự xuất hiện cùng một bên những cụm mụn nước (bouquet de vésicules) đối diện với đường thần kinh này, điển hình của bệnh zona, cũng đủ để chẩn đoán. Sau một tuần, những thương tổn được phủ bởi những vảy kết và chúng sẽ rơi đi trong 3 đến 4 tuần. Đi trước sự nổi ban thường là những triệu chứng đau như “ dao đâm ”, cảm giác bỏng hay điện chạy.

    ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC KHÁNG VIRUS.

    Ở Pháp khoảng 270.000 zona được chẩn đoán mỗi năm. Điều trị zona“ thông thường ” này dựa trên một thuốc kháng virus, valaciclovir. “ Thuốc này phải được cho bằng đường miệng trong 48 giờ sau khi bắt đầu các triệu chứng, GS Christian Chidiac, thầy thuốc chuyên khoa bệnh truyền nhiễm (CHU Lyon) đã giải thích như vậy. Đối với ông phải điều trị các bệnh nhân càng nhanh càng tốt và phải nhờ đến các thuốc kháng virus một cách hệ thống hơn ”.

    Vì lẽ bệnh zona kèm theo đau đớn đôi khi nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều lên chất lượng sống và có thể trở nên mãn tính. “ Công trình nghiên cứu của Pháp Arizona trên 1.300 bệnh nhân bị bệnh zona được theo dõi đã cho thấy rằng 12% (15% sau 70 tuổi) bị triệu chứng đau sau khi bị bệnh (douleurs post-zostériennes) kéo dài hơn 3 tháng. Tuổi tác, cường độ và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng đau ban đầu, những đặc điểm của nó là những yếu tố nguy cơ của di chứng đau sau khi bị bệnh zona, BS Didier Bouhassira, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh (Inserm U792) đã giải thích như vậy…Những triệu chứng đau thần kinh do những thương tổn thần kinh gây nên bởi virus này (douleurs neuropathiques) có những đặc điểm riêng (cảm giác bỏng, chỉ cần sờ cũng gây đau…). Những triệu chứng đau thần kinh này không đáp ứng với những thuốc giảm đau thông thường và được điều trị bởi vài thuốc chống trầm cảm (cũng có một tác dụng đặc hiệu lên đau), và bởi những thuốc chống động kinh có tác dụng làm giảm tính kích thích của neurone. ” Khả năng nhận biết rất sớm những triệu chứng đau thần kinh (douleurs neuropathiques) phải khiến thực hiện ngay một điều trị bằng những thuốc chống trầm cảm và những thuốc chống động kinh ở những bệnh nhân này. Những patch d’anesthésique hay capsaicine và kích thích điện (électrostimulation) cũng có thể giúp làm thuyên giảm.

    Những điều trị này chỉ có hiệu quả đối với 50% các bệnh nhân, trong đó chúng làm giảm đau chỉ 30 đến 50% những trường hợp. Một vaccin phòng ngừa bệnh zona, đã có từ 3 năm nay ở Hoa kỳ, có thể hữu ích đối với những người già. Nhưng vacccin này không được khuyến nghị ở Pháp, do thiếu những dữ kiện đầy đủ về tính hiệu quả và mức độ dung nạp.
    (LE FIGARO 31/10/2011)


    4/ BỆNH LAO SẼ TÌM THẤY MỘT VACCIN MỚI.

    Được biến đổi về mặt di truyền, một vi khuẩn “ bà con ” của trực khuẩn lao, Mycobacterium smegmatis, có thể được dùng để tạo một vaccin mới chống lại căn bệnh vẫn tiếp tục giết chết 1,7 triệu người mỗi năm. Steven Porcelli và William Jacobs, thuộc Collège de médecine Albert-Einstein (Nữu Ước), đã nhận diện một nhóm gène (vùng esx-3), chịu trách nhiệm tính độc lực của trực khuẩn , rồi đã thay thế nó bởi cùng nhóm gène, nhưng phát xuất từ trực khuẩn lao. Kết quả, không những việc tiêm cho các con chuột vi khuẩn được biến đổi về mặt di truyền này không còn gây tử vong nữa, mà việc tiêm này đã chủng chúng chống lại bệnh lao. “ Các con chuột được tiêm chủng bằng phương cách này đã sống 135 ngày sau khi nhiễm trực khuẩn lao, so với 54 ngày đối với những con chuột đã không được tiêm chủng và 65 ngày đối với những con chuột được chủng bởi BCG ” , Steven Porcelli đã giải thích như vậy. Vaccin mới này có thể được tiêm đơn độc hay được thêm vào BCG, mà hiệu quả, đặc biệt ở người lớn, không được tối ưu. Đó cũng là một hy vọng lớn đối với những trẻ em huyết thanh dương tính ; ở những đối tượng này BCG bị cấm chỉ bởi vì vaccin này có thể gây nên những nhiễm trùng nghiêm trọng. Các tác giả đánh giá rằng còn cần phải nhiều năm nữa trước khi dự kiến những thử nghiệm lâm sàng, nhất là để hiểu hệ miễn dịch phản ứng như thế nào đối với sự tiêm chủng.
    (SCIENCE ET VIE 11/2011)

    5/ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG ĐƯỢC GÂY NÊN BỞI VI KHUẨN ?

    Những công trình nghiên cứu mới dường như chỉ rõ rằng các fusobactéries hiện diện với lượng rõ rệt quan trọng hơn trong ruột của những bệnh nhân bị ung thư đại tràng. Tuy nhiên câu hỏi là muốn biết đó là nguyên nhân hay hậu quả của căn bệnh. Hai nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã phân tích, bằng séquençage ARN và ADN, các vi khuẩn hiện diện trong mô khối u của khoảng 100 bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng. Cứ mỗi lần như vậy, họ đã tìm thấy các fusobactérie trong mô khối u, đôi khi ở những nồng độ đến 100 lần cao hơn những nồng độ được quan sát trong những tế bào lành mạnh. Những công trình nghiên cứu trước đã cho thấy rằng những vi khuẩn này được liên kết với một nguy cơ gia tăng bị viêm loét đại tràng (colite ulcéreuse). Lần đầu tiên những vi khuẩn này được đặt trong mối liên quan với ung thư đại tràng. Vấn đề bây giờ là phải biết xem những vi khuẩn này là nguyên nhân hay hậu quả của ung thư.

    “ Chúng ta phải xác định chính nhiễm trùng hay khối u đã xuất hiện đầu tiên ”, Robert Holt, nhà nghiên cứu chính đã tuyên bố như vậy. Theo những tác giả của công trình nghiên cứu này, sự hiện diện hay vắng mặt của vài loại vi khuẩn có thể được sử dụng như là trắc nghiệm phát hiện (test de dépistage) không xâm nhập và đáng tin cậy của ung thư tụy tạng.
    (LE JOURNAL DU MEDECIN 8/11/2011)

    6/ CHẤN THƯƠNG SỌ NHẸ : CHẨN ĐOÁN SỚM NHỜ ĐỊNH LƯỢNG MỘT PROTEINE ?

    Các nhà nghiên cứu của trung tâm bệnh viện Bordeaux (kíp của BS Emmanuel Lagarde, giám đốc của unité Inserm) đề nghị, trong trường hợp một chấn thương sọ nhẹ (trauma cranien mineur), định lượng một protéine (S-100b), có nồng độ gia tăng một cách hằng định sau một stress não bộ. Protéine này được sản xuất bởi những tế bào bao quanh và nuôi dưỡng các neurone. Định lượng này có thể được thực hiện trong 1 giờ. Mức độ đáng tin cậy của phương thức này để xác lập chẩn đoán mức độ nghiêm trọng của chấn thương sọ và biện minh hay không một scanner, vừa được chứng minh bởi công trình nghiên cứu Bordeaux. Công trình này được thực hiện trên 1560 bệnh nhân được làm scanner, đồng thời được định lượng sinh học. Ở 111 bệnh nhân mà những hình ảnh scanner đã cho thấy những thương tổn trong sọ, nồng độ trung bình của protéine trong máu là 0,46mg/l. Ở những người khác (không có di chứng), nồng độ này thấp hơn một nửa.
    (PARIS MATCH 27/10 – 2/11/2011)

    7/ VACCIN HỨA HẸN CHỐNG BỆNH SỐT RÉT

    Được trắc nghiệm ở Burkina Faso, một vaccin mang lại đến 77% khả năng bảo vệ chống lại bệnh sốt rét. Những kết quả đáng phấn khởi này xác nhận một chiến lược vaccin được tưởng tượng cách nay hơn 20 năm.

    “ Trong số khoảng 100 vaccin chống bệnh sốt rét được trắc nghiệm trên người trên thế giới, MSP3 là một trong hai vaccin duy nhất đã bảo vệ được người chống lại căn bệnh này trong vùng sốt rét.” Qua lời phát biểu này, Dominique Mazier, chuyên gia bệnh sốt rét thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière, tóm tắt những kết quả thu được bởi vaccin MSP3, trong khung cảnh một thử nghiệm được tiến hành trên 45 trẻ em từ 12 đến 24 tháng của Burkina Faso.

    Chiến lược vaccin phòng ngừa này đã được tưởng tượng cách này hơn 20 năm bởi Pierre Druilhe, khi đó là giám đốc của laboratoire de paludo-vaccinologie của viện Pasteur và équipe của ông. “ Trong vùng dịch bệnh, ông đã giải thích như vậy, những người trưởng thành châu Phi bị nhiễm ký sinh trùng gây bệnh sốt rét, Plasmodium falciparum, đã phát triển sau 20 năm một cơ chế miễn dịch bảo vệ họ một cách tự nhiên : do đó tôi có ý tưởng tạo một vaccin có khả năng phát khởi cơ chế miễn dịch này ngay từ tuổi ấu thơ.”

    Vào năm 1987, nhóm nghiên cứu đã truyền vài protéine máu của những người trưởng thành Phi châu này cho những người trẻ Thái Lan bị nhiễm bởi Plasmodium : sự tăng sinh của ký sinh trùng đã được thu giảm và những triệu chứng của bệnh sốt rét đã biến mất. Các nhà sinh học khi đó đã khám phá rằng những protéine trong máu này hợp tác với vài bạch cầu để giết chết ký sinh trùng khi nó xâm chiếm các hồng cầu. Sau cùng, trong số 5800 protéine cấu tạo plasmodium, các nhà nghiên cứu đã nhận diện protéine làm phát khởi cơ chế miễn dịch này. Được đặt tên là MSP3, protéine này đã được đưa vào dưới dạng tổng hợp trong một vaccin candidat. Vaccin này không có khả năng phong bế nhiễm trùng cơ thể do ký sinh trùng. Ngược lại, nó ngăn cản ký sinh trùng xâm chiếm các hồng cầu. Thế mà, chính giai đoạn này chịu trách nhiệm những triệu chứng của bệnh.

    CƠN SỐT RÉT.

    MSP3 đã được trắc nghiệm vào năm 2007, ở Burkina-Faso. 45 em bé được chia thành 3 nhóm. Nhóm đầu tiên nhận 15 mcg MSP3, nhóm thứ hai một liều gấp đôi và nhóm thứ ba một placebo. Vaccin đã được dung nạp tốt và đã kích thích hệ miễn dịch : đó là mục tiêu được nhắm đến bởi trắc nghiệm quy mô nhỏ này. Nhưng các nhà làm thí nghiệm dầu sao cũng lợi dụng kết quả này để xem MSP3 có làm giảm nguy cơ phát triển một cơn sốt rét hay không, nói một cách khc là giai đoạn lâm sàng của bệnh, được đặc trưng bởi một nhiệt độ ít nhất 37, 5 độ C và bởi một nồng độ ít nhất 5000 Plasmodium đối với một microlitre máu. Kết quả : “ Trung bình, ta đã ghi nhận 1,2 cơn sốt rét mỗi 100 ngày đối với nhóm thứ nhất (những đứa trẻ được tiêm chủng) và 1,9 trong nhóm thứ hai, đối với 5,3 đối với nhóm đã nhận placebo : hoặc một khả năng bảo vệ do vaccin MSP3 mang lại từ 64 đến 77% ”, Pierre Druilhe lấy làm hoan hỉ như vậy.

    Vấn đề là còn phải hợp thức hóa những kết quả này trên một số lượng những người tình nguyện lớn hơn. Một thử nghiệm trên 800 trẻ em nước Mali từ 12 đến 36 tháng đã được phát động vào tháng tư vừa qua.
    (LA RECHERCHE 11/2011)

    8/ SUY TIM ĐỀ KHÁNG VỚI ĐIỀU TRỊ : MỘT SYSTEME IMPLANTABLE MỚI.

    BS Philippe Ritter, thầy thuốc chuyên khoa tim, chuyên gia về những rối loạn nhịp ở CHU de Bordeaux, giải thích cơ chế tác dụng của “công cụ ” mới nhất để cải thiện những co bóp của tim.

    Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của căn bệnh suy tim thường xảy ra này ?
    BS Philippe Ritter : Bệnh lý này là do sự kiện sức co bóp toàn bộ của cơ tim đã trở nên bất túc. Lưu lượng máu do “ bơm tim ” (pompe) phát ra bị giảm, do đó sự tưới máu đến các cơ quan ít tốt hơn ; những cơ quan này không còn nhận oxy nữa, vốn cần thiết cho sự hoạt động tốt của chúng. Ở Pháp, ta thống kê trung bình 500.000 trường hợp suy tim, trong đó 1/3 chịu một phế tật bổ sung : ở những người này, những thành của các tâm thất không co bóp đồng thời ; chúng bị mất đồng bộ (désynchronisé). Do đó lưu lượng tim lại càng thấp hơn.

    Hỏi : Những hậu quả của căn bệnh này là gì ?
    BS Philippe Ritter : Các triệu chứng sẽ tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh. Ở giai đoạn 1, các triệu chứng được thể hiện bởi khó thở lúc thực hiện một gắng sức rất quan trọng. Ở giai đoạn 2, những triệu chứng khó thở này xuất hiện lúc thực hiện những gắng sức trong cuộc sống hàng ngày như bước lên vài tầng của một cầu thang, và phù xuất hiện, làm sưng, thí dụ, những mắt cá chân. Ở giai đoạn 3, bệnh lý trở nên gây phế tật : bệnh nhân khó thở rất nhanh, lúc mặc quần áo, lúc tắm rửa, lúc bước đi… Ở giai đoạn 4, nghiêm trọng nhất, khó thở liên tục buộc bệnh nhân nằm liệt giường và phải nhập viện. Sự nhập viện cũng cần thiết khi khó thở nguồn gốc do tim xảy ra đột ngột và quan trọng.

    Hỏi : Ta điều trị những trường hợp suy tim này như thế nào ?
    BS Philippe Ritter : Khởi đầu, phải điều trị nguyên nhân : thí dụ, nong các động mạch bị hẹp lại. Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại, ta có thể cho những thuốc như các thuốc lợi tiểu, các betabloquant..(mà ta có thể thay đổi tùy theo các kết quả). Trong trường hợp thất bại, trong nhóm những bệnh nhân có các tấm thất không có bóp đồng thời (bị mất đồng bộ : désynchronisé), ta thiết đặt một stimulateur (được gọi là “ pacemaker ”). Máy tạo nhịp này cung cấp cho tim những xung động điện để đảm bảo tính đều đặn của các nhịp đập cửa tim. Và làm gia tăng lực bóp của các tấm thất (một resynchroniseur).

    Hỏi : Với hệ thống này những kết quả thu được là gì ?
    BS Philippe Ritter : Ta chứng thực rằng một sự cải thiện rõ rệt ở khoảng 60 đến 70% những bệnh nhân, nhưng không có sự cải thiện nào ở 1/3 còn lại.

    Hỏi : Tại sao ta không cải thiện được 100% những bệnh nhân này ?
    BS Philippe Ritter : Nhà chế tạo đã được lên chương trình trước cho những stimulateur được đặt. Nhưng sự điều chỉnh này, mặc dầu phù hợp với đại đa số các bệnh nhân, nhưng không được tính toán theo từng trường hợp. Nghĩa là không được “ cá thể hóa ” (sur mesure). Thế mà mỗi người không có cùng những nhu cầu như nhau. Những nhu cầu này đặc biệt tùy thuộc vào tuổi tác, kích thước của tim, bản chất của bệnh tim. Những yếu tố này giải thích sự không đáp ứng của vài bệnh nhân đối với kỹ thuật này (1/3). Ta buộc phải thay đổi những điều chỉnh này bằng một ordinateur được mang bên ngoài, nhưng mất thời gian, khó khăn và không luôn luôn được thích ứng. Do đó cần hiệu chính một hệ thống mới.

    Hỏi : Phương pháp mới là gì ?
    BS Philippe Ritter : Đó là một hệ thống được hội nhập vào stimulateur-resynchroniseur, cho phép đánh giá chất lượng của sự hoạt động của tim và điều hòa nó một cách tự động, không cần sự can thiệp của người thầy thuốc. Một capteur nhỏ xíu, được gọi là “ SonR ” (cylindre đường kính 2mm), được đưa vào một trong những ống thông (sonde) ; những ống thông này nối stimulateur với tim, để cho phép stimulateur thay đổi những điều chỉnh và như thế có được lực bóp tim quan trọng nhất có thể được. Phương thức này được thực hiện một cách tự động một lần mỗi tuần. Nó có thể được thực hiện với gây mê tại chỗ hay tổng quát, và cần nhập viện trong thời gian ngắn từ 3 đến 4 ngày.

    Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã được thực hiện với hệ thống mới này ?
    BS Philippe Ritter : Một công trình nghiên cứu rộng lớn của châu Âu được tiến hành từ hai năm nay bởi các nhóm nghiên cứu Đức, Anh, Hòa Lan, Ý và Pháp, trong đó có kíp của chúng tôi, ở CHU de Bordeaux, trên 268 bệnh nhân. Các bệnh nhân được chia thành hai nhóm : một nhóm được điều trị với hệ thống mới ; nhóm kia được thiết đặt một resynchroniseur chuẩn. Cho đến nay, ta đã ghi nhận được 78% những người đáp ứng tốt trong nhóm đầu tiên, so với 62% trong nhóm không có capteur. Hệ thống này đã có sẵn để sử dụng và có thể được dùng ở tất cả những bệnh nhân bị suy tim với sự co bóp không đồng bộ (désynchronisation de contraction).
    (PARIS MATCH 27/10 – 2/11/2011)

    9/ DYSTROPHIE MUSCULAIRE DE DUCHENNE

    Vào tháng 3 năm 2011, một chất chỉ dấu (marqueur) mới về mức độ nghiêm trọng của bệnh Dystrophie musculaire de Duchenne đã được loan báo bởi một nhóm nghiên cứu Ý : nồng độ micro ARN trong huyết thanh. Một bước tiến quan trọng, 135 năm sau khi nhà khám phá qua đời, một người giàu trí tưởng tượng và có nhiều sáng kiến mới.

    Guillaume Duchenne sinh năm 1806 ở Boulogne-sur-Mer trong một ngôi làng mà ở đấy biển là thiên hướng bắt buộc. Guillaume chống lại và sau khi đỗ tú tài, lên Paris để học y khoa, vào một thời kỳ có những giáo sự như Laenec, Dupuytren, Magendie. Ông tốt nghiệp lúc 25 tuổi và, sau khi bố qua đời, ông trở lại ngôi làng sinh quán, ở đấy ông hành nghề khoảng 10 năm, đồng thời theo đuổi những thí nghiệm sinh lý và vật lý y khoa. Ông thử nghiệm ở vài bệnh nhân một điều trị mới bằng phép điện châm (électropuncture); kỹ thuật này vừa mới được biểu dương trong thời gian gần đây. Ông cưới vợ lúc còn trẻ và vợ ông qua đời vì sốt hậu sản. Mẹ vợ cố làm lu mờ thanh danh ông và chiếm đoạt đứa con trai của ông. Guillaume tái giá nhưng cặp vợ chồng chẳng trụ được bao lâu. Không còn gì có thể giữ ông lại ở quê ông.

    NHÀ GIẢI MÃ NHỮNG CẢM XÚC

    Duchenne lập nghiệp ở Paris được 4 năm thì ông trình bày ở Viện Hàn lâm Khoa Học một báo cáo khoa học gây chấn động. Chính người thầy thuốc tỉnh lẻ bị chế giễu này đã có công áp dụng một cách hệ thống điện học vào sinh lý học và vào bệnh lý của hệ cơ. Ông mô tả một cách đổi mới và độc đáo tác dụng riêng rẻ hay cộng lực của các cơ. Những công trình nghiên cứu của ông về hệ cơ của mặt và những ảnh hưởng của nó lên nét mặt (physionomie) của con người gây sự tò mò, ngay cả ở những người ngoài y giới. Ông giải thích trong “ Cơ chế gây nên diện mạo con người ” (Le mécanisme de la physionomie humaine) : “ Mọi cử động tự ý hay bản năng đều do sự co đồng thời của một số lượng cơ ít hay nhiều. Được trang bị bởi các rhéophore (những sợi dây kim loại dẫn hai dòng điện trong một chiếc pile), ta có thể, như chính thiên nhiên, vẽ trên mặt của người những đường biểu hiện các cảm xúc của tâm hồn. Nguồn những quan sát mới ! ”. Những ảnh các gương mặt do ông chụp cho thấy cả một loạt đủ mọi sắc thái những cảm xúc, dịu dàng ou âu yếm nhưng cũng hung bạo và dữ tợn, gây ra bởi máy điện và ý chí của người thí nghiệm.[/color]

    TỪ SINH LÝ HỌC ĐẾN BỆNH LÝ HỌC

    Mặc dầu còn vô danh và bị chỉ trích, ông thăm viếng tất cả các khoa phòng của các bệnh viện Paris, nhằm tìm kiếm những bệnh hiếm. Để đạt được điều đó, ông chế tạo một thiết bị điện mang theo người, nhằm cho phép ông lập bản đồ chức năng của các cơ và khảo sát sự điều hợp của chúng. Chính những tìm tòi này đã gợi cho ông những mô tả chính xác về nhiều rối loạn thần kinh cơ, gồm cả myopathie primitive progressive pseudohypertrophique và thất điều vận động (ataxie locomotrice) mang tên ông (Dystrophie de Duchenne và Maladie de Duchenne). Ông cũng phát minh một giùi chọc (trocart), “ harpon histologique de Duchenne ” để lấy mẫu nghiệm mô cơ qua da mà không cần gây mê, tiền thân của thủ thuật sinh thiết ngày nay. Guillaume Duchenne tóm tắt công trình của ông trong hai chuyên luận quan trọng, nhưng phải thêm vào đó rất nhiều báo cáo khoa học, những ghi chép, những quan sát, trong đó được ghi vào những sự kiện mới, những nghiên cứu độc đáo, những áp dụng tài tình và những phương cách thăm dò. Ông cũng khảo sát 3 khám phá quan trọng của thế kỷ XIX : điện học, sinh lý học và nhiếp ảnh.

    MỘT SỰ SẢN XUẤT PHONG PHÚ.

    Những công trình của ông, đặc sắc do tính độc đáo và những hậu quả thực hành của chúng, sau cùng được giới y khoa hoan nghênh. Ông dành hai ngày mỗi tuần để thăm khám những người nghèo và gởi phụ tá của mình đến mổ miễn phí tại nhà. Cho đến những ngày cuối của cuộc đời, ông vẫn làm việc, tìm tòi, hoàn thiện. Đối với ông, lâm sàng bên cạnh giường người bệnh là chìa khóa của y khoa và trong khi những thăm dò và kết luận của ông đều chính xác, thì những bài giảng của ông không luôn luôn được sáng tỏ lắm và phủ nhận ngạn ngữ “ điều gì được hiểu tốt, được phát biểu rõ ràng ”. Rất nhẫn nại và khoan dung, ông là người của phòng thí nghiệm (homme de laboratoire) hơn là nhà thông thái (homme d’érudition) và có lần ông mô tả một điều mới lạ nhưng đã được báo cáo bởi những kẻ khác. Ở tuổi 52 ông dự thi áp dụng hữu ích nhất của pile de Volta và được phong chevalier de la Légion d’honneur. Cả châu Âu tôn vinh ông, kể cả Hiệp hội y khoa Gand. Ông qua đời quá sớm, vì xuất huyết não, ở tuổi 69.
    (LE GENERALISTE 20/10/2011)

    10/ NHỮNG TẾ BÀO TỬ CUNG ĐÃ SẢN XUẤT INSULINE !

    Ở những phụ nữ bị bệnh đái đường, tử cung có thể thay cho tụy tạng ? Điều đó không phải là không có thể, theo những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ thuộc đại học Yale. Các nhà nghiên cứu này đã thành công điều trị, ở chuột, dạng nghiêm trọng nhất của bệnh đái đường, bằng những tế bào gốc người trưởng thành (cellules souches humaines adultes) phát xuất từ niêm mạc tử cung (nội mạc tử cung). Như thế, lợi ích của một phương pháp này là ở chỗ, ngày nay, để điều trị lâu dài bệnh đái đường, các thầy thuốc đã phải nhờ đến kỹ thuật ghép những tế bào của tụy tạng : những tế bào này tiết insuline (hormone thiết yếu trong sự điều hòa glucose trong máu) và bị tấn công bởi hệ miễn dịch của những người bị bệnh đái đường loại 1. Nhưng thiếu người cho (donneur) và những trường hợp thải bỏ (rejet) mẫu ghép xảy ra nhiều. Thế mà, các nhà nghiên cứu của đại học Yale đã tái tạo in vitro những tế bào trưởng thành của tụy tạng từ những tế bào gốc nội mạc tử cung, được cấy trong 3 tuần trong một môi trường các chất dinh dưỡng (bain de nutriments) và các yếu tố tăng trưởng. Trước hết họ đã quan sát thấy rằng insuline người được sản xuất in vitro khi cho tiếp xúc với glucose những tế bào đã được cấy. Họ đã ghép những tế bào này ở những con chuột bị bệnh đái đường. 5 tuần sau, đường huyết của chúng được ổn định. Nếu các nhà nghiên cứu thành công áp dụng những kết quả này cho phụ nữ, khi đó họ sẽ có sẵn những tế bào để sử dụng (nội mạc tử cung) và có thể lập lại để trị bệnh đái đường.
    (SCIENCE ET VIE 11/2011)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (15/11/2011)

    Edited by user Sunday, September 2, 2012 3:58:52 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #18 Posted : Saturday, September 1, 2012 5:34:58 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 249

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH



    1/ NHỮNG CHIẾN LƯỢC CHỐNG LẠI BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY

    Đối với đa số các bệnh nhân, có những điều trị có hiệu quả.

    GASTROENTEROLOGIE. “ Mọi người thỉnh thoảng có những triệu chứng của trào ngược dạ dày-thực quản (RGO), GS Dominique Lamarque, trưởng khoa hépatologie-gastroentérologe của bệnh viện Ambroise-Parré, Boulogne-Billancourt đã nhấn mạnh như vậy. Vậy đó là một bệnh thường xảy ra, không trầm trọng trong đại đa số các trường hợp. ” Haute autorité de santé chỉ rõ rằng từ 15 đến 20% những người Pháp có những triệu chứng của trào ngược dạ dày-thực quản ít nhất một lần mỗi tuần và khoảng 5% bị mỗi ngày. Khi triệu chứng khó chịu chỉ thỉnh thoảng mới xảy ra, bệnh nhân thường nhờ đến dược sĩ, sẽ khuyên dùng những thuốc băng niêm mạc (pansement) hay những thuốc kháng toan (antiacide). Khi triệu chứng thường xảy ra hơn, thầy thuốc gia đình thường ở tuyến đầu.

    Bệnh trào ngược dạ dày thực quản được đặc trưng bởi sự đi qua vào trong thực quản của một phần chất chứa trong dạ dày, theo chiều ngược lại với chiều xảy ra trong quá trình tiêu hóa. Chứng trào ngược này là do cơ vòng của phần dưới thực quản bị yếu, bình thường tác dụng như một van chống hồi lưu (valve antiretour). Chất chứa trong dạ dày có tính acid và những đợt trào ngược gây nên một cảm giác rát bỏng trong thực quản, đôi khi đến tận hầu. Trong 40% các trường hợp, trào ngược xảy ra vào ban đêm hay khi bệnh nhân nghiêng mình. Chất chứa trong dạ dày khi đó có thể lên đến tận miệng, gây khó chịu và mất ngủ.

    “ PETITE BEDAINE ” (BỤNG HƠI TO)

    Những biện pháp vệ sinh đời sống có thể hữu ích : tránh những bữa ăn quá dồi dào, quá nhiều mỡ hay nhiều chất gia vị và tôn trọng một thời hạn 3 giờ giữa bữa ăn tối và lúc lên giường ngủ. Những miếng kê (cale) đặt ở đầu giường cũng đã chứng tỏ tính hiệu quả của chúng. Bệnh trào ngược dạ dày thực quản thường xảy ra hơn sau 50 tuổi và được làm dễ bởi sự tiêu thụ quá mức rượu, thuốc lá và sự tăng thể trọng. “ Làm giảm trọng lượng vài ký đôi khi cũng đủ để làm giảm những triệu chứng ”, Dominique Lamarque đã chỉ rõ như vậy. Đàn ông bị bệnh 3 lần nhiều hơn phụ nữ, nên có thể cái bụng hơi to (“ petite bedaine ”) của lứa tuổi 50 đóng một vai trò.

    Những đợt trào ngược axid có thể gây nên những thương tổn của thành thực quản, gây đau và những rối loạn tiêu hóa đôi khi do thực quản bị hẹp lại. Trong vài trường hợp ít xảy ra, khi sự trào ngược kéo dài và nghiêm trọng, nó có thể dẫn đến một sự biến đổi của niêm mạc của đoạn dưới thực quản và, trong trường hợp ngoại lệ, sự xuất hiện một ung thư. “ Đó là điều mà tất cả các bệnh nhân đều sợ nhưng sự biến đổi này thật rất hiếm xảy ra ”, GS Frank Zerbib, trưởng khoa hépato-gastro-entérologie của bệnh viện Saint-André (Bordeaux) đã nhấn mạnh như vậy. Trong phần lớn các trường hợp, điều trị cho phép làm giảm các triệu chứng và bảo vệ thực quản. Việc lựa chọn điều trị tùy thuộc vào tần số và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng. Nếu bệnh trào ngược dạ dày thực quản được biểu hiện dưới 1 lần mỗi tuần, thầy thuốc sẽ kê đơn một loại thuốc như kháng toan (antiacide), thuốc băng niêm mạc (pansement) hay ngay cả thuốc kháng bơm proton (IPP). Những thuốc kháng bơm proton (IPP) đúng hơn là một điều trị nền (traitement de fond), cho phép điều hòa một cách dài lâu sự sản xuất của acid trong dạ dày. Xuất hiện trong những năm 1990, các thuốc kháng bơm proton ngày nay là điều trị chuẩn của bệnh trào ngược dạ dày thực quản với các triệu chứng thường xảy ra và điều trị này thường tỏ ra có hiệu quả. Khi bệnh nhân trẻ, ngoại khoa có thể tránh việc dùng thuốc : trong đa số các trường hợp, bệnh trào ngược dạ dày thực quản không cải thiện khi lớn tuổi và trở nên mãn tính.

    Nếu bệnh nhân không đáp ứng với những thuốc kháng bơm proton, nếu bệnh nhân lớn hơn 50 tuổi và/hoặc nếu các triệu chứng tái xuất hiện lúc ngừng điều trị, thầy thuốc có thể khuyến nghị những thăm dò phụ. Trong trường hợp này, nội soi cho phép phát hiện, 2 trường hợp trên 3, những thương tổn của thực quản với mức độ nghiêm trọng thay đổi. Khi nội soi không cho thấy gì hết, khi các triệu chứng không rõ ràng hay khi điều trị không có hiệu quả, chỉ có pH-métrie mới cho phép xác nhận trào ngược dạ dày thực quản acid khả dĩ đáp ứng với những thuốc kháng bơm proton. “ Thăm dò này đặc biệt hữu ích khi các triệu chứng không phải là tiêu hóa : thí dụ ho, đánh hắng họng hay hen phế quản. Nó cho phép tránh kê đơn một điều trị vô ích ”, BS Thierry Vallot, gastro-entérologue thuộc bệnh viện Bichat đã nhắc lại như vậy. Đứng trước việc kê đơn quá mức, Afssaps vào năm 2007 đã nhắc lại rằng không có một bằng cớ nào về tính hiệu quả của IPP lên các triệu chứng này khi bệnh trào ngược dạ dày thực quản không được xác nhận bằng thăm dò, một kết luận được xác nhận bởi HAS vào năm 2009.
    (LE FIGARO 7/11/2011)

    2/ NHỮNG CẢI TIẾN ĐỂ CHỐNG LẠI ACID DẠ DÀY

    “ Sự xuất hiện của các thuốc kháng bơm proton (IPP : inhibiteur de la pompe à protons) đã hoàn toàn biến đổi việc điều trị bệnh trào ngược dạ dày thực quản (RGO), cũng như sự nghiên cứu những điều trị mới ”, GS Franck Zerbib, trưởng khoa hépato-gastro-entérologie thuộc bệnh viện Saint-André (Bordeaux) đã nhắc lại như vậy. Những loại thuốc này tác động lên sự biến đổi của vài chất đồng thời ngăn cản chúng trở nên axit.

    Thật vậy, đại đa số các bệnh nhân đáp ứng với những điều trị này. Những loại thuốc đang được thử nghiệm đúng hơn là những chất bổ sung cho các thuốc kháng bơm proton, tác dụng lên cơ vòng của phần dưới thực quản để giới hạn sự hồi lưu nhưng không tác động lên những tác dụng của IPP. “ Nhiều loại thuốc đang được thử nghiệm nhưng hiệu quả của chúng không đủ để được đưa ra thị trường ”, Franck Zerbib đã chỉ rõ như vậy.

    Nhiều điều trị nội soi để may, tiêm hay làm nóng (échauffement) nhằm làm dày các mô đã được nhắm đến, rồi sau đó bị bỏ vì thiếu những kết quả thỏa mãn, nhưng những tiến bộ của ngoại khoa soi ổ bụng (chirurgie coelioscopique) chẳng bao lâu có thể cho phép lần nữa mở con đường nghiên cứu này.

    “ Ngoại khoa vẫn hữu ích, nhất là khi những đợt trào ngược quá quan trọng xảy ra vào ban đêm bởi vì, mặc dầu các thuốc kháng bơm proton có hiệu quả, nhưng chúng không ngăn cản được sự hồi lưu ”, GS Dominique Lamarque, trưởng khoa hépato-gastro-entérologie thuộc bệnh viện Ambroise-Paré (Boulogne-Billancourt) đã nhấn mạnh như vậy. Nhưng đó vẫn là một can thiệp tế nhị, với nguy cơ làm hẹp và những tác dụng phụ gây khó chịu.

    Mặt khác một công trình nghiên cứu châu Âu được công bố vào năm 2011 trong Journal of the American Medical Association đã cho thấy rằng điều trị ngoại khoa cho cùng kết quả với các thuốc kháng bơm proton : 90% các bệnh nhân cho là các kết quả thỏa mãn, mặc dầu những tác dụng phụ thường xảy ra hơn về phía ngoại khoa. “ Thật vậy, những bệnh nhân sử dụng ngoại khoa nhiều nhất cũng là những bệnh nhân đáp ứng tốt nhất với các thuốc kháng bơm proton, GS Zerbib đã chỉ rõ như vậy. Vậy phải nhắm đúng những bệnh nhân mà ngoại khoa có một lợi ích thật sự. ”

    Tiến bộ quan trọng có thể phát xuất từ sự hiệu chính những công cụ chẩn đoán có khả năng xác định tốt hơn những bệnh nhân khả dĩ cần những điều trị khác với các thuốc kháng bơm proton để tránh kê đơn những loại thuốc này một cách vô ích. Capsule Bravo, được cắm vào trong thực quản bằng nội soi và trong 48 giờ truyền thông tin từ thực quản mà không cần dây dẫn, cho phép đo độ acid của trào ngược mà không buộc bệnh nhân phải trải qua 24 giờ với một cathéter trong mũi. Mặc dầu 10 lần tốn kém hơn cathéter, kỹ thuật này không được bồi hoàn bởi Bảo hiểm y tế. Nhưng việc sử dụng nó mang lại nhiều tiết kiệm : các IPP có con số doanh thu quan trọng nhất trong số các dược phẩm được bán.
    (LE FIGARO 7/11/2011)

    3/ BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY : Ở NHŨ NHI, MỘT BỆNH THƯỜNG XẢY RA NHƯNG TẠM THỜI.

    “ Một nửa các nhũ nhi dưới 6 tháng ựa ít nhất một lần mỗi ngày, GS Patrick Tounian, trưởng khoa dinh dưỡng và tiêu hóa nhi đồng thuộc bệnh viện Armand-Trousseau (Paris) đã nhắc lại như vậy. Vậy phải nhắc lại cho bố mẹ rằng đó là một tình trạng sinh lý, bình thường trong đại đa số các trường hợp.”

    Thật vậy, những triệu chứng trào ngược (régurgiation) này là do tình trạng chưa thành thục (immaturité) của hệ thống chống hồi lưu (système antireflux), trong phần lớn các trường hợp sẽ tự giải quyết với thời gian. “ Tuy nhiên khi một nhũ nhi ựa và bắt đầu khóc, người lớn lại thấy ở đó sự biểu hiện của một sự đau đớn tương tự với đau đớn mà họ đã cảm nhận khi bị bệnh trào ngược dạ dày thực quản (RGO), Patrick Tountan đã chỉ rõ như vậy. Vô cùng ít các trẻ được điều trị chống hồi lưu (traitement antireflux) trong khi tất cả các tài liệu chứng minh rằng placebo cũng hiệu quả như điều trị chống hồi lưu tốt nhất. ” Đứng trước những triệu chứng ựa của nhũ nhi, công cụ tốt nhất là sự nhẫn nại.

    Nếu trẻ ựa rất nhiều, nhiều chiến lược có thể được áp dụng. Hàng đầu đó là sử dụng sữa đặc (lait épaissi) sẽ có phép hạn chế những trào ngược. Trong những trường hợp quá mức, có thể kê toa métoclopramide hay béthanéchol để ngăn cản trào ngược. Còn dompéridone đã cho thấy không có hiệu quả mặc dầu được kê đơn rộng rãi, nhất là bởi vì thuốc này có ít tác dụng phụ.

    Đứng trước những triệu chứng ựa kèm theo khóc, viêm phế quản tái diễn, ho mãn tính, những bệnh tai mũi họng tái diễn, Afssaps khuyên trước hết phải tìm kiếm nguyên nhân khác với bệnh trào ngược dạ dày thực quản vì chứng bệnh này rất hiếm khi là nguyên nhân của những biểu hiện này. “ Nếu không có một sự giải thích nào khác có thể được tìm thấy, khi đó có thể điều trị thử với một thuốc kháng bơm proton (IPP : inhibietur de la pompe à protons) ”, GS Tounian đã nhắc lại như vậy. Nếu điều trị không cho kết quả một cách nhanh chóng, thì việc cho IPP cũng chỉ là vô ích. “ Tác dụng placebo rất là quan trọng, nhất là lên các bố mẹ, và tôi thấy thường xuyên các trẻ đến,với nhiều năm được điều trị với IPP nhưng không có kết quả thật sự. ”

    TÁC DỤNG PLACEBO.

    Cũng như đối với người lớn, pH-métrie là công cụ tốt nhất để xác nhận hay loại bỏ bệnh trào ngược dạ dày thực quản nhằm kê đơn điều trị tốt hay tiếp tục tìm kiếm những nguyên nhân khác giải thích các triệu chứng. Ngoài ra, việc chẩn đoán quá dễ dàng bệnh trào ngược dạ dày thực quản, cùng với việc kê đơn quá hệ thống thuốc kháng bơm proton (IPP) khiến bỏ qua những bệnh lý khác, như bệnh hen phế quản. Cũng như ở người lớn, bệnh trào ngược dạ dày thực quản bệnh lý (RGO pathologique) đáp ứng tốt những điều trị này nhưng ở nhũ nhi vẫn có tính cách tạm thời. Bệnh trào ngược dạ dày thực quản thường biến mất vào lúc trẻ học bước và không nhất thiết báo hiệu, đối với người trưởng thành tương lai, sự xuất hiện một trào ngược vào tuổi 50.
    (LE FIGARO 7/11/2011)

    4/ LOẠN NHỊP TIM CÓ THẾ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ MỘT CÁCH NHẸ NHÀNG.

    “ Rung nhĩ. Tích điện 300 joules. Phát sốc điện ! ” Trở thành thông thường qua các séries télévisées, câu nói này chẳng bao lâu có thể biến mất khỏi những thành ngữ thường được sử dụng bởi các thầy thuốc. Ít nhất là đối với điều trị rung nhĩ (fibrillation auriculaire), một trong những rối loạn nhịp tim thường gặp nhất, được đặc trưng bởi một co bóp nhanh và không đều của các xoang tim, nhận máu để chuyển vào các tâm thất. Thay vì chỉ cần cho một sốc điện có cường độ mạnh, một nhóm nghiên cứu Đức-Mỹ vừa chứng tỏ, ở động vật, rằng rung nhĩ cũng có thể được làm ngừng lại bởi một loạt các sốc điện có cường độ thấp hơn.“ Nhiên hậu, mặc dầu năng lượng toàn thể được phát ra y hệt với năng lượng của một máy khử rung chuẩn (défibrillateur standard), sự việc làm giảm 84% cường độ của mỗi sốc điện có tác dụng hạn chế những tác dụng phụ, mà hàng đầu là sự đau đớn ”, Flavio Fenton, một trong những nhà nghiên cứu của đại học Cornell (Nữu Ước) tham gia vào trong công trình nghiên cứu này, đã giải thích như vậy. Một viễn ảnh đáng phấn khởi đối với những bệnh nhân buộc phải chịu một cách đều đặn những khử rung điện (défibrillations électriques). Được đặt tên là LEAP (“low-energy antifibrillation pacing”), phương pháp mới này, còn cần phải được chứng minh ở người, cũng có thể được áp dụng để điều trị rung thất (fibrillation ventriculaire), nguyên nhân chính gây ngừng tim.“ Những thí nghiệm được tiến hành in vitro cho thấy rằng phương pháp mới này có hiệu quả đối với rung nhĩ cũng như đối với rung thất. Những trắc nghiệm sơ bộ cũng đi theo chiều hường này, nhưng chúng tôi còn phải thu thập các dữ kiện ”, Flavio Fenton đã xác nhận như vậy.
    (SCIENCE ET VIE 10/2011)


    5/ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ ĐƯỢC MỔ BẰNG LASER.

    Một chiếc máy đầu tiên sẽ được thiết đặt ở Pháp vào tháng đến.

    OPHTALMOLOGIE. Vào tháng đến máy laser đầu tiên nhằm phẫu thuật bệnh đục thủy tinh thể sẽ được thiết đặt ở Pháp. Khởi đầu của một chương mới trong một ngoại khoa vốn đã trải qua hai cuộc cách mạng lớn : “ Cách nay 25 năm, ta mở mắt bằng một đường xẻ hơn 1 cm để lấy thủy tinh thể bị mờ đục ra và thay thế nó bằng một implant ”, GS Antoine Brézin, trưởng khoa nhãn của bệnh viện Cochin-Hotel Dieu (APHP, Paris) đã nói như vậy. Bởi vì phương tiện duy nhất để điều trị bệnh là lấy đi thủy tinh thể, chiếc thấu kính (lentille) của mắt trở nên ít trong suốt khi lớn tuổi.

    Vì thủy tinh thể được chứa trong một túi nhỏ (capsule : nang) nằm sau mống mắt, nên phải trổ một lỗ vào túi này để có thể lấy thủy tinh thể ra và thay thế nó. Một lỗ khá lớn để có thể lấy thủy tinh thể già nua ra, nhưng không quá lớn để implant thay thế có thể được giữ tại chỗ. “ Cuộc cách mạng lớn của những năm 1980 đó là phacoémulsification ”, GS Brézin đã giải thích như vậy.Phacoémulsification là một kỹ thuật nhằm đưa một ống sonde vào trong nang (capsule) để làm vỡ thủy tinh thể ra từng mảnh nhỏ nhờ các siêu âm. Sau đó ta có thể lấy những mảnh vỡ này ra rồi đưa implant vào bằng một đường xẻ 6 mm. Cuộc cách mạng thứ hai, “ trong những năm 1990, những implant đã trở nên có thể gấp lại được (pliable), điều này cho phép chỉ cần một đường xẻ 3 mm ”, thầy thuốc chuyên khoa đã nói thêm như vậy. Ngày nay, các implant được cuộn lại như một điếu thuốc lá và chỉ cần một lỗ 2,2 mm để đưa chúng vào trong nang thủy tinh thể. Một lỗ nhỏ đến độ ta chỉ cần đặt một gel gây tê lên bề mặt của mắt, trái với ngày xưa ta phải thực hiện những mũi chích quanh mắt. Cũng chẳng cần phải đóng lỗ lại, thiên nhiên sẽ tự lo liệu lấy.

    MỘT PHÍ TỒN ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN

    Đối với BS Vincent Dedes, hiện dang mổ ở clinique Ambroise-Paré de Lille, nơi đây vào giữa tháng 11 sẽ thiết đặt laser femtoseconde đầu tiên (laser à impulsions extrement rapides) dành cho ngoại khoa của đục thủy tinh thể (chirurgie de la catracte), “ Chất lượng của đường xẻ vào túi nang (sac capsulaire) sẽ được định cỡ một cách hoàn hảo nhờ laser, cũng như việc tính toán implant sẽ được đặt vào. Hiệu năng của động tác cũng trở nên có thể tiên đoán hơn ”. Dĩ nhiên không phải các kết quả của phẫu thuật đục thủy tinh thể theo phương pháp truyền thống bấp bênh hơn.

    Khoảng 600.000 người được mổ mỗi năm ở Pháp, với những kết quả hoàn toàn đặc sắc và những thầy thuốc ngoại khoa có những tỷ lệ biến chứng gần 0,5%. “ Một cách đơn giản động tác an toàn hơn, có thể tạo lại với laser ”, BS Dedes nói rõ như vậy , “ chúng ta đã học điều đó trong ngoại khoa khúc xạ (chirurgie réfractaire), thí dụ, của bệnh cận thị, trong đó buộc phải dùng laser ”. Tuy vậy, tiến bộ thật sự không phải trong việc cắt bằng laser (découpe au laser), theo GS Brézin : “ Hôm nay, biến chứng thường xảy ra nhất, mặc dầu hiếm, khi can thiệp, đó là vỡ nang thủy tinh thể (capsule du cristallin). Hơi giống như khi anh đập vỡ một bức tường (thủy tinh thể) nằm trên một tấm gương (nang : capsule). Mặc dầu laser cho phép đập vỡ bức tường, đó là một tiến bộ, nhưng còn cần phải nhờ đến những siêu âm để làm vụn chúng ra thành cát. Thế mà siêu âm lại hung tợn hơn đối với những thành chung quanh. Giai đoạn tiếp theo, và là cuộc cách mạng thật sự, sẽ là khỏi cần đến các siêu âm và làm vụn tất cả nhờ laser.”
    (LE FIGARO 18/10/2011)

    6/ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ: FEMTOLASER ĐẾN PHÁP.

    GS Thanh Hoàng Xuân, trưởng khoa mắt của Hôpital américain, tác giả của “ Bệnh đục thủy tinh thể ” giải thích những ưu điểm của máy cải tiến này.

    Hỏi : Mọi người không trước thì sau đều bị đục thủy tinh thể (cataracte). Rối loạn thị giác này được biểu hiện như thế nào ?
    GS Thanh Hoàng-Xuân. Rối loạn thị giác được xác định như là sự mất đi tính chất trong suốt của thủy tinh thể (cristallin), cái thấu kính (lentille) tự nhiên được bao quanh bởi một vỏ bọc gọi là nang (capsule), có nhiệm vụ làm hội tụ ánh sáng lên võng mạc. Nguyên nhân đầu tiên là tuổi tác. Bệnh đục thủy tinh thể nói chung được biểu hiện bắt đầu ở tuổi 70. Thị lực bị giảm dần dần nhưng rất biến thiên, điều này giải thích tại sao vài ngươi không muốn mổ khi họ cảm thấy ít bị trở ngại. Điều trị chủ yếu là ngoại khoa. Ở Pháp, gần 700.000 phẫu thuật được thực hiện mỗi năm.

    Hỏi : Protocole ngoại khoa cổ điển được sử dụng là gì ?
    GS Thanh Hoàng-Xuân. Mục tiêu của can thiệp ngoại khoa, được thực hiện theo phương thức cổ điển và ngoại trú, là thay thế thủy tinh thể bị mờ đục (bên trong nang) bằng một thủy tinh thể nhân tạo, nghĩa là một implant. Protocole gồm nhiều giai đoạn. 1. Bệnh nhân được gây tê tại chỗ, thường bằng thuốc giọt. 2. Thầy thuốc ngoại khoa thực hiện một đường xẻ nhỏ xíu trong giác mạc bằng một lưỡi dao nhỏ (microlame). 3. Ông ta đưa một cái cặp (pince) vào để lấy phần trước của nang thủy tinh thể ra. 4. Ông ta sử dụng một ống thăm dò siêu âm (sonde à ultrasons) để làm vỡ thủy tinh thể bị mờ đục ra từng mảnh, để lại tại chỗ phần sau của nang thủy tinh thể. 5. Luôn luôn với đường xẻ nhỏ (microincision), ông đưa vào một implant có thể gấp lại như một chiếc dù, được đặt trên phần sau của nang. Can thiệp, không đau đớn, kéo dài khoảng 15 phút. Nói chung, ta chờ một tuần để xem ta có phải mổ mắt kia hay không.

    Hỏi : Rất thường bệnh nhân rất sợ khi phải thấy động tác phẫu thuật.
    GS Thanh Hoàng-Xuân : Bị chói lòa bởi ánh sáng của kính hiển vi, bệnh nhân chỉ thấy một ánh sáng đôi khi nhuộm màu, nhưng không bao giờ thấy động tác mổ.

    Hỏi : Hậu phẫu diễn ra như thế nào ?
    GS Thanh Hoàng-Xuân : Bệnh nhân ra khỏi phòng mổ với một coque protectrice được đặt trên mắt được mổ và, trừ những trường hợp đặc biệt, sự cải thiện hầu như tức thời ngay ngày hôm sau.

    Hỏi : Có những nguy cơ bị biến chứng hay không ?
    GS Thanh Hoàng Xuân : Những biến chứng rất là hiếm : ít nhất ta đạt được 98% ty lệ thành công đối với một đục thủy tinh thể chuẩn. Việc xuất hiện một nhiễm trùng vẫn là ngoại lệ.

    Hỏi : Ta có thể sợ một tái phát hay không ?
    GS Thanh Hoàng-Xuân : Ở khoảng 20% các bệnh nhân được mổ sau 70 tuổi, trong một thời hạn vài tháng đến vài năm có thể xuất hiện một sự mờ đục của phần sau nang thủy tinh thể đã được để lại. Không cần phải mổ lại, nhưng chỉ cần một buổi điều trị với laser Yag.

    Hỏi : Khi ta thật sự cần phẫu thuật này, những nguy cơ nếu ta được mổ là những nguy cơ nào ?
    GS Thanh Hoàng-Xuân : Nguy cơ đầu tiên là không còn thấy nữa. Và khi ta trì hoãn cuộc mổ quá, can thiệp có thể có biến chứng bởi vì đục thủy tinh thể bị cứng lại.

    Hỏi : Trong sách của ông, ông nói đến một bước tiến với sự xuất hiện của femtolaser. Thủ thuật này là gì ?
    GS Thanh Hoàng-Xuân : Kỹ thuật này đã được mở đầu đối với ngoại khoa giác mạc khúc xạ (chirurgie cornéenne réfractaire) của bệnh cận thị, của bệnh viễn thị, của bệnh loạn thị (astigmatisme) và của bệnh lão thị (presbytie) và trong ghép giác mạc (greffe de cornée). Bây giờ ta cũng đã thích ứng nó với ngoại khoa của đục thủy tinh thể (chirurgie de la cataracte). Femtolaser là một chùm ánh sáng được điều khiển từ xa, từ một ordinateur cho thấy mắt cần phải mổ. Về điều trị đục thủy tinh thể, máy này có nhiều chức năng : nó thay thế lưỡi dao nhỏ (microlame) để xẻ giác mạc, cái cặp (pince) để rút phần trước của nang thủy tinh thể ra, rồi các siêu âm để làm vỡ thủy tinh thể thành từng mảnh. Các giai đoạn tiếp theo, hút các mảnh vỡ và đưa implant vào, đều giống như đối với phẫu thuật cổ điển và đòi hỏi bàn tay của thầy thuốc ngoại khoa, vẫn luôn luôn cần thiết.

    Hỏi : Những ưu điểm của femtolaser là gì ?
    GS Thanh Hoàng-Xuân : 1. Nó cho phép tự động hóa giai đoạn đầu của phẫu thuật với một sự chính xác tuyệt vời. 2. Protocole phẫu thuật có thể được hoạch định trước trên máy vi tính. 3. Sự làm vỡ thành từng mảnh (fragmentation) bằng laser sẽ ít hung bạo hơn so với các siêu âm.

    Hỏi : Thời gian nhìn lại của phương pháp mới này đối với bệnh đục thủy tinh thể ?
    GS Thanh Hoàng-Xuân : Trên thế giới, vài ngàn bệnh nhân đã được mổ. Mặc dầu thời gian nhìn lại còn ngắn, nhưng mức độ cực kỳ chính xác và tính chất vô hại đã được xác nhận. Ở Pháp trong thời gian đến vài trung tâm sẽ được trang bị máy femtolaser.
    (PARIS MATCH 10/1- 16/1/2011)

    7/ HƯỚNG VỀ MÁU ĐƯỢC CHẾ TẠO TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

    Được chế tạo từ chính những tế bào gốc của chính mình, các hồng cầu đã được truyền thành công cho một bệnh nhân, ở Paris. Một première mondiale.

    Lần đầu tiên, những hồng cầu được chế tạo ở phòng thí nghiệm đã được truyền thành công cho một bệnh nhân. Một bước tiến được thực hiện bởi GS Luc Douay, thầy thuốc chuyên khoa huyết học thuộc bệnh viện Armand-Trousseau (Paris). Vị thầy thuốc này từ nhiều năm nay đã lao mình vào việc sản xuất các tế bào hồng cầu được cấy (GRc : globules rouges cultivés) từ những tế bào gốc sinh huyết (CSH : cellules souches hématopoiétiques), có khả năng tạo nên những thành phần tế bào khác nhau của máu. Những trắc nghiệm trong phòng thí nghiệm và trên chuột đã cho thấy rằng những tế bào hồng cầu được cấy (GRc) này có thể hoàn tất quá trình thành thục trong cơ thể và làm trò chức năng của chúng : vận chuyển oxy. Vấn đề là còn phải thử mức độ đáng tin cậy của chúng trên một người cho tình nguyện, bằng cách tiêm vào người này những tế bào hồng cầu được cấy từ những tế bào gốc của chính ông ta. Kết quả : những tế bào hồng cầu này được dung nạp và tỷ lệ sống sót của chúng cũng giống với tỷ lệ sống sót của những tế bào hồng cầu tự nhiên, giữa 41 và 63% sau 26 ngày. Nhưng, “ để biết tính hiệu quả thật sự của các hồng cầu được cấy (GRc) và quan sát một sự cải thiện về tình trạng lâm sàng của một bệnh nhân, phải truyền những lượng quan trọng hơn ”, Luc Douay đã giải thích như vậy. Thật vậy, đối với thử nghiệm này, khoảng 10 tỉ hồng cầu đã được chế tạo và được truyền. Thế mà chỉ một bọc máu, một culot globulaire, chứa đến 2000 tỉ. “ Ch