Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

6 Pages123>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#1 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:39:48 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ VIRUS A (H1N1) KÉM ĐỘC LỰC HƠN DỰ KIẾN.

EPIDEMIE. Việc không có những trường hợp tử vong ngoài Mexico và sự phân tích virus khiến người ta nghĩ rằng tác nhân gây nhiễm có thể chỉ gây nên một bệnh cúm hiền tính.

Đứng trước mối đe dọa của một trận đại dịch mới, những biện pháp phòng ngừa nghiêm túc phải được thực hiện, ngay cả khi không có sự chắc chắn về mức độ độc lực thật sự của tác nhân gây nhiễm mới phát khởi. Nhiều thông tin virus học và dịch tễ học, trong những ngày qua, khiến người ta phỏng đoán rằng virus của bệnh cúm A (H1N1) mới, đã gây bệnh cho gần 800 người trên thế giới đến nay, ít gây lo ngại hơn điều mà chúng ta đã tưởng.

Chuỗi di truyền hoàn toàn được giải mã, được đặt dưới quyền sử dụng của các nhà khoa học trên toàn thế giới cuối tuần qua, đã mang lại một loạt thông tin rất quý giá về độc lực của virus này. “ Vào khi virus của cúm gia cầm H5N1 xuất hiện cách nay vài năm, chúng ta đã nghiên cứu nhiều để nhận diện các chỉ dấu của độc lực của virus cúm, G.S Bruno Lina, giám đốc của trung tâm nghiên cứu bệnh cúm ở miền nam nước Pháp (Lyon) đã giải thích như vậy. Điều đó cho phép chúng ta hiểu rằng, virus H1N1 mới, không có những trang bị cần thiết để chúng trở nên đặc biệt có độc tính. ”

Ví dụ như protéine bề mặt, được gọi là hémagglutinine (H), phải được tách đôi để có khả năng gây bệnh. Trong trường hợp H5N1, điều này được thực hiện một cách ngẫu nhiên. Đối với H1N1, thì khó khăn hơn nhiều. Cũng vậy, protéine bề mặt kia, neuraminidase (N), có một cấu trúc “ hình que ” khá dài trong H1N1, trong khi những que ngắn (như trong H5N1) là một chỉ dấu của độc lực. Mặt khác, tất cả các virus cúm có một hoạt tính kháng interféron, phong bế những phòng ngự miễn dịch.

SỐ TRƯỜNG HỢP TỬ VONG HẠ XUỐNG.

Hoạt tính này càng quan trọng thì chúng càng có độc lực. Đó không phải là trường hợp của H1N1. “ Dưới ánh sáng của những thông tin mới này, virus H1N1 có vẻ không có những yếu tố độc lực đặc biệt. Nhưng đó là một phân tích được thực hiện trên một virus hôm nay. Mọi chuyện có thể thay đổi trong những tuần đến ”, G.S Lina đã xác nhận như vậy.

Ở Hoa Kỳ, nước thứ hai bị ảnh hưởng nhất bởi cúm mexico, Richard Besser, giám đốc của CDC, hôm qua đã đánh giá là đáng phấn khởi, khi chứng thực rằng virus mới này, đến nay đã không có vẻ nghiêm trọng hơn một giống gốc của cúm mùa.

Cũng trên bình diện dịch tễ học, hôm nay tình hình dường như ít đáng lo ngại hơn cách nay một tuần. Thật vậy có vẻ như số các trường hợp tử vong đã hạ xuống ở Mexico, vì lẽ, trái với điều đã được loan báo, số các trường hợp tử vong đã sụt giảm, từ 100 cách nay 8 ngày xuống còn 20 ngày hôm nay ! Những trường hợp cúm khác đã không được xác nhận với phân tích virus học. Mặt khác, không có trường hợp tử vong nào đã được quan sát trong 18 nước khác, đã khai báo những trường hợp cúm xảy ra nơi người. Những bệnh nhân này có một bệnh cúm cổ điển, với mệt mỏi, sốt, đau cơ, ho, không có khó thở. Tỷ lệ tử vong ở Mexico khó có thể giải thích được, trừ phi nghĩ rằng các bệnh nhân đã không được điều trị đúng đắn.
( LE FIGARO 4/5/2009)

2/ MỘT XÉT NGHIỆM CHO PHÉP PHÁT HIỆN VIRUS TRONG 12 GIỜ.

Viện Pasteur vừa hiệu chính một xét nghiệm cho phép phát hiện virus A H1N1 giống mới, trong vòng 12 giờ. Trắc nghiệm này chẳng bao lâu sẽ được đặt dưới sự sử dụng của các phòng xét nghiệm. Trắc nghiệm gồm 3 thao tác đồng thời : xác nhận việc phát hiện một virus loại A, loại bỏ sự hiện diện của virus cúm mùa và phát hiện sự hiện diện của virus mới.
( LE FIGARO 6/5/2009)

3/ H1N1 : PROFIL ĐIỂN HÌNH CỦA NHỮNG NGƯỜI BỆNH Ở MỄ TÂY CƠ.

EPIDEMIE. Những nạn nhân chính là những thanh niên gốc Mexico và vùng phụ cận.

Ở Mễ Tây Cơ, trung tâm điểm của dịch cúm heo, bilan của các nạn nhân hôm qua vẫn không thay đổi với 24 người chết. Nhà cầm quyền ước tính rằng từ nay dịch bệnh đang thoái trào trên đất nước. Trường hợp tử vong cuối cùng được xác nhận là ngày 29/4. Tổng số bệnh nhân là 866 người, trong đó có 64 trường hợp mới. “ Đỉnh cao của trận dịch nằm giữa 23 và 28 tháng tư và virus đã gây nhiễm cho đàn ông cũng như phụ nữ ”, hôm qua bộ trưởng y tế Mễ tây cơ đã nhấn mạnh như thế. Hầu hết các nạn nhân gốc Mexico và ở lứa tuổi từ 20 đến 39. Những dữ kiện dịch tễ học chính xác hơn sẽ được công bố trong một tạp chí khoa học.

Trong thủ đô, các tiệm buôn sẽ lần lượt mở cửa lại bắt đầu từ hôm nay sau khi đã đóng cửa trong hơn một tuần để tránh sự lan tràn của virus. Hậu quả của cúm đã là rất nặng nề đối với đất nước Mễ tây cơ, lên đến 2,3 tỷ dollars, theo bộ trưởng tài chánh. Tuy nhiên OMS vẫn giữ báo động đại dịch ở mức độ 5. “ Ở Châu Âu vẫn không có ổ gây nhiễm tự trị, Keiji Fukuda, phó tổng giám đốc của OMS, hôm qua đã ghi nhận một cách thỏa mãn như vậy. Tuy nhiên, ông xác nhận rằng tổ chức y tế thế giới đang theo dõi rất sát tình hình ở Tây Ban nha và Vương Quốc Anh.

Hôm qua ở phi trường Roissy (Pháp), việc bố trí tiếp đón các hành khách đến từ Mễ Tây Cơ đã được thiết đặt, với các thầy thuốc và một nhóm Hồng Thập Tự, được tập hợp lại trong một vùng được quy định. Tất cả các đôi mắt giờ đây đều hướng về các nhà virus học để biết những kịch bản nào chúng ta sẽ phải trông chờ trong những tháng tới. Tạp chí Hoa Kỳ Science đã phỏng vấn BS Yi Guan. Năm 2003, nhà nghiên cứu gốc Hong Kong này đã cho phép dập tắt nhanh chóng trận dịch SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng : syndrome respiratoire aigu sévère) sau khi đã phân lập nơi một con mèo nhỏ (civette), một siêu vi trùng rất gần giống với coronavirus, nguyên nhân của căn bệnh.

THEO DÕI CÁC BIẾN DỊ.

“ Chúng ta đã chưa nhận được một yếu tố nào cho phép chúng ta nói virus H1N1 mới, một ngày nào đó sẽ trở nên độc lực. Chúng ta cũng không biết ngay cả tại sao sự lan truyền của virus giữa người và người đã có thể xảy ra ”, B.S Yi Guan đã công nhận như thế.

Tuy nhiên dưới mắt ông, sự việc phần lớn con người không có đề kháng miễn dịch chống lại virus mới, tạo nên điều kiện chính yếu để phát khởi một trận đại dịch. Khi hè đến, bình thường, virus H1N1 sẽ tạm thời nằm yên trong Bắc bán cầu, Vincet Enouf, người phụ trách của trung tâm quốc gia bệnh cúm đã xác nhận như vậy. Ngược lại, virus có thể gặp những điều kiện thuận lợi trong Nam bán cầu.

Trong những vùng mà cơ sở hạ tầng y tế bị thiếu hụt như trong vài vùng châu Phi, đảm bảo một công tác theo dõi để biết xem H1N1 có biến dị bằng cách tái phối hợp với những virus người khác của bệnh cúm hay không là điều quan trọng. Sự gặp gỡ giữa H1N1 và H5N1 của cúm gia cầm, có khả năng gây bệnh hơn nhiều đối với người, là một kịch bản tai họa khả dĩ nhưng ít có xác suất xảy ra, theo BS Yi Guan.
( LE FIGARO 6/5/2009)

4/ CHỨNG BÉO PHÌ = NGHIỆN THUỐC LÁ.

Những thiếu niên béo phì có cùng nguy cơ chết sớm ở tuổi trưởng thành như những người hút thuốc lá. Nhận xét này, đã được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu của Viện Karolinska, Thụy Điển, đã căn cứ trên quá trình theo dõi y khoa, trong 38 năm, nơi 45.000 thiếu niên ở tuổi 18 lúc bắt đầu công trình nghiên cứu. Chỉ dấu khối lượng cơ thể (index de masse corporelle), đơn vị đo lường của sự gia tăng thể trọng, đã được đánh giá, cũng như chứng nghiện thuốc lá. Chứng béo phì (obésité), cũng như sự tiêu thụ hơn 10 điếu thuốc mỗi ngày, gia tăng gấp đôi nguy cơ chết sớm, so với một thiếu niên không hút thuốc và có một trọng lượng bình thường.
( LA RECHERCHE 5/2009)

5/ UNG THƯ VÚ : BIPHOSPHONATE CHỐNG TÁI PHÁT ?

BS Marc Spielmann (trưởng khoa ung thư học, bệnh học vú của Viện Gustave-Roussy) bình luận những kết quả dương tính của một thử nghiệm điều trị rộng rãi để ngăn ngừa tái phát ung thư vú.

Hỏi : Một công trình nghiên cứu mới đây, được công bố trong tạp chí khoa học “ New England Journal of Medicine ”, báo cáo những lợi ích của một loại thuốc, zolédronate, để ngăn ngừa sự tái phát của những ung thư vú phụ thuộc hormone (cancers du sein hormono-dépendants). Trước hết, ông có thể giải thích cho chúng tôi những đặc điểm của những khối u ung thư này ?
B Marc Spielmann : Có hai loại ung thư vú : loại phụ thuộc hormone (hormono-dépendants) (60-70% các ung thu vú) và loại không phụ thuộc hormone (non hormono-dépendants). Trong loại phụ thuộc hormone, các ung thư này có những thụ thể (récepteurs, một loại antenne) oestrogène, mà hormone sẽ gắn vào đó để xâm nhập vào trong nhân của tế bào. Và một khi đã vào trong tế bào, các oestrogène này làm dễ sự tăng sinh tế bào, nghĩa là một quá trình ung thư. Vậy, loại ung thư phụ thuộc hormone này có thể được chống lại bằng một điều trị kháng hormone (traitement anti-hormonal), sẽ làm phong bế các thụ thể oestrogène. Trong công trình nghiên cứu này của Áo, tất cả các phụ nữ đều đã có một ung thư phụ thuộc hormone (cancer hormono-dépendant) và sau khi được phẫu thuật, đã nhận một liệu pháp kháng hormone (và một vài bệnh nhân cũng đã nhận hóa học liệu pháp). Ngoài những điều trị này, công trình nghiên cứu nhằm cấp cho các bệnh nhân một điều trị bởi biphosphonate, mà được sử dụng trong trường hợp này là zolédronate.

Hỏi : Thường thường sau phẫu thuật, một điều trị kháng hormone có đủ để ngăn ngừa sự tái phát xuất hiện hay không ?
BS Marc Spielmann : Mặc dầu những tiến bộ đáng kể đã đạt được trong 20 năm qua, một bộ phận nhỏ các bệnh nhân đã tái phát. Do đó lợi ích cần hiệu chính những trị liệu phòng ngừa mới.

Hỏi : Công trình nghiên cứu của Áo đã diễn biến như thế nào ?
BS Marc Spielmann : Thử nghiệm rộng lớn này đã được thực hiện trên 1803 bệnh nhân không ở trong thời kỳ mãn kinh và đang được điều trị kháng hormone (hoặc bởi tamoxifène, hoặc bởi anti-aromatase + huỷ bỏ buồng trứng bằng hoá học). Cứ hai bệnh nhân có một đã nhận, mỗi 6 tháng, một tiêm truyền tĩnh mạch zolédronate. Những kết quả đầu tiên, ghi nhận được sau 4 năm, đã cho phép nhận xét rằng, nơi những bệnh nhân đã được tiêm truyền biphosphonate, người ta nhận thấy nguy cơ tái phát giảm nơi một phụ nữ trên ba ! Thế là nhiều. Và người ta đã nhận thấy rằng, thuốc này, được cho là chỉ tác dụng độc nhất trên xương, cũng đã tránh được sự tạo thành các di căn nơi những cơ quan khác.

Hỏi : Thật ra tác dụng của biphosphonate là gì ?
BS Marc Spielmann : Điều trị bởi biphosphonate có mục đích là làm giảm sự phá hủy xương. Zolédronate mặt khác đã được sử dụng để chống lại bệnh loãng xương (ostéoporose) bằng cách làm giảm nhiều hoạt tính của những tế bào xương : các hủy cốt bào (ostéoclastes) (xương, cơ quan sống, ở trong tình trạng đổi mới liên tục do sự hoạt động của hai loại tế bào : các tạo cốt bào xây dựng xương và các hủy cốt bào phá hủy xương). Để trả lời câu hỏi của ông, zolédronate có một tác dụng chống di căn bằng cách ngăn cản những tế bào ung thư lưu thông trong máu xâm nhập xương hay những cơ quan khác. Mặt khác, người ta đã khám phá ra rằng, thuốc này, trong những trường hợp di căn xương, tăng cường tác dụng của hóa học liệu pháp. Người ta cũng cho rằng (đó là một giả thuyết) zolédronate ngăn cản ung thư tiến triển bằng cách phong bế các huyết quản nuôi dưỡng nó : hiện tượng kháng sinh huyết quản (phénomène d’anti-angiogenèse).

Hỏi : Trong công trình của Áo này, những tác dụng phụ được nêu lên là những tác dụng nào ?
BS Marc Spielmann : [/b]Người ta chỉ ghi nhận hai trường hợp hoại tử xương (ostéonécrose) của xương hàm và không có một biến chứng nào khác(trên bình diện thống kê, những trường hợp này được xem là ngoại lệ). Phải ghi nhận rằng đó là những phụ nữ trẻ, có thể có ít nguy cơ hơn những phụ nữ mãn kinh lớn tuổi hơn.

Hỏi : Những nguy cơ hoại tử xương này của xương hàm đã không được nêu lên thường xuyên với các điều trị di căn xương hay sao ?
BS Marc Spielmann : Vâng, nhưng đó là một tỷ lệ thấp được quan sát khi các tiêm truyền tĩnh mạch được thực hiện mỗi 3 hay 4 tuần, chứ không phải mỗi sáu tháng. Do đó trước khi bắt đầu điều trị, bệnh nhân cần được thăm khám miệng-răng hoàn chỉnh.

Hỏi : Ông có nghĩ rằng những lợi ích được quan sát trong công trình nghiên cứu này của Áo có thể cũng tương tự nơi các phụ nữ mãn kinh hay không ?
BS Marc Spielmann : Vâng, bởi vì nó xác nhận những kết quả của 4 thử nghiệm khác, được thực hiện cách nay vài năm với các biphosphonate khác (được cho bằng đường miệng hay tiêm truyền), trên một số lượng ít quan trọng hơn các bệnh nhân, mãn kinh hay không. Điều trị tỏ ra có lợi trong nhóm nhận biphosphonate.

Hỏi : Hiện nay có những công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành với các biphosphonate trên các phụ nữ đã bị ung thư hay không ?
BS Marc Spielmann : Vâng, 3 công trình nghiên cứu (mỗi công trình được thực hiện trên hàng ngàn bệnh nhân), được tiến hành từ nhiều năm nay trên những phụ nữ mãn kinh hay không. Những công trình nghiên cứu này nhằm so sánh tác dụng phòng ngừa của 3 loại thuốc của họ biphosphonates : clodronate(mỗi ngày, bằng đường miệng), ibandronate (bằng đường miệng) và zolédronate (bằng đường tĩnh mạch). Những thử nghiệm này sẽ đánh giá sự dung nạp, những nguy cơ gây những tác dụng phụ và hiệu quả của mỗi điều trị. Những kết quả đầu tiên (những kết quả của công trình nghiên cứu với clodronate) sẽ được công bố vào năm 2010, những kết quả khác có lẽ một hay hai năm sau.
( PARIS MATCH 16/4-22/4/2009)

Đọc thêm :


6/ TÔI NHÌN, VẬY THÌ TÔI BƯỚC.

Hãy giữ đứng một trẻ mới sinh ra được vài ngày, đôi chân bé nhỏ đặt trên mặt đất, và hãy quan sát : nó bước ! Mãi đến ngày nay, người ta gọi điều đó là“ phản xạ bước nguyên thủy ” (réflexe de la marche primitive ), được cho là một vết tích của một bước đi cổ (marche archaique ), không được điều khiển bởi não bộ nhưng được phát khởi bởi kích thích xúc giác của đất dưới đôi bàn chân.

Không chắc như vậy, các nhà nghiên cứu của CNRS và của đại học Paris- V-René-Descartes, liên kết với các nhà nghiên cứu của đại học Californie, đã đánh giá như vậy : Họ đã chứng minh rằng khả năng bước này có thể được kích thích bằng thị giác !

Bằng cớ : 48 trẻ sơ sinh đã được nâng lên 50 cm khỏi một mặt phẳng. Rồi thì, lại được nâng lên khỏi một tấm thảm có in hình những hạt đậu đen và trắng, mà em bé có thể phân biệt được. Nếu tấm thảm bất động , em bé không động một ngón chân nào. Trái lại, nếu tấm thảm chuyển động, khi đó em bé bắt đầu đạp chân trong khoảng không !

“ Như thế, lần đầu tiên, người ta chứng tỏ rằng sự nối kết giữa các hệ thị giác và vận động, cần thiết cho cử động bước, được thiết đặt ngay từ lúc sinh ra đời ”, Marianne Barbu-Roth, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.

“ Vậy thì, theo những kết quả này, những rối loạn của hệ thị giác-vận động của đứa bé có thể được phát hiện sớm hơn nhiều so với hiện nay, nhà nữ nghiên cứu đã đảm bảo như vậy. Rồi thì người ta có thể quyết định một điều trị sớm căn cứ trên những kích thích thị giác.”
( SCIENCES ET AVENIR 5/2009)

7/ GHÉP TẾ BÀO GỐC ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

Phương thức tự ghép (autogreffe) các tế bào gốc lấy trong tủy xương của những bệnh nhân bị bệnh đái đường phụ thuộc insuline (loại 1) đã cho phép những bệnh nhân này tái sản xuất insuline.

Hy vọng mới trong điều trị của bệnh đái đường loại 1. Nhờ một phương thức tự ghép những tế bào gốc (autogreffe de cellules souches), lấy trong tủy xương của chính mình, 23 bệnh nhân đái đường tự nguyện, đã có thể không cần phải nhận các mũi tiêm insuline mỗi ngày, trong 14-50 tháng liên tiếp. Một trong những bệnh nhân đái đường, đã đứng vững trong hơn 4 năm không cần tiêm insuline, 4 bệnh nhân trong 3 năm liên tiếp và 3 bệnh nhân khác trong hai năm. 15 bệnh nhân mới được tuyển mộ nhất, đã được hưởng những cải thiện mới nhất về kỹ thuật do nhóm của G.S Richard Burt, của Northwestern University de Chicago, Illinois, đã luôn luôn không cần đến insuline 19 tháng sau khi can thiệp.

Sau các phương thức ghép những tế bào tụy tạng (greffe de cellules pancréatiques) sản xuất insuline, được thí nghiệm vào đầu những năm 2000, các kỹ thuật ghép tế bào gốc tủy xương (greffe de cellules souches de la moelle osseuse) đã đánh dấu một bước ngoặt mới. Richart Burt công bố trong Journal of the American Medical Association (JAMA) công trình nghiên cứu, được theo dõi trong 3 năm, trên một nhóm 23 bệnh nhân đái đường, tất cả đều đã nhận một kỹ thuật ghép những tế bào gốc.

Ưu điểm đầu tiên của kỹ thuật ghép này : vì bệnh nhân nhận các tế bào của chính mình, nên không cần phải theo đuổi một điều trị nhằm hủy bỏ miễn dịch (traitement immunosuppresseur), trái với điều đã xảy ra với phương pháp ghép những tế bào tụy tạng, điều này cho phép tránh mọi tác dụng phụ. Công trình nghiên cứu hoàn toàn tiền phong và nhiều câu hỏi vẫn chưa được trả lời.

Thí dụ, người ta không biết những tế bào nào của tủy xương có thể được biệt hóa thành những tế bào tụy tạng và có khả năng sản xuất insuline. Có thể đó là những tế bào gốc sinh huyết (cellule souche hématopoiétique) của tủy xương, được biết là biến hóa thành tế bào gan. Một ứng viên khác là một tế bào vừa mới được khám phá, MAPC (cellule progénitrice adulte multipotente) : tế bào này có thể cho những tế bào con của hầu hết tất cả các mô và cơ quan của cơ thể. Người ta cũng không biết những tế bào gốc này sẽ nằm ở đâu.

Đối với những bệnh nhân bị bệnh đái đường loại 1 (số bệnh nhân lên đến khoảng 150.000 người ở Pháp), bệnh được đặc trưng bởi một sự thiếu hụt sản xuất insuline, hormone đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý các chất sinh năng lượng, trong đó có glucose của cơ thể. Nói chung, chính sự phá hủy của các tế bào bêta của tụy tạng (trong các đảo nhỏ Langerhans) giải thích sự sụt giảm sản xuất insuline, đôi khi ngay từ tuổi ấu thơ. Nhưng bệnh đái đường cũng có thể do sự đề kháng của các tế bào đối với insuline như trong trường hợp bệnh đái đường loại 2.

CÁC CHẤT CHỈ DẤU ĐẶC HIỆU.

Tụy tạng phải luôn luôn giữ số lượng tế bào bêta không thay đổi, nếu không sẽ xảy ra bệnh đái đường. Do đó vấn đề chủ yếu là sự đổi mới những tế bào này. Thế mà, ngay năm 2003, Markus Stoffel (Rockfeller University, Nữu ước) trong Journal of Clinical Investigation đã đưa ra khả năng rằng trong tủy xương có một nguồn các tế bào tiền bối của những đảo nhỏ Langerhans. Thật vậy, một vài trong những tế bào phát xuất từ tủy xương này biểu hiện các chất chỉ dấu đặc hiệu (marqueurs spécifiques) của các tế bào Langerhans : một gène vận chuyển (Glut-2) và nhiều protéine đặc hiệu của những tế bào tụy tạng này(giúp “ sao chép lại ” ADN thành ARN trong tế bào).

Kết quả của thử nghiệm lâm sàng, được thực hiện bởi G.S Richart Burt có thể làm đảo lộn hoàn toàn việc nghiên cứu trong lãnh vực này. Thật vậy, từ năm 1988, hơn 500 trường hợp ghép những tế bào tụy tạng của những người cho trên những bệnh nhân đái đường phụ thuộc insuline, đã được thực hiện trên thế giới. Nhưng việc giữ gìn và chọn lọc những tế bào được ghép vẫn rất là tế nhị, và các kết quả lâm sàng vẫn ở mức tầm thường : khoảng 11% những bệnh nhân được ghép không cần chích insuline một năm sau khi được ghép. Và tất cả bệnh nhân phải được điều trị hủy bỏ miễn dịch suốt đời, đây không phải là trường hợp của kỹ thuật tự ghép mà Richart Burt đã cổ xướng.
( LE FIGARO 15/4/2009)

8/ NGƯỜI TA TÌM RA NGUYÊN NHÂN CỦA TÓC BẠC.

Thủ phạm gây nên sự bạc trắng mái tóc của chúng ta đã được vạch mặt : đó là peroxyde d’hydrogène (H2O2), cũng còn được gọi là eau oxygénée !.

Các nhà nghiên cứu của đại học Mainz (Đức) và của đại học Bradford (Anh) đã chứng tỏ rằng eau oxygénée, được sử dụng bởi phụ nữ để làm mất màu tóc của họ, được tiết tự nhiên bởi cơ thể con người, và ức chế sự tổng hợp các sắc tố màu, trong đó có mélanine. Bình thường chất này được trung hòa bởi các enzyme, biến đổi nó thành nước và oxy. “ Nhưng với tuổi tác, nồng độ của những enzyme này bị giảm, và do đó nồng độ H2O2 gia tăng ”, Karin Schallreuter, một trong những nhà khoa học của nhóm nghiên cứu đã giải thích như vậy. Peroxyde d’hydrogène khi đó tấn công tyrosinase, một enzyme khác làm phát khởi quá trình tổng hợp mélanine, và ngăn cản nó hoạt động. Đó là điều mang lại hy vọng cho những người bị bệnh bạch biến (vitiligo) (sự mất sắc tố của da), và cho những ai sợ sự xuất hiện của những sợi tóc bạc !
( SCIENCE ET VIE 5/2009)

Đọc thêm :


9/ GHÉP HAI BÀN TAY : BÀN TAY TRÁI PHỤC HỒI NHANH HƠN.

NEUROSCIENCES. Sau khi ghép, não bộ thích nghi và nhận biết các vật ghép (greffons) như là một bộ phận của cơ thể. Những người nhận (receveur) tỏ ra khéo léo tay trái hơn, mặc dầu anh ta thuận tay phải.

Week-end tuần rồi, một bệnh nhân 30 tuổi, bị bỏng nặng sau một tai nạn, đã được ghép mặt và hai bàn tay bởi giáo sư Laurent Lantiéri ở bệnh viện Henri-Mondor de Créteil.

Ngày hôm sau, một công trình nghiên cứu, được đăng tải trong tạp chí của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ, và được công bố bởi một nhóm nghiên cứu do Angela Sirigu lãnh đạo, thuộc trung tâm khoa học thần kinh nhận thức (neurosciences cognitives) của CNRS ở Lyon, giải thích làm sao não bộ của người nhận (receveur) có thể hội nhập các chi đã được ghép cho ông ta.

Các nhà nghiên cứu đã khảo sát vỏ não vận động (cortex moteur), nghĩa là vùng não bộ kiểm soát những cử động và biểu hiện bình diện của cơ thể của chúng ta. Giáo sư Jean-Michel Dubernard, người đã thực hiện ở Lyon, vào tháng giêng năm 2.000, phẫu thuật ghép đôi hai bên (greffe double bilatérale) của các bàn tay và cẳng tay đầu tiên, trên Denis Chatelier, cũng đã tham dự vào những công trình này. Kết quả cho thấy rằng, khi một bệnh nhân bị cắt cụt, phần não bộ liên kết với các cơ của bàn tay bị biến mất, dần dần được tái phân phối cho các cơ của cánh tay. Nói một cách khác, các neurone nguyên thủy điều khiển bàn tay, một khi bị cắt cụt, sẽ phụ trách những cử động của cánh tay. Vậy có thể nói có một sự tái phối trí (réaffectation) của các neurone.

KỸ THUẬT KÍCH THÍCH ĐIỆN TỪ XUYÊN SỌ

Khám phá khác : khi một bệnh nhân được ghép một bàn tay, các neurone, không còn phụ trách bàn tay nữa bởi vì bàn tay đã không còn hiện hữu, sẽ được tái hoạt hóa dần dần và phụ trách bàn tay được ghép. “ Những kết quả này rất là gây ấn tượng, Jean-Michel Dubernard đã giải thích như vậy, Tôi nhớ rằng trước phẫu thuật ghép bàn tay đầu tiên vào cuối những năm 1990, các nhà sinh lý thần kinh đã nói rằng bàn tay biến mất khỏi não bộ sau khi bị cắt cụt và rằng nó không thể tái xuất hiện trong vỏ não ! ”. Thế mà, các nhà nghiên cứu đã cho thấy các neurone đã tái hội nhập những bàn tay mới như thế nào.

Nhưng điểm đáng chú ý nhất của công trình nghiên cứu, đó là hai bệnh nhân được ghép, cả hai nguyên thủy thuận tay mặt, lại phục hồi tay trái nhanh hơn nhiều. Đối với bệnh nhân trẻ hơn, việc ưu tiên tay trái này kèm theo một sự hoạt hóa các cơ được ghép sớm hơn nhiều (10 tháng sau khi ghép) trong vỏ não vận động bên phải so với sự hoạt hóa được quan sát trong vỏ não vận động bên trái (26 tháng sau ghép). Đối với bệnh nhân kia, tất cả các cơ được ghép của bàn tay trái đã xuất hiện trong vỏ não vận động bên phải 51 tháng sau phẫu thuật ghép nhưng không như thế trong bàn tay phải (ít khéo léo hơn). Các nhà nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật kích thích điện từ xuyên sọ (stimulation magnétique transcrânienne), nhằm gởi những kích thích điện từ vào trong vỏ não vận động của bệnh nhân.

“ Những kết quả này cho thấy những khả năng tạo hình của não bộ (capacité plastique). Hoạt động vỏ não báo trước những năng lực vận động của bàn tay ”, Angela Sirigu đã giải thích như vậy. Tính chất tạo hình (plasticité) khác nhau, được nhận thấy sau ghép, giữa vỏ não vận động bên phải và bên trái, có lẽ là do sự kiện rằng các bệnh nhân sau khi bị cắt cụt đã sử dụng một bàn tay giả (prothèse) đặc biệt là cho bàn tay phải. Việc mang bàn tay giả này có lẽ gây nên khả năng tạo hình ít hơn sau phẫu thuật ghép, các nhà nghiên cứu đã đề xuất ý kiến như vậy. Nhưng lại càng đáng ngạc nhiên khi bàn tay giả cho phép các neurone kiểm soát bàn tay phải tiếp tục hoạt động.

Nhưng nói rằng những bệnh nhân được ghép này đã thay đổi bên thuận tay là hơi nhanh. “ Họ sử dụng bàn tay đã phục hồi nhanh nhất và có hiệu năng nhất ”, Angela Sirigu đã phân tích như vậy. Kết luận của những công trình nghiên cứu này vượt quá phạm vi ghép và có thể giúp thiết lập tốt hơn những phục hồi chức năng, ví dụ đối với những bệnh nhân bị tai biến mạch máu não. Hoạt động vỏ não có thể tiên đoán một bệnh nhân sẽ phục hồi như thế nào. Tính đến ngày hôm nay, người ta đếm được 16 ghép đôi (greffes doubles) và 22 phẫu thuật ghép cho chỉ một bàn tay
(LE FIGARO 11/4-12/4/2009)

10/ KHI THAI NGHÉN LÀM RỐI LOẠN GIẤC NGỦ.

Có thai không luôn luôn ăn nhịp với ngủ ngon. Tỷ lệ mắc phải hội chứng ngừng thở (syndrome d’apnées), liên kết những đợt ngừng hô hấp xảy ra nhiều lần và chứng ngáy về đêm (ronflements nocturnes), với những rối loạn thức tỉnh (troubles de la vigilance) và chứng ngủ gà ban ngày (somnolence nocturne), ảnh hưởng lên khoảng 5% các phụ nữ có thai. Sự lên cân, sự đẩy cơ hoành về phía ngực và sự sung huyết mũi, liên kết với những biến đổi hormone, là bấy nhiêu yếu tố khiến cho những bà mẹ tương lai dễ bị loại rối loạn này.

Ngoài ra, những dữ kiện hiện có gợi ý rằng hội chứng ngừng thở với chứng ngáy về đêm này làm dễ cao huyết áp trong thời kỳ thai nghén. Tuy nhiên, vấn đề nguy cơ chậm tăng trưởng trong tử cung (retard de crossance intra-utérin), có thể là do một quá trình tiếp vận oxy cho thai nhi thiếu hụt, không được xác lập.

Một chế độ ăn uống và kiêng rượu và những thuốc an thần là hữu ích nhưng điều trị chuẩn vẫn là thông khí dưới áp lực dương liên tục (ventilation en pression positive), nhờ một máy sử dụng về đêm, nhất là trong trường hợp được liên kết bởi chứng béo phì.
( SCIENCES ET AVENIR 5/2009).

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (8/5/2009)

Edited by user Tuesday, January 29, 2013 6:50:10 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#2 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:43:05 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126

Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh


1/ TRUNG QUỐC BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP CÚM HEO ĐẦU TIÊN

Một người Hoa trở về nước sau khi theo học tại một đại học Hoa Kỳ, đã trở nên trường hợp cúm heo được nghi ngờ đầu tiên ở Trung Hoa lục địa, Bộ Y Tế đã nói như vậy hôm chủ nhật.

Bộ y tế đã nhận diện bệnh nhân tên là Bao, 30 tuổi, theo học tại một trường ở Hoa Kỳ không được xác định rõ. Anh ta đã được điều trị tại một bệnh viện tỉnh, Chengdu, và đã được cách ly, bộ y tế đã nói như vậy trong một thông báo.

Nếu được xác nhận, trường hợp của Bao sẽ là trường hợp đầu tiên ở Trung Hoa lục địa và trường hợp thứ hai của Trung Hoa trong trận dịch cúm heo toàn cầu. Trước đó, lãnh thổ Hồng Kông của Trung Hoa đã báo cáo một trường hợp cúm heo, được chẩn đoán nơi một người Mễ 25 tuổi, đã bay đến đô thị qua ngã Thượng Hải.

Trong quá khứ, Trung Hoa đã bị cáo buộc là không hành động đủ nhanh chóng để chống lại sự lan tràn của bệnh tật, đặc biệt là trận dịch toàn cầu SARS vào năm 2003. Bị trừng phạt bởi kinh nghiệm này và những đe dọa sau đó bởi cúm gà, lần này chính phủ Trung Hoa đã hành động nhanh chóng và cương quyết để chận đứng sự bùng phát, nhưng một vài biện pháp được đưa ra, gồm việc cấm nhập cảng heo và đình chỉ những chuyến bay trực tiếp từ Mễ Tây Cơ, đã bị chỉ trích là quá đáng. Người Hoa, được báo cáo bị nhiễm cúm heo, đã bay từ Hoa Kỳ qua Nhật Bản. Tuần qua, Nhật đã loan báo những trường hợp được xác nhận của cúm giống gốc mới H1N1 đầu tiên : một thầy giáo và 3 sinh viên trở về nước sau khi đã theo học một trường ở Canada.

Hiện nay, 29 nước đã chính thức báo cáo 4.379 trường hợp cúm heo, Tổ chức y tế thế giới đã nói như vậy hôm chủ nhật trên Web site. Mễ Tây Cơ đã báo cáo 1.626 trường hợp cúm được xác nhận, bao gồm 45 trường hợp tử vong, trong khi Hoa Kỳ đã báo cáo 2.254 trường hợp được xác nhận bởi xét nghiệm, bao gồm 2 trường hợp tử vong.

Úc đã báo cáo trường hợp đầu tiên hôm thứ bảy nơi một phụ nữ được nói là không còn gây nhiễm nữa. Bà ta ghi nhận những triệu chứng đầu tiên khi đi du lịch ở Hoa Kỳ. Tân Tây Lan ghi nhận thêm hai trường hợp hôm thứ bảy, đưa tổng số lên 7 trường hợp. Hai học sinh trung học tháng rồi đã trở về sau khi du học ở Mexico. Na Uy đã báo cáo hai trường hợp đầu tiên được xác nhận : một đàn ông và một phụ nữ đã lưu lại ở Mexico. Ở Canada, các viên chức đã nói rằng 500 con heo bị cúm heo đã bị hạ sát.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 11/5/2009)

VIRUS H1N1 ĐANG THẮNG THẾ Ở HOA KỲ.

Sự thoái bộ của H1N1 đã được xác nhận ở Mễ Tây Cơ, tổng số các trường hợp hôm qua là 1319. Từ nay Hoa Kỳ ghi nhận nhiều trường hợp được xác nhận hơn Mễ Tây Cơ. CDC d’Atlanta hôm qua đã tính được 1639 trường hợp được xác nhận, hoặc 743 trường hợp nhiều hơn hôm qua và trong 43 tiểu bang.

“ Sự gia tăng gần như gấp đôi này không phản ảnh một sự gia tốc của dịch bệnh mà đúng hơn là một công tác điều tra phát hiện được thực hiện tốt hơn ”, Dave Daigle, phó giám đốc của CDC đã tuyên bố như vậy.

Virus cũng tiến triển trong phần còn lại của thế giới, 25 nước đã bị liên lụy. OMS hôm qua đã kiểm kê được 2384 trường hợp và 44 tử vong : hai ở Hoa Kỳ và phần còn lại ở Mễ Tấy Cơ.

Đứng trước nguy cơ đại dịch thế giới, các nhà lãnh đạo các nước Á Châu đã huy động và quyết định hợp tác với nhau. Họp hôm qua ở Bangkok, 10 vị bộ trưởng Y Tế của Hiệp Hội các nước Đông Nam Á (Asean), kể cả Trung Quốc, Nhật bản và Nam Triều Tiên, đã thoả thuận gia tăng trữ lượng thuốc men của họ để chống lại cúm A. Các vị bộ trưởng đã ghi nhận rằng phần lớn các nhà máy sản xuất 350 triệu liều mỗi năm nằm ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Họ đã nhấn mạnh rằng “ sự tiếp cận được với những vaccin hiệu quả là một vấn đề quan trọng trong vùng ”, và kêu gọi sự chuyển giao kỹ thuật, cho phép châu Á sản xuất những vaccin cho chính họ.

Các nước châu Á đã loan báo rằng họ sẽ chia xẻ những phương tiện của họ trong trường hợp cấp cứu. Hiện nay, Á Châu tương đối không bị ảnh hưởng bởi H1N1, nhưng một sự biến dị khả dĩ của virus H1N1 với H5N1 có độc lực cao, làm lo ngại những nhà khoa học.
(LE FIGARO 9/5-10/5/2009)

BỈ CŨNG KHÔNG THOÁT KHỎI SỰ LAN TRÀN CỦA CÚM MEXICO.

Như đã dự đoán : nước Bỉ đã không thoát khỏi sự lan tràn của cúm mexico. Trường hợp đầu tiên đã được phát hiện hôm thứ tư nơi một người đàn ông 28 tuổi . Anh thanh niên này đã đi Hoa Kỳ ngày 27/4 và lưu lại khoảng 10 ngày ở Nữu Ước rồi ở Chicago. Khi anh đáp máy bay xuống Bruxelles ngày 11/5, anh đã cảm thấy những triệu chứng đầu tiên của cúm. Anh ta đã thăm khám thầy thuốc ngày hôm sau và phân tích dương tính : đúng là virus A (H1N1). Bệnh nhân vẫn còn ở tại nhà sau khi tin xấu được được loan ra, và sau đó anh ta tức thời được chuyển đến bệnh viện Saint-Pierre, Bruxelles (trung tâm điều trị được quy định đối với loại cúm này). Anh ta đã được cách ly, theo đúng thủ tục được dự kiến bởi OMS. Hiện nay Thanh tra vệ sinh đang tìm kiếm tất cả những người đã tiếp xúc với anh ta, gia đình, bạn bè, nhưng cũng những hành khách khác. Trường hợp này tức thời được Bỉ báo cáo cho giới hữu trách châu Âu có nhiệm vụ theo dõi sự lan tràn của bệnh cúm.
(LE SOIR 14/5/2009)

2/ VACCIN CHỐNG BỆNH CÚM CÓ LẼ SẼ BAO GỒM VIRUS H1N1.

[i]Pandémie. G.S Bruno Lina, giám đốc của trung tâm nghiên cứu bệnh cúm ở miền nam nước Pháp (Lyon), giải thích rằng thuốc chủng chống cúm sắp đến “ có lẽ ” sẽ chứa một giống gốc chống lại virus H1N1 mới. Tất cả những phòng bào chế lớn chuyên về các vaccin sẽ thực hiện việc chế tạo này.

Hỏi : Vaccin chống cúm mùa sắp đến có sẽ bảo vệ chống lại virus H1N1 vừa xuất hiện ở Mễ Tây Cơ hay không ?
G.S Bruno Lina : Có lẽ là như vậy. Thành phần của vaccin chống cúm được xác định mỗi năm bởi OMS, tùy theo các giống gốc của virus cúm lưu hành trên thế giới. Vaccin hiện nay bảo vệ chống lại 3 loại virus : H1N1 (một virus phát xuất từ cúm Tây Ban Nha), H3N2, và một virus thứ ba của nhóm B. Kể từ lúc một giống gốc mới H1N1 lưu hành, cần phải đưa giống gốc mới này vào trong vaccin sắp đến. Vào giai đoạn đó, có thể có hai chiến lược chính yếu. Hoặc người ta thay thế một trong 3 giống gốc của vaccin chống cúm mùa hiện nay. Hoặc người ta chỉ sản xuất một vaccin duy nhất chống giống gốc mới H1N1. Giải pháp sau này có thể được thực hiện nếu một trận đại dịch cúm giống gốc mới H1N1 lan rộng. Vào lúc đại dịch dày đặc với một giống gốc mới, những virus khác sẽ ngừng lưu hành rõ rệt, như thể không còn đủ chỗ cho tất cả virus. Chính OMS sẽ quyết định việc lựa chọn này. OMS hiện còn từ 15 ngày đến 3 tuần để quyết định, và sẽ căn cứ trên tiến triển của dịch bệnh.

Hỏi : Có phải người ta đã bắt đầu công tác chế tạo một vaccin chống giống gốc mới H1N1 này ?
G.S Bruno Lina : Ứng viên vaccin chống lại H1N1 đang được bào chế trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu làm việc với OMS. Giống gốc, được dùng cho vaccin, sẽ sẵn sàng trong khoảng một tuần nữa. Sau đó vaccin sẽ được gởi cho các nhà công nghiệp dược phẩm và họ sẽ bắt đầu phát động sản xuất, nghĩa là nơi các Hãng Sanofi, GlaxoSmithKline, Novartis… Một khi quá trình sản xuất được phát khởi, còn phải cần 15 tuần hoặc 4 tháng thì vaccin mới có sẵn sàng để sử dụng. Nhiều nước đã đề nghị để mua một số lượng vaccin. Thí dụ Pháp đã ở trong tư thế sẵn sàng để tiêm chủng cho 40 triệu người chống lại H1N1. Còn phải nhiều bàn cãi để xác định chiến lược cần thực hiện và để biết xem người ta sẽ quyết định sản xuất một vaccin đơn chủng (vaccin monovalent) hay tam chủng (trivalent) (với giống gốc mới). Chỉ có tiến triển của đại dịch trong những tuần đến, và nhất là số những trường hợp được báo cáo trong nam bán cầu (sẽ là một dấu hiệu xấu nếu số trường hợp cao), sẽ cho phép có một quyết định như vậy.

Hỏi : Tại sao chúng ta không thể sản xuất hai loại vaccin đồng thời để có sự lựa chọn tùy theo tình hình ?
G.S Bruno Lina : Khả năng sản xuất vaccin trên thế giới không phải là vô giới hạn. Các khả năng của các nhà công nghiệp dược phẩm không có thể giãn rộng lắm. Có thể nói, chúng ta đang ở trong một hệ thống bình thông nhau : nếu người ta chế tạo nhiều hơn loại vaccin này thì sẽ phải làm ít hơn với loại vaccin kia. Để có được một vaccin, phải có một số lượng lớn trứng gà phôi thai. Virus hoàn toàn sống được tiêm vào trong trứng, ở đó nó tăng sinh rất nhanh chóng. Sau một khoảng thời gian nào đó, chất dịch chứa các virus được thu lượm và được tinh lọc bằng những phương pháp rất nghiêm túc. Sau cùng, virus “ bị đập vỡ ” (cassé), điều này cho phép có được một vaccin được cấu tạo bởi virus đã bị giết chết. Thoạt đầu, kỹ thuật sản xuất này có hiệu quả đối với H1N1. Nhưng hiệu năng của phương pháp này thay đổi tùy theo virus.

Hỏi : Ông có chắc là một đại dịch sẽ phát khởi hay không ? Tại sao tỷ lệ tử vong ở Mễ Tây Cơ cao như vậy ?
G.S Bruno Lina : Chúng ta còn đứng trước một hiện tượng mới, với nhiều điều không chắc chắn. Chỉ có thời gian mới cho phép biết được là trận đại dịch sẽ xảy ra lâu dài hay không. Về số tử vong cao ở Mễ Tây Cơ, có lẽ là do sự việc đã có nhiều người bị lây nhiễm hơn nhiều những trường hợp đã được báo cáo. Nếu người ta cho rằng bệnh cúm này là nguyên nhân của một tử vong trên 1000 người bị nhiễm trùng, và rằng đã có 42 trường hợp tử vong, ta có thể nghĩ rằng đã có một số người quan trọng hơn nhiều đã bị nhiễm bởi bệnh cúm này ở Mễ Tây Cơ, trước khi căn bệnh mới được nhận diện.

(LE FIGARO 7/5/2009)

3/ TỪ VIRUS ĐẾN VACCIN…QUA TRỨNG GÀ.

BA GIAI ĐOẠN

  1. Xác định vaccin : OMS xác định thành phần của vaccin trên cơ sở các giống gốc chiếm ưu thế của mùa đông vừa qua.

  2. Chủng trứng gà :Các phòng bào chế dược phẩm bắt đầu điều chế các vaccin từ trứng gà được thụ thai.

  3. Làm trở nên vô hại : Sau thời gian ủ 4-5 ngày, vaccin được thu hoạch và được làm trở nên vô hại.

Từ một giống gốc mới của virus cúm, cho đến khi chế tạo vaccin cho phép bảo vệ chống lại nó, các chuyên gia ước tính rằng sẽ cần một thời hạn 6 tháng.

Đó là thời gian, được đòi hỏi bởi các công nghiệp dược phẩm mỗi năm, để sản xuất vaccin chống lại cúm mùa (grippe saisonnière). Thật vậy vaccin này phải được thích ứng suốt trong năm, vì lẽ các virus influenza biến dị nhanh chóng và thường xuyên, do đó cấu trúc sinh kháng nguyên của chúng cũng bị biến đổi. Hiện tượng này, được gọi là “ trôi giạt sinh kháng nguyên ” (dérive antigénique), là nguyên nhân của sự xuất hiện những giống gốc mới của virus cúm. Việc chế tạo một vaccin chống lại những giống gốc này phải qua một số giai đoạn bắt buộc, do đó cần phải có một thời gian tối thiểu là điều không thể tránh được.

Tổ chức Y tế thế giới, vào tháng hai tháng ba mỗi năm, sẽ xác định, trên cơ sở các giống gốc nổi trội đã lưu hành trong suốt mùa đông năm trước, những giống gốc nào sẽ có mặt trong thành phần của vaccin sắp đến. Luôn luôn đó là hai virus influenza loại A, H1N1 và H3N2, cũng như một giống gốc loại B. Đối với mùa đông 2009-2010, trong bắc bán cầu, ba thành phần này đã được biết : A/ Brisbane/59/2007, A/Brisbane/10/2007 và B/Brisbane/60/2008, hai giống gốc đầu đã hiện diện trong vaccin đang dùng hiện nay.

Chỉ khi các giống gốc này đã được nhận diện, các phòng bào chế dược phẩm mới có thể phát động sự bào chế các vaccin. Để làm được điều này, họ phải dùng hàng triệu trứng gà được thụ tinh. Xuất phát từ chim, các virus loại influenza tăng sinh rất có hiệu quả nơi gà tơ và nhất là càng tốt hơn nơi các phôi thai của những động vật này. Vậy trứng gà là một chất nền lý tưởng và kinh tế để có được những lượng lớn virus : một quả trứng có thể chứa hàng triệu các hạt virus, sẽ được dùng để chế biến hàng chục liều vaccin.

Nhưng các virus không thể được cho nguyên như vậy nơi các bệnh nhân. Trước hết chúng phải được làm vô hại. Thật vậy, tất cả sự tinh tế của một vaccin là ở chỗ nó sinh miễn dịch (immunogène) nhưng phải không sinh bệnh (apathogène). Nói rõ hơn : vaccin phải gây nên một đáp ứng miễn dịch khiến cơ thể sản xuất các kháng thể chống lại các virus được nhắm vào, nhưng không gây nên nhiễm trùng bởi virus này.

Như vậy, sau 4-5 ngày tiềm phục trong trứng, các hạt siêu vi trùng (particules virales) được thu nhận và xử lý trước khi được làm bất hoạt. Hợp chất hóa học, được sử dụng với những liều lượng thấp cho mục đích này, cho phép “ giết chết ” con virus nhưng đồng thời gìn giữ cấu trúc sinh kháng nguyên của nó. Các phòng bào chế dược phẩm sau đó tiền hành thanh lọc và tách rời các hạt virus bằng phương pháp ly tâm để tách riêng các kháng nguyên cần đưa vào vaccin.

Một khi giai đoạn này đã được thực hiện đối với 3 giống gốc virus được chọn lọc bởi OMS, các kháng nguyên của mỗi trong 3 giống gốc này được trộn lẫn với nhau theo những tỷ lệ thích đáng. “ Hỗn hợp ” thu được như thế sau đó được tích trữ từng liều trong các ống tiêm. Trước khi được thương mãi hóa, chắc chắn là vaccin phải được trắc nghiệm. Nếu vaccin tỏ ra có hiệu quả, thì chính giới hữu trách sẽ bật đèn xanh cho các phòng bào chế dược phẩm đưa vaccin ra thị trường.

Từ lúc cúm gia cầm H5N1 phát khởi vào cuối năm 2003, các nghiên cứu để tìm một vaccin chống lại một cúm đại dịch đã được tăng cường mạnh mẽ. Nhưng các chuyên gia phải chăng đã bị lầm mục tiêu ? Những nghiên cứu nhằm vào H5N1 phải chăng cũng có lợi để chống lại sự phát sinh của những giống gốc khác có tiềm năng nguy hiểm ? Theo Etienne Thiry, G.S Đại Học Liège, sự nghiên cứu và phát triển một vaccin chống cúm đại dịch đã được hướng vào sự chế tạo các vaccin có thể thích ứng “ theo mong muốn ”, trong đó các phòng bào chế có thể đặt kháng nguyên của bất cứ giống gốc nào của virus cúm.
(LE SOIR 29/4/2009)

4/ BA KHÁNG THỂ CÓ THỂ MANG LẠI MỘT VŨ KHÍ CHỐNG CÚM.

Các nhà nghiên cứu của Havard Medical School, Boston, Hoa Kỳ, có lẽ đã khám phá một vũ khí mới chống cúm. Vũ khí này dựa vào việc hiệu chính của 3 kháng thể tổng hợp hoạt động chống lại nhiều loại virus cúm. Thật là đúng lúc, bởi vì Tamiflu, một trong những thứ thuốc duy nhất hiện có, đang càng ngày càng trở nên mất tác dụng : 98% các mẫu của giống gốc đã tấn công vào Hoa Kỳ mùa đông này, đề kháng với nó. 3 kháng thể được sản xuất liên kết với hémagglutinine, một protéine bề mặt của virus. Protéine này có một cấu trúc di truyền tương đối ổn định, điều này làm cho 3 kháng thể hiệu quả chống lại nhiều giống gốc. Những trắc nghiệm đầu tiên trên chuột cho những kết quả dương tính.

Trong trường hợp thành công trên người, những kháng thể này có thể được sử dụng như là một điều trị khẩn cấp nhằm dập tắc một khởi đầu đại dịch cúm gà hay điều trị những người có nguy cơ (những người già, những người bị suy giảm miễn dịch..) trong dịch cúm mùa.
( SCIENCES ET AVENIR 4/2009)

5/ CHỨNG LOÃNG XƯƠNG : HƯỚNG VỀ NHIỀU PHẪU THUẬT TẠO HÌNH ĐỐT SỐNG (VERTEBROPLASTIE) HƠN.

Một kinh nghiệm lâu dài trong kỹ thuật tiêm chất ciment vào trong một đốt sống bị loãng xương đã cho phép chứng minh những lợi ích của phẫu thuật tạo hình đốt sống (vertébroplastie). BS Valérie Bousson, thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến can thiệp (radiologue interventionnel) khớp xương thuộc bệnh viện Lariboissière, giải thích kỹ thuật này.

Hỏi : Các “ gãy lún đốt sống ” hay “ tassements vertébraux ” có thường xảy ra không ?
BS Valérie Bousson : Vâng, ở Pháp người ta ghi nhận được 50.000 trường hợp mỗi năm. Trong suốt cuộc đời mình, cứ 6 phụ nữ trên 50 tuổi thì có một sẽ có một hay nhiều gãy đốt sống (fracture vertébrale), sau thời kỳ mãn kinh (sự hạ thấp nồng độ œstrogène đưa đến sự mất xương dần dần).

Hỏi : Những hậu quả của những gãy xương này là gì ?
BS Valérie Bousson : Những gãy đốt sống không phải luôn luôn gây đau. Có khi người ta khám phá tình cờ nó trên một phim chụp quang tuyến. Thường thường, các gãy đốt sống gây nên những đau đớn dữ dội, làm giới hạn các cử động và, khi các cơn đau quá mạnh, bệnh nhân phải nằm liệt giường.

Hỏi : Người ta điều trị gãy đốt sống như thế nào ?
BS Valérie Bousson : Bệnh nhân được khuyên bất động lưng bằng cách nằm dài trên giường và mang một áo nịt (corset). Thời gian nghỉ ngơi trên giường phải càng ngắn càng tốt vì, nếu kéo dài, sự liệt giường làm dễ sự mất xương, tan cơ và dễ gây những biến chứng. Đồng thời cho các thuốc giảm đau.

Hỏi : Những kết quả thu được với điều trị đầu tiên này là gì ?
BS Valérie Bousson : Trong hầu hết các trường hợp, gãy xương dính (consolider) và các cơn đau biến mất trong ba tuần hay một tháng. Những đốt sống bị thương tổn, lúc bị xập xuống, mất đi chiều cao. Và nếu nhiều đốt sống bị gãy, chứng gù lưng (cyphose) sẽ xuất hiện.

Hỏi : Khi nào có chỉ định phẫu thuật tạo hình đốt sống (vertébroplastie) ?
BS Valérie Bousson : Chỉ định được đưa ra bởi những thầy thuốc chuyên khoa về khớp và được bàn bạc với nhóm quang tuyến can thiệp (radiographie interventionnelle). Nói chung phẫu thuật tạo hình đốt sống (vertébroplastie) được chỉ định trong 3 trường hợp. 1. Khi các thuốc chống đau không đủ hiệu quả hay khi chúng bị chống chỉ định hay gây nên những tác dụng phụ khó chịu. 2. Khi người ta sợ những biến chứng do tình trạng nằm liệt kéo dài. 3. Khi những đau đớn kéo dài hơn một tháng, điều này chứng tỏ gãy xương không dính (consolidation). Nhưng trước khi dự kiến một phẫu thuật tạo hình đốt sống (vertébroplastie), sau khi chụp quang tuyến, bệnh nhân phải được chụp IRM, sẽ cho phép xác nhận rằng gãy lún đốt sống (tassement vertébral) đúng là do sự loãng xương (ostéoporose) và cho phép thấy rất chính xác thương tổn của đốt sống do sự hiện diện của phù nề. Sự vắng mặt của phù nề chứng tỏ rằng gãy xương đã cũ, nghĩa là không phải là nguyên nhân của sự đau đớn.

Hỏi : Cuộc phẫu thuật diễn ra như thế nào ?
BS Valérie Bousson : Bệnh nhân được đặt nằm ngửa. Loại gây mê tùy thuộc vào tình trạng tổng quát của bệnh nhân và số các đốt sống phải dính (consolider) : chỉ cần gây tê tại chỗ nếu chỉ có một đốt sống. Khi có nhiều, gây mê toàn thân mang lại sự thoải mái tốt hơn. Trước hết, phẫu thuật viên thực hiện hai đường xẻ da nhỏ 5 mm, ở hai bên đốt sống. Sau đó, dưới sự kiểm soát quang tuyến, ông ta đưa hai chiếc kim vào trong thân đốt sống và qua trung gian những chiếc kim này, trong vài phút, ông ta sẽ tiêm dần dần chất ciment. Trên màn ảnh, người ta có thể theo dõi rất chính xác sự phân bố của chất ciment.

Hỏi : Những hậu phẫu có thể xảy ra là gì?
BS Valérie Bousson : Thường thường những đau đớn, đã biện minh cho can thiệp ngoại khoa, dừng lại ngay sau khi bệnh nhân trở về phòng. Những công trình nghiên cứu đã cho phép nhận thấy, trong 80 % các trường hợp, một sự giảm mạnh, hay một sự biến mất những đau đớn và một sự cải thiện của khả năng vận động. Những lợi ích này khuyến khích các thầy thuốc khoa thấp khớp, tin tưởng hơn, thường nhờ đến kỹ thuật này. Với những phẫu thuật viên có kinh nghiệm, tỷ lệ những nguy cơ của phẫu thuật tạo hình đốt sống là tối thiểu. Các rò ciment ra ngoài các thân đốt sống thường không có những hậu quả nghiêm trọng.

Hỏi : Có một cải thiện kỹ thuật để tránh nguy cơ rò này không ?
BS Valérie Bousson : Vâng. Mới đây, một kỹ thuật, cyphoplastie, đã được hiệu chính. Vào lúc đầu can thiệp, phương thức này nhằm đưa vào trong đốt sống hai quả bóng nhỏ, sau đó được bơm phồng lên để mang lại chiều cao cho đốt sống, rồi được rút ra để phẫu thuật viên bơm ciment vào trong khoang mới được tạo ra. Sự can thiệp này (cyphoplastie) hiện nay là đối tượng của một công trình nghiên cứu quốc gia nhiều trung tâm rộng rãi, so sánh những kết quả của nó với những kết quả của phẫu thuật tạo hình đốt sống (vertébroplastie).
( PARIS MATCH 23/4-29/4/2009)

6/ ¼ NHỮNG NGƯỜI VỚI HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH BỊ NHỮNG RỐI LOẠN NHẬN THỨC.

SIDA. Mặc dầu một nhiễm trùng được kiểm soát tốt bởi điều trị, 24% những người huyết thanh dương tính (séropositifs) bị những rối loạn nhận thức (troubles cognitifs). Nơi những người trên 60 tuổi, cứ hai người có huyết thanh dương tính thì có một bị liên quan bởi vấn đề này.

Người ta biết từ lâu rằng nhiễm trùng bởi virus sida có thể gây nên những chứng sa sút trí tuệ. Ngày nay, loại rối loạn nhận thức (troubles cognitifs) quan trọng này đã giảm sút nhiều nhờ các điều trị kháng rétrovirus, kiểm soát tốt sự nhiễm trùng. Nhưng theo những kết quả sơ khởi của nhiều công trình nghiên cứu được trình bày đầu tháng hai nhân Hội nghị thế giới về rétrovirus, thì không phải như vậy đối với những rối loạn nhận thức mức độ trung bình, ảnh hưởng lên sự chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ, hay cả khả năng thực hiện một kế hoạch. Những rối loạn này có thể ảnh hưởng lên đời sống hàng ngày bằng cách gây nên, thí dụ, những lãng quên trong việc uống thuốc.

“ 80% những người huyết thanh dương tính đang được điều trị kháng rétrovirus, có loại rối loạn này, theo những kết quả đầu tiên của công trình nghiên cứu của chúng tôi, được thực hiện trên 230 người huyết thanh dương tính, tuổi trung bình 46 ”, Genevière Chene, nhà dịch tễ học chuyên về virus sida của đại học Bordeaux đã loan báo như vậy. Nhóm nghiên cứu của Jacques Gasnault, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh chuyên về virus, thuộc bệnh viện Bicêtre trong vùng Paris, đã tập trung vào những người huyết thanh dương tính lớn tuổi. “ Chúng tôi đã quan sát thấy những rối loạn nhận thức mức độ trung bình nơi 49% trong số 37 bệnh nhân hơn 60 tuổi được khảo sát, trong khi chỉ 3% những người ở lứa tuổi này bị những rối loạn nhận thức trong dân chúng nói chung , ông đã xác nhận như vậy. Sự khác nhau rất là quan trọng.” Làm sao giải thích những con số đáng hãi hùng này ?. Mặc dầu sự nhiễm trùng nơi những bệnh nhân này được kiểm soát tốt bởi các thuốc kháng rétrovirus đến độ phần lớn virus không thể được phát hiện trong máu với những phương pháp chuẩn.

Hai giả thuyết đáng lưu ý. Trước hết, người ta biết rằng virus gây bệnh sida, ngay với lượng nhỏ, cũng có thể duy trì một phản ứng viêm não. Phản ứng viêm này có thể là nguồn gốc của những rối loạn nhận thức. Mặt khác, một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ tiết lộ rằng những người huyết thanh dương tính mặc dầu được điều trị, nhưng virus vẫn còn có thể phát hiện được với lượng rất nhỏ trong nước não tủy bao quanh não bộ và tủy sống, có nhiều rối loạn nhận thức hơn.

Nhưng những thuốc kháng rétrovirus cũng bị nghi ngờ. Thật vậy, một vài trong những thuốc này được biết là gây nên những phản ứng oxy hóa mạnh mẽ, hoặc một sự lão hóa tế bào bị tăng nhanh, cũng có thể góp phần vào sự xuất hiện những rối loạn loạn nhận thức này. Theo Jacqueline Capeau, thuộc trung tâm nghiên cứu Saint-Antoine, Paris : “ Nếu những giả thuyết này được kiểm tra là đúng như vậy, thì chiến lược điều trị sẽ phải nhằm cho những thuốc kháng rétrovirus đi vào tốt hơn trong não bộ để chống lại virus ở đó, nhưng với những tác dụng phụ nói trên được giới hạn hơn.”
(LA RECHERCHE 5/2009)

7/ NHỮNG “ THỨC ĂN CHỐNG UNG THƯ ” : GIỮA HỨA HẸN VÀ THỰC TẾ

NUTRITION.

Ăn quả hồ đào (noix) làm giảm nguy cơ bị ung thư, uống rượu vang kéo dài tiên lượng của vài loại ung , v…v. Bấy nhiêu lời quảng cáo cần phải thận trọng.

Các ấn bản khoa học thường báo cáo những lợi ích đối với sức khỏe của thức ăn này hoặc thức ăn kia, đôi khi gieo sự bối rối vào trong đầu óc của những người tiêu thụ. Tuần này, nhiều báo cáo, được trình bày ở Denver (Colorado), tại hội nghị hàng năm của Hiệp hội nghiên cứu về ung thư Hoa Kỳ, đã gây nhiều tiếng vang.

Một công trình nghiên cứu của đại học Yale gợi ý rằng một sự tiêu thụ có mức độ rượu vang cải thiện tiên lượng của những lymphome non hodgkinien, một dạng ung thư của hệ bạch huyết. Trong số 546 phụ nữ bị những ung thư này, những phụ nữ, đã uống một ít rượu vang (6 ly mỗi tháng) trước khi xuất hiện bệnh, đã có một tỷ lệ sống còn 76% sau 5 năm, so với 68% nơi những phụ nữ không uống.

Một công trình nghiên cứu khác của Hoa Kỳ, được trình bày ở cùng hội nghị, đã kết luận rằng một chế độ ăn uống giàu quả hồ đào (noix) sẽ làm giảm sự xuất hiện của những ung thư vú. Trong một nhóm các động vật gặm nhấm, được chương trình hóa để làm phát triển những ung thư tuyến vú, một vài con đã được cho một chế độ ăn uống giàu hồ đào (tương đương với 56g/ngày đối với một con người). Sau một thời gian năm tháng, tất cả các động vật chứng đều có một khối u, trong khi sự xuất hiện của những ung thư này đã bị làm chậm lại ít nhất 3 tuần trong nhóm hồ đào. Tác dụng bảo vệ là do hồ đào có nhiều chất phytostérols (chất kháng cholestérol có trong thiên nhiên) và các axit béo oméga 3.

Hai thí dụ trong số những thí dụ khác. Văn liệu y học mới đây đầy dẫy những bài báo nói về những đặc tính chống ung thư của brocolis, nhiều con chủ bài của canneberge hay là tác dụng kháng cholestérol của những quả hồ đào macadamia.

KHÔNG NÊN ĐÓNG VAI NHỮNG NGƯỜI HỌC NGHỀ PHÙ THUỶ.

Nhưng một trong những trục nghiên cứu tích cực nhất về những mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và sức khỏe, liên quan đến những thức ăn giàu axít béo oméga 3. Một mặt, đó là những dầu thực vật như dầu colza hay huile de noix, chứa axít alpha linolénique và, mặt khác, những hải sản, nguồn gốc của hai axit béo khác (EPA và DHA).

Những tác dụng bảo vệ tim của các oméga 3 được xác lập. Các nhà nghiên cứu cũng khảo sát vai trò của chúng trong sự phát triển não bộ của thai nhi và trong sự ngăn ngừa chứng béo phì trẻ em, nhờ những công trình nơi các phụ nữ có thai. Người ta biết rằng các ung thư vú, đại tràng và tiền liệt tuyến được liên kết với một sự bất quân bình do sự cung cấp năng lượng thặng dư, và chế dò ăn uống quá nhiều mỡ, GS Philippe Bougnoux, thầy thuốc chuyên khoa ung thư của CHU de Tour đã giải thích như vậy. Thí dụ, đối với ung thư vú, hơn 70 công trình nghiên cứu dịch tễ học đã được thực hiện, nhưng không có một công trình nào da có thể xác nhận một cách chính thức rằng một axít béo được liên kết với một nguy cơ cao hơn hay thấp hơn mắc phải ung thư.

Nhưng trong lúc khảo sát, nơi các phụ nữ được mổ ung thư vú, những mẫu mô mỡ mà các axít béo phản ánh các cung cấp dinh dưỡng đã qua, G.S Bougnoux đã xác định các profil lipide có nguy cơ làm tái phát ung thư.Nguy cơ này tỷ lệ nghịch với sự dồi dào trong mô mỡ acide linolénique, oméga 3, thí dụ được chứa trong quả hồ đào (noix). Với nguyên tắc này, nhóm nghiên cứu của G.S Bougnoux đã hiệu chính một trắc nghiệm định lượng vai trò của dinh dưỡng đối với nguy cơ mắc phải ung thư vú. “ Công trình khảo sát này có thể cho phép thực hiện sự phòng ngừa nguyên phát của ung thư này, bằng cách nhận diện những phụ nữ có nguy cơ dinh dưỡng cao và bằng cách biến đổi chế độ ăn uống của họ, nhà nghiên cứu đã đánh giá như vậy.

“ Ăn nhiều quả hồ đào, cá hay dầu colza, tại sao không. Không có gì là nguy hiểm , G.S Bougnoux đã kết luận như thế. Ngược lại, không nên học làm phù thủy khi sử dụng các viên thuốc oméga mà không kiểm soát. ”
(LE FIGARO 24/4/2009)

8/ VIÊN THUỐC NHỎ VÀ HIỆU QUẢ LỚN LÊN TIM.

Một cocktail gồm các hoạt chất, được chứa trong một viên thuốc duy nhất, được đặt tên là Polycap để ngăn ngừa những bệnh tim mạch, một giấc mơ của thầy thuốc khoa tim ? Vâng, nhưng là một giấc mơ có thể trở thành hiện thực. Sự công bố và trình bày, tại American College of Cardiology (Orlando, 4/2009), những kết quả đầu tiên của công trình nghiên cứu Tips (The Indian Polycap Study) đã xác nhận phương thức này. Theo một công trình, được tiến hành ở Ấn Độ, 2.000 người không có tiền sử tim mạch nhưng có ít nhất một yếu tố nguy cơ (thuốc lá, béo phì...), đã uống trong nhiều tháng Polycaps, một viên thuốc chứa 5 hoạt chất (một chất kháng cholestérol, 3 chất chống cao áp, và aspirine). Kết quả : một sự giảm quan trọng của huyết áp (- 7mmHg), của nồng độ cholestérol và của triglycéride. Ngoài ra Polycaps cũng hiệu quả như 5 viên thuốc được uống riêng rẻ và những tác dụng phụ cũng đã không gia tăng.

Tác giả chính của công trình nghiên cứu này, BS Salim Yusuf, thuộc đại học McMaster ở Hamilton (Canada), đưa ra giả thuyết cho rằng viên thuốc này có thể làm giảm một nửa các tai biến tim mạch. Tuy nhiên đó là một phỏng đoán còn cần được chứng minh. Dầu sao đi nữa, viên thuốc này sẽ không có thể thay thế sự phòng ngừa dựa trên một chế độ ăn uống lành mạnh, sự thực hiện một hoạt động vật lý và sự giảm nghiện thuốc lá. Nhóm nghiên cứu dự kiến theo đuổi công trình nghiên cứu của mình. Nhưng vẫn còn phải cải thiện việc dùng thuốc lâu dài trong điều trị : 18% các bệnh nhân đã bỏ thuốc nửa chừng.
( SCIENCES ET AVENIR 5/2009)


9/ NHỒI MÁU CƠ TIM : ĐỪNG LƠ LÀ NHỮNG CƠN ĐAU NGUC ĐẦU TIÊN.

CARDIOLOGIE.

Những người đàn ông tuổi từ 50 đến 60 và những phụ nữ trên 75 tuổi, ngay những dấu hiệu báo động, vẫn còn chờ đợi dài lâu trước khi gọi Samu.

Việc gọi cấp cứu số 15 còn ít được sử dụng, điều trị thuốc men không được đầy đủ, đặc biệt là nơi những người trên 75 tuổi. Vẫn còn nhiều điều phải làm để tối ưu hóa việc điều trị nhồi máu cơ tim ở Pháp, theo những dữ kiện được trình bày cách nay vài ngày bởi HAS (Haute Autorité de santé). Vào năm 2007, HAS đã thiết đặt một chương trình rộng lớn để cải thiện việc điều trị những bệnh tim này, liên quan mỗi năm ở Pháp 100.000 người. “ Trong 10 năm, tỷ lệ tử vong sụt giảm một nửa, nhưng vẫn còn quá cao : 13% trong năm đầu tiên. Người ta cũng còn có thể làm giảm tỷ lệ các biến chứng và những tái phát, BS Armelle Desplanques, trưởng phòng các chương trình tiền phong ở HAS đã đảm bảo như vậy.

Ở giai đoạn cấp tính, mục tiêu chính là “ gagner du temps pour gagner du coeur ”, theo lời của GS Laurant Degros, chủ tịch HAS. Chẩn đoán phải được thiết đặt càng nhanh càng tốt, để khai thông động mạch vành bị tắt nghẽn trong những giờ đầu. Trong thực tiễn, sự tái tưới máu (reperfusion) có thể được thực hiện tại chỗ bằng liệu pháp tan huyết khối (thromolyse) : tiêm thuốc làm tan sợi huyết (thrombolytique) vào trong tĩnh mạch để làm tan cục máu đông, hay trong môi trường chuyên khoa, bằng tạo mạch (angioplastie : can thiệp lên động mạch vành).

Vấn đề là các bệnh nhân bị liên hệ phải có phản xạ tốt. Mỗi cơn đau ngực dữ dội kéo dài hơn 20 phút đều phải gọi 15. Nhưng không hẳn đã đạt được như vậy. “ Mặc dầu tất cả những chiến dịch thông tin, chỉ có 55% các bệnh nhân là gọi con số này ”, BS Patrick Goldstein, chủ tịch Hiệp hội y khoa cấp cứu của Pháp đã thở dài phát biểu như vậy.

KINH NGHIỆM TIỀN PHONG.

Theo ý kiến của thầy thuốc chuyên khoa cấp cứu này, sự ít sử dụng số điện thoại cấp cứu 15 đặc biệt có liên quan những người đàn ông tuổi từ 50-60, bị đánh thức dậy vào sáng sớm bởi một cơn đau ngực, nhưng lại không muốn tin đó là nhồi máu cơ tim. Những người trên 75 tuổi, nhất là các phụ nữ, cũng thường chờ đợi hàng giờ trước khi gọi Samu. Tổng cộng, chỉ một bệnh nhân trên 4 là làm đúng khi gọi ngay 15 và được Samu truyền lại cho khoa tim ; và khoảng hai bệnh nhân trên ba được hưởng một can thiệp tái tưới máu (reperfusion coronaire). Trung bình, một giờ trôi qua giữa lúc bắt đầu cơn đau ngực và lúc gọi cấp cứu 15.

“ Ngoài ra, nếu bệnh nhân hay những người thân gọi trước hết các thầy thuốc gia đình, điều này làm tăng gấp ba thời gian cần thiết trước khi được điều trị thích ứng (và tăng lên gấp 6 nếu gọi thầy thuốc chuyên khoa tim) ”, HAS đã xác nhận như vậy. Tuy nhiên các thầy thuốc gia đình có thể đóng vai trò quan trọng trên tuyến đầu, nhất là ở vùng nông thôn và miền núi, nơi mà Samu phải cần có thời gian mới đến được.

Điểm yếu khác trong việc xử trí bệnh nhồi máu cơ tim : điều trị thuốc, được thiết lập ở bệnh viện. Trong những năm qua, các đơn thuốc statines (kháng cholestérol), kháng ngưng kết tiểu cầu (antiagrégants plaquettaires : thuốc làm loãng máu), các bêta-bloquants và inhibiteurs de l’enzyme de conversion (cải thiện chức năng của tim) được kê đơn nhiều. Nhưng khoảng 30% các bệnh nhân, nhất là nếu là những người già, không được hưởng toàn bộ những điều trị này. Trong vài trường hợp, các thầy thuốc đã hành động vì thận trọng, để không làm gia tăng nguy cơ gây những tác dụng phụ nơi những người vốn đã sử dụng nhiều thứ thuốc. Nhưng như thế các bệnh nhân sẽ không được điều trị đẩy đủ chỉ vì lý do tuổi tác, trong khi những tác dụng có lợi của các loại thuốc này lên tỷ lệ tử vong đã hoàn toàn được xác lập nơi những người trên 75 tuổi.Trong lãnh vực này cũng như trong những lãnh vực khác, những người hoạt động ngành y phải giải quyết một phương trình phức tạp : mang lại tất cả các cơ may cho những người già mà không gây cho họ những nguy cơ quá đáng.
(LE FIGARO 6/4/2009)

10/ CAO HUYẾT ÁP, SUY THẬN, NHỮNG KẺ GIẾT NGƯỜI THẦM LẶNG.

Néphrologie. Các bệnh thận không được công chúng biết đến và được chẩn đoán chậm. Chúng gây bệnh cho một số người ngày càng tăng, ở Pháp và trên thế giới.

Một vài bệnh phát triển âm thầm và gây nên những thương tổn nhỏ xíu, không tiếng động, không triệu chứng trong nhiều năm trời. Đó là trường hợp cao huyết áp, có khả năng tiến triển trong nhiều chục năm, không được chẩn đoán hay điều trị. Và roi hầu như trong một sớm một chiều, một suy thận giai đoạn cuối xuất hiện : bệnh nhân suy kiệt, bị nhưng rối loạn khác nhau, nhất là thần kinh.

Một bilan sinh học cho phép chẩn đoán suy thận mãn giai đoạn cuối. Vào giai đoạn này chẳng có lựa chọn nào khác hơn là thẩm tách (dialyse) và ghép thận. Khoảng 30% những người bị suy thận giai đoạn cuối đã khám phá ra bệnh trong bối cảnh cấp cứu.

Hôm qua, nhân dịp giới thiệu ngày quốc tế của thận 12/3 sắp đến, giáo sư Eric Rondeau (bệnh viện Tenon, Paris) đã nêu rõ vai trò quan trọng của cao huyết áp trong sự phát sinh của suy thận. Đặc biệt ông đã xác nhận rằng việc thăm khám đều đặn nhằm phát hiện suy thận nơi những người có nguy cơ (cao huyết áp, đái đường, tiền sử gia đình bị bệnh thận...) liên kết với một điều trị sớm, cho phép tránh được bệnh này của thận hoặc làm chậm sự tiến triển của nó. Ở Pháp, 35.000 người cần thẩm tách thận(dialyse rénale) và 25.000 người khác sống với một quả thận được ghép.

Với bệnh đái đường thường được liên kết, cao huyết áp là một trong những nguyên nhân chính của suy thận. Ở Pháp, có 7 triệu người bị cao huyết áp, chỉ một nửa là theo đuổi điều trị và chỉ 35% trong số những người này có một con số huyết áp được cân bằng một cách đúng đắn. Huyết áp được biết là một yếu tố nguy cơ tim mạch. Những tác dụng của nó lên thận phần lớn không được dân chúng biết đến. Dường như có một sự nhạy cảm cá nhân của thận đối với cao huyết áp. Không phải tất các mọi người cao huyết áp đều bị suy thận.

THĂM DÒ PHÁT HIỆN.

Nơi vài người có một sự nhạy cảm di truyền đặc biệt, cao huyết áp dẫn đến sự tạo thành bệnh xơ cứng mạch máu thận tiến triển từ từ (néphroangiosclérose progressive) : các huyết quản đặc biệt bị liên hệ bởi quá trình xơ cứng (sclérose). Bệnh xơ cứng mạch máu thận thường xảy ra hơn nơi những người già, nhưng đôi khi được quan sát, mặc dầu hiếm, trước tuổi 30.“ Điều trị nội khoa cao huyết áp, nếu được theo dõi tốt và nếu có hiệu quả lên việc kiểm soát huyết áp, sẽ cho phép ngăn ngừa sự xuất hiện các biến chứng não và tim mạch, nhưng cũng ngăn ngừa những biến chứng mãn tính và nhất là suy thận mãn ”, GS Eric Rondeau đã đảm bảo như vậy.

Tất cả những yếu tố cho phép kiểm soát huyết áp, cũng làm giảm nguy cơ suy thận. Đó là những loại thuốc. Nhưng không phải chỉ có thuốc men không thôi. Làm giảm trọng lượng 5 kg sẽ làm giảm mức huyết áp, cũng như sự tập thể dục đều đặn và sự giảm tiêu thụ rượu và muối.

Có nên thực hiện thăm dò một cách hệ thống nhằm phát hiện suy thận bằng những xét nghiệm sinh học được thực hiện đều đặn hay không ? Có lẽ là không, các chuyên gia đã xác nhận như thế, nhưng phải đặc biệt lưu ý đến những người có nguy cơ cao. Vào tháng 10 năm qua, Fondation du rein, với sự tham gia cùa những phòng xét nghiệm công và tư, đã phát động một tuần chiến dịch thăm dò phát hiện bệnh suy thận. Hơn 9.000 người đã tham dự. Chẳng bao lâu nữa, những kết quả sẽ được công bố.
(LE FIGARO 3/3/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/5/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#3 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:44:12 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127

Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh )


1/ CÚM A (H1N1) BÙNG NỔ Ở NHẬT BẢN VỚI 80 TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC XÁC NHẬN.

EPIDEMIE. Sự phát triển của virus ở Nhật Bản có thể khiến OMS gia tăng mức báo động.

Virus H1N1 tiếp tục tiến triển trên thế giới. Mới còn vô sự vào đầu tháng năm, hôm chủ nhật, Nhật Bản đã ghi nhận 80 trường hợp cúm heo được xác nhận, gây bệnh cho đại đa số những học sinh và thầy giáo, trong vùng Osaka và Kobe. Những trường hợp đầu tiên, được khám phá cách nay 10 ngày, liên hệ đến một giáo sư và 3 học sinh người Nhật, đã mắc bệnh lúc đi du học ở Canada. 4 người bệnh đã được chữa lành. Từ đó, bệnh cúm này ở Nhật Bản, hiện nay, dường như được lan truyền phần lớn trong giới học đường.

Tuy nhiên, Shigeru Omi, trước đây là người hữu trách cao cấp của OMS, từ nay đứng đầu ủy ban chính phủ chống bệnh cúm ở Nhật Bản, đã cảnh cáo :“ Chúng tôi ước tính rằng nhiễm trùng bắt đầu lan tràn trong khắp nước ”, ông đã tuyên bố như vậy. Một người hữu trách của Osaka tuyên bố rằng hiện nay, chính quyền đã không thể xác lập một cách rõ ràng sự hiện hữu của những mồi tiếp xúc giữa các học sinh của Osaka và Kobe, và đã xác nhận rằng những học sinh của Kobe mới đây đã không đi du lịch ra nước ngoài.

1000 TRƯỜNG HỢP MỚI TRONG 24 GIỜ.

Ở Osaka, thêm 100 học sinh đã phát triển các triệu chứng đáng nghi và đã được làm xét nghiệm. 7 người dân của tỉnh Hyogo cũng có thể bị bệnh cúm. OMS đã tuyên bố theo dõi “ rất sát ” diễn biến tình hình ở Nhật Bản cũng như ở châu Âu đối với cúm heo. Việc xuất hiện một ổ tự trị truyền bệnh cho người trong một vùng khác với lục địa châu Mỹ, nơi đã phát xuất virus mới H1N1, có thể biện minh cho sự phát động giai đoạn báo động tối đa của OMS ; giai đoạn 6 là dấu hiệu của trận đại dịch cúm toàn cầu của thế kỷ XX.

Trong khi 1000 trường hợp mới đã được thống kê trong 24 giờ và gần 8.500 người bệnh đã được nhận diện, và trong khi bệnh vừa xuất hiện ở Án Độ và Thổ Nhĩ Kỳ, những người hữu trách cao cấp và các chuyên viên quy tụ về Genève để xem xét những phương tiện nhằm chận đứng trận dịch.
( LE FIGARO 18/5/2009)

2/ BÓNG MA CỦA MỘT SỰ BIẾN DỊ VIRUS.

“ Chúng tôi đã có tất cả các lý do để lo ngại những tác dụng hỗ tương của virus mới với những virus khác, trong đó có virus cúm gà, hiện nay đã được xác lập chắc chắn nơi các gia cầm trong nhiều nước. ”. Lời tuyên bố của BS Margaret Chan, nữ tổng giám đốc của OMS, ngoài lề đại hội đồng đang diễn ra ở Genève, đã làm các con tim nhảy xổ lên trong lồng ngực.

Nếu theo dõi sát, chúng ta thấy bà tổng giám đốc đã không nói gì khác từ hai tuần nay : “ Có lẽ virus đã ban cho chúng ta một thời gian hưu chiến, nhưng chúng ta không biết được thời gian tạm nghỉ này sẽ kéo dài bao lâu ”, bà đã nói dằn từng tiếng như vậy, không muốn rằng việc khám phá mức độ tương đối ít nghiêm trọng của virus so với những e ngại đầu tiên sẽ biến thành sự lơi lỏng cảnh giác y tế và sự tháo bỏ những biện pháp theo dõi và sự định mức nhằm làm giảm mối nguy cơ.

Bởi vì cái nguy cơ mà bà nói đến, hoặc là khả năng của một sự trao đổi gène của virus mới A (H1N1) với virus của cúm gà, đã được biết rõ bởi các chuyên gia virus. Trên nguyên tắc, đó là chuyện thường tình : đó là một sự sắp xếp lại di truyền (réarrangement génétique) giữa một virus cúm gà và một virus người. Trong quá trình tái phối hợp này, một virus người sẽ có được một số những khúc đoạn gène nào đó của một virus cúm gà trong lòng một tế bào bị nhiễm bởi cả hai virus.

“ Nhưng tuyệt đối không có gì có thể cho rằng sự tái phối hợp mà bà lo ngại lại không có thể xảy ra hơn một sự tái phối hợp khác, thí dụ giữa H1N1 mới và một giống gốc H3N1, thường xảy ra hơn. Cái điều mà BS Chan đã muốn nói, đó là, một sự tương tác như thế có thể làm phát sinh một virus có khả năng lây nhiễm cao đối với người như H1N1 có nguồn gốc từ heo, và cùng độc lực như H5N1 của cúm gà. Khi đó ta sẽ có một virus vừa lan truyền dễ dàng và lại vừa có khả năng giết người nhiều hơn.. Thật vậy, đó là một khả năng... trong số nhiều khả năng khác ”, G.S Yves Van Laethem, chuyên gia các bệnh nhiễm trùng ở bệnh viện Saint-Pierre, Bruxelles, đã giải thích như vậy.

B.S Chan có quyền quyết định mức độ báo động đại dịch tối đa sau khi đã tham vấn một ủy ban các chuyên viên. “ Tất cả chúng tôi đều dưới áp lực để thực hiện những biện pháp khẩn cấp và có tầm quan trọng trong một bầu không khí được mang dấu ấn bởi một điều rất khó dự kiến về mặt khoa học ”, bà đã công nhận như thế. Nhiều quốc gia đã năn nỉ, trong hành lang, để đừng nâng cao mức báo động, vì lo sợ những hậu quả nặng nề đối với kinh tế và du lịch.
( LE SOIR 19/5/2009)

3/CÚM A (H1N1) : CÁC CHUYÊN GIA VIRUS VẪN TỎ RA BI QUAN.

EPIDEMIE. Họp ở Helsinki, các chuyên gia không loại bỏ những kịch bản rất đáng quan ngại.

“ Mối đe dọa của virus H1N1 là nghiêm trọng. Virus sẽ có 3 phương thức. Hoặc là nó có thể biến mất một cách ngẫu nhiên, nhưng tôi không tin chắc rằng điều đó sẽ xảy ra. Cũng có thể nó sẽ gây nên một đại dịch “ nhẹ ” như cúm Á Châu năm 1957-1958 ”, Albert Osterhaus, chuyên gia virus của đại học Rotterdam đã đánh giá như vậy. Cúm Á Châu năm 1957-1958 đã giết chết từ 1 đến 4 triệu người. Để dễ so sánh, cúm mùa (grippe saisonnière) giết chết từ 250.000 đến 500.000 người mỗi năm. Albert Osterhaus đã phát biểu như thế tại Hội nghị châu Âu về vi trùng học lâm sàng và các bệnh truyền nhiễm, đã diễn ra hôm chủ nhật ở Helsinki. Chính ông là người đầu tiên đã cho thấy rằng virus cúm gia cầm có thể được truyền cho người.

“ Trong một kịch bản đại họa thứ ba, G.S Osterhaus đã nói tiếp như vậy, chúng ta sẽ có một trận đại dịch nghiêm trọng, tương tự với cúm Tây Ban Nha, có thể phát xuất từ sự biến dị của virus.” Sự phân tích này giống với sự phân tích của nhiều chuyên gia : thật vậy, những biến dị đúng lúc có thể làm gia tăng độc lực của virus, sự tăng sinh của nó trong tế bào, thậm chí sự thích ứng của nó đối với ký chủ người, hoặc gây nên những phối hợp của toàn thể các yếu tố di truyền (recombinaison d’éléments génétiques entiers), có thể làm cho sự lan truyền được dễ dàng hon và những triệu chứng nặng hơn.

Đối với G.S Javier Garau, thuộc đại học Barcelone, cũng là thuyết trình viên ở Helsinki, tốc độ lan truyền của virus H1N1 hơi lớn hơn tốc độ lan truyền của một virus cúm thông thường : mỗi cá nhân bị lây nhiễm truyền bệnh cho từ 1,4 đến 1,6 người.

Những ước tính của các nhà dịch tễ học của OMS, được công bố hôm thứ hai 11/5 trong Science, tính được số người Mễ bị nhiễm bởi H1N1 từ cuối tháng tư là 23.000, với một tý lệ tử vong trung bình 0,4%. Hãy ghi nhớ rằng virus đại dịch 1918-1920 đã gây 20 triệu người chết, “ chỉ đã giết chết ” 1-2% những người bị nhiễm bệnh.

Ổ BỆNH ĐỘC LẬP MỚI Ở NHẬT BẢN.

Yếu tố mới đang quan ngại khác : virus chủ yếu tấn công những người trưởng thành trẻ tuổi và mạnh khỏe. Điều này gợi ý rằng những lão niên có một dạng miễn dịch (ngay cả bị giảm bớt), do những tiếp xúc trước đây với những virus tương tự. Giới trẻ không có được hình thức miễn dịch này.

Thí dụ : trong làng Mễ La Gloria, trong vùng Vera Cruz, tỷ lệ tấn công của virus hai lần quan trọng hơn nơi những trẻ em dưới 15 tuổi, so với những người trưởng thành.

Các chuyên gia virus họp ở Helsinki cũng đã nhất trí kết luận rằng mặc dầu một vaccin chỉ chống H1N1 có thể được sản xuất, nhưng tính hiệu quả của nó có thể bị xét lại, trong trường hợp có biến đổi di truyền quan trọng từ nay đến tháng 11 đến. Kết luận của BS Osterhaus : “ Chúng ta phải cải thiện khả năng sản xuất vaccin chống cúm của chúng ta.Theo ước tính thì những liều có sẵn sử dụng hiện nay là 1 tỷ. Nhưng với một dân số thế giới 6,7 tỷ người, điều đó rõ ràng là không đủ ”.

Hôm chủ nhật, lần đầu tiên, Nhật bản đã khai báo 80 trường hợp được xác nhận và virus cũng hiện diện ở Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ.

Ổ dịch tự trị mới này, được báo cáo bởi chính phủ Nhật đã làm gia tăng căng thẳng week-end này ở Genève. Thật vậy, nếu đúng đó là một ổ được chứng tỏ có khả năng lan truyền (không có liên quan với các du khách) trong một vùng khác với lục địa châu Mỹ, thì tình hình Nhật Bản, theo những tiêu chuẩn của OMS, sẽ khiến phải nâng mức báo động lên tối đa (giai đoạn 6), tức là mức báo động loan báo sự xuất hiện của trận đại dịch cúm đầu tiên của thế kỷ XX.

Tuy vậy, hôm qua trước đại hội hàng năm của 193 nước thành viên của OMS, bà giám đốc Chan đã quyết định vẫn giữ mức báo động hiện nay (giai đoạn 5).
(LE FIGARO 19/5/2009)

4/ CÚM : NĂM 2009 KHÔNG PHẢI LÀ NĂM 1918.

Tuy nhiên, nhà sử học y khoa Patrick Zylberman, chuyên gia về cúm Tây Ban Nha, cho rằng giới hữu trách y tế đã không “ phản ứng thái quá ” đứng trước virus mới A (H1N1).

Là nhà sử học y khoa và y tế công cộng, thuộc Trung tâm nghiên cứu y học, khoa học, sức khỏe và xã hội, Patrick Zylberman đã nghiên cứu những đại dịch lớn, và nhất là phương cách nước Pháp đã phản ứng đối với dịch cúm Tây Ban Nha, căn bệnh đã gây hơn 50 triệu người chết trên thế giới vào năm 1918 và 1919. Ông bình luận phương cách mà giới hữu trách y tế đã nắm hiểu được những thời kỳ khủng hoảng y tế và cảnh giác những cạm bẫy trong việc so sánh giữa các thời kỳ khác nhau.

Hỏi : Ông nhìn như thế nào về đợt dịch bệnh cúm A (H1N1) hiện nay ?
Patrick Zylberman : Điều lạ lùng nhất là ở Mễ Tây Cơ những trường hợp tử vong xảy ra nơi các người trưởng thành trẻ tuổi. Điều này làm nghĩ ngay đến trận đại dịch năm 1918, đã tấn công vào lứa tuổi từ 16 đến 40 tuổi, hơn là nhằm vào những người già hay các trẻ em rất nhỏ tuổi.

Hỏi : Thế thì không có một sự khác nhau giữa hai thời đại khi so sánh hai đợt dịch bệnh này ?
Patrick Zylberman : Nhất thiết là như vậy. Trận đại dịch 1918 đã trở thành một hình thái tu từ (figure de rhétorique). Từ khi xảy ra SARS (syndrome respiratoire aigu sévère), vào năm 2003, tất cả các thầy thuốc, các chuyên gia dịch tễ học và những người phụ trách y tế công cộng, trình bày sự trở lại của cúm Tây Ban Nha như là một lễ thiêu sinh (holocauste) sắp đến. Người ta hiểu rõ tại sao cần phải đánh mạnh vào các trí tưởng tượng, để những người hữu trách chính trị, các công dân phải chịu bỏ tiền ra để tập thể có thể ở trong tư thế sẵn sàng đương đầu.

Nhưng mà thế giới năm 1918 và thế giới hôm nay không thể so sánh với nhau chút nào cả. Virus và khả năng sinh bệnh của nó không phải là tham số duy nhất của một trận dịch hay của một đại dịch, dầu đó là tỷ lệ bệnh tật hay tỷ lệ tử vong.

Ngày nay, chúng ta có những kiến thức khoa học về virus, trái với năm 1918 (H1N1 chỉ được phân lập nơi người vào năm 1933). Chúng ta có những thuốc kháng virus và các vaccin. Các kháng sinh cho phép điều trị những bội nhiễm. Đó là chưa nói về sự theo dõi dịch tễ học, được thiết lập từ năm 1955, và những kế hoạch ứng đối dịch bệnh được dự kiến, mặc dầu tất cả không được hoàn hảo.

Hỏi : Chúng ta đã học được gì về năm 1918 ?
Patrick Zylberman : Các anh hãy nhìn phản ứng rất đặc sắc của chính quyền Hồng Kông vào năm 1997, khi phải đối phó với cúm gà. Sau vài trường hợp tử vong nơi người, họ đã hạ sát toàn bộ các gia cầm, điều này lúc đó là một quyết định rất tốt. Vào lúc đầu, phản ứng đối với SARS diễn biến khá tồi, nhưng sau đó các chánh phủ, ở châu Á và Canada, đã biết cầm cương trở lại và đã xoay xở khá giỏi.
Có được một thành tựu, đó là điều không thể tranh cãi được. Nhưng có phải như thế là đủ chưa ? Công trình nghiên cứu mới nhất về việc chuẩn bị chống đại dịch, được thực hiện vào năm 2006 bởi London School of Hygiene and Tropical Medicine, đã kết luận rằng nếu vài nước như Pháp hoặc Anh tương đối đã chuẩn bị tốt, nhưng ở Châu Âu không phải tất cả đều như vậy.

Hỏi : Có phải vào năm 1918, người ta đã có ý thức ngay phải đương đầu với một đại dịch ?
Patrick Zylberman : Các nhà chức trách đã hoàn toàn bị bất ngờ. Chúng ta đừng quên rằng chiến tranh lúc đó chưa chấm dứt. Các nước ở xa vùng chiến trận, như Hoa Kỳ, cũng không biết là họ đang gặp phải cái gì nữa. Cái điều đã góp phần vào tỷ lệ tử vong rất cao (4% ở châu Âu, cho đến 22% ở Đông Samoa), là tình trạng rất hỗn loạn của các công quyền và những phương tiện hành động ít ỏi của họ (đóng cửa các nơi công cộng).

Hỏi : Thí dụ trường hợp năm 1976 há không phải là sự minh họa cho thấy rằng một phản ứng quá mức của các nhà cầm quyền có thể gây nên nhiều thiệt hại hơn là chính bản thân trận dịch hay sao?
Patrick Zylberman : Thật ra, trận dịch năm 1976 ở Hoa Kỳ là trận dịch “ đã chưa bao giờ xảy ra ”. Lúc đó có vài trường hợp trong một đồn lũy ở New Jersey. Ngay tức khắc chúng tạo nên một sự hoảng sợ, chính là bởi vì những hồi ức về năm 1918 vẫn đang còn dai dẳng. Đó là một giống gốc H1N1, đã không lưu hành ở Hoa Kỳ từ năm 1920 và chính điều này đã khiến tổng thống Gerald Ford ra lệnh cho tiêm chủng toàn dân Mỹ. Chiến dịch tiêm chủng bị dừng lại sau hai tháng bởi vì những tai biến do tiêm chủng đã xảy ra, và cũng bởi vì virus đã biến mất một cách ngẫu nhiên. Vào lúc đó quyết định tiêm chủng được thực hiện vì những lý do cảm xúc nhiều hơn là vì những lý đo khoa học.

Hỏi : Phản ứng hiện nay của giới hữu trách y tế phải chăng còn nặng về cảm xúc ?
Patrick Zylberman : Hôm nay, một số người trách Tổ chức Y Tế Thế Giới là đã phản ứng quá mức. Điều đó không đúng : tất cả các chính phủ, khi thiết đặt những kế hoạch đối ứng, đều đã dựa trên kế hoạch của OMS. OMS chỉ nâng cao mức báo động lên để có một ảnh hưởng hơi lớn hơn trên các chính phủ liên hệ : tăng cường các ban chỉ đạo vùng, gọi các đội công tác đến hiện trường...Từ năm 2003, tất cả các cuộc thảo luận về sự chuẩn bị chống các dịch bệnh, khủng bố sinh học (bioterrorisme)... đều đặt vấn đề nóng bồng về cách ứng phó tập thể cần phải tuân theo : OMS phải chăng phải là một bộ tham mưu cho những hoạt động này ? Châu Âu cũng khá ủng hộ điều đó, Bắc Mỹ thì hơi ít hơn, còn châu Á lại còn ít hơn nhiều.

Hỏi : Ảnh hưởng nào có thể có của trận tiền đại dịch (prépandémie) này lên các nước nghèo đang bắt đầu bị lây bệnh ?
Patrick Zylberman : Đó là mối ưu tư lớn. Một làn sóng dịch bệnh trở nặng thứ hai ở Bắc bán cầu vào mùa thu đến, sẽ gây thiệt hại nhiều hơn trong những nước không có một hệ thống y tế thích đáng hay không có những thuốc kháng virus, so với những nước giàu có được trang bị tốt để đối phó với nhiễm trùng. Có những phương cách để làm chậm lại sự lan tràn của bệnh, bằng cách chia xẻ một phần (từ 10% đến 20% theo lời các chuyên gia) các dự trữ thuốc kháng virus, với những nước có lợi tức thấp. Về mặt chính trị, điều đó có vẻ tế nhị : về việc đó, công luận có thể không muốn “ chia xẻ ” lắm.

Hỏi : Nỗi lo lắng chung đối với việc quản lý các nguy cơ có phải là dấu hiệu của một sự tiến hóa của xã hội của chúng ta ?
Patrick Zylberman : Hoàn toàn đúng như vậy. Bước chuyển từ những vấn đề của lãnh vực kỹ thuật sang lãnh vực chung là một sự tiến hoá đáng chú ý, là một trong những lý do giải thích vì sao thế giới hiện nay hoàn toàn khác với thế giới của năm 1918. Bước ngoặt diễn ra trong những năm 1980 với những mối lo âu gia tăng đứng trước các bệnh mới phát khởi (maladies émergentes), nhất là trận dịch HIV/SIDA, cũng như với những cuộc khủng hoảng an ninh dinh dưỡng vào cuối thế kỷ XX.

Hỏi : Đâu là vai trò của giới truyền thông trong sự tiến hóa của những nhận thức này ?
Patrick Zylberman : Giới truyền thông đóng một vai trò chủ yếu và các chính phủ đều biết điều đó. Trong thời kỳ khủng hoảng, thông tin là một thực phẩm để giới hạn hậu quả của một trận dịch, cũng quan trọng như các thuốc kháng virus, nhưng là một thực phẩm của những vấn đề được đặt ra cần phải quản lý. Công tác truyền thông dự phòng (communication préventive) nhằm hạn chế hiện tượng hoảng sợ, nhưng đồng thời phải khuyến khích người ta đừng thụ động. Về mặt chuẩn bị, có lẽ đó là một trong những lãnh vực mà chúng ta ít tiến bộ nhất.

Hỏi : tại sao vậy ?
Patrick Zylberman : Các chính phủ miễn cưỡng không muốn tách rời một phần của việc kiểm soát thông tin, còn giới truyền thông thì đã ít lý thuyết hóa những vấn đề này.
(LE MONDE 9/5/2009)

5/ VACCIN CHỐNG H1N1 : OMS VẪN CÒN THONG THẢ.

VIROLOGIE. Một buổi họp các chuyên gia đã không cho phép quyết định khi nào sản xuất vaccin.

Nhất định là họ sẽ không rời nhau được nữa ! Các nhà công nghiệp chế tạo vaccin một lần nữa được triệu tập hôm thứ năm cho một hội nghị được tổ chức bởi BS Keiji Fukuda, phó tổng giám đốc của OMS. Cuộc họp nhằm xem xét khả năng phát động sự sản xuất quy mô lớn một vaccin chống lại H1N1, virus đã làm lây nhiễm hơn 7.500 người trên thế giới (trong đó 65 tử vong). Cuối cùng ông quyết định phải đợi chờ : “ Không thể nói vào ngày tháng nào chúng ta sẽ quyết định, đó là một quá trình thật tỉ mỉ và khó khăn ”, Dr Fukuda đã tuyên bố như vậy, nhưng không xác định rõ gì hơn. Tò mò muốn biết thêm, Figaro được trả lời bởi phòng báo chí của OMS rằng ông ta không có quyền thông báo về chủ đề nhạy cảm này…

Theo thông tin của chúng tôi, 24 nhà chế tạo “ đại bài và tiểu bài ”, trong đó có các hãng bào chế khổng lồ GlaxoSmithKline, Novartis và Sanofi Pasteur, đều hiện diện trong hội nghị. Trước đó, mỗi hãng chế tạo đã cung cấp cho OMS những con số về khả năng sản xuất vaccin trong những nhà máy riêng của mình.

Như thế, nhiều kịch bản sẽ có thể được dự kiến. Hoặc là virus H1N1 vui lòng chờ đợi đến giữa tháng 8 để thật sự trở thành đại dịch (giai đoạn 6). Và vào thời gian này, các nhà chế biến vaccin đã sản xuất xong vaccin truyền thống của cúm mùa mùa đông (grippe saisonnière hivernale).

“ THEO DỖI NAM BÁN CẦU ”

Hoặc virus trở nên độc lực hơn trước khi mùa hè chấm dứt. “ Khi đó có thể xuất hiện những biến dị (mutation) làm virus trở nên đề kháng với Tamiflu, hoặc virus có thể thụ đắc các gènes de “ fitness ”, cải thiện việc chuyển qua và lan truyền nơi người, Vincent Enouf, thuộc Viện Pasteur Paris đã chỉ rõ như vậy. Chúng ta cũng phải theo dõi tình hình ở Nam Bán cầu bởi vì vùng này là nơi tốt nhất để các virus thực hiện sự tái phối hợp (recombinaison).

Trong trường hợp giả thuyết thứ hai, khi đó sẽ phải ngưng các dây chuyền sản xuất vaccin chống cúm mùa để chế tạo vaccin chống H1N1. Nhưng để được như thế, OMS phải đã phải để cho các nhà sản xuất sử dụng một “ hạt giống virus ”, có cở sở là những yếu tố di truyền của virus H1N1, được tô điểm bởi những chuỗi (séquences) làm cải thiện khả năng nẩy mầm trên trứng gà, kỹ thuật hiện nay được sử dụng để sản xuất vaccin.

Theo Alain Bernal, phát ngôn viên của Sanofi Pasteur, giống gốc này sẽ có sẵn sàng để sử dụng, “ có thể vào cuối tuần tới ”. Và ông nói thêm : “ Đã có lúc người ta dự kiến thêm vào vaccin cúm (chứa 3 giống gốc khác nhau), giống gốc mới H1N1, thế cho cho giống gốc cũ. Nhưng hôm nay điều đó có vẻ không phải là một giải pháp tốt, bởi vì như thế buộc phải làm trì hoãn việc đưa ra thị trường vaccin cúm mùa và điều đó buộc pha trộn một giống gốc mà chúng ta không biết được những tác dụng của của nó lên vaccin truyền thống. “
(LE FIGARO 17/5/2009)

6/ VIRUS A (H1N1) : CHUỖI DI TRUYỀN CỦA VIRUS ĐÃ ĐƯỢC XÁC ĐỊNH.

Các nhà nghiên cứu Canada đã thực hiện bước tiến được cho là quan trọng này, vì việc xác định toàn thể chuỗi di truyền (séquençage) của virus H1N1 từ nay cho phép hiệu chính một vaccin.

Bắt đầu từ các mẫu phân lập virus cúm xuất phát từ hai tỉnh Ontario và Nouvelle-Ecosse của Canada, các nhà khoa học của phòng thí nghiệm vi trùng học quốc gia của Cơ quan y tế công cộng của Canada ở Winnipeg, đã thành công phân tích hoàn toàn chuỗi di truyền (séquence génétique) của virus cúm A (H1N1). Bộ trưởng Y tế, Leona Aglukkaq, đã khen ngợi các nhà khoa học về thành quả được gọi là ngoại lệ này. “ Đó là một đầu tiên trên thế giới ”, bà Bộ trưởng đã hoan hỉ phát biểu như vậy.

Nhất là khám phá này giờ đây chỉ rõ cho các nhà nghiên cứu rằng mặc dầu căn bệnh đến nay ở Mễ Tây Cơ độc lực hơn nhiều so với Canada và Hoa Kỳ, nhưng tác nhân gây bệnh đều cùng giống gốc virus. “ Cấu trúc di truyền trong các mẫu nghiệm không cho thấy một khác nhau nào giữa các virus ”, B.S Frank Plummer, tổng giám đốc khoa học của Phòng thí nghiệm vi trùng học quốc gia, đã tuyên bố như vậy. Nhóm nghiên cứu của ông đã làm việc ngày đêm trong một tuần lễ để có thể xác định chuỗi di truyền của virus.

Đó cũng là một bước quan trọng để hiểu được nguồn gốc của virus, cách truyền bệnh của nó và những biến dị có thể xảy ra, BS David Butler-Jones, quản trị trưởng của Sở y tế công cộng của Canada đã giải thích như vậy. Kiến thức về bộ gène (génome) này từ nay cho phép xác định vị trí các protéine đặc hiệu của virus H1N1 và do đó cho phép bắt đầu việc hiệu chính một vaccin. Ở Hoa Kỳ, nơi có 3 trường hợp tử vong, những bước đầu tiên theo chiều hướng này đã được thực hiện, một người hữu trách của Viện Y tế đã tuyên bố như vậy tại Hội Nghị.

Mặt khác, ở Luân Đôn, Trung tâm các bệnh nhiễm trùng của Cơ quan bảo vệ y tế, cơ quan nhà nước Anh, đã loan báo là lần đầu tiên đã thực hiện việc phân tích chuỗi di truyền (séquençage génétique) của giống gốc châu Âu của virus H1N1. Các đôi mắt từ nay hướng về công nghiệp chế biến vaccin để vaccin được sản xuất với lượng đầy đủ càng nhanh càng tốt.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 15/5/2009)

7/ UNG THƯ THẬN VÀ ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN.

G.S Bertrand Dufour, thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu của Hôpital américain, ủy viên của Viện hàn lâm ngoại khoa, bình luận những công trình nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả của một phương thức phẫu thuật vi xâm nhập đối với những trường hợp ung thư thận kích thước nhỏ được phát hiện sớm.

Hỏi : Tần số mắc bệnh của ung thư thận là gì ?
G.S Bernard Dufour : Tỷ lệ mắc bệnh của các ung thư này tương ứng với 3% của tất cả các ung thư. Chỉ riêng ở bệnh viện Necker, Paris, 1.219 bệnh nhân ung thư thận đã được mổ trong mười năm qua ! Tần số này đang gia tăng và thường nhất là ở những người trên 50 tuổi.

Hỏi : Những triệu chứng nào có thể làm báo động ?
G.S Bernard Dufour : Ngày nay, người ta khám phá 70% các trường hợp ung thư một cách tình cờ, trong lúc thực hiện một bilan, nhất là bằng một siêu âm. Bệnh tiến triển thầm lặng và khi nó gây nên những triệu chứng như xuất huyết hay đau bụng, thì giai đoạn đã tương đối tiến triển. Scanner và siêu âm đủ để mang lại tất cả những xác nhận về vị trí, thể tích và mức độ lan rộng của khối u, cũng như tình trạng của chiếc thận kia, hiếm khi bị thương tổn cùng một lúc.

Hỏi : Người ta xếp loại khối u theo giai đoạn tiến triển của chúng như thế nào ?
G.S Bernard Dufour : Có 3 giai đoạn trầm trọng (stade de gravité). Những khối u nhỏ dưới 4 hoặc 5 cm, không lan ra ngoài thận (không xâm nhập bao nang thận cũng như các hạch) được xếp giai đoạn 1. Giai đoạn 2 gồm những khối to lớn hơn với bao nang của thận bị xâm nhập. Những khối u to lớn này thuộc giai đoạn 3 khi các hạch bị xâm nhập. Mức độ trầm trọng của khối u cũng tùy thuộc vào loại và cấp độ tế bào (grade cellulaire).

Hỏi : Bình thường, tùy theo các giai đoạn trầm trọng, người ta áp dụng điều trị nào ?
G.S Bernard Dufour : Phương thức cổ điển là ngoại khoa. Có hai kỹ thuật : giải phẫu cổ điển, nặng nề, phải mở bụng, và ngoại khoa soi ổ bụng(coeliochirurgie), khi thể tích khối u không quá quan trọng (không hơn 10 cm), không xâm nhập tĩnh mạch. Với kỹ thuật ngoại khoa soi ổ bụng, phẫu thuật viên thực hiện 5 đường xẻ rất nhỏ, qua đó các dụng cụ và một minicaméra được đưa vào. Một đường xẻ lớn hơn, khoảng 5 cm, sau đó được thực hiện để lấy thận bị bệnh ra. Trong cả hai trường hợp, hậu phẫu đều đơn giản. Nhưng với ngoại khoa soi ổ bụng, thời gian nhập viện ngắn hơn (4 hay 5 ngày thay vì 10) và sự hồi phục của bệnh nhân nhanh hơn.

Hỏi : Những kết quả có được với hai kỹ thuật giải phẫu này là gì ?
G.S Bernard Dufour : Ngoại khoa “ mở bụng ” (chirurgie à ventre ouvert) và ngoại khoa soi ổ bụng (coeliochirurgie) mang lại cùng kết quả. Nhưng những kết quả này thay đổi tùy theo giai đoạn ban đầu của khối u. Đối với những ung thư có kích thước nhỏ và không có một xâm nhập nào các mô kế cận, người ta ghi nhận được tỷ lệ chữa lành là 85%. Khi chẩn đoán muộn, tiên lượng trên nguyên tắc ít thuận lợi hơn... nhưng ngày nay, với những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới, các triển vọng đã được cải thiện đáng kể.

Hỏi : Trong những trường hợp nào có chỉ định bảo tồn quả thận ?
G.S Bernard Dufour : Khi ta có cơ may khám phá một khối u rất ít lớn, không vượt quá 4 cm. Nhờ có scanner, ngày nay chúng ta có thể đảm bảo rằng một khối u là đơn độc, kích thước nhỏ và không lan rộng (trường hợp một hạch bị xâm nhập là hiếm). Không nên quên rằng cắt bỏ thận mang lại những hậu quả không phải là không đáng kể, do đó lợi ích một điều trị bảo tồn chừng nào có thể được. Tốt hơn là giữ một quả thận dự phòng trong trường hợp xảy ra tai nạn.

Hỏi : Chúng ta có thể sợ điều gì sau khi cắt bỏ một quả thận ?
G.S Bernard Dufour : Trong 4-5 % các trường hợp, có một nguy cơ, trong những năm sau đó, một khối u sẽ phát sinh trên thận còn lại. Mặt khác, suy thận (mặc dầu trường hợp này ít xảy ra) phát triển nhiều hơn nơi những người chỉ có một quả thận. Thật là đáng tiếc khi phải hy sinh một quả thận nếu ta có khả năng bảo tồn nó, đồng thời chỉ cắt bỏ khối u mà thôi !

Hỏi : Những kỹ thuật nào được sử dụng đối với ngoại khoa bảo tồn này ?
G.S Bernard Dufour : Phương tháp phẫu thuật là phức tạp, chỉ có thể được thực hiện bởi những phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm. Nhà giải phẫu thực hiện một đường xẻ ở một bên bụng (lombotomie) để có một lối trực tiếp vào thận. Khi khối u rất nhỏ (dưới 4 cm), nằm đúng trong phần ngoại biên của quả thận, thì động tác phẫu thuật có thể được thực hiện với ngoại khoa soi ổ bụng (coelioscopie).

Hỏi : Những kết quả thu được với phẫu thuật vi xâm nhập, tùy theo kỹ thuật này được sử dụng là gì ?
G.S Bernard Dufour : Những kết quả rất là tốt : tỷ lệ chữa lành hơn 90% ! Do đó lợi ích của việc phát hiện ung thư càng sớm càng tốt. Đứng trước những kết quả này, dĩ nhiên người ta đã tự Hỏi : chúng ta có thể làm hoại tử khối u mà không cần phải mổ hay không ?

Hỏi : Khi đó chúng ta đã hiệu chính những điều trị nào ?
G.S Bernard Dufour : Một điều trị bằng sức nóng (làm tăng nhiệt bằng tần số phóng xạ) và bằng sức lạnh (cryothérapie). Nhưng, theo ý kiến của tôi, với hàn liệu pháp (cryothérapie), chúng ta còn có quá ít kinh nghiệm để có thể nói đến.

Hỏi : Phương pháp điều trị bằng tần số phóng xạ (traitement par radiofréquence) diễn ra như thế nào ?
G.S Bernard Dufour : Phương thức này nhằm cắm một hay nhiều điện cực (những chiếc kim mảnh), dưới kiểm tra siêu âm và IRM, đến tận lòng của khối u. Sau đó khối u được sưởi nóng với một nhiệt độ từ 50 đến 100 độ. Bệnh nhân được gây tê tại chỗ nên không cảm thấy gì hết. Thường thường, chỉ cần một buổi can thiệp là đủ. Ở bệnh viện Necker, G.S Correas đã tiến hành một công trình nghiên cứu với phương pháp điều trị này trên 123 bệnh nhân bị một ung thư thận nhỏ, dưới 4 cm, đã ghi nhận được tỷ lệ chữa lành 80%. Những kết quả của ông đã tương ứng với những công trình nước ngoài khác, đặc biệt là của Hoa Kỳ.
( PARIS MATCH 30/4-6/5/2009)

8/ BỆNH PARKINSON : “ NIỀM HY VỌNG CỦA MỘT KỸ THUẬT KÍCH THÍCH ĐIỆN NHẸ NHÀNG ”

Được thử nghiệm thành công nơi chuột, phương pháp kích thích điện tủy sống (stimulation électrique de la moelle épinière) dấy lên niềm hy vọng đối với những bệnh nhân bị bệnh Parkinson. Niềm hy vọng một ngày nào đó phương pháp kích thích điện tủy sống thay thế phương pháp kích thích vùng sâu trong não bộ (stimulation intracérébrale profonde), phương pháp đòi hỏi một phẫu thuật nặng nề.

Hỏi : Kích thích điện tủy sống là gì ?
David Grabli : Cũng như phương pháp kích thích sâu trong não bộ, phương pháp này nhằm tạo một dòng điện để làm biến đổi hoạt động của vài vùng của hệ thần kinh. Nhưng, thay vì đặt các điện cực vào trong não bộ, người ta cắm chúng tiếp xúc với lớp vỏ bảo vệ tủy sống, bằng một đường dễ tiếp cận hơn.

Hỏi : Kỹ thuật này được trắc nghiệp trên chuột như thế nào?
David Grabli : Các tác giả đã chọn những con chuột thường được dùng như mô hình động vật đối với bệnh Parkinson. Não bộ của chúng được làm thương tổn một cách cố ý để làm giảm sự sản xuất dopamine trong striatum. Khả năng vận động của chúng bị giảm. Và chúng có những đặc tính riêng của bệnh Parkinson xảy ra nơi người : một sự gia tăng những dao động tần số thấp trong vỏ não vận động và một sự đồng bộ hóa quá mức của hoạt động neurone trong vùng này. Trước hết các tác giả đã kiểm tra hai tham số này bằng cách ghi hoạt động não của vỏ vận động của các con chuột. Rồi họ đã kích thích với một dòng điện có tần số cao (400 hertz) các cột sau (colonnes dorsales) của tủy sống ngực của chúng, những vùng có những bó sợi thần kinh vận chuyển những thông tin cảm giác từ các chi dưới lên đến não bộ. Lý thuyết của họ là, bằng cách điều biến những đường thần kinh hướng thượng này, họ sẽ tái lập hoạt động của não bộ của những con chuột này, vốn bị rối loạn tổ chức vì căn bệnh.

Hỏi : Các tác giả đã đạt được điều gì ?
David Grabli : Hiệu quả đã xảy ra tức thời : Họ đã quan sát nhận thấy một sự gia tăng hoạt động vận động của các con chuột và sự phục hồi hoạt động bình thường của não bộ chúng trong vùng vỏ não vận động, nghĩa là sự biến mất những nhịp chậm và sự mất đồng bộ bình thường của các neurone.

Hỏi : Người ta có thể suy diễn ra điều gì nơi người ?
David Grabli : Đó là điều rất đặc sắc cho người, bởi vì can thiệp ngoại khoa dễ thực hiện hơn nhiều so với phương pháp kích thích vùng sâu trong não bộ. Nhưng nhất thiết phải kiểm tra tính hiệu quả và vô hại của kỹ thuật này nơi khỉ, mô hình động vật tương cận với người hơn chuột.
( LA RECHERCHE 5/2009)

9/ NƠI TRẺ EM, BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LÀ DO VIRUS.

Các virus đúng là có thể làm phát khởi bệnh đái đường loại I nơi các trẻ em. Đó là điều được xác nhận bởi một công trình nghiên cứu của Anh. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các entérovirus, những virus thông thường của những bệnh sốt nhi đồng, trong tụy tạng của 60 những trẻ em đái đường, so với 6% những trẻ em không bị bệnh. Mặc dầu những trường hợp đái đường này là do di truyền, người ta biết rằng môi trường đóng một vai trò trong sự xuất hiện của các triệu chứng : ví dụ, nơi những trẻ sinh đôi có cùng các gène, thường chỉ có một trẻ là phát triển bệnh đái đường. Lý thuyết của nhiễm trùng virus đã có từ lâu, nhưng công trình nghiên cứu này là công trình đầu tiên mang lại những chứng cớ xác thực. Bởi vì chính ngay trong những tế bào sản xuất insuline, bị phá hủy trong trường hợp đái đường, mà người ta đã tìm thấy các virus ! Như là nơi những trẻ có tổ bẩm di truyền đối với bệnh đái đường, các virus sẽ phát khởi một phản ứng phòng ngự bất thường, gây nên sự phá hủy không đảo ngược của những tế bào bị nhiễm siêu vi trùng. Nhưng không phải là tất cả : các virus này cũng đã được nhận thấy nơi 40% các bệnh nhân đái đường loại 2. Nếu những dấu hiệu này được xác nhận, việc nhận diện các entérovirus gây bệnh trong số 100 loại hiện có sẽ cho phép nghĩ đến một vaccin khả dĩ làm giảm tần số mắc phải những chứng bệnh này.
(SCIENCE ET VIE 5/2009)

10/ TRẺ CON CÓ LÝ : ĂN BẨN CÓ THỂ TỐT CHO SỨC KHOẺ.

Hãy hỏi các bà mẹ tại sao các em bé thường nhặt các đồ vật lên từ sàn nhà hay mặt đất và bỏ chúng vào miệng, và xác suất là các bà mẹ này sẽ nói rằng đó là do bản năng, rằng đó là cách thức các trẻ con thăm dò thế giới. Nhưng tại sao lại là miệng, trong khi thị giác, thính giác, xúc giác và ngay cả khướu giác còn tốt hơn nhiều để nhận diện các đồ vật ?

Vì lẽ các hành vi bản năng có một ưu điểm tiến hóa, nếu không, chúng đã không được giữ lại trong hàng triệu năm, do đó điều này cũng có thể đã giúp chúng ta tồn tại với tư cách là một loài. Thật vậy, bằng chứng tích lũy rất gợi ý rằng ăn bẩn là tốt cho các bạn.

Trong những nghiên cứu của điều được gọi là giả thuyết vệ sinh (hygiene hypothesis), các nhà nghiên cứu kết luận rằng những sinh vật, như hàng triệu vi khuẩn, virus và đặc biệt là các ký sinh trùng, vào cơ thể cùng với “ đồ bẩn ”, kích thích sự phát triển của một hệ miễn dịch lành mạnh.Vài công trình nghiên cứu đang tiếp tục được thực hiện, gợi ý rằng các ký sinh trùng có thể giúp tái chỉ đạo một hệ miễn dịch đã bị hỏng và đưa đến những rối loạn tự miễn dịch, các dị ứng và hen phế quản. Những công trình nghiên cứu này, cùng với những quan sát dịch tễ học, dường như giải thích tại sao các rối loạn miễn dịch như bệnh xơ cứng rải rác (multiple slerosis), bệnh đái đường loại I, bệnh viêm ruột (inflammatory disorder), hen phế quản và các dị ứng đã gia tăng đáng kể ở Hoa Ky và các nước phát triển khác.

“ Những gì mà một đứa trẻ đang làm khi nó đưa các đồ vật vào trong miệng là cho phép đáp ứng miễn dịch của nó thăm dò môi trường xung quanh nó,” Mary Ruebush, nhà vi trùng và miễn dịch học đã viết như vậy trong cuốn sách mới xuất bản của bà “ Why Dirt is Good ”. Không những điều này cho phép “ thực hành ” các đáp ứng miễn dịch sẽ cần thiết cho sự bảo vệ cơ thể, mà nó còn đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy cho đáp ứng miễn dịch chưa trưởng thành những gì là tốt nhất đừng lưu ý đến.”

Một nhà nghiên cứu chủ đạo, BS Joel Weinstock, trưởng khoa Gastroenterology và Hepatology ở Tufts Medical Center, Boston, đã nói trong một cuộc phỏng vấn rằng, hệ miễn dịch lúc mới sinh ra đời “ cũng như một computer chưa được chương trình hóa. Nó cần được huấn luyện.

Ông nói rằng, những biện pháp y tế cộng đồng như làm sạch thức ăn và nước uống bị ô nhiễm, đã cứu mạng vô số trẻ em, nhưng chúng “ cũng loại bỏ sự tiếp xúc với nhiều vi sinh vật, có thể có lợi cho chúng ta ”.

“ Các trẻ em được nuôi lớn trong một môi trường cực kỳ sạch sẽ ”, ông nói thêm như vậy, “ không được tiếp xúc vối các vi sinh vật sẽ giúp chúng phát triển những vòng điều hòa miễn dịch (immune regulatory circuits) thích hợp.”

Những công trình nghiên cứu mà ông đã tiến hành với BS David Elliot, một thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa và miễn dịch của Đại học Iowa, chỉ cho thấy rằng những ký sinh trùng ruột, đã hầu như được loại bỏ trong những nước phát triển, “ có thể là tác nhân lớn nhất trong việc điều hòa hệ miễn dịch để đáp ứng một cách thích đáng, Elliot đã nói như vậy trong một bài phỏng vấn. Ông nói thêm rằng những nhiễm trùng do vi khuẩn và virus dường như ảnh hưởng lên hệ miễn dịch cùng một cách như vậy, nhưng không mạnh mẽ như trong trường hợp ký sinh trùng.

Nhiều ký sinh trùng là vô hại, đặc biệt là nơi những người có dinh dưỡng tốt, Weinstock đã nói như vậy. Có rất ít bệnh mà người ta mắc phải do ký sinh trùng,” ông đã nói như vậy. “ Con người đã thích nghi với sự hiện diện của hầu hết các con sâu này.”

Trong những công trình nghiên cứu trên chuột, Weinstock và Elliot đã dùng các ký sinh trùng để ngăn ngừa hay chữa bệnh tự miễn dịch (autoimmune disease). Elliot nói rằng ở Argentina, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng những bệnh nhân bị xơ cứng rải rác (multiple slerosis), khi bị nhiễm trùng bởi trùng roi người (human whipworm), đã có những trường hợp bệnh nhẹ hơn và ít những cơn bộc phát bệnh hơn trong một thời gian 4 năm rưỡi. Ở Đại Học Wisconsin, Madison, một thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đang trắc nghiệm để xem các con trùng roi heo (pig whipworm) có thể làm dịu bớt những triệu chứng của xơ cứng rải rác hay không.

Ở Gambia, nơi một vài ngôi làng, việc loại bỏ các con ký sinh trùng đã khiến cho các trẻ em có những phản ứng da đối với các dị nguyên gia tăng, Eliot đã nói như vậy.

Và những con trùng roi heo, cư ngụ một thời gian ngắn ngủi trong ruột người, đã có “ tác dụng tốt ” trong điều trị những bệnh viêm ruột (inflammatory bowel diseases), bệnh Crohn và viêm loét đại tràng (ulcerative colitis), ông đã nói như vậy.

Các con ký sinh trùng có thể ảnh hưởng hệ lên miễn dịch như thế nào ? Elliot giải thích rằng ngày nay sự điều hòa miễn dịch được biết là phức tạp hơn những gì mà các nhà khoa học đã nghĩ, khi lý thuyết vệ sinh lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1989 bởi một nhà dịch tễ học người Anh, BS David Strachan. Strachan đã ghi nhận một sự liên kết giữa những gia đình đông con và sự giảm tỷ lệ hen phế quản và dị ứng. Các nhà miễn dịch học bây giờ công nhận một hệ thống đáp ứng gồm 4 tế bào helper T : đó là những tế bào Th 1, Th 2, Th 17 và những tế bào T điều hòa (regulatory T cells).

“ Nhiều bệnh viêm (xơ cứng rải rác, bệnh Crohn, viêm loét đại tràng và hen phế quản) là do hoạt động của Th 17 ”, ông đã giải thích như vậy. “ Nếu anh gây nhiễm chuột với các ký sinh trùng, thì những tế bào Th 17 giảm rất nhiều, và hoạt động của các tế bào T điều hòa tăng cao.”

Trả lời câu hỏi “ Chúng ta có quá sạch lắm không, Elliot nói : Sự bẩn thỉu có một cái giá. Nhưng sự sạch sẽ cũng có cái giá. Chúng tôi không đề nghị trở lại môi trường đầy vi trùng của những năm 1850. Nhưng nếu chúng ta hiểu một cách thích hợp các vi khuẩn trong môi trường bảo vệ chúng ta như thế nào, có lẽ chúng ta có thể tạo một thuốc chủng hay bắt chước tác dụng của chúng bằng một kích thích vô hại nào đó.”

Ruebush, tác giả của “ Tại sao bẩn là tốt ”, cũng không gợi ý trở về lối sống bẩn. Nhung bà chỉ rõ một cách đúng đắn rằng vi khuẩn có mặt khắp nơi : trên chúng ta, trong chúng ta và quanh khắp chúng ta. Hầu hết những vi khuẩn này không tạo nên vấn đề, và nhiều vi khuẩn, như những vi khuẩn bình thường sống trong đường tiêu hóa và sản xuất những chất dinh dưỡng duy trì đời sống, là thiết yếu để có sức khoẻ tốt. “ Một con người tiêu biểu có lẽ chứa khoảng 90 ngàn tỷ vi trùng.” bà đã viết trong tác phẩm của bà như vậy. Chính sự việc anh có quá nhiều vi khuẩn thuộc nhiều loại khác như thế là những gì khiến cho anh luôn luôn được khỏe mạnh.”

Ruebush phàn nàn thái độ tôn sùng hiện nay đối với hàng trăm các kháng sinh, mặc dầu mang lại một cảm giác an toàn giả tạo nhưng thật ra có thể duy trì sự phát triển của những vi khuẩn sinh bệnh, đề kháng với kháng sinh. Xà phòng đơn thuần và nước là tất cả những gì cần thiết để trở nên sạch, bà đã ghi nhận như vậy. Khi không có nước máy và cần phải làm sạch bàn tay, bà gợi ý dùng thuốc sát trùng bằng cồn.

Weinstock lại còn đi xa hơn. “ Các đứa trẻ nên được cho phép đi chân trần trong đất, chơi trong đất, và không rửa tay khi chúng đi ăn ”, ông đã nói như vậy. Ông và Elliot đã chỉ rõ rằng những trẻ em lớn lên trong nông trại và thường tiếp xúc với các ký sinh trùng và những vi trùng khác từ những động vật nông trại, ít có khả năng phát triển dị ứng và những bệnh tự miễn dịch hơn.

Cũng là hữu ích, ông nói như vậy, “ khi để cho con trẻ có hai con chó và một con mèo, điều này sẽ làm cho chúng được tiếp xúc với ký sinh trùng ruột, như thế có thể phát triển một hệ miễn dịch lành mạnh.
( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 29/1/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (22/5/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#4 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:45:19 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128

Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ “ TRONG TRƯỜNG HỢP ĐẠI DỊCH TOÀN CẦU, CÓ PHƯƠNG TIỆN KHÔNG THÔI VẪN KHÔNG ĐỦ ”.

Đối với G.S Jean-Philippe Derenne, nước Pháp đã khá được trang bị để đương đầu với một cuộc khủng hoảng y tế quy mô lớn. Nhưng người ta vẫn chưa biết những hậu quả xã hội của một biến cố như thế.
Trưởng khoa phổi và hồi sức của bệnh viện La Pitié-Salpêtrière, Jean-Philippe Derenne ngày nay là thầy thuốc tham vấn của bệnh viện này.

Hỏi : Vào năm 2005, khi ông cùng với François Bricaire, xuất bản “ Pandémie, la grande menace ” (Đại dịch, mối đe dọa lớn) (Fayard), ông đã khá gây lo sợ về chủ đề cúm gia cầm. Ông có vẫn như vậy hay không với cúm A (H1N1)?
G.S Jean-Philippe Derenne : Chúng tôi đã không gây lo sợ, 90% các chuyên gia virus chuyên về bệnh cúm đều đã nói rằng virus A (H5N1) sẽ biến dị. Khi đó chúng tôi là các trưởng khoa của một trong hai bệnh viện Paris, phải chịu làn sóng đầu tiên những bệnh nhân trong trường hợp đại dịch. Trách nhiệm của chúng tôi là có thể điều trị các bệnh nhân và bảo vệ các nhân viên điều dưỡng. Nếu hôm nay chúng ta có được các phương tiện để chống lại cúm A (H1N1), đó chính là nhờ sự huy động này. Nhiều người đã rất là tích cực : Xavier Bertrand, khi đó là Bộ trưởng y tế, Jacques Chirac, khi đó là tổng thống của nước cọng hòa. Chính sách này đã được kế tục bởi tổng giám đốc y tế hiện nay, Didier Houssin. Trận dịch cúm A (H1N1) hiện nay dường như ít nghiêm trọng hơn điều mà chúng ta đã có thể e sợ trong trường hợp biến dị của virus A (H5N1).

Hỏi : Thế thì tại sao trận dịch lại làm sợ hãi đến thế ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Trước hết là bởi vì lứa tuổi bị bệnh : 60% các bệnh nhân ở tuổi 18 hoặc ít hơn. Điều này giống với trường hợp cúm Tây Ban Nha đã giết chết 70 triệu người giữa năm 1918 và 1920. Mặt khác, những công bố đầu tiên chỉ rõ rằng, ở Hoa Kỳ, 5% các bệnh nhân đã phải bị nhập viện. Nếu như thế, trong trường hợp đại dịch, ta phải e sợ rằng các bệnh viện sẽ bị tràn ngập. Sau cùng,
Margaret Chan, nữ giám đốc OMS, vừa bày tỏ các lo sợ về một sự tương tác khả dĩ giữa virus A (H1N1) biến dị và vius A (H5N1).

Hỏi : Người ta sợ điều gì với loại cúm A này ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Nói chung, cúm giết người là do các biến chứng hô hấp, các viêm phổi do virus và nhất là những viêm phổi do vi khuẩn bội nhiễm. Các nước phương tây có nguy cơ thấy các cơ sở điều trị gặp khó khăn. Trong các nước nghèo, nơi các cơ sở điều trị thường trong tình trạng bấp bênh, phải sợ rằng có nhiều bệnh nhân tử vong mà những bệnh nhân này nếu được điều trị có thể được cứu sống. Chúng ta không thể chấp nhận điều đó. Chính trách nhiệm của nước Pháp, một trong những nước được chuẩn bị tốt nhất, là phải thuyết phục các nước khác của Liên Hiệp Châu Âu về một sự hợp tác thật sự và một sự giúp đỡ hậu cần có hiệu quả dành cho các nước ít được chuẩn bị nhất.

Hỏi : Tamiflu có hiệu quả chống lại cúm A (mà bây giờ ta không còn gọi là cúm heo nữa).
G.S Jean-Philippe Derenne : Virus mới A (H1N1) nhạy cảm với Tamiflu và với Relenza, trong khi ở Hoa Kỳ virus cúm mùa A (H1N1) đã trở nên đề kháng với chúng.

Cúm này không phải là cúm heo bởi vì nó không phải là một bệnh cúm của heo được truyền bởi heo. Virus mới A (H1N1) là một bệnh cúm của người được truyền bởi người. Có lẽ virus đã được kết hợp nơi heo, bởi vì dường như nó liên kết với sự tái phối hợp của hai virus heo vốn lưu hành trước đây.

Một virus là một sinh vật không thể tự sinh sản. Do đó nó phải đi vào trong một tế bào. Phần lớn các virus có một enzyme có nhiệm vụ sao chép lại cấu trúc của những thành phần khác nhau của chúng và như tất cả các người sao chép, enzyme này cũng phạm những lỗi lầm. Ngoài ra chúng có một enzyme đọc lại (enzyme de relecture), nhằm sửa chữa những sai sót vừa nói đến. Trong virus cúm, enzyme có nhiệm vụ đọc lại này bị thải hồi. Do đó virus thay đổi thường trực. Nhưng ngoài ra, khi hai virus cùng hiện diện, có thể có sự tái phối hợp (recombinaison) của một virus mới, lấy một phần bộ gène của virus thứ nhất và một phần của virus thứ hai. Chính như thế mà virus A (H1N1) dường như xuất phát từ năm nguồn gốc khác nhau.

Hỏi : Vào lúc này, ở Pháp, việc tiến hành dự trữ Tamiflu như người Mỹ đang làm, có ích lợi hay không ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Ở Hoa Kỳ, cấu trúc tổ chức y tế khiến cho điều này có thể không vô ích. Ở Pháp, nếu thêm vào Relenza, chúng ta sẽ có 33 triệu liều điều trị. Tuy nhiên, có các phương tiện không thôi không đủ. Cần hành động rất nhanh trong trường hợp đại dịch cúm. Tôi nghĩ chính để buộc các quốc gia xem trọng mối đe dọa đại dịch mà OMS đã chuyển qua mức 5.

Hỏi : Nhưng như thế người ta không làm đúng nguyên tắc thận trọng hay sao ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Tôi không thích nguyên tắc thận trọng, dẫn đến ý niệm nguy cơ zéro. Tôi thích nguyên tắc lợi ích so với nguy cơ hơn. Trong trường hợp này, đó không phải là nguyên tắc thận trọng. Câu hỏi là : chúng ta đã được trang bị để chống lại một đại dịch, mà bản chất đó là một cuộc tấn công trực tiếp chống lại một xã hội ? Ngoài ra, sự lây nhiễm cúm được thực hiện qua những giọt nhỏ, được phát ra lúc ho và lúc hách xì : người bị cúm nguy hiểm cho những người ở gần anh ta. Lịch sử của các đại dịch luôn luôn cho thấy những hiện tượng tan vỡ trong gia đình, trong những nhóm xã hội và, sau khi tai ương đã qua, còn lại những câu chuyện tội lỗi là đã không săn sóc người thân, là đã làm lây nhiễm họ ,…

Không ai đã chuẩn bị để đối phó với cúm Tây Ban Nha, những đại dịch đã đến với Tây Phuơng ngay sau chiến tranh 1914-1918. Cúm Tây Ban Nha đã gây bệnh cho các người trẻ tuổi, trong đó có các quân nhân, và những người chết vì cúm như thể lại được thêm vào trong những tổn thất chiến tranh. Ngoài ra, lúc đó phần lớn dân chúng trên thế giới sống ở vùng nông thôn. Do đó, những tiếp xúc ít mật thiết như ngày nay trong các thủ phủ, là nơi, đặc biệt trong những nước nghèo, dân chúng sống dính kết với nhau. Sau cùng, ngoài những nước phương tây, không ai biết điều gì đã xảy ra trong nước ở cạnh bên. Ngày nay chúng ta có một trình độ thông tin đi trước hẳn trình độ y tế, và mọi người đều biết rằng những người giàu đã cố ý để chết hàng triệu người nghèo.

Hỏi : Vài người nói rằng sự ồn ào được tạo nên chung quanh dịch cúm A là một cách để làm cho dân chúng lãng quên nỗi lo sợ về cuộc khủng hoảng kinh tế hiện đang diễn ra ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Cái vĩ đại của chế độ dân chủ là ở chỗ mọi người đều có quyền nói ra những điều ngu xuẩn. Ông hẳn nhớ cái thời kỳ người ta đã nói rằng sida chỉ là một mối đe dọa được giương ra để nhằm chống lại những người đồng tính luyến ái, nhân danh trật tự đạo đức.

Hỏi : Khuyên dân Pháp đừng đi Mễ tây Cơ và Hoa Kỳ phải chăng là thích đáng, trong khi đã có 30 nước bị lây nhiễm ?
G.S Jean-Philippe Derenne : 3 nước thật sự bị lây nhiễm, Mễ tây Cơ, Hoa Kỳ và Canada. Ổ bệnh Hoa Kỳ rất là quan trọng, bởi vì chỉ có 18% những người bệnh là đã trở về từ Mễ Tây Cơ. Tất cả các tiểu bang Hoa Ky đều bị lây nhiễm, ổ bệnh lớn nhất là trong Illinois, rất xa Mễ Tây Cơ.

Hỏi : Người ta sẽ hiệu chính một vaccin chứ ?
G.S Jean-Philippe Derenne : OMS đã loan báo hôm 18/5 rằng kể từ tháng chín, 4,9 tỷ liều đơn vị vaccin chống virus A (H1N1) có thể được chế tạo trong 12 tháng. Vậy khoảng 400 triệu liều mỗi tháng, và phải đợi thêm 3 tuần để có được một miễn dịch tốt. Giả sử rằng công nghiệp dược phẩm có khả năng sản xuất với năng suất tối đa ngay từ tháng chín, như thế sau đó sẽ phải còn lựa chọn những nhóm dân nào cần được tiêm chủng đầu tiên.

Hỏi : Ông có nghĩ rằng người Pháp ngay từ bây giờ phải có những chuẩn bị đặc biệt, ví dụ mang mặt nạ ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Không, nếu không hãy theo những lời khuyên thông thường, như rửa tay, v..v…. Nếu các phương tiện cần phải thiết đặt, thì phải suy nghĩ điều đó một cách tập thể, chứ đừng rơi vào tình trạng mọi người vì mình như ở Hoa Kỳ.

Các mặt nạ, ít nhất là những mặt nạ ngoại khoa đang được sử dụng bởi dân Mễ, chỉ hữu ích để tránh không cho bệnh nhân truyền bệnh, khi họ ho hay hách xì. Các mặt nạ không dùng cho những người lành mạnh để tránh bệnh. Chỉ có những mặt nạ FFP2 hay FFP3 là hữu ích, nhưng khó chịu đựng được và chỉ hiệu quả trong 4 giờ.

Nhất là không nên mua Tamiflu trên Internet : các thuốc giả đầy dẫy, và những thuốc không đủ liều làm bệnh nhân đề kháng với virus. Ngoài ra không nên mua bất cứ thuốc nào trên internet.
(LE MONDE 23/5/2009)

2/ AI SẼ ƯU TIÊN ĐƯỢC TIÊM CHỦNG CHỐNG CÚM MEXICO ?

G.S Yves Van Laethem là chuyên gia về các bệnh truyền nhiễm của bệnh viện Saint-Pierre, Bruxelles.

Hỏi : Trong khi vaccin cúm mùa (vaccin saisonnier) (chứa 3 giống gốc đã được chọn lọc từ nhiều tuần nay), hiện đang được sản xuất để có sẵn sử dụng vào mùa thu đến, ta có thể thêm vào vaccin này giống gốc mexico hay không ?
G.S Yves Van Laethem : Đúng là khó có thể được. Bởi vì các hãng bào chế hiện đã tiến rất xa trong việc chế tạo vaccin cúm mùa và rằng OMS đang sửa soạn gởi đến các hãng bào chế khác nhau, chủng virus mới vừa được phân lập. Các hãng sẽ có một chủng được làm thanh khiết trong khoảng 10 ngày nữa. Vậy ngoài vaccin cúm mùa, sẽ cần phải chế tạo một vaccin đặc hiệu (chống cúm mexico) để chủng.

Hỏi : Sẽ cần phải tiêm bao nhiêu mũi ?
G.S Yves Van Laethem : Khó có thể trả lời được : không ai đã có thể trắc nghiệm cũng như cấy loại virus mới này của cúm. Có lẽ cần đến hai mũi tiêm, như thường là như vậy trong trường hợp của một kháng nguyên mới. Người ta cũng chẳng biết là “ nó có mọc tốt ” hay không, đôi khi chúng ta có những bất ngờ.

Hỏi : Khi nào thì chủng ?
G.S Yves Van Laethem Nếu một làn sóng dịch bệnh thứ hai xảy đến, điều này rất là khả dĩ, vì lẽ đó là điều gần như đã xảy ra trong lịch sử của các virus, thì sẽ phải tiêm chủng những bệnh nhân trước khi làn sóng dịch có thể đến giữa tháng 10 và tháng 11, hoặc sớm hơn đợt tiêm chủng thường lệ được thực hiện hàng năm vào tháng 11, để được chuẩn bị cho tháng giêng và tháng hai. Vậy phải tiêm chủng vaccin mexico hai tháng sớm hơn.

Hỏi : Sẽ có khả năng sản xuất đủ hay không, nhất là đối với trứng gà, luôn luôn cần thiết trong quá trình sản xuất vaccin ?
G.S Yves Van Laethem : Chỉ có những hãng bào chế mới có thể trả lời câu hỏi này. Lý tưởng là họ có thể sản xuất xong vaccin cúm mùa sớm hơn, vào cuối tháng 6, và rằng họ có thể bắt đầu sản xuất ngay vaccin đặc hiệu này. Tuy nhiên đừng có mang ảo tưởng : hàng trăm triệu liều vaccin sẽ được sản xuất, sẽ dành ưu tiên cho những ai sẽ gởi đơn đặt hàng và sẽ thanh toán tiền, nghĩa là các nước phát triển.

Hỏi : Vì virus này tấn công những người trẻ tuổi có sức khoẻ tốt, đó là điều không phải bình thường, vậy có phải ưu tiên dành vaccin cho những đối tượng này ?
G.S Yves Van Laethem : Sẽ đúng là hữu ích khi dành vaccin cho những bệnh nhân từ 35 đến 50 tuổi, những người theo lệ thường không chết vì bệnh cúm. Nhưng những người có tình trạng miễn dịch bị suy giảm, với một bệnh mãn tính hay lớn tuổi hơn, là những nhóm ưu tiên theo lệ thường, cũng sẽ bị tiếp xúc với virus không thua kém gì. Nếu không có đủ vaccin, công việc trọng tài về mặt đạo đức sẽ là khó khăn.
( LE SOIR 5/5/2009)

3/ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT : RỐI LOẠN NỔI KẾT GIỮA CÁC NEURONE ?

Các kết quả của nhiều công trình nghiên cứu (có tính chất cơ thể học, di truyền học và chức năng) chứng minh rằng bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh trong đó những nối kết liên não (connexions intercérébrales) bị thương tổn. Hậu quả là những loạn năng trong sự trao đổi thông tin của những vùng khác nhau của não bộ, những khiếm khuyết trong việc phát tín hiệu giữa các neurone và sự thiếu đồng bộ trong hoạt động của chúng. Điều này giải thích triệu chứng ảo giác (hallucination) và những triệu chứng khác.
(PARIS MATCH 20/5-27/5/2009)

4/ CHỨNG LÃO THỊ CÓ THỂ ĐƯỢC PHẪU THUẬT MÀ KHÔNG GÂY BIẾN CHỨNG ?

OPHTALMOLOGIE. Một thầy thuốc người Pháp loan báo đã hiệu chính một kỹ thuật mới “ cực kỳ nhanh ”. Nhưng ngoại khoa của chứng rối loạn thị giác này vẫn chưa chứng minh được khả năng điều trị.

Vào lứa tuổi 50, khi chúng ta bị lão thị (presbythie), cái khuyết tật điều tiết làm cho chúng ta thấy mờ khi nhìn gần, chúng ta có nên giao phó đôi mắt mình cho con dao của các thầy thuốc ngoại khoa ? Câu hỏi cần những câu trả lời đáng tin cậy khi chúng ta biết rằng 80% đàn ông và phụ nữ hơn 45 tuổi bị liên quan bởi vấn đề này. Ngoài ra, chứng lão thị được thêm vào những khuyết tật đã có từ trước (cận thị, viễn thị, loạn thị), đòi hỏi những phương thức điều trị rất khác nhau !

Nhân hội nghị của Hiệp hội Nhãn khoa Pháp, đã kết thúc hôm qua ở Paris, một chuyên gia người Pháp, BS Alain Telandro, đã loan báo ầm ĩ là đã hiệu chính được một kỹ thuật ngoại khoa mới bằng laser “ cực nhanh, giác mạc được để nguyên vẹn ”. 4 bệnh nhân người Pháp đã được mổ ở Cannes tuần vừa qua, theo kỹ thuật “ đang được nghiên cứu ở Colombie từ hai năm nay ” này.

HAC (Haute autorité de santé) đã giải thích rằng, về loại giải phẫu này,“ ngoài một công trình nghiên cứu cũ về trị liệu điều chỉnh các rối loạn chiết quang bằng laser Excimer ”, cho đến nay, vẫn không có một hội nghị nhất trí nào, cũng như không có một khuyến nghị nào nhằm đả thông các thầy thuốc và các bệnh nhân của họ về các hạn chế, các chống chỉ định, các ưu điểm hay những biến chứng của phẫu thuật.

Mặc dầu như thế, yêu cầu được phẫu thuật vẫn không suy giảm : “ Điều trị lão thị được toàn thể nghề y mong muốn ”, một thầy thuốc nhãn khoa Paris đã thú nhận như vậy.

CON MẮT CŨNG NHƯ MỘT CAMERA.

Để hiểu rõ rối loạn chiết quang này, phải tưởng tượng con mắt như là một camera có một hệ thống các vật kính (buồng trước, giác mạc, thủy tinh thể), một buồng đen và một phim nhạy cảm, võng mạc. Để tạo nên một hình ảnh rõ ràng trên võng mac, thủy tinh thể, nơi các tia sáng đi xuyên qua, được phát ra và được phản chiếu bởi các vật kính, khum lên nhờ các cơ bám vào nó và tạo nên hình ảnh rõ nét trên võng mạc. Nói chung chính thủy tinh thể này, do một sự lão hóa bình thường của mắt, cứng lại và dày lên khi lớn tuổi. Thường thường, người bị như thế khó điều tiết đầy đủ để đọc gần.

Những giải pháp cổ điển vẫn luôn luôn được sử dụng : các kính có độ tăng dần khôi phục lại toàn bộ thị trường ; các lentille mềm hay dễ uốn nhiều tiêu điểm (multifocal), được sử dụng để nhìn một mắt, nhìn luân phiên, hay đồng thời, đã mang lại nhiều thành công : hon 30 mẫu lentille dành cho những người lão thị đang được bán trên thị trường Pháp.

Ngoại khoa cũng đã xuất hiện. Đó chủ yếu là một ngoại khoa không xâm nhập bằng laser. Dẫu dùng laser Excimer hay Lasik (các năng lượng được phát ra khác nhau), các phẫu thuật, đến nay, nhằm tạo lại hình dáng giác mạc nhờ tạo nên nhiều vùng cắt bỏ. “ Theo chỗ tôi biết, không có một công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh nào đã chứng minh tính hiệu quả được so sánh của phẫu thuật này ” , BS Eric Gabison (thầy thuốc tham vấn của Cơ quan Rorhschild, Paris) đã công nhận như thế.

“ MỘT NGOẠI KHOA TIỆN NGHI ”

Các bệnh nhân bị đục thủy tinh thể (cataracte) kết hợp với lão thị có thể hưởng phẫu thuật thay thủy tinh thể bị lão hóa bằng một implant mềm nhiều tiêu cự, cho phép nhìn xa và gần như với các kính đeo có độ tăng dần.

G.S José-Alain Sahel, chủ tịch của Viện thị giác, cho rằng “ đến nay, đó là một ngoại khoa tiện nghi (chirurgie de confort), chưa được chấp nhận và nhất là không có gì là cần thiết. Đôi khi, nhân một cuộc phẫu thuật trị bệnh đục thủy tinh thể, các phẫu thuật viên lợi dụng để lấy bỏ thủy tinh thể. Nhưng việc mổ những người lão thị ở lứa tuổi 50 đối với tôi dường như không thích đáng. Chúng ta biết rằng 1/3 những người lớn tuổi sẽ bị chứng thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Sự tương tác giữa ngoại khoa lão thị và bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác có thể tạo ra các vấn đề ”.
(LE FIGARO 12/5/2009)

5/ LÀM VIỆC VỀ ĐÊM CÓ HẠI CHO PHỤ NỮ.

Sau khi công bố một bài báo cáo của Trung tâm nghiên cứu quốc tế về ung thư, chỉ rõ rằng sự làm việc về đêm không phải tạm thời, về lâu về dài có thể là một nguyên nhân của ung thư vú. 40 phụ nữ Đan Mạch đã nhận một số tiền bồi thường. Lý do giải thích : những phụ nữ lao động về đêm, sản xuất ít mélatonine (hormone được sản xuất ban đêm) hơn những phụ nữ khác, điều này làm gia tăng nơi họ lượng oestrogène lưu thông trong máu. Thế mà, những hormone này lúc quá thặng dư, làm dễ sự tăng trưởng của các ung thư vú.
( PARIS MATCH 30/4-6/5/2009)

6/ NGĂN NGỪA CÁC TAI BIẾN TIM MẠCH : HƯỚNG VỀ MỘT VIÊN THUỐC DUY NHẤT ?

G.S Nicolas Danchin, trưởng khoa ở bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, bình luận một công trình nghiên cứu mới được thực hiện với“ polypill ” chứa 5 loại thuốc.

Hỏi : Thường thường những ai có nguy cơ bị những tai biến tim-mạch ?
G.S Nicolas Danchin : Thật vậy, có nhiều yếu tố làm dễ, mà sự phối hợp sẽ làm gia tăng nguy cơ một cách đáng kể. Đó là tuổi tác (trên 40 tuổi), thặng dư cholestérol, cao huyết áp, nghiện thuốc lá, bệnh đái đường, di truyền, chứng béo phì bụng, cũng như tình trạng nhàn rổi không hoạt động, stress tâm lý. Ở Pháp, người ta kiểm kê gần 100.000 trường hợp nhồi máu cơ tim mỗi năm và cùng một số lượng như thế đối với tai biến mạch máu não.

Hỏi : Hiện nay người ta làm sao để ngăn ngừa các tai biến tim-mạch này ?
G.S Nicolas Danchin : Phương thức thứ nhất là tìm những yếu tố nguy cơ đe dọa...Điều đó đôi khi khó, bởi vì vài yếu tố không gây nên một triệu chứng nào. Do đó sự cần thiết phải làm xét nghiệm máu kể từ tuổi 40, để đo nồng độ cholestérol và đường (glucose-huyết), và sự hữu ích cần đo huyết áp mỗi lần thăm khám. Khi các kết quả bình thường, những xét nghiệm này cần phải được lập lại mỗi 3 hay 5 năm, cho đến năm 60 tuổi, và sau đó cứ mỗi năm một lần.

Hỏi : Trong trường hợp nào thì cần điều trị phòng ngừa ?
G.S Nicolas Danchin : Khi một yếu tố nguy cơ được phát hiện, như tăng cholestérol-huyết hay bệnh đái đường, mà một điều trị duy nhất thường là đủ(như statine để làm hạ cholestérol). Đối với cao huyết áp, ta thường cần phải phối hợp nhiều loại thuốc nhằm làm giảm huyết áp. Khi nhiều yếu tố nguy cơ liên kết với nhau, ta thường kê đơn 3 hay 4 loại thuốc khác nhau và đôi khi hơn thế. Việc uống nhiều thứ thuốc như vậy có thể tạo nên một sự bó buộc làm phương hại đến sự tuân thủ điều trị.

Hỏi : Với những phương pháp phòng ngừa này, những kết quả có được là gì ?
G.S Nicolas Dachin : Trong 25 năm, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch đã giảm 50% ! Thành quả thu được này một nửa là do sự phòng ngừa và nửa kia là nhờ những tiến bộ được thực hiện trong điều trị, lúc bị nhồi máu hay sau đó.

Hỏi : Công trình nghiên cứu Ân Độ, trong đó điều trị phòng ngứa những tai biến tim-mạch với một viên thuốc duy nhất, được thực hiện như thế nào ?
G.S Nicolas Dachin : G.S Salim Yusuf đã tiến hành công trình nghiên cứu này trên khoảng 2000 người tuổi từ 45 đến 80, tất cả không bị bệnh nhưng mang một trong những yếu tố nguy cơ. Trong 3 tháng, tất cả đã uống mỗi ngày một viên polypill (chứa aspirine, một chất kháng cholestérol và 3 loại thuốc chống cao huyết áp), hoặc một thứ thuốc duy nhất, hoặc một phối hợp của vài trong những thứ thuốc họp thành polypill.

Hỏi : Những kết quả thu được là gì ?
G.S Nicolas Dachin : Hiệu quả đã tỏ ra tốt : viên thuốc polypill này đã cho phép làm hạ cholestérol gần giống như với một statine dùng đơn độc, cho phép làm giảm huyết áp còn hơn một thuốc chống cao áp cổ điển và làm gia tăng độ lỏng (fluidité) của máu giống như với một aspirine dùng đơn độc. Trên bình diện dung nạp thuốc, hơn 8 bệnh nhân trên 10 đã không có một tác dụng phụ nào.

Hỏi : Theo ý kiến ông, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ có thể hưởng viên thuốc polypill này ?
G.S Nicolas Dachin : Lợi ích đầu tiên của công trình nghiên cứu này là đã chứng minh rằng người ta có thể đơn giản hóa một điều trị để cải thiện sự tuân thủ nó. Mặt khác, đó là một kỳ công kỹ thuật học vì đã thành công hiệu chính một viên thuốc chứa 5 thứ thuốc ! Những thách thức thật sự sẽ được diễn ra trong công trình nghiên cứu sắp đến, với thời gian thực hiện dài hơn nhiều, khi đó nguoi ta sẽ có thể kiểm chứng rằng polypill thật sự làm giảm nguy cơ tim mạch mà không gây nên các biến chứng. Một mục đích khác, xa vời hơn, của công trình nghiên cứu này, là cho toàn thể dân chúng khả năng làm giảm một nửa nguy cơ, chỉ với một viên thuốc mà thôi.
( PARIS MATCH 7/5-13/5/2009)

7/ VITAMINE D CÓ MỘT TÁC ĐỘNG LÊN NGUY CƠ TIM MẠCH.

ENDOCRINOLOGE. Một công trình nghiên cứu của Anh phát hiện một mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine D và bệnh đái đường hay những bệnh tim mạch.

Vitamine D hiện nay là trọng tâm của nhiều nghiên cứu khoa học, và không chỉ về những tác dụng đã được biết từ lâu của nó lên mật độ xương (densité osseuse). Như là, những công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các thầy thuốc người Anh khiến nghĩ rằng một cung cấp bổ sung vitamine D có thể giúp những người lớn tuổi làm giảm nguy cơ phát triển những vấn đề tim hay đái đường của họ. Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời làm giảm những sự thiếu hụt vitamine D gây nên do tuổi tác hay do thay đổi lối sống. Vấn đề được đặt ra, đó là những người lớn tuổi hấp thụ vitamine D ít tốt hơn so với những người nhỏ tuổi hơn. Vitamine D được tổng hợp nhờ các tia nắng mặt trời, và những người lớn tuổi thì lại ít tiếp xúc hơn với ánh nắng.

Những công trình được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của đại học Anh Warwick, mà B.S Oscar Franco tiến hành, và được công bố tuần này trong Diabetes Care, kết luận rằng sự thiếu hụt vitamine D được liên kết, một cách đáng kể, với “ hội chứng chuyển hóa ” (syndrome métaboliqe). Hội chứng này là sự phối hợp của những rối loạn khác nhau (tăng cholestérol-huyết, chứng béo phì, bệnh đái đường), làm gia tăng nguy cơ phát triển những bệnh tim mạch.

NHỮNG LÝ LẼ VỮNG CHẮC.

Công trình nghiên cứu, được thực hiện trên 3.262 người tuổi từ 50 đến 70, tất cả đều thường trú ở Trung Quốc (Bắc Kinh và Thượng hải), đã phát hiện rằng những người có một nồng độ thấp vitamine D đã bị hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) nhiều hơn. “ Dường như sự thiếu hụt vitamine D là nguồn gốc của nhiều bệnh tật trên thế giới, đặc biệt là nơi các người già ”, Oscar Franco, tác giả của tài liệu được công bố, đã giải thích như thế. Trong công trình nghiên cứu này, cũng dường như rằng những nồng độ thấp vitamine D được liên kết một cách đáng kể với một sự đề kháng đối với insuline, nghĩa là một tình trạng tiền đái đường hay đái đường (état prédiabétique ou diabétique). “ Đó là một hướng nghiên cứu, nhưng những kết quả rất là sơ khởi, G.S Serge Hercberg, chuyên khoa về dinh dưỡng đã nhận xét như vậy, nhiều yếu tố, khác với những yếu tố được nghiên cứu trong tài liệu này, có thể can thiệp vào, như chế độ ăn uống,” Theo ông, dầu sao, cộng đồng khoa học ngày nay có những lý lẽ vững chắc để nói rằng vitamine D đóng một vai trò trong chuyển hóa. “ Công trình nghiên cứu này mở ra những hướng nghiên cứu mới về vitamine D ”, Serge Hercberg phát biểu như vậy.

“ Sự thiếu hụt vitamine D liên kết với bệnh đái đường loại 2, đã được biết từ lâu ”, G.S Philippe Chauveau, thầy thuốc khoa thận thuộc CHU de Bordeaux, về phần mình, đã đánh giá như vậy. “ Ở đây, điều đáng quan tâm, đó là số người được nghiên cứu. Ở Pháp, người ta thu được cùng các kết quả, nhưng với những công trình nghiên cứu quy mô nhỏ hơn.” GS Marc Bonnefoy, thầy thuốc chuyên về người già thuộc CHU de Lyon chia xẻ quan điểm này. Một công trình nghiên cứu mới đây, được thực hiện cho một luận án, cho thấy rằng trên 100 người già tuổi 80, 82% có một thiếu hụt vitamine D. “ Đó là một vấn đề quan trọng và việc cho bổ sung vitamine D một cách hệ thống là điều cần thiết, G.S Marc Bonnefoy đã nhận xét như vậy. Trái lại, từ đó xác lập một quan hệ nhân quả giữa sự thiếu hụt vitamine D cà các rối loạn chuyển hóa là hơi nhanh. Mặc dầu có một mối liên kết giữa hai hiện tượng, nhưng việc xác lập một mối liên hệ như thế đối với tôi dường như còn sớm ” Sẽ phải cần những thử nghiệm điều trị để xác nhận điều đó.

ĐƯỢC TỔNG HỢP DO DA.

Dầu thế nào đi nữa, vitamine D được các nhà nghiên cứu chú ý. “ Rõ ràng là có một mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine D và tỷ lệ tử vong ”, Marc Bonnefoy đã nhấn mạnh như vậy. Cái đặc điểm lớn của vitamine này, đó là nó được tổng hợp phần lớn bởi da dưới tác dụng của những tia nắng mặt trời. Các cung cấp dinh dưỡng chiếm dưới 1/3 nguồn vitamine D. Nồng độ lớn nhất hiện diện trong cá và dầu gan morue. Các công trình nghiên cứu mới đây cũng đã cho thấy rằng vitamine D có thể đóng một vai trò trong sự ngăn ngừa vài loại ung thư, như ung thư đại tràng. Một tài liệu được công bố trong Archives of Internal Medicine vào tháng ba, xác nhận rằng vitamine D, được cho với liều lượng cao, làm giảm một cách đáng kể nguy cơ gãy xương nơi các người già.
( LE FIGARO 13/5/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr60.htm (TSYH 60, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr43.htm (TSYH 43, bài số 1)

8/ CÁC TẾ BÀO GỐC : SỰ SẢN XUẤT VỚI SỐ LƯỢNG LỚN.

Các nhà nghiên cứu Canada đã thành công làm tăng sinh các tế bào gốc máu (cellules souches sanguines) trong phòng thí nghiệm. Một đầu tiên trên thế giới, có thể cho phép phát triển những điều trị mới và nhất làm dễ các ghép cơ quan (greffes d’organes).

Hàng ngàn người trên thế giới đang chờ đợi một cách hoài công một ghép tủy xương vì thiếu người cho thích hợp (donneur comptatible). Người ta biết rằng một ghép những tế bào gốc tủy xương (greffe de cellules souches de la moelle osseuse) có thể cho phép tái tạo lại tủy xương của người nhận, nhưng cái khó khăn chủ yếu vẫn là thu được một số lượng đầy đủ những tế bào thích hợp. Nhờ những nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu miễn dịch học và ung thư học của đại học Montréal, những bệnh nhân này, từ nay đến vài năm nữa, sẽ có thể có được một tủy xương mới mà không còn cần phải chờ đợi nữa.

Thật vậy, BS Guy Sauvageau và nhóm nghiên cứu đã chỉ rõ, trong một thông báo, rằng họ đã thành công sản xuất trong phòng thí nghiệm một số lượng lớn những tế bào gốc từ một lượng rất nhỏ những tế bào gốc máu (cellules souches sanguines) xuất phát từ tủy xương. “ Đó là một đầu tiên trên thế giới có thể có những ảnh hưởng quan trọng trong nhiều địa hạt và đó là một bước khổng lồ tiến về sự hiệu chính một trị liệu cho những bệnh nhân đang chờ đợi để được ghép tủy xương ”, các nhà nghiên cứu Canada đã tuyên bố như vậy.

TRÁNH PHẢN ỨNG THẢI BỎ.

Hiện nay những người được ghép buộc phải dùng thuốc để chống lại sự thải bỏ của cơ quan được ghép và phải chiu những tác dụng phụ vì thuốc này suốt cuộc đời. “ Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chuột chứng minh rằng những tế bào gốc của tủy xương có thể ngăn cản sự thải bỏ nhằm chống lại những cơ quan rắn ”, BS Sauvageau đã nhấn mạnh như vậy.

Phản ứng thải bỏ (rejet) xảy ra bởi vì những tế bào của hệ miễn dịch, được chế tạo bởi tủy xương, tấn công cơ quan được ghép (organe greffé) như thể đó là một kẻ xâm lăng. Làm sao tránh được điều đó ? Các nghiên cứu đã cho thấy rằng ghép những tế bào gốc sinh huyết (cellules souches hématopoiétiques) (những tế bào được lấy nơi một người cho cơ quan và được phát triển trong phòng thí nghiệm) sẽ cho phép tránh sự thải bỏ của cơ quan này. Do đó, tầm quan trọng có thể có những lượng lớn các tế bào gốc sinh huyết, như thế cho phép có khả năng liên kết những tế bào gốc tương hợp với cơ quan cần phải ghép.

10 PROTEINE ĐƯỢC LỰA CHỌN
Để sản xuất những lượng lớn những tế bào gốc được gọi là sinh huyết, nhóm nghiên cứu Canada đã nhận diện 10 protéine trong số 700 ứng viên. 10 protéine này, trong thiên nhiên, hiện diện bên trong những tế bào gốc sinh huyết. Các nhà nghiên cứu chỉ rõ rằng họ có thể dùng mội protéine trong số 10 protéine này để buộc các tế bào gốc sinh huyết tăng sinh trong phòng thí nghiệm.

“ Giai đoạn sắp đến nhằm kiểm tra xem điều đó cũng hoạt động nơi người hay không, nói một cách khác là chúng ta sẽ có thể thu được những lượng tế bào gốc cần thiết cho những kỹ thuật ghép này hay không ”, BS Sauvageau đã xác nhận thêm như thế. Các thử nghiệm sẽ diễn ra ở bệnh viện Maissonneuve-Rosemont ở Montréal, một trong những trung tâm lớn nhất, ở đó sự ghép các tế bào gốc được thực hiện. Các công trình của nhóm nghiên cứu của BS Sauvageau đã được tài trợ bởi Viện nghiên cứu sức khỏe của Canada và các kết quả được công bố trong Cell.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 12/5/2009)

9/ CÁC PHỤ NỮ PHẢI TRẢ GIÁ NHIỀU HƠN CHO MỘT TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

Thường thường nguoi ta liên kết tai biến mạch máu não với đàn ông nhiều hơn là với phụ nữ . Nhưng một khi một phụ nữ là nạn nhân của tai biến mạch máu não, thì những thương tổn nghiêm trọng hơn. Những nguyên nhân là phức tạp, theo một công trình nghiên cứu dịch tễ học.

Cho mãi đến một lứa tuổi cao, các tai biến mạch máu não thường xảy ra hơn nơi đàn ông. Nhưng sau tuổi 85, phần lớn các nạn nhân là phụ nữ. Mặt khác, mỗi năm, có nhiều phụ nữ chết vì hậu quả của một tai biến mạch máu não hơn đàn ông. Thí dụ, ở Hoa Kỳ, 61% các nạn nhân của một tai biến mạch máu não chết người là nữ giới. Nhìn toàn bộ, ở các phụ nữ, tai biến mạch máu não nghiêm trọng hơn (trước mắt và lâu dài) và có tiềm năng gây chết người hơn, và tỷ lệ tái phát trong 5 năm sau đột qụy đầu tiên là cao hơn. Ngoài ra, các phụ nữ này hiếm khi trở lại nhà hơn sau khi đã nhập viện, và sau đó thường được chuyển về một cơ quan điều dưỡng.

GÓA PHỤ CÔ ĐƠN.

Một phần của những quan sat bất lợi này có thể được quy cho tuổi tác : thường các phụ nữ cao tuổi hơn đàn ông vào lúc xảy ra tai biến mạch máu não. Nhưng những dị biệt này vẫn tồn tại một phần sau khi điều chỉnh đối với tuổi tác và đối với một số yếu tố nguy cơ nào đó, như bệnh tật cùng xảy ra và tình trạng chức năng, trước khi xảy ra tại biến mạch máu não. Sau tai biến mạch máu não, các phụ nữ thường trở nên trầm cảm hơn đàn ông, điều này có thể giải thích vì sao sự bình phục diễn ra khó khăn hơn. Một yếu tố khả dĩ khác là khả năng hạn chế của những hỗ trợ xã hội, nhất là do sự việc các phụ nữ lớn tuổi thường là góa phụ và do đó có nguy cơ nhận ít sự giúp đỡ hơn.

ÍT LIỆU PHÁP TAN HUYẾT KHỐI (THROMBOLYSE) HƠN

Người ta cũng đã xác lập rằng những phương thức điều trị được lựa chọn khác nhau đối với đàn ông và phụ nữ : các phụ nữ ít được nhập viện hơn trong thời hạn 3 giờ sau tai biến mạch máu não, mà thời hạn này hiện nay được cho là cửa sổ điều trị (fenêtre thérapeutique) (thời gian giới hạn) để thực hiện liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse). Ngoài ra các phụ nữ ít thường (13%) được điều trị bởi phương pháp này hơn.Việc nhập viện muộn của các phụ nữ một lần nữa được quy cho sự cô lập về mặt xã hội và giải thích tại sao họ thường ít được hưởng liệu pháp tan huyết khối hơn.

NHỮNG TRIỆU CHỨNG KHÔNG ĐIỂN HÌNH

Một phần của các giải thích này có thể là do sự việc rằng các triệu chứng thường ít điển hình hơn nơi phụ nữ. Một công trình nghiên cứu quan sát báo cáo rằng ở phụ nữ, tai biến mạch máu não được thể hiện thường hơn bởi những triệu chứng như đau đớn, sự biến đổi tình trạng tri giác và những rối loạn thần kinh không đặc hiệu. Các đàn ông thường biểu lộ các triệu chứng cổ điển hơn như bại liệt một bên hay những rối loạn cân bằng. Những điều mà chúng ta biết về các hội chứng tim cũng đúng với tai biến mạch máu não. Các phụ nữ có ít hơn những triệu chứng có thể được nhận biết dễ dàng, điều này có thể giải thích tại sao việc điều trị nơi các phụ nữ ít tích cực hơn. Người ta chưa biết là các phụ nữ có phản ứng khác đối với liệu pháp tan huyết khối hay không. Những công trình nghiên cứu cho thấy rằng liệu pháp này có thể có những tác dụng điều trị rõ rệt hơn nơi các bệnh nhân nữ, nhưng không có gì là chắc chắn.

MỘT CƠ CHẾ SINH BỆNH KHÁC

Các phụ nữ cũng ít được hưởng hơn vài xét nghiệm thường được thực hiện trong giai đoạn cấp tính của tai biến mạch máu não. Đặc biệt đó là trường hợp khám các động mạch cảnh và siêu âm tâm ký (échocardiographie). Trái lại RMN cũng thường được ghi đơn cho cả hai giới. Nói chung, rất rõ ràng rằng các phụ nữ không phải là nạn nhân cùng loại tai biến mạch máu não như đàn ông : nơi phụ nữ, người ta quan sát thấy một tỷ lệ tai biến mạch máu não loại huyết khối-nghẽn mạch (thromboembolique) nhiều hơn, vì lẽ có tỷ lệ bị rung nhĩ (fibrillation auriculaire) cao nhất, trong khi đàn ông thường là nạn nhân của tai biến mạch máu não loại vữa-huyết khối (athérothrombotique). Khó nói trong chừng mực nào những đặc điểm sinh bệnh này có thể giải thích những khác nhau trong sự sử dụng các phương tiện chẩn đoán có sẵn.
(LE GENERALISTE 2/4/2009)

10/ NGUY CƠ NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU

Sự gia tăng hoạt động sinh dục và sự tiêu thụ rượu được liên kết với sự gia tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu và những cô gái ở lứa tuổi học đường, phải đi tiểu thường xuyên hay một cách cấp bách, phải khám bệnh để được điều trị cái điều có thể là nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên của họ. Đó là điều mà các nhà nghiên cứu đã giải thích nhân hội nghị khoa học hàng năm của Hiệp hội niệu học Hoa Kỳ (AUA).

Vào tháng 7 năm 2001 và tháng 4 năm 2005, các nhà nghiên cứu đã khảo sát 181 phụ nữ bị đợt nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên, đến khám tại phòng khám dành cho sinh viên của Đaị Học Floride. Nhóm kiểm tra gồm có 80 phụ nữ không bị nhiễm trùng này. Những người tham gia phải trả lời một bảng câu hỏi về những thói quen sinh hoạt và chế độ ăn uống của họ.

Các kết quả cho thấy rằng tần số và mức độ khẩn trương là những triệu chứng thường gặp nhất và rằng các nhiễm trùng đường tiết niệu thường được gặp nhất nơi các phụ nữ mới đây đã gia tăng hoạt động sinh dục và mức độ uống rượu. Việc sử dụng các khăn vệ sinh trong lúc hành kinh cũng làm gia tăng nguy cơ bị đợt nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên. Do dự không đi tiểu, hướng chùi và việc sử dụng các tampon dường như không bị liên kết với nguy cơ của loại nhiễm trùng này. Sự chung sống với các Chlamydia, bệnh lậu (gonorrhée) và những nhiễm trùng nấm không góp phần một cách đáng kể vào những triệu chứng đường tiểu.

“ Nếu như cô phải đi tiểu thường xuyên và khẩn cấp, cô cần phải đi khám bệnh, Anthony Smith (AUA) đã bình luận như vậy. Một phụ nữ lần đầu tiên bị nhiễm trùng đường tiểu có thể không nhận biết các triệu chứng này ”.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 12/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (28/5/2009)

Edited by user Sunday, August 26, 2012 9:48:10 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#5 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:48:43 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129

Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh


1/ CÚM A BÂY GIỜ LAN TRÀN TRÊN 6 LỤC ĐỊA.

Theo OMS, thế giới đang tiến gần đến trận đại dịch cúm toàn cầu đầu tiên của thế kỷ 21.

Chậm mà chắc, virus H1N1 tiếp tục lan tràn trên toàn thế giới. 6 lục địa từ nay bị tác động bởi bệnh cúm được gọi là “ heo ” hay “ mexico ”, trong thời gian chưa được hai tháng, đã làm nhiễm bệnh gần 20.000 người và gây tử vong cho hơn 100 người, chủ yếu ở Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ.

Thật vậy, hôm qua, một trường hợp đầu tiên đã được chính thức chẩn đoán ở Châu Phi, chính xác hơn là ở Ai Câp, một trong các nước đã bị ảnh hưởng nhất thế giới bởi một loại cúm khác, virus của cúm gia cầm H5N1, với 27 trường hợp tử vong, được ghi nhận cho đến ngày hôm nay.

“ NHỮNG LAN TRÀN ĐẦU TIÊN ”

Thế giới đang tiến gần đến giai đoạn báo động đại dịch tối đa cấp 6, phó tổng giám đốc OMS, BS Keiji Fukuda đã báo cho biết như vậy, lúc nêu lên rằng những đợt lan tràn đầu tiên có tính chất tự trị của virus H1N1 đã được quan sát thấy trong dân chúng của các nước nằm ngoài lục địa châu Mỹ, cái nôi của dịch bệnh, như ở Vương Quốc Anh, Nhật Bản, Chí Lợi và Úc. “ Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn chờ đợi một hoạt động thật sự lan tràn của virus trong dân chúng của những quốc gia này ” trước khi nâng mức báo động, đã được định ở cấp 5 (báo hiệu một đại dịch “ sắp xảy ra ” ) từ ngày 25/4, nhân vật số 2 của OMS đã nói thêm như vậy.

“ Rõ ràng là virus dường như lan tràn trên quy mô toàn thế giới. Chúng ta biết rằng một số quốc gia nào đó đang trong giai đoạn chuyển tiếp, với bước chuyển từ các trường hợp liên quan đến các chuyến đi du lịch (đến các nước bị dịch) đến một sự đóng chốt rõ rệt hơn của virus trong lòng dân chúng ”, ông đã nói tiếp như vậy. Đây là điều mà các chuyên gia gọi là sự truyền “ cộng đồng ” (transmission communitaire). Theo lời khuyên của các chuyên gia quốc tế, OMS đã quyết định tính đến tiêu chuẩn “ mức độ nghiêm trọng ” (gravité) của bệnh để chuyển qua giai đoạn đại dịch tối đa, chứ không chỉ căn cứ trên tiêu chuẩn lan tràn địa lý, thường được xét đến trong hệ thống báo động của OMS, BS Fukuda đã chỉ rõ như vậy. Thế mà hoạt tính của cúm heo hiện nay chỉ ở mức độ “ vừa phải ”, ông đã ước tính như thế, đồng thời bác bỏ từ “ hiền tính.

Theo bilan mới nhất của OMS được công bố hôm qua, 19.273 người đã bị lây nhiễm trong 66 nước bởi virus H1N1. 117 người chết vì bệnh cúm này. Sự tiến triển mạnh nhất của những trường hợp cúm được xác nhận, đã được ghi nhận ở Úc, với một sự gia tăng gấp đôi trong 48 giờ, để đạt một tổng cộng 501 trường hợp, ở Canada (1530 trường hợp), ở Vương quốc Anh (339 trường hợp) và nhất là ở Hoa Kỳ , nơi đây 1078 bệnh nhân bổ sung đã được ghi nhận trong các ngày qua, nâng tổng số lên 10.053 trường hợp lây nhiễm trong đó 17 tử vong.

Hôm qua, tổng thống Barack Obama đã viết cho bà chủ tịch hạ viện Nancy Pelosy, để yêu cầu 2 tỷ dollar bổ sung, ngoài phong bì 1,5 tỷ đã được đòi hỏi cách nay một tháng, nhằm tăng cường khả năng đáp ứng của Hoa Kỳ với “ một khả năng tiến triển của bệnh.
(LE FIGARO 4/6/2009)

2/ H1N1 : “ SẼ PHẢI TIÊM CHỦNG CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI ”

G.S Sylvie Van der Werf , nữ giám đốc của một đơn vị nghiên cứu ở Viện Pasteur, Paris, trong một cuộc mạn đàm, đánh giá rằng toàn dân sẽ phải được tiêm chủng chống virus H1N1 ngay khi vaccin, hiện đang được bào chế, sẽ có sẵn để sử dụng.

Hỏi : Có phải chúng ta đang ở trong một tình huống mới lạ, với virus H1N1 đã phát khởi ở Mễ Tây Cơ ?
Sylvie Van der Werf : Vâng, rõ ràng là chúng ta đang đối diện với một virus mới, đang lưu hành trong cộng đồng (communauté) (nghĩa là phát xuất từ những ổ bệnh tự trị chứ không còn được nhập cảng từ nước ngoài nữa), trên nhiều lục địa. Chúng ta đang ở trên bờ của giai đoạn báo động đại dịch cấp 6 của OMS. Thực ra giai đoạn 6 được đặc trưng bởi sự truyền “ cộng đồng ” (transmission communautaire) của virus trên ít nhất hai lục địa. Hiện chúng ta đang ở giai đoạn này. Ngoại trừ những mức độ báo động này đã được xác định trong khung cảnh của một đại dịch do virus H5N1 của cúm gia cầm, độc lực hơn nhiều. Trong khi tính chất sinh bệnh của virus H1N1 hiện nay chỉ ở mức độ trung bình. Điều này giải thích vì sao OMS đang còn chần chừ trong việc nâng cao mức báo động.

Hỏi : Mùa hè đến có sẽ làm ngưng sự lưu hành của virus ở Châu Âu hay không ?
Sylvie Van der Werf : Đúng vậy. Có những yếu tố khí hậu thuận lợi ít hay nhiều cho sự truyền của bệnh cúm. Cúm mùa (grippe saisonnière) được truyền hơn vào mùa đông, nhưng đó không phải là một tiêu chuẩn tuyệt đối. Ở vùng nhiệt đới, các virus cúm lưu hành suốt năm, với hai đỉnh cao, đặc biệt là vào mùa ấm. Ở châu Âu, dịch bắt đầu hơn vào tháng 12. Nhưng chúng ta hiện nay đang ở trong một tình huống đặc biệt, vì lẽ ở Hoa Kỳ và Canada, virus này hiện đang lan tỏa, trong khi lại đang vào mùa hè, và như thế là ở ngoài những thời kỳ cổ điển mà virus cúm có thể lưu hành. Có lẽ, sự việc dân chúng, không hề thụ đắc một khả năng miễn dịch nào, làm cho dễ bị nhạy cảm hơn. Nhưng hiện nay chúng ta không ở trong trình trạng lan truyền bình thường.

Hỏi : Bà thấy sự tiến triển của tình hình ra sao ?
Sylvie Van der Werf : Tôi không hề tưởng tượng một giây phút nào là sự lan tràn sẽ dừng lại và rằng virus mới này sẽ biết mất như một phép nhiệm màu. Virus hiện đang lưu hành một cách tích cực, đặc biệt ở Nam bán cầu, với một tình huống phức tạp, vì lẽ có một sự lan tỏa đồng thời với virus của cúm mùa. Từ trước đến nay, mỗi khi một virus mới xuất hiện, nó sẽ thay thế virus của cúm mùa. Hiện nay không phải là như thế. Chúng ta đang ở trong một tình hình mới. Chúng ta không biết, vào mùa thu sắp đến, ở Bắc Bán cầu, sẽ có một sự lưu hành đồng thời của hai virus hay là chỉ một mà thôi. Điều này sẽ tùy thuộc vào những gì sẽ xảy ra trong Nam bán cầu. Ở Úc cũng như ở Nam Mỹ, sự lan truyền cộng đồng (transmission communautaire) là tích cực. Châu Phi đang được theo dõi sát. Tất cả điều này khiến nghĩ rằng virus mới này sẽ gây bệnh lên toàn bộ Bắc bán cầu với một sự lan lan truyền cộng đồng. Vào cuối tháng 6 ? Cuối tháng 8 ? Cuối tháng 9 ? Chúng ta không thể loại trừ rằng virus bắt đầu lan tràn vào một thời kỳ bất thường.

Hỏi : Độc lực của virus có đáng quan ngại không ?
Sylvie Van der Werf : Đến nay, tỷ lệ tử vong khoảng 1 đối với 1000 người bệnh. Điều này vẫn gần với tỷ lệ tử vong của cúm mùa. Chỉ khác ở chỗ là, thường thường chính những người già bị nhiễm bệnh và dân chúng phần lớn được miễn dịch, hoặc tự nhiên, hoặc nhờ tiêm chủng. Do đó số những bệnh nhân tiềm tàng có thể rất cao. Đến nay, chúng tôi đã không phát hiện thấy những chỉ dấu độc lực. Chúng ta biết rằng virus cúm biến dị thường trực. Và chúng ta không tránh khỏi một sự thay đổi làm gia tăng độc lực và khả năng lan truyền của virus. Chúng tôi đang liệt kê tất cả các biến dị nguy hiểm có thể có. Mặt khác, phòng thí nghiệm của chúng tôi đang xem xét cấu trúc di truyền của mỗi virus của bệnh cúm này đối với mỗi trường hợp, để theo dõi sát hơn tiến triển, như những phòng thí nghiệm khác trên thế giới. Chúng tôi cũng sợ những phối hợp di truyền (réassortiments génétiques) giữa virus này và những virus của cúm mùa, và nhất là với một H1N1 khác, mà đa số đề kháng với Tamiflu.

Hỏi : Có phải chúng ta sẽ hướng về một sự tiêm chủng đại trà cho dân chúng để chống lại virus mới này không ?
Sylvie Van der Werf : Chúng ta sẽ buộc phải tiêm chủng tất cả mọi người, ở Bắc bán cầu cũng như ở Nam bán cầu, trong các nước giàu cũng như trong các nước đang phát triển. Và ý kiến của tôi là phải thực hiện càng nhanh càng tốt, nếu xét đến tình hình tiến triển hiện nay. Nhưng có những thời hạn mà ta không làm giảm bớt được. OMS đã cho tất cả các phòng thí nghiệm chuyên về vaccin, loại giống gốc virus cơ bản. Nếu mọi chuyện diễn biến tốt đẹp, nếu năng suất tốt, nếu giống gốc này không tạo nên những mối bất ngờ, chúng ta cũng sẽ phải cần 4 đến 6 tháng trước khi có vaccin sử dụng. Mặt khác, đó là một vaccin mới, với một dân chúng còn trong trắng về mặt miễn dịch, do dó chúng ta không ở trong các điều kiện cổ điển. Sẽ phải thực hiện những thử nghiệm lâm sàng để kiểm tra tính hiệu quả và sự vắng bóng của các phản ứng phụ. Có lẽ sẽ cần 2 liều, để chống lại virus mới này. Những công tác chuẩn bị cho một vaccin chống đại dịch do H5N1 gây nên, đã góp phần đáng kể cho việc chống đại dịch H1N1 sắp đến.

Hỏi : có phải sẽ vừa tiêm chủng chống virus mới này và đồng thời chống virus cúm mùa hay không ?
Sylvie Van der Werf : Các kho dự trữ chống lại cúm mùa gần như đã được tạo thành. Do đó các phòng bào chế bắt đầu chế tạo vaccin mới. Không có một yếu tố nào cho phép nói rằng cúm mùa cũng như virus mới H1N1 này sẽ ngừng lưu hành. Và như thế có tất cả các lý do để dự kiến một sự tiêm chủng kép. Nhưng cần có những quyết định để đánh giá lại một cách thường trực đối với tiến triển của tình hình.
(LE FIGARO 4/6/2009)

3/ H1N1 : “ SỰ CHIA XẺ CÁC THUỐC KHÁNG VIRUS SẼ LÀM GIẢM ĐẠI DỊCH ”

Những mô hình cho thấy những khuyết điểm của một lối quản lý “ ích kỷ ” các thuốc men của nhà nước.

Một diễn tập giả (une simulation) về sự lan tỏa của một bệnh cúm từ Á Châu. Cuộc diễn tập giả này giả sử rằng một virus cúm bắt đầu lan tràn vào tháng 10 ở Hà Nội. Lúc đưa ra một giả thuyết về một mức độ lây nhiễm trung bình (1,7 người lành mạnh bị nhiễm bệnh bởi một bệnh nhân), các tác giả đưa vào mô hình của họ 3 kịch bản. Hoặc là không có một điều trị nào cả được sử dụng, hoặc là mỗi quốc gia giữ các thuốc kháng virus chỉ riêng cho dân của nước mình, hoặc là các nước giàu có sẽ trao một phần của kho dự trữ cho những nước không có dự trữ thuốc.

MẠN ĐÀM

Trận dịch do giống gốc virus mới A/H1N1 sẽ tiến triển như thế nào ?

Các nhà nghiên cứu người Pháp, Ý và Hoa Kỳ đã phát triển một mô hình về sự lan tràn của bệnh, đặc biệt căn cứ trên các vận chuyển hàng không, cấu trúc của dân số thế giới, những đặc điểm sinh học của virus và những chiến lược chống lại dịch bệnh được thực hiện bởi các giới hữu trách y tế.

Marc Barthélemy, nhà nghiên cứu của Commissariat à l’énergie atomique, đã tham gia vào những công trình thiết lập các mô hinh này. Theo nhà vật lý thống kê này, có hai bài học lớn cần được rút ra từ những diễn tập giả này. Bài học thứ nhất là, chính sự vận chuyển hàng không chi phối nhịp độ lan tràn của bệnh. Thứ hai là một sự quản lý hợp đồng và “ vị tha ” các kho dự trữ thuốc kháng virus, có thể làm giảm một cách đáng kể tác động của một trận đại dịch toàn cầu, như trận đại dịch mà hiện nay giới cầm quyền y tế đang lo sợ.

Hỏi : Làm sao đánh giá sự thích đáng của một mô hình diễn tập giả về sự lan tràn dịch trên quy mô thế giới ?
Marc Barthelemy : Trong trường hợp mô hình mà chúng tôi đã phát triển, chúng tôi đã muốn đánh giá những tác động của sự vận chuyển hàng không trên thế giới lên trên sự lan tràn của bệnh. Chúng tôi đã trắc nghiệm mô hình này trong trường hợp SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng, xuất hiện vào tháng 11 năm 2002 ở Trung Quốc và tổng cộng đã ảnh hưởng lên 30 nước) và chúng tôi đã tìm thấy phương cách lan tỏa của bệnh, như người ta đã có thể nhận xét vào thời kỳ đó. Dĩ nhiên có những điều không chắc chắn về những điều kiện dịch bệnh đã xảy ra, vì lẽ giới cầm quyền Trung Quốc đã chậm trễ trong việc khai báo những trường hợp đầu tiên. Nhưng khi đưa ra những giả thuyết hợp lý và khi cho rằng trận dịch xuất phát từ Hồng Kông, mô hình tạo lại với một mức độ sai lầm thấp, số các trường hợp xảy ra trong mỗi nước. Vậy thì sự vận chuyển hàng không có vẻ như là yếu tố quyết định của sự lan tỏa một bệnh nhiễm trùng trên quy mô thế giới, kết luận này đặc biệt được áp dụng đối với virus H1N1.

Hỏi : Vậy thì có nên hạn chế sự không lưu để tránh đại dịch không ?
Marc Barthelemy : Không. Do tính chất phức tạp của hệ thống các interconnexion của khoảng 3.000 plates-formes aéroportuaire trên thế giới, việc giới hạn đơn thuần (trừ khi gần như đình chỉ) không có tác dụng. Nhờ mô hình của chúng tôi, chúng tôi đã kiểm tra nhận thấy rằng những sự hạn chế này hầu như không làm thay đổi gì hết sự phát tán của bệnh. Sự gia tăng theo dõi các chuyến bay trực tiếp phát xuất từ những vùng bị dịch có thể có ích. Mặt khác, hôm nay chúng ta có thể quan sát thấy rằng hầu như tất cả các trường hợp “ nhập cảng ” từ Mễ tây cơ phát xuất từ những chuyến bay trực tiếp.

Hỏi : Trong trường hợp này, cần tác động đòn bẫy nào để làm chậm lại sự lan tràn của H1N1 hay để làm giảm những hậu quả của nó ?
Marc Barthelemy : Chúng tôi đã thực hiện cuộc diễn tập giả bắt chước sự lan tràn của một bệnh thuộc loại cúm, có thể được truyền giữa người với nhau, và đã trắc nghiệm 2 chiến lược sử dụng các kho dự trữ thuốc kháng virus có trên thế giới. Trong chiến lược đầu tiên, mỗi nước sử dụng kho dự trữ thuốc của mình một cách ích kỷ, chỉ dành cho dân nước mình mà thôi. Trong chiến lược thứ hai, những nước giàu có nhất gởi một phần nhỏ (khoảng 10% đến 20%) của kho dự trữ thuốc cho những nước đầu tiên bị tấn công bởi dịch bệnh. Trong những diễn tập giả của chúng tôi, sự quản lý “ vị tha ” hay “ hợp tác ” của những kho dự trữ thuốc kháng virus, làm giảm tác động của đại dịch toàn cầu. So sánh với những kết quả mang lại bởi một lối quản lý “ ích kỷ ” , số trường hợp bệnh trên thế giới có thể được chia từ 10 đến 1000 tùy theo nước và mùa mà dịch bệnh khởi phát.
Ngoài ra, nhờ cách quản ý này, sự xuất hiện của đỉnh cao dịch bệnh (pic épidémique) có thể được xê xích một năm về mặt thời gian. Sự gia hạn này có thể tỏ ra mấu chốt bởi vì nó cho phép phát triển và sản xuất một vaccin trong trường hợp của các virus cúm như H1N1. Việc tác động tận nguồn phải càng nhanh càng tốt, bằng cách gởi đến các nước đầu tiên bị dịch bệnh các thuốc kháng virus, dường như là một ưu tiên tuyệt đối.

Hỏi : Những tham số nào khác đóng một vai trò trong sự phát triển của dịch bệnh ?
Marc Barthelemy : Cái điều mà chúng ta gọi là “ những tình trạng ban đầu “ là rất quan trọng. Những tình trạng ban đầu này chỉ nơi sự biến dị virus xảy ra, làm phát khởi đại dịch và thời kỳ trong năm xảy ra sự biến dị này. Tùy theo ổ bệnh ban đầu nằm ở Bắc hay Nam bán cầu, tùy theo mùa, sự lan tràn của dịch bệnh sẽ là rất khác nhau bởi vì các virus cúm vào mùa đông truyền bệnh ít dễ hơn mùa hè. Đứng trên quan điểm này, tình hình hiện nay khá thuận lợi ở Bắc bán cầu, đông dân nhất, là nơi mùa hè sẽ bắt đầu.
Dịch bệnh cũng sẽ khác nhau tùy theo các tham số dịch tễ học của bệnh(tính chất lây nhiễm của nó, thời kỳ ủ bệnh và thời gian mà người bị bệnh có thể lây nhiễm). Đến nay, mặc dầu các virus cúm tương đối được biết rõ, nhưng chúng ta không biết được những tham số này đối với H1N1.

Hỏi : Các kết quả của sự diễn tập giả đã được thực hiện về sự lan tràn của các virus loại cúm này là gì ?
Marc Barthelemy : Chúng tôi đã đưa ra giả thuyết về sự xuất hiện, vào tháng 10, ở Hà Nội, của một sự biến dị làm cho virus H5N1 có thể truyền giữa người với nhau. Vì virus bị biến dị (nghĩa là co khả năng lây truyền giữa người với nhau) chỉ là một giả thuyết, chúng tôi đã đặc biệt làm làm biến thiên tính lây nhiễm (contagiosité) của nó (tính lây nhiễm được định nghĩa là số trung bình những người bị nhiễm trùng bởi một người bị lây nhiễm) giữa các trị số 1,1 và 2,3 điển hình của các virus cúm. Không sử dụng các thuốc kháng virus, và với một mức độ lây nhiễm của virus trên 1,5, gần 50% dân chúng của thế giới sẽ bị tác động. Con số này sẽ rất giảm trong tất cả các vùng của thế giới khi sử dụng các thuốc kháng virus một cách hợp tác.
(LE MONDE 2/5/2009) [/b]

4/ ĐÀN ÔNG CÓ NÚM VÚ CÓ LỢI LỘC GÌ ?

Không những chỉ có vú (tétons), hay các núm vú (mamelons), đàn ông, cũng như các động vật có vú giống đực nói chung, còn có những tuyến vú hoàn chỉnh, chỉ có khác là bị teo đi, như các tuyến vú của một thiếu nữ trước tuổi dậy thì. Những tuyến vú này phát triển dưới tác dụng của các hormone nữ, vả lại điều này có thể xảy ra nơi đàn ông, trong những trường hợp hiếm hoi bị mất cân bằng hormone. Dầu sinh ra là nam hay nữ, mầm vú của chúng ta được thiết đặt trong tuần thứ tư của thời kỳ phôi thai, ngay trước quá trình biệt hóa sinh dục (différenciation sexuelle), xảy ra vào tuần lễ thứ 7. Nhưng, nếu ta loại trừ trường hop một loài dơi mà con đực cho con bú, thì các vú của các động vật có vú giống đực đã không bao giờ được sử dụng làm gì cả. Thế thì tại sao chúng có vú ? Đơn giản thế này thôi : quá trình chọn lọc tự nhiên làm cho, đối với mỗi loài, con đực và con cái tiến hóa cùng nhau. Nếu một thuộc tính không tạo vấn để đối với con đực hay con cái, thì thuộc tính này được duy trì trong bộ gène (génome) của hai giống. Nếu vú mang lại một ưu điển cho các phụ nữ về mặt sinh sản và do đó về mặt sinh tồn, thì những chiếc vú này cũng không gây hại đối với đàn ông. Như thế chính bởi vì các phụ nữ có vú mà các đàn ông cũng được phú cho những chiếc vú này.
( SCIENCE ET VIE 6/2009) [/b]

5/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1 : MỘT BƯỚC NGOẶT VỚI KỸ THUẬT GHÉP NHỮNG TẾ BÀO GỐC ?

G.S Jean-Jacques Robert, thầy thuốc chuyên khoa nhi-đái đường, G.S Lucienne Chatenoud, chuyên gia miễn dịch học, giải thích niềm hy vọng mang lại do những thử nghiệm đầu tiên của kỹ thuật tự ghép những tế bào của tủy xương (autogreffe de cellules de la moelle osseuse).

Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh đái đường loại 1 ?
G.S Jean-Jacques Robert : Loại đái đường này là một bệnh lý tự miễn dịch: các tế bào tiết insuline của tụy tạng bị tấn công và bị phá hủy bởi chính những tế bào lympho của hệ miễn dịch của người bệnh (chưa bị bệnh), điều này dẫn đến một nông độ glucose quá cao trong máu. Nếu không tiêm đều đặn insuline, những hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng, có thể dẫn đến hôn mê đái đường (coma diabétique). Insuline là một hormone cần thiết cho cơ thể, nhất là để điều hòa nồng độ đường trong máu.

Hỏi : Đến nay, người ta điều trị bệnh đái đường như thế nào ?
G.S Jean-Jacques Robert : Đó là một sự gò bó thật sự đối với các bệnh nhân khi bị buộc phải tự tiêm insuline từ hai đến sáu lần mỗi ngày. Bố mẹ đảm trách điều trị cho các con và sau đó các con tự quản lý lấy điều trị của chúng.

Hỏi : Hiện nay, những kết quả thu được là gì ?
G.S Jean-Jacques Robert : Ngày nay, người ta đã giảm được nhiều những nguy cơ biến chứng đáng sợ nhất của bệnh đái đường, như giảm thị lực, suy thận, bệnh thần kinh hay tim mạch Những công trình nghiên cứu mới đây cho thấy rằng các biến chứng trở nên ít xảy ra hơn. Nhưng nhiều bệnh nhân không chịu được những gò bó vì phải tiêm thuốc hàng ngày.

Hỏi : Mục đích của kỹ thuật ghép những tế bào gốc của tủy xương là gì ?
G.S Lucienne Chatenoud : Các tế bào gốc “ hoàn toàn mới ” (chưa được biệt hóa) : chúng chưa có những chức năng chuyên biệt. Tủy xương giàu các tế bào gốc. Mục đích của kỹ thuật tự ghép (autogreffe) gồm hai phần : 1.Tái tạo hệ miễn dịch bằng những tế bào mới không có khả năng hủy diệt của những tế bào lympho đã tấn công những tế bào của tụy tạng. 2. Tái sinh những tế bào nhằm chế tạo insuline.

Hỏi : Công trình nghiên cứu tự ghép mới đây được thực hiện như thế nào ?
G.S Lucienne Chatenoud : Đó là một công trình nghiên cứu Brésil, được giám sát bởi G.S Richard Burt, thuộc Northwestern University de Chicago, đã đưa vào 23 bệnh nhân (trong đó 9 phụ nữ), những thiếu niên và những người trưởng thành trẻ tuổi, tất cả đều bị bệnh đái đường loại 1. Trước hết họ đã nhận một mũi tiêm gồm một phối hợp các thứ thuốc (trong đó có một yếu tố tăng trưởng của những tế bào tủy xương), nhằm làm di chuyển những tế bào gốc vào trong tuần hoàn máu. Sau khi đã được tiếp thu từ máu, những tế bào này chịu một quá trình thanh lọc tế bào trong phòng thí nghiệm rồi được tiêm trở lại vào các bệnh nhân. Nhưng trước khi nhận tiêm truyền này, tất cả những người tham dự, trong 5 ngày, đã chịu một điều trị làm suy giảm miễn dịch (traitement immunosuppresseur). Những bệnh nhân này đã được theo dõi trong một thời gian từ 7 đến 58 tháng.

Hỏi : Những kết quả thu được là gì ?
G.S Jean-Jacques Robert : 23 bệnh nhân đã có thể không cần phải tiêm insuline suốt trong 14 đến 52 tháng liền, tùy theo trường hợp. Một trong những bệnh nhân này đã có thể không cần insuline hơn 4 năm ! 4 bệnh nhân khác trong 3 năm và 3 bệnh nhân khác trong hai năm. 15 bệnh nhân mới được tuyển mộ gần đây hơn (đã được hưởng những cải thiện kỹ thuật mang lại bởi các nhà khoa học Hoa Kỳ) luôn luôn không cần đến insuline 19 tháng sau kỹ thuật tự ghép.

Hỏi : Theo ý kiến của ông, kỹ thuật ghép những tế bào gốc này có tạo nên một niềm hy vọng điều trị thật sự hay không ?
G.S Jean-Jacques Robert : Thành công làm ngưng tiêm insuline lâu như vậy là một kết quả khác thường. Công trình nghiên cứu này, ngay cả khi cần được xác nhận bởi những thử nghiệm khác, vẫn là một niềm hy vọng thật sự.
G.S Lucienne Chatenoud : Những người tham gia công trình nghiên cứu này, bị một mức độ độc tính nào đó nơi các cơ quan sinh dục do việc họ được điều trị bởi các thuốc làm suy giảm miễn dịch, có thể có vấn đề trong việc sinh đẻ tương lai. Sẽ phải tìm cách thực hiện phẫu thuật tự ghép mà không gặp phải những hậu quả tai hại này.
( PARIS MATCH 14/5-20/5/2009)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - 7/ GHÉP TẾ BÀO GỐC ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

6/ TINH TRÙNG ĐÔNG LẠNH : CÁC VỤ KIỆN TỤNG.

Đông lạnh tinh trùng của một người đàn ông nhằm thụ thai nhận tạo sau khi qua đời, là một việc làm đang xảy ra trong nhiều nước, đặc biệt là ở Hoa Kỳ , nơi tòa án của Bronx (Nữu Ước) đã cho phép một người đàn bà thu nhận tinh trùng của người bạn đường đã mất. Đã là bố mẹ của một đứa bé 2 tuổi, Gisela Marrero và người bạn đường Johnny Quintana mong ước có một em bé thứ hai, nhưng người đàn ông đã chết lúc 33 tuổi, hình như do một cơn đau tim.

Phương tiện duy nhất để Gisela Marrero có con là thu lấy tinh dịch của người bạn đường trong 36 giờ sau khi chết, vì trên thời hạn này tinh trùng của một người đàn ông không còn có thể sử dụng được nữa. Để được như vậy, Gisela phải có giấy phép của tòa án, vì lẽ trước đó họ đã không cưới hỏi.

Vài ngày trước đó, cũng vẫn ở Hoa Kỳ, một vụ án tương tự gây nhiều xôn xao. Missy Evans (42 tuổi), dân Texas, được giấy phép của quan tòa để lấy một ít tinh dịch của đứa con bà chết vào năm 21 tuổi, do một chấn thương sọ não, xảy ra sau một cuộc ẩu đả.

Tòa án đã thỏa mãn đơn thỉnh cầu bằng cách ra lệnh các thầy thuốc bảo quản thi hài của Nikolas ở nhiệt độ ít nhất 39, 2 độ C, nhiệt độ mà các tinh trùng còn có thể sống được. Sau đó một thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu đã thu lấy tinh dịch được chứa trong các tinh hoàn: đại đa số các tinh trùng còn sống được và do đó có thể được dùng về sau này. Missy Evans như thế hy vọng thực hiện những ước nguyện của con bà, đó là có 3 con trai mà con bà đã chọn tên họ lúc còn sống. Vấn đề còn lại là cần đến một người cho noãn nặc danh và một bà mẹ mang thai(mère porteuse), điều này có thể thực hiện và hợp pháp ở Hoa Kỳ, nhưng cũng vẫn tiếp tục đặt nhiều vấn đề về mặt đạo đức.

Mặt khác, vẫn luôn luôn ở Hoa Kỳ, một người Mỹ 38 tuổi, Christopher Biblis, đã trở nên bố của một bé gái Stella, sinh bằng thụ tinh nhân tạo với tinh dịch được bảo quản nhờ đông lạnh từ 22 năm qua. Bị bệnh ung thư máu lúc còn thiếu niên, vào năm 1986, Christopher Biblis đã quyết định bảo tồn tinh dịch của mình. 35% các tinh trùng đã sống sót sau những năm tháng đông lạnh. Trong số các tinh trùng sống sót này, các thầy thuốc đã chọn những tinh trùng con vẹn toàn chức năng nhất.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 15/5/2009)

7/ MỘT HƯỚNG MỚI ĐỂ LÀM NGỪNG NGỨA NGÁY ?

Bằng cách bắt chước các con khỉ đả ngứa lúc gãi như thế nào, các loại thuốc mới sẽ tác dụng lên các neurone gây ngứa (neurones démangeurs).

Gãi, đối với loài người đó là một động tác thường ngày. Người ta gãi mũi hay tai để thể hiện một biểu lộ, người ta gãi chân sau khi cỡi giày, người ta xua đuổi các con kiến tưởng tượng đang chạy dọc theo cẳng chân.

Nhưng vài bệnh nhân chịu đựng những ngứa ngáy nghiêm trọng, gây nên hoặc bởi chính căn bệnh, hoặc do thuốc men dùng để chống lại những căn bệnh này, đến độ họ gãi đến rách da.

Đó là trường hợp của bệnh sida hay của bệnh Hodgkin, cũng như trường hợp của vài điều trị những đau đớn mãn tính, Vài bệnh nhân đi đến chỗ ngừng cả điều trị, chỉ để làm giảm sự ngứa ngáy. Hiểu được “ tiếng gọi kêu gãi ” hoạt động như thế nào, là chủ yếu để phát triển những thuốc mới nhằm làm dịu bớt những ngứa ngáy mãn tính này.

Glenn Giesler Jr, nhà khoa học thần kinh của đại học Minnesota, xuất bản các kết quả của ông trong tờ báo Nature Neuroscience, đã quan sát nhận thấy rằng khi các con khỉ gãi, thì các dây thần kinh tủy sống của chúng, phát xuất từ phía sau của lồng ngực, gởi một tín hiệu làm giảm ngứa (signal de soulagement) đến não bộ của chúng.

Glenn Giesler và nhóm nghiên cứu của ông đã cho các con khỉ macaque đuôi dài thuốc an thần trong thời gian thí nghiệm, và đã đặt các điện cực ghi nơi các dây thần kinh tủy sống của chúng. Sau đó các nhà nghiên cứu đã tiêm một chất hóa học vào dưới da nơi một cẳng chân dưới để kích thích nhằm gây ngứa. Các dây thần kinh đáp ứng lại bằng cách phóng ra những tín hiệu điện đến các neurone của bó gai-thị (faisceau spinothalamique).

Trong thời kỳ hai, các nhà nghiên cứu đã gãi cẳng chân của khỉ bằng một máy kim loại cầm tay, giả ba ngón tay.

“ NHƯ THỂ MỘT NÃO BỘ NHỎ TRONG TỦY SỐNG ”

Khi đó mức độ đáp ứng điện bị giảm, thể hiện rõ ràng dấu hiệu thuyên giảm. Ngược lại, khi các nhà nghiên cứu gãi cẳng chân, nhưng trước đó không gây ngứa, thì mức độ đáp ứng điện gia tăng, chứng tỏ rằng không có, hoặc có ít sự thuyên giảm.

Kết luận : các dây thần kinh chắc chắn biết phản ứng rất khác nhau tùy theo có một triệu chứng ngứa cần làm thuyên giảm hay không có triệu chứng ngứa.

“ Như thể là có một não bộ nhỏ trong tủy sống, Glenn Giesler đã bình luận như vậy. Chúng tôi thật sự muốn hiểu điều đó, bởi vì chúng tôi nghĩ rằng, sau đó, chúng tôi sẽ hiểu làm giảm ngứa như thế nào.”

Các nhà khoa học có lẽ có thể nhận diện những tín hiệu nói với các dây thần kinh cung cấp đáp ứng làm giảm ngứa. Do đó họ có thể bắt chước tác dụng này nhờ các thứ thuốc hay một loại kích thích tác động trực tiếp lên bó gaí thị.
LE SOIR 10/4/2009)
LE FIGARO 22/4/2009)


Đọc thêm :
Thời Sự Y Học số 67 - 5/ NHỮNG LỢI ÍCH THẤY ĐƯỢC CỦA GÃI

8/ NHIỄM TRÙNG ÂM ĐẠO CÓ THỂ LÀ DO NỒNG ĐỘ VITAMIN D THẤP.

Bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) là nhiễm trùng âm đạo thông thường nhất nơi phụ nữa trong lứa tuổi có con, và một công trình nghiên cứu mới đây nhận thấy rằng nhiễm trùng này được liên kết với sự thiếu hụt vitamin D. Rối loạn này có thể được điều trị bằng thuốc kháng sinh, nhưng có thể dẫn đến sinh non và là một nguyên nhân quan trọng của tỷ lệ tử vong nhũ nhi. Công trình phân tích, được công bố trong số tháng sáu của Journal of Nutrition, đã xem xét 209 phụ nữ có thai da trắng và 260 phụ nữ có thai da đen ở Pittsburgh clinic và đã nhận thấy rằng hơn một nửa có nồng độ vitamin D dưới 37 nanomoles/lít. Một trị số 80 thường thường được cho là thích đáng. Sau khi đã điều chỉnh những yếu tố khác, một nồng độ 50 hoặc ít hơn được liên kết với một sự gia tăng 26% khả năng bị viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis), và một trị số dưới 20 được liên kết với một nguy cơ gia tăng 65%. Khoảng 52% các phụ nữ da đen bị viêm âm đạo do vi khuẩn, so với 27% phụ nữ da trắng và các phụ nữ da đen hầu như 3 lần có khả năng bị thiếu hụt vitamin D hơn, có lẽ bởi vì da đen ngăn cản sự tổng hợp đầy đủ các vitamin D. Công trình nghiên cứu khuyến nghị các phụ nữ bàn với thầy thuốc về việc bổ sung vitamin D.
(HERALD INTERNATIONAL TRIBUNE 28/5/2009)

9/ NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIỂU CÓ THẾ LÀM CÁC NHŨ NHI KHÓC THÉT LÊN.

Sự xuất hiện triệu chứng khóc quá mức nơi một nhũ nhi không bị sốt, phải làm nghi ngờ sự hiện diện của một nhiễm trùng đường tiểu. Đó là điều được xác nhận bởi một phần tích của gần 250 hồ sơ trẻ em dưới một tuổi, được nhập viện vì khóc không cưỡng được. Trong 5% các trường hợp, các cơn khóc là do một thương tổn thực thể nặng, chẩn đoán thường được đặt ra là chẩn đoán nhiễm trùng đường tiểu.
( SCIENCES ET AVENIR 6/2009)

10/ PHỤ NỮ SỐNG LÂU HƠN NHƯNG THẾ LỰC ÍT TỐT HƠN.

Chứng béo phì và viêm khớp, mắc phải theo dòng thời gian, góp phần một cách đáng kể vào việc làm giảm chất lượng sống của những phụ nữ trong suốt tuổi già. Đó là điều được giải thích bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ.

Căn cứ trên công trình nghiên cứu Cardiovascular Health Study (thăm dò những yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch và tai biến mạch máu não nơi những người 65 tuổi hoặc hơn), các nhà nghiên cứu của Đaị Học Duke (Hoa Kỳ) đã thực hiện một công trình nghiên cứu bao gồm 5.888 người già trên 65 tuổi. Những người này đã được hỏi về khả năng thực hiện những công việc hàng ngày như tắm, ăn, mặc quần áo, quản lý tiền bạc và về những cử động cao hoặc thấp của cơ thể (với được, cầm, bước và lên cầu thang).

Heather và các đồng nghiệp của ông đã nhận thấy rằng các phụ nữ chịu những tình trạng tàn phế 2 lần rưởi thường hơn so với những người đàn ông cùng lứa tuổi và rằng những tỷ lệ béo phì và viêm khớp cao hơn nơi những phụ nữ này giải thích gần một nửa những sự dị biệt giới tính này. “ Nếu các phụ nữ có khuynh hướng sống lâu hơn các người đàn ông, công trình nghiên cứu này cho thấy rằng họ có một nguy cơ cao hơn sống với những tật nguyền và sự mất năng lực quá mức này là do họ có tỷ lệ mắc phải chứng béo phì và viêm khớp cao hơn, BS Heather Whitson, tác giả chính của công trình nghiên cứu, được trình bày ở hội nghị hàng năm của Hiệp hội lão khoa Hoa Kỳ (29/4-5/5, Chicago), đã xác nhận như vậy. Đó là quan trọng bởi vì điều này gợi ý rằng khuynh hướng của các phụ nữ lên cân trong thời kỳ thai nghén hay trong thời kỳ mãn kinh được thể hiện bởi một sự mất độc lập ở một lứa tuổi cao hơn ”

“ Sự khác nhau này trong mức độ tật nguyền chưa được hiểu rõ lắm nhưng chúng tôi đã nhận thấy rằng, các bệnh mãn tính mà các phụ nữ gặp phải có số lượng lớn hơn đàn ông, có thể giải thích một phần điều đó ”, Harvey Jay Cohen, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu đã nói thêm vào như vậy.

“ Các phụ nữ có một khuynh hướng tự nhiên lên cân nhiều hơn đàn ông trong suốt cuộc đời, nhưng họ có thể có động cơ hơn để duy trì một thể trọng sức khỏe nếu như họ hiểu rằng những kilo thêm bổ sung này sẽ làm họ dễ bị các tật nguyền lúc về già và như thế trở nên một gánh nặng đối với các con họ hoặc họ phải được đưa vào nhà dưỡng lão ”, BS Whiston đã nói tiếp như vậy.

PHÒNG NGỪA LÀ THEN CHỐT

Ngoài chứng béo phì và viêm khớp, công trình nghiên cứu cũng đã nhận thấy rằng các phụ nữ thường bị hơn đàn ông gãy xương, rối loạn thị giác và viêm phế quản, trong khi đàn ông thường là nạn nhân của khí phế thủng (emphysème), các bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, đái đường và rối loạn thính giác.

Các tác giả đặc biệt chú ý đến hai vấn đề : chứng béo phì và sức khỏe tim mạch. Vì chứng béo phì không ngừng gia tăng, người ta dự kiến một sự gia tăng của số các tật nguyền nơi các người già. Thế mà, các phụ nữ thường bị thặng dư thể trọng, do đó họ cũng sẽ bị liên hệ bởi những vấn đề này trên chất lượng của cuộc sống.

Sau đó, vì các phụ nữ trở nên bình đẳng với đàn ông trên bình diện tim mạch, nên các tai biến mạch máu não và khí phế thủng, các tỷ lệ bi bệnh tim mạch, ở họ, không được cải thiện nhanh như các đồng loại nam giới. Cũng đừng quên rằng họ không còn được tha miễn nữa bởi các bệnh lý liên quan với thuốc lá.

“ Nếu như tần số của những bệnh lý này trở nên giống nhau giữa đàn ông và phụ nữ, điều đó có thể được thể hiện bởi một cái hố ngày càng lớn giữa các tỷ lệ tật nguyền giữa hai giới tính. Do đó chúng ta phải giúp đỡ các phụ nữ có những quyết định tốt hơn, sớm hơn trong cuộc đời của họ ”, Harvey Jay Cohen đã nghĩ như thế.

Đối với các nhà nghiên cứu, hiện nay vấn đề là xác định xem các lão phụ bị yếu đi do chứng béo phì và viêm khớp có phục hồi về mặt chức năng được không, họ có thể theo một điều trị nhằm giúp đỡ họ đạt được một trọng lượng lành mạnh hay kiểm soát chứng đau do viêm khớp. “ Nếu không, thì phải gia tăng nỗ lực để ngăn ngừa chứng béo phì và chứng viêm khớp nơi các phụ nữ trẻ tuổi ”, các nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 19/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH(7/6/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#6 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:49:56 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A : MỨC BÁO ĐỘNG TỐI ĐA.

EPIDEMIE. Tổ chức y tế thế giới đã chuyển qua cấp 6 của hệ thống báo động. Một quyết định xuất phát từ sự lan tràn của bệnh cúm A, chứ không phải do mức độ nghiêm trọng của bệnh.

OMS đã quyết định chuyển qua giai đoạn 6 của mức báo động đại dịch, mức tối đa. Magaret Chan, đã loan báo như thế chiều hôm qua với các đại diện của 194 nước thành viên của tổ chức OMS, sau cuộc họp của ủy ban khẩn cấp. Mức 6 của đại dịch có nghĩa là từ nay cúm A (H1N1) thoát khỏi mọi sự kiểm soát. Bệnh có thể lây nhiễm một số lớn người và lan tràn khắp các vùng của quả địa cầu. Dấu hiệu đặc biệt khác : bệnh được truyền bởi một virus mới, mà để chống lại nó con người ít được miễn dịch hoặc không có. Đây là lần đầu tiên một đại dịch cúm toàn cầu được tuyên bố bởi OMS, một tổ chức được thành lập năm 1948.

“ Sự lan tràn của virus không có thể làm ngừng lại ”, bà giám đốc của OMS đã nhấn mạnh như vậy trong một cuộc họp báo. Virus, hoàn toàn mới, được truyền giữa người với nhau, tuy nhiên đại dịch chỉ ở mức độ “ vừa phải ”. Bà đã báo trước rằng, các nước, vốn đã bị một đợt hoạt động quan trọng của cúm A (H1N1), sẽ đón chờ trong những tháng sắp đến một làn sóng dịch thứ hai. OMS đã nhấn mạnh để kỳ hạn hưu chiến này được tận dụng nhằm sản xuất vaccin với quy mô lớn. Bà kêu gọi các phòng bào chế dược phẩm bắt đầu sản xuất vaccin chống H1N1 “ ngay khi họ đã chấm dứt sự sản xuất các vaccin chống lại cúm mùa ”.

Sau khi đã xuất hiện ở Mễ Tây Cơ vào cuối tháng ba, virus từ nay hiện diện trong 74 nước, với những ổ tự trị quan trọng ở Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ, và những ổ khác giới hạn hơn, ở Nhật Bản, Anh,Tây Ban Nha... Hôm qua cả thảy 8 nước đưa cho OMS những thông tin, chỉ rõ rằng họ sẽ thuộc vào trong xếp loại này.

ĐIỀU PHỐI CÁC CHÍNH SÁCH Y TẾ.

Số trường hợp đã bùng nổ mới đây ở Úc (1263 trường hợp), ở Chí Lợi (1.694). Là nước thứ 5 bị lây nhiễm nhất trên thế giới với 1.263 trường hợp, hôm thứ năm, Úc đã chỉ rõ rằng 4 bệnh nhân đã được đưa vào phòng hồi sức. Nước Pháp đến nay tương đối được trừ miễn với 73 trường hợp, trong đó chỉ có 13 trường hợp được xác nhận. Chính sự bùng nổ số các trường hợp trong những nước như Úc và Chí Lợi trong những ngày qua đã thúc đẩy OMS đưa ra quyết định nâng mức báo động lên cấp 6. Sự chậm chạp trong việc thỏng qua quyết định này đã bị chỉ trích bởi những chuyên gia độc lập, cho rằng chỉ có những tính toán chính trị và kinh tế mới có thể làm trì hoãn như vậy.

Chữ “ đại dịch ” (pandémie) làm lạnh xương sống, bởi vì nó gợi ra một trận dịch tác động lên toàn bộ hành tinh. 74 nước đã chính thức bị ảnh hưởng. Trận đại dịch sau cùng, cúm Hồng Kông (H3N2) năm 1968, đã gây cho 1 triệu người chết, hoặc gấp đôi hay gấp bốn lần số tử vong do cúm mùa xảy ra vào mùa đông mỗi năm. Nhưng chữ đại dịch cũng gợi lại cúm “ Tây Ban Nha ” năm 1918, đã giết chết hơn 50 triệu người, hơn cả số người chết trong Đệ Nhất Thế Chiến.

Thang báo động OMS được tạo ra năm 2005 trong bối cảnh của kế hoạch thế giới chuẩn bị cho một đại dịch cúm. Sự thiết đặt kế hoạch này được quyết định sau trận dịch SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng) vào năm 2003 và vì sự tiến triển của cúm gia cầm bắt đầu từ năm 2004. Hệ thống này trước hết nhằm phối hợp trên quy mô thế giới những chính sách y tế của 194 nước thành viên và tăng cường công tác phòng ngừa. Tuy nhiên mỗi nước có thẩm quyền thực hiện những biện pháp riêng tùy theo tình hình dịch bệnh của mỗi nước.

Cái khó khăn trong tình hình hiện nay là ở chỗ, kế hoạch của OMS và của nhiều kế hoạch quốc gia vốn đã được xây dựng với dự kiến cho một sự lan rộng của cúm gia cầm. Thế mà virus gia cầm H5N1 có một tỷ lệ tử vong nơi người cao hơn nhiều so với tỷ lệ tử vong của H1N1. Tỷ lệ tử vong của cúm A/ H1N1 hiện nay có thể so sánh với tỷ lệ tử vong của cúm mùa. Chính vì lẽ đó mà các mức báo động của nhiều kế hoạch quốc gia có thể vẫn y nguyên, mặc dầu có sự tái đánh giá của OMS.

“ Chúng tôi không muốn rằng người ta hoảng sợ một cách quá mức ”, Keiji Fukuda, phó giám đốc của OMS mới đây đã giải thích như vậy. “ Chuyển qua giai đoạn 6 có nghĩa là sự lan tràn của virus đang tiếp tục, nhưng không có nghĩa là mức độ nghiêm trọng của bệnh đã gia tăng ”.

Mặt khác, OMS vội loan báo rằng sự chuyển qua mức 6 không dẫn đến việc hạn chế sự đi đứng vận chuyển của người, đồ đạt và dịch vụ. Cơ quan OMS chỉ đưa ra những khuyến nghị nhằm làm giảm tác động của đại dịch lên dân chúng. Các quốc gia toàn quyền áp dụng những điều khuyến nghị này tùy theo nấc thang báo động mà mỗi nước nhận thấy dường như là hợp lý nhất.

Các Hội Hồng Thập Tự và Lưỡi Liềm Đỏ “ phải được huy động trên toàn thế giới và chuẩn bị để đáp ứng ” với đại dịch cúm heo, Liên Đoàn Hồng Thập Tự quốc tế đã loan báo như vậy.
(LE FIGARO 12/6/2009)

2/ CÁC MẶT NẠ CÓ THẬT SỰ BẢO VỆ KHÔNG ?

Đứng trước các đe dọa cúm (H5N1, H1N1…), tất cả các kế hoạch phòng ngừa đều khuyến nghị đeo mặt nạ. Vâng, nhưng mô hình được khuyên dân chúng sử dụng không phải là hiệu quả nhất. Một điểm yếu thật sự.

Kích thước của virus chỉ vài chục nanomètre và tên của nó là A/H1N1. Virus cúm mà những nạn nhân đầu tiên đã được thống kê vào cuối tháng ba ở Mễ Tây Cơ, đã gieo sự hoảng sợ trên hành tinh trong vài ngày. Tuy vậy không phải chính nó mà mọi người đã chờ đợi. Thật vậy, từ 10 năm nay, các nhà hữu trách y tế đã tập trung sự chú ý vào một virus, H5N1, là nguyên nhân của một làn sóng dịch cúm nơi các loài chim ở Nam Á, trước khi lan tràn lên khắp các lục địa. Mặc dầu khó có thể truyền bệnh giữa người với người, H5N1 tuy vậy chỉ mới đây thôi, được xem như là ứng viên quan trọng nhất cho một đại dịch cúm toàn cầu có thể xảy ra. Quan trọng đến độ hầu hết các nước, khi có phương tiện, đã quyết định hiệu chính những kế hoạch phòng ngừa nhằm đối phó tốt nhất với mối đe dọa. Nội dung của kế hoạch ? Cách ly bệnh nhân, cấp phòng ngừa các thuốc chống virus và phân phát đại trà các mặt nạ. Dầu thủ phạm là H5N1, H1N1 hay mọi virus cúm khác, tất cả những kế hoạch này, sau cùng dựa trên cùng một dữ kiện : trong gần 99% các trường hop, virus cúm được truyền bằng đường không khí qua những giọt nước nhầy (postillons de mucus) bị nhiễm trùng, mà bệnh nhân phóng thích ra trong không khí mỗi khi ho hay thở. Vậy, trong trường hợp không có vaccin, phương tiện hiệu quả nhất để tránh bị bệnh, ngoài việc cách ly tuyệt đối, trên nguyên tắc là mang một mặt nạ. Vâng, nhưng loại mặt nạ nào ? Vấn đề càng được đặt ra vì tất cả các mặt nạ không có giá trị ngang nhau khi bảo vệ chống lại một nhiễm trùng !

Để hiểu, phải biết rằng các hạt chất nhầy (particules de mucus) mà chúng ta rải rắc trong không khí mỗi lần chúng ta ho, tất cả không có cùng một kích thước. Trong thực tiễn, khoa học phân biệt hai loại : các giọt nhỏ (gouttelettes), đường kính trên 5 micromètre, và các xon khí (aérosol) đường kính dưới 5 micromètre.Thoạt nhìn, sự khác nhau có thể có vẻ không đáng kể. Không hề là như vậy. Những mặt nạ có hiệu quả chống lại các giọt nhỏ không nhất thiết là như vậy đối với các xon khí (aérosol). Thế mà, đây là điểm mấu chốt của vấn đề : trong khi các kế hoạch bảo vệ đều nhấn mạnh vào những hạt to lớn nhất, thì lại dường như đánh giá thấp các hạt nhỏ nhất. Do đó, một sự lựa chọn các mặt nạ và các dân số virus, mà những mặt nạ này nhắm vào, có thể là một trong những thiếu sót ít được đánh giá nhất của các kế hoạch chống đại dịch.

Bởi vì có hai loại mặt nạ rất khác nhau có những chức năng cũng rất khác nhau : những mặt nạ này được gọi là anti-projection, còn được gọi là mặt nạ ngoại khoa (masques chirurgicales) và có mục đích tránh cho những người mang chúng đừng làm lây nhiễm môi trường ngay chung quanh bởi các giọt nhỏ mà họ phóng thích ra ; nói chung những mặt nạ này dành cho các người bệnh. Những mặt nạ khác, được gọi là hô hấp (masques respiratoires) (FFP2), có thể nói là lọc không khí và được dành để bảo vệ những người lành mạnh chống lại những chất ô nhiễm hóa học hay sinh học. Được đặt thích ứng vào mặt để tránh rò khí, có khả năng giữ lại những hạt nhầy nhỏ bé nhất, chỉ có những mặt nạ hô hấp này mới mang lại một sự bảo vệ thật sự chống lại các virus.

KHÔNG CÓ MẶT NẠ HÔ HẤP CHO CÁC CÔNG DÂN

Tuy vậy, ở Canada, Úc và Anh, những kế hoạch chống đại dịch cúm chỉ chủ trương dùng các mặt nạ ngoại khoa (masque anti-projection), bao gồm cả khi để bảo vệ nhân viên điều trị. Hoa Kỳ và Pháp thì cẩn trọng hơn bởi vì các kế hoạch của hai nước này dự kiến trang bị cho nhân viên y tế tiếp xúc với bệnh nhân, những mặt nạ hô hấp (masque respiratoire). Didier Houssin, tổng giám đốc y tế, chịu trách nhiệm việc soạn thảo kế hoạch chống dịch của Pháp, nhắc lại rằng “ từ 500.000 đến 600.000 mặt nạ hô hấp đã được tích trữ để dự phòng một trận đại dịch ”. Và ông nhấn mạnh rằng “ tất cả các xí nghiệp và các cơ quan hành chánh, trong đó nhân viên tiếp xúc với công chúng, phải được trang bị các mặt nạ hô hấp ”

Ngược lại, không có mặt nạ hô hấp cho các công dân đơn thuần ! Những đối tượng này sẽ tự trang bị các mặt nạ ngoại khoa (masque chirurgical). Và ngay cả khi họ sẽ tiếp xúc mật thiết với các người bệnh, như trong trường hợp cách ly kiểm dịch (quarantaine) (dự kiến rằng những người bị nhiễm bởi virus vẫn ở tại nhà trong lòng gia đình của họ). Đối với những người đó, kế hoạch chỉ khuyến nghị sử dụng tại gia cũng như ở những nơi công cộng “ một mặt nạ ngoại khoa để phòng ngừa ”. Ngoài ra, một tỷ mặt nạ dự trữ đã được hình thành. Lời khuyến nghị thật đáng ngạc nhiên bởi vì cũng kế hoạch này lại dự kiến các mặt nạ hô hấp (masques respiratoires) cho nhân viên điều trị tiếp xúc với các bệnh nhân,
Các mặt nạ ngoại khoa chỉ bảo vệ các hạt lớn chất nhầy (những giọt nhỏ), và trái với các mặt nạ hô hấp, không hề bảo vệ các hạt nhỏ nhất (các aérosol).

Bằng cớ là những kết quả sơ khởi, được công bố cuối năm 2008, của một công trình nghiên cứu, được tài trợ bởi Trung tâm nghiên cứu các bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), Atlanta, lần đầu tiên cố gắng đánh giá tác dụng bảo vệ của các mặt nạ ngoại khoa : được sử dụng cùng với động tác rửa tay bằng alcool, các mặt nạ ngoại khoa cho phép làm giảm tỷ lệ mắc phải bệnh cúm từ 10% đến 50%, nhưng người ta không biết tác dụng thật sự của những mặt nạ này lúc được dùng đơn độc như thế nào. Bởi vì, theo Allison Aiello, đồng tác giả của ấn bản, “ những mặt nạ này được làm ra không phải để bảo vệ các anh chống lại những hạt nhỏ chất nhầy… và nếu chúng có một tác động lên tỷ lệ bệnh tật, đó là bởi vì chúng chận đứng những hạt lớn nhất và chúng ngăn cản không để cho đưa tay bẩn và có thể bị lây nhiễm lên miệng hay ngăn cản dụi mắt với các bàn tay ”

CÁC KẾT QUẢ RẤT LÀ KÉM.

Mặt khác, trái với các kế hoạch của chính phủ, các nhà chế tạo đúng là khuyến nghị việc đeo các mặt nạ hô hấp đối với những người tiếp xúc với các bệnh nhân, kể cả công chúng ! Và mặc dầu Didier Houssin cố trấn an về khả năng bảo vệ của các mặt nạ ngoại khoa (masques anti-projection) lúc chỉ rõ rằng “ những biện pháp đang được tiến hành phải cho phép xác định xem nhiên hậu chúng có cũng bảo vệ chống lại các xon khí (aérosol) hay không ” , nhưng Isabelle Balty, phụ trách về các nguy cơ sinh học ở INRS, (viện đặc biệt chịu trách nhiệm sự giám định các mặt nạ ở Pháp), thì rất là rõ ràng : “ Cách nay vài năm, chúng ta đã thử nghiệm các mặt nạ ngoại khoa (masque anti-projection) để biết xem chúng có hiệu quả chống lại các xon khí (aérosol) hay không, tất cả các kết quả đã rất là xấu. ”. Thế mà, một bộ phận quan trọng trong số 10.000 đến 1 triệu các hạt mà một bệnh nhãn phóng ra mỗi lần ho, lại đúng là dưới dạng xon khí.

Tại sao, trong trường hợp như vậy, đã không dự kiến bảo vệ dân chúng chống lại cách lây nhiễm này ? Rất đơn giản là bởi vì, “ phần lớn các tài liệu khoa học đă kết luận rằng chính chủ yếu các hạt nhỏ (gouttelettes) làm lan tràn bệnh tật và rằng sự lây nhiễm bởi các xon khí (aérosol) là không đáng kể ”, Anne Mosnierda, nữ điều phối viên quốc gia của các nhóm quan sát cúm đã giải thích như thế. Nhưng các chuyên gia dường như không đồng ý về quan điểm này và đối vối vài người thì các xon khí không những không hẳn là một cách lây nhiễm không đáng kể, mà nhiên hậu chúng là phương cách chủ yếu qua đó bệnh cúm lan tràn. Chính đó là quan điểm của Raymond Tellier, chuyên gia vi trùng học của đại học Toronto, đã công bố, vào năm 2007, một biên tập gồm tất cả những gì đã được viết về chủ đề này từ hơn 50 năm. Các kết quả : đối với ông, những lời khuyến nghị của các kế hoạch chẳng khác nào phủ nhận những kết quả của những công trình nghiên cứu khoa học của nhiều thập niên ”. Thí dụ như, ngay năm 1966, một công trình nghiên cứu, được tiến hành trên các cobayes người, đã cho thấy rằng sự lây nhiễm bởi các xon khí có thể xảy ra và, ngoài ra, phương thức lây nhiễm này đòi hỏi lượng virus 100 đến 1000 lần ít hơn so với phương thức lây nhiễm bằng các hạt nhỏ. Khoảng 10 năm sau, hai công trình nghiên cứu, lần này, đã xác nhận rằng những cá nhân bị nhiễm trùng trong thí nghiệm bằng đường xon khí bị một dạng bệnh nặng hơn. Và không phải chỉ có thế. Bởi vì, trái với các giọt nhỏ, do kích thước của chúng, giảm nhanh đến độ biến mất hoàn toàn khỏi bầu không khí trong vài phút, các xon khí có thể ở lại trong không khí nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần bởi vì chúng khá nhẹ nên có thể nổi bồng bềnh trong không khí. Nói một cách khác, các xon khí (aérosol) thể hiện một mối nguy cơ gây nhiễm kéo dài hơn so với các hạt nhỏ.Yếu tố giới hạn duy nhất ở đây là thời gian sống còn của virus dưới dạng xon khí, khi biết rằng virus dễ bị thương tổn dưới tác dụng của các tia cực tím, sự làm khô và sự oxi hóa. Thế mà, nhiều công trình nghiên cứu, được công bố trong những năm 1950 và 1960, đã cho thấy rằng một virus cúm có thể tồn tại và bảo tồn khả năng gây nhiễm của nó đến 24 giờ nếu độ ẩm tương đối (degré d’hygrométrie) vẫn dưới 40% hay vượt quá 60%. Nói tóm lại, như vậy các xon khí cho phép một số lượng virus nhỏ hơn gây nhiễm trong một khoảng thời gian dài hơn và những người bị nhiễm bệnh sẽ phát triển các dạng bệnh nghiêm trọng hơn.

DỄ DÙNG VÀ TIỆN NGHI LÚC SỬ DỤNG.

Trong những tình trạng này tại sao không cho tất cả mọi người các mặt nạ hô hấp ? Không phải là đơn giản như vậy. Và điều đó vì nhiều lý do. Trước hết sự phổ biến đại trà sẽ rất tốn kém. Một mặt nạ hô hấp loại FFP2 trị giá khoảng 30 centime, trong khi mặt nạ ngoại khoa chỉ tốn 3-4 centime. Sau đó, các khả năng sản xuất quá bị giới hạn không thể đương đầu với nhu cầu mang lại do việc sử dụng đại trà các mặt nạ hô hấp. Thật vậy, được thiết kế cho những nhân viên y tế, những mặt nạ sử dụng một lần duy nhất này phải được thay thế tối đa mỗi 8 giờ và kể cả được khuyến nghị thay đổi mỗi khi người ta rút chúng ra để ăn hay uống. Những nhu cầu sẽ là to lớn. Sau cùng, “ các mặt nạ hô hấp khó mang và khó chịu được trong một thời gian dài bởi vì chúng cản trở sự hô hấp ”, Didier Houssin đã giải thích như vậy.

Sau hết, mặc dầu H1N1 tỏ ra độc lực kém hơn virus của cúm Tay Ban Nha đã gây nên 40 đến 100 triệu nạn nhân vào năm 1917, tuy vậy bóng ma của một trận đại dịch xuất hiện vào thế kỷ XXI vẫn không thể được loại bỏ một chút nào. Và ngày đó, sẽ là quá muộn khi tự hỏi các mặt nạ mà các kế hoạch phòng ngừa dự kiến nhằm làm rào chắn giữa virus và dân chúng có thật sự hữu hiệu hay không.
(SCIENCE ET VIE 6/2009)

3/ CÓ THỂ CÓ MỘT SỰ LAN TRÀN VƯỢT ĐẠI TÂY DƯƠNG ?

Trong khi các kế hoạch chống đại dịch cúm còn xem các xon khí (aérosols) như là một phương thức lan tràn không đáng kể của virus, ngay ở kế cận với bệnh nhân, ngay năm 1989, các nhà khoa học đã đưa ra giả thuyết rằng các hạt xon khí này sẽ là nguyên nhân của sự lây nhiễm liên lục địa ! Vào thời kỳ đó, Gregory Hammond, chuyên gia vi trùng học thuộc đại học Manitoba (Canada), đã cho thấy rằng các xon khí bị lây nhiễm bởi cúm chỉ cần dưới hai tuần để đi từ Trung Quốc qua Châu Mỹ. Điều này giải thích đồng thời tính chất xảy ra theo mùa của các dịch bệnh và tính chất nhanh chóng của sự lan tràn. Chỉ có điều là chẳng ai đã thật sự tin vào giả thuyết này, vì lẽ sự việc một virus có thể sống sót hai tuần trong không khí mà không bị hủy diệt bởi sự oxi hóa, sự làm khô hay sự bức xạ bởi các tia cực tím, dường như là điều không thể có được. Nhưng một công trình nghiên cứu, được tiến hành năm 2001 bởi Dale Griffin thuộc US Geological Survey ở Florida, đã chứng tỏ rằng một virus đã tồn tại lúc vượt Đại Tây Dương giữa Châu Phi và Caraibes. Giải thích làm sao ? Bằng cách sử dụng các xon khí khác (trong trường hợp này là các bụi bặm của Sahara), làm vỏ giáp để bảo vệ chống lại những tấn công bên ngoài. Đối với Christina Kellog, một nữ đồng nghiệp của Dale Griffin, “ Các bụi bặm sa mạc được xuất khẩu từ Châu Phi qua Nam Mỹ hay từ Trung Quốc về phía Bắc Mỹ, tạo nên những cầu không khí thật sự ”, cho phép các vi sinh vật di chuyển từ lục địa này qua lục địa khác.
(SCIENCE ET VIE 6/2009)

4/ PHÓNG TINH SỚM : MỘT PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ.

Cứ 4 người đàn ông thì có một bị liên hệ bởi chứng bệnh này. Một thuốc phun dùng tại chỗ, chứa các thuốc gây tê tại chỗ (lidocaine và prilocaine), làm quy đầu bị mất cảm giác một phần, có thể phun 5 phút trước khi giao hợp, cho phép làm chậm lại sự phóng tinh mà không gây hại cho cảm giác. Các kết quả thỏa mãn của một công trình trên 300 người đã được trình bày tại hội nghị Niệu khoa của Hoa Kỳ.
(PARIS MATCH 11-17/6/2009)

5/ FIBROMYALGIE, MỘT CẢM NHẬN BẤT THƯỜNG VỀ ĐAU ĐỚN.

Ở Hoa Kỳ, một thuốc điều trị, milnacipran, vừa được chấp thuận cho 6 triệu bệnh nhân. G.S Patrick Cherin (Khoa Nội, Bệnh viện Pitié-Salpêtrière) giải thích tác dụng của thuốc này.

Hỏi : Ông có thể mô tả fibromyalgie, một hội chứng không được đánh giá đúng, tuy vậy gây bệnh cho 2% dân Pháp ?
B.S Patrick Cherin : Fibromyalgie gây bệnh theo tỷ suất 8 phụ nữ đối với 2 đàn ông và được biểu hiện bởi 4 dấu hiệu chính : 1. Đau cơ và khớp tỏa lan. 2. Mệt mỏi quan trọng (suy nhược). 3. Các rối loạn giấc ngủ, không còn bù được nữa. 4. Sự tồn tại những điểm rất đau ở các mức rất chính xác của cột sống thắt lưng hay vai…Chất lượng sống của những người bị bệnh (bệnh bắt đầu giữa 30 và 40 tuổi) là rất bị ảnh hưởng, với nhiều lần nghỉ việc.

Hỏi : Nguyên nhân của hội chứng này là gì ?
B.S Patrick Cherin : Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện từ hơn 30 năm nay. Những nguồn gốc cơ, nội tiết, di truyền vốn được nghi ngờ, đã dần dần bị loại bỏ. Cuối cùng, người ta đã khám phá ra rằng cơ chế của hội chứng này, trong đó sự tri giác đau đớn bị biến đổi, là do tình trạng stress nặng (mauvais stress). Tôi giải thích : nơi những bệnh nhân này, sau một loạn năng của các chất dẫn truyền thần kinh của đau đớn (những chất trung gian hóa học này bị cạn kiệt do một stress quá mạnh hay kéo dài), đã xảy ra một hiện tượng phong bế với sự hạ giảm khả năng dung nạp đau đớn (la tolérance à la douleur). Trong não bộ, trong trường hợp stress, các phản ứng sinh hóa, phát khởi sự tiết vài loại chất như sérotonine, không được thực hiện một cách bình thường.

Hỏi : Những thầy thuốc chuyên khoa nào có thể chẩn đoán và điều trị bệnh này ?
B.S Patrick Cherin : Thường thường các thầy thuốc chuyên khoa khớp đảm trách những bệnh nhân này và việc thiết lập chẩn đoán không phải là dễ dàng. Các thầy thuốc của những trung tâm chống đau đớn (centre antidouleur) cũng nhận nhiều bệnh nhân vì những cơn đau làm mất năng lực.

Hỏi : Trước khi được chẩn đoán, những người bị bệnh này có được thầy thuốc thấu hiểu không ?
B.S Patrick Cherin : Có thể bệnh nhân phải lang thang qua nhiều chuyên khoa (errance médicale). Thường thường đi đâu những bệnh nhân này đều được nghe nói “ Đó là bệnh tưởng, bệnh ở trong đầu ”. Chẩn đoán bệnh fibromyalgie chỉ được xác lập sau khi đã loại bỏ những nguyên nhân khác và đối với nhiều bệnh nhân, sau khi đã phải đi thăm khám nhiều chuyên khoa.

Hỏi : Thường thường điều trị như thế nào và các kết quả ra sao ?
B.S Patrick Cherin : Điều trị được căn cứ trên 3 bước. 1. Điều trị stress tâm lý, bằng nhận thức hay hành vi liệu pháp (thérapie cognitive et comportementale) để học cách quản lý stress. 2. Điều trị đau đớn, không chỉ bằng các thuốc thông thường, nhưng cũng bằng những liệu pháp tự nhiên như châm cứu, sophrologie…3. Một hoạt động vật lý đặc hiệu để luyện cơ đều đặn và dần dần. Những công trình nghiên cứu đã cho phép quan sát, nhờ các tập luyện này, một sự giảm 20% các triệu chứng mệt và đau đớn.

Hỏi : Ở Hoa Kỳ, Milnacipran vừa được chấp thuận để điều trị bệnh fibromyalgie. Tác dụng của nó là gì ?
B.S Patrick Cherin : Thuốc này, ở não bộ, có tác dụng điều biến lượng của hai chất trung gian của stress và của đau đớn, sérotonine và noradrénaline. 4 công trình nghiên cứu rộng lớn của Hoa Kỳ, với thời hạn từ 3 tháng đến 1 năm và bao gồm tổng cộng hơn 3000 bệnh nhân, đã cho những kết quả tốt. Người ta đã có thể quan sát thấy một sự cải thiện đáng kể các triệu chứng đau đớn, mất ngủ và mệt mỏi. Một vài người tham gia của công trình nghiên cứu này đã có thể, nhờ điều trị, tiếp tục trở lại hoạt động nghề nghiệp của mình.

Hỏi: Có những tác dụng phụ hay không ?
B.S Patrick Cherin : Từ 10 đến 20% các bệnh nhân đã cảm thấy đau đầu, nôn hay hồi hộp. Nhưng những tác dụng phụ này là tạm thời và ngừng ngay khi ngừng điều trị.

Hỏi : Milnacipran bao lâu nữa sẽ được thương mãi hóa ?
B.S Patrick Cherin : Những cuộc thử nghiệm đã được tiến hành trong nhiều nước khác nhau ở châu Âu với cùng những kết quả như ở Hoa Kỳ. Hồ sơ đang được xem xét. Yêu cầu đưa thuốc ra thị trường vào mùa hè này hẳn sẽ được đáp ứng.
(PARIS MATCH 20/5-27/5/2009)

6/ CÀNG NGÀY CÀNG CÓ NHIỀU NƯỚC THIẾU PHỤ NỮ :“ SỰ CHỌN LỌC TIỀN SINH ĐANG PHÁT TRIỂN ”

Việc xã hội ưa thích con trai đang khiến cho các phụ nữ, trong vài nước châu Á, thực hiện những sẩy thai chọn lọc (avortements sélectifs). Đã được biết đến ở Trung Quốc và Ấn Độ, hiện tượng này đang phát triển ở Việt nam, nơi mà tỷ suất giới tính vào lúc sinh (SRN : sex-ratio à la naissance, hoặc số con trai sinh ra đối với 100 con gái) đã lên đến 112 vào năm 2007, tức là 7 điểm trên mức “ tự nhiên ” 105. Đó là điều mà Christophe Z.Guilmoto, nhà nhân khẩu học, giám đốc nghiên cứu của trung tâm dân số và phát triển ở Paris, đã cho thấy trong một công trình nghiên cứu được đăng tải bởi tạp chí khoa học on line Plos One.

Hỏi : Việc gia tăng số con trai ở Việt nam phải chăng là hiện tượng mới xảy ra gần đây ?
Christophe Z. Guilmoto : Những con số có được vào lúc thống kê năm 1999 đã không cho thấy một bất thường nào. Chúng tôi được tham khảo những dữ kiện mới đây hơn, cho thấy, bắt đầu từ năm 2004, một sự gia tăng số con trai theo đường thẳng và một cách đáng kể.

Hỏi : Làm sao giải thích hiện tượng này ?.
Christophe Z. Guilmoto : Từ nhiều năm nay, chính phủ Việt Nam giới hạn sinh đẻ và mỗi gia đình chỉ được có hai con. Theo truyền thống, con trai đóng một vai trò xã hội và tôn giáo, đại diện cho giòng giống, thị tộc. Tất cả điều đó đã không xuất hiện một sớm một chiều. Sự thay đổi trong các thái độ là do sự phổ biến trong nước của các máy siêu âm từ năm 2000. Mặt khác, việc phá thai đã là một việc làm thông thuờng ở Việt Nam.

Hỏi : Sự kiểm tra sinh đẻ có chịu trách nhiệm về sự chọn lọc tiền sinh (sélection prénatale) này hay không ?
Christophe Z. Guilmoto : Trước đây, người ta đẻ con cho đến khi có được một đứa con trai rồi người ta dùng một phương pháp ngừa thai. Ngay những năm 1980, người ta cũng quan sát nhận thấy ở Việt nam rằng ¾ những em bé đẻ sau cùng là con trai. Nhưng phương cách này, trở thành không có thể thực hiện với sự kiểm soát sinh đẻ, trên thực tế, tạo một sức ép lên sự chọn lọc giới tính của trẻ em. Ở Trung Quốc, nơi sự kiểm soát sinh đẻ nghiêm khắc hơn so với Việt nam và là nơi sự thực hiện siêu âm đã phát triển ngay từ năm 1982, tỷ suất giới tính vào lúc sinh (SRN) gia tăng từ đầu những năm 1980 và đã đạt trị số 120 vào năm 2005, thậm chí 130 trong những tỉnh Jiangxi, Anhui và Shaanxi.

Hỏi : Tuy vậy hiện tượng này cũng ảnh hưởng đến Ấn Độ, mặc dầu ở đây không có kiểm tra sinh đẻ.
Christophe Z. Guilmoto : Tỷ suất giới tính vào lúc sinh (SRN) trung bình ở Ấn Độ là 113, với những khác nhau to lớn giữa các vùng. Phía bắc Ấn Độ thể hiện một sự ghét cay ghét đắng đối với con gái, bởi vì của hồi môn là một gánh nặng đối với cha mẹ. Trong tỉnh Punjab, SRN là 125 vào năm 2005, mặc dầu không có áp lực chính trị đối với việc kiểm soát sinh sản. Ngay trong thủ đó Delhi, tỷ số trên 120. Người ta cũng nhận thấy các SRN cao, mặc dầu không hề bị có chính sách kiểm tra sinh đẻ, ở Đài Loan và Singapour, ở Pakistan và ở Bangladesh. Sau cùng, người ta khám phá một sự gia tăng SRN trong miền nam Caucase, ở Arménie, ở Géorgie, ở Azerbaidjan, nơi đây tỷ số lên đến 115 vào năm 2000. Ở đó đôi khi người ta ghi nhận nhiều sẩy thai hơn là sinh đẻ ! Khuynh hướng cũng y hệt, nhưng với một mức thấp hơn, ở Albanie và Monténégro.

Hỏi : Những hậu quả của việc ưa thích con trai là gì ?
Christophe Z. Guilmoto : Những hậu quả, đó là toàn bộ xã hội dung nạp một sự phân biệt giới tính ngay từ gốc. Sexisme trở thành một chuẩn mực được ghi vào trong những nghi thức xã hội. Hai mươi hoặc hai mươi lăm năm sau, sự thiếu con gái làm xáo trộn trầm trọng thị trường hôn nhân, trong những xã hội mà việc cưới hỏi là bắt buộc. Sự bất quân bình dẫn đến những cuộc di trú kết hôn (migration de mariage). Đàn ông khó tìm ra một vị hôn thê, phải đi kiếm ở những nơi khác. Trái lại, các phụ nữ buộc phải di trú về các thành phố và những vùng được ưu đãi hơn, thậm chí những nước láng giềng, nơi mà sự thiếu đàn bà tạo cho họ một cơ may tìm những ông chồng có đẵng cấp xã hội cao.

Hỏi : Một vài phân tích tiên đoán những xung đột liên kết với việc thiếu phụ nữ. Ông nghĩ như thế nào ?
Christophe Z. Guilmoto : Tôi nghĩ rằng các hệ thống xã hội sẽ thích ứng. Sự không cưới hỏi sẽ được công nhận như là một đường đời bình thường, điều này rất khó được chấp nhận ở châu Á. Ở Ấn Độ, nhất là ở Punjab, sự thiếu phụ nữ cũng đã bắt đầu làm rạn nứt hàng rào đẳng cấp : đàn ông lấy làm vợ những người thuộc đẳng cấp dưới, điều này hoàn toàn không thể quan niệm được cách nay không lâu.

Hỏi : Những hiện tượng sinh đẻ chọn lọc này có dài lâu không ?
Christophe Z. Guilmoto : Một vài nhà nghiên cứu cho rằng Trung Hoa, Ấn Độ và Caucase cho thấy những dấu hiệu của sự hạ tỷ suất giới tính lúc sinh (SRN), loan báo sự chấm dứt của một chu kỳ, sự chọn lọc tiền sinh, sau cùng, chỉ là một lệch lạc tạm thời. Ở Nam Triều Tiên, tỷ suất giới tính lúc sinh đã leo cao như ở Trung Quốc trước khi trở lại bình thường vào năm 2007. Có được điều này là nhờ sự tiến hóa của xã hội, các phụ nữ được tiếp cận với giáo dục học hành, với thị trường công ăn việc làm. Nhưng nhất là nhờ tác động của chính phủ đã cải cách chính sách gia đình và triển khai một bộ máy trấn áp chống lại việc chọn lọc sinh đẻ này.
(LE MONDE 20/5/2009)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học 122, bài số 4

7/ RUNG NHĨ : KỸ THUẬT TẦN SỐ PHÓNG XẠ ĐƯỢC XÁC NHẬN LÀ ĐIỀU TRỊ CÓ HIỆU QUẢ NHẤT.

Hội nghị quốc tế về nhịp tim học đã diễn ra ở Boston. Nhiều báo cáo về bệnh rung nhĩ (fibrillation auriculaire) (thường xảy ra nhất trong những rối loạn nhịp tim) đã được trình bày. Tần số phóng xạ (radiofréquence) đã được công nhận như là phương pháp điều trị hiệu quả nhất. Mặc dầu kỹ thuật xâm nhập, nhưng các kết quả rất là có sức thuyết phục. Kỹ thuật tần số phóng xạ nhắm đưa một ống thông (sonde) qua đường tĩnh mạch vào trong tim, đến tận tâm nhĩ trái và phá hủy bằng siêu âm các vùng chịu trách nhiệm rối loạn nhịp tim này. Trong một công trình nghiên cứu so sánh nơi 167 bệnh nhân, tần số phóng xạ đã đảm bảo tỷ lệ 63% thành công vĩnh viễn, so với 17% khi dùng thuốc, và ưu điểm có một chất lượng sống tốt hơn.
(PARIS MATCH 4-10/6/2009)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học 121, bài số 3
Thời Sự Y Học 114, bài số 5

8/ XƠ GAN : NGỪNG UỐNG KHÔNG BAO GIỜ LÀ QUÁ MUỘN.

Ngạn ngữ của các chuyên gia về xơ gan do rượu : ngừng uống không bao giờ là quá muộn. Nhưng điều này không có nghĩa là sự từ bỏ uống rượn có thể không ngừng được trì hoãn.

Chính như vậy mà BS Nick Sheron của Đại học Southhampton (Vương Quốc Anh), đã tóm tắt công trình nghiên cứu dài hạn, mà những kết luận được đăng tải trong tờ báo khoa học Addiction. Một nghiên cứu lâm sàng trên các sinh thiết của 100 bệnh nhân, được thực hiện giữa tháng giêng 1995 và tháng 12/ 2000, và các kết quả đã được so sánh với các thống kê tử vong, thu được bởi một trung tâm quốc gia chuyên môn.

Từ đó rút ra kết luận là, nếu một bệnh nhân ngừng uống ngay sau khi được chẩn đoán xơ gan nghiêm trọng do rượu, thì khả năng sống sót lâu dài, cao hơn nhiều sau một tháng, so với cơ may sống sót của một người bệnh với xơ gan ít trầm trọng hơn, nhưng vẫn tiếp tục uống rượu. Nói chính xác hơn : tỷ lệ sống còn sau 7 năm là 72% đối với người ngừng rượu so với 44% đối với người tiếp tục uống. Lý do khiến BS Sheron nêu ra nhận xét : “ Ở mức cơ bản nhất, việc điều trị một bệnh nhân nghiện rượu là nhằm duy trì anh ta sống đủ lâu để có thể ngưng uống rượu, và sau đó tối đa hóa những khả năng của anh ta kiên trì cai rượu.” Và nhấn mạnh rằng, về vấn đề này, mốt chánh sách y tế có trách nhiệm phải nhằm nâng đỡ các bệnh nhân, để giúp họ chống lại rượu.
(LE SOIR 18/4-19/4/2009)

9/ THƯƠNG SỐ THÔNG MINH THẤP HƠN NƠI CÁC TRẺ ĐƯỢC HỒI SINH.

Tình trạng giảm oxy-mô (hypoxie périnatale) và tăng thán huyết (hypercapnie) có thể dẫn đến những vấn đề thần kinh nghiêm trọng. Theo một công trình nghiên cứu của Anh, các em bé được hồi sinh và không bị các thương tổn lâm sàng, về sau cũng có nguy cơ có một thương số thông minh dưới mức trung bình.

Theo OMS, sự ngạt thở chu sinh (asphyxie périnatale) sẽ là nguyên nhân của 1/5 các trường hợp tử vong sơ sinh. Tuy nhiên, số các trẻ em sống sót, sau này phát triển những rồi loạn phát triển, không được biết đến.

Năm 1976, Sarnat đã xếp loại bệnh não do thiếu máu cục bộ (encéphalopathie ischémique) là nhẹ, trung bình hay nặng tùy theo mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng thần kinh. Được xem là nhẹ trong trường hợp tăng cảnh giác (hypervigilance) và rất dễ bị kích thích. Giảm trương lực cơ kèm theo bại liệt được xem như một hội chứng trung bình, trong khi một tình trạng sững sờ (état stuporeux) với sự vắng mặt của các phản xạ nguyên phát và một sự chậm phát triển, biểu hiện những di chứng trầm trọng nhất. Mãi đến nay, người ta cho rằng, những đứa trẻ, sau khi được hồi sinh, không có triệu chứng hay có những bất thường thần kinh nhẹ, nhiên hậu vào lúc chúng bắt đầu đi học, sẽ không khác với những đứa trẻ của một nhóm kiểm tra.

CHẬM NHẬN THỨC.

David Odd và các cộng sự viên Anh) đã theo dõi trong công trình nghiên cứu Avon Longitudinal Study hơn 11.000 em bé sinh sau một thai nghén ít nhất 36 tuần. 815 trẻ (7,1%) đã đươc hồi sinh vào lúc sinh, nhưng chúng vẫn không có triệu chứng và không cho thấy một dấu hiệu bệnh não (encéphalopathie) nào trong khi 58 trẻ (0,5%) đúng là có những di chứng thần kinh. Những trẻ em được hồi sinh phần lớn có một trọng lượng lúc sinh thấp, được sinh ra hơi thiếu tháng và có một điểm số Apgar thấp. Những bà mẹ trong lúc thai nghén có một huyết áp cao hay sốt, và phần lớn ít học.

Khoảng 50 % các trẻ đã chịu những trắc nghiệm nhận thức (tests cognitifs) vào lúc 8 tuổi. Những điểm số nơi các trẻ em được hồi sinh, nhìn toàn bộ, là ít tốt hơn, điều này không làm ngạc nhiên lắm. Nhưng điều bất ngờ, đó là những trẻ không có triệu chứng cũng có những điểm số thấp hơn so với nhóm kiểm tra.

Vậy thì, các nguy cơ vẫn tồn tại trong thời gian, sau một tình trạng thiếu oxy-mô chu sinh (hypoxie périnatale), biến thiên từ những vấn đề nghiêm trọng trong sự phát triển đến một trí thông mình kém hơn, nơi những trẻ không có triệu chứng lúc khởi đầu.

Vì lẽ có nhiều trường hợp không có triệu chứng hơn nhiều những trường hợp các đứa bé với các thương tổn được biểu hiện lâm sàng, nên các tác giả kết luận rằng những hậu quả của một tình trạng thiếu oxy-mô và của một thủ thuật hồi sinh thật ra quan trọng hơn là đã được dự kiến. Để đánh giá tầm quan trọng thật sự của thiếu oxy-mô chu sinh, có lẽ sẽ phải cần đến những tiêu chuẩn khác với việc chỉ đánh giá thần kinh không thôi, như các chỉ dấu sinh hóa học xác định mức độ nhiễm axit chuyển hóa, điện tâm đồ và RMN.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 26/5/2009)

10/ CÁ, HỒ ĐÀO VÀ OLIVE CHỐNG BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO TUỔI TÁC (DMLA).

Việc gìn giữ một thị giác tốt cũng có thể phụ thuộc vào chế độ ăn uống. Trong les Archives d’Ophtalmologie, một tạp chí của Hoa Kỳ, được công bố hôm nay, các thầy thuốc người Úc của đại hoc Sidney cho thấy rằng một chế độ ăn uống giàu hồ đào (noix), cá hay dầu olive, làm giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Hiện nay, ở Pháp, sự biến đổi thị giác trung tâm này cùa võng mạc tác động lên 500.000 người, ở những mức độ khác nhau. Ngược lại, những axít béo được gọi là trans (những chất béo thực vật được bảo hòa bởi một phương thức công nghiệp để cải thiện sự tiêu thụ chúng) có một tác dụng có hại lên thị giác. Hiện nay, ở Pháp cũng như trong những nước kỹ nghệ hóa khác, DMLA là nguyên nhân chính của thị lực kém (malvoyance) nơi những người trên 65 tuổi. Những yếu tố nguy cơ dĩ nhiên là tuổi tác, cũng như tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) và hút thuốc lá.

Để đánh giá mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và DMLA, các nhà nghiên cứu người Úc đã quan tâm đến chế độ ăn uống, và đặc biệt là sự tiêu thụ mỡ, của 2454 người tuổi hơn 65, từ năm 1992 đến 1994 và đã chụp hình võng mạc. 10 năm sau, các kết quả cho thấy rằng những người ăn cá, ít nhất một lần mỗi tuần (nhưng cũng ăn hồ đào và dầu olive) có tỷ lệ bị DMLA 30% thấp hơn. Sự tiêu thụ càng quan trọng thì nguy cơ càng ít cao.

Một công trình nghiên cứu thứ hai, được công bố trong cùng tạp chí, đã kết luận rằng một sự tiêu thụ quá mức axít trans (hiện diện trong viennoiserie công nghiệp, biscuit và vài món ăn tiền chế khác) làm gia tăng nguy cơ bị DMLA.

Những công trình nghiên cứu này, nếu được xác nhận, chứng tỏ một cách rõ ràng một mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và sự biến đổi võng mạc do bệnh DMLA.
(LE FIGARO 12/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (12/6/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#7 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:50:48 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ DỰ PHÒNG CHỐNG CÚM.

Theo các chuyên gia, sự tôn trọng một số nguyên tắc vệ sinh cho phép làm giảm sự lây truyền.

Hỏi : Làm sao có thể dự phòng trong trường hợp tiếp xúc với một người bị cúm A ?
Mọi tiếp xúc với một bệnh nhân bị bệnh cúm mới này đòi hỏi điều trị dự phòng với Tamiflu (một viên mỗi ngày trong 7 đến 10 ngày). Ngoài ra cũng cần những “ biện pháp rào chắn ” (mesures barrière) : bệnh nhân phải mang một mặt nạ ngoại khoa để không làm lây nhiễm chung quanh, tránh ôm hôn và bắt tay bệnh nhân. Đối với mọi tiếp xúc, phải rửa tay bằng xà phòng, Paul Léophonte, vừa xuất bản cuốn “ Les Grippes en question ”, đã xác nhận như thế. Dầu sao, loại tiếp xúc này không nên để xảy ra : bình thường, một người bị bệnh cúm phải ở cách ly tại nhà. Nếu ta ở cách xa bệnh nhân trên 2 m, thì khó mà bị lây nhiễm, Jean-Philippe Derenne, trưởng khoa bệnh phổi, bệnh viện Pitié-Salpêtrière đã xác nhận như thế.

Hỏi : Có phải áp dụng những biện pháp thận trọng đối với một người chỉ bị nghi là có bệnh cúm hay không?
Cái khó khăn là ở chỗ những triệu chứng của bệnh cúm rất là thông thường. Nếu một người bị sốt, đau đầu, ho, và đến từ một nước mà tình trạng đại dịch đã được tuyên bố (mức 6), thì những thận trọng nêu trên phải được tuân thủ, trong lúc chờ đợi sự xác nhận của chẩn đoán, theo Paul Léophonte.

Hỏi : Có bị nguy hiểm hay không khi tiếp đón tại nhà những người đến từ những vùng bị lây nhiễm ?
Nếu những người này không có một triệu chứng nào (mặc dầu họ có thể là những “ người lành mang ” virus), không nên hoảng sợ. Thời gian tiềm phục của bệnh cúm là từ 4 đến 6 ngày. Chỉ cần chờ đợi hết kỳ hạn này thì có thể chắc là các khách thăm viếng không phải là những người bệnh. Hôm nay, nhiều người đến từ Hoa Kỳ tham gia các hội nghị của đất nước chúng ta. Chúng ta sẽ không tẩy chay họ. Hiện nay chúng ta trong một thời kỳ trung gian. Nước Pháp hiện không ở mức báo động đại dịch toàn cầu cấp 6. Khi sẽ là như vậy, thì tất cả mọi cuộc hội họp công cộng sẽ bị cấm chỉ. Theo G.S Derenne, nếu tất cả mọi người đều ở tại nhà trong một tuần, thì sẽ không có bệnh cúm A nữa, virus sẽ biến mất. Đó cũng hơi giống điều mà các người Mễ đã làm trong những weekend vào cuối của tháng tư.

Hỏi : Chúng ta có thể đi nghỉ hè trong những nước có một số lượng cao các trường hợp cúm A, như Mễ Tây Cơ hay Hoa Kỳ ?
Vâng, không có vần đề tránh không đi nghỉ hè trong tình hình hiện nay, kể cả để đi Mễ Tây Cơ hay Hoa Kỳ. Vì lý do thận trọng, chúng ta có thể mang theo trong hành lý một điều trị bằng thuốc Tamiflu. Nếu không, với sự xuất hiện bất cứ triệu chứng cúm nào, phải đi khám nhanh chóng một thầy thuốc, bởi vì thuốc Tamiflu chống virus này, để được hiệu quả, phải được cho trong 48 giờ đầu sau khi bắt đầu các triệu chứng.

Hỏi : Có phải những người đã bị lây nhiễm bây giờ, sẽ được bảo vệ về sau hay không, mặc dầu virus có thể độc lực hơn ?
Chúng tôi không thể trả lời câu hỏi này, Jean Philipp-Derenne đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu cúm Tay Ban Nha đã chứng tỏ rằng, các quân nhân của Hải Quân quốc gia, bị ảnh hưởng ít nghiêm trọng nhất bởi làn sóng dịch thứ hai, vốn là những người đã bị cúm vào làn sóng đầu tiên của dịch bệnh. Nếu như virus không bị quá nhiều biến dị, ta có tất cả các lý lẽ để nghĩ rằng những người này sẽ có được một mức độ bảo vệ nào đó. Đó là điều đã xảy ra vào lúc làn sóng cúm Tây Ban Nha lần thứ hai : những người già, vốn đã bị mắc phải một loại virus khác hẳn (cúm Á Châu) vào năm 1890, đã được bảo vệ hơn những kẻ khác. Các kháng thể vẫn hiện diện rất lâu trong cơ thể. Mới đây, người ta đã tìm thấy các kháng thể của cúm Tây Ban Nha nơi những người bách niên.

Hỏi : Ngay từ bây giờ có nên thực hiện các chiến dịch thông tin lớn về những phương pháp phòng ngừa tốt hay không ?
Đó là một điểm thiết yếu, theo Patrick Berche, giáo sư vi trùng học (Paris-V) : phải báo cho dân chúng biết rằng sẽ có một làn sóng dịch cúm quan trọng, trong 6 đến 10 tuần, với nhiều bệnh nhân. Thông báo về các triệu chứng và cách xử trí là rất quan trọng. Phải nhắc lại rằng, trong trường hợp bị cúm thì phải ở tại nhà và báo với thầy thuốc gia đình. Việc thông tin về các mặt nạ và cách sử dụng chúng, về các điều trị kháng virus, về thái độ khi đứng trước một bệnh nhân, là rất quan trọng để làm giảm nguy cơ lây truyền. Đối với Paul Léophonte, dân chúng ở Pháp bắt đầu được thông tin khá tốt, mặc dầu những chiến dịch thông tin vẫn là cần thiết.
( LE FIGARO 16/6/2009)

2/ CÚM : LÀM SAO CHUẨN BỊ VỚI CÁC ĐỀ KHÁNG ?

Một vài thuốc kháng virus hiện có hiệu quả chống lại virus cúm A (H1N1). Nhưng những giống gốc đề kháng sẽ xuất hiện, đó là điều không thể tránh được.

Tất cả các điều trị chống lại các bệnh nhiễm khuẩn đều có một mối nguy cơ: làm dễ sự chọn lọc của các giống gốc đề kháng với các thuốc hiện có. Virus cúm cũng không thoát khỏi quy tắc tiến hóa này : con người hiệu chính những thuốc kháng virus mới, nhưng vài giống gốc có những biến dị thuận lợi, cho phép chúng đề kháng với những thuốc kháng virus này và tăng sinh.

Một vài trong những nghiên cứu đang được tiến hành nhằm vào protéine M2, một trong những protéine của vỏ của virus cúm A, cần thiết cho sự tăng sinh của siêu vi trùng. Protéine này bị ức chế bởi các adamantane, mà amantadine là một bộ phận (do tính chất kháng khuẩn, amantadine đôi khi được sử dụng để điều trị và dự phòng bệnh cúm, nhưng ngày nay amantadine chỉ có một vai trò hạn chế). Protéine M2 chịu những biến dị, trong đó một vài biến dị cho phép nó thoát khỏi tác dụng của các adamantane kháng virus. Như thế, hơn 90% của các giống gốc thuộc sous-type A (H3N2) của virus cúm mùa và A (H5N1) của cúm gia cầm, đều đề kháng với adamantane.

Người ta đã chứng tỏ rằng giống gốc mới đây, A (H1N1), có nguồn gốc từ heo, cũng đề kháng với điều trị bởi các adamantane. Ngược lại, hiện nay nó lại nhạy cảm với những thuốc khác, như oseltamivir (Tamiflu).

Làm sao chống lại các đề kháng đối với adamantane ? Các nhà sinh học Hoa Kỳ đã nghiên cứu nguồn gốc của sự biến dị là nguyên nhân của các đề kháng này. Bằng cách so sánh các bộ gène (génome) và các protéine của hàng trăm giống gốc H3N2 được phân lập từ năm 1997, họ cho thấy rằng đại đa số các virus H3N2 đề kháng, phát xuất từ một giống gốc bị biến dị, được phát hiện lần đầu tiên ở Hồng Kông vào mùa hè 2003, và protéine M2 của giống gốc này đã bị biến đổi.

Protéine M2 là một kênh proton (canal à protons), nghĩa là nó điều hòa sự đi qua của các ion H+. Protéine này được tạo thành bởi 4 phó đơn vị dưới dạng hélice. Khi virus đi vào trong một tế bào, kênh được mở ra và các proton đi vào trong virus, điều này làm phát khỏi sự phân ly của vỏ virus, cho phép các ARN của virus được tự do phiên thành protéine virus.

Hai nhóm nghiên cứu, nhóm của William DeGrado, thuộc Đại học Pennsylvanie, và nhóm của James-Chou, ở Havard, đã làm sáng tỏ một sự biến dị của M2 gây nên sự đề kháng như thế nào.

Mặt khác, từ mười năm nay, protéine M2 là đối tượng của các nghiên cứu nhằm tìm ra một vaccin “ vạn ứng ”, hiệu quả chống lại nhiều giống gốc của virus cúm, điều này sẽ tránh phải bào chế mỗi năm vaccin cúm mùa hay vaccin chống đại dịch. Thật vậy, đoạn ngoài (fragment externe) của M2 được bảo tồn trong tất cả các virus loại A. Bằng cách đưa đoạn ngoài vào bề mặt của một protéine, người ta hy vọng gây nên sự sản xuất các kháng thể có tác dụng chống lại tất cả các giống gốc.

Những nhóm nghiên cứu đã tiến xa nhất trong địa hạt này là nhóm của Walter Fiers và Xavier Saelens, thuộc Đại Học Gand (Bỉ) và nhóm của Robert Belshe, thuộc Đại Học Saint Louis, Missouri . Hai thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I đã cho thấy rằng vaccin gây nên sự sản xuất các kháng thể chống lại protéine M2 nơi hơn 90% những người được tiêm chủng. Nhưng người ta không biết những kháng thể này có bảo vệ những người được tiêm chủng chống cúm hay không ; chỉ một thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn mới có thể chứng tỏ điều đó.
( POUR LA SCIENCE 6/2009)

3/ NHỮNG TAI NẠN GIAO THÔNG GÂY NÊN HƠN 1 TRIỆU NGƯỜI CHẾT TRÊN THẾ GIỚI.

SANTE PUBLIQUE. OMS công bố báo cáo lần đầu tiên về an ninh đường xá của 178 nước, với 20-50 triệu chấn thương không tử vong mỗi năm.

Trên đường từ Kampala và Gulu, phía bắc Ouganda, thường thường xe bus qua mặt anh với tốc độ 100 km/giờ. Ở Vientiane (Lào), 70% dân số dưới 20 tuổi và lái xe hai bánh ở giữa các chiếc xe tải to tướng. Trên tất cả các lục địa, cùng các nguyên nhân có cùng những hậu quả : các tai nạn lưu thông mỗi năm gây tử vong cho 1,2 triệu người, và 20 đến 50 triệu chấn thương không gây chết người.

OMS lần đầu tiên công bố một báo cáo về sự ngăn ngừa các chấn thương do các tai nạn giao thông trong 178 nước, được thiết lập từ các dữ kiện của một công cuộc điều tra chuẩn, được tiến hành vào năm 2008.

Hơn 90% các tai nạn đường xá chết người xảy ra trong những nước có lợi tức thấp hoặc trung bình. Tỷ lệ tử vong được quy cho các tai nạn đường xá là 21,5 trên 100.000 người đối với những nước có lợi tức thấp, và 19,5 trên 100.000 người trong những nước có lợi tức trung bình.

GIỚI HẠN TỐC ĐỘ CÓ HIỆU QUẢ TRONG 10% CÁC QUỐC GIA.

49% các trường hợp tử vong là những khách bộ hành, những người lái xe đạp hay những người sử dụng xe hai bánh có động cơ. Tỷ lệ của những người sử dụng dễ bị thương tổn này lại còn cao hơn trong những nước nghèo : thí dụ, ở Đông Nam Á, tỷ lệ này vượt quá 90% của toàn bộ các tử vong.

Đứng trước một bảng tổng kết như thế, những cố gắng phòng ngừa rõ ràng không đủ và nhiều nước không có pháp luật đường sá tương xứng để chống lại việc lái xe trong khi say, tốc độ quá mức hay để buộc phải mang mũ sắt, đeo dây an toàn, các ghế ngồi dành cho trẻ em.

Chỉ 29% các nước đã giảm tốc độ xuống 50 km/giờ hay ít hơn trong thành phố (trong khi tốc độ là một trong những yếu tố nguy cơ chính của tai nạn nơi những khách bộ hành và những người lái xe đạp). Dưới 10% các nước cho rằng, những giới hạn tốc độ được áp dụng một cách có hiệu quả : việc thiếu radar cố định hay di động và thiếu nhân viên công lực được đào tạo để kiểm soát, là rõ rệt ở Châu Phi. Mặt khác, chỉ 1/3 dân số thế giới sống trong một đất nước có một chính sách quốc gia khuyến khích việc đi bộ hay những đi lại bằng xe đạp.

Về việc lái xe trong khi say rượu, mặc dầu hơn 90% các nước đều có một đạo luật quốc gia, nhưng chỉ có 49% là đã định một ngưỡng nồng độ rượu hợp pháp dưới 0,5 g/L. Và chỉ có 11% các quốc gia là đã ấn định một ngưỡng nồng độ cồn trong máu thấp hơn đối với các người lái trẻ tuổi hay những người mới lái xe.

Đối với những người đi mô tô, 74% các nước buộc phải thường trực đội mũ sắt, nhưng không có một tiêu chuẩn an ninh nào trong 43% các quốc gia. Việt Nam, đã có một đạo luật về việc mang mũ sắt, đã thu được các kết quả. 95% những người lái xe hai bánh từ nay phải mang mũ sắt và tỷ lệ tử vong đã giảm xuống.

Về những hành khách xe hơi, việc mang dây an toàn (làm giảm nguy cơ tử vong 40-50% đối với những người ngồi ở phía trước) chỉ bắt buộc trong 38% các nước có lợi tức thấp.

Lần đầu tiên, bảng báo cáo này cho mỗi nước những bản đồ về tỷ lệ bệnh tật và tử vong. “ Chúng tôi hy vọng rằng điều xác nhận này sẽ giúp những người hữu trách mỗi nước kêu gọi những nhà lập pháp cải thiện các đạo luật ” đối với an ninh và phòng ngừa đường sá, OMS đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 16/6/2009)

4/ PHẪU THUẬT HIỆU QUẢ CHỐNG BỆNH RUNG NHĨ.

CARDIOLOGIE. Cắt bỏ các vùng của tim chịu trách nhiệm các rối loạn nhịp là hiệu quả hơn thuốc men.

Jean-Marc là một trưởng bộ môn lâm sàng, chỉ mới 27 tuổi : anh tham gia trực gác ngoại khoa chỉnh hình 9 lần mỗi tháng, làm việc 15 giờ mỗi ngày và uống cà phê cùng chừng ấy số lượng ! Từ ba ngày nay, thầy thuốc bệnh viện tương lai và xuất sắc này bị những cơn hồi hộp rất khó chịu, cảm giác như có một “ tổ ong ” trong lồng ngực, hay có cảm giác như tim bị dừng lại.

Anh thăm khám thầy thuốc chuyên về nhịp tim. Chẩn đoán : Jean-Marc bị rung nhĩ cấp tính kịch phát (fibrillation auriculaire aigue paroxystique). Nói một cách khác, hệ thống tạo nhịp vốn tạo nên sự co cơ của tim, đã trở nên hỗn loạn một cách đột ngột.

Thật vậy, một vài tế bào của thành tâm nhĩ, được tập trung lại trong “ nút xoang ” (noeud sinusal), khử cực theo chu kỳ (những tế bào này làm đảo tính đối cực điện của màng tế bào). Sự khử cực này tiến từ gần đến xa, từ cao xuống thấp, đến chỗ nối (jonction) với tâm thất phải. Chính sự khử cực này đảm bảo một sự co thắt đồng bộ, điều hòa, có hiệu quả của những tế bào cơ của tâm nhĩ.

Trong trường hợp rung nhĩ, sự khử cực này trở nên hỗn loạn và sự co bóp của tâm nhĩ trở nên không hiệu quả (mặc dầu một nhịp rất nhanh trên 300 mỗi phút). Có hai loại điều trị : hoặc là những thuốc chống loạn nhịp, hoặc là những kỹ thuật can thiệp với các ống thông dò tim (sondes cardiaques).

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN 167 BỆNH NHÂN

Một công trình nghiên cứu, được trình bày ở hội nghị chuyên đề Heart Rythm 2009 ở Boston (Hoa Kỳ), lần đầu tiên, vừa so sánh điều trị dược học và can thiệp ngoại khoa. Kết quả : các thiệp ngoại khoa hiệu quả hơn nhiều.

B.S David Wilber (giám đốc của Viện tim mạch của loyola University, Illinois) đã điều khiển một công trình nghiên cứu nhiều trung tâm, quy tụ 167 bệnh nhân thuộc 15 bệnh viện Hoa Kỳ, Một năm sau khi được cắt bỏ ngoại khoa (ablation chirurgicale), 63% các bệnh nhân vốn bị rung nhĩ không còn có triệu chứng nữa. Ngược lại, chỉ có 17% trong số những bệnh nhân này, chỉ được điều trị bằng thuốc chống loạn nhịp, là được chữa lành mà thôi.

Từ những bước đầu, cách nay 40 năm, kỹ thuật cắt bỏ (technique d’ablation) đã tiến triển tốt, nhưng phương thức căn bản vẫn như nhau : trước hết người ta thiết lập một bản đồ điện (carte électrique) của những vùng cần phải đốt, bằng cách thu những phóng điện ngẫu nhiên từ các ổ lạc chỗ (foyers ectopiques) chịu trách nhiệm loạn nhịp, ở chỗ nối với các tĩnh mạch phổi, nhờ một ống thông dò (sonde để mesure) được đặt ở đầu một cathéter.

Sau đó, người ta đưa vào, qua chọc dò một tĩnh mạch đùi lớn, đầu mút của một cathéter mảnh, rồi người ta đưa lên, ngược dòng, vào trong tĩnh mạch chủ, rồi vào tâm nhĩ phải.

Cũng có những hệ thống từ hành (navigation magnétique), có thể được kết hợp với chụp hình ảnh tim (imagerie médicale) và cho phép xác định, một cách thường trực, vị trí đầu mút của cathéter, để tiến đến càng gần mục tiêu càng tốt. Một khi đã đến được mục tiêu, người thầy thuốc phát một dòng tần số phong xạ (courant de radiofréquence) ở đầu mút của cathéter. Dòng tần số phóng xạ này chính xác hơn và dễ kiểm soát hơn những dòng điện liên tục có điện thế cao (courants continus de haut voltage), được sử dụng cách nay nhiều thập niên. Dòng tần số phóng xạ này phá hủy ổ bất thường gây loạn nhịp, và thường mang lại sự chữa lành vĩnh viễn.

“ Có một “ dịch bệnh ” rung nhĩ ở Pháp, phải được quy cho sự gia tăng tần số của bệnh suy tim. Ngày nay, hiếm khi ta chết vì những bệnh tim này, do đó càng ngày càng có nhiều bệnh tim già (cardiopathies vieilles), trong một dân số lão hóa ”, BS Arnaud Lazarus của trung tâm nhịp tim học Bizet, Paris, đã giải thích như vậy.

Dầu sao, cũng không nên quên rằng kỹ thuật cắt bỏ ngoại khoa này, được phát minh bởi trường phái tim học của Pháp, cũng có những nguy cơ như các nguy cơ của “ ngoại khoa tim mở ” (“ chirurgie à coeur ouvert ”), B.S Lazarus đã đánh giá như vậy. Cần phải e sợ những biến chứng huyết khối nghẽn mạch (thromboembolies), các tai biến mạch máu não, thủng các xoang tim.

Đó là một trong những lý do thúc đẩy các thầy thuốc, tùy theo tuổi tác của bệnh nhân, mức độ thâm niên của bệnh rung nhĩ, của trái tim cần phải mổ, đặt ưu tiên một chiến lược hai kỳ. Trước hết, thử dùng các thuốc chống loạn nhịp, và chỉ trong những trường hợp thất bại của những thuốc này mà sự can thiệp ngoại khoa mới có thể được quyết định.

Sau cùng, hãng Biosense Webster, đã tài trợ công trình nghiên cứu của BS David Wilber, vừa được Cơ quan FDA cấp giấy phép lưu hành các dụng cụ cắt bỏ : vậy đối với hãng này, không phải là vô ích khi có một thầy thuốc Hoa Kỳ trình bày, nhân hội nghị lớn nhất về nhịp tim học, những kết quả hiệu quả của kỹ thuật cắt bỏ này...Ở Hoa Kỳ có 2 triệu trường hợp rung nhĩ được xác nhận.
(LE FIGARO 15/5/2009)

5/ MƠ MỘNG KÍCH THÍCH NÃO BỘ.

NEUROSCIENCES. Các nhà nghiên cứu Canada vừa cho thấy rằng vỏ não trước trán (cortex préfrontal) hoạt động hơn khi người ta nghỉ ngơi.

Có lẽ đây là điều làm cho vài giáo viên phải suy nghĩ, khi họ cho rằng các hoc sinh lơ đảng và mơ mộng của họ đều là những học sinh lười. Thế mà chắc chắn rằng chính những học sinh này lại là những kẻ suy nghĩ nhiều nhất ! Một công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ, PNAS, cho thấy rằng, trái với những thành kiến, sự mơ mộng kích thích não bộ.

Những công trình nghiên cứu này được thực hiện từ những hình ảnh nhận được nhờ IRM. Các nhà nghiên cứu Canada đã quan sát thấy rằng sự kiện mơ mộng không những đã không “ làm chậm lại ” não bộ, mà trái lại còn cho phép nó giải quyết những vấn đề phức tạp. Một dữ kiện đáng quan tâm khi chúng ta biết rằng con người trải qua khoảng 2/3 thời gian của đời mình để lơ đãng trên mây. “ Khi không được kích thích bởi các nhu cầu bên ngoài, não bộ con người thường làm việc rất là nghiêm chỉnh.”, BS Kalina Christoff, giám đốc của Laboratoire de sciences neurologiques, thuộc đại học British Columbia, Vancouver, đã nhận xét như thế. Sự kiện vài vùng của não bộ “ làm việc nhiều hơn khi cá nhân không tập trung vào một công việc nào đó là một trong những khám phá khoa học-thần kinh mới nhất của thập niên qua. Phần não bộ được nói đến được gọi là vỏ não trước trán giữa (cortex préfrontal moyen). Đó là phần trước của thùy trán não bộ, nằm ở phía trước của những vùng tiền vận động (régions prémotrices). Phần này của não bộ là nơi của những chức năng nhận thức được gọi là cao cấp khác nhau, như ngôn ngữ, trí nhớ, lý luận, và nói chung hon là những chức năng chấp hành (fonctions exécutives).

NHIỀU GIẢ THUYẾT.

“ Cách nay hơn 10 năm, Marcus Raichle, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh nổi tiếng và là một trong các cha đẻ của IRM, đã cho thấy rằng, khi người ta ở trong trạng thái nghỉ ngơi, vài vùng của não bộ được kích thích hoạt động ”, Angela Sirigu, nhà nghiên cứu thuộc centre de neurosciences cognitives của CNRS, Lyon, đã giải thích như vậy. Câu hỏi lớn là làm sao biết tại sao vài vùng của não bộ được hoạt hóa, còn những khác thì lại không. “ Có nhiều giả thuyết, nhà nghiên cứu đã ghi nhận như thế. Một trong những giả thuyết này chỉ rõ rằng người ta, lúc nghỉ ngơi, hướng sự chú ý vào nội tâm nhiều nhiều hơn ra ngoại giới.” Nhưng giả thuyết đã chưa được xác nhận. Cái mới của công trình nghiên cứu Canada là đã nhận diện vùng vỏ nào trước trán giữa (cortex préfrontal moyen) như là vùng được kich thích nhiều nhất khi người ta đi từ y tưởng này qua ý tưởng khác. Nói một cách khác khi người ta mơ mộng...
( LE FIGARO 15/5/2009)

6/ PHÁ HUỶ CÁC KHỐI U HIỀN TÍNH KHÔNG CẦN PHẪU THUẬT KHÔNG CẦN GÂY MÊ.

IMAGERIE MEDICALE : Một chiếc máy của Israel, sử dụng các siêu âm được hướng dẫn bởi chụp hình ảnh, cho phép loại bỏ các khối u, đặc biệt là các u xơ tử cung (fibromes utérins), mà bệnh nhân không phải nghỉ việc và không bị biến chứng.

Một chiếc máy chụp hình ảnh bằng IRM, kết hợp với các siêu âm, đang cách mạng hóa việc điều trị các u xơ tử cung, những khối u hiền tính rất thường xảy ra, buộc 70.000 phụ nữ ở Pháp mỗi năm phải chịu phẫu thuật. Công nghệ học mới này cho phép phá hủy các u xơ tử cung mà không cần gây mê, không cần nhập viện và không cần phẫu thuật. Mặt khác, kỹ thuật này đang được đánh giá đối với những bệnh lý khác, như những di căn xương, các ung thư vú, gan…

Ở Pháp, hiện nay, chỉ có CHU de Tours là được trang bị bởi một máy như thế, được gọi là Exablate. Bảng tổng kết của công nghệ học này đã được trình bày bên lề hội nghị của Hiệp hội hình ảnh Pháp-Israel, vừa được tổ chức ở Tel-Avis, ở bệnh viện Tel HaShomer. Kỹ thuật này đã được phát minh bởi một start-up israel InSighttec có trụ sở ở Haifa, được tạo lập bởi các kỹ sư trẻ tuổi đã từng làm việc trong quân đội, và đã nghĩ ra việc kết hợp sự chụp hình ảnh bằng IRM với các siêu âm được điều tiêu, để phá hủy các khối u dưới sự kiểm soát thường trực của thị giác.

63 BỆNH NHÂN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ Ở TOURS.

Các u xơ tử cung là những khối u hiền tính của tử cung, được mồ trong trường hợp có biến chứng như chảy máu, đè ép, đau đớn. Để làm giảm việc phải nhờ đến phẫu thuật, nhóm nghiên cứu Israel đã nghĩ ra một thiết bị đổi mới, cho phép phá hủy u xơ bằng các siêu âm. Các siêu âm này có thể nói là “ nung nóng ” hoàn toàn khối u.

Các bệnh nhân đến vào buổi sáng, chịu một an thần nhẹ nhưng vẫn tỉnh táo, được điều trị và trở về nhà vào buổi chiều. Một cách cụ thể, bệnh nhân được đặt nằm sấp, một nửa dưới của thân mình ở trong một ống trụ (cylindre). “ Dưới sự kiểm soát thường trực của chụp hình ảnh, chúng tôi phát ra một loạt các tia bắn siêu âm (tirs d’ultrasons), chỉ nhắm vào khối u mà thôi, G.S Pata đã giải thích như vậy. Nhờ IRM, chúng tôi có một biểu đồ thường trực về nhiệt độ của các cơ quan lân cận và của da, như thế cho phép chúng tôi một sự kiểm soát hoàn toàn. Bệnh nhân, nếu cảm thấy bị bỏng, thì chính bệnh nhân này có thể làm ngưng các tia bắn siêu âm.”

Như thế, tính đến hôm nay, bệnh viện Tours đã điều trị 63 bệnh nhân bị u xơ tử cung, không có biến chứng, không có phản ứng phụ và với kết quả thành công. Thủ tục kéo dài khoảng 3 giờ, nhưng các nhà nghiên cứu đang thu giảm thời gian can thiệp. Tuy nhiên, một vài khối u rất to tướng hay có vị trí không tốt, không thể hưởng tiến bộ kỹ thuật này.

Tạp chí Obstetrics and Gynevology đã công bố cách nay vài tháng, một tổng kết về 359 bệnh nhân, với những kết quả hoàn toàn đáng lưu ý về mặt hiệu quả và chất lượng sống 2 năm sau thủ thuật và một tỷ lệ tối thiểu xảy ra các biến chứng.

Những nhà phát minh máy ExAblate đã phát động hơn 40 thử nghiệm lâm sàng đối với những bệnh lý khác với u xơ tử cung. Nhiều tài liệu xuất bản báo cáo những kết quả sơ khởi đáng lưu ý trong sự phá hủy các di căn xương gây đau đớn của những bệnh nhân bị ung thư. “ Chúng tôi đã điều trị một bệnh nhân bị tàn phế bởi những con đau đớn này và không còn có thể bước đi được nữa, G.S Pata nói thêm như vậy, và ông ta đã có thể đứng dậy lại và di chuyển. Đó là một bước tiến, mặc dầu căn bệnh ung thư của ông đã không được chữa lành.” Nhiều chục bệnh nhân bị di căn xương đã được điều trị. Những thử nghiệm cũng đang được tiến hành trong ung thư vú, trong ung thư gan và một thủ tục được dự kiến đối với các khối u não bộ. Mặc dầu kỹ thuật có ưu điểm to lớn là có thể nhắm các tia siêu âm một cách rất chính xác vào khối u, mà không làm biến đổi môi trường chung quanh, nhưng còn cần phải chứng tỏ rằng kỹ thuật này phải cho phép phá hủy tất cả, tuyệt đối tất cả mô ung thư.
(LE FIGARO 5/6/2009)

7/ VIÊM VÕNG MẠC SẮC TỐ (RETINITE PIGMENTAIRE) : MỘT NIỀM HY VỌNG ĐIỀU TRỊ .

G.S José-Alain Sahel, giám đốc của Viện thị giác (Inserm-đại học Pierre-et-Marie-curie) giải thích sự tiến bộ, được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của ông, với việc tiêm protéine RdCVF.

Hỏi : Những đặc điểm nào xác định một viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) ?
G.S José-Alain Sahel : Đó là một bệnh của võng mạc, có nguồn gốc di truyền, tác động lên (ở mọi lứa tuổi của đời sống) 1,5 triệu người trên thế giới, trong đó có 30.000 đến 40.000 người ở Pháp. Bệnh được đặc trưng bởi sự chết được chương trình hóa của những tế bào thụ thể ánh sáng (cellules photoréceptrices). Những tế bào này tiếp nhận ánh sáng và biến đổi nó thành một tín hiệu là nguồn gốc của thị giác. Bệnh viêm võng mạc sắc tố, có thể tiến triển đến biến chứng mù mất, là do một bất thường của các gènes, mà 2/3 đã được nhận diện.

Hỏi : Những dấu hiệu đầu tiên của viêm võng mạc sắc tố là gì ?
G.S José-Alain Sahel : Viêm võng mạc sắc tố khởi đầu bằng cách gây nên một thị giác kém vào ban đêm cũng như trong tranh tối tranh sáng. Sau đó, thị trường bị thu hẹp lại cho đến khi gây nên một thi giác đường hầm (vision en tunnel). Trong 15 đến 20 năm, chính thị giác trung tâm (vision centrale) cuối cùng biến mất.

Hỏi : Ngay từ đầu, làm sao chắc chắn về chẩn đoán ?
G.S José-Alain Sahel : Bằng một phương pháp rất đáng tin cậy : một điện võng đồ (électrorétinogramme), ghi hoạt động của các tế bào võng mạc, và một thăm khám thị trường bằng một máy đặc biệt, thị trường kế (périmètre). Hopital des Quinze-Vingts là một trung tâm chuẩn đối với những viêm võng mạc sắc tố.

Hỏi : Bởi vì không có liệu pháp thật sự đối với các bệnh nhân bị bệnh này, thế thì các bệnh nhân được điều trị như thế nào ?
G.S José-Alain Sahel : Ngay khi giai đoạn đầu đã được chẩn đoán, ta có những lời khuyên trong mục đích làm chậm lại tiến triển của bệnh. Những lời khuyên là đơn giản : mang kính có gương đặc biệt, màu da cam hay vàng, để bảo vệ võng mạc chống lại ánh sáng và mặt trời, sử dụng mỗi ngày các chất chống oxy-hòa như vitamine C, lutéine và oméga 3. Trong vài trường hợp, người ta cũng khuyên dùng vitamine A. Dĩ nhiên, để điều trị các viêm võng mạc sắc tố, chúng ta chờ đợi nhiều về công trình nghiên cứu và đặc biệt là liệu pháp gène (thérapie génique).Việc đặt các võng mạc giả (prothèse de rétine) cũng là một niềm hy vọng lớn lao.

Hỏi : Điều trị mới được thử nghiệm trên động vật có mục đích gì ?
G.S José-Alain Sahel : Nhóm nghiên cứu của chúng tôi, với các BS Léveillard và Mohand-Said, làm việc nghiên cứu liệu pháp này từ gần 15 năm nay. Liệu pháp có mục đích bảo vệ thị giác trung tâm (vision centrale), dầu cho gène chịu trách nhiệm viêm võng mạc là gì đi nữa. Trong thì đầu, chúng tôi đã cho thấy rằng các tế bào thụ cảm ánh sáng (cellules photoréceptrices), bị những bất thường di truyền khác nhau, thường nhất là những tế bào hình que (batonnets). Những tế bào này cho phép chúng ta nhìn thấy vào ban đêm. Thế mà, những tế bào hình que này chế tạo RdCVF, một protéine duy trì sự sống sót của những tế bào khác của võng mạc, các tế bào hình nón (cones) ; các tế bào này cho phép thị giác trung tâm (vision centrale). Thế thì chúng ta hiểu tại sao khi những tế bào hình que bi chết, protéine RdCVF sẽ biến mất và, do đó, thị giác trung tâm cũng biến mất ! Sau khi đã nhận diện được protéine này, người ta đã tổng hợp nó trong phòng thí nghiệm để có thể sau đó tiêm vào trong mắt của chuột mang cùng những bất thường di truyền với người. Với phép điều trị này, chúng tôi đã rất thỏa mãn khi quan sát thấy một sự cải thiệt rất rõ rệt sự sống còn của các tế bào hình nón và nhất là, của chức năng thị giác, hai lần cao hơn trong nhóm động vật được điều trị so với nhóm chứng.

Hỏi : Khi nào ông sẽ áp dụng phép điều trị này cho người ?
G.S José-Alain Sahel : Việc chuẩn bị đối với các bệnh nhân đã rất là tiến triển. Chúng tôi hy vọng bắt đầu các thử nghiệm nơi người trong hai năm sắp đến.
( PARIS MATCH 4/6- 10/6/2009)

8/ CHÈ XANH ĐƯỢC DÙNG NHƯ RÀO CHẮN CHỐNG LẠI SIDA.

Một dung dịch polyphénol ức chế một protéine của tinh dịch, vecteur của nhiễm trùng.

Một thành phần của chè xanh có thể tỏ ra hiệu quả để tránh sự lây nhiễm bởi virus của sida trong lúc giao hợp, một công trình nghiên cứu được công bố trong Proceedings of the National Academy of Sciences đã xác nhận như vậy.

Công trình nghiên cứu này của đại học Heibelberg và của Viện virus học thực nghiệm của Hamburg đã cho thấy rằng gallate d’epigallocatechin (EGCG), một polyphénol hay tanin thực vật của chè xanh, có khả năng ức chế một protéine của tinh dịch có khuynh hướng dùng làm vecteur và tác nhân làm lan truyền của virus của sida.

“ Một phần của peptide, được chứa trong tinh dịch người, làm tăng cường sự nhiễm trùng bởi HIV một cách hằng định. Các sợi nhỏ làm lan truyền (fibrilles propagatrices) nhiễm trùng của virus HIV bởi tinh dịch, bắt giữ các yếu tố của virus và móc chúng và các tế bào bia của chúng, làm lan tràn sự hợp nhất của virus trong những tế bào này ”, các nhà nghiên cứu của Heinrich-Pette-Institute de Hambourg đã viết như vậy.

“ Vì những lý do này, chúng tôi đã cho rằng việc đưa vào một chất ức chế các sợi nhỏ này, như là chất diệt trùng , có thể ngăn ngừa sự lan truyền của bệnh sida qua những giao hợp ”, các nhà nghiên cứu chứng mình rằng nơi các phụ nữ, việc sử dụng tại chỗ một dung dịch có liều lượng thấp polyphénol của chè xanh có thể “ hủy bỏ một cách hiệu quả những tính chất phát triển của nhiễm trùng.”.

ĐƠN GIẢN VÀ ÍT TỐN KÉM

Trong khi đại đa số trong số 33 triệu người có huyết thanh dương tính trên thế giới đã bị nhiễm trùng bởi HIV trong lúc giao hợp dị tính (relations hétérosexuelles) và trong lúc 96% những lây nhiễm mới đều xảy ra trong những nước nghèo, các nhà nghiên cứu cho rằng việc khám phá những tính chất ức chế của thành phần của chè xanh là “ đầy hứa hẹn ”. “ Điều đó có thể mang lại một phương pháp phòng ngừa đơn giản và ít tốn kém, đặc biệt là trong những giới nghèo khổ.” EGCG của chè xanh đã được công nhận do những tính chất chống ung thư, kháng oxy hóa, chống vi khuẩn và kháng virus.
(LE SOIR 27/5/2009)

9/ GHÉP GIÁC MẠC NHÂN TAỌ ĐẦU TIÊN Ở PHÁP.

Đó là một niềm hy vọng đối với những chứng bệnh mù lòa nguồn gốc giác mạc, ảnh hưởng hơn 10 triệu người trên thế giới. Ghép giác mạc nhân tạo (greffe de cornée artificielle), một can thiệp được thực hiện bởi các nhóm phẫu thuật hiếm hoi trên thế giới, trong đó chỉ có 3 ở châu Âu, vừa được thực hiện lần đầu tiên ở Pháp, ở bệnh viện Timone, Marseille, nơi một người đàn ông 42 tuổi, mà một mẫu ghép người (greffon humain) không thể thực hiện được. Sau khi bị bỏng bởi HCl xảy ra cách nay hai năm, các huyết quản đã bắt đầu xâm chiếm giác mạc bị bỏng. Vậy mà, sự tạo mạch mới (néo-vascularisation) này là một yếu tố làm gia tăng đáp ứng miễn dịch, và như vậy làm gia tăng nguy cơ bị thải bỏ. Trong trường hợp bệnh nhân này, giác mạc nhân tạo (cornée artificielle) là giải pháp duy nhất.

Các thầy thuốc nhãn khoa đã chọn lựa một giác mạc giả (kératoprothèse) được mệnh danh là AlphaCor. Đó là một đĩa có đường kính 7 mm, gồm một phần trung tâm trong suốt và một viền mờ đục, có tính xốp, được cấu tạo bởi một vật liệu sinh tương hợp (matériau biocompatible), Phema (poly2-hydroxyéthyl méthacrylate). Được ghép vào giác mạc bị bỏng, giác mạc giả này có thể được tăng trưởng bởi những tế bào của bệnh nhân. 9 cuộc giải phẫu ghép khác sẽ được thực hiện ở Marseille từ nay đến 2010.
( SCIENCE ET AVENIR 6/2009)

10/ TIM NGƯỜI ĐƯỢC TÁI SINH.

Một nhóm nghiên cứu người Thụy Điển vừa phát hiện khả năng của những tế bào cơ tim đổi mới, nơi người trưởng thành.

Nói chung, sau khi sinh ra đời, tim người được xem như là một cơ quan trong đó những tế bào cơ không còn có thể phân chia được nữa . Điều đó là sai, ngày nay nhóm nghiên cứu được lãnh đạo bởi người Thụy Điển Jonas Frisen, thuộc viện Karolinska, Stockholm đã chứng tỏ như vậy. Thật vậy, sau khi đã nghiên cứu những trái tim lành của những người đã chết, nhóm nghiên cứu đã chứng thực rằng các tế bào cơ tim (cardiomyocytes) vẫn luôn luôn được đổi mới.

Nhóm nghiên cứu đã lợi dụng nhưng hậu quả của những thử nghiệm nguyên tử, được thực hiện trong không khí từ giữa những năm 1950 đến 1963, (là năm việc thử nghiệm này bị đình chỉ). Những cuộc thử nguyên tử này đã làm phát xuất trong không khí CO, trong đó C thuộc carbone-14. Thế mà, CO2 không khí được cây cối sử dụng để chế tạo chất hữu cơ, chất này sau đó được tiêu thụ bởi động vật và người. Vì lẽ nồng độ carbone-14 trong không khí giảm đều từ năm 1963, nên nồng độ carbone-14 hiện diện trong ADN của các tế bào của một người cho phép xác định ngày sinh tháng đẻ của các tế bào đó. Và lúc so sánh với ngày sinh tháng đẻ của người, ta có thể xác định là những tế bào này có phải mới xuất hiện hơn hay không. “ Sử dụng nguyên tắc định ngày tháng này là một ý tưởng hay, Michel Pucéat, thuộc nhóm nghiên Inserm các tế bào gốc và cardiogenèse, đã bình luận như thế. Phương pháp này đáng tin cậy hơn những phương pháp cổ điển, như sự đánh dấu ADN bằng cách tiêm vào trong tế bào một chất nhuộm màu.”

Nhóm nghiên cứu của Jonas Frisen đã hiệu chính kỹ thuật của ông năm 2005 để nghiên cứu vỏ não vùng chẩm, lúc đó đã cho thấy rằng các neurone đã không được đổi mới ở vùng này của vỏ não. Các tế bào cơ tim (cardiomyocytes), chiếm 20% các tế bào của tim, lại dường như đổi mới chậm, với một nhịp độ giảm theo dòng thời gian.Tỷ lệ của những tế bào được đổi mới là 1% lúc 20 tuổi, và 0,45% lúc 75 tuổi. Người ta ước tính rằng vào cuối cuộc đời của chúng ta, gần một nửa các tế bào cơ tim đã được thay thế.

Giai đoạn kế tiếp sẽ là xác định những tế bào là nguồn gốc của sự đổi mới này, và nhất là để biết xem các tế bào này có hiện diện trong những bệnh lý, trong đó chúng có thể hữu ích trên bình diện điều trị.
(LA RECHERCHE 6/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/6/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#8 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:51:34 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A : KẾ HOẠCH ĐẠI DỊCH ĐỨNG TRƯỚC THỬ THÁCH CỦA THỰC TẾ.

H1N1. Trong khi 7 trẻ em bị nhiễm bởi virus đã được nhận diện trong một ngôi trường của quận XV Paris, Tổng giám đốc y tế vừa gởi một thông điệp đến các tỉnh trưởng, nhằm làm thích ứng việc điều trị những bệnh nhân đối với những trường hợp nặng nhất.

Có nên đóng cửa trường ngay khi một trường hợp cúm A (H1N1) xuất hiện trong một lớp học ? Người ta có phải nhất thiết điện thoại gọi Samu khi đứng trước một trường hợp cúm được nghi ngờ ? Những người, nơi họ virus đã được chẩn đoán, có phải được nhập viện một cách hệ thống hay không ? Hôm chủ nhật, trong khi 7 trường hợp cúm do virus H1N1 đã được ghi nhận trong một trường học thuộc quận XV, Paris, những câu hỏi được gia đình nêu lên này không hẳn đã có được những câu trả lời rõ ràng nơi các thầy thuốc của họ. Mặc dầu một kế hoạch đại dịch cúm đã được xác định lần đầu tiên vào năm 2002 và đã được xét lại vào tháng hai vừa qua, mặc dầu kế hoạch dự kiến một cách chi tiết thái độ xử trí, nhưng kế hoạch này đã được soạn thảo nhằm đối phó với một virus gia cầm, H5N1, rất độc lực, vì lẽ nó giết chết gần 60% những nạn nhân mắc phải bệnh do nó gây ra. Thế mà, mối đe dọa đang hình thành, là mối đe dọa của một trận dịch gây nên do một virus khác, A (H1N1), nguồn gốc từ heo, ít hung hãn hơn nhiều (4 trường hợp tử vong đối với 1000 bệnh nhân), nhưng rất dễ lây nhiễm và do đó có khả năng tấn công một số lượng cao các nạn nhân. Sự chuyển kế hoạch này từ lý thuyết qua thực tế đã nêu rõ những vấn đề hậu cần, vốn đã không được nghĩ đến trên giấy tờ. Ngoài ra, kế hoạch cần phải được xét lại dưới ánh sáng của những trường hợp đầu tiên của một trận đại dịch toàn cầu ít nghiêm trọng hơn điều đã được dự kiến.

KHẢ NĂNG TIẾP ĐÓN GIỚI HẠN

Để đương đầu với tình hình này, Tổng giám đốc y tế đã gởi một thông tri cho tất cả các tỉnh trưởng, yêu cầu những người bị cúm H1N1 không được nhập viện một cách hệ thống nữa, mà chỉ những bệnh nhân có yếu tố nghiêm trọng mà thôi. Một nhập viện như thế trong thực tiễn có nguy cơ đụng phải các khả năng tiếp nhận hạn chế trong các bệnh viện, cũng như ước muốn của các bệnh nhân không cảm thấy bị bệnh nặng. Kế hoạch trước đây yêu cầu những người bị“ tình nghi ” gọi điện thoại cho 15 để được lấy bệnh phẩm xét nghiệm ở bệnh viện qua phòng cấp cứu.

Bảng thông tri của ông giám đốc y tế giờ đây yêu cầu “ thiết đặt trong những cơ sở y tế trụ sở Samu-centre 15, một phòng khám dành để tiếp đón những trường hợp khả dĩ bị cúm H1N1. Phòng khám này có sứ mạng thực hiện thăm khám các bệnh nhân, lấy mẫu nghiệm mũi-họng nếu cần thiết, kê toa thuốc kháng virus, cũng như các mặt nạ ngoại khoa và đưa ra những lời khuyến nghị về vệ sinh trước khi cho bệnh nhân về nhà ” . Mục tiêu là tách phòng tiếp đón những người có nguy cơ bị cùm A (H1N1) với những bệnh nhân khác để tránh làm khuếch tán virus từ bệnh nhân này qua bệnh nhân khác. Hôm qua ở bệnh viện Necker, ở phòng cấp cứu nhi, những bệnh nhi bị nghi ngờ vẫn còn bên cạnh những bệnh nhi bị một bệnh hoàn toàn khác. Một tình hình như thế sẽ không còn có thể được xảy ra nữa. “ Tôi nghĩ rằng sự việc cần phải được thúc bách hơn về phía các thầy thuốc thành phố và các phòng xét nghiệm, như điều đó được thực hiện ở Hoa Kỳ, là đất nước có số lượng các trường hợp hơn chúng ta nhiều, G.S Antoine Flahault (chuyên viên dịch tễ học và bệnh cúm) đã xác nhận như thế. Hiện nay, các thầy thuốc gia đình không cảm thấy được chuẩn bị tốt trong khi họ phải là cơ sở trong tình hình dịch hiện nay.”

Đối với G.S Patrick Berche (trưởng khoa vi trùng học, bệnh viện Necker, Paris), còn phải đi xa hơn : “ Bệnh nhân phải được phép ở tại nhà, kể cả để lấy bệnh phẩm (có thể được thực hiện bởi Samu tại nhà). Nhưng điều đó chỉ có thể với điều kiện các thầy thuốc gia đình có một kế hoạch chính xác và rằng các thầy thuốc này phải giải thích một cách rõ ràng các chiến lược cách ly được thiết lập để ngăn cản sự lây nhiễm trong gia đình.”
(LE FIGARO 23/6/2009)

2/ CÚM A: ĐỨNG TRƯỚC CÁC NGUY CƠ DỊCH BỆNH, CHÚNG TA HÃY ĐOÀN KẾT LẠI !

Alice Dautry, nữ tổng giám đốc của Viện Pasteur (Paris), kêu gọi một sự cộng tác chặt chẽ hơn giữa những người chủ chốt của nghành y tế, để chống lại những bệnh đang phát khởi (maladies émergentes).

Sự lan tràn nhanh chóng khắp thế giới của dịch bệnh cúm A (H1N1) từ Mễ Tây Cơ thể hiện một cách hiển nhiên những nguy cơ xuất hiện những bệnh mới.

Mỗi ngày, trên thế giới, nảy sinh những nguy cơ y tế mới. Sự đô thị hóa, sự lưu thông của các động sản và người, những cuộc di trú, những thay đổi khí hậu : những hiện tượng này làm dễ sự tăng sinh của các bệnh tật, cũ hoặc mới, có thể đột ngột biến đổi thành dịch bệnh thế giới, có thể làm cho hàng ngàn người chết và ít nhất cũng làm tê liệt các xã hội của chúng ta trong nhiều tuần dài.

Sự huy động mạnh mẽ của các nhà cầm quyền Mẽ Tây Cơ, của những nước bị ảnh hưởng bởi virus của cúm A (H1N1) và của OMS, đã cho phép phản ứng nhanh. May mắn thay, hôm nay, đó là một virus mà để chống lại chúng, chúng ta biết cách tự bảo vệ. Tuy nhiên, có nguy cơ của một đại dịch toàn cầu, gây nên bởi một tác nhân gây nhiễm mà chúng ta biết rất ít, thậm chí không biết gì cả, gieo rắc bệnh tật trên bước đường đi của nó, tạo nên những cuộc khủng hoảng kinh tế, thậm chí chính trị.

Chúng ta hãy nhớ đến trận dịch bệnh Chikungunya, đã giáng vào đảo La Réunion và hôm nay lan tràn khắp mọi miền của thế giới, trong đó có Ấn Độ.

Giải Nobel y học năm 2008, được trao cho hai nhà nghiên cứu, G.S Françoise Barré-Sinoussi và Luc Montagnier, vì đã khám phá ra virus của bệnh Sida, nhắc nhở cho chúng ta rằng những căn bệnh mới, trong vòng vài năm, có thể gây nên những trận đại dịch khủng khiếp. Ví dụ bệnh sida giết chết hàng năm khoảng 3 triệu người trên thế giới.

Chúng ta cũng đừng quyên những bệnh nhiễm trùng đã được biết đến từ lâu. Trận dịch cúm A (H1N1) tiếc thay đã làm lu mờ việc tổ chức của ngày quốc tế chống bệnh sốt rét (350 triệu nạn nhân mỗi năm và 3,3 tỷ người bị đe dọa). Cũng vậy, bệnh lao giết chết hai triệu người mỗi năm, chủ yếu là trong những nước ít được ưu đãi nhất.

Từ nhiều năm nay, chúng ta chứng kiến một tinh thần liên đới thật sự, huy động những phương tiện tài chánh và cho phép thiết đặt những chiến dịch ngăn ngừa và những biện pháp y tế cộng đồng. Những cố gắng của những tổ chức tư nhân tiến triển, cũng như những cố gắng của các quốc gia. Thí dụ, Unitaid, được thành lập theo sáng kiến của nước Pháp, cho phép mua các thuốc men để điều trị VIH/SIDA, bệnh sốt rét và bệnh lao, nhờ đánh thuế lên các vé máy bay.

Quỹ thế giới chống bệnh sida, bệnh lao và bệnh sốt rét, mà Pháp là nước đóng góp thứ hai, cũng nhằm mở rộng sự tiếp cận thuốc men cho những dân chúng cần đến nhất. Tuy vậy những đáp ứng với các dịch bệnh trong những nước nghèo khổ nhất vẫn còn quá phụ thuộc vào sự can thiệp hậu nghiệm và vẫn thường bị phân tán.

Vượt qua một giai đoạn mới là điều khẩn cấp : giai đoạn dự kiến những nguy cơ đại dịch mới, dựa vào một sự hợp tác của toàn bộ các nhà hữu trách chủ chốt. Nói một cách khác, đó là cho phép các nước đang phát triển tự trang bị cho mình những khả năng riêng, để chống lại bằng sự can thiệp, nhưng cũng bằng sự nghiên cứu, sát với thực địa và các bệnh tật nhất.

Đó chính là tinh thần của phương pháp mà Viện Pasteur đang tiến hành, đầu tư cho một đáp ứng ngang và được điều phối ở quy mô thế giới. Tính chất liên ngành và sự chia sẻ kinh nghiệm, sự kết hợp của những phương tiện tài chánh, nghiên cứu, phòng ngừa và đào tạo trên thực địa, là chiếc chìa khóa để đảm bảo sự kiểm soát, thậm chí sự loại bỏ của những mối đe dọa không biên giới này, và điều này một cách dài lâu. Chương trình mà chúng tôi đang tiến hành ở Cambodge với nhiều cơ quan, là một thí dụ đẹp của sự liên kết quốc tế, liên kết sự nghiên cứu đa nghành, đào tạo và các hoạt động, để phục vụ y tế cộng đồng trong một quốc gia có những phương tiện tài chánh bị giới hạn.

Những sáng kiến hợp tác, đã được phát động, giữa những người hữu trách chủ chốt quốc tế hay sở tại, là một bước đầu tiên. Ngoài cuộc đấu tranh chống lại bệnh sida, bệnh lao và bệnh sốt rét, mà chúng ta đang tập trung phần lớn cố gắng, một phong trào chung cũng sẽ cho phép chống lại những bệnh mới phát khởi (maladies émergentes) và những bệnh được gọi là bị lãng quên (maladies négligées), bởi vì ít được nghiên cứu, như bệnh gây ngủ (maladie du sommeil) hay leshmanioses, nhưng tuy vậy ảnh hưởng sâu đậm rất nhiều dân chúng bị bệnh.

Chúng tôi kêu gọi một sự huy động của tất cả các người hữu trách quốc tế, tư nhân và nhà nước. Những cơ quan nghiên cứu, đào tạo, phòng ngừa, tài trợ và giúp đỡ phát triển, ngay từ bây giờ, phải hợp tác một cách chặt chẽ hơn để giải quyết những vấn đề y tế đang ảnh hưởng một cách dài lâu lên các nước nghèo hoặc đang phát triển.

Những nhà nghiên cứu, dầu phòng thí nghiệm của họ ở nơi đâu chăng nữa, mỗi ngày đều làm việc cật lực để mang lại cho toàn thể nhân loại những lợi ích của công cuộc khám phá.

Hôm nay đúng là lúc hãy hợp nhất lại những cố gắng của chúng ta, liên kết chúng với những cố gắng của toàn thể những nhà hữu trách chủ chốt, đang ra sức để cải thiện nền y tế cộng đồng của toàn thế giới.
(LE FIGARO 23/6/2009)

3/ CÚM A (H1N1) : CUỘC CHẠY ĐUA GIÀNH VACCIN.

SANTE. Trong khi hầu hết các nước phương Tây đã đặt hàng các vaccin và thông qua những thỏa thuận với các phòng bào chế, thì các nước ở Nam bán cầu vẫn bị ảnh hưởng nhất bởi đại dịch. Các nước này phải chăng rồi sẽ cũng được phục dịch ?

Các phòng bào chế dược phẩm không thống nhất trước thử thách của dịch bệnh cúm A trong các nước ở Nam bán cầu. Các nhà sản xuất vaccin không phải tất cả đều nghe lời kêu gọi lòng hào phóng và tình liên đới của OMS.

Làm sao cho phép các nước nghèo đương đầu với đại dịch cúm A. Từ khi virus mới H1N1 xuất hiện, vào tháng tư, ở Mễ Tây Cơ, vấn đề này là đối tượng của những cuộc thảo luận gay gắt giữa OMS và các phòng bào chế dược phẩm.

Khẩn cấp : Các nước của Nam bán cầu sắp bước vào mùa đông, một mùa thuận lợi cho sự lan tràn của virus, trong khi những nước này hết sức thiếu các phương tiện và hạ tầng cơ sở để đương đầu với một trận đại dịch toàn cầu. Khoảng 85% những người bị bệnh mãn tính ở trong những nước đang phát triển, điều này có nghĩa là người ta sẽ tìm thấy trong những vùng này số lượng lớn nhất những người bị nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng hay chết người bởi virus H1N1.

Tình hình của các quốc gia này tương phản với các nước Tây phương, ở đây những biện pháp nhanh chóng được thực hiện để bảo vệ dân chúng của nước họ. Vào tháng năm, Hoa Kỳ đã thông qua các đơn đặt hàng vaccin với các hãng bào chế Novartis, Sanofi-Aventis và GlaxoSmithKline (GSK), với tổng phí 660 triệu dollars (474 triệu Euro). Ở Pháp, một trong những nước được chuẩn bị tốt nhất, Bộ y tế đã dành quyền ưu tiên mua 100 triệu liều vaccin nơi 3 hãng bào chế này, với một tổng phí có thể đạt đến 1 tỷ Euro.

OMS đánh giá rằng 4,9 tỷ liều vaccin chống bệnh cúm A sẽ có thể được chế tạo trong 12 tháng đến. Mỗi liều phí tổn 7 đến 11 Euro, theo Daniel Vasela (hãng Novartis). Nhưng cái giá của một điều trị hoàn chỉnh có thể cao hơn : chỉ những thử nghiệm lâm sàng (vừa mới bắt đầu và sẽ chấm dứt không trước tháng chín) mới cho phép xác định xem một hay hai liều sẽ cần thiết để đảm bảo một bảo vệ đầy đủ. Dầu cho kết luận của các thử nghiệm này như thế nào đi nữa, tổn phí của một chiến dịch chủng ngừa là quá đắt đối với hầu hết các nước đang phát triển.

Sự lan tràn nhanh chóng của virus mới H1N1 tạo một áp lực mạnh lên các nhà chế tạo thuốc. Margaret Chan, nữ tổng giám đốc OMS, hôm 1/6, đã kêu gọi những nhà sản xuất, tỏ ra hào phóng đối với những nước nghèo. “ Đây là lúc (...) tập hợp lại nhân danh tinh thần liên đới thế giới để đảm bảo rằng không có một nước nào sẽ bị bỏ rơi ”, bà đã tuyên bố như vậy.

Câu trả lời của các hãng bào chế dược phẩm hạng nặng đã không luôn luôn nhất trí. Novartis đã tuyên bố rằng hãng không có dự kiến tặng quà vaccin chống cúm A. Nhóm Thụy Sĩ thì bảo sẽ sẵn sàng, nhiều nhất, thỏa thuận hạ giá. “ Để làm cho sự sản xuất có thể đứng vững được, phải tạo nên những khuyến khích tài chánh ”, Daniel Vasella, hôm 14/6, đã biện minh như vậy trong một cuộc phỏng vấn trên site Internet của Financial Times.

Một lập trường tương phản với lập trường cửa hãng Sanofi-Aventis. Hôm thứ tư, 17/6, Chris Viebbacher đã tuyên bố sẽ tặng 100 triệu liều vaccin chống cúm A và cúm gia cầm cho các nước đang phát triển. Quà tặng này chiếm 10% tổng số liều vaccin được sản xuất của hãng, theo những mong muốn của OMS. “ Chúng ta đứng trước cuộc khủng hoảng toàn cầu biện minh cho những biện pháp đặc biệt ”, Wayne Pisanon Sanofi Pasteur, phân bộ vaccin của nhóm dược phẩm Pháp đã tuyên bố như vậy.

Trong trường hợp đại dịch trở nên nghiêm trọng, nhóm dược phẩm này không loại bỏ việc gia tăng sự trợ giúp. “ Chúng tôi đã ký kết những thỏa thuận dài hạn để giao các vaccin với 4 nước : Pháp, Hoa Kỳ, Úc và Ý. Các nước này sẽ được ưu tiên nhận vaccin, Albert Garcia, phát ngôn viên của Sanofi-Pasteur đã giải thích như vậy. Nhưng không có vấn đề cung ứng toàn bộ các vaccin mà chúng tôi đã sản xuất. Một phần sẽ được dành cho các nước cần đến nhất, theo thỏa thuận với OMS.”

Baxter, hãng bào chế của Hoa Kỳ, cũng có một bài diễn văn tương tự : hãng đã cam kết “ dành một phần sản xuất cho những nước dễ bị thương tổn nhất ”. Ngay vào tháng đến, Baxter hy vọng sẽ giao những liều đầu tiên của một vaccin được hiệu chính từ một giống gốc “ hoang dã ” của virus, do CDC cung cấp, chứ không phải do OMS. Những hãng dược phẩm khác sẽ sẵn sàng vào cuối tháng 9, thậm chí tháng 10.

Sáng kiến khác : GSK đã tái xác nhận ý định của hãng biến đổi quà biếu 50 triệu vaccin chống cúm gia cầm cho các nước nghèo khó nhất, thành món quà vaccin chống cúm H1N1. “ Những cử chỉ đáng ca ngợi, một chuyên gia đã đánh giá như vậy, nhưng sẽ không cho phép tránh được một lò thiêu sinh trong trường hợp lan tràn nhanh chóng trong các nước nghèo, nhất là nếu virus trở thành độc lực. Tuy vậy, điều quan tâm của chúng ta là chận đứng đại dịch xảy ra ở Nam bán cầu, bởi vì các nước phía bắc đến lượt mình sẽ bị tấn công vài tháng sau đó.”

Vẫn còn được tha miễn bởi virus H1N1 (những trường hợp lẻ tẻ đã được ghi nhận ở Nam Phi và ở Ethiopie), Châu Phi dưới Sahara có 800 triệu dân và tập trung 60% những người có huyết thanh dương tính trên thế giới. Để dập tắt một trận đại dịch cúm, các chuyên gia cho rằng phải cần tiêm chủng 70 đến 75% dân chúng. Điều này sẽ hàm ý huy động ít nhất 560 triệu liều vaccin, chỉ dành riêng cho vùng này của thế giới không thôi.
(LE MONDE 23/6/2009)

4/ VITAMINE D : CHỐNG LẠI CÁC BỆNH TIM MẠCH ?

BS Jean-Marie Bourre, thầy thuốc chuyên khoa dinh dưỡng học, ủy viên của Viện hàn lâm y khoa, bình luận về công trình nghiên cứu mới đây, phát hiện vai trò của vitamine D chống lại các nguy cơ tim mạch.

Hỏi : Vitamine D được chế tạo bởi cơ thể như thế nào ?
BS Jean-Marie Bourre : Vitamine D được tổng hợp ở da, dưới tác dụng của các tia cực tím, nhưng sự sản xuất này không đủ, nhất là sự sản xuất giảm càng nhiều khi tuổi tác càng cao. Giữa năm 20 và 80 tuổi, sự tổng hợp này được chia cho 7 ! Vậy hoàn toàn cần thiết phải bổ sung vitamine D bằng một chế độ ăn uống thích hợp.

Hỏi : Lợi ích được biết đến nhất của vitamine D là gì ?
BS Jean-Marie Bourre : Vitamine D can thiệp trong sự khoáng hóa xương (minéralisation osseuse), bằng cách gắn calcium lên xương (sau khi đã đảm bảo bắt được nó trong ruột). Vitamine D cũng cho phép tránh không cho quá nhiều calcium được thải ra trong nước tiểu. Hàng trăm công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh vai trò căn bản của yếu tố hiệu quả nhất của vitamine này : chất dẫn xuất của nó có tên gọi hơi phức tạp : 1,25-dihydroxy-vitamine D. Chất dẫn xuất này được sinh tổng hợp (bio-synthétisé) thành 2 giai đoạn : trước hết ở gan, rồi sau đó ở thận. Vì vào lúc lão hóa, chức năng của thận giảm, do đó sự sản xuất của dẫn xuất này cũng bị giảm theo.

Hỏi : Một công trình nghiên cứu rộng lớn vừa phát hiện một tác dụng có lợi khác, lần này lên những nguy cơ tim mạch. Ông có thể bình luận cho chúng tôi những kết quả này
BS Jean-Marie Bourre : Thử nghiệm này đã được thực hiện ở Trung Quốc bởi các nhà nghiên cứu cộng tác với những người Anh và đã công bố trong tạp chí khoa học xuất sắc “ Diabetes Care ”. Công trình nghiên cứu được tiến hành trên 3262 người, tuổi từ 50 đến 70 và sống ở Bắc Kinh hay Thượng Hải. Trong máu của của họ, người ta đã đo nồng độ vitamine D, được chế tạo và tích trữ ở gan. Kết quả : các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng những người có nồng độ vitamine D thấp nhất có một sự gia tăng các rối loạn làm dễ sự xuất hiện những bệnh tim mạch như cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết, nhưng cũng bệnh đái đường và những bệnh lý khác, được tập hợp dưới tên hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique). Vậy có một mối liên kết giữa việc thiếu vitamine D và những nguy cơ tim mạch. Từ đó nảy ra ý tưởng cho rằng, việc cho vitamine D cho bổ sung có thể giúp làm giảm những nguy cơ này. Đó là những kết quả xác nhận những kết quả của những công trình nghiên cứu khác, nhưng với quy mô ít quan trọng hơn và mở ra những triển vọng trên bình diện ngăn ngừa.

Hỏi : Làm sao đối phó với những nhu cầu về vitamine D của chúng ta ?
BS Jean-Marie Bourre : Bằng cách tiêu thụ những thức ăn hiếm, chứa vitamie D : cá (ít nhất hai lần mỗi tuần), tôm ốc ngao sò và trứng (4 hay 5 lần mỗi ngày). Cá có nhiều vitamine D nhất là cá trích (hareng), cá hồi (saumon), cá sardine, cá thu (maquereau), cá hồi sông (truite). Trong số các tôm ốc ngao sò nổi bật là sò hến. Các công trình nghiên cứu mới đây nhất, Suvimax, đã cho thấy rằng 65% những người Pháp đã không được cung cấp đủ vitamine D bởi vì họ tiêu thụ không đủ cá và các hải sản.

Hỏi : Trong những trường hợp nào ông khuyên cho bổ sung vitamine D ?
BS Jean-Marie Bourre : Cần cho bổ sung vitamine D một cách hệ thống các trẻ em, những thiếu niên và những lão niên. Hoặc dưới dạng ampoule (1/2 ampoule hai lần mỗi năm), hoặc cho mỗi ngày với những viên thuốc liên kết calcium với vitamine D. Còn có một khả năng khác: sự tiêu thụ các thức ăn trong đó vitamine D được cho bổ sung một cách công nghiệp, như vài loại sữa và dầu.

Hỏi : Những lợi ích nào khác ta có thể chờ đợi từ vitamine này ?
BS Jean-Marie Bourre : Bằng cách tạo một nồng độ calcium trong máu tốt, vitamine D đảm bảo sự hiện diện của calcium trong các mô thần kinh và cơ, như vậy làm cho sự dẫn truyền của các luồng thần kinh và sự co thắt của các cơ được tốt hơn. Mặt khác, sự hấp thụ tốt vitamine D mang lại một tính miễn dịch tốt hơn.
(Paris-Match 11/6-17/6/2009)[/color]

5/ THAI NGHÉN BẢO VỆ CHỐNG LẠI UNG THƯ VÚ.

Hai công trình nghiên cứu đã xác nhận giả thuyết theo đó sự sinh đẻ có lợi cho sức khỏe. Nhóm nghiên cứu của BS Eleanor (đại học Pittsburgh) đã chứng minh rằng các phụ nữ, đã từng cho con bú trong ít nhất một năm, về lâu về dài đã có một nguy cơ bị bệnh đái đuờng, cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết ít hơn những phụ nữ khác. Các phụ nữ này cũng có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não được giảm 10%.

Một công trình nghiên cứu khác, được thực hiện nơi động vật, bởi BS Johana Venegas (Chase Center Philadelphia), đã chứng minh rằng việc cho hormone bêta-HCG (duy trì sự sản xuất progestérone) có một tác dụng mạnh chống khối u. Những con chuột cái còn trinh đã được điều trị trong 15 ngày với hormone này, trước khi nhận một tác nhân gây cảm ứng ung thư vú. Kết quả : người ta đã đếm được hơn 90% các khối u nơi các động vật đã không từng nhận hormone so với chỉ 15% nơi các động vật được điều trị. Nếu tác dụng chống ung thư này được tìm thấy nơi người, thì có thể được khuyên với tính cách phòng ngừa
( Paris-Match 11/6-17/6/2009)[/color]

6/ GENE GÂY BỆNH THỐNG PHONG (GOUTTE) ĐƯỢC KHÁM PHÁ.

GENETIQUE. Đại đa số những người bị bệnh khớp này đều mang biến dị của một gène có liên quan trong chuyển hóa của acide urique.

Bệnh thống phong (goutte), được biết từ hơn 2000 năm nay, nhưng nguồn gốc của nó vẫn còn bí ẩn. Lần đầu tiên, một biến dị chịu trách nhiệm căn bệnh vừa được nhận diện bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ ở Baltimore. Biến dị này cho phép giải thích nguyên nhân của bệnh thống phong, được biết từ thế kỷ XIX, đó là một nồng độ quá mức của acide urique trong máu. Hợp chất acide urique này là một chất bã của chuyển hóa, nhiên hậu tích tụ dưới dạng các tinh thể trong các khớp và thận, gây nên sau đó những cơn đau khớp đáng sợ và các sỏi thận.

Nhiều chỉ dấu cho thấy nguồn gốc một phần do di truyền, nhất là với sự kiện là trong gần 20% các trường hợp, bệnh thống phong đã hiện diện trong gia đình, và những thể bệnh sớm xảy ra có thể phát khởi vào lúc đầu của thời kỳ trưởng thành. Để tách riêng sự biến dị như là nguyên nhân của bệnh thống phong, các nhà di truyền học của Hopkins Medical Institution đã sử dụng những phương tiện hiện đại nhất. Các nhà nghiên cứu đã sàng lọc bộ gène (génome) của hàng ngàn người để phát hiện một mối liên hệ giữa những thay đổi rất nhỏ được phân bố trên ADN và những nồng độ cao của acide urique trong máu. Công trình nghiên cứu sự liên kết di truyền trên toàn thể bộ gène đã mang lại kết quả : nó đã cho phép nhóm nghiên cứu của Baltimore nhận diện một gène được gọi là ABCG2 trên nhiễm sắc thể 4, mang một biến dị thường được thấy hơn nơi những người bị bệnh thống phong.

Các nhà nghiên cứu sau đó đã tiêm gène này vào trong các tế bào để nghiên cứu chức năng của protéine mà nó mã hóa. Phương pháp đã cho phép họ không những xác định rằng protéine này là một chất vận chuyển của acide urique trong thận mà còn xác định rằng sự biến dị được nhận biết trong gène làm giảm đi một nửa tính hiệu quả của chất vận chuyển này. “ Trong công trình này, Frédéric Lioté, giáo sư tại bệnh viện Lariboisière, Paris đã nhấn mạnh như vậy, yếu tố gây ấn tượng là chức năng của gène và chức năng của biến thể của nó được chứng minh một cách hoàn hảo.”

Sự biến dị cũng gây nên sự giảm bài tiết acide urique bởi thận, triệu chứng được tìm thấy trong 90% các trường hợp của bệnh thống phong và làm gia tăng mạnh những nguy cơ phát triển nó. Ngoài ra các tác giả đã khám phá ra rằng, so sánh với dân gốc châu Âu, những người gốc châu Á thường mang biến dị 3 lần nhiều hơn. Sự trùng hợp gây ngạc nhiên, khi ta biết rằng ở Hoa Kỳ những người châu Á cũng thường bị bệnh này 3 lần nhiều hơn. Theo tính toán, các tác giả ước tính rằng sự biến dị trực tiếp chịu trách nhiệm ít nhất 10% những trường hợp bệnh thống phong nơi những người Mỹ gốc châu Âu.

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG THÍCH NGHI.

Khám phá này không vì thế sẽ làm biến đổi, trong một tương lai gần, sự điều trị các bệnh nhân, bởi vì đã có những thuốc có hiệu quả để hủy bỏ các triệu chứng của bệnh thống phong . “ Vấn đề đúng hơn là ở chỗ sự tuân thủ các điều trị phải được duy trì suốt đời và đôi khi có những hạn chế khi chúng ít tương hợp với những bệnh lý khác mà các bệnh nhân có ”, G.S Lioté đã ghi nhận như vậy.

Điều trị hiệu quả của bệnh thống phong nhằm theo dõi một chế độ ăn uống được thích ứng. Cần phải tránh những món ăn giàu acide nucléique, được thải ra dưới dạng acide urique, như thịt hay bia. Việc tiêu thụ fructose, một loại đường thường hiện diện trong soda, cản sự bài tiết acide urique, cũng phải được theo dõi.
(LE FIGARO 11/6/2009)

7/ CÁC VIÊN THUỐC VITAMIN KHÔNG PHẢI LÀ NHỮNG “ VIÊN ĐẠN DIỆU KỲ ”

Kể từ khi Linus Pauling, nhà sinh hóa được giải thưởng Nobel, cách nay 40 năm, lần đầu tiên chủ trương dùng những liều lượng lớn (“megadoses”) các chất dinh dưỡng thiết yếu (essential nutrients), nhiều người đã nhiệt tình với các vitamin.

Ngày nay, khoảng ½ những người trưởng thành ở Hoa Kỳ vẫn tiếp tục sử dụng các chất bổ sung dinh dưỡng, với tốn phí 23 tỷ dollard mỗi năm.

Nhưng các vitamin có đáng được như vậy hay không ? Trong vài năm qua, vài công trình nghiên cứu có chất lượng cao đã không chứng tỏ được rằng các vitamin khi cho thừa, ít nhất dưới dạng thuốc viên, giúp ngăn ngừa bệnh mãn tính hay kéo dài cuộc sống.

Những tin mới nhất nhận được, sau khi các nhà nghiên cứu, trong công trình Women’s Health Initiative study, đã theo dõi trong 8 năm việc sử dụng đa sinh tố (multivitamin), trong số hơn 160.000 phụ nữ lớn tuổi. Mặc dầu những kết quả trước đây gợi ý rằng đa sinh tố làm giảm nguy cơ bị bệnh tim và vài loại ung thư, nhưng công trình nghiên cứu, được công bố trong The Archives of Internal Medicine, đã không nhận thấy lợi ích như thế.

Năm vừa qua, một công trình nghiên cứu, trong một thập niên, đã theo dõi khoảng 15.000 thầy thuốc nam, không ghi nhận những khác nhau về tỷ lệ ung thư hay bệnh tim trong số những người dùng vitamine E hay C, so với những người dùng placebo. Và vào tháng mười, kết quả của một công trình nghiên cứu, được tiến hành trên 35.000 người đàn ông, đã làm tiêu tan hy vọng cho rằng những liều lượng cao vitamine E và selenium có thể hạ thấp nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.

Dĩ nhiên, những người tiêu thụ thường chịu những báo cáo và những lời xác nhận mâu thuẫn về những lợi ích của các vitamin và dường như họ bị lung lạc bởi các tin tức, khiến các chuyên gia phải rụng rời.

“ Tôi phân vân không biết tại sao công chúng, nói chung, không biết đến những kết quả của những thử nghiệm được làm tốt. ” Eric Klein, người điều hành công trình nghiên cứu quốc gia cho thử nghiệm ung thư tuyến tiền liệt, đã nói như vậy. "Niềm tin của công chúng vào những lợi ích của các vitamin và các chất dinh dưỡng không được xác minh bởi những dữ kiện khoa học hiện có.”

Mọi người đều cần vitamin, những chất dinh dưỡng thiết yếu mà cơ thể không thể tự sản xuất được. Thí dụ, sự thiếu hụt vitamin C dẫn đến bệnh scorbut (scurvy), và sự thiếu vitamin D có thể gây nên còi xương (rickets).

Nhưng một chế độ ăn uống cân bằng cung cấp một mức đầy đủ những chất dinh dưỡng này, và ngày nay nhiều thức ăn ưa chuộng được làm bổ thêm bởi những vitamine và các chất khoáng dư thừa. Do đó, những bệnh gây nên do sự thiếu hụt dinh dưỡng là hiếm xảy ra trong những nước phát triển.

Dẫu sao đi nữa, hầu hết những công trình nghiên cứu quan trọng mới đây đã không tập trung vào những thiếu hụt mà tìm hiểu xem những nồng độ cao vitamin có thể ngăn ngừa hay điều trị một số bệnh mãn tính hay không. Mặc dầu từ lâu người ta đã biết rằng những người ăn nhiều trái cây và rau giàu chất dinh dưỡng, có những tỷ lệ mắc bệnh tim và ung thư thấp, nhưng người ta không biết rõ là nếu uống những liều cao cùng những chất dinh dưỡng này dưới dạng thuốc viên có đưa đến cùng lợi ích hay không.

Vào tháng giêng, một bài báo trong The Journal of the National Cancer Institute đã ghi nhận rằng hầu hết các thử nghiệm đã không chứng tỏ lợi ích ung thư của các vitamin.

Nhưng vài công trình nghiên cứu về vitamin cũng đã cho thấy mối hại bất ngờ, như tỷ lệ ung thư phổi cao hơn trong hai công trình nghiên cứu về sự sử dụng bêta carotene. Một công trình nghiên cứu khác đã gợi ý một nguy cơ cao hơn bị những polype tiền ung thư trong số những người tiêu thụ acide folique, so với những người trong nhóm placebo.

Vào năm 2007, The Journal of the American Medical Association đã duyệt xét lại các tỷ lệ tử vong trong những thử nghiệm, trong đó các chất kháng oxy hóa (antioxydants) được cho bổ sung. Trong 47 thử nghiệm với 181.000 người tham gia, tỷ lệ tử vong là 5% cao hơn nơi những người dùng các chất chống oxy hóa. Những thủ phạm chính là vitamin A, bêta carotene và vitamin E ; vitamin C và selenium dường như không có tác dụng đáng kể.
( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 18/2/2009)

Đọc thêm :

8/ ACIDE FOLIQUE VÀ VITAMINE B VÀ SỰ THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG.

Cho bổ sung hàng ngày acide folique, pyridoxine và cyanocobalamine có thể làm giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégérérescence maculaire liée à l’âge).

Ngoài việc ngưng thuốc lá, người thầy thuốc đến nay ít có lời khuyên để cho bệnh nhân nhằm ngăn ngừa chứng thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA). Những dữ kiện dịch tễ học đã cho thấy một mối liên hệ trực tiếp giữa những nồng độ homocystéine và nguy cơ bị DMLA, tuy nhiên không chứng minh được rằng sự giảm của nồng độ của homocystéine có thể có một tác dụng thuận lợi.

William G. Christen và các cộng sự viên (Brigham và Women’s Hospital, Boston) đã thực hiện, về chủ đề này, một công trình nghiên cứu nơi những phụ nữ có nguy cơ tim mạch cao. 5.205 người tham dự, có tuổi 45 hoặc hơn, và bị một bệnh tim mạch vốn đã có trước đây hay mang hai hoặc ba yếu tố nguy cơ.

Sự theo dõi đã kéo dài 7,3 năm. Trong suốt thời kỳ này, 55 trường hợp DMLA đã được chẩn đoán trong nhóm can thiệp (nhận các vitamine), so với 82 trong nhóm placebo. Vậy, việc sử dụng những chất bổ sung dường như mang lại một bảo vệ chống lại sự xuất hiện của căn bệnh có liên quan với tuổi tác này. Tuy nhiên, người ta chưa thể xác nhận rằng khả năng bảo vệ này đúng là do sự hạ của các nồng độ homocystéine.
(LE GENERALISTE 16/4/2009)

9/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG BỊ LÂY TRUYỀN BỞI CÁC NHA SĨ.

HEPATITE. Một báo cáo ở Pháp chỉ rõ nguy cơ, tuy rất thấp, nhưng không phải là ít, của sự lây nhiễm bởi virus viêm gan B hay C, thậm chí của Sida, nơi các phòng khám của các nha sĩ.

Những trường hợp chữa răng bình thường phải chăng có thể là nguồn gốc của những nhiễm trùng nặng bởi virus ? Đối với một cá thể, nguy cơ mắc phải HIV, virus của viêm gan B (VHB) hay virus của viêm gan C (VHC) nơi một phòng mạch nha sĩ là rất thấp, một báo cáo của Viện theo dõi y tế (IVS : Institut de veille sanitaire), vừa được công bố, đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên nguy cơ này không hẳn là không đáng kể ở quy mô đại chúng, nếu xét đến số lượng cao của các động tác giải phẫu răng và những khiếm khuyết trong sự khử trùng dụng cụ, được chứng thực nơi các nha sĩ hành nghề.

Ở Pháp, theo những tính toán của IVS, mỗi năm khoảng 200 trường hợp bị lây nhiễm bởi virus của viêm gan B, có thể là do sự khử trùng không được đầy đủ của các các giá mang dụng cụ quay (PIR : porte-instruments rotatifs : toàn bộ các turbines và những pièces à mains khác, truyền một chuyển động quay đến các dụng cụ, như fraises, tiếp xúc trực tiếp với các răng được điều trị), được sử dụng rộng rãi bởi các nha sĩ để điều trị bảo tồn và làm răng giả. Như thế, những khiếm khuyết vệ sinh trong lãnh vực này, trên lý thuyết, có thể gây nên những lây nhiễm bởi virus của viêm gan C (dưới 2 trường hợp mỗi năm) hay bởi HIV (dưới 1 mỗi năm).

Trên thực tế, rất ít các trường hợp được chứng minh trong tư liệu y học. Trong hầu hết các trường hợp, những virus có thể được lây truyền bởi máu này bị nhiễm phải trong những bối cảnh khác (giao hợp, nghiện ma túy, những tai nạn do tiếp xúc với máu...). Trường hợp đầu tiên được xác nhận của sự truyền virus viêm gan B từ bệnh nhân này đến bệnh nhân khác vào lúc chữa răng, đã được báo cáo ở Hoa Kỳ vào năm 2007. “ Ở Pháp một trường hợp đang trong vòng điều tra, nhưng chưa có gì được chứng minh, BS Bruno Poignard của IVS đã xác nhận như vậy. Thường khó chứng minh trách nhiệm của việc chữa răng (là những động tác rất thông thường) trong sự lan truyền của một bệnh sida hay viêm gan. Nói chung, đó là giả thuyết cuối cùng được thăm dò và đó là một chẩn đoán loại trừ.”

Cách nay vài năm, Tổng giám đốc y tế đã phân phát một hướng dẫn các khuyến nghị dành cho những nhà chuyên nghiệp, nhằm tăng cường sự phòng ngừa những nhiễm trùng do việc chữa răng. Nhưng mới đây, giới hữu trách y tế đã được báo động bởi các cuộc thanh tra trong các phòng mạch của các nha sĩ trong môi trường nhà tù. Những khuyến nghị tiệt trùng các giá mang dụng cụ quay (PIR : porte-instruments rotatif) giữa mỗi bệnh nhân vẫn không hẳn luôn luôn được tôn trọng. Điều chứng nhận này cũng tương tự đối với các phòng khám tư. “ Mặc dầu những tiến bộ quan trọng đã được chứng thực trong việc tôn trọng những quy tắc vệ sinh bởi các nha sĩ trong những năm qua, nhưng nhiều cuộc điều tra cũng cho thấy rằng những khiếm khuyết có thể tồn tại về vấn đề này nơi vài nha sĩ ”, bảng tường trình của IVS đã ghi nhận như vậy.

Theo IVS, nguy cơ cá nhân mắc phải một virus do khiếm khuyết trong khử trùng các giá mang dụng cụ quay (PIR) là thấp nhất đối với HIV, 1/420 triệu, và cao nhất đối với virus của viêm gan B, 1/516.000. Xác suất là 1/67 triệu đối với viêm gan C. Các nguy cơ sẽ là 8 lần cao hơi trong môi trường nhà tù.Thật vậy, sự mang virus sida và viêm gan đúng là thường xảy ra hơn trong nhóm dân này, do những hành vi có nguy cơ như nghiện ma túy.

Tổng cộng, theo đánh giá của IVS, việc chữa răng có thể chịu trách nhiệm 200 trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm.
(LE FIGARO 29/5/2009)

10/ HUYẾT ÁP CAO : HUỶ BỎ CÀ PHÊ ?

Một công trình nghiên cứu vừa chứng minh một cách rõ ràng rằng cà phê, một ít lâu sau khi được uống, gây nên một sự tăng cao nhanh của huyết áp. Vậy không phải là vô ích khi kiểm chứng xem cà phê có thể gây nên cao huyết áp về lâu về dài hay không ?

Những yếu tố dinh dưỡng được biết rõ làm gia tăng nguy cơ cao huyết áp là sự thừa sodium, sự thiếu hụt tương đối potassium, và uống rượu quá độ. Những mối tương quan này đã được xác lập rõ. Nhưng thế đối với cà phê thì sao ?

NHỮNG HẬU QUẢ VỀ SAU.

Thay vì hướng vào huyết áp động mạch, chúng ta cũng có thể quan tâm đến phần cuối của chuỗi bệnh lý : cà phê có gây nên một sự gia tăng số các sự cố hay những bệnh tật hay không ? Câu trả lời là không, nhưng cần nói thêm rằng về chủ đề này chúng ta chỉ có những công trình nghiên cứu thuộc loại dịch tễ học chứ không phải can thiệp (interventionnel). Vậy ta có thể ghi nhận rằng vào giai đoạn kiến thức dịch tễ học của chúng ta hiện nay, cà phê không làm gia tăng nguy cơ bị bệnh động mạch vành và không có một ảnh hưởng nào lên tiên lượng sau nhồi máu cơ tim.

BẢO VỆ, HAY LÀ...

Vài công trình nghiên cứu cho thấy một mối liên hệ nghịch giữa việc tiêu thụ cà phê và mức độ mắc phải những vấn đề động mạch vành; mặt khác cùng nhận xét đã được thực hiện về mối liên quan giữa cà phê và bệnh đái đường. Nhưng một lần nữa, những công trình nghiên cứu dịch tễ học này không cho phép chứng minh một mối liên hệ nhân quả: dầu sao cũng có thể rằng những người bị những vấn đề tim hay đái đường, uống ít cà phê hơn vì lý do này hay lý do khác, điều này được thể hiện bởi mối quan hệ nghịch trong các công trình nghiên cứu.

Một cách tổng quát, có những chỉ dẫn khiến nghĩ rằng cà phê ảnh hưởng lên nguy cơ bị cáo huyết áp theo một đường cong hình chữ U : những người không uống cà phê cũng như những người uống nhiều ( >4-6 ly mỗi ngày) đều có một nguy cơ thấp, trong khi nguy cơ này cao hơn giữa hai tình huống. Nhận xét này đặc biệt có giá trị nơi phụ nữ.

Những công trình nghiên cứu can thiệp (études interventionnelles) cho thấy rằng cà phê có thể gây nên một sự tăng nhẹ của huyết áp. Nhưng như đã nói trên đây, những nghiên cứu này chỉ được thực hiện trong một thời gian hạn chế, với tối đa là 12 tuần. Sự gia tăng là khá thấp : khoảng 2mmHg đối với huyết áp tâm thu và 1mmHg đối với huyết áp trương tâm với những liều lượng mỗi ngày từ 300 đến 800mg (hoặc khoảng 3-8 tách cà phê mỗi ngày). Những người trẻ nhạy cảm hơn đối với tác dụng cao huyết áp. Một công trình nghiên cứu khác xác lập sự khác nhau rõ ràng giữa cà phê dùng nguyên như vậy và caféine, được cho chịu trách nhiệm tác dụng lên huyết áp. Nơi những người đã uống những viên thuốc chứa caféine, sự gia tăng được quan sát của huyết áp là 4 lần cao hơn so với những người uống những tách cà phê với một liều lượng caféine tương tự.

Như vậy có cái gì khác với caféine trong cà phê đã ảnh hưởng lên huyết áp. Cà phê đặc biệt chứa potassium, magnésium, manganèse và một lượng cao polyphénols. Trong các chất này, chỉ có potassium đã chứng tỏ có một tác dụng thuận lợi lên huyết áp, nhưng cũng không loại trừ những thành phần khác cũng bù lại tác dụng của caféine.

Tóm lại, có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng cà phê không có tác dụng thật sự lên huyết áp. Vậy hiện nay không có một luận cứ thuyết phục nào cho rằng nếu ta muốn ngăn ngừa cao huyết áp thì cần phải tránh cà phê.
(LE GENERALISTE 23/4/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (27/6/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#9 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:52:12 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A (H1N1): THIẾU NHỮNG DỮ KIỆN KHOA HỌC VỀ NHỮNG THỂ BỆNH NẶNG.

PANDEMIE. Mặc dầu virus có vẻ hiền tính, nhưng sự thông báo quốc tế về những trường hợp tử vong vẫn còn giới hạn.

Chúng ta biết tất cả hoặc gần như tất cả về cấu trúc di truyền của virus mới của bệnh cúm, được nhận diện ở Mễ Tây Cơ vào tháng tư, và đã đi vòng quanh thế giới. Các gène của nó đã được nhận diện nhanh chóng và được đặt dưới quyền sử dụng của cộng đồng khoa học thế giới. Ngược lại vẫn thiếu nhiều thông tin về những thể nặng, những nguyên nhân khả dĩ gây tử vong...“ Tổ chức y tế thế giới trong tình hình hiện nay, chỉ có một khả năng vừa phải trong việc thông tin về vấn đề này, hôm qua G.S Jean-Claude Desenclos, giám đốc khoa học của Viện theo dõi y tế, nhân một cuộc họp báo đã nhấn mạnh như vậy. Đặc biệt là chúng ta không có khá nhiều thông tin về những thể nặng. ”. Theo những con số sau cùng của OMS, trong số 58.867 trường hợp trên thế giới đã được ghi nhận, có 238 trường hợp tử vong. Ở Pháp, 171 những trường hợp đã được thống kê nhưng không có một tử vong nào. Biết những nguyên nhân của các tử vong sẽ cung cấp những thông tin quan trọng để phòng ngừa chúng trong phạm vi có thể được.

NHỮNG NGƯỜI 20-30 TUỔI DƯỜNG NHƯ DỄ BỊ MẮC BỆNH HƠN.

Virus H1N1 này thuờng nhất là gây nên một bệnh cúm hiền tính, với những dấu hiệu nhẹ, sốt vừa phải, ho. Có lẽ một số các trường hợp đã qua đi mà không được nhận biết.Cúm được gọi là cúm mùa (grippe saisonnière) đưa đến một tý lệ tử vong 1/1000. Nói chung đó là những người lớn tuổi hay những người bị một bệnh lý mãn tính liên kết (đái đường, suy hô hấp).

Trong trường hợp hiện nay (cúm A H1N1), các nhà khoa học đưa ra con số 2 đến 3 trường hợp tử vong đối với 1.000 người, hoặc nhiều hơn so với cúm cổ điển. Nhưng những trường hợp tử vong này, với H1N1, liên quan đến những lứa tuổi khác nhau. Theo những thông tin tiếc thay còn tản mạn, những người già dường như hơi được bảo vệ chống lại virus này, có lẽ do được miễn dịch trước đây bởi các bệnh cúm đã bị mắc phải. Ngược lại, lứa tuổi 20-30 dường như nhạy cảm hơn. Vậy nguyên nhân tử vong trong dạng cúm này là gi ? Đối với các nhà nghiên cứu, nếu cúm Tây Ban Nha năm 1918 đã gây nên hàng triệu người chết, đó chủ yếu là bởi vì hồi đó các thuốc kháng sinh chưa hiện hữu. Virus của cúm gây nên một sự kích thích phế quản, thể địa thuận lợi cho sự phát triển của một bệnh phổi có tiềm năng nghiêm trọng, nhất là nơi những người già. Trong vài trường hợp đặc biệt, virus cũng có thể gây nên một bệnh phổi đột mạnh do virus, đưa đến một tình trạng suy hô hấp cấp tính chết người. Vậy cơ chế trong những trường hợp tử vong hiện nay là gì ? Hiện nay không ai có thể trả lời.

Virus mới, (A) H1N1, nhin toàn bộ dường như hiền tính, đến độ các người Mỹ, đi ngược lại ý kiến của chính quyền, đã tổ chức các Swine flu parties quanh những người bị nhiễm trùng, để làm cho họ được mắc phải bệnh cúm nhằm tạo sự miễn dịch ; họ biết rằng vài chuyên gia lo ngại, mặc dầu không chắc chắn, rằng virus vào mùa thu sắp đến sẽ trở nên hung dữ hơn.
(LE FIGARO 25/6/2009)

2/ H1N1: NHỮNG NGƯỜI DƯỚI 59 TUỔI ĐỂ BỊ THƯƠNG TỔN HƠN.

PANDEMIE. Một công trình nghiên cứu, được công bố hôm qua trong“ New England Journal of Medicine ”, tiết lộ rằng những trường hợp tử vong đặc biệt xảy ra hơn nơi những người dưới 59 tuổi.

Cúm A (H1N1) phải chăng là nguy hiểm ? Nó gây nên bao nhiêu trường hợp tử vong ? Ai là các nạn nhân ? Hôm qua, site Internet của New England Journal of Medicine, lần đầu tiên công bố, một cuộc điều tra, được thực hiện bởi các thầy thuốc Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ, về những thể nặng và những trường hợp tử vong liên quan với virus mới H1N1, được khám phá ở Mễ Tây Cơ vào tháng tư 2009 và đã đi vòng quanh thế giới.

Công cuộc điều tra, nhằm vào hơn 2.150 trường hợp viêm phổi nặng và hơn 100 trường hợp tử vong, chứng tỏ rằng những thể nặng chủ yếu xảy ra nơi những người dưới 60 tuổi, trong khi những người già hơn, thường là những nạn nhân chính của bệnh cúm, lại được bảo vệ hơn, có lẽ nhờ những nhiễm trùng mắc phải trong quá khứ.

Tài liệu xuất bản này là quan trọng, bởi vì nó chỉ định những người dưới 60 tuổi, như là những người ưu tiên cần phải được tiêm chủng một khi có vaccin. Một cuộc điều tra thứ hai, với một quy mô nhỏ hơn, trên site của NEJM, xác nhận những kết quả rất quan trọng này về mặt y tế cộng đồng. Tuy nhiên phải ghi nhớ rằng những thể nặng vẫn rất là thiểu số, vì lẽ tỷ lệ tử vong được ước tính là 2-3 trên 1.000 người, và trong đại đa số các trường hợp, những người bị lây nhiễm chỉ bị những rối loạn hiền tính và tạm thời.

NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA BỔ SUNG.

Vào đầu tháng tư 2008, một sự gia tăng những trường hợp nhập viện đối với bệnh viêm phổi, xảy ra một cách không bình thường đối với mùa và một loạt các tử vong được báo cáo khiến Bộ Y tế Mễ Tây Cơ đã rất nhanh chóng phát khởi báo động. Viêm phổi là một trong những biến chứng nghiêm trọng của bệnh cúm. Hệ thống theo dõi dịch tễ học Mễ Tây Cơ (Sonave) khi đó đã phát động một cuộc điều tra về tất cả những trường hợp viêm phổi được nhập viện trong một tháng, từ 24/3 đến 24/4.

Trái với điều thường xảy ra vào các đợt cúm mùa (grippe saisonnière), những kết quả của cuộc điều tra này phát hiện những viêm phổi nặng và đại đa số những trường hợp tử vong ở đây liên hệ đến những người tuổi từ 5 đến 59. Trong khi, vào lúc cúm mùa, những người từ 5 đến 59 tuổi chiếm 17% những trường hợp tử vong, thì những đồi tượng này đã chiếm 87% những trường hợp tử vong của cúm A giữa tháng 3 và tháng 4 năm 2009. Cũng vậy, những thể nặng không gây tử vong, trong 75% những trường hợp có liên quan đến những người từ 5-59 tuổi, so sánh với 32% khi bị cúm cổ điển.

Viện quốc gia các bệnh hô hấp của Mexico, giữa 24/3 và 24/4, đã nhập viện cấp cứu 18 người bị viêm phổi và bị nhiễm bởi virus H1N1. Hơn một nửa những bệnh nhân này ở trong lứa tuổi từ 13 đến 47 và 90% dưới 52 tuổi. Hơn một nửa cần phải đặt ống thông nội khí quản và máy hô hấp nhân tạo, và tất cả đã được điều trị với tamiflu (một thuốc kháng virus) và kháng sinh. Mặc dầu được điều trị như thế, 7 người đã tử vong. 11 người khác được chữa lành, đã ra viện sau khi nhập viện từ 10 đến 23 ngày.

Làm sao giải thích những biến chứng trầm trọng và những tử vong ? Chúng do bội nhiễm vi khuẩn hay do tác dụng độc lực của virus ? “ Đối với hầu hết các bệnh nhân của chúng tôi, những thương tổn phổi được liên kết với tác dụng trực tiếp của virus của bệnh cúm, các tác giả đã viết như vậy. Trong thời kỳ này, 22 trong số 190 người phục vụ điều trị đã bị lây nhiễm bởi virus và đã được điều trị với Tamiflu. Sau đợt dịch bệnh này, các biện pháp bổ sung để phòng ngừa các nhân viên y tế, được thực hiện và đã cho phép tránh những lây nhiễm mới do nghề nghiệp."

Hôm qua, Thông báo dịch tễ hàng tuần đã phân tích những biểu hiện lâm sàng được quan sát trong những trường hợp cúm A đầu tiên. Kết quả cho thấy trên 2.000 trường hợp được xác nhận đầu tiên ở Mễ Tây Cơ, hơn một nửa dưới 20 tuổi, ¾ dưới 30 tuổi và chỉ 7% trên 40 tuổi. Thời gian tiềm phục là 2 đến 7 ngày. Hai triệu chứng thường thấy nhất là sốt và ho, mặc dầu 10% đến 50% các bệnh nhân cũng có những rối loạn tiêu hóa.
(LE FIGARO 30/6/2009)

3/ CÚM A H1N1: MỘT TRIỆU NGƯỜI MỸ CÓ THỂ ĐÃ MẮC PHẢI NHIỄM TRÙNG.

Những đánh giá mới đây của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ xác nhận rằng virus A H1N1 là khá hiền tính. Một trường hợp đề kháng với Tamiflu đầu tiên đã được xác thực ở Đan Mạch.

Từ mùa xuân năm nay, hơn một triệu người Mỹ đã mắc bệnh cúm A. Đó là đánh giá được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của CDC. Một nửa trong số những người đã bị hoặc đang bị nhiễm virus là những người dân của thành phố New York. Virus, hiện đang lưu hành trong nước, là khá hiền tính. Đến nay, ở Hoa Kỳ, người ta tính được hơn 3.000 trường hợp nhập viện và chỉ 127 trường hợp tử vong.

Con số 1 triệu người Mỹ đã bị nhiễm trùng vượt rất xa tất cả những con số các trường hợp được xác nhận, được thống kê chính thức tính đến nay ở Hoa Kỳ. OMS tính sổ được 21.499 trường hợp được xác nhận, hoặc khoảng gần một nửa của các trường hợp trên thế giới. Về phía CDC, 27.717 các trường hợp đếm được trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Để so sánh, cúm mùa trung bình gây bệnh gần 36 triệu người Mỹ mỗi năm.

Con số này được tính toán từ những dữ kiện dịch tễ học hiện nay về H1N1 và từ những mô hình phân tán của virus cúm. Lyn Finelli, phụ trách phòng cảnh giác của CDC, tuần qua đã trình bày công trình nghiên cứu trong hội nghị về vaccin chống H1N1, được tổ chức bởi CDC. Hầu hết các quyết định y tế cộng đồng dựa trên những mô hình toán học, những mô hình này không ngừng được làm cho tinh tế và thích ứng tùy theo những đợt cúm khác nhau xảy ra trên thế giới.

“ Số các trường hợp được xác nhận, mà OMS đếm được, chỉ là đỉnh của tảng băng hà ”, G.S Patrick Berche, trưởng khoa vi trùng học của bệnh viện Necker, Paris đã nhấn mạnh như thế. Một trường hợp chỉ được xác nhận khi có cấy máu và phân tích vi khuẩn học. Tham số này đánh giá thấp, với những quy mô đáng kể, số những người thật sự bị nhiễm trùng, cũng như những người đã có những triệu chứng hiền tính và không có một điều trị đặc biệt nào và tất cả những người không có triệu chứng và đã không biết rằng họ đã mắc phải bệnh cúm.

Sự hiện diện của các kháng thể chống H1N1 trong nhiều xét nghiệm được thực hiện hiện nay ở Hoa Kỳ, cho thấy rằng nhiều người Mỹ thật sự đã gặp phải virus. Ở Mễ Tây Cơ một loại mức chênh lệch như vậy đã được ghi nhận vào lúc bắt đầu trận dịch. Các nhà nghiên cứu đã tính toán rằng, khi 500 trường hợp dương tính đã được ghi nhận, thì trên thực tế hẳn phải có từ 20.000 đến 40.000 người bệnh.

ĐỘC LỰC HƠN VÀO MÙA THU ĐẾN

Ở Pháp hẳn cũng có cùng tình trạng chênh lệch như vậy. Ở đây con số các trường hợp được xác nhận làm tập trung sự chú ý của nhà cầm quyền và báo chí như thể chỉ có con số là đáng phải chú ý mà thôi. Ở Hoa Kỳ và Anh, chiến lược khác hẳn. “ Họ thực tiễn hơn nhiều “, Patrick Berthe đã phát biểu như vậy. Không có biện pháp thận trọng đặc biệt nào phải được thực hiện cả.

Thật vậy, hiện nay, vì lẽ virus khá hiền tính, nên có thể là tốt hơn nếu mắc phải bệnh cúm để được miễn dịch chống lại virus H1N1, mà vào mùa thu tới có khả năng trở nên độc lực hơn. Kinh nghiệm của cúm Tây Ban Nha đã cho thấy rằng những kẻ đã bị cúm vào mùa xuân, khi virus hiền tính, đã đề kháng tốt hơn với làn sóng cúm thứ hai (độc lực hơn nhiều), so với những kẻ đã không mắc phải cúm trong đợt đầu.

Cũng vậy, việc kê đơn Tamiflu một cách hệ thống nơi mọi người có những triệu chứng cúm hay đã tiếp xúc với những người bệnh, như đang được thực hiện ở Pháp, có lẽ cũng không đúng đắn, Patrick Berthe đã đánh giá như vậy. Nguy cơ virus phát triển đề kháng với Tamiflu là điều có thật và ta có thể cần nhiều điều trị với thuốc này hơn trong mùa thu đến nếu virus trở nên độc lực hơn. Mặt khác một trường hợp đề kháng đã được xác nhận ở Đan Mạch, bởi Viện huyết thanh học .“ Kế hoạch chống cúm hiện nay vốn đã được lập ra để chống lại virus H5N1 (có tỷ lệ tử vong 60%), Patrick Berte đã nhắc lại như thế. Kế hoạch này phải uyển chuyển hơn. Phải thích ứng với tình hình.”
(LE FIGARO 30/6/2009)

ANH TIÊN ĐOÁN DỊCH BỆNH BÙNG NỔ TRONG NHỮNG TUẦN TỚI.

Chính phủ Anh dự kiến một sự lan rộng rất nhanh và rất quan trọng của cúm A (H1N1) trong những tuần tới. Andi Burnham, Bộ trưởng y tế của Vương Quốc Anh đã tuyên bố hôm qua rằng, theo dự kiến, có thể có hơn 100.000 trường hợp mới mỗi ngày từ nay đến cuối tháng 8. Trong những ngày qua, dịch bệnh khuếch đại. “ Virus theo con đường có thể tiên đoán được. Nó ở ngoài vòng kiểm soát, nhưng người ta không thể đặt virus vào trở lại trong chiếc hộp một khi nó đã thoát ra ngoài ”, Liam Donaldson, cố vấn y tế của chính phủ Anh đã giải thích như vậy.

Với hàng trăm những trường hợp mới được khai báo mỗi ngày và 3 tử vong (một người đàn ông 73, một phụ nữ 38 tuổi vừa mới sinh và một bé gái 9 tuổi), sự lan tràn của virus ở Anh là nhanh hơn nhiều so với trên lục địa. Điều này có thể được giải thích bởi những mối liên lạc rất quan trọng giữa Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, nơi đây cúm đã gây bệnh cho 1 triệu người Mỹ, theo những tính toán của CDC.

Tính đến nay, OMS thống kê được 6.538 trường hợp được xác nhận ở Anh. Nhưng những con số này dễ đánh lừa vì đó chỉ là những trường hợp được xác nhận. Số những người thật sự bị nhiễm trùng hẳn phải quan trọng hơn.

Chính phủ Anh tỏ ra rất uyển chuyển trong việc theo dõi, từ khi họ đã chứng thực rằng virus hiện nay khá hiền tính. Trong những vùng Londres, Birmingham và Glasgow, những vùng bị ảnh hưởng nhất, từ nay phần lớn các bệnh nhân được chẩn đoán bằng điện thoại và không phải xét nghiệm máu.

Đứng trước tình hình này, kế hoạch đại dịch được xét hạ cấp, theo đó một bệnh nhân khi nghĩ rằng mình bị bệnh cúm A, gọi một số điện thoại đặc biệt và nhận, nếu cần, một toa thuốc Tamiflu, mà một người thân hay người bạn có thể mua ở hiệu thuốc. “ Ý tưởng là không còn phải cần đến các thầy thuốc nữa ”, Richard Jacvis, người phụ trách hiệp hội y khoa Anh đã giải thích như vậy.

Chính phủ dự kiến một giai đoạn, trong đó những bệnh nhân bị cúm A sẽ không nhất thiết phải nhận điều trị kháng virus. Điều trị này có thể được dành cho những nhóm người có nguy cơ nhất. “ Vấn đề quan trọng nhất là biết ai sẽ đích thực có các vấn đề ”, Hugh Pennington, thuộc đại học Aberdeen đã nhấn mạnh như vậy.

Bộ trưởng y tế Anh cũng đã loan báo việc ký kết các hợp đồng với các nhóm dược phẩm, đảm bảo rằng toàn thể dân chúng Anh sẽ nhận vaccin tương lai chống cúm A. Vaccin sẽ có sẵn để sử dụng ngay trong tháng tới. Đến 30 triệu người sẽ được tiêm chủng từ nay đến cuối năm.
(LE FIGARO 3/7/2009)

4 / VIRUS CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM SỢ LẠNH.

Từ lúc xuất hiện vào năm 2003, virus của cúm gia cầm, H5N1, đã gây bệnh cho 424 người và gây tử vong 261 nạn nhân, theo các thông kế của OMS (tháng năm 2009). Tại sao trận đại dịch đáng sợ như thế đã không xảy ra. Lời giải thích là do sự nhạy cảm virus cúm H5N1 với nhiệt độ. Thật vậy, vì lạnh rét, virus không thể tăng sinh và do đó khong thể sống sót ở nhiệt độ 32 độ C nơi mũi chúng ta, là nơi nhiễm truyền của virus nơi người, trong khi đó nó hoàn toàn thích ứng với nhiệt độ 40 độ C của các loài chim. Đó là điều vừa được chứng tỏ bởi các nhà nghiên cứu của Imperial College de Londres, đã khám phá rằng tính nhạy cảm này là do một bộ phận của polymérase, một enzyme cho phép virus nhân đôi chất liệu di truyền của nó. Theo các nhà khoa học, mặc dầu một giống gốc mới của cúm người, kết quả của sự phối hợp của virus cúm người với virus của cúm gia cầm, xuất hiện, nhưng cần phải nhiều hơn để gây nhiễm nơi người và do đó txx nên một vấn đề y tế cộng đồng có tầm mức quan trọng. Cái nhiều hơn này ? Là những biến dị di truyền cho phép polymérase của virus đóng vai trò mặc dầu nhiệt độ thấp. Các nhà nghiên cứu bây giờ sẽ theo dõi một cách thận trọng những biến dị như thế.
(SCIENCE ET VIE 7/2009)

5/ VACCIN CHỐNG UNG THƯ PHỔI: MỘT NIỀM HY VỌNG.

Một điều trị giúp hệ miễn dịch chống lại các tế bào ung thư đang được trắc nghiệm. Những kết quả đầu tiên là đáng phấn khởi.

Một phương pháp điều trị mới đã được đề cập trong hội nghị thế giới lần thứ 45 về ung thư của Hiệp Hội Ung Thư Lâm Sàng Hoa Kỳ (Asco: American Society of Clinical Oncology), đã quy tụ gần 30.000 người tham dự vào đầu tháng 6 ở Orlando (Hoa Kỳ). Phương pháp điều trị này nhằm vào ung thư phổi, nguyên nhân gây tử vong đứng đầu trên thế giới nơi người do ung thư, với 1,3 triệu người chết mỗi năm. Trong 10 năm, tần số mắc bệnh ung thư phổi đã được nhân lên gấp 4 lần nơi các phụ nữ từ 35 đến 45 tuổi. Những kết quả đầy hứa hẹn của thử nghiệm vaccin điều trị Stimuvax, được tiến hành bởi phòng thí nghiệm Merck-Serono, đã được trình bày tại hội nghị này. Chúng mở đuờng cho một thế hệ điều trị mới nhằm chống lại với các ung thư phổi mà tỷ lệ sinh tồn sau 5 năm không vượt quá 15%, đứng xa sau tỷ lệ của ung thư vú (75%).

Mặc dầu tên gọi là vaccin, mục tiêu của Stimuvax không phải là ngăn ngừa sự xuất hiện của ung thư mà là phá hủy nó một khi ung thư được tạo nên.“ Vaccin được cho nơi những bệnh nhân không thể mổ được, đã được điều trị trước đó bởi liệu pháp tia X và hóa học trị liệu và nơi những người này, vaccin sẽ kích thích hệ miễn dịch để hệ thống này nhận biết những tế bào ung thư của chính mình nhằm phá hủy chúng, G.S Maurice Pérol, phụ trách khoa Ung thư ngực ở CHU de Lyon đã nói rõ như vậy." Được trắc nghiệm nơi những bệnh nhân bị một loại ung thư phổi được gọi là không phải các tế bào nhỏ (cancer à non petites cellules), không thể mổ được nhưng không có di căn, vaccin này dựa trên một protéine, MUC1, được quá biểu hiện trong loại ung thư này.

Được tiêm đều đặn dưới da, vaccin đã cho phép một tỷ lệ sinh tồn quá sức mong đợi, từ hai đến 8 năm nơi những bệnh nhân có tiên lượng rất dè dặt. Những kết quả này cho phép chuyển qua nấc thang cao hơn với việc khởi đầu thử nghiệm Start giai đoạn 3 nơi hơn 1.000 bệnh nhân trên thế giới, trong đó có nước Pháp. Và có lẽ cũng cho phép dự kiến mở rộng thử nghiệm đối với những ung thư khác. Hầu hết các chuyên gia ung thư học, thận trọng trước những kết quả chỉ mới còn sơ khởi, đang chờ đợi những kết luận xác định của công trình nghiên cứu. Những kết luận này sẽ được trình bày trong hai năm nữa ở hội nghị kỳ đến của Asco.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2009)

6/ BỆNH ALZHEIMER: LÀM VIỆC LÂU HƠN SẼ LÀM CHẬM BỆNH LẠI.

G.S Françoise Forette, nữ giám đốc Fondation nationale de gérontologie, bình luận công trình nghiên cứu mới đây, chứng tỏ rằng những người kéo dài hoạt động nghề nghiệp, có một thương tổn xảy ra muộn hơn so với những người về hưu non.

Hỏi: Ở Pháp, hiện nay có bao nhiêu người bị bệnh Alzheimer ?
G.S Françoise Forette: Theo những nghiên cứu dịch tễ học, như công trình nghiên cứu “ Paquid ”, thì hiện có khoảng 850.000 người bị bệnh Alzheimer hay bị những bệnh tương tự. Nhưng chỉ một nửa trong số những bệnh nhân này là đã có thể được hưởng một chẩn đoán sớm và, trong số những bệnh nhân này, khoảng 17% nhận một điều trị thích hợp.

Hỏi: Có cha hoặcbị bệnh có làm dễ mắc phải bệnh này hơn hay không ?
G.S Françoise Forette: Có hai loại bệnh Alzheimer. 1. Những bệnh Alzheimer gia đình (duới 5%), có nguồn gốc di truyền. 2. Những bệnh Alzheimer xảy ra lẻ tẻ. Sự việc trong gia đình có cha hoặc mẹ bị bệnh Alzheimer làm gia tăng nguy cơ, nhưng sau 85 tuổi, nguy cơ này trở nên y hệt với nguy cơ của dân chúng nói chung.

Hỏi: Ngày này người ta có thể có được một chẩn đoán đáng tin cậy hay không ?
G.S Françoise Forette: Trong những năm vừa qua đã có những tiến bộ đáng kể. Thí dụ, trong các thăm khám “ trí nhớ ”, các trắc nghiệm tâm lý-thần kinh (tests neuropsychologiques) (được thực hiện bởi các neuropsychologue) đã được cải thiện nhiều. Trong quang tuyến thần kinh (neurodiagnostic), các xét nghiệm chụp hình ảnh bằng IRM hay scanner (được liên kết với một logiciel tính toán các thể tích), cho phép thấy được những cấu trúc đặc trưng của bệnh Alzheimer ; như thế ta có thể theo dõi rất tốt tiến triển của một quá trình teo dần dần của thùy trán hay của hạnh nhân (amygdale) của não bộ.

Hỏi: Các nhà khoa học của King’s College de Londres vừa thực hiện một công trình nghiên cứu chứng minh một mối liên hệ chắc chắn giữa việc về hưu muộn và sự xuất hiện các triệu chứng được lùi lại. Làm sao giải thích mối tương quan này ?
G.S Françoise Forette: Rất nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ một mối liên hệ giữa các kích thích trí tuệ trong suốt cuộc đời, làm gia tăng các dự trữ nhận thức (réserves cognitives) và thời điểm xuất hiện của một bệnh não thoái hóa (maladie cérébrale dégénérative). Các năng lực trí tuệ (capacités intellectuelles) được tích lũy cho phép não bộ hoạt động bình thường mặc dầu bị thương tổn. Rất đáng lưu ý là công trình nghiên cứu vừa qua của Anh đã nghiên cứu xem, nơi những người bị bệnh Alzheimer hay những bệnh tương tự khác, có một mối tương quan giữa tuổi về hưu và sự xuất hiện của những triệu chứng đầu tiên hay không. Những kết quả (có được trên một nhóm 382 bệnh nhân nam) đã chứng minh rằng làm việc lâu hơn (trên 60 tuổi) làm lùi lại sự xuất hiện của những dấu hiệu của bệnh ; rằng hoạt động trí tuệ, do kích thích sự vận hành chức năng của các nối kết của những tế bào thần kinh (connexions neuronales), cho phép làm gia tăng khả năng chống lại những sự giảm sút của tuổi tác. Thế mà người ta biết rằng sau khi về hưu, các chức năng nhận thức thường ít được khai thác hơn.

Hỏi: Tất cả các nghề nghiệp không phải đều mang lại sự thỏa mãn, vậy khi nào phải khuyến khích làm việc kéo dài ?
G.S Françoise Forette: Tiếp tục một hoạt động nghề nghiệp chỉ có thể được khuyên nếu như hoạt động này được thực hiện trong những điều kiện tốt, bởi vì stress nơi văn phòng là xấu đối với các neurone ! Chính vì vậy, chúng ta phải nghĩ đến sự cải thiện những điều kiện làm việc của các xí nghiệp. Đối với những kẻ đã phải ngừng làm việc quá sớm, nhất thiết phải giữ một hoạt động tinh thần mạnh hoặc qua vài công việc lúc rỗi rảnh (làm việc vặt trong nhà, làm vườn..)..rất tốt đối với não bộ, hoặc bằng việc dấn thân xã hội trong gia đình mình hay trong các hội từ thiện. Hoạt động vật lý cũng cần thiết: hoạt động này đi đôi với việc bảo tồn những chức năng nhận thức, nhờ làm giảm những nguy cơ tim mạch, rất có hại đối với các neurone.

Hỏi: Người ta có thể hy vọng gì với những người sau 60 tuổi vẫn gìn giữ tốt những hoạt động trí tuệ và vật lý ?
G.S Françoise Forette: Ngày nay người ta biết rằng nếu làm lùi lại 5 năm sự xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của bệnh Alzheimer, người ta sẽ chia hai tần số mắc bệnh Alzheimer, điều này là đáng kể.
(PARIS MATCH 25/6- 1/7/2009)

7/ MỘT MŨI TIỀM TESTOSTERONE CÓ THỂ LÀ MỘT PHUƠNG PHÁP NGỪA THAI NAM GIỚI.

Đó là kết luận của nhóm nghiên cứu của Yiqun Gu, thuộc Viện nghiên cứu quốc gia cho kế hoạch hóa gia đình (Bắc Kinh). Trong 30 tháng, các nhà nghiên cứu đã tiêm cho một ngàn người đàn ông sống đôi lứa một liều testostérone (50mg mỗi tháng), như thế làm ngưng sự sản xuất các tinh trùng. Chỉ 1,1 thai nghén đối với 100 người đàn ông đã được chứng thực. “ Chiến lược này không phải là mới, nhưng ở đây tần số của những mũi tiêm ít hơn, mỗi tháng tiêm một lần so với 2 lần mỗi tuần như trước đây, điều này sẽ tạo nên một phương pháp được dung nạp tốt hơn ”, Sylvain Mimoum, andrologue thuộc bệnh viện Cochin, Paris đã giải thích như vậy.
(SCIENCE ET VIE 7/2009)

8/ MUCOVISCIDOSE: CHẲNG BAO LÂU SẼ CÓ NHỮNG THUỐC ĐẶC HIỆU.

Liệu pháp gène (thérapie génique) đã chưa giữ những lời hứa hẹn nhưng nhiều thứ thuốc đang được thử nghiệm.

20 năm sau khi nhận diện gène gây bệnh mucoviscidose, các nhà nghiên cứu hy vọng có thể chẳng bao lâu nữa có được những điều trị tấn công vào căn nguyên của căn bệnh di truyền này. Được trình bày trong một cuộc họp báo của hiệp hội Vaincre la Mucoviscidose (VLM), những khám phá này sẽ là trọng điểm của hội nghị lần thứ 32 châu Âu về mucoviscidose, được tổ chức tuần này ở Brest.

Ở Pháp, 6.000 người bị bệnh mucoviscidose, làm phá hủy dần dần phổi và đôi khi tụy tạng. Nguồn gốc của căn bệnh, đó là một biến dị của gène CFTR, mã hóa cho một protéine chủ yếu trong sự điều hòa việc vận chuyển các ion chlore ra ngoài các tế bào. Do thiếu một protéine CFTR bình thường, nên các dịch tiết niêm mạc, quá dày và dính, làm tắc nghẽn các đường hô hấp và tiêu hóa. Mới đây, điều trị triệu chứng (kinésithérapie, kháng sinh…) đã cho phép cải thiện đáng kể tỷ lệ sinh tồn và đời sống hàng ngày của các bệnh nhân. Nhưng tuổi tử vong trung bình vẫn rất còn trẻ: 24 tuổi.

Ngay sau khi nhận diện gène CFTR vào năm 1989, các nhà nghiên cứu đã mơ tưởng đến liệu pháp gène (thérapie génique), thay thế gène bị hỏng bằng một gène lành mạnh. Đến nay, những niềm hy vọng này đã không thành. Việc cho các gène, được mang bởi vecteur virus, đã chứng tỏ một hiệu quả nào đó lúc tiến hành những thử nghiệm lâm sàng, nhưng bù lại gây nên những phản ứng viêm khó chịu. Từ nay các chuyên gia hướng mắt về nước Anh, nơi đây được trắc nghiệm một liệu pháp gène độc đáo với một vecteur tổng hợp, được dung nạp tốt hơn bởi cơ thể. Gène được cho bằng khí dung (aérosol). “ Một công trình nghiên cứu tiền phoêng vừa được tiến hành trên khoảng 20 bệnh nhân ở trong tình trạng ổn định, G.S Pierre Lehn, chủ tịch của hội đồng khoa học của Hiệp hội VLM đã chỉ rõ như vậy. Nếu những kết quả của nó, được chờ đợi vào cuối tháng 7, được chứng rõ, nhóm nghiên cứu người Anh sẽ chuyển qua giai đoạn tiếp theo, cho gène hàng tháng trong một năm.”

NHỮNG THỬ NGHIỆM GIAI ĐOẠN III.

Nhũng nhà nghiên cứu khác tin chắc vào các liệu pháp gène, nhằm, tuy theo loại biến dị là nguyên nhân, hoạt hóa và điều chỉnh protéine CFTR bị bệnh.“ Đó là traitement à la carte, có thể liên kết với một liệu pháp gène ”, Franck Dufour, giám đốc khoa học của VLM đã xác nhận như thế. Theo ông, một trong những thứ thuốc tiến bộ nhất là VX770 (hãng bào chế Vertex), một chất hoạt hóa CFTR. Một thử nghiệm giai đoạn III sẽ bắt đầu ở Hoa Kỳ và châu Âu. Những kết quả sẽ được biết đến vào năm 2010. Trong những tháng sắp đến, các chuyên gia cũng nôn nóng chờ đợi những kết luận của những công trình nghiên cứu lâm sàng giai đoạn II với hai correcteurs de CFTR: VX 809 (Vertex) và Miglustat (hãng bào chế Actelion, một loại thuốc đã được sử dụng trong một bệnh hiếm khác, maladie de Gaucher). Ý nghĩa càng quan trọng khi hai loại thuốc này hiệu quả lên một loại biến dị hiện diện nơi 70% các bệnh nhân. Sau cùng, một liệu pháp đầy hứa hẹn khác, PTC124, cũng đang tiến triển tốt đẹp. Dành cho các bệnh nhân với một biến dị đặc biệt được gọi là “ codons stop ” (15% các mucoviscidose), thuốc uống này vừa được đánh giá trên 30 bệnh nhân nhỏ tuổi người Pháp và thử nghiệm giai đoạn III đang tiếp diễn.

Trong trường hợp thành công, PTC124 có thể được thương mãi hóa trong 3 năm đến để điều trị mucoviscidose à codons stop. Nhưng thuốc này, không phải đặc hiệu cho một bệnh mà là cho một biến dị, do đó có thể có những chỉ định khác. Các bệnh cơ (myopathies), bệnh ưa chảy máu (hémophilie)... hơn 2.000 bệnh di truyền hiếm trong 10 đến 15% các trường hợp là do một biến dị được gọi là codons stop.
(LE FIGARO 9/6/2009)

9/ VI KHUẨN LAO TRỐN THOÁT.

Trực khuẩn Koch gây bệnh lao để bị bắt giam ... nhằm trốn thoát tốt hơn !

Thierry Soldati, thuộc đại học Genève, đã xem xét cơ chế cho phép trực khuẩn lao đi ra khỏi một tế bào bị nhiễm trùng trước khi sẽ tạo nên một nạn nhân mới. Nhờ một chất chỉ dấu huỳnh quang, nhà nghiên cứu lần đầu tiên đã quan sát thấy vi trùng chiếm đoạt một protéine của ký chủ bị nhiễm trùng, actine, để chế tạo một thiết bị đâm thủng (perforateur) màng tế bào, éjectosome. Điều đặc sắc, éjectosome này cho phép tác nhân gây nhiễm trốn thoát mà không làm tan vỡ tế bào. Quan sát này, được thực hiện trên một amibe, một sinh vật đơn bào, sẽ phải được xác nhận nơi người. “ Tạo các loại thuốc nhằm vào épisotome sẽ cho phép giam cầm trực khuẩn lao và ngăn cản sự lan tràn của nó từ tế bào này qua tế bào khác ”, nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Một khám phá sẽ có tầm quan trọng trong việc kiểm soát bệnh lao.
(SCIENCE ET VIE 6/2009)

10/ VAI TRÒ MẬP MỜ CỦA NHỮNG TẾ BÀO TỤY TẠNG.

BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG. Nơi một vài bệnh nhân bị bệnh đái đường, các tế bào tiết insuline, những nạn nhân của hệ miễn dịch, cũng tỏ ra có khả năng kích thích các tế bào bạch cầu.

Hơn 150.000 người ở Pháp bị bệnh đái đường loại 1. Dạng đái đường này, thường xuất hiện trước năm 20 tuổi, là một bệnh tự miễn dịch, trong đó hệ thống miễn dịch tấn công và phá hủy những tế bào được gọi là bêta của tụy tạng, tiết insuline. Khi đó có thể không còn chế tạo đủ insuline để cho phép các tế bào sử dụng. Glucose vẫn ở lại trong máu, gây nên tăng glucose-huyết (hyperglycémie).

Từ lâu, các nhà khoa học đã quy cho hệ miễn dịch trách nhiệm gây nên loại đái đường này. Nhưng, từ vài năm nay, nảy sinh ý nghĩ cho rằng các tế bào sản xuất insuline cũng đóng một vài trò gây bệnh. Các tế bào này kích thích đáp ứng miễn dịch. Sự khám phá mới đây, bởi một nhóm nghiên cứu người Bỉ, một gène bị hỏng trong các tế bào bêta của vài bệnh nhân bị đái đường, xác nhận ý tưởng này.

Khi hệ miễn dịch tấn công các tế bào tụy tạng, các bạch cầu phóng thích các chất chimiokine và cytokine, tăng cường đáp ứng miễn dịch. Những chất này lôi kéo và hoạt hóa những bạch cầu khác. Thế mà những chất này cũng tác động lên những tế bào bêta: các tế bào này bắt đầu chế tạo chimiokine. Những chất này hoạt hóa các tế bào miễn dịch và thúc chúng ...tấn công những tế bào bêta !

Như thế một vòng luẩn quẩn được thiết lập. Nhóm nghiên cứu của Decio Eizirik, thuộc ULB (Université libre de Bruxelles), đã xác định một trong những thành phần của vòng luẩn quẩn này: gène PTPN2. Khi gène này hoạt động, những tế bào bêta sản xuất rất ít chimiokine để phản ứng lại với phản ứng viêm. Khi gène này bị hỏng, như xảy ra nơi vài bệnh nhân, các tế bào bêta tổng hợp nhiều chimiokine.

“ Ngày nay rõ ràng rằng trong bệnh đái đường, các tế bào tiết insuline không phai là những nạn nhân thụ động của hệ miễn dịch ”, Decio Eizirik đã giải thích như vậy. Một chứng thực đáng quan tâm trên bình diện điều trị. Mãi đến nay, các trục nghiên cứu chính về điều trị bệnh đái đường chỉ quanh chung quanh việc kiểm soát hệ miễn dịch. Từ nay người ta có thể dự kiến nhằm vào cơ chế này trong tế bào tụy tạng.
(LA RECHERCHE 6/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (4/7/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#10 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:54:52 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/H1N1 : VACCIN SẼ CHƯA CÓ TRƯỚC MÙA THU.

PANDEMIE. Mặc dầu Pháp cũng như các nước khác đã thương lượng một số liều vaccin nào đó, nhưng để có được một vaccin có hiệu quả và được dung nạp tốt cần phải có một thời gian không thể giảm bớt được.

Vaccin chống cúm A (H1N1) sẽ sẵn sàng vào mùa thu tới, nếu tất cả diễn ra như dự kiến. Đến nay, tất cả các hãng dược phẩm đã nhận, vào ngày 27 tháng 5 vừa qua, giống gốc của virus do OMS chuyển đến. Sau đó các hãng dược phẩm đã “ bào chế ” giống gốc đó.

Thật vậy, vaccin được chế tạo từ virus cúm bị giết chết. Trước hết phải cấy virus này để có được nhiều tỷ hạt, thường là trên trứng phôi thai (vài hãng dược phẩm đã loan báo sử dụng các canh cấy tế bào). Rồi thì phải tiêu hủy những virus này, hợp cách hóa các liều vaccin, có hoặc không có chất bổ trợ (adjuvant : một chất để tăng cường tính miễn dịch), trắc nghiệm những liều lượng khác nhau…sau cùng có một giai đoạn phân tích với thời gian không thể giảm bớt được và những điều kiện đúng quy chế cần được tôn trọng.

“ Tác động của vaccin này lên đại dịch sẽ tùy thuộc vào lúc vaccin sẽ có để sử dụng ”, giáo sư Jean-Claude Manuguerra (chuyên gia virus học, Viện Pasteur Paris) đã đoán chắc như vậy. Những hiện nay, không ai có thể nói trước lúc nào vaccin sẽ có mặt trên thị trường. Điều chắc chắn là các công tác chuẩn bị được thực hiện cách nay vài năm, với vaccin tiền đại dịch chống H5N, đã cho phép chúng ta tiến bước với những thủ thuật nhanh chóng hơn.”

NHỮNG THỬ NGHIỆM LÀM SÀNG BẮT ĐẦU VÀO THÁNG 8.

Thách thức đầu tiên là có được những canh cấy virus có năng suất cao. Hiện nay, năng suất này dường như ở mức độ trung bình, theo một vài chuyên gia của OMS.“Nhưng đó là điều bình thường, trong những giai đoạn sơ khởi của một quá trình với một virus mới, BS Albert Garcia (Sanofi-Pasteur) đã đảm bảo như vậy. Các năng suất nói chung sau cùng sẽ được cải thiện.” Quá trình sản xuất đã được phát động ngày 20 tháng 6 và các hãng dược phẩm đã bắt đầu làm bất hoạt virus và sản xuất những liều đầu tiên, sẽ được sử dụng cho những thử nghiệm lâm sàng. Những thử nghiệm này “ sẽ có thể bắt đầu ngay vào đầu tháng 8 ”, Albert Garcia đã đoán chắc như vậy. Nhưng sẽ còn phải một loạt các trắc nghiệm, với các liều khác nhau, có hoặc không có chất bổ trợ (adjuvant), thực hiện trên các loại dân chúng tuổi tác khác nhau. Thoạt đầu, để có được một khả năng miễn dịch tốt, sẽ cần hai liều vaccin, được cho cách nhau 3 tuần. “ Vậy sẽ phải tiêm chủng những người tình nguyện, thực hiện một trắc nghiệm sau 3 tuần, tiêm cho họ một liều thứ hai và còn chờ đợi thêm 3 tuần, trước khi đánh giá nồng độ kháng thể để đo lường mức độ miễn dịch có được ”, nhà chuyên gia đã nói thêm như vậy. Sau cùng còn có một thời gian không thể thu giảm được, để phân tích các kết quả, kiểm tra sự vắng mặt của các tác dụng phụ và quyết định về liều lượng tốt nhất và chiến lược tối ưu. Không có vấn đề đưa ra thị trường một vaccin không được đánh giá theo đúng những quy tắc của nghệ thuật.
(LE FIGARO 10/7/2009)

2/ ARGENTINE, QUỐC GIA Ở NAM MỸ BỊ ẢNH HƯỞNG NHẤT BỞI CÚM H1N1, ĐANG SỐNG TRONG GIỜ GIỚI NGHIÊM.

Hơn 100.000 người bị nhiễm bệnh và 79 trường hợp tử vong đã được thống kê.

Chính trong một bầu không khí âu sầu ảm đạm mà hôm qua dân Argentine đã cử hành ngày lễ quốc khánh. Dân Buenos Aires (các Portenos), đã dự kiến cấm cung ở nhà vì sợ virus cúm A (H1N1). Trong vòng vài tuần, Argentine đã trở thành quốc gia Nam Mỹ bị ảnh hưởng nhất bởi virus, và đứng hàng thứ ba trên thế giới, sau Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ (là nơi bệnh đã xuất hiện vào cuối tháng 4 ). Hôm qua, tổng kết chính thức là 79 người chết. Nhà cầm quyền đã chính thức ghi nhận 2.845 trường hợp. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng y tế Juan Manzur, đến nay có hơn 100.000 người bị nhiễm virus cúm, vài trường hợp xảy ra một cách “ âm thầm lặng lẽ ” và không có các triệu chứng.

Việc sụt giảm nhiệt độ, hậu quả của mùa đông Nam cực, không thuận lợi gì. Nhà cầm quyền đã cho biết rằng 90% các virus cúm đang được các người bệnh lưu hành trong nước là thuộc loại A. Mặt khác chính phủ đã lợi dụng ngày lễ, được kéo dài đến hôm nay, nhằm cố gắng làm ngưng hoạt động trong nước. Lãnh vực ngân hàng cũng vậy : các cửa giao dịch sẽ đóng lại cho đến thứ hai. Các chủ nhà hát vào đầu tuấn đã loan báo đóng cửa tạm thời.

TRONG CÁC XÍ NGHIỆP, TÌNH TRẠNG VẮNG MẶT BÙNG NỔ.

Tình trạng sợ virus được tăng cao lên một nấc. Theo một cuộc điều tra, được thực hiện bởi Viện Livra trong nhiều nước trong vùng, tỷ lệ dân Argentine sợ bị lây nhiễm, chuyển từ 22,7% cách nay hai tháng (vào lúc những trường hợp đầu tiên xuất hiện) lên 53,4% hôm nay. Khoảng 78% người được thăm dò tuyên bố rửa tay suốt ngày và 14% mang một mặt nạ bảo vệ. Trong các xí nghiệp, tỷ lệ vắng mặt bùng nổ, được ước tính là hơn 30%. Đó là những người dễ bị nhiễm trùng, hay phải ở nhà để lo cho những người thân bị bệnh hay các , bởi vì trường học được lệnh đóng cửa trong một tháng. Giới chủ tỏ ra hoà giải : “ Thà 30% vắng mặt hơn là 60% bị nhiễm bệnh ”. Hậu quả lên ngành du lịch thật tai hại. Công ty hành không Gol của Brésil đã loan báo một sự sụt giảm 50% vé máy bay bán đi Argentine.

Tuy nhiên, nhiều Portenos (dân Buenos Aires) vẫn giữ bình tĩnh. “ Thật là cuồng loạn (hystérie), chính giới truyền thông duy trì tình trạng hoang tưởng bộ phận (paranoia) ”, Esteban Schmidt, một nhà văn ở Buenos Aires đã tố cáo như vậy. Ông ta nêu lên những rời rạc trong các quyết định của chính phủ. Người ta đóng cửa các trường học, nhưng hôm thứ tư này có 40.000 người tập trung ở sân vận động La Plata, gần Buenos Aires, để tham dự giải chung kết coupe Libertadores, trận thi đấu chính của bóng đá châu Mỹ Latin. Quen làm việc trong các quán rượu của khu phố, Esteban Schmidt đã thấy tất cả các phục dịch viên cà phê đến với một mặt nạ trên mặt. “ Với thời gian càng trôi qua, họ hạ mặt nạ xuống, cũng gần giống như một viên chức làm như vậy với chiếc cravatte của mình. Và rồi thì chiếc mặt nạ đã hoàn toàn biến mất ”, nhà văn vừa kể như thế vừa cười. Tuy nhiên ông thú nhận một thói quen mới, thói quen sử dụng thường trực cồn dưới dạng gel (gel d’alcool) mà số doanh thu thật sự bùng nổ.

NHỮNG BIỆN PHÁP BÔNG LÔNG.

“ Sự lo âu được duy trì là do không có sự điều hòa giữa Nhà nước liên bang và các vùng, và sự thông báo zigzag của chính quyền ”, Gabriel Puricelli, thuộc Laboratoire de politiques publiques, Buenos Aires đã phân tích như vậy. Lần đầu tiên, từ lúc bắt đầu trận dịch, chính phủ đã họp các vị bộ trưởng y tế của tất cả các tỉnh, vào ngày 6/7 này, ở Buenos Aires, để thống nhất các biện pháp y tế. Các thầy thuốc phàn nàn không có các chỉ thị, ví dụ về việc phân phát Tamiflu. Mục tiêu của cuộc họp là chấm dứt tình trạng hỗn loạn, vì lẽ mỗi tỉnh, thậm chí mỗi vùng, áp dụng những biện pháp bông lông nhất. Ở San Isidro, ngoại ô của Buenos Aires, viên thị trưởng đã cấm các thiếu niên dưới 18 tuổi không được vào các trung tâm thương mãi vì được cho là dễ bị nhiễm virus hơn.
(LE FIGARO 10/7/2009)

3/ NHỮNG MỐI ĐE DOẠ ĐẠI DỊCH : LÀM SAO CHUẨN BỊ ?

G.S François Bricaire, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm của bệnh viện la Pitié-Salpetrière, đồng tác giả với BS Frédéric Saldmann của “ Những bệnh dịch mới. Làm sao bảo vệ ? ” (Nouvelles épidémies. Comment se protéger), đề nghị những giải pháp thực tiễn.

Hỏi : Tại sao OMS chuyển qua giai đoạn báo động cấp 6, công nhận sự hiện diện của một đại dịch toàn cầu của bệnh cúm A (virus H1N1).
G.S François Bricaire : Không nên xem biện pháp này (không có liên quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh) như là một yếu tố bổ sung gây lo ngại. Quyết định này đã được thông qua bởi vì nó phù hợp với định nghĩa của giai đoạn 6, bao gồm sự hiện diện của một virus mới và sự lan rộng về mặt địa lý. Biện pháp này có hai ưu điểm. 1. Các nước có thể thiết lập chiến lược riêng của mỗi nước với nhiều tự do hành động. 2. Nó cho phép các nhà công nghiệp bào chế nhanh hơn các vaccin.

Hỏi : Ông viết : “ Trong những năm sắp đến, chúng ta sẽ phải sống với một nguy cơ thường xuyên bị đại dịch ”. Đâu là các mối nguy hiểm ?
G.S François Bricaire : Các hiện tượng đại dịch luôn luôn có. Từ trước đến nay chúng ta đã chịu đựng chúng ; hôm nay, có một ý chí quốc tế muốn ngăn ngừa chúng để chống lại chúng. Vì sự vận chuyển hàng không làm dễ sự di chuyển con người, nên virus tiến triển và lan tràn với tốc độ nhanh. Vô số các tác nhân gây nhiễm ra đời một cách đều đặn. Tôi sẽ không kể ra hết với anh tất cả những tác nhân có khả năng xuất hiện trên hành tinh, như thế sẽ nhàm chán. Trong số những tác nhân này, người ta sợ một vài virus châu Phi, như Ebola và Lassa, rất lây nhiễm, hoành hành trong vùng của Zaire, gây nên sốt xuất huyết và đưa đến tử vong. Vài trường hợp đã được quan sát ở châu Âu. Người ta cũng sợ vài arbovirus rất hiện diện ở châu Á, gây nên những trường hợp chikungunya với đau khớp rất dữ dội. Mối đe dọa khác : đe dọa của virus West Nile, ở Bắc Mỹ, gây nên một hội chứng cúm với sốt rất cao và đôi khi những rối loạn thần kinh. Ở Nam Mỹ, người ta cũng chứng kiến một sự trổi dậy của sốt vàng (fièvre jaune).

Hỏi : Nơi người, ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đường gây nhiễm khác nhau ?
G.S François Bricaire : Có hai loại đường gây nhiễm : trực tiếp và gián tiếp. Trong những trường hợp đầu, thường người ta bị gây nhiễm bằng đường hô hấp (những giọt nước bọt bắn ra khi nói), đường tiêu hóa (ăn thức ăn bị ô nhiễm), đường máu (truyền máu). Người ta cũng bị gây nhiễm do tiếp xúc trực tiếp giữa người với người (qua mồ hôi, lúc bắt tay, hay do tiếp xúc sinh dục). Người ta cũng có thể bị lây nhiễm lúc sờ mó một động vật bị nhiễm trùng. Trong những trường hợp truyền gián tiếp, con người có thể bị gây nhiễm trùng do muỗi.

Hỏi : Người ta có thể tự bảo vệ như thế nào ?
G.S François Bricaire : Vài biện pháp đơn giản đã tạo nên một thành lũy chống lại các vi trùng.


  1. Rửa tay trước khi ăn và mỗi khi đi ra khỏi nhà cầu(bằng cách sử dụng xà phòng lỏng và một khăn lau khô, vì sự ẩm ướt tạo nên một canh cấy cho các vi trùng).
  2. Khi người ta ho hay hách xì, che miệng với khăn tay sử dụng một lần và quăng đi ngay sau đó.
  3. Lúc về nhà, cởi bỏ giày (là những vecteur thật sự mang vi trùng, chúng có thể tạo nên một mối nguy cơ !).
  4. Lau chùi đều đặn với thuốc khử trùng điện thoại cầm tay và các kính đeo mắt, những vật dụng đặc biệt được tiếp xúc với các giọt nước bọt được bắn ra. Các virus cúm rất thường ẩn náu trong những giọt nước bọt này. Vào năm 2008, một công trình nghiên cứu trên 23 người, được thực hiện bởi các BS Squinazi và Saldmann, đã cho thấy rằng các kính đeo của 21 trong số những người tham dự này là một canh cấy của vi khuẩn !
  5. Giữ sẵn ở nhà vài hộp mặt nạ là điều hữu ích, bởi vì trong trường hợp đại dịch, các mặt nạ có thể chịu chế độ phân phối.
  6. Trong trường hợp đe dọa dịch bệnh được truyền bởi muỗi, điều quan trọng là chăm lo làm sao cho nhà ở không bị quá ẩm ướt. Rò nước và các máy điều hòa không khí chảy giọt cần phải được sửa chữa khẩn cấp ! Chính nhờ học tập một loạt các phản xạ mới mà chúng ta sẽ thành công trong việc thích ứng với môi trường đang nảy sinh.
(PARIS MATCH 2/7-8/7/2009)

4/ XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU ĐỂ PHÁT HIỆN VIÊM RUỘT THỪA.

Nồng độ của protéine LRG (glycoprotéine alpha-2 riche en leucine) tăng rất cao trong nước tiểu của những bệnh nhân bị ruột thừa viêm. LRG có thể trở nên một chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) quan trọng của bệnh viêm ruột thừa, thường là một thách thức chẩn đoán nơi các .

Ruột thừa viêm là lý do thường nhất của một can thiệp ngoại khoa nơi các . Những chẩn đoán bệnh không phải luôn luôn dễ dàng, Richard Bachur của Children’s Hospital (Boston) đã đánh giá như vậy. Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế cho thấy rằng 3 đến 30% các trẻ em được mổ, đã chịu một phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa vô ích, trong khi nơi các trẻ em được chẩn đoán đúng, 30 đến 45% đã có một ruột thừa bị rách vào lúc phẫu thuật. Những kỹ thuật chẩn đoán mới như CT-scan hay siêu âm hẳn sẽ có thể cải thiện các con số, nhưng vẫn luôn luôn thiếu một xét nghiệm nhanh và đáng tin cậy, có khả năng phát hiện một ruột thừa viêm, Richard Bachur đã giải thích như vậy.

Richard Bachur đã trình bày vấn đề ở Proteomic Center của Bệnh Viện Nhi Đồng và bệnh viện quyết định triển khai những phương tiện tài chánh lớn. Trong giai đoạn đầu tiên, 12 mẫu nghiệm nước tiểu đã được xem xét nhờ một spectrométrie de masse. 6 trong những mẫu nghiệm này phát xuất từ những bệnh nhân bị ruột thừa viêm và 6 từ những bệnh nhân kiểm chứng. Spectrométrie de masse cho phép xác định đặc điểm của các protéine và định lượng chúng. Như vậy spectrométrie đã phát hiện được 32 chỉ dấu sinh học (biomarqueur) tiềm năng của ruột thừa viêm.

Với một độ nhạy cảm và độ đặc hiệu 97%, protéine LRG có vẻ có khả năng tốt nhất để trở thành chất chỉ dấu của ruột thừa viêm. Ngay cả ở những bệnh nhân mà ruột thừa có vẻ bình thường lúc chụp CT scan hay siêu âm, nồng độ LRG đã tăng cao.

Do đó, Richard Bachur hy vọng rằng LRG sẽ là công cụ chẩn đoán tốt nhất. Phương pháp phát hiện cũng đã được thích ứng : spectrométrie de masse, thủ thuật phức tạp, đã được thay thế bởi phương pháp immuno-essai. Do đó, chúng ta có thể trông chờ một dải phản ứng (bandelette réactive) nhạy cảm với LRG, sẽ là một khả năng trong tương lai.

Vào lúc này, Richard Bachur đang hiệu chính trắc nghiệm, còn phải được xác nhận nơi những nhóm bệnh nhân khác. Thật vậy, đến nay, trắc nghiệm chỉ có thể được sử dụng nơi các trẻ em. Theo các nhà nghiên cứu, profil protéine của nước tiểu người lớn sẽ hoàn toàn khác hẳn, đó là lý do nó sẽ ảnh hưởng nhiều lên trắc nghiệm. Do đó những xét nghiệm bổ sung vẫn luôn luôn cần thiết nơi người lớn.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 30/6/2009)

5/ CAFEINE, VŨ KHÍ MỚI CHỐNG BỆNH ALZHEIMER.

NEUROLOGIE. Nơi chuột, caféine cải thiện trí nhớ và làm giảm những thương tổn não bộ của bệnh Alzheimer.

Bệnh Alzheimer gây bệnh cho 15% những người trên 80 tuổi. Ở nước Pháp, 850.000 người bị bệnh này, vì vậy những người trên 65 tuổi sống trong nỗi ám ảnh của cái bệnh lý sẽ dẫn đến đến tình trạng phụ thuộc trong vòng 6 đến 10 năm. Có cách nào để dự phòng hay không ? Mặc dầu những công trình mới đây đã phát hiện tác động thuận lợi của sự hoạt động vật lý và trí tuệ, cũng như việc điều trị bệnh cao huyết áp, bệnh đái đường và chứng béo phì, nhưng hiện nay không có một điều trị phòng ngừa nào cả. Trong bối cảnh như thế, trên site Internet của Journal of Amzheimer Disease, việc công bố một công trình nghiên cứu, cho thấy những tác dụng rất thuận lợi của cà phê lên chuột, quả gợi lên những niềm hy vọng thật sự, mặc dầu những kết quả nơi động vật gặm nhấm này không thể luôn luôn có thể loại suy lên người.

Giáo sư Gary Arendash của Đại học Floride từ lâu quan tâm đến mối liên hệ giữa caféine và chứng sa sút trí tuệ (démence). Nhất là từ khi một công trình nghiên cứu Bồ đào nha đã phát hiện, cách nay vài năm, rằng trong suốt 20 năm trước khi chẩn đoán, những người bị bệnh Alzheimer đã uống cà phê ít hơn nhiều so với những người đã không bị bệnh này. Những công cuộc điều tra khác khá nghiêm túc đã kết luận rằng một sự tiêu thụ có mức độ cà phê tạo một tác dụng bảo vệ chống lại chứng sa sút trí tuệ này.

Chính trong bối cảnh này mà Gary Arendash mới đây đã lao vào trong một công trình nghiên cứu thí nghiệm phức tạp hơn trên chuột. Ông đã tạo được 55 chú chuột nhỏ, được chương trình hóa về mặt di truyền để phát triển những rối loạn trí nhớ giống bệnh Alzheimer và đã chia những con chuột này thành hai nhóm. Sau khi các trắc nghiệm đã xác nhận rằng những con cobaye này đúng là có những rối loạn trí nhớ vào khoảng 18-19 tháng tuổi (tương đương với 70 tuổi ở người), một nửa các con vật này đã nhận caféine trong khẩu phần nước hàng ngày của chúng (tương đương với 8 tách cà phê mỗi ngày và 14 tách trà) trong khi một nửa kia chỉ uống nước thuần chất.

NHỮNG HIỆU NĂNG RÕ RỆT TỐT HƠN.

Sau hai tháng, các chú chuột được cho uống caféine đã tỏ ra có những hiệu năng rõ rệt tốt hơn những chú chuột khác, khi thực hiện những trắc nghiệm khác nhau về trí nhớ. Theo các tác giả, các khả năng của chúng đã trở nên giống hệt với các khả năng của những chú chuột già nhưng không bị chứng sa sút trí tuệ. Các động vật chỉ uống nước vẫn giữ những kết quả xấu vào lúc trắc nghiệm. Lại còn đáng ngạc nhiên hơn vì vài tuần sau đó, cuộc giải phẫu tử thi của não bộ của những chú chuột đã cho phép nhận xét rằng những con chuột được cho uống caféine có nồng độ protéine bêta-amyloide chỉ còn một nửa trong não bộ của chúng, so với những con chuột khác. Thế mà, sự tích tụ protéine này dưới dạng các mảng (plaques) là một trong những thương tổn mô học chính yếu đặc trưng cho bệnh Alzheimer. Theo vài nhà nghiên cứu, caféine phục hồi trí nhớ bằng cách làm giảm vài enzyme cần thiết cho sự sản xuất protéine bêta-amyloide. Những nhà nghiên cứu khác cho rằng caféine có một tác dụng kháng viêm, vì thế làm cho số lượng các mảng protéine này bị giảm xuống. Mặt khác, caféinecải thiện các hiệu năng, chỉ nơi các con chuột đã có những rối loạn trí nhớ, nhưng không cải thiện hiệu năng của những chú chuột lành mạnh.

Các nhà nghiên cứu, rất phấn khởi, đã hoạch định những thử nghiệm lâm sàng trên người, nhằm xác nhận hay phủ nhận những tác dụng của caféine lên nhưng rối loạn đầu tiên của bệnh Alzheimer.
(LE FIGARO 7/7/2009)

6/ UNG THƯ PHỔI : XÉT NGHIỆM MÁU SẼ THAY THẾ SCANNER ?

Ung thư phổi và vài con số :
  • 30.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp.
  • 27.500 tử vong mỗi năm.
  • 10% tỷ lệ sinh tồn sau 5 năm.

Có lẽ sắp đến đây người ta sẽ phát hiện ung thư phổi trong máu. Dầu sao, đó là hướng rất đổi mới, được các nhà nghiên cứu của Pensylvanie theo đuổi và được trình bày vào tháng năm vừa qua ở hội nghị của American Thoracic Society để đương đầu với bệnh ung thư giết chết 800.000 người mỗi năm trên thế giới này. Thật vậy, cho đến hôm nay không có một xét nghiệm nào để phát hiện ung phổi cả. Ngoài ra, chỉ 30% các ung thư phổi được phát hiện ở một giai đoạn sớm mới có thể mổ được. Bởi vì, công cụ duy nhất hiện có, scanner, chỉ có thể phát hiện những hòn phổi (nodule pulmonaire) có một kích thước đủ lớn. Nét độc đáo của những nghiên cứu của G.S Anil Vachani là ở chất chỉ dấu (marqueur) được sử dụng. Trái với các nhóm nghiên cứu, như nhóm của BS William Jacot, thuộc bệnh viện Arnaud-de-Villeneuve ở Montpellier, G.S Anil Vachani đã không đi theo con đường (hiện nay không lối thoát) của các protéine được tiết ra bởi khối u ung thư, mà ông đã chọn các bạch cầu. Thật vậy, một vài loại bạch cầu trong các bạch cầu này, những tế bào lympho, là những bạch cầu đầu tiên tấn công vào khối u ngay khi nó phát triển trong cơ thể. Các gène hiện diện trên các tế bào lympho này sẽ chỉ một cách chính xác sự hiện diện của một khối u. Qua trung gian của các puces ADN, các nhà nghiên cứu đã khảo sát các gène được biểu hiện bởi các bạch cầu của hai nhóm 44 bệnh nhân, nhóm đầu gồm những bệnh nhận được phát hiện sớm, nhóm thứ hai tạo thành nhóm chứng. Như thế các nhà nghiên cứu đã có thể xác lập, với một độ chính xác 87%, một sự phối hợp của nhiều gène phát hiện sự hiện diện của một ung thư. Còn cần phải kiểm tra xem profil di truyền này có chung cho những ung thư khác không. Một công trình sẽ cần đến nhiều năm. Hướng khác : khí thở ra bởi các bệnh nhân. Nhóm nghiên cứu của BS Michael Philips ở New Jersey, đã nhận diện vài thành phần trong không khí. Công trình nghiên cứu, được hưởng một tài trợ 3 triệu dollars của National Institutes of Health, sẽ được theo đuổi thêm 3 năm nữa trước khi chứng minh rằng xét nghiệm phát hiện độc đáo này, có một tác động thật sự lên tỷ lệ tử vong.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2007)

7/ MỘT KHÁNG SINH ĐẦY HỨA HẸN CHỐNG BỆNH LAO.

Một nhóm nghiên cứu quốc tế khám phá ra một kháng sinh có hiệu quả chống lại tất cả các dạng của trực khuẩn gây bệnh lao. Cách tác dụng của loại kháng sinh này là mới lạ.

Lao là bệnh nhiễm trùng trong số những bệnh gây tử vong nhất trên thế giới, bệnh lao được gây nên bởi trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis. Trực khuẩn lao đã gây nên 1,7 triệu nạn nhân vào năm 2007. Và bức tranh này có thể còn trở nên u tối hơn với sự phát triển gia tăng của các giống gốc của trực khuẩn lao đề kháng, không nhạy cảm đối với các thuốc kháng lao hiện có. Do đó cần thiết phải khám phá những loại thuốc có khả năng tấn công trực khuẩn lao, một cách khác với những kháng sinh cổ điển. Đó là điều vừa được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu quốc tế. Được dẫn dắt bởi Stewart Cole, thuộc Trường Bách Khoa liên bang (LA usane), nhóm nghiên cứu này đã đi từ điều chứng thực rằng nhiều thuốc kháng sinh chứa chất lưu huỳnh. Các nhà nghiên cứu sau đó đã tổng hợp một loạt các loại thuốc thuộc họ các dị vòng chứa nguyên tố hóa học lưu huỳnh. Một vài trong các chất này tỏ ra đặc biệt có hoạt tính trên trực khuẩn lao : các nitro-benzothiazinones (BTZ). Nhóm nghiên cứu đã biến đổi cấu trúc của chúng để cải thiện thêm hơn hoạt tính, đồng thời trắc nghiệm những tác dụng độc có thể xảy ra trên các tế bào người. Trên 50 chất ứng viên, chỉ có BTZ043 là có được sự thỏa hiệp tốt nhất giữa tính hiệu quả và độ dung nạp thuốc.

In vitro, BTZ043 có một hiệu quả hơn hiệu quả của tất cả các thuốc kháng lao có trên thị trường. Được thử nghiệm trên các con chuột bị nhiễm lao, thuốc làm giảm số các trực khuẩn không đề kháng, hiện diện trong phổi và lá lách của chúng, cùng hiệu quả như hai loại thuốc chính hiện nay ; tất cả mà không gây những tác dụng phụ sau một tháng điều trị.
(LA RECHERCHE 7-8/2009)

8/ MỘT KHÁNG THẾ MỚI BẢO VỆ CHỒNG LẠI NHIỄM TRÙNG BỞI VIRUS CỦA VIÊM GAN C.

Kháng thể mới này vô hiệu hóa virus trong canh cấy và ngăn cản sự lây nhiễm. MBL-HCV1, được phát triển bởi nhóm nghiên cứu của Donna Ambrosino, thuộc đại học y khoa Massachusetts, dường như rất hứa hẹn. Để tìm được kháng thể MBL-HCV1 này, các nhà sinh học đã tiêm những yếu tố của virus vào các con chuột được nhân hóa (souris humanisés) (được biến đổi về mặt di truyền để có thể sản xuất những kháng thể người). Sau khi đã phân lập trong máu những kháng thể có khả năng nhận biết và liên kết với virus, các nhà sinh học đã trắc nghiệm tác dụng của chúng lên các canh cấy của các mô đuợc lấy nơi những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn. Rồi thì hiệu quả của chúng đã được trắc nghiệm trên các động vật linh trưởng (primates) không phải người, được cho tiếp xúc với virus. Các kháng thể MBL-HCV1 đã lần lượt trung hòa virus và đã bảo vệ các động vật linh trưởng chống lại nhiễm trùng. Một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 theo dự kiến sẽ được bắt đầu trong vòng năm nay. Theo OMS, có 3 đến 4 triệu người bị nhiễm bởi viêm gan C mỗi năm. Hiện tại không có một vaccin nào.
(SCIENCE ET VIE 7/2009)

9/ VITAMINE C SẼ ĐIỀU TRỊ CÁC RỐI LOẠN THẦN KINH-CƠ?

Vitamine C có thể sẽ trở nên một thuốc để điều trị bệnh hiếm (maladie orpheline). Thuốc nổi tiếng vitamine C đã được trình tòa để được thương mãi hóa trong hướng điều trị này, nơi Cơ quan dược phẩm châu Âu (Agence européenne du médicament) : thật vậy, acide ascorbique lần đầu tiên vừa được trắc nghiêm nơi người, và thành công, trong điều trị bệnh Charcot-Marie-Tooth. Bệnh di truyền thần kinh cơ này, đừng lầm với bệnh Charcot hay Sclérose latérale amyotrophique, đưa đến teo cơ, chuột rút (crampes) và đau đớn. Bệnh ảnh hưởng lên khoảng 30.000 người ở Pháp và hiện nay không có liệu pháp điều trị.

Nhóm nghiên cứu của Bs Joelle Micaleff-Roll (CHU de la Timone, Marseille) đã theo dõi 180 bệnh nhân ở Marseille, Paris và Lyon. Những kết quả đầu tiên cho thấy rằng “ việc cho thuốc vitamine C, 3g mỗi ngày trong một năm, được liên kết với một sự cải thiện các triệu chứng, BS Micaleff-Roll đã xác nhận như vậy. Thật rất đáng phấn khởi, nhưng điều này cần được xác nhận trên một thời gian dùng thuốc dài lâu hơn và trong khung cảnh của một hợp tác quốc tế. ”

Những công trình khác đã cho thấy rằng vitamine C làm giảm biểu hiện của gène PMP 22, có liên quan trong các quá trình myéline hóa các dây thần kinh.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2009)

10/ GIẢI MẪN CẢM KHÔNG PHẢI LÀ GIẢI PHÁP NHIỆM MẦU.

SANTE PUBLIQUE. Kỹ thuật này tạo nên một phép trị liệu hữu hiệu, nhưng phải được áp dụng theo từng trường hợp và không phản ứng với tất cả những dị ứng nguyên.

Mũi chảy, hách xì liên tiếp, ngứa ngáy ở mắt, chừng ấy các triệu chứng dị ứng bùng nổ trong mùa này, là lúc cây cối và các graminée trổ hoa. Phải nói rằng các phấn hoa (pollen) chịu trách nhiệm một nửa các bệnh viêm mũi dị ứng. Theo Hiệp Hội Hen và Dị Ứng, 15% đến 25% dân châu Âu bị bệnh này. Viêm mũi dị ứng xảy ra theo mùa (rhinite allergique saisonnière) (từng cơn) tái phát mỗi năm vào gần như cùng thời kỳ, nhưng vài người cũng có thể bị viêm mũi kéo dài (rhinite persistante).

Mặc dầu có thuốc (các thuốc kháng histamine, corticoides, các thuốc co mạch), nhưng sự giải mẫn cảm (désensibilisation) đến nay là phương tiện duy nhất để điều trị căn nguyên của bệnh này. Mục đích là nhằm làm giảm tính mẫn cảm của cơ thể đối với dị ứng nguyên (allergène). chỉ có một thầy thuốc chuyên khoa dị ứng học (allerlogue) mới có khả năng xác định loại dị ứng và thực hiện liệu pháp miễn dịch (immunothérapie) này, phép điều trị thực sự “ theo từng người ” (traitement sur mesure)

Cần thăm khám nếu các triệu chứng của viêm mũi dị ứng tái diễn và xảy ra đều đặn. Người thầy thuốc xác định sự nhạy cảm đối với một dị ứng nguyên nào đó bằng cách trắc nghiệm các chất khác nhau trên những vùng nhỏ của da. Những chất, đưa đến một phản ứng da, được xác nhận như là nguyên nhân của các rối loạn. Sau đó người thầy thuốc xác lập sự lợi ích hay không của một liệu pháp giải mẫn cảm (désensibilisation), kéo dài từ ba đến năm năm.

CẢI TẠO HỆ THỐNG MIỄN DỊCH.

Đợt điều trị nhằm cho dưới da hay dưới lưỡi một liều tăng dần các dị ứng nguyên để cải tạo hệ thống miễn dịch. Đường cho thuốc dưới da, bằng những mũi tiêm, hàm ý rằng bệnh nhân trung bình mỗi tháng phải đến phòng khám của thầy thuốc chuyên khoa dị ứng, và cứ như vậy suốt cả năm. Sau khi được tiêm, bệnh nhân phải chờ đợi tại chỗ, ít nhất ½ giờ, thời gian cần thiết để kiểm tra rằng không có một phản ứng với điều trị. Mặt khác thầy thuốc luôn luôn có sẵn bên mình một ống tiêm chứa adrénaline để phòng trong trường hợp có phản ứng.

Đơn giản và ít bó buộc hơn, ngày nay, đường dưới lưỡi (hiện nay không có thể thực hiện cho tất cả mọi loại dị ứng nguyên) được sử dụng đối với 80% các dị ứng đối với phấn hoa (pollen). Bệnh nhân có thể tự mình cho thuốc ở tại nhà, bằng cách đặt các giọt dung dịch dị ứng nguyên dưới lưỡi. Ưu điểm của phương pháp này, đó là “ không có một phản ứng phụ nghiêm trọng nào, như có thể xảy ra trong trường hợp tiêm dưới da ”, Daniel Vervloet, thầy thuốc chuyên khoa dị ứng và chủ tịch của Liên đoàn dị ứng học Pháp đã giải thích như vậy.

Mặc dầu 3 năm sau khi điều trị, nói chung, một sự giảm rõ rệt tính nhạy cảm dị ứng được ghi nhận, tuy nhiên liệu pháp giải mẫn cảm không được các thầy thuốc nhất trí.

Thật vậy, có thể giải mẫn cảm đồng thời một thậm chí hai dị ứng nguyên, nhưng không thể nhiều hơn, do đó, “ 25% các bệnh nhân không được giải mẫn cảm bởi vì đa nhạy cảm (polysensible) ”, Daniel Vervloet đã bình luận như thế.

Mặt khác ông cho rằng nếu ta phải chịu đựng nỗi khó chịu do dị ứng chỉ hai tuần một năm, thì không cần thiết phải lao vào trong kỹ thuật giải mẫn cảm làm gì.

Nhưng sự điều trị viêm mũi dị ứng không chỉ giới hạn trong việc sử dụng thuốc men. BS Marc Sapene, thầy thuốc chuyên khoa phổi-dị ứng ở Bordeaux, tin chắc rằng “ sự làm chủ môi trường sống có thể cho phép tránh khỏi phải giải mẫn cảm. Dị ứng là một sự tương quan giữa các yếu tố, liên kết một phần di truyền và môi trường ”. Đó cũng là ý kiến của BS Gérald Fain, nhắc lại rằng “ dị ứng là một sự tăng phản ứng (hyperactivité) đối với môi trường ”. Đối với ông, yếu tố liên hệ đến cảm xúc không phải là nhỏ. Phấn hoa, lông mèo và bụi bặm không có thể được tách biệt ra khỏi trạng thái cảm xúc của cá nhân : nếu không thì làm sao giải thích rằng vào một lúc nào đó chúng ta nhạy cảm hơn, chứ không phải vào những lúc nào khác ?

Ở Pháp, nhiều bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng không đi khám bệnh : người ta ước tính rằng cứ hai trường hợp có một trường hợp không được chẩn đoán. Thế mà những bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng phải được thăm khám một cách hệ thống, bởi vì khoảng 20% những người bị viêm mũi dị ứng cũng bị bệnh hen phế quản. Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành để xác lập lợi ích của sự giải mẫn cảm một số lượng tối đa các trẻ nhỏ, nhằm bảo vệ chúng chống lại những rối loạn hô hấp trong tương lai.
(LE FIGARO 26/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH(12/7/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#11 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:55:25 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A/H1N1 : TOÀN ĐẠI DỊCH TỪ NAY LAN TRÀN KHẮP THẾ GIỚI. OMS TỪ BỎ VIỆC TÍNH SỐ TẤT CẢ CÁC BỆNH NHÂN.

Tổ chức y tế thế giới đã tuyên bố hôm thứ sáu rằng sẽ từ bỏ việc đếm số các trường hợp cúm A/H1N1 , do quy mô của công việc đòi hỏi đối với những nước bị ảnh hưởng nhất bởi sự tiến triển “ nhanh chóng chưa bao giờ có ” của virus.

Theo OMS, “ một chiến lược nhằm vào sự phát hiện, xác nhận bằng xét nghiệm và nghiên cứu toàn bộ các trường hợp, gồm cả những trường hợp lành tính, đòi hỏi rất nhiều phương tiện ”. Vì lẽ đó, OMS tiếp tục theo dõi tiến triển và kêu gọi các nước khác nhau theo dõi những dấu hiệu biến dị có thể xảy ra của virus, phương cách virus cúm lan tràn, sự gia tăng đột ngột của các thăm khám ở bệnh viện hay sự xuất hiện những trường hợp nặng hơn.

OMS yêu các nước bị dịch thông báo những trường hợp đầu tiên được xác nhận rồi cung cấp một báo cáo tổng kết hàng tuần về số các trường hợp, đồng thời mô tả phương cách mà chúng xuất hiện.


OMS báo cáo 95.000 trường hợp cúm A/H1N1 trên thế giới, trong đó có 429 trường hợp tử vong. Đánh giá này đã bị vượt quá bởi vì Anh quốc đã phát hiện 55.000 trường hợp mới chỉ trong vòng 1 tuần.

LAN TRÀN RẤT NHANH.

Trận đại dịch 2009 “ từ nay không còn có thể dập tắt được nữa ”, OMS đã nhấn mạnh như thế. Đại dịch đã lan tràn trên thế giới “ nhanh hơn bao giờ hết ”. Vào những đại dịch trước đây, các virus cúm đã phải cần đến hơn 6 tháng để có thể lan tràn rộng lớn như virus mới H1N1, chỉ cần chưa đến 6 tuần.

“ Vì lẽ số các trường hợp gia tăng trong nhiều nước, mà ở đây người ta chứng kiến một sự lây truyền cộng đồng dài lâu của virus, vì vậy đối với các quốc gia bị dịch bệnh, sẽ vô cùng khó khăn, thậm chí không có thể xác nhận các trường hợp bằng xét nghiệm ”, theo OMS.

Ngoài ra, “ việc thống kê các trường hợp từ nay không còn thiết yếu nữa để kiểm soát mức độ hay tính chất của nguy cơ do virus đại dịch gây nên hay để định hướng việc áp dụng các biện pháp thích hợp nhất để đối đầu ”.

Đến nay, đại dịch được đặc trưng bởi “ các triệu chứng lành tính trong đại đa số các bệnh nhân, thường lành bệnh sau một tuần, ngay cả không cần phải điều trị ”.
(DIMANCHE 19/7/2009)

2/ Ở NƯỚC BỈ, CÚM H1N1 KHÔNG CÒN NGĂN CHẶN LẠI ĐƯỢC NỮA.

Từ hôm 27 tháng 4, ngày tháng chính thức của sự xuất hiện cúm mới A/ H1N1 ở Bỉ, đáp ứng y tế được thực hiện độc nhất dưới dấu hiệu kềm chế (signe du confinement) : ngay những triệu chứng đầu tiên, các xét nghiệm đã được thực hiện để xác nhận đó có đúng là virus mới hay một bệnh đường hô hấp khác, rồi bệnh nhân được nhập viện trong những căn phòng đặc biệt có áp lực âm tính của bệnh viện Saint-Pierre, hoặc được điều trị tại gia, nhưng không được phép ra khỏi nhà.

Từ thứ hai 13/7, nước Bỉ đã bỏ giai đoạn ngăn chặn (confinement) này :“ Giai đoạn này đã cho phép chúng ta học được nhiều điều về virus. Sự lan tràn của nó càng ngày càng trở nên rộng rãi. Hôm nay chúng ta có thể xác nhận một cách rõ ràng rằng số các trường hợp sẽ gia tăng rất rõ rệt trong những ngày đến ”, Laurette Onkelinx, bộ trưởng bộ xã hội đã giải thích vậy. Bà đã khởi động giai đoạn “ làm giảm nhẹ ” (phase d’atténuation) hôm thứ hai. Chỉ riêng ngày thứ hai này, 15 trường hợp mới đã được thêm vào trong đội ngũ 111 trường hợp đã đếm được, trong khi đó hôm chủ nhật 14 trường hợp đã được ghi nhận. Tuy nhiên con số này vẫn rất vừa phải so với ảnh hưởng toàn bộ của đại dịch toàn cầu. 800 bệnh nhân đã nhận các thuốc kháng virus để phòng ngừa. Nhưng vòng đai y tế này hôm nay đã bị tràn ngập.

a/ Tại sao số bệnh nhân tăng nhanh lên như vậy ?

“ Ngay từ giữa tháng 7, nhiều người đi nghỉ hè trở lại từ những nước ở đó virus lưu hành nhiều hơn. Các buổi liên hoan ca nhạc, các trại hè nhất thiết sẽ gây nên những trường hợp khác. Mục tiêu của chúng ta không còn có thể ngăn chặn hay làm chậm lại toàn đại dịch được nữa, nhưng mục đích chỉ làm giảm tác động y tế và kinh tế xã hội, vừa đảm bảo các điều trị thích đáng ”, bà bộ trưởng giải thích như vậy, và nhấn mạnh rằng virus hiện nay không nguy hiểm hơn virus cúm mùa.

b/ Những hậu quả cụ thể là gì ?

Ngay từ hôm nay, chúng ta sẽ không thực hiện xét nghiệm phân tích một cách hệ thống các mẫu nghiệm để biết đó có đúng là bệnh cúm mới hay không nữa. Thầy thuốc sẽ điều trị bệnh nhân tùy từng trường hợp, theo phép điều trị thông thường đối với cúm mùa, không cho Tamiflu hay Relenza. Những ngoại lệ duy nhất (do những hậu quả khả dĩ của bệnh cúm) : 9 nhóm có nguy cơ sẽ tiếp tục nhận miễn phí các thuốc kháng virusr : những bệnh nhân với bệnh phổi mãn tính, với một bệnh lý tim mãn tính, với suy gan, những người bị suy giảm miễn dịch, những bệnh nhân đái đường, các phụ nữ có thai, những bệnh nhân trên 65 tuổi và dưới 5 tuổi hay được nhập viện với một bệnh cảnh lâm sàng nặng. Để cho các thuốc kháng virus và các mặt nạ hô hấp cần thiết có để được sử dụng tức thời, các dự trữ, đã được nói đến từ lúc đầu trận dịch, đang rời các kho dự trữ ở Bruxelles để được đưa về các tỉnh. Mỗi tỉnh sẽ phân phối cho các commune, qua những điểm tiếp xúc y tế địa phương (“ point de contact local de santé ”), do ông thị trưởng chỉ định. Dân chúng được yêu cầu đừng đòi các toa thuốc kháng virus “ với mục đích phòng ngừa ”. Ở Nhật Bản, việc sử dụng những thuốc như thế trước khi triệu chứng xuất hiện đã làm xuất hiện sự đề kháng đối với thuốc. Sau đó cái ngày mà ta thật sự cần đến, sẽ không còn gì nữa cả. Và ta làm lan tràn một virus trở thành nguy hiểm hơn. Những điểm tiếp xúc y tế địa phương này hiện nay sẽ được dùng làm nơi phân phát, thậm chí khám bệnh.
(LE SOIR 14/7/2009).

Ở ÚC ĐẠI LỢI : CÓ THỂ ĐẾN 40% DÂN CHÚNG BỊ LÂY NHIỄM.

Sydney. Ở bệnh viện Prince of Wales (Sidney), khoa cấp cứu đầy ứ bệnh nhân hơn thường lệ. Trong phòng chờ, vài bệnh nhân chờ đợi hàng giờ, đôi khi với một mặt nạ trên mũi. Trên tường, các yết thị nhắc nhở những điều thận trọng phải tuân theo trong trường hợp bệnh cúm : rửa tay, che miệng lúc hách xì...

Từ khi virus A (H1N1) đã chính thức đi vào trong nước, trong vòng tháng 5, số người đến bệnh viện với những triệu chứng cúm đã tăng nhảy vọt lên.

Úc Đại Lợi, đang ở giữa mùa đông Nam cực, là một trong những nước bị ảnh hưởng nhất của vùng Thái Bình Dương. Hôm thứ hai 13/7, 9.050 trường hợp đã được thống kê trong dân số 21 triệu người dân. Và điều đó chỉ có thể mới bắt đầu. Thường thường, 20% dân số bị ảnh hưởng bởi bệnh cúm, nhưng, với virus mới này, mà người ta rất ít được miễn dịch, điều đó có khả năng trở nên trầm trọng. Càng lúc chúng ta có những dữ kiện chính xác hơn, chúng ta nhận thấy rằng tỷ lệ tử vong bây giờ khoảng 0,2% của các trường hợp, cao hơn đối với cúm mùa, Raina MacIntyre, chuyên gia bệnh truyền nhiễm ở đại học Nouvelle-Galles du Sud đã đánh giá như vậy.

Theo những ước tính của giới cầm quyền, đến 40% dân chúng có thể bị lây nhiễm. “ Dường như rằng cúm A (H1N1) sẽ thay thế cúm mùa, hơn là thêm vào nó, Nicola Roxon, bộ trưởng y tế đã tuyên bố như vậy."

NGHỈ BỆNH GÂY TỐN KÉM.

Mặc dầu 21 trường hợp tử vong, chính phủ đặt ưu tiên cho những biện pháp vừa phải. Các kiểm tra sinh học ở phi trường quốc tế đã được bãi bỏ, cũng như việc điều tra phát hiện có hệ thống. “ Trong trường hợp có các triệu chứng vừa phải, người ta khuyên đi khám bác sĩ. Bệnh viện chỉ được khuyên đối với những trường hợp nặng ”, Graeme Walker, thuộc bộ y tế của Victoria, một trong những tiểu bang bị ảnh hưởng nhất, đã đánh giá như vậy.

Tamiflu, thuốc kháng virus, được dành cho những người bị nhiễm trùng nặng hay cho những người, ngoài bệnh cúm ra, còn có những vấn đề sức khỏe phụ (hen phế quản, đái đường..). Các liều thuốc kháng virus đã được phân phát trong những trung tâm y tế của các cộng đồng bản xứ ở các vùng xa, các dân bản địa bị những vấn đề về sức khỏe quan trọng hơn mức trung bình.

Một đường điện thoại đã được thiết đặt để khuyên và trấn an công chúng. Ngoài ra để nghiên cứu virus A/H1N1, Canberra sẽ dành 7 triệu (3,9 triệu euro) để tài trợ những dự án nghiên cứu khác nhau. Khu vực kinh tế đã bắt đầu lo ngại. Theo một báo cáo của phòng thương mại của Nouvelles-Galles du Sud, các xí nghiệp có thể mất hơn 900 triệu dollars năm nay, khi những người ăn lương càng lúc càng nghỉ việc vì bệnh.
(LE MONDE 15/7/2009)

3/ ĐỘC LỰC CỦA VIRUS A/H1N1 ĐƯỢC XÉT LẠI NÂNG CAO.

PANDEMIE. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã cho thấy rằng virus có khả năng làm nhiễm trùng sâu trong các phế quản, điều này cho phép giải thích những trường hợp nặng nhất.

Định mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng của bệnh cúm mới, gây nên bởi virus A/H1N1 không phải là đơn giản. Những tuần lễ đầu tiên, tiếp theo sau sự khám phá của trận dịch ở Mễ Tây Cơ, đã góp phần gây hoảng hốt toàn thế giới vì hàng chục trường hợp tử vong đã được ghi nhận. Khi virus đã bắt đầu xâm chiếm Hoa Kỳ, thế giới bắt đầu nhanh chóng an lòng, bởi vì hàng ngàn bệnh nhân chỉ bị một thể rất nhẹ. Ngày nay cán cân lại chuyển về phía trung tâm.

Thật vậy các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Wisconsin, được điều khiển bởi nhà virus học Yoshihiro Kawanba, vừa công bố trên site Internet của tạp chí Nature những công trình thí nghiệm, bắt đầu phát họa một cách chính xác hơn độc lực của cúm A/H1N1. Họ ước tính rằng virus này “ nguy hiểm hơn virus của cúm mùa ”. Mặc dầu, đối với đại đa số các bệnh nhân, sự lây nhiễm chỉ được thể hiện bởi vài ngày sốt, ho, đau họng và đau mình mẩy, với, trong 25% các trường hợp, các rối loạn tiêu hóa. Nhưng trong vài trường hợp ngoại lệ, được thể hiện bởi những nhiễm trùng dày đặc. Với một tỷ lệ tử vong khoảng 3/1000. Nhất là, những trường hợp tử vong, trái với những trận dịch của cúm mùa, chủ yếu liên quan đến những người trẻ và gần như không ảnh hưởng lên những người trên 60 tuổi.

Để đánh giá độc lực của virus A/H1N1, giáo sư Kawaoka và các đồng nghiệp đã làm gây nhiễm trên thực nghiệm với virus mới này, những nhóm khác nhau gồm chuột, chồn sương (furets) và các linh trưởng, là biểu hiện những mô hình động vật đáng tin cậy đối với cúm. Như thế các nhà nghiên cứu đã có thể quan sát rằng virus A/H1N1 tăng sinh một cách hiệu quả hơn trong các đường của hệ hô hấp so với virus của cúm mùa. Các nhà nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng virus này có khả năng sản xuất những thương tổn phổi tương tự với những thương tổn gây nên bởi những virus toàn đại dịch độc lực hơn. Virus A/H1N1 dường như đi vào sâu trong các phế quản nhỏ và phổi và tăng sinh ở đó tích cực hơn. Thật vậy các con chồn sương bị nhiễm trùng cho thấy những dấu hiệu viêm phế quản phổi nghiêm trọng hơn. “ Trong những thí nghiệm của chúng tôi trên các chồn sương và trên khỉ, virus của cúm mùa không tăng sinh trong phổi, G.S Kawaoka đã giải thích như thế. Nhưng virus A/H1N1, trong cùng những trường hợp, tăng sinh một cách tích cực ”. Mặt khác các tác giả đã tìm kiếm những kháng thể khả dĩ trung hòa virus mới, dường như tương cận với virus gây nên trận đại dịch 1918. Những người sinh ra trước năm 1918 có những tỷ lệ kháng thể cao chống lại virus 2009, nhưng không hiện diện nơi những người sinh sau 1920.

NHỮNG NGƯỜI RẤT GIÀ ĐƯỢC MIỄN DỊCH HƠN.

Tất cả những thí nghiệm này đã được tiến hành với những giống gốc virus A/H1N1, được lấy nơi những bệnh nhân có những nguồn gốc khác nhau, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hoà Lan. Mặt khác, nhóm của các chuyên gia virus học Hoa Kỳ cũng đã cho thấy rằng, mặc dầu virus H1N1 hơi độc lực hơn dự kiến, nhưng các thuốc kháng virus hiệu quả chống lại nhiễm trùng trên những mô hình động vật này. Nhóm nghiên cứu được điều khiển bởi Kawaoka cũng đã quan tâm về trường hợp những người già sinh ra trước năm 1918 và đã có thể khám phá rằng những người này có một nồng độ cao các kháng thể chống virus H1N1 đã bảo vệ họ chống lại đại dịch mới.

Sau cùng, nhà virus học Hoa Kỳ không loại bỏ rằng virus mới sẽ trở nên độc lực hơn với sự lan rộng của đại dịch trong những tháng tới. Hiện nay, cúm đặc biệt hoành hành trong Nam bán cầu nhưng hẳn sẽ trở lại hùng hậu về phía Bắc trong mùa thu tới.

(LE FIGARO 15/7/2009)
(LE SOIR 14/7/2009)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125, đề mục số 1/ VIRUS A (H1N1) KÉM ĐỘC LỰC HƠN DỰ KIẾN.

4/ PHÁP : CÁC UNG THƯ THƯỜNG XẢY RA NHẤT NĂM 2008 : UNG THƯ VÚ VÀ TUYẾN TIỀN LIỆT.

EPIDEMIOLOGIE. Hai ung thư này tiếp tục tiến triển năm 2009, đặc biệt là do sự điều tra phát hiện có hệ thống.

Vào năm 2008, các ung thư tiền liệt tuyến (cancer de la prostate) dẫn đầu xa ở nam giới với 66.000 trường hợp mới ở Pháp, theo những dự đoán được công bố bởi INVS (Institut de veille sanitaire). Đối với nữ giới, cành co luôn luôn dành cho các ung thư vú, với 51.000 trường hợp được dự kiến vào năm 2008. “ Đó chỉ mới là những đánh giá. Các dữ kiện xác định chỉ được biết với 3 hay 4 năm chênh lệch ”, BS Juliette Bloch, thuộc INVS đã xác nhận như thế.

Rất là logic, các tiên đoán này xác nhận khuynh hướng được quan sát trong những năm qua : các ung thư càng ngày càng thường xảy ra nhưng càng ngày càng ít giết người hơn. Cách nay một năm rưỡi, INVS và Viện ung thư quốc gia đã công bố một co số các dữ kiện khổng lồ về chủ đề này. Giữa năm 1980 và 2005, các khối u ác tính đã gia tăng một cách đáng kể ở Pháp, đặc biệt là do sự gia tăng và lão hóa dân số. Nhưng may mắn thay, dịch bệnh đã được bù lại bởi một sự hạ thấp tỷ lệ tử vong 20% của các ung thư. Sự trái nhau giữa đường cong tỷ lệ tử vong và đường cong của những trường hợp mới, một phần lớn được giải thích bởi sự tiến triển mạnh của điều tra phát hiện các ung thư có tiên lượng tốt (như các ung thư của tuyến tiền liệt và vú) và sự thụt lùi của những khối u hung dữ (thực quản, dạ dày, miệng và họng), liên hệ với sự giảm uống rượu và hút thuốc lá.

Tính toàn bộ, gần 353.000 người Pháp được khám phá có một khối u ác tính vào năm 2008, trong khi số trường hợp mới được ước tính là 319.500 vào năm 2005. Về những trường hợp tử vong vì ung thư, con số là 145.500 vào năm 2008, hoặc 1.000 trường hợp ít hơn vào năm 2005.

GIẢM ĐIỀU TRỊ HORMONE CHỨNG MÃN KINH.

Các ung thư của tuyến tiền liệt thường xảy ra hơn hết và là ung thư đã tăng nhanh hơn hết nơi đàn ông trong 25 năm qua. Việc sử dụng tăng cường xét nghiệm PSA ở Hoa Kỳ đã gây nên sự gia tăng gấp đôi các tỷ lệ mắc bệnh trong 5 năm trước khi xảy ra sự giảm đột ngột.

Ở các phụ nữ, ung thư vú cũng tiếp tục theo đuổi sự tiến triển, nhưng ít mạnh hơn so với dự kiến, BS Bloch đã xác nhận như vậy. Theo một điều tra của Pháp được công bố năm 2008, tỷ lệ những ung thư vú đã giảm giữa năm 2004 và 2006. Cũng được chứng thực trong những nước khác, tiến triển này xảy ra đồng thời với sự giảm mức độ lớn các điều trị chứng mãn kinh bằng hormone.
(LE FIGARO 14/7/2009)

5/ UNG THƯ VÚ : HƯỚNG PHÂN TÍCH NƯỚC BỌT.

Thế thì tại sao nha sĩ không lấy vài giọt nước miếng của các bệnh nhân mình nhằm phát hiện một ung thư vú có thể xảy ra ? Nhóm nghiên cứu của Charles Streckfus, thuộc Dental Branch của đại học Houston (Texas, Hoa Kỳ), đã công bố những kết quả phân tích của các mẫu nghiệm được lấy từ nước miếng của 30 phụ nữ. Kết quả : các nhà nghiên cứu đã nhận diện được 49 protéine, phân biệt những phụ nữ chứng với các phụ nữ mang những u hiền hay ác tính. Ở Canada, trong mùa hè năm trước, Women’s College Hospital (Toronto) đã tiến hành một chương trình phát hiện ung thư vú bằng nước miếng, dành cho các phụ nữ thuộc những gia đình có nguy cơ. Các kết quả phân tích đang được tiến hành. Những nhóm nghiên cứu khác, như nhóm của Marscha Moses, thuộc Children’s Hospital de Boston (Hoa Kỳ), từ nhiều năm nay nghiên cứu để hiệu chính những xét nghiệm máu và nước tiểu. Với mục tiêu, những áp dụng cụ thể từ nay đến 5-10 năm nữa.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2009)

6/ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYỂN : MỘT PROTEINE MỞ ĐƯỜNG CHO PHÁT HIỆN SỚM.

Để định lượng trong nước tiểu, sarcosine, protéine vừa mới được nhận diện, sẽ cho phép phân biệt rất sớm một phì đại đơn thuần của tuyến tiền liệt với một ung thư.

Khám phá quan trọng này của một nhóm nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, thuộc đại học Ann Arbor, tiểu bang Michigan, sẽ mở đường cho một trắc nghiệm. Một hỗ trợ đáng kể đối với các thầy thuốc, hiện nay chỉ có 3 công cụ để phát hiện, ngay cả nếu được phối hợp, sẽ không cho phép chẩn đoán một cách chắc chắn : thăm khám trực tràng không có giá trị tiên đoán đầy đủ, định lượng PSA thiếu chính xác và các sinh thiết đôi khi vẫn không nói nên lời. Ngoài ra, một công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng một nồng độ PSA dưới 4ng/ml, mặc dầu được xem là bình thường, vẫn không loại bỏ được sự hiện diện của một ung thư tiền liệt tuyến đôi khi đã tiến triển.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2009)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 120, đề mục 8/ NƯỚC TIỂU CHO PHÉP ĐÁNH GIÁ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYỂN
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 117, đề mục 9/ MỘT CHẤT CHỈ DẤU TÍNH HUNG HÃN CỦA UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN TRONG NƯỚC TIỂU
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 95, đề mục 6/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : HƯỚNG VỀ MỘT XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU

7/ CHỨNG TRÁM CẢM HẬU SẢN ẢNH HƯỞNG LÊN 15% ĐẾN 20% CÁC BÀ MẸ.

Làm sao phân biệt chứng trầm cảm với baby-blue sau khi sinh ? Chứng trầm cảm hậu sản (dépression postnatale) ảnh hưởng 15% đến 20% các bà mẹ và có thể gây bệnh cho tất cả các phụ nữ ; nhưng chỉ dưới 2% các bệnh nhân thăm khám một chuyên khoa tâm lý : đó là điều được chứng thực bởi nhóm Allo Parents Bébé. Được phát động vào tháng hai năm 2008 bởi hiệp hội Enfance et Partage, “ từ 30 năm nay hoạt động để quyền lợi của các trẻ em được công nhận và bảo vệ ”, số điện thoại xanh, nặc danh và miễn phí này, giúp đỡ cho quan hệ bố mẹ-em bé, đã nhận được 9000 cú điện thoại từ lúc thành lập hội.

"Lúc sinh là giây phút rất đặc biệt." Donald Winnicott, thầy thuốc nhi khoa và nhà phân tâm học người Anh, đã giải thích rằng những phụ nữ có thai đều“ điên một cách bình thường ”, BS Linda Morisseau, thầy thuốc tâm thần nhi đồng- phân tâm học (pédosychiatre-psychanalyste), thuộc Institut de puériculture và périnatalité de Paris, đã giải thích như vậy. Baby-blues không nhất thiết là một bệnh trầm cảm, nhưng là một trạng thái tăng tính xúc cảm (hyperrémotivé). “ Nói chung, điều đó không nghiêm trọng và không cần một điều trị nào đặc biệt. Chỉ cần một ít sự chú ý của những người chung quanh ”, ở Hội Enfance et Partage người ta đã giải thích như vậy.

Vào lúc trầm cảm, nói chung người mẹ không chú ý đến em bé. Do đó việc phát hiện chứng trầm cảm này há không phải là rất quan trọng hay sao ? Các rối loạn , cảm giác rất mệt mỏi, cảm tưởng không có năng lực, không hoặc ít quyến luyến với em bé... là bấy nhiêu các triệu chứng cần phải được báo động. Và sự cô lập hay tình trạng đời sống bấp bênh lại còn làm tăng thêm hiện tượng này. Trong những trường hợp như vậy, không nên do dự thăm khám một thầy thuốc. “ Điều quan tâm là cần phải can thiệp nhanh, nhất là các bà mẹ thường không cho phép mình nói rằng họ thấy không được khỏe ”, BS Morisseau đã giải thích như vậy. Họ không nói điều đó với cha của em bé, cũng như với bố mẹ họ, với những người thân, ngay cả với nhà hộ sinh, là nơi chứng trầm cảm hiếm khi xảy ra, nhất là thời gian nằm lại sau khi sinh càng ngày càng ngắn.“ Tình trạng này xảy ra giữa tuần thứ sáu và cuối năm đầu sau khi sinh. Đại đa số các chứng trầm cảm hậu sản được cải thiện trong vài tuần, nếu bà mẹ nhận được một hỗ trợ về quan hệ và tình cảm ”, Enfance et Partage đã cảnh cáo như vậy.

NHỮNG TIẾNG GỌI THỐNG KHỔ.

Để trả lời các thắc mắc của các bố mẹ, Allo Parents Bébé thiết lập điện thoại xanh. “ Nhóm gồm 6 người nghe điện thoại, có một kỹ thuật trong quan hệ giúp đỡ ”, Françoise Rosenblatt, cựu y tá khoa Nhi đã giải thích như vậy. Trong 50% các trường hợp, người gọi là một bà mẹ trẻ dưới 30 tuổi có em bé mới sinh là đứa con đầu lòng. Từ 20% đến 25% các trường hợp là những lời kêu thống khổ thật sự của bố mẹ, bị vượt quá bởi sự đi đến của em bé trong cuộc đời họ.

“ Tôi đấu tranh để phát hiện trên thượng nguồn của quá trình sinh đẻ, do đó lợi ích của cuộc nói chuyện bắt buộc vào tháng thứ 4 của kỳ thai nghén ”, BS Micheline Blazy, thầy thuốc chuyên khoa ngoại sản của bệnh viện Vésinet (Yvelines) đã nhấn mạnh như vậy.

Thường thường, trong trường hợp bị chứng trầm cảm hậu sản, các phụ nữ cảm thấy mặc cảm phạm tội vì đã không cảm thấy thích thú đối với những những chăm sóc cho em bé và ít cười với nó. “ Điều đó có thể rất phương hại cho em bé, vốn có một nhiệt tình tự nhiên đối với người khác, hau háu thèm muốn cái nhìn của mẹ, thế mà bà mẹ lại không trả lời, nếu như người cha ít có mặt, BS Morisseau đã xác nhận như thế. Nguy cơ là thấy đứa trẻ thu rút mình lại và cắt đứt với ngoại giới. ”
(LE MONDE 24/6/2009)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 123, đề mục 8/ BABY BLUES (CHỨNG TRẦM CẢM SAU KHI SINH) VÀ HORMONE

8/ UNG THƯ LÀM ĐỂ CHỨNG TRẦM CẢM VỀ PHƯƠNG DIỆN SINH HỌC.

Những yếu tố, được tiết ra bởi vài loại khối u, có tác dụng làm dễ sự xuất hiện của chứng trầm cảm (dépression). Đó là kết luận của Leah Pyter và của các đồng nghiệp của đại học Chicago, sau một công trình nghiên cứu trên hơn 100 con chuột. Những con chuột, nơi chúng các nhà nghiên cứu đã kích thích nhằm tạo nên ung thư vú, đã có nhiều triệu chứng trầm cảm hơn những con chuột lành mạnh. Ở người, người ta đã nghĩ rằng chứng trầm cảm này là do tình trạng sốc xảy ra lúc bệnh ung thư được loan báo với bệnh nhân, do những tác dụng phụ của hóa học trị liệu, hay là do ảnh hưởng sinh học trực tiếp của khối u. Thí nghiệm trên chuột đã cho phép các nhà nghiên cứu chứng thực rằng khối u tiết cytokines với lượng lớn trong máu và trong não bộ của các con chuột bị bệnh ung thư.Thế mà những phân tử nhỏ được sản xuất bởi hệ miễn dịch này (cytokines) được biết là gây nên những triệu chứng trầm cảm.
(SCIENCE ET VIE 7/2009)

9/ BỀ DÀY CỦA VỎ NÃO TIÊN ĐOÁN BỆNH ALZHEIMER.

Một chỉ dấu rất mới, được tính từ bề dày của vỏ não, có thể tiên đoán sự xuất hiện của bệnh Alzheimer, nơi một bệnh nhân có những rối loạn nhẹ về trí nhớ (troubles légers de mémoire). Đó là kết luận của những công trình của một nhóm nghiên cứu Inserm de Toulouse, được công bố trong tạp chí Brain. “ Thật vậy, tính thay đổi nơi từng cá thể của các cấu trúc não bộ như thùy hải mã (hippocampe) (đầu tiên bị thương tổn trong bệnh Alzheimer và được nghiên cứu nhiều nhất) là quá lớn lao, nên không thể kết luận ở mức cá thể, Pierre Celsis, giám đốc nghiên cứu, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Chúng ta phải tìm một chỉ dấu chắc chắn hơn. ” Đó là điều đã đuợc thực hiện.

Bằng cách so sánh các IRM não bộ của 3 nhóm người 75 tuổi, hoặc lành mạnh, hoặc bị rối loạn nhẹ về trí nhớ hoặc bị bệnh Alzheimer được xác nhận, một logiciel đã tính bề dày của vỏ não trong những vùng não bộ được biết là nhạy cảm với bệnh Alzheimer và từ đó đã suy ra một “ index d’épaisseur normalisé ” (IEA) (chỉ dấu bề dày bình thường). Những kết quả, hai năm sau : “ Nơi những người bị rối loạn nhẹ về trí nhớ và đã tiến triển về phía bệnh Alzheimer, IEN đã tiên đoán sự thoái hóa thần kinh trong 76% các trường hợp ! Pierre Celsis đã tuyên bố như vậy. Thế mà, ta biết rằng nơi những người có một đời sống kích thích về trí tuệ, các cơ chế nhận thức (mécanismes cognitifs) bù trừ sự teo não bộ và làm chậm lại chẩn đoán. Vậy đối với những người này, IEN sẽ tránh một sự chậm trễ trong điều trị. Đó là điều chủ yếu, mặc dầu người ta chưa tìm ra thuốc thật sự có hiệu quả để điều trị bệnh này.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2009)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 90, đề mục 3/ MỘT LOGICIEL ĐỂ PHÁT HIỆN BỆNH ALZHEIMER

10/ SỰ SUY DINH DƯỠNG LÀM NGUY HẠI SỰ ĐIỀU TRỊ BỆNH SỐT RÉT.

Sự phối hợp sulfadoxine và pyriméthamine được chủ xướng trong nhiều vùng trên thế giới để điều trị dự phòng bệnh sốt rét nơi các trẻ em nhỏ tuổi. Nhưng sự suy dinh dưỡng làm nguy hại đến các cơ may thành công của điều trị phòng ngừa, như đã được chứng tỏ bởi một công trình nghiên cứu, được tiến hành ở Ghana, nơi 1.200 trẻ em từ 3 đến 15 tháng, được theo dõi đến năm 2 tuổi. Các tỷ lệ hiệu quả gần như bị giảm còn một nửa trong trường hợp suy dinh dưỡng và nguy cơ xuất hiện các thể sốt rét nặng gia tăng rõ rệt.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/7/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#12 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:56:03 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/CÚM A (H1N1) : OMS TIÊN ĐOÁN 2 TỶ NGƯỜI BỆNH.

PANDEMIE. Tổ chức y tế thế giới ước tính rằng trong hai năm đến sẽ có 2 tỷ người bị bệnh cúm mới.

Chúng ta vẫn đang còn ở giai đoạn đầu tiên hết của đại dịch gây nên bởi virus A (H1N1) và khó khăn nhất có lẽ là giai đoạn sắp đến. Keiji Fukuda, phó tổng giám đốc OMS, hôm qua ước tính rằng hai tỷ người trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiễm trùng này trong hai năm đến. Những lời đoán trước, được căn cứ trên tính chất cực kỳ nhanh chóng của sự lan truyền của virus, chỉ 4 tháng sau khi xuất hiện ở Mễ Tây Cơ, chẳng bao lâu nữa sẽ giáng lên toàn bộ các đất nước của hành tinh : 160 quốc gia trong số 193 các nước thành viên của OMS từ nay đều bị liên quan bởi bệnh cúm mới này. Theo Grégory Hartl, phát ngôn viên của OMS, đã có gần 800 trường hợp tử vong trong số hàng trăm ngàn người đã bị lây nhiễm bởi bệnh cúm này. Mặc dầu tỷ lệ tử vong dường như thấp, nhưng tỷ lệ này chưa được đo lường một cách chính xác, vì số lượng chính xác của những người đã bị nhiễm trùng vẫn không rõ ràng. Virus, rất dễ gây lây nhiễm, trong đại đa số các trường hợp chỉ gây nên những rối loạn nhẹ, có thể không được nhận biết, tuy nhiên với một tỷ suất thấp những trường hợp nặng, đến nay vẫn chưa được định số một cách rõ ràng.Vả lại, đó là điều mà phát ngôn viên của OMS đã xác nhận hôm qua lúc nói rõ rằng “ càng có nhiều trường hợp thì càng sẽ có nhiều tử vong ”, mặc dầu không có thể đưa ra một tỷ lệ tử vong nào. “ Chúng ta không có tử số cũng không có mẫu số để có thể tính toán ”, ông công nhận rằng “ nhiều câu hỏi vẫn luôn luôn không có câu trả lời ”.

MỐI ĐE DỌA CỦA MỘT THỂ BỆNH NẶNG HƠN.

Hiện nay có hai mối đe dọa. Mối đe dọa đầu tiên là mối đe dọa của một dịch bệnh hoạt động được báo trước và dường như không thể tránh được, ngay vào tháng 9, với nguy cơ chính yếu là sự rối loạn xã hội-kinh tế (mà tầm quan trọng vẫn còn khó để đánh giá hết) nếu nhiều người ăn lương, công nhân viên, cán bộ bị mắc bệnh cùng lúc. Và với một tỷ lệ tử vong nào đó, mặc dầu vẫn còn được giới hạn.

Mối đe dọa khác, đó là sự biến dị của virus A (H1N1) thành một dạng nghiêm trọng hơn và khi đó gây nên một số lượng người chết quan trọng hơn nhiều. Thí dụ, trận đại dịch toàn cầu 1918 gây chết người khủng khiếp, đã được đi trước bởi một trận dịch mùa hè tương đối hiền tính. Tuy nhiên, những trận đại dịch năm 1957 và 1968 đã không hề biết đến một tình huống như vậy và virus gây bệnh đã không biến dị để trở thành độc lực hơn. “ Chúng ta phải biết rằng có thể có những thay đổi và chúng ta phải sẵn sàng đối đầu với điều đó ”, phát ngôn viên của OMS đã nói như vậy. “ Đến nay, chung ta đã không quan sát thấy một sự thay đổi nào trong hành vi của virus. Điều mà chúng ta đang quan sát thấy, đó là sự bành trướng về mặt địa lý của nó ”.

Với giả thuyết về một sự biến dị như thế, thì tính hiệu quả của vaccin đang được chế tạo sẽ ra sao ? Hiện nay không ai có thể đáp lại câu hỏi này. Nhưng chúng ta biết rằng, vào trận đại dịch năm 1918, những người, vốn đã bị lây nhiễm trong giai đoạn mùa hè và đã chỉ bị một thể bệnh hiền tính, đã có được một khả năng miễn dịch nào đó khi virus đã trở thành độc lực hơn.
( LE FIGARO 25-26/7/2009)

2/ CÚM A (H1N1) : CÓ THỂ LÂY NHIỄM 20 TRIỆU NGƯỜI PHÁP TỪ NAY ĐẾN CUỐI NĂM.

Đó là một dạng cúm độc lực trung bình, nhưng lan tràn với tốc độ rất cao.

Xét vì tốc độ lan tràn của virus A (H1N1), nhà cầm quyền Pháp tiên đoán rằng 20 triệu người, hoặc gần 1/3 dân số quốc gia (65 triệu), có thể bị lây nhiễm bởi đại dịch cúm mới từ nay đến cuối năm, thay vì 2,5 triệu thường bị lây nhiễm hàng năm bởi cúm mùa.

Theo thông báo sau cùng của INVS (Institut national de veille sanitaire), được xác lập hôm 21/7, 793 trường hợp cúm A (H1N1) dương tính đã được thống kê ở Pháp cho đến nay, trong đó 103 trường hợp ở các lãnh thổ hải ngoại.

Do việc di chuyển của hàng triệu người đi nghỉ hè, nhà cầm quyền châu Âu dự kiến một sự lan tràn mạnh mẽ của cúm A (H1N1) trên lục địa trong suốt mùa hè, và chuẩn bị các chiến dịch tiêm chủng có trọng điểm trong mùa thu tới. Uỷ viên y tế, Androulla Vassiliou, đã loan báo hôm thứ tư 22/7 rằng một hội đồng bất thường các bộ trưởng của Liên Hiệp châu Âu đã được triệu tập vào đầu tháng mười để thông qua những quyết định cần thiết. Bà ủy viên y tế nhắc lại rằng hiện nay chưa có vaccin và yêu cầu các người dân châu Âu hãy “ giữ bình tỉnh ”, rửa tay và tránh các đám đông to lớn. Ở Pháp, chính phủ chuẩn bị ngay từ tháng chín một đội hình chiến đấu y tế và hậu cần quan trọng.

Hôm thứ tư 22/7, nhân một cuộc họp báo, bà bộ trưởng y tế Roselyne Bachelot, đã tuyên bố không loại bỏ việc “ chuyển qua cấp 6 của kế hoạch quốc gia phòng ngừa và chống đại dịch cúm vào tháng 9, dĩ nhiên là trừ trường hợp chúng ta quan sát thấy một sự gia tốc nhanh chóng của dịch bệnh trong tháng 8 ”

Mãi đến nay, chính phủ Pháp đã quyết định duy trì kế hoạch quốc gia chống đại dịch ở cấp 5A. Việc chuyển qua cấp 5 B (sự lan tràn quan trọng của virus) hay 6 (toàn đại dịch) hàm ý một loạt các biện pháp nặng nề hơn (tăng cường kiểm tra ở biên giới, đình chỉ việc đi và đến của những hành khách quốc tế, đóng cửa nhà trẻ và trường học, đình chỉ hay giảm bớt vài phương tiện vận chuyển công cộng...). Tuy nhiên phải nhớ rằng kế hoạch này đã được thiết lập trong bối cảnh của một đại dịch cúm gia cầm A (H5N1), nguy hiểm hơn nhiều. Trong trường hợp chuyển qua cấp 5B hay 6 để chống lại virus A (H1N1), một phần của những biện pháp này có lẽ có thể được làm nhẹ bớt.
( LE MONDE 24/7/2009)

3/ CÚM A (H1N1): 200.000 NGƯỜI ANH CÓ THỂ ĐÃ MẮC NHIỄM VIRUS. MỘT KỊCH BẢN TAI ƯƠNG DỰ KIẾN 65.000 NGƯỜI CHẾT.

Mối hoảng sợ đã xâm chiếm các hòn đảo của Vương quốc Anh. Người ta đã đếm được 30 trường hợp tử vong (26 ở Anh, 4 ở Ecosse) gây nên bởi cúm A (H1N1). Hiện nay Anh là nước châu Âu bị ảnh hưởng nhất bởi đại dịch.Chỉ riêng ở Anh, 840 người được nhập viện, trong đó 63 người được đưa vào khoa điều trị tăng cường (ICU), bộ trưởng y tế hôm thứ năm 23 tháng 7 đã loan báo như vậy. Và trong 7 ngày vừa qua, 100 .000 người mới đã có những triệu chứng của bệnh cúm. Hoặc gần như gấp hai lần nhiều hơn so với tuần trước (cũng đã thấy con số này tăng gấp hai). Vậy tính toàn bộ, đến nay có hơn 200.000 người Anh có thể đã mắc phải bệnh (nhưng chưa được chính thức chẩn đoán như là bị nhiễm bởi virus).

Với nhịp độ này, Andy Burnham, bộ trưởng y tế Anh tiên đoán, “ chúng ta sẽ thấy hơn 100.000 trường hợp mỗi ngày từ nay đến cuối tháng tám ”. Và hơn 12% những người ăn lương buộc phải ở nhà vào tháng 9, khi 30% dân số (và 50% các trẻ em) sẽ bị nhiễm bệnh. Do đó Sở Y tế công cộng (NHS : National Health Service) được yêu cầu chỉnh đốn đội hình tác chiến để đối phó với kịch bản tai họa được thể hiện bởi 65.000 người chết.

Trong một tài liệu 59 trang, nhằm cung cấp “ một khung để quản lý những trường hợp tử vong ”, chính phủ đã dự kiến tất cả. Người ta dự kiến biến đổi thành “ những nhà xác tạm thời ” những nơi vốn không được sử dụng vào việc này. Chính phủ cũng đề nghị rằng các linh mục tổ chức những “ lễ tang ngắn ngủi ” hơn thường lệ nhằm tránh gây ứ đọng.Và xem “ có thể (đối với các nhà hỏa táng) làm việc 24 giờ trên 24 và 7 ngày trên 7 hay không ”.

Nước Anh là quốc gia “ được chuẩn bị tốt nhất ” trong cuộc đấu tranh chống lại đại dịch, Gorgon Brown đã nhấn mạnh như thế. Nhưng trong Sở Y tế (NHS), theo một thăm đò được thực hiện bởi chính cơ quan, chỉ 4 nhân viên y tế trên 10 nghĩ là được trang bị để đương đầu với một sự tăng cao mới của số lượng các bệnh nhân. Và việc mở một “ hot line ” đặc biệt về cúm A (H1N1), nhằm làm nhẹ gánh các thầy thuốc gia đình đang bị tràn ngập, sẽ không mang lại phép nhiệm màu. Ngoài ra 1.500 người giữ tổng đài, với nhiệm vụ thực hiện chẩn đoán qua điện thoại trước khi cấp Tamiflu cho các người gọi, lại không có một đào tạo y khoa nào cả.
( LE MONDE 25/7/2009)

4/ CÚM A (H1N1) : CÓ NÊN CỐ Ý TIẾP XÚC VỚI VIRUS ?

Ở châu Âu và ở Hoa Kỳ xuất hiện một phong trào ủng hộ việc lây nhiễm tự nhiên (contamination naturelle).

Mặc dầu không được các thầy thuốc khuyến nghị, phương cách này nhằm mắc bệnh dưới dạng đang còn hiền tính.


Ý tưởng đơn giản và có thể được thực hiện một cách thích thú. Đó là mời tham dự dạ vũ một hay nhiều người bị cúm A (H1N1). Người ta có thể ăn tối, bông đùa, trò chuyện thân mật. Nhưng điều chủ yếu là làm dễ việc tiếp xúc vật lý, là ôm hôn nhau và nếu nhảy nhót, đặt ưu tiên cho điệu nhảy chậm (slow), trong đó các người nhảy ôm sát vào nhau nhất. Bởi vì mục tiêu là rõ ràng : nhờ các thượng khách, những người mang bệnh cúm, buổi dạ vũ hẳn phải cho phép một sự lây nhiễm tối đa những người tham dự.

Họ đến tự ý. Họ muốn mắc phải bệnh. Họ mong muốn bị lây nhiễm bây giờ, trong khi virus không quá độc lực, hơn là vào mùa thu tới, khi đó có nguy cơ nghiêm trọng hơn nhiều. Điều đó được gọi là sự lây nhiễm tự ý (contamination volontaire), một loại tiêm chủng tự nhiên (vaccination naturelle), nhằm sinh ra những kháng thể càng nhanh càng tốt để đề kháng tốt hơn về sau này. Các người Anglo-Saxons gọi đó là “ dạ hội cúm ” ( “ swine flu parties ”,“ soirées grippe ”, “ fêtes grippe porcine ” ).

Cộng đồng khoa học đồng ý : virus, phối hợp những yếu tố của cúm người, heo và gia cầm, từ nay không có thể ngăn chặn được nữa. Không có nước nào sẽ thoát khỏi. Đang trong mùa đông Nam cực, Úc đại lợi hiện nay là nước bị ảnh hưởng nhất của vùng Thái bình dương. Xét rằng không gì sẽ có thể ngăn chận được toàn đại dịch, OMS hôm 13/7 đã bật đèn xanh cho các xí nghiệp dược phẩm để chế tạo các vaccin. Nhân viên y tế phải được điều trị ưu tiên.

Chính để tránh dạng hoạt tính nhất của virus, được dự kiến vào mùa thu và mùa đông sắp đến, ở Châu Âu và ở Bắc Mỹ, mà các “ dạ vũ cúm ” đã được tổ chức. Báo Le Monde đã hỏi một số các chuyên gia về phương thức kỳ lạ này. Ý kiến nhất trí : không ai khuyên đùa giỡn như vậy với virus, ngay cả dưới dạng hiền tính nhất của nó.

“ Việc tạo ra các nguy cơ cho người ta, nhất là các trẻ em là một sai lầm to lớn ”, Richard Besser, giám đốc của các trung tâm kiểm tra và phòng ngừa các bệnh tật ở Hoa Kỳ đã nói như vậy.

“ Ngay khi chúng ta đã biết, qua những dữ kiện dịch tễ học và các quan sát trong các khoa phòng bệnh viện, rằng chúng ta đã đương đầu với một dạng cúm hiền tính, thì vấn đề này đã ló hiện ra", GS François Bricaire, phụ trách một trong các khoa dịch bệnh nhiễm trùng, thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris) đã giải thích như vậy. Nếu biết rằng chúng ta sẽ có thể phải đối đầu với một làn sóng thứ hai nặng hơn vào mùa thu tới, thì không phải là hoàn toàn không hợp lý khi tự bảo : “ Chúng ta hãy cứ để mắc bệnh lần này, bởi vì nếu nhiều người có các kháng thể, thì điều đó sẽ đơn giản hóa việc tiêm chủng trong tương lai ”.

Giám đốc Trường cao học y tế công cộng và là chuyên gia dịch tễ học, G.S Antoine Flahaut cũng công nhận rằng “ Những người nào sẽ bị mắc bệnh cúm A (H1N1) sớm, sẽ có nhiều lợi thế : có thể nói là họ sẽ được tiêm chủng trước những người khác. Hơn thế nữa, nếu họ bị một bệnh cúm với các biến chứng, thì có lẽ tốt hơn điều này nên xảy ra vào lúc mà các bệnh viện không bị tràn ngập ”.

Nguyên tắc gây miễn dịch tự nhiên bằng cách tiếp xúc với một người mang một virus, đã nẩy nở trong các quốc gia anglo-saxon, chung quanh bệnh thủy đậu (varicelle) (chickenpox). Các “ chickenpox parties ” đã phát triển cho đến những năm 1990, trong khi không có vaccin chống lại bệnh thủy đậu : các người dự tiệc tập hợp các đứa con mình chung quanh bệnh nhân mang các bọng nước (vésicules), dấu hiệu của nhiễm trùng bởi virus của họ herpès.

Ý tưởng này đã tồn tại đặc biệt trong những gia đình không thích vaccin hay nơi những người nghĩ rằng tính miễn dịch tự nhiên mạnh hơn tính miễn dịch do một sản phẩm được chế tạo ở phòng thí nghiệm. Ý tưởng này vẫn tiếp tục được truyền bá trên các sites Internet, kể cả đối với bệnh cúm.

Những người cổ xướng phương thức lây nhiễm tự nhiên này đặc biệt đưa ra một cuốn sách, The Great Influenza, của John M.Barry, được công bố năm 2004, sách kể rằng những người vốn đã mắc bệnh cúm Tây Ban Nha vào năm 1918 vào lúc làn sóng đầu tiên, xảy ra vào mùa xuân, với độc lực tương đối vừa phải, đã được che chở vào hai đợt dịch bệnh nghiêm trọng hơn nhiều, xảy ra nối tiếp nhau vào mùa đông sau đó.

Về các “ swine flu parties ”, giám đốc CDS, Richard Besser xác nhận rằng sẽ là sai lầm to lớn khi gây các nguy cơ lên người ta và các trẻ em. Đó là một căn bệnh mới, mới phát khởi (émergente), và mỗi ngày chúng ta học hỏinhiều hơn về nó ”.

“ TÔI SẼ KHÔNG LÀM ĐIỀU ĐÓ CHO TÔI ”

Trong cùng chiều hướng đó, G.S Flahault cho rằng “ chúng ta không rõ lắm về độc lực của virus A (H1N1). Thí dụ, ở Pháp, các dữ kiện của các giấy khai tử chỉ tường trình một phần nhỏ về số các trường hợp tử vong do bệnh cúm, dầu đó là cúm mùa hay là virus mới ”. Phần lớn, chỉ những biến chứng nhiễm trùng của bệnh cúm (viêm phổi, viêm phế quản..) là xuất hiện trên hồ sơ.

Việc tự ý làm mắc bệnh cúm không phải là vô hại. Mặc dầu các chuyên gia nhất trí nói rằng các con số chính thức các trường hợp được xác nhận và tử vong là xa với thực tế, nhưng các dữ kiện của OMS cho thấy rằng cứ một ngàn trường họp thì có một tử vong. “ Nếu mắc bệnh cúm bất cứ giá nào là một loại thuốc, thế thì người ta có sẽ chấp nhận rằng thứ thuốc này sẽ dẫn đến tử vong với nhịp điệu này hay không ?", BS Jean- Marie Cohe, điều phối viên quốc gia của Groupes régionaux d’observation de la grippe (GROG) đã nêu câu hỏi như thế.

Ngoài lợi ích cá nhân khả dĩ mà một người có thể có được do một sự lây nhiễm sớm với virus, cũng phải nghĩ về mặt đạo đức : một người bị nhiễm trùng có thể truyền virus chung quanh mình và phát khởi nơi những người có sức khỏe mỏng manh nhất, một căn bệnh có khả năng gây chết người. Cố ý để lây nhiễm virus A (H1N1) ? “ Thú thật, tôi sẽ không làm điều đó cho tôi hay cho gia đình tôi, BS Cohen tiếp tục nói. Ngược lại, nếu có bị mắc phải cũng không phải là một thảm họa. Không có gì phải hoảng sợ, không cần phải thay đổi các thói quen vốn có hay những dự định của mình, nhất là các dự tính nghỉ hè.”

Một thái độ được xác nhận bởi G.S Bricaire : “ Con gái tôi hỏi tôi nó có phải duy trì một cuộc du lịch được dự kiến đi Argentine hay không. Sau khi tham khảo ý kiến với các nhà nghiên cứu đồng nghiệp, tôi đã bảo nó đừng hủy bỏ cuộc hành trình. ”
( LE MONDE 15/7/2009)

5/ “ SỰ GIÀ CẢ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CĂN BỆNH CẦN PHẢI ĐIỀU TRỊ ”

Hỏi : Ông nghĩ gì về việc tăng gia các điều trị được gọi là chống già (traitement anti-âge) ?
Claude Jeandel : Từ ngữ chống già (anti-âge) có thể làm tin tưởng một cách sai lạc rằng sự lão hóa là một căn bệnh cần phải chống lại, và rằng có thể chữa được nó. Chúng ta đứng trước một vấn đề biểu tượng cá nhân (représentation personnelle). Hình ảnh mà ta có về chính mình phải chăng chỉ được căn cứ trên cái bề ngoài thể xác ? Chúng ta không thể cảm thấy lành mạnh mà không cần phải trẻ và tuyệt vời hay sao ?

Hỏi : Nhiều người đã nhờ đến hormone liệu phát tăng cường (hormonothérapie intensive), đến các chất bổ sung ăn uống (compléments alimentaires)...Há không phải người ta đi quá xa, quá nhanh chăng ?
Claude Jeandel : Nếu không có những thiếu hụt thật sự các vitamine hay các vi yếu tố (oligo-éléments), thì không có chỉ định cần đến những sự bổ sung như thế, vì nguy cơ có thể sinh ra những biến chứng do một sự quá liều. Về các hormone, các mức độ chứng cớ về tính hiệu quả và vô hại của chúng hiện nay không được đầy đủ.

Hỏi : Già khỏe (bien viellir) nghĩa là gì ?
Claude Jeandel : Đó là đạt đến một tuổi cao mà vẫn khỏe mạnh, với tất cả các năng lực của mình. 20% đến 25% những người lớn tuổi đạt được điều đó. Để được như vậy phải gìn giữ tối đa các dự trữ chức năng (réserves fonctionnelles) của mình.

Hỏi : Ông hiểu như thế nào là “ các dự trữ chức năng ” ?
Claude Jeandel : Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, chúng ta chỉ huy động khoảng 30% năng lực chức năng (capacités fonctionnelles) của chúng ta và do đó, chúng ta có một giới hạn an toàn (marge de sécurité), được đánh giá là khoảng 70% của các năng lực tối đa. Chính đó là dự trữ chức năng (réserve fonctionnelle). Chúng ta sử dụng nguồn vốn này để đương đầu với những cuộc tấn công vào sức khỏe của chúng ta. Tiềm năng này tạo cho chúng ta những khả năng lấy lại sức và hồi phục. Một sự suy giảm nguồn dự trữ này làm cho chúng ta mỏng manh yếu ớt.

Hỏi : Làm sao tối ưu hóa nguồn dự trữ chức năng này ?
Claude Jeandel : Cốt yếu đó là sự phòng ngừa. Phòng ngừa các bệnh tim mạch và các ung thư, bằng cách kiểm soát các yếu tố nguy cơ và nhất là một chế độ ăn uống thích nghi. Phòng ngừa tình trạng déconditionnement physique et cognitif xảy ra lúc về hưu, bằng cách thực hiện đều đặn một hoạt động vật lý và trí tuệ. Ngăn ngừa những thiếu hụt về cảm giác, thính giác và thị giác, bằng sự theo dõi y tế. Nhưng cũng ngăn ngừa những mất mát về mặt tình cảm, quan hệ, xã hội và nghề nghiệp, bằng những chiến lược cần phải suy nghĩ đến trước khi ngừng làm việc.

Đặc biệt nên duy trì sự ham muốn, động cơ, hành động. Thiếu những cái đó, chúng ta sẽ trượt về hướng sự lão hóa “ thông thường ”, nghĩa là buông trôi dần, mất dần các chức năng, do mất quá trình xã hội hóa (désocialisation), sự cô đơn cô độc.

Hỏi : Thiết lập các lớp tuổi (classes d’âge), thứ 3, thứ 4 và cả thứ 5, có là một điều tốt hay không ?
Claude Jeandel : Không, bởi vì cuộc sống là một chuỗi liên tục không khúc đoạn (un continuum non segmenté). Quan điểm chia thành các lớp tuổi chỉ duy trì những bản đúc (stéréotypes) xã hội-văn hóa, chuyên chở những hình ảnh âm tính về tiến trình cao tuổi. Cái nhìn này ngăn vách các thế hệ và không mang lại sự gặp gỡ nhiều thế hệ (rencontre multigénérationnelle). Tốt hơn là nên gợi ra một chuỗi liên tục từ lúc sinh ra đến lúc lìa đời, được hỗ trợ bởi một dự kiến của cuộc sống cá nhân. Đó là một điều kiện cần thiết để cho một sự liên đới giữa các thế hệ có thể thực hiện được.
( SCIENCES ET AVENIR 7/2009)

6/ KHÔNG CÓ MỐI LIÊN HỆ GIỮA SỐC TÂM LÝ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA MỘT KHỐI U UNG THƯ.

Trái với vài niềm tin trong dân gian, một công cuộc điều tra rộng lớn vừa cho thấy rằng không hề có một mối liên hệ nào giữa sốc tâm thần (choc psychique) và ung thư cả.

Đó là một ý tưởng phổ biến trong công chúng và nơi các người bệnh : tang chế, stress hay một rối loạn nhân cách, thậm chí một chứng trầm cảm có thể là những yếu tố gây nên sự xuất hiện của một ung thư.

Ở Úc, 40 % các phụ nữ được hỏi nghĩ rằng stress có thể là nguồn gốc của một ung thư vú. Vào đầu tháng sáu 2009, tạp chí dịch tễ học và y tế công cộng vừa cho công bố một tổng hợp 32 công trình nghiên cứu, là một gáo nước lạnh thật sự đối với những người bảo vệ của nguyên nhân này : 18 trong những công trình nghiên cứu này không cho thấy một mối liên hệ nào giữa các yếu tố “ tâm thần ” và nguy cơ bị ung thư cả, 6 công trình nghiên cứu chỉ tìm thấy sự liên kết có ý nghĩa trong một hay nhiều nhóm, và 4 điều tra cho thấy cả một mối quan hệ ngược đối với các ung thư phụ nữ (ít nguy cơ bị ung thư hơn nơi những người bị stress).

Ngay năm 1999, một phân tích méta 11 cuộc điều tra về mối liên hệ giữa những biến cố khó khăn của đời sống và ung thư vú, hướng vào tình trạng tang chế và nguy cơ ung thư. “ Khuynh hướng được quan sát là khuynh hướng của một sự giảm nguy cơ ung thư vú với thời gian sống góa phụ ”, G.S Simon Schraub, một trong những tác giả đã nhận xét như vậy. Một trong những điều tra được thực hiện trên 4.905 góa phụ : phân tích kết luận rằng sự vắng mặt nguy cơ tử vong do ung thư vú, cao hơn nơi các góa phụ so với những người chứng.

Công trình nghiên cứu về stress, được cảm nhận, giữa năm 1968 và 1969, nơi 1.462 phụ nữ Thụy Điển, tuổi từ 38 đến 60, cũng như điều tra trên một nhóm các phụ nữ Thụy điển đã bị mất con, cũng như điều tra về stress nghề nghiệp trên 69.886 nữ y tá Hoa Kỳ, đã không cho phép tiên đoán một tỷ lệ gia tăng mắc phải ung thư vú.

Nhân cách (personnalité) và những rối loạn tâm lý cũng là một giả thuyết đã được đưa ra như là có thể tạo điều kiện hay là nguyên nhân của ung thư (nhất là ung thư vú). Sự khó khăn trong việc diễn đạt các cảm xúc tình cảm, một sự ức chế cơn giận dữ, một thái độ mất hy vọng, một sự hy sinh nhu cầu riêng của mình cho nhu cầu của những kẻ khác đã được đưa ra như là nguyên nhân phát khởi ung thư.

Nhưng theo Simon Schraub, công trình nghiên cứu những nguyên nhân tử vong nơi các người lính Hoa Kỳ được cho phục viên năm 1944 vì loạn thần kinh (névrose), cũng như công trình nghiên cứu nhân cách (personnalité) của những phụ nữ được gọi lại sau khi được chụp vú để phát hiện ung thư, đã không cho những kết quả có sức thuyết phục.

Một hướng cuối cùng được phân tích : chứng trầm cảm và ung thư. Ở đây cũng vậy, trên 7 công trình nghiên cứu được tham khảo bởi các nhà nghiên cứu người Pháp, có 4 là âm tính, và một công trình tìm thấy một mối nguy cơ bị ung thư ít cao hơn nơi những người bị trầm cảm !
( LE FIGARO 14/7/2009)

7/ CÂU CHUYỆN LẠ KỲ CỦA CÔ BÉ CÓ HAI TRÁI TIM.

TRANSPLANTATION. Sự cắt bỏ trái tim được ghép của Hannah, do bị những biến chứng nghiêm trọng, đã đưa đến sự chữa lành kỳ lạ của trái tim tự nhiên, bị bệnh từ lúc sinh ra đời.

Hannah Clark được 16 tuổi, và cô kiếm tiền tiêu vặt nhờ giữ các động vật nuôi trong nhà. Mùa hè năm nay cô cùng gia đình đi biển. Xa các thầy thuốc, các bệnh viện, xa, rất xa cái số phận bi thảm đã hứa hẹn với cô chỉ ít lâu sau khi sinh ra đời. Bởi vì Hannah là một người được phép nhiệm màu của nền y học hiện đại, cô được chữa lành một bệnh cơ tim của nhũ nhi (cardiomyopathie du nourrisson), đáng lý đã phải giết chết cô.

Sinh tháng 5 năm 1993 ở Mountain Ash, gần Cardiff ở xứ Galles, Hannah được mang đến phòng cấp cứu vào tháng giêng năm 1994, ở bệnh viện Harefield (Middlesex), chuyên về các bệnh tim và phổi : khi đó cô có tất cả những triệu chứng của một suy tim nặng. Hannah bị một bệnh của tim, một bệnh cơ tim (cardiomyopathie) (thường xảy ra nhất trước tuổi 12 tháng) có tiên lượng rất u tối.

Ngay sau khi được ghi tên lập tức lên một danh sách chờ đợi của những trường hợp siêu cấp cứu (superurgences) để được ghép tim, Hannah được mổ vào tháng 7 năm 1995. G.S Magdi Yacoub, thầy thuốc tiền phong người Anh về ghép tim và phổi, đã thiết đặt trong ngực của cô bé một trái tim của người cho(từ một em bé 5 tháng), nhưng thay vì lấy trái tim bị bệnh ra khỏi lồng ngực của cô bé, ông để nó lại tại chỗ. Trái tim ghép tí xíu được thiết đặt nằm song song với trái tim bệnh và đóng vai trò của một hỗ trợ tâm thất (assistance ventriculaire) để giúp tim bị bệnh đẫy máu trong cơ thể.

Trong 4 năm trời, tim ghép này hoạt động một cách tuyệt hảo. Dĩ nhiên, Hannah, cũng như mọi bệnh nhân được ghép khác, phải dùng những thuốc chống thải bỏ (médicaments antirejets) để đảm bảo một sự hủy bỏ miễn dịch đầy đủ để cơ thể không thải bỏ trái tim được ghép. Trái tim bệnh của cô phục hồi và hoạt động trở lại một cách thỏa mãn.

Nhưng vào tháng 8 năm 2001, một vận khắc nghiệt mới : Hannah là nạn nhân của một biến chứng cổ điển của các thuốc chống thải bỏ này. Thật vậy người ta chẩn đoán nơi cô một dạng tim được mệnh danh là “ hội chứng tăng sinh tế bào lympho ” (syndrome lymphoprolifératif), một khối u ác tính, được hoạt hóa bởi virus Ebstein-Barr, đã xuất hiện trong cô nhờ tác dụng của các thuốc làm giảm miễn dịch.

“ 12 GIỜ ĐỂ SỐNG ”

Vào lúc 8 tuổi, hai trái tim của Hannah dường như hoạt động một cách bình thường, nhưng ung thư thứ phát này tiếp tục tiến triển. Khối u “ sáng ngời lên ”, và đe dọa mạng sống của cô bé. Nhiều hóa học liệu pháp chống ung thư dầu sao cũng thành công kềm chế được căn bệnh, mặc dầu không làm biến mất nó hoàn toàn. Vào tháng giêng 2003, một đợt tái phát của ung thư đòi hỏi lần nữa một đợt điều trị chống ung thư. Trong hai năm trời, cuộc chiến đấu của Hannah được tiếp tục không ngừng.

Như thể như thế chưa đủ, năm 2005, siêu âm tim kiểm tra làm lo ngại nhiều thầy thuốc : trái tim tự nhiên của cô gái nhỏ tiếp tục làm việc tốt, những trái tim được ghép cho những dấu hiệu mệt mỏi không thể chối cãi.

Thật vậy, để làm ngưng sự tiến triển của ung thư, các thầy thuốc đã giảm những liều thuốc làm suy giảm miễn dịch và trái tim ghép không còn được bảo vệ chống lại sự thải bỏ nữa. Giải pháp duy nhất để thoát khỏi cái vòng qủy quái này, đó là lấy đi trái tim được ghép, ngưng các loại thuốc “ nuôi dưỡng ” khối u, và hy vọng rằng trai tim nguyên thủy có khả năng làm việc một mình.

Một toan tính lấy trái tim ghép ra đã không bao giờ được thực hiện. Tuy vậy, vào tháng hai 2006, G.S Magdi Yacoub đã mổ lấy nó ra ở Great Ormond Street Hospital de Londres. Paul, bố của Hannah, trong một cuộc họp báo ngày hôm kia ở Luân Đôn, đã nhớ lại rằng, một cô y tá khi đó đã nói với ông rằng“ con gái ông chỉ còn sống 12 giờ nữa mà thôi ” và ông đã trả lời với cô ta : “ Hãy tin vào điều mà cô muốn, và còn tôi, tôi tin vào điều mà tôi muốn ”. 3 năm rưỡi sau khi lấy bỏ trái tim được ghép, mà không có nó người ta nghĩ rằng cô sẽ không còn có thể sống được nữa, nhưng Hannah vẫn luôn luôn mạnh khỏe và sống giữa một đám bạn bè. Theo GS Yacoub, phép nhiệm màu y khoa này chứng tỏ khả năng của những ghép tim tạm thời trong lúc chờ đợi một sự chữa lành ngẫu nhiên của trái tim bị bệnh.
( LE FIGARO 15/7/2009)


8/ BÉO PHÌ TỪ MẸ ĐẾN CON GÁI VÀ TỪ CHA ĐẾN CON TRAI.

SANTE. Theo một công trình nghiên cứu của đại học y khoa Plymouth, các đứa con bắt chước thái độ ăn uống (comportement alimentaire) của những người sinh thành cùng giới tính, nhưng không đối với người thuộc giới tính đối lại.

Mẹ thế nào thì con gái như thế đó, cha ra sao thì còn trai như vậy. Đó là một trong các kết luận của công trình nghiên cứu về chứng béo phì, vừa được thực hiện bởi trường y thuộc đại học Plymouth. Công trình nghiên cứu cho thấy rằng các phụ nữ béo phì có cơ may có những con gái béo phì 10 lần nhiều hơn so với các phụ nữ có trọng lượng bình thường và rằng tỷ suất là 6 lần giữa cha và con trai. Và nhất là, công trình nghiên cứu nói thêm rằng mối liên hệ này không bắt chéo nhau : một người cha tăng bị thể trọng không ảnh hưởng gì hết lên con gái và ngược lại.

41% các cô gái nhỏ 8 tuổi có mẹ béo phì đến lượt mình cũng vậy, so với 4% trong những gia đình có mẹ không có một vấn đề nào về trọng lượng. Ngược lại, những cậu thiếu niên có mẹ béo phì đến lượt mình không là như vậy. Về phía đàn ông, 18% các cậu bé nhỏ có cha béo phì đều có cùng hội chứng, trong khi không có một khác nhau nào đối với các cô gái. Được tiến hành nơi 226 gia đình trong suốt 3 năm, công trình nghiên cứu này cho thấy rằng trọng lượng được liên kết với một vấn đề “ giao cảm hành vi ” (sympathie comportementale) hơn là với một vấn đề di truyền, các nhà khoa học đã xác nhận như vậy. Các cô gái bắt chước phong cách sống của mẹ và các cậu con trai bắt chước lối sống của cha.

XEM XÉT LẠI SỰ PHÒNG NGỪA.

Kết luận của các nhà nghiên cứu : phải xét lại những chiến dịch phòng ngừa. Ở Anh, các thông điệp nhằm vào những trẻ em quá béo phì với ý nghĩ cho rằng chúng sẽ trở nên những người trưởng thành béo phì. Nếu những người lớn có thể trọng gia tăng là những vecteur đầu tiên của chứng béo phì của các trẻ em, thì phải làm thay đổi các chính sách truyền đạt. “ Những thông điệp phòng ngừa vậy phải nhắm vào các bố mẹ, trái với điều đã được thực hiện cho đến nay ”, G.S Terry Wilkin, một trong những người phụ trách điều tra đã xác nhận như thế. Ở Pháp thì cho rằng việc chống lại chứng béo phì cần nhiều thông điệp nhằm vào không những ở trẻ em mà cả bố mẹ nữa.
( LE FIGARO 14/7/2009)

9/ ĐỂ GIỚI HẠN CÁC NHỒI MÁU CƠ TIM. ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN CÓ HỆ THÔNG NHỮNG NGƯỜI 50 TUỔI.

1/3 các cơn đau tim (crises cardiaques) (hay nhồi máu cơ tim) xảy ra trước tuổi 60. G. S Jean-Noel Fabiani, trưởng khoa giải phẫu tim mạch, bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou de Paris, nhấn mạnh đến lợi ích của một phòng ngừa nguyên phát (prévention primaire).

Hỏi : Tần số của các nhồi máu cơ tim nơi đàn ông ?
G.S Jean- Noel Fabiani : Ở Pháp, người ta thống kê được 120.000 trường hợp nhồi máu cơ tim mỗi năm, do xơ vữa động mạch (athérosclérose), mà (theo những công trình nghiên cứu mới đây), trong dó 30% xảy ra nơi những người đàn ông chưa được 60 tuổi ! Trong phần lớn các trường hợp, các tai biến tim này đáng ra có thể tránh được chỉ với một điều tra phát hiện (dépistage) ở tuổi ngũ tuần. Phải biết rằng, thường nhất, các nhồi máu cơ tim xảy ra đột ngột, không có một triệu chúng nào báo trước...Do đó lợi ích của một việc chẩn đoán sớm.

Hỏi : Tại sao ông khuyên điều tra phát hiện ở tuổi 50 ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Loài người có một khuynh hướng rất mạnh phát triển âm thầm nhưng chắc chắn một căn bệnh đặc biệt có hại đối với các động mạch : chứng xơ vữa động mạch (athérosclérose). Chứng xơ vữa này dẫn đến sự tạo thành các mảng vữa động mạch (plaques d’athérome), dần dần bít lỗ của các huyết quản. Trong những giải phẫu tử thi, được thực hiện nơi những người lính trẻ 20 tuổi chết vì chiến tranh, người ta đã có thể quan sát thấy các thương tổn trên động mạch chính của tim ! Nếu những người lính trẻ này còn sống, thì những thương tổn này sẽ trở nên nguy kịch ở tuổi 50, là tuổi mà các huyết quản ít mềm dẻo hơn và là lúc chứng béo phì bụng bắt đầu xuất hiện. Hai yếu tố này làm gia tăng nguy cơ xơ vữa động mạch.

Hỏi : Những xét nghiệm nào cần thiết để điều tra phát hiện ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Nhất thiết phải có 5 xét nghiệm !

  1. Đo huyết áp.
  2. Điện tâm đồ lúc nghỉ ngơi.
  3. Điện tâm đồ lúc gắng sức.
  4. Định lượng máu.
  5. Doppler các động mạch cổ và cẳng chân.

Hỏi : Những kết quả đầu tiên đã cho phép xếp loại trong một loại đầu tiên, những người có “ nguy cơ bị nhồi máu cơ tim ” (sujets à risque d’infarctus) bởi vì những người này mang nhiều yếu to làm dễ. Nơi những người này, có thể hữu ích cho thực hiện một thăm khám sâu hơn như scintigraphie au thallium (thăm khám y học nguyên tử), một scanner các động mạch vành hay chụp hình động mạch vành (coronographie). Những bệnh nhân được xếp trong loại thứ hai là những người có nguy cơ thấp (sujets à faible risque).

Hỏi : Những điều trị phòng ngừa của hai loại bệnh nhân này là gì ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Phải phân biệt hai loại phòng ngừa :
  • Phòng ngừa nguyên phát (prévention primaire) liên hệ đến những người có thể có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim nhưng đã không bao giờ bị bệnh ;
  • Phòng ngừa thứ phát (prévention secondaire) nhằm vào những người bị bệnh tim đã chịu một phẫu thuật chữa họ lành bệnh.

Hỏi : Phòng ngừa nguyên phát nhằm vào gì ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Trước hết để ngăn ngừa tăng cholestérol-huyết, với một chế độ ăn uống thích hợp không có mỡ động vật, giàu rau xanh và trái cây. Nơi những bệnh nhân đã có những mảng xơ vữa động mạch nhỏ, người ta cấp toa một thuốc thuộc họ statines (một chất kháng cholestérol) rất hiệu quả có rất ít những tác dụng phụ. Sau đó được bàn đến có nên tiến hành hay không một điều trị làm loãng máu (traitement fluidifiant), ví dụ với aspirine liều lượng nhỏ.

Hỏi : Ở giai đoạn phòng ngừa nguyên phát này, sự theo dõi nào cần được thực hiện ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Tôi thấy dường như hợp lý là lập lại những xét nghiệm điều tra phát hiện (examens de dépistage) mỗi 5 năm và cho làm một bilan máu mỗi năm.

Hỏi : Ông có thể mô tả phép điều trị của một phòng ngừa thứ phát ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Phòng ngừa thứ phát (prévention secondaire) nhằm thiết đặt một liệu pháp bao gồm một thuốc thuộc họ statines, một thuốc chống kết tụ tiểu cầu (antiagrégant plaquettaire), như aspirine, và một bêta-bloquant. Và đối với những người cao huyết áp và những người bị bệnh đái đường : một điều trị hiệu quả chống lại căn bệnh của họ.

Hỏi : Phải chăng các phụ nữ cũng phải được điều tra phát hiện ở tuổi 50 ?
G.S Jean-Noel Fabiani : Mặc dầu các phụ nữ được bảo vệ cho đến tuổi mãn kinh bởi các hormone, nhưng sau đó họ trở nên, như các ông, những người có tiềm năng có nguy cơ. Vậy các phụ nữ sau tuổi 50 cũng phải chịu một điều tra phát hiện có hệ thống (un dépistage systématique).
( PARIS MATCH 23/7-29/7/2009)

10/ DI-ANTALGIC, THUỐC CHỐNG ĐAU BỊ RÚT RA KHỎI THỊ TRƯỜNG.

8 triệu người Pháp, những khách hàng tiêu thụ đều đặn Di-Antalgic hay Propofan sẽ thay thế những thuốc chống đau này bằng một thuốc nào đây ? Đó là câu hỏi cụ thể từ nay làm bận tâm giới hữu trách y tế của Pháp.Thật vậy, cơ quan dược phẩm châu Âu (EMEA), chống lại ý kiến của Pháp, vừa khuyến nghị rút ra khỏi thị trường, những dược phẩm có chất dextropropoxyphène (DXP). Theo EMEA, các nguy cơ của những dẫn xuất morphine này và đặc biệt là nguy cơ quá liều chết người (surdosage mortel), tự ý hay hiếm hơn do tình cờ, sẽ là cao hơn những lợi ích của chúng. Nếu Uy Ban châu Âu theo ý kiên của EMEA, điều này nói chung là như vậy, thì Di-Antalgic và khoảng 30 biệt dược mà chất cơ bản là DXP, sẽ biến mất khỏi các hiệu thuốc của châu Âu, một cách không tránh khỏi, trong một thời hạn từ 12 đến 15 tháng. Thế mà, ở Pháp, các thuốc này chiếm một khối lượng bán đáng kể : khoảng 70 triệu hộp thuốc mỗi năm.

Các thuốc chống đau cấp 2 này, thường liên kết với paracétamol, được sử dụng rộng rãi để điều trị những đau đớn cấp tính (đau răng hay sau giải phẫu) và để làm thuyên giảm những cơn đau mãn tính, đặc biệt là nơi các người già. “ Chúng tôi sẽ lợi dụng vài tháng hạn định này để bàn bạc với các thầy thuốc cho toa và các bệnh nhân để đề nghị những khuyến nghị mới nhằm điều trị các đau đớn", Jean Marimbert, tổng giám đốc Afssaps đã đảm bảo như thế.

CODEINE HAY TRAMADOL.

Trong thực tiễn, một phần các toa thuốc Di-Antalgic sẽ có thể được thay thế bởi những thuốc giảm đau cấp 1, “ paracétamol với liều lượng hiệu quả, nghĩa là một gramme mỗi liều, aspirine hay thuốc chống viêm không phải stéroide (AINS) như ibuprofène ”, G.S Philippe Lechat, nhà dược lý học đã xác nhận như thế. Nếu cần thiết, một thuốc chống đau khác cấp 2, codéine hay tramadol, sẽ có thể được đề nghị. Nhưng còn những bệnh nhân không thuyên giảm với những loại thuốc này hay không chịu được chúng thì sao ? “ Chúng tôi đang suy nghĩ đến một thủ thuật vi pháp (procédure dérogatoire) để các bệnh nhân này có thể tiếp tục dùng dextropropoxyphène ”, Jean Marimbert đã đảm bảo như vậy.

Giám đốc Afssaps (nhấn mạnh rằng nước Pháp đã chống lại đến cùng việc rút DXP ra khỏi thị trường), tỏ ra lo ngại. “ Nếu có sự chuyển quan trọng của các toa thuốc về phía tramadol, thì bilan có thể âm tính đối với sức khỏe công cộng ”. Theo các điều tra của pharmacovigilance Pháp thì độc tính của tramadol là cao hơn DXP và codéine. “Đó là lần đầu tiên một loại thuốc bị rút ra khỏi thị trường vì một độc tính xảy ra ngoài những điều kiện sử dụng bình thường, Gs Lechat đã nêu lên như vậy. Ngoài ra, trái với Vương Quốc Anh và Thụy Điển, là nơi DXP chịu trách nhiệm hàng trăm trường hợp quá liều gây tử vong mỗi năm, ở Pháp, nó chỉ là nguyên nhân của 2% tử vong do ngộ độc thuốc. Đối với chúng tôi tương quan giữa lợi ích nguy cơ vẫn thuận lợi ”.

CODEINE HAY TRAMADOL.

Trong thực tiễn, một phần các toa thuốc Di-Antalgic sẽ có thể được thay thế bởi những thuốc giảm đau cấp 1, “ paracétamol với liều lượng hiệu quả, nghĩa là một gramme mỗi liều, aspirine hay thuốc chống viêm không phải stéroide (AINS) như ibuprofène ”, G.S Philippe Lechat, nhà dược lý học đã xác nhận như thế. Nếu cần thiết, một thuốc chống đau khác cấp 2, codéine hay tramadol, sẽ có thể được đề nghị. Nhưng còn những bệnh nhân không thuyên giảm với những loại thuốc này hay không chịu được chúng thì sao ? “ Chúng tôi đang suy nghĩ đến một thủ thuật vi pháp (procédure dérogatoire) để các bệnh nhân này có thể tiếp tục dùng dextropropoxyphène ”, Jean Marimbert đã đảm bảo như vậy.

Giám đốc Afssaps (nhấn mạnh rằng nước Pháp đã chống lại đến cùng việc rút DXP ra khỏi thị trường), tỏ ra lo ngại. “ Nếu có sự chuyển quan trọng của các toa thuốc về phía tramadol, thì bilan có thể âm tính đối với sức khỏe công cộng ”. Theo các điều tra của pharmacovigilance Pháp thì độc tính của tramadol là cao hơn DXP và codéine. “Đó là lần đầu tiên một loại thuốc bị rút ra khỏi thị trường vì một độc tính xảy ra ngoài những điều kiện sử dụng bình thường, Gs Lechat đã nêu lên như vậy. Ngoài ra, trái với Vương Quốc Anh và Thụy Điển, là nơi DXP chịu trách nhiệm hàng trăm trường hợp quá liều gây tử vong mỗi năm, ở Pháp, nó chỉ là nguyên nhân của 2% tử vong do ngộ độc thuốc. Đối với chúng tôi tương quan giữa lợi ích nguy cơ vẫn thuận lợi ”.
( LE FIGARO 28/6/2009)

11/ STRESS TIÊN ĐOÁN NGUY CƠ CHẾT ĐỘT NGỘT CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH.

“ Chỉ cần một stress tâm thần cũng có thể cho phép nhận diện những người khả dĩ nhất chết vì một cơn đau tim đột ngột (crise cardiaque subite) ”, Xavier Jouven, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc bệnh viện châu Âu Georges- Pompidou đã xác nhận như vậy. Ông đã theo dõi trong 23 năm, bên cạnh các nhà dịch tễ học, một nhóm 7.746 người tuổi từ 42 đến 53, trong những năm 1970. Vào thời kỳ đó, tần số tim của những người này đã được đo lúc nghỉ ngơi, rồi một ít lâu trước khi làm một trắc nghiệm gắng sức (test d’effort), tức là lúc e sợ, được xem như là một stress tâm lý nhẹ. Những người mà tần số tim lên cao nhất (gia tăng hơn 12 đập mỗi phút), đã chết vì ngừng tim đột ngột trong 23 năm theo sau đó, hai lần nhiều hơn so với những người mà mạch ít phản ứng hơn (ít nhanh hơn). Sự chết đột ngột của người trưởng thành do ngừng tim là một vấn đề y tế công cộng quan trọng của Pháp (40.000 trường hợp mỗi năm). Bắt mạch khi bị một stress nhẹ có thể trở nên một chỉ dấu về tiên lượng (marqueur prognostique) đơn giản và kinh tế.
(SCIENCE ET VIE 7/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (26/7/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#13 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:56:38 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137

BS NGUYỄN VĂN THỊNH



1/ CÚM A (H1N1) : NHỮNG TRƯỜNG HỢP TỬ VONG ĐẦU TIÊN Ở BỈ VÀ PHÁP.

BỈ. Nước Bỉ trở thành nước thứ năm của Châu Âu có một trường hợp tử vong của bệnh cúm.

Một thiếu nữ bị chết hôm thứ năm ở Turnhout vì virus cúm A (H1N1). Một người dân Anvers 50 tuổi, cũng bị nhiễm trùng, đang chiến đấu chống lại thần chết.

Một phụ nữ trẻ, sống ở một ngôi làng không xa Hoogstraten thuộc tỉnh Anvers, đã chết vì hậu quả của cúm A (H1N1). Người phụ nữ trẻ 30 tuổi này đã đến bệnh viện Sainte-Elisabeth de Turnhout hôm thứ hai 20/7, sau khi đã cảm thấy những triệu chứng cúm nhẹ (đau đầu, sốt nhẹ và ho) hai ngày trước đó. Người thầy thuốc của cô ta đã cho nhập viện với một chẩn đoán tạm thời viêm phổi. Mặc dầu tình trạng của bệnh nhân lúc nhập viện không đáng lo ngại, nhưng tình huống đã trở nên suy đồi sau đó do một viêm phổi kép siêu vi trùng (une double pneumonie virale) dẫn đến tử vong.

Trước khi mắc phải virus, người phụ nữ trẻ này có sức khoẻ tốt. Cô đã không đi du lịch ra nước ngoài. Cái chết đầu tiên này làm lo ngại trở lại về tính độc lực của virus. Nhất là chiều hôm thứ năm, người ta được biết rằng một người trạc 50 tuổi, cũng bị lây nhiễm bởi virus, đang sống dở chết dở ở bệnh viện đại học Anvers.
(LE SOIR 31/7/2009)

PHÁP. Cô thiếu nữ 14 tuổi bị chết ở Brest.

Viện quốc gia theo dõi y tế (IVNS) đã loan báo hôm qua trong một thông báo ngắn gọn trường hợp tử vong ở CHU de Brest của một thiếu nữ 14 tuổi, mà virus A (H1N1) đã được nhận diện. Nước Pháp trở thành nước thứ 5 của châu Âu, sau Anh, Tây Ban Nha, Hongrie và Bỉ đã ghi nhận một trường hợp tử vong do virus này.

Theo INVS, trường hợp tử vong đã xảy ra cách nay ít nhất 1 tuần ở CHU de Brest. Cô thiếu nữ này đã bị một bệnh trầm trọng, biến chứng bởi một nhiễm trùng phổi khác với cúm, IVNS đã xác nhận như vậy. Có thể là bệnh được liên kết với một bệnh lý tim hay phổi mất bù, và một hội chứng suy hô hấp cấp tính nghiêm trọng. Nhưng xét nghiệm tìm virus A (H1N1) đã được thực hiện và cho kết quả dương tính.

LỨA TUỔI NGUY CƠ.

Sự việc đó là một người trẻ cũng không đáng ngạc nhiên. Trước hết, chỉ những người trên 60 tuổi, đã có thể tiếp xúc với một virus A (H1N1) đại dịch khác trong thế kỷ XX là có một mức độ bảo vệ nào đó chống lại tác nhân gây nhiễm mới này.

Một cuộc điều tra, được thực hiện bởi các thầy thuốc Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ về những thể nặng và những trường hợp tử vong gây nên bởi virus mới A (H1N1), được khám phá ở Mễ Tây Cơ vào tháng tư năm 2009, đã được công bố bởi New England Journal of Medicine cuối tháng sáu năm 2009. Trên 2150 trường hợp viêm phổi và 100 trường hợp tử vong đấu tiên, thì ra rằng những thể nặng (dầu gây chết người hay không) có liên hệ chủ yếu lứa tuổi từ 5 đến 59. Tính toàn bộ, 87% những người chết vì cúm A giữa tháng ba và tháng tư 2009 là trong lứa tuổi này. Thông thường, vào lúc các đợt cúm mùa, những người tuổi từ 5 đến 59 tuổi, về mặt thống kê, chỉ chiếm 17% những trường hợp tử vong.Những thể nặng nhưng không gây chết người của cúm mùa thường chỉ gây bệnh 32% những người từ 5 đến 59 tuổi. Thế mà, trận đại dịch Mễ Tây Cơ gây bệnh cho 71% những trường hợp không gây chết người và trầm trọng trong lứa tuổi này.
(LE FIGARO 31/7/2009)

2/ CÚM A (H1N1) : KẾ HOẠCH CHIẾN ĐẤU CỦA CHÍNH PHỦ PHÁP VÀO THÁNG CHÍN ĐẾN.

PANDEMIE. Bà bộ trướng y tế đã giải thích rằng có thể vào đầu mùa thu đến, virus sẽ tích cực hơn. Nếu như vậy, những biện pháp sẽ được thực hiện để ngăn chặn đại dịch.

Mức báo động cấp 6 của kế hoạch chống đại dịch cúm sẽ có thể được ban hành ở Pháp vào tháng đến, bà Bộ trưởng y tế Roselyne Bachelot hôm qua đã cảnh báo như vậy. Hôm nay, cấp báo động là 5A trên lãnh thổ Pháp. “ Rất có thể vào đầu thu, virus sẽ lưu hành tích cực hơn ”, Roselyne Bachelot đã đánh giá như vậy. Là mức cuối cùng của kế hoạch quốc gia chống đại dịch cúm, cấp 6 cho phép thực hiện một loạt các biện pháp tuy không bắt buộc. Mọi biện pháp trước khi được thông qua phải được xem xét bởi tổ khủng hoảng liên bộ.

ĐÓNG CỬA TRƯỜNG HỌC.

Nếu là như vậy, thì các nhà trẻ, các trường học, các ký túc xá và tất cả các cơ cấu tiếp đón các trẻ vị thành niên có thể sẽ phải đóng cửa. Trong trường hợp sự lan tràn của virus trở nên mạnh mẽ, biện pháp này được cho là cần thiết. “ Tính hiệu quả của nó trong việc làm giới hạn sự lây nhiễm khi dịch cúm đã được chứng tỏ ”, theo kế hoạch quốc gia.

Việc đóng cửa các trường học là một trong những biện pháp đầu tiên phải dự kiến trong trường hợp đại dịch cúm. Ở Paris, trong các trường mẫu giáo và tiểu học của quận XV, vào tháng sáu vừa qua, việc đóng cửa trường đã góp phần làm ngừng luồng dịch bệnh. Được hỏi bởi các phóng viên về các nước có ý định trì hoãn ngày khai giảng hay đóng cửa trường, phát ngôn viên của OMS đã tuyên bố rằng “ việc đóng cửa trường là một trong những biện pháp khả dĩ. Nhưng chính mỗi nước phải dự kiến những hành động mà họ cho là đáp ứng nhất với tình hình. " Hiện nay ở Anh, hơn 60% những trường hợp cúm có liên quan đến những người dưới 18 tuổi. Trong những tình trạng mà những người trẻ tuổi nhất là một vecteur quan trọng của dịch bệnh, thì việc đóng cửa trường học có thể đập vỡ chuỗi lan truyền, làm giảm số các trường hợp và làm chậm lại sự tiến triển của dịch bệnh, thời gian cần thiết để vaccin được sẵn sàng. Ở Israel, vào năm 2000, một cuộc đình công của các giáo sư trong một trận dịch cúm đã góp phần làm giảm rất nhiều số các bệnh nhân, số lần thăm khám thầy thuốc và nhập viện. Ở Pháp, một nghiên cứu được thực hiện giữa năm 1984 và 2006 đã cho thấy rằng những kỳ nghỉ học mùa đông có khả năng cứ 6 trường hợp cúm ngăn ngừa được một và tính toàn bộ những kỳ nghỉ học này làm giảm những lây nhiễm từ 38% đến 45% vào lúc cao điểm dịch. Theo các nhà dịch tễ học Hoa Kỳ và Úc, việc đóng cửa trường (liên kết với đóng cửa nhà thờ) trong dịch cúm Tây Ban Nha 1918, đã góp phần làm hạ tỷ lệ tử vong từ 10 đến 30% trong vài thành phố, Tuy vậy việc đóng cửa trường có thể làm bất động các người chủ chốt của cuộc đấu tranh chống virus, như các bố mẹ của các học sinh hành nghề thầy thuốc hay y tá, buộc phải quản lý con cái nếu trường học bị đóng cửa.

CÁC XÍ NGHIỆP VÀ CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG BỊ BỎ NGŨ.

Để giới hạn sự nhập cảng của virus, sự kiểm tra biên giới trong kế hoạch châu Âu được dự kiến. Cũng như sự đình chỉ sự đi và đến của các hành khách, nhất là bằng đường hàng không. Sự cách ly những hành khách đến bằng các chuyến bay cũng được nêu lên, nhưng biện pháp này đụng phải một khả năng tiếp đón “ rất hạn chế ”. Các công ty thì tin vào một tỷ suất vắng mặt từ 25% đến 45%. Kế hoạch quốc gia kêu gọi sự thực hiện công tác từ xa, những hội nghị từ xa (téléconférence) và hạn chế những cuộc hội họp. Về công ăn việc làm, việc chuyển các hoạt động đến những vùng ít bị ảnh hưởng hơn được nêu lên, cũng như sự tái bổ dụng những người ăn lương về những khu vực ưu tiên. Những xê dịch cá nhân sẽ được hạn chế. Kế hoạch gợi ý khuyến khích các hộ tích trữ thực phẩm và nước uống.

CÁC HOẠT ĐỘNG BỊ GIỚI HẠN.

Những hoạt động được gọi là tập thể sẽ bị đình chỉ. Như vậy đại dịch sẽ tạm thời chấm dứt cả một vạt đời sống văn hóa và hiệp hội với sự hủy bỏ các cuộc biểu diễn, những cuộc thi đấu thể thao, hội chợ, salons và những cuộc tập họp hội hè khác. Vào giai đoạn 6, những thăm viếng đến các bệnh viện, các nhà dưỡng lão, nhà tù có thể bị kiểm tra nghiêm ngặt, thậm chí bị cấm chỉ.

CHIẾN LƯỢC Y TẾ.

Các mặt nạ được phát đại trà với sự chủ xướng mang một mặt nạ ngoại khoa cho tất cả mọi người ở những nơi công cộng. Một kế hoạch tiêm chủng rộng lớn chống cúm A (H1N1) có thể được thực hiện. “ Chúng ta có 94 triệu liều đã được mua chắc, chúng ta đã tính toán rằng gần ¾ các đồng hương của chúng ta mong muốn được tiêm chủng ”, Roselyne Bachelot đã nhắc lại như vậy.
(LE FIGARO 22/7 và 29/7/2009)

3/ BACHELOT : “ SỰ ĐÁP ỨNG CỦA CHÚNG TA ĐỐI VỚI A (H1N1) LÀ ĐÚNG VÀ TƯƠNG XỨNG ”.

Bà Bộ trưởng y tế Pháp phản ứng lại những lời tuyên bố của những người trách chính phủ làm quá đáng hoặc, ngược lại, không làm đủ để chống lại đại dịch cúm A (H1N1).

Trong khi dân biểu của đảng xã hội (PARIS) Jean-Marie Le Guen xác nhận hôm qua rằng “ vẫn còn nhiều điều phải làm để chống lại cúm A (H1N1) ”, thì giáo sư Bernard Debré, dân biểu của UMP (PARIS), lại cho là vô ích việc duy trì báo động chống một căn bệnh mà ông cho là “ bệnh cúm nhẹ ” (grippette) không nguy hiểm.

Hỏi : Cúm A (H1N1) phải chăng chỉ là một “ cúm nhẹ ” vô hại, như giáo sư Bernard Depré xác nhận ?
Roselyne Bachelot : Bernard Depré là một thầy thuốc khoa niệu xuất sắc. Về phần tôi, tôi đề cập đại dịch này với tinh thần nghiêm túc nhất. Tôi không căn cứ trên các ý kiến của các nhà chính trị và tôi không tìm cách để quảng cáo với giới truyền thông. Từ lúc đầu của cuộc khủng hoảng này, tôi tham khảo những thầy thuốc giỏi nhất về các chuyên khoa virus, nhiễm trùng và dịch tễ học của Pháp và của Châu âu. Thế mà, nếu tôi xét đoán qua những lời tuyên bố trên báo chí, các chuyên gia này cho rằng sự đáp ứng của chính phủ trước cuộc khủng hoảng y tế này là đúng đắn và tương xứng.

Hỏi : Virus này là nguy hiểm hay không nguy hiểm ?
Roselyne Bachelot : Chúng tôi không phải là thầy bói ! Tôi rất phân vân khi tôi thấy người ta phô trương những điều tin chắc về một vấn đề thuộc loại này. Sự thật, đó là chúng ta đang đối đầu với một virus, mặc dầu hiện giờ ít nghiêm trọng, nhưng có một khả năng làm lây nhiễm rất mạnh. Đứng trước đặc điểm quan trọng này, sự cảnh giác là hợp lẽ. Hiện nay, tỷ lệ tử vong của cúm A (H1N1) ít nhất là bằng, thậm chí hơi cao hơn tỷ lệ tử vong của cúm mùa, ở Pháp mỗi năm giết chết 2.500 người trên một tổng số 2,5 triệu trường hợp. Hoặc khoảng 1 trên 1000. Sự kiện virus lan tràn rất nhanh làm gia tăng nguy cơ nó biến dị thành một dạng nguy hiểm hơn. Người ta cũng có thể sợ một sự tăng quá mức của tỷ lệ tử vong nơi những người yếu ớt nhất. Bởi vì sự lan tràn của virus có vẻ gia tăng vào mùa thu tới (một thời kỳ thuận lợi cho nó hơn), do đó việc chính phủ thông qua những biện pháp để đối đầu lúc hữu sự, là bình thường.

Hỏi : Việc đặt hàng 94 triệu liều vaccin có cần thiết không ?
Roselyne Bachelot : Tôi rất ngạc nhiên khi nghe thấy một vài nhận xét. Những kẻ chỉ trích biện pháp này không hay biết gì hết về thực tế. Vì khả năng công nghiệp của các phòng bào chế là giới hạn, nên rõ ràng là họ sẽ phục vụ ưu tiên những nước đã thông qua đơn đặt hàng đủ sớm nơi họ. Không phải đợi đến lúc đại dịch phát ra rồi mới tìm đến họ. Tôi không muốn vào mùa thu này mới đưa đơn đặt hàng, với những vaccin sẽ được giao trong một kỳ hạn 6 tháng !

Hỏi : Khi nào thì vaccin sẽ có để được sử dụng ?
Roselyne Bachelot : 3 hãng bào chế GlaxoSmithKline, Novartis và Sanofi Pasteur hứa với chúng tôi sẽ giao hàng thành từng đợt từ tháng 10 đến tháng 12. Nhưng mức độ khó đoán trước là đáng kể. Nó tùy thuộc vào hiệu năng của các giống gốc virus được sử dụng để sản xuất vaccin. Cũng chính vì lẽ đó mà đã phải thông qua sớm đơn đặt hàng.

Hỏi : Phải chăng tất cả mọi người sẽ được chủng ngừa vào mùa thu ?
Roselyne Bachelot : Trong tình trạng hiện nay của đại dịch, việc tiêm chủng không là bắt buộc. Sự chủng ngừa sẽ chỉ bắt buộc khi dịch bệnh trở nên nghiêm trọng. Vì chúng tôi ước tính rằng khoảng 20% người sẽ từ chối không muốn tiêm chủng, nên chúng tôi đã đặt hàng 94 triệu liều, sẽ cần 2 liều cho mỗi người.

Hỏi : Làm sao bà có thể giải thích rằng nước Pháp dường như được trừ miễn, so với Vương Quốc Anh và Tây Ban Nha ?
Roselyne Bachelot : Tôi quy điều này cho chiến lược ngăn chặn (stratégie de confinement) được chính phủ thông qua ngay lúc khởi đầu của dịch bệnh. Chiến lược này nhằm cho nhập viện một cách hệ thống các bệnh nhân và theo dõi trong các phi trường những hành khách đến từ các nước có nguy cơ như Mễ Tây Cơ. Chúng ta đã thực hiện một chiến dịch thông tin to lớn (yết thị, spots TV, site Internet) về những biện pháp ngăn chặn cần được tôn trọng để tránh sự lan tràn của virus : rửa tay, tránh hách xì vào mặt người ta ; hiện nay, chính sách này đã mang lại kết quả.

Hỏi : Bà có e sợ, trong những tuần đến, sự gia tăng những lời chỉ trích đối với các hành động của bà không ?
Roselyne Bachelot : Khi người ta quản lý những cơn khủng hoảng y tế và môi trường, luôn luôn có những người nhận thấy rằng anh làm quá nhiều, như M.Debré, và những người khác, trái lại, kết án anh là đã không làm khá đủ, như ông Jean-Marie Le Guen. Tất cả trong cùng một ngày !
(LE FIGARO 27/7/2009)

4/ CÚM A (H1N1) : CÁC PHỤ NỮ CÓ THAI CHỊU MỘT NGUY CƠ GẤP 4 LẦN.

Các phụ nữ có thai, bị nhiễm bởi virus A (H1N1) của cúm heo, có nguy cơ bị những biến chứng cần nhập viện 4 lần cao hơn và có một tỷ lệ tử vong cao hơn trung bình, theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được tiết lộ vào tuần nay.

Các phụ nữ có thai, đã mắc phải virus trong năm 2009, đã được cho nhập viện thường xuyên hơn, công trình nghiên cứu, được thực hiện bởi CDC và được công bố trong tạp chí Lancet, đã xác nhận như vậy. 6 phụ nữ có thai đã chết vì biển chứng của bệnh giữa 15/4 và 16/6 2009. Những trường hợp tử vong này chiếm 13% của khoảng 45 tử vong mà cúm heo đã gây nên trong suốt thời kỳ này.

Tính toàn bộ, có khoảng 34 phụ nữ có thai đã mắc phải virus, hoặc 1/3, đã phải được nhập viện. Những trường hợp phụ nữ có thai đã chiếm 0,62% của tất cả những trường hợp của những bệnh nhân bị cúm, được xác nhận hay có khả năng. Tất cả đều khỏe mạnh trước khi bị nhiễm trùng và sau đó đã phát triển một viêm phổi do virus với khó thở đòi hỏi thông khí cơ học, CDC đã xác nhận như vậy.

Tất cả các phụ nữ có thai được phát hiện là đã không được cho các thuốc kháng virus kịp thời. CDC chủ trương rằng các phụ nữ có thai, được nghi ngờ bị nhiễm trùng bởi cúm heo, phải được điều trị nhanh chóng bởi thuốc kháng virus. Suốt trong thời kỳ có thai, người ta quan sát thấy những thay đổi cơ học và hormone, đặc biệt là ở các hệ tim mạch và hô hấp cũng như miễn dịch, BS Denise Jamieson, thuộc CDC, tác giả chính của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.

“ Năng lực của phổi bị thu giảm bởi vì tử cung chiếm nhiều chỗ hơn và đè ép cơ hoành. Tất cả những biến đổi này làm cho phụ nữ có thai dễ bị tác động bởi một vài loại virus, đặc biệt là cúm. Chúng tôi khuyến nghị các đàn bà có thai nên được chủng ngừa chống cúm mùa.” Trong những trận đại dịch cúm năm 1918 và 1957, tỷ lệ tử vong dường như cao hơn nơi các phụ nữ có thai.
(LE SOIR 31/7/2009)

5/ PHƠI NẮNG : NHỮNG CẠM BẨY KHÔNG ĐƯỢC BIẾT ĐẾN.

BS Anny Cohen-Letessier, thầy thuốc chuyên khoa da, giảng viên, cảnh cáo về những tác hại, thường không được nghĩ tới, của những tia UVA và UVB.

Hỏi : Những nguy cơ ít được biết đến của phơi nắng (exposition solaire) ?
BS Anny Cohen-Letessier : Công chúng được thông tin rõ về những tác dụng có hại thông thường nhất : sự lão hóa da, các vết (taches), ung thư da, v...v. Nhưng phần lớn người ta không biết đến những nguy cơ gặp phải trong vài trường hợp... Ví dụ khi họ đang được điều trị bởi các thuốc gây nhạy cảm ánh sáng (traitement médicamenteux photosensibilisant)...Hoặc khi đang mang một vết sẹo có từ dưới hai năm... Hoặc trong một tình huống “ tiếp xúc thụ động ”, như ngồi sau một kính chắn gió xe hơi hay một lỗ kính (baie vitrée). Phải nhớ rằng mặt trời là một người bạn giả của các da mụn (peaux acnéiques)... rằng các buổi pique-nique dưới ánh mặt trời, trên bãi cỏ, có thể gây nên (nếu da ẩm ướt) một “ bệnh viêm da của các bãi cỏ ” (dermite des prés), đau đớn, với sự xuất hiện của các nốt rộp da (cloques).


Hỏi : Dưới ánh nắng mặt trời, những điều trị nào có nguy cơ gây nên những biến chứng ?
BS Anny Cohen-Letessier : Vài kháng sinh, các thuốc chống viêm, các thuốc chống trầm cảm, các thuốc chống loạn nhịp tim... có nguy cơ gây nên một sự nhạy cảm ánh sáng (photosensibilisation). Do sự tương tác giữa thuốc và các tia tử ngoại, da phản ứng mạnh, gây nên ban đỏ (érythème) (đỏ, bỏng...) và các vết (taches). Lúc được điều trị bởi những thuốc này, phải tránh những giờ nóng nhất và phải bôi lại thường xuyên kem mặt trời (crème soliare), ngay cả lúc tắm (nước có tác dụng của một kính loupe trên da !).

Hỏi : Tại sao phải chờ hai năm mới có thể phơi nắng một vết sẹo mổ ?
BS Anny Cohen-Letessier : Những tia tử ngoại làm xáo trộn các giai đoạn của tiến trình hóa sẹo, đặc biệt là sự tái sinh của các tế bào của tổ chức da. Phơi nắng sớm có nguy cơ làm sẹo hóa thành màu nâu, điều này sẽ làm nổi rõ dạng vẻ xấu xí của một di chứng giải phẫu. Mỗi vết sẹo, nhỏ hay lớn, đều cần được bảo vệ.

Hỏi : Vì những lý lẽ gì mà mặt trời là một một người bạn giả của các da mụn (peaux acnéiques) ?
BS Anny Cohen-Letessier : Bởi vì những người bị mụn luôn luôn có cảm tưởng rằng tình trạng của họ sẽ được cải thiện dưới ánh nắng mặt trời. Thoạt đầu sự làm rám da (bronzage) làm cho đều nước da mặt, “ ngụy trang ” các nốt mụn. Sự dày lên của da như thế che dấu các vi nang (microkyste), nguồn gốc của các mụn mọc. Những lúc đi hè về, da phản ứng lại rất nhanh chóng bằng một đợt nổi mụn rất quan trọng, với sự tái xuất hiện các thương tổn..

Hỏi : Những trường hợp phơi nắng thụ động là gì ?
BS Anny Cohen-Letessier : Trong xe hơi, người ta, như ở tren bờ biển, chịu những tia UVA đi xuyên qua kính : kính của kính chắn gió và kính của các kính bên. Để tránh những ban đỏ thường xảy ra nơi mặt, cần thận trọng bôi một loại kem có tính chất bảo vệ chống nắng cao trước khi đi nghỉ hè. Cũng vậy, vào lúc hoạt động ngoài trời, thể thao hay không (như làm vườn, xén cỏ..), người ta quên rằng những phần hở sẽ chịu những tác dụng có hại do phơi nắng mặt trời quá mức : bỏng, các vết, sự lão hóa da sớm, v..v. Do đó lợi ích mặc quần áo nhẹ thích hợp hay bôi một lớp kem ngăn ánh nắng.

Hỏi : Hiệu quả thật sự của các loại kem chắn toàn thể (crèmes à écran total) là gì ?
BS Anny Cohen-Letessier : Thuật ngữ “ chắn toàn thể ” (écran total) là không thích hợp bởi vì một loại kem không bao giờ bảo vệ hoàn toàn cả. Những liều lượng sử dụng trên da không đủ để tạo nên một màng chắn toàn thể, và có thể có một sự hủy hoại các bộ lọc lúc phơi nắng, làm mất khả năng che chở. Mặt khác hiệu quả của thuốc có thể giảm khi ống thuốc nằm dưới ánh nắng. Những tên gọi của những kem chắn toàn thể này sẽ thay đổi : ta sẽ nói là che chở nhẹ, trung bình, cao hãy rất cao (hiệu quả gần hai giờ).

Hỏi : Mặt trời cũng có những lợi ích của nó chứ ?
BS Anny Cohen-Letessier : Một bức xạ được gọi là “ánh sáng thấy được” có một tác dụng có lợi lên khí chất, làm thư giãn sự căng thẳng. Những tia cực tím cho phép cơ quan tổng hợp vitamine D.
(PARIS MATCH 16/7- 22/7/2009)

6/ THÂN HÌNH CỦA CON GÁI LIÊN KẾT VỚI TUỔI KINH NGUYỆT.

Theo những công trình nghiên cứu của một nhóm nghiên cứu quốc tế (trên 17.510 người dân châu Âu), được công bố trong “ Nature Genetics”, hai gène được mang trên nhiễm sắc thể số 9 phát khởi dấu hiệu kinh nguyệt đầu tiên. Những gène này cũng có một tác động lên thân hình (taille). Những cô gái có kinh nguyệt sớm sẽ có thân hình bé hơn, bởi vì chịu sớm hơn một sự tiếp xúc với oestrogène, điều này làm phát khỏi một tín hiệu đóng các sụn tăng trưởng (cartilage de croissance), được gọi là sụn kết hợp (cartilage de conjugaison).
(PARIS MATCH 23/7-29/7/2009)

7/ THẦY THUỐC CỦA JACKSON CÔNG NHẬN ĐÚNG LÀ ĐÃ “ GÂY MÊ ” ÔNG TA.

HOA KỲ. BS Conrad Murray, thầy thuốc riêng của Michael Jackson, đã công nhận trước các nhà điều tra là đã tiêm Propofol cho người ca sỉ vào ngày qua đời của ông ta, người ta biết được hôm thứ ba từ một nguồn thân cận với giới điều tra. Propofol là một thuốc gây mê có tác dụng mạnh, chỉ được sử dụng ở bệnh viện. Các nhà điều tra nghĩ rằng chính chất này đã gây nên cái chết của Michael Jackson hôm 25 tháng 6 vừa qua ở nhà riêng của ông ở Los Angeles.

BS Murray cũng đã công nhận là trước đây đã nhiều lần tiêm cho Jackson chất thuốc này để giúp ông ta ngủ. Viên luật sư của người thầy thuốc mãi đến nay vẫn đảm bảo rằng vị khách hàng của ông ta đã không kê toa cũng như đã không tiêm một chất thuốc nào đó có thể gây nên tử vong.

Một cuộc khám soát đã xảy ra hôm thứ ba tại phòng mạch và nhà riêng của Conrad Murray ở Las Vegas. Cuộc lục soát này đã diễn ra dưới sự hiện diện của những người hữu trách của DEA (Drug Enforcement Administration), cơ quan liên bang chống ma túy. Các nhân viên của DEA, hôm 22/7 đã tiến hành một cuộc khám soát ở trong bệnh viện của người thầy thuốc, ở Houston, Texas.

BS Conrad Murray bị nghi là đã tiêm tĩnh mạch Propofol cho Jackson để giúp ông ta ngủ. Các nhà điều tra nghiêng về giả thuyết của một biến cố ngừng tim gây nên bởi chất thuốc gây mê rất mạnh này, một nguồn thần cận với giới điều tra đã tuyên bố như vậy với AP.

Như vậy cái thòng lọng đang siết dần lại quanh người thầy thuốc riêng của Michael Jackson, tuy nhiên nhà chức trách vẫn không cho ông ta là khả nghi.

Viên luật sư của người thầy thuốc, Edward Chernoff, đảm bảo rằng BS Murray “ đã không kê toa hay đã tiêm bất cứ thuốc gì có thể giết chết Michael Jackson ”. Hôm thứ hai, ông từ chối “ bình luận những tin đồn, những lời ẩn ý và những luận cứ phát xuất từ những kẻ nặc danh ”.

Propofol có thể gây nên khó thở và hạ nhịp tim cũng như huyết áp. Do những nguy cơ này, nên chỉ có nhân viên y tế được đào tạo và hoạt động trong môi trường bệnh viện mới có thẩm quyền sử dụng thuốc gây mê này mà thôi. Nhưng, vẫn theo những lời tâm sự với AP, Jackson thường sử dụng Propofol như một thuốc ngủ và đánh thức buổi sáng : một thầy thuốc tiêm propofol để làm Jackson ngủ và ngừng tiêm khi người ca sĩ muốn thức dậy. Các nhà điều tra nghĩ rằng điều đó kéo dài từ hai năm nay và tìm cách xác lập xem đã có bao nhiêu thầy thuốc đã thực hiện việc tiêm chích thuốc gây mê này cho Michael Jackson.
(LE SOIR 29/7/2009)

8/ NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH ĐƯỢC CHO PHÉP UỐNG CÀ PHÊ.

Trái với điều mà ta tưởng, cà phê không có hại, ngay cả đối với những người đã từng là nạn nhân của một nhồi máu cơ tim. Một công trình nghiên cứu mới đây của Thụy Điển, đã theo dõi, trong hơn 10 năm, 1370 bệnh nhân, được nhập viện vì một nhồi máu cơ tim giữa năm 1992 và 1994, đã cho phép quan sát thấy rằng tỷ lệ tử vong ngay cả được giảm bớt nơi những người uống cà phê đều đặn, và điều này liên hệ với liều lượng. Những tác dụng chống oxy hóa và chống viêm không đủ để giải thích kết quả này.
( PARIS MATCH 9/7-15/7/2009)

9/ BỆNH PARKINSON GÂY BỆNH CHO CÁC NHÀ NÔNG NHIỀU HƠN.

Sự sử dụng các thuốc trừ sâu làm gia tăng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson nơi các nông dân. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi Alexis Elbaz và các đồng nghiệp (Inserm và đại học Pierre-et-Marie-Curie) trên 700 hội viên của Mutualité sociale agricole. Kết quả : những bệnh nhân bị bệnh Parkinson đã bị tiếp xúc thường xuyên và dài lâu với các thuốc trừ sâu hơn là những người lành mạnh. Các thuốc trừ sâu, đặc biệt là các organophosphorés, làm tăng gấp đôi nguy cơ phát triển bệnh. Ở châu Âu, hàng năm có 800.000 tấn thuốc trừ sâu được xịt rảy, nên những người nông dân là những người đầu tiên bị ảnh hưởng : 800.000 người ở Pháp năm 2005. Bệnh Parkinson không phải là một bệnh thường xảy ra, do đó nguy cơ tuyệt đối vẫn còn thấp, BS Elbaz phát biểu như vậy. Tuy nhiên, đó là bệnh thoái hóa thần kinh thứ hai thường xảy ra nhất sau bệnh Alzheimer. Bệnh này có một nguồn gốc môi trường nhưng cũng có một nguồn gốc di truyền.
(SCIENCE ET VIE 8/2009)

10/MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI CHỐNG LAO.

Là vấn đề y tế công cộng quan trọng, bệnh lao đa đề kháng (tuberculose multirésistante) thường xảy ra trong vài nước như Nga hay Trung Quốc. Bệnh lao này là do những giống gốc đề kháng với các thuốc kháng lao có hiệu quả nhất cho đến nay. Nhưng, nhờ việc thêm vào điều trị chuẩn một thứ thuốc mới, do đó có khả năng tiêu diệt những mầm bệnh trong các dịch tiết phế quản, như một công trình nghiên cứu trên khoảng 50 bệnh nhân đã chứng tỏ. Loại thuốc mới chống lao này, có tên mật mã là TMC207, thuộc vào lớp diarylquinolines và nơi tác dụng của nó là một enzyme, ATP synthetase, thuộc trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis. Tỷ lệ làm tiệt trùng các dịch tiết là 49% thay vì 9% nếu không có TMC207. Những công trình nghiên cứu sắp đến sẽ cho biết thuốc này (không làm bệnh nhân bỏ điều trị hơn so với điều trị chuẩn) có thật sự chứng tỏ hiệu quả vi trùng học và lợi ích lâm sàng của nó hay không.
(SCIENCE ET AVENIR 8/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (2/8/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#14 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:57:09 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/CUỘC CHẠY ĐUA SẢN XUẤT VACCIN A(H1N1) GIA TỐC GIỮA CÁC PHÒNG BÀO CHẾ.

Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên đã bắt đầu. Và “ The Lancet ” tự hỏi về việc sử dụng các thuốc kháng virus.

Trong khi tuần qua, các xí nghiệp sản suất vaccin lớn như Sanofi Pasteur, Novartis hay Baxter đua nhau kín đáo về bước tiến trong sự sản xuất vaccin đại dịch, thì bổng đột ngột các nhà công nghiệp dược phẩm bắt đầu truyền đạt thông tin cởi mở hơn. Đến độ OMS nêu lên khả năng rằng vaccin có thể sẽ có để sử dụng trong vài nước vào cuối tháng 9 đến.

Đầu tiên, hãng bào chế dược phẩm Baxter loan báo hôm thứ tư là đã hoàn tất hồi tháng 7 sự sản xuất những lô vaccin đầu tiên. Hãng chỉ cần 12 tuần là đủ, bắt đầu từ “ hạt giống ”, giống gốc virus được phân phát bởi OMS. Và những trắc nghiệm cuối cùng (được gọi là “ giai đoạn 3 ”) trên 3.500 người đã được hoàn thành.

Novartis đã phản ứng lại tức thời bằng cách loan báo là đã bắt đầu tiêm vaccin riêng của hãng cho 6.000 người ở Vương Quốc Anh, ở Đức và ở Hoa Kỳ. Ngay tức khắc, Sanofi Pasteur loan báo chính thức là đã bắt đầu trắc nghiệm, ngay từ 6/8, những thử nghiệm lâm sàng trên 2.000 người ở Hoa Kỳ để trắc nghiệm tính sinh miễn dịch (immunogénicité) và mức độ dung nạp của vaccin này.

Sự thay đổi chiến lược truyền đạt thông tin diễn ra đột ngột : tuấn vừa rồi, nhiều hãng bào chế vaccin (trong đó có Sanofi Pasteur) đã bác bỏ dứt khoát, “ vì lý do an ninh ”, những yêu cầu phóng sự của báo Figaro về những nơi chế tạo vaccin. Tuy vậy, bài diễn văn chính thức của OMS (đã gặp gỡ hai lần liên tiếp những đại diện của 30 nhà chế tạo) hướng về một sự hợp tác quốc tế. Đó là xác lập một chiến lược toàn bộ nhằm sản xuất điều hợp vaccin cúm đại dịch A(H1N1).

Theo Margaret Chan, tổng giám đốc OMS, một sự đóng góp rất nghiêm chỉnh của các xí nghiệp dược phẩm của các nước phía bắc và phia Nam để huy động nguồn vốn nhằm sản xuất 4,9 tỷ liều vaccin.

Ngoài những hợp đồng đã được ký kết với các chính phủ, những hợp đồng bảo đảm một khối lượng bán đã được ấn định trước, những dữ kiện khoa học mới có lẽ làm gia tăng nhu cầu vaccin : công trình phân tích méta, được thực hiện bởi National Institute for Health and Clinical Excellence ở Vương quốc Anh, được công bố hôm nay trong The Lancet, xác lập rằng các thuốc kháng virus Tamiflu và Relenza chỉ làm giảm vừa phải thời gian của các triệu chứng nơi những người khỏe mạnh hay có nguy cơ. Kết luận của The Lancet : những chiến lược tiêm chủng, hay sự thực hiện những xét nghiệm chẩn đoán nhanh, là hiệu quả và chắc chắn hơn, kinh tế hơn việc sử dụng các thuốc kháng virus một cách đại trà.
(LE FIGARO 8/8-9/8/2009)

2/ ANH CHUẨN BỊ KẾ HOẠCH CHIẾN ĐẤU CHO BUỔI TỰU TRƯỜNG.

Londres. Gần 8,5 triệu liều có thể được phân phát trong các trường học.

Trong khi làn sóng thứ hai của virus A (H1N1) được loan báo vào mùa thu đến, nhật báo The Guadian tiết lộ rằng chính phủ Anh có thể thiết đặt chiến dịch chủng ngừa quan trọng nhất kể từ 1964, năm của chiến dịch chủng ngừa chống bệnh đậu mùa. Ngoài các thầy thuốc gia đình, các y tá trong các trường học sẽ được góp phần để chủng ngừa tất cả những thiếu niên giữa 5 và 16 tuổi, trong 33.700 trường học mà nước Anh hiện có. “Ý tưởng nhằm trước tiên vào các trường học là hợp lý ”[/i], một nguồn thân cận của The Guadian đã giải thích như vậy.

Department for Children, Schools and Families đã xác nhận hôm qua rằng chính phủ đang xem xét một kế hoạch chủng ngừa như vậy. Còn Bộ y tế Anh thì đã từ chối xác nhận nguồn tin và chỉ rõ rằng hiện nay chiến lược đã không hoàn toàn được xác định. “ Chưa có một quyết định rõ ràng nào đã được thông qua về cách thức phân phát vaccin ”. Các phòng mạch của các thầy thuốc gia đình vẫn là những nơi chính yếu cho mọi yêu cầu tiêm chủng, một phát ngôn viên của Bộ y tế đã giải thích như vậy.

Nếu vaccin vượt qua không trở ngại các trắc nghiệm lâm sàng, thì yêu cầu tiêm chủng sẽ rất cao ở Anh, là nước ở Châu Âu bị ảnh hưởng nhất bởi virus. Nhưng còn phải xem những người nghiệp vụ y tế có đủ nhiều để thực hiện tiêm chủng vaccin cho toàn thể các trường học hay không : trên 25.000 trường học mà nước Anh hiện có, người ta chỉ đếm được 1.447 y tá mà thôi.

SỐ TRƯỜNG HỢP GIẢM XUỐNG.

Tin tức này xảy ra vào ngày hôm sau của những lời tuyên bố của OMS. BS Marie-Paul Kieny, nữ giám đốc của đơn vị vaccins của OMS, đã chỉ rõ rằng các vaccin có lẽ sẽ không được sẵn sàng trước tháng 9. Do đó chương trình tiêm chủng sẽ không bắt đầu trước đầu tháng 10 đối với những người lạc quan nhất.

Làn sóng đại dịch đầu tiên ở Anh đang chấm dứt. Số các trường hợp cúm A mới ở Ecosse và Anh đã giảm nhiều, theo những thống kê sau cùng, được công bố hôm thứ năm bởi Cơ quan bảo vệ sức khỏe. Tuần qua, nước Anh đã thống kê được 30.000 trường hợp mới, so với 110.000 tuần trước. 9 người tử vong do hậu quả của virus, nâng tổng số người chết trong nước lên 36 người.

Đến nay, không có một dấu hiệu nào cho thấy virus đang biến dị thành một giống gốc nghiêm trọng hơn, theo Bộ y tế Anh. Nhưng còn quá sớm để vui mừng. Cố vấn y tế chính của chính phủ, Sir Liam Donaldson báo trước :

“ Chúng tôi hầu như chắc chắn rằng một làn sóng dịch mới sẽ tác động lên chúng ta. Chúng tôi dự kiến rằng, vào lúc tựu trường, điều đó sẽ gia tăng trở lại ”.
(LE FIGARO 8/8-9/8/2009)

3/ VIRUS A(H1N1) ĐÃ GÂY NHIỄM HEO TỪ NHIỀU NĂM QUA.

Virus A(H1N1) đúng là một virus của heo. Thẻ căn cước di truyền (carte d’identité génétique) của nó, được giải mã bởi một nhóm nghiên cứu quốc tế, tiết lộ rằng virus này phát xuất từ một sự kết hợp chưa từng có của hai virus heo đã được biết, kết quả của một sự pha trộn của các virus người, heo và gia cầm. Sự “ tạp giao ” (croisement) cuối cùng, đã đưa đến bản hiện nay của virus, được thực hiện vào lúc vận chuyển heo giữa Bắc Mỹ và Eurasie. Sự truyền đầu tiên cho người xảy ra nhiều tháng trước khi trường hợp đầu tiên được chính thức công nhận. Để vạch lại nguồn gốc của virus, nhóm nghiên cứu đã so sánh các gène của virus A(H1N1) với các gène của 796 virus cúm và như vậy có thể định ngày tháng virus xuất hiện.

Và rất đáng ngạc nhiên : một giống gốc virus y hệt đến hơn 90% với loại virus đang lưu hành hiện nay, đã hiện diện nơi heo từ 9 ….17 năm nay ! Mà không ai lo lắng gì cả ! Theo các nhà nghiên cứu, một sự thiếu cảnh giác là nguyên nhân của sự lan tràn của virus. Thật vậy heo là một “ melting-pot ” trong đó, các virus người, gia cầm và heo thường xuyên tái phối hợp với nhau, một cách thường xuyên và rất kín đáo.
(SCIENCE ET VIE 9/2009)

4/ CÚM : 8 CHỮ ĐỂ BIẾT TẤT CẢ VỀ VIRUS MỚI.

A(H1N1) : Virus này được xem như là mới bởi vì đó là một cocktail chưa từng có của những thông tin di truyền phát xuất từ cúm heo, chim và người. Tên của nó ? “ A ”, bởi vì nó thuộc vào loại nguy hiểm nhất về mặt y học, đứng trước các virus của cúm B hay C. H để chỉ hémagglutinine và N để chỉ neuraminidase, hoặc hai protéine nằm ở bề mặt của virus. Hémagglutinine cho phép virus thâm nhập vào trong các tế bào đích (cellules cibles) ; neuraminidase cho phép phóng thích virus để nó có thể gây nhiễm những tế bào khác. Có nhiều loại hémagglutinine và neuraminidase khác nhau. Do đó thể có nhiều loại kết hợp khả dĩ, như virus lịch sử của cúm Tây Ban Nha, cũng thuộc loại H1N1, hay virus của cúm gà H5N1 đáng sợ.

ĐẠI DỊCH : Chính vào ngày 11/6 mà OMS đã gọi cúm A (H1N1) là cúm “ đại dịch ” (pandémie). Khi một căn bệnh lan tràn một cách rất nhanh chóng trong một tập thể hay một lãnh thổ trong một thời kỳ giới hạn, thì người ta gọi là dịch bệnh (épidémie). Nếu dịch bệnh này lan rộng trên một vùng bao gồm nhiều nước, khi đó người ta chuyển qua giai đoạn đại dịch. Thế mà, vào đầu tháng sáu, 30.000 trường hợp đã được thông báo trong 74 nước. Nhưng chính sự lan rộng của căn bệnh, chứ không phải mức độ nghiêm trọng của nó, đã biện minh cho việc nâng cấp đại dịch này : theo các dữ kiện có được khi đó, trong phần lớn các trường hợp, các bệnh nhân chỉ có những triệu chứng hiền tính và họ thường lành bệnh mà không cần một điều trị nào

TỶ LỆ TẤN CÔNG (TAUX D’ATTAQUE): Đó là tỷ lệ dân chúng khả dĩ bị nhiễm trùng bởi virus. Với virus A (H1N1), điều đó có khả năng liên quan đến toàn thể dân chúng, không có phòng vệ miễn dịch chống lại virus mới này. Trong thực tế, sự quan sát các dịch bệnh trong quá khứ chỉ cho thấy rằng chỉ một nửa dân chúng là thật sự bị nhiễm bởi virus cúm mới. Hơn nữa, vì nhiều người bị nhiễm trùng không có một triệu chứng nào, tỷ lệ tấn công có thể xác nhận được bởi các thầy thuốc là khoảng 35% đối với virus này. Hoặc khoảng 20 triệu người ở Pháp.

TỶ LỆ SINH SẢN (TAUX DE REPRODUCTION): Đó cũng như là thang Richter của các nhà virus học. Tỷ lệ này biểu hiện số người bị lây nhiễm bởi một người bệnh duy nhất ở một nơi xác định nào đó. Ví dụ, người ta biết rằng trong một chiếc máy bay, một hành khách bị cúm cổ điển làm lây nhiễm trung bình hai người. Đối với cúm A (H1N1), tỷ lệ này đang còn đang được xác định, mặc dầu người ta biết rằng bình thường nó ít thay đổi từ virus cúm này qua virus khác. Tuy nhiên tỷ lệ có thể dao động tùy theo các loại dân chúng. Nói chung nó cao hơn đối với các trẻ em, bởi vì các nhà trẻ và các trường học là những nơi tiếp xúc được lặp đi lặp lại.

LÀN SÓNG THỨ HAI (DEUXIEME VAGUE) : từ ngữ này minh họa một điều chứng thực vẫn không được giải thích rõ : việc gần như biến mất được tiếp theo sau bởi một sự tái xuất hiện đột ngột của các đại dịch cúm. Ví dụ, cúm Tây Ban Nha đã gây nên 3 làn sóng nối tiếp nhau. Nhưng ở mỗi đại dịch có một kịch bản của nó. Đối với cúm A (H1N1), các mô hình (modèles) của các chuyên gia cũng tiên đoán ba làn sóng dịch. Làn sóng đầu tiên vào mùa hè này (tháng bảy và tháng tám) trong Nam bán cầu ; làn sóng thứ hai vào mùa thu này ở Bắc bán cầu, có khả năng quan trọng nhất bởi vì có liên quan phần lớn dân chúng thế giới ; sau cùng, làn sóng thứ ba lại xuất hiện ở Nam bán cầu vào tháng bảy và tháng tám năm 2010.

TÍNH ĐỘC LỰC (VIRULENCE): Tính độc lực được đo tùy theo mức độ nghiêm trọng của bệnh gây nên bởi một vi trùng. Đối với cúm, chỉ có sự đo tỷ lệ tử vong (létalité) (số các người chết trong số các trường hợp cúm được khai báo) mới cho phép giải thích tính độc lực. Tuy nhiên là một tiêu chuẩn gián tiếp, bởi vì nói chung không phải virus cúm giết người, mà những nhiễm trùng khác đã hiện diện hay lợi dụng virus để tấn công cơ thể. Trong lịch sử của các trận dịch cúm, có một tý lệ tử vong trung bình : khoảng một tử vong trên 1.000 người bị nhiễm trùng. Nếu virus A (H1N1) đại dịch có thể gây chết nhiều hơn virus cúm mùa, không phải vì nó độc lực hơn, mà bởi vì nó là virus mới và tấn công những người không có phòng vệ miễn dịch thật sự chống lại nó.

VACCIN : Vaccin chống virus cúm mùa gồm có một virus A(H1N1) nhưng thuộc một loại khác với virus A (H1N1) đại dịch. Theo những dữ kiện được công bố vào tháng năm bởi CDC (trung tâm kiểm soát bệnh tật Atlanta) và vẫn còn được tranh cãi, thì 33% những người trên 60 tuổi được bảo vệ một phần bởi vì họ đã được tiếp xúc với những dạng A (H1N1) khác nhau, lưu hành trong những năm 1950, vào lúc được chủng ngừa trước đây hay đã bị một nhiễm trùng. Đó là điều mà người ta gọi là “ bảo vệ chéo ”, mà 6 đến 9% những nguời từ 18 đến 64 tuổi cùng được thừa hưởng. Ngược lại, những trẻ từ 0 đến 10 tuổi là dễ bị thương tổn nhất bởi vì đã không bao giờ gặp những dạng virus này. Đó là lý đó tại sao việc chế tạo một vaccin đặc hiệu chống lại A (H1N1) được thực hiện bắt đầu mùa hè này.

TÁI PHỐI HỢP DI TRUYỀN (REASSORTIMENT GENETIQUE): Virus cúm có một tính chất độc đáo : hai virus khác nhau có thể trao đổi một phần vật liệu di truyền của chúng (ARN) khi chúng gây nhiễm cùng lúc nơi cùng ký chủ. Virus A (H1N1) có thể còn được biến đổi hay không ? Vâng, bởi vì nó còn có thể tái phối hợp với một virus khác, ví dụ với virus của cúm mùa vào mùa đông này. Điều này có thể gây phiền phức, bởi vì virus A (H1N1) cúm mùa lưu hành hiện nay đề kháng với một trong những thuốc kháng virus chính (Tamiflu) và có thể truyền sự đề kháng này cho virus A (H1N1) đại dịch.
(SCIENCE ET VIE 8/2009)

5/ RƯỢU TỐT VÀ XẤU CHỐNG BỆNH ALZHEIMER

PREVENTION. Theo một công trình nghiên cứu được công bố mới đây, uống một hoặc hai ly rượu vang mỗi ngày làm giảm bớt nguy cơ bị bệnh Alzheimer nơi những người già.

Về rượu, dường như không bao giờ có gì là quyết định và lý tưởng cả. Trong khi cuốn sách mỏng của viện quốc gia ung thư (Inca) cách nay vài tháng chỉ rõ rằng việc uống chỉ một ly rượu mỗi ngày làm gia tăng một ít nguy cơ mắc phải ung thư, thì một công trình nghiên cứu mới đây, được trình bày vào đầu tuần này, nhấn mạnh rằng cũng sự uống rượu có mức độ này làm giảm xác suất trở thành nạn nhân của bệnh Alzheimer.Tài liệu xuất bản sau cùng này, được trình bày nhân hội nghị các chuyên gia ở Vienne, Áo, dành cho căn bệnh thoái hóa thần kinh Alzheimer, dựa trên một cuộc điều tra, được tiến hành nơi 3.079 người tuổi từ 75 và hon. Những người này đã được quan sát trong 6 năm và đã được yêu cầu ghi chú một cách chính xác việc uống rượu của họ. Rồi họ được chia thành 4 loại : không hề uống rượu, từ 1 đến 7 ly rượu mỗi tuần, 8 đến 14 ly mỗi tuần và hơn 14 ly được uống trong cùng thời gian, theo Kaycee Sink, một trong các tác giả của công trình nghiên cứu được thực hiện bởi đại học Hoa Kỳ Wake Forest de Winston-Salem (Bắc Caolina). Sau khi xem xét các bệnh nhân mỗi 6 tháng, thì ra trong số những người chỉ uống giới hạn mỗi ngày một hay hai ly rượu, nhất là rượu vang, thì nguy cơ bị bệnh Alzheimer được giảm 37%.

Ngược lại, trong số những người vốn đã có những rối loạn nhẹ về trí nhớ và đã uống hơn 14 ly mỗi tuần, nguy cơ bị bệnh Alzheimer tăng cao đến 2 lần nhiều hơn so với những người kiêng uống bất cứ loại rượu nào.

MỘT LỰA CHỌN “ CORNELIEN ”

Trong một báo cáo, được xuất bản năm 2007, đối chiếu một số lớn các công trình được thực hiện trên toàn thế giới, Inca kết luận rằng “ việc uống rượu đều đặn không được khuyến nghị. Sự gia tăng nguy cơ là đáng kể ngay cả đối với một sự tiêu thụ rượu có mức độ với một nguy cơ càng cao khi sự tiêu thụ càng lớn ”. Ý niệm này hiển nhiên gây nên sự la ó phản đối nơi những nhà làm rượu và những nhà trồng nho, nhưng cũng nơi vài thầy thuốc, xác nhận rằng tiêu thụ rượu mức độ thấp là có lợi, đặc biệt là chống lại các bệnh tim mạch. G.S Dominique Marininchi, tổng giám đốc Inca, đã tìm cách làm giảm bớt cuộc luận chiến : “ Chúng tôi đã muốn cho một thông tin. Và nói rằng, về rượu, ngưỡng tiêu thụ không nguy cơ, nghĩa là ngưỡng mà người ta không quan sát thấy tác dụng có hại về mặt ung thư, là rất thấp. Lời phát biểu của chúng tôi không phải là cấm đoán, nhưng là để thông tin.” Thực ra, tất cả vấn đề là muốn biết chúng ta có muốn một cuộc sống với một nguy cơ zero hay không : bởi vì uống rượu có mức độ cũng có những lợi ích khác (cảm thấy thoải mái và làm dễ đời sống xã hội).

Ở Vienne, người ta nhắc lại rằng với sự gia tăng tuổi thọ, khoảng 16 triệu người sẽ bị bệnh Alzheimer ở Châu Âu vào năm 2050, so với 7 triệu được thống kê năm 2.000. Bị một ung thư hay mất trí nhớ : một lựa chọn cornélien.
(LE FIGARO 6/8/2009)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học số 119, Đề Mục Số 1)CUỘC LUẬN CHIẾN VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA UNG THƯ VÀ SỰ TIÊU THỤ RƯỢU

6/ MỘT THÀNH PHẦN CỦA NHO CÓ HIỆU QUẢ CHỐNG LẠI NHỮNG NHIỄM TRÙNG GÂY CHẾT NGƯỜI.

Những thí nghiệm trên chuột đã cho thấy rằng resvératrol có thể ngăn cản các nhiễm trùng huyết (septicémie).

Rượu vang đỏ tiếp tục làm say mê mọi loại nhà khoa học.Và một công trình nghiên cứu mới phát hiện những lợi ích mới của một vài thành phần của rượu vang đỏ, có thể góp phần vào tác dụng có lợi của nó đối với sức khỏe khi được tiêu thụ có mức độ. Những nhà nghiên cứu của Ecosse và Singapour đã quan tâm đến những tính chất chống viêm của một phân tử có nhiều trong rượu vang, resvératrol. Và trên các con chuột phòng thí nghiệm, họ đã có thể chứng tỏ rằng những tính chất chống viêm của resvératrol là có thực, và tìm một lời giải thích.

Resvératrol là một hydrocarbure (polyphénol của lớp stilbènes), được sản xuất bởi thực vật để bảo vệ chúng chống lại những tác nhân gây bệnh, các côn trùng hay vi khuẩn. Nho, các quả dâu tằm hay lạc sản xuất resvératrol với số lượng nhiều. Cũng như vài loại cây, thông hay cây bạch đàn. Và đầu những năm 1990, các công trình nghiên cứu có khuynh hướng chứng tỏ rằng resvératrol là tác nhân chịu trách nhiệm của “ French paradox ” (“ nghịch lý Pháp ”), được liên kết với một sự nhạy cảm ít hơn với các bệnh tim mạch.

TÍNH CHẤT CHỐNG VIÊM

Ngày nay, chính những tính chất chống viêm của resvératrol đã được nêu lên. Các nhà nghiên cứu đã lấy hai nhóm chuột. Ở nhóm thứ nhất họ đã cho resvératrol. Ở nhóm thứ hai, họ không cho gì cả. Rồi họ tiêm vào cả hai nhóm chuột những tác nhân gây viêm mạnh, có khả năng làm phát khởi nhiễm trùng huyết, có thể gây nên tử vong.

Những con chuột, đã được nhận resvératrol, vẫn tiếp tục hoàn toàn mạnh khỏe, trong khi những con chuột không được cho resvératrol đã phát triển những triệu chứng viêm mạnh. Và những nhà nghiên cứu đã có thể chứng tỏ rằng resvératrol tác dụng bằng cách ngăn cản sự tạo thành của 2 enzyme, vốn đóng một vai trò thiết yếu trong các quá trình viêm. Mặc dầu rất còn sơ khởi, những kết quả này có thể mở đường cho những phép điều trị hiệu quả hơn chống lại các bệnh nhiễm trùng. Thật ra mục tiêu của công trình nghiên cứu của chúng tôi là nhận diện một hướng liệu pháp để giúp điều trị những bệnh viêm nặng, Alirio Alendez, thuộc đại học Glasgow đã giải thích như thế.Bây giờ phải cụ thể hoá tất cả những điều đó trên người.
(LE FIGARO 6/8/2009)

7/ POLYPILL : TIẾN BỘ ĐIỀU TRỊ HAY ĐIỀU LẠ MẮT ?

Sự phối hợp của nhiều loại thuốc trong cùng một viên thuốc duy nhất, nhằm kiểm soát nguy cơ tim mạch, là một triển vọng hấp dẫn. Giáo sư Olivier Gurné (Cliniques Universitaires Saint-Luc, Bruxelles) điểm tình hình về điều mới lạ này và yêu cầu chúng ta có một cái nhìn khá phê phán. “ Polypill ” phải chăng thật sự là “ viên thuốc diệu kỳ ” (wonder pill).

Hỏi : Giáo sư Gurné, ý niệm về viên thuốc phối hợp (pilule combinée) đã sinh ra đời như thế nào ?
Olivier Gurné : ý niệm viên thuốc phối hợp (pilule combinée) hay“ polypill ”, như các người Anglo-Saxons thường gọi, đã có từ cách nay vài năm.
Ngay vào năm 2003, sự tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý rằng sự phối hợp của nhiều loại thuốc nhằm vào tim mạch, trong cùng một viên thuốc duy nhất, làm giảm khoảng 80% tỷ lệ mắc phải những biến cố tim mạch hay những biến cố mới, nơi những người 55 tuổi hoặc hơn và nơi những người đã có một bệnh tim mạch.

Hỏi : Những dữ kiện mới đây có khuynh hướng xác nhận nó…
Olivier Gurné : Thật vậy, đó là công trình nghiên cứu TIPS (The Indian Polycap Study), đã được trình bày nhân một hội nghị Tim học quan trọng ở Hoa Kỳ và đã đưa đến sự công bố một bài viết trong một tờ báo y học nổi tiếng.

Công trình nghiên cứu này, được tiến hành ở Ấn Độ, nơi 2053 người tuổi từ 45 đến 80, không bị bệnh tim mạch, nhưng có ít nhất một yếu tố nguy cơ. Công trình đã so sánh một viên thuốc phối hợp (pilule combinée) chứa 5 loại thuốc (3 thuốc chống cao áp, một thuốc làm giảm nồng độ mỡ trong máu và aspirine) với cùng các thuốc loại thuốc này nhưng được cho riêng rẻ, dưới dạng đơn liệu pháp (monothérapie) hay dưới dạng kết hợp khác nhau các viên thuốc.

Hỏi : Các kết quả cho chúng ta biết những gì ?
Olivier Gurmé : Các kết quả cho thấy rằng hiệu quả của “ polypill ” lên huyết áp, mỡ và sự làm loảng máu (fluidification du sang) gần như tương đương với hiệu quả có được bởi một điều trị có tác dụng đặc hiệu lên một trong các tham số này. Nói một cách khác, quy tụ năm loại thuốc trong cùng một viên thuốc không làm biến đổi hiệu quả của những loại thuốc này khi chúng được cho một cách riêng rẻ.

Phát xuất từ những nhận xét này, các tác giả của công trình nghiên cứu cho rằng “ polypill ” có thể làm giảm 62% các biến cố tim mạch.

Tính dung nạp cũng y hệt nhau : sự chịu thuốc không bị biến đổi bởi sự gia tăng số các loại thuốc trong “ polypill ”. Tuy nhiên tỷ lệ bệnh nhân bỏ điều trị không phải là không đáng kể vì lẽ tỷ lệ này là 10 đến 15%.

Hỏi : Nếu tính hiệu quả và độ dung nạp của “ polypill ” là giống với các điều trị được cho riêng rẻ, thế thì đâu là lợi ích của nó ?
Olivier Gurné : Chủ yếu là sự dễ sử dụng. Mục đích của viên thuốc phối hợp là làm dễ sự tuân thủ điều trị. Sự tuân thủ này có khuynh hướng giảm với số các viên thuốc được uống vào mỗi ngày. Vậy chúng ta có thể tưởng tượng rằng sự quy tụ của 5 loại thuốc trong một viên thuốc duy nhất là có lợi trên quan điểm này.

Hỏi : Ông nghĩ thế nào ?
Olivier Gurné : Dầu cho triễn vọng này có hấp dẫn thế nào chăng nữa, nó cũng khiến tôi phải bày tỏ vài điều dè dặt.Việc đánh giá của viên thuốc phối hợp đã chỉ được nhắm vào những yếu tố nguy cơ, chứ không phải vào những biến cố tim mạch.

Có thể rằng một sự kiểm soát thích hợp của những yếu tố này làm giảm các biến chứng, nhưng điều đó còn cần được chứng minh. Việc giảm 62% được các nhà nghiên cứu nói đến không gì khác hơn là một sự suy diễn. Sẽ cần phải xác nhận điều đó bằng những nghiên cứu bổ sung.

Sau đó, nếu “ polypill ” có thể cải thiện sự tuân thủ điều trị, thì đồng thời nó làm giảm khả năng theo một điều trị nhắm đích và cá thể hóa (traitement ciblé et individualisé), hoàn toàn tương ứng với profil nguy cơ riêng cho mỗi người.

Sau cùng, và nhất là, vài người đi đến chỗ xem “ polypill ” như là một viên thuốc nhiệm màu cho phép họ coi thường những quy tắc vệ sinh cơ bản : cóc cần một chế độ ăn uống quân bình, luyện tập thể dục hay cai thuốc lá vì lẽ “ viên thuốc nhiệm màu ” bảo vệ tôi.

Lý luận đơn giản này thật đặc biệt nguy hiểm. Thật vậy chúng ta vẫn phải là những tác nhân của nền y tế của chúng ta. Nếu viên thuốc phối hợp đưa đến một loại thụ động thỏa mãn, thì nó phải được cấm chỉ không một phán xét nào khác.

Hỏi : Sau hết những ứng viên tốt nhất của sự sử dụng viên thuốc phối hợp là những ai ?
Olivier Gurné : “ polypill ” có thể to ra hữu ích nơi những bệnh nhân kiêm nhiệm các yếu tố nguy cơ và cảm thấy khó khăn buộc phải uống nhiều loại thuốc.

Thật vậy, sự tuân thủ điều trị của một liệu pháp cá thể hóa buộc phải đáp ứng với những cố gắng giáo dục được triển khai bởi thầy thuốc gia đình hay thầy thuốc chuyên khoa tim. Polypill có thể có một lợi ích nơi những người ít nhạy cảm hay tiếp thu với khía cạnh giáo dục vốn gắn liền với công tác của chúng ta.
(CŒUR ET ARTERE 6/2009)

Đọc thêm :
VIÊN ĐA DƯỢC GIẢM NGUY CƠ TIM MẠCH
Thời Sự Y Học số 120 Đề Mục Số 1/ CHỈ MỘT VIÊN THUỐC ĐỂ CHỐNG LẠI CÁC BỆNH TIM MẠCH

8/ MÁY BAY : NHỮNG LỜI KHUYÊN ĐỐI VỚI CÁC HÀNH KHÁCH.

Những chuyến đi bằng đường hàng không, mà số lượng rất gia tăng vào mùa hè, có liên hệ đến gần hai tỷ người mỗi năm. Thời gian kéo dài của vài chuyến bay, kết hợp với sự lão hóa của dân số, đã làm dễ sự xuất hiện những vấn đề về sức khỏe, mới đây đã được xem xét lại bởi một nhóm nghiên cứu người Mỹ trong một bài báo của Lancet. Áp lực bên trong các cabine tương ứng với một độ cao từ 1.524 đến 2.438 mét, làm giảm áp suất oxy trong không khí thở từ 95 xuống 60 mmHg. Do đó, sự hạ hàm lượng oxy trong máu có thể tạo nên nơi những người bị viêm phế quản tắc mãn tính những suy hô hấp trong lúc bay. Do đó trước khi đi máy bay cần thăm khám. Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse) với biến chứng nghẽn mạch phổi (embolie pulmonaire) đã được biết rõ đã xảy ra sau 8 giờ bay. Phương pháp phòng ngừa tốt nhất : cử động các cẳng chân một cách đều đặn, uống nhiều nước và nơi những người có tố bẩm, mang tất chun dài (bas de contention).. hoặc tiêm héparine dưới da trước khi đi. Đối với nguy cơ nhiễm khuẩn trong trường hợp dịch, phương pháp phòng ngừa là mang mặt nạ.
(PARIS MATCH 12/8/2009)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học số 119 Đề Mục Số 7/ VỚI NGÀY CÀNG NHIỀU NHỮNG CHUYẾN BAY ĐƯỜNG DÀI, TỶ LỆ MẮC CÁC BỆNH LÝ NGÀY CÀNG BAY CAO

9/ MỘT PHỤ NỮ CÓ THAI KHÔNG NÊN CỬ ĂN.

Michael Symonds, trưởng phòng sức khỏe trẻ em của đại học Nottingham.

Càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng chế độ ăn uống của một phụ nữ có thai có một tác động lên sức khỏe về sau của đứa bé.

Hỏi : Hai cơ quan y tế Hoa Kỳ yêu cầu các phụ nữ bị tăng thể trọng chỉ được lên cân 4 đến 8 kg trong thời kỳ thai nghén, điều này cần một chế độ ăn uống kiêng cữ. Ông nghĩ thế nào ?
Michael Symonds : Khó mà cho những lời khuyến nghị chung chung. Bởi vì chứng béo phì là một yếu tố nguy cơ đối với phụ nữ cũng như đối với em bé, nên các phụ nữ này phải là đối tượng của một sự theo dõi. Tuy nhiên, sự kiêng cữ ăn uống trong thời kỳ thai nghén không phải là điều tốt. Nó có thể gây nên sự xuất hiện những vấn đề sức khỏe nơi trẻ em, lúc trở thành người lớn : cao huyết áp, bệnh đái đường, các bệnh thận...Những thí nghiệm của chúng tôi trên cừu đã chứng tỏ điều đó một cách rõ ràng.

Hỏi : Những thí nghiệm này diễn ra như thế nào ?
Michael Symonds : Chúng tôi đã theo dõi hai nhóm cừu cái trong thời kỳ thai nghén. Nhóm thứ nhất ăn uống bình thường. Nhóm thứ hai buộc phải theo một chế độ ăn uống trong 1/3 thời kỳ thai nghén (giảm bớt 50% calories). Những con cừu non của hai nhóm sau đó được đặt vào trong một môi trường làm dễ sự béo phì (ít khả năng hoạt động vật lý, ăn uống thỏa thuê). Tất cả đã trở nên béo phì. Nhưng những con cừu non mà cừu mẹ vốn đã theo một chế độ kiêng khem bị có thêm những vấn đề : loạn chức năng của mô mỡ và đề kháng insuline, mà ta biết là dẫn đến các biến chứng của béo phì (đái đường, các bệnh tim mạch). Như thế chế độ ăn uống kiêng khem của cừu mẹ đã làm cho các cừu non dễ bị thương tổn hơn.

Hỏi : Cừu há chẳng phải quá cách xa với người để có thể suy diễn những kết quả này ?
Michael Symonds : Trái lại đó là một mô hình tốt để nghiên cứu tác dụng của hạn chế calories. Sự phát triển thai nhi của cừu gần giống với sự phát triển thai nhi người ; mỡ của nó có tính chất tương tự với mỡ của chúng ta. Mặt khác những kết quả mà chúng tôi có được trên cừu phù hợp với những nghiên cứu dịch tễ học trên người. Những công trình nghiên cứu này đặc biệt cho thấy rằng, sau nạn đói mà những người Hòa Lan đã chịu đựng trong Đệ Nhị Thế Chiến, thì những đứa con của họ ngày nay bị nhiều bệnh tim mạch và đái đường hơn so với những phụ nữ đã không hề biết đến những hạn chế ăn uống.
(LA RECHERCHE 7-8/2009)

10/ LÀM VIỆC BAN ĐÊM VÀ GIỜ GIẤC KHÔNG ĐIỂN HÌNH : KHI ĐỒNG HỒ SINH HỌC BỊ RỐI LOẠN.

Làm việc ban đêm, giờ giấc thay đổi, trực gác, đó là những bó buộc mà vài người làm việc đã trải qua, với những hậu quả trên sức khỏe.

Những nhịp sinh học (rythmes circadiens) được ghi trong các gènes có lẽ từ hơn hai tỷ năm và hiện diện ngay cả ở cyanobactérie. Nơi những động vật có vú, chim và loài bò sát, những nhịp sinh học này được xác định bởi một mô não biệt hóa, các nhân trên giao thoa thị giác (noyaux suprachiasmatiques). Các nhân này tiếp nhận những thông tin ánh sáng từ những tế bào hạch (cellules ganglionnaires) của võng mạc, qua dây thần kinh thị giác. Hệ thống rất phức tạp này, dưới sự phụ thuộc vào khoảng 12 gène, điều khiển cả một loạt các tham số, diễn biến theo một chu kỳ khoảng 24 giờ : sự luân phiên thức ngủ (alternance veille sommeil), sự tiết các hormone khác nhau, thân nhiệt, huyết áp, sự phân chia tế bào...

RỐI LOẠN NHỊP, RỐI LOẠN SỨC KHOẺ.

Chúng ta là những động vật sống ban ngày và được chương trình hóa để ngủ vào ban đêm. Nhưng những yêu cầu của vài nghề nghiệp (những nghề y tế và cứu thương, những người điều khiển tổng đài …) và những bức thiết kinh tế của các xã hội hậu công nghiệp của chúng ta, buộc nhiều người phải theo những giờ giấc làm việc không điển hình (horaires atypiques). Hậu quả khả dĩ đầu tiên của công tác trực gác là shiftwork sleep disorder, được đặc trưng bởi một sự mất ngủ vào các giai đoạn của , với một hậu quả lên món nợ ngủ (dette de sommeil), vì lẽ những người bị rối loạn này ngủ 1-4 giờ ít hơn so với những người làm việc ban ngày. Điều này dẫn đến một tình trạng ngủ gà vào những thời kỳ thức tỉnh. Những yếu tố nguy cơ cá nhân là những nhu cầu căn bản , typologie (những người “ buổi sáng ” nhạy cảm hơn), giới tính (rối loạn thường xảy ra hơn nơi các phụ nữ) và tuổi (những người có tuổi hơn ít dung nạp hơn công việc trực gác).

Công việc trực gác (travail posté) cũng là một yếu tố nguy cơ của những rối loạn dạ dày-ruột (sự ngon miệng, rối loạn transit, loét dạ dày-ruột) và chuyển hóa (thặng dư thể trọng, hội chứng chuyển hóa và bệnh đái đường). Công việc trực gác cũng được liên kết với cao huyết áp. Đặc biệt người ta đã phát hiện sự hủy bỏ nhịp ngày đêm của huyết áp trong những thời kỳ làm việc ban đêm, trong khi lúc làm việc ban ngày một sự hạ các trị số vào ban đêm từ 10 đến 20% đã được quan sát. Các phụ nữ cũng không được miễn trừ bởi vấn đề này : người ta đặc biệt ghi nhận ảnh hưởng của làm việc trực gác lên tính không đều của kinh kỳ và giảm khả năng sinh đẻ. Về mặt sản khoa, sự liên kết với một sự gia tăng tần số các sinh non và trọng lượng thấp của thai nhi lúc sinh đã được nhận thấy. Cơ quan quốc tế nghiên cứu về ung thư đã thực hiện một duyệt xét tư liệu và đã kết luận rằng làm việc trực gác gảy nên sự hủy bỏ nhịp ngày đêm, có lẽ có khả năng sinh ung thư nơi người. Nhiều cơ chế có thể giải thích hiệu quả này.

Thật vậy, một loạt các chức năng bị ảnh hưởng bởi nhịp ngày đêm : sự giải độc các độc chất bởi gan, sự phân chia tế bào, sự tăng sinh tế bào. Những ung thư liên hệ là những ung thư vú, nội mạc tử cung, đại tràng và tuyến tiền liệt.Thời gian chịu trên 20 năm dường như có tính chất quyết định, cũng như những yếu tố nhạy cảm cá nhân.

Trên bình diện cá nhân, những hậu quả của việc làm trực gác cũng có tính chất xã hội và gia đình : cuộc sống xã hội và gia đình không được thỏa mãn, đời sống tình dục bị rối loạn, nguy cơ ly dị gia tăng. Nguy cơ bị tai nạn cũng gia tăng dầu đó đang lúc công tác hay lúc cầm lái. Những tai nạn này cũng có những hậu quả quan trọng trên bình diện tập thể và y tế cộng đồng. Phải biết rằng 4 tai họa quan trọng của thế kỷ XX (chìm tàu Titanic, Three Mile Island, Bhopal, Tchernobyl) đã xảy ra vào giữa đêm từ 1 giờ 30 đến 4 giờ sáng.
(LE GENERALISTE 21/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (9/8/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#15 Posted : Sunday, August 26, 2012 9:57:40 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A : KẾ HOẠCH CHO BUỔI TỰU TRƯỜNG.

Chính các ông tỉnh trưởng sẽ lấy quyết định đóng cửa các cơ sở bị lây nhiễm bởi đại dịch.

Trong khi bảng tổng kết sau cùng báo cáo 180.000 bệnh nhân và 1.462 người chết trên thế giới, thì nước Pháp và các trường học chuẩn bị đối đầu với cúm A (H1N1). Để ngày tựu trường không biến thành cơn ác mộng và để ngày nhập học không phải là dấu hiệu của sự bành trướng đột ngột của đại dịch, ông Bộ trưởng Giáo dục quốc gia chuẩn bị và dự kiến “ đóng cửa phòng ngừa tất cả các trường học ”, nếu virus cúm trở nên độc lực hơn.

Học thuyết đóng cửa các trường học là một chủ đề nhạy cảm. Vì lẽ các bố mẹ vừa lo lắng khi thấy con em mình bị lây nhiễm, đồng thời ngập ngừng khi thấy trường học bị đóng cửa nhiều ngày, thậm chí trong 12 tuần, thời điểm của đỉnh cao đại dịch. Trong tình trạng hiện nay của virus, không quá độc lực, sự đóng các trường học bị lây nhiễm trong vòng một tuần, như điều đó đã được thấy trong tháng sau, được dự kiến. “ Điều đó đã là hiệu quả ”, Claude Wachtel, chuyên viên về cúm đã đánh giá như vậy. Theo ông, ở Pháp dịch bệnh ít tiến triển hơn so với Anh, là nơi chính sách ít hà khắc hơn và những kỳ nghỉ hè xảy ra muộn hơn. Trên thực tế, các học sinh có thể gây nhiễm ngay cả trước khi các triệu chứng xuất hiện. Và cúm lan tràn cực kỳ nhanh trong các trẻ em. “ Những trẻ nhỏ là những ổ chứa virus, Claude Wachtel đã giải thích như vậy. Chúng dễ bị mắc bệnh hơn, dễ gây nhiễm hơn và lâu hơn những người trưởng thành. ”

NHỮNG CÂN NHẮC KINH TẾ.

Sự đóng cửa trường kềm hãm sự lây nhiễm này. Mỗi năm, vào tháng hai, những kỳ nghỉ học tác động như một coupe-grippe. Số các trường hợp cúm mùa (grippe saisonnière) giảm 15% trong khi đại dịch được cầm lại. Do đó việc đóng các trường học có những ưu điểm của nó trong việc quản lý gánh nặng của các cơ sở y tế, đồng thời cùng lúc tránh cho tất cả các trẻ em khỏi bị bệnh. Tuy nhiên, một nhóm nghiên cứu Pháp-Anh đã cho thấy, trong The Lancet, rằng sự đóng cửa trường 3 tháng đưa đến tỷ lệ vắng mặt bổ sung 18%, các bố mẹ phải giữ con cái, và một sự thất thu từ 0,2 đến 1% của PIB.

Tuy nhiên việc quyết định đóng cửa toàn bộ, nếu có tính đến những cân nhắc kinh tế, sẽ được thúc bách bởi khả năng biến dị của virus, diễn biến một cách không tiên đoán được. “ Trong trường hợp không có sự can thiệp y tế, bilan của Pháp có thể được xác lập trong khoảng giữa 9 và 21 triệu người bệnh, những tử vong giáng vào từ 91.000 đến 212.000 người vào cuối đại dịch. 500.000 đến 1 triệu người có thể phát triển những biến chứng cần phải nhập viện, ta có thể đọc được những dữ kiện này trong kế hoạch quốc gia phòng ngừa và chống đại dịch cúm của SGDN."
(LE FIGARO 12/8/2009)

2/ CÁC TRẺ EM : NHỮNG MỤC TIÊU ƯU TIÊN CỦA H1N1.

Chính các trẻ em là những đối tượng bị ảnh hưởng nhất bởi cúm A, ở Âu Châu và trên thế giới.

Từ khi xuất hiện vào tháng 4 vừa rồi ở Mexico, chúng ta biết rằng virus H1N1 của cúm A không tương ứng với sơ đồ cổ điển của cúm mùa (grippe saisonnière). Thật vậy, cúm mùa chủ yếu gây bệnh cho người già trong khi cúm A đánh vào nhiều trẻ em mạnh khỏe, tuổi từ 10 đến 19 tuổi. Ở Âu Châu, theo những thống kê của ECDC (European Center for Disease prevention and Control), lứa tuổi này là bị ảnh hưởng nhất với gần 35% các trường hợp không nhập viện và đứng hàng thứ hai đối với các trường hợp được nhập viện với 25%, sau lứa tuổi 20-29. Những công trình nghiên cứu được thực hiện ở Hoa Kỳ, Canada, Chili, Nhật Bản, Anh đều chứng tỏ như vậy.

OMS hiện nay đang thiết lập profil dịch tễ của những nhóm dân nguy cơ của đại dịch cúm. Chúng ta sẽ xem các trẻ em có thuộc vào trong các nhóm nguy cơ hay không. Tuy nhiên chúng ta có thể nghĩ như vậy, bởi vì, dầu cho cúm A ít nghiêm trọng chăng nữa, các trẻ nhỏ vẫn mẫn cảm đối với cúm và có thể có những biến chứng như co giật hay viêm tai. Tuy nhiên, hiện nay, cơ quan OMS có căn cứ ở Genève, cho rằng các nhân viên y tế sẽ phải được chủng ngừa ưu tiên để không làm xáo trộn các tổ chức y tế.

NGHIÊN CỨU CỦA ANH.

Ở phòng liên lạc của OMS, người ta nhấn mạnh rằng, dẫu sao, chính mỗi nước sẽ lấy những biện pháp thích ứng. Chiến lược này được giải thích vì những lý do cầm quyền, nhưng cũng bởi vì mức độ nghiêm trọng của cúm A thay đổi nhiều từ nước này qua nước khác.

Trong lúc chờ đợi vaccin (còn sẽ phải chờ nhiều tuần) và những quyết định của các chính quyền quốc gia, các bố mẹ quan tâm nhận được thông tin. Hôm kia, người ta đã nói nhiều về một công trình nghiên cứu của Anh, được công bố trong British Medical Journal, cho rằng các trẻ em bị cúm A không được điều trị bằng Tamiflu.

Hôm qua, Cơ quan Afssaps đã giải thích trong một thông báo rằng lời khuyến nghị này không áp dụng ở Pháp, ở đây Tamiflu phải được kê toa, nhưng ở Anh, là nơi chẩn đoán được thực hiện bằng điện thoại, các trẻ em không bị cúm cũng có thể sử dụng loại thuốc này.
(LE FIGARO 12/8/2009)

3/ CÁC BỆNH THOÁI HÓA THẦN KINH : HY VỌNG CỦA ĐA LIỆU PHÁP (PLEOTHERAPIE).

G.S Daniel Cohen, nhà khám phá bộ gène (génome) người, giải thích chiến lược điều trị mới này, nhằm đồng thời nhiều tác nhân chịu trách nhiệm của bệnh thoái hóa thần kinh (maladie neurodégénérative).

Hỏi : Đa liệu pháp (pléothérapie) là gì ?
G.S Daniel Cohen : Phương pháp mới này nhằm điều trị các bệnh nhân theo 3 nguyên tắc. 1. Sử dụng những hỗn hợp thuốc. 2. Các thuốc đã phải được thương mãi hóa (được chấp thuận bởi chánh quyền y tế). 3. Sự hiệu chính cocktail thuốc được thực hiện với những liều lượng dành cho em bé.

Hỏi : Tại sao phương thức mới này ?
G.S Daniel Cohen : Chúng ta đang chịu một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng : hầu như không còn thuốc mới nữa, nhất là đối với những bệnh thoái hóa thần kinh maladies neurodégénératives). Chúng ta đang bị kẹt máy. Bệnh Alzheimer, Parkinson và những bệnh lý tương cận khác vẫn luôn luôn không có điều trị chữa lành... Có một lỗ trống lớn ở đó ! Cho đến mãi ngày nay, phương pháp thông thường là tìm cách nhắm đích vào một yếu tố gây rối loạn duy nhất, nguồn gốc của một căn bệnh. Thường thường chúng ta thành đạt được, nhưng ngày nay chúng ta đã đi đến giới hạn : số những bệnh nhân có thể chữa lành với một phương thuốc duy nhất đang ở bên bờ cạn kiệt. Vậy thì phải phát minh một thế hệ những thuốc mới.

Hỏi : Chiến lược điều trị đa liệu pháp (pléothérapie) này nhằm vào cái gì ?
G.S Daniel Cohen : Một bệnh thần kinh hiếm khi là do một phân tử duy nhất (một protéine), mà thường do nhiều phân tử tạo thành một hệ thống. Thay vì nhắm vào một đích duy nhất như thường lệ, chúng tôi đã quyết định tấn công đồng thời nhiều đích. Nhưng để được như thế, trước hết phải nhận diện chúng. Sự nhận biết này đã có thể thực hiện nhờ một phương pháp phân tích di truyền rất phức tạp, mà chúng tôi đã hiệu chính và đặt tên là “ Nexus ”. Phương thức phức tạp này cho phép, từ những mẩu nghiệm máu, kiểm kê những protéine gây rối loạn, là nguồn gốc của một căn bệnh, bằng cách nhận diện trước hết những gène “ chế tạo ” chúng (ghi mã chúng).

Hỏi : Làm sao người ta trung hòa được những phân tử chịu trách nhiệm này ?
G.S Daniel Cohen : Phương cách của chúng tôi trước hết nhằm tìm kiếm trong số các thuốc có sẵn trên thị trường, những thuốc nào khả dĩ có một hiệu quả lên các mạng protéine bị rối loạn. Rồi thì phối hợp chúng, với những liều lượng nhỏ, thành một cocktail điều trị hiệu quả. Đó là một ý tưởng rất đơn giản : người ta tạo cái mới từ cái cũ.

Hỏi : Đến nay, những thử nghiệm nào đã được thực hiện ?
G.S Daniel Cohen : Chúng tôi đã áp dụng phương pháp này cho 3 loại bệnh thoái hóa thần kinh (neurodégénérescence) : bệnh Charcot-Marie-Tooth (gốc di truyền), một bệnh khác do độc chất và bệnh Alzheimer. Trước hết trong phòng thí nghiệm, chúng tôi đã có thể quan sát một hiệu quả rất rõ rệt của những cocktail các phân tử, nhắm vào các mạng protéine, được nhận diện bởi phương pháp phân tích Nexus. Trong một giai đoạn hai, chúng tôi đã chuyển qua nghiên cứu động vật đối với bệnh Charcot-Marie-Tooth và đối với bệnh thần kinh do độc chất. Trong hai trường hợp, hàng trăm con chuột, mang cùng những bệnh thoái hóa thần kinh như người, đã được chữa lành mà không có những tác dụng phụ. Đối với bệnh Alzheimer, được cổ võ bởi những kết quả thu được trong phòng thí nghiệm, sắp đến chúng tôi sẽ bắt đầu những nghiên cứu của chúng tôi nơi động vật.

Hỏi : Khi nào ông sẽ bắt đầu những thử nghiệm trên người ?
G.S Daniel Cohen : Ngay năm 2010, chúng tôi sẽ bắt đầu điều trị những bệnh nhân bị bệnh Charcot-Marie-Tooth đặc biệt gây tật nguyền. Đối với công trình nghiên cứu quốc tế này, chúng tôi đang chọn lọc 200 bệnh nhân ở Châu Âu và ở Hoa Kỳ. Nếu những thử nghiệm trên người chứng rõ, các thuốc được sử dụng bằng phương pháp đa liệu pháp (pléothérapie) sẽ xuất hiện trên thị trường 3 hay 4 năm sau đó.

Hỏi : Những bệnh lý nào khác sẽ có thể được điều trị bởi đa liệu pháp (pléothérapie) ?
G.S Daniel Cohen : Trên nguyên tắc người ta sẽ có thể điều trị tất cả các nhu cầu y khoa : các rối loạn tâm thần, như các loạn tâm thần, Toc, chứng bỏ ăn (anorexie), bệnh tự kỷ (autisme), nhưng cũng những bệnh hiếm quan trọng.
(PARIS MATCH 9/7-15/7/2009)

4/ NHỮNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÓ VỢ LÔI KÉO NHỮNG PHỤ NỮ ĐỘC THÂN.

Theo một công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Jessica Parker và Melissa Burkley, thì đại đa số những phụ nữ độc thân bị lôi kéo bởi những người đàn ông đã có gia đình. Những phụ nữ độc thân này đã đọc các bản văn mô tả những người đàn ông, được trình bày như là độc thân hay sống lứa đôi, và phải chỉ rõ với loại đàn ông nào họ ước muốn làm quen và làm nhân tình. Những phụ nữ này đại đa số đã chọn người đàn ông đã có gia đình. Còn các người đàn ông thì thường thích những phụ nữ độc thân hơn. Có một giải thích (sinh học) cho tất cả những điều này : các phụ nữ ở tuổi sinh đẻ muốn tìm kiếm một người bạn đường đã có thử thách trên hai bình diện, đó là khả năng sinh đẻ và khả năng chăm lo con cái. Hai lãnh vực mà những người đàn ông đã có gia đình thường có một lợi thế.
(CERVEAU et PSYCHO 7-8/2009)

5/ ĐỂ SỐNG LÂU HƠN, HÃY ĂN ÍT HƠN.

Một sự giảm cung cấp calo làm chậm lại sự lão hóa và làm giảm rõ rệt nguy cơ mắc phải ung thư, bệnh đái đường và teo não bộ của... các con khỉ, tạp chí Science đã báo cáo như vậy.

Những kết quả của công trình nghiên cứu này, được tiến hành trong 20 năm trên nhiều chục con khỉ (các macaque rhésus) có thể mang lại cách nhìn chi tiết nhất về tác động của hiện tượng này và những ý nghĩa của nó trên người, các tác giả của những công trình này đã nhấn mạnh như thế.

“ Chúng tôi đã có thể cho thấy rằng sự giảm calo có thể làm chậm lại sự lão hóa trong một loài của các con linh trưởng ”, BS Richard Weindruch, giáo sư y khoa thuộc Đại Học Wisconsin, tác giả chính của công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí Hoa Kỳ ngày 10/7, đã phát biểu như vậy.

“ Chúng tôi đã quan sát thấy rằng việc giảm cung cấp calo làm giảm 3 lần nguy cơ phát triển những căn bệnh liên quan với tuổi và làm gia tăng tỷ lệ sống thêm ”, ông nói như vậy. Vào lúc kết thúc công trình nghiên cứu, một nửa (50%) các động vật được để cho tự do ăn uống thỏa thuê vẫn còn sống, so sánh với tỷ lệ 80% những động vật trong nhóm tiêu thụ 30% ít hơn cùng những thức ăn.

76 macaque rhésus được chọn lọc cho công trình nghiên cứu này là những con khỉ trưởng thành tuổi từ 7 đến 14 tuổi. Ngày nay, chỉ còn 33 con, trong đó 11 con ăn xã láng và 20 con chịu một chế độ giảm calo.

Tuổi thọ trung bình của những con khỉ này là 27 tuổi. Động vật lớn tuổi nhất của công trình nghiên cứu là 29 tuổi.

“ Sự giảm calo có một tác động mạnh lên sự gia tăng tuổi thọ nếu chúng ta xem tỷ lệ tử vong là do những bệnh liên kết với tuổi tác, BS Weindruch đã nhấn mạnh như vậy.Tỷ lệ các khối u ung thư và các bệnh tim mạch nơi những động vật của công trình nghiên cứu là một nửa ít hơn nơi những con khỉ chịu một sự hạn chế calo, so với nhóm chứng ăn uống tự do không giới hạn ”, ông đã xác nhận như thế.

Lại còn đặc sắc hơn, bệnh đái đường hoàn toàn vắng mặt nơi những động vật chịu một sự giảm calo trong khi bệnh này thường xảy ra nơi những con khỉ tiêu thụ mọi thức ăn mà chúng muốn . “ Đến nay, chúng tôi đã quan sát thấy một sự vắng bóng hoàn toàn bệnh đái đường trong nhóm có cung cấp calo được thu giảm ”, BS Weinbruch đã nhấn mạnh như vậy. “ Ngoài ra sức khỏe não bộ của những động vật chịu sự giảm calo rõ rệt tốt hơn ”, BS Sterling Johnson, một thầy thuốc khoa thần kinh của Đại Học Wisconsin đã ghi nhận như vậy.

“ Công trình nghiên cứu này có thể giúp chúng ta hiểu những tác dụng của một sự giảm calo lên sự mất các tế bào thần kinh với quá trình lão hóa ”, ông đã giải thích như vậy. Các nhà khoa học quan tâm những tác dụng được chứng minh của việc giảm calo lên sự kéo dài tuổi thọ từ những công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện trong những năm 30 trên chuột.
(LE SOIR 12/7/2009)

6/ ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI Ở THỤY SĨ : MỔ NÃO BẰNG SIÊU ÂM.

TECHNOLOGIES. Các nhà ngoại thần kinh Thụy Sĩ lần đầu tiên trên thế giới đã có thể thực hiện các can thiệp ngoại khoa của não bộ mà không cần phải mở hộp sọ nhờ sử dụng siêu âm, đại học Zurich đã loan báo như vậy hôm thứ hai. Các BS Daniel Jeanmonod và Ernst Martin đã áp dụng vào ngoại khoa trong sọ (chirurgie intracranienne) kỹ thuật siêu áp điều tiêu có năng lượng cao (technique des ultrasons focalisés de haute énergie) (UFHE), đã được sử dụng từ nhiều năm nay trong niệu khoa để chống lại các ung thư tuyến tiền liệt.

Trong một công trình nghiên cứu lâm sàng bắt đầu tháng 9 năm 2008, mười người trưởng thành đã chịu những phẫu thuật với kết qua thành công và không có biến chứng. Những cuộc phẫu thuật đã được thực hiện không cần gây mê, trên những bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo.

Trong các phẫu thuật, 1.024 máy phát (émetteur) gởi những làn sóng siêu âm xuyên qua hộp sọ. Sự tăng cao nhiệt đó được sinh ra như thế, thường xuyên nằm dưới sự kiểm soát.

Những bệnh nhân được điều trị bị những cơn đau bệnh thần kinh (douleurs neuropathiques), BS Martin đã xác nhận như vậy. Bệnh lý này đặc biệt đánh vào những người bị liệt 4 chi (tétraplégiques) hay đã bị cắt cụt chi. Não bộ không còn tiếp nhận những tín hiệu từ các chi nữa, các dây thần kinh của các chi gởi những kích thích gây nên sự đau đớn. Các siêu âm đã cho phép làm im những kích thích này.

Các nhà khoa học của Zurich hy vọng có thể mở rộng trường sử dụng của các siêu âm đến các khối u của não bộ hay đến các can thiệp sau các tai biến mạch máu não.
(LE SOIR 23/6/2009)

7/ HƯỚNG VỀ MỘT PHÁT HIỆN SỚM CỦA UNG THƯ BUỒNG TRỨNG.

Một công trình nghiên cứu rộng lớn vừa nhận diện một chất chỉ dấu di truyền (marqueur génétique) có liên hệ trong bệnh này.

Một ngày nào đó, người ta sẽ có thể nhận diện được rất sớm những phụ nữ có những nguy cơ sẽ phát triển ung thư buồng trứng đáng sợ nhờ những trắc nghiệm di truyền hay không ? Một nhóm những nhà nghiên cứu quốc tế, được lãnh đạo bởi các người Anh Paul Pharoah (đại học Cambridge) và Simon Gayther (University College de Londres), vừa vượt qua bước đầu tiên khi khám phá ra một đột biến di truyền (variant génétique) thường gặp, làm gia tăng 20 đến 40 % nguy cơ xuất hiện những ung thư buồng trứng. Những kết quả của công trình nghiên cứu to lớn này, bao gồm gần 10.000 phụ nữ bị ung thư buồng trứng và 13.000 người chứng, vừa được công bố trong Nature Genetics.

Mặc dầu tương đối hiếm (6.800 những trường hợp mới mỗi năm ở Anh, 4.400 ở Pháp), các ung thư buồng trứng có một tiên lượng u tối bởi vì chúng thường được chẩn đoán muộn, ở một giai đoạn mà khối u đã có một kích thước lớn và đã di căn đi nơi khác. Ở Pháp, các ung thư buồng trứng đứng hàng thứ 5 gây tử vong do ung thư nơi phụ nữ, với hơn 3.000 người chết mỗi năm. Trong 10% các trường hợp, một yếu tố gia đình được tìm thấy có liên hệ, cứ một trường hợp trên hai, với sự biến dị của vài loại gène, cũng có liên hệ trong những ung thư vú gia đình.

CHIẾN LƯỢC MỚI.

Để xác định những yếu tố di truyền khác làm dễ phát triển những ung thư buồng trứng, Paul Pharoah và các cộng tác viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu di truyền nhằm vào một số lượng lớn đối tượng. Rất được thịnh hành để nhận diện những tố bẩm gây những bệnh đa gène (maladies polygéniques) (như bệnh đái đường hay những bệnh tim mạch), chiến lược mới này nhằm so sánh các bộ gène (génome) của hàng ngàn người bệnh và của những người chứng. Nhờ các puces à ADN, các nhà nghiên cứu thăm dò những biến dị của các dãy gène (séquence des gènes).

Như thế các nhà nghiên cứu đã có thể phân lập được một đột biến di truyền (un variant génétique) nằm trên một đoạn của nhiễm sắc thế số 9, đặc biệt liên hệ với ung thư buồng trứng. Theo các tính toán của họ, nguy cơ phát triển khối u này là 40% cao hơn nơi những phụ nữ mang một bản sao kép của sự “ khác nhau ” này so sánh với những phụ nữ không có nó.

Các tác giả của công trình nghiên cứu tin chắc rằng, nhiên hậu, phương thức này sẽ cho phép phát hiện những phụ nữ có khả năng nhất bị ung thư buồng trứng, để theo dõi họ sát hơn. Điều đó sẽ cải thiện kiến thức của chúng ta về sinh học của những ung thư này, và dẫn đến phát triển những điều trị hiệu quả hơn, họ đã nói thêm như thế. “Đó là một công trình vững chắc và rất đáng quan tâm, nhưng vẫn phải thận trọng về những dấu hiệu lâm sàng ”[/i], G.S Dominique Stoppa-Lyonnet, trưởng khoa di truyền ung thư thuộc Viện Curie đã phát biểu như vậy.

Theo nhà nghiên cứu này, chúng ta còn rất xa mới có được những trắc nghiệm về yếu tố tố bẩm này. “ Vẫn còn phải nhận diện nhiều yếu tố nhạy cảm di truyền. Chính các tác giả cho rằng đột biến của chúng chỉ giải thích 0,7% của thành phần đa di truyền của các ung thư buồng trứng. Sự khác nhau di truyền này làm nguy cơ mắc phải ung thư buồng trứng chuyển từ 1% lên 1,4 %. Không phân biệt lắm so với các gène tố bẩm gia đình (BRCA1 và BRCa2), nhân nguy cơ lên 10 đến 40 ”.
(LE FIGARO 7/8/2009)

8/ CÁC THUỐC ĐUỔI MUỖI CÓ ĐỘC KHÔNG ?

Một cách ngắn gọn, thuốc đuổi muỗi (répulsif anti-moustiques) được gọi là DEET (thay cho chữ diéthyltoluamide). Ngày nay đó là thuốc đuổi muỗi được sử dụng nhất trên thế giới để xua đuổi những con muỗi cái, khi chích động vật hay người để nuôi dưỡng, có thể truyền những bệnh nghiêm trọng như chikungunya, bệnh dengue, hay sốt rét. Bệnh sốt rét gây nên 400 đến 900 triệu truờng hợp sốt , và một đến 3 triệu tử vong. Việc sử dụng một thuốc đuổi muỗi không đủ để bảo vệ chống lại muỗi chích và được sử dụng kèm với các thuốc dự phòng.

DEET phổ biến đến độ (200 triệu người dùng mỗi năm) nồng độ của nó thường được chỉ rõ trên các gói thuốc đuổi muỗi vì những liều lượng của nó là một lý lẽ bán : thật vậy các thuốc có nồng độ từ 25 đến 30% DEET có hiệu quả hơn và thời gian tác dụng dài hơn (3 đến 5 giờ chống lại muỗi anophèle).Những lời khuyến nghị hiện hành khuyên không nên dùng DEET nơi những phụ nữ có thai.

Nhưng những công trình mới, được công bố tuần này trong tờ báo chuyên môn BMC Biology gieo một mối nghi ngờ về tính vô hại của thuốc đối với con người. Vincent Corbel của Viện Nghiên Cứu Phát triển Montpellier và Bruno Lapied của đại học Angers (Pháp) và các đồng nghiệp chứng minh rằng thuốc đuổi muỗi này ức chế một enzyme chủ chốt của hệ thần kinh trung ương, acétylcholinestérase, cùng cách với các thuốc trừ sâu carbamate.

Thế mà những thuốc trừ sâu độc cho thần kinh này thường được sử dụng phối hợp với DEET và những nhà nghiên cứu đã khám phá rằng DEET tương tác với các carbamate và làm gia tăng độc tính của chúng.“ Chúng tôi không nói rằng sự sử dụng bình thường của DEET sẽ giết chết người ta. Nhưng rằng ở một vài nồng độ và lúc dùng phối hợp, nó có thể nguy hiểm, đặc biệt là đối với các phụ nữ có thai và các trẻ em ”, Vincent Corbel đã chỉ rõ như vậy.

Các tác giả chủ trương “ thăm dò hơn nữa độc tính của hợp chất này, nhất là sự tương tác của nó với những thuốc khác hay với những thuốc trừ sâu khác có cùng tác dụng ”. Hơn nữa, một trong những giải thích khả dĩ của “ hội chứng của Chiến tranh Vùng Vịnh ” (syndrome de la Guerre du Golfe) là sự sử dụng phối hợp bởi các binh sĩ Hoa Kỳ các thuốc đuổi muỗi này với những nồng độ cao pyridostigmine như chất đối kháng chống lại sự nhiễm độc thần kinh của khí như sarin. Mối liên hệ giữa hội chứng này với một sự tiếp xúc với các chất ức chế acétylcholinestérase dầu sao được xác lập.

Thế thì có nên do dự sử dụng những thuốc đuổi muỗi này hay không ? “ Đó là một phản ứng quá đáng đối với nội dung của công trình nghiên cứu, vốn chỉ phác họa ra một giả thuyết ”, G.S Alfred Bernard, nhà chuyên gia độc chất học của UCL đã giải thích như vậy. Thật vậy cần phải tiếp tục kiểm tra giả thuyết, nhưng ở giai đoạn nghiên cứu này không vì thế chịu bỏ những lợi ích của thuốc chống lại các nguy cơ của các bệnh gây nên bởi muỗi này. So với DDT nổi tiếng, một thuốc trừ sâu organochloré với hậu quả tai hại do độc tính của nó, các organophosphorés không gây những tác dụng mãn tính. Ví dụ chúng không thể đi qua hàng rào nhau nơi người mẹ mang thai. Dĩ nhiên cần phải tôn trọng liều lượng, nhưng những triệu chứng ngộ độc (chảy nước dãi ngẫu nhiên, đống tử khép lại) chỉ đạt được với những nồng độ quan trọng hơn nhiều những nồng độ được sử dụng với các thuốc đuổi muỗi này. Sự đi qua hàng rào da đã bị giới hạn nhờ tính chất thích mỡ (lipophilie) được làm giảm nhiều hơn ”[/i].
(LE SOIR 7/8/2009)

9/ MỘT XÉT NGHIỆM MÁU ĐỂ PHÁT HIỆN NHỮNG BẤT THƯỜNG THAI NHI.

Chẳng bao lâu nữa, chỉ cần lấy máu nơi người mẹ tương lai sẽ cho phép phát hiện nhiều bệnh di truyền trầm trọng của phôi thai.

Chẩn đoán tiền sinh (diagnostic prénatal) của chứng thể ba 21 (trisomie 21), của bệnh mucoviscidose, của những bệnh cơ (myopathies) nặng và của những bệnh di truyền gây tật nguyền nghiêm trọng khác, chẳng bao lâu nữa có thể dựa trên một xét nghiệm máu đơn giản nơi người mẹ. Chính một tờ báo Anh, The Guardian, tiết lộ báo cáo của những công trình nghiên cứu, được tài trợ bởi giới hữu trách y tế Anh (National Health Service) lên đến 2,2 triệu Euro.

Ngày nay, hai kỹ thuật “ xâm nhập ”, được thực hiện giữa tuần lễ thứ 10 và 16 của thai nghén, cho phép chẩn đoán tiền sinh nhiều bệnh di truyền hay nhiễm sắc thể : chọc dò màng ối (amniocentèse) (lấy dịch màng ối và những tế bào mà nó chứa, xuyên qua bọc ối) và sinh thiết lá nuôi (biopsie de trophoblastes, nhau tương lai). Tiếc thay hai kỹ thuật này gây nên các sẩy thai trong khoảng 1% các trường hợp đối với lần đầu và đến 2% các trường hợp đối với lần thứ hai.

Lynn Chitty, thuộc University College Hospital de Londres, đã điều khiển chương trình nghiên cứu này, tỏ ra rất phấn khởi : “ Thật thích thú bởi vì, trong tương lai, để chẩn đoán những bệnh di truyền và những bất thường nhiễm sắc thể nơi các em bé sẽ được sinh ra đời, hàng ngàn phu nữ sẽ không còn phải chịu những phương pháp xâm nhập với nguy cơ gây sẩy thai nữa ”.


TỪ 250 ĐẾN 265 EM BÉ ANH ĐƯỢC CỨU THOÁT.

Chỉ riêng ở Anh, kỹ thuật mới này sẽ cứu mỗi năm 250 đến 265 em bé mạnh khỏe, mà hiện nay chúng phải trả giá cho những kỹ thuật hiện hành. Phương pháp đã hoàn toàn thay thế thủ thuật chọc dò màng ối (amniocentèse) để tìm kiếm những bất tương hợp thai nhi-mẹ của nhóm máu Rhésus (incompatibilités foetomaternelles). Những bất tương hợp này làm các em bé sẽ được sinh ra đời chịu một nguy cơ quan trọng bị chứng thiếu máu chết người.

Nhà tiên phong thật sự của chẩn đoán tiền sinh (diagnostic prénatal) là Dennis Lo, một nhà sinh học, đã chứng minh cách nay khoảng một chục năm rằng ADN lưu thông một cách tự do trong máu người mẹ và có thể được trích ra. Nhưng những tế bào thai nhi lưu thông trong máu là rất hiếm, khoảng 1 trên 10 triệu các bạch cầu và 5 tỷ hồng cầu mỗi ml máu.

Nhiều tiến bộ từ tháng chín năm 2006 đã chuẩn bị địa bàn cho những nghiên cứu người Anh : ví dụ kỹ thuật Iset, được hiệu chính bởi Patrizia Paterlini-Bréchot (đơn vị Inserm 807), đã cho phép tập trung những tế bào thai nhi và phát hiện những biến dị di truyền và những bất thương nhiễm sắc thể với một độ tin cậy bằng với chọc dò màng ối hay sinh thiết lá nuôi (biopsie de trophoblastes). Ví dụ bệnh mucoviscidose, căn bệnh nghiêm trọng phá hủy dần dần các lá phổi của những đứa trẻ bị bệnh, có thể được phát hiện trên thai nhi nhờ tìm kiếm sự biến dị của gène CFTR, chịu trách nhiệm bệnh trong máu của người mẹ.

Tiến bộ khác năm 2008 : các nhà nghiên cứu của đại học Standford cũng đã phát hiện trong máu người mẹ sự hiện diện của nhiễm sắc thể thừa (chromosomes surnuméraires), đặc trưng cho bệnh trisomie.
(LE FIGARO 1/8/2009)

10/ CHỌC DÒ MÀNG ỐI, MỘT KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN TIỀN SINH ĐANG CÀNG NGÀY CÀNG ÍT SỬ DỤNG.

Được thực hiện chủ yếu để xác nhận bệnh thể ba 21 (trisomie 21) nơi một thai nhi, xét nghiệm này càng ngày càng thuờng được tránh sử dụng.

Đó là một thăm khám chuẩn mà nhiều phụ nữ có thai sẽ không cần đến nữa. Khoảng 90.000 thủ thuật chọc dò màng ối được thực hiện mỗi năm ở Pháp (hơn một thai nghén trên 10), một con số theo dự kiến sẽ giảm một nửa trong những năm đến, nhờ một chiến lược mới phát hiện bệnh thể ba 21 (trisomie 21).

Được thực hiện dưới sự kiểm tra của siêu âm vào đầu đệ nhị tam cá nguyệt của thai nghén (giữa tuần lễ mất kinh 15 và 18), thủ thuật này nhằm lấy dịch ối, trong đó thai nhi ngâm mình. Trong hầu hết các trường hợp, mục tiêu là nghiên cứu các nhiễm sắc thể của nó (caryotype) : chủ yếu là để xác nhận hay phủ nhận bất thường nhiễm sắc thế thường gặp nhất : trisomie 21. Thật vậy, một thai nghén trên 700 bị liên hệ bởi nhiễm sắc thể thừa này, một trên 100 khi người mẹ tuổi hơn 40.

Với những kỹ thuật cổ điển, caryotype có được trong khoảng 10 ngày. Những phương pháp nhanh hơn, được sử dụng trong vài khoa sản, cho một kết quả đầu tiên trong 48 giờ. Hiếm hơn, một chọc dò màng ối là cần thiết để tìm kiếm một khuyết tật đóng của tube neural (Spina bifida), những biến dị di truyền (như mucoviscidose hay một bệnh cơ) hay một nhiễm trùng (toxoplasmose, bệnh thủy đậu, rubéole..).

Ngoài chấn thương tâm lý đối với phụ nữ có thai, nguy cơ chính của thủ thuật xâm nhập này là phát khởi một sẩy thai. Tuy nhiên biến chứng này vẫn hiếm : 0,5 đến 1% các trường hợp, và còn ít hơn đối với những người thao tác được huấn luyện.

CÁC PHỤ NỮ LO LẮNG KHÔNG ĐÚNG CHỖ.

Trong trường hợp cổ điển, sự phát hiện bệnh trisomie 21 dựa vào siêu âm của tam cá nguyệt đầu và phân tích các chất chỉ dấu máu vào đầu tam cá nguyệt thứ hai. Trong trường hợp nghi ngờ, một chọc dò màng ối được đề nghị. Khám nghiệm chuẩn này cho phép quyết định, nhưng nhiều phụ nữ (đến 20%) bị lo lắng, nhưng caryotype sau cùng lại hóa ra bình thường.

Vào tháng sáu 2007, Haute Autorité de santé đã khuyến nghị một điều tra phát hiện vào tam cá nguyệt đầu, phối hợp siêu âm và đo nồng độ các chất chỉ dấu mới trong máu, sớm hơn và hiệu quả hơn.

Được áp dụng từ nhiều năm nay trong nhiều nước khác, kỹ thuật mới thực hiện trong một thì này cho phép giảm khoảng 7% so những dương tính giả. Ở Pháp, chiến lược này đã được thiết đặt thành công trong vài khoa sản, đặc biệt là ở Necker (Paris) và ở Hôpital américain de Neuilly.

“ Phương pháp điều tra phát hiện mới này sẽ được phổ biến dần dần kể từ tháng 10 ”, G.S Yves Villes, trưởng khoa Sản Phụ Khoa của bệnh viện Necker đã đánh giá như vậy. Trong một công trình nghiên cứu sơ khởi trên 22.000 phụ nữ được thực hiện bởi vị thầy thuốc này, việc điều tra phát hiện của tam cá nguyệt đầu đã cho phép chia ba số các trường hợp chọc dò màng ối. Các thầy thuốc sản khoa dự kiến ít nhất một sự sụt giảm một nửa số các trường hợp.
(LE FIGARO 1/8/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (16/8/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#16 Posted : Sunday, August 26, 2012 10:01:41 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ Ở CHÂU ÂU MỘT LÀN SÓNG CÚM MỚI CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI HƠN.

Với mùa thu đến, vaccin được cung cấp giới hạn cho những tháng còn lại.

Mối lo âu về một giống cúm mới có thể bớt căng trong mùa hè, nhưng hàng triệu người châu Âu chẳng bao lâu nữa sẽ đón nhận một lời nhắc nhở rõ ràng về tính độc lực của cúm khi các chính phủ đang sửa soạn cho một chiến dịch tiêm chủng đại quy mô nhằm tránh xa một làn sóng nhiễm trùng thứ hai, và có thể gây chết người hơn.

Với một làn sóng các trường hợp virus H1N1 khác, được dự kiến ngay vào tháng chín, các chuyên gia y tế nói rằng cuộc chiến đấu để chế ngự cúm đại dịch đầu tiên trong 4 thập niên qua đang vừa mới diễn ra ở Châu Âu.

Các viên chức y tế của Liên Hiệp Châu Âu nhấn mạnh rằng hầu hết các trường hợp cúm xảy ra nơi người là nhẹ và rằng các bệnh nhân hồi phục mà không cần điều trị gì đặc biệt. Trong một dấu hiệu bình thường khác, một ủy ban của Liên Hiệp Châu Âu tuần qua đã khuyến nghị các trường mở lại như thường sau kỳ nghỉ hè.

Nhưng với lượng vaccin giới hạn, được dự kiến sẽ có để sử dụng năm nay, các giới hữu trách y tế đang chuẩn bị cho nhiều trường hợp cúm hơn cho mùa thu và mùa đông sắp đến, là khi virus sẽ lan tràn dễ dàng hon.

“ Nếu chúng ta bị nhiều nhiễm trùng hơn, thì sẽ có nhiều biến chứng hơn nhiều xảy ra nơi những người có tình trạng bệnh lý và điều này có nghĩa là sẽ có nhiều tử vong hơn nhiều ”, Nigel Dimmock, giáo sư danh dự của khoa sinh học, thuộc Đại Học Warwick ở Anh, và là một chuyên viên về cúm đã nói như vậy.

Cho đến hôm chủ nhật, Trung tâm châu Âu Ngăn ngừa và Kiểm tra Bệnh tật, một cơ quan của Liên Hiệp Châu Âu có căn cứ ở Thụy Điển, đã báo cáo 38.187 các trường hợp được xác nhận và 60 trường hợp tử vong trong các nước châu Âu, so với một tổng số toàn bộ 228.921 các trường hợp được xác nhận và 2.084 trường hợp tử vong trên khắp thế giới. Những con số thống kê này cho thấy rằng châu Âu đã bị một số tương đối nhỏ các trường hợp. Theo Tổ chức y tế thế giới, các nước ở Bắc và Nam Mỹ đã báo cáo đại đa số các trường hợp nhiễm trùng và tử vong. Nhưng đây đúng là lúc, các chuyên gia tin tưởng như thế, các người Âu Châu nên chuẩn bị cho một cuộc bộc phát lan tràn hơn.

Mô hình toàn bộ của sự lan tràn của virus chỉ rõ rằng “ đại dịch chỉ mới bắt đầu ở châu Âu ”, Nikki Shindo, một nữ phát ngôn viên về cúm của OMS đã nói như vậy.

Đến 30% dân chúng Anh có thể bị nhiễm trùng trong mùa cúm đến, theo một nữ phát ngôn viên của Bộ Y Tế Anh. Trong một mùa cúm bình thường, từ 2 đến 15% dân chúng bị gây nhiễm, bà đã nói như vậy.

Cho đến hôm chủ nhật, nước Anh đã có 12.903 những trường hợp được xác nhận và 44 trường hợp tử vong được báo cáo, nhiều nhất trong bất cứ nước châu Âu nào, theo ECDC. Cuối tuần qua, 39 người bị nghi cúm heo được đưa vào phòng hồi sức ở Anh.

Tháng 8 này, các xét nghiệm đã xác nhận những triệu chứng của virus H1N1, không có trường hợp nặng, trên 59 sinh viên và 5 cán bộ giảng dạy của trung tâm ngôn ngữ cho các sinh viên nước ngoài ở Pháp, gần Monaco. Trường xác nhận rằng đã có những trường hợp cúm heo được xác nhận nhưng từ chối cho thêm những bình luận.

Những trường ngoại ngữ khác ở Pháp đã áp dụng những biện pháp thận trọng. Accent Français ở Montpellier, có khoảng 150 sinh viên tuổi 16 hoặc hơn, từ các nước Đức, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh và Hoa Kỳ, đã dự trù mặt nạ và yết thị những thông báo về vệ sinh.

Đến hôm chủ nhật, đã có 1.125 các trường hợp và một tử vong được báo cáo ở Pháp, theo E.C.D.C.

“ Virus hiện giờ không có vẻ hung hãn thái quá, Odile Launay, giám đốc của Trung tâm tiêm chủng học Cochi-Pasteur ở Paris đã nói như vậy, “ nhưng nó có thể trở nên độc lực hơn .”

Bà ta nói rằng các nhà nghiên cứu và các chuyên gia đã ngạc nhiên về sự xuất hiện liên tục các trường hợp mới trong suốt mùa hè, là khi các virus cúm, nói chung, vẫn ít được thấy hơn.

Theo E.C.D.C, Tây Ban Nha đã báo cáo 11 trường hợp tử vong, con số cao thứ hai trong Liên Hiệp Châu Âu, nhưng đã báo cáo 1.538 các trường hợp, ít hơn nhiều so với Anh. Đức đã báo cáo 1.493 những trường hợp được xác nhận, theo ECDC, nhưng không có trường hợp tử vong.Viện Robert Koch, một cơ quan của Đức phụ trách kiểm tra và ngăn ngừa bệnh tật, mới đây đã nói rằng số các trường hợp đã gia tăng đều đặn, với nhiều trường hợp có nguồn gốc bản xứ hơn là từ các công dân trở về từ những chuyến du lịch ra nước ngoài.

OMS đã nói rằng khoảng 1/3 của dân chúng thế giới có thể sẽ bị nhiễm trùng vào lúc đại dịch được xác lập và có thể được xem như là một virus cúm mùa (seasonal flu virus), trong vòng hai đến ba năm.

Thông thường quá trình phát triển vaccin cần thời gian lâu, vì vậy giới hữu trách ở châu Âu đã áp dụng những thủ tục nhanh để có được vaccin càng nhanh càng tốt.

Các công ty dược phẩm như Baxter, GlaxoSmithKline và Novartis đang thích ứng những vaccin hiện có với giống gốc H1N1, theo European Medicines Agency ở Luân Đôn. GlaxoSmithKline và Sanofi Pasteur cũng đang phát triển những vaccin khác “ trên một cơ sở gia tốc ”, cơ quan đã nói như vậy.

Vấn đề cấp bách nhất hiện nay mà các chỉnh phủ đang đương đầu là chọn những nhóm có nguy cơ nhất trong các nước của họ để các tiêm chủng được thực hiện ưu tiên một cách đúng đắn một khi khi chúng trở nên được phổ biến rộng rãi.

“ Sẽ có những quyết định rất phức tạp phải được thực hiện, BS Shinto của OMS đã nói như vậy. “ Không một nước nào sẽ có một cách đúng lúc những lượng vaccin được yêu cầu.”

Bà đã nói rằng bà hy vọng virus sẽ theo một mô hình giống với mô hình của một cúm mùa bình thường, hơn là tiếp tục theo một mô hình được thấy trong vài tháng qua, trong đó những người trưởng thành trẻ, tuổi từ 17 đến 19, là nhóm tuổi thông thường nhất bị bệnh bởi virus.

Có thể có “ một bức tranh hoàn toàn khác với bức tranh mà chúng ta đã thấy trong làn sóng đầu tiên ”, BS Shinto đã nói như vậy. Bà nói thêm rằng virus có thể lan tràn với số lượng lớn hơn nơi những thành viên ít hoạt động hơn của nhóm dân chúng như những người già, những nhỏ tuổi và các phụ nữ có thai.

Quan điểm của BS Shinto phản ánh rộng rãi các kế hoạch của chính phủ Anh, được phát họa hôm thứ năm, đặt ưu tiên tiêm chủng cho khoảng 5 triệu người ở Anh, lớn hơn 6 tháng và dưới 65 tuổi, là những đối tượng dễ bị thương tổn hơn đối với cúm mùa do những tình trạng bệnh như bệnh tim và bệnh đái đường. Hai triệu nhân viên y tế cũng sẽ nằm trong danh sách ưu tiên.

Bộ trưởng y tế Pháp, Roselyne Bachelot, vào cuối tháng 7 đã nói rằng ưu tiên sẽ dành cho các viên chức cao cấp chính phủ và cho những người tiếp xúc nhất với virus qua công việc, như các nhân viên y tế và những người tiếp xúc với . Ở Pháp và ở Anh, các phụ nữ có thai và những người có hệ miễn dịch suy yếu cũng sẽ nhận ưu tiên. Nhưng cả hai chính phủ Anh và Pháp sẽ không thực hiện một chương trình tiêm chủng tổng quát đối với các trẻ ở lứa tuổi học đường.

Mario Vaillo de Mingo, một phát ngôn viên của Bộ y tế Tây Ban Nha, đã nói hôm thứ hai rằng chính phủ của ông đã gởi đơn đặt hàng 57 triệu liều vaccin từ những công ty dược phẩm Novartis và GlaxoSmithKline, và sẽ chuẩn bị tiêm chủng cho 40% dân chúng. Ông nói rằng kế hoạch của Tây Ban Nha cũng đã dự kiến tiêm chủng cho tất cả các trẻ đến tuổi 14 nếu cần.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 18/8/2009)

2/ CÚM A (H1N) : NHỮNG GIAI ĐOẠN CỦA CUỘC CHẠY ĐUA VACCIN.

Chúng ta sẽ có một sự bảo vệ hiệu quả chống virus cúm mới vào mùa thu này hay không ? Các thử nghiệm đang được tiến hành.

Sự hiệu chính các vaccin đặc hiệu chống lại virus cúm mới A (H1N1) là một cuộc chạy đua với thời gian : căn bệnh đã lan truyền trong 170 nước, với một sự gia tăng các trường hợp, đặc biệt ở Nam bán cầu. Những cuộc chạy đua này sẽ được đánh dấu bởi những giai đoạn cần thiết, mà thời gian không thu giảm được, để đảm bảo khả năng của vaccin gây nên một đáp ứng của hệ miễn dịch có hiệu quả, cũng như để phát hiện những tác dụng phụ có thể xảy ra.

Hỏi : Ai chế tạo những vaccin mới ?
Đáp : OMS kiểm kê được khoảng 20 nhà công nghiệp có giấy phép đưa ra thị trường đối với một vaccin chống cúm mùa (vaccin antigrippal saisonnier). 3 phòng bào chế chi phối sự sản xuất trên thế giới : GlaxoSmithKline (GSK) của Anh, Novartis của Thụy Sĩ và Sanofi Pasteur của Pháp.

Hỏi : Việc hiệu chính hiện đang đến đâu rồi ?
Đáp : Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên với các vaccin thí nghiệm đã bắt đầu. BS Marie-Paule Kieny, nữ giám đốc của Initiative pour la recherche vaccinale của OMS, kiểm kê được “ 7 nhà chế tạo đã bắt đầu những thử nghiệm lâm sàng ”, đang được tiến hành “ trong ít nhất 5 nước : Trung Quốc, Úc Đại Lợi, Vương Quốc Anh, Đức và Hoa Kỳ ”.

Thử nghiệm tại châu Âu của Sanofi Pasteur (sẽ diễn ra ở Pháp và Phần Lan) sẽ khởi đầu trong các tuần tới, Benoit Rungeard, giám đốc thông báo sản phẩm của hãng đã chỉ rõ như vậy. Thử nghiệm tại Hoa Kỳ của Sanofi Pasteur đã đang được tiến hành. Cũng vậy, phòng bào chế GSK sẽ tiến hành thử nghiệm châu Âu trong nhiều nước, “ đặc biệt ở Đức, Tây Ban Nha, Bỉ và Pháp ”, BS Soizic Courcier, diecteur médical của GSK đã xác nhận như thế.

Hỏi : Những thử nghiệm này có mục đích gì ?
Đáp : Những thử nghiệm này là cần thiết để xác định liều lượng tối ưu phải tiêm để gây nên một đáp ứng hiệu quả của hệ miễn dịch chống virus. Chúng sẽ cho phép đánh giá sự cần thiết hay không liên kết một chất hỗ trợ (adjuvant), nhằm tăng cường tính hiệu quả của vaccin. Sau cùng những thử nghiệm này sẽ cho phép xác định xem một liều duy nhất là đủ hay phải tiêm hai liều. Vấn đề này là căn bản bởi vì, đối với cùng một số lượng vaccin được sản xuất, số người sẽ có thể được tiêm chủng khi đó thay đổi từ liều đơn hay liều kép.

Hỏi : Các vaccin được chế tạo như thế nào ?
Đáp : Tất cả các hãng bào chế sản xuất từ cùng giống gốc virus, được gởi vào hồi cuối tháng năm bởi những trung tâm công tác của OMS. Những trung tâm này cũng đã gởi những thuốc thử dùng trắc nghiệm tính hiệu quả của vaccin. Chúng được sản xuất từ các protéine bề mặt của virus (mà những chữ đầu là H và N) và từ một giống gốc virus cúm được làm vô hại. Do đó “ virus thuốc chủng ” (virus vaccinal) này là một hybride không sinh bệnh, mang những kháng nguyên đặc hiệu của giống gốc A (H1N1) mà người ta muốn gây miễn dịch chống lại nó. Sự cấy thường được thực hiện trên lòng trắng trứng gà, nhưng cũng trên các tế bào.

Hỏi : Người ta có chắc chắn là các thuốc chủng sẽ có hiệu quả khi cần đến không ?
Đáp : Nếu virus A (H1N1) biến dị nhiều vào mùa thu tới, thì tính hiệu quả của các vaccin có thể bị xét lại. Hiện nay, những biến dị như thế đã không được quan sát thấy.

Hỏi : Sự an toàn của các vaccin được đánh giá như thế nào ?
Đáp : Cũng như mọi thử nghiệm với các sản phẩm y tế, các nghiên cứu được kiểm tra nghiêm ngặt (ủy ban éthique, sự cần thiết của một sự thoả thuận được soi sáng...). Phòng bào chế sẽ nhờ đến một thầy thuốc, trong một bệnh viện hay một trung tâm tiêm chủng. Người thầy thuốc này sẽ là người thăm dò (investigateur) chính, BS Courcier đã giải thích như vậy. Chính trách nhiệm của người thầy thuốc này là tuyển mộ những người tình nguyện, tiến hành thử nghiệm và thu thập các dữ kiện. Số người tham dự (khoảng 1.500 đến 2.000 người) không luôn luôn cho phép phát hiện những tác dụng phụ hiếm hoi. Một theo dõi được dự kiến vào lúc các chiến dịch tiêm chủng.

Hỏi : Ai tham dự vào những thử nghiệm lâm sàng và trong những điều kiện nào ?
Đáp : Đó là những người tình nguyện lành mạnh, đã được đăng ký trên các hồ sơ của những trung tâm thực hiện những thử nghiệm lâm sàng hay được tuyển mộ theo nhu cầu. Ở Pháp, tiền thù lao của một người tham dự những thử nghiệm lâm sàng không thể vượt quá 4.500 euro mỗi năm. Những thử nghiệm của Sanofi Pasteur được tiến hành trên 3 nhóm tuổi (không có thù lao, với sự thoả thuận của bố mẹ), những người trưởng thành và những người già.

Hỏi : Trong những thời hạn nào các thuốc chủng sẽ có để sử dụng ?
Đáp : Theo OMS, một khi một giống gốc mới của virus cúm đại dịch đã được xác nhận, phải cần 5 đến 6 tháng trước khi một vaccin, đã nhận giấy phép đưa ra thị trường, được giao hàng. Sự điều chế và sự kiểm tra giống gốc được sử dụng cho vaccin cần đến hai tháng. Sự chế tạo và sự kiểm tra chất lượng của những lô đầu tiên, dành cho những thử nghiệm lâm sàng, cần 9 tuần.

Những thử nghiệm lâm sàng cần ít nhất 4 tuần. Tiếp theo là thời hạn để xin giấy phép, mà thời gian thay đổi tùy theo cấp điều hòa xem đó là một vaccin mới hay là một sự thay đổi giống gốc đối với một vaccin đã được cho phép. Ngoài ra, trong khung cảnh chuẩn bị vaccin chống virus cúm gà H5N1, các phòng bào chế đã cho đăng ký các “ prototypes ”, điều này làm tăng nhanh thủ tục xin phép.

Dẫu sao, Sanofi Pasteur nghĩ là sẽ có được những kết quả đầu tiên của những thử nghiệm lâm sàng trong vòng tháng mười. Sự sản xuất sau đó sẽ bắt đầu, không phải chờ đợi sự cho phép sau cùng đưa thuốc ra thị trường. Những nhà chế tạo khác có thể đi nhanh hơn : vào đầu tháng tám, bộ trưởng y tế Pháp Roselyne Bachelot đã tuyên bố là muốn tiêm chủng bắt đầu vào cuối tháng chín.
(LE MONDE 16/8-17/8/2009)

3/ MỘT VIRUS BIẾN DỊ TÊN GỌI LÀ LAZARE.

Một sự thất thoát từ phòng thí nghiệm có thể đã làm tái xuất hiện virus cúm Tây ban Nha. Một tổ tiên của H1N1, chịu trách nhiệm đại dịch hiện nay.

Và nếu như cúm đã được gây nên do một sai lầm của con người ? Điều đó có thể giống với một trong những lý thuyết đồng mưu (théorie conspirationniste) đang nảy nở trên Internet. Và tuy vậy, giả thuyết này không có gì là kỳ cục : theo một công trình nghiên cứu được công bố ngày 16 tháng sáu trong tạp chí rất đứng đắn New England Journal of Medicine, virus chịu trách nhiệm dịch cúm hiện nay phát xuất từ một giống gốc của cúm Tây Ban Nha năm 1918, được thả ra trong thiên nhiên sau một tai nạn phòng thí nghiệm, xảy ra trong những năm 1970. Các nhà nghiên cứu của đại học Pittsburgh (Pensylvanie) đã thực hiện một cuộc điều tra cảnh sát thật sự để đi đến kết luận này, bằng cách tái tạo lịch sử của virus từ một thế kỷ, xuyên qua các biến dị và tái phối hợp của bộ gène của nó. Một giống gốc xứng đáng với tên gọi Lazare, bởi vì nó không ngừng biến mất rồi tái xuất hiện.

Sau khi đã gây nên 50 triệu nạn nhân vào đầu thế kỷ XX, virus H1N1 đã tiếp tục lưu hành có tính cách dịch địa phương (endémie) cho đến năm 1957, rồi im đi hoàn toàn, được thay thế bởi những giống gốc cúm mùa khác. Không còn ai nghe nói nữa về nó trong 20 năm, cho đến khi một bệnh dịch kỳ lạ khởi phát vào tháng giêng năm 1976, trong số các binh sĩ của một căn cứ quân sự Mỹ, ở Fort Dix (New Jersey) : 230 quân nhân ngã bệnh, một trong số này tử vong. Các phân tích cho thấy rằng đó là một loại H1N1 mới, phát xuất từ một giống gốc của sốt heo (fièvre porcine), lưu hành một cách dịch địa phương trong những trại chăn nuôi của vùng. Chính phủ của Gerald Ford hoảng hồn và phát động một chiến dịch tiêm chủng : 40 triệu người Mỹ nhận các mũi tiêm, nhưng 532 người phát triển một hội chứng Guillain Barré, một bệnh tự miễn dịch gây nên do những tác dụng phụ của vaccin, và 32 người chết vì biến chứng này. Chiến dịch được quyết định vội vàng là một tai họa vô ích : giống gốc thì ra ít độc lực hơn một cúm mùa và nó không có vẻ lan tràn ra ngoài căn cứ quân sự của New Jersey.

Tuy vậy, vài tháng sau đó, vào tháng 1/1977, một bệnh dịch cúm khác xảy ra ở Liên Sô, Hồng kông và miền bắc Trung Quốc. Ngạc nhiên : đó lại là virus H1N1, khác với virus H1N1 của căn cứ quân sự Mỹ ở Fort Dix, nhưng rất gần với H1N1 của đại dịch toàn cầu 1918, mà người ta tin là đã được dập tắt ! Những bệnh dịch gây nên bởi các virus tương tự nhau đến độ đó chỉ có thể là một giống gốc từng đuợc bảo quản trong một máy đông lạnh. Những virus được đông lạnh này có lẽ đã không hoạt động trong suốt hai thập niên. “ Chúng tôi không thể nhận diện thủ phạm, nhưng sự tái xuất hiện của H1N1 trong năm 1977 dường như được gây nên bởi con người ”, Shanta Zimmer, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. Từ thời điểm này (1977), virus đã không ngừng lưu hành, dưới rất nhiều biến thể, động vật hay người. Gần một nửa bộ gène của giống gốc 2009 bao gồm những phần tử của cúm Tây Bạn Nha nổi tiếng của cuối Đệ Nhất Thế Chiến. Ai có thể đã đưa nó lưu hành trở lại ? Các mối nghi ngờ hướng về phía Nga hay Trung Quốc, là nơi đại dịch 1977 đã khởi phát, nhưng các giới hữu trách y tế của hai nước này cật lực đính chính. Các người Mỹ cũng có thể có phần trách nhiệm. Bệnh dịch Fort Dix đã gây nên một nỗi hoảng sợ, trong nhiều tháng trời đã chiếm các trang đầu của các tờ báo bên kia Đại Tây Dương. Biến cố đã lôi kéo sự chú ý của các nhà dịch tễ học trên toàn thế giới và đã gây nên một làn sóng nghiên cứu khoa học về H1N1, thúc đẩy các nhà sinh học mở hộp Pandore, bằng cách mang ra trở lại các mẫu nghiệm của giống gốc năm 1918, vốn được bảo quản trong các máy lạnh của phòng thí nghiệm.
(EXPRESS 20-26/8/2009)

4/ TẠI SAO VÀI NGƯỜI LÀ NHỮNG NGƯỜI DẬY SỚM.

NEUROLOGIE. Một biến dạng di truyền (mutation génétique) hiếm giải thích rằng vài người chỉ cần ngủ 4 đến 6 giờ.

Đại đa số cần ngủ 8 giờ mỗi đêm. Một số nhỏ, không uống cà phê lẫn các chất kích thích, chỉ ngủ 6 thậm chí 4 giờ mỗi đêm. Những người này, ngủ vào lúc 22 giờ và thức dậy, tươi mát như một đóa hoa hồng vào 4 giờ sáng và bắt đầu làm việc, trong khi những người đồng loại vẫn còn nằm trên giường, say sưa trong một giấc ngủ không kìm hãm được. Những người dậy sớm (lève-tôt) này, làm thèm muốn những người không hài lòng rằng ngày của họ không đủ dài để có thể hoàn thành các dự án, thật ra là những người có các gène biến dị (mutants). Họ có một sự biến dị lên một gène (DE2), mà những người khác không có.

Nhóm của các chuyên gia thần kinh, được lãnh đạo bởi Ying Hui-fu, thuộc đại học Californie ở San Francisco, có một con chủ bài lớn trong nghiên cứu : ngân hàng ADN của 60 gia đình người Mỹ có những rối loạn về giấc ngủ, đã chấp nhận cho họ một mẫu nghiệm máu. Thật vậy vào năm 2001 và 2005, các nhà nghiên cứu California đã nổi danh do nhận diện một sự biến dị trên một gène (Per2), can thiệp trong những chu kỳ của giấc ngủ, nguồn gốc của một rối loạn rất đặc biệt : hội chứng gia đình giai đoạn giấc ngủ tiến triển (Syndrome familial de phase de sommeil avancé, tiếng Anh là FASPS). Những người bị bệnh này có một thời gian ngủ 8 giờ giống hệt với thời gian trung bình của con người, nhưng giấc ngủ này hoàn toàn bị xê xích trong thời gian. Thật vậy, những bệnh nhân này ngủ vào khoảng 18 giờ hay 19 giờ và thức dậy lúc 3 giờ hay 4 giờ sáng, khi mọi người đang còn ngủ.

Từ lúc có được khám phá này, các nhà nghiên cứu khai thác các dữ kiện ADN mà họ có được. Công trình của họ tiến từng bước nhỏ, nhưng tiến triển. Chính như thế mà họ vừa nhận diện được một sự biến dị trên một gène (DEC2) nơi một bà mẹ và đứa con gái chỉ cần ngủ 6 giờ mỗi ngày. Thế mà sự biến dị này không xảy ra nơi 5 thành viên khác của cùng gia đình ; những người này như đại đa số dân chúng cần ngủ 8 giờ mỗi ngày. Gène DEC2 can thiệp trong nhịp sinh học (rythme circadien), điều hòa sự phân chia tế bào, can thiệp vào lúc ngủ và oxygénation.

MỘT HỆ THỐNG PHỨC TẠP.

Sự biến dị được khám phá bởi Ying Hui-fu và nhóm nghiên cứu của ông rất là hiếm. Họ đã chỉ tìm thấy điều đó trong ADN của hơn 250 người mà họ đã phân tích vào dịp này. Tuy vậy họ đã có thể kiểm tra tính hiệu quả của nó lúc đưa vào gène bị biến dị (gène muté) nơi các con chuột chuyển di truyền (souris transgénique), mô hình động vật tốt nhất để nghiên cứu giấc ngủ. Họ đã quan sát thấy rằng các con chuột bị biến đổi này ngủ ít hơn và cần hồi sức ít hơn lúc chúng bị làm mất ngủ. Cũng vậy nơi các drosophiles bị biến đổi về mặt di truyền.

“ Câu hỏi muốn biết người ta cần ngủ bao nhiêu không những chỉ có lợi ích thực tiễn mà nó còn giúp chúng ta hiểu tốt hơn giấc ngủ vận hành như thế nào ”, Mehdi Tafti thuộc đại học Lausane đã phân tích như vậy. Thật vậy, giấc ngủ là một hệ thống phức tạp mà các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa hiểu được. Đặc biệt họ có nhiều khó khăn trong việc làm sáng tỏ những mối tương tác giữ các nhịp sinh học (rythme circadien), con lắc (balancier) thức (veille) và ngủ (sommeil) (homéostasie: hằng nội môi), môi trường và các gène mà ngày nay người ta còn đo lường vai trò chủ chốt.
(LE FIGARO 17/8/2009)

5/ “ ĐỒNG HỒ SINH HỌC CHỐNG LẠI GIẤC NGỦ ”.

COGNITION. Những người ngủ muộn (couche-tard) vẫn tỉnh táo lâu hơn những người ngủ sớm (lève-tôt), một công trình nghiên cứu chụp hình ảnh não bộ tiết lộ như vậy. Lúc thực hiện như thế, công trình này chứng minh vai trò chủ chốt của đồng hồ sinh học (horloge circadien) trong sự đề kháng của chúng ta chống lại giấc ngủ.

Hỏi : Sự cảnh giác (vigilance) của chúng ta tiến triển trong ngày. Tại sao ?
Pierre Maquet : Chúng ta biết rằng hiện tượng này liên kết với hai yếu tố, đồng hồ sinh học nội tại (horloge circadien interne), mà trung tâm là một nhân nhỏ nằm trong vùng dưới đồi (hypothalamus) ở trung tâm não bộ, và nội hằng định (homéostasie) hay áp lực ngủ (pression de sommeil), nghĩa là nhu cầu ngủ gia tăng với thời gian trôi qua trong ngày. Nhưng người ta không biết hai yếu tổ này tương tác với nhau như thế nào. Chúng tôi đã muốn hiểu điều đó bằng cách nhờ đến chụp hình ảnh não bộ (imagerie cérébrale).

Hỏi : Ông đã tiến hành như thế nào ?
Pierre Maquet : Chúng tôi đã quyết định nghiên cứu hiện tượng này nơi những người dậy rất sớm (extrêmes lève-tôt) (ngày mẫu : 5 giờ –20 giờ) và những người ngủ rất trễ (extrêmes couche-tard) (11 giờ-2 giờ) bởi vì những yếu tố đồng hồ sinh học (circadien) và nội hằng định (homéostasie) rất khác nhau nơi hai loại người này. Chúng tôi đã thực hiện hai buổi chụp hình ảnh bằng résonance fonctionnelle với họ, một vào buổi sáng, 1 giờ 30 sau khi thức dậy và một vào buổi chiều, 10 giờ 30 sau khi thức dậy, trong suốt những thời gian này họ phải thực hiện một công tác rất đơn giản được gọi là thời gian phản ứng (temps de réaction) : nhìn một đồng hồ bấm giờ (chronomètre) được điều chỉnh ở mức zero và làm dừng lại ngay khi đồng hồ khởi động. Chúng tôi muốn phân biệt giữa những đáp ứng não bộ của chúng, chịu trách nhiệm thời gian phản ứng trung bình và nhanh.

Hỏi : Ông đã nhận thấy gì ?
Pierre Maquet : Không có một sự khác nhau nào giữa hai nhóm vào buổi sáng. Ngược lại vào buổi tối, những người dậy rất sớm (extrêmes lève-tôt), để duy trì một hiệu nang trung bình, hoạt hóa vùng đồi thị (thalamus), một vùng thường được kích thích nơi những người bình thường, khi họ bị thiếu ngủ. Những người ngủ muộn (couche-tard) không cần điều đó. Ngoài ra, những người ngủ muộn đã thành công phản ứng nhanh bằng cách hoạt hóa đồng hồ sinh học nơi não bộ, điều mà những người dậy sớm không thực hiện được. Nói một cách khác, sau một ngày 10 giờ 30 , những người ngủ muộn thức tỉnh hơn những người ngủ sớm, và họ cưỡng lại tốt hơn áp lực ngủ nhờ đồng hồ sinh học của họ.

Hỏi : Chúng ta có thể kết luận điều gì ?
Pierre Maquet : Chúng ta phải tôn trọng nhịp sinh học (rythme biologique) của chúng ta : để làm việc buổi tối, một người dậy sớm sẽ rút từ kho dự trữ của mình trong khi một người ngủ muộn sẽ được giúp đỡ bởi đồng hồ sinh học (horloge circadienne) của họ.
(LA RECHERCHE 7-8/2009)

6/ MỘT ĐIỀU TRỊ CHỐNG LẠI CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

Bằng cách phối hợp hai kỹ thuật, thần kinh học can thiệp (neurologie interventionnelle) tỏ ra rất hiệu quả chống lại những tai biến mạch máu não.

Một thủ thuật mới điều trị cấp cứu các tai biến mạch máu não vừa được hiệu chính ở bệnh viện Bichat. Được tiến hành phối hợp với Samu, lính cứu hỏa và các trung tâm tiếp nhận thần kinh-mạch máu (centre d’accueil neurovasculaire) (có 8 trung tâm ở nội thành Paris), thủ thuật mới này tỏ ra quyết định trong việc khai thông và tái thông dòng (recanaliser) động mạch hay các động mạch não bị bít tắc bởi một cục máu đông và cải thiện một cách đáng kể tỷ lệ sinh tồn. Hiện nay, đó chỉ là một kinh nghiệm nghiên cứu lâm sàng, chỉ được tiến hành trong bệnh viện này, và trên vài chục bệnh nhân. Công trình nghiên cứu Recanalise, được lãnh đạo bởi G.S Pierre Amarenco ở trung tâm tiếp đón và và điều trị tai biến mạch máu não (centre d’accueil et de traitement de l’attaque cérébrale) của bệnh viện Bichat, vừa được công bố bởi tạp chí The Lancet.

Trên 150.000 các tai biến mạch máu não (AVC) xảy ra mỗi năm ở Pháp, 30.000 xảy ra nơi những người dưới 50 tuổi. Một sự yếu vận động đột ngột hay một sự bại liệt bán thân, một rối loạn đột ngột vận ngôn, một sự chóng mặt, rối loạn thị giác, một sự tê cóng của một phần của cơ thể phải được thăm khám tức thời, bởi vì đó là một cấp cứu tuyệt đối (urgence absolue). Từ 15 năm nay, điều trị chuẩn được công nhận bởi Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits da santé), đối với những bệnh nhân có một tai biến mạch máu não do tắc nghẽn một động mạch não, là một điều trị tĩnh mạch (traitement intraveineux), căn cứ trên một thuốc enzyme, RTPA (activateur de plasminogène tissulaire), làm tan cục máu đông.

Điều trị này chữa lành bệnh nhân trong 40% các trường hợp nhưng chỉ với điều kiện thuốc được tiêm duới 3 giờ sau những triệu chứng đầu tiên. Và RTPA chỉ khai thông động mạch bị bít tắc của não bộ trong 25 đến 60% các trường hợp (và 30% các bệnh nhân có động mạch bị bịt tắc trở lại).

Có một phương cách khác : đưa thuốc trực tiếp vào tiếp xúc với cục máu đông (caillot) : đầu mút của một cathéter nhỏ xíu được đưa lên qua động mạch đùi, động mạch chậu, động mạch chủ, và động mạch cảnh. RTPA được tiêm lúc tiếp xúc với cục máu đông (kissing the clot). Được thực hiện trong 6 giờ, kỹ thuật này cho phép khai thông động mạch trong 60 đến 70 % các trường hợp.

ĐƯỢC TIÊM TIẾP XÚC VỚI CỤC MÁU ĐÔNG.

Sau cùng, các thầy thuốc đã tưởng tượng ra (và sử dụng một cách thí nghiệm) các dây thòng lọng (lasso), các rổ (panier) hay các mở nút chai (tire-bouchons) bé xíu, được đưa vào đầu của các cathéter để lấy cục máu đông đi một cách cơ học.

Công trình nghiên cứu Renalise phối hợp hai phép điều trị : ngay khi chẩn đoán tai biến mạch máu não được thực hiện bằng hình ảnh ở bệnh viện, RTPA được tiêm truyền tĩnh mạch. Không để mất thời gian, bệnh nhân được mang đến salle de cathétérisme. Người ta đưa một ống thông lên trong động mạch của bệnh nhân và RTPA được tiêm vào lúc cathéter tiếp xúc với cục máu đông.

Trong thời gian đầu, nhóm nghiên cứu của bệnh viện Bichat đã điều trị bằng RTPA tiêm tĩnh mạch nơi chỉ 107 bệnh nhân trong số 173 trường hợp tai biến mạch máu não giữa tháng hai 2002 và tháng tư 2007. Kết quả : 52% các động mạch đã được “ khai thông ”. Rồi giữa tháng năm 2007 và tháng 10 năm 2008, kỹ thuật tiêm trong động mạch (technique intra-artérielle) đã được thêm vào cho 53 bệnh nhân trong số 122 người bệnh được đưa vào trong nhóm này : sự khai thông trở lại đã có hiệu quả trong 87% các trường hợp. Tác động lên số trường hợp được chữa lành là quan trọng: 60% các bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp mới đã thấy các triệu chứng được cải thiện hay biến mất, so với 39% các bệnh nhân được điều trị bằng đường tĩnh mạch quy ước.

Động mạch được khai thông càng nhanh thì kết quả càng tốt : nếu can thiệp xảy ra dưới 3 giờ 30 sau khởi đầu của các triệu chứng tai biến mạch máu não, 93% các bệnh nhân được chữa lành tức thời và vẫn như vậy sau 3 tháng theo dõi.

Chỉ có vấn đề là cuộc chạy đua với thời gian này sẽ tốn kém về mặt nhân lực và sự vận hành chức năng của các khoa cấp cứu thần kinh-mạch máu (urgences neurovasculaires), được huy động đồng thời với các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh quang tuyến (neuroradiologie).
(LE FIGARO 21/8/2009)

7/ HẦU HẾT CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO (AVC) TÁI PHÁT XẢY RA TRONG 24 GIỜ SAU MỘT TAI BIẾN THIẾU MÁU NÃO CỤC BỘ TẠM THỜI (AIT).

Gần một nửa các tai biến mạch máu não (AVC : accident vasculaire cérébral), xảy ra trong 7 ngày sau một tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (AIT : accident ischémique transitoire), được khởi phát trong 24 giờ đầu. Chính vì thế việc đánh giá những bệnh nhân này phải được xem như là vô cùng khẩn cấp (extrêmement urgent) chứ không chỉ đơn thuần là nhanh chóng.

Đó là điều mà các nhà nghiên cứu người Anh đã giải thích trong Neurology. Vài khuyến nghị mới đây khuyên đánh giá các bệnh nhân bị một tai biến thiếu máu não cục bộ tạm thời (AIT : accident ischémique transitoire) hay một thiếu máu não cục bộ tạm thời (ischémie cérébrale transitoire) trong vòng 24 giờ, nhưng người ta không biết bao nhiêu tai biến mạch máu não tái phát xảy ra trong những giờ đầu này, cũng như không biết điểm số ABCD2 có xác định một cách đáng tin cậy các tái phát trong giai đoạn này hay không.

Peter Rothwell và các cộng sự viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu về các tai biến thiếu máu não cục bộ tạm thời (AIT) và các tai biến mạch máu não (AVC : accident vasculaire cérébral) (Oxford Vascular Study). Họ đã xác định nguy cơ tai biến mạch máu não tái phát vào lúc 6, 12 và 24 giờ, được định nghĩa như là sự xuất hiện đột ngột những triệu chứng thần kinh sau một hồi phục ban đầu.

Trong số 1.247 bệnh nhân đầu tiên bị AIT hay AVC, 35 bệnh nhân đã bị những tai biến mạch máu não tái phát trong 24 giờ, tất cả trong cùng vùng chi phối bởi động mạch. Những nguy cơ AVC vào lúc 6, 12 và 24 giờ sau 488 AIT đầu tiên là 1,2%, với 42% các AVC trong 30 ngày sau một AIT xảy ra trong 24 giờ đầu. Nguy cơ vào lúc 12 và 24 giờ được liên kết mạnh với điểm số ABCD2. Vài trong số các bệnh nhân đã tham gia một thử nghiệm đánh giá cấp cứu sau một AIT và ngay những người đã hướng một đánh giá tương đối cấp cứu đã bị những đợt mới trước đánh giá này.

Đối với các tác giả, sự kiện khoảng một nửa các AVC tái phát trong 7 ngày sau một AIT xảy ra trong 24 giờ đầu nhấn mạnh sự cần thiết một đánh giá cấp cứu. Các chuyên gia nhấn mạnh, và rất đúng : sau một tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (AIT), bệnh nhân phải được nhập viện càng nhanh càng tốt, để cho phép tìm kiếm và điều trị những yếu tố nguy cơ có can dự trong trường hợp của mỗi cá thể.

Những khuyến nghị hiện nay xác lập rằng một tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (AIT) phải được thăm dò bởi một thầy thuốc chuyên khoa trong vòng 24 giờ. Công trình nghiên cứu cho thấy rằng 64% các bệnh nhân đã bị một cơn mới trong 24 giờ sau AIT, đã thăm khám thầy thuốc trước cơn mới này. Nhưng không có bệnh nhân nào đã được cho aspirine. Thật vậy, tất cả những nạn nhân của AIT phải nhận aspirine và phải được thăm dò càng nhanh càng tốt. Trong mục đích xác định mức độ cấp cứu của sự thăm dò cần được thực hiện, một algorithme căn cứ trên thang ABCD2 được xác lập. Người ta xét đến tuổi trên 60 (1 điểm), cao huyết áp tâm thu (1 điểm), cao huyết áp tâm trương (1 điểm), liệt nhẹ một bên (2 điểm) hay rối loạn lời nói không do vận động (1 điểm), các triệu chứng kéo dài dưới 60 phút (1 điểm), và bệnh đái đường (1 điểm). Một thầy thuốc chuyên khoa phải nhất thiết được hội chẩn trong 24 giờ khi điểm số > hoặc = 4, một thời hạn tối đa một tuần có thể dành cho những trường hợp khác.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/6/2009)
(LE GENERALISTE 25/6/2008)

8/ BỆNH LAO ĐỀ KHÁNG THUỐC ĐANG THẮNG THẾ.

Các nhà nghiên cứu từng hy vọng rằng các vị khuẩn lao kháng thuốc ít lay truyền hơn. Nhưng không phải như vậy.

Tin xấu trên mặt trận chống lao, bệnh giết chết mỗi năm khoảng 1,6 triệu người trên thế giới. Các giống gốc vi khuẩn của căn bệnh hô hấp này càng lúc càng tỏ ra có khả năng đề kháng đối với các kháng sinh hiện có và đang thắng thế. Khuynh hướng này phải chăng là do một sự theo dõi điều trị kém, cho phép các vi khuẩn biến dị xuất hiện và lấn át các vị khuẩn nhạy cảm với thuốc ? Hay là do khả năng tự nhiên của các “ siêu vi khuẩn ” mới làm lây nhiễm con người ?

Giả thuyết thứ hai này, khiến giới y khoa lo sợ, dường như được xác nhận bởi hai công trình nghiên cứu mới đây. Công trình thứ nhất, do một nhóm nghiên cứu người Úc thực hiện, cho thấy rằng cái giá phải trả của chuyển hóa không ảnh hưởng lên khả năng của trực khuẩn Koch truyền từ người này qua người khác. Hy vọng là những giống gốc không đề kháng (souches non résistantes) sẽ giữ ưu thế trong ổ sinh thái (niche écologique) của chúng, đó là 2/3 nhân loại bị nhiễm một cách tiềm tàng, ở đó các vi khuẩn yên ngủ trong lúc chờ đợi chuyển qua tấn công khi hệ phòng thủ miễn dịch bị suy giảm. Trong trường hợp phát bệnh, các thuốc lúc đó sẽ có hiệu quả.

Tiếc thay, sơ do này dường như bị công kích kịch liệt. Mark Tanaka (đại học Nouvelle-Galles-du Sud, Kensington, Úc ) và các đồng nghiệp đã phác họa những mô hình toán học, từ các vi khuẩn đa đề kháng (bactéries multirésistantes) được lấy ở Venezuela (từ năm 1936 được tiếp nhận một kế hoạch có hiệu quả chống bệnh lao), ở Cuba và ở Estonie, ở đây nhưng cố gắng dự phòng được thực hiện lẻ tẻ hơn nhiều.

Những mô hình này cho thấy rằng sự thịnh hành của những giống gốc đề kháng (souches résistantes) phát sinh ở Cu Ba và Estonie không còn do việc cho thuốc nữa, mà từ nay nó có thể được quy cho sự lan truyền giữa các cá thể. Tình hình khác với Venezuela, ở đây các giống gốc đề kháng ít có thời gian hơn để tiến triển và có được, do biến dị, nhưng khả năng lan truyền tốt hơn.
(LE MONDE 17/8/2009)

9/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ TỰ TỬ NƠI CÁC NGƯỜI TRẺ TUỔI.

Những thanh niên dưới 25 tuổi tiêu thụ các thuốc chống trầm cảm (antidépresseurs) có nguy cơ có những ý nghĩ tự tử (pensées suicidaires) hai lần nhiều hơn những người sử dụng một placebo. Như thế các người trẻ tuổi có cùng nguy cơ với các thiếu niên và các muốn kết liễu cuộc đời.

Tác dụng nổi bật nhất nơi các thiếu niên uống những viên thuốc này nhưng bị một rối loạn tâm thần khác với bệnh trầm cảm (dépression). Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được công bố trong tạp chí y học British Medical Journal.

Công cuộc điều tra đã phân tích 372 công trình nghiên cứu, trong đó 12 loại thuốc chống trầm cảm khác nhau đã được trắc nghiệm. Những người trưởng thành trên 25 tuổi không còn có nữa những ý nghĩ tự tử và các lão niên trên 65 tuổi có ít hơn những ý nghĩ này khi họ sử dụng các thuốc chống trầm cảm.

“ Rõ ràng là các thuốc chống trầm cảm được đặc trưng bởi hiệu năng và những tác dụng phụ khác nhau ”, giáo sư John Geddes (đại học Oxford) đã chỉ rõ như vậy. Ông khuyên các thầy thuốc giới hạn việc cho toa các thuốc chống trầm cảm nơi các người dưới 18 tuổi và khuyến nghị liệu pháp nhận thức (thérapie cognitive).

Nhà nghiên cứu Marc Stone nói thêm rằng các kết quả của công trình nghiên cứu bảo vệ ý tưởng cho rằng các thuốc chống trầm cảm có thể gây nên những tác dụng độc lập : những tác dụng phụ bao gồm những tư tưởng và hành vi tự tử và tác dụng bảo vệ làm giảm sự trầm cảm và do đó làm giảm các nguy cơ tự tử.
(LE GENERALISTE 20/8/2009)

10/ CÁI BỤNG BỰ CỦA NGƯỜI UỐNG BIA : MỘT HUYỀN THOẠI ?

Niềm tin dân gian cho rằng người uống bia mang những dấu hiệu nghiện nơi chiếc bụng bự của minh. Nhưng có chính xác là việc uống bia xác định một cách trực tiếp vòng thân (tour de taille) ? Các nhà nghiên cứu người Đức và Thụy Điển đã nghiên cứu sự liên kết của hai yếu tố này.

Trong công trình nghiên cứu Epic (European Prospective Investigation into Cancer and Nutrition), được thực hiện ở Potsdam (7.876 đàn ông, 12.749 phụ nữ), M. Schutze đã ghi nhận việc uống bia vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu và đã theo dõi tiến triển của vòng thân trong 8,5 năm.

Sau khi thực hiện sự điều chỉnh đối với sự tiến triển của thể trọng và của vòng háng (tour de hanche), các nhà nghiên cứu đã nhận thấy một sự liên kết duong tính nơi đàn ông, nhưng không nơi phụ nữ, giữa sự tiêu thụ bia và vòng thân (tour de taille) vào lúc đầu công trình nghiên cứu. So với những người uống rất ít, những người đàn ông uống một lít bia mỗi ngày có thêm 17% nguy cơ thấy vong thân gia tăng.

Đối với các tác giả, uống bia làm gia tăng vòng thân, nhung vòng thân này liên kết mật thiết với sự lên cân đồng thời nói chung. Kết luận, các kết quả của công trình nghiên cứu không xác nhận niềm tin dân gian thông thường cho rằng bia có tác dụng đặc biệt lên bụng. Đối với một vài người, nếu mỡ bụng tích tụ ở đó, điều này đúng hơn là do sự nhàn rỗi không hoạt động, vệ sinh ăn uống kém, chứng nghiện thuốc lá...
(LE JOURNAL DU MEDECIN 21/8/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (24/8/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#17 Posted : Sunday, August 26, 2012 10:03:29 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHỮNG TRẬN ĐẠI DỊCH LỚN THỜI TRUNG CỔ.

Đại dịch (Pandémie)... Cái chữ chứa đầy sự đe doạ này đã tái xuất hiện với bệnh cúm mexico, như vậy chứng minh rằng loài người mặc dầu đã đạt được những tiến bộ khó tin trong lãnh vực y khoa và vệ sinh, vẫn không tránh được các tai ương mà người ta tưởng là đã vĩnh viễn chế ngự được. Từ khi sự sống xuất hiện trên trái đất, từ khi con người, theo sơ đồ của Darwin, là phát triển cuối cùng, các bệnh tật vẫn hiện diện cùng với sự lây nhiễm được gây nên bởi nhiều trong số các chứng bệnh này. Thời sự làm chúng ta hồi tưởng lại những tai ương lớn đã giáng xuống châu Âu trong một phần lớn của thời kỳ Trung Cổ, ngăn cản như thế mọi sự tiến triển dân số, còn tệ hơn là trong vài thời kỳ lịch sử, đã gây nên một sự thoái lui ngoạn mục. Có lẽ trong số những bệnh dịch mạnh mẽ nhất mà hành tinh đã trải qua, có trận dịch của bệnh dịch hạch đen (peste noire), xuất hiện vào năm 1346 và đạt đến tuyệt đỉnh của nó hai năm sau đó. Những tàn phá như thế đã được biết rõ suốt trong thời kỳ Thượng Cổ, nhưng hiện tượng các thành phố xuất hiện ngay thế kỷ thứ X sẽ làm dễ sự lan tràn nhanh chóng của bệnh dịch.

SỰ BẤT LỰC LÀ THUỐC ĐIỀU TRỊ DUY NHẤT.

Từ Phương đông, dịch hạch xâm chiếm Sicile ngay năm 1346, Constantinople, Hy Lạp và một phần của Ý vào đầu năm 1347. Dịch hạch đã gây nhiều tử vong đến độ nó buộc giáo hoàng phải thừa nhận sông Rhône như là nơi an nghỉ cuối cùng của những xác chết, mà người ta không biết phải làm gì với chúng. Một lời chứng đặc biệt hùng hồn cho chúng ta biết tất cả hoặc hầu như tất cả những biểu hiện của căn bệnh này. Lời chứng này xảy ra cùng thời và là tác phẩm của một học giả vì lẽ được ký bởi tu sĩ dòng franciscain Michel di Piazza : “ Vào đầu tháng 10 của năm 1347, hai thuyền chiến (galères) thuộc những người dân của thành Gênes, trốn sự nổi giận lôi đình của trời mà họ đã nhen nhúm lên do những hành động gian ác của họ, đã đi vào trong hải cảng Messine. Những người dân thành Gênes này mang nơi họ một căn bệnh độc lực đến độ, những người vô phước ngỏ lời với họ đã mắc phải một căn bệnh chết người, vô phương cứu chữa … họ cảm thấy những cơn đau nhói đi xuyên qua thân thể, không còn sức lực. Chẳng bao lâu sau đó, trên đùi hay phần trên của cánh tay xuất hiện một hạch xoài (bubon) có kích thước của một đậu lăng (LEntille), mà những người bình dân gọi là “ hạch xoài lửa ” (bubon de feu). Áp-xe này gây nhiễm trùng toàn cơ thể đến độ bệnh nhân mửa ra máu, với một sức mạnh phi thường. Những cơn mửa này kéo dài trong 3 ngày bởi vì không có cách gì làm ngừng lại được, trong khi người bệnh thở hắt ra và chết. Sau khi những người dân của thành Messine khám phá ra rằng sự chết đột ngột này phát xuất từ những người dân thành Gênes, thì họ vội vàng tống xuất những người này ra khỏi thành phố và hải cảng của họ. Nhưng căn bệnh vẫn tồn tại và là nguyên nhân của một số lượng người chết khủng khiếp. Chẳng bao lâu, người ta thù hằn nhau đến độ nếu một đứa con trai bị bệnh, thì bố từ chối săn sóc nó. Dẫu sao, nếu người cha dám đến gần người bệnh, thì ông ta bị lây nhiễm ngay và không thể thoát tử vong xảy ra trong vòng 3 ngày. Chưa phải là hết : những người bà con thân thuộc, tất cả những kẻ sống trong cùng nhà người bệnh và ngay cả mèo và những gia súc khác cũng chết theo người bệnh.” Sự mô tả thật khủng khiếp khi ta biết rằng những nạn nhân của căn bệnh đã không có thì giờ để sắp xếp công việc trước khi chết, cũng như không kịp nhận lễ xức dầu thánh (onction), điều này là điều không thể tưởng tượng được ở Tây phương Cơ đốc giáo. Michel di Piazza tâm sự với chúng ta rằng, vài vị linh mục, sau khi chỉ kịp nghe xong lời thú tội cuối cùng của người hấp hối, thì đã bị quật ngã tức thời bởi căn bệnh và chết gần như lập tức bên cạnh bệnh nhân. Đến độ dân chúng của thành Messine phải quyết định rời bỏ thành phố để đi tị nạn và cắm trại giữa những khu vườn nhỏ, còn những người dân khác thì thích lánh mình ở Catane hơn.

Hai thuyền chiến, bị đuổi ra khỏi thành Messine, tiếp tục gieo chết chóc xuyên qua nước Ý. Pise và Toscane đến lượt bị dịch bệnh, bị phá hủy đến tận tổ chức xã hội, mà Boccace sẽ kể lại như sau : “ Người ta không còn giúp đỡ cho nhau nữa, người ta chẳng bận tâm đi thông báo cho những thành viên của gia đình. Các người bệnh bị bỏ rơi, tai ương này làm chai cứng các trái tim đến độ anh bỏ em , chú bỏ cháu , vợ bỏ chồng ; lại còn tệ hại hơn và gần như khó tin, cha và mẹ bỏ chạy trốn khỏi con cái.”

Vậy y khoa và các thầy thuốc đã có thể mang lại những phương thuốc nào ? Họ chỉ có một câu trả lời duy nhất, đó là sự bất lực. Họ không thể hành nghề vi sợ đến lượt mình sẽ bị lây nhiễm và do đó sẽ chẳng nhận được một lợi tức nào. Tuy nhiên người thầy thuốc của giáo hoàng Clément VI đã chứng thực rằng vài người bệnh sống sót vì lẽ các hạch xoài của họ đã có thể chín mùi. Những phương thuốc duy nhất được biết là từ đại học y khoa Paris và tuy vậy đó chỉ là những điều cấm chỉ : không được ăn thức ăn lạnh và cá bởi vì cá sống dưới nước. Sự kích động, sự giận dữ và sự say sưa có tiếng là nguy hiểm. Vài thầy thuốc, dám mạo hiểm đến gần các bệnh nhân của họ, mặc một chiếc áo choàng dài, tận cùng bởi một đôi gant và một mặt nạ, ở đầu mặt nạ có một máy hô hấp với các cỏ thơm nhằm thanh lọc không khí. Đó cũng là những bát sữa tươi, được đặt trong các phòng ngủ và cực chẳng đã, người ta đặt lên môi của người hấp hối bánh mì nóng, hy vọng như thế xua đuổi căn bệnh ra khỏi người hấp hối. Còn lạ kỳ hơn nữa, người ta mang các đàn cừu ra các đường phố và hy vọng rằng hơi thở của chúng sẽ làm thanh khiết không khí khỏi các chướng khí. Lại còn lạ lùng hơn, một triết gia khác khuyên đem gió đóng chai. Không phải là điều dễ thực hiện. Và sau cùng, mặc dầu danh sách còn chưa đầy đủ, lời khuyến nghị của một đồ đệ của Esculape, yêu cầu trộn vào nước tiểu của mình đủ loại cây cỏ, trong đó có cây ngải đắng và cứ mỗi sáng uống một liều nhỏ !

Sau cùng, sẽ phải đợi đến năm 1374 để thấy chính quyền áp dụng những biện pháp hiệu quả để chống lại bệnh dịch hạch. Một đạo luật đầu tiên được thông qua ở Reggio de Calabre với những lời lẽ như sau : “ Mọi người bị bệnh dịch hạch sẽ được đưa ra khỏi thành phố, vào trong các cánh đồng để chết hoặc lành bệnh ở đó. Những người đã săn sóc những người bị dịch hạch sẽ phải bị cấm cung trong 10 ngày trước khi có thể tái tiếp xúc với những người đồng loại. Giới giáo sĩ sẽ có bổn phận thăm khám các bệnh nhân và tố cáo họ với chính quyền nếu không sẽ bị hỏa thiêu và tịch thu tài sản. Những người truyền bệnh dịch hạch sẽ bị nhà nước tịch thu tài sản. Ngoại trừ những người được cách ly trong mục đích này, không ai có thể săn sóc những người bị bệnh dịch hạch mà không bị tử hình và tịch thu tài sản.” Sự cách ly kiểm dịch(mise en quarantaine) được sinh ra đời, hay ít ra là sự giữ tách xa (mise à l’écart), bởi vì quarantaine chỉ thời gian 40 ngày, trong đó những người di dân mới đến, vừa đổ bộ từ một con tàu và được giữ ở cach xa thành phố, thời gian cần thiết để xem những người nhập cư này có phát triển căn bệnh rùng rợn đó hay không. Trong tương lai, chính những biện pháp cách ly này sẽ cho phép ngăn chặn tốt hơn bệnh dịch. Và, ngoài hình phạt thánh thần, vì còn cần phải chỉ định xem ai là những người chịu trách nhiệm bệnh dịch này, nên một lần nữa chính những người Do Thái đã bị chỉ định và bị thiêu trên giàn hỏa, đặc biệt ở Narbonne và Bourgogne, những pogrom (những cuộc tàn sát người Do thái) báo hiệu những cuộc tàn sát khác còn tệ hại hơn. Người ta trách họ làm nhiễm độc các giếng nước. Những lời buộc tội phi lý vì lẽ cũng như những người dân còn lại khác, họ bị trừng phạt thật nặng nề.

BỆNH SỐT NHIỀU MỒ HÔI (SUETTE)

Trong số các bệnh dịch ít được nhắc nhớ đến bởi vì đến nay vẫn còn không được biết rõ, đó là dịch sốt ra nhiều mồ hôi được gây nên bởi sốt cao và nổi ban da. Dịch bệnh mà ta goi là suée hay suette anglaise bởi vì người ta đã tưởng tượng rằng dịch bệnh này sinh ra đời ở Anh, có nguồn gốc trong cái khí hậu ẩm ướt đã bị chế giễu ngay ở thời Trung cổ, vì lẽ tiếng đồn muốn rằng ở đây mưa 5 năm liền mà không có một chút trời quang đãng. Vậy chính trong cái khí hậu sầu thảm này và những điều kiện vệ sinh tệ hại mà căn bệnh mới này sẽ phát sinh. Những tình trạng phóng đãng đủ loại, dầu giai cấp xã hội là gì, làm cho căn bệnh tấn công những người khỏe mạnh, có khuynh hướng chè chén, hơn là vào các phụ nữ và những người già. Bệnh dịch bắt đầu năm 1485 và được mô tả như sau bởi nhà biên niên sử thời đó : “ Đột ngột, một thứ mồ hôi gây chết người và nóng bỏng xâm chiếm toàn thân thể, kích thích máu, làm dạ dày và đầu nóng như lửa. Những nỗi đau đớn này kinh khủng đến độ các bệnh nhân phải nằm liệt giường. Không chịu được cái nóng quấy nhiễu này, các người bệnh vứt bỏ các khăn trải giường và mền chiếu.” Bệnh dịch biến mất nhanh cũng như lúc đến nhưng đã tái xuất hiện nhiều lần vào đầu thế kỷ 16. Thế thì làm sao giải thích lịch sử y học đã thường không đề cập đến bệnh dịch trong những thế kỷ tiếp theo sau đó ? Chúng ta sẽ được cho lời giải thích vào thế kỷ thứ 19 : đơn giản là bởi vì căn bệnh đã không được liệt kê bởi những người Hy Lạp và Latin, nên nó không thể hiện hữu trong tâm trí của những thầy thuốc chỉ lấy kiến thức cổ đại như là tài liệu tham khảo duy nhất. Về phần mình, Erasme đã hoàn toàn nắm vững, mặc dầu sự im lặng của những người đương thời, những lý do của sự xuất hiện của bệnh sốt mồ hôi.
(LA SEMAINE MEDICALE 1/6/2009)

2/ “ VIRUS H1N1 LAN TRÀN VỚI MỘT TỐC ĐỘ KHÔNG TUỞNG T ƯỢNG ĐƯỢC ”.

Theo bilan toàn bộ được công bố hôm thứ sáu 28/8 bởi OMS, cúm A (H1N1) đã giết chết ít nhất 2.185 người. Số các người bị nhiễm bệnh vào thời điểm này lên đến ít nhất 209.438, trong hơn 177 nước. H1N1 đã trở nên virus cúm thống trị trên thế giới. Nó thay thế virus của cúm mùa.

Ngày 24 tháng 4, OMS đã phát ra một báo động trên thế giới, loan báo rằng hàng trăm trường hợp cúm đã được ghi nhận ở Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ.

Ngày 1 tháng sáu, tổng giám đốc OMS, BS Magaret Chan, đã tuyên bố cúm A (H1N1) là đại dịch đầu tiên của thế kỷ XXI. Trong cuộc nói chuyện đặc biệt dành cho báo Le Monde, bà điểm lại tình hình và giải thích về chiến lược của OMS.

Hỏi : Đại dịch hiện nay thách thức tất cả các dấu mốc của chúng ta.
BS Magaret Chan : Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta thấy một đại dịch diễn biến dưới mắt của chúng ta. Ngày xưa, thế giới luôn luôn bị bất ngờ, không có thời gian bàn bạc về những phương tiện để đương đầu với căn bệnh. Cách nay vài năm, từ lúc phát khởi virus của cúm gia cầm H5N1, được thể hiện bởi một căn bệnh cực kỳ nghiêm trọng, với 50% đến 60% những trường hợp tử vong, các bộ trưởng y tế đã thảo luận với OMS về phương cách hoạch định công tác chuẩn bị đối với mối đe dọa đại dịch, lấy cúm Tây Ban Nha 1918 làm quy chiếu. Virus 2009 A (H1N1) hoàn toàn khác. Đó là virus mới, và hầu như không có ai đã được miễn dịch chống lại nó. Virus này lan tràn rất dễ dàng, nhưng không gây bệnh nặng nơi hầu hết những người mắc bệnh. Những yếu tố này không thích hợp với những kế hoạch đã được chuẩn bị, và cần phải thích ứng chúng. Vậy, không có gì phải ngạc nhiên khi người ta tự hỏi tại sao đại dịch hiện nay không tương ứng với điều mà họ đang chờ đợi, và nhận thấy rằng người ta đang làm thái quá. Nhưng tôi không đồng ý với quan điểm này.

Hỏi : Đại dịch hiện nay tạo nên những mối đe dọa nào ?
BS Magaret Chan : Trước hết, virus này du hành với một tốc độ không tưởng tượng nổi, chưa từng có. Trong vòng 6 tuần, nó vượt qua cùng khoảng cách với những virus khác trong 6 tháng ! Số người bị nhiễm khuẩn cũng chưa từng có. Đến 30% những người dân của những nước có mật độ cao về dân số có nguy cơ bị nhiễm khuẩn. Không có những kế hoạch chuẩn bị, chúng ta sẽ không có khả năng có một đáp ứng có tổ chức.
60% các tử vong xảy ra nơi những người vốn có những vấn đề về sức khỏe. Điều này có nghĩa là 40% những trường hợp tử vong xảy ra nơi những người trưởng thành trẻ tuổi, mạnh khỏe, chết trong vòng 5-6 ngày sau một viêm phổi do virus. Đó là sự kiện đáng lo ngại nhất. Công tác điều trị những người này rất nặng nề và khó khăn.
Trong nhiều quốc gia, những phòng cấp cứu và những đơn vị hồi sức tăng cường cực kỳ được đòi hỏi, thậm chí quá tải. Trong thế giới 6,8 tỷ người của chúng ta, điều gì sẽ xảy ra nếu nhiễm trùng ảnh hưởng lên 20% đến 30% dân số ? Điều gì sẽ xảy ra nếu căn bệnh trở nên nghiêm trọng hơn, nhưng chúng ta lại không được chuẩn bị ? Nhiều phương tiện nhân vật lực sẽ được sử dụng dành cho những người bệnh bị bệnh ung thư, các bệnh tim mạch...

Hỏi : Đúng thế, bà sẽ trả lời gì đối với những kẻ e sợ rằng việc chống lại H1N1 được thực hiện với ảnh hưởng lên sự chống những bệnh chết người khác ?
BS Magaret Chan : Câu hỏi hợp lý. Cần thiết phải quy tụ những nguồn bổ sung. Không nên cởi quần áo Pierre để rồi mặc vào cho Paul. Mỗi chính phủ có trách nhiệm phải chuẩn bị cho điều tệ hại nhất, và hy vọng cái tốt nhất. Nó là kế toán về cách bảo vệ các công dân. Theo định nghĩa, các đại dịch cúm không thể dự kiến được. Đúng vây, căn bệnh hiền tính, và chúng ta hy vọng rằng nó sẽ là như vậy khi làn sóng thứ hai sẽ xảy đến vào mùa thu này. Nếu không phải là như thế, thì các chính phủ làm sao có thể biện minh trước công luận của họ nếu không làm những điều cần thiết để chuẩn bị ?

Hỏi : Cuộc chạy đua sản xuất vaccin chống cúm A (H1N1) đã được phát động. Giống gốc đầu tiên được OMS gởi cho các nhà chế tạo đã cho những năng suất làm thất vọng. Chúng ta có nguy cơ bị chậm lại so với lịch trình được dự kiến hay không ?
BS Magaret Chan : Chúng tôi đã nói rằng phải cần 5-6 tháng để hiệu chính những lô vaccin đầu tiên. Hiện nay, chúng ta đang còn trong thời gian chờ đợi.

Hỏi : Chúng ta sẽ có những vaccin này đúng lúc và với lượng đầy đủ không ?
BS Magaret Chan : Không phải trong những tháng đến. Trước khi thiết lập kế hoạch chống virus cúm gia cầm H5N1, năng suất sản xuất hàng năm trên thế giới là 450 triệu liều, và chủ yếu trong những nước phát triển. Năng suất này đã tăng lên 900 triệu liều. Mặc dầu cho số lượng này vẫn không đủ đi nữa, nhưng điều đó đã không xảy ra đối với những đại dịch trước đây.

Hỏi : Còn đối với các nước đang phát triển thì sao ?
BS Magaret Chan : Chúng tôi đã nhận những cam kết biếu không với một số lượng tổng cộng 150 triệu liều. Chúng tôi tiếp tục đối thoại để làm gia tăng số lượng, nhưng cũng để thương thuyết việc mua những liều bổ sung. Nhưng không nên quên những can thiệp không phải thuốc : rửa tay, ở tại nhà nếu đau bệnh... Tôi mới đi Ouganda về, tôi đã viếng thăm một ngôi làng trong đó phương tiện truyền tin duy nhất là radio, và ở đó những người tình nguyện tham dự những công tác y tế. Chủ tịch làng là người duy nhất có điện thoại di động. Chúng ta phải suy nghĩ phương cách phổ biến tin tức bằng SMS.

Hỏi : Vẫn có những nghi vấn về chất lượng và mức độ an toàn của những thuốc chủng tương lai chống lại H1N1…
BS Magaret Chan : Nhà chức trách điều hòa đang gia tốc quá trình để vaccin được phép đưa ra thị trường, nhưng chỉ với những gì liên quan dến các thủ tục hành chánh. Không có vấn đề làm phương hại mức độ an toàn và hiệu quả của các vaccin. Các thử nghiệm lâm sàng cho chúng ta những giải đáp về các tác dụng phụ dương tính của các vaccin này, nhưng chúng ta phải rõ ràng : vì lẽ số người được trắc nghiệm có giới hạn, nên các tác dụng phụ vô cùng hiếm không phải luôn luôn xuất hiện. Hội chứng Guillain Barré (một biến chứng thần kinh khả dĩ) xảy ra theo tần số một trường hợp trên một triệu người được tiêm chủng. Vậy chúng ta có nguy cơ bị mắc phải biến chứng này.
Ngay cả với những sản phẩm có chất lượng, vẫn luôn luôn có những tác dụng phụ. Vì lẽ đó, OMS đã đưa ra những lời khuyến nghị về việc theo dõi y tế cần phải đảm bảo, một khi vaccin được sử dụng. Nhưng phải phân biệt những tác dụng thật sự liên kết với vaccin và những tác dụng trùng hợp trong thời gian mà không có mối liên hệ nhân quả. Nếu chúng ta chứng thực những tác dụng đặc biệt liên kết với vaccin, chúng ta sẽ báo cáo và các chính phủ cũng sẽ phải làm như vậy. Giới truyền thông phải đóng vai trò của họ : lưu ý công chúng những tin tức quan trọng nhất, cũng như họ phải theo dõi công tác của chúng ta.

Hỏi : Chúng ta cần gì nhất trong cuộc đấu tranh chống lại H1N1 ?
BS Magaret Chan : Chúng ta cần sự lãnh đạo về chính trị, những kế hoạch tốt chống lại bệnh, một sự điều hòa tốt và một sự thực hiện tốt. Điều đó không chỉ thuộc trách nhiệm của các bộ y tế. Một vài can thiệp có những ý nghĩa kinh tế và xã hội lớn, ví dụ đóng cửa các trường học.
Phải xét đến tất cả các khía cạnh của vấn đề. Sau cùng, sự ủng hộ của công luận là cần thiết. Đầu tư tốt nhất có thể có được đối với một chính phủ là sự truyền tin đại dịch (communication pandémique) : nhận diện những cơ chế truyền tin thích hợp cho mỗi quốc gia, để dân chúng tiếp nhận thông tin đúng lúc và một cách minh bạch.
(LE MONDE 31/8/2009)

3/ CÚM A : CHỦNG NGỪA CÓ THỂ NGAY GIỮA THÁNG MƯỜI.

SANTE. Ủy ban khủng hoảng liên bộ “ Đại dịch cúm ” đã tiết lộ hôm qua những chi tiết của chiến dịch được dự kiến để ngăn chặn sự lan tràn của virus H1N1.

Tất cả những người Pháp nào mong muốn đều sẽ có quyền nhận tiêm chủng miễn phí, được đề nghị bắt đầu từ tháng mười. Chiến dịch này sẽ được phát động nếu tình hình và những lời khuyến nghị của các chuyên gia biện minh điều đó. “ Chúng ta gặp phải một virus có độc lực ở mức độ trung bình, nghĩa là tương đương với hoặc hơi cao hơn cúm mùa, nhưng với một khả năng lây truyền mạnh mẽ ”, hôm qua Roselyne Bachelot, bộ trưởng y tế Pháp đã chỉ rõ như thế.

Theo bảng thông báo mới nhất của Viện theo dõi y tế, ở Pháp sự lưu hành của virus “ được xác nhận nhưng vẫn còn được giới hạn ”.

  1. Ai sẽ được tiêm chủng ? Sự tiêm chủng sẽ không bắt buộc. Tuy nhiên, bà bộ trưởng y tế, muốn đề nghị vaccin chống cúm H1N1 “ cho tất cả những người nào mong muốn ”, đã gởi đơn đặt hàng 94 triệu liều nơi 4 phòng bào chế dược phẩm với tổng phí 1 tỷ euro. Hôm qua những lô vaccin đầu tiên đã được tiếp nhận, với số lượng hạn chế. Hiện nay, các vaccin này được bảo quản trong một nơi được giữ kín, do biện pháp an ninh. Chiến dịch chủng ngừa sẽ không bắt đầu trước khi nhận giấy phép cho lưu hành trên thị trường, được dự kiến vào giữa tháng 10. Một danh sách những người ưu tiên sẽ được căn cứ trên những chỉ dẫn của OMS, các phân tích của Viện theo dõi y tế và của tổng giám đốc y tế. Những nhân viên y tế (trong đó các thầy thuốc và y tá làm trong khoa sơ sinh học và hồi sức nhi đồng (néonatologie và réanimation pédiatrique), các phụ nữ có thai và những người có sức khỏe yếu ớt là những người được ưu tiên tiêm chủng.
  2. Chiến dịch tiêm chủng sẽ diễn ra như thế nào ? Chiến dịch tiêm chủng sẽ trải ra trong 4 tháng và sẽ diễn ra trong các trung tâm tiêm chủng (centre de vaccination), được thành lập trong các nhà tập thể dục hay các phòng đa năng, để không làm ứ đọng các bệnh viện. Thông tư dự kiến tối thiểu 3 địa điểm cho mỗi tỉnh, những địa điểm quan trọng nhất có thể tiếp nhận đến 2.100 người mỗi ngày theo chế độ tăng cường.Việc tiêm chủng các học sinh và của tất cả cộng đồng giáo dục sẽ được đảm bảo bởi những toán di động trong các trường học. Các thầy thuốc gia đình, các sinh viên hay những người hưu trí sẽ được mời tham dự.
  3. Sẽ có theo dõi về mặt y tế hay không ? Những phiếu tiêm chủng sẽ được phân phát bởi Assurance-maladie. Hai liều thuốc chủng, được tiêm mông cách nhau tối thiểu 3 tuần, sau đó sẽ được giao. Về điểm này chính phủ nhấn mạnh về “ yêu cầu có thể truy tìm những người được tiêm chủng ”, để bảo đảm rằng hai liều tiêm sẽ được thực hiện với cùng vaccin. Sự theo dõi này cũng sẽ cho phép nghiên cứu những tác dụng phụ gây nên bởi thuốc mới.
  4. Những thử nghiệm đã cho thấy rằng các vaccin là hiệu quả và an toàn hay không ? Nhiều nghiên cứu lâm sàng còn đang được tiến hành trên thế giới để xác nhận tính hiệu quả và độ dung nạp tốt của các vccin chống H1N1 trong những loại dân khác nhau (những người trưởng thành, những người già, trẻ em…).

Những kết quả của những thử nghiệm này, đang còn được tiến hành bởi mỗi hãng dược phẩm với thuốc chủng do mỗi hãng chế tạo, sẽ được chờ đón trong những tuần đến. Tuy nhiên các hãng bào chế đã có những dữ kiện an lòng, thu được với các vaccins “ maquettes ” (cùng thành phần nhưng trên cơ sở của một giống gốc H5N1). Các chuyên gia không lo ngại về tính hiệu quả của vaccin, trừ phi giống gốc H1N1 biến dị. Còn về những tác dụng phụ ? Các vaccin chống cúm mùa có thể gây nên những phản ứng tại chỗ nhưng thường được dung nạp tốt. Nguy cơ của một tiêm chủng đại quy mô là nguy cơ thấy xuất hiện những tác dụng phụ hiếm, đặc biệt là những phản ứng miễn dịch-dị ứng (réactions immunoallergiques). Vào năm 1976, các người Mỹ, đã tiêm chủng vội vàng cho 40 triệu người chống lại bệnh cúm và đã gây nên hơn 500 trường hợp hội chứng Guillain-Barré (một bệnh thần kinh thường thoái biến), trong đó 32 tử vong. Ngoài ra, để sản xuất các vaccin H1N1 này, vài hãng bào chế đã sử dụng những kỹ thuật học chưa từng có (cấy tế bào, các tá dược mới) mà người ta chưa có nhiều kinh nghiệm.
(LE FIGARO 28/8/2009)

4/ Roselyne Bachelot : “ CHÚNG TA PHẢI CHUẨN BỊ CHO TRƯỜNG HỢP TỆ HẠI NHẤT ”

Tiến triển của đại dịch, kế hoạch của chính phủ, vaccin... bộ trưởng y tế Pháp Roselyne Bachelot trả lời phỏng vấn báo L’Express. Và bào chữa là đã không “ làm thái quá ”.
Hỏi : Có phải bà luôn luôn cho rằng nước Pháp là nước được trang bị tốt nhất để đương đầu với đại dịch ?
Roselyne Bachelot : Sự đánh giá tán dương này không phát xuất từ tôi, mà từ OMS ! Kế hoạch của chúng tôi chống đại dịch đã được trắc nghiệm và cải thiện, nó được củng cố bởi sự tạo thành những dự trữ thuốc và các mặt nạ, và chúng tôi có nhũng hợp đồng giữ trước vaccin với nhiều nhà công nghiệp, điều này làm đa dạng hóa nguồn cung cấp cho chúng tôi. Chúng tôi đang có một“ hộp dụng cụ ” (boite à outil) thật sự, nhưng chúng tôi chỉ dùng mỗi một dụng cụ trong trường hợp thật sự cần thiết : tôi không muốn rơi vào trong tinh thần hệ thống.

Hỏi : Các trung tâm cách ly được dự kiến trong kế hoạch Đại Dịch (plan Pandémie) vẫn luôn luôn hoạt động chứ ? Cũng như khả năng truy tìm các hành khách (traçabilité des voyageurs) lúc đến Pháp ?
Roselyne Bachelot : Không : lại nữa chúng tôi là những người thực tiễn. Kế hoạch Đại dịch của chúng tôi đã được phát thảo để đương đầu với virus H5N1, một virus rất độc lực nhưng ít gây lây nhiễm. Dĩ nhiên chúng tôi thích nghi sự đáp ứng của chúng tôi đối với H1N1, là một virus ít độc lực và rất lây nhiễm.

Hỏi : Hiện nay chúng ta có xác định tốt hơn số các bệnh nhân và những trường hợp tử vong có thể dự kiến được hay không ?
Roselyne Bachelot : Các chuyên gia mà tôi hỏi hầu như mỗi ngày đều nói với tôi rằng đặc điểm chính của virus là không thể tiên đoán đoán được. Virus cúm mùa trung bình gây nên 2,5 triệu bệnh nhân và khoảng 2.000- 2.500 người chết mỗi năm. Vài kịch bản của Viện theo dõi y tế (InVS : institut de veille sanitaire) dự kiến, đối với cúm A, 20 triệu người bị bệnh. Vậy thì chúng ta có thể lo sợ một số tương đương 20.000 tử vong nếu tỷ lệ tử vong (taux de létalité) cũng giống với tỷ lệ tử vong của cúm mùa. Nhưng, tôi nhắc lại, đó là một kịch bản không tính đến những biện pháp mà chúng tôi đã dự kiến, trong đó có sự chủng ngừa.

Hỏi : Việc đếm số bệnh nhân có còn một ý nghĩa hay không ?
Roselyne Bachelot : Vào giai đoạn này, chúng tôi không còn đếm số cá nhân một cách hệ thống (comptage individuel systématique), mà đếm số nhân dân (comptage populationnel). Theo mạng Sentinelles của Inserm, tuần lễ đầu tiên của tháng tám, số thăm bệnh nơi các thầy thuốc vì những triệu chứng cúm được ước tính là 37 trên 100.000 dân. Tuần trước con số này là 48 trên 100.000 dân. Tiến triển không đáng kể. Hai con số này, hơn trên mức trung bình của cúm mùa (bởi vì có cúm quanh năm), nhưng vẫn dưới ngưỡng dịch bệnh (seuil d’épidémie), là 70 trên 100.000 dân. Nói như vậy, những thăm khám vì những triệu chứng cúm không nhất thiết là do bệnh cúm và lại còn ít hơn là do cúm A .

Hỏi : Chúng ta có phải sợ một tỷ lệ tử vong cao hơn đối với các phụ nữ có thai ?
Roselyne Bachelot : Về các phụ nữ có thai, chúng tôi theo dõi các diễn biến của các trường hợp ở Nam ban cầu. Những trường hợp này xác nhận rằng các phụ nữ có thai phải được ưu tiên che chở.

Hỏi : Nước Pháp có những trường hợp đáng lo ngại không ?
Roselyne Bachelot : Vâng, năm trường hợp cúm trên 10 vẫn đáng quan ngại. Nhưng dĩ nhiên, những con số này có thể tiến triển thường trực.

Hỏi : Nếu các trường học bị đóng cửa, có nguy cơ sự vắng mặt phụ nữ làm gia trọng sự khan hiếm các nhân viên điều dưỡng của bệnh viện hay không ?
Roselyne Bachelot : Chúng tôi có thể dự kiến rằng các trẻ em của nhân viên bệnh viện sẽ được chăm lo để không ảnh hưởng lên túc số nhân viên y tế.

Hỏi : Chúng ta há không phải là đã mua quá nhiều Tamiflu ? Vài bệnh nhân không cần đến nó, và thuốc này ngay cả nguy hiểm cho các trẻ em... Nếu tính đến phí tổn, phải chăng đó thật sự là một giải pháp ?
Roselyne Bachelot : Tamiflu, đó không phải là giải pháp, nhưng là một trong những yếu tố của đáp ứng. Tamiflu này không được sử dụng một cách hệ thống.Thuốc này được dành cho những trường hợp nặng và cho những người có nguy cơ. Chúng ta biết rằng virus cúm A nhạy cảm với nó, điều này là một tin vui : lúc đầu không hiển nhiên như thế. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng Tamiflu gây nên những tác dụng phụ, đó là lý đó tại sao không nên sử dụng dụng nó nếu không có toa của thầy thuốc.

Hỏi : Chúng ta có thể sử dụng Tamiflu quá hạn hay không ?
Roselyne Bachelot : Các công trình nghiên cứu cho thấy khả năng kéo dài thời gian sống của thuốc 2 năm, điều mà chúng ta sẽ làm. Ngược lại, các lô thuốc uống trẻ em quá hạn. Các viên thuốc sẽ cho phép bù thiếu sót này.

Hỏi : Việc tiêm chủng bắt buộc (vaccination obligatoire) đi đến đâu rồi ?
Roselyne Bachelot : Sự tiêm chủng được đề nghị cho tất cả các công dân sẽ không bắt buộc, nhưng được khuyến nghị, qua một chiến dịch thông tin lớn. Chúng ta sẽ chuẩn bị thực hiện, nếu cần, cái sẽ có thể là chiến dịch tiêm chủng quan trọng nhất trong đất nước của chúng ta.

Hỏi : Người ta sẽ được tiêm chủng ở đâu ?
Roselyne Bachelot : Chúng tôi đang làm việc tích cực để tạo lập các trung tâm được dành cho tiêm chủng. Mỗi tỉnh sẽ làm tốt nhất tùy theo hệ thống loại hình của lãnh thổ mình...

Hỏi : Khi nào bà hy vọng nhận những vaccin đầu tiên ? Các vaccin này có thể được thương mãi hóa cấp bách , ngay cả trước khi được chuẩn y ?
Roselyne Bachelot : Còn có nhiều điều không chắc chắn về năng suất của giống gốc và quá trình conditionnement của vaccin. Có thể những lô đầu tiên sẽ đến vào cuối tam cá nguyệt thứ ba. Nhưng tôi không dự kiến sẽ sử dụng một vaccin không thỏa mãn những yêu cầu trước khi được giấy phép lưu hành trên thị trường. Và nếu người ta tìm thấy những sản phẩm như thế trên Internet, tôi chỉ có thể khuyên những người tư nhân không nên mua chúng.

Hỏi : Chính phủ há đã chẳng phải lầm khi chỉ đặt hàng 16 triệu liều ở Novartis, phòng bào chế dường như tiến bước nhất trong phát triển một vaccin ?
Roselyne Bachelot : Chúng tôi đã gởi đơn đặt hàng cho nhiều hãng bào chế, sẽ cho phép trải việc cung cấp các vaccin ra suốt trong mùa thu và chủng ngừa toàn thể dân chung. Một số nước đã ưu tiên mua các vaccin. Chúng tôi cũng đã giữ trước (pré-réservations), mà cách nay vài năm, điều này không được căn cứ trên quốc tịch của các hãng bào chế.

Hỏi : Những ai sẽ được tiêm chủng ưu tiên ?
Roselyne Bachelot : Những bệnh nhân mang những bệnh nhiễm trùng mãn tính, đặc biệt là đường hô hấp.

Hỏi : Chúng ta há không phải làm thái quá ? Chính phủ há không phải là nạn nhân của hội chứng máu bị ô nhiễm (syndrome du sang contaminé) ?
Roselyne Bachelot : Tôi ưa thích rằng người ta trách chúng tôi hôm nay làm quá nhiều thay vì sẽ trách chúng tôi trong 3 tháng nữa không làm khá đủ … Đó không phải là một động tác thông tin. Đứng trước loại đe dọa như thế này, chừng nào chúng ta không được chuẩn bị cho cái điều tệ hại nhất, nghĩa là chúng ta không được chuẩn bị.
(EXPRESS 20-25/8/2009)

5/ 8 CÂU HỎI TRONG LÚC CHỜ ĐỢI VACCIN.

  1. Tôi có phải giao con tôi cho những nơi tập thể?
    Nếu chính quyền quyết định đóng cửa các trường học và các nhà trẻ, thì câu hỏi này sẽ không được đặt ra. Nhưng nếu không phải vậy, sự lựa chọn đối với mỗi cá nhân thật là hóc búa. “ Chúng ta biết rằng những nơi này là những phương tiện hiệu quả nhất để làm lây nhiễm các trẻ em (và bố mẹ chúng) với bất cứ vi trùng nào ”, Vincent Racaniello, chuyên viên vi trùng học ở đại học Columbia, Hoa Kỳ, đã giải thích một cách không quanh co như vậy. Lý do ? Sự tập trung các trẻ em làm các vi trùng sinh sản dễ dàng, và khuynh hướng các trẻ em sờ mó các đồ vật và đưa tay lên miệng. Các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng nguy cơ mắc phải một bệnh nhiễm trùng ở nhà trẻ (viêm tai, viêm dạ dày-ruột, viêm màng não) được nhân lên gấp 3 đến 12 tùy theo tuổi và bệnh lý.Vậy thì, nếu câu hỏi là “ tránh những nơi tập thể có sẽ bảo vệ tôi chống lại virus A/H1N1 hay không ?, về mặt thống kê câu trả lời là không. Nhưng nếu câu hỏi là : “ có đáng bỏ công hay không ? ”, câu trả lời tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm của virus. Các bố mẹ có phải lo sợ, khi biết rằng gần 60% các trường hợp cúm A trên thế giới có liên quan đến những trẻ dưới 18 tuổi ? Đối với Arnault Pfersdorff, thầy thuốc nhi khoa của bệnh viện Sainte-Anne de Strasbourg, nguy cơ lây nhiễm không đáng lo ngại, vì lẽ thoạt đầu cúm A không nguy hiểm hơn cúm cổ điển. Các trẻ em vẫn có thể đến trường, như thế quá trình sinh miễn dịch của mỗi cá thể sẽ được thực hiện một cách tự nhiên, ông đã giải thích như vậy. Mối âu lo hướng nhiều hơn vào các nhũ nhi dưới 1 tuổi và nhất là dưới 6 tháng : người ta nghĩ rằng lứa tuổi này sẽ nhạy cảm hơn, nhưng hôm nay chúng ta không chắc điều đó.” Thật vậy, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ và Nhật Bản, vào tháng 7, đã khám phá ra rằng virus A (H1N1) gây nhiều viêm phổi nặng hơn so với các virus gây cúm mùa. Thế mà, do hệ miễn dịch của chúng chưa được thành thục, các trẻ em dưới 2 tuổi dễ bị mắc bệnh hơn. Mặc dầu việc không mang con đến nhà trẻ là vô ích, nhưng tốt hơn vẫn phải luôn luôn cảnh giác.
  2. Loại khăn tay nào nên dùng : giấy hay vải ?
    Chính bởi vì chúng ta không vứt bỏ khăn tay bằng vải (mouchoirs en tissu) mà loại khăn tay này bị cấm chỉ. Ví dụ, vào năm 2003, một công trình nghiên cứu về virus của cúm gia cầm H7N7 (đã làm lây nhiễm các công nhân của một trại nuôi công nghiệp ở Hoà Lan) đã cho phép xác định rằng việc dùng những khăn tay bằng vải đã góp phần làm lan truyền virus hơn là dùng các khăn tay bằng giấy (mouchoirs en papier). Thật vậy, các virus, vốn bị giam trong các dịch tiết, nằm trong bọc quần áo và làm lây nhiễm các đồng tiền, các chiếc chìa khóa, và nhất là các bàn tay của người sử dụng. Vậy, các khăn tay bằng giấy dường như hiệu quả hơn, với điều kiện được vứt bỏ sau khi dùng... nếu không, vấn đề vẫn như nhau ! Về các khăn tay “ chống virus ” (mouchoirs antiviraux) được thương mãi hóa ở Pháp cách nay ít lâu, lợi ích của chúng vẫn còn hạn chế. Nguyên tắc ? Các khăn tay này được bao bọc bởi những chất diệt virus, loại bỏ hầu hết các virus lúc được tiếp xúc. Những nếu lượng dịch tiết mũi quan trọng, thì chỉ có một phần là thật sự bị hủy diệt. Biện pháp hiệu quả nhất vẫn là rửa tay sau khi hỉ mũi, nhà vi trùng học Vincent Racaniello đã nhắc lại như vậy.
  3. Có nên tránh những phương tiện giao thông công cộng hay không ?
    Nếu anh bị bệnh, thì đó là điều hiển nhiên. Ngược lại, vô ích tránh chúng chỉ do biện pháp thận trọng. “ Một ít lương tri là đủ, Vincent Racaniello đã trấn an như vậy. Nếu anh đụng vào các nắm cửa, đừng đưa tay lên mặt trước khi rửa chúng. Và nếu ai đó ho và hách xì gần anh, thì tốt hơn hãy thay đổi toa xe. ” Mặc dầu xe bus và xe lửa có thể làm dễ sự lây nhiễm, tuy nhiên chúng đóng một vai trò hạn chế trong sự lan truyền toàn bộ của dịch bệnh. Ở Nhật Bản, là nơi mối liên hệ giữa dịch bệnh và các phương tiện giao thông công cộng được nghiên cứu nhiều nhất, người ta đã cho thấy rằng việc đóng các xe lửa đô thị (train de banlieue) chỉ cho phép giảm 5% số trường hợp toàn thể lúc có một dịch bệnh do virus.
  4. Có nên để mắc cúm bây giờ để thoát khỏi một dạng độc lực hơn vào mùa đông này ?
    Tin đồn đã lan truyền suốt mùa hè : tốt hơn là để bị lây nhiễm bởi virus A (H1N1) hiện nay, tương đối vô hại, hơn là sẽ bị nguy cơ mắc phải bệnh vào mùa thu hay vào mùa đông, khi virus có khả năng nguy hiểm hơn. Nhất là khi đó các phòng mạch và các bệnh viện sẽ bị tràn ngập. “ Có một phần sự thật trong đó, nhưng đối với một chánh phủ, khó mà cho những lời khuyên như vậy ” , Arnault Pfersdorff đã công nhận như thế. Cúm nổi tiếng năm 1918 đã xảy ra thành hai đợt. Vào làn sóng thứ hai, virus bị biến đổi và đã trở nên gây chết người hơn. Và một công trình nghiên cứu năm 2008 đã cho thấy rằng những người đã được tiếp xúc với virus trong làn sóng đầu, vào mùa xuân và mùa hè năm 1918, đã được bảo vệ vào lúc xảy ra làn sóng thứ hai, vào mùa thu. Nói như vậy, không có nghĩa là virus A (H1N1) sẽ trở nên độc hại hơn : vào trong hầu hết các dịch bệnh cúm trước đây, độc lực đã không tiến triển với thời gian.
  5. Có cần thiết phải mang mặt nạ hay không ?
    Cho mãi đến ngày nay, không có một công trình nghiên cứu khoa học nào đã chứng minh được một cách rõ ràng tính hiệu quả đặc hiệu của mặt nạ này. Mặc dầu một thí nghiệm được tiến hành trên hàng ngàn sinh viên của đại học Michigan (Hoa Kỳ), vào năm 2006 và 2007, vào lúc cúm mùa, cho thấy rằng việc mang mặt nạ “ ngoại khoa ”, kết hợp với rửa tay thường xuyên, cho phép thu giảm 50% tỷ lệ mắc phải các hội chứng cúm. “ Nhưng những kết quả thu được không cho phép phân tách các tác dụng của mặt nạ và những tác dụng của rửa tay ”, Allison Aiello, nhà nghiên cứu chỉ đạo cuộc điều tra đã muốn xác nhận như vậy. Một sự mập mờ càng gây băn khoăn hơn khi ta biết rằng các mô hình ngoại khoa, được trao cho đại chúng trong các hiệu thuốc, chỉ bảo vệ những hạt lớn tích chứa virus, bồng bềnh trong không khí, nhưng không bảo vệ những khí dung” (aérosols) bé xíu, cũng có khả năng truyền bệnh. Chỉ có những mặt nạ thuộc loại FFP2 mới có thể ngăn chặn chúng.
  6. Có nên hoãn lại dự định có thai không ?
    Vào tháng bảy, một hội phụ huynh ở Anh đã khuyến nghị các phụ nữ chờ đợi cho dịch cúm đi qua rồi mới có thai. Lý lẽ ? Virus A (H1N1) làm gia tăng nguy cơ bị các biến chứng (sẩy thai, sinh non, viêm phổi). Thai nghén làm gia tăng nhịp tim và sự tiêu thụ oxy và làm giảm năng suất của phổi, làm phổi yếu đi. Về hệ miễn dịch, nó mất tính hiệu quả. “ Nhưng tất cả các bệnh cúm khả dĩ nghiêm trọng nơi các phụ nữ có thai ”, thầy thuốc chuyên khoa bệnh nhiễm trùng Hoa Kỳ Julia McMillan đã nhấn mạnh như vậy. Vậy, hiện nay không có gì là cần thiết phải hoãn lại một thai nghén. Ngoại trừ một chi tiết là xác suất mắc phải cúm sẽ cao hơn nhiều lúc đại dịch.
  7. Những đồ vật nào là dễ truyền virus nhất trong đời sống hàng ngày ?
    Các tay nắm cửa, điện thoại cầm tay, các robinet, cac bàn chữ computer ... Trong y khoa, các bề mặt, các chất hay đồ vật bị lây nhiễm với một vi trùng gây bệnh và đóng một vai trò trong việc gây lan tràn một bệnh mang một tên : các formites. Các bệnh viện, trong cuộc đấu tranh chống lại những nhiễm trùng bệnh viện (infections nosocomiales), đã trở thành các chuyên gia truy đuổi các formites. Các công trình nghiên cứu bệnh viện đã cho thấy rằng virus cúm vẫn tồn tại ở bên ngoài cơ thể con người. Từ vài giờ đến vài ngày tùy theo bề mặt và lớp niêm dịch bảo vệ nó ! Các vật liệu cứng và không xốp (plastique, kim loại hay gỗ) là thuận lợi nhất cho sự sống còn của virus cúm, trung bình được ước tính là hai ngày, so với chỉ vài giờ trên da, trên vải hay giấy. Tại sao có một sự khác nhau như thế ? Các nhà vi trùng học cho rằng tính không xốp của bề mặt khiến virus bị khô đi nhanh chóng hơn, điều này gây nên sự tiêu huỷ lớp vỏ bọc bảo vệ nó.Vậy nếu như tất cả các đồ vật đều có một mối nguy cơ, thì những đồ vật không xốp mà ta sờ mò thường trực là những nhà vô địch tích chứa các mầm bệnh. Cũng coi chừng các đồng tiền. Vào năm 2008, một công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng virus cúm, bị giam giữ trong niêm dịch, có thể sống còn ở đó cho đến 17 ngày ! Dầu thế nào đi nữa, vecteur cuối cùng vẫn là những bàn tay, mà ta đưa lên mặt sau khi đã sờ mó các đồ vật bị lây nhiễm, và trên đó virus tồn tại ít nhất một giờ. Chúng ta sẽ không bao giờ lặp đi lặp lại điều đó khá đủ : để tránh mắc phải bệnh cúm, phải thường xuyên rửa tay. Hơn 10 lần mỗi ngày, theo các chuyen gia bệnh nhiễm trùng.
  8. Tôi có được bảo vệ nếu như tôi đã bị bệnh cúm vào mùa đông vừa qua ?
    Mặc dầu virus A (H1N1) hoành hành hiện nay là một phối hợp chưa từng có của các phần tử siêu vi trùng (particules virales), nó vẫn có những điểm tương tự với các virus cúm khác. Có thể là những người, đã bị bệnh cúm năm vừa rồi hay đã được chủng ngừa một phần, được bảo vệ chống lại nó. Nhưng chỉ một phần mà thôi. Và các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết tầm cỡ của “ khả năng bảo vệ chéo ” này, có thể chỉ là tối thiểu. Theo các dữ kiện được công bố vào tháng năm bởi CDC, 33% những người trên 60 tuổi một phần được bảo vệ, bởi vì họ đã được tiếp xúc với các dạng khác của virus A (H1N1) trong những năm 1950 khi bị nhiễm trùng hay khi được tiêm chủng. Một “ bảo vệ chéo ” mà từ 6 đến 9% những người từ 18 đến 64 tuổi cũng được hưởng. Ngược lại, những trẻ em từ 0 đến 10 tuổi sẽ dễ nhạy cảm nhất bởi vì chúng đã không bao giờ gặp phải dạng virus này.

(SCIENCES ET VIE 9/2009)

6/ VITAMINE D CÓ CHO PHÉP ĐỀ KHÁNG TỐT HƠN CHỐNG LẠI VIRUS MỚI H1N1 ?

Trong lúc phân tích những nồng độ trong máu của vitamine D của những nạn nhân bị bệnh cúm, các nhà nghiên cứu Canada hy vọng tìm thấy một phương cách mới bảo vệ chống lại virus cúm, và đặc biệt là bảo vệ chống lại biến dị mới H1N1.

Ở Canada, Cơ quan y tế công cộng (Agence de santé publique) đã phát động một công trình nghiên cứu rộng lớn để xác định mối liên hệ giữa vitamine D và mức độ nghiêm trọng của những triệu chứng của cúm. Globe and Mail(26/7/2009)[/color] đã giải thích rằng các người Canada đã thiết lập dự án này ngay từ năm qua và họ đã làm thích ứng nó tùy theo loai virus biến dị mới xuất hiện. Đó là kiểm tra xem những người, đã bị một bệnh cúm thể nhẹ, có những nồng độ vitamine D trong máu cao hơn hay không, so với những người đã phát triển những biến chứng, thậm chí tử vong gây nên bởi cùng virus H1N1. Công trình nghiên cứu này là một bộ phận của một dự án nghiên cứu rộng rãi hơn, đặc biệt quan tâm đến tuổi tác, giới tính, trọng lượng, các bệnh tật tiềm tàng và các tiền sử tiêm chủng của những người mắc phải cúm, trong mục đích làm dễ sự chống lại đại dịch.

Cách nay đã lâu các nhà khoa học đã nêu câu hỏi về mối liên kết khả dĩ giữa vitamine D và bệnh cúm, đặc biệt là bởi vì trong hai bán cầu, bệnh cúm là một bệnh chủ yếu xây vào mùa đông : “ những nồng độ thấp của chất dinh dưỡng vitamine D dường như tương ứng với sự xuất hiện của virus influenza.”, Cơ quan liên bang đã giải thích như thế và báo trước rằng còn phải chứng tỏ xem có một mối liên hệ nhân quả giữa một nồng độ thấp vitamine D và nguy cơ mắc phải bệnh cúm hay không, nhưng cơ quan nghĩ rằng phương cách này là khá hứa hẹn để làm giảm mức độ nghiêm trọng của của các nhiễm trùng.Thí dụ trong những năm 40, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng các con chuột nhận một chế độ ăn uống nghèo vitamine D thi nhạy cảm với bệnh cúm hơn so với những con chuột có nồng độ vitamine D bình thường.

“ Bằng cớ cho rằng vitamine D dường như giúp hệ miễn dịch chống lại những vật lạ là gần như rõ ràng, GS Reinhold Vieth (Đại học Toronto) đã xác nhận như thế. Việc nghiên cứu về mức độ nghiêm trọng của bệnh cúm và các nồng độ vitamine D sẽ cho phép xác định xem những yếu tố dinh dưỡng có thể được sử dụng để giúp chống lại các virus ”.

Lý thuyết hiện nay là vitamine D tăng cường hệ miễn dịch: ví dụ chúng ta thấy rằng vitamine D có một bảo vệ nào đó chống lại bệnh lao. Cơ quan y tế công cộng nói rõ rằng mặc dầu cơ chế chưa được biết rõ nhưng những nghiên cứu mới đây gợi ý rằng vitamine D gây nên sự sản xuất các chất chống vi trùng có khả năng vô hiệu hóa nhiều tác nhân nhiễm khuẩn, trong đó có virus influenza.

Ngoài ra, một chủ đề nghiên cứu đầy hứa hẹn liên quan đến một phương pháp phòng ngứa và/hoặc điều trị ít tốn kém. Đối với Cedric Garland (Đại học Californie), có thể ta không cần phải chờ đợi các kết quả : theo ông, mọi người sống trên vĩ tuyến 30 mỗi năm phải cho kiểm tra nồng độ vitamine D trong máu của mình và dùng các bổ sung nếu cần. Đó là chưa kể đến trong những năm qua nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất những lợi ích để ngăn ngừa một sự thiếu hụt vitaline D và những tác dụng tốt của vitamine này lên sức khỏe nói chung. Trong nhiều nước, các chuyên gia đề nghị tăng cao cac nguồn dinh dưỡng đối với vitamine này.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 28/8/2009)

7/ MỘT PROTEINE PHÁT ĐỘNG SỰ TU SỮA MÔ TIM.

Tái tạo một trái tim bị thương tổn sau một nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde) phải chăng chẳng bao lâu nữa là điều có thể thực hiện được ? Mãi đến nay, các thương tổn được cho là không thể sửa chữa được, bởi vì những tế bào cơ tim (myocarde) cùa người trưởng thành không còn phân chia được nữa và do đó không có thể tái sinh những vùng bị hư hỏng. Thế mà, một phân tử, có khả năng khởi động lại sự tăng trưởng của chúng, vừa được khám phá bởi các nhà nghiên cứu của bệnh viện nhi đồng Boston (Hoa Kỳ). Neuréguline-1 là một protéine đóng một vai trò trong sự tăng trưởng của tim và của hệ thần kinh. In vitro, các tế bào tim trưởng thành của chuột đã phản ứng với yếu tố tăng trưởng : chúng bắt đầu phân chia, tăng trưởng và tăng sinh trở lại. Sau đó các nhà nghiên cứu quyết định tiêm phân tử neuréguline-1 này vào các con chuột đã bị một nhồi máu cơ tim. 12 tuần sau, 46% của phần tim bị thương tổn đã tái sinh và các chức năng tim đã được cải thiện. Cách nay hai năm, cùng nhóm nghiên cứu đã khám phá một phân tử có những tính chất tái sinh y hệt, nhưng phải được đưa vào trong tim. Đây không phải là trường hợp đối với neuréguline-1, được tiêm vào trong máu. Nếu những thử nghiệm tương lai nơi người tỏ ra chứng thực, thì protéine này sẽ cho phép không phải chỉ duy nhất nhờ vào các tế bào gốc (cellules souches), đường lối nghiên cứu đầy hứa hẹn khác về sự tái sinh của mô tim.
(SCIENCE ET VIE 9/2009)

8/ MỘT HƯỚNG MỚI CHỐNG UNG THƯ ĐẠI TRÀNG.

RECHERCHE. Một vi khuẩn hiện diện trong khuẩn chí ruột (flore intestinale) có thể làm dễ sự phát triển của các khối u đại-trực tràng.

10.000 đến 100.000 tỷ vi khuẩn tạo nên khuẩn chí ruột càng ngày càng làm quan tâm các nhà nghiên cứu. Các ký chủ thông thường này của ống tiếu hóa người mặc dầu có nhiều tác dụng thuận lợi lên sức khỏe, nhưng chúng cũng dường như có liên hệ trong số gia tăng các bệnh lý : các bệnh viêm mãn tính của ruột, chứng béo phì, và từ nay…ung thư đại-trực tràng, mà người ta ghi nhận đuợc 37.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp. Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được thực hiện nơi chuột bởi Cynthia Sears (đại học John Hopkins, Baltimore), một trực khuẩn của khuẩn chí ruột này có thể làm dễ sự phát triển của những khối u rất thường xảy ra. Những kết quả này đã được công bố hôm qua trên site của tạp chí Nature Medicine.

Giả thuyết về vai trò gây ung thư của vài vi trùng tiêu hóa đã được gợi lên ngay những năm 1970. Từ đó, những công trình của người Úc Barry Marshall đã cho phép kiểm tra giả thuyết này nơi dạ dày, bằng cách cho thấy vai trò chủ chốt của vi khuẩn Helicobacter pylori trong sự xuất hiện của các viêm dạ dày mãn tính, lót đường cho các ung thư dạ dày xảy ra sau đó. Điều trị bằng kháng sinh những loét và viêm dạ dày như thế đã cho phép làm giảm sút tần số của những khối u này trong nhiều nước. Đến nầy, không có một vi khuẩn sinh bệnh nào được nhận diện ở đại-trực tràng.

Nhóm nghiên cứu của Cynthia Sears đã quan tâm đến một vi khuẩn ruột đặc biệt, một Bacteroides fragilis tiết một độc tố, được gọi là ETBF. Chịu trách nhiệm gảy ỉa chảy cấp tính nơi người lớn và trẻ em, vi khuẩn này sinh sống không gây triệu chứng trong ruột của một bộ phận không phải là nhỏ của dân chúng, lên đến 35% theo các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ.

VIÊM MÃN TÍNH

Nơi các con chuột nhạy cảm với các ung thư đại-trực tràng về mặt di truyền, sự hiện diện của nó trong ống tiếu hóa đã gây nên một sự viêm nhiễm mãn tính của niêm mạc, làm gia tăng tần số xuất hiện của các khối u. Các tác giả cũng đã chứng minh rằng sự viêm nhiễm gây nên bởi giống gốc Bacteroides này dựa trên một dân số các bạch cầu đặc biệt : vài tế bào lympho CD4 sản xuất một yếu tố hoà tan được gọi là IL 17. Nơi các động vật mà yếu tố này đã có thể được vô hiệu hóa, sự viêm nhiễm và quá trình sinh ung thư đã được thu giảm, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy. Ngược lại tiến triển hướng về một viêm đại tràng rồi một ung thư đã không được quan sát thấy nơi những động vật mang Bacteroides fragilis không biểu hiện độc tố.

“ Độc tố này có tác dụng làm chẻ đôi một protéine, cadhérine, cần thiết cho tính chất kín (étanchéité) của hàng rào tiêu hóa, Nadine Cerf-Bensussan, nữ giám đốc của đơn vị Inserm 793, nghiên cứu về sự tương tác giữa biểu mô ruột và hệ miễn dịch đã giải thích như vậy. Thế mà, tính chất toàn vẹn của hàng rào này là cần thiết để giới hạn sự đi vào của các vi khuẩn hiện diện trong lòng ruột và tránh một phản ứng viêm mãn tính quá mức trong ruột, mà ta biết là sẽ làm dễ sự phát sinh ung thư tại chỗ.”

“ KHỞI ĐẦU CỦA MỘT KỶ NGUYÊN MỚI ”

Bacteroides fragilis tiết độc tố phải chăng sẽ có thể là một tương đương của các Helicobacter pylori trong trường hợp của những ung thư đại tràng? “ Giả thuyết này thật là quyến rũ, nhưng nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt dịch tễ học, vẫn cần thiết để làm nòng cốt cho nó khi áp dụng trên người và xác định xem vi khuẩn này có đáp ứng đúng những định đề của Koch, xác lập một mối liên quan nhân quả giữa một vi trùng và một căn bệnh, Nadine Cerf-Bensussan đã đánh giá như vậy. “ Bacteroides fragilis có lẽ là một yếu tố, nhưng có thể không phải là yếu tố duy nhất ”, BS Thierry Piche, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa của CHU de Nice đã nói thêm vào như vậy. Theo nhà chuyện gia về các probiotiques này, chính trong lúc nghiên cứu các bộ gènes vi khuẩn (génomes bactériens) mà những profil của khuẩn chí ruột liên kết với ung thư đại-trực tràng sẽ có thể được nhận diện.

“ Chủ đề là phức tạp và kiến thức của chúng ta thì rất hạn chế, nhưng chúng ta ở trong giai đoạn đầu của một kỷ nguyên mới của những mối tương quan giữa chúng ta với những vi trùng mà chúng ta tàng chứa ”, BS Didier Raoult, chuyên khoa vì trùng học của CHU de Marseille đã đánh giá như vậy. Nhiên hậu, mục tiêu sẽ là tìm cách kiểm soát chúng để khai thác những tính chất có lợi và ngăn ngừa những tác dụng có hại của chúng đối với sức khỏe của chúng ta. ”
(LE FIGARO 24/8/2009)

9/ CHỬI THỀ GIÚP CHỊU ĐỰNG ĐAU ĐỚN.

Phát ra một lời nguyền rủa làm giảm sự cảm nhận đau đớn và làm gia tăng mức độ chịu đựng. Richard Stephens và các đồng nghiệp của đại học Keele, Anh Quốc, đã quan sát thái độ và nhịp tim của những người tình nguyện nhúng cánh tay vào nước lạnh 5 độ C. Kết quả thật là kỳ lạ : họ có thể để chi bị nhúng trong nước lạnh với thời gian gần như hai lần lâu hơn nếu họ cứ lặp đi lặp lại tùy thích một lời chửi rủa do họ chọn lựa, so với khi họ chỉ dùng một chữ có tính cách trung lập hơn, dùng để mô tả một cái bàn. Mặt khác, nhịp tim đập của họ gia tăng, dấu hiệu của một phản ứng sinh tồn tự nhiên. Theo các nhà nghiên cứu, chửi thề cắt đứt mối liên hệ giữa sự sợ hãi và sự cảm nhận đau đớn, mang lại những lợi ích tâm lý lẫn vật lý. Một phản xạ phổ biến chỉ được dùng trong trường hợp đau đớn, các nhà nghiên cứu chủ xướng như vậy. Bởi vì trong trường hợp lạm dụng, phản xạ sẽ mất đi tính hiệu quả. Còn phải biết xem, ngoài việc chịu đựng lâu hơn, nó có cho phép chịu được một đau đớn mạnh mẽ hơn không.
(SCIENCE ET VIE 9/2009)

10/ MỘT XÉT NGHIỆM NƯỚC MIẾNG PHÁT HIỆN SINH NON.

Chẳng bao lâu nữa, một xét nghiệm đơn giản và không xâm nhập có thể phát hiện bằng nước miếng những phụ nữ có nguy cơ sinh non. Chúng ta biết rằng progestérone đóng một vai trò trong khởi đầu chuyển dạ bằng cách làm dễ sự căng của tử cung trong thời kỳ thai nghén. Các nhà khoa học Anh của University College de Londres đã quan tâm đến việc hiệu chính một xét nghiệm đơn giản để đo nồng độ hormone này. Đó là điều mà họ đã thực hiện thành công trong nước miếng của những bà mẹ tương lai. Họ đã thu thập các mẫu nghiệm của khoảng một trăm phụ nữ được biết là có nguy cơ sinh non và đã có những tiền sử sẩy thai.

Kết quả của các phân tích : các phụ nữ sinh con trước 34 tuần thai nghén (thời gian thai nghén bình thường là 37 tuần) có một nước miếng chứa một nồng độ progestérone thấp. Mà progestérone cũng được biết là có tính chất kháng viêm. Điều này gợi ý rằng một nồng độ thấp của hormone này có thể góp phần làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng vi khuẩn, yếu tố của sinh non.
(SCIENCE ET AVENIR 9/ 2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (2/9/2009)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#18 Posted : Sunday, August 26, 2012 10:04:52 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ 1918-2009 : LỊCH SỬ KỲ LẠ CỦA VIRUS H1N1.

Virus mới này, được nhận diện vào tháng tư vừa rồi, là hậu duệ trực tiếp của tác nhân khủng khiếp gây bệnh cúm được gọi là Tây Ban Nha, đã gây nên 20 đến 50 triệu người chết giữa năm 1918 cà 1920. Nhưng từ đó, nó đã chịu nhiều biến dị (mutation) và tái phối hợp (recombinaison) di truyền với những virus cúm khác, điều này đã góp phần làm giảm bớt tính độc lực của nó.

Virus cúm H1N1 chưa từng có, hôm nay đang đi vòng quanh hành tinh với một tốc độ như sấm chớp, đã đến từ đâu ? Mặc dầu các nhà nghiên cứu chưa hết truy tìm tất cả các giai đoạn của lộ trình cực kỳ phức tạp của virus, nhưng họ đã nhận diện một cách chắc chắn một trong những tổ tiên xa xăm và danh tiếng của nó. “ H1N1 của đại dịch 2009 là một trong những hậu duệ thế hệ thứ tư của virus cúm Tây Ban Nha năm 1918 ”, G.S Anthony Fauci, thuộc Viện y tế quốc gia Hoa Kỳ (NIH), mới đây đã nhấn mạnh như thế trong New England Journal of Medicine. Có thể nói đó là một cháu chắt, cuối cùng hơi giống với ông tổ của nó, trên bình diện di truyền cũng như trên mặt độc lực.

Virus khủng khiếp của cúm Tây Ban Nha, đã gây nên từ 20 đến 50 triệu người chết trên thế giới, mặt khác có thể tự hào có nhiều đồng đội khác. “ Tất cả những virus cúm nguồn gốc của đại dịch hay những báo động đại dịch ở thế kỷ XX phát xuất từ virus H1N1 của năm 1918, sau những tái phối hợp ít nhiều phức tạp ”, G.S Patrick Berche, chuyên gia vi trùng học của bệnh viện Necker Paris đã giải thích như vậy. Được tái tạo dần dần bởi các chuyên gia virus học và các nhà dịch tễ học, lịch sử của các virus cúm (trong đó có 3 họ A, B, C) và đặc biệt là những loại phụ (sous-types) A (H1N1) càng ngày càng giống với một saga familial.

NHỮNG CON CHIM MANG VIRUS.

Đã hơn 90 năm qua, các tác nhân gây nhiễm này lưu hành một cách liên tục trên thế giới, làm lây nhiễm nhiều loài động vật khác nhau và được biến đổi về mặt di truyền lúc đi từ loài động vật này qua động vật khác. “ Để hiểu điều gì đã xảy ra từ năm 1918, không nên xem các virus cúm như là những thực thể riêng biệt, mà tưởng tượng 8 gènes của chúng như là những đội viên của một đội hình ”, Anthony Fauci đã giải thích như vậy. Một đội hình (équipe) mà các đội viên cùng chơi..Cho đến khi được chuyển đến một đội hình thể thao khác để làm cho nó có hiệu năng hơn.

Từ năm 1918 (những gì xảy ra trước đó vẫn còn là một bí ẩn), ổ chứa chính của các virus H1N1 là gia cầm, các loài chim, và đặc biệt là các loài chim hoang dã, là những vecteur mang virus nhưng không nhạy cảm với sự nhiễm trùng. Đồng thời, những giống gốc của H1N1 đã lưu hành từ thời điểm này một cách thường trực trong các loài heo và người. Nơi người, các virus này đã biến hóa với thời gian và đã chịu trách nhiệm các bệnh cúm mùa thông thường giữa năm 1918 và 1957. Thông thường nhưng với vài ngoại lệ... “ Vào năm 1946 và 1950 xuất hiện 2 giống gốc mới khá độc lực, đã lan tràn trong nhiều nước trước khi thoái lui ”, Patrick Berthe, xem hai trận dịch này như là những đại dịch “ bị sẩy ”, đã kể lại như vậy. Theo ông, virus H1N1 hiện nay là hậu duệ trực tiếp của virus của năm 1950, điều này có thể giải thích sự kiện hiện nay những người trên 60 tuổi tương đối được bảo vệ.

Vào năm 1957, một sự kiến bất ngờ. Các virus H1N1 đột ngột từ giã con người. Chúng biến mất hoàn toàn và vào năm đó được thay thế bởi một giống gốc mới khác, H2N2, nguồn gốc của trận đại dịch cúm lần thứ hai của thế kỷ XX, xuất hiện ở châu Á. “ Virus A (H2N2) là mới, các kháng thể phát xuất từ các nhiễm trùng trước không có một hiệu quả nào để chống lại nó, bởi vì nó là kết quả của một sự tái phối hợp (réassortiment) giữa virus người (H1N1) và gia cầm ”, GS Claude Hannoun, một trong các chuyên gia về bệnh này ở Pháp, đã viết như vậy trong tác phẩm của ông La Grippe : ennemi intime, sẽ được xuất bản vào ngày 10/9 năm nay.

MỘT BIẾN CỐ CHỦ YẾU VÀO NĂM 1918

Như là điều thường xảy ra, virus đại dịch mới “ ăn thịt ” (cannibalise ) toàn bộ những virus khác. “ Virus H1N1 sẽ chỉ tái xuất hiện nơi người 20 năm sau, vào năm 1977, Patrick Berthe đã nói tiếp như vậy.. Và điều lạ lùng là khi chúng trở lại vào luc đó, về mặt di truyền chúng y hệt với các virus của năm 1950. Các nhà khoa học hôm nay nghĩ rằng đó hoặc là một virus, vốn được đông lạnh ở một nơi nào đo, đã tái nổi dậy, hoặc là một sự lây nhiễm phát xuất từ một phòng thí nghiệm.” Sau năm 1977, các virus này lại tiếp tục sự lưu hành cổ điển mùa đông nơi loài người. Vào năm 1998, một biến cố chủ yếu sau đó sẽ xảy ra nơi các con heo ở Mỹ : một virus H1N1 heo tái phối hợp với những giống gốc gia cầm và người. Vài trường hợp nhiễm trùng ở người bởi virus mới phức tạp này đã được mô tả trong những năm qua ở Hoa Kỳ. Vào tháng tư vừa qua, khi các nhà khoa học của trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) mổ xẻ bộ gène (génome) của virus mới H1N1, họ đã tìm thấy 6 gène của tác nhân gây nhiễm được phân lập vào năm 1998, liên kết với hai gène xuất phát từ virus gây nhiễm các con heo châu Âu...... Cuộc gặp gỡ di truyền này đã được thực hiện như thế nào ? Một ngày nào đó người ta sẽ tìm thấy người bệnh nhân bị nhiễm trùng đầu tiên hết hay không ? Đối với các nhà khoa học, vẫn còn nhiều ẩn số. Nhưng càng ngày càng có nhiều nhà khoa học gợi ý rằng một sự theo dõi chăm chú hơn thế giới heo sẽ cho phép phát hiện sớm hơn virus H1N1 mới này.
(LE FIGARO 3/9/2009)

2/ CÚM A (H1N1) : THAI NGHÉN, MỘT THỜI KỲ CÓ NGUY CƠ.

Trong thời kỳ thai nghén, các phụ nữ mắc phải virus H1N1 có nguy cơ cao bị biến chứng và tử vong. Đó là điều được chứng tỏ bởi một nhóm các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, đã sưu tập, ở Hoa Kỳ, những trường hợp nhiễm trùng bởi virus đại dịch H1N1, xảy ra nơi những phụ nữ có thai trong những tháng đầu tiên của trận đại dịch hiện nay, cũng như những tử vong liên kết với virus này trong hai tháng đầu tiên của dịch bệnh này.

Giữa 15/4 và 18/5/2009, các trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) của 13 tiểu bang Hoa Kỳ đã đăng ký 34 trường hợp được xác nhận hay có khả năng bị nhiễm trùng bởi virus đại dịch H1N1 nơi các phụ nữ có thai. Các triệu chứng đều tương tự với những triệu chứng được tìm thấy trong dân chúng nói chung.

11 trong số các phụ nữ có thai này, hoặc 32%, đã được nhập viện. Tỷ lệ này cao hơn trong dân chúng nói chung (4,2%).

Giữa 15/4 và 16/6/2009, các CDC đã ghi nhận 6 trường hợp tử vong của các phụ nữ có thai, tất cả đã phát triển một bệnh viêm phổi và một hội chứng suy hô hấp cấp tính (syndrome de détresse respiratoire aigue), cần phải thông khí cơ học (ventilation mécanique). Trong số những người này, một béo phì, hai có những vấn đề nội khoa không nghiêm trọng khác và ba có sức khoẻ tốt.

Vậy đối với Denise Jamieson và các cộng sự viên, các phụ nữ có thai có thể có một nguy cơ bị các biến chứng cao hơn khi họ bị nhiễm trùng bởi virus mới H1N1. Các dữ kiện này đi theo chiều hướng của những khuyến nghị hiện nay chủ trương điều trị nhanh chóng các phụ nữ có thai bị ô nhiễm bởi virus H1N1 bằng các thuốc kháng virus.

Trong những lời bình luận được công bố trong Journal Watch Infectious Diseases ( 5/8/2009)[/color], BS Mary Wilson đánh giá rằng các phụ nữ có thai phải được tiêm chủng ưu tiên chống lại H1N1 : “ Sự tiêm chủng trong thời kỳ thai nghén cũng có thể bảo vệ đứa trẻ sau khi sinh “, bà ta đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 1/9/2009)

3/ MICHAEL JACKSON, MỘT NẠN NHÂN CỦA HỘI CHỨNG BRUGADA ?

Sự phối hợp của propofol và hội chứng Brugada có thể gây chết người. Theo thầy thuốc chuyên khoa tim Pedro Brugada, người đã mô tả hội chứng này, Michael Jackson có lẽ bị chết do hậu quả của sự phối hợp kém may mắn này.

Mặc dầu một cuộc giải phẫu tử thi và những xet nghiệm đã được thực hiện, nhưng nguyên nhân tử vong của Michael Jackson vẫn còn bị tranh cãi. Không nghi ngờ gì nữa, ngôi sao nhạc Pop đã chết do hậu quả của ngừng tim, nhưng người ta không biết trong trường hợp chính xác nào. Theo thầy thuốc của Jackson, Conrad Murray, người ca sĩ đã được tìm thấy bất tỉnh trong phòng của anh ta và người thầy thuốc đã