Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#1 Posted : Sunday, July 29, 2012 7:08:49 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 275

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

CHUYÊN ĐỀ NHÃN KHOA


1/ DỊCH CẬN THỊ Ở CHÂU Á

Cùng khuynh hướng được quan sát ở châu Âu. Giả thuyết : các thanh niên thường cứ ru rú mãi trong nhà.

OPHTALMOLOGIE. Không ai tranh cãi yếu tố di truyền của chứng cận thị, nhưng ảnh hưởng của yếu tố môi trường rõ ràng đóng một vai trò ngày càng rõ rệt, đặc biệt trong thời kỳ thanh niên. Chỉ cần nhìn điều đang xảy ra ở châu Á. Điều đã được thực hiện bởi GS Ian Morgan, thuộc Đại học Canberra (Úc), cũng là consultant ở Trung Quốc, với các đồng nghiệp người Nhật và Singapore của ông, trong số mới nhất của tạp chí khoa học quốc tế The Lancet. Các tác giả không đề xuất việc kéo dài của thời kỳ học vấn để giải thích hiện tượng này, như người ta thường làm. Theo họ, đúng hơn chính là “ sự thiếu tiếp xúc với ánh chói thiên nhiên đóng một vai trò quan trọng.”
Trong khi ở châu Âu cứ khoảng 36 người thì có một bị cận thị, thì trong những vùng đô thị của các nước phát triển của châu Á (Trung quốc, Nhật bản, Đài loan, Đại hàn), tình hình đáng hãi hùng vì lẽ 80 đến 90% những thanh niên lúc tốt nghiệp đều bị cận thị. Còn quan trọng hơn, 10 đến 20% bị cận thị nặng.
Phải chăng tình hình y hệt như ở chúng ta ? “ Tần số thấp hơn ở châu Âu. Có lẽ có một yếu tố di truyền quan trọng hơn ở châu Á, BS Marc Timsit, thầy thuốc ngoại nhãn ở Paris đã đưa ra giả thuyết như vậy. Ở Pháp, tỷ lệ lưu hành được chuyển từ 20% lên 40% trong khoảng 10 năm. Một khuynh hướng cũng được quan sát ở Bắc Mỹ và châu Âu. Một cách sơ đồ, có hai nguyên nhân lớn gây cận thị cổ điển : di truyền và môi trường. Yếu tố di truyền là không thể tranh cãi đối với một phần những trường hợp cận thị vì lẽ nguy cơ tăng gấp đôi khi có bố hay mẹ bị cận thị, và tăng gấp ba khi cả hai đều bị, BS Timsit đã xác nhận như vậy. Nhưng đối với Morgan và các đồng nghiệp của ông, một yếu tố rất biện hộ cho ảnh hưởng quan trọng và gia tăng của những yếu tố môi trường : sự gia tăng nhanh chóng các trường hợp cận thị từ năm 1996, được thể hiện với cùng quy mô đối với những người Hoa, những người Ấn và những người Mã lai sống ở Singapour, gợi ý rằng tất cả họ đều bị một sự nhạy cảm như nhau đối với những yếu tố nguy cơ. ”
Trong số những yếu tố nguy cơ, sự thiếu ánh sáng thiên nhiên. Thật vậy, Morgan giải thích rằng một chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteur) được sản xuất trong võng mạc dưới tác dụng của ánh sáng, dopamine, đóng một vai trò quyết định trong sự dẫn truyền tốt các thông điệp lên não bộ, nhưng không phải chỉ có thế. Ánh sáng cũng tránh một sự tăng trưởng quá mức của mắt từ lúc sinh đến giữa 20 và 25 tuổi. Thật vậy chính trong thời kỳ này mà mắt lớn lên, để chuyển từ một đường kính trước sau 16 mm lên khoảng 22mm. Thế mà ở một người cận thị, mắt lớn quá và có thể đạt đến một đường kính từ 30 đến 32 mm.“ Một chênh lệch đáng kể khi ta biết rằng chỉ cần một milimet cũng đã có những hậu quả lên thị giác ”, GS Philippe Denis, chủ tịch của Société française d’ophtalmologie và trưởng khoa mắt ở bệnh viện Croix-Rousse (Lyon) đã giải thích như vậy. Trải qua hàng giờ để đọc, chơi hay làm việc trên một màn ảnh làm dễ bệnh cận thị, theo Morgan đó là một cách gián tiếp bởi vì khi đó ta ít có thời gian ở ngoài trời. ”

MỘT MỐI LIÊN HỆ VẪN CẦN ĐƯỢC CHỨNG MINH.

“ Đó là một lý thuyết rất đang quan tâm, GS Denis đã bình luận như vậy. Vai trò của dopamine trong sự tăng trưởng của nhãn cầu đã được chứng minh bằng thí nghiệm ở động vật. Ta cũng biết rằng, trong bệnh Parkinson, những bệnh nhân bị đồng thời một sự thiếu hụt dopamine và những rối loạn thị giác với khó nhận thức những tương phản (contraste). Những rối loạn một phần có thể đảo ngược với điều trị bằng dopamine. ” Morgan đề nghị với các trẻ em và các thanh niên cần dành thời gian ở bên ngoài nhiều hơn. Mối liên hệ nhân quả giữa sự thiếu tiếp xúc với ánh sáng và bệnh cận thị vẫn cần phải được chứng minh, những thử nghiệm đã được phát động ở Trung Quốc và Singapour để xem một chương trình hoạt động bên ngoài có thể làm giảm sự xuất hiện của những trường hợp cận thị hay không.
(LE FIGARO 5/5 et 6/5/2012)

2/ SỰ BÙNG NỔ CỦA NHỮNG KỸ THUẬT NGOẠI KHOA CỦA BỆNH CẬN THỊ

Sự an toàn là điều bắt buộc đối với phẫu thuật này vì lẽ đó vẫn là một intervention de confort.

OPHTALMOLOGIE. Trong khi chứng cận thị ảnh hưởng 20 đến 30% dân chúng Pháp, khuyết tật thị giác này ảnh hưởng lên một nửa dân số châu Á mà đến hiện nay ta đã không bao giờ giải thích được những dị biệt này.

Người cận thị nhìn xa kém và các hình ảnh bị mờ. Ngược lại, thị giác nhìn gần hoàn toàn đúng đắn. Nếu các kính đeo và các thấu kính (lentille) điều chỉnh tốt trong cuộc sống hàng ngày, giải phẫu cận thị là một giải pháp vĩnh viễn. Ngoại khoa của bệnh cận thị, đã bắt đầu cách nay khoảng 20 năm, và ngày nay được hâm mộ đặc biệt. Ta ước tính 210.000 con số những bệnh nhân chịu can thiệp này mỗi năm ở Pháp.

Tuy nhiên, can thiệp này không có tính chất sinh tử. Vậy nó phải đảm bảo một sự an toàn tuyệt đối vì lẽ mổ để đáp ứng một rối loạn ít nghiêm trọng mà để chống lại đã có những giải pháp đơn giản khác. Mới đây, nhiều tiến bộ kỹ thuật đã góp phần để cải thiện những kết quả của phẫu thuật này.

Từ nay ngoại khoa của giác mạc (chirurgie de la cornée) này chủ yếu được thực hiện bằng laser. Kỹ thuật thường được sử dụng nhất đối với cận thị nhẹ hay trung bình (dưới 9 dioptries) là LASIK, nhằm điều biến (remodeler) giác mạc bằng laser tùy theo những đặc điểm của thị giác, với một cánh cửa giác mạc (volet de cornée) (được gởi là “ capot ” ) cũng được cắt trước bởi laser. Sự điều biến (remodelage) trực tiếp của giác mạc (PKR) được dành cho những trường hợp chống chỉ định của LASIK (bề dày của giác mạc nhỏ, độ cong đặc biệt..). “ Đã có những tiến bộ lớn với sự xuất hiện của laser Femtoseconde, cho phép chuẩn bị volet cornéen một cách rất chính xác đồng thời với mức độ an toàn cao, BS Jean-Jacques Saragoussi (thầy thuốc nhãn khoa, Paris) đã xác nhận như vậy. Vật liệu này, rất tốn kém, đã được phổ biến trong các khoa ngoại nhãn (chirurgie ophtalmologique) suốt trong 3 năm qua.”

NHỮNG IMPLANT MỚI ĐƯỢC DUNG NẠP TỐT HƠN.

Trên thực tế, trường hợp phức tạp nhất liên quan đến chứng cận thị nặng nhất (trên 9 dioptries). Laser có nguy cơ quá độc hại đối với giác mạc, GS Cochener đã quan sát như vậy, khi đó chúng tôi thực hiện ngoại khoa nội nhãn cầu (chirurgie intraoculaire). Đó là đưa vào một implant réfractif (như một lentille de contact), nhưng vào bên trong tiền phòng hay hậu phòng của mắt, tùy theo trường hợp. Cách nay 3 năm, nhiều trong số những implant này đã được rút ra khỏi thị trường bởi Afssaps do các biến chứng. “ Từ vài tháng qua, những implant mới được đánh giá trong thử nghiệm dài hạn dường như cho những kết quả tốt về mức an toàn, với một sự dung nạp tốt hơn ”, BS Jean-Jacques Saragoussi (thầy thuốc chuyên khoa mắt, Paris) đã giải thích như vậy. Ngoại khoa tế nhị này vẫn được dành cho cho vài trường hợp đặc biệt.

Để có thể hưởng một can thiệp bằng laser, nhất thiết giác mạc phải chắc chắn, đều và phải có “ bề dày trên 500 micron bởi vì can thiệp bằng laser nhằm làm mỏng nó ”, GS Thành Hoàng Xuân, trưởng khoa mắt ở Hopital américain de Neuilly đã giải thích như vậy. “ Thế mà nếu giác mạc quá mảnh, nó sẽ đề kháng kém hơn với áp suất nội nhãn. Với thời gian, giác mạc có nguy cơ bị căng ra và dẫn đến một biến chứng hiếm, nhưng đáng sợ, đó là sự tái xuất hiện chứng cận thị.”

Điều bức thiết khác đối với một can thiệp là tôn trọng những tiêu chuẩn về tuổi tác với những nhu cầu thị giác khác nhau và khuyết tật cần được ổn định (ít nhất từ hai năm).“ Thế mà bệnh nhân cần được can thiệp tương đối sớm mới có kết quả lâu dài càng lâu càng tốt trước khi bị lão thị ”, thầy thuốc chuyên khoa đã nói thêm như vậy. Vậy tuổi lý tưởng nằm giữa 20 và 45 tuổi.

10 NGƯỜI ĐƯỢC MỒ THÌ HẾT 9 RẤT THỎA MÃN

Thế các nguy cơ ? BS Jean-Michel Murate, thầy thuốc nhãn khoa ở Pamiers, gần Toulouse, là webmaster của site Internet du Syndicat des ophtalmologistes (snof.org). Ông tiếp nhận những lời chứng của các bệnh nhân đã được mổ trên toàn thế giới. Hơn chín người trên mười rất thỏa mãn can thiệp ngoại khoa. Dưới một trên mười bị những biến chứng nhẹ (khô mắt) cần dùng thuốc giọt trong vài tháng. Các bệnh nhân có thể cảm thấy một quầng chung quanh các ánh sáng khi họ lái xe ban đêm.

“ Những vấn đề thật sự nghiêm trọng vô cùng hiếm, ông đã đánh giá như thế. Chính các đôi mắt bị biến đổi sau một phẫu thuật mặc dầu diễn biến tốt. Và điều này xảy ra ngay với những thầy thuốc ngoại giỏi nhất trên thế giới ! ”. Nhưng, ông nói, loại nguy cơ này gắn liền với mọi cuộc mổ. “ Đó là một ngoại khoa mang lại chức năng (chirurgie fonctionnelle), GS Gilles Reanrd (trưởng khoa mắt, Hotel-Dieu, Paris) đã đánh giá như vậy. Do đó chúng ta có nghĩa vụ mang lại kết quả (une obligation de résultat).”

Điều quan trọng là phải chọn lựa tốt thầy thuốc ngoại khoa của mình. Theo BS Catherine Letouzey, vào năm 2009, 34 đơn kiện ngoại khoa khúc xạ (chirurgie réfractive) (chủ yếu đối với cận thị và viễn thị ), với 6 hay 7 trường hợp những biến chứng nghiêm trọng (giảm quan trọng thị giác).
Can thiệp được thực hiện với gây tê tại chỗ. Cuộc mổ kéo dài nửa giờ và thị giác trở lại hoàn hảo hoặc là tức thời, hoặc là 2 hay 3 ngày sau.
(LE FIGARO 31/5/2010)

3/ PHẪU THUẬT BỆNH ĐỤC THỦY TINH THẾ PHẢI CHĂNG LÀ KHÔNG NGUY HIỂM

Professeur LE HOANG PHUC
Membre associé de l’Académie nationale de chirurgie
Chef du service d’ophtalmologie du groupe hospitalier de
la Pitié-Salpêtrière, Paris


Bệnh đục thủy tinh thể (cataracte) được gây nên do sự mờ đục (opacification) của một thấu kính (lentille), nằm sau mống mắt bên trong nhãn cầu, được gọi là thủy tinh thể (cristallin). Điều trị khả dĩ duy nhất hiện nay là ngoại khoa và đã nhận được những tiến bộ kỹ thuật đáng kể trong 30 năm qua. Điều trị nhằm nhũ hóa (émulsifier) thủy tinh thể rồi lấy hết đi các chất bên trong nó để đặt thay thế vào đó một thấu kính nhân tạo tổng hợp (lentille artificiel synthétique), xuyên qua một đường xẻ nhỏ vào trong giác mạc từ 1,5 đến 2,75 mm tùy theo các kỹ thuật. Đó là kỹ thuật phacoémulsification, sử dụng một sonde rung lên trong nhãn cầu, phát ra những siêu âm. Trái với tin đồn, đó là một động tác ngoại khoa quan trọng vì lẽ động tác này bao hàm sự đưa vào trong nhãn cầu những dụng cụ để làm vỡ thành mảnh cái chứa trong thủy tinh thể. Trong đại đa số các trường hợp, động tác ngoại khoa được thực hiện ngoại trú với gây tê tại chỗ, chỉ bằng nhỏ các giọt thuốc gây tê hay bằng chích những thuốc gây tê quanh mắt. Người được mổ đến centre chirurgical vào buổi sáng và có thể trở về nhà vào buổi chiều cùng ngày. Trong vài trường hợp rất đặc biệt, người được mổ được cho phép ở lại một đêm trong centre chirurgical. Điều đó có thể trong trường hợp bị những bệnh toàn thân hay mắt nghiêm trọng cần theo dõi sát.

NHỮNG KỸ THUẬT MỚI.

Trong số 500.000 phẫu thuật đục thủy tinh thể được thực hiện hàng năm ở Pháp, tần số những biến chứng mổ và sau mổ vô cùng thấp và giống hệt với tần số được gặp trên phần còn lại của thế giới. Tuy nhiên, cũng như mọi phẫu thuật, các nguy cơ mặc dầu ở mức tối thiểu không thể là không có.
Tỷ lệ toàn bộ những biến chứng nhẹ hay nặng không vượt quá 1 đến 1,5%. Tỷ lệ này thay đổi tùy theo tình trạng tổng quát của bệnh nhân. Các nguy cơ cao ở những bệnh nhân có sức khỏe kém như các bệnh nhân đái đường, những người bị suy giảm miễn dịch hay những người bị những bệnh nhãn cầu có trước khi mờ đục thủy tinh thể. Đó chủ yếu là những bệnh nhân đã có những bệnh của các cấu trúc khác của nhãn cầu như giác mạc, mống mắt, dịch kính (vitré), màng mạch (choroide) hay võng mạc.

Vấn đề và những khó khăn xuất hiện trong khi mổ rất là hiếm và thường không thể tiên đoán được. Phẫu thuật viên đã đánh giá cẩn thận toàn bộ trường hợp của mỗi bệnh nhân trước khi mổ nhưng vài vấn đề liên hệ đến tình trạng mỏng manh và bản chất của mỗi nhãn cầu có thể xuất hiện trong lúc mổ. Những sự cố này có thể khiến phải đặt thủy tinh thể nhân tạo trước mống mắt chứ không phải trong vỏ của thủy tinh thể, thậm chí quyết định không đặt thủy tinh thể nhân tạo, quyết định lấy đi một mảnh của mống mắt, lấy đi một phần của dịch kính (vitré) nếu xảy ra một kẻ hở trong vỏ của thủy tinh thể, đi tìm kiếm một mảnh thủy tinh thể rơi trong dịch kính. Rất ngoại lệ, một xuất huyết có thể xảy ra và dẫn đến mất thị giác hay mù mắt.

Sau khi mổ, trong vài ngày mắt phục hồi rất nhanh một thị giác tốt với điều kiện không có những thương tổn trước đó của mắt. Ở 25% các bệnh nhân, vỏ của thủy tinh thể có thể trở nên mờ đục trong những năm sau khi mổ. Sau đó ta cảm thấy một sự mờ thị giác (flou visuel) như thể đục thủy tinh thể tái xuất hiện, đó là đục thủy tinh thể thứ phát : chỉ cần mở vỏ mờ đục của thủy tinh thể bằng laser Yag để mang lại một thị giác tốt.
Sau phẫu thuật, mặc dầu cuộc mổ diễn biến tốt, vẫn có thể gặp vài sự cố. Những biến chứng nặng rất là hiếm. Đôi khi những biến chứng này buộc phải mổ lại và trong trường hợp rất ngoại lệ có thể dẫn đến mất thị giác mắt được mổ hay làm hỏng luôn cả con mắt. Hai biến chứng nghiêm trọng nhất là những nhiễm trùng hậu phẫu (1 đến 3 trường hợp trên 1000 trường hợp), có thể làm hỏng mắt, và bong võng mạc (dưới 1 trường hợp trên 100), cần phải mổ lại. Có thể gặp những sự cố khác : sụp mi trên, máu tụ mí mắt hay ở kết mạc, nhìn thấy ruồi bay, song thị (vison double), sợ ánh sáng mạnh, va chạm do tai nạn lên mắt được mổ, rối loạn giác mạc, sẹo không kín, gia tăng áp lực nội nhãn, biến dạng giác mạc, lấy đi không hoàn toàn thủy tinh thể, độ tụ của thủy tinh thể nhân tạo không được thích ứng, thủy tinh thể nhân tạo bị di lệch, viêm mắt, bong võng mạc do kính hiển vi chiếu sáng trong lúc mổ, phù võng mạc ở điểm vàng.

Một lần nữa, những biến chứng nghiêm trọng là ngoại lệ và trong tất cả các trường hợp những biến chứng này được ghi lại trong một fiche d’information, được soạn thảo bối Hiệp hội nhãn khoa của Pháp. Trước khi quyết định mổ, fiche này được thầy thuốc phẫu thuật bình luận và trả lời các câu hỏi của các bệnh nhân và sau đó sau một thời hạn suy nghĩ được bệnh nhân ký nhằm cho phép thực hiện động tác ngoại khoa ở một người được đả thông đầy đủ.

Vài biến chứng có thể xuất hiện ngày sau khi mổ nhưng cũng có thể sau nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng, do đó cần thiết phải theo dõi tốt các bệnh nhân sau mổ.

Như thế ngoại khoa đục thủy tinh thể được quy tắc hóa một cách hoàn hảo. Các phẫu thuật viên có nhiều kinh nghiệm và quá trình đào tạo cho phép họ xử trí những bất ngờ liên quan đến cuộc mổ. Những kỹ thuật mới nhằm hoặc là làm giảm kích thước của đường xẻ (phacoémulsification biaxiale đã được thực hiện một cách thông thường) hoặc robot hóa những giai đoạn khác nhau của cuộc mổ (sử dụng một laser femtoseconde để thực hiện những đường xẻ và nhũ hóa (émulsification) chất chứa trong thủy tinh thể, kỹ thuật chẳng bao lâu nữa sẽ được sử dụng) cho phép làm giảm hơn nữa những nguy cơ vốn đã thấp của ngoại khoa đục thủy tinh thể.

(LE FIGARO 11/11/2011)

4/ THÀNH CÔNG ĐẦU TIÊN CỦA GHÉP TẾ BÀO CHO NHỮNG NGƯỜI NHÌN KÉM

GS José-Alain Sahel, giám đốc của Viện thị giác (đại học Pierre-et-Marie-Curie, Inserm, CNRS, hopital Quinze-Vinghts), giải thích những kỹ thuật của liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) đã thu được một thành công đối với những thương tổn của giác mạc.

Hỏi : Lần đầu tiên, những bệnh nhân bị thương tổn giác mạc đã phục hồi một hoạt động thị giác nhờ liệu pháp tế bào. Những thương tổn giác mạc thường gặp nhất là gì ?

GS José-Alain Sahel : Kératocône (tật giác mạc hình nón), trong đó giác mạc mỏng đi ở trung tâm, có dạng hình nón (nguyên nhân thông thường nhất của ghép giác mạc) ; herpès và zona, gây nên một sự mờ đục (opacification), những vết bỏng gây nên bởi các chất axit, các sản phẩm như soude, có thể dẫn đến mù lòa. Đối với tật giác mạc hình nón (kératocône), chúng tôi nhờ đến, với một sự thành công lớn, các thấu kính (lentille), ghép giác mạc, laser hay quang liệu pháp (photothérapie). Trong những trường hợp herpès, ghép (tùy theo các giai đoạn) có hiệu quả khoảng 1 trường hợp trên hai.

Hỏi : Còn về bỏng, những hậu quả là gì ?
GS José-Alain Sahel : Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, bất hạnh thay không có điều trị. Những thương tổn bỏng làm mất những tế bào gốc vòng rìa (cellules souches limbiques) nằm ở ngoại biên của giác mạc, cần thiết bởi vì chính chúng làm tái sinh biểu mô. Một vết loét phát triển và sẽ tấn công phần sau của mắt. Cho đến mãi gần đây, ghép đã không khi nào có thể thay thế được những tế bào vòng rìa (cellules limbiques) bởi vì nó chỉ làm đổi mới trung tâm của giác mạc.

Hỏi : Do đó tầm quan trọng của kỹ thuật mới bằng tự ghép tế bào (autogreffe de cellules). Protocole là gì ?
GS José-Alain Sahel : Thật vậy những kết quả ngoạn mục thu được bởi các chuyên gia về giác mạc (BS Carole Burillon, Lyon) đánh dấu một giai đoạn rất quan trọng. Sau nhiều cuộc thử khó khăn khác nhau để tự ghép tế bào (autogreffe cellulaire), các nhà khoa học đã nảy sinh ý nghĩ lấy những tế bào của niêm mạc miệng của bệnh nhân để cấy chúng trong phòng thí nghiệm trên một film được cấu tạo bằng polymère thermosensible, nhằm « thao tác » (manipuler) chúng để tạo một mẫu ghép (greffon) có thể dính vào giác mạc, kể cả ở phần ngoại biên, như thế thay thế những tế bào vòng rìa (cellules limbiques).

Hỏi : Liệu pháp tế bào sẽ được áp dụng cho những bệnh lý khác của mắt ?
GS José-Alain Sahel : Nhiều hướng mới liên quan đến những thoái hóa võng mạc (dégénérescences rétiniennes). Những thành công đã đạt được ở động vật. Kíp của GS Robin Ali, ở Luân Đôn, đã ghép cho các con chuột trưởng thành những tế bào lấy ở các chuột con, ngay trước khi chúng trở thành những tế bào nhận cảm ánh sáng hình que (cellules photoréceptrices à batônnets), như thế phục hồi một thị giác hoàng hôn bị mất do những biến dị tương tự với những biến dị được quan sát ở vài bệnh nhân.

Hỏi : Sau những thành công đầu tiên này ở động vật, khi nào ta sẽ chuyển qua những thử nghiệm ở người đối với những bệnh của võng mạc ?
GS José-Alain Sahel : Cần phải có khả năng cấy những tế bào của các phôi thai người (cellules d’embryons humains) (xuất phát từ các thai bị sẩy) ở tam cá nguyệt thứ hai của thai nghén, điều này không được phép thực hiện. Giải pháp duy nhất là lấy những tế bào này ở một giai đoạn phôi thai sớm hơn và làm cho chúng trưởng thành ở phòng thí nghiệm để đạt một giai đoạn tối ưu để cho phép một sự hội nhập tốt. Chính chiến lược này, được theo đuổi bởi nhiều kíp nghiên cứu trên thế giới, mà hiện nay những công trình của Olivier Goureau ở Viện thị giác, cộng tác với I-Stem (GS Peschanski, Genopol d’Evry) đang hướng vào. Chúng tôi phải nghiên cứu, trong một khung cảnh phá lệ, những tế bào gốc phôi thai xuất phát từ nước ngoài vì lẽ luật pháp ở Pháp còn cấm chỉ điều đó. Vào lúc này, những kết quả rất đáng phấn khởi. Liệu pháp tế bào là một niềm hy vọng rất lớn đối với tương lai.

Hỏi : Đối với những thương tổn võng mạc, đâu là những niềm hy vọng khác ?
GS José-Alain Sahel : Những niềm hy vọng này liên quan đến những bệnh võng mạc di truyền (40.000 trường hợp ở Pháp). Ở Viện thị giác, những dự án về liệu pháp gène (thérapie génique) của chúng tôi đã rất là đầy hứa hẹn. Trong lúc chờ đợi sự hiệu chính một điều trị, những bệnh nhân bị bệnh viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) ở một giai đoạn rất tiến triển có thể sử dụng một võng mạc nhân tạo (rétine artificielle), một implant điện tử được nối kết với một caméra, cho phép đọc các mẫu tự, định vị trí các đồ vật, định hướng đi, tìm lại các điểm mốc của mình. Nhờ những tiến bộ của khoa học, ta đã chuyển từ khoa học viễn tưởng sang hiện thực.
(PARIS MATCH 31/5 – 6/6/2012)

5/ MÙ : NHỮNG HƯỚNG MỚI CỦA LIỆU PHÁP TẾ BÀO

Nhờ kỹ thuật này, các nhà nghiên cứu đã mang lại thị giác hoàng hôn (vision nocturne) cho các chú chuột.

OPHTALMOLOGIE. Bệnh thoái hóa điểm vàng do lớn tuổi (DLMA : dégénérescence maculaire liée à l’âge), có thể gây nên mù lòa do trung tâm võng mạc bị phá hủy, gây bệnh cho 1 triệu người ở Pháp, chủ yếu sau 65 tuổi. Bên cạnh bệnh lý này mà từ nay ta đã biết rõ, còn khoảng 40.000 người bị những bệnh khác, phần lớn do di truyền, cũng phá hủy võng mạc. Đối với tất cả những bệnh này, liệu pháp tế bào là một phần của những hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn, phát triển khắp nơi trên thế giới.

Kíp nghiên cứu của GS Robin Ali của Luân Đôn (UCL Institut d’ophtalmologie) đã phục hồi thị giác ban đêm (vision de nuit) của những con chuột nhìn kém, bằng cách ghép những tế bào nhận cảm ánh sáng (cellules photoréceptrices) của võng mạc. Để đạt được điều đó, kíp nghiên cứu đã tiêm những tế bào nhận cảm ánh sáng còn non, có liên quan trong thị giác hoàng hôn (những tế bào que : batonnets), phát xuất từ những con chuột nhỏ lành mạnh, trực tiếp vào trong võng mạc của những động vật gặm nhấm trưởng thành không có các tế bào quy chức năng (batônnets fonctionnels). 4 đến 6 tuần sau, những tế bào được ghép đã tạo nên những nối kết (connexions) cần thiết để truyền thông tin thị giác về não bộ và hoạt động tốt như những tế bào que bình thường

“ KHÔNG HY VỌNG HẢO ”

Các con chuột được ghép đã chịu một cách thành công những trắc nghiệm mê cung (tests de labyrinthe), trái với những con chuột không được ghép. “ Lần đầu tiên chúng tôi đã cho thấy rằng những tế bào nhận cảm ánh sáng được ghép có thể hội nhập vào circuit rétienien đã có và thật sự cải thiện thị giác ”, GS Ali đã nhấn mạnh như vậy. Công trình nghiên cứu này cho thấy rằng khi ta tác động vào một giai đoạn rất sớm, lúc võng mạc không bị thoái hóa, ta sẽ thu được một kết quả chức năng ”, GS José-Alain Sahel, giám đốc Institut de vision đã phân tích như vậy.

Đối với các thầy thuốc nhãn khoa này, con đường phải trải qua trước khi áp dụng điều trị vẫn còn dài. “ Quan niệm thật thanh lịch, nhưng tôi không thấy được sự áp dụng trực tiếp ”, GS Sahel nói tiếp. “ Những công trình nghiên cứu này là một hướng đáng lưu ý, nhưng chúng ta sẽ không thấy áp dụng lâm sàng trong 5 năm đến. Đừng mang lại những niềm hy vọng hảo cho bệnh nhân ”, GS Jean-Franois Korobelnik, thầy thuốc nhãn khoa thuộc CHU de Bordeaux cũng hưởng ứng như vậy. Đối với các chuyên gia, liệu pháp tế bào trong nhãn khoa chỉ mới ở giai đoạn mò mẫm ban đầu. Thái độ thận trọng là đúng đắn, mặc dầu trong tháng giêng vừa qua những trường hợp ghép những tế bào gốc phôi thai người đầu tiên đã cho những kết quả sơ khởi đáng phấn khởi trên hai bệnh nhân bị những thương tổn trầm trọng của mắt, trong đó một bị bệnh DMLA, theo các kết quả được công bố trong the Lancet. Trên giấy tờ, đó là những lý luận khoa học rất thông minh, nhưng chúng phải đương đầu những thử nghiệm quy mô lớn ” , GS Korobelnik đã nhấn mạnh như vậy.

Trong lúc chờ đợi, những hướng điều trị khác có vẻ đạt kết quả hơn để điều trị hai thể bệnh của DMLA. Thể ướt (forme humide), trầm trọng nhất, được đặc trưng bởi một sự mất nhanh chóng thị giác. Đối với thể này, hậu quả của sự phát triển bất thường các tân huyết quản trong mô võng mạc và những biến chứng xuất huyết và hóa sẹo, có một loại thuốc làm dừng sự tiến triển của bệnh. Đối với dạng teo (forme atropique), thường xảy ra hơn nhưng tiến triển chậm hơn, vào lúc này không có điều trị. “ Một yếu tố tăng trưởng (facteur de croissance) đang được thử nghiệm trên người. Đó là điều trị gần mang lại kết quả nhất nếu những thử nghiệm lâm sàng có kết quả ”, GS Michel Weber, thầy thuốc nhãn khoa của CHU de Nantes đã giải thích như vậy. Đó là đặt (implanter) một capsule trong mắt, phát ra yếu tố tăng trưởng và cho phép bảo tồn bề dày của võng mạc điểm vàng (rétine maculaire). Điều này có nghĩa rằng cần điều trị trước khi các tế bào nhận cảm ánh sáng bị biến mất.
(LE FIGARO 20/4/2012)

6/ MỘT LIỆU PHÁP GENE CẢI THIỆN THỊ GIÁC CÁC TRẺ EM MÙ

12 trẻ em bị một bệnh di truyền của võng mạc đã nhận trực tiếp vào trong mắt một gène réparateur.

MALADIES ORPHELINES. Các nhà nghiên cứu của trường y thuộc Đại Học Pennsylvanie đã thành công, nhờ một liệu pháp gène (thérapie génique), cải thiện một cách đáng kể thị giác của những trẻ em bị bệnh amaurose congénitale de Leber, một bệnh di truyền của võng mạc sớm hay muộn sẽ dẫn đến mù lòa. Những thử nghiệm giai đoạn 1 (rất sơ khởi) đã được tiến hành vào tháng 10 năm 2007 ở 12 bệnh nhân tuổi từ 8 đến 44, ở Hoa Kỳ, ở Bỉ và ở Ý.

Những kết quả được công bố trên site Internet của Lancet, một tạp chí y khoa của Anh, là “ ngoạn mục ”, theo các nhà nghiên cứu : tất cả những trẻ em tham gia thử nghiệm đã có một sự cải thiện thị giác đủ để cho phép chúng bước mà không cần sự giúp đỡ. Một trẻ em, từ khi sinh ra, đã chỉ phân biệt được ánh sáng và bóng tối, đã có thể phân định màu mắt của bố nó và chơi đá banh với ông ta.

Nguyên tắc của thí nghiệm thành công của Hoa Kỳ là đơn giản : đó là thay thế bên trong những tế bào của võng mạc gène bị thiếu hay bị bệnh bằng một bản sao lành mạnh để mang lại những chức năng bình thường của nó cho mắt. Mặc dầu tin này mang lại hy vọng cho 1000 đến 2000 trẻ em ở Pháp bị chứng bệnh này, tuy vậy cần phải vạch ra những giới hạn.

Amaurose congénitale de Leber là một tổng thể các dấu hiệu lâm sàng, nói một cách khác, một syndrome “ fourre-tout ”. Hội chứng này bao gồm những bệnh di truyền rất khác nhau. Rất nhanh sau khi sinh các trẻ em bị bệnh bị mất thị giác nghiêm trọng và có những cử động bất thường của các nhãn cầu. Bệnh trở nên trầm trọng dần và bệnh nhân bị mù hoàn toàn khoảng 30 đến 40 tuổi. Mặc dầu đáy mắt cho phép các thầy thuốc hướng định chẩn đoán về một dạng nào đó của bệnh, nhưng chính nhờ génotypage mà ta biết được gène nào bị bệnh. Ta đã khám phá ít nhất 13 gène chịu trách nhiệm. Lúc biến dị, chúng làm đình chỉ sự sản xuất bình thường của các men của chu kỳ thị giác, hay sự sản xuất những protéine cấu thành của các thụ thể nhận cảm ánh sáng của võng mạc (chính chúng bắt những độ dài sóng ánh sáng khác nhau) hay sau cùng sự sản xuất của những protéine vận chuyển các luồng thần kinh tải thông tin ánh sáng lên não bộ.

Nhà nghiên cứu Hoa Kỳ Joan Bennet và nhóm nghiên cứu đã khảo sát một gène duy nhất trong số những gène này, RPE 65. Nó đóng một vài trò chủ yếu trong sự chế tạo, ở lớp sâu nhất của võng mạc, những sắc tố nhạy cảm với ánh sáng. Trên 2000 thanh niên người Pháp bị bệnh Leber, chỉ 100 đến 150 có liên quan. “ Sự lựa chọn của các nhà nghiên cứu được giải thích : khi amaurose de Leber do khuyết tật của gène RPE65, có một thời kỳ dài giữa lúc bắt đầu bệnh và sự chết do thoái hóa của các tế bào võng mạc. Do đó tầm bắn rộng hơn đối với liệu pháp gène ”, Fabienne Rolling, nhà nghiên cứu ở Inserm của Nantes đã giải thích như vậy. “ Điều đó không đúng với những gène khác, bà ta đã nói thêm vào như thế.

Để có thử nghiệm này, một virus cúm (adénovirus) được làm trở thành vô hại đã được sử dụng như vecteur để vận chuyển một bản sao lành mạnh của gène. Tất cả được tiêm trực tiếp xuyên qua mắt vào trong những tế bào võng mạc. Vào năm 2006, nhóm Inserm của Fabienne Rolling đã thành công mang lại thị giác, với cùng liệu pháp gène, cho 6 con chó mù bị cùng căn bệnh. Đó là điều đã cho phép phát khởi thử nghiệm trên người này.
Sự thành công lâm sàng sơ khởi làm phát khởi trở lại liệu pháp gène trên người. Và đặc biệt liệu pháp gène của những bệnh thi giác, vì mắt là cơ quan dễ tiếp cận. Liệu pháp gène trên người đột ngột bị đình chỉ cách nay vài năm do nhiều trường hợp ung thư xuất hiện sau khi điều trị ở những người bị thiếu sót miễn dịch nặng (bébés bulles)
(LE FIGARO 31/10 - 1/11/2009)

7/ LÀM SAO LÀM NGỪNG BỆNH GLAUCOME CỦA MẮT

Các nhà nghiên cứu của Inserm đã thành công phong bế tiến triển của bệnh glaucome. Căn bệnh này được liên kết với một sự gia tăng bất thường của áp lực nội nhãn, trong những thể bệnh cấp tính nhất có thể dẫn đến mù lòa. Đó là nguyên nhân đứng thứ hai gây mù lòa trên thế giới và glaucome gây bệnh cho 50 đến 60 triệu người, trong đó 7 triệu bị mù lòa. Ở Bỉ hơn 100.000 người được điều trị vì bệnh glaucome. Bệnh được đặc trưng bởi một sự phá hủy dần dần dây thần kinh thị giác và một sự biến đổi không thể đảo ngược của chức năng thị giác, các bờ của hình ảnh càng ngày càng thu hẹp về phía trung tâm.

Áp lực nội nhãn lớn được tạo nên do một sức cản lên sự chảy bình thường của thủy dịch (humeur aqueuse) tại một cấu trúc của mắt, trabéculum. Tuy nhiên, sự thoái hóa của các mô của trabéculum vẫn không được hiểu rõ. Những điều trị hiện nay không nhắm một cách trực tiếp đến cơ chế này, điều này một phần có thể giải thích sự thất bại điều trị thường được quan sát. Đôi khi mặc dầu được điều trị tối ưu, ta vẫn quan sát thấy trường hợp mù lòa.

Chính vì vậy một nhóm nghiên cứu ở Viện thị giác Paris đã phát giác ra vai trò của vài phân tử của quá trình viêm, được gọi là chimiokinine. Họ công bố các kết quả trong một bài báo của Plos One.

MỘT SỰ CÂN BẰNG BỊ PHÁ VỠ.

Các nhà nghiên cứu chứng tỏ sự hiện hữu của một sự cấn bằng giữa dạng lành mạnh của chimiokine được gọi là CXCL12 và một dạng cụt (forme tronquée) của nó. Chimiokine làm dễ khả năng sống của các mô của trabéculum qua thụ thể CXCR4, dạng cụt trái lại gây nên sự chết của các mô qua thụ thể CXCR3. Dường như sự chuyển từ một dạng “ lành mạnh ” sang dạng cụt được làm dễ bởi các cytokine và métallo-protéinase có liên hệ trong bệnh glaucome.

Do đó các nhà nghiên cứu cố gắng phong bế CXCR3 gây sự chết của các mô. Điều đó đã cho phép làm giảm áp lực nội nhãn, tái lập chức năng lọc của trabéculum, và như thế gìn giữ chức năng thị giác do bảo vệ võng mạc.
Và điều đó đã thành công…trên chuột được gây bệnh glaucome. Bệnh đã không còn tiến triển nữa sau khi phong bế thụ thể đặc hiệu này. Theo Alexandre Denoyer, tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu, “ những công trình này cho phép cải thiện sự hiểu biết về bệnh glaucome. Chiến lược mới lạ được sử dụng nhắm vào những chimiokine ở trabéculum có thể dẫn đến sự phát triển một điều trị cải tiến thay thế hay bổ sung những điều trị lâu dài bằng những thuốc giọt hiện nay.
(LE SOIR 6/6/2012)

8/ MỘT VŨ KHI MỚI CHỐNG NHỮNG THƯƠNG TỔN VÕNG MẠC.

Quote:
Những điểm chủ yếu
  • Một sản phẩm được tiêm vào mắt cho phép làm giảm sự tăng trưởng bất thường của các huyết quản làm mất thị giác.
  • Loại thuốc này có thể cách mạng hóa điều trị những vi hậu quả của bệnh đái đường.


Đó là biến chứng thông thường nhất liên kết với bệnh đái đường : sự tạo thành một phù nề trong võng mạc của mắt dẫn đến sự mất dần dần thị giác. Những thương tổn võng mạc được tìm thấy ở gần 1/3 những người trưởng thành bị bệnh đái đường và bệnh đái đường là nguyên nhân đầu tiên của mù lòa đối với những người dưới 70 tuổi. Tiến triển của bệnh là chậm bởi vì thị giác chỉ thật sự sụt giảm khi điểm vàng (macula), vùng trung tâm của võng mạc mang lại thị lực tối đa của mắt, bị thương tổn. Ít có vũ khí chống lại tiến triển này. Một loại thuốc mới, VEGF-Trap-Eye vừa chứng tỏ tính hiệu quả của nó chống lại sự thoái hóa này trong một thử nghiệm mà những kết quả được công bố trong ấn bản mới nhất của tạp chí quy chiếu Ophthalmology.

VEGF-Trap-Eye là một protéine tác dụng như một chất ức chế của VEGF, yếu tố tăng trưởng huyết quản nội mô, một tác nhân gây nên sự tạo thành những vi huyết quản mới sau võng mạc. Những vi huyết quản này, mảnh dẻ và sốp, có thể vỡ, tạo nên một vết (tache) trong thị trường. Nhưng các bệnh này cũng có thể làm rối loạn thị giác bên (vision latérale) và ảnh hưởng thị giác các thể tích và đường cong (vision des volumes et des courbes),. Chắc là ta có thể tác động một phần lên các nguyên nhân của sự thoái hóa, như bệnh đái đường hay cao huyết áp. Trong vài trường hợp, ta cũng có thể sử dụng một điều trị laser. Nhưng chưa hẳn là đủ. Trong những năm qua đã phát triển một kỹ thuật mới, nhằm chích vào trong xoang của vitré của mắt những chất ức chế yếu tố tăng trưởng. Nhưng việc tiêm này phải được lập lại một cách khá đều đặn.

“ MỘT CUỘC CÁCH MẠNG TIỀM TÀNG ”

VEGF-Trap-Eye, căn cứ trên một cơ chế tác dụng khác, có thể chỉ cần tiêm mỗi 4 tháng. Những kết quả mới nhất cho thấy rằng sau một năm điều trị, sư phù nề của võng mạc của các bệnh nhân đã được thu giảm từ 165 đến 227 micromètre, trong khi sự phù nề của những bệnh nhân được điều trị bằng laser, kỹ thuật tiến bộ nhất được sử dụng hiện nay, đã chỉ được giảm 58 micromètre. Điều đó cho phép các tác giả kết luận rằng tính hiệu quả của điều trị với VGF-Trap-Eye là cao hơn những điều trị hiện nay và có thể cách mạng hóa việc xử trí nguyên nhân quan trọng của phế tật này. Một công trình nghiên cứu giai đoạn III, giai đoạn cuối cùng trước khi thương mãi hóa, hiện đang được tiến hành ”, Diana Do, tác giả chính của công trình nghiên cứu, thuộc Johns Hopkins University School đã giải thích như vậy.

“ Nếu những kết quả này được xác nhận và nhất là nếu hiệu quả được bảo tồn theo thời gian, điều đó có thể làm thay đổi sâu xa sự điều trị những bệnh nhân bị bệnh đái đường.Thật vậy căn bệnh này là nguyên nhân đầu tiên gây mù lòa ở những người trưởng thành ở các nước phương tây, BS Laurent Crenier , thầy thuốc chuyên khoa bệnh đái đường thuộc bệnh viện đại học Erasme (ULB, Bỉ) và thư ký của Hiệp hội bệnh đái đường Bỉ đã giải thích như vậy. Cách yếu tố tăng trưởng gây nên thương tổn này ở võng mạc vẫn còn không được biết rõ. Tuy vậy vẫn có ít giải pháp dành cho các bệnh nhân. Dĩ nhiên, giúp đỡ họ kiểm soát bệnh đái đường hay chứng cao huyết áp của họ. Những điều trị bằng laser cho phép đốt (cautériser) những vi phình mạch (micro-anévrisme), những huyết quản sinh từ bệnh lý này. Nhưng đó là một kỹ thuật không thể áp dụng trên hoàng điểm (macula), bởi vì nó sẽ làm mờ đục thị giác. Vậy tác dụng của các loại thuốc nhằm ức chế sự tăng trưởng bất thường này của huyết quản là một con đường đầy hứa hẹn. Tuy nhiên vẫn phải thận trọng. Cơ thể con người là phức tạp. Không loại trừ rằng con đê mà ta dựng lên như thế sau đó sẽ bị đi vòng bởi một cơ chế tác dụng khác.

(LE SOIR 17/5/2012)

10/ LÀM SAO PHÁT HIỆN MỘT RỐI LOẠN THỊ GIÁC Ở TRẺ EM ?

Professeur Jean-Louis Dufier
Service d’ophtalmologie
Necker Enfnats malades
Membre de l’Académie nationale de médecine


Trẻ em không phải là một người lớn thu nhỏ, đặc biệt trong lãnh vực thị giác. Chính vì vậy phải cho đến năm 6 tuổi để mắt và các đường thị giác có thể được xem như hoàn thành. Suốt trong thời kỳ này, một sự cố có thể ngăn trở sự phát triển hài hòa và được xác định trước về mặt di truyền (génétiquement programmé) này ; những biện pháp thích hợp khả dĩ khôi phục điều đó, với điều kiện không được chờ đợi. Dĩ nhiên ta nghĩ đến sự hồi phục chức năng (réducation) của chứng giảm thị lực (amblyopie), mặc dầu không hiệu quả bao nhiêu sau 6 tuổi. Vài dấu hiệu rất đơn giản hẳn lôi kéo sự chú ý của các bố mẹ vốn không hay không đủ lo sợ lắm về tình trạng thị giác của con em mình.

Trong những nước phát triển, một cách sơ đồ, 10% các trẻ em bị một rối loạn thị giác có thể điều chỉnh dễ dàng bằng các kính đeo hay những lentille de contact. Chỉ 1% cần điều trị nội nhãn hay ngoại nhãn khoa, và dưới 1/1000 những trẻ em bị một sự suy yếu thị giác nặng, thậm chí mù mắt, thường nhất là do di truyền.

Ở những trẻ sơ sinh, tất cả các thành phần của hệ thị giác được thiết lập. Để cho chức năng thị giác phát triển, những kích thích thị giác đầu tiên, ví dụ gương mặt của người mẹ cách 30 cm, làm phát khởi những nối kết neurone giữa võng mạc và vỏ thị giác, nằm ở phía sau não bộ. Chính vì thế những ngại ngùng không muốn làm những trẻ nhỏ tiếp xúc với một kích thích thị giác nhân tạo bởi những hình ảnh 3D không phải là hoàn toàn vô căn cứ. Thật vậy, ngay những tuần lễ đầu tiên nhũ nhi sẽ ban cho bố mẹ một nụ cười đáp trả toe toét. Khi nhìn chằm chằm vào em bé cách 30 , bố mẹ có thể bắt được cái nhìn của nó và ngay cả nhận được một sự theo đuổi của đôi mắt như thể những cái nhìn bị thu hút bởi nam châm (regards aimantés).

Ngược lại, một sự hờ hững kéo dài với những người chung quanh, những cử động nhãn cầu bất thường, một sự lệch thường trực của một nhãn cầu, một em bé quá trầm tĩnh, với những ngón tay và nắm tay đè mạnh trên các mí mắt, một sự sợ hãi thật sự ánh sáng môi trường hẳn phải báo động bố mẹ và khiến họ thăm khám một thầy thuốc nhãn nhi đồng. Dẫu sao đi nữa, một thăm kham hệ thống các con mắt được dự kiến theo định kỳ trong sổ sức khỏe. Thăm khám lâm sàng này có thể hoặc là đủ để chẩn đoán và để khế dọn một điều trị, hoặc biện minh những thăm khám phụ với gây mê tổng quát.

Tật lác mắt (strabisme) buộc phải thăm khám nhãn khoa và lập một bilan orthoptique dầu đứa bé được quan sát ở lứa tuổi nào. Thật vậy đó là một căn bệnh thường có tính chất gia đình, nhưng cũng có thể phát hiện một bệnh mắt tiềm tàng và không được nhận biết. Tiên lượng của nó sẽ càng tốt hơn khi sự điều trị càng được thực hiện sớm, đặc biệt là khi sử lệch vẫn luôn xảy ra ở cùng con mắt, khiến nghi ngờ nhiều một giảm thị lực (amblyopie). Nói chung tật lác mắt có thể được chữa lành trước 6 tuổi với 3 điều kiện : một sự chỉnh thị (correction optique) chính xác, một sự hồi phục chức năng được theo dõi đúng và sự hợp tác tích cực của đứa bé và bố mẹ của nó. Nếu cần, một phẫu thuật trên các cơ nhãn cầu sẽ điều chỉnh sự tổn hại thẩm mỹ còn sót và tránh cho đứa trẻ khỏi bị bạn bè trêu chọc.

KIỂM TRA HỌC ĐƯỜNG

Sự đánh giá thị lực có thể được thử ngay ở tuổi 6 tháng nhưng những công cụ phát hiện đặc biệt (carton de Teller ; bébé vision), những sự đo lường chính xác chỉ hữu hiệu vào khoảng 3 tuổi. Sự đánh giá này được thực hiện một cách hệ thống khi kiểm tra học đường và phải được đặc biệt theo dõi hơn ở trẻ nhấp nháy mắt hay nheo mắt, nhìn quá gần vở, truyền hình hay màn ảnh máy vi tính. Mọi sự khó khăn khi tập đọc và tập viết và, một cách tổng quát, mọi sự giảm sút học tập phải khiến bộ mẹ tự

Hỏi : nó có thấy rõ không ? nó có nghe rõ không ?
Về phần mình, thầy thuốc nhãn khoa sẽ đo trị số quang học (valeur optique) của hai mắt sau khi nhỏ thuốc nhỏ mắt atropine trong vài ngày. Trong trường hợp này ta sẽ có thể lợi dụng một kỳ nghỉ hè để không làm xáo trộn học vấn của đứa trẻ, bị trở ngại khi phải nhìn gần. Như thế sẽ có thể điều chỉnh những khuyết tật thông thường nhất, cận thị, loạn thị, viễn thị, thương đã được biết trong gia đình. Bố mẹ sẽ ưu tiên các lunettes à pont bas bởi vì ensellure mũi ở đứa trẻ ngắn, như thế tránh cho đứa trẻ phải nhìn qua kính, nhất là khi nó được điều trị để phục hồi chức năng của chứng giảm thị lực. Được trang bị, theo dõi và cải tạo như thế, đứa trẻ sẽ ở trong những điều kiện tốt nhất để đương đầu với một môi trường, suốt cuộc đời, sẽ đòi hỏi nó phải nhìn.
(LE FIGARO 21/3/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/7/2012)

Edited by user Tuesday, January 29, 2013 6:39:49 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



thanks 2 users thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 9/4/2012(UTC), Ngọc Anh on 9/20/2012(UTC)
lly (Lynn Ly)  
#2 Posted : Saturday, August 4, 2012 3:44:52 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 276

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

ĐIỂM BÁO SCIENCES ET AVENIR


1/ BỤNG : NÃO BỘ THỨ HAI CỦA CHÚNG TA

Ta thật sự biết gì về cái bụng của chúng ta ? Chẳng biết gì, hay gần như chẳng biết gì, nếu không đôi khi nó biểu hiện bằng triệu chứng đau đớn. Thế mà tuy vậy, từ vài năm nay, nghiên cứu tích lũy những chỉ dấu cho thấy cơ quan này rõ ràng là một não bộ thứ hai ! Được bọc bởi các neurone (nhiều bằng với tủy sống) sản xuất sérotonine (một chất dẫn truyền thần kinh chủ chốt của hệ thần kinh trung ương), bụng đối thoại thường trực với não bộ. Và điều mà những trao đổi này tiết lộ, hơi bắt đầu được khám phá, mở ra những chân trời không ngờ, thậm chí làm chóng mặt : hàng tỉ vi khuẩn sống trong ruột, như thế tạo nên căn cước dạ dày ruột (carte d’identité gastrointestinale) của chúng ta, phải chăng ảnh hưởng lên hành vi của chúng ta ? Ngày mai phải chăng ta sẽ có thể điều trị những triệu chứng đau bụng bằng các thuốc chống trầm cảm ?

1. MỘT HỆ THỐNG THẦN KINH CẦN THIẾT CHO SỰ SỐNG CÒN

Hệ thần kinh này có cùng số lượng neurone với tủy sống và tuy vậy, nó không nằm trong sọ, mà nằm trong bụng của chúng ta ! Nó, đó là hệ thần kinh ruột (système nerveux entérique) hay SNE, một mạng dày đặc các neurone nối kết chặt chẽ với nhau và bao phủ toàn bộ ruột. Hệ thống thần kinh này, cần thiết cho sự sinh tồn và tự trị trong sự vận hành chức năng, đến độ nó được mệnh danh là “ não bộ thứ hai ” bởi Michael Gershon, giáo sư của Département d’anatomie et biologie cellulaire của đại học Columbia (Nữu Ước). Từ đó, các nhà khoa học đã chấp nhận thuật ngữ và những tiến bộ của nghiên cứu đã xác nhận thực tế của ý niệm mới này. Vậy chỉ một não bộ duy nhất không đủ cho cơ thể hay sao ? “ Quá trình tiêu hóa phức tạp đến độ các bạn cần một hệ thân kinh rất quan trọng để kiểm soát và làm nó hoạt động ”, Michael Gershon, từng nghiên cứu chủ đề này từ nửa thế kỷ nay, đã đảm bảo như vậy. Chúng ta hãy nhắc lại rằng sứ mạng của bộ máy tiêu hóa là làm thức ăn lưu thông từ miệng đến hậu môn, đồng thời nghiền nát và làm hóa lỏng chúng, và làm chúng lưu thông dọc theo ruột với tốc độ tối ưu vài centimère mỗi giây. Điều đó nhằm mục đích làm cho một số lượng tối đa các chất dinh dưỡng đến tiếp xúc với thành ruột để nuôi cơ quan. Một công việc quy mô lớn khi ta biết rằng diện tích của ruột tương đương với diện tích của một sân đánh tennis (200m2) ! Những yếu tố tốt phải được lựa chọn và đi vào tuần hoàn máu (sự đồng hóa : assimilation). Những yếu tố xấu hay “ không thể đồng hóa ” (non assimilables) được thải bởi ruột già, tuy vậy đã nuôi dưỡng microbiote (toàn bộ những vi khuẩn trong ruột). Một hệ thống phức tạp đến độ nó cần sự thiết đặt một “ nhà máy ” thật sự, được phân cấp quản lý và tự trị. “ Nếu hệ thần kinh trung ương (não bộ) phải quản lý toàn bộ, thì hàng triệu và hàng triệu neurone sẽ phải bị huy động, cũng như những sợi thần kinh để nối kết chúng ! Michael Gershon đã nói tiếp như vậy. Do đó quá trình tiến hóa đã lựa chọn một phương pháp hiệu quả hơn nhiều, các neurone trong ruột. ” Hiệu quả đến độ ngay cả những vi sinh vật đa bào đầu tiên, thuộc loại méduse, đã theo phương pháp này.

Biệt danh “ não bộ thứ hai ” này không bị tiếm đoạt. Dĩ nhiên về cơ thể học, hệ thần kinh ruột (SNE) không giống với vỏ não, thu mình lại (ramassé) và được cấu tạo bởi những hồi não (circonvolution). Các SNE được tạo thành bởi hai manchon xếp lên nhau, cuộn quanh ống tiêu hóa. Những sợi thần kinh dẫn truyền (các sợi trục) không được bao quanh bởi gaine de myéline (làm gia tốc luồng thần kính trong não) và, nhất là, những nối kết đều đơn giản. SNE không có khớp thần kinh (synapse) mà là những “ varicosités ” tập trung những chất dẫn truyền thần kinh, nằm cạnh những tế bào đích (neurone, cơ, những tế bào biểu mô). Được cấu tạo như thế, bởi vì những quá trình tiêu hóa chính, chậm hơn nhiều, thí dụ, những quá trình điều hòa bước đi hay tim, nên SNE không cần một tốc độ dẫn truyền quan trọng.

Ngoài vài sự khác nhau này, hệ thần kinh trung ương (SNC) và hệ thần kinh ruột (SNE) giống nhau như anh em. Hãy bắt đầu bằng nguồn gốc chung của chúng : “ Các neurone ruột phát xuất từ cùng plaque neurale phôi thai của các neurone não bộ tạo nên tube neural và đầu, Michel Neunlist, giám đốc đơn vị Inserm, chuyên gia axe cerveau-intestin, đã giải thích như vậy. Nhưng những neurone ruột coloniser ống tiêu hóa từ trên xuống dưới, cho đến 7 tuần thai nghén. Sau đó chúng nối kết với nhau để tạo thành các mạng, không có cấu trúc nào khác, y hệt như não bộ. ” Cũng y hệt như trong hệ thần kinh trung ương, những neurone này liên kết với hàng triệu các cellules gliales, các astrocytes, sẽ trợ giúp chúng trong công việc. Chúng cũng sản xuất và sử dụng khoảng 30 chất dẫn truyền thần kinh (acétylcholine, adrénaline, sérotonine,) y hệt với những chất dẫn truyền thần kinh của não bộ. Ngoài ra, chúng được bảo vệ bởi một lớp những tế bào biểu mô (cellules épithéliales), hàng rào có nhiệm vụ lọc những tác nhân không được mong muốn hiện diện trong ruột, đồng thời để đi qua những phân tử dinh dưỡng cần thiết. Y hệt như công việc của hàng rào huyết não (barrière hématp-encéphalique) bảo vệ những neurone não bộ của chúng ta. Sau cùng, cũng như alter ego của nó, hệ thần kinh ruột cần thiết cho sự sinh tồn.

“ Ta không thể sống mà không có não bộ thứ hai của mình ! Michel Neunlist nói tiếp. Bằng cớ là bệnh Hirschsprung (một bệnh bẩm sinh gây bệnh cho một trên 5000 trẻ sinh ra đời), trong bệnh này, vì những lý do không được biết rõ, các neurone ngừng colonisation ruột trong tử cung. Khi đó đứa trẻ có một phần ống tiêu hóa không có neurone. Điều đó khiến ruột già bị tắc nghẽn, có thể gây tử vong nếu không được mổ ngay khi sinh bởi vì, không có neurone, ống tiêu hóa không hoạt động.” Những bệnh lý này của hệ thần kinh ruột bắt đầu được hiểu rõ hơn và ngay cả cho ra một môn y học mới, neuro-gastro-entérologie. Các chuyên gia lấy làm hoan hỉ vì sau cùng ruột được đánh giá đúng giá trị của nó. “ Đã lâu người ta đã nghĩ rằng ống tiêu hóa chỉ là “ cái lòng ” (tripe), một vật thẳng, hơi lố bịch, GS Stanislas Bruley des Varannes, giám đốc của Institut des maladies de l’ appareil digestif của CHU de Nantes đã nhớ lại như vậy. Rồi người ta đã nhận thức rằng nó có những dây thần kinh, cử động một cách điều hòa, có những chức năng hấp thụ, tiết các yếu tố, rất phức tạp và cần thiết cho đời sống. Thế mà, phải biết rằng ống tiêu hóa mảnh dẻ và có một hệ miễn dịch mạnh đến độ, trái với trái tim, các thủ thuật ghép hầu như không thể thực hiện được ! ”

Quote:
200 TRIỆU NEURONE TRONG RUỘT

Để kiểm soát những nhu động và sự tiết dịch tiêu hóa, ống tiêu hóa có một hệ thần kinh độc lập và tự trị : hệ thần kinh ruột (SNE : système nerveux entérique) hay não bộ thứ hai. Hệ thần kinh này chứa gần 200 triệu neurone được tổ chức thành hai mạng (hay tùng thần kinh : plexus). Plexus myentérique kiểm soát những co cơ (để làm thực hoàn di chuyển hay gây mửa). Còn tùng dưới niêm mạc (plexus sous-muqueux) điều hòa sự tiết dịch ruột. Hệ tiêu hóa cũng giao tiếp với não bộ chủ yếu nhờ dây thần kinh phế vị, xa lộ thật sự phát sinh từ hai nhân não và phân bố thần kinh những cơ quan sinh tử. Nhánh đến (branche afférente) hay nhánh cảm giác cho não bộ hay hệ thần kinh ruột biết những gì xảy ra trong ruột. Nhánh ra (branche efférente) hay nhánh vận động gởi những mệnh lệnh đến các cơ ruột. Hai bộ não này (SNCvà SNE) hoạt động phối hợp với nhau, được thông tin về tình trạng của ruột bởi các lính canh (sentinelles) rất cảnh giác. Trước hết những tế bào biểu mô cửa hàng rào ruột phân tích các thức ăn, chọn lọc chúng và báo động trong trường hợp nguy hiểm. Nhưng cũng vậy, 100.000 tỉ những vi khuẩn ruột tạo nên microbiote (trước đây được gọi là quần thể ruột : flore intestinale). Những vi khuẩn này không những nuôi dưỡng nhưng tế bào biểu mô, mà còn bảo vệ cơ thể bằng cách kích hoạt hệ miễn dịch. Tính kín cửa hàng rào ruột là điều mấu chốt để có sức khỏe tốt của mỗi cá thể. Một thiếu sót của tính kín này và những chất chuyển hóa của các vi khuẩn gây bệnh có thể đi xuyên qua và tạo nên phản ứng viêm. Đó là một trong những lý thuyết thắng thế của bệnh ruột cơ năng (colopathie fonctionnelle)

2. HAI NÃO BỘ ĐỐI THOẠI CHUNG QUANH MỘT SANDWICH

Sự việc ăn làm phát khởi một đối thoại rôm rã giữa não và ruột. Thí dụ, khi ta nhai một sandwich poulet-crudités, những capteur nằm trong miệng rồi trong thực quản, trong dạ dày và trong ruột báo động não bộ. Bắt đầu từ một lượng thức ăn nào đó, não bộ bắt đầu phát ra những tín hiệu chán ngấy (signal de satiété) để làm ngừng việc nhận thức ăn vào trong khi đó bắt đầu cuộc hành trình chậm chạp của thức ăn trong cơ thể. Được cô lại thành bột nhão (bouillie, chyme) trong dạ dày nhờ các dịch tiêu hóa và các co bóp của dạ dày, nhũ trấp sẽ du hành từ 5 đến 6 giờ trong ruột non, rồi từ 12 đến 18 giờ trong ruột già trong khi các hệ thần kinh trung ương (SNC) và hệ thần kinh ruột (SNE) gởi dồn dập cho nhau những thông điệp. Não bộ được thông báo về những gì xảy ra trong bụng nhờ vigie chính của nó, nhánh cảm giác của dây thần kinh phế vị và điều hòa những cử động ruột qua nhánh vận động của dây thần kinh này.

Trong khi đó, các neurone ruột, điều hòa nhịp nhàng các co bóp cơ để làm tiến bước thực hoàn (bol alimentaire) và điều biến các dịch tiết để tiêu hóa. Để thực hiện điều đó, SNE nhờ vào các thông tin của các lính canh (sentinelle) của nó, tiếp xúc trực tiếp với thức ăn : những tế bào ruột nội tiết (cellules entéroendocrines), một loại tế bào của hàng rào biểu mô (barrière épithéliale intestinale), có nhiệm vụ sản xuất sérotonine. Là những phòng xét nghiệm sống nhỏ thật sự, chúng phân tích chất chứa trong nhũ trấp (loại bỏ các chất dinh dưỡng, khả năng gây nguy hiểm) và gởi báo cáo lên hệ thần kinh trung ương cũng như hệ thần kinh ruột qua dây thần kinh phế vị. Để giúp đỡ chúng, chúng có thể trông cậy vào những vi khuẩn của quần thể ruột (flore intestinale) mà vai trò trước hết là nuôi dưỡng chúng, nhưng cũng sản xuất những phân tử báo động (molécules d’alerte). Khi mọi chuyện diễn biến tốt đẹp, buồng máy trơn tru này vận hành một cách im lặng và không gây đau đớn. Và thí dụ nếu đột ngột, một độc tố ẩn náu trong poulet được phát hiện, thế là chuẩn bị chiến đấu ! Hàng rào ruột (barrière intestinale) kích động hệ miễn dịch sản xuất các chất trung gian viêm (médiateurs inflammatoires) khiến kích thích dây thần kinh phế vị. Trong khi đó, não bộ có thể gây đau bụng như một tín hiệu báo động, một hoạt động viêm hay làm gia tăng hoạt tính của hệ thần kinh ruột, gây nên ỉa chảy hay nôn mửa.

“ Ruột sản xuất 95% sérotonine ”

Michael Gershon
Professeur au Département d’anatomie et
biologie cellulaire de l’université Columbia (NY)


Hỏi : Ông đã tung ra ý niệm não bộ thứ hai. Điều gì mới đã xảy ra ?
Micheal Gershon : Khi tôi viết cuốn sách của tôi, The Second Brain, cách nay 14 năm, tôi đã không ngờ đến tầm quan trọng của sérotonine trong hệ tiêu hóa. Thế mà bây giờ, ta biết rằng 95% sérotonine cửa cơ thể được sản xuất trong ruột ! Trong hệ thần kinh trung ương, chất dẫn truyền thần kinh này có liên hệ trong sự điều hòa khí chất, sự thèm ăn, giấc ngủ. Trong hệ thần kinh ruột, sérotonine vừa làm nhiệm vụ chiếc gươm và cái khiên. Là chiếc gươm (épée), bởi vì trong trường hợp nhiễm trùng, sérotonine được sản xuất phần lớn bởi những tế bào ruột nội tiết (cellules entéroendocrines) của ống tiếu hỏa để huy động hệ miễn dịch. Là cái khiên (bouclier) bởi vì nó bảo vệ các neurone chống lại những tác dụng có hại của quá trình viêm.

Hỏi : Những hướng nghiên cứu hôm nay của ông là gì ?
Micheal Gershon : Có khoảng 30 loạI tế bào thần kinh tiêu hóa (neurones digestifs), tại sao ? Những neurone này hẳn phải có những chức năng cần phải khám phá. Ngoài ra, làm sao mỗi loại tế bào đến đúng chỗ trong thời kỳ phát triển phôi thai ? Dường như những tế bào láng giềng ảnh hưởng lên sự chuyển đi và sự biệt hóa của những tế bào đến, như thể những tê bào mới hỏi đường những tế bào cũ. Bây giờ ta biết rằng những tế bào thần kinh tiêu hóa chuyện trò và ảnh hưởng lên nhau. Nếu ta hiểu hiện tượng này, ta có thể hy vọng tái lập một sự chuyển di đúng hay một sự biệt hóa tốt, đối với những bệnh lý hiếm như bệnh Hirschsprung. Nhưng ta cũng hiểu nhiều về sự phát sinh những bệnh thông thường như colopathie fonctionnelle.

3. MICROBIOTIE CỦA CHÚNG TA CHỨA 100.000 TỈ VI KHUẨN

100.000 tỉ vi khuẩn ở trong ống tiêu hóa của chúng ta… hoặc 10 lần nhiều hơn tất cả những tế bào cửa cơ thể của chúng ta ! Chúng đại diện cho một nửa triệu gène, tương đương hơn 20 génome người trong ruột của chỉ một cá thể … Các nhà nghiên cứu không còn ngần ngại nữa khi nói đó là một cơ quan hoàn toàn tách riêng lúc nêu lên thuật ngữ “ microbiote ” này, hệ sinh thái (écosystème) sống trong ruột của chúng ta. Vào năm 2011, các nhà nghiên cứu ngay cả đã xác định rằng có 3 entérotype (A,B,C), như có 3 nhóm máu. Tuy vậy, cách nay không bao lâu, quần thể ruột (flore intestinale) của chúng ta chỉ là một terra incognita. Phải nói rằng 80% các vi khuẩn ruột không thể cấy được ở phòng thí nghiệm. Bị thuần phục nhau trong những tương tác phức tạp, phần lớn chết khi ta cố phân cách chúng. Vậy phải cần đến những công cụ mạnh của bio-informatique để đi tìm những gène trong phân.

Thăm dò này còn ở giai đoạn tiền đề. Được bắt đầu năm 2008, MetaHIT, dự án đầu tiên thuộc loại này, được tài trợ lên đến 22 triệu euro bởi Commission européenne, đã thu góp những mẫu nghiệm trong 8 nước để séquencer toàn bộ các gène vi khuẩn. Trong khi dự án này hôm nay sắp kết thúc, những dự án khác sẽ tiếp tục nó. Ví dụ MétaGénoPolis, được đảm nhận bởi Inra (Institut national de la recherche agronomique), với Danone và Nestlé tài trợ, với một ngân sách 19 triệu euro, đề nghị xây dựng một ngân hàng quốc gia các mẫu nghiệm phân của 100.000 người tất cả, và phân tích 10.000 mẫu nghiệm mỗi năm để chứng minh tác dụng của quần thể ruột lên sức khỏe. Peter Bork, thuộc phòng thí nghiệm sinh học phân tử châu Âu (EMBL) của Heidelberg (Đức) đã mở site My.microbs. Với chưa được 1000 euro, có thể gởi một mẫu nghiệm phân cho Inra và cơ quan này chịu trách nhiệm trích các gène vi khuẩn và sau đó gởi chúng cho EMBL để phân tích hoàn chỉnh và tích trữ các dữ kiện. Mục đích không phải sinh lợi mà làm lớn lên catalogue các dữ kiện. Dự án sẽ được hoàn chỉnh, từ nay đến cuối năm, một mạng quốc tế nối kết tất cả những người tham dự mong muốn trao đổi với những người dùng khác, thí dụ về những bệnh lý. Một mạng xã hội thuộc một loại mới mà ta có thể mệnh danh là “ Fècesbook ” …

Quote:
3 entérotypes cho 7 tỉ con người
Microbiote (flore intestinale : quần thể ruột) của nhân loại được cấu tạo bởi 3 entérotype, 3 cộng đồng được đặt tên tùy theo loại vi khuẩn nổi trội, mà sự hiện diện trong ruột của một cá thể không tùy thuộc vào nguồn gốc địa lý của cá thể này, cũng như không tùy thuộc vào tuổi tác hay giới tính. Tuy vậy entérotype có một ảnh hưởng không thể tranh cãi lên sự dinh dưỡng và sức khỏe. Tùy theo nhóm của bạn, các thức ăn mà bạn ăn vào sẽ không được tiêu hóa theo cùng một cách.

“ Bactroides ”
Nhóm những người ăn thịt và mỡ động vật. Những rối loạn của entérotype này thường được liên kết với bệnh béo phì. Hiện diện ở 30% những người châu Âu

“ Prevotella ”
Thông thường hơn ở những người tiêu thụ nhiều trái cây và rau xanh. Hiện diện ở 20% những người nguồn gốc châu Âu

“ Ruminococcus ”
Là nhóm thường gặp nhất, ta tìm thấy ở một nửa dân châu Âu. Nhóm này dường như thích rượu và dầu thực vật.


4. STRESS LÀM ĐẢO LỘN QUẦN THỂ RUỘT CỦA CHÚNG TA.

Tình yêu có thể gây nên cảm giác buớm bay (sensation de papillons) trong bụng, lo âu làm thắt dạ dày, sợ hãi làm đau bụng quặn …một cách thường nghiệm, các cảm xúc dường như có những tác động trực tiếp lên hệ tiêu hóa của chúng ta. Người ta đã chứng minh rằng stress thật sự biến đổi ruột của chúng ta, chính xác hơn là microbiote của nó (flore intestinale : quần thể ruột). Kíp của Michael Bailey, nhà nghiên cứu thuộc đại học Tiểu bang Ohio (Hoa Kỳ) đã nghiên cứu chủ đề này từ nhiều năm qua. Trong một công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí Brain, Behavior, and Immunity năm 2011, Bailey tiết lộ rằng ở các con chuột bị stress, các vi khuẩn của ông tiêu hóa mất đi tính đa dạng và nhất là tăng sinh những vi khuẩn có tiềm năng nguy hiểm, như loài Clostridium. Vào năm 1999 kíp này đã khám phá rằng sự phân cách với mẹ làm đảo lộn quần thể ruột ở khỉ rhésus. Thật vậy, sau những phân tích vi khuẩn phân, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng sau một sự phân cách mẹ-em bé trong 3 ngày, microbiote trở nên ít đi các lactobacille. Hiện tượng này tương ứng với những hành vi stress ở người thanh niên. Ngoài ra, những người trẻ này dễ bị nhiễm trùng hơn những kẻ khác. Những kết quả này gợi ý rằng một xúc cảm mạnh do sự phân cách mẹ-trẻ em có thể làm gia tăng tính dễ thương tổn (vulnérabilité) đối với bệnh, công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. Kết quả : những thay đổi đáng kể microbiote (giảm mạnh số bifidobactérie và lactobacille) đã được chứng thực ở những con khỉ nhỏ trong 6 tháng đầu tiên của đời sống. Những biến đổi có thể gây nên một sự nhạy cảm cao đối với những nhiễm trùng.

5. ỐNG TIẾU HOÁ CỦA CHÚNG TA CÓ TRÍ NHỚ

“ Ruột của chúng ta cũng như một gương mặt. Il fait la tête, nó sung sướng nó có những tâm trạng, Emeran Mayer, giáo sư y khoa, giám đốc của Centre de neurobiologie de stress thuộc đại học Californie Los Angeles đã giải thích như vậy. Năm 2011, ông đã viết một bài báo dài trong Nature Review Neuroscience, về những cảm xúc của ruột (émotions intestinales). Theo ông ống tiêu hóa và hệ thần kinh của nó phản ứng lại với môi trường (thức ăn, các tác nhân gây bệnh, các cảm xúc) bằng cách gây nên khoái lạc hay sự khó chịu, cảm giác ăn ngon hay buồn nôn, đau bụng, thậm chí mửa. Những phản ứng này, vốn riêng cho chúng ta, có lẽ đã được encodé suốt trong hai năm đầu của đời sống. Trẻ sơ sinh ghi nhớ những phản ứng này khi nó kinh qua những kinh nghiệm đầu tiên về đau và khoái lạc khi ăn uống. Đó là bản đồ giác quan (carte sensorielle) đầu tiên của đứa bé. Nói một cách khác, em bé tạo cho mình những ký ức intéroceptif, liên quan đến những kích thích và những thông tin phát xuất từ các tạng. Và giáo sư đưa ra một lý thuyết gây ngạc nhiên : Ý tưởng dân gian cho rằng đôi khi ta có một quyết định một cách viscéral có thể có một cơ sở thần kinh sinh học. Mọi tình huống được gặp tương ứng với một bản đồ giác quan được mã hóa, gây nên một phản ứng ở bụng, như thế giúp chúng ta có một quyết định trực giác.

6. TRẦM CẢM, LO ÂU, CÁC VI KHUẨN ẢNH HƯỞNG HÀNH VI CỦA CHÚNG TA.

“ Mối liên hệ giữa ruột và não bộ là một lãnh vực nghiên cứu đang phát triển mạnh, Joel Doré, giám đốc nghiên cứu của unité Microbiologie de l’alimentation thuộc service de la santé của Institut national de la recherche agronomique (Inra) đã nhấn mạnh như vậy. Chúng ta biết rằng các vi khuẩn ruột nói với biểu mô (épithélium) của chúng ta, những tế bào người lót mặt trong thành ruột, và chúng ta cố hiểu điều chúng kể với nhau.” Bởi vì cuộc đối thoại này có thể giải thích vài trong số những căn bệnh của chúng ta… thậm chí hành vi của chúng ta ! Thật vậy từ nay ta biết, nhờ MetaHIT, projet de séquençage các vi khuẩn ruột của chúng ta, rằng một microbiote bị nghèo đi (cấu tạo của quần thể ruột của chúng ta) đặc biệt liên hệ với chứng béo phì hay những bệnh lý viêm (pathologies inflammatoires). Có phải chính việc lựa chọn thức ăn của chúng ta quyết định thành phần của vi khuẩn ruột của chúng ta hay ngược lại ?

“ Trong trường hợp chứng béo phì, ta không thể loại bỏ những tương tác đi đến mức “ coconstruction ” của các chọn lựa thức ăn ”. Joel Doré đã nói tiếp như vậy. Các vi khuẩn của chúng ta sẽ gởi các tín hiệu đến biểu mở và những tín hiệu này lên đến não bộ để buộc não bộ theo những thèm muốn của nó… Ta biết rằng nhiều bệnh đã dày ruột, trong đó bệnh syndrome du côlon irritable, thường được liên kết với lo âu và trầm cảm. Phải chăng có thể rằng những rối loạn hành vi này bắt nguồn từ sự mất quân bình của cộng đồng vi khuẩn ruột ? Vài công trình nghiên cứu được tiến hành trên chuột đi theo chiều hướng này, như những công trình của Steve Collins được công bố trong tạp chí Gastroenterology (2011). Các nhà nghiên cứu đã lựa chọn hai dòng (lignée) chuột, một dòng khá hoạt động và táo bạo, còn một dòng thì trầm tĩnh hơn. Rồi người ta đã chủng vào mỗi dòng microbiote của dòng kia. Kết quả : một sự đảo ngược hoàn toàn của hành vi ! Các con chuột trầm tĩnh trở nên phiêu lưu và ngược lại !

Các nhà nghiên cứu cũng đã chứng thực một sự biến đổi của nồng độ của BDNF (Brain-Derives Neurotrophic Factor), một chất trung gian thần kinh có liên hệ trong tính khí và trí nhớ. Làm sao giải thích điều đó ? “ Các vi khuẩn, đã có hàng trăm triệu năm hiện hữu, biết làm mọi chuyện và thích ứng với tất cả các môi trường, Dusko Ehrlich, giám đốc nghiên cứu ở Inra de Jouy-en-Josas đã giải thích như vậy. Vậy ta nghĩ rằng các vi khuẩn có khả năng tổng hợp những chất dẫn truyền thần kinh, một khi được phóng thích vào trong máu, đi qua hàng rào sinh lý giữa tuần hoàn máu và hệ thần kinh trung ương để tác động lên não bộ của chúng ta.” Và những công trình nghiên cứu khác cho thấy rằng những con chuột có một microbiote có một hành vi ít nguy hiểm hơn những con chuột không có nó. “ Thật vậy giả sử nếu tôi là một vi khuẩn, ông ta đã tưởng tượng như vậy, tôi không muốn rằng ký chủ của tôi chịu những nguy cơ không được suy xét : tôi sẽ làm tất cả để ông chủ của tôi phải thay đổi hành vi ! “ Phải chăng chúng ta thật sự hoàn toàn làm chủ những hành vi của chúng ta ? Còn cần nhiều công trình nghiên cứu để tháo gỡ chỉ rối mà con vi khuẩn tác động lên chúng ta.

7. BỆNH PARKINSON CÓ THỂ CÓ NGUỒN GỐC TRONG RUỘT GIÀ.

Chẳng bao lâu nữa chỉ cần làm sinh thiết đại tràng sẽ cho phép chẩn đoán bệnh Parkinson trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên. Đó là bước tiến ngoạn mục được thực hiện bởi kíp nghiên cứu của Pascal Derkinderen, Michel Neunlist và Stanislas Bruley des Varannes, thuộc đơn vị Inserm 913, ở Nantes. “ Ý tưởng nảy sinh tiếp theo sau hai tài liệu xuất bản đã đánh dấu một bước ngoặt, Pascal Derkinderen, thầy thuốc thần kinh thuộc CHU de Nantes đã kể lại như vậy. Vào năm 2003, nhà cơ thể bệnh lý người Đức Heiko Braak, thuộc đại học Goethe de Franfort, phát hiện những thương tổn rất đặc biệt trong não bộ của những bệnh nhân bị bệnh Parkinson được quan sát sau khi chết : những thương tổn này xảy ra ở hành khứu giác (bulbe olfactif) và noyau moteur dorsal của dây thần kinh phế vị từ đó phát xuất nhân vận động của dây thần kinh phế vị phân bố thần kinh ống tiêu hóa.” Cho mãi đến nay, những quan sát được tập trung vào một nhân khác của não bộ, substance noire, sản xuất dopamine. Bệnh Parkinson được mô tả một cách cổ điển như là một căn bệnh thoái hóa của các neurone dopaminergique, gây nên những biến đổi vận động điển hình (run, khó bước). Sự mất neurone thường được kèm theo các đám bất thường những protéine trong các neurone được gọi là “ thể Lewy ”. “ Vào năm 2006, Heiko Braak đã lập lại nghiên cứu, nhưng lần này mở rộng lên toàn cơ thể, Pascal Derkinderen đã nói tiếp như vậy. Chính khi đó ông ta đã quan sát thấy rằng đa số những người bị bệnh Parkinson có trong hệ thần kinh ruột cùng những thương tổn như trong não bộ, với những thể Lewy ! ”. Như thế xác nhận điều mà các thầy thuốc Nhật bản đã phát hiện vào cuối những năm 1980.

Kíp của đơn vị 913 khi đó quyết định soạn thảo một protocole chưa từng có và phát động một cuộc thí nghiệm ở trung tâm nghiên cứu lâm sàng của CHU. Ý tưởng : tìm kiếm trong các sinh thiết của ruột già của những người bị bệnh Parkinson một dấu hiệu của bệnh não. Sinh thiết là một mẫu nghiệm lấy từ thành ruột có kích thước một hạt gạo, được thực hiện bằng nội soi. Khi đó ngón khéo là quan sát mẫu nghiệm không phải bằng lát cắt mà là trải mô để thấy những neurone ruột. Như thế cac nhà nghiên cứu đã phân tích các mẫu nghiệm của 39 bệnh nhân (trong đó 10 người chứng) và đã thành công định đặc điểm các neurone. Kết quả : “ Chúng tôi đã phát hiện những thể Lewy ở 21 trong số 29 bệnh nhân Parkinson (72%), và đã cho thấy rằng tầm quan trọng của các thương tổn tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh, thầy thuốc thần kinh đã báo cáo như vậy. Vậy ta có thể xét đến việc sử dụng những phân tích đại tràng như là những chỉ dấu sinh học (biomarqeur) về mức độ nghiêm trọng của bệnh, lúc bệnh nhân còn sống. ” Còn cần phải đơn giản hóa kỹ thuật phân tích để có thể thực hiện một cách thường quy trong 3 đến 5 năm nữa. Từ nay về sau, các nhà nghiên cứu hy vọng tìm ra những phương pháp để phối hợp sinh thiết đại tràng với những chỉ dấu sinh học khác như các trắc nghiệm khứu giác, để có được một chẩn đoán sớm, ngay trước khi xuất hiện những dấu hiệu vận động của bệnh.

Mục tiêu quan trọng khác : xác định xem, như Heiko Braak đã gợi ý một cách hoàn toàn chưa hề có, bệnh Parkinson có phải là do một tác nhân bệnh lý bên ngoài, một độc tố môi trường vẫn còn không được nhận biết. Tác nhân này, một khi được hít hay nuốt vào, đi xuyên qua niêm mạc mũi hay hàng rào biểu mô ruột và lên đến tận substance noire của não bộ, qua dây thần kinh phế vị và hành khứu giác. Một lý thuyết, nếu được xác nhận, sẽ cách mạng hóa việc điều trị bệnh. “Những dữ kiện dịch tễ học và lâm sàng đem lại những luận cứ hỗ trợ cho lý thuyết này, Pascal Derkinderen đã đánh giá như vậy. Thật vậy ta biết rằng những rối loạn ruột hay khứu giác là những dấu hiệu báo trước hay những yếu tố nguy cơ của bệnh.” Nhưng vẫn có nhiều phản bác trong cộng đồng y khoa. Và nhà nghiên cứu kết luận : “ Nhà cơ thể bệnh lý thần kinh của Vienne Kurt Jellinger đã đặc biệt công bố một công trình nghiên cứu (2008) cho thấy rằng trên 71 trường hợp bệnh Parkinson, được phân tích sau khi chết, chỉ 53% phù hợp với lý thuyết ruột-não của Braak. Chúng tôi chia sẽ mối nghi ngờ của ông ta. ”

8. THÔI MIÊN, KHÁNG SINH… NHỮNG HƯỚNG ĐIỀU TRỊ MỚI

Có phải điều trị bụng để thấy tinh thần được cải thiện hay có phải ưu tiên tâm thần để không còn bị đau bụng nữa ? Hai não bộ của chúng ta liên quan mật thiết với nhau, do đó không ngạc nhiên rằng những phương cách điều trị chồng chéo nhau. Trước hết có một điều chắc chắn : trong thực tế hàng ngày, điều trị một cái bụng đau tỏ ra khó khăn. Những điều trị cổ điển, các thuốc chống co thắt (antispasmodique), mặc dầu được kê đơn một cách rộng rãi nhưng chúng chỉ tác dụng trên đau quặn bụng (crampe abdominale) và chỉ hiệu quả một cách trung bình, BS Jean-Marc Sabaté, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa thuộc bệnh viện Louis-Mourier de Colombes (Hauts-de-Seine) đă xác nhận như vậy. Tôi tin chắc rằng một ngày nào đó sẽ có thể nhận diện ở những bệnh nhân cơ chế hay những cơ chế nổi bật và khi đó có thể điều trị mỗi bệnh nhân một cách cá thể hóa. Trong khi chờ đợi l’heure du “ sur mesure ”, sau đây là vài hướng điều trị có ưu điểm chung là tính đến mối liên hệ giữa hai não bộ của chúng ta.

THÔI MIÊN : MỘT PHUƠNG PHÁP ĐẦY HỨA HẸN

Thường do stress, đau bụng có thể được điều trị bằng những buổi thư giãn (relaxation), yoga, thể thao…, nhưng từ nay cũng có thể điều trị bằng thôi miên. Phương pháp này có vẻ rất đầy hứa hẹn “ với 40% lợi ích trong những công trình nghiên cứu so với placebo, trong khi những phương pháp khác không vượt quá 15% ”, BS Sabaté đã nhấn mạnh như vậy. “ Những công trình nghiên cứu được tiến hành duy nhất ở những người tình nguyện lành mạnh đã cho thấy rằng thôi miên làm biến đổi những ngưỡng hoạt hóa các vùng não bộ liên hệ trong sự kiểm soát đau đớn, GS Benoit Coffin, trưởng khoa dạ dày ruột thuộc bệnh viện Louis-Mourier đã bình luận như vậy. Ở đây, từ hơn một năm nay, các thầy thuốc đề nghị vài bệnh nhân thăm khám Nathalie Bourdin, y tá gây mê và thôi miên điều trị (hypnothérapeute) trong khoa. “ Khoảng 6 buổi, một giờ mỗi tuần, cho phép làm giảm hay làm thuyên giảm những triệu chứng đau của họ, bà đã xác nhận như thế. Lúc đầu, bệnh nhân, mặc dầu thường rất lo âu, nhưng cũng tỏ ra tò mò. Tôi trấn an họ để đưa họ ra khỏi hình ảnh của thôi miên hội chợ (hypnose de foire). Họ học nhanh chóng những kỹ thuật tự kỷ ám thị để tiếp tục thực hiện ở nhà.” Trong 1 năm, khoảng 15 bệnh nhân đã được theo dõi. Chỉ hai bệnh nhân đã bỏ cuộc. Còn cần phải dẫn chứng một cách chính xác bằng những con số về tính hiệu quả.

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG : TRÁNH CÁC CHẤT ĐƯỜNG LÊN MEN (SUCRES FERMENTESCIBLES).

“ Mặc dầu không có chế độ ăn uống nào chứng tỏ sự ưu việt ”, BS Sabaté đã xác nhận như vậy, tuy nhiên có hai hướng : những probiotique và những fodmap (oligosaccharides, disaccharides và monosaccharides và polyols fermentescibles). Những loại đường lên men này được chứa trong vài chewing-gums, những thực phẩm, các loại thuốc và các mỹ phẩm, từ ít lâu nay được tất cả mọi chú ý bởi vì chúng bị nghi ngờ làm dễ những triệu chứng đau từ bộ máy tiêu hóa.

KHÁNG SINH : MỘT LỢI ÍCH CẦN XÁC NHẬN

Thế thì tại sao không dùng kháng sinh để điều trị côlon irritable ? Vào năm 2011, một công trình nghiên cứu được tiến hành ở chuột bởi một nhóm nghiên cứu Canada lần đầu tiên mang lại bằng cớ về mối liên hệ giữa não bộ và microbiote ruột. Việc sử dụng các kháng sinh đã cho phép biến đổi quần thể ruột , cũng kèm theo bởi một sự thay đổi hành vi của các động vật gặm nhấm ! Những kết quả có thể áp dụng ở người khi ta biết những thành phần trầm cảm và lo âu của syndrome du côlon irritable. Kíp của Marc Pimentel, thuộc Cedars Sinai Medical Center à Los Angeles đã quan tâm đến không những psychisme của các bệnh nhân mà còn những triệu chứng bụng của họ. Vào năm 2011, kíp đã cho thấy rằng một điều trị ngắn ngày, 15 ngày rifaximine, một kháng sinh được sử dụng để điều trị diarrhée du voyageur, tỏ ra đáng phấn khởi. Thật vậy điều trị đã cho phép làm thuyên giảm những bệnh nhân một cách dài lâu, nghĩa là trong 10 tuần. Còn cần phải hiểu bằng cơ chế nào.

Quote:
“ COLOPATHIE GÂY BỆNH CHO 5% DÂN SỐ ”

Pr Jean Marc Sabaté
Gastroentérologue
Hopital Louis-Mourier de Colombes


Hỏi : Hội chứng ruột dễ kích thích (syndrome du côlon irritable) là gì ?
GS Jean Marc Sabaté : Rối loạn này, cũng được gọi là colopathie fonctionnelle, biến cách tùy theo mức độ nghiêm trọng khác nhau. Hội chứng liên kết những triệu chứng đau bụng và/hoặc một cảm giác khó chịu, và những rối loạn nhu động (ỉa chảy và/hoặc bón), những triệu chứng này xuất hiện ít nhất ba ngày mỗi tháng và từ ít nhất 6 tháng, theo xếp loại được gọi là Rome III, được sử dụng nhất bởi các thầy thuốc trong những công trình nghiên cứu. Nhưng vẫn còn nhiều điểm không được sáng tỏ về những cơ chế của nó.

Hỏi : Những ai bị liên hệ ?
GS Jean Marc Sabaté : Theo các công trình nghiên cứu, hơn 5% dân số, trong đó phần lớn là phụ nữ. Tuy vậy rối loạn này phần lớn vẫn còn không được biết đến mặc dầu căn bệnh tỏ ra làm trở ngại cho cuộc sống hàng ngày, làm biến đổi nghiêm trọng chất lượng sống. Căn bệnh này, khiến cho bệnh nhân phải thăm khám nhiều lần, cũng gây nên một phí tổn quan trọng đối với xã hội.

Hỏi : Làm sao chẩn đoán ?
GS Jean Marc Sabaté : Không có một chỉ dấu sinh học (marqueur biologique) nào đã được nhận diện, đó là một chẩn đoán loại trừ, các xét nghiệm máu, nội soi đại tràng và các sinh thiết đều bình thường. Trên thực tế, mọi người đều lúng túng, bệnh nhân và thầy thuốc, thường bị thất bại. Chính vì thế chúng tôi đã thành lập cùng với một bệnh nhân vào năm 2011 association Apssi, để làm biết rõ hơn căn bệnh và ủng hộ nghiên cứu. Những công trình mới nhất cho thấy rằng đúng là có những bất thường ở ruột già (viêm vi thể, những bất thường của quần thể ruột, của tính thẩm thấu của thành đại tràng) hay những bất thường trong sự kiểm soát đau đớn ở não bộ và tủy sống với một tăng nhạy cảm tạng (hypersensibilité viscérale).

HƯỚNG VỀ SỰ HIỆU CHÍNH NHỮNG THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM ĐẶC HIỆU

“ Boule au ventre”, “ stress digestif ”, mọi người đều biết chúng. Vài biến cố gây căng thẳng, hay được trải qua như thế, có thể làm phát khởi hay làm trầm trọng những triệu chứng tiêu hóa. Những kiến thức về những mối liên hệ này đang tiến triển. Thí dụ, từ vài năm nay, việc sử dụng các thuốc chống trầm cảm đang được xét đến như là những phương thức điều trị, nhất là trong những trường hợp nặng nhất : thật vậy các thầy thuốc đánh giá tác dụng chống đau của các thuốc chống trầm cảm trên ruột, thêm vào những tác dụng được biết rõ lên khí chất. Tác dụng này là do sérotonine, chất dẫn truyền thần kinh từ nay được xác nhận như là một chất trung gian chủ chốt của tính nhận cảm tạng (sensibilité viscérale). Ngay cả những loại thuốc mới đặc biệt được dành cho ruột, Alosetron và Tegaserod, những chất đối kháng các thụ thể được gọi là 5HT3 và 4 của chất trung gian thần kinh này, đã được phát triển ở Hoa Kỳ. Thật vậy, các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng chúng ức chế chức năng vận động ruột và tính quá nhạy cảm được mô tả bởi các bệnh nhân. Nhưng những loại thuốc này đã không thành công như các nhà chế tạo dự kiến. Thí dụ Alosetron (GSK), được thương mãi hóa năm 2000, đã phải bị rút ra khỏi thị trường chưa được 9 tháng sau khi thương mãi hóa, vì lẽ 5 trường hợp tử vong gây nên bởi những biến chứng tiêu hóa ! Còn về Tegaserod (Novartis), hiện có bán ở Hoa Kỳ nhưng châu Âu đã không bật đèn xanh để thương mãi hóa loại thuốc này vì đánh giá rằng những lợi ích của chúng không đủ. Tuy nhiên những thuốc chống trầm cảm khác cũ hơn, thuộc họ tricycliques, đôi khi cũng được sử dụng. Một sự kê đơn vẫn còn khó hiểu và khó được bệnh nhân bị đau bụng chấp nhận. “ Chúng tôi phải giải thích cho họ nguồn gốc phức tạp, được gọi là neuropathique, của triệu chứng đau của họ bởi vì đôi khi họ bực mình khi ta nói với họ rằng họ bị trầm cảm ”, BS Philippe Ducrotté, thuộc CHU de Rouen, đã xác nhận như vậy. Những công trình nghiên cứu bổ sung sẽ xác nhận lợi ích của hướng điều trị này.

9. VỀ VIỆC SỬ DỤNG TỐT CÁC PROBIOTIQUE

Có phải nuốt hàng tỉ vi khuẩn sống (được gọi là probiotiques) để cảm thấy “ bụng được mạnh khỏe ”. Câu hỏi đang được tranh cãi. Theo định nghĩa chính thức được xác lập bởi Tổ chức y tế thế giới và Tổ chức lương nông quốc tế (FAO) năm 2001, những probiotique là những “ vi sinh vật sống, khi được cho bằng những lượng thích đáng, mang lại cho ký chủ một lợi ích về mặt sức khỏe ”. Về mặt thực tiễn, đó là những vi khuẩn của sữa, được khám phá bởi giải Nobel Elie Metchnikoff (1845-1916). Ong đă quan tâm đến những lợi ích mà yaourt, được chế tạo từ sữa được lên men, mang lại cho dân Bulgarie.

Ngày nay có trên thị trường nhiều cocktail de probiotiques đề nghị làm dễ sự tiêu hóa, tránh ỉa chảy, khí, bón, chướng bụng nhưng cũng tăng cường phòng vệ của cơ thể.

Để chế tạo một probiotique tốt, phải chọn những giống gốc vi khuẩn có hiệu quả và không có những nguy cơ đề kháng với các kháng sinh, Alban Maggiar, tổng giám đốc của laboratoire Carrare và chủ tịch của Syndicat national des fabricants de compléments alimenataires, đă giải thích như vậy. Có hàng ngàn giống gốc vi khuẩn, chủ yếu thuộc hai nhóm, lactobacilles và bifidobactéries, ở trạng thái tự nhiên hiện diện trong ống tiêu hóa của chúng ta. Tối thiểu phải nuốt vào một tỷ vi khuẩn để có một hiệu quả. Trong những sản phẩm của chúng tôi , chúng tôi phát 7 tỷ mỗi liều, với 5 đến 7 giống gốc vi khuẩn khác nhau. Phải được đôi mới một cách đều đặn. Một khi đã vào trong ruột chúng sẽ làm gì ? Một khi đã vào trong ruột chúng sẽ làm gì ? Các nhà nghiên cứu của Baylor College of Medicine de Houston (Texas, Hoa Kỳ) trong một tạp chí về các công trình in vitro và ở động vật, được công bố vào năm 2010, đã xác nhận rằng các probiotique có thể gây nên một cách rõ ràng những biến đổi sinh học đáng kể trong ống tiêu hóa mặc dầu sự hiện diện của những hệ sinh thái vi khuẩn phức tạp. Còn tác dụng trên người ? Trong một tài liệu tổng hợp, Synadiet cho thấy rằng vài giống gốc cho phép phòng ngừa và điều trị những rối loạn như ỉa chảy hay những triệu chứng của colopathie fonctionnelle.

“ Sự kiện chắc chắn duy nhất là các probiotiques hiệu quả để điều trị bệnh ỉa chảy cấp tính ở người, Didier Raoult, giáo sư và nhà nghiên cứu thuộc đại học y khoa Marseille đã xác nhận như vậy. Còn lại dường như không có gì là rõ ràng cả. ” Lấy làm tiếc rằng các nghiên cứu về probiotiques phần lớn được tài trợ bởi các groupe agroalimentaire, thầy thuốc kiêm nhà nghiên cứu nêu lên một vấn đề tầm cỡ khác : “ Từ 50 năm nay, các nhà chăn nuôi cho các gia súc những probiotiques, như là những chất kích thích tăng trưởng, để làm cho chúng béo phì ra. Bởi vì vài vi khuẩn làm gia tăng sự hấp thụ calories ở ruột. Làm sao ta không nghi ngờ được rằng một sự tiêu thụ ở người cũng làm lên cân ? ” Trong một bài báo của tạp chí Nature tháng 9 năm 2009, Didier Raoult tự hỏi về mối liên hệ khả dĩ giữa sự tiêu thụ các sản phẩm được làm phong phú bởi vài loại probiotique và dịch bệnh béo phì. “ Đã đến lúc phải tiến hành một bản kiểm kê thật sự về tất cả những probiotiques được thương mãi hóa và về những tác dụng của chúng, nhằm kiểm tra xem vài giống gốc có đặc biết gây nên một sự biến đổi của quá trình hấp thụ calories hay không.”

Hậu quả trực tiếp hay không của những tiếng kêu báo động, các groupe agroalimentaire vào năm 2009 đã được yêu cầu rút đi mọi lời dẫn về sức khỏe trên các sản phẩm sữa được làm phong phú bởi probiotiques, như Actimel hay Activia. “ Ngay cả khi, Didier Raoult nhấn mạnh, chúng ta đã không tìm thấy trong những sản pham này những giống gốc làm biến đổi sự hấp thụ calo.”

10. NGÀY MAI YAOURT CHỒNG TRẦM CẢM ?

Một công trình nghiên cứu gây ngạc nhiên, được trình bày sắp đến bởi nhóm nghiên cứu của giáo sư Emeran Mayer thuộc đại học Californie (Hoa kỳ) có thể gây nên nhiều tiếng ồn. Theo nhà khoa học, thật vậy những kết quả cho thấy rằng lúc chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ, những vùng não bộ liên quan trong chứng lo âu phản ứng lại ít hơn trước những hình ảnh buồn nếu người bệnh trước đó đã theo một đợt điều trị với probiotiques. “ Bằng cách tác dụng lên hệ thần kinh ruột và dây thần kinh phế vị, các vi sinh vật này có thể mang lại lợi ích cho não bộ ! ”, GS của đại học Californie, dường như không lấy làm ngạc nhiên lắm, đã kết luận như vậy.

Thật vậy, những công trình nghiên cứu trước đây đã báo trước kết quả này, nhất là những công trình nghiên cứu của John Cryan, thuộc đại học Cork (Ireland), được công bố trong các báo cáo của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ (Pnas, 2011). Nhóm nghiên cứu đã chứng minh rằng các con chuột được nuôi với một chế độ ăn uống giàu các vi khuẩn của giống gốc Lactobacillus rhamnosus JB-1 ít bị stress, lo âu và những hành vi trầm cảm hơn những con chuột được nuôi một cách cổ điển. Ngoài ra, việc ăn vào các vi khuẩn đã tương quan với một nồng độ thấp hơn corticostérone, hormone de stress ở động vật, cũng như tương quan với những thay đổi trong biểu hiện của các thụ thể đối với GABA. Thế mà, GABA là chất dẫn truyền thần kinh ức chế (neurotransmetteur inhibiteur) chính của não bộ, đặc biệt có liên hệ trọng chứng trầm cảm. “ Những tác dụng lên hành vi đã rất là tương tự với điều ta có thể thấy khi ta chích một mũi Valium vào những con chuột này ”, John Cryan ngay cả tuyên bố như vậy nhấn một chuộc phỏng vấn dành cho National Public Radio năm 2011. Nhà nghiên cứu cũng giải thích rằng những hiện tượng này không còn được quan sát nữa nếu ta cắt dây thần kinh phế vị của chuột, xa lộ hai chiều nối não bộ với ruột non. Do đó các tác giả gợi ý rằng “ vài vi sinh vật có thể là những adjoints thérapeutiques trong các rối loạn có liên quan đến stress như tình trạng lo âu và chứng trầm cảm ”. Một công trình nghiên cứu đầu tiên trên người đã được công bố vài tháng trước đó trong Journal of British Nutrition bởi kíp của Michael Messaoudi. Nhóm nghiên cứu đã cho thấy rằng ở một nhóm người tình nguyện, sự cho một cocktail de probiotiques (Lactobacillus helveticus ROO52 và Bifidobacterium longum RO175) “ làm thuyên giảm détresse psychologique của những người tình nguyện ”.

Thế thì ngày mai đây ta sẽ có thể mua những probiotiques “ tốt cho não bộ ” hay không ? “ Đó là một hướng tương lai, Alban Maggiar, thuộc phòng bào chế Carrare, chuyên sản xuất probiotiques đã xác nhận như thế. Nhung ai sẽ dám bảo về một lời dẫn như thế trong khi Cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu (Efsa) theo dõi sát chúng tôi ? Câu trả lời còn thận trọng hơn ở phòng bào chế Danone, mặc dầu theo dõi rất sát những nghiên cứu này : “ Đó là một chủ đề rất mới, Françoise Néant, người phụ trách đã trả lời như vậy. Về việc xác nhận một thức ăn làm điều tốt cho microbiote cũng sẽ làm điều tốt chỗ nào bộ của chúng ta, chúng tôi chưa ở giai đoạn đó !. ”
(SCIENCES ET AVENIR 6/2012)

2/ CHUỘT BỊ BẠI LIỆT ĐÃ HỌC BƯỚC ĐI TRỞ LẠI

Ở Lausane, các nhà nghiên cứu đã có thể đánh thức tủy sống của một con vật nhờ những xung động điện.
Trường bách khoa liên bang Lausane, centre de neuroprothèse, một con chuột trắng được đỡ bởi một harnais robotisé được đặt trên một thảm lăn (tapis roulant). Nó phải lê đôi chân vì chúng không còn đỡ nó nữa. Điều này dễ hiểu : tủy sống của vì đã bị cắt đứt một phần ở hai vị trí. Chính khi đó mà Grégoire Courtine, chercheur en neurosciences và giám đốc phòng thí nghiệm, khởi động một nút và điều kỳ lạ xảy ra : con chuột bước di ! Theo công trình nghiên cứu được công bố bởi nhóm nghiên cứu Thụy Sĩ trong Science, thí nghiệm đạt được tỷ lệ thành công 100%.
Làm sao có thể như thế được ? “ Chúng tôi đánh thức tủy sống bằng cách mang lại cho phần bị thương tổn điều mà não bộ bình thường mang lại cho nó, Grégoire Courtine đã kể lại như vậy. Nghĩa là những chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteur) và những xung động điện. ” Nhà nghiên cứu trước hết đã chích vào, dưới mức thương tổn, một cocktail các chất dẫn truyền thần kinh (các mono-amines). Trong một tài liệu xuất bản trước đây, vào năm 2009, nhóm nghiên cứu đã cho thấy những monoamine này (dopamine, sérotonine, adrénaline), lúc gắn vào vài thụ thể của các neurone của tủy sống, đã tham gia vào sự điều hòa bước đi như thế nào. Ngoài ra kíp nghiên cứu đã giải thích rằng tác dụng có lợi này được tăng cường nếu được liên kết với một kích thích điện liên tục. Ở những con chuột được kích thích, tủy sống lần nữa có khả năng làm tròn chức năng của nó. Tủy sống nhận thông tin giác quan (information sensorielle) phát xuất từ vòm chân và gởi trở lại những mệnh lệnh vận động về phía những cơ của cẳng chân. Nhưng ngạc nhiên lớn nhất lại ở chỗ khác. Những quan sát cơ thể học khiến không còn có thể nghi ngờ được nữa : các neurone mới đã nối kết hai phần bị cắt đứt bằng cách đi vòng sẹo gây nên bởi thương tổn. Hơn thế, phân tích hoạt động não của vỏ vận động tiết lộ rằng sau vài tuần, não kiểm soát trở lại bước đi : cử động trở nên tự ý. Một tính dẻo của tế bào thần kinh (plasticité neuronale) như thế, hiếm khi được quan sát cho đến nay, chỉ xảy ra với hai điều kiện : “ khi kích thích dược điện (stimulation pharmacoélectrique) được áp dụng và khi sự huấn luyện được thực hiện nhờ harnais robotisé. ” Ngoài ra sự luyện tập nhờ harnais robotisé sẽ được nói đến trong một tài liệu xuất bản khác vào tháng bảy này trong Nature Medicine. Ở đây ta biết được rằng thiết bị cho phép động vật bị bại liệt phục hồi nhanh hơn so với một thảm lăn. Các kết quả gây ngạc nhiên đến độ các nhà nghiên cứu đã dự kiến thực hiện một thử nghiệm lâm sàng trên một bệnh nhân người bị liệt trong hai năm đến.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2012)


3/ 90% THANH NIÊN CHÂU Á BỊ CẬN THỊ

Thầy thuốc chuyên khoa mắt sẽ là một nghề nghiệp có tương lai, dẫu sao cũng ở châu Á : gần 90% các thanh niên trong các nước phát triển ở vùng này của thế giới (Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Đại Hàn, Singapour…) bị cận thị sau khi tốt nghiệp. Một phần năm trong số những thanh niên này ngay cả bị cận thị nặng. Theo lời giải thích được đưa ra trong The Lancet bởi kíp nghiên cứu của Ian Morgan, thuộc đại học Canberra (Úc), nguyên nhân là một sự thiếu hụt dopamine, một phân tử được sản xuất trong võng mạc khi võng mạc được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Mối liên hệ ? Mắt tiếp tục phát triển cho đến năm 25 tuổi dưới sự kiểm soát của dopamine : khi dopamine thiếu hụt, nhãn cầu lớn lên một cách quá mức. Các vật ở xa không còn được hiện lên trên võng mạc nữa và ta tri giác những hình ảnh mờ.Thế mà, những thanh thiếu niên châu Á trải qua phần lớn thời gian ở trong nhà vì chịu sức ép mạnh của học hành, và vì bị lôi cuốn hơn bởi Internet và các vidéo.

Những nước công nghiệp khác cũng không còn được tha miễn nữa. Ở Pháp, theo một thăm dò được thực hiện đầu tháng sáu bởi Association nationale pour l’amélioration de la vue (Asnav), chứng cận thị ảnh hưởng lên 25 đến 30% những thanh niên từ 18 đến 25 tuổi. Một tỷ lệ lưu hành sẽ tăng gấp đôi trong vòng một thập niên.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2012)

4/ HUYẾT ÁP : ĐO HAI BÊN HƠN LÀ ĐO MỘT BÊN

Ta phát hiện tốt hơn những người có một nguy cơ tim mạch gia tăng bằng cách đo huyết áp ở hai tay. Không phải để lấy trị số trung bình giữa hai lần đo, mà để tìm một sự khác nhau đáng kể giữa tay trái và tay phải. Theo các nhà nghiên cứu của đại học Exeter ở Anh, nguy cơ bệnh tim mạch và tỷ lệ tử vong gia tăng 70% khi sự dị biệt giữa huyết ap thu tâm giữa hai tay là 1,5cm thủy ngân (cmHg), thí dụ 12 ở tay trái và 10,5 ở tay phải.

Hiện nay, các khuyến nghị quốc tế đòi hỏi các thầy thuốc chỉ đo huyết áp ở hai cánh tay vào lần thăm khám đầu tiên nhằm xác định sau đó cánh tay quy chiếu (bras de référence) (trong trường hợp này là cánh tay có huyết áp cao nhất). Trong thực tế, điều thực hành này ít được phổ biến. Phản ứng lại với công trình nghiên cứu này, các chuyên gia quốc tế kêu gọi thực hiện hệ một cách thống việc đo huyết áp cả hai tay, dầu điều đó được thực hiện bởi thầy thuốc hay bởi bệnh nhân.Và nhất là sự bất đối xứng huyết áp không phải là điều gì hiếm, nên việc đo huyết áp trên một tay duy nhất có thể khiến không phát hiện một số lớn những người cao huyết áp.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2012)

5/ ÁNH SÁNG ĐÁNH THỨC NHỮNG KÝ ỨC

Làm sao kích hoạt trở lại những kỹ niệm yên ngủ trong não bộ của chúng ta ? Bằng cách thắp sáng ! Điều có vẻ như một lời giễu cợt thật ra là một kết quả rất nghiêm túc được công bố trong Nature bởi kíp của giải Nobel Susumu Tonegawa, thuộc Massachusetts Institute of Technology (Cambridge, Hoa Kỳ). Thật vậy các nhà nghiên cứu đã đạt được kỳ công là định vị một cách chính xác một kỷ niệm trong não bộ của một con chuột, rồi tái kích hoạt nó bằng cách kích thích vài neurone với ánh sáng phát xuất từ một sợi quang học (fibre optique). Ta gọi là “optogénétique” để chỉ kỹ thuật này, mới xuất hiện gần đây và đầy hứa hẹn.

Các nhà nghiên cứu đã chứng minh như thế nào ? Trước hết họ đã đặt các con chuột vào một môi trường mà chúng không hoàn toàn biết đến. Do chịu những sốc điện có cường độ nhỏ, các con chuột hoàn toàn bị điều kiện hóa để trở thành sợ hãi : khi chúng vừa trở lại trong một chuồng mới thì chúng đứng im trong tư thế phòng vệ. Theo các tác giả của công trình nghiên cứu, ký ức này đã được ghi vào trong một nhóm các neurone, nằm trong một cấu trúc nhỏ của vùng dưới đồi (hypocampe) được gọi là gyrus denté.

Các tác giả sau đó đã biến đổi những neurone này về mặt đi truyền để làm cho chúng nhạy cảm hơn với ánh sáng. Các con chuột sau đó đã được mang trở lại lồng của chúng. Mọi chuyện khi đó có vẻ diễn biến tốt hơn cho đến khi các nhà nghiên cứu gởi các xung động ánh sáng (impulsions lumineuses) trong não bộ của con chuột. Mặc dầu không một lý do bên ngoài rõ ràng, các con chuột đột ngột bị co cứng lại. Điều này gợi ý rằng chúng đã nhớ lại mối hiểm nguy.“ Theo những kết quả của chúng tôi, những ký ức thật sự nằm trong những neurone rất đặc hiệu, Xu Liu, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Chỉ cần tái kích hoạt những neurone này bằng một phương tiện vật lý như ánh sáng, toàn bộ ký ức có thể được nhớ lại.”
(SCIENCES ET AVENIR 5/2012)

6/ CHÌ TRONG SƠN ĐỎ BÔI MÔI

Có khác nhau nào giữa son đỏ bôi môi Maybelline Color sensationnal n° 125 Rose pétale và Clinique Almost lipstick n° 06 Black honey ? Cái thứ nhất chứa nồng độ chì 276 lần nhiều hon cái thứ hai. Hoặc 7,19 phần trên triệu so với 0,026 ppm, một công trình nghiên cứu của FDA (Food and Drug Administration), đã phân tích 400 son đỏ bôi môi, đã tiết lộ như vậy. Những khác nhau là do những chất nhuộm màu khác nhau chứa ít hay nhiều yếu tố kim loại nổi tiếng độc cho thần kinh và gây ung thư này. Những son đỏ phủ môi nhất dường như chứa nhiều chì nhất, mặc dầu những nồng độ có thể biến thiên từ 1 đến 5 giữa hai sắc thái của cùng một thang màu. Không có một mức nào trong những nồng độ này nguy hiểm cho sức khỏe, FDA đã đảm bảo như vậy. Tuy nhiên, dưới áp lực của hiệp hội Campaign for Safe Cosmetics, cơ quan quản trị thực và dược phẩm này chẳng bao lâu phải ấn định một giới hạn chì tối đa đối với các son đỏ bôi môi. Bộ y tế môi trường của Californie đã khuyến nghị không để cho các trẻ em chơi với các son đỏ bôi môi. Một báo cáo của ủy ban tham vấn của Centers for Disease Control and Prevention xác nhận rằng không có mức độ chì nào là không nguy hiểm đối với các trẻ em, đồng thời nhấn mạnh tình trạng khẩn cấp ngăn cản sự tiếp xúc của những trẻ nhỏ, những phụ nữ có thai và cho con bú.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2012)

7/ NƯỚC LÀM HẠ HUYẾT ÁP

Bơi lội có lợi đối với huyết áp của những người cao huyết áp. Một công trình nghiên cứu đã chứng minh điều đó ở những người thuộc hai giới tính tuổi từ 50 đến 80. Sau 3 tháng tắm trong piscine với thời gian tăng dần từ 15 đến 45 phút, được lập lại 3 đến 4 lần mỗi tuần, ta chứng thực một sự giảm đáng kể các huyết áp thu tâm và ngoại biên so với các huyết áp được quan sát ở những người chỉ nhận những buổi thư giãn (séances de relaxation). Sự hạ huyết áp này được liên kết với một sự gia tăng tính dẻo (compliance) của các động mạch cảnh.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2012)

8/ ĂN PIZZA ĐỒNG THỜI UỐNG COCA LÀM BIẾN ĐỔI CÁC TẾ BÀO THẦN KINH

Nếu ta ăn margheritas đồng thời uống soda làm phát phì, đó không những là do đường và mỡ mà pizza này chứa, mà còn bởi vì nó tấn công trực tiếp vào những tế bào thần kinh (neurone) ! Với sự khám phá quá trình này, các nhà nghiên cứu của Inserm mở ra một hướng mới để hiểu nhưng cơ chế của chứng béo phì. Ý tưởng là các thức ăn có một tác dụng lên 100 triệu neurone được trải dài dọc theo ống tiêu hóa, hệ thần kinh ruột (SNE : système nerveux entérique), đôi khi được gọi là “ não bộ thứ hai ” (second cerveau). Ở động vật gặm nhấm, một chế độ ăn uống giàu mỡ và đường trong 12 tuần ngăn cản sự thoái hóa bình thường các neurone này. Vì hiện diện quá nhiều, những neurone của SNE này tỏ ra rất hiệu quả và làm gia tốc quá trình tống tháo dạ dày (vidange de l’estomac). Vì thiên nhiên vốn sợ sự trống rỗng, do đó hậu quả xảy ra tức thời : càng được tống tháo nhanh, dạ dày các động vật gặm nhấm khi đó càng gởi lên não bộ, qua trung gian leptine, kích thích tố của sự chán ngấy (hormone de la satiété), ít dấu hiệu hơn về tình trạng no nê, điều này có tác dụng …làm gia tăng việc nhận thức ăn vào. Sự biến đổi neurone do một chế độ ăn uống mất quân bình do đó sẽ khiến phải ăn nhiều hơn.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2012)


9/ LẠM DỤNG THUỐC CÓ THỂ LÀM ĐAU ĐẦU

Đau đầu mãn tính hàng ngày (CCQ : céphalée chronique quotidienne) được đặc trưng bởi những đau đầu với thời gian hơn 15 ngày mỗi tháng, tiến triển từ hơn ba tháng, thường nhất trong một bối cảnh làm dụng thuốc. Trong 1% các trường hợp, theo kết quả theo dõi của hơn 25.000 người, một cách nghịch lý, các trường hợp đau đầu là do sự sử dụng không thích ứng những thuốc được cho là có tác dụng giảm đau. Nguy cơ xuất hiện chứng đau đầu mãn tính hàng ngày (CCQ) này hai lần quan trọng hơn ở phụ nữ dưới 50 tuổi. Tỷ lệ này gần như tăng gấp ba ở những người hút thuốc và ở những người nhàn rổi không hoạt động và 5 lần nhiều hơn trong trường hợp đau được cảm nhận trong hệ tiêu hóa hay cơ khớp, hay trong trường hợp bị rối loạn lo âu hay trầm cảm. Vì việc cai thuốc khó khăn, do đó phải loại bỏ, hay ít nhất cần xét đến những yếu tố làm dễ này nếu ta muốn làm giảm tần số căn bệnh gây phế tật và kéo dài này. (Pain, 1/2012)
(SCIENCES ET AVENIR 3/2012)

10/ ĐAU NGỰC Ở TRẺ EM : ĐỪNG HOẢNG SỢ

Chỉ 1% những trường hợp đau ngục ở trẻ em có nguồn gốc tim.

Đau ngực ở trẻ em là một động cơ thăm khám rất thường gặp. Chúng rất gây âu lo, đối với bố mẹ cũng như các thầy thuốc. Theo những dữ kiện thu thập được ở 3700 trẻ em hơn 6 tuổi, đau ngực xuất hiện lúc gắng sức trong 1/3 các trường hợp, và thường kèm theo hồi hộp (22%) hay khó thở (16%). Nhưng một bilan lâm sàng hoàn chỉnh cho thấy rằng chúng phát hiện bệnh tim chỉ ở 1% các trẻ em. Những bệnh được chẩn đoán chủ yếu là tim nhịp nhanh (rối loạn nhịp tim), viêm ngoại tâm mạc (péricardite) hay viêm cơ tim (myocardite). Một trường hợp trên hai (52%), những đau ngực không giải thích được. Trong những trường hợp khác, ta tìm thấy một nguồn gốc cơ hoặc xương (36%), hô hấp (7%), tiêu hóa (3%), hay lo âu (1%). Sau một thời gian nhìn lại 10 năm ở cùng nhóm những trẻ em đau ngực này, không có một trường hợp tử vong do tim nào đã được chứng thực. (Pediatrics, 10.10.2011)
(SCIENCES ET AVENIR 2/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(3/8/2012)

Edited by user Saturday, August 4, 2012 6:54:15 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



thanks 2 users thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 9/4/2012(UTC), Ngọc Anh on 9/20/2012(UTC)
lly (Lynn Ly)  
#3 Posted : Wednesday, August 15, 2012 4:42:06 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 277

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ ĐIỂM G SAU CÙNG ĐƯỢC XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ.

SEXUALITE. Một giải phẫu tử thi phát hiện những bí mật của cơ quan mang lại khoái lạc này.
Những điểm chủ yếu

  • Điểm G có phải là một vùng của âm đạo hay là một cơ quan riêng biệt phản ứng lại với kích thích ?
  • Những kết quả của một giải phẫu tử thi ủng hộ giả thuyết về một tuyến tiền liệt phụ nữ (prostate féminine).
  • Đối với chuyên viên sexologie Esther Hirch, sự khám phá này xác nhận sự cần thiết phải tiếp tục thăm dò những khả năng cảm nhận khoái lạc của chúng ta.

Sau cùng ta đã tìm ra điềm G ! Tầm quan trọng trong sự kích thích tính dục (excitation sexuelle) của phần trước và trên này của âm đạo mặc dầu được xác nhận bởi những lời chứng phụ nữ từ nhiều thập niên và mặc dầu các chuyên gia tình dục học (sexologue) xem là điều được khẳng định. Nhưng phần lớn các chuyên gia vẫn còn gặp phải sự chống đối về sự hiện hữu cơ thể học của điểm G này ở vài “ người không tin ”.

Lần đầu tiên vào năm 1950, sự hiện hữu của điểm G đã được đề xuất bởi BS Ernest Grafenberg, vì vậy điểm G mang chữ đầu của tên ông. Ông xác định nó như là một vùng kích dục (zone érogène) cực kỳ nhạy cảm, cho phép có được một sự kích thích tình dục lớn và một khoái lạc mạnh khi bị kích thích, điều này làm gia tăng thể tích của nó.

Ngày nay, không còn nghi ngờ gì nữa về sự hiện hữu của điểm G sau khi một bài báo quy chiếu đưa ra những kết quả của một cuộc phẫu tích tử thi còn tươi, được công bố trong ấn bản vừa qua của “ The Journal of sexual medicine ”.

BS Adam Ostrzenski, thuộc Institut de gynécologie de St-Petersbourg (Florida), đã phát hiện cơ quan này, mà ông mô tả là có dạng hình thang : với chiều cao 8 mm và chiều rộng thay đổi từ 3,6 đến 1,5 mm và chiều sâu 0,4 mm. Ở phụ nữ này, cơ quan mà vị thầy thuốc nhấn mạnh rằng các mô tương tự với các mô cương (tissu érectile), nằm cách niệu đạo 16 mm, và tạo một góc 35 độ với ống thoát tiểu.

“ Khi tôi mở cơ quan có dạng chiếc túi nhỏ này, khi đó xuất hiện một tổ chức mô với dạng vẻ chùm nho. Cuối phần sâu nhất, một cấu trúc có hình dạng một sợi thừng đi sâu vào các mô lân cận, như thế ủng hộ lý thuyết cho rằng thật vậy điểm G được cấu tạo bởi các mô rất giàu những sợi nối kết nhau. Vài nhà khoa học đã cho rằng điểm G chỉ là một cách để chỉ một loạt các tuyến Skene(các tuyến Skene là những tuyến nằm khuếch tán dọc theo niệu đạo và chịu trách nhiệm sự phóng tinh phụ nữ (éjaculation féminine). Trái lại công trình nghiên cứu này cho thấy rằng đó là một cơ quan riêng biệt, được nối kết mạnh qua các dây thần kinh với phần còn lại của các cơ quan sinh dục của phụ nữ và ủng hộ giả thuyết về sự hiện hữu của một loại tuyến tiền liệt nữ (prostate féminine), Adam Ostrzenski đã giải thích như vậy.

“ KHOÁI LẠC VẪN LÀ MỘT LỤC ĐỊA CẦN THĂM DÒ

Thật ra, trước đây vẫn còn ít nghi ngờ về sự hiện hữu của một vùng nhạy cảm trong phần này của cơ thể. Chỉ vào năm 1981 mà người ta đã phát hiện sự hiện hữu của một khoái lạc cực độ chỉ riêng cho âm đạo (orgasme vaginal), gây nên do sự đưa vào một dương vật hay những ngón tay. Trước đó, những sexologue như Alfred Kinsey nổi tiếng chỉ tin vào sự hiện hữu của một khoái lạc cực độ chỉ riêng cho âm vật (orgasme clitorien), BS Esther Hirch, sexologue thuộc bệnh viện đại học Erasme (ULB, Bỉ) đã giải thích như vậy. « Sự xác nhận này bằng một giải phẫu tử thi minh họa đặc biệt tính đa dạng cơ thể học của các phụ nữ và nhiều cách gây khoái lạc khác nhau. Phần lớn các phụ nữ chỉ biết biết một khoái lạc cực độ âm vật (orgasme clitorien) và đôi khi cũng cảm nhận khoái lạc khi dương vật được đưa vào, trong khi đó một số ít hơn dường như kinh qua khoái lạc cực độ âm đạo (orgasme vaginal). Nhung có lẽ, một cách đáng ngạc nhiên, vài phụ nữ khám phá khoái lạc cực độ âm đạo khá muộn, khoảng 35 hay 40 tuổi. Vài phụ nữ sẽ cũng khám phá khoái lạc cực độ âm đạo với một người phối ngẫu khác, trong khi một người khác không bao giờ kích thích vùng chính xác này của cơ thể và sẽ không gây nên phản ứng kích thích hay khoái lạc. Khi ta làm tình, ta có hai người và sinh lý những người phối ngẫu có thể ảnh hưởng vào, cũng như cách thực hành của họ.

Đối với nữ chuyên gia, sự khám phá cơ thể học này chủ yếu cho phép nhấn mạnh rằng ta còn biết rất ít về khoái lạc cực độ phụ nữ. “ Não bộ của chúng ta là tuyến sinh dục thật sự và tính kích dục (érotisme) được nuôi dưỡng bằng cõi vô thức của chúng ta. Những fantasmes nocturnes mang lại một cơn kích dục một phần và không hoàn toàn cho cõi vô thức của chúng ta. Có thể có sự dị biệt giữa thực tế cơ thể học tình trạng vô thức. Thí dụ một phụ nữ với fantasme có những khoái lạc cực độ âm vật, có thể chỉ đạt được khoái lạc khi khi dương vật được đưa vào. Hay ngược lại. Chúng ta không giống nhau trước tình dục ”, BS Esther Hirch đã khẳng định như thế.

“ MỘT KHÔNG GIAN CẦN PHÁT TRIỂN ”

Đối với nữ chuyên gia, tính chất đa dạng của các khoái lạc cực độ là lớn : Vài phụ nữ sẽ cảm thấy khi thì khoái lạc âm vật khi thì khoái lạc âm đạo. Chúng không chống đối nhau và không loại trừ nhau. Cũng vậy, sự việc không cảm thấy loại khoái lạc này hay loại khoái lạc kia không có nghĩa là một phụ nữ không được hoàn toàn hay bị bất lực. Hiển nhiên mặc dầu sự vắng mặt hoàn toàn khoái lạc có thể biểu hiện một vấn đề. Nếu ta đứng trước những hạn chế trong khoái lạc, hãy uyển chuyển những giới hạn của mình có thể là một cách để tìm ra một con đường hướng về khoái lạc. Vaginalité có thể được phát triển và điểm G có một vị trí quan trọng. Đó cũng là một espace để tập trung vào điều được cảm nhận nội tại. Đối với BS Esther Hirch, sexualité và các con đường khoái lạc vẫn còn là những lục địa cần thăm dò : “ Thí dụ có ai bao giờ đã giải thích tại sao, sau khi đạt được khoái lạc, người đàn ông trải qua một giai đoạn đề kháng (phase réfractaire), không có thể cảm nhận ngay một khoái lạc khác, trong khi đó người đàn bà hoàn toàn có khả năng cảm nhận nhiều khoái lạc cực độ. ”
(LE SOIR 9/5/2012)

2/ CHÂM CỨU HIỆU QUẢ CHỐNG LẠI VIÊM PHẾ QUẢN MÃN TÍNH

Ở Pháp, 3 triệu người bị chứng bệnh rất gây phế tật này, 80% các trường hợp do thuốc lá.

PNEUMOLOGIE. Thật đáng ngạc nhiên Đó là chữ thường được lặp lại khi ta trình bày cho các thầy thuốc chuyên khoa phổi những kết quả của công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các đồng nghiệp của họ ở các đại học y khoa Tokyo, Kyoto và Osaka (Nhật bản). GS Masao Suzuki và các đồng nghiệp đã phân chia một cách không chủ ý, thành hai nhóm 34 người mỗi nhóm, những bệnh nhân bị viêm phế quản mãn tính (BPCO giai đoạn 2,3 hay 4) và được điều trị vì chứng bệnh này. Trong 12 tuần lễ thử nghiệm, nhóm thứ nhất nhận được một buổi châm cứu mỗi tuần, trên 20 huyệt được xác định một cách chính xác trong protocole nghiên cứu. Nhóm kia được hưởng những buổi châm cứu giả bởi vì các kim châm không được ấn vào trong da.

Thật vậy, theo y học Trung Hoa, nguyên tắc của châm cứu nhằm giải thoát năng lượng sinh tử lưu thông trong cơ thể bị phong bế. Năng lượng đi theo các lộ trình, những đường kinh (méridien) và những đường kinh này phần lớn đi qua các cơ quan như phổi. Những ý niệm mất quân bình (khô hay ấm, lạnh hay nóng, rỗng hay thái quá), nguyên nhân của các bệnh tật, theo những nền tảng của châm cứu không bao trùng hợp với những ý niệm Tây Phương. Ngoài ra, không có một chữ nào về viêm phế quản mãn tính với tính cách là thực thể bệnh lý được đề cập đến trong 1600 trang của cuốn sách quy chiếu, La Pratique de la médecine chinoise, của Giovanni Maciocia (éditions Elsevier Masson), được xuất bản năm vừa rồi.

Mặc dầu tất cả những kết quả đều thuận lợi cho châm cứu, nhưng chúng vẫn gây bối rối cho các môn đồ của y học tây phương cổ điển, GS Nicolas Roche, thầy thuốc chuyên khoa phổi của bệnh viện Hôtel-Dieu (Paris), trong công trình nghiên cứu được công bố ngày 11 tháng sáu trong tạp chí Archives of Internal Medicine, đã giải thích như vậy. Trong những trắc nghiệm bước, những bệnh nhân sau khi đã nhận châm cứu thật sự ít khó thở hơn (ít hơn 3,5 điểm trên thang điểm gồm 10 điểm đánh giá khó thở), đi một đoạn đường dài hơn trong 6 phút (trung bình thêm 80 m, cơ bản khoảng 400 m) và ngay cả có một oxygénation tốt hơn.

Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã áp dụng tất cả những biện pháp thận trọng để cho sự đánh giá những hiệu quả của châm cứu nghiêm túc chừng nào có thể được. Điều này được nhấn mạnh bởi GS Alain Didier, thầy thuốc chuyên khoa phổi của CHU de Toulouse và chủ tịch của Société de pneumologie de langue française : “ Điều này rất là quan trọng bởi vì rất khó mà có một hiệu quả placebo thật sự (tác dụng có lợi vì bệnh nhân tin là mình đã nhận một điều trị trong khi đó là điều trị giả) với châm cứu. Các bệnh nhân nhận thức điều đó. ”

MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÂN ĐƯỢC XÁC NHẬN

Thật vậy, trong công trình nghiên cứu Nhật bản, các bệnh nhân theo những buổi châm cứu giả đã mô tả những cảm giác khác nhau khi được kích thích giả vào các huyệt. Lý tưởng là chọn những bệnh nhân đã không bao giờ được châm cứu, nhưng thực hành này lại rất phổ biến ở Nhật Bản. Một hạn chế của công trình nghiên cứu đối với GS Didier. “ Ta sẽ có cùng những kết quả ở dân châu Âu không ? ” ông tự hỏi như vậy.

Những tác dụng có lợi dẫu sao trực tiếp được cảm nhận bởi các bệnh nhân được châm cứu. “ Chất lượng sống của họ được cải thiện một cách rất đáng kể, cũng như tình trạng dinh dưỡng, biên độ của các cử động lồng ngực giữa thở vào và thở ra, lực của các cơ hô hấp và, ở một mức độ ít hơn, vài chỉ dấu chức năng hô hấp ” , GS Roche đã nêu lên chi tiết như vậy. Nhưng nhà chuyên gia này cũng đưa ra vài dè dặt, nhất là “ số lượng hạn chế ” các bệnh nhân (mỗi nhóm chỉ 34 người), “ và dị biệt trong các đặc điểm của hai nhóm được nghiên cứu ” hay “ thời gian theo dõi quá ngắn ”. Thật vậy, “ ngay khi ta cải thiện sự khó thở, thường bệnh nhân mất dần tính hiệu quả dầu điều trị được theo như thế nào ”, GS Didier nói tiếp như vậy. Vậy, một bilan được thực hiện chỉ sau 3 tháng châm cứu không đủ.

Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng trong một căn bệnh mà nguyên nhân hơn 80% là do thuốc lá, sự tiến triển ầm ĩ của triệu chứng khó thở cuối cùng dẫn đến một phế tật hàng ngày mà để chống lại y khoa ngày nay vẫn còn bất lực.

3/ KHI THỂ THAO MANG LẠI ORGASME.
Những điểm chính

  • Đối với một phụ nữ trên năm, thể thao cường độ mạnh (sport intensif) có thể là nguồn của những khoái lạc cực độ (orgasme) và điều này mặc dầu không có một kích thích tính dục nào.
  • Những môn thể thao khả dĩ nhất phát khởi cảm giác này là những môn thể thao đòi hỏi vận dụng các cơ bụng.

Một phụ nữ phải chăng có thể đạt được khoái lạc cực độ bằng cách tập luyện vài môn thể thao không có một hàm ý tính dục nào ?

Câu hỏi có vẻ được đặt ra một cách đều đặn bởi các tạp chí phụ nữ ở Mỹ. Nhưng đó là một huyền thoại hay là một thực tế ? Ở Đại học Indiana, BS Debra Herbanick, đồng giám đốc của Centre pour la promotion de la santé sexuelle, đã muốn làm sáng tỏ điều này.

Như thế bà giám đốc đã tiến hành cuộc điều tra. Và bà đã tìm thấy : vâng, vài môn tập luyện thể thao có thể gây nên một cảm giác khoái lạc cực độ ở vài phụ nữ ! Và trong số nhưng vận động viên thể thao nữ, có đến 24% đã kinh qua loại những cảm nghiệm này.

“ Từ nhiều năm nay, những hiện tượng này, đôi khi được gọi trong các báo phụ nữ là “ coregastre ” vì lẽ sự liên kết của chúng với những môn thể dục cơ bản để làm chắc các cơ bụng (core tiếng Anh có nghĩa là “ cơ bản ”), trở lại đều đặn trong các bài báo. Nhưng theo chỗ chúng tôi biết, đã không bao giờ có một công trình nghiên cứu khoa học về chủ đề này được thực hiện ”, nhà khoa học đã giải thích như vậy.

“ Chúng tôi đã phỏng vấn tất cả 530 phụ nữ, nhà nữ nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Trong số những phụ nữ này, 124 đã giải thích cho chúng tôi là họ đã cảm nhận những khoái lạc gây nên bởi luyện tập thân thể (EIO : Exercise - induced orgasm). 246 phụ nữ khác đã xác nhận là đã cảm nghiệm một loại khoái lạc nhục dục (plaisir sexuel) được phát khởi bởi sự thực hành một môn thể thao (EISP trong tiếng lóng anglo-saxon để chỉ Exercise-induced sexual pleasure) nhưng tuy vậy không đạt đến khoái lạc cực độ (orgasme). Chúng tôi sau đó đi xa hơn trong những nghiên cứu của chúng tôi nhằm xác định tần số của loại các biến cố này và tính chất của các môn thể thao có liên hệ. ”

Những kết quả của các nghiên cứu của bà vừa được công bố trong tạp chí khoa học Sexual and Relationship Therapy.

“ Những thực hành thể thao thông thường nhất liên kết với cảm giác khoái lạc cực độ gây nên bởi sự luyện tập thân thể là những bài tập vận động các cơ bụng (exercices de musculation des abdominaux), leo trèo bằng dây, đua xe đạp hay cử tạ.” Debra Herbenick đã xác nhận như vậy. Chạy bộ cũng ở trong nhóm dẫn đầu.

“ Những dữ kiện này đáng lưu ý bởi vì chúng gợi ý rằng cảm giác khoái lạc cực độ không chỉ xuất hiện độc nhất trong một khung cảnh tính dục. Chúng cũng có thể cho chúng ta biết nhiều hơn về những quá trình của cơ thể được biểu hiện qua những cảm nghiệm này ở các phụ nữ.”

Các phụ nữ đã tham gia vào công trình nghiên cứu này trong lứa tuổi từ 18 đến 63. Phần lớn những người này sống lứa đôi hay được cưới hỏi và phần lớn (70%) dị tính luyến ái (hétérosexuel). Những phụ nữ đã cảm nghiệm khoái lạc cực độ gây nên bởi luyện tập thân thể (“ EIO ”) ở trong lứa tuổi từ 18 đến 56. Lứa tuổi của những vận động viên thể thao nữ đã kinh qua một khoái lạc nhục dục (“ EISP ”) là từ 16 đến 63 tuổi, bài bao khoa học đã xác nhận như vậy.

Đối với hai nhóm, loại kinh nghiệm này không phải là một trường hợp riêng rẻ. Thật vậy hơn 40% các phụ nữ này đã xác nhận với nhà nghiên cứu nữ rằng họ đã kinh qua loại cảm nghiệm này hơn 10 lần trong quá khứ, 20% các phụ nữ được phỏng vấn cũng đã xác nhận là không có thể kềm chế chúng được.

Ngoài các con số, công trình nghiên cứu này thật sự mang lại cho khoa học những gì ? “ Công trình nghiên cứu cho chúng ta thấy rằng cảm giác khoái lạc cực độ không phải là một biến cố liên kết với một thực hành tình dục, Debby Herbenick đã đánh giá như vậy. Điều đó cũng chất vấn chúng ta về vai trò của nó, quan trọng hay không, trong quá trình sinh sản của con người ”, nhà nữ nghiên cứu đã kết luận như vậy.
NHỮNG HOẠT ĐỘNG THỂ THAO CÓ KHẢ NHẤT PHÁT KHỞI MỘT KHOÁI LẠC CỰC ĐỘ (ORGASME) HAY MỘT KHOÁI LẠC NHỤC DỤC (PLAISIR SEXUEL)


MỘT KHOÁI LẠC CỰC ĐỘ (EIO : EXERCISE-INDUCED ORGASM)
  • Các cơ bụng: 45,3%
  • Leo trèo: 9,3%
  • Đua xe đạp: 8,1%
  • Cử tạ : 7%
  • Chạy bộ: 7%

MỘT KHOÁI LẠC NHỤC DỤC (PLAISIR SEXUEL) GÂY NÊN BỞI THỂ THAO (EISP)
  • Đua xe đạp: 19,2%
  • Cử tạ: 14,5%
  • Các cơ bụng: 12,2%
  • Chạy bộ: 9,9%
  • Yoga: 8,7%

Những tỷ lệ này được xác lập trên cơ sở những kinh nghiệm được kinh qua bởi các phụ nữ được hỏi trong khung cảnh của cuộc điều tra của BS Herbenick. 45,3% các phụ nữ đã cảm thấy một EIO khi thực hiện những luyện tập vận động các cơ bụng. Nhưng điều này không có nghĩa rằng 45,3% phụ nữ, trong một mẫu nghiệm tổng quát, thực hành luyện tập vận động cơ bụng đều cảm nghiệm một EIO !


Khoái lạc cực độ (orgasme) : một cách chính xác đó là gì ?

“ Cảm giác khoái lạc cực độ phụ nữ (orgasme féminin) nói chung đó là cao điểm và giai đoạn cuối của kích thích tính dục (excitation sexuelle), Larousse médical đã xác nhận như vậy. Giai đoạn khoái lạc cực độ (phase orgastique) này theo sau giai đoạn kích thích (phase d’excitaion) và giai đoạn bình nguyên (phase en plateau). Nó được đánh dấu bởi sự phát khởi không kềm chế được, trong vài giây, những co cơ và được tiếp theo sau bởi một giai đoạn mềm ra (phase de résolution), được đặt trưng bởi một sự sụt giảm của tình trạng kích thích
(LE SOIR 22/5/2012)

4/ NGƯỜI PHÁP THIẾU VITAMINE D.

Viện hàn làm y khoa chủ trương gia tăng những cung cấp hàng ngày đối với các thiếu niên và những người già.

SANTE PUBLIQUE. Những sự thiếu hụt càng ngày càng thường gặp, những cung cấp không đủ và những khuyến nghị không thích ứng với nhu cầu : Viện hàn làm y khoa đưa ra một bức tranh khá u tối về tình hình vitamine D ở Pháp. “ Khoảng ½ dân chúng Pháp thiếu vitamine D ”, GS Bernard Salle đã giải thích như vậy nhân dịp trình bày với báo chí báo cáo “ Statut vitaminique, rôle extra-osseux et besoins quotidiens en vitamine D ”. “ Nhưng nếu ta cho rằng trị số ngưỡng (valeur seuil) là 30 nanogramme 25 OHD (hoạt chất xuất phát từ vitamine D) đối với mỗi mililit huyết thanh, mà không phải là 20 ng/ml, thì tỷ lệ những người bị thiếu hụt chuyển lên 70% ”, ông đã nhấn mạnh như vậy.

Điều chứng thực này là một vấn đề bởi vì vitamine D, do làm dễ sự hấp thụ calcium qua ruột, đảm bảo một sự cốt hóa tốt và phông ngừa một số những bệnh lý nghiêm trọng nào đó như chứng loãng xương (ostéoporose) hay chứng nhuyễn xương (ostéomalacie), nguồn gốc của những trường hợp gãy xương ở người già. Dĩ nhiên đó là chưa kể bệnh còi xương (rachitisme) ở trẻ em, chứng bệnh này được chống lại một cách hiệu quả từ những năm 1920 bằng cách uống mỗi ngày một muỗng cà phê dầu gan cá thu.

Thật vậy, các loại cá mỡ hoang dã (saumon, morue, flétan…) là một trong những nguồn thức ăn hiếm hoi của vitamine D. Phần còn lại được cung cấp cho cơ thể nhờ tác dụng của những tia tử ngoại B (UVB) lên da, với điều kiện tiếp xúc đủ (nhưng không quá mức đến độ làm dễ nguy cơ xuất hiện một khối u ớ da…) với ánh nắng hè, nghĩa là từ tháng tư đến tháng chín, ở các vĩ độ của chúng ta. Và đừng lạm dụng crème solaire écran total…

“ Vào mùa thu và mùa đông, mặt trời quá thấp ở chân trời nên các tia tử ngoại không đến tận đất, ngoại trừ ở núi, vì ở độ cao. Như vậy, chỉ các tia tử ngoại đến chúng ta nhưng chúng không có khả năng tổng hợp vitamine D ”, BS Jean-Claude Souberbielle, thầy thuốc nội tiết ở bệnh viện Necker (Paris) và đồng tác giả của báo cáo đã giải thích như vậy.

Xét vì sự thành công của điều trị chống lại bệnh còi xương, chính do định lượng nồng độ của vitamine D được chứa trong một muỗng dầu cá thu mà những nhu cầu hàng ngày đã được xác lập bởi giới hữu trách y tế, hoặc 400 đơn vị quốc tế hoặc 10 mcg vitamine D mỗi ngày. Nhưng từ 15 năm nay, khuyến nghị này, có từ những năm 1930, được đánh giá là không đủ bởi nhiều nước, đã quyết định tăng cao lượng mỗi ngày, đặc biệt ở Hoa Kỳ, là nơi liều lượng đã chuyển thành 800 đơn vị quốc tế, tức là tăng gấp đôi.

Ở Pháp vẫn luôn luôn mức chuẩn cũ “ không được thích ứng ”. “ Mục đích của báo cáo này là chứng minh với giới hữu trách y tế rằng họ phải xét lại lập trường của mình ”, GS Sale đã giải thích như vậy. Với lý lẽ cứng cỏi : “ Ở Pháp, các cung cấp trung bình là khoảng 100 ui mỗi ngày cho mỗi người. Thế mà phải cần 10 lần nhiều hơn để đạt ngưỡng tối thiểu 20 ng/ml, mặc dầu mức này không đủ nếu các cung cấp bổ sung calcium quá thấp để đảm bảo một sự hóa xương tốt.”

NHIỀU LỢI ÍCH.

Các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng để làm giảm một cách đáng kể những nguy cơ té ngã hay gãy xương ở những người già, nồng độ huyết thanh 25OHD phải trên không phải 20, mà 30 ng/ml máu. Ta còn ở xa mức đó. “ Sự hấp thụ một ampoule vitamine D mỗi tháng sẽ phải được thực hiện một cách hệ thống sau 50 tuổi ”, GS Salle đã nói tiếp như vậy. Điều này không gây nguy cơ tăng canxi-huyết, một bệnh nặng nhưng rất hiếm, gây nên do dùng quá nhiều vitamine D.

Mặc dầu bệnh còi xương nhũ nhi do thiếu vitamine D (rachitisme carentiel du nourrisson) đã gần như biến mất ở Pháp, đặc biệt nhờ sự cho bổ sung tốt vitamine D sữa mẹ, nhưng nhiều thiếu niên vẫn bị thiếu ở một lứa tuổi bản lề (giữa 10 và 20 tuổi) cần thiết cho sự cấu tạo khối xương (masse osseuse) của chúng. “ Từ một chục năm nay, chúng tôi chứng thực rằng vào cuối mùa hè, 25% các thiếu niên không bị bệnh lý nào có một nồng độ vitamine D trong máu dưới 20ng/ml ”, GS Jean-François Duhamel, thầy thuốc nhi khoa của CHU de Caen và đồng tác giả của báo cáo chủ trương cho bổ sung 100.000 đơn vị hai đến ba lần mỗi năm để phòng ngừa, đặc biệt ở những người tăng thể trọng hay béo phì, đã báo động như vậy.

Bởi vì ngoài tác dụng lên khung xương, vitamine D mang lại nhiều lợi ích. Bằng cách kích thích hệ miễn dịch, vitamine D cho phép phòng ngừa một cách hiệu quả vài bệnh nhiễm trùng như bệnh lao và chống lại chúng. Mặt khác, tính hiệu quả của các séjours en sanatorium được giải thích bởi sự kích thích sản xuất vitamine D dưới tác dụng của thời gian có ánh mặt trời tốt hơn ở độ cao. Vitamine D cũng có tác động dương chống lại những bệnh tim mạch hay thận, và vài bệnh tự miễn dịch (xơ cứng rải rác, đái đường loại I). Ngược lại, tác dụng bảo vệ của vitamine D chống lại vài bệnh ung thư, được gợi ý bởi vài công trình nghiên cứu rất được quảng bá, vẫn cần được xác nhận, Viện hàn lâm y học đã ghi nhận một cách thận trọng như thế.
(LE FIGARO 26/6/2012)

5/ UNG THƯ VÚ : NGUY CƠ GIA TĂNG Ở NHỮNG NGƯỜI LÀM VIỆC BAN ĐÊM ?

Một nhóm nghiên cứu của Inserm thuộc Centre de recherche en épidémiologie et santé des populations đã tiến hành một công trình nghiên cứu được công bố trong “ International Journal of Cancer ”. Các tác giả đã so sánh lý lịch nghề nghiệp của 1200 phụ nữ, bị ung thư vú từ năm 2005 v 2008, với hành trình nghề nghiệp của 1003 phụ nữ khác. Ở những phụ nữ làm việc với giờ giấc chênh lệch, loại ung thư này tỏ ra gia tăng.
(PARIS MATCH 2/8-8/8/2012)

6/ MỘT LOẠI THUỐC CHỐNG MÙ BỊ CẤM CHỈ

Các thầy thuốc chỉ trích quyết định cấm sử dụng Avastin, một loại thuốc hiệu quả và ít tốn kém.

OPHTALMOLOGIE. Tổng giám đốc y tế tuần qua đã gởi một thông tư cho tất cả các giám đốc cơ quan y tế vùng để yêu cầu họ cấm các bệnh viện sử dụng Avastin để điều trị bệnh thoái hóa điểm vàng do lớn tuổi (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge), một bệnh của mắt đe dọa thị giác.“ Préparartion de seringues par répartition aseptique một dung dịch bévacizumab (Avastin) để chích vào dịch kính (injection intravitréenne) bị cấm chỉ, xét vì đã có một biệt dược thích ứng (Lucentis, ranibizumab), thuốc này đã có giấy phép thương mãi hóa để điều trị DMLA và được formulé và trình bày đặc hiệu để tiêm vào dịch kính, văn thư do tổng giám đốc y tế Jean-Yves Grall ký, đã kết luận như vậy.

Sự cấm chỉ này đã gây nên một mối kinh hoàng thật sự trong tất cả các khoa mắt lớn của các bệnh viện Pháp. Vào giờ phút mà các chi phí y tế bùng nổ, quyết định này dường như rất đáng ngạc nhiên : Avastin, thuốc bị cấm chỉ, phí tổn từ 30 đến 50 euro một liều ; Lucentis, được cho phép giá 800 euro !

MỘT SỰ CHO PHÉP TẠM THỜI.

Hiện nay, ở Tây Ban Nha và ở Ý, các thầy thuốc chỉ kê đơn Avastin, cũng như một phần lớn ở Hoa Kỳ và ở Thụy Sĩ. Trong những nước khác, sự sử dụng Avastin vượt quá sự sử dụng Lucentis, quá đắt đối với các hệ assurance - santé. GS Gilles Aulagner (Hospices civils de Lyon), thực hiện một thử nghiệm điều trị so sánh hai loại thuốc này, đã viết cho Bộ Trưởng y tế để yêu cầu ông ta xem lại quyết định này. Sự cấm chỉ này càng gây ngạc nhiên khi giáo sư Jean-Luc-Harousseau, tổng giám đốc Y Tế rất mới đây đã dự kiến yêu cầu một “ khuyến nghị sử dụng tạm thời ” đối với Avastin, trong nhãn khoa.

Hiện nay, bệnh thoái hóa điểm vàng do lớn tuổi (dégénérescence maculaire liée à l’âge : DMLA) gây bệnh từ 15 đến 20% những người trên 80 tuổi, dưới hai dạng xuất hiện dần dần, một dạng được gọi là khô (forme sèche) (70% các bệnh nhân), đối với dạng này hiện nay không có điều trị, và dạng kia, được gọi là “ ướt ” (forme humide), được đặc trưng bởi một sự tăng sinh huyết quản sau võng mạc. Trong những năm 1990, một nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Judah Folkman, phát triển ý tưởng cho rằng bằng cách tấn công vào yếu tố tăng trưởng (facteur de croissance), VEGF, có tác dụng kích thích các huyết quản, ta có thể phá hủy vascularisation của một khối u, và do đó có thể tiêu hủy chính khối uHãng Genentech sau đó hiệu chính các kháng thể chống lại yếu tố tăng trưởng này và bán hai brevet. Một cho Roche, hiệu chính Avastin, một loại thuốc chống lại ung thư đại tràng, và một cho Novartis, thương mãi hóa Lucentis, một loại thuốc tỏ ra có hiệu quả khi tiêm vào mắt trong dạng ướt của DMLA, như thế tránh mù lòa cho hàng trăm ngàn người.

Vào năm 2006, một thử nghiệm điều trị xác nhận rằng Lucentis ngăn cản sự thoái biến thị giác và cải thiện thị lực trong những dạng ướt. Lucentis được cho phép khắp nơi trên thế giới để chống lại DMLA với giá rất đắt 1200 euro mỗi liều và cần tiêm khoảng một lần mỗi tháng. Vào cùng thời kỳ, một thầy thuốc chuyên khoa mắt của Hoa Kỳ đã nhận xét một sự cải thiện rất rõ rệt thị giác của mình sau khi đã nhận nhiều tiêm truyền Avastin để điều trị ung thư đại tràng. Tin tức này lưu hành và rất nhanh chóng các thầy thuốc Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng một cách hoang dã Avastin tiêm vào mắt để điều trị những bệnh nhân đang mất thị giác với phí tổn 30 đến 50 euro mỗi liều, mặc dầu không được giới hữu trách y tế cho phép. Hàng chục công trình nghiên cứu tiền phong xác nhận lợi ích của Avastin trong DMLA. Tuy nhiên, thuốc duy nhất được cho phép một cách chính thức ở Pháp, ở châu Âu, và ở Hoa Kỳ là Lucentis.

Sau đó nhiều thử nghiệm quy mô lớn so sánh hai loại thuốc được phát động. Thử nghiệm mới nhất, được gọi là Catt, được công bố trong tạp chí Ophtalmology, vào tháng tư năm 2012, được thực hiện trên gần 1200 bệnh nhân, đã kết luận rằng tính hiệu quả của hai thuốc Lucentis và Avastin là giống hệt nhau. Tỷ lệ tử vong cũng tương tự nhau. Hơi nhiều tác dụng phụ toàn thân hơn được quan sát với Avastin (39,9%) so với Lucentis (31,7%). Một thử nghiệm của Anh Ivan, cũng được công bố vào tháng năm 2012, được thực hiện trên 610 bệnh nhân, xác nhận rằng hai loại thuốc có tính hiệu quả và mức độ an toàn tương tự nhau, với một ít nhiều tai biến tim hơn được quan sát, nhưng lần này với Lucentis. Công trình nghiên cứu mới của Anh, được công bố trong báo Ophtalmology, sẽ kết thúc cuộc bàn cãi về chủ đề này và xác nhận sự tương tự giữa hai thứ thuốc, ngoại trừ giá cả. Ở Pháp, một thử nghiệm Gefal chẳng bao lâu sẽ được công bố. “ Chúng tôi đã không quan sát thấy những khác nhau giữa hai nhóm ve mặt các tác dụng phụ ”, GS Laurent Kodjikian (Hospices civils de Lyon), nhà nghiên cứu chính của thử nghiệm này, đã xác nhận như vậy. Mãi cho đến trước khi bị lệnh cấm chỉ này ở Pháp, nhiều khoa mắc bệnh viện đã sử dụng các liều Avastin được bào chế bởi khoa dược để tiêm vào mắt vì thuốc chỉ có sẵn dưới một dạng được sử dụng trong ung thư.
(LE FIGARO 30/7/2012)

7/ LOẠN NHỊP TIM : Ở PHÁP IMPLANTATION MỘT THIẾT BỊ MỚI.

GS Didier Klug, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc CHU de Lille trình bày những lợi ích của hệ thống Watchman nhằm ngăn cản sự tạo thành một cục máu đông ở những bệnh nhân bị rung nhĩ.

Hỏi : Trong trường hợp rung nhĩ, điều gì xảy ra ?
GS Didier Klug. Đó là một rối loạn nhịp thường xảy ra. Một phần của tim đập loạn xạ. Các tâm nhĩ đập nhanh hơn và một cách không đều, chúng không còn co bóp một cách đúng đắn nữa. Sau 65 tuổi, hơn 4% dân chúng bị bệnh rung nhĩ.

Hỏi : Những triệu chứng báo động là gì ?
GS Didier Klug. Bệnh nhân cảm thấy tim đập một cách không đều, vài bệnh nhân đau ở ngực, khó thở. Nhưng thường thường bệnh nhân không có một triệu chứng nào và rối loạn nhịp của họ được khám phá do tình cờ lúc đi khám bệnh. Mặc dầu bệnh nhân không cảm thấy gì hết, rung nhĩ mang lại hai nguy cơ : 1. suy tim. 2. sự tạo thành một cục máu đông trong tim, sẽ đi chuyển lên não, gây tai biến mạch máu não (từ 20 đến 30% trong số 130.000 trường hợp tai biến mạch máu não ở Pháp là do rung nhĩ).

Hỏi : Ta điều trị những rung nhĩ này như thế nào ?
GS Didier Klug. Một khi chẩn đoán được xác lập, mục đích đầu tiên của chúng tôi là làm đều nhịp tim đập. Ta bắt đầu cho những thuốc chống loạn nhịp bằng đường miệng. Với thời gian, những thuốc này tỏ ra không có hiệu quả (khoảng 50% trường hợp thất bại sau 1 năm). Khi đó ta kê đơn những thuốc làm chậm tần số tim, chúng sẽ điều trị những triệu chứng nhưng không điều trị nguyên nhân. Mặc dầu ta tái lập được một tần số bình thường của các co bóp tim, nhưng ngược lại, những co bóp tâm nhĩ không được như vậy. Ở một số nhỏ những bệnh nhân, ta có thể đề nghị triệt phá vùng chịu trách nhiệm rối loạn nhịp. Can thiệp này có hiệu quả nhưng hàm chứa những khả năng gây các biến chứng. Trong đại đa số các trường hợp, ta phối hợp với liệu pháp này sự sử dụng một thuốc chống đông để tránh sự tạo thành cục máu đông. Điều này cần thiết đối với những bệnh nhân trên 65 tuổi, những bệnh nhân bị cao huyết áp, bị bệnh đái đường, bệnh tim mạch hoặc với các tiền sử tai biến mạch máu não.

Hỏi : Có những chống chỉ định đối với sự sử dụng các thuốc chống đông máu không ?
GS Didier Klug. Có nhiều chống chỉ định. Thí dụ, những người có một tiền sử chảy máu quan trọng không thể nhận các thuốc chống đông máu bởi vì những thuốc này ngăn cản sự đông máu, làm dễ sự chảy máu. Chúng cũng có nguy cơ ở những bệnh nhân bị một vấn đề thận hay gan nghiêm trọng, ở những bệnh nhân mà huyết áp không hoàn toàn được kiểm soát, ở những người già có nguy cơ té ngã

Hỏi : Ông hãy mô tả cho chúng tôi nguyên tắc của hệ Watchman đối với những bệnh nhân này ?
GS Didier Klug. 90% các cục máu đông này được tạo thành trong một phần vô dụng của tim : tiểu nhĩ trái (auricule gauche). Với kỹ thuật này, mục đích là bịt nó lại để không còn một cục máu đông nào có thể được tạo thành. Và điều đó không phải bắt bệnh nhân dùng thuốc kháng đông.

Hỏi : protocole là gì ?
GS Didier Klug. Thầy thuốc chuyên khoa tim can thiệp (cardiologue interventionnel) đưa một cathéter vào trong tĩnh mạch đùi (ở vùng bẹn) và hướng nó đến tận tiểu nhĩ trái. Sau đó ông chuồi vào trong cathéter một guide, ở đầu được trang bị bởi một hệ thống giống một chiếc dù nhỏ xíu được khép lại. Chiếc dù này khi đến mép của tiểu nhĩ, được mở ra và bịt nó lại.

Hỏi : Sau Hoa Kỳ và Đức, kíp của ông là kíp đầu tiên implanter hệ thống Watchman ở Pháp. Ông đã điều trị bao nhiêu bệnh nhân ?
GS Didier Klug. Chúng tôi đã mổ 6 bệnh nhân, trong đó vài bệnh nhân cách nay 6 tháng. Tất cả đều mạnh khỏe (ở một trong những bệnh nhân này, chúng tôi đã không thể bịt được hoàn toàn tiểu nhĩ). Thời gian nhập viện là 4 ngày. Sau can thiệp, các bệnh nhân được điều trị tạm thời với các thuốc kháng đông trong 45 ngày.

Hỏi : Những nguy cơ của những implantation này ?
GS Didier Klug. Vì ta đưa hệ thống Watchman vào trong những vùng rất mỏng manh, nên nguy cơ là tạo nên một vết thương tim có thể cần sự can thiệp của một thầy thuốc ngoại khoa.

Hỏi : Ta có thể mổ những bệnh nhân mà một cục máu đông đã được tạo thành hay không ?
GS Didier Klug. Vâng, nhưng trước hết phải cho các bệnh nhân này những thuốc kháng đông trong một tháng để làm tan cục máu đông trước khi có thể can thiệp. Có một chống chỉ định : sự hiện diện của các phong thấp khớp cấp tính (rhumatisme articulaire aigu) bởi vì những bệnh nhân này có thể phát triển những cục máu đông ở những nơi khác với tiểu nhĩ trái (auricule gauche).
(PARIS MATCH 2/8 – 8/8/2012)

8/ NHỮNG TẾ BÀO GỐC ĐƯỢC HỒI SINH 14 NGÀY SAU KHI CHẾT.

Một nhóm nghiên cứu người Pháp mở cánh cửa cho việc lấy sau khi chết (prélèvement post mortem) những tế bào của cơ và tủy xương.

BIOLOGIE CELLULAIRE. Thế thì nếu các xác chết là một réservoir những tế bào gốc có thể sử dụng cho những người sống ? Trước hết, điều đó giống như kịch bản của một film de Frankenstein. Ngoại trừ đó là một công trình nghiên cứu khoa học mở ra những triễn vọng điều trị hoàn toàn hiện thực. Một nhóm các nhà khoa học, do các giáo sư Fabrice Chrétien và Shahragim Tajbakhsh, thuộc Viện Pasteur, vừa cho thấy rằng vẫn còn có khả năng thu hồi các tế bào có thể sống được (cellules viables) trong các cơ của các tử thi người, 17 ngày sau khi chết.

Đó là những tế bào gốc (cellules souches), những tế bào sinh ra những tế bào trưởng thành (cellules matures) và ngày nay là đối tượng của những công cuộc nghiên cứu mạnh mẽ không những trong các bệnh cơ (myopathie) mà cả trong bệnh Alzheimer hay suy tim. Trong thí nghiệm gây ngạc nhiên này, được công bố trong tạp chí on line Nature communications hôm 12 tháng sáu này, các nhà nghiên cứu đã thành công, với sự thực hiện cùng thao tác ở chuột, sau đó ghép những tế bào còn sống sót này để tái sinh những tế bào cơ trong tình trạng hoạt động hoàn hảo.

“ Ý tưởng của những thí nghiệm này đã đến với tôi lúc quan sát bằng kính hiển vi những tế bào cơ được lấy lúc giải phẫu tử thi ”, nhà cơ thể bệnh lý thần kinh Fabrice Chrétien, cũng là giáo sư thuộc đại học Versailles Saint-Quentin đã giải thích như vậy, “ trong khi tất cả những tế bào chung quanh hoàn toàn bị phá hủy, những tế bào gốc vẫn bảo tồn một dạng vẻ đẹp ”. Làm sao những tế bào gốc này sống sót được trong một môi trường biết bao là thù địch, không oxy, bị dội dồn dập bởi những tín hiệu chết tế bào (signaux de mort cellulaire) và bị nhận chìm trong một bồn tắm acide ? Rất đơn giản bằng cách ngừng thở và đi vào một giấc ngủ sâu. “ Để còn sống, những tế bào này loại bỏ những cơ quan tử (organite) vốn có nhiệm vụ làm cho chúng thở, các mitochondrie, GS Chrétien đã giải thích như vậy. Chính vì thế, chúng làm cạn stock năng lượng và bắt đầu ngủ đông (en hibernation).” Như một người lặn bỏ những bình oxy của mình vì hết oxy, và nín thở lâu chừng nào tốt chừng ấy.

Đối với GS Jean-Marc Lemaitre, thuộc Institut de génomique fonctionnelle (Montpellier), “ ý niệm yên ngủ sâu (quiescence profonde) của các tế bào gốc, cho phép chúng đề kháng và gia tăng khả năng sống của chúng, là điều đáng quan tâm ”. Vì lẽ nếu khả năng sinh sống đã không được chứng minh sau 17 ngày, đó chỉ là bởi vì các nhà nghiên cứu đã không có thể có được những xác chết lâu hơn !
(LE FIGARO 13/6/2012)

9/ AMPHETAMINE BIẾN ĐỔI NÃO BỘ
Điểm chủ yếu

  • 2 đến 7% các thiếu niên châu Ẩu đã kinh qua amphétamine
  • Một công trình nghiên cứu trên chuột cho thấy rằng tác dụng của amphétamine kéo dài ngay cả sau khi cai thuốc.
  • Đối với một chuyên gia, điều thiết yếu là phải giúp một cách nhanh chóng thiếu niên đang trong cơn nguy khốn.

Sự tiêu thụ amphétamine ở tuổi thiếu niên có thể gây nên những rối loạn sinh thần kinh (dérèglement neurobiologique) và làm gia tăng mức độ lưu hành những hành vì có nguy cơ. Nhất là, những tác dụng này có thể còn tồn tại đến tuổi trưởng thành, mặc dầu những người nghiện không còn tiêu thụ các chất ma túy nữa.

Đó là những kết luận của một công trình nghiên cứu mới được tiến hành trên chuột bởi BS Gabriella Gobbi, nhà nghiên cứu nữ của Centre universitaire de santé McGill (Montréal). Bà đã công bố phần chủ yếu của công trình này trong International Journal of Neuropsychopharmacology. Theo các tác giả đó là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên phát hiện hậu quả của amphétamine về lâu về dài. “ Chúng tôi đã quan sát những tác dụng mà sự tiêu thụ amphétamine có thể có lên các chất dẫn truyền thần kinh quan trọng.”, nhà nữ nghiên cứu về các bệnh tâm thần và nghiện ma túy đã giải thích như vậy.

Amphétamine là một chất ma túy với một chức năng kích thích tâm thần (psychostimulant), làm gia tăng năng lực tập trung, nhưng cũng có thể gây mất ngủ …điều này giải thích vì sao amphétamine đặc biệt được tìm kiếm bởi các sinh viên trước khi thi cử hay bởi những người muốn kéo dài cuộc vui về đêm. Những tác dụng này cũng được kèm theo bởi một sự giảm các cảm giác đói và mệt.

Thuốc ma túy này, thường được gọi là “ speed ” lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi trong Đệ Nhị Thế Chiến để cải thiện các thành tích và khả năng chịu đựng của các người lính. Theo một báo cáo của Cơ quan chống ma túy và tội ác của Liên Hiệp Quốc, từ 2 đến 7% những thiếu niên châu Âu đã từng tiêu thụ amphétamine.

Các con chuột đã nhận 3 liều amphétamine khác nhau trong thời kỳ thiếu niên. Vào tuổi trưởng thành, sự cho các thuốc ma túy đã được ngừng lại. Những hoạt động thần kinh sinh lý của chúng được thăm dò bởi điện não đồ và hành vi có nguy cơ của chúng được khảo sát. “ Chúng tôi đã chú ý đến các chất dẫn truyền thần kinh chủ yếu, sérotonine, dopamine và norépinéphrine. Chúng tôi đã phát hiện những bất thường của hoạt động não, liên kết với những rối loạn tâm thần và những bệnh tâm thần như bệnh trầm cảm và tình trạng phụ thuộc.” Các nhà nghiên cứu cũng đã quan sát những thay đổi về hành vi, vài động vật tỏ ra tăng hoạt (hyperactif), trong khi những động vật khác có những hành vi có nguy cơ (comportements à risque), như những “ explorations avancées ”, trong khi đó những động vật không bị cho amphétamine vẫn giữ một thái độ chuẩn trước nguy cơ.
(LE SOIR 9/11/2011)

10/ COCAINE GÂY TEO NÃO.

NEUROLOGIE. Những người tiêu thụ cocaine mãn tíh đánh mất hai lần nhanh hơn những tế bào thần kinh của họ trong quá trình lão hóa so với những người không sử dụng chất ma túy này, một công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí Molecular Psychiatry đã tiết lộ như vậy. “ Chúng tôi có bằng cớ sinh lý mới rằng cocaine co thể gây nên một bệnh thật sự của não bộ ”, Laurent Karila, thầy thuốc chuyên tâm thần học phụ trách Trung tâm giảng dạy và nghiên cứu điều trị các chứng nghiện (Certa) của CHU Paul-Brousse ở Villejuif (Val-de-Marne) đã bình luận như vậy.

Để thu được kết quả này, các nhà nghiên cứu của đại học Cambridge (Vương Quốc Anh) đã đo lường bằng chụp hình ảnh não bộ lượng các tế bào thần kinh hiện diện trong não bộ ở 120 người, trong đó 60 người nghiện cocaine (cocainomane) tuổi từ 18 đến 50 và những người phụ thuộc từ nhiều năm.“ Mối liên hệ giữa thời gian tiêu thụ cocaine và sự suy giảm chất xám đã được biết đến ”, Karen Erschen đã xác nhận như vậy.

Những vùng trước trán và thái dương của não bộ có vẻ đặc biệt bị thương tổn, thế mà những vùng này quan trọng đối với trí nhớ, sự chú ý và sự đưa ra quyết định, những chức năng này rất bị xáo trộn ở những người tiêu thụ đều đặn cocaine. Nguồn gốc của tác dụng có hại này của chất ma túy, theo Karen Erschen, có thể là do một sự gia tăng của stress oxydant ở các tế bào thần kinh, vốn đã được quan sát ở động vật. Độc tính này được thêm vào nhiều biến chứng, đặc biệt là tim mạch, phổi và tâm thần, do sự tiêu thụ cocaine. Cocaine, với tác dụng gây nên một sự phóng thích ồ ạt dopamine, noradrénaline và sérotonine trọng não bộ, gây nên một sự khoái trá và một cảm giác hùng mạnh nhưng đồng thời cũng gây nên cao huyết áp, co thắt tất cả những huyết quản, do đó phong bế oxygénation các mô và gây đau ngực, đó là chỉ kể những triệu chứng thông thường.

Ở Hoa Kỳ, cocaine đã trở thành nguyên nhân dẫn đầu của những trường hợp đến phòng cấp cứu trong số những chất bất hợp pháp, đi trước cả rượu bởi vì cocaine nhân gấp 20 lần các nguy cơ tai biến tim mạch và nhân 14 các nguy cơ đột qụy. “ Ở Pháp, chúng ta đã chứng kiến một sự lan tràn rất đáng lo ngại về sự tiêu thụ cocaine trong tất cả mọi giới và ở tất cả mọi lứa tuổi, Laurent Karilla lấy làm kinh hãi. Vào năm 2011, 3% các thiếu niên 17 tuổi đã từng kinh qua chất ma túy này.” Tuy nhiên, không phải tất cả những người tiêu thụ đều đặn cocaine đều trở nên phụ thuộc, tỷ lệ nghiện là 5% vào năm đầu sử dụng và 20% khi tiêu thụ dài lâu, theo nhà chuyên gia.

Một tính nhạy cảm di truyền (susceptibilité génétique) cũng là nguyên nhân, như Karen Erschen và kíp nghiên cứu đã chứng tỏ điều đó trong một công trình nghiên cứu được công bố mới đây trong Science. Thật vậy, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những bất thường đặc hiệu của não bộ đối với tình trạng phụ thuộc cocaine ở những anh chị em bị nghiện cocaine mãn tính. Những bất thường này của não bộ được thể hiện chủ yếu bởi một tính xung động (impulsivité) lớn hơn được đo ở những người này so với toàn dân. Do đó cần tính đến những biện pháp phòng ngừa ở những người được phát hiện là có nguy cơ phụ thuộc các chất mà túy. Lúc xuất hiện rối loạn nhận thức (troubles cognitifs) đầu tiên, sự kiêng cữ và những luyện tập tâm thần có thể cho phép phục hồi một phần lớn những năng lực tâm lý (faculté psychologique) của bệnh nhân. Cái khó khăn đối với người nghiện ma túy là thay đổi đời sống trong khi cocaine làm suy yếu chính những khả năng tự kiềm chế và lấy quyết định của bệnh nhân.

SỰ TIÊU THỤ DỄ CHE DẤU.

“ Có lẽ đó là loại ma túy thâm hiểm nhất, Laurent Karila đã đánh giá như vậy, bởi vì cocaine là chất ma túy gây nhiều trường hợp tự tử nhất và gây những biến chứng đáng sợ đối với sức khỏe trong khi đó sự tiêu thụ nó dễ được che dấu.” Vậy có thể tránh trở nên phụ thuộc cocaine, ngay cả đối với những người có nguy cơ, bằng một sự phòng ngừa hay một điều trị thích ứng. Ngược lại, những tổn hại gây nên bởi quá trình lão hóa gia tốc của não bộ dường như không thể đảo ngược. “ Sự ngừng tiêu thụ chất ma túy có lẽ sẽ tái lập một tốc độ lão hóa bình thường của não bộ, Karen Erschen đã xác nhận như vậy, nhưng tôi không tin rằng ta có thể phục hồi những thương tổn đã xảy ra.”
(LE FIGARO 18/6/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(15/8/2012)

Edited by user Monday, August 20, 2012 3:36:02 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



thanks 2 users thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 9/4/2012(UTC), Ngọc Anh on 9/20/2012(UTC)
lly (Lynn Ly)  
#4 Posted : Friday, August 24, 2012 5:15:38 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,340

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 278

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÁC BỆNH DI TRUYỀN : NGUY CƠ GIA TĂNG VỚI TUỔI CỦA NGƯỜI CHA

Cha già con muộn làm dễ sự xuất hiện những bệnh nặng, như bệnh tự kỷ.

PROCREATION. Trong nhiều thập niên, các phụ nữ đã bị cảnh cáo, một cách đúng đắn, không nên sinh đẻ lúc lớn tuổi, chịu trách nhiệm một nguy cơ gia tăng bị bệnh trisomie 21 hay mongolisme. Ngược lại, các người đàn ông làm cha khi lớn tuổi luôn luôn cảm thấy không bị vướng bận với mọi ràng buộc. Một người đàn ông 50 tuổi, tận hưởng niềm vui làm cha, thường gây nên sự thán phục trong khi một phụ nữ cùng lứa tuổi sinh con nhờ những kỹ thuật thụ thai nhân tạo nói chung lại là nạn nhân của sự bài xích.

Thật vậy, dĩ nhiên mặc dầu không nên lên án bất cứ người nào nhưng dường như thái độ khoan dưng đối với ông bố lớn tuổi hoàn toàn không có căn cứ. Mới đây nhất, nhiều công trình nghiên cứu được công bố trong báo khoa học quốc tế đã phát hiện ảnh hưởng âm tính của tuổi người cha lên hậu duệ của mình. Một tuổi cao của người cha làm gia tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh di truyền, mặc dầu hiếm, và không phải là một bệnh duy nhất như trường hợp đối với đàn bà. Chính tính chất nhiều bệnh này có lẽ giải thích tại sao đã phải cần nhiều thời gian hơn để đánh giá vai trò của tuổi của người cha lên sức khỏe của những đứa con mình.

“ Nhân một hội nghị chuyên đề về các bệnh di truyền vào tháng sáu ở Nuremberg (Đức), nhiều báo cáo đã nói về những vấn đề này, vốn rất ít được đề cập đến cho mãi đến nay ”, GS Stanislas Lyonnet, trưởng khoa di truyền thuộc bệnh viện Necker Paris đã giải thích như vậy. Thật vậy có một sự gia tăng về mặt thống kê của tuổi người cha trong nhiều bệnh di truyền như bệnh u xơ thần kinh (neurofibromatose) hay bệnh loạn sản sụn (achondroplasie) (một dạng của nanisme). Những công trình nghiên cứu mới về bệnh tự kỷ (autisme) cũng đã cho phép hiểu rõ hơn về tác động của tuổi người cha. Nhất là, các nhà nghiên cứu bắt đầu hiểu trên bình diện sinh học tại sao những người cha già cả có một xác suất lớn hơn sinh ra một đứa trẻ bị một thương tổn di truyền.

Thật vậy, bệnh tự kỷ, một căn bệnh được đặc trưng bởi những rối loạn trầm trọng của hành vi, xuất hiện một cách nhanh chóng trong hai năm đầu của đời sống, là một bệnh thuộc loại di truyền. Một loạt các công trình nghiên cứu được công bố 5/4/2012 trong tạp chí Nature, dưới sự chỉ đạo của Viện y tế quốc gia Hoa Kỳ, đã cho phép hiểu rõ hơn nguồn gốc của nó. Thật vậy, những biến dị nhỏ mới xảy ra (petites mutations de novo), nghĩa là xuất hiện vào lúc thụ thai nhưng không phải chính bố mẹ đã mang chúng, đã được phát hiện ở vài đứa trẻ bị bệnh tự kỷ. Nhưng những công trình này cũng tiết lộ rằng các người cha truyền, 4 lần thường hơn các người mẹ, những biến dị này cho các con mình. Ngoài ra nguy cơ đối với một người cha gây nên loại biến dị này gia tăng với tuổi tác của ông ta. Các ông bố có các cháu trai bị bệnh tự kỷ ở lứa tuổi 40 sáu lần thường hơn là ở lứa tuổi 20. Còn đối với các cháu gái bị bệnh tự kỷ, các ông bố 17 lần thường hơn ở trong lứa tuổi trên 40.

“ Ta đã có thể séquencer và so sánh các gène của người cha, người mẹ và sau cùng các gène của người con. Điều đó đã cho phép quan sát thấy rằng các gène của đứa con không chỉ là những gène của cha mẹ mình. Từ 70 đến 80 biến dị mới xuất hiện ở đứa trẻ và những gène bị biến dị này không hiện diện ở người cha hay người mẹ. Điều đó có thể giải thích sự xuất hiện mới của vài bệnh di truyền, và đặc biệt là bệnh tự kỷ và bệnh tâm thần phân liệt, GS Lyonnet đã nói thêm như vậy. Thế mà, trong 4 trường hợp trên 5, những biến dị mới này xảy ra trên ADN của người cha. ”

NGUYÊN NHÂN : QUÁ TRÌNH SINH TINH TRÙNG.

Đối với các nhà nghiên cứu , sự việc người cha chịu trách nhiệm một phần lớn những biến dị di truyền là do những đặc điểm riêng của quá trình sinh tinh trùng (spermatogenèse). Cháu gái được sinh ra đối với một stock giới hạn các noãn bào (ovocytes) : các tế bào này sẽ cho ra một trứng, hay noãn (ovule) nhưng chúng không còn phân chia nữa mà chịu một quá trình chín mùi vào mỗi chu kỳ kinh nguyệt sau tuổi dậy thì. Ở người đàn ông, ngược lại, quá trình sinh tinh trùng là một hiện tượng khác : bắt đầu từ những tế bào gốc, các tinh nguyên bào (spermatogonie), những tinh trùng mới được sản xuất bằng những lần phân chia kế tiếp nhau.Và sau khoảng chục lần phân chia tế bào, chúng đã tích lũy một số những biến dị nào đó. Phần lớn những biến dị này không đặt một vấn đề nào. Nhưng một số nhỏ những biến dị này có thể là nguồn gốc của những bệnh lý khác nhau và đặc biệt góp phần vào sự phát sinh bệnh tự kỷ. Như vậy, nguy cơ di truyền gia tăng đối với các người con có cha lớn tuổi là hậu quả của nhiều phân chia của những tinh nguyên bào này, càng ngày càng quan trọng khi tuổi càng cao. “ Thường người mẹ bị chỉ trỏ trong những cặp vợ chồng có một đứa con bị một bệnh lý thuộc loại di truyền, GS Lyonnet đã ghi nhận như vậy. Điều đó không đúng. Ngày nay, có đủ các dữ kiện để nói với những người đàn ông rằng một khi vượt quá một lứa tuổi nào đó, muốn có con là điều không hợp lý lắm, bởi vì nguy cơ di truyền cũng gia tăng đối với chúng.”
(LE FIGARO 8/8/2012)


2/ LÀM CHA MUỘN : TUỔI THỌ CHO ĐỨA BÉ ?

Các télomère, những “ cái nắp ” (capuchon) ADN nhỏ nằm ở đầu mút các nhiễm sắc thể, là cần thiết cho sự truyền (giống hệt) các gène từ một tế bào mẹ đến các tế bào con. Bất hạnh thay, cứ vào mỗi lần phân chia tế bào, các télomère ngắn lại cho đến khi chúng trở thành quá ngắn mà một sự đứt đoạn là một yếu tố quan trọng của sự hóa già. Một ngoại lệ : trong các tinh trùng, các télomère dài ra với tuổi tác. Các nhà nghiên cứu của một kíp nhân loại học (anthropologie) được chỉ đạo bởi Dan Eisenberg (đại học Northwesthern Evanston, Illinois) đã khảo sát những mẫu nghiệm máu lấy từ 1779 người trưởng thành trẻ tuổi người Philippine (cả hai giới tính) và những mẫu nghiệm máu của những người mẹ của những thanh niên này. Họ cũng thông kê tuổi tác của các người cha và các ông nội/ngoại của họ. Kết quả : những người đàn ông càng có con muộn, họ càng truyền các télomère lớn và những télomère này làm dễ sự trường thọ. Nhưng các ông bố lớn tuổi này cũng tạo một nguy cơ quan trọng hơn gây ra bất thường di truyền.
(PARIS MATCH 5/7 – 11/7/2012)

3/ SINH QUÁ NON THÁNG, MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA BỆNH TÂM THẦN

Bệnh loạn tâm thần (psychose) và những rối loạn lưỡng cực (troubles bipoliares) hơi thường xảy ra hơn ở những trẻ sinh non.

PSYCHIATRIE. Nguồn gốc của những bệnh tâm thần vẫn còn bí ẩn. Nhiều hướng đã được đưa ra từ vài năm nay, và không nhất thiết loại bỏ nhau. Thí dụ như những công trình nghiên cứu về sinh học phân tử mới đây đã nhấn mạnh tính chất di truyền của khuynh hướng dễ bị bệnh tâm thần phân liệt và bệnh loạn tâm thần hưng trầm cảm (pychose maniaco-dépressive).

Mặc dầu các sơ đồ truyền bệnh vẫn còn phức tạp, đặc biệt với sự xuất hiện đột biến mới, có thể giải thích vài trường hợp, ngay cả trong những gia đình không bao giờ có một bệnh nhân nào đã được ghi nhận. Ngoài ra, vài rối loạn trong thai nghén và, nhất là sốt của bà mẹ tương lai, cũng đã tỏ ra là những yếu tố nguy cơ của những căn bệnh này.

Rất mới đây, các nhà nghiên cứu Anh và Thụy Điển đã công bố những công trình tiết lộ rằng tình trạng sinh non (prématurité) có thể cũng là một yếu tố nguy cơ nhỏ đối với những căn bệnh tâm thần này. Thế thì có thể nghĩ rằng vài bất thường di truyền, như sốt trong tử cung hay tình trạng quá sinh non tháng (grande prématurité) có thể là những yếu tố nguy cơ đối với những rối loạn phát triển thần kinh, có thể dẫn đến sự xuất hiện những bệnh như thế.

“ HỆ THÂN KINH KHÔNG THÀNH THỤC ”

Thụy Điển là một nước, trái với Pháp, đã biết phát triển những registre đủ loại, những registre về ngày sinh tháng đẻ, những registre khác về bệnh tâm thần, một cách nặc danh và quy tắc hóa. Mục tiêu là, nhờ đối chiếu các registre, tìm kiếm và nhiên hậu tìm thấy những mối liên hệ giữa những bệnh khác nhau với những yếu tố của đời sống. Các nhà nghiên cứu của Viện Korolinska ở Thụy Điển và những nhà nghiên cứu của Viện tâm thần của Collège royal de Londres đã phân tích các dữ kiện liên hệ đến ngày sinh tháng đẻ của 1,3 triệu người Thụy Điển được sinh ra đời từ năm 1973 đến 1985 và đã tìm kiếm trong nhóm này, những người mà chẩn đoán bệnh tâm thần được xác lập ở tuổi trưởng thành (10.523 người).

Các kết quả, được công bố trong The Archives of General Psychiatry ngày 1 /6/2012, lần đầu tiên phát hiện một mối liên hệ giữa tình trạng sinh non và bệnh tâm thần : những người sinh rất non tháng (trước 32 tuần thai nghén) có 3 lần nguy cơ bị nhập viện vì một rối loạn tâm thần sau 16 tuổi hơn là những người sinh đủ tháng (giữa 37 và 41 tuần thai nghén).

Đặc biệt, cuộc điều tra phát hiện rằng những người sinh rất non tháng có 2,5 lần nhiều hơn nguy cơ bị một loạn tâm thần khi ở lứa tuổi thanh niên, có 3 lần nguy cơ nhiều hơn bị trầm cảm và 7,4 lần nhiều hơn nguy cơ là nạn nhân của một rối loạn lưỡng cực, so với những người sinh đủ tháng. Không có một mối liên hệ rõ rệt lắm đã được phát hiện giữa tình trạng sinh non và những rối loạn về hành vi ăn uống, chứng nghiện rượu hay nghiện ma túy.

Công cuộc điều tra này cũng đã xét đến tình trạng sức khỏe của người mẹ, trình độ xã hội kinh tế, nhưng điều đó đã không hề làm thay đổi những kết quả. Sau cùng cần ghi nhận rằng nguy cơ giảm với thời gian thai nghén : nguy cơ nhập viện khoa tâm thần khoảng 6 đối với 1000 trẻ em sinh trước 32 tuần, 4 đối với 1000 trẻ em sinh trước 36 tuần và 2 đối với 1000 trẻ sinh đủ tháng. “ Chúng tôi đã tìm thấy một mối liên hệ vững chắc giữa tình trạng sinh non và vài bệnh tâm thần, BS Chiara Nosarti (Collège royal de Londres) đã xác nhận như vậy. Chúng tôi nghĩ rằng sự gia tăng nguy cơ bị những rối loạn tâm thần ở những người sinh rất non tháng có thể được giải thích bởi những biến đổi của sự phát triển não bộ. Hệ thần kinh không thành thục ở những trẻ sinh non tháng đặc biệt dễ bị chấn thương do những biến chứng của sinh đẻ. ” Mặc dầu nguy cơ liên kết với tình trạng sinh non may mắn thay vẫn còn thấp.

Tuy nhiên, những công trình như thế phải khiến ta cần cảnh giác hơn để làm giảm tối đa nguy cơ sinh non tháng. Hiện nay, ở Pháp, gần 7% các trẻ em sinh trước 37 tuần thai nghén, 1,5% là những trẻ sinh rất non tháng (grand prématuré).
(LE FIGARO 13/6/2012)

4/ RUN KHÔNG RÕ NGUYÊN NHÂN : HƯỚNG DI TRUYỀN ĐƯỢC XÁC NHẬN

Rối loạn vận động này, đừng lẩn lộn với bệnh Parkinson, ảnh hưởng lên vài trăm ngàn người ở Pháp

NEUROLOGIE. Nếu bạn cột dây giày, viết, nói hay ngay cả cầm một ly nước khó khăn, đó không nhất thiết là bệnh Parkinson đang rình chờ bạn, mà là chứng run không rõ nguyên nhân (TE : tremblement essentiel). Rối loạn vận động hàng đầu ở người trưởng thành, chứng run không rõ nguyên nhân gây bệnh cho từ 300.000 đến 600.000 người ở Pháp, GS Azulay, trưởng khoa các bệnh lý ver cử động ở bệnh viện Timone, Marseille đã đánh giá như vậy.

Chứng run này xảy ra ở các chi trên và mặt, với một tần số quan trọng (đến 12 Hertz) và xuất hiện khi bệnh nhân hoạt động. Tại sao gọi là essentiel ? Bởi vì nguồn gốc của chứng run này không được xác định một cách rõ ràng. Từ nhiều thập niên, các nhà nghiên cứu không nhất trí được về chủ đề này.

Gần đây nhất, một kíp nghiên cứu người Canada đã nghiên cứu vấn đề và công bố là đã khám phá một gène có thể sinh ra bệnh. Đối với GS Guy Rouleau, thuộc bệnh viện Sainte-Justine ở Montréal (Canada), đồng tác giả của công trình nghiên cứu được công bố trong American Journal of Human Genetics, vấn đề chính liên quan đến chẩn đoán.

Thật vậy, phải biết rằng chứng run có nhiều thể. Từ run sinh lý đơn thuần đến run của bệnh Parkinson, rồi chứng run không rõ nguyên nhân (tremblement essentiel) bí ẩn : các thầy thuốc đôi khi không hiểu tí gì về việc đó. Mặt khác, chứng run không rõ nguyên nhân này cũng gây bệnh cho các thiếu niên, bắt đầu từ 15 tuổi. Cho mãi đến hôm nay, nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý một nguồn gốc di truyền, nhưng giả thuyết không được sự nhất trí của những nhà khoa học. Kip nghiên cứu của GS Rouleau đã tìm ra một gène thủ phạm : FUS mà một biến dị được biết là nguyên nhân của bệnh Charcot.

Trong cái rối răm của các chẩn đoán này, khó mà khảo sát một quần thể lớn để loại bỏ những trường hợp run không rõ nguyên nhân giả hiệu. GS Rouleau đã quyết định theo dõi một gia đình trong khoảng 20 năm, trong đó 5 người bị chứng bệnh run không rõ nguyên nhân này ở một giai đoạn tiến triển. Sau khi đã thực hiện séquençage AND của những người này, nói một cách khác sau khi đã giải mã (décryptage) toàn bộ di sản di truyền (patrimonie génétique) của họ, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một biến thể duy nhất chung cho tất cả các thành viên : biến dị trên gène FUS.

NHẬN DIỆN MỘT GENE CHÍNH XÁC

Chiến thắng đối với các thầy thuốc ? Chưa phải. Bằng cách mở rộng nghiên cứu cho khoảng 200 cá thể tiềm tàng bị bệnh, họ đã nhận diện được hai biến thể mới, khác với biến thể đầu tiên ! Theo các nhà nghiên cứu, sự biến dị trên gène FUS chịu trách nhiệm những thể nặng nhất của bệnh, mặc dầu những kết quả vẫn cần phải được xác nhận. Đối với GS Azulay, mặc dầu công trình nghiên cứu đang còn ở giai đoạn sơ khởi, nhung nó có công nhận diện một gène chính xác, trong khi trong quá khứ không có một gène nào đã được nhận diện.

Hiện có những điều trị khác nhau. Ở Pháp hiện có hai loại thuốc để sử dụng, một là thuốc chống động kinh và một là thuốc chẹn beta (betabloquant), làm giảm 30 đến 40% các rối loạn nhưng các thuốc này đôi khi bệnh nhân không chịu được. Đối với những trường hợp nặng nhất, ngoại thần kinh cho phép đưa những điện cực vào trong một phần của não bộ : vùng đồi thị (thalamus). Các xung động với một tần số rất cao cho phép ức chế những triệu chứng run. Ở Marseille, bệnh viện Timone là bệnh viện duy nhất ở Pháp đề nghị một phương pháp ít xâm nhập hơn.
(LE FIGARO 14/8/2012)

Đọc thêm Thời Sự Y Học số 268

5/ CẦU NGUYỆN ? MỘT VŨ KHÍ CHỐNG LẠI BỆNH ALZHEIMER

Cầu nguyện đều đặn làm giảm 50% nguy cơ bị bệnh, theo một nghiên cứu ở Israel.

NEUROLOGIE. Cầu nguyện chống lại bệnh Alzheimer không chỉ là một lòng tin, mà còn có thể là một động tác điều trị. Theo một công trình nghiên cứu được tiến hành phối hợp ở Israel và Hoa Kỳ, với sự tài trợ của Viện y tế quốc gia Hoa Kỳ, cầu nguyện là một antidote rất hiệu quả cho phép làm giảm, ở các phụ nữ, một nửa những nguy cơ mắc phải bệnh Alzheimer hay là nạn nhân của những trường hợp mất trí nhớ hay sa sút trí tuệ “ nhẹ ”. Công trình nghiên cứu được phát động vào năm 2003 trên một nhóm 892 người Á rập gốc Israel tuổi hơn 65, mới đây đã được trình bày nhân một hội nghị chuyên đề về bệnh Alzheimer ở Israel.

GS Rivka Inzeberg thuộc đại học Y khoa Tel-Aviv, đã giám sát cuộc điều tra, đã xác nhận với nhật báo Haaretz, “ rằng, trong nhóm người được chọn lựa, 60% các phụ nữ cầu nguyện 5 lần mỗi ngày (như phong tục hồi giáo chủ trương), trong khi 40% chỉ cầu nguyện một cách không đều đặn ”. Chúng tôi đã chứng thực, 10 năm sau khi bắt đầu công trình nghiên cứu, rằng các phụ nữ hành đạo thuộc nhóm thứ nhất (những phụ nữ đã cầu nguyện 5 lần mỗi ngày) có 50% nguy cơ ít hơn phát triển những vấn đề về trí nhớ hay bệnh Alzheimer so với những phụ nữ thuộc nhóm thứ hai ”, nhà chuyên gia đã thêm vào như vậy. Theo công trình nghiên cứu, cầu nguyện cũng có một ảnh hưởng hai lần quan trọng hơn giáo dục để bảo vệ các phụ nữ chống lại quá trình thoái hóa não bộ này.

“ Cầu nguyện là một tập quán cần một sự đầu tư của tư duy, có lẽ chính hoạt động trí tuệ liên kết với sự cầu nguyện có thể tạo nên một yếu tố bảo vệ làm chậm lại sự phát triển của bệnh Alzheimer ”, GS Rivka Inzelberg đã nói thêm như vậy. Những trắc nghiệm đã không được thực hiện trong số những người thuộc nhóm này vì lẽ tỷ lệ những người không cầu nguyện chỉ 10%, một tỷ lệ không đủ, đứng trên quan điểm thống kê, để dẫn đến những kết luận đáng tin cậy. Cuộc điều tra cũng đã cho phép xác nhận xác suất bị bệnh Alzheimer ở phụ nữ hai lần quan trọng hơn so với đàn ông.

Trong số những yêu tố nguy cơ khác khiến có những biểu hiện của một sa sút trí tuệ thuộc loại Alzheimer, các nhà nghiên cứu cũng đã tìm thấy trong công trình nghiên cứu này cao huyết áp, bệnh đái đường, sự thặng dư mỡ trong máu và toàn bỏ hơn những tiền sử bệnh tim mạch.

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA QUẾ

Chi tiết quan trọng, những kết luận này không phải là những kết luận đầu tiên xác lập mối liên hệ giữa những thực hành tôn giáo hay tinh thần và sức khỏe. Vào năm 2005, những nghiên cứu được thực hiện ở Israel đã cho phép chứng thực rằng những hoạt động tinh thần có khuynh hướng làm chậm quá trình phụ thuộc gây nên bởi bệnh Alzheimer. Một công trình nghiên cứu khác, được tiến hành v ề một chủ đề khác, cũng ở Israel, đã kết luận rằng tỷ lệ tử vong trong số các trẻ em thấp hơn trong những cộng đồng rất hành đạo so với dân thế tục.

Ngoài ra, GS Michael Ovadia, thuộc đại học Tel Aviv, mới đây đã thành công phân lập một chất trích từ quế có tác dụng kềm hãm sự phát triển của bệnh Alzheimer. Ưu điểm rõ rệt là quế không phải là một loại thuốc, mà là một sản phẩm tự nhiên không có một tác dụng phụ nào, GS Ovadia đã xác nhận như vậy. Những thí nghiệm đã được tiến hành trên chuột. Tuy nhiên vào lúc này chưa có thể sản xuất ở quy mô lớn thuốc có những hiệu lực chữa bệnh. Chỉ có điều chắc chắn, thị trường là to lớn với 70.000 người bị bệnh Alzheimer ở Israel và hơn 20 triệu trên thế giới, theo những con số của Tổ chức y tế thế giới. Ở Pháp bệnh ảnh hưởng lên 850.000 người. Những chiến lược phòng ngừa, dựa trên sự thực hành những hoạt động trí tuệ, trên mối liên hệ xã hội và thể dục, không được quên lãng.
(LE FIGARO 27/7/2012)

6/ BỆNH ALZHEIMER : BẢO VỆ BẰNG CAFEINE ?

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã được tiến hành trong 4 năm bởi kíp của BS Cao Chuanhai (đại học Năm Florida) ở 124 bệnh nhân từ 65 đến 88 tuổi, tất cả đều bị những rối loạn nhận thức (troubles cognitifs) khởi đầu, với nguy cơ cao bị bệnh Alzheimer.

Những kết quả được công bố trong New England Journal of Medicine đã cho thấy rằng những người có nồng độ caféine trong máu trên 12000 mg/ml (tương ứng với nhiều tách cà phê được uống mỗi ngày trong vài giờ) đã không phát triển bệnh vào cuối nghiên cứu, trong khi phần lớn các bệnh nhân bị bệnh Alzheimer có một nồng độ caféine dưới 1200 mg. Thế mà nồng độ này càng thấp thì nguy cơ xuất hiện bệnh Alzheimer càng gia tăng. Nhưng BS Cao nghĩ rằng, ngay cả với những liều vừa phải (3 tách cà phê mỗi ngày) cà phê sẽ mang lại một sự bảo vệ đáng kể. Trong một công trình nghiên cứu trước đây ở chuột, kíp nghiên cứu của ông đã khám phá rằng caféine kích thích một yếu tố tăng trưởng, yếu tố này làm chậm hay ngay cả phong bế quá trình thoái hóa của các neurone.
(PARIS MATCH 2/8 – 8/8/2012)

7/ ADENOME DE LA PROSTATE : MỘT LASER MỚI CHO MỘT INTERVENTION SUR MESURE

GS Bertrand Lukacs, thầy thuốc niệu khoa chuyên về các rối loạn tiểu tiện ở đàn ông của bệnh viện Tenon (Paris), trình bày những hiệu năng của kỹ thuật vi xâm nhập mới nhất bằng photo-vaporisation.


Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những bất thường đặc trưng các bệnh adénome prostate (u phì đại lành tính tuyến tiền liệt), ở Pháp gây bệnh cho hơn 1 triệu người đàn ông sau 50 tuổi ?
GS Bertrand Lukacs : Trước hết tôi phải xác nhận rằng đó không phải là một ung thư, nhưng là một u hiện tính nằm ở tuyến tiền liệt. Đạt đến một thể tích nào đó, adénome gây tắc nghẽn ống niệu đạo và gây nên những triệu chứng đường tiểu khó chịu. Trong những trường hợp nghiêm trọng, adénome này có thể gây nên hai loại biến chứng. 1. Một blocage rất đau đớn (bí tiểu cấp tính) cần đặt một ống thông cấp cứu để tháo nước tiểu bàng quang. 2. Một sự giãn của bàng quang và các niệu quản, có nguy cơ gây suy thận.

Hỏi : Từ những năm qua, những điều trị quy ước vẫn còn được thực hiện là gì ?
GS Bertrand Lukacs : Ở những bệnh nhân chỉ có duy nhất những triệu chứng không biến chứng, ta bắt đầu kê đơn những loại thuốc như alpha-bloquant. Nhung nếu họ vẫn khó chịu hay trong những thể biến chứng, khi đó ta đề nghị một phẫu thuật ngoại khoa (70.000 lần mổ ở Pháp vào năm 2011). Đối với adénome có kích thước nhỏ hay trung bình (dưới 80 g), ta thực hiện một can thiệp cắt bỏ (résection) bằng những đường tự nhiên : thầy thuốc niệu khoa bào tuyến tiền liệt bằng một anse électrique để làm giảm thể tích. Đối với những adénome có thể tích quan trọng hơn, thái độ quy ước là một ngoại khoa cổ điển với mở bụng dưới. Vì tiền liệt tuyên được cung cấp rất nhiều mạch máu, nên những xuất huyết hậu phẫu buộc phải giữ một ống thông tiểu nhiều ngày, điều này giải thích một thời gian nhập viện vẫn rất cao : trung bình, 5 ngày đối với một can thiệp bằng đường tự nhiên, 10 ngày đối với một ngoại khoa mở (chirurgie ouverte). Hai kỹ thuật này có những kết quả tốt trên tiểu tiện nhưng rất thường gây nên những rối loạn phóng tinh.

Hỏi : Điều trị bằng laser đã xuất hiện vào năm nào ?
GS Bertrand Lukacs : Vào năm 1995, một laser đầu tiên được gọi là Holmium đã được hiệu chính để thay thế sự can thiệp bằng quai điện (anse électrique). Tia laser này, bistouri à photons, có ưu điểm làm giảm sự xuất huyết trong khi can thiệp. Nhưng việc sử dụng laser vẫn khó khăn và kỹ thuật không cho phép làm giảm những rối loạn phòng tính.

Hỏi : Tiến bộ mới nhất có từ khi nào và là gì ?
GS Bertrand Lukacs : Không chỉ có một laser mà nhiều loại laser và mỗi chùm laser, do những đặc điểm riêng, độ dài sóng, sức mạnh, đường kính, sẽ có một tác dụng khác nhau lên các mô. Laser mới nhất đến trên thị trường,“ green light ”, phát ra một tia màu lục, không cắt, nhưng làm bốc hơi (vaporiser) các tế bào, do đó có tên gọi của kỹ thuật : photovaporisation. Bởi vì sự phát xạ của tia laser này đi vào sâu hơn trong các mô, do đó nó có một khả năng làm đông máu còn tốt hơn. Vậy một nguy cơ gây xuất huyết ít hơn, điều này cho phép một thời gian nhập viện ngắn hơn.

Hỏi : Nói tóm lại, những ưu điểm của “ green light ” là gì ?
GS Bertrand Lukacs : 1. hệ thống photo-vaporisation này cho phép mổ những bệnh nhân già, tình trạng sức khỏe mỏng manh hơn hay đang được điều trị bằng những thuốc chống đông. 2. Thời gian nhập viện ngắn hơn nhiều : một đến hai ngày đối với những adénome to lớn và một ngày (ngoại trú) đối với những adénome khác. 3. Bằng một découpe “ sur mesure ”, nó cho phép làm giảm nguy cơ bị những rối loạn phóng tinh.

Hỏi : Về lâu về dài những kết quả là gi ?
GS Bertrand Lukacs : Một công trình nghiên cứu của Pháp được thực hiện trên 139 bệnh nhân và được công bố trong “ European Urology ” đã so sánh kỹ thuật mới này với kỹ thuật cắt bỏ (technique de résection) : thời gian nhập viện ngắn hơn nhiều với những kết quả cơ năng tương đương sau một năm nhìn lại. Một công trình nghiên cứu khác của Đức, được công bố mới đây trong cùng tạp chí khoa học, cho thấy rằng “ green light ” cũng có thể được sử dụng đối với những adénome to lớn.

Hỏi : Ở Pháp, ở đâu ta có thể hưởng được kỹ thuật mới nhất này ?
GS Bertrand Lukacs : Trong tất cả các trung tâm đã tham dự vào công trình nghiên cứu, nhất là trong CHU de Tours, de Nice, de Lyon, ở CHU de Pontoise, và trong trung tâm của chúng tôi ở bệnh viện Tenon…
(PARIS MATCH 17/5 – 25/5/2012)

8/ LÀM THẾ NÀO LÀM CHẬM LẠI SỰ LÃO HÓA CƠ ?

Chế độ ăn uống và hoạt động vật lý có thể kềm hãm quá trình lão hóa cơ .

PREVENTION. Cứ mãi tập trung vào mỡ, ta hầu như quên rằng một nửa cơ thể của chúng ta được cấu tạo bởi các cơ ! Tuy vậy, ngay ở lứa tuổi 40, con người bắt đầu mất cơ mà không nhận thức điều đó, đó là sarcopénie. Còn đáng ngạc nhiên hơn, cơ chế gia tốc một cách âm ỉ vào lứa tuổi 60.

“ Ta rất có thể có cảm tưởng bảo tồn một trọng lượng ổn định trong khi đó thành phần của cơ thể đã thay đổi, BS Christophe De Jaeger, tác giả của một cuốn sách mới đây về Le Muscle, le Sport et là Longévité, đã giải thích như vậy, nhưng trên thực tế, ta có ít cơ và nhiều mỡ hơn !. Thế mà mỡ là một yếu tố nguy cơ trong khi cơ là một yếu tố bảo vệ.” Là nhà nghiên cứu của Institut de myologie (Paris), BS Vincent Mouly nhắc lại rằng “ sự lão hóa cơ (viellissement musculaire) được đặc trưng bởi một sự mất thể tích, khối lượng và lực của các cơ. Ta gọi là tan

cơ (fonte musculaire), như tan tuyết (fonte de neiges) vậy.

Để còn làm trầm trọng hơn sự việc, khi cao tuổi, cơ bất đầu hoạt động ít tốt hơn : “ Những tính chất co cơ bị biến đổi ”, GS Marc Bonne-foy, giáo sư lão khoa thuộc Hospices civils de Lyon (đại học Claude-Bernard) đã nhấn mạnh như vậy. Đó là sự lão hóa tế bào (vieillissement cellulaire) : “ Ở người có một đồng hồ nội tại (horloge interne) đếm những phân chia tế bào. Các tế bào càng phân chia, chúng càng kém hiệu quả ”, BS Mouly đã nhắc lại như vậy.

Một cơ chế mà các nhà khoa học không ngừng phân tích kỹ. Tháng vừa qua, các nhà nghiên cứu của đại học Californie đã giải thích trong tạp chí Chemistry & Biology làm sao họ đã thành công làm trẻ hóa các tế bào cơ bằng cách làm lùi lại đồng hồ nội tại này. Những cure de jouvence là tế nhị bởi vì nếu ta đi ngược lại quá xa trong thời gian tế bào, ta có nguy cơ làm bất tử hóa những tế bào này và gây nên ung thư.

Trên thực tế để giúp các cơ của chúng ta “ làm chậm lại ” quá trình lão hóa của chúng, điều đó đơn giản hơn và gồm có chế độ ăn uống và hoạt động vật lý. Với điều kiện không làm bất cứ điều gì ! Thí dụ thật vô ích vội vàng sử dụng các chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire) nhằm tăng sức các cơ, những chất này ngày càng chiếm đầy các ngăn của các hiệu thuốc. Mặc dầu các kết quả nghiên cứu đáng phấn khởi với vài acide aminé, nhưng ta còn thiếu các bằng cớ về tính hiệu quả ở những người già.

MẤT CÂN

“ Không có thứ bột màu nhiệm nào chống lại quá trình lão hóa ! Những chất bổ sung này không phải luôn luôn hữu ích và chúng chỉ được dùng với sự theo dõi y khoa, BS Mouly đã cảnh cáo như vậy. Ngược lại, điều thiết yếu là phải cung cấp đủ protéine. Ít nhất 1,2 g mỗi kilo thể trọng và mỗi ngày (hoặc 70g mỗi ngày nếu ta cân nặng 70kg) và với một cung cấp calo ít nhất 30kcal mỗi kilo thể trọng và mỗi ngày (2100 kcal/ngày nếu ta cân nặng 70kg), GS Bonnefoy đã nói rõ chi tiết như vậy. Thật vậy sự thiếu protéine có nguy cơ làm gia tốc sự mất cơ và sự thiếu calo gây nên gầy ốm. Nhưng, trừ lý do y khoa, một régime thường có nguy cơ sau 65 tuổi. Bởi vì khi đó việc làm gầy được thực hiện chủ yếu qua sự mất cơ chứ không phải qua sự mất khối lượng mỡ (masse grasse). Mất 1 kg ở tuổi 70, đó trước hết là mất 750 g cơ ! Ngược lại, có một chế độ ăn uống giàu đạm và năng lượng, liên kết với việc luyện tập thể dục, cải thiện sự chế tạo các cơ.” Ngoài ra, một sự mất cân ở một lão niên có thể là một “ fausse bonne nouvelle ” nếu sự mất cân này được thực hiện chủ yếu lên các cơ !

Nhờ một máy có khả năng đo lường một cách chính xác thành phần của cơ thể (DXA), BS Jaeger cho bệnh nhân thấy hiệu quả thật sự của hoạt động vật lý của mình không những lên khối lượng mỡ mà còn lên khối cơ : “ Ta khuyến nghị một cách đúng đắn hoạt động vật lý nửa giờ mỗi ngày, vị thầy thuốc đã ghi nhận như vậy, nhưng ta quên nói rằng phải thực hiện điều đó với cường độ thích đáng, nếu không điều đó chẳng ích lợi gì ! ”

Vì lẽ không bao giờ là quá muộn để làm điều tốt, từ nay ta biết rằng ngay những ông già 90 tuổi vẫn có thể lấy lại được một cách dài lâu khối lượng cơ với một chương trình luyện tập vật lý hợp lý. Điều lý tưởng là tiếp tục một môn thể thao thích ứng với tuổi tác và tình trạng sức khỏe của mình ngay những dấu hiệu đầu tiên của sarcopénie : “ Phải cần hơn 5 giây để đi 4 m của một hành lang là một dấu hiệu báo động ”, GS Bonnefoy đã ghi nhận như vậy. Đó là dấu hiệu chứng tỏ đã đến lúc phải hành động. “ Ngay cả hoạt động đôi khi có thể khó nhọc ở người già, Vincent Mouly đã kết luận như vậy, nhưng đó là cái giá phải trả để duy trì khả năng độc lập vật lý của mình.”
(LE FIGARO 10/10/2011)

9/ MỘT HỖ TRỢ TUẦN HOÀN MỚI : ĐỂ CẢI THIỆN TIÊN LƯỢNG SINH TỒN.

GS Christian Spaulding, thầy thuốc tim can thiệp (cardiologue interventionnel) thuộc hopital européen Georges
  • Pompidou, giải thích những ưu điểm của thủ thuật mới nhất này nhằm cứu sống những bệnh nhân trong tình huống gần như tuyệt vọng.

    Hỏi : Những vấn đề tim nào thường cần nhất một hỗ trợ tuần hoàn (assistance circulatoire) ?
    GS Christian Spaulding: Hai vấn đề thường xảy ra nhất : 1. Ở những bệnh nhân suy tim cấp tính. 2. Ở những bệnh nhân bị những di chứng của nhồi máu và sắp chịu một thủ thuật giãn động mạch vành có nguy cơ cao. Trong cả hai trường hợp, nếu không nhờ đến một sự hỗ trợ tuần hoàn, tử vong có thể xảy ra rất nhanh.

    Hỏi : Cho đến nay, protocole của kỹ thuật hỗ trợ này là gì ?
    GS Christian Spaulding: Đó là, trong một thời gian ngắn chừng nào có thể được, khai thông động mạch vành bị tắc nghẽn. Một course contre là montre thật sự ! Thầy thuốc tim can thiệp (cardiologue interventionnel) sử dụng một quả bóng nhỏ được gắn vào đầu của một cathéter và ông đưa vào qua động mạch đùi (ở vùng bẹn). Một khi đến được nơi hẹp, quả bóng được bơm phồng và tách các thành của huyết quản ra. Tiên lượng sinh tồn sẽ tùy thuộc vào mức độ nhanh chóng mà ta can thiệp sau tai biến. Tất cả enjeu là ở đó !

    Hỏi : Một khi động mạch đã được khai thông, ta đặt hệ thống nào trong những trường hợp nghiêm trọng nhất ?
    GS Christian Spaulding: Ta sẽ mổ để đặt một máy hỗ trợ tuần hoàn nhằm thay thế tim, từ vài giờ đến vài ngày tùy theo trường hợp, để cơ quan vẫn được vascularisé.

    Hỏi : Nhìn toàn bộ, những kết quả mà ông thu được với điều trị này là gì ?
    GS Christian Spaulding: Bất hạnh thay, điều trị không luôn luôn có hiệu quả, nhưng nó đã cho phép cứu được rất nhiều bệnh nhân trong những tình huống có vẻ tuyệt vọng !

    Hỏi : Tại sao phải tìm cách hiệu chính một loại hỗ trợ tuần hoàn mới ?
    GS Christian Spaulding: Bởi vì kỹ thuật quy ước nặng nề này có những bất tiện. 1. Bởi vì nó cần một phẫu thuật viên để đặt máy nên thường phải chuyển bệnh nhân từ khoa quang tuyến đến phòng mổ. Điều này làm mất thời gian. Mặt khác, trong những trường hợp cấp cứu, thầy thuốc ngoại khoa không có sẵn ngay.2. Trong hồi sức, việc sử dụng máy không thực tiễn : máy cần sự hiện diện của một kíp chuyên môn để theo dõi sự hoạt động tốt của máy được đặt. 3. Vết sẹo ở bẹn có thể là nguồn gốc của những biến chứng.

    Hỏi : Hệ thống hỗ trợ tuần hoàn mới hoạt động như thế nào ?
    GS Christian Spaulding: Hệ thống hỗ trợ này luôn luôn có tác dụng bổ sung một thủ thuật nong động mạch vành. Người thầy thuốc thực hành đưa vào trong động mạch đùi một cathéter được trang bị ở đầu mút một turbine. Một khi đi đến tim, turbine này sẽ hút máu khỏi tim và thải nó vào tuần hoàn máu của cơ thể, như thế cơ thể, sẽ được cấp máu tốt. Turbine được để tại chỗ vài ngày cho đến khi tím có thể phục hồi một chức năng bình thường.

    Hỏi : Thật ra, những ưu điểm của tiến bộ này là gì ?
    GS Christian Spaulding: 1. Hệ thống này dễ đặt, không cần sự can thiệp của nhà phẫu thuật. 2. Ta lợi được thời gian : loại máy mới này có thể đặt trong 15 phút bởi một thầy thuốc tim có kinh nghiệm. 3. Sự theo dõi, rất đơn giản, không đòi hỏi sự hiện diện của một kíp chuyên môn. 4. Ta làm giảm những nguy cơ bị các biến chứng tại chỗ như nhiễm trùng. Ta có thể so sánh sự khác nhau của hai kỹ thuật với sự khác nhau giữa một xe hơi được điều khiển bằng tay và một xe hơi khác lái tự động.

    Hỏi : Thời gian nhìn lại với hệ thống vi xâm nhập này ?
    GS Christian Spaulding: Những công trình nghiên cứu quốc tế, được thực hiện trên hàng trăm bệnh nhân, mới đây đã được trình bày ở American College of Cardiology. Các kết quả đã chứng minh một tính hiệu quả rất tốt của hệ thống này nhằm duy trì một sự tưới máu đúng đắn trong khi turbine hoạt động. Những công trình nghiên cứu quy mô lớn hơn đang được thực hiện cho một sự theo dõi về lâu về dài.

    Hỏi : Trong những trung tâm nào ta có thể nhận được kỹ thuật cải tiến này nhằm góp phần cứu sống nhiều bệnh nhân hơn ?
    GS Christian Spaulding. Trong những trung tâm tim học có một cấu trúc hạ tầng gồm một kíp tim học can thiệp (cardiologie interventionnelle) có kinh nghiệm, một khoa hồi sức cho phép một sự theo dõi các bệnh nhân, một khoa ngoại tim để có thể can thiệp trong trường hợp thất bại.
    (PARIS MATCH 5/7 – 11/7/2012)

    10/ CHẤT NHUỘM MÀU TRONG NƯỚC UỐNG COLA CÓ GÂY UNG THƯ KHÔNG ?

    DIRECTEUR DE RECHERCHE
    Claude Lambré
    Vice-président du comité d’experts en charge
    de la réévaluation des additifs à l’Autorité
    européenne de sécurité alimentaire (EFSA)


    Các nước uống có cola chứa những chất phụ gia (additifs alimentaires) nhằm mang lại cho chúng những đặc điểm khác nhau về vị giác, kết cấu, tính ổn định, màu sắc. Màu của nước uống này nói chung là do sự hiện diện của một chất nhuộm màu caramel.

    Những tên gọi của chất nhuộm màu caramel bao trùm 4 classe chất nhuộm màu được nhận diện như là E 150a, E150b, E150c và E150d. Vì lý đó có sắc màu đậm, E150c v E150d, đặc biệt được sử dụng trong những nước uống có cola nhưng cũng có thể hiện diện trong nhiều thực phẩm như bia, sauce, nhấm, kem và các dessert… Hai classe caramel này cần những điều kiện chế tạo đặc biệt (nhiệt độ, các hợp chất được sử dụng ngoài đường ra,…), là nguồn gốc của sự xuất hiện một chất bẩn, 4 méthylimidazole hay 4 –MEI, hiện diện trong thành phẩm.

    NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

    Những vụ kiện đã được tiến hành mới đây ở Hoa Kỳ về chất này này bởi vì những công trình nghiên cứu thí nghiệm được tiến hành ở động vật đã cho thấy rằng chất này nó có thể gây ung thư.

    Trong khung cảnh Chương trình Độc chất học Quốc gia, những công trình nghiên cứu đã báo cáo rằng 4-MEI không có một tác dụng gây ung thư nào ở các con chuột đực nhưng rằng với liều mạnh, nó có thể làm gia tăng vài loại ung thư ở chuột cái và ở những con chuột thuộc hai giới tính. Tuy nhiên, phân tích những dữ kiện này không cho phép kết luận một tác dụng sinh ung thư chắc chắn đối với động vật.Ngoài ra, 4-MEI được gọi là không độc cho gène (non génotoxique), nghĩa là nó không có khả năng làm biến đổi một cách trực tiếp di sản di truyền (patrimoine génétique). Từ sự kiện này, nhóm khoa học về những những chất phụ gia (additifs alimentaires) của Autorité européenne de sécurité alimentaire đã kết luận rằng có thể xác định một liều lượng không gây độc (80mg/kg thể trọng mỗi ngày), là liều của một chất ta có thể tiếp xúc mà tính chất gây ung thư của nó không được biểu hiện.

    Ngoài các nghiên cứu về phân tử 4-MEI, những công trình nghiên cứu về sự sinh ung thư cũng đã được tiến hành với các phẩm caramel chứa 4-MEI , ở chuột và chuột nhắt (E150 c) và chuột nhắt (E 150d). Tất cả đều âm tính, ngay cả với những liều lượng cao hơn được sử dụng trong những thử nghiệm này. Trong phương pháp học được gọi là đánh giá các nguy cơ (méthodologie d’évaluation des risques), ở đây được áp dụng cho chất nhuộm màu caramel, một liều lượng mỗi ngày có thể chấp nhận được (DJA : dose journalière admissible) được ấn định, đối với một chất, từ những dữ kiện của độc chất học thực nghiệm. Sự tiêu thụ hàng ngày của sản phẩm sau đó được đánh giá và nó không được vượt quá DJA. Căn cứ trên sự đánh giá thuộc loại này, được thực hiện vào năm 2011 bởi EFSA về chất nhuộm màu caramel, ta có thể kết luận rằng các dữ kiện hiện nay cho thấy rằng một sự tiêu thụ hợp lý các nước uống có cola không bị liên kết với một nguy cơ gây ung thư do sự hiện diện của 4-MEI được chứa trong caramel được sử dụng để nhuộm màu các nước uống này.

    Tuy vậy sự hiện diện của những chất bẩn như 4-MEI không được mong muốn trong một chất nhuộm màu thực phẩm như caramel. Các phương thức chế tạo phải đảm bảo rằng sự hiện diện của những chất bẩn này phải được giảm chừng nào có thể được trong thành phẩm được thêm vào các thức ăn.
    (LE FIGARO 25/6/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (22/8/2012)

    Edited by user Monday, September 3, 2012 6:19:16 AM(UTC)  | Reason: Not specified

  • "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    thanks 2 users thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
    Hoàng Thy Mai Thảo on 9/4/2012(UTC), Ngọc Anh on 9/20/2012(UTC)
    lly (Lynn Ly)  
    #5 Posted : Tuesday, September 4, 2012 1:18:11 AM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 279

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH



    1/ LOUIS PASTEUR : NGƯỜI CHẾ NGỰ CÁC VI TRÙNG.

    Là nhà quan sát và nhà thí nghiệm ngoại hạng, nhà sinh học, hóa học và vật lý này, mặc dầu không phải là thầy thuốc, đã mang lại cho y học những bước nhảy khổng lồ.
    THUYẾT PHỤC

    “ Lý thuyết về tính tự phát trong y khoa đã lỗi thời ”

    Cách nay 3 năm (năm 1888), vào hôm trước Hội nghị Luân Đôn, họcthuyết vi trùng (théorie microbienne), được áp dụng để giải thích căn nguyên của các bệnh truyền nhiễm, vẫn còn bị chỉ trích một cách kịch liệt. Những đầu óc chống lại những tư tưởng tiến bộ tiếp tục lập luận rằng “ bệnh tật là ở trong chúng ta, từ chúng ta, bởi chúng ta.” Ta có thể nghĩ rằng những người ủng hộ hết mình cho lý thuyết về tính tự sinh bệnh hoạn này sẽ có mặt ở Londre để hăng say bảo vệ nó ; những phe chống đối với học thuyết về tính chất bên ngoài (extériorité) của nguyên nhân đầu tiên của các bệnh lây nhiễm đã không dám ló dạng, và cuộc tranh luận về những chủ đề này ngay cả đã không được mở ra. Những đầu óc sáng suốt đã linh cảm rằng cái ngày mà sự tự sinh (génération spontanée) của các vi sinh vật đã có thể được gọi một cách chính đáng là lý thuyết viễn vông, và rằng mặt khác, đời sống của những sinh vật này đã xuất hiện như là nguyên nhân chủ yếu của sự phân hủy hữu cơ (décomposition organique) và của những quá trình lên men, lý thuyết về tính tự phát trong y học đã hết thời.
    Pasteur, Ecrits scientifiques et médicaux.


    Ta đã thường nhận xét rằng Claude Bernard và Louis Pasteur là những đứa con của những người thợ thủ công, người này là con của một thợ thuộc da của France-Comté, còn người kia là con của một người trồng nho của Beaujolais. Được nuôi lớn ở ngoài trời, trong một một thiên nhiên đầy các động vật và cây cối đa dạng, ta có thể tưởng tượng cả hai là những đứa trẻ tò mò ham biết về thế giới và cuộc sống, các giác quan trong tình trạng kích thích. Cả hai đã vẫn là như vậy trong suốt cuộc đời, với một khả năng kỳ lạ từ chối các phạm vi được quy định của kiến thức và sự phân vách của các môn học. Hai người này đã cho phép sinh học thực hiện những bước tiến đáng ngạc nhiên bằng cách trình bày chi tiết các vận hành của sinh vật cho đến khi đó vẫn còn bí ẩn. Thêm vào tính tò mò không thay đổi, công khai và đảm bảo là một tinh thần độ lượng đã khiến những người đương thời vinh danh họ là những “ ân nhân của nhân loại ”.

    Nhưng ở Pasteur, nhà nghiên cứu tuyệt vời luôn luôn ưa thích thu thập các kết quả thực nghiệm hơn là lời phát biểu một lý thuyết tổng quát. Có lẽ đó là lý do tại sao ông đã đi xa hơn Claude Bernard, ông này đã cố chấp đặt vấn đề nghi ngờ những khám phá của Pasteur cho đến khi qua đời năm 1878. Như thế ta đã giữ từ Pasteur, sinh ở Dole trong vùng Jura, ngày 27/12/1822, và mất ở Marnes-la-Coquette, ở Seine-et-Oise, ngày 28/9/1895, hình ảnh của một nhà bác học tỉ mỉ, bị thu hút bởi những thí nghiệm của mình, chỉ mong muốn tống khứ loài người khỏi những những bệnh hành hạ. Một image d’Epinal, được tuyên truyền với sự giúp đỡ của những ông chủ tốt của Đệ tam cộng hòa ? Những người viết tiểu sử đã ủng hộ điều đó, chứng thực rằng ông không phải là người yêu nhân loại như người ta kể ; chính vợ ông, Marie Laurent, cuối năm 1849 và còn sống 15 năm sau khi vĩ nhân qua đời, đã thêm vài màu sắc đẹp đẽ vào những hình ảnh của đời ông.. Ở Trường cao đẳng sư phạm, ông để lại ký ức một người quản lý rất khắc nghiệt.

    HIỂU TẠI SAO NHO LÊN MEN

    Điều cần phải nhớ về Pasteur, đó không phải là “ le misérable petit tas de secrets ” mà vài người cho là đã moi ra trong các thư tín và các sổ công tác của ông. Đó là danh sách đồ sộ về các khám phá của ông : nó làm ông trở thành một trong những nhà sinh học lớn nhất của mọi thời đại. Người đàn ông đó đã gỡ rối sự chằng chịt của các bệnh lý không giải thích được (bệnh dịch tả gà, bệnh than của cừu, bệnh chó dại) mặc dầu ông không phải là thú y sĩ hay thầy thuốc.

    Đậu hạng tư vào trường Cao đẳng sư phạm năm 1843, Louis Pasteur, theo học vật lý và hóa học, trước hết quan tâm đến cấu trúc của các chất hữu cơ, và nhất là sự lệch đối xứng phân tử (dissymétrie moléculaire) của acide tartrique, cho phép ông phân biệt sinh vật và vật vô tri giác, trái với những théorie vitaliste đang thịnh hành vào thời đó (1853-1854). Được bổ nhiệm làm giáo sư ở phân khoa khoa học của Strasbourg, rồi ở Lille, ông thực hiện những công trình đầu tiên của mình về sự lên men theo lời mời của Louis-Emmanuel Bigo-Tilloy, giám đốc của nhà máy chưng cất củ cải đường (distillerie betteravière) Esquermes ; con trai của ông này Emile cũng theo học ở phân khoa khoa học. Trong nhiều tuần, với chiếc kính hiển vi của mình, Pasteur đã tìm cách quan sát sự lên men đường nhờ các nấm men (levure), mà khi đó ông gọi là những men (ferment), và sự sản sinh acide lactique khi sự hô hấp diễn biến kém. Ông ghi chú một cách chính xác điều xảy ra, mặc dầu ông chưa hiểu các nguyên nhân của hiện tượng này. Tuy nhiên ta có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng vi trùng học hiện đại ra đời trong những tuần lễ cuối này của năm 1856, vào thời gian này Pasteur đã nắm và hiểu bằng những nét lớn những hiện tượng mà một ngày nào đó ta sẽ gọi là piqure lactique và piqure acétique.

    Pasteur tiếp tục những quan sát ở các nhà làm rượu bia (brasseur) thành phố Lille, ở đây ông nghiên cứu sự lên men rượu (fermentation alcoolique) bằng nấm men bia (levure de bière), rồi ở những người trồng nho. Lần lượt ông làm sáng tỏ các bí mật của sự lên men lactic (1857), của sự lên men rượu (1857-1860) và của sự lên men của acide tartrique (1858). Mặc dầu là đứa con của France-Comté trồng nho, ngày nay được dựng tượng vinh danh ở Arbois, nhưng ông đã không khám phá những bí mật của sự sôi sục của rượu vang trong thùng ủ (bouillonnement dans la cuve), cũng như bí mật của sự biến hóa khả dĩ của nó thành dấm. Sau khi đã quan sát tất cả, ông đã mô tả tất cả và sau cùng hiểu tất cả : sự lên men phát xuất từ sự sản xuất các mầm bệnh cấu tạo các nấm men chứ không phải là do sự thối rửa của các chất sống, như địch thủ người Đức của ông, Justus von Liebig, đã tin như vậy.

    Như thế Pasteur đã hiểu rằng chính nhờ sự sống chứ không phải sự chết mà nho lên men. Khám phá này về sự vận hành chức năng vi thể của sinh vật, thiết yếu cho nông nghiệp và trồng nho, kéo dài những nghiên cứu của Pasteur trong lãnh vực hóa học. Chẳng bao lâu khám phá này sẽ được tiếp nối trong những lãnh vực thú y và y khoa.

    NHỮNG DANH TỪ VÀ MỘT ĐỘNG TỪ

    Pasteur, vốn không tin vào sự sinh sản ngẫu nhiên (génération spontanée) và biện minh trong một báo cáo khoa học nổi tiếng, mà những kết quả được trình bày ở Viện hàn lâm khoa học năm 1860, linh cảm rằng vài căn bệnh được gây nên bởi những vi sinh vật có cùng những tính chất như những vi sinh vật cho phép quá trình lên men (fermentation).Vào thời kỳ đó, ta chưa nói đến vi trùng (microbe), mà chỉ nói đến vi khuẩn (bactérie) và nấm men (levure). Pasteur sẽ chứng tỏ rằng chúng biến mất khỏi các môi trường cấy được đun sôi. Đó là điều mà ta còn gọi là pasteurisation (sự tiệt trùng theo phương pháp Pasteur). Trong khi nhiều thầy thuốc và nhà thông thái đã cho tên mình những căn bệnh mà họ đã khám phá, còn Hippocrate, Galien và Pasteur chỉ được ban thưởng một từ phái sinh (substantif dérivé). Hippocrate (hippocratique, hippocratisme) và Galien (galénique, galénisme) chỉ được vinh danh bằng một tĩnh từ hay một danh từ, trong khi đó những khám phá hóa học, sinh học và y khoa của Pasteur được bất tử hóa bởi cả một loạt những thể từ (substantifs) (pasteurien, pastorisme, pasteurisateur) và ngay cả bởi một động từ mà sự sử dụng đã được xác lập khắp toàn châu Âu ngay năm 1872 : pasteuriser !

    Chữ pasteuriser, nhằm chỉ sự hủy hoại các vi sinh vật (organismes microscopiques) mà khi đó danh pháp (nomenclature) chưa được xác lập, trước hết được sử dụng phổ biến ở những nhà trồng nho, đun sôi nước ép nho trong quá trình lên men rồi làm lạnh để ngăn ngừa các căn bệnh. Chữ này chẳng bao lâu sau đó được các nhà công nghiệp biết đến ; họ học diệt trùng theo phương pháp Pasteur (pasteuriser) những loại thực phẩm khác nhau, nhất là các sản phẩm sữa. Rồi trong y khoa và ngoại khoa, ở đây những kỹ thuật sát trùng và vô trùng, bắt buộc một cách có phương pháp ngay năm 1874, là sự kế tục logic của sự diệt trùng theo phương pháp Pasteur (pasteurisation).

    Pasteur, với con mắt có độ nhạy gây kinh ngạc, tiến bước một cách thận trọng. “ Phải chăng tôi đã phạm phải sự sai lầm lớn nhất, ông đã tự hỏi như vậy vào năm 1862, là đã gán các tên loài (espèce) cho các vi sinh vật mà tôi đã gặp trong lúc quan sát ? Không những điều đó đối với tôi rất khó thực hiện, và ngay cả hôm nay vẫn có biết bao lẩn lộn trong các tên gọi của các sinh vật bé nhỏ này, mà công trình nghiên cứu của tôi sẽ mất đi tính trong sáng ; ít nhất tôi sẽ đi xa mục đích chủ yếu của tôi là chứng thực sự hiện diện hay vắng mặt của sự sống trên quan điểm chung, chứ không hề nhằm vào sự biểu hiện của một sự sống riêng trong loài động vật hay thực vật nào đó. Vì thế tôi đã nhờ đến một cách hệ thống những từ gọi mơ hồ nhất.”

    Chữ vi trùng (microbe) mà Pasteur dường như từ chối không nhận là do mình phát minh, được tạo ra vào năm 1878 bởi thầy thuốc quân y khoa ngoại Charles Sédillot, hội viên của Viện hàn lâm khoa học, và được công nhận bởi Littré trong Tự điển y khoa năm 1886. Nguyên thủy, chữ vi trùng nhằm chỉ tất cả những sinh vật không thấy được bằng mắt trần, chịu trách nhiệm các căn bệnh và quá trình thối rửa (putréfaction). Chữ này không có ý nghĩa giới hạn như ngày hôm nay để chỉ vi sinh vật đơn bào gây bệnh (microorganisme unicellulaire pthogène)

    TIÊM CHỦNG CHỐNG BỆNH DẠI

    Pasteur đã nghiên cứu các bệnh của tằm (vers à soie) (1865-1870), các bệnh nhiễm trùng của người và của các động vật (1877-1881) và đã chạm vi trùng trong lúc tiến hành các quan sát của mình. Chính trong lúc nghiên cứu các bệnh xảy ra ở gà mái rồi trong lúc phát triển kỹ thuật canh cấy trong phòng thí nghiệm của mình ở rue d’Ulm mà ông đã đạt được mục đích của mình. Tiếp theo ông, cộng đồng quốc tế của các nhà bác học đã cá biệt hóa những tác nhân bệnh lý khác nhau : người Na Uy Gerhard Armauer Hansen, trực khuẩn bệnh hủi năm 1874, người Đức Albert Neisser, lậu cầu khuẩn năm 1879, người Đức Karl Eberth trực khuẩn bệnh thương hàn năm 1880, người Đức Robert Koch, trực khuẩn bệnh lão năm 1882. Về phần mình, Pasteur đã phân lập 3 loại vi khuẩn giữa năm 1878 và 1880 : liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn và phế cầu khuẩn.

    Vào năm 1880, thế giới của các vi trùng được xác lập một cách khá chính xác. Suốt trong gần 40 thập niên Pasteur tiến lên theo cùng một hướng. Thiên tài của ông là thiên tài của sự quan sát hệ thống và của sự kết hợp. Mặc dầu bị tranh cãi bởi vài nhà thông thái cùng thời, vì những lý do tốt và xấu, uy tín mà ông có được trở nên khắp hoàn vũ sau sự tiêm chủng đầu tiên chống bệnh dại, vào tháng bảy năm 1885. Ngày 14 tháng 11 năm 1888 ở Paris được khánh thành viện dành cho nghiên cứu cơ bản mang tên ông, rồi một bệnh viện (1894), ở bên cạnh Viện. Pasteur mất năm sau lúc ông được 72 tuổi.
    (LE FIGARO 9/8/2012)

    2/ TEXAS BỊ DỊCH BỆNH DO VIRUS DU NIL

    Vi trùng được truyền bởi muỗi đã gây nên 41 người chết ở Hoa Kỳ

    EPIDEMIE. Sunbelt (vòng đai mặt trời) Hoa Kỳ từ mấy tuần nay sống trong sợ hãi các con muỗi, mang virus du Nil occidental đáng sợ. Nhiều người đã chết do dịch bệnh trong những ngày qua, đưa số nạn nhân lên 41 người trong cả nước. 1118 trường hợp nhiễm trùng đã được liệt kê cho mãi đến hôm nay, trong đó một nửa chỉ riêng trong tiểu bang Texas, đếm được 18 trường hợp tử vong, theo CDC (Centre de contrôle et de prévention des maladies). Được thống kê trong 42 tiểu bang (trong số 50 tiểu bang), 2/3 những trường hợp có một thể thần kinh xâm nhập (forme neuro-invasive), chủ yếu là viêm não và viêm màng não. Các nạn nhân nói chung là những người trên 50 tuổi và có sức khỏe kém, bị một bệnh ung thư, đái đường hay bị ghép cơ quan. Nhưng vài bệnh nhân mới đây là những người trẻ và có sức khoẻ tốt, các ty y tế đã xác nhận như vậy.

    Virus du Nil occidental, được khám phá ở Ouganda năm 1937, được muỗi truyền cho người, 80% những người bị nhiễm không cảm thấy một triệu chứng nào và ngay cả sẽ không bao giờ biết rằng họ đã bị lây nhiễm, trừ phi thực hiện những xét nghiệm y khoa. 20% còn lại có thể cảm thấy đau đầu, nôn, mửa, tiêu chảy, đau cổ và ngứa, sốt dữ dội, mất thị lực tạm thời và bại liệt không hoàn toàn. Những triệu chứng này, nếu không được xử lý điều trị nhanh chóng, có thể dẫn đến những di chứng nghiêm trọng, và tử vong.

    Bị thúc đẩy, Michael Rawlings, thị trưởng Dallas, thành phố lớn thứ 9 của Hoa Kỳ, với 1,19 triệu dân, đã ra quyết định ngày 16/8 nhờ đến những chiến dịch rải thuốc trừ sâu từ trên không lên khu vực thành phố, một chiến dịch đầu tiên từ năm 1970 ở Texas. “ Tôi chịu trách nhiệm về quyết định này, Rawlings đã quả quyết như vậy. Tôi không muốn có thêm những trường hợp tử vong khác trong lương tâm ”

    Thuốc trừ sâu, một hỗn hợp chứa chất pyréthrine được gọi là Duet, nhằm vào hệ thần kinh trung ương của các côn trùng, bị phân hủy khi tiếp xúc với ánh sáng và không khí, trong 24 giờ sau khi sử dụng. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc trừ sâu này dấy nên một làn sóng lo ngại mặc dầu EPA (Agence de protection de l’environnement) đã xác nhận tính vô hại của nó, ngoại trừ đối với động vật dưới nước. “ Không có một vấn đề hô hấp nào đã được quan sát trong các bệnh viện, vị thẩm phán vùng Texas Clay Jenkins đã đảm bảo như vậy, cũng như ở những nơi khác trong những thành phố được rải thuốc từ 20 năm nay. ”

    KHÔNG MỘT LỜI GIẢI THÍCH

    “ Chiến dịch rải thuốc trừ sâu là một công cụ an toàn và hiệu quả, nhưng nó không thay thế những biện pháp thận trọng cần thiết ”, David Lakey, trưởng các ty y tế Dallas đã nói như vậy. Có 4 biện pháp : vì lẽ hiện không có điều trị phòng ngừa, nên cần bôi thuốc đuổi muỗi (répulsif antimoustique), mang quần áo che người, rộng và có màu nhẹ, tránh ra ngoài lúc rạng đông và lúc hoàng hôn và cần che mình kỹ ban đêm.

    Hiện nay không có một yếu tố nào được đưa ra để giải thích quy mô của hiện tượng, ngoại trừ một mùa đông 2011-2012 ôn hòa và có những đợt mưa quan trọng. “ Chúng ta chưa biết xuất phát từ đâu sự gia tăng hoạt động này so với những năm trước, nhà dịch tễ học Marc Fischer của CDC đã nói như vậy. Điều chắc chắn đối với các chuyên gia, tình trạng khẩn cấp phải được kéo dài vào tháng 9. “ Cao điểm hoạt động chỉ vừa mới đạt được, Kristy Murray, thuộc Baylor College đã xác nhận như vậy, ông dự đoán một sự giảm chậm của hiện tượng trong tháng đến.
    (LE FIGARO 23/8/2012)

    3/ DỊ ỨNG TRỨNG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG TRỨNG

    Dĩ độc trị độc. Đó là nguyên tắc của miễn dịch liệu pháp bằng đường miệng (immunothérapie orale), nhằm uống vào những liều lượng tăng dần của một dị ứng nguyên (allergène) để làm gia tăng sự dung nạp (tolérance) bởi cơ thể. Một phương pháp vừa được trắc nghiệm thành công chống lại dị ứng trứng, trong một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 được chỉ đạo bởi thầy thuốc chuyên khoa dị ứng (allergologue) Wesley Burks (Duke University Medical Center, Hoa Kỳ) và được tiến hành trên 55 trẻ em. Sau 22 tháng điều trị, 75% các trẻ em đã uống vào mỗi ngày bột lòng trắng trứng đã được giải cảm ứng (désensibilisé) (nghĩa là chúng có thể dung nạp nhiều hơn một quả trứng). Ngoài ra, 28% những đứa bé này, sau khi đã tiêu thụ trứng mà không bị phản ứng dị ứng nhiều tháng sau khi ngừng điều trị , được xem là được chữa lành. Hướng điều trị đầy hứa hẹn, nhưng một vấn đề vẫn còn phải được tháo gỡ : những loại bệnh nhân nào khả dĩ nhất đáp ứng với điều trị ?
    (SCIENCE ET VIE 9/2012)

    4/ NÃO BỘ CÁC PHỤ NỮ NHẠY CẢM HƠN ĐỐI VỚI MIGRAINE.

    Lần đầu tiên chụp hình ảnh y khoa cho thấy rằng sự cảm nhận đau khác nhau ở hai giới tính.

    NEUROLOGIE. Các phụ nữ thường bị migraine hơn đàn ông và họ thường đau đầu nhiều hơn. Một bí ẩn thường được quy cho các hormone nữ, nhất là có những cơn được phát khởi bởi những thay đổi của kinh kỳ. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ vừa tìm thấy một lời giải thích khác cho tính chất bất bình đẳng của giới tính trước căn bệnh : các phụ nữ phải chăng lắng nghe những cảm giác của mình hơn đàn ông ?

    Đó là lần đầu tiên mà ta đo được, nhờ những kỹ thuật chụp hình ảnh hiện đại bằng cộng hưởng từ cơ năng (résonnance magnétique fonctionnelle), không những những khác nhau về cấu trúc mà còn những dị biệt về vận hành cơ năng của não bộ các phụ nữ bị bệnh migraine so với não bộ những người đàn ông và những phụ nữ không bị migraine. Một cách tượng hình, nếu não bộ là một cái nhà, điều đó có nghĩa rằng không những khác nhau về kiến trúc mà thiết bị điện cũng khác nhau.

    Bởi vì đứng trên quan điểm sinh thần kinh, các phụ nữ bị migraine cảm nghiệm một cách khác những thông tin đau đớn mà não bộ họ nhận được. Đường vòng của các cảm xúc gây khó chịu (circuit des émotions déplaisantes) liên kết với sự đau đớn hoạt động mạnh hơn nhiều ở phụ nữ so với đàn ông, GS Nasim Maleki và các đồng nghiệp của ông ở đại học Havard, tác giả của công trình nghiên cứu được công bố trong số tháng tám của tạp chí quốc tế Brain đã tóm lượt như vậy.

    Lại còn kỳ lạ hơn, vòng khen thưởng (circuit de récompense) của não bộ đàn ông bị migraine bị kích thích trong trường hợp đau trong khi vẫn im lặng ở các phụ nữ. “ Chúng tôi chưa giải thích được điều đó ”, nhà nghiên cứu đã công nhận như vậy.

    MỘT CĂN BỆNH THÔNG THƯỜNG.

    Đối với cùng một triệu chứng đau, những người đàn ông bị migraine như thế ít bị khó chịu hơn so với phụ nữ. Thế thì, ta có thể nói về một tính nhậy cảm chung đối với tất cả loại đau lớn hơn ở các phụ nữ bị migraine ? “ Ta có thể giả định như vậy, bởi vì ở các phụ nữ này, hệ thống quản lý các cảm xúc phản ung hơn ”, GS Maleki đã giải thích như vậy.

    Migraine là một căn bệnh thông thường, rất phổ biến vì lẽ nó gây bệnh một cách đều đặn cho khoảng 5 triệu phụ nữ và 3 triệu người đàn ông ở Pháp. Triệu chứng đau của bệnh rất đặc trưng, chỉ ảnh hưởng lên một nửa đầu. Đau gia tăng cường độ khi ta gắng sức và cho cảm giác theo nhịp đập của tim (douleur pulsatile). Nói chung đau đầu thường kèm theo những cảm giác buồn nôn hay mửa, cũng như không chịu được những tiếng động hay ánh sáng. Tiến triển bằng các cơn (từ vài giờ đến vài ngày) với những thời kỳ thuyên giảm giữa các cơn.

    Ở não bộ, một con migraine được phát khởi do sự kích hoạt bất thường của một dây thần kinh, dây thần kinh tam thoa và dây thần kinh này lúc phóng thích những neuropeptide quanh các huyết quản, gây triệu chứng đau điển hình này. Ngoài ra vài bệnh nhân migraine, trong trường hợp của họ, có khả năng xác định điều làm phát khởi sự kích hoạt này : một thức ăn, một nước uống, stress, thiếu ngủ.

    Sự khám phá của kíp nghiên cứu của Harvard không phải tập trung vào điểm phát xuất của cơn cũng như không phải về sự xuất hiện của đau đầu, mà nhằm vào phương cách mà thông tin đau được xử lý bởi não bộ. “ Do cách mà bệnh migraine được biểu hiện ở đàn ông và phụ nữ, và sự tiến triển của nó giữa thời kỳ thơ ấu và tuổi trưởng thành, nên tôi nghĩ rằng đó là một căn bệnh khác và không hàm chứa cùng những vòng não bộ (circuits cérévraux) theo giới tính ”, GS Maleki đã đánh giá như vậy.

    Các thầy thuốc đã có thói quen xét từng trường hợp khi điều trị migraine, chẳng bao lâu họ có thể áp dụng những chiến lược khác nhau đối với đàn ông và phụ nữ.

    NÃO BỘ GIỮ TẤT CẢ CÁC NĂNG LỰC

    Những tác dụng của migraine lên não bộ vẫn còn không được biết rõ và vẫn là chủ đề gây tranh cãi. Vài công trình nghiên cứu đã cho thấy một sự gia tăng nguy cơ bị những thương tổn não bộ ở những người bị bệnh lý này, đặc biệt là những người bị bệnh migraine với tiền triệu chứng (aura), nghĩa là có những triệu chứng báo hiệu trước khi triệu chứng đau đầu xuất hiện. Điều này khiến thấy trước một sự sụt giảm những năng lực nhận thức (capacité cognitive) gia tăng với tuổi tác. Nhưng một công trình nghiên cứu Pháp-Mỹ có quy mô lớn được công bố đầu tháng 8 trong British Journal of Medicine cho thấy đúng điều ngược lại. Các nhà nghiên cứu của Havard Medical School và của Inserm-université de Bordeaux đã theo dõi khoảng 6000 bệnh nhân hơn 65 tuổi, bị migraine hay không. Những câu hỏi huong vào tiền sử migraine của họ và vào sự đánh giá những năng lực trí nhớ và nhận thức (capacité mnésique et cognitive) của họ. Kết quả : migraine, với aura hay không, dường như không ảnh hưởng những năng lực này. Một tin có tầm cỡ đối với những thầy thuốc sẵn sàng can thiệp để gìn giữ những năng lực nhận thức của những bệnh nhân mình.

    Công trình nghiên cứu dẫu sao cũng cho thấy một nguy cơ gia tăng đối với các phụ nữ bị migraine với tiền triệu chứng, và đã từng là nạn nhân của một tai biến mạch máu não. Những nghiên cứu mới phải nhắm tốt hơn những mối liên hệ giữa bệnh migraine và những bệnh khác để cải thiện những điều trị hiện nay.
    (LE FIGARO 21/8/2012)

    5/ SAU CÙNG TA CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN BỆNH ALZHEIMER

    25 năm trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên, bệnh Alzheimer bắt đầu để lại dấu ấn trong não bộ. Sự chứng minh vừa được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của đại học Washington ở Saint-Louis (Hoa Kỳ). Các nhà nghiên cứu này đã theo dõi trong 2 thập niên 128 người có profil di truyền làm họ khả dĩ bị một dạng sớm của bệnh. Những thăm dò X quang đều đặn đã cho những kết quả đáng ngạc nhiên. Chỉ dấu trước tiên hết của bệnh mà một sự sụt giảm nồng độ beta-amyloide trong dịch bao quanh não bộ. Những peptide này, có thể nhìn thấy bằng chụp hình ảnh não bộ, là nguồn gốc của các mảng đặc trưng của bệnh Alzheimer.

    “ Lợi ích của nghiên cứu này là có thể can thiệp vào giai đoạn đầu tiên hết, một thời gian lâu trước khi xuất hiện các triệu chứng, bằng cách sử dụng những liệu pháp kháng amyloide, John Morris (đồng tác giả của công trình nghiên cứu ) đã giải thích như vậy, nhằm ngăn cản sự xuất hiện của các triệu chứng.” Vào cùng lúc, những nhà nghiên cứu của Nữu Ước đã trình bày những kết quả của một điều trị đầy hứa hẹn : một miễn dịch liệu pháp kháng amyloide có khả năng làm ngừng lại sự suy sụp của bệnh. Tác động đúng lúc nhờ một điều trị nhắm đích (thérapeutique ciblée). Sau cùng một điều trị đầu tiên có hiệu quả sẽ xuất hiện ?
    (SCIENCE ET VIE 9/2012)

    6/ ALZHEIMER : MỘT ĐIỀU TRỊ MIỄN DỊCH GÂY HY VỌNG.

    Những kết quả rất sơ khởi, nhưng đầy hứa hẹn, đã thu được với một miễn dịch liệu pháp để kềm hãm sự tiến triển của bệnh.

    NEUROLOGIE. Ngày nay ở Pháp 800.000 người bị bệnh Alzheimer. Do sự kéo dài của tuổi thọ, con số này sẽ gia tăng, vì lẽ nguy cơ càng tăng cao khi càng lớn tuổi. Sau 80 tuổi, 10 đến 15% dân chúng có thể bị bệnh. Đứng trước tình hình đáng quan ngại này, vấn đề cấp cứu là hiệu chính những điều trị, vì thuốc men hiện nay bất lực không thể kềm hãm sự tiến triển của bệnh.

    Tuần này, nhân hội nghị của Hiệp hội quốc tế chống bệnh Alzheimer, được tổ chức ở Vancouver (Canada), các nhà nghiên cứu đã cho thấy, mặc dầu chỉ được thực hiện trên một số nhỏ những trường hợp, rằng một điều trị dựa trên miễn dịch liệu pháp có thể kềm hãm sự tiến triển của bệnh. Thật vậy, điều trị dựa trên các kháng thể đã cho phép làm chậm lại trong 3 năm sự sa sút trí tuệ của những người tham dự, trong khi đó một sự sa sút nói chung được quan sát ngay 6 tháng sau khi phát bệnh. Tuy nhiên vẫn phải thận trọng : tính hiệu quả chỉ có thể được đánh giá về lâu về dài, vì đó là một bệnh tiến triển tương đối chậm và xảy ra trên một nhóm lớn các bệnh nhân.

    Chính ở Nữu Ước mà kíp của BS Norman Relkin của Weill Medical College đã tiến hành công trình nghiên cứu này ở 16 bệnh nhân. 11 trong số những bệnh nhân này đã nhận mỗi 2 đến 4 tuần (tùy theo thể trọng của họ) những tiêm truyền Gammagard, một loại thuốc mà chất căn bản là gammaglobuline, đã được sử dụng để bù những thiếu hụt miễn dịch. 5 bệnh nhân khác tạo thành nhóm placebo. Những kháng thể này có một tác dụng kháng viêm và kích thích lên tính miễn dịch. Sau 36 tháng, trí nhớ, những năng lực nhận thức (capacité cognitive) và khí chất của 11 bệnh nhân được điều trị với Gammagard chỉ bị suy thoái nhẹ. 4 bệnh nhân đã nhận liều mạnh nhất của điều trị thấy tình trạng của mình vẫn hoàn toàn không thay đổi. Những kết quả này dương tính đến độ nhóm placebo cũng đã bắt đầu điều trị 6 tháng sau khi bắt đầu thử nghiệm, các nhà khoa học khi đó đã chứng thực rằng trí nhớ của họ bị suy thoái ít nhanh hơn.

    Các nhà nghiên cứu gợi ý rằng các kháng thể của Gammagard đã chống lại sự tiến triển tự nhiên của bệnh bằng cách trung hòa những protéine beta-amyloide đặc trưng của bệnh Alzheimer. Những protéine này kết tụ thành các mảng độc (plaques toxiques) đối với các neurone và dẫn đến sự đánh mất những năng lực trí tuệ. Điều trị, rất tốn kém, cũng làm giảm quá trình viêm gây nên bởi những protéine này. Thử nghiệm được theo đuổi ở 390 bệnh nhân để xác nhận hay không những kết quả này, với những kết luận được dự kiến vào 6 tháng đầu tiên năm 2013. Đối với GS Françoise Forette, chủ tịch của Fondation nationale de gérontologie, cần tiết chế bớt những hoài vọng đối với miễn dịch liệu pháp. Không những số lượng các bệnh nhân là ít trong thử nghiệm này “ nhưng cũng cần phải chờ đợi ít nhất 4 hay 5 năm trước khi chứng thực một hiệu quả rõ ràng ”, bà đã báo động như vậy.

    Ngay cả trong trường hợp này, không có một sự cải thiện nào của các chức năng nhận thức (fonction cognitive) được trông chờ trong những thử nghiệm này : trước hết đó là ngăn căn bệnh tiến triển. Thật vậy, các bệnh nhân ở vào một giai đoạn trong đó nhiều tế bào thần kinh đã biến mất và không có thể tái tạo được nhờ các kháng thể, thầy thuốc lão khoa đã giải thích như vậy.

    CẦN KIỂM TRA SỰ AN TOÀN

    Nếu tính hiệu quả để ngăn chặn sự tiến triển của bệnh được chứng tỏ, các liệu pháp miễn dịch sẽ được dành cho những người ở giai đoạn sớm, khi những dấu hiệu thần kinh chưa rõ ràng. Nhưng trước khi xác định tính hiệu quả, chính mức độ an toàn của những điều trị này phải được kiểm tra, GS Forette đã cảnh cáo như vậy. Những thử nghiệm trước đây với những liệu pháp miễn dịch khác đã gây thất vọng do những tác dụng phụ nghiêm trọng, nhất là những trường hợp phù não, BS Sylvie Pariel, thầy thuốc lão khoa thuộc bệnh viện Charles - Foix đã xác nhận như vậy. Một trắc nghiệm vaccin đầu tiên cũng đã bị đình chỉ vì sự dung nạp kém.

    (LE FIGARO 20/7/2012)

    7/ TIÊN ĐOÁN SỚM NGÀY CHẾT
    Những điểm chủ yếu
    • Các nhà khoa học đã tiên đoán thời gian sống của các oiseaux mandarin trên cơ sở chiều dài của các télomère của ADN.
    • “ Điều đó không đánh giá đúng tính biến thiên của sự sống ở người ”, các chuyên gia đã cảnh giác như vậy.


    Ta sẽ có thể, trong một tương lai không xa lắm, tiên đoán ngày tháng chết của mình ? Khoa học viễn tưởng ? Không hẳn là như vậy. Các nhà nghiên cứu của Glasgow đã thành công tiên đoán một cách rất chính xác thời gian sống trên cơ sở một phân tích ADN. Hiện nay, phương pháp này chỉ có hiệu lực ở diamant madarin, một loại chim Á châu, nhưng các nhà nghiên cứu có ý định rút ra những bài học có thể chẳng bao lâu nữa có lợi cho sức khỏe của con người.

    Những kết quả này, được công bố trong tạp chí Pnas, cho thấy rằng ta có thể có được một chỉ dẫn về thời gian sống căn cứ trên sự đo lường các télomère ngay từ lúc bắt đầu cuộc sống. Các télomère nằm ở các đầu của các nhiễm sắc thế. Hơi giống như các nút chai, chúng đảm bảo sự bảo vệ các tận cùng nhiễm sắc thể đồng thời tránh không cho nhiễm sắc thể bị tháo tơi.

    Kíp đã nghiên cứu chiều dài của các télomère của các tế bào máu lấy ở các mandarin có tuổi thọ thay đổi từ 210 ngày đến gần 9 năm. Họ đã quan sát chiều dài của các télomère vào nhiều thời kỳ của cuộc sống : một cách rất đáng ngạc nhiên, chính chiều dài của télomère khi chỉ mới 25 ngày của tuổi đời là chỉ dấu tốt nhất của tuổi thọ. Giả sử một ngày nào đó ta có thể áp dụng quan sát này ở người, khi đó những télomère của một em bé 9 tháng sẽ chỉ cho biết là nó có sống đến 50 hay 90 tuổi. Bác Sĩ Britt Heidinger giải thích rằng “ mặc dầu có một sự biến thiên lớn giữ các cá thể, nhưng những con chim đã sống lâu nhất là những con chim có các télomère dài nhất ”. Sự biến thiên của chiều dài của các télomère một phần có thể qui cho tính chất di truyền, nhưng có thể thay đổi tùy theo các yếu tố môi trường như sự tiếp xúc với stress. Đối với GS Pat Monaghan, “ còn cần phải biết thêm về phương cách mà những tình trạng lúc bắt đầu cuộc sống có thể ảnh hưởng lên sơ đồ đánh mất các télomère, và tầm quan trọng của các yếu tố di truyền và môi trường trước khi có thể mơ mộng, hay ác mộng về một máy đếm đếm những năm tháng của cuộc đời còn lại.

    “ CON NGƯỜI KHÔNG SỐNG TRONG MỘT CÁI LỒNG ĐƯỢC BẢO VỆ ”

    GS Christian Swine là trưởng service de médecine gériatrique của CHU Mont-Godine (UCL)

    Hỏi : Mối liên hệ này giữa chiều dài của télomère và tuổi thọ có phải là một điều bất ngờ ?
    GS Christian Swine: Chẳng chút nào, vì lẽ các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng chiều dài của các télomère này giảm đi với dòng đời trôi qua. Mặt khác, những công trình nghiên cứu ở những bệnh nhân già có sức khỏe kém hơn đã cho thấy rằng những người, đã từng bị nhiều biến chứng, những bệnh kèm theo hơn hay bị tiếp xúc nhiều hơn các radical libre, thật ra có những télomère ngắn hơn. Điều đó cũng hơi tương tự như các carte de métro cũ, cứ mỗi trận giao tranh của hệ miễn dịch ta rút ra một đồ bị vỡ. Chúng có thể tái tạo một phần.

    Hỏi : Thế thì trong 10 hay 15 năm nữa ta có thể tưởng tượng rằng chúng ta sẽ biết còn sống được bao lâu bằng một xét nghiệm máu đơn giản ?
    GS Christian Swine: Đối với tôi điều đó vẻ bất khả thi. Bởi vì sự chuyển cho người những nghiên cứu như thế là điều tế nhị. Bạn có biết rằng mandarin đực sống lâu hơn mandarin cái, trái với điều xảy ra ở con người ? Nhưng phải biết rằng các động vật này được giữ trong lồng để tránh những can thiệp bên ngoài, nhằm tiêu chuẩn hóa nguy cơ. Con người không sống như vậy ! Chúng ta chịu một môi trường rất thay đổi và chúng ta có thể biến đổi nó, thí dụ bằng cách chọn một lối sống lành mạnh hơn những lối sống khác. Nếu télomère là một chỉ dẫn, thì đúng hơn đó là chỉ dẫn về tình trạng sức khỏe vào lúc ta phân tích, nhưng tính chất tiên đoán của nó đối với tôi có vẻ bị hạn chế. Đúng hơn đó là một phản ánh (reflet) hơn là một nguyên nhân, một chỉ dấu tình trạng mỏng manh (un marqueur de fragilité) hơn là một lời hứa chấm dứt cuộc sống.

    Hỏi : Và giả sử, dầu thế nào đi nữa, ta có thể tiên đoán ngày chết..
    GS Christian Swine: Phải làm gì với một thông tin như vậy ? Nếu người ta nói trước với anh một bệnh và nếu anh có thể hành động để làm giảm các nguy cơ mắc phải nó, như một bệnh đái đường, thông tin khi đó có thể hữu ích. Anh có thể làm giảm stress, uống thuốc phòng ngừa, thay đổi chế độ ăn uống. Nếu người ta đo huyết áp cho anh, đó là để điều trị sớm sự quá mức của huyết áp. Nếu như điều người ta loan báo với anh không thể biến đổi được, như một bệnh Alzheimer, đó là một thông tin hủy hoại. Có những télomère đẹp sẽ không ngăn cản anh hóa lão.
    (LE SOIR 24/2/2012)

    8/ CAI THUỐC BENZODIAZEPINE : ĐỢT CHỮA NƯỚC NÓNG ĐỂ ĐIỀU TRỊ ĐƯỢC BỆNH.

    BS Olivier Dubois, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, tổng giám đốc các nơi điều trị bằng nước khoáng nóng (thermes) ở Saujon giải thích việc điều trị đặc hiệu này cho phép các người được điều trị giải thoát khỏi tình trạng phụ thuộc như thế nào.

    Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi tần số của các trường hợp phụ thuộc benzodiazépines.
    BS Olivier Dubois: Ở Pháp, ta liệt kê trung bình 7 triệu người tiêu thụ đều đặn benzodiazépines (các thuốc ngủ, những thuốc giải ưu), trong khi đó những thuốc này, trừ trường hợp đặc biệt, chỉ nên được kê đơn trong vài tuần. Các thuốc ngủ (hypnotique, somnifère) nhằm điều trị các rối loạn giấc ngủ ; những thuốc khác để điều trị những tình trạng lo âu.

    Hỏi : Đối với những người tiêu thụ đều đặn này, những nguy cơ là gì ?
    BS Olivier Dubois: Nguy cơ là họ trở nên phụ thuộc về mặt tâm thần đối với các loại thuốc được tiêu thụ. Ngoài ra khi họ quyết định ngừng thuốc, có sự tái xuất hiện đột ngột, thậm chí trầm trọng thêm, của những triệu chứng. Ở những người già, sự phối hợp kéo dài với những loại thuốc khác có thể làm dễ những tác dụng phụ, như hạ huyết áp, những rối loạn trí nhớ, của sự cân bằng

    Hỏi : Tại sao khó ngừng thuốc và những thất bại là do đâu ?
    BS Olivier Dubois: Có nhiều lý do. 1. Những người lo âu sợ tái xuất hiện tình trạng angoisse của họ, các thuốc làm họ an lòng. Họ khó có động cơ để không cần đến thuốc. 2. Nhiều bệnh nhân không giảm một cách khá từ từ sự sử dụng các benzodiazépine của họ. 3. Môi trường họ sống có nhiều căng thẳng mà họ không thể rút ra khỏi, do đó duy trì mức độ căng thẳng của họ. 4. Cũng không phải dễ có được một accompagnement psychothérapeutique thích đáng.

    Hỏi : Ông đã có ý tưởng thành lập ở Saujon đợt điều trị bằng nước nóng (cure thermale) làm dễ sự cai thuốc benzodiazépines như thế nào ?
    BS Olivier Dubois: Một công trình nghiên cứu quan trọng (Stop-Tag) mà tôi chỉ đạo đã chứng minh tính hiệu quả của đợt điều trị bằng nước nóng (trong 3 tuần) để làm giảm tình trạng lo âu. Chúng tôi đã đánh giá rằng những người theo đợt điều trị (curiste) có thể hưởng khung cảnh điều trị bằng nước nóng này với sự theo dõi y khoa để dần dần thoát khỏi tình trạng lệ thuộc của họ đối với benzodiazépines.

    Hỏi : Suốt trong ba tuần của đợt điều trị, mục đích nhằm vào những gì ?
    BS Olivier Dubois: Một protocole đặc biệt đã được soạn thảo với các cán bộ đại học, các chuyên gia về cai nghiện. Mục tiêu là làm giảm từ từ sự sử dụng benzodiazépines để tiến đến một sự dừng thuốc hoàn toàn. Tùy theo các trường hợp, người thầy thuốc sẽ quy định một programme balnéothérapeutique “ sur mesure ” (tùy theo từng cá thể) gồm có tắm nước nóng (bains bouillonnants), massage dưới nước, douches thermales et sous-marines en piscine và, đối với vài bệnh nhân, những buổi liệu pháp hành vi theo từng nhóm, được chủ trì bởi một psychologue được đào tạo. Những séance de groupe này có mục đích làm cho bệnh nhân hiểu những cơ chế gây nên sự phụ thuộc thuốc, nhưng cơ chế phát triển tình trạng lo âu, dạy cho những người tham dự những kỹ thuật thư giãn để làm giảm những angoisse của họ … một theo dõi y khoa được đảm bảo nhờ những buổi khám bệnh hàng tuần.

    Hỏi : Những lợi ích của nước khoáng nóng (eau thermale) trong chương trình này ?
    BS Olivier Dubois: Nước khoáng nóng có một tác dụng an thần quan trọng. Công trình nghiên cứu “Stop-Tag” đã chứng minh đến mức độ nào tác dụng này sâu đậm và dài lâu trong ít nhất 6 tháng. Những kết quả ngoạn mục này mới đây đã được công bố trong tạp chí khoa học “ Complementaries Therapies in Medicine ”. Chính nhờ sự giảm quan trọng của tình trạng lo âu của họ mà hầu hết những người theo đợt điều trị được tạo động cơ để khiến sự cai nghiện của họ được thành công. Vài bệnh nhân chỉ giảm được sự tiêu thụ các benzodiazépines.

    Hỏi : Trong những người sau cùng này, thế thì đâu là hy vọng để cai thuốc vĩnh viễn ?
    BS Olivier Dubois : Kinh nghiệm chứng tỏ rằng, đối với vài bệnh nhân, sự lặp lại hàng năm các đợt điều trị cho phép họ ngừng dần dần các thuốc an thần mà họ sử dụng.
    (PARIS MATCH 8/5 – 16/5/2012)

    9/ CHỨNG NGHIỆN RƯỢU : SỬ DỤNG BACLOFENE TÙY THEO TỪNG TRƯỜNG HỢP.

    Cơ quan dược phẩm từ nay chấp thuận sự sử dụng baclofène trong điều trị chứng phụ thuộc rượu.

    ADDICTION. Đó không phải là một sự cho phép thật sự, nhưng đó là một tiến triển chắc chắn. Lần đầu tiên, Cơ quan an toàn các sản phẩm y tế (Afssaps) đã chấp nhận rằng các thầy thuốc từ nay có thể kê đơn baclofène trong điều trị chứng nghiện rượu, những chỉ tùy theo từng trường hợp. Loại thuốc này, vốn thường được sử dụng như chất duỗi cơ (décontractant musculaire) trong khoa thần kinh, có thể làm giảm sự thèm rượu.

    Từ 4 năm qua, thế giới của addictologie đang sôi sục về vấn đề baclofène, được vài thầy thuốc sử dụng một cách lén lút ở những người bị phụ thuộc rượu. Vài chuyên gia đánh giá rằng đó là một bước tiến thật sự để điều trị một bệnh lý mà để chống lại chúng y khoa tương đối còn bất lực. Những chuyên gia khác cho rằng hiện nay đã không có gì được chứng mình một cách rõ ràng. Lập trường mới này của Cơ quan hữu trách dược phẩm, hẳn làm an lòng các thầy thuốc hiện nay đang kê đơn thuốc cho hơn 30.000 bệnh nhân, ngoài khuôn khổ luật pháp, vì lẽ baclofène cho đến nay đã chỉ được cho phép sử dụng để chống lại vài rối loạn thần kinh.

    “ Mặc dầu tính hiệu quả của baclofène trong điều trị chứng phụ thuộc ruợu (alcoolodépendance) cho đến nay vẫn chưa được chứng minh, nhưng những dữ kiện mới cho thấy những lợi ích lâm sàng ở vài bệnh nhân, Afssaps đã nhấn mạnh như vậy. Về việc sử dụng này ngoài khuôn khổ AMM (autorisation de mise sur le marché) hiện nay, những dữ kiện của pharmacovigilance tuy rất hạn chế nhưng không đặt lại vấn đề về sự theo đuổi của loại điều trị này.” Một cách rõ ràng, Afssaps bật đèn xanh cho sự tiếp tục những điều trị đã được thực hiện.

    Baclofène được thương mãi hóa dưới dạng thuốc viên bởi groupe pharmaceutique Novartis với tên Liorésal và bởi Sanofi dưới tên Baclofène Zentiva.

    Vào năm 2008, Olivier Ameisen, thầy thuốc chuyên về tim, công bố một tác phẩm tự thuật, Le Dernier Verre, trong đó ông kể lại những năm tháng nghiện rượu của mình và sự hồi sinh của ông nhờ một loại thuốc được sử dụng với liều mạnh, baclofène, đã khiến ông trở nên hững hờ với rượu. Ông đã khám phá loại thuốc này lúc đọc những tạp chí khoa học nêu lên tác động của baclofène trong sự cai nghiện thực nghiệm của cocaine và rượu ở động vật phòng thí nghiệm. Nhiều thầy thuốc đa khoa ở Pháp quyết định sử dụng baclofène đối với những bệnh nhân không thể thoát khỏi một sự phụ thuộc rượu, làm suy mòn cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp.

    Vào tháng ba năm 2012, tạp chí Alcohol Alcoholism công bố những kết quả đầu tiên của một điều tra về những lợi ích và những nguy cơ của bacloène ở những người phụ thuộc rượu, được tiến hành dưới sự chỉ đạo của GS Philippe Jaury (đại học Paris V). Những kết quả cho thấy rằng thuốc hiệu quả trong 56% các trường hợp, tuy nhiên với những tác dụng phụ và nhất là một trạng thái ngủ gà năng lúc đầu điều trị. Có lẽ chính sự công bố công trình nghiên cứu này đã khiến Cơ quan các sản phẩm y tế chấp nhận một cách chính thức sự kê đơn baclofène tùy theo từng trường hợp. Thật vậy kê đơn trong loại thuốc ngoài những bệnh lý được xác định lúc cho phép đưa ra thị trường là bất hợp pháp.

    “ Một sự hiểu biết tốt hơn về profil an toàn sử dụng của baclofène trong khuôn khổ này là tuyệt đối cần thiết và biện minh cho việc duy trì một sự theo dõi rất tích cực của Afssaps và của những người hành nghề y tế ”, cơ quan các sản phẩm y tế đã ghi chú như vậy. Cơ quan này nhắc lại rằng sự điều trị chứng phụ thuộc rượu hàm ý một phương pháp toàn bộ bởi các thầy thuốc có kinh nghiệm trong sự theo dõi loại các bệnh nhân này. Theo Afssaps, việc nhờ đến baclofène phải được xét đến theo từng trường hợp và với một sự thích ứng liều lượng theo từng cá thể nhằm đảm bảo trong thời gian liều hữu ích đối với mỗi bệnh nhân.

    Thật vậy, trong khuôn khổ của chứng phụ thuộc rượu, baclofène được sử dụng với những liều cao hơn nhiều những liều được sử dụng trong thần kinh học để điều trị bệnh xơ cứng rải rác hay ở những người bị bại liệt hai chi.

    Sau hết, bằng cớ xác định về tính hiệu quả của baclofène chỉ được chứng tỏ với những kết quả của một thử nghiệm so sánh loại thuốc này với một placebo. Trong mục tiêu này, Afssaps vào tháng tư 2012 tuyên bố đã cho phép khởi động một thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát, được mệnh danh là “bacloville”, ở những bệnh nhân uống rượu với nguy cơ cao, sẽ được theo dõi trong ít nhất một năm.
    (LE FIGARO 26/4/2012)

    10/ NGUYÊN NHÂN NỘI TẠI CỦA CHỨNG ĐÁI DẦM

    Ngủ là một hoạt động phức tạp hơn nhiều điều mà ta hằng tưởng ! Để ngủ được điều đó, nhiều tham số phải được điều hòa, như tần số tiểu tiện (fréquence d’urination), nói chung giảm rất nhiều vào ban đêm. Như thế nào ? Đó là điều mà các nhà nghiên cứu Nhật Bản vừa khám phá : đồng hồ sinh học nội tại (horloge biologique interne) của chúng ta được lập chương trình để làm gia tăng khả năng tích trữ của bàng quan trong khi ta ngủ. Thật vậy, ở những con chuột lành mạnh, lượng connexine 43, một protéine có liên hệ trong hoạt động của các tế bào cơ bao quanh bàng quang, giảm trong thời kỳ ngủ. Những cơ này khi đó co thắt ít hơn, và bàng quang tống xuất nước tiểu ít hơn. Tuy nhiên, ở các con chuột mà đồng hồ nội tại bị rối loạn, lượng protéine này vẫn không thay đổi và tần số tiểu tiện gia tăng. Khám phá này mở ra một hướng giải thích, và nhất là một hướng điều trị đối với những trường hợp đái dầm (pipis au lit) rất thường gặp của vài trẻ em, cũng như đối với những cơn buồn tiểu thường đánh thức những người già dậy. Thật vậy, “ đồng hồ sinh học ngày đêm ” (horloge circadienne) chưa hoàn toàn thành thục ở các trẻ em, và thường bị rối loạn ở những người già, Akihiro Kanematsu, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Nhà nghiên cứu này hiện đang theo đuổi một hướng nghiên cứu bổ sung liên quan đến sự điều hòa sản xuất nước tiểu bởi thận.
    (SCIENCE ET VIE 7/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (4/9/2012)

    Edited by user Friday, September 7, 2012 4:26:25 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    thanks 2 users thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
    Hoàng Thy Mai Thảo on 9/4/2012(UTC), Ngọc Anh on 9/20/2012(UTC)
    lly (Lynn Ly)  
    #6 Posted : Thursday, September 13, 2012 4:59:25 AM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 280

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH



    1/ SEMMELWEIS, NGƯỜI TRUYỀN BÁ VIỆC RỬA TAY.

    Người thầy thuốc Hung gia lợi này đã là người đầu tiên nhận xét rằng các phụ nữ không còn bị chết nữa lúc sinh đẻ khi người đỡ đẻ rửa tay. Ông chết trong một trại tâm thần vì những lý thuyết của ông đã bị xem là điên rồ.

    Ngày nay khó mà tin được rằng vào giữa thế kỷ XIX ở châu Âu, một thầy thuốc đã bị khai trừ bởi các đồng nghiệp, bị đuổi khỏi các bệnh viện và các nhà hộ sinh, bị xem là nửa điên nửa khùng, bởi vì ông khuyên nhân viên rửa tay trước mọi can thiệp và lau chùi kỹ càng những dụng cụ được sử dụng. Ngày nay, kẻ nào không tôn trọng những quy tắc như thế sẽ bị phạt tù. Philippe Ignace SEMMELWEIS, thầy thuốc người Hung gia lợi, đã phát biểu những nguyên tắc cơ bản của phương pháp vô trùng (asepsie) (chống lại sự đưa các vi trùng vào trong cơ thể), sau khi đã có trực giác thực nghiệm (intuition expérimentale) về tính chất nhiễm trùng của sốt hậu sản (fièvre puerpérale), kiểu nhiễm trùng huyết đã là nguyên nhân của một cuộc tàn sát thật sự các sản phụ trong các nhà hộ sinh châu Âu vào những thế kỷ XVIII và XIX.

    Vào năm 1846, ở dưỡng đường toàn khoa thành phố Vienne, nơi SEMMELWEIS hành nghề, khoa sản được tách đôi do tầm quan trọng về số lượng các bệnh nhân. Những sinh viên y khoa làm việc dưới sự lãnh đạo của GS Klin làm việc trong khu đẻ (pavillon d’accouchement) thứ nhất, còn những học trò nữ hộ sinh thì dưới sự chỉ đạo của GS Bartch trong khu đẻ thứ hai. Là phụ tá của GS Klin, SEMMELWEIS ngay khi đến đã xác minh điều mà mọi người ở Vienne đều biết : Người ta chết nhiều ở khu đẻ của GS Klin hơn là khu đẻ của GS Bartch.

    Điều chứng thực này là cốt yếu cho con đường tri thức và khoa học của ông. Bởi vì ở SEMMELWEIS, sự quan sát (observation) luôn luôn đi trước sự thí nghiệm (expérimentation). Và người đàn ông này không thừa nhận mọi hình thức của định mệnh. Dưới cái nhìn của Céline (người đã dành cho ông luận án y khoa của mình) SEMMELWEIS là một anh hùng của sự sống (un héros de la vie). Lòng nhiệt thành của người chữa khỏi bệnh nơi ông đã khiến ông rời bỏ những con đường, không đưa đến đâu, những con đường của nếp cũ và của sự nhẫn nhịn ;

    “ NGƯỜI TA CHẾT ÍT HƠN Ở GS BARTCH ”

    Những sự kiện làm ông bối rối. Ở Vienne, các phụ nữ đẻ ở nhà ít bị sốt hậu sản hơn những phụ nữ đẻ ở khoa sản ; ngay cả trong tình trạng đơn độc và lạnh lẽo của đường phố, những nguy hiểm ít hơn. SEMMELWEIS không ngừng trở lại nhận xét ban đầu : Người ta chết ít hơn ở GS Bartch. Được cho phép thực hiện những nghiên cứu, ông gợi ý rằng các nữ hộ sinh ở khu đẻ thứ hai nên được hoán đổi với những sinh viên y khoa năm thứ nhất. Rất nhanh chóng, mọi người đều chứng thực rằng, từ nay người ta chết ít hơn ở GS Klin. Thế là GS Bartch khiếp sợ đòi các học sinh nữ hộ sinh trở lại làm việc ở khu đẻ của ông. Kinh nghiệm này đã cho phép Semmelweis thực hiện một bước khổng lồ về phía ánh sáng. Ông đã hiểu rằng vấn đề là phải tìm kiếm về phía những sinh viên tập sự.

    Để nắm lại tình hình, GS Klin tầm thường buộc tội những sinh viên ngoại quốc và ra lệnh trục xuất họ. Trong 4 tuần tỷ lệ tử vong hạ xuống, nhưng câu hỏi vẫn tồn tại. Được triệu tập bởi Louis XVI vào năm 1774 sau một trận dịch sốt hậu sản, Collège de médecins de Paris đã tìm một cách hoài công câu trả lời về phía sữa. Ở Vienne, 70 năm sau, người ta lần lượt lên án sự thô bạo của các sinh viên, đạo đức đáng ngờ của các bà mẹ trẻ, sự lạnh lẽo, chế độ ăn uống, mặt trăng và ngay cả chiếc chuông nhỏ của các linh mục đến để làm lễ xức dầu thánh cuối cùng : chiếc chuông này sinh lo âu.

    Nhưng Sommelweiss, mặc dầu bị khiển trách là bất kính, vẫn không chịu buông tha : những nguyên nhân thuộc về vũ trụ, về đất, về độ ẩm mà người ta nêu ra để giải thích sốt hậu sản không thể có giá trị vì người ta chết ở GS Klin nhiều hơn ở GS Bartch, ở bệnh viện nhiều hơn ở thành phố, nơi này mặc dầu vậy những điều kiện về vũ trụ, về đất và tất cả những gì mà người ta muốn đều giống như nhau. Đôi mắt hướng về phía các sinh viên, ông tưởng ra rằng có một mối liên hệ giữa những tai nạn chết người gây nên do những vết cắt tử thi ở những buổi phẫu tích và sự tử vong của các phụ nữ khi sinh đẻ. Mặc dầu không có một dụng cụ nào cho phép ông quan sát những chất vi thể mà ông buộc tội. Ông gợi ý rằng các sinh viên phải rửa tay trước khi vào phòng đẻ. Thật bất hạnh cho ông là ông không có thể đề nghị một lý thuyết. Vào ngày 20/10 năm 1846 ông bị cách chức.

    Từ đó, cơ quan ông làm việc sẽ trở thành một nỗi ám ảnh. Vào tháng ba năm 1847, cái chết của người bạn thân của ông BS Kolletschka, chết vì một nhiễm trùng toàn thể sau khi bị thương ở ngón tay do một sinh viên gây nên trong lúc phẫu tích xác chết, soi sáng Semmeilweiss một cách vĩnh viễn. “ Ý niệm về sự giống hệt của căn bệnh chết người này với nhiễm trùng hậu sản gây tử vong các sản phụ đến đột ngột trong tâm trí tôi, một cách rõ ràng, đến độ tôi từ đó ngừng không đi tìm kiếm những nơi khác. Viêm tĩnh mạch..viêm mạch bạch huyết..viêm phúc mạc..viêm màng phổi …viêm màng ngoài tim…viêm màng não …tất cả đều ở đó ! ” SEMMELWEIS hăng say đã hiểu rằng nguồn gốc của tử vong phải được tìm kiếm về phía những dịch tiết tử thi làm bẩn các ngón tay của các sinh viên khi đi ra khỏi phòng giải phẫu tử thi. Nhưng ở giữa thế kỷ XIX, những hạt này vẫn còn không thấy được bởi kính hiển vi. Điều duy nhất có thể đoán sự hiện diện của chúng, đó là mùi của chúng !

    “ ĐỤNG CÁC VI TRÙNG MÀ KHÔNG THẤY CHÚNG ”

    Vào tháng năm 1847, khi SEMMELWEIS, sau khi đã tìm lại được chức vụ của mình, đòi hỏi các sinh viên phải rửa tay với một dung dịch chlorure de chaux trước khi vào phòng chuyển dạ, nhiều người nhìn ông như một người cuồng tưởng. Và không ai muốn hiểu rằng tỷ lệ tử vong trong khoa của BS Klin sụt xuống từ 12% còn 3%. Nhưng SEMMELWEIS vẫn bướng bỉnh. Vì nghi ngờ không những chất độc từ tử thi, mà còn tất cả những chất đang quá trình thối hỏng, ông yêu cầu rửa tay phải được thực hiện một cách hệ thống trước khi đỡ đẻ và ông mở rộng mối ưu tư khử trùng bằng dung dịch chlorure de chaux này cho tất cả các y cụ và tất cả dụng cụ. Ai sẽ tin ông ? Ở Vienne, những khám phá này mang lại cho ông một mối hận thù và ganh tỵ hầu như khắp nơi.SEMMELWEIS viết khắp toàn châu Âu, nhưng không nhận được bao nhiêu hỗ trợ. Sau hai năm thử nghiệm mặc dầu có kết quả, một lần nữa ông bị cho thôi việc.

    Mệt mỏi, hay cáu giận và bực tức cau có, Semmelweis trở nên một thầy thuốc lang thang. “ Các bàn tay, chỉ cần đụng chúng cũng có thể gây nhiễm, ông nhắc lại cho tất cả những ai sẵn lòng muốn nghe ông. Người ta tin là ông nửa điên nửa khùng. Cái bất hạnh của ông là “ chạm vi trùng mà không thấy chúng ” , Céline đã viết một cách đúng như vậy. Ông phải chờ đợi hai năm trước khi tìm lại một việc làm trong một khoa sản của Budapest, thành phố quê quán của cha ông. Nhưng ở đó người ta cấm ông không được nói đến chuyện rửa tay. Đừng nhiều chuyện..Vào năm 1861, ông công bố một cuốn sách mà ông đã soạn thảo một cách bí mật để biện minh cho học thuyết của ông : Căn nguyên của sốt hậu sản, thực chất và sự phòng ngừa. “ Không phải các cảm giác của tôi có vấn đề, mà chính mạng sống của những kẻ không tham gia vào cuộc đấu tranh. Mối an ủi của tôi là ở niềm tin đã xây dựng một học thuyết về chân lý.”

    Không được ai biết đến, không được đánh giá đúng mức, bị khinh bỉ, SEMMELWEIS bất hạnh rơi vào trong một tình trạng nguy khốn tận cùng. Vào tháng bảy năm 1865, ông làm rối loạn một buổi họp của phân khoa y của đại học Budapest lúc đọc lời thề của các nữ hộ sinh. Các đồng nghiệp dẫn ông vào nhà thương điên của thành phố Vienne. Không phải sự mê sảng đã giết chết ông mà là một nhiễm trùng mắc phải lúc chích ngón tay giữa trong khi giải phẫu tử thi một trẻ sơ sinh. Viêm mạch bạch huyết..viêm phúc mạc..viêm màng phổi … Semmeilweiss biết rõ đường đi của bệnh tật. Ông là người thầy thuốc đầu tiên đã vạch ra nó. Ông mất ngày 14 tháng 8 năm 1865 do bị nhiễm mủ huyết (pyohémie), một căn bệnh mà ông đã xác định vài nguyên nhân nhưng không ai sẵn lòng nghe ông trong chuyên luận của ông L’étiologie de la fièvre puerpérale, trong đó ông đã viết : “ Sốt hậu sản là một loại mủ huyết.”

    “ LUÔN LUÔN HAI HOẶC BA KẺ CHẾT VÌ LÝ TƯỞNG ”

    Chỉ sau khi SEMMELWEIS qua đời mà lý thuyết về những nhiễm trùng mới được soạn thảo. Ở Pháp, vài thập niên sau SEMMELWEIS mới sẽ được phục hồi danh dự và được một sự vinh danh hậu tử rất đặc biệt. “ GS Chauffard, khi mang lại cho chúng tôi vinh dự biện luận luận án của chúng tôi, đã nhận xét một cách đúng đắn rằng luôn luôn có hai hoặc ba thánh tử đạo cho mỗi trường hợp khám phá ”, Louis Destouches đã viết như vậy vào tháng sáu năm 1925 trong Presse médicale. Ở tuổi 31, thầy thuốc trẻ, vào nghề năm 1919, chưa được biết tiếng trong tư liệu dưới tên Louis-Ferdinand Céline. Một năm trước đó, ở đại học y khoa Paris ông đã bảo vệ luận án y khoa bác sĩ dành cho Philipe Ignace SEMMELWEIS.

    Trong luận án của mình, BS Louis Destouches nhấn mạnh về nỗi ghê sợ. Chỉ riêng năm 1846, ông đưa ra con số 96% tỷ lệ tử vong trong số những sản phụ của khoa sản của GS Klin. Vài tuần sau khi công bố bài báo của mình trong Presse médicale, BS Tiberius de Gyory, giáo sư đại học Budapest, đã làm giảm bớt những thông kê này đồng thời thú nhận sự thân phục của mình đối với công trình của thầy thuốc vệ sinh học trẻ tuổi. “ Sự thật là tỷ lệ tử vong đạt con số 16 và 31 trên 100 trường hợp đẻ (lần lượt trong các khoa sản của GS Barth và GS Klin). Phải bằng lòng với những con số khủng khiếp này.” Vậy Tiberius de Gyory đã chỉnh Louis Destouches lúc viện dẫn bài học khai trương về SEMMELWEIS được thực hiện ở bệnh viện sản khoa Baudelocque ở Paris, ngày 9 tháng 11 năm 1906, bởi GS Adolphe Pinard, một trong những cha đẻ của puériculture hiện đại. Được đăng lại trong Presse médicale cùng năm đó, bài học đưa ra một cách giải thích được cân nhắc hơn, nhưng ít thống thiết hơn của Céline, về số phận của vị thầy thuốc đã bị rơi vào trong tình trạng điên rồ sau khi bị đuổi 2 lần khỏi bệnh viện toàn khoa Vienne, một lần đầu vào năm 1846, một lần thứ hai vào năm 1849.
    (LE FIGARO 6/8/2012)

    2/ CANNABIS LÀM RỐI LOẠN DÀI LÂU NÃO BỘ

    Sự tiêu thụ trong thời kỳ thiếu niên có một ảnh hưởng đến tuổi trưởng thành.

    DROGUE. Có những công trình nghiên cứu cần có thời gian. Ví dụ, việc đánh giá tác động dài lâu của sự tiêu thụ cannabis lên các hiệu năng của não bộ đã cần gần 40 năm. Chính nhờ công trình nghiên cứu Dunedin, tên của một thành phố nhỏ của Tân Tây Lan (nơi công trình nghiên cứu được tiến hành), mà ngày nay ta biết nhiều hơn về những hậu quả của một thuốc ma túy, sau cùng không phải là nhẹ như ta hằng tưởng. Một nhóm 1.037 trẻ em sinh vào năm 1972-1973 đã được theo dõi một cách đều đặn vào lúc 5,7,9,11,13,15,18,21,26,32 và 38 tuổi !

    Những kết quả đáng quan ngại, bởi vì các nhà khoa học Tân tây lan, được hỗ trợ bởi những nhà nghiên cứu của Đại học Duke (Hoa Kỳ) và của King’s College de Londres, xác nhận tính dễ thương tổn lớn nhất của não bộ của các thiếu niên đối với độc tính thần kinh (neurotoxicité) của cannabis. Điều ta đã từng nghi ngờ, từ nay đã được chứng minh.

    Thật vậy, ở tuổi 38, những người đã từng tiêu thụ cannabis vào thời thiếu niên đã đánh mất vài điểm của thương số trí tuệ (quotien intellectuel). Lên đến 8 điểm ít hơn đối với những trẻ của công trình nghiên cứu Dunedin ; những trẻ này đã là những người tiêu thụ đều đặn nhất trong suốt nhiều năm. Dĩ nhiên đó không phải là trường hợp đối với những người đã không bao giờ hút cannabis.

    Và lần này, không thể lập luận rằng sự giảm các hiệu năng của não bộ của những người hút cannabis là do một sự dị biệt đã có trước khi tiêu thụ, vì lẽ các trẻ được theo dõi từ tuổi trẻ nhất.

    Điểm mạnh khác của công trình nghiên cứu này, được công bố hôm nay trong các báo cáo của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ (PNAS), là tính chất đáng tin cậy của các câu trả lời. Các nhà nghiên cứu cũng đã thận trọng loại bỏ những yếu tố khác khả dĩ làm rối loạn tính hiệu lực của các trắc nghiệm, thí dụ sự tiêu thụ cannabis trong tuần lễ trước, tình trạng phụ thuộc rượu hay một chất ma túy khác, số năm đi học. Mỗi lần như thế một sự khác nhau được xác nhận giữa những người tiêu thụ cannabis và những người khác, ưu thế về phía những người không sử dụng cannabis.

    Nhưng những bất thường không chỉ ở các test psychométrique, chúng dường như cũng được thể hiện trong đời sống hàng ngày. Như trong nhóm của Dunedin : “ Những người đã tuyên bố sử dụng đều đặn cannabis cũng là những người báo cáo, ở năm 38 tuổi, nhiều vấn đề nhất về trí nhớ và khả năng chú ý.”

    NHỮNG DI CHỨNG KHÔNG THỂ ĐẢO NGƯỢC

    Ngoài ra, bắt đầu hút ở tuổi thiếu niên, vào lúc mà sự thành thục của não bộ chưa được kết thúc, gây nên một sự mất lớn hơn thương số thông minh so với những người đã bắt đầu ở tuổi người lớn. Sau cùng, những di chứng không thể đảo nghịch không được loại trừ vì lẽ, các tác giả đã nhận xét như vậy, “ việc ngừng hút không phục hồi hoàn toàn các chức năng thần kinh tâm lý của những kẻ đã bắt đầu ở tuổi thiếu niên ”. Thế mà những thống kê cho thấy rằng chính ở tuổi thiếu niên có nhiều nguy cơ nhất khi bắt đầu hút cannabis.

    Ngay năm 2008, những công trình nghiên cứu đã cho thấy những biến đổi hóa thần kinh (altérations neurochimiques) kéo dài của não bộ chuột bị tiếp xúc với cannabis trong một thời kỳ tương ứng với thời kỳ thiếu niên ở người. Các nhà nghiên cứu khi đó gợi ý sự hiện diện của một intervalle de vulnérabilité neurale gia tăng khi tiếp xúc với cannabis. Cách nay hai năm, chính GS John Churchwell và các đồng nghiệp neurobiologiste thuộc đại học Utah, đã nhận diện ở những thiếu niên, nhờ IRM, một sự giảm thể tích của vỏ não trước trán của những người tiêu thụ cannabis. Ngoài ra, vùng này, vốn đóng một vai trò trong sự hoạch định, ra quyết định và kiểm soát tính xung động (impulsivité), càng bị ảnh hưởng nếu những người hút bắt đầu càng sớm.

    Năm vừa qua, chính một công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí Behavioural Brain Research đã nói về bước ngoặt quan trọng của tuổi thiếu niên, trên bình diện thần kinh : Ngay cả những bất thường thực thể không luôn luôn hàm ý những bất thường chức năng, nhưng chúng gợi ý rằng những bất thường của vỏ não và của insula được quan sát ở những thiếu niên tiêu thụ cannabis có thể ảnh hưởng lên những năng lực quyết định của chúng và làm gia tăng sự thúc đẩy phải tiêu thụ mặc dầu những hậu quả âm tính. Đối với các nhà nghiên cứu Tân tây lan, những biện pháp phòng ngừa hướng về các thiếu niên phải được tăng cường.
    (LE FIGARO 28/8/2012)

    3/ LÀM SAO PHÒNG NGỪA NGUY CƠ GÃY XƯƠNG Ở TUỔI MÃN KINH ?

    Docteur Florence Trémollieres
    Maitre de conférences-praticien hospitalier
    Responsable du centre de ménopause
    Hôpital de Viguier (CHU de Toulouse)


    Chứng loãng xương (ostéoporose) là một bệnh khuếch tán của khung xương, được đặc trưng bởi một tình trạng mỏng manh quá mức của xương (une fragilité osseuse excessive), chịu trách nhiệm một sự gia tăng nguy cơ gãy xương lúc bị chấn thương nhẹ. Gần 200 triệu người trên thế giới bị bệnh loãng xương. Tỷ lệ mắc bệnh gia tăng với tuổi tác, đặc biệt hơn ở phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, do sự đánh mất tác dụng bảo vệ của oestrogène lên khung xương.

    Bệnh loãng xương có thể được chẩn đoán ở một giai đoạn sớm nhờ đo mật độ khoáng của xương (DMO : densité minérale osseuse) ở các đốt xương sống vùng thắt lưng và cổ xương đùi. Tổ chức y tế thế giới vào năm 1994 đã xác lập một định nghĩa “ densitométrique ” của chứng loãng xương căn cứ trên một sự giảm trị số của DMO trên 2,5 écarts-types của trị số cực đại của người trưởng thành trẻ (score T). Sự sụt giảm mật độ khoáng của xương (DMO) phải được xem như một yếu tố nguy cơ gây gãy xương, tương tự như huyết áp động mạch hay nồng độ cholestérol trong máu biểu hiện một yếu tố nguy cơ tim mạch. Trên bình diện cá thể, việc đo DMO đơn độc không đủ để tiên đoán nguy cơ gãy xương, cũng như một T-score – 2,5 không nhất thiết là một ngưỡng can thiệp điều trị (seuil d’intervention thérapeutique). Ngoài T-score, phải xét đến những yếu tố như tuổi tác, trạng thái mãn kinh và những yếu tố nguy cơ lâm sàng khác như thí dụ những tiền căn cá nhân về gãy xương hay ý niệm về một tố bẩm gia đình (prédisposition familiale).

    Trên thực tế, ở phụ nữ, tuổi tác, và do đó ý niệm thời kỳ mãn kinh, là những yếu tố nguy cơ quan trọng về sau của gãy xương, độc lập với trị số DMO. Nguy cơ gãy xương như thế, ngay cả trong trường hợp giảm DMO, trước mãn kinh vẫn luôn luôn thấp hơn sau mãn kinh. Sự ngấm oestrogène của mô xương ngăn cản xương bị phá hủy và gìn giữ những tính chất vi cấu trúc của nó. Những yếu tố khác phải được xét đến, nhất là một masse musculaire cao hơn và một nguy cơ té ngã rõ rệt ít hơn ở những phụ nữ già. Theo các công trình nghiên cứu, tỷ lệ gãy do loãng xương (fracture ostéoporotique) là 2 đến 5/1000 phụ nữ /năm trước thời kỳ mãn kinh trong khi tỷ lệ lên đến 16/1000 phụ nữ mỗi năm sau tuổi 50. Đối với gãy xương cổ tay, là biến cố xảy ra sớm nhất, tỷ lệ khoảng 1/1000 phụ nữ cho đến năm 55 tuổi, và chỉ gia tăng một cách đáng kể sau lứa tuổi này.

    Tuổi dậy thì là thời kỳ chủ yếu đối với sự tăng trưởng và sự thành thục của khung xương. Ngay cuối thời kỳ thiếu niên, sự khoáng hóa của khung xương gần như được hoàn thành và hơn 90% toàn bộ vốn khoáng của xương (capital minéral osseux total) ở người trưởng thành đã đạt được. Mức tối đa của khối khoáng xương (masse minérale osseuse) vào cuối thời kỳ tăng trưởng là yếu tố quyết định chủ yếu của nguy cơ bị loãng xương sau này. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là yếu tố di truyền, nhưng cũng phụ thuộc vào hormone (tác động của tuổi dậy thì), cũng như hoạt động vật lý và sự dinh dưỡng (calcium, protides, vitamine D…). Vậy mặc dầu điều quan trọng là khuyến khích ở các thiếu niên một chế độ ăn uống giàu những sản phẩm sữa hay việc thực hành một hoạt động thể thao có va chạm (chạy, sports de balle..), nhưng những công trình nghiên cứu khác nhau về việc cho bổ sung calcium để tối ưu sự có được xương vào cuối thời kỳ dậy thì lại tương đối gây thất vọng.

    Phần lớn những trường hợp thiếu hụt xương được tìm thấy ở một phụ nữ không mãn kinh và ở ngoài những trường hợp làm dễ (các bệnh hay những thuốc điều trị có tác dụng làm mất chất khoáng) là do không có được vốn khoáng xương (capital minéral osseux) liên kết với những yếu tố tố bẩm di truyền. Như thế, những cô gái của những bà mẹ bị chứng loãng xương có một vốn xương thấp hơn những cô gái có những bà mẹ không bị bệnh lý này. Những nguyên nhân được gọi là thứ phát (bệnh, các điều trị) chiếm từ 40 đến 60% những nguyên nhân loãng xương của phụ nữ trẻ trong khi chúng chỉ được tìm thấy trong dưới 20% các trường hợp ở phụ nữ mãn kinh.

    Chẩn đoán loãng xương có thể được đặt ra ở một phụ nữ trẻ vừa bị gãy xương trong một trường hợp chấn thương nhẹ và buộc phải thực hiện một bilan căn nguyên nhằm tìm kiếm một nguyên nhân thứ phát. Nếu không có gãy xương, những chỉ định duy nhất để thực hiện một ostéodensitométrie ở một phụ nữ không mãn kinh là những bệnh lý làm mất chất khoáng (pathologies déminéralisantes) (ăn mất ngon tâm thần, tăng năng phó giáp trạng) và những thuốc điều trị gây loãng xương (corticoides, anti-aromatases…)

    NHỮNG BIỆN PHÁP VỆ SINH-TIẾT THỰC.

    Khi không có một nguyên nhân thứ phát, trong đại đa số các trường hợp, nguy cơ gãy xương không đủ cao ở một phụ nữ trẻ hành kinh bình thường để biện minh cho một điều trị gãy xương. Dẫu sao phải nhấn mạnh rằng những điều trị này không được phép trong những chỉ định này. Ngoài ra, vài loại thuốc (biphosphonates) đưa lên vấn đề về tính vô hại của chúng trong trường hợp thai nghén. Vậy ta nhấn mạnh chủ yếu về việc loại bỏ những yếu tố nguy cơ (thuốc lá, những chế độ ăn uống hạn chế) và ta ưu tiên những biện pháp vệ sinh-tiết thực cổ điển : cung cấp calcium khoảng 1000mg/ngày đồng thời ưu tiên nguồn cung cấp thức ăn (sữa, các sản phẩm sữa, các loại nước khoáng) ; tiếp xúc với ánh nắng mặt trời vừa phải nhưng đều đặn ; hoạt động vật lý đều đặn (bước nhanh, jogging) với nhịp độ 40-60 phút, 3 đến 4 lần mỗi tuần.

    Một đánh giá mới về nguy cơ gãy xương được chủ trương vào lúc mãn kinh nhằm thích ứng sự phòng ngừa mất xương sau mãn kinh.

    Như thế, những trường hợp loãng xương xảy ra ở phụ nữ không mãn kinh là hiếm hoi, thường do di truyền hay thứ phát những nguyên nhân có thể nhận diện và trong tất cả các trường hợp do một chuyên gia căn bệnh này đảm nhiệm.
    (LE FIGARO 3/9/2012)


    4/ CHO BỒ SUNG VITAMINE D, ĐƯỢC CHỦ TRƯƠNG SUỐT ĐỜI, CẦN THIẾT SAU 60 TUỔI.

    BS Jean-Claude Souberbielle, nhà sinh học của khoa thăm dò chức năng thuộc bệnh viện Necker-Enfants malades, giải thích tại sao sự tiêu thụ này phải được phổ cập.

    Hỏi : Một báo cáo mới đây trao cho Viên hàn lâm khoa học cho thấy rằng phần lớn những người Pháp bị thiếu hụt vitamine D. Lý do là gì ?
    BS Jean-Claude Souberbielle: Đó không hẳn là một vitamine, vì vitamine là một yếu tố cần thiết mà cơ thể không thể sản xuất được, còn vitamine D ta có thể tìm thấy trong thức ăn. Vitamine D được tổng hợp bởi da dưới tác dụng của các tia sáng mặt trời tử ngoại B (rayons solaires ultraviolets B). Cũng có, với nồng độ thấp, vài nguồn thức ăn như cá mỡ (saumon, hareng…). Ở Pháp, chúng ta không hưởng được một thời gian có ánh nắng mặt trời đầy đủ (chỉ một hay hai tháng) để có thể đáp ứng những nhu cầu của chúng ta quanh năm. Cần phải nói thêm rằng càng già da tổng hợp vitamine D ít hơn.

    Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi vai trò của vitamine này.
    BS Jean-Claude Souberbielle: Vitamine D cho phép cơ thể hấp thụ, qua ruột, calcium và phosphore. Do đó nó làm dễ sự khoáng hóa xương, chủ yếu được cấu tạo bởi phosphate và calcium.

    Hỏi : Ở Pháp, tần số của những thiếu hụt này ?
    BS Jean-Claude Souberbielle: Phần lớn các chuyên gia cho rằng có một sự không đủ với một nồng độ 30 nanogramme vitamine D mỗi ml. Ở Pháp, 80% dân số ở dưới mức 30 và khoảng 50% dưới mức 20 nanogramme. Thật là to lớn !

    Hỏi : Những hậu quả của một sự thiếu hụt là gì ?
    BS Jean-Claude Souberbielle: Khi sự thiếu hụt quan trọng và khi có carence (tương đối hiếm trong những nước phát triển của chúng ta), nó gây nên bênh còi xương (rachitisme) ở trẻ em và, ở người trưởng thành, bệnh nhuyễn xương (ostéomalacie). Nếu sự thiếu hụt ít hơn, nó có thể làm gia trọng một bệnh loãng xương. Từ vài năm nay, nhiều công trình nghiên cứu đă phát hiện mối liên hệ giữa việc thiếu vitamine D và vài bệnh ung thư (vú, đại trực tràng), vài bệnh nhiễm trùng, những bệnh tự miễn dịch khác (viêm đa khớp dạng thấp, bệnh đái đường loại 1), những bệnh lý huyết quản. Từ nay ta biết rằng một sự bất túc vitamine D ảnh hưởng lên tính miễn dịch..

    Hỏi : Trong những trường hợp nào phải tuyệt đối phải cho bổ sung vitamine D ?
    BS Jean-Claude Souberbielle: Những cung cấp bổ sung này cần thiết trong những trường hợp sau đây : 1. Ở trẻ em trong thời kỳ tăng trưởng, kể cả thời kỳ niên thiếu. Khi đó những nhu cầu được đánh giá giữa 600 đến 1500 đơn vị mỗi ngày (theo toa thuốc của thầy thuốc). 2. Ở phụ nữ mang thai ở tháng thứ 7 thời kỳ thai nghén. Thường ta kê đơn một liều duy nhất với một ampoule 100.000 đơn vị. 3. Sự cho bổ sung này trở nên cần thiết, ít nhất để phòng ngừa, ở mọi người (đàn ông và đàn bà) sau 60 tuổi. Ta thường khuyên hoặc là 1000 đến 1500 đơn vị mỗi ngày, hoặc một ampoule 100.000 đơn vị mỗi 1 đến 3 tháng.

    Hỏi : Những lợi ích quan trọng nhất của những cung cấp bổ sung này ?
    BS Jean-Claude Souberbielle: Vitamine D cho phép : 1. Làm giảm nguy cơ gãy xương do tác dụng của nó lên mô xương. 2. Làm giảm nguy cơ té ngã ở những người già. 3. Tối ưu hóa nhưng thuốc điều trị bệnh loãng xương, như biphosphonates. 4. Vài công trình nghiên cứu gợi ý một sự bảo vệ chống lại những bệnh nhiễm trùng. 5. Những tài liệu xuất bản khác phát hiện những tác dụng có lợi vừa phải lên huyết áp. 6. Theo vài nhà nghiên cứu, vitamine D cải thiện tính nhạy cảm đối với insuline, một tác dụng quan trọng đối với những người bị bệnh đái đường loại 2.

    Hỏi : Có những chống chỉ định đối với việc cho bổ sung này hay không ?
    BS Jean-Claude Souberbielle: Vitamine D phải được kê đơn bởi thầy thuốc, đó là điều ta thường quên. Với những liều rất mạnh, vitamine này có thể gây độc, dẫn đến tăng canxi-huyết liên kết với một tình trạng mệt mỏi cực kỳ, mửa, chán ăn, những vấn đề về thận… Những chống chỉ định, hiếm, chỉ liên quan đến những người bị bệnh granumomatose (thí dụ sarcoidose). Cũng có vài bệnh nhân có một sự tăng nhạy cảm đối với vitamine này.

    Hỏi : Vào mùa hè, ông cho những lời khuyên gì để da có thể hấp thụ tối đa các tia tử ngoại B ?
    BS Jean-Claude Souberbielle: Tôi chủ trương phải tiếp xúc với ánh nắng mặt trời ¼ giờ không bôi kem bảo vệ (nhưng không được nhiều hơn ! vì như thế nguy hiểm đối với da) bởi vì những loại kem bảo vệ này tác dụng như màn chắn đối với các tia tử ngoại B. Nhưng tôi không phải là thầy thuốc bệnh ngoài da..
    (PARIS MATCH 26/7 – 1/8/2012)

    5/ VITAMINE D CHỒNG LẠI BỆNH LAO

    “ Sinh tố của mặt trời ” (vitamine du soleil) làm giảm một cách rõ rệt phản ứng viêm liên kết với nhiễm trùng.

    INFECTIOLOGIE. Tác dụng dương tính của vitamine D chống lại bệnh lao được xác nhận. Một công trình nghiên cứu của Anh được công bố hôm thứ ba này trong Pnas (Proceedings of the National Academy), tạp chí của Viện hàn lâm khoa học, dự kiến ngay cả cho bổ sung vitamine D những người được điều trị kháng vi trùng chống lại những nhiễm trùng khác của phổi như những trường hợp viêm phổi.

    Hiện diện trong vài loại thức ăn (đặc biệt những cá mỡ), vitamine D có đặc điểm được tiết tự nhiên bởi cơ thể nếu được tiếp xúc (nhưng không quá mức, để tránh phát triển một ung thư da) với những tia tử ngoại B được phát ra bởi mặt trời, chủ yếu là vào mùa hè. Vai trò có lợi của vitamine D chống lại bệnh còi xương của trẻ em hay những bệnh của khung xương, như bệnh loãng xương (ostéoporose), bệnh nhuyễn xương (ostéomalacie), đã biện minh sự sử dụng hàng ngày bởi nhiều thế hệ trẻ em muỗng dầu gan cá thu nổi tiếng. Dầu gan cá thu này đã được thay thế từ 40 năm nay bởi vitamine D tổng hợp, có vị ít mạnh hơn, được cấp phát dưới dạng giọt hay ampoule.

    Ngược lại, công chúng biết ít hơn rằng sinh tố mà ta mệnh danh là“ vitamine của mặt trời ” có đặc điểm kích thích hệ miễn dịch và do đó giúp cơ thể của chúng ta chống lại vài tác nhân gây bệnh. Năm vừa qua, nhóm nghiên cứu được chỉ đạo bởi Adrian Martineau, thuộc National Institute of Medical Research, ở Londres, công bố trong Lancet một công trình nghiên cứu cho thấy rằng trực khuẩn Koch (tác nhân gây bệnh lao) bị trừ khử nhanh hơn ở những bệnh nhân được điều trị bởi kháng sinh và được cho bổ sung vitamine D, so với những bệnh nhân khác được điều trị với cùng những kháng sinh và một placebo.

    LÀM GIẢM ĐAU

    Phân tích đờm cho thấy rằng trực khuẩn Koch biến mất trong 36 ngày ở những người nhận bổ sung vitamine D so với 43,5 ngày ở những người nhận một placebo. Hoặc một dị biệt 7,5 ngày ít đáng kể. Ngoại trừ ở những bệnh nhân mang một biến thể đặc biệt của gène của thụ thể của vitamine D, trong trường hợp này dị biệt rõ rệt hơn nhiều. “ Điều đó cho thấy rằng vitamine D tối ưu điều trị kháng sinh ở những người có profil di truyền “ tốt ”, BS Jean-Claude Souberbielle, thầy thuốc chuyên khoa nội tiết thuộc bệnh viện Necker Paris, đã giải thích như vậy.

    Công trình nghiên cứu, được công bố hôm nay trong Pnas bởi cùng nhóm nghiên cứu, vượt qua một bước bổ sung khi cho thấy rằng vitamine D cũng làm giảm những tác dụng viêm của nhiễm trùng ở những bệnh nhân cùng nhóm đã tiếp tục nhận bổ sung vitamine D cho đến cuối thử nghiệm, và điều này dầu statut génétique của họ như thế nào. “ Khám phá này rất là đáng lưu ý nhất là trong trường hợp bệnh lao não hoặc tim, trong đó phản ứng viêm đặc biệt có hại , GS Jean-Paul Viard, thầy thuốc chuyên khoa truyền nhiễm thuộc bệnh viện Hôtel-Dieu (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Ngoài ra đây là lần đầu tiên mà ta tìm thấy một mô tả hoàn chỉnh như vậy về tác dụng của vitamine D lên những chỉ dấu của hệ miễn dịch.” Sau cùng, nhờ làm gia tốc quá trình chữa lành bệnh, vitamine D làm giảm thời kỳ trong đó người bệnh có khả năng lây nhiễm cũng như sự đau đớn do những thương tổn phổi gây nên.

    (LE FIGARO 4/9/2012)

    6/ NGÁY VÀ NGỪNG THỞ NGẮN LÚC NGỦ : NHỮNG HIỆU NĂNG CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI BẰNG LASER.

    BS Yves-Victor Kamani, thầy thuốc ORL thuộc bệnh viện Saint-Claud, giải thích những lợi ích của kỹ thuật vi xâm nhập mới nhất này.

    Hỏi : Những hậu quả khả dĩ của những đợt ngừng thở ngắn lúc ngủ (apnées du sommeil) là gì ?
    BS Yves-Victor Kamani: Đó là một vấn đề rất thường xảy ra ở những người ngáy (1 đến 5% dân số). Những đợt ngừng hô hấp này kéo dài ít nhất 10 giây nhưng không đánh thức dậy. Tuy nhiên, khi chúng xuất hiện quá thường xuyên, ta xem chúng như là một bệnh bởi vì những hậu quả của chúng là tai hại : mệt mỏi vào buổi sáng, tình trạng ngủ gà, nguy cơ gia tăng bị cao huyết áp, những biến chứng về tim… Ngáy ồn gây khó chịu khiến thường phải ngủ riêng phòng.

    Hỏi : Những nguyên nhân nguồn gốc của chứng ngáy và những đợt ngừng thở ngắn ?
    BS Yves-Victor Kamani: Tất cả đều có nguồn gốc là một sự tắc của đường hô hấp ở 3 mức. 1. Mũi : hoặc do vẹo vách ngăn, hoặc do các polype hay các cornet (những chỗ xương nhô của các hố mũi) quá to lớn. 2. Màng hầu (voile du palais) : quá dài, quá dày, làm tắc phần sau của họng. 3. Lưỡi : khi, quá lớn, lưỡi lệch ra sau, chận không cho không khí đi qua. 3 vấn đề này thường được liên kết với nhau.

    Hỏi : Làm sao ta bảo đảm chẩn đoán ?
    BS Yves-Victor Kamani: Trước hết bằng pharyngométrie acoustique, phương pháp siêu âm đường dẫn khí. Thăm dò này được tiếp theo bởi một ghi ngủ được thực hiện tại gia (enregistrement du sommeil à domicile) bằng các capteur và các điện cực.

    Hỏi : Ngoài mặt nạ hô hấp (masque respiratoire) phát air pulsé, ta phải nhờ gì để tái lập một giấc ngủ bình thường ?
    BS Yves-Victor Kamani: Nếu đó là những cornet cần phải giảm thể tích hay nếu đó là một vách mũi bị vẹo, điều trị thường nhất là ngoại khoa, dưới gây mê tổng quát. Bất tiện đối với bệnh nhân là phải chịu đựng các mèche trong mũi suốt hai ngày nhập viện để tránh xuất huyết (vùng mũi rất nhiều mạch máu). Trong trường hợp các polype, ta thử làm giảm kích thước bằng cách sử dụng cortisone, nhưng vài polype chỉ có thể được lấy đi nhờ phẫu thuật, và như vậy vẫn phải cần đặt mèche. Để điều chỉnh màng hầu quá dài hay quá dày, ta nhờ đến ngoại khoa và những điều trị bằng tần số phóng xạ (radiofréquence) (cần lập lại sau nhiều tháng). Đối với những người có lưỡi quá lớn, ta khuyên mang một orthèse dentaire, ban đêm giữ cho lưỡi đưa về phía trước.

    Hỏi : Những tiến bộ mới nhất được thực hiện để điều trị những vấn đề hô hấp này là gì ?
    BS Yves-Victor Kamani: Đã có nhiều giai đoạn. Những giai đoạn đầu, với sự xuất hiện của laser CO2, liên quan đến những vấn đề do màn hầu voile du palais) và những cornet quá lớn. Những động tác cũng giống với ngoại khoa nhưng có ưu điểm tránh xuất huyết và nhập viện. Hai hoặc ba buổi, dưới gây mê tại chỗ, khoảng 20 phút, cần thiết để lấy đi toàn bộ màng hầu hoặc làm giảm một nửa cornet. Mặc dầu đau ít mạnh hơn sau một phẫu thuật ngoại khoa, nhưng chúng có thể kéo dài 10 đến 15 ngày ngăn cản ăn uống một cách đúng đắn. Sau thời hạn này, chứng ngáy và những đợt ngừng thở ngắn phải biến mất. Nhiều công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, được thực hiện trên hàng trăm bệnh nhân, đã được công bố trong những tạp chí khoa học như The Laryngosope. Phần lớn đã chứng tỏ cùng tính hiệu quả.

    Hỏi : Kỹ thuật vi xâm nhập mới nhất còn cải thiện thêm sự thoải mái của bệnh nhân được thực hiện như thế nào ?
    BS Yves-Victor Kamani: Tiến bộ này có liên quan đến màn hầu, phải hủy bỏ những rung âm, chứ không còn cần phải lấy nó đi mà mở một lối đi qua cho không khí. Ta vẫn sử dụng tia laser CO2 để cắt nhưng thay vì cắt bỏ đi, ta chỉ làm một encoche ở giữa. Điều trị mới này (dưới gây tê tại chỗ với một spray) chỉ cần một buổi khoảng 5 phút. Hậu phẫu hai lần ít đau đớn hơn hậu phẫu trong trường hợp can thiệp cổ điển bằng laser. Chứng ngáy và những đợt ngắn ngừng hô hấp nói chung biến mất sau một tuần. Hoạt động có thể tái tục ngày sau phẫu thuật. Ta bảo tồn cơ của lưỡi gà (luette), điều này sẽ cho phép duy trì một sự nuốt tốt.

    Hỏi : Những thử nghiệm nào đã xác nhận những lợi ích này ?
    BS Yves-Victor Kamani: Công trình nghiên cứu của Pháp được tiến hành bởi nhóm nghiên cứu của chúng tôi ở bệnh viện Saint-Cloud, đã chứng minh những ưu điểm quan trọng của tiến bộ này. Đuợc trình bày nhân hội nghị của Viện hàn lâm ORL Hoa Kỳ, chúng tôi được trao một văn bằng danh dự của hiệp hội khoa học này.
    (LE FIGARO 24/5-30/5/2012)

    7/ PHÁT HIỆN HIV : MỘT AUTOTEST Ở HOA KỲ

    FDA, cơ quan chính phủ của Hoa Kỳ, vừa cho phép thương mãi hóa một trắc nghiệm tự làm lấy (autotest) phát hiện nhanh virus của bệnh sida (OraQuik). Mọi người Mỹ đều sẽ có thể mua tự do trong các hiệu thuốc và drugstore ngay tháng 10 sắp đến với giá 17,50 dollars (14 euro). OraQuick cho kết quả trong 20 đến 40 phút, chỉ cần lấy nước miếng ở lợi răng. Trắc nghiệm này đáng tin cậy trong 99,98% các trường hợp khi người thử không bị lây bệnh và 92% khi họ bị nhiễm sida. Lý lẽ khiến FDA bật đèn xanh chủ yếu là do sự kiện rằng Hoa Kỳ có 1,2 triệu người bị lây nhiễm, trong đó 20% không biết là mình bị huyết thanh dương tính.

    8/ SỰ TÁI XUẤT HIỆN ÂM Ỉ CỦA BỆNH HO GÀ.

    Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Hòa Lan..nhiều nước phát triển đang đối đầu với những đợt bộc phát dịch đột ngột.

    VACCINATION. Bệnh ho gà chịu trách nhiệm 300.000 trường hợp tử vong mỗi năm trong những nước đang phát triển, nhưng căn bệnh dường như đang trở lại trong các nước phát triển.

    Hoa Kỳ đang đương đầu với điều rất có thể là trận dịch ho gà quan trọng nhất từ 50 năm nay. Do đó mối lo ngại của GS James Cherry, được tiếp sức bởi ấn bản on line của một trong tạp chí y khoa quốc tế uy tín nhất, New England Journal of Medicine, ngày 15 tháng 8 vừa qua. Chuyên gia Hoa Kỳ về bệnh ho gà ngay cả tự hỏi không biết sự tái xuất hiện này phải chăng là do một sự sụt giảm tính hiệu quả của vaccin được sử dụng. “ Những trận dịch quan trọng vào năm 2005, 2010 và bây giờ đây 2012 khiến ta lo lắng về những thất bại của thuốc chủng bạch hầu, uốn ván và ho gà không tế bào (vaccin diphtérie, tétanos et coqueluche acellulaire) ”, ông đã viết như vậy.

    Tuy nhiên trận dịch vẫn ở dưới mức của những trận dịch của thời kỳ trước khi tiêm chủng ; lúc đó ở Hoa Kỳ mỗi năm xảy ra hơn 270.000 trường hợp nhiễm trùng và khoảng 10.000 trường hợp tử vong. Mặc dầu vậy vài dấu hiệu cho thấy tình hình đáng quan ngại : số những trường hợp nhiễm trùng không ngừng gia tăng và các trường hợp tử vong phát triển. Bệnh ho gà đang giành lại lợi thế một cách chậm rãi : từ cao điểm 1000 trường hợp đã được quan sát năm 1973, ta đã chuyển qua 11.000 trường hợp năm 2003, và đã lên đến 21.000 trường hợp từ đầu năm nay. Và, nhất là, một trận dịch chưa từng có cách nay 2 năm đã gây tử vong cho 10 nhũ nhi ở Californie. Tính hiệu quả của vaccin khi đó đã bị đặt vấn đề.

    Tình trạnh lo lắng cũng xảy ra ở Anh. Giới hữu trách y tế liệt kê 2466 trường hợp từ đầu năm, so với 311 vào cùng thời kỳ của năm vừa rồi. 5 em bé đã bị chết năm nay và bố mẹ của một trong những em bé này (đã bị mắc phải nhiễm trùng lúc 1 tháng tuổi trước khi qua đời sau hai tuần ở phòng hồi sức) đã phát ra một lời kêu gọi đến những người trưởng thành để họ đi tiêm chủng. Bởi vì chính những người ở gần trẻ em, thường không được tiêm chủng đúng đắn hay đã quên tiêm chủng nhắc lại, có khả năng làm lây nhiễm các nhũ nhi dễ bị nhiễm trùng, bởi vì không được tiêm chủng trước 2 tháng.

    LÂY NHIỄM BỞI BỐ MẸ

    Bệnh ho gà là một bệnh đường hô hấp, được gây nên bởi một trực khuẩn, Bordetella pertussis, có đặc điểm được truyền rất dễ dàng trong không khí. “ Bệnh ho gà rất lây nhiễm, BS Nicole Guiso, trưởng Centre national de référence de la coqueluche thuộc viện Pasteur đã nhấn mạnh như vậy. Nếu như ta đặt 15 người trong một gian phòng với một người lây nhiễm trong một giờ, 15 người sẽ bị nhiễm trùng. ”

    Ngày xưa, các em bé bị lây nhiễm bởi nhưng em bé khác, nhưng từ nay chúng bị lây nhiễm bởi những người lớn. Vào năm 2011, 59% các trẻ em nhập viện ở khoa hồi sức đã bị lây nhiễm bởi bố mẹ chúng, theo mạng theo dõi Renacoq (chiếm khoảng 1/3 những trường hợp nhập viện ở khoa Nhi). Gần một nửa trong số 234 trường hợp nhập viện những trẻ em vì ho gà liên hệ đến những em bé dưới 3 tháng. Chính vì vậy các chuyên gia Pháp đã chủ trương chiến lược cocooning nhằm nhắc nhở những người thân của các nhũ nhi dưới 6 tháng rằng họ phải tiêm chủng nhắc lại chồng bệnh ho gà, để tránh nguy cơ gây nhiễm em bé.

    “ Ở Pháp, GS Floret, chủ tịch của Comité technique des vaccinations đã nhận xét như vậy, chúng tôi đã cho rằng chiến lược không nhằm loại trừ bệnh ho gà, điều này có lẽ không tưởng và áp đặt những tiêm chủng nhắc lại đều đặn ở người lớn, nhưng là để tránh sự lây nhiễm ở những người suy yếu nhất tránh mắc phải những thể nặng và có thể chết vì thế, và những nhũ nhi dưới 6 tháng.”

    Tình hình của chúng ta là khá thuận lợi, BS Guiso đã nói rõ như vậy : “ Ở Californie, tiêm chủng các nhũ nhi dưới 1 năm chỉ là 83% trong khi tỷ lệ này trên 95% ở Pháp.” GS Floret cũng cảm thấy an lòng : “ Ở Pháp ta không thể nói rằng chúng ta đang có một tình hình dịch bệnh đáng lo ngại vào lúc này.”

    Về phía công nghiệp dược phẩm, người ta đã không phát hiện thấy sự sụt giảm của tính hiệu quả của vaccin. Đối với BS Evlyne Caulin, phụ trách các thuốc chủng của nhi đồng, ở phòng bào chế Sanofi-Pasteur-MSD, mục tiêu từ nay là“ gia tăng công tác tiêm chủng và, đặc biệt sự tiêm chủng các thiếu niên và những người lớn bởi vì các nhũ nhi được tiêm chủng tốt. ” Cách nay vài tuần, Hoa Kỳ còn đi xa hơn khi khuyến nghị tiêm nhắc lại cho những người hơn 65 tuổi. Thật vậy, những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng vi khuẩn ở lứa tuổi này thường được gặp 100 lần nhiều hơn so với những người trưởng thành trẻ tuổi hơn. Mối nguy hiển không những chỉ đến từ bố mẹ và anh chị em, mà đôi khi còn xuất phát từ ông bà nội ngoại nữa.
    (LE FIGARO 24/8/2012)

    9/ ALZHEIMER : MỘT BỆNH NHIỄM TRÙNG DO PRIONS ?

    Stanley Prusiner, thầy thuốc thần kinh Hoa Kỳ, giải Nobel, đã chứng minh rằng những tác nhân nhiễm trùng nguồn gốc của bệnh Creutzfeldt-Jacob ở người là những protéine bất thường : những prions có khả năng tự sinh sản và tạo nên những tổn hại không hồi phục ở não. Nhóm nghiên cứu của ông ở đại học Californie là nguồn gốc của một khám phá khác : protéine bất thường beta-amyloide, chịu trách nhiệm các mảng (plaques) bóp nghẹt dần dần những tế bào thần kinh trong bệnh Alzheimer, lại là một prion. Bằng một kỹ thuật bioluminescence được sử dụng ở các con chuột được biến đổi về mặt di truyền (souris transgéniques), các nhà nghiên cứu đã chứng minh một sự tự sinh sản của protéine bị biến dị này, lan tràn trong hai bán cầu đại não. Không cần một yếu tố nào khác . cho sự tăng sinh này, một đặc điểm của prion.
    (PARIS MATCH 12/7 – 18/7/2012)

    10/ ALZHEIMER : MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI ĐẦY HỨA HẸN.

    Được trắc nghiệm trên chuột, một thuốc chống động kinh đã cho thấy rằng nó có thể góp phần chống lại những trường hợp mất trí nhớ.

    NEUROLOGIE. Nhiều tiến bộ y khoa bắt đầu bằng những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên động vật. Và một trong những “modèle” được ưa chuộng nhất là chuột nhắt. Nhất là ngày nay các nhà nghiên cứu sử dụng các chuột nhắt được biến đổi về mặt di truyền (souris transgénique) để tái tạo vài nét của các căn bệnh của con người. Đó là trường hợp trong một công trình nghiên cứu được tiến hành từ 3 năm nay ở Viện Gladstone, thuộc đại học Californie San Francisco : các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng một loại thuốc chống động kinh làm giảm, ngoài những vấn đề khác, sự mất trí nhớ, hậu quả chính của bệnh Alzkeimer (những kết quả được công bố trong tạp chí Pnas).

    Theo một báo cáo quốc tế năm 2010, sự thoái hóa não bộ này, vốn đã ảnh hưởng lên 18 triệu người, có thể gây bệnh cho hơn 100 triệu người từ nay đến năm 2050. Nhiều phòng bào chế đang tìm cách hiểu nguồn gốc của bệnh và tìm ra những điều trị để phòng ngừa, kềm chế hay làm đảo ngược những hậu quả của nó. Các nhà nghiên cứu của Viện Gladstone quan tâm đến hoạt động của các mạng neurone. “ Công trình nghiên cứu của chúng tôi dựa trên những khám phá trước đây, vốn gợi ý một mối liên hệ giữa bệnh Alzheimer và vài rối loạn động kinh ”, Lennart Mucke, giáo sư thần kinh học ở université de San Francisco đã giải thích như vậy.

    Người ta theo dõi những con chuột, ở chúng được đưa vào những gène điển hình của bệnh Alzheimer, đặc biệt là gène của protéine được gọi là “ amyloide ”, tạo những mảng (plaques) trong não bộ góp phần làm rối loạn các liên lạc giữa các neuron. Một mặt, trên bình diện hoạt động não, bằng những điện cực được cắm vào bề mặt não bộ của chúng ; mặt khác, về khả năng ghi nhớ những công việc đơn giản của chúng, ví dụ ở trong một mê cung.

    “ Chúng tôi đã làm thế nào để cho những con chuột này không hề bị một vấn đề gì, Pascal Sanchez, thuộc đại học Lyon và tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Vài giờ sau khi cho lévétiracétam, một thuốc được sử dụng đối với vài trường hợp động kinh, các con chuột đã cho thấy một sự giảm 50% những biến đổi hoạt động diện của não bộ chúng. ” Sau hai tuần, những năng lực học tập và ghi nhớ (capacité d’apprentissage et de mémorisation) được cải thiện rõ rệt.

    “ Mặc dầu ta không biết rõ những cơ chế sinh học chính xác của các chất trung gian thần kinh cho phép sự phục hồi này, nhưng ta phải chứng thực rằng trên mô hình thực nghiệm này, điều đó có hiệu quả ”, Pascal Sanchez đã đảm bảo như vậy. Niềm tin được tăng cường bởi một công trình nghiên cứu mới đây được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu của đại học John Hopkins de Baltimore (Hoa Kỳ),đã cho thấy rằng cũng thuốc chống động kinh có những tác dụng có lợi ở những người bị rối loạn về trí nhớ.

    “ Những kết quả này, mặc dầu còn sơ bộ, ổ chuột cũng như ở người, khiến chúng tôi khuyến nghị một cách nhanh chóng những thử nghiệm lâm sàng ở người trên một quy mô lớn hơn ”, Pascal Sanchez đã đánh giá như vậy. Chẳng bao lâu nữa, khoảng 100 bệnh nhân có thể được huy động để trắc nghiệm tính hiệu quả của điều trị này.
    (LE FIGARO 9/8/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (13/9/2012)

    Edited by user Monday, September 17, 2012 3:57:33 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    thanks 1 user thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
    Ngọc Anh on 9/20/2012(UTC)
    lly (Lynn Ly)  
    #7 Posted : Monday, September 24, 2012 10:22:54 AM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 281

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ JENNER VÀ BỆNH ĐẬU MÙA

    Ngày 14/5/1796, Edward Jenner trích lấy chất bị lây nhiễm trên bàn tay của Sarah Nelmes, một cô vắt sữa bị bệnh đậu bò (variole des vaches), và chủng chất này vào James Philipps, một bé trai 8 tuổi.

    Versailles, 28/4/1774. Cảm thấy khó ở bởi các triệu chứng đau đầu, sốt và đau, vua Louis XV quan sát các thầy thuốc điều trị lần lượt đi qua quanh giường. Đặc biệt có Lemonnier, thầy thuốc hàng đầu của ông, La Martinère, thầy thuốc phẫu thuật hàng đầu của ông, Bordeu, thầy thuốc của Mme du Barry et Lorry, một thầy thuốc thực hành rất nổi tiếng ở Paris. Vài ngày sau, bệnh của nhà vua trở nặng, 6 thầy thuốc, 5 phẫu thuật viên và 3 dược sĩ, tinh hoa của trường đại học đều có mặt. “ Quý vị nói rằng trẫm không bị bệnh và chẳng bao lâu nữa trẫm sẽ được chữa lành, nhưng quý vị chẳng nghĩ một chút gì về điều đó ”, nhà vua lấy làm tức tối, người vã mồ hôi, đã phán như vậy. Ngày thứ sáu 29/4, vào buổi chiều, những ban đỏ xuất hiện trên mặt. Như trong vở kịch của Molière, các chuyên viên thì thầm một chữ mà không ai dám nói ra to tiếng : bệnh đậu mùa !

    Ngày chủ nhật 1/5, gương mặt của nhà vua, mà chẳng thầy thuốc nào dám nói căn bệnh của ông, được phủ đầy các mụn. “ Nếu trẫm đã không bị đậu mùa lúc 18 tuổi, thì giờ đây trẫm nghĩ là bị bệnh đó ”, nhà vua đã kêu lên như vậy, khi đó ông được 64 tuổi. Hai ngày sau, các ban xuất hiện trên bàn tay khiến không còn nghi ngờ gì nữa. “ Đó là bệnh đậu mùa ! Đó là bệnh đậu mùa ! ”. Trong 8 ngày tiếp theo, ban không ngừng lan rộng. Khi Robert và Daniel Sutton, hai nhà chủng (inoculateur) nổi tiếng người Anh đến Versailles thì đã quá muộn. Trên gương mặt của vua Louis XVI, các ban mụn đã khô đi và hóa đen. Ngày 10 tháng 5, ít lâu sau 15 giờ, nhà vừa trút hơi thở cuối cùng.

    Trong vương quốc, câu chuyện về cái chết khủng khiếp này đập vào các trí tưởng tượng. Được biết ở châu Âu từ thế kỷ VII, là nơi những người Sarrasin đã đưa bệnh đậu mùa vào từ vùng Viễn Đông, bệnh đậu mùa (variole), một căn bệnh lây nhiễm cũng còn được gọi là petite vérole (vérole : bệnh giang mai ; petite vérole : bệnh đậu mùa), là một tai ương mà người ta vừa mới bắt dầu chống lại. Vào thế kỷ XVIII, bệnh đậu mùa gây 60 triệu người chết trên lục địa. Từ nhiều thập niên nay, các thầy thuốc người Anh, Thụy Sĩ và Pháp tuy vậy đã tin chắc rằng có một phương tiện chống lại căn bệnh này, được mô tả một cách đại khái bởi Ambroise Parré trong một chuyên luận năm 1560, trong đó bệnh đậu mùa được coi như là bệnh dịch hạch và bệnh sởi. Chưa ai nói đến việc trừ khử nó, nhưng tất cả đều tin chắc rằng, cũng như nhà toán học và vật lý học người Thụy Sĩ Daniel Bernouilli, ta có thể ngăn căn bệnh đậu mùa giết chết 1/8, thậm chí ¼ những người bị bệnh.

    DÙNG BỆNH CHỐNG LẠI BỆNH

    Từ năm 1720 và một thí nghiệm đầu tiên do Lady Worttley Montagu, vợ của đại sứ Anh ở Constantinople, được tiến hành trên những đứa con của mình, trong giới tinh hoa của các thầy thuốc người ta thì thầm rằng có một phương pháp phòng ngừa độc đáo chống lại sự tấn công của bệnh đậu mùa. Nguyên tắc của phương pháp này là chủng cố ý một dạng ít độc lực của bệnh lấy ở một người bị bệnh để ngăn cản bệnh trở thành nặng hơn. Phương pháp này, đã được biết ở Trung Hoa từ nhiều thế kỷ, được gọi là variolisation. Trong thời kỳ Châu Âu Ánh Sáng (Europe des Lumières), là lúc tư duy y học bắt đầu sáng tỏ, ta hiểu rằng có thể dùng bệnh trị bệnh (lutter contre le mal par le mal), mặc dầu những thử nghiệm đầu tiên không luôn luôn chứng rõ.

    Những người theo phương pháp variolisation, tin chắc rằng phương pháp này sẽ cứu mạng, không phải là không biết những điều bất tiện của nó, nhất là sự việc những người được chủng sẽ trở thành những nguồn lây nhiễm. Ngay khởi thủy, những thầy thuốc người Anh, đã đưa phương pháp này vào đất nước họ và đến thuộc địa Mỹ, là những người táo bạo nhất. Ở Pháp, là nơi các thầy thuốc thực hành đã không ngừng tin chắc vào Hippocrate, hai trường phái chạm trán nhau trong lòng Đại học Y khoa. Sau khi đã tìm hiểu những thí nghiệm đầu tiên của người Anh, những người ủng hộ phương pháp variolisation báo cáo những kết quả chứng rõ. Những người chống lại phương pháp này nhấn mạnh số các nạn nhân của bệnh đậu mùa nhân ạo (la petite vérole artificielle) và nhắc lại rằng mục tiêu của y khoa là chữa bệnh và do đó không thể “ sinh ra những kẻ thù ” để rồi sau đó phải chống lại chúng.

    Giữa năm 1754 và 1765, Charles-Marie de La Condamine, nhà bác học người Pháp đã xuôi giòng sông Amazone năm 1743-1744, đã phát biểu trước các đồng nghiệp của Viện hàn lâm khoa học một loạt các bài biện hộ hùng hồn ủng hộ phương pháp mới về sự chủng (inoculation) bệnh đậu mùa. Theo ông, bệnh đậu mùa giết một trường hợp trên bảy và sự tiêm chủng, trong trường hợp tệ hại nhất, giết một người được chủng trên 300. Trong những năm 1760, những người theo phương pháp variolisation, được ủng hộ bởi các nhà bách khoa (encyclopédiste) dường như chiếm ưu thế ở Paris. Nhưng những ông lớn của vương quốc vẫn còn do dự không chịu chủng, mặc dầu bệnh đậu mùa gây bệnh một cách bình đẳng ở những người giàu cũng như ở những người nghèo : ta đã kể điều đó khi nói về Louis XV.

    TIÊM CHỦNG HOÀNG GIA

    Vào lúc nhà vừa hấp hối ở Versailles, cả thái tử, vua Louis XVI tương lai, lẫn vợ của thái tử, bà quận công Marie-Antoinette, đã không được phép đến cạnh giường người hấp hối, vì cả hai đã không được tiêm chủng. Ngày 18 tháng sáu năm 1774, tuy vậy, Louis XVI và các anh em chịu chủng đậu mùa ở lâu đài Marly bởi François Richard de Hautesoerk, thầy thuốc số một của quân đội nhà vua. Sau khi đã trích lấy chất bị lây nhiễm trong mụn mủ (pustule) của một phụ nữ trẻ bị bệnh (mà đạo đức đã được kiểm tra !), thầy thuốc tham vấn của nhà vua tiêm chất này cho Louis XVI, cho bá tước Provence, vua Louis XVIII tương lai, cho bá tước Artois, vua Charles X tương lai cũng như cho vợ của ông ta là Marie-Thérèse de Savoie.

    Triều đình run sợ, nhưng nhà vua đã thoát khỏi với một đậu mùa nhân tạo không gây hậu quả. Việc tiêm chủng hoàng gia này là một bước ngoặt quyết định. Ở Pháp, sự chủng đậu mùa là đối tượng của những chiến dịch rộng lớn ; trong phần còn lại của châu Âu, các thành viên của các hoàng gia lần lượt được chủng.

    Tuy nhiên, khoa học vẫn còn cần thực hiện một tiến bộ trong sự chống lại bệnh đậu mùa. Đó sẽ là sự kiện của một nhà quan sát sáng suốt và có phương pháp, một thầy thuốc với trí thông minh sáng chói, Edward Jenner (1749-1823), người Anh, 25 tuổi vào năm vua Louis XVI được chủng ngừa. Khi đó Jenner bắt đầu những nghiên cứu đơn độc trong suốt 20 năm, cho đến khi khám phá sự tiêm chủng chống bệnh đậu mùa năm 1796.

    Một khám phá được thực hiện ngoài phòng thí nghiệm, ở ngoài trời. Trong vùng thôn quê của nước Anh mà ông thích đi đó đây từ khi ông tìm lại ngôi làng Berkeley, nơi ông đã sinh ra đời và là nơi ông đã lập nghiệp với tư cách chirurgien-médecin năm 1773. Jenner đã nhận xét rằng vài con bò mang một bệnh tương tự một cách kỳ lạ với bệnh đậu mùa, và còn kỳ lạ hơn nữa, những người chăn bò chăm sóc gia súc này và bị cùng bệnh như các động vật, không bị mắc phải bệnh đậu mùa. “ Một tính chất đặc biệt của bệnh này, ông đã nhận xét như vậy, và đặc biệt đáng sự chú ý của chúng ta, đó là những người bị mắc bệnh, sau đó và mãi mãi, trở nên đề kháng với với bệnh đậu mùa và không có khả năng bị mắc bệnh hoặc do lây nhiễm hoặc do chủng.” Như thế Edward Jenner đã tạo một cách thường nghiệm mối liên hệ giữa bệnh đậu bò (variole des vaches), thường được gọi là “ cow-pox ” hay “ vaccine ”, và tai ương mà chủng từ nay được phổ biến đã không thành công trừ khử hoàn toàn. “ Đừng suy nghĩ. Hãy thí nghiệm. Hãy nhẫn nại và chính xác ”, vị thầy của ông, John Hunter, thầy thuốc ngoại khoa và nhà tự nhiên học, đã khuyên ông như thế. John Hunter là nhà cơ thể học xuất sắc chống lại ảnh hưởng của các giáo điều trong y khoa, chủ trương phương pháp thí nghiệm (méthode expérimentale).

    Quan sát quyết định xảy ra ngày 14 tháng 5 năm 1796. Ngày hôm đó, Edward Jenner lấy chất bị nhiễm trên bàn tay của Sarah Nelmes, một cô vắt sữa bò bị bệnh đậu bò sau khi bị gai làm trầy, và chủng vào James Phipps, một bé trai 8 tuổi. Trong những ngày sau, những ban đỏ, những bọng nước và mụn mủ xuất hiện trên cơ thể của người bệnh của ông. Nhưng 10 ngày sau khi được chủng, cậu bé trai bình phục hoàn toàn.

    MỘT THẦY THUỐC NGOẠI KHOA CÓ ĐÔI CHÂN LẤM BÙN.

    Ngày 1 tháng 7, Edward Jenner thực hiện ở James Phipps một test de variolisation và quan sát rằng cậu bé này không bị bệnh đậu mùa nhân tạo. Một ít lâu sau ông bắt đầu lại và một lần nữa có cùng nhận xét. Như thế Jenner đã chứng tỏ rằng bệnh đậu bò (vaccine) gây miễn dịch chống lại bệnh đậu mùa (variole). Như thường xảy ra trong lịch sử của những khám phá y khoa, việc chứng minh này gặp phải sự chống đối. Vài đồng nghiệp tố cáo sự thiếu nghiêm túc trong những thí nghiệm điền viên (expériences bucoliques) của Jenner.

    Ở Hiệp hội y khoa hoàng gia Luân Đôn, thầy thuốc chirurgien - médecin của làng Berkeley với đôi chân vấy bùn làm mọi người mỉm cười. Phải đợi những năm đầu của thế kỷ XIX khi đó Edward Jenner mới nổi tiếng, cũng như ông xứng đáng điều đó, trước hết ở Vương Quốc Anh, rồi sau đó trên toàn thế giới, là lúc vaccine gây nên một sự hâm mộ làm sửng sốt. Than ôi, ta luôn luôn có tội khi ta là một thiên tài. Những người ganh ghét, có được địa vị nhờ được chấp nhận hơn là nhờ năng lực, buộc tội Jenner là một “ tên bịp ngu dốt ” (imposteur ignare ). Và tên bịp này, cống hiến những năm tháng cuối của đời mình cho những người nghèo, đã tự an ủi bằng một câu của nhà đạo đức :“ Vinh quang là một cái đích mạ vàng luôn luôn đạt được bằng những mũi tên của sự thâm hiểm ”.
    (LE FIGARO 1/8/2012)

    2/ BỆNH ƯA CHẢY MÁU NGÀY CÀNG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TỐT HƠN.

    Những tiến bộ đặc biệt đã được thực hiện để phòng ngừa những hậu quả thứ phát của của bệnh ưa chảy máu.

    CIRCULATION SANGUINE. Với những kết quả dương tính của một thử nghiệm liệu pháp gène (thérapie génique) để điều trị bệnh ưa chảy máu B (hémophilie B) vào tháng 12 vừa qua, và mới đây hơn những thử nghiệm đầy hứa hẹn để kéo dài tác dụng của những điều trị và do đó làm giảm tần số những lần tiêm thuốc, các nhà nghiên cứu và các thầy thuốc có thể cảm thấy phấn khởi. Nhưng 75% những người bị bệnh ưa chảy máu trên thế giới vẫn chưa được tiếp cận với điều trị, quá tốn kém, chống lại căn bệnh vẫn còn có khả năng gây tử vong.

    Đặc biệt được công chúng biết đến vì đã giáng vào các triều đình châu Âu xuyên qua hậu duệ của hoàng hậu Victoria, bệnh ưa chảy máu là một bệnh di truyền được thể hiện bởi những xuất huyết tự nhiên hay kéo dài một cách bất thường. Thuật ngữ này quy tụ nhiều bất thường do sự biến dị của các gène mã hóa cho một trong những yếu tố protéine có liên quan trong quá trình đông máu. Thường xảy ra nhất là bệnh ưa chảy máu A (85% các trường hợp) liên kết với một biến dị của gène của yếu tố VIII, và bệnh ưa chảy máu B (15% các trường hợp) liên kết với một biến dị của gène của yếu tố IX. Là những láng giềng, hai gène này được định vị trên một phần của nhiễm sắc thế X nhưng không có đồng đẳng (homologue) trên nhiễm sắc thế Y : căn bệnh, được truyền bởi các phụ nữ, như thế chủ yếu gây bệnh cho đàn ông. Nhưng khoảng 10% những phụ nữ “ đưa đường ” (conductrice) có một thể nhẹ của bệnh.

    Trong 60% các trường hợp, bệnh ưa chảy máu A hay B được truyền trong các gia đình từ thế hệ này đến thế hệ khác, nhưng 40% là những biến dị mới xảy ra, không có những tiền sử gia đình được biết. Tần số của bệnh ưa chảy máu A là khoảng một trường hợp đối với 6000 trường hợp sinh bé trai, tần số của bệnh ưa chảy máu B là 5 lần thấp hơn. Vậy đó là một bệnh hiếm, được đảm nhận bởi những thăm khám chuyên khoa trong 6 centre de référence vùng.

    Dầu đó là bệnh ưa chảy máu A hay B, mức độ trầm trọng tùy thuộc ở mức độ nghiêm trọng của sự thiếu hụt. Khi sự sản xuất yếu tố VIII hay IX dưới 1% bình thường, bệnh ưa chảy máu được gọi là nặng (hémophilie sévère), được biểu hiện, nếu không được điều trị phòng ngừa, bởi những xuất huyết tự nhiên rất thường xảy ra. Giữa 1 và 5% tỷ lệ bình thường, bệnh ưa chảy máu được gọi là vừa phải (hémophilie modérée), không có chảy máu tự nhiên, nhưng cũng thường xảy ra khi bị chấn thương ngay cả nhẹ. Bệnh ưa chảy máu được gọi là nhẹ (hémophilie mineure) nếu tỷ lệ này nằm giữ 6 và 40% trị số bình thường, với một nguy cơ gia tăng chỉ khi can thiệp ngoại khoa hay chấn thương quan trọng, BS Thierry Lambert, thuộc centre de référence de hémophilie, thuộc CHU Paris-Sud, bệnh viện Bicetre, đã giải thích như vậy. Bệnh ưa chảy máu A gồm 40 đến 45% những thể nặng, 20% những thể vừa phải và 35 đến 40% những thể nhẹ. Những thể nặng hơi ít hơn trong bệnh ưa chảy máu B.

    NHỮNG MÁU TỤ QUAN TRỌNG.

    Đối với GS Claude Négrier, điều khiển centre de référence de l'hémophilie ở CHU de Lyon, thái độ của các gia đình đã hoàn toàn thay đổi trong 20 năm, và chứng tỏ một sự chấp nhận tốt hơn bệnh ưa chảy máu bởi xã hội do những tiến bộ trong điều trị. Từ nay, khi bà mẹ biết rằng mình là người dẫn truyền (conductrice) của một bệnh ưa chảy máu nghiêm trọng, 8 đến 9 trên 10 các bố mẹ mong muốn tiếp tục thai nghén mặc dầu nguy cơ này, và chẩn đoán chỉ được thực hiện vào lúc sinh em bé, bằng định lượng yếu tố VIII hay IX trong cuống rốn. Việc sinh đẻ phải được thực hiện trong những điều kiện thận trọng đặc biệt. Chỉ 10 đến 20% các cặp vợ chồng dự kiến gián đoạn thai nghén (interrruption thérapeutique de grossesse) và đòi hỏi một chẩn đoán tiền sinh. Được thực hiện bằng sinh học phân tử, chẩn đoán này, ngay tuần lễ thứ 15, cho phép biết thai nhi có sẽ bị bệnh ưa chảy máu hay không.

    Trong những trường hợp bệnh ưa chảy máu xảy ra lẻ tẻ (hémophile sporadique), chẩn đoán những thể nặng thường được thực hiện sớm, căn cứ trên sự xuất hiện những khối máu tụ quan trọng, chậm nhất là lúc té ngã khi tập bước đi. Chẩn đoán có thể rất muộn trong những thể trung bình hay nhẹ.

    Điều trị “ theo yêu cầu ” dựa trên su tiêm tĩnh mạch, vào mỗi lần chảy máu, yếu tố VIII hay yếu tố IX bị thiếu hụt, nhận được nhờ phân đoạn máu (fractionnement du sang) hay tái phối hợp (recombinaison). Do làm ngừng những trường hợp chảy máu, điều trị này đã cách mạng hóa tiên lượng của những người bị bệnh ưa chảy máu thể nặng mà hy vọng sống, ngày xưa bị giới hạn, nhưng ngày nay hầu như bằng với hy vọng sống của dân chúng nói chung.

    NHỮNG XUẤT HUYẾT KHỚP

    Nhưng những xuất huyết khớp thường xảy ra trong những thể nặng này, kèm theo những lắng đọng các sản phẩm thoái hóa máu, cuối cùng đưa đến thương tổn các khớp. “ Những người trên 25 tuổi hầu như tất cả đều bị những thương tổn khớp như thế, nhất là của khớp gối, buộc phải đặt khớp giả. Từ cuối những năm 1990, một điều trị dự phòng dựa trên những mũi tiêm tĩnh mạch nhiều lần mỗi tuần yếu tố VIII hay IX với liều đủ để ngăn ngừa những xuất huyết ngẫu nhiên được đề nghị một cách hệ thống trong bệnh ưa chảy máu thể nặng ”, thầy thuốc huyết học của Lyon đã xác nhận như vậy.

    Những điều trị này, phải bắt đầu trước năm 2 tuổi, trong 20 đến 30% những trường hợp bệnh ưa chảy máu A thể nặng, kèm theo sự xuất hiện những kháng thể ức chế chống lại yếu tố đông máu được tiêm vào. “ Sự tiêm những liều mạnh yếu tố VIII làm biến mất sự ức chế này trong 70% các trường hợp. Lý tưởng là có thể làm cho thuốc it sinh miễn dịch hơn, điều mà chúng ta không làm được. Một hướng nghiên cứu nhằm cố gắng kéo dài thời gian tác dụng của yêu tố VIII nhờ biến đổi cấu trúc của nó nhằm làm giảm số lần tiêm ”.

    Nhiên hậu, với triễn vọng một liệu pháp gène (thérapie génique), ít nhất đối với bệnh ưa chảy máu B mà gène, nhỏ hơn, đã có thể được chuyển cho người với một tính hiệu quả lâm sàng kéo dài, nhân một thử nghiệm được công bố vào tháng 12 năm 2011.
    (LE FIGARO 27/8/2012)

    3/ NHỮNG BỆNH TIM MẠCH Ở PHỤ NỮ : MỘT BÁO ĐỘNG ĐỎ.

    GS Claire Mounier-Vehier, phó chủ tịch của Liên đoàn tim học Pháp, Trưởng khoa y học mạch máu và cao huyết áp thuộc bệnh viện tim của CHRU de Lille, giải thích làm sao kềm hãm tiến triển gia tăng của những bệnh lý này.

    Hỏi : Ở phụ nữ, tỷ lệ tử vong do các bệnh tim mạch là gì ?
    GS Claire Mounier Vehier : Theo registre của Hiệp hội tim học châu Âu, ngày nay, sau thời kỳ mãn kinh, cứ 3 phụ nữ có một chết vì một trong những bệnh tim mạch này, giết chết còn hơn cả ung thư vú ! Và, từ ít lâu nay, ta chứng thực rằng những bệnh lý này cũng ảnh hưởng lên những phụ nữ trẻ hơn, mặc dầu họ còn dưới tác dụng bảo vệ của oestrogène.

    Hỏi : Sau thời kỳ mãn kinh, những hormone này có một tác dụng bảo vệ bằng cách nào ?
    GS Claire Mounier Vehier : Phải phân biệt những oestrogène tự nhiên với những oestrogène tổng hợp. Những oestrogène tự nhiên có một tác dụng giãn mạch, giữ cho các động mạch và các tĩnh mạch được mềm dẻo. Chúng cũng có một tác dụng chống huyết khối (action antithrombotique) và làm dễ sự tổng hợp cholestérol loại tốt. 5 năm sau thời kỳ mãn kinh, với sự đánh mất oestrogène, các phụ nữ bị đối đầu với những nguy cơ khác nhau.

    Hỏi : Tại sao tai ương này nói chung bị đánh giá thấp ở các phụ nữ ?
    GS Claire Mounier Vehier :Theo những kết quả của rất nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành chủ yếu ở đàn ông, ta hằng nghĩ rằng những người đàn ông bị nguy cơ hơn nhiều do các yếu tố làm dễ như thuốc lá, sự căng thẳng nghề nghiệp, một sự tiêu thụ rượu quá mức, một tình trạng tăng thể trọng, một sự thặng dư cholestérol. Nếu ta chứng thực một tỷ lệ lưu hành gia tăng những bệnh tim mạch này ở các phụ nữ, đó là bởi vì họ đã theo cùng những lối sống.

    Hỏi : Trong đời sống một phụ nữ phải chăng có vài giai đoạn trong đó họ phải đặc biệt tự theo dõi hay không ?
    GS Claire Mounier Vehier : Có 3 nguyên tắc. 1. Sự sử dụng thuốc ngừa thai chứa œstrogène tổng hợp, chỉ có thể được quyết định nếu không có tiền sử huyết khối (thrombose) và sau khi thực hiện một bilan lipid, đường và đo huyết áp. 2. Thai nghén, trong đó cùng những biện pháp tỏ ra cần thiết. 3. Thời kỳ chu mãn (périménaupose) (trong 5 năm sau khi tắc kinh), trong giai đoạn này sự phát hiện một bệnh động mạch vành bằng épreuve d’effort (thí dụ trên thảm lăn) hay bằng siêu âm tim phải được thực hiện. Những bilan lipidique là thiết yếu. Nếu tất cả những kết quả đều tốt, một check-up mới sẽ được dự kiến 5 năm sau.

    Hỏi : Những phụ nữ nào đặc biệt có nguy cơ ?
    GS Claire Mounier Vehier : Theo Hiệp hội tim Hoa Kỳ (AHA), đó là những phụ nữ hút thuốc (bắt đầu từ 4 điếu mỗi ngày), những phụ nữ có một thời kỳ mãn kinh sớm (trước 40 tuổi), những phụ nữ chịu nhiều căng thắng (grandes stressées), những người bị cao huyết áp, bị bệnh béo phì, những bệnh nhân đái đường và những nạn nhân của một tai biến mạch máu. Tất cả phải tránh điều trị bằng hormone có chất cơ bản là œstrogène tổng hợp.

    Hỏi : Những bệnh tim mạch nào là nguy hiểm nhất ?
    GS Claire Mounier Vehier : 1. Những bệnh lý động mạch chủ, trong đó viêm động mạch các chi dưới, ngày càng thường gặp. 2. Nhồi máu cơ tim. 3. Tai biến mạch máu não.

    Hỏi : Ở Pháp, những biện pháp nào được thực hiện để phòng ngừa những bệnh này ?
    GS Claire Mounier Vehier : So với những người đàn ông, các phụ nữ không được phát hiện và điều trị đến nơi đến chốn. Điều này giải thích ở các phụ nữ sự tiến triển của những trường hợp tử vong do những bệnh này. Sự trì chậm trong điều trị là một vấn đề khẩn cấp.

    Hỏi : Bà sẽ đề nghị gì nhân hội nghị sắp đến của Liên đoàn tim học Pháp ?
    GS Claire Mounier Vehier : Thiết lập một sự hợp tác chặt chẽ giữa các thầy thuốc điều trị, các thầy thuốc chuyên khoa tim, các thầy thuốc chuyên về mạch máu (angiologue) và các thầy thuốc phụ khoa để họ xác lập đối với mỗi bệnh nhân những protocole thăm khám phát hiện. Mục đích là phát hiện càng sớm càng tốt sự xuất hiện của một vấn đề tim mạch. Một công trình nghiên cứu dài hạn, hiện được thực hiện bởi GS Nicolas Dauchin (bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou) chủ yếu để nhận diện tốt hơn những dấu hiệu báo động của những bệnh lý này ở phụ nữ.
    (PARIS MATCH 13/9 – 19/9/2012)

    4/ CHỐNG BÉO PHÌ : NGỦ NGON VÀ TESTOSTERONE

    Nhân hội nghị châu Âu lần thứ 19, hai công trình nghiên cứu đã được trình bày. Công trình thứ nhất của Đan Mạch, được thực hiện ở Copenhague bởi BS Nanna Olsen, quan tâm đến các đêm ngủ của 645 trẻ em từ hai đến 6 tuổi, có khuynh hướng béo phì vì có trọng lượng lúc sinh tăng cao. Theo những điều chứng thực, một giấc ngủ có chất lượng xấu hay không đủ, liên kết với những sợ hãi, thường được liên kết với một tình trạng tăng thể trọng sớm (surcharge pondérale précoce). Phương thuốc tự nhiên của các đứa trẻ là đến giường bố mẹ để được an lòng. Công trình nghiên cứu đã nêu lên rằng những trẻ bị cấm không được đến giường bố mẹ bị béo phì 3 lần thường hơn ! Công trình nghiên cứu thứ hai của Đức, được thực hiện bởi BS Farid Saad, ở Berlin, trên những người đàn ông hơn 45 tuổi, có nồng độ testostérone dưới bình thường bởi vì thường liên kết với chứng béo phì : 251 trong số những người đàn ông này, tuổi trung bình 61, đã nhận trong 2 năm, mỗi 3 tháng, testostérone tiêm mông. Cuối cùng, mỗi người đã mất khoảng 16 kg. Huyết áp, nồng độ triglycéride và đường huyết được bình thường hóa.
    (PARIS MATCH 24/5 – 30/5/2012)

    5/ VIÊM HỌNG : CHỮA LÀNH TỰ NHIÊN TRONG PHẦN LỚN CÁC TRƯỜNG HỢP

    “ Mỗi năm, ta đếm được khoảng 8 triệu trường hợp viêm họng (angine) ở Pháp, trong đó đại đa số xảy ra ở trẻ em ”, GS Françoise Denoyelle, thầy thuốc ngoại khoa ORL, thuộc bệnh viện nhi đồng Armand-Trousseau, Paris, đã nhắc lại như vậy.

    Viêm họng (angine) là một nhiễm trùng các amidan và đặc biệt hơn là hai amidan khẩu cái (amygdales palatines) nằm ở hai bên lưỡi gà (luette), ở đáy miệng. Cũng như các sùi vòm họng (végétations) nằm ở đáy mũi, những cấu trúc lympho này nằm ở lối vào của cơ thể, đồng thời có nhiệm vụ lọc (filtre), messager và là phòng ngự đầu tiên chống lại vi trùng.

    Nằm ở tuyến đầu, chính các amidan là mục tiêu của những nhiễm trùng mà chúng phải có nhiệm vụ ngăn ngừa. “ Khi khả năng lọc bị bảo hòa, các vi khuẩn tích tụ có thể gây nên một nhiễm trùng các amidan, GS Richard Nicollas, thầy thuốc ngoại ORL thuộc bệnh viện nhi đồng La Timone (Marseille) đã giải thích như vậy. Nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện trên các hạch hạnh nhân đã cho thấy sự hiện diện của các ổ tăng sinh vi khuẩn hay nấm.” Các viêm họng thường xảy ra ở tuổi ấu thơ, đặc biệt giữa 6 và 9 tuổi bởi vì tính miễn dịch, “ được học ” giữa 6 tháng và 9 tuổi, chưa hoàn toàn được hình thành.

    NHỮNG NGUY HIỂM CỦA SỰ CHO THUỐC LẤY

    Trong một phần rất lớn các trường hợp, ở người trưởng thành cũng như ở trẻ em, viêm họng tự tiêu đi trong vài ngày. Thầy thuốc có thể kê đơn những thuốc để làm giảm sốt hoặc giảm đau. Các kháng sinh được dành cho vài tình huống đặc biệt, nhất là khi một trắc nghiệm chẩn đoán nhanh (test de diagnostic rapide) đã cho phép phát hiện sự hiện diện của các liên cầu khuẩn loại A.

    “ Ngoài ra, các amidan được cấu tạo bởi một loại mô khá xốp, nơi xảy ra nhiều phản ứng viêm có thể bảo vệ các mầm bệnh chống lại tác dụng của nhiều loại thuốc, đặc biệt là các kháng sinh ”, GS Nicollas đã nhấn mạnh như vậy.

    Như thế viêm họng đôi khi dường như hình thành, mặc dầu được điều trị nhiều lần ; ở vài trẻ em có thể chịu đến một trường hợp viêm họng mỗi 4 đến 6 tuần. Vài yếu tố nhạy cảm đã được nhận diện, đặc biệt một tính nhạy cảm gia đình (sensibilité familiale), một thể địa dị ứng (terrain allergique) và, trong một mức độ ít hơn, những nguồn kích thích tại chỗ như hồi lưu dạ dày-thực quản (reflux gastro-oesophagien).

    Ở vài bệnh nhân, nhiễm trùng thành hình “ ở mức độ thấp”, gây nên một phản ứng viêm thường trực các amidan. Sau cùng, trong những trường hợp khác, nhiễm trùng được tập trung ở một vùng của amidan và tạo thành một abcès, đặc biệt đau đớn, cần phải chọc và dẫn lưu, một thủ thuật cũng gây đau đớn. “ Ta đã nhận diện vai trò rất có hại của việc tự sử dụng những AINS như ibuprofène hay aspirine, khi đứng trước một viêm họng, GS Michel Mondain, trưởng khoa ORL của CHU de Montpellier, đã lấy làm tiếc như vậy. Chỉ có paracétamol là có thể được sử dụng mà không cần ý kiến của một thầy thuốc.”

    Đứng trước những tình huống tái phát hay viêm mãn tính, đôi khi tốt hơn là thực hiện cắt bỏ các amidan, sau khi đã đảm bảo rằng nơi nhiễm trùng không nằm ở nơi khác trong họng. Khi chỉ định rõ ràng, các viêm họng hoàn toàn biến mất sau can thiệp phẫu thuật.
    (LE FIGARO 3/9/2012)


    6/ TẠI SAO KHÔNG NÊN MỔ MỘT RUỘT THỪA VIÊM NỮA NẾU KHÔNG CHỤP HÌNH ẢNH TRƯỚC MỔ

    Pfesseur Patrice Taourel
    CHU Montpellier
    Responsable du groupe urgence
    de la Société française de radiologie


    Cách nay hơn một thế kỷ, Paul Poirier, thầy thuốc ngoại khoa lỗi lạc, đã xác nhận : “ Ta phải can thiệp một cách hệ thống ngay khi chẩn đoán ruột thừa viêm được bảo đảm hay ngay cả khi chỉ nghi ngờ và ta phải luôn luôn lấy đi ruột thừa.” Khi đó ruột thừa viêm có một tỷ lệ tử vong gần 20%. 30 năm sau, Marcel Proust, mặc dầu là con và anh của thầy thuốc, không đánh giá cao các nhà ngoại khoa, ông lấy làm khôi hài sự kiện rằng “ vài thấy thuốc ngoại khoa cho rằng, để tránh khả năng một ruột thừa viêm tương lai, phải cắt bỏ ruột thừa ở tất cả các trẻ em ”.

    Buộc phải công nhận rằng ở Pháp, cắt bỏ ruột thừa (appendicectomie) trước mọi nghi ngờ ruột thừa viêm và đặc biệt là trước mọi triệu chứng đau ở hố chậu phải, đã vẫn là một giáo điều trong gần như suốt thế kỷ XX và rằng cắt bỏ ruột thừa dự phòng (appendicectomie prophylactique) đã được vài người xem như một phương thức hợp lý, đặc biệt với sự phát triển của ngoại nội soi ổ bụng (chirurgie sous coelioscopie).

    KHÁM LÂM SÀNG

    Đã một thời mọi người đều bằng lòng : bệnh nhân, được trừ khử bóng ma của bệnh viêm phúc mạc do ruột thừa viêm đáng sợ ; phẫu thuật viên, đã lấy đi một ruột thừa không biến chứng ; người thầy thuốc, thỏa mãn vì cho là vinh dự đã thực hiện thăm khám lâm sàng chữa bệnh ; nhà giải phẫu bệnh lý, mặc dầu ruột thừa được cắt bỏ lành mạnh, nhưng cũng tìm thấy một ít viêm nhiễm được gọi một cách kín đáo là “ viêm ruột thừa sung huyết ” (appendicite catarrhale), vì lẽ ruột thừa lành mạnh này đã được cắt bỏ trong khi phẫu thuật, và ngay cả Cơ quan bảo hiểm y tế, tin là thực hiện những tiết kiệm nếu động tác được thực hiện không cần thăm khám hình ảnh cũng như chẳng cần xét nghiệm máu trước khi mổ.

    Và tuy vậy ! Và tuy vậy, phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa, ngay cả khi được mổ bởi những tay có kinh nghiệm, có một tỷ lệ bệnh tật tức thời (morbidité immédiate) nào đó với một tỷ lệ áp xe hậu phẫu gần 1% và còn cộng thêm một tỷ lệ bệnh tật muộn (morbidité tardive), vì phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa là nguyên nhân đầu tiên của tắc cơ học ruột non do bride hậu phẫu. Chỉ dựa trên thăm khám lâm sàng với một theo dõi y khoa trong trường hợp nghi ngờ chẩn đoán, thái độ được chủ trương trong các nước anglo-saxon, dẫn đến một tỷ lệ ruột thừa viêm được mổ ở giai đoạn bị thủng gần 30%. 300.000 trường hợp nghi ruột thừa viêm được mổ ở Pháp mỗi năm vào cuối những năm 1990 có một phí tổn 300 triệu euro.

    Chụp hình ảnh đã cách mạng hóa, trong 20 năm qua, việc xử trí bệnh ruột thừa viêm. Trong khi chụp bụng không chuẩn bị (abdomen sans préparation) không có một lợi ích nào trong chẩn đoán ruột thừa viêm và một cách tổng quát hơn, trong chẩn đoán những trường hợp đau bụng cấp tính, như một báo cáo của Haute Autorité de santé được công bố năm 2009 đã nêu rõ, ngày nay chẩn đoán ruột thừa viêm cấp tính dựa trên siêu âm (échographie) hay chụp cắt lớp vi tính (tomodensitométrie) ; siêu âm ở các trẻ em, những bệnh nhân trẻ và những phụ nữ có thai, scanner có lẽ hơi hiệu năng hơn siêu âm một cách nói chung và đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi hơn, ở những bệnh nhân trong tình trạng tăng thể trọng bởi vì, trái với siêu âm, mỡ làm dễ sự nhìn thấy ruột thừa ở scanner, hoặc khi các triệu chứng khuếch tán hơn.

    Siêu âm cũng như scanner sẽ cho thấy những bất thường ở ruột thừa, có thành bị dày lên, ở mỡ quanh ruột thừa (graisse périappendiculaire), bị thâm nhiễm ; những thăm khám này sẽ xác nhận một ruột thừa bình thường, cho phép loại bỏ chẩn đoán ruột thừa viêm, tìm kiếm những biến chứng của ruột thừa viêm : thủng, plastron, phlegmon, áp xe, mà chẩn đoán có một ảnh hưởng thật sự lên việc điều trị ngoại khoa của ruột thừa viêm, lên sự lựa chọn giữa nội soi ổ bụng (coelioscopie) hay mở bụng (laparotomie ouverte) và lên nơi thực hiện đường xẻ ngoại khoa (incision chirurgicale).

    NHỜ ĐẾN CHỤP HÌNH ẢNH

    Đó là một cuộc cách mạng thật sự trong xử trí những bệnh nhân được nghi bị viêm ruột thừa : trong một công trình nghiên cứu Bắc Mỹ, được công bố năm 2008 trong tạp chí uy tín New England Journal of Medicine, tỷ lệ cắt bỏ ruột thừa trắng (appendicectomie blanche) đã chuyển từ 24% xuống còn 3% và tỷ lệ thủng ruột thừa từ 18% xuống còn 5%, giữa năm 1996 và 2006, nhờ việc sử dụng hệ thống phương pháp chụp hình ảnh ; ở Pháp, số trường hợp cắt bỏ ruột thừa đã giảm từ 300.000 năm 1990 xuống còn 83.000 năm 2010. Vậy chụp hình ảnh hệ thống (imagerie systématique) trong những trường hợp nghi viêm ruột thừa cải thiện việc xử trí các bệnh nhân đồng thời tránh một phẫu thuật vô ích với những biến chứng khả dĩ của nó.

    Ngược lại, chụp hình ảnh cho phép một sự theo dõi kéo dài trong những trường hợp viêm ruột thừa thật sự bị mổ muộn, ở giai đoạn thủng và làm dễ động tác ngoại khoa nhờ chẩn đoán những biến chứng có thể xảy ra. Chụp hình ảnh là một nguồn tiết kiệm thật sự. Quỹ quốc gia bảo hiểm bệnh tật đã không lầm vì lẽ, trong một báo cáo được công bố tháng 9 năm 2011 về những trường hợp mổ césarienne và mổ phiên cắt bỏ ruột thừa, cơ quan này đã cho thấy rằng, trong vài tỉnh, tỷ lệ cắt bỏ ruột thừa gần 2 lần cao hơn tỷ lệ của Paris và rằng nếu tất cả các tỉnh ở Pháp hành động như ở Paris, ta có thể còn tránh được, nhờ chụp hình ảnh, 15.000 trường hợp cắt bỏ ruột thừa vô ích mỗi năm
    (LE FIGARO 27/8/2012)


    7/ BỆNH PARKINSON : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA CÀ PHÊ ?

    Một sự sản xuất không đủ dopamine, chất dẫn truyền thần kinh cần thiết cho sự điều hoà những cử động, là điểm đặc trưng của não bộ của những người bị bệnh Parkinson. Kết quả của sự thiếu hụt này phần lớn gây nên những triệu chứng của bệnh, trong đó triệu chứng run. Bổ sung cho điều trị cơ bản, dựa trên sự sử dụng dopamine, các tác giả Canada khuyến nghị tiêu thụ đều đặn cà phê. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy tác dụng của phòng ngừa của cà phê lên nguy cơ xuất hiện bệnh, nhưng không một công trình nghiên cứu nào đã phân tích tác dụng của nó ở những người đã bị bệnh. Các nhà nghiên cứu của Montréal (kíp của BS Ronal Postuna, đại học Mc Gill) đã tiến hành một công trình nghiên cứu trên 60 người bị bệnh Parkinson, được chia thành hai nhóm. Một nhóm nhận mỗi ngày 200mg caféine dưới dạng thuốc viên (tương đương với 3 tách cà phê) và nhóm kia nhận một placebo. Sau 6 tuần, họ đã quan sát thấy một sự giảm rất đáng kể triệu chứng run ở những người thuộc nhóm thứ nhất. Cà phê, do phong bế vài thụ thể tế bào, gây nên một sự huy động dopamine có sẵn ở não bộ.
    (FIGARO 6/9-12/9/2012)

    8/ LÀM SAO PHÒNG NGỪA TÉ NGÃ NGHIÊM TRỌNG VÀ GÃY XƯƠNG Ở NHỮNG PHỤ NỮ TRÊN 75 TUỔI ?

    Patricia Dargent-Molina
    Directrice de Recherche
    Unité Inserm 953


    Đó là câu hỏi mà công trình nghiên cứu “Ossébo”, được thiết đặt bởi Inserm và AP-HP sẽ cố gắng trả lời. Câu hỏi là quan trọng khi ta biết rằng trên 75 tuổi, cứ 3 người thì có một người là nạn nhân của một té ngã mỗi năm. Các phụ nữ, đồng thời chịu nhiều nguy cơ bị bệnh loãng xương và té ngã hơn đàn ông cùng lứa tuổi, bị ảnh hưởng nhiều nhất. Trong 10 đến 15% các trường hợp, té ngã kèm theo một chấn thương vật lý nghiêm trọng, một gãy xương trong đa số các trường hợp.

    Một mật độ khoáng xương (densité minérale osseuse) bị giảm, đặc trưng của bệnh loãng xương (ostéoporose), làm gia tăng nguy cơ gãy xương. Nhưng mặc dầu vậy phần lớn những gãy xương xảy ra ở những người trên 65 tuổi trực tiếp được gây nên bởi một sự té ngã. Những biện pháp đơn giản và hiệu quả do đó góp phần làm giảm một cách đáng kể số trường hợp gãy xương trong dân chúng. Chúng ta hãy ghi nhớ rằng những trường hợp gãy xương này là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh tật và mất năng lực ở những người già.

    Suốt trong 10 năm qua, những thử nghiệm can thiệp (essai d’intervention) đã cho thấy rằng vài chương trình thể dục (programme d’exercice physique), đặc biệt những chương trình bao gồm một công tác đặc biệt về sự cân bằng, có thể làm giảm tỷ lệ té ngã từ 20 đến 40%, nhưng tính hiệu quả của chúng lên sự phòng ngừa các gãy xương và những té ngã trầm trọng khác không được chứng tỏ. Vậy mục tiêu chủ yếu của công trình nghiên cứu Ossébo là đánh giá lợi ích của thể dục lên sự ngăn ngừa những trường hợp té ngã nghiêm trọng ở những lão phụ. Công trình cũng mang lại những yếu tố thiết yếu để hiểu rõ hơn sự can thiệp hiệu quả như thế nào (cải thiện vài năng lực vật lý nhưng có lẽ cũng cải thiện lòng tự tin, sự thoải mái tâm lý,) và những yếu tố cá thể nào ảnh hưởng lên sự duy trì việc tham gia các ateliers, đặc biệt về lâu về dài.

    Để tiến hành tốt công trình nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng hai nhóm : một nhóm nhận can thiệp (intervention) và một nhóm chứng. Tổng cộng, gần 700 phụ nữ tham gia vào công trình nghiên cứu trong 20 thành phố của Pháp. Can thiệp kéo dài 2 năm và gồm những atelier hebdomadaire, chia thành những nhóm nhỏ, được theo dõi bởi những chuyên gía về huấn luyện những người già, và những bài tập phải thực hiện ở nhà. Can thiệp nhằm vào những phụ nữ 75 tuổi hoặc hơn, thể chất không tốt lắm cũng không yếu ớt lắm, nghĩa là những người phải được nhận can thiệp nhất.

    Những kết quả chủ yếu được dự kiến vào năm 2013, sau khi tất cả các phụ nữ đã được theo dõi 2 năm. Những kết quả của một phân tích sơ bộ đã cho thấy một sự cải thiện đáng kể những năng lực vật lý của các phụ nữ sau một năm can thiệp.
    (LE FIGARO 25/6/2012)

    9/ CẬN THỊ NHẸ VÀ TRUNG BÌNH : NHỮNG LENTILLE BAN ĐÊM ĐỂ THẤY RÕ HƠN BAN NGÀY.

    GS Gilles Renard, thầy thuốc nhãn khoa thuộc bệnh viện Hotel-Dieu (Paris), giải thích thiết bị mới này điều chỉnh thị giác như thế nào nhờ biến đổi hình thể của giác mạc.

    Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi bất thường đặc trưng bệnh cận thị ?
    GS Gilles Renard : Vì mắt của người cận thị quá dài, hình ảnh không được tạo nên trên võng mạc mà trước võng mạc. Do đó thị giác nhìn xa (vision de loin) bị mờ, gây trở ngại quan trọng trong cuộc sống hàng ngày để lái xe, đọc số nhà, xem kịch..

    Hỏi : Hiện nay, những phương pháp khác nhau để điều chỉnh là gì ?
    GS Gilles Renard : Thường được sử dụng nhất là mang kính, lentilles và ngoại khoa. Mang kính gây trở ngại cho việc thực hành một môn thể thao và ở các trẻ em, dấu hiệu có thể thấy được này (mang kính) có thể tạo nên một mặc cảm tự ti. Mang lentille hàm ý những gò bó trong việc đặt, bảo quản tỉ mỉ và cần phải lấy đi lúc bơi lội. Về ngoại khoa, kỹ thuật laser được sử dụng nhất, nhưng ngoài nguy cơ do kỹ thuật này (như mọi phẫu thuật ngoại khoa), nó không thể đảo ngược được và chỉ có thể thực hiện một khi chứng cận thị đã được ổn định, nghĩa là sau tuổi 20. Vậy các trẻ em bị loại khỏi phương thức can thiệp này.

    Hỏi : Kỹ thuật mới được gọi là “ orthokératologie ” là gì ?
    GS Gilles Renard : Đó là sử dụng những lentille flexible mà ta chỉ mang duy nhất vào ban đêm. Hình dạng của chúng, dẹt ở giữa và phồng lên ở ngoại biên, cho phép, trong lúc ngủ, điều biến (modeler) một cách tạm thời giác mạc và như thế đẩy lùi hình ảnh để đặt nó trở lại lên võng mạc. Sau khi rút lentille, hiệu quả lên sự điều chỉnh thị giác kéo dài 24 đến 48 giờ.

    Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã cho thấy mức độ dung nạp tốt và tính hiệu quả của kỹ thuật này ở các trẻ em và người lớn ?
    GS Gilles Renard : Những kết quả rất tốt của các công trình nghiên cứu quốc tế, được thực hiện trên hàng ngàn bệnh nhân đã được công bố trong nhiều tạp chí khoa học. Điều này đã khiến FDA (cơ quan hữu trách y tế Hoa kỳ) đã hợp thức hóa, vào năm 2002, phương pháp này, vốn đã được sử dụng ở Hoa Kỳ và trong vài nước châu Âu.

    Hỏi : Thời gian sử dụng của tất cả những lentille mới nhất này là gì ?
    GS Gilles Renard : Khoảng 1 năm. Ta có thể buộc phải thay chúng trước thời gian này, tùy theo sự dung nạp hay tiến triển của bệnh cận thị. Việc sử dụng chúng hơi tế nhị, những việc đặt và lấy chúng đi được thực hiện dễ dàng. Trẻ em không thấy khó khăn hơn người lớn.

    Hỏi : Có những chống chỉ định đối với kỹ thuật điều chỉnh chứng cận thị này hay không ?
    GS Gilles Renard : Có nhiều chống chỉ định : một sự tiết nước mắt không đầy đủ, viêm kết mạc dị ứng, nguy cơ nhiễm trùng ở những người có tình trạng vệ sinh kém, sẹo chấn thương, dystrophie cornéenne héréditaire.

    Hỏi : Nói tóm lại những lợi ích chính của orthokératologie là gì ?
    GS Gilles Renard : 1. Không bị một gò bó nào trong ngày : tất cả các môn thể thao đều có thể thực hiện, người ta quên mình bị cận thị. 2. Không có nguy cơ bị thâm nhiễm bụi giữa giác mạc và lentille (buộc phải lấy nó đi). 3. Có thể kỹ thuật này làm chậm sự tiến triển của bệnh cận thị. Nếu công trình nghiên cứu quốc tế đang tiến hành được xác nhận, đó sẽ là một cuộc cách mạng thật sự, do đó chúng ta hy vọng có thể cho các trẻ được hưởng càng sớm càng tốt những lentille điều chỉnh này để ngăn cản tiến triển của bệnh cận thị. Bước tiến này càng quan trọng khi ở những trẻ này, ngoại khoa không thể thực hiện được.
    (PARIS MATCH 6/9 – 12/9/2012)

    10/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : MỘT KỸ THUẬT MỚI BẰNG SIÊU ÂM.

    Những điều trị cổ điển của ung thư tiền liệt tuyến nhờ đến phóng xạ liệu pháp hay ngoại khoa. Một kỹ thuật vi xâm nhập mới bằng siêu âm có cường độ cao (ultrasons de haute intensité) dường như cho những kết quả đầy hứa hẹn. Chỉ trong một buổi điều trị, các siêu âm được phát ra qua đường hậu môn, dưới gây mê quanh màng cứng (anesthésie péridurale). Bệnh nhân sau đó giữ một ống thông tiểu trong 10 ngày. Phương thức mới này chỉ có thể áp dụng đối với những ung thư khu trú, ít xâm nhập (giai đoạn T1 và T2) và chừng nào thể tích của tuyến không vượt quá 35 g. Những điều kiện này là những điều kiện của phần lớn các bệnh nhân. Một công trình nghiên cứu của Luân đôn (University College, kíp của GS Mark Emberton), được tiến hành trên 41 người từ 45 đến 80 tuổi, đã cho thấy những kết quả tuyệt vời (sau 1 năm, 39 bệnh nhân không có một dấu hiệu tái phát nào, hoặc một tỷ lệ thành công 95%). Hai ưu điểm lớn của những siêu âm này là sự vắng mặt gần như hoàn toàn của những thương tổn của các cơ quan lân cận, như bàng quang và các dây thần kinh cương (dưới 10% những trường hợp hợp rối loạn cương, so với 50 đến 70% khi được điều trị bằng phương pháp cổ điển). Những siêu âm có thể được lập lại trong trường hợp tái phát tại chỗ sau phóng xạ liệu pháp và được dung nạp tốt bởi bệnh nhân già.
    (PARIS MATCH 8/5 – 16/5/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (24/9/2012)

    Edited by user Wednesday, September 26, 2012 12:22:04 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #8 Posted : Sunday, September 30, 2012 2:35:16 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 282

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH



    1/ LAVERAN VÉN MÀN BÍ MẬT CỦA BỆNH SỐT RÉT

    Quote:
    Vào năm 50 tuổi ông quyết định chuyên tâm vào nghiên cứu.

    Từ năm 1884 đến 1894, Laveran dạy vệ sinh quân đội ở Val-de-Grace. Vào lúc kết thúc chức vụ giáo sư theo quy định, năm 1896 ông xin được về hưu trong khi ông chỉ mới 50 tuổi, để chuyên tâm hoàn toàn vào nghiên cứu. Emile Roux, người kế tục của Louis Pasteur mở cho ông cánh cửa của Viện Pasteur Paris. Sự cống hiến của ông sẽ là đáng kể không những trong lãnh vực bệnh sốt rét mà còn trong lãnh vực những bệnh nhiệt đới khác như bệnh ngủ (maladie du sommeil). Vào năm 1907, ông thành lập société de pathologie exotique. Ông làm việc ở đó cho đến khi qua đời năm 1922.

    Vào năm 1880, Alphonse Laveran, quân y sĩ, phát hiện ký sinh trùng sốt rét trong máu của một người lính trẻ. Khám phá này sẽ cần một ít thời gian mới thuyết phục thế giới y khoa.

    Buổi sáng ngày 6 tháng 11 hôm đó mặt trời vừa ló dạng. Các con đường phố của Constantine (Algérie) đã rì rầm ngàn tiếng la hét : tiếng nện móng của các con lừa quá tải đi xuyên qua thành phố, và tiếng dê kêu chờ đợi người ta đến vắt sữa, hòa lẫn với tiếng nói chuyện của các nông dân lên đường ra đồng cày cấy. Các phụ nữ trùm khăn, những người đàn ông khoác áo choàng burnous, spahis y phục đỏ… Một đám đông ô hợp đang hoạt động.

    Viện quân y sĩ thiếu tá hạng nhất, Charles Alphonse Laveran tiến bước trong những con đường nhỏ hẹp và ngoằn nghèo mà chẳng hề chú ý một chút nào sự náo động này. Ông hầu như không đáp lại lời chào của viên đại úy mà ông gặp trên đường. Ông chỉ có một vội vàng : tìm lại cái yên tĩnh của phòng thí nghiệm của bệnh viện quân y mình và chui đầu ở chiếc kính hiển vi của ông.

    Sáng hôm đó ông sẽ xem xét máu của một viên lính trẻ của đại đội 8 của đoàn quân cụ. Chàng thanh niên 28 tuổi này trú đóng ở doanh trại Bardo, được xây dựng trong một vùng đặc biệt không lành mạnh : bờ sông Rhumel, dòng sông bao quanh núi đá nằm trên đó là thành phố Constantine. Anh ta ở bệnh viện hôm 12 tháng 10, sốt hạ dễ dàng với sulfate de quinine. Ra viện hôm 24 tháng 10, bệnh nhân sốt trở lại 2 ngày sau ; lần này cơn sốt có tính chất từng cơn rất rõ rệt : các cơn sốt tái phát mỗi ngày vào khoảng 10 giờ sáng. Bệnh nhân gầy gò, rất thiếu máu, các niêm mạc mất màu, nước da nhợt nhạt. Như phần lớn các người lính của Algérie, anh ta bị lây nhiễm bởi bệnh sốt rét.

    Alphonse Laveran chưa biết điều đó, nhưng trong vài giờ nữa ông sẽ khám phá, trong một giọt máu được quan sát dưới kính hiển vi, tác nhân gây bệnh sốt rét và vén một bức màn che phủ một bí mật xưa như nhân loại. Những cơn sốt mỗi 2 ngày (fièvres tierces), mỗi 3 ngày (fièvres quartes), sốt từng cơn (fièvres intermittentes), ác tính (fièvre pernicieuse), bệnh sốt rét đi kèm theo con người từ những bước đầu của lịch cử nhân loại. Nó ảnh hưởng lên mỗi định mệnh và lên định mệnh của các đế chế, làm giảm dần những vùng nông nghiệp, ảnh hưởng lên số phận của các chiến dịch quân sự.

    NHỮNG CHƯỚNG KHÍ CỦA ĐẤT, KHÔNG KHÍ HAY NƯỚC.

    Ngày nay khó mà tưởng tượng được, nhưng vào năm 1931, căn bệnh còn hoành hành trong Marais poitevin (Poitiers), vịnh Morbihan (Bretagne), ở Camargue và nhất là ở đảo Corse. Ile de Beauté (tuc đảo Corse), đặc biệt nhiều đầm lầy vào thế kỷ XIX, khi đó cũng nguy hiểm như các bờ biển của Sénégal ngày nay. Ở Ý phải chờ đợi các đầm lầy Pontins được làm khô bởi Mussolini để bệnh sốt rét không còn là một tai ương chung quanh thành phố Rome. Mặt khác chính ngôn ngữ của Dante (văn sĩ người Ý) đã cho một trong những tên gọi của căn bệnh : malaria (mal aria có nghĩa là khí xấu). Trong nhiều thế kỷ, những sốt từng cơn này đã được quy cho chướng khí (miasmes), những hơi bốc có hại nhưng không rõ ràng từ đất, của không khí hay nước, chủ yếu là những hơi bốc từ các đầm lầy.

    Ở Algérie, những cơn sốt này hủy diệt những quân đội Pháp từ năm 1830. Đã nhiều lần, bộ chỉ huy ngay cả đã đề nghị bỏ những vùng đất tiêu điều này. Giữa năm 1830 và 1841, trên 50.266 người chết, dân quân lẫn lộn, chỉ có 2995 bị giết chết bởi hỏa lực của quân thù. Những trường hợp khác, nghĩa là hơn 90%, phần lớn gục ngã do những hậu quả của những đợt sốt gây nên bởi bệnh sốt rét.

    Vào năm 1840, tướng Duvivier lấy làm lo sợ : “ Những đồng bằng, như những đồng bằng Bône, Mitidja và biết bao nhiêu đồng bằng khác là những ổ bệnh và tử thần…những nghĩa địa ở đây nói lên điều đó.” Trong đồng bằng Bône, sự tàn sát đặc biệt nghiêm trọng trong những năm đầu của công cuộc chinh phục đất nước này bởi vì thành phố được bao quanh bởi những đầm lầy Boudjimah. Tình hình được cải thiện nhờ sự bướng bỉnh của một người duy nhất, thiếu tá quân y François Maillot, ngay năm 1834, đã thành công buộc điều trị một cách hệ thống các cơn sốt bằng quinine với những liều hiệu quả.

    Chính ở Bône (thành phố phía đông Algérie) mà Alphonse Laveran sẽ được bổ nhiệm vào năm 1878. Ông đã đến Algérie để nghiên cứu những trường hợp sốt rét. Mặc dầu các cơn sốt không còn gây chết người như cách nay 50 năm, nhưng chúng không hẳn đã bị đánh bại. Dân quân tiếp tục trả giá nặng nề cho tai ương này.

    Ở Bône, Laveran thiết đặt phòng thí nghiệm của mình. Vũ khí của ông : chiếc kính hiển vi. Thay vì tìm kiếm tác nhân gây bệnh sốt rét trong không khí, nước hay đất đai ở các đầm lầy, như phần lớn các nhà khoa học đã làm vào lúc đó, Alphonse Laveran trải qua hàng giờ quan sát các mô và máu của những bệnh nhân hay những người đã chết. Ông đặc biệt quan tâm các hạt sắc tố đen được tìm thấy khi giải phẫu tử thi trong các mô của gan và của não. Mélanémie này, trong trường hợp các cơn sốt, được biết từ năm 1716, cũng như các bạch cầu chứa đầy các sắc tố mà ông xem xét trong máu của các người bệnh. Nhưng cho mãi đến lúc đó, đối với tất cả, những sắc tố này là một hậu quả của căn bệnh.

    “ MỘT THẾ ROI DIỆU KỲ ”

    Về quan sát, sự may mắn chỉ ban ân huệ cho những đầu óc được chuẩn bị, Louis Pasteur thường lập lại với các học trò của mình như vậy. Thế mà trí tuệ của Laveran đã sẵn sàng. Bên cạnh những bạch cầu sinh mélanine (leucocyte mélanifère), ông khám phá những thể hình cầu, có thể tích thay đổi, có sắc tố, có những cử động như amibe. Những tiểu thể (corpuscule) này, ông thấy chúng lớn lên đồng thời voi những globule chứa chúng, nhợt nhạt và chứa đầy những sắc tố dường như được tạo thành từ hémoglobine của globule. Ngay giây phút đó, đối với người thầy thuốc, những thể mà ông tìm thấy với số lượng rất thay đổi trong các mô và máu của các bệnh nhân, không phải là các bạch cầu hay những hồng cầu bị biến dạng. “ Những yếu tố có sắc tố hình lưỡi liềm lôi kéo sự chú ý của tôi. Ngay khi đó tôi nghĩ rằng đó là những ký sinh trùng ”, về sau này ông đã giải thích như vậy. Nhưng phỏng đoán, nghi ngờ, tin, không tạo nên một bằng cớ.

    Còn phải 2 năm dài và trải qua hàng nghìn giờ sau kính hiển vi của mình để sau cùng viên thầy thuốc kiên trì và tỉ mỉ này giữ bằng cớ không thể bác bỏ được về bản chất ký sinh trùng của bệnh này.

    Trở lại Consatantine. Buổi sáng ngày 6 tháng 11 năm 1880, Laveran nhìn chăm chú, xuyên qua thấu kính phóng đại, giọt máu của người lính trẻ run lập cập vì sốt. Chăm chú, chính xác như mọi khi, ông khám phá những yếu tố mảnh như sợi chỉ tương tự những chiếc roi (flagelle) vừa phe phẩy một cách rất linh hoạt vừa làm xê dịch những hồng cầu lân cận. Ông giữ bằng cớ. Laveran không còn nghi ngờ nữa. Ông đã khám phá ký sinh trùng gây bệnh sốt rét. Thật vậy, ông vừa chứng kiến một giai đoạn của chu kỳ phát triển của ký sinh trùng gây bệnh sốt rét, exflagellation, nghĩa là sự biến hóa các giao tử bào đực (gamétocytes males) thành các vi giao tử (microgamète), bình thường chỉ xảy ra trong dạ dày của muỗi.

    Sau đó Alphonse Lavearn viết một bản thảo và gởi cho Viện hàn lâm y khoa. Không phải sự đắc thắng trong bản thảo này. Nhưng là một sự mô tả các bệnh nhân, những công trình, những quan sát chăm chú đã bắt đầu ở Bône vào năm 1878 và kết thúc hai năm sau ở Constantine. Khám phá của ông không hề do sự tình cờ. Đó là kết quả của một quá trình lao động dài lâu, có phương pháp và nghiêm túc.

    Ở Paris, lời ghi chép của ông không gây mấy phấn khởi. Nó được giới y khoa tiếp đón với sự hoài nghi lớn nhất. Léon Collin, hội viên của Viện hàn làm y khoa, người đã có nhiều đóng góp trong việc biến bệnh sốt rét thành một“ intoxication tellurique ”, tức thời đưa ra, ngày 23 tháng 11, những lời dè dặt căn cứ trên “ sự khó dung hòa bản chất sinh vật của mầm bệnh với sự vắng bóng tính chất gây nhiễm của bệnh ”. Chính Pasteur cũng không tin ở bản chất ký sinh trùng của bệnh sốt rét. Ông chỉ tin một cách khẳng định vài năm sau đó, ngày Laveran chỉ cho ông một exflagelltion qua kính hiển vi. “ Ở giữa vi trường, một thể hình roi (corps flagellé) diệu kỳ phe phẩy những chiếc roi của chúng. Không thể không nhận biết một thể sống trong khối nguyên bào chất (masse protoplasmique), bằng những chiếc roi của mình, đẩy lùi những hồng cầu lân cận, BS Emile Roux, hiện diện vào lúc biểu diễn này đã kể lại như vậy. Pasteur, rất ham mê khoa học, hết sức xúc động về điều đó.”

    HƯỚNG NGHIÊN CỨU CẦN THỜI GIAN ĐỂ THUYẾT PHỤC

    Nếu Laveran khó thuyết phục, đó cũng là do cuộc cách mạng Pasteur và sự phát triển của vi khuẩn học. Vào năm 1879, khi Klebs và Tommasi-Crudeli nghĩ là đã khám phá vi khuẩn gây bệnh trong không khí, bùn của các đầm lầy và nước tiểu của một bệnh nhân bị bệnh sốt từng cơn, cộng đồng y khoa bị quyến rũ. Hướng ký sinh trùng được mô tả năm sau bởi Laveran, đi ngược trào lưu, nên sẽ cần nhiều thời gian để thuyết phục.

    Nhưng Alphonse Laveran có bản chất bướng bỉnh. Để thuyết phục các đồng nghiệp của mình, ông công bố vào năm 1881 một hồi ký trong đó ông mô tả, dưới tất cả các dạng, ký sinh trùng của “impaludisme”. Vào năm 1882 ông đi Ý trong chiến dịch của thành phố Rome, đặc biệt bị hoành hành bởi bệnh sốt rét. Ở đó ông sẽ phát hiện cùng những hématozoaires đã được quan sát ở Algérie. Khi đó ông giành được niềm tin của các thầy thuốc người Ý. Bắt đầu từ đó, thế giới y khoa công nhận dần dần những khám phá của Laveran.

    Nhưng cách truyền bệnh sốt rét vẫn không được biết rõ. Nếu ngay năm 1884 Laveran mô tả trong chuyên luận về sốt rét rằng “ ông đã tin chắc rằng vi trùng ở ngoài cơ thể con người, ở trạng thái ký sinh trùng và rất có thể ở trạng thái ký sinh trùng của muỗi ”, sẽ phải chờ năm 1897 để giả thuyết này được xác nhận bởi Donald Ross, một người Anh.

    Vào năm 1907, 27 năm sau khi khám phá hémtozoaire của bệnh sốt rét, sau cùng Laveran được thưởng giải Nobel.
    (LE FIGARO 10/8/2012)


    2/ LÀM THẾ NÀO BÌNH THƯỜNG HÓA TỐT HƠN HUYẾT ÁP CỦA MÌNH ?

    CARDIOLOGIE. Ngày nay, 80% những người Pháp được chẩn đoán cao huyết áp đang được điều trị. Tỷ lệ này che dấu một thực tế đáng lo ngại : Từ 30 đến 40% những người cao huyết áp không biết rằng mình bị huyết áp cao và một nửa trong số những người đang được điều trị không có một huyết áp được bình thường hóa, GS Faiez Zannad, thầy thuốc chuyên khoa tim (CHU de Nancy) đã chứng thực như vậy. Huyết áp được định nghĩa là quá cao khi trên 140/90 mmHg. Hai con số này biểu hiện áp lực do máu tác động lên các thành động mạch : trị số cao nhất khi tim co bóp và phóng máu (huyết áp thu tâm), trị số thấp nhất khi tim giãn và làm đầy (huyết áp trương tâm).

    Cao huyết áp càng đáng sợ khi nó không gây triệu chứng, hay rất muộn. Chóng mặt, đau đầu, ù tai, khó thở khi gắng sức, thậm chí hồi hộp khi gắng sức chỉ xuất hiện khi huyết áp đã rất cao. Thế mà, tỷ lệ tử vong tim mạch tăng gấp đôi đối với mỗi gia tăng 20/10 mmHg của HA thu tâm/HA trương tâm, Jean - Jacques Mourad, thầy thuốc chuyên khoa tim (Bobigny), đã nhắc lại như vậy. Huyết áp làm biến đổi các động mạch, làm gia tốc sự lão hóa, tấn công vào tim, thận và não bộ.

    NGUY CƠ ĐỘT QUY

    Cao huyết áp đặc biết có hại đối với não bộ. Nó là yếu tố nguy cơ chính của đột qụy và gây nên những thương tổn vi thể huyết quản (microlésions vasculaires), nhiên hậu chịu trách nhiệm démence sénile. “ Một nửa những trường hợp sa sút trí tuệ ở những người trên 80 tuổi là do cao huyết áp ”, BS Bernard Vaisse, chủ tịch của ủy ban chống cao huyết áp Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Thế mà, chỉ có kiểm soát cao huyết áp mới có thể bảo vệ những màng não. Và việc điều trị này phải được thực hiện càng sớm càng tốt. “ Ở tuổi 55, một cao huyết áp không được điều trị làm giảm hy vọng sống (espérance de vie) 7 năm và kéo dài hai năm cuộc sống với một phế tật do nhồi máu cơ tim, suy thận, suy tim, sa sút trí tuệ…”, Jean Jacques Mourad đã nhắc lại như vậy.

    Đối với các chuyên gia, dưới mức 140/90 không phải bàn cãi (135/85 mmHg trong trường hợp tự đo). Để đạt được điều đó, những quy tắc vệ sinh-tiết thực kết hợp với những điều trị bằng thuốc. “ Giảm tiêu thụ muối, rượu, mất cân, tập thể dục… Đó cũng quan trọng như dùng thuốc ”, Faiez Zannad đã nhấn mạnh như vậy. Mặc dầu biến đổi lối sống không phải luôn luôn dễ dàng, cũng như dùng thuốc mỗi ngày trong nhiều năm trong khi ta không cảm thấy bị bệnh.Chính vì vậy những người cao huyết áp không luôn luôn tuân thủ điều trị. “ Phải mang lại một ý nghĩa đối với việc kê đơn một loại thuốc phòng ngừa, Jean-Jacques Mourad đã công nhận như thế. Phải làm thế nào để thông lệ hóa việc uống thuốc, ở một giờ cố định, để bệnh nhân không bị quên ”, Bernard Vaisse tán đồng. “ Chúng ta phải lắng nghe các bệnh nhân về những tác dụng phụ. Chất lượng sống của họ phải được tôn trọng để họ chấp nhận các điều trị , GS Claire Mounier-Vehier, phó chủ tịch Liên đoàn Tim học của Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Thầy thuốc có sự lựa chọn giữa 5 họ thuốc : những thuốc lợi tiểu, những thuốc chẹn beta giao cảm (betabloquant), những thuốc chẹn kênh canxi (inhibiteur calcique), các thuốc ức chế men chuyển (IEC : inhibiteur de lenzyme de conversion) và những sartan. Viện kê đơn được cá thể hóa tùy theo profil của mỗi bệnh nhân, những yếu tố nguy cơ liên kết. Trong trường hợp không kiểm soát được huyết áp, có thể phối hợp nhiều loại thuốc.

    Những người Pháp không phải là những người duy nhất chịu trách nhiệm sự kiểm soát huyết áp tồi. Các chuyên gia trỏ vào sự trì trệ của các thầy thuốc Pháp. Số những bệnh nhân cần điều trị trong thăm khám càng cao, thầy thuốc càng ít tìm cách thích ứng điều trị cao huyết áp. BS Guillaume Bobrie, chuyên gia cao huyết áp của bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou đã chứng thực như vậy. Thế mà rất thường, huyết áp không xảy ra riêng rẻ, nó kèm theo những yếu tố nguy cơ khác như bệnh đái đường và cholestérol.” Theo những dữ kiện đầu tiên của điều tra Flash 2012, 40% những người cao huyết áp có một cholestérol quá cao và từ 15 đến 20% bị bệnh đái đường, BS Benard Vaisse đã tiết lộ như vậy.
    (LE FIGARO 17/9/2012)

    3/ PHẢI PHÁT HIỆN TỐT HƠN CHỨNG VẸO CỘT SỐNG TRƯỚC TUỔI DẬY THÌ

    Mang một corset orthopédique vẫn là điều trị thông thường nhất, nhưng vài trường hợp cần phải phẫu thuật.

    COLONNE VERTEBRALE. “ Lưng của các trẻ em phải được thăm khám mỗi năm để phát hiện chứng vẹo cột sống (scoliose) càng sớm càng tốt, GS Jérome Sales de Gauzy, trưởng kíp ngoại khoa chỉnh hình, chấn thương và thẩm mỹ của Bệnh viện nhi đồng Toulouse đã nhắc lại như vậy. Những điều tra phát hiện học đường (dépistages scolaires) hiện nay không đủ.” Chứng vẹo cột sống, một biến dạng của cột sống trên 3 trục, ảnh hưởng đến 5% các trẻ em, con gái rõ rệt bị nhiều hơn con trai. Trong đa số các trường hợp, cử động xoay bị hạn chế và cột sống điều chỉnh để thích ứng mà không có hậu quả đối với tương lai. Khi góc xoay gần 15 độ hoặc hơn, phải xác định xem vẹo cột sống có tiến triển và cần điều trị hay không.

    Tuổi dậy thì là một thời kỳ bản lề, trong đó chứng vẹo cột sống tiến triển rất nhanh và có thể dẫn đến những biến dạng quan trọng và chỉ có thể được điều trị bằng ngoại khoa. “ Chúng tôi còn thấy một cách đều đặn những thiếu nữ 15 tuổi với một vẹo cột sống quan trọng, nhưng không bao giờ được phát hiện, GS Raphael Vialle, trưởng khoa ngoại chỉnh hình và sữa chữa nhi đồng thuộc bệnh viện Armand-Trousseau, Paris, đã nhấn mạnh như vậy. Thường chính ở bãi biển mà bố mẹ, vốn chỉ thấy một cách hiếm hoi lưng của các con mình ở thời kỳ thiếu niên, nhận xét một đường cong bất thường hay một bosse khiến họ đi khám thầy thuốc.” Một thăm khám lâm sàng rất đơn giản khi đó cho phép phân biệt một chứng vẹo cột sống thật sự và một tư thế vẹo cột sống (attitude scoliotique) do một tư thế xấu (mauvaise posture) biến mất khi nằm.

    MỘT RỐI LOẠN TĂNG TRƯỞNG CỦA CỘT SỐNG.

    Hơn 70% những trường hợp vẹo cột sống trẻ em được gọi là không rõ nguyên nhân (idiopathique), nghĩa là nguồn gốc của chúng không được biết mặc dầu có một yếu tố di truyền : nguy cơ bị vẹo cột sống cao hơn khi một thành viên của gia đình cũng bị bệnh. Những trường hợp khác có thể là do những dị tật bẩm sinh, những bại liệt nhất là do những neuropathie hay do những chấn thương.

    Trong những thể không rõ nguyên nhân, chứng vẹo cột sống được liên kết với một rối loạn tăng trưởng của cột sống, mà những hậu quả trở nên nghiêm trọng khi xảy ra đợt bộc phát tăng trưởng lúc tuổi dậy thì. Khi chứng vẹo cột sống được phát hiện trước khi chấm dứt thời kỳ tăng trưởng, một thời kỳ quan sát 4 tháng là cần thiết để xác định xem chứng vẹo cột sống có tiến triển và có nguy cơ trở nặng hay không. Nếu vẹo cột sống ổn định và có một đường cong vừa phải, không cần phải điều trị. Nêu sự tiến triển được chứng tỏ bằng hai lần thăm khám X quang cách xa nhau, mang một corset orthopédique vẫn là điều trị thường gặp nhất. Corset orthopédique nhằm hướng dẫn sự tăng trưởng của cột sống nhờ điều chỉnh độ cong của vẹo cột sống. “ Ta không thể tái phục lại đường cong, nhưng những corset cho phép duy trì góc khởi đầu, GS Sales de Gauzy đã nhấn mạnh như vậy.

    MỘT ĐIỀU TRỊ BÓ BUỘC

    Đó là một điều trị cưỡng bức (traitement contraignant), đôi khi khó khiến các thiếu niên chấp nhận, với những trẻ này phải chọn nhịp độ tốt để chắc chắn rằng corset sẽ được mang. Tùy theo độ cong lúc ban đầu, loại độ cong, tính chất nhanh chóng của tiến triển, đứa bé sẽ mang corset vài giờ mỗi ngày hoặc suốt cả đêm hoặc một cách liên tục. Corset phải được mang đến hết thời kỳ tăng trưởng xương, điều này có thể cần nhiều năm khi chứng vẹo cột sống được phát hiện lúc 11 tuổi. Luôn có thể tìm ra những phương cách để đứa bé chấp nhận, nhất là về những hoạt động thể thao, tất cả phải được khuyến khích, GS Vialle đã nhấn mạnh như vậy. Khi tiến triển xương chấm dứt, chứng vẹo cột sống chỉ còn tiến triển rất chậm và nếu một điều trị đã được thực hiện khá sớm, ta có thể nói rằng ta đã thắng cuộc.

    Khi độ cong rất quan trọng vào lúc phát hiện, một điều trị ngoại khoa có thể được xét đến để điều chỉnh sự mất quân bình, đôi khi sau một thời kỳ được điều trị bằng corset nếu có thể chờ đợi đến cuối thời kỳ tăng trưởng. Khi đó can thiệp gồm có điều chỉnh hướng của của các đốt sống nhờ những implant rồi hợp nhất vài đốt sống nhờ một sự tăng trưởng xương mới. Mặc dầu nguyên tắc đã không thay đổi từ những năm 1990, nhưng từ nay những công cụ cho phép xác định tốt hơn những can thiệp và gìn giữ chừng nào có thể được độ mềm dẻo của cột sống.Trong trường hợp này, chẩn đoán càng muộn khi một vẹo cột sống đã tiến triển, sẽ càng khó gìn giữ hơn phần lành mạnh của cột sống.
    (LE FIGAO 24/9/2012)

    4/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC : ĐIỀU TRỊ MỚI ĐỂ TIẾP TỤC BƯỚC

    BS Caroline Papeix, thầy thuốc thần kinh ở bệnh viện La Pitié - Salpetrière và ở Institut du cerveau et de la moelle épinière (ICM), tác giả của “ La Sclérose en plaques. S’informer pour mieux se soigner ”, édition Odile Jacob.

    Hỏi : Những cơ chế nào là nguyên nhân của bệnh thần kinh này ?
    BS Caroline Papeix: Bệnh lý viêm này là do một sự tăng hoạt tính của hệ miễn dịch. Sự loạn năng này gây nên một sự phá hủy dần dần myéline, bao bảo vệ (gaine protectrice) bao quanh phần kéo dài của các tế bào thần kinh. Những thương tổn được phân bố thành mảng (plaques) trong hệ thần kinh trung ương (não bộ, tủy sống, dây thần kinh thị giác). Hiện nay ở Pháp, 70.000 người bị bệnh.

    Hỏi : Những triệu chứng của bệnh này là gì ?
    BS Caroline Papeix: Những triệu chứng đầu tiên rất thay đổi : những cảm giác kiến bò trong 4 chi, bại liệt tạm thời, nhưng rối loạn cân bằng, những rối loạn thị giác, tiểu tiện..

    Hỏi : Ở phần lớn các bệnh nhân, bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques) tiến triển như thế nào ?
    BS Caroline Papeix: Bệnh mãn tính gây phế tật này xảy ra ở những người trưởng thành trẻ tuổi : ngay ở lứa tuổi 30 (ở lứa tuổi này, nguyên nhân thứ hai gây phế tật). Trong phần lớn các trường hợp (80%), bệnh tiến triển thành những đợt kế tiếp nhau, được đánh dấu bởi sự xuất hiện những triệu chứng mới, có thể để lại những di chứng. Sau khoảng 30 năm, phế tật quan trọng là một sự khó bước, có thể, trong vài trường hợp, khiến phải dùng xe lăn.

    Hỏi : Phế tật này được bệnh nhân sống như thế nào ?
    BS Caroline Papeix:Các bệnh nhân rất đau khổ. Mặc dầu trí tuệ hoàn toàn lành mạnh, nhưng họ đánh mất dần dần khả năng tự trị (autonomie) và dần dần trở nên phụ thuộc vào những kẻ khác. Ở giai đoạn này, họ có thể cảm thấy đau ở hai cẳng chân khi bước. Đôi khi ngay cả lúc nghỉ ngơi.

    Hỏi : Cho đến hôm nay, thái độ xử trí đối với những bệnh nhân này là gì ?
    BS Caroline Papeix:Mục đích của những điều trị hiện nay là làm chậm chừng nào có thể được tiến triển của bệnh. Từ này ta công nhận rằng điều trị bắt đầu càng sớm thì càng có hiệu quả. Thái độ điều trị gồm có : 1. Các thuốc có tác dụng phòng ngừa, các chất điều biến miễn dịch (immunomodulateur) haý các chất làm suy giảm miễn dịch (immunosuppresseur). 2. Những buổi phục hồi chức năng. 3. Những thuốc giảm đau hay, với những liều thấp, những thuốc chống động kinh hay những thuốc chống trầm cảm. Với protocole này, những kết quả thay đổi tùy theo mỗi cá thể.

    Hỏi : Điều trị mới rất được mong chờ vào mùa thu tới là gì ?
    BS Caroline Papeix:Đó là fampridine, một loại thuốc, lần đầu tiên, cải thiện năng lực bước. Thuốc tác dụng trực tiếp lên các neurone bằng cách duy trì sự dẫn truyền thần kinh trong các vùng mất myéline (zones démyélinisées). Một tiến bộ quan trọng cho phép nhiều bệnh nhân bảo tồn khả năng tự trị lúc bước lâu chúng nào có thể được. Thuốc sẽ không được cho để phòng ngừa, nhưng chỉ dành cho những bệnh nhân đã bắt đầu bị phế tật.

    Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh những lợi ích thật sự của fampridine trong bệnh xơ cứng rải rác ?
    BS Caroline Papeix:Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế đã được tiến hành trên hàng trăm bệnh nhân có tuổi trung bình 50 (trong đó phần lớn là các phụ nữ). Điều trị này đã tỏ ra có hiệu quả ở khoảng 1/3 các bệnh nhân (cả hai giới), và đặc biệt lên phế tật bước. Sự dung nạp thuốc tốt : ta đã không ghi nhận những tác dụng phụ. Loại thuốc này đã được thương mãi hóa ở Hoa Kỳ, Canada, và trong nhiều nước châu Âu (Đức, Anh, Đan mạch, Na Uy…). Bây giờ những hy vọng của chúng tôi hướng về những kết quả của những công trình nghiên cứu đang được tiến hành ở Viện não bộ và tủy sống (Institut du cerveau et de la moelle épinière (ICM) về những cơ chế sữa chữa và kích thích myéline.
    (PARIS MATCH 28/6-4/7/2012)

    5/ THẤT NGHIỆP RÚT NGẮN TUỔI THỌ

    Quote:
    Những điểm chủ yếu
    • Nguy cơ chết sớm hầu như tăng gấp đôi ở người lao động trẻ bị mất việc
    • Đàn ông bị nguy cơ hai lần nhiều hơn đàn bà
    • Tác động lên sức khỏe là không chối cãi được, một chuyên viên tâm thần của UCL đã giải thích như vậy

    Đó là điều chính thức : sự kiện mất việc làm làm giảm số năm sống do ảnh hưởng dài lâu lên tình trạng sức khỏe. Đó là kết luận quan trọng của méta-analyse đầu tiên các dữ kiện được thực hiện trên hơn 20 triệu người trong 15 nước phần lớn là những quốc gia phát triển.

    Eran, giáo sư xã hội học thuộc Đại học McGill, Montréal, đã thực hiện một công trình nghiên cứu, tiết lộ rằng thất nghiệp làm gia tăng 63% nguy cơ chết sớm. Những hậu quả đáng kể nhất được cảm thấy ở những người đàn ông bị mất việc ở lúc đầu hay giữa carière. Khi đó nguy cơ gia tăng lên đến 73 và 77%, trong khi nó “ chỉ ” gia tăng 25% nếu con đường nghề nghiệp đã được đi xa hơn. “ Điều đó cho thấy rằng nguy cơ gia tăng với khoảng thời gian bị mất của con đường nghề nghiệp (durée de carrière perdue). Những người đã hoàn thành phần lớn thời gian làm việc của mình sẽ ít bị tác động hơn so với một người trẻ.”

    Dĩ nhiên, các nhà nghiên cứu đã trung hòa phải tất cả những yếu tố cùng xảy ra (cofacteur) khả dĩ ảnh hưởng lên thời gian sống, như những bệnh đã có trước đây hay sự tiêu thụ các độc chất. “ Phải quyết định dứt điểm giữa hai giả thuyết : thất nghiệp gây bệnh, hay những hành vi sức khỏe (comportement de santé) ảnh hưởng đồng thời lên sức khỏe và công việc ”, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy.

    “ Một cách đáng ngạc nhiên, ta đã khám phá rằng, mặc dầu ta đánh giá rằng một điều trị săn sóc y tế tốt hơn có thể góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong, nhưng sự tương quan giữa thất nghiệp và chết sớm đều giống nhau ở trong tất cả các nước mà công trình nghiên cứu được thực hiện, mặc dầu sự đa dạng của các hệ thống y tế của các nước được khảo sát. Công trình nghiên cứu của chúng tôi gợi ý rằng mối liên hệ giữa thất nghiệp và tỷ lệ tử vong là mối liên hệ nhân quả (relation de cause à effet). Điều đó có lẽ là do sự kiện rằng thất nghiệp là một yếu tố gây căng thẳng (facteur de stress) và yếu tố này ảnh hưởng một cách âm tính lên tỉnh trạng xã hội kinh tế (statut socioéconomique) của người thất nghiệp, và điều này đến lượt dẫn đến một sức khỏe kém tốt hơn và một sự gia tăng những nguy cơ.”

    Công trình nghiên cứu cũng chỉ rõ rằng thất nghiệp làm gia tăng nguy cơ chết sớm ở đàn ông hơn ở đàn bà (78% so với 37%). “ Khi một người đàn ông mất việc, điều đó thường có nghĩa rằng gia đình sẽ nghèo đi và sẽ chịu đau khổ theo những cách khác nhau. Tình huống này, đến lượt, ảnh hưởng nhiều lên sức khỏe của một người đàn ông, bằng cách kích thích anh ta đồng thời hút thuốc, uống hay ăn nhiều hơn, như thế làm giảm sự tiếp cận một chế độ ăn uống lành mạnh và những dịch vụ săn sóc y tế. ”

    Những kết quả này không làm ngạc nhiên bao nhiêu BS Gérald Deschietere, trưởng unité de crise en psychiatrie ở Cliniques St-Luc (UCL) : “ Ta biết rằng stress mạnh có thể có những tác dụng sinh lý quan trọng, nhất là qua sự gia tăng huyết áp hay sự sản xuất hormone như cortisol. Một địa vị xã hội thích đáng và một nghề nghiệp được công nhận cho phép một tính miễn dịch tốt hơn. Ngược lại, thất nghiệp có thể dẫn đến một sự lên án (stigmatisation), một sự sa sút về hình ảnh của bản thân mình. Nhất là trong một xã hội hàm ý rằng kẻ không có việc làm chịu trách nhiệm điều đó do hành động và thái độ của mình. Tôi sửng sốt đôi khi chứng kiến nhưng bố mẹ không thể khẩn trương đến để hỗ trợ một thiếu niên chịu trách nhiệm một hành vi nghiêm trọng, bởi vì chính họ sợ mất việc của mình. Điều đó muốn nói rằng nhóm nghề nghiệp mà họ phụ thuộc không có tinh thần đoàn kết. Vài người sẽ vượt qua nhưng những người khác sẽ bỏ cuộc. Chắc chắn rằng điều đó sẽ có những hậu quả lên sự vận hành chức năng của cơ thể họ. Và như thế, nhiên hậu sẽ làm gia tăng tỷ lệ tử vong của họ.
    (LE SOIR 6/4/2011)

    6/ TÌNH TRẠNG CĂNG THẲNG LÚC LÀM VIỆC LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ NHỒI MÁU

    Vai trò của stress, mới được tranh luận gần đây, vừa được chứng minh trên 200.000 người, được theo dõi trong 20 năm.

    SANTE. Trên khoảng 120.000 trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra mỗi năm ở Pháp, gần 4000 trường hợp có thể quy cho tình trạng căng thẳng lúc làm việc. Lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu quy mô lớn xác nhận rằng những điều kiện làm việc gây căng thẳng thần kinh làm gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim (crise cardiaque). “Ta hằng nghi ngờ mối liên hệ này từ lâu, nhưng vẫn còn bị tranh cãi vì thiếu những dữ kiện khoa học thu thập trên những quần thể đủ lớn”, Marcel Goldberg, nhà nghiên cứu ở Inserm đã chỉ rõ như vậy. Công trình nghiên cứu, được công bố hôm thứ sáu trong The Lancet, tập hợp những thông tin được thu thập ở 200.000 người trong 7 nước châu Âu. Ở Pháp, chính những nhân viên của EDF (monteur de ligne, những nhân viên của các centrale thermique và nucléaire, các nhà nghiên cứu, các thư ký hay những thương gia), đã được theo dõi trong hơn 20 năm. Các nhân viên của các bệnh viện, của các tòa thị chính Phần lan, các công chức người Anh, các thợ thủ công và những nhân viên người Đức cũng đã được thăm dò. Dầu cho loại lao động là gì, chân tay hay trí tuệ, môi trường nghề nghiệp, đất nước, tuổi tác hay giới tính, kết quả đều như nhau. Những người bị stress có một nguy cơ 23% cao hơn bị nhồi máu cơ tim.

    Đo lường mức độ căng thẳng trong công việc một cách khách quan không phải là dễ. Những nhà nghiên cứu đã định nghĩa stress như là một phối hợp giữa những gò bó mạnh (contraintes fortes) và một sự độc lập (autonomie) bị thu giam để đương đầu. Như thế, những người những người làm công (salarié) có một quá tải công việc (surcharge de travail) hay nhịp độ công việc (cadences élevées), nhưng không có sự tự do nào để thích ứng, ở trong tình trạng căng thẳng nghề nghiệp (tension professionnelle). “ Làm việc theo dây chuyền là minh họa tốt nhất của một tình huống rất gây căng thẳng ”, Marcel Goldberg đã bình luận như vậy. Trái lại, có những trách nhiệm nặng nề không phải là một yếu tố căng thẳng (facteur de stress), miễn là người lao động có giới hạn (marge de manoeuvre). Sự hỗ trợ xã hội (soutient social) bởi tôn ti thứ bậc (hiérachie) hay các đồng nghiệp có một tác dụng bảo vệ.

    Để đánh giá tình trạng chịu stress, các nhà khoa học đã sử dụng bảng câu hỏi Karasek. Bảng câu hỏi này được thiết lập bởi một nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, xếp loại những người làm công (salarié) tùy theo những đáp ứng đối với những lời xác nhận như “ những công việc của tôi thường bị gián đoạn trước khi được hoàn tất ”, “ công việc của tôi rất thúc bách ”, “ tôi nhận những mệnh lệnh mâu thuẫn ”. Sau khi phân tích những câu trả lời, 15,3% những người tham gia công trình nghiên cứu đã được xếp trong loại là những người chuyên nghiệp chịu một sự căng thẳng trong công việc. Trong thời kỳ được khảo sát, 2358 biến cố động mạch vành đã được ghi nhận.

    Những hậu quả của stress lên sức khỏe ngày càng được hiểu rõ hơn.“ Bây giờ người ta xác lập rằng những điều kiện làm việc gây căng thẳng có thể sinh ra những rối loạn lo âu trầm cảm (trouble anxieux dépressif) và những bệnh cơ xương (maladies musculo-squelettiques), Valérie Langevin, thuộc Viện nghiên cứu và an toàn lao động quốc gia, đã chỉ rõ như vậy. Stress dường như cũng có liên hệ trong những rối loạn giấc ngủ, những thay đổi thể trọng và những tai nạn lao động.”
    (LE FIGARO 15/9 - 16/9/2012)


    7/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2 : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA MỘT LỚP THUỐC MỚI.

    GS Christian Boitard, trưởng khoa bệnh đái đường thuộc Hotel-Dieu (Paris) mô tả những cống hiến của những loại thuốc chống bệnh đái đường mới, được chứng minh bởi những công trình nghiên cứu quốc tế.

    Hỏi : Những đặc điểm của bệnh đái đường loại hai là gì ?
    GS Christian Boitard : Ở Pháp, bệnh đái đường loại hai gây bệnh cho hơn 6% dân số ! Có hai loại bệnh đái đường. Loại 1 (10% những trường hợp) là một bệnh lý tự miễn dịch, trong đó những tế bào sản xuất insuline bị phá hủy bởi hệ miễn dịch của bệnh nhân. Hormone này, được tiết bởi tụy tạng, điều hòa nhiên liệu chính của chúng ta : đường (hay glucose), nguồn năng lượng đầu tiên của cơ thể. Bệnh đái đường loại 2 (85% các trường hợp) là do một sự khiếm khuyết trong sự tiết insuline.

    Hỏi : Những yếu tố nào làm dễ sử xuất hiện bệnh đái đường loại 2 ?
    GS Christian Boitard : Một thể trạng gia đình, một chế độ ăn uống quá dồi dào, hoạt động vật lý không đủ, một tình trạng tăng thể trọng. Đó là một bệnh thâm hiểm, không gây triệu chứng trong một thời gian lâu. Không được điều trị, nồng độ đường trong máu (glycémie) đạt những trị số tăng cao, độc hại đối với các huyết quản, làm dễ những tai biến mạch máu : nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, những thương tổn thận hay những dây thần kinh của võng mạc.

    Hỏi : Việc điều trị như thế nào ?
    GS Christian Boitard : Điều trị phải bắt đầu bằng một chế độ ăn uống thích ứng và sự đưa vào lại một hoạt động vật lý đáng kể (ít nhất một ngày trên hai). Những biện pháp này được bổ sung bởi các loại thuốc, trước hết là những biguanide thuốc viên, làm dễ tác dụng của insuline, chủ yếu lên gan. Sau đó, tùy theo kết quả, thầy thuốc có thể bổ sung điều trị bằng cách thêm vào những sulfamides, kích thích tụy tạng tiết insuline. Ở nhiều bệnh nhân, sự xử trí toàn bộ này tỏ ra có hiệu quả. Nhưng với thời gian, hiệu quả của thuốc giảm và bệnh đái đường dần dần giành lại lợi thế. Ở một giai đoạn tiến triển, sự mất hiệu quả này khiến không còn lựa chọn nào khác là phải tiêm dưới da insuline, được thực hiện bởi chính bệnh nhân nhờ một stylo. Trước hết để tác dụng vào ban đêm và bình thường hóa đường huyết lúc thức dậy, rồi nhiều lần mỗi ngày, trước mỗi bữa ăn, tùy theo nồng độ đường huyết.

    Hỏi : Vậy để làm chậm lại việc chuyển qua insuline nên ta đã tìm kiếm những loại thuốc mới. Tác dụng của những chất tương cận của GLP-1 là gì ?
    GS Christian Boitard : GLP-1 là một hormone (một peptide) được ruột tiết ra. 1. Nó kiểm soát sự đi qua nhanh chóng của thức ăn ở trong hệ tiêu hóa và do đó kiểm soát sự gia tăng của đường trong máu. 2. Nó kích thích tụy tạng tiết insuline. 3. Trong não bộ, nó kích thích cảm giác đói. Trong bệnh đái đường loại 2, nồng độ GLP-1 giảm, sự tiết insuline hạ xuống, sự kiểm soát tình trạng thèm ăn bị rối loạn, do đó nảy sinh ý tưởng sử dụng peptide này.

    Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã cho phép hiệu chính điều trị này ?
    GS Christian Boitard : Những công trình nghiên cứu ở thằn lằn đã cho thấy rằng GLP-1 mà nó tiết ra, được tiêm vào người, đề kháng hơn nhiều GLP-1 người vì GLP-1 người, do bị thoái hóa rất nhanh bởi một enzyme, biến mất khỏi máu trong vài phút : để có hiệu quả nó phải được tiêm truyền liên tục, điều này không thể thực hiện được. GLP-1 thằn lằn do đó đã được tổng hợp trong phòng thí nghiệm để trở nên một loại thuốc có tác dụng kéo dài hơn.

    Hỏi : Hiện nay, protocole của điều trị này là gì và những kết quả của nó như thế nào ?
    GS Christian Boitard : Loại thuốc này được cho bằng hai mũi tiêm dưới da mỗi ngày (bởi chính bệnh nhân). Những dạng mới GLP-1 đã được phát triển, cần ít những mũi tiêm hơn. Theo những kết quả của những công trình nghiên cứu quốc tế, nhưng dược phẩm này có hiệu quả, làm giảm mức độ đường huyết. Nhưng sẽ cần những công trình nghiên cứu khác để đánh giá hiệu quả lâu dài của chúng. Một lớp những dược phẩm đã được phát triển với một chiến lược khác : gliptines, những chất ức chế enzyme làm thoái biến GLP-1. Chúng ít hoạt tính hơn những chất tương cận của GLP-1 nhưng có sẵn dưới dạng thuốc viên.

    Hỏi : Nói tóm lại, những ưu điểm của các chất tương cận của GLP-1 so với những mũi tiêm insuline là gì ?
    GS Christian Boitard : 1. Một sự mất cân. 2. Những loại thuốc này không gây hạ đường huyết, trái với insuline và những thuốc làm hạ đường huyết khác. 3. Chúng ít có tác dụng phụ. 4. Điều trị đơn giản hơn, buộc kiểm soát hàng ngày “ ở đầu ngón tay ” ít thường xuyên hơn.
    (PARIS MATCH 2/2 - 8/2/2012)

    8/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG Ở NHỮNG NGƯỜI BỊ BÉO PHÌ NẶNG : NGOẠI KHOA HIỆU QUẢ HƠN THUỐC.

    GS Jean-Marc Chevallier, chuyên gia ngoại tiêu hóa thuộc bệnh viện Georges-Pompidou, giải thích vai trò mới của những can thiệp ngoại khoa này.

    Hỏi : Ở Pháp, tần số của những người bị béo phì bị một bệnh đái đường nặng là gì ?
    GS Jean-Marc Chevallier : Có 2,2 triệu người bị bệnh đái đường loại 2, trong đó 40% bị béo phì.

    Hỏi : Tại sao những người béo phì đặc biệt bị bệnh đái đường ?
    GS Jean-Marc Chevallier : Sự tăng gánh những tế bào mỡ làm chậm lại những chức năng của tụy tạng và đặc biệt là sự tiết insuline. Do đó, đường trong máu không thể được phân bố một cách đúng đắn trong các cơ quan (gan, cơ, …) và như thế vẫn ở một nồng độ rất cao trong tuần hoàn.

    Hỏi : Đối với những trường hợp nặng này những nguy cơ là gì ?
    GS Jean-Marc Chevallier : Khoảng 7 năm sau khi bắt đầu bệnh, những thương tổn huyết quản nghiêm trọng sẽ gây nên một sự phá hủy dần dần những động mạch nhỏ và lớn. Ở thận, những thương tổn này có thể dẫn đến suy thận hoặc, đối với những động mạch cẳng chân, phải cưa chân. Khi mắt bị thương tổn, ta sợ bị mù lòa. Thương tổn của một động mạch vành có nguy cơ gây nhồi máu cơ tim.

    Hỏi : Cho đến nay, ta điều trị những bệnh nhân này như thế nào ?
    GS Jean-Marc Chevallier : Ta bắt đầu điều trị bằng những quy tắc vệ sinh tiết thực ăn uống (không mổ, không sử dụng đường hấp thụ nhanh, không uống rượu) và một hoạt động vật lý. Song hành, ta theo dõi các tham số : nồng độ đường trong máu và nồng độ hémoglobine glyquée phản ánh tiến triển của đường huyết trong 3 tháng qua. Nếu nồng độ hémoglobine glyquée vẫn trên 7%, trước hết ta kê đơn những thuốc chống đái đường bằng đường miệng. Trong trường hợp thất bại, ta chuyển qua insuline chích. Nhưng điều trị này làm phát phì và đó đó làm nặng thêm hiện tượng béo phì. Như vậy ta trở lại vòng luẩn quẩn. Chính ở giai đoạn này mà ta xét đến một can thiệp ngoại khoa.

    Hỏi : Ông hãy mô tả cho chúng tôi những kỹ thuật khác nhau được sử dụng hiện nay.
    GS Jean-Marc Chevallier : Có hai phương pháp được thực hiện bằng nội sọi ở bụng. Phương pháp thứ nhất nhằm làm giảm kích thước của dạ dày để cắt cảm giác đói. Ở đây hai kỹ thuật có thể được sử dụng : kỹ thuật vòng dạ dày (anneau gastrique) chia dạ dày thành hai và kỹ thuật được gọi là “ sleeve ” biến đổi dạ dày thành một loại manchon (nhưng trái với kỹ thuật trước, kỹ thuật này không thể đảo ngược được). Phương pháp thứ hai là phương pháp bắt cầu (by-pass), phối hợp với việc làm giảm kich thước dạ dày, một động tác bổ sung mà mục đích là đi vòng (court-circuiter) một phần lớn dạ dày đến phần thấp của ruột non (bằng một anse de Y), trong đó thức ăn sẽ đến trực tiếp. Lại nữa, đây là một kỹ thuật không đảo ngược được.

    Hỏi : Ngoại khoa chữa bệnh béo phì cũng thành công điều trị bệnh đái đường loại 2 như thế nào ?
    GS Jean-Marc Chevallier : Bằng cách làm giảm khối mỡ, làm mất cân, phương pháp đầu tiên (anneau gastrique và sleeve) tác động lên bệnh đái đường. Với kỹ thuật by-pass, tụy tạng bị đi vòng. Sự loại bỏ tụy tạng và việc đi đến đột ngột của thức ăn vào ruột non làm phát khởi sự tiết vào trong máu một hormone sẽ tái lập những chức năng tụy tạng.

    Hỏi : Hậu phẫu của những can thiệp nặng nề này là gì ?
    GS Jean-Marc Chevallier : Trong một hoặc hai ngày, bệnh nhân được đặt ống thông dạ dày và, vì không thể ăn uống được, nên phải tiêm truyền. Sau đó, tác dụng phụ chủ yếu là một sự thiếu hụt vài vitamine, nhất là sắt. Ta bù sự thiếu hụt này bằng những chất bổ sung để tránh một tình trạng thiếu máu.

    Hỏi : Những kết quả nào thu được với phương pháp ngoại khoa ?
    GS Jean-Marc Chevallier : Một công trình nghiên cứu mới đây đã được tiến hành trên 150 bệnh nhân bị bệnh béo phì nặng và bệnh đái đường loại 2. Ta đã so sánh ba điều trị, một điều trị bằng thuốc với hai điều trị ngoại khoa là by-pass và kỹ thuật “ sleeve ”. Kết quả : sau 12 tháng theo dõi, 12% những trường hợp béo phì được điều trị bằng thuốc có một nồng độ hémoglobine glyquée dưới 6%, so với 37% ở những người được mổ bằng kỹ thuật sleeve và 42% ở những người được mổ bằng kỹ thuật by-pass ! Ta cũng đã chứng thực một sự cải thiện rất rõ rệt huyết áp và nồng độ lipid trong máu. 4 bệnh nhân đã phải bị mổ lại vì những vấn đề không quan trọng, nhưng ta đã không ghi nhận một biến chứng nghiêm trọng nào. Vậy những kết luận này đã chứng minh tính hiệu quả của ngoại khoa hơn tính hiệu quả của điều trị bằng thuốc. Điều này mang lại một vai trò mới trong điều trị bệnh đái đường loại 2 ở những người bị bệnh béo phì.
    (PARIS MATCH 12/7-18/7/2012)

    9/ UNG THƯ DA : VAI TRÒ PHÒNG NGỪA CỦA CÁC THUỐC KHÁNG VIÊM.

    Kíp dịch tễ học của B Sigrun Alba Johannesdorrir (bệnh viện Aarhus, Đan Mạch) đã nghiên cứu tác dụng của các thuốc kháng viêm không phải stéroide được gọi là AINS lên 3 loại ung thư dạ : mélanome, carcinome spinocellulaire và carcinome basocellulaire. Hai loại đầu nguy hiểm do khá năng di căng của chúng (nhất là mélanome), loai cuối luôn luôn tiến triển thuận lợi sau khi phẫu thuật. Từ năm 1991 đến 2009, những registre của Đan mạch đã thống kê 3242 mélanome, 1974 carcinome spinocellulaire và 13316 carcinome basocellulaire. Những liều AINS mà các bệnh nhân bị bệnh đã nhận trong thời kỳ này để được so sánh với những liều được cho ở hơn 178.000 người đã không bao giờ bị ung thư da. Kết quả : ở những người đã theo ít nhất hai lần một đợt điều trị bằng các thuốc kháng viêm này, ta đã quan sát một sự giảm 13% nguy cơ bị mélanome, 15% carcinome spinocellulaire. Tác dụng bảo vệ này đã không được chứng minh đối với những carcinome basocellulaire.
    (PARIS MATCH 28/6-4/7/2012)

    10/ UNG THƯ VÚ : ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN BẰNG CHỤP TUYỂN VÚ VẪN CÓ HIỆU QUẢ

    Việc phổ biến chụp tuyến vú (mammographie) cho phép cứu được 3000 mạng người mỗi năm.

    PREVENTION. Công tác điều tra phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) của ung thư vú bằng chụp tuyến vú (mammographie) có từ năm 2004 ở Pháp. Mỗi 2 năm, các phụ nữ tuổi từ 50 đến 74 được yêu cầu đến một thầy thuốc X quang để được thực hiện thăm dò này, được cơ quan bảo hiểm xã hội đảm trách 100%.

    Lợi ích của biện pháp phòng ngừa này thường xuyên bị xét lại bởi những công trình nghiên cứu khoa học, gây tranh cãi trong cộng đồng y khoa. Theo các tác giả của các công trình nghiên cứu, việc điều tra phát hiện có tổ chức gây nên một số lớn những trường hợp chẩn đoán quá mức (surdiagnostic). Nói rõ hơn, một số phụ nữ nào đó mà ta xác định với họ rằng họ có một khối u ác tính thì trên thực tế lại không có… Những phụ nữ này dầu sao cũng phải chịu những thăm khám phụ thậm chí những điều trị nặng nề. “ Vấn đề chẩn đoán quá mức (surdiagnostic) liên quan đến các carcinome in situ intracanalaire, chiếm 14% những trường hợp ung thư vú và 1/3 các ung thư này sẽ không tiến triển. Nhưng bởi vì không có những chất chỉ dấu (marqueur) cho phép chúng ta nhận diện chúng, chúng ta buộc phải điều trị tất cả các phụ nữ ”, GS Agnès Buzyn, chủ tịch của Institut national contre le cancer (Inca), nhân lúc trình bày những khuyến nghị của HAS về việc điều tra phát hiện ung thư vú đã giải thích như vậy.

    “ Mục tiêu của công tác phát hiện bệnh là nhằm phát hiện những khối u có kích thước nhỏ, nhằm thực hiện những điều trị ít nặng nề và ít cắt bỏ hơn ”, bà đã nhắc lại như vậy. Trong những điều kiện này, việc thực hiện thăm dò này không bị xét lại bởi giới hữu trách y tế. GS Jean-Luc Harouseau, chủ tịch của HAS, có lập trường rất rõ ràng. “ Hiện nay không có tín hiệu cho phép xét lại tỷ suất lợi ích-nguy cơ của công tác điều tra phát hiện có tổ chức của ung thư vú ở phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi ”, ông đã tuyên bố như vậy. Ngược lại, như GS Agnès Buzyn đã nhắc lại, trước 50 tuổi, ta có thể nghi vấn về tính chất thích hợp của việc cho các phụ nữ chịu một nguy cơ gây bởi bức xạ.

    15 triệu trường hợp chụp tuyến vú được thực hiện từ năm 2004 trong bối cảnh điều tra phát hiện có tổ chức đã cho phép chẩn đoán 100.000 trường hợp ung thư vú. Tuy nhiên vẫn còn quá sớm để có thể đánh giá những tác dụng của thăm khám này lên tỷ lệ tử vong của ung thư vú, giết chết hơn 11.000 phụ nữ mỗi năm ở Pháp.

    ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN CÓ TỔ CHỨC

    Theo các đánh giá của Inca, nếu tất cả các phụ nữ liên hệ tham gia vào chương trình điều tra phát hiện, 3000 mạng sống sẽ được cứu thoát mỗi năm. Thế mà chỉ một nửa trong số 4,3 triệu phụ nữ liên hệ tham gia mỗi năm vào chương trình điều tra phát hiện có tổ chức : một tỷ lệ dưới mục tiêu 80% được ấn định bởi giới hữu trách y tế.

    Thật vậy sự điều tra phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) không hề có tính chất bắt buộc. Giữa 50 và 74 tuổi, cứ 10 phụ nữ thì có một theo phương pháp điều tra phát hiện cá nhan (dépistage individuel), được thực hiện bởi một thầy thuốc, phần lớn là một thầy thuốc phụ khoa. Một việc làm mà HAS mong giảm đi hay biến mất. Thật vậy công tác điều tra phát hiện có tổ chức hiệu quả hơn vì lẽ double lecture các hình X quang bởi một thầy thuốc X quang khác.“Double lecture này phát hiện 8% đến 9% những ung thư trong điều tra phát hiện có tổ chức, BS Michel Deghaye, thầy thuốc X quang đã nhấn mạnh như vậy. Hoặc khoảng 1.300 trường hợp ung thư mỗi năm.

    Theo một tính toán của HAS, thêm 283 trường hợp ung thư được chẩn đoán mỗi năm nếu 10% các phụ nữ ưa thích điều tra phát hiện cá nhân chuyển qua điều tra phát hiện có tổ chức. Hiện nay, HAS chủ trương đả thông những phụ nữ này vì lẽ một nửa trong số họ sẵn sàng theo phương điều tra phát hiện có tổ chức. Để được như thế HAS đề nghị những biện pháp kích thích như bồi hoàn 100% phí tổn siêu âm được thực hiện trong bối cảnh điều tra phát hiện có tổ chức. Tuy nhiên, “ nếu trong một thời gian nữa những biện pháp khuyến khích này không cho một kết quả nào, chúng tôi sẽ đề nghị không bồi hoàn phí tổn chup tuyến vú (mammographie) được thực hiện riêng rẻ (dépistage individuel)”, GS Jean-Luc Harousseau đã báo trước như vậy.
    (LE FIGARO 5/2/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (30/9/2012)

    Edited by user Monday, October 1, 2012 9:29:15 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #9 Posted : Thursday, October 11, 2012 1:47:21 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 283

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH



    1/ JOHN MAHONEY QUẬT NGÃ BỆNH GIANG MAI

    Bằng cách cho thấy tính hiệu quả của pénicilline lên vi khuẩn chịu trách nhiệm “ hiểm họa hoa liễu ” (péril vénérien), thầy thuốc người Mỹ này, vào năm 1943, chấm dứt trận dịch vô cùng nghiêm trọng phát sinh do sự gặp gỡ giữa Cựu và Tân Thế Giới.

    Ngày 15/10/1943, báo chí Hoa Kỳ đăng titre lớn về “Viên đạn thần diệu mới ” (New magic bullet), của BS John Mahoney. Hôm trước, viên thầy thuốc 54 tuổi này, người gốc Wisconsin, hoàn toàn không được đại chúng biết đến, giờ đây gây chấn động khi trình bày, trước Hiệp hội y tế Hoa Kỳ (American Public Health Association), vũ khí tuyệt đối chống lại bệnh giang mai, “ hiểm họa hoa liễu ” (péril vénérien), cũng như cách của bệnh sida ngày nay, khi đó gây tàn phá trên 4 cõi địa cầu.

    Mỗi năm, không ít hơn 60.000 em bé Hoa Kỳ sinh ra mang Treponema pallidum (tréponème pâle), vi khuẩn gây căn bệnh khủng khiếp và xấu hổ, mà chính người mẹ bị bệnh giang mai, đã truyền cho chúng trong thời kỳ thai nghén. Ở Pháp, các thống kê thật khủng khiếp : Bộ Y tế ước tính, vào năm 1925, rằng 4 triệu người đồng hương của chúng ta (hoặc 10% dân số) bị điều mà ta gọi một cách dung tục là “ grande ” hay “ grosse vérole ”. Thuật ngữ ngày nay vẫn còn chiếm chỗ trong ngữ vựng dùng để giễu cợt nhả nhớt ít hay nhiều, có lẽ để xua đuôi mối hoảng sợ do bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục này gây ra, căn bệnh cũng mắc phải qua đường máu hay, như ta vừa thấy, trong tử cung. Bởi vì bệnh giang mai giết hay đúng hơn, cuối cùng sẽ giết chết bệnh nhân. Một cách chậm chăp. A petit feu.

    Kịch bản không the tranh khoi. Sau khi xuất hiện các chancre trên dương vật, âm hộ hay âm đạo, khoảng 3 tuần sau khi bị lây nhiễm, ký sinh trùng lan tràn khắp cơ thể gây nhiều ban da (éruptions cutanées). Rồi sau một thời kỳ tiềm phục kéo dài 3 đến 15 năm, các tréponème tấn công các cơ quan sinh tử : tim, các huyết quản, xương, khớp, hệ thần kinh Các thương tổn ở não bộ và tủy sống (tabès) gây các rối loạn thần kinh (á khẩu, bại liệt nửa người) và tâm thần (sa sút trí tuệ, ảo giác) rất nặng. Cho đến khi chết. Ở Pháp, chỉ trong năm 1920, vérole (bệnh giang mai) gây 80.000 nạn nhân mỗi năm trong đó 20.000 trẻ em.

    TRẮC NGIỆM GẦN NHƯ DẤU DIẾM

    “ Không phải tất cả bệnh nhân đều chết nhưng tất cả đều bị trừng phạt ”, ngụ ngôn nổi tiếng đã nói như vậy. Những người giàu hoặc những người nghèo, những kẻ yếu ớt hay hùng mạnh : tai ương bẩn thỉu không tha miễn một ai. Các văn sĩ (Maupassant, Flaubert, Daudet), các họa sĩ (Toulouse-Lautrec, Manet, Gauguin), các chính trị gia (Lénine và có lẽ Hitler) nhưng cũng những gangster (Al Capone) nổi tiếng trả giá cũng nặng nề như đám đông vô danh.

    Trong khi y khoa cho đến khi đó đã tỏ ra bất lực trong việc ngăn chặn trận dịnh, ngoại trừ đề nghị những cure không có hiệu quả hay cũng tai họa như chính căn bệnh, thế thì phương thuốc màu nhiệm được John Mahoney đề nghị vào ngày 14 tháng 10 năm 1943 là gì ? Pénicilline. Bởi vì những tính chất kháng sinh của chất này, được tiết bởi các mốc (moisissure), từng cứu hàng triệu nhân mạng, đã được khám phá 15 năm trước đó bởi Alexander Fleming người Anh. Tất cả công lao của BS Mahoney, điều khiển phòng thí nghiệm nghiên cứu về những bệnh phong tình của sở y tế công cộng Hoa Kỳ, là đã có ý nghĩ trắc nghiệm, gần như dấu diếm, loại thuốc đầy hứa hẹn này trên bệnh giang mai.

    Vào đầu năm 1943, National Research Council yêu cầu ông xác nhận tính hiệu quả của pénicilline lên các giống gốc của bệnh lậu (gonorrhée) (môt căn bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục khác cũng được gọi là blennorragie,“ chaude pisse ” hay “ chtouille ”) đề kháng với các sulfamides. John Mahoney, vốn đã quan tâm nhiều bệnh giang mai, đặc biệt khi lưu lại châu Âu giữa năm 1917 và 1929, ở đây ông đã làm việc với tư cách thầy thuốc trong những sở di trú Ái Nhĩ Lan, Anh và Đức, quyết định sử dụng một phần pénicilline (rất hiếm vào thời kỳ đó) được giao phó cho ông, để xem nó có tác dụng lên tréponème hay không. Những kết quả đầu tiên thu được in vivo gây thất vọng, nhưng John Mahoney không phải vì thế mà chán nản. Thử nghiệm mà ông thực hiện sau đó trên các con thỏ bị lây nhiễm bởi bệnh giang mai gây phấn khởi đến độ ông quyết định thử trực tiếp trên người. Sự táo bạo của ông đã được đền bù. 4 bệnh nhân được ông cho 6 mũi tiêm mông pénicilline mỗi ngày, trong một tuần, đã lành bệnh Nhưng không có một tác dụng phụ nào.

    NHỮNG Ổ BỆNH ĐẦU TIÊN Ở TÂY BAN NHA

    Chính sự trình bày thử nghiệm lâm sàng quan trọng này sẽ khiến ông nhận được những tràng vỗ tay như sấm nổ trước Alpha. Những kết quả của các công trình nghiên cứu mà ông sẽ tiến hành trong những tháng sau đó, với những đồng nghiệp của phòng thí nghiệm của ông ở Staten Island, trong tiểu bang Nữu Ước, sẽ xác nhận tính hiệu quả khác thường của pénicilline chống lại những dạng bệnh giang mai. Sau cùng căn bệnh bị đánh bại. Như GS Patrick Berche, chuyên gia vi trùng học, đã viết trong một tác phẩm xuất sắc mới được xuất bản gần đây, “ mọi đau khổ qua đi, mối lo âu của những người bị lây nhiễm được quét sạch do sự sử dụng pénicilline, tức thời đưa vào quên lãng bois de gaic, thủy ngân, arsenic và những hậu quả rối loạn do độc tính.”

    Gần 450 năm đã trôi qua từ khi xuất hiện bệnh giang mai trên lục địa châu Âu cho đến khi khám phá phương thuốc điều trị nó. Tất cả chúng ta đều tin rằng trận dịch đã bắt đầu ngày 15 tháng 3 năm 1493, khi Christophe Colomb và các thủy thủ đoàn của hai caravelle đặt chân trở lại Tây Ban Nha. Nhà thám hiểm vĩ đại có lẽ không hay biết rằng ông ta đã mang lại từ Tân Thế Giới những mầm của một căn bệnh không từng được biết đến, sẽ tàn phá cựu lục địa. Việc khám phá những stigmate đặc điểm của bệnh giang mai trên các bộ xương trước thời đại Kha Luân Bố được tìm thấy ở Hispaniola, hòn đảo mà Colomb và các thủy thủ của ông đã lưu lại, mang lại sự tin tưởng ở lý thuyết có một thời bị tranh cãi. Ngoài ra, sự khám phá này ăn khớp hoàn toàn với lịch trình của sự lây nhiễm : những ổ bệnh đầu tiên được ghi nhận ở Tây ban Nhà ngay năm 1493 và hai năm sau ở Ý, ở Pháp, ở Đức, ở Thụy Sĩ …căn bệnh chưa từng biết đến này, mà dân Naple (napolitain) mệnh danh là “ mal français ” (morbus gallicus), nhưng người Pháp lại gọi là “ mal napolitain ”, gieo mối hoảng sợ trên toàn châu Âu.

    Vào năm 1530, thi sĩ và thầy thuốc người Ý Girolamo Fracastor dựng lên một “ bệnh cảnh khủng khiếp ” lâm sàng :



    Quote:
    Un mal qui “dévore ”

    Bệnh giang mai theo Girolamo Fracastor, thi sĩ và thầy thuốc, trong Syphilis Sive Morbus Gallicus (1530)

    “ La peau de toutes parts se diapre d’ulcères,
    Le visage et le sein sont horribles à voir ;
    De l’âcre et lourd fluide, immonde réservoir,
    Sur le corps douloureux des pustules formées,
    Surgissent, sous l’aspect de glandes enflammées,
    Qui bientôt entrouvrant leur cratère repu,
    Jette un jus visqueux teint d’un sang corrompu.
    En même temps, le mal qui sort par chaque pore,
    S’enfonce et prend racine en ce corps q’il dévore.”


    Các bệnh nhân chết trong những tháng hoặc năm sau khi bị lây nhiễm trong sự đau đớn ghê gớm. Y khoa bất lực trước tai họa này, được lan truyền do “ thương mãi tình dục ” (commerce sexuel) của một người đàn ông lành mạnh với một người đàn bà bị bệnh và ngược lại, ngay năm 1514, thầy thuốc ngoại khoa của giáo hoàng, Jean de Vigo, đã tiết lộ như vậy trong Traité sur le mal français của ông.

    CÁC NHÀ GIẢ KIM (ALCHIMISTE) LÀM GIÀU

    Với rất nhiều phí tổn người ta cho mang đến bois de gaic, một loại cây nhỏ từ Trung Mỹ, để điều trị các ông lớn của thế giới này : François đệ nhất, Charles Quint hay giáo hoàng Alexandre VI Borgia. Rồi trước sự vô hiệu của phương thuốc, các thầy thuốc hướng về các muối thủy ngân, được cho bằng cách xoa (friction) hay xông (fumigation). Những tác dụng của điều trị, rất độc, thật là tai hại, ngoại trừ đối với các nhà luyện kim, lại trở nên giàu có. Trong khi đó căn bệnh mất tính độc lực để biến thành một dạng bệnh giảm nhẹ hơn mà ta biết ngày nay. “ Những mầm bệnh ban đầu đưa đến sự tử vong nhanh chóng của bệnh nhân được loại bỏ khá nhanh, nhường bước cho những giống gốc ít độc lực hơn nhưng có khả năng lan truyền hơn ở loài người ”, GS Berche đã giải thích như vậy.

    Mặc dầu những sai lầm nghiêm trọng, như chủng tréponème hay tác nhân gây bệnh sốt rét cho những người bị bệnh giang mai, y khoa sau cùng sẽ bắt đầu ghi điểm vào đầu thế kỷ XX. Vào năm 1905, tréponème pâle được nhận diện bởi hai nhà bác học người Đức Fritz Schaudinn và Erich Hoffmann. 5 năm sau, cha đẻ của hóa học liệu pháp, người Đức Paul Ehrlich, hiệu chính loại thuốc đầu tiên hiệu quả chống bệnh giang mai : Salversan, dẫn xuất của Arsenic. Nhưng độc tính của nó, mặc dầu ít hơn rất nhiều so với độc tính của thủy ngân, vẫn tạo vấn đề. Ngoài ra, trái với pénicilline, nó không chữa lành những bệnh nhân ở giai đoạn cuối (stade tertiaire).

    Mang lại cú đấm sát thủ, John Mahoney là “ người chủ chốt quan trọng sau cùng của động tác điều trị này chống lại bệnh giang mai ”, GS Berche đã viết như vậy. Nhờ ông, cơn ác mộng y tế, gây nên bởi sự va chạm giữa hai thế giới, trong đó dân chúng, cách xa nhau từ nhiều thiên niên kỷ, đã trao đổi cho nhau những mầm bệnh của tử thần, đối với đại đa số những người đương thời của chúng ta, chỉ còn là một kỷ niệm xa xôi.
    (LE FIGARO 14/8/2012)


    2/ GIẢI NOBEL Y HỌC : SỰ TÁI SINH TẾ BÀO.

    Shinya Yamanaka và John Gurdon đã đặt nền móng cho một cuộc cách mạng y khoa dựa trên sự tái lập chương trình tế bào (reprogrammation cellulaire).

    RECHERCHE. Ban giám khảo của giải Nobel đã đo lường tất cả những ảnh hưởng sẽ phải có trong tương lai những công trình của người Nhật Shinya Yamanaka và của người Anh John Gordon, vừa được thưởng. Công trình nghiên cứu của những người trúng giải về sự biến hóa của những tế bào trưởng thành (cellules adultes) thành những tế bào gốc (cellules souches) khả dĩ làm tái sinh các mô của cơ thể có thể làm đảo lộn tất cả lãnh vực điều trị đối với những bệnh liên quan đến sự lão hóa, từ ung thư đến bệnh nhồi máu cơ tim, cũng như bệnh đái đường và bệnh Parkinson.

    “ Những khám phá của họ đã cách mạng hóa sự hiểu biết của chúng ta về cách mà các tế bào và các cơ quan phát triển ”, ủy ban Nobel đã viết như vậy. John Gurdon, 79 tuổi, và Shinya Yamanaka, 50 tuổi, sẽ chia nhau một số tiền thưởng 8 triệu couronne (929.000 euros). Hai nhà khoa học này, mặc dầu không thuộc cùng thế hệ, nhưng cùng một quan niệm, khi cho thấy rằng ta có thể làm cho chất sống (matière vivante), các tế bào đi ngược lại giòng thời gian, làm trẻ hóa chúng và biến hóa chúng để sử dụng thay cho những tế bào già cả và bệnh tật.

    Câu chuyện bắt đầu ở Oxford, cách nay 40 năm, với John Gurdon, sinh năm 1933, lúc đó là nhà nghiên cứu về sinh học.Trong khi chuẩn bị học vị tiến sĩ, ông đã có ý tưởng đưa nhân (chứa vật liệu di truyền) của một tế bào ruột của một con ếch albinos vào trong noãn bào của một con ếch bình thường nhưng đã được lấy hết nhân. Ông chứng minh rằng, chuyện khó tin, tế bào ruột được biến đổi này có khả năng sinh ra một con ếch albinos khác. Như vậy, ông vừa chứng minh tính dẻo (palsticité) lạ thường của sinh học tế bào. “ Thí nghiệm này đã cho phép kiểm tra rằng ngay cả những tế bào biệt hóa như những tế bào ruột đã không đánh mất chuỗi ADN và chứa toàn bộ génome của một sinh vật ”, GS Jean-Marc Lemaitre (Institut de génomique fonctionnelle, Inserm, Montpellier) đã giải thích như vậy. Tóm lại, nhà tiên tri này đã cho thấy rằng ông ta “ đã có thể tải lập hoàn toàn chương trình ADN của một tế bào trưởng thành để nó trở nên giống hệt với ADN của nhân của trứng ”, GS Nicole Le Douarin (Viện hàn lâm khoa học) đã ghi nhận như vậy. Những công trình này cũng đã góp phần cho sự ra đời của clonage animal : chú cừu cái Dolly được sinh ra do sự hội nhập của một tế bào da vào trong noãn bào, rồi tất cả được cấy trở lại vào trong tử cung của người mẹ.

    Những thí nghiệm này, cho thấy rằng các tế bào trưởng thành có tất cả tiềm năng của chúng, đã mở đường cho một thế hệ những nhà nghiên cứu trẻ. Shinya Yamanaka, sinh năm 1962, nằm trong số những người này. Vốn được đào tạo như là thầy thuốc ngoại chỉnh hình (chirurgien orthopédique), nhưng ông lại say mê nghiên cứu cơ bản (recherche fondamentale) ở đại học Osaka và nhanh chóng thay dao mổ bằng pipette. Ông trắc nghiệm những hỗn hợp khác nhau để làm trẻ hóa, trong ống nghiệm, những tế bào trưởng thành của một sinh vật người nào đó. Sinh học tế bào đang sôi sục phát triển. Trong những năm 1980, các nhà nghiên cứu khám phá, trong một ống nghiệm, những tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires), được gọi là đa năng (multipotentes), có khả năng biến hóa thành đủ loại tế bào, tim, gan, não, tụy tạng. Tại sao không cấy và ghép những tế bào này ở những bệnh nhân bị bệnh tim, gan, não ? Kỹ nguyên y khoa tái sinh (médecine régénérative) từ các phôi thai được thành hình, nhưng với hai hạn chế : hạn chế thứ nhất thuộc về đạo đức, đó là vấn đề instrumentiser những phôi thai người vì mục đích y khoa ; hạn chế thứ hai thuộc về kỹ thuật, đó là những phản ứng thải bỏ (rejet) do sử dụng một sinh vật khác (một phôi thai) khả dĩ bị thải bỏ vì những lý do miễn dịch. “ Yamanaka sẽ vượt qua một bước rất quan trọng, lúc mở ra khả năng có thể đưa vào trong một người bệnh những tế bào lành mạnh phát xuất từ những tế bào của chính mình, nhưng không tạo nguy cơ thải bỏ ”, GS Nicole Le Douarin đã giải thích như vậy.

    Bước tiến này, GS Yamanaka đã vượt qua vào năm 2006, ở đại học Kyoto, lúc sản xuất được những tế bào IPS đâu tiên : những tế bào này, thu được từ những tế bào trưởng thành, nhờ những thao tác di truyền (manipulation génétique), được biến hóa thành những tê bào gốc, có cùng những tiềm năng như những tế bào phôi thai, và những tế bào này, đến lượt, có khả năng biến đổi thành đủ loại những tế bào khác. Cocktail de gène của GS Yamanaka và kíp nghiên cứu cho phép mang những tế bào trưởng thành này trở lại giai đoạn những tế bào gốc phôi thai chưa được biệt hóa. Từ nay ta có thể không cần phôi thai vẫn có thể “ thu lượm ” những tế bào gốc quý giá.

    “ Giải Nobel này là một tin tuyệt vời. Yamanaka đã tạo ra khái niệm sự tái lập chương trình tế bào (reprogrammation cellulaire), GS Marc Peschanski (Inserm) đã giải thích như vậy. Ngày nay, ta đã đơn giản hóa những thủ thuật tái lập chương trình tế bào. Nhóm nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu khảo sát những tế bào máu, hoặc những fibroblaste của da, để có được chúng. Trên bình diện điều trị, một kíp của Nhật ở Kobe vừa phát động một chương trình trong bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác với những IPS. Mối quan tâm lớn khác của những tế bào IPS là sự điều biến (modélisation) : ta chế tạo những dòng tế bào từ những người cho (donneur) bị những bệnh di truyền và ta thu được những canh cấy cho phép sàn lọc những phân tử có khả năng điều trị.” Giải Nobel năm 2012 đánh dấu sự khai sinh của một cuộc cách mạng điều trị sắp đến, dựa trên quan niệm “ tái sinh” (régénérescence)

    Hai nhân vật “ kỳ quặc ” nghiêm túc và lắng nghe thế giới.

    Có lẽ họ gặp nhau trong hội nghị nhưng chưa bao giờ làm việc với nhau. Không phải sự khác biệt tuổi tác, 79 tuổi đối với người Anh John Gurdon, 50 tuổi đối với người Nhật Shinya Yamanaka, tập hợp họ lại với nhau nhiều nhất. John Gurdon, bề ngoài British, được phong quý tộc từ năm 1995, sinh năm 1933, đã công bố những công trình đầu tiên của mình vào năm sinh ra đời (1962) của người nhận giải Nobel thứ hai, con của một nhà chế tạo những đồ phụ tùng cho các máy may ở Nhật Bản. Nhưng bố của Yamanaka khuyến khích con trở thành thầy thuốc và Shinya trở thành một thầy thuốc ngoại chỉnh hình xuất sắc trước khi hướng về nghiên cứu. Vào năm 2006, ở đại học Kyoto, ông đã thành công điều khiến ông được giải Nobel. Ông có vợ và hai con gái của ông đang theo học y khoa. Cả John Gurdon và Shinya Yamanaka, vào năm 2009, đã nhận giải Lasker, được xem như là sân trước của giải Nobel. Gurdon thực hiện hầu như tất cả sự nghiệp của mình ở Cambridge, trong khi Yamanaka chủ yếu vẫn ở Nhật Bản. Nhưng cả hai đều đã đến các phòng thí nghiệm ở Californie và ngày nay mang nhiều giải thưởng. Tất cả hai được cho là hơi khác người, nhưng nghiêm túc, rất duyên dáng, kích thích tinh thần sáng tạo của các nhóm nghiên cứu của mình. Điều kết hợp họ lại với nhau, đó là sự ham thích khoa học và một tình tò mò không nguôi.

    3/ NGƯỜI CHA LỚN TUỔI VÀ SỰ THỤ THAI

    Khi một người đàn ông có con càng muộn, thì số những biến dị di truyền mà các con thừa hưởng càng cao. Đó là kết luận của một nhóm các nhà di truyền học Island, được chỉ đạo bởi Augustine Kong, thuộc groupe biopharmaceutique deCODE genetics, ở Reykjavik. Augustine Kong đã thiếp lập ở năm 1996 một cơ sở các dữ kiện chứa những thông tin y khoa và di truyền của toàn thể dân chúng Island và khai thác nó một cách đều đặn để phát hiện những yếu tố di truyền trong những bệnh lý khác nhau. Lần này, các nhà nghiên cứu đã khảo sát 219 người để xác lập sự tương quan giữa những biến dị di truyền ở các con với tuổi của bố mẹ chúng lúc thụ thai. Kết luận : tuổi của người cha càng cao, thì các biến dị được truyền cho các con càng nhiều.

    Kết quả này buộc phải nhìn lại vấn đề, bởi vì nếu y khoa đã dạy cho chúng ta từ lâu rằng tuổi của người mẹ có thể rất là quan trọng trong việc xuất hiện vài bệnh di truyền ở các trẻ em, ta đã hoàn toàn phớt lờ trách nhiệm của người cha mặc dầu vài công trình nghiên cứu dịch tễ học mới đây khiến nghĩ đến một sự tương quan giữa các trường hợp bệnh tự kỷ (autisme) hay tâm thần phân liệt (schizophrénie) ở các trẻ em và sự cao tuổi của người cha. Như thế công trình nghiên cứu Island xác nhận những nghi ngờ này. Các nhà nghiên cứu của tập đoàn deCODE genetics đã tính toán rằng, nếu một người cha trong lứa tuổi 20 trung bình truyền 25 biến dị cho các con mình, thì con số này lên đến 65 đối với một người cha trong lứa tuổi 40, hoặc 2 biến dị bổ sung cho mỗi năm tuổi. Số các biến dị được truyền bởi người mẹ độc lập với tuổi tác.
    (SCIENCES ET AVENIR 10/2012)

    4/ ĐỘNG KINH ĐỀ KHÁNG : MỘT NGOẠI KHOA CÁ THỂ HÓA ĐỂ ĐƯỢC NHIỀU TRƯỜNG HỢP CHỮA LÀNH HƠN.

    GS Parick Chauvel, trưởng khoa sinh lý thần kinh lâm sàng của bệnh viện Timone (Marseille) giải thích kỹ thuật mới stéréo-électro-encéphalographie, cho phép điều trị nhiều bệnh nhân hơn.

    Hỏi : Ông hay mô tả cho chúng tôi những bất thường chịu trách nhiệm căn bệnh này của não bộ.
    GS Patrick Chauvel: Đó không phải là một bệnh lý đơn độc mà là nhiều bệnh lý, với điểm chung là gây nên những cơn động kinh, do một kích thích bất thường và do một một sự đồng bộ hóa quá mức (hypersynchronisation) của một quần thể các tế bào thần kinh.

    Hỏi : Những dạng khác nhau của những bệnh lý não bộ này là gì ?
    GS Patrick Chauvel: Ta có thể chia thành hai loại lớn. 1. Những cơn động kinh được gọi là không hoàn toàn (crises partielles), khi những vòng điện (courts-circuits électriques) thật sự này chỉ ảnh hưởng một vùng rất giới hạn của vỏ não. 2. Những cơn toàn thể (crises généralisées), khi chúng xuất hiện trong nhiều vùng, cả hai bên cùng một lúc. Các triệu chứng thay đổi thùy theo sự định vị của vùng sinh động kinh (zone épileptogène). Trong những cơn bán phần, một sự phóng điện của vùng vận động có thể gây nên, thí dụ, những rung chuyển của một hay nhiều chi. Trong vùng thị giác hay thính giác, sự phóng điện này gây nên những ảo giác (hallucination). Cũng có những trường hợp trong đó sự phóng điện bất thường gây nên một tình trạng vắng ý thức (absence) tạm thời. Những cơn toàn thể gây nên mất tri giác, trong vài trường hợp, đe dọa tính mạng bệnh nhân.

    Hỏi : Ta có biết rõ những nguyên nhân của các động kinh này không ?
    GS Patrick Chauvel: Ở khoảng 30% các bệnh nhân ta không nhận diện được nguyên nhân. Trong những trường hợp khác, các nguyên nhân ngày nay được xác định rõ : một yếu tố di truyền, một chấn thương sọ não, những di chứng ngoại khoa, một u não … Về chẩn đoán, 3 trắc nghiệm cơ bản vẫn là thăm khám lâm sàng, điện não đồ và IRM. Nhưng những thủ thuật này đã tiến bộ nhiều và vài thủ thuật đã tạo những bước tiến rất quan trọng để hoạch định và thực hiện một phẫu thuật

    Hỏi : Những điều trị cổ điển là gì ?
    GS Patrick Chauvel: Chúng ta có khoảng 20 loại thuốc chống động kinh. Một vài loại thuốc được kê đơn trong những trường hợp các cơn không hoàn toàn, những thuốc chống động kinh khác trong những cơn toàn thể, những loại khác nữa có một tác dụng lên cả hai thể bệnh. Nói chung ta bắt đầu một đơn liệu pháp (monothérapie), nhưng thường phải kết hợp một thuốc chống động kinh khác để có được một hiệu quả đầy đủ. Các protocole trong đó nhìn toàn bộ ta thành công hủy bỏ các cơn ở 60 đến 80% các bệnh nhân (tất cả các dạng tính đổ đồng). Những loại thuốc chống động kinh này không chữa lành bệnh mà chỉ phòng ngừa các cơn.

    Hỏi : Điều trị nào đã được hiệu chính để điều trị những bệnh nhân đề kháng thuốc ?
    GS Patrick Chauvel: Một phẫu thuật ngoại khoa (chỉ đối với những cơn không hoàn toàn) . Những vùng sinh động kinh không được nằm trong một vùng mà sự loại bỏ dẫn đến những di chứng gây phế tật.

    Hỏi : Bước tiến ngoại khoa nào ngày nay cho phép điều trị nhiều bệnh nhân hơn ?
    GS Patrick Chauvel: Ta can thiệp một cách chính xác hơn nhờ những kỹ thuật mới sử dụng stéréo-électro-encéphalographie mà mục đích là đưa những điện cực vào trong não bộ để định vị trí một cách trực tiếp vùng sinh động kinh (zone épileptogène). Điều đó cho phép phẫu thuật viên thực hiện một can thiệp “ tùy theo từng trường hợp ” (une intervention sur mesure). Nhờ những phương thức mới xử lý tín hiệu điện não, từ nay với IRM ta có thể thấy thương tổn, đôi khi rất bé nhỏ. Ưu điểm khác : nhờ thực hiện những kích thích điện (stimulation électrique), ta làm gia tăng rất nhiều mức độ chính xác trong sự định vị những vùng chức năng (zones fonctionnelles) khả dĩ bị biến đổi bởi động kinh. Từ ít lâu nay, khi một vùng sinh động kinh rất là nhỏ, ta loại bỏ nó bằng ngoại quang tuyến (radiochirurgie), với Gama Knife, mà không phải mở hộp sọ.

    Hỏi : Những kết quả và những nguy cơ của ngoại khoa nặng nề này là gì ?
    GS Patrick Chauvel: Đối với những bệnh nhân mà vùng sinh động kinh nằm trong vùng của thùy thái dương (60% các trường hợp), tỷ lệ chữa lành khoảng 80%. Khi vùng này nằm ở nơi khác, 60% đến 70% các bệnh nhân được chữa lành hay có một sự cải thiện rất rõ rệt. Những bệnh nhân khác bất hạnh thay vẫn đề kháng thuốc. Những nguy cơ hậu phẫu (những biến chứng chức năng hay thần kinh tâm thần) khoảng 5%.

    Hỏi : Đối với những bệnh nhân không thể dùng thuốc hay phẫu thuật, biện pháp cuối cùng là gì ?
    GS Patrick Chauvel: Mới đây ta đã hiệu chính những kỹ thuật kích thích điện vùng sâu (technique palliative de stimulation profonde) : một điện cực trong sọ kích thích một nhân của đồi thị (thalamus) hay vùng sinh động kinh. Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành trong Institut de neuroscience của chúng tôi với những modèle informatique de cerveaux virtuels épileptogènes.
    (PARIS MATCH 27/9-3/10/2012)

    5/ TIÊM OXY ĐỂ CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG SỐNG CÒN

    REANIMTION. Đó là một cuộc chạy đua với thời gian ! Khi một bệnh nhân không còn có thể thở được nữa, mỗi phút trôi qua rất là quan trọng. Bằng mọi giá, phải mang oxy đến cơ thể để tránh những thương tổn không hồi phục được của não bộ và để tránh ngừng tim. Để lợi được thời gian trong tình huống cực kỳ cấp cứu, các nhà nghiên cứu đã có ý nghĩ tiêm oxy hòa tan (oxygène soluble). Khi oxy được đưa vào trong các microcapsule lipidique để tránh mọi biến chứng (embolie). Nhũ tương (émulsion), được hiệu chính bởi các thầy thuốc của Havard Medical School (Hoa Kỳ), được tiêm trực tiếp ở trong các mạch máu. Ở đó, dưới tác dụng của áp suất, oxy được chuyển từ trong các microcapsule ra ngoài. Khi đó nó trở lại tiếp xúc với các hồng cầu. Sự thêm oxy (oxygénation) của cơ thể được tái lập trong vài giây. Được trắc nghiệm trên thỏ, phương pháp này cho phép giữ cho chúng sống sót cho đến 15 phút sau khi các lá phổi bị tắc nghẽn. Mặc dầu nhiều kỹ thuật đã hiện hữu, như tuần hoàn ngoài cơ thể (circulation extracorporelle), nhưng việc thiết đặt đôi khi tỏ ra rất chậm. Thận trọng, John Kheir, tác giả chính của công trình nghiên cứu, xác nhận : “ Đó sẽ chỉ là một kỹ thuật tạm thời để cứu sống những bệnh nhân có mức oxy cực kỳ thấp.” Thật vậy, sự tích luỹ các microcapsule lipidique trống rỗng có thể gây một tình trạng quá tải của hệ tuần hoàn. “ Những thử nghiệm trên người chỉ có thể được thực hiện trong 2 hay ba năm nữa, nhưng sự hồi sức nhờ thế đã được lợi nhiều.”
    (SCIENCE ET VIE 9/2012)

    6/ BỆNH THỐNG PHONG (GOUTTE) : MỘT BỆNH PHỨC TẠP HƠN ĐIỀU MÀ TA TƯỞNG.

    Bệnh thống phong được biểu hiện bởi những cơn rất dau ở khớp.

    ARTICULATIONS. Nếu dịch bệnh béo phì trên thế giới hiện đang gây lo ngại một cách đúng đắn, thì một bệnh khác cũng gia tăng song hành : bệnh thống phong (goutte). “ Ở châu Âu, bệnh goutte ảnh hưởng lên 1 đến 1,5% dân số. Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc bệnh của nó đã chuyển giữa năm 1990 và 2007 từ 2,1% lên 3,9% dân số, hoặc hơn 8 triệu người bị bệnh ”, GS Thomas Bardin, thầy thuốc chuyên khoa khớp (Bệnh viện/ Lariboisière, Paris) đã giải thích như vậy. Bệnh thống phong tiến triển khắp nơi, giáng vào những nước cho đến nay chưa hề bị như Trung Quốc, Nhật Bản hay Tân Tây lan.” Một sự tiến triển được làm dễ bởi chế độ ăn uống thuộc loại “ fast-food ”, nhiều calo hơn, nhiều mỡ hơn, thuận lợi cho sự biểu hiện những tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) được nhận diện tốt hơn. Theo một công trình nghiên cứu mới đây, những người Mỹ béo phì thường bị bệnh thống phong 2 đến 3 lần nhiều hơn những người có trọng lượng bình thường.

    Bệnh thống phong được biểu hiện bởi các cơn rất đau ở khớp, chủ yếu ảnh hưởng vùng đáy của ngón cái, đôi khi mắc cá chân, đầu gối hay bàn tay. Bệnh được gây nên bởi những tinh thể urate de sodium phát xuất từ sự thoái hóa của các purine thành acide urique ; các purine này là những sinh phân tử quan trọng của chuyển hóa. Acide urique chủ yếu được loại bỏ bởi thận vào trong nước tiểu. “ Trong máu, acide urique dưới dạng urate de sodium, ít hòa tan, có khuynh hướng kết tủa bằng cách tạo thành những vi tinh thể (microcristaux) nếu nó vượt quá 60mg/L, thầy thuốc chuyên về thấp khớp đã chỉ rõ như vậy. Vì tính hòa tan của các tinh thể giảm khi lạnh, nên các vi tinh thể này đọng lại ở các đầu chi hơn.” Chúng được tạo thành ở bề mặt sụn và các màng hoạt dịch của các khớp, đôi khi trong các dây gân hay dưới da. Sự tăng trưởng của chúng rất là chậm.

    Thường nhất, tăng uric acid huyết (hyperuricémie) là kết quả của một tố bẩm di truyền nhẹ khiến bài xuất kém acide urique và do một chế độ ăn uống làm dễ sự tăng acide urique trong máu. Tăng uric acid huyết (hyperuricémie) và những lắng đọng thường không gây triệu chứng, nhưng 10 đến 15% những trường hợp tăng uric acid huyết tạo nên một cơn thống phong gây đau đớn. Tăng uric acid huyết càng lâu và càng cao, bệnh nhân càng già, thì nguy cơ xảy ra cơn càng gia tăng.

    Trừ trường hợp ngoại lệ, bệnh thống phong phát triển muộn.Thống phong gây bệnh 4 đến 5 lần thường hơn những người đàn ông, nhất là sau 50 tuổi. Bệnh thống phong có thể thứ phát một suy thận. Ở những phụ nữ rất già, bệnh thống phong thường do sự sử dụng kéo dài các thuốc lợi tiểu chống cao áp. Khi đó bệnh chủ yếu gây thương tổn ở các bàn tay. Trong dạng bệnh sau cùng này và trong các bệnh thống phong nặng xuất hiện những tophus (sạn urat), những cục (nodules) đôi khi to lớn, chứa đầy các tinh thể urate, không đau nhưng có thể gây thương tổn các khớp và xương.

    “ Để một cơn thống phong xuất hiện, phải có một biến cố làm vỡ một lắng đọng, phóng thích những tinh thể vào trong khớp, ở đó chúng tương tác với những tế bào miễn dịch, các tế bào đơn nhân (monocytes)-các đại thực bào (macrophages) và những tế bào đa nhân. Khi đó một phản ứng viêm được phát khởi ”, GS Frédéric Lioté, thầy thuốc chuyên khoa khớp (Bệnh viện Lariboisière và Inserm U606, Paris) đã giải thích như vậy. Biến cố làm phát khởi có thể là một cú va chạm, một nhiễm trùng, sốt… đôi khi ngày sau một bữa ăn thịnh soạn. Khi đó khớp trở nên đỏ, nóng, đau. “ Cơn xuất hiện đột ngột đến độ phần lớn các bệnh nhân có thể nói một cách chính xác nó đã phát khởi vào lúc nào.” Cơn thường khá điển hình để gợi cho thầy thuốc chẩn đoán. “ Nhưng chỉ có sinh thiết khớp phát hiện những tinh thể mới cho phép xác định chẩn đoán.”

    ĐẮP ĐÁ.

    Vài bệnh nhân chỉ bị một hay hai cơn ; đối với những bệnh nhân khác, bệnh sẽ trở thành mãn tính, khoảng cách giữa các cơn giảm với thời gian. “ Phải phân biệt điều trị cơn, nhằm làm giảm đau, nhưng không ngăn ngừa những cơn sau này, với điều trị nền (traitement de fond), nhằm làm biến mất các lắng đọng bằng cách mang uric acid huyết trở lại nồng độ bình hường, GS Pascal Richette (Bệnh Viện Lariboisière, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Là thuốc chuẩn của cơn viêm khớp thống phong (arthrite goutteuse), colchicine khó sử dụng. Các thuốc chống viêm và các corticoides cũng có thể được sử dụng, ngoại trừ những chống chỉ định.” Nghỉ ngơi khớp, đắp đá cũng làm thuyên giảm.

    Trong trường hợp thống phong nặng (thương tổn thận, xương, tophus) hay các cơn xảy ra liên tiếp, buộc phải thực hiện một điều trị nền dài lâu để bình thường hóa uric acid huyết. “ Điều trị chủ yếu dựa trên allopurinol, cần sử dụng một cách thận trọng, và từ mới đây dựa trên một loại thuốc mới, fébuxostat (Adenuric) ”. Điều trị cũng dựa nhiều vào sự hạn chế những thức ăn làm dễ tăng uric acid huyết (protéine động vật, bia, soda đường).

    Ngoài những điều trị mới này, sự nghiên cứu cũng đã mang lại một sự hiểu tốt hơn về bệnh thống phong, bệnh viêm liên kết với hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique), với bệnh đái đường, và từ ít lâu nay ta nghi ngờ chính bệnh thống phong là một yếu tố nguy cơ tim mạch. Vậy điều trị bệnh thống phong chắc chắn sẽ tiến triển nhiều trong những năm đến, hướng về một điều trị toàn bộ hơn các bệnh nhân.
    (LE FIGARO 10/9/2012)

    7/ NHỮNG TẾ BÀO GỐC : CHÚNG VẪN CÒN SỐNG SAU KHI CHÚNG TA CHẾT.

    Các nhóm nghiên cứu của Viện Pasteur, được chỉ đạo bởi các GS Fabrice Chrétien và Shahragim Tajbakhsh, vừa cho thấy rằng các tế bào gốc có thể sống sót nhiều ngày sau khi chúng ta chết. Sau khi đã đắm mình trong một tình trạng ngủ sâu, chúng trở nên hoạt động một khi được cấy trở lại. Những tế bào của cơ tồn tại 17 ngày khi con người chết. Từ một mẫu trích vài gramme, ta thu được hàng triệu tế bào sống. Để chống lại những điều kiện thù địch sau khi chết, các tế bào gốc còn tồn tại giảm thiểu đến mức tối thiểu những nhu cầu năng lượng của chúng và hoạt động không cần oxy. Kho chứa bất ngờ những tế bào gốc này, dễ xử lý, có thể được dùng cho nhiều áp dụng.
    (PARIS MATCH 19/7 – 25/7/2012)

    8/ GIÁN ĐOẠN TỰ Ý THAI NGHÉN (IVG) BẰNG THUỐC CÓ THỂ THỰC HIỆN Ở NHÀ

    BS Thierry Charasson, trưởng sản phụ khoa bệnh viện Joseph-Ducuing (Toulouse) trinh bày những ưu điểm của giải pháp gián đoạn tự ý thai nghén ngoài cơ sở y tế, vẫn không được biết đến

    Hỏi : Ở Pháp tần số của những yêu cầu gián đoạn tự ý thai nghén (IVG) ?
    BS Thierry Charassonl: Từ 10 năm nay, ta thống kê khoảng 200.000 trường hợp mỗi năm. Ngày nay, một gián đoạn tự ý thai nghén có thể được thực hiện không cần nhập viện, chỉ cần uống thuốc, ở nhà của bệnh nhân (10% những trường hợp gián đoạn thai nghén). Tuy nhiên, nếu gián đoạn thai nghén chỉ có thể thực hiện cho đến 12 tuần thai nghén, thì phương pháp không nhập viện chỉ có thể cho đến 5 tuần.

    Hỏi : Để gián đoạn thai nghén ngoài bệnh viện, phải chăng bệnh nhân cũng phải tôn trong một thời hạn suy nghĩ ?
    BS Thierry Charassonl: Một tuần suy nghĩ là điều bất buộc trước khi thực hiện một gián đoạn thai nghén. Trong thời hạn này ta đề nghị một cuộc nói chuyện với một conseillère conjugale et familiale. Thời hạn này không thể tránh được đối với những vị thành niên.

    Hỏi : Những điều kiện được đòi hỏi để có thể thực hiện một gián đoạn tự ý thai nghén ở nhà ?
    BS Thierry Charassonl: Bệnh nhân phải ở cách bệnh viện dưới 1 giờ và dễ liên lạc. Thầy thuốc, sau một thăm khám lâm sàng, đòi hỏi một bilan gồm có một siêu âm và một xét nghiệm máu để kiểm tra chủ yếu rằng đó không phải là một thai ngoài tử cung và rằng các thời hạn được tôn trọng. Cũng có những chống chỉ định hiếm hoi, như một dị ứng với các thuốc được sử dụng để gián đoạn thai nghén, một suy thận, một suy gan…

    Hỏi : Protocole là gì ?
    BS Thierry Charassonl: Quá trình tống thai được thực hiện bằng hai giai đoạn : trước hết bệnh nhân, ở phòng mạch, uống 3 viên thuốc RU 486, rồi ở tại nhà, 48 giờ sau, 2 viên thuốc prostaglandine. Những viên thuốc prostaglandine sẽ gây đau (hơi giống như kinh nguyệt), có thể chịu được nhờ uống thuốc giảm đau và đặt túi chườm nóng (bouillotte chaude). Trong 60% các trường hợp, trứng được tống xuất trong 4 giờ (khối nhỏ gélatine) với xuất huyết và vài cục máu đông. Thời hạn có thể kéo dài đến 24 giờ.

    Hỏi : Sau khi tống xuất, tiếp theo sau là gì ?
    BS Thierry Charassonl: Các cơn đau giảm rất nhanh và những xuất huyết nhỏ có thể tồn tại khoảng 10 ngày. Hai đến 3 tuần sau khi tống thai, phải thăm khám kiểm tra để xác nhận kết quả, nhất là nhờ xét nghiệm máu và siêu âm. Phương pháp IVG bằng thuốc mang lại thành công trong hơn 95% các trường hợp.

    Hỏi : Đối với các phụ nữ những lợi ích chính là gì ?
    BS Thierry Charassonl: 1. Một sự tiếp cận lớn hơn : đi khám thầy thuốc phụ khoa là một giải pháp dễ dàng tránh những thủ tục và những chờ đợi và cho phép rút ngắn thời hạn thực hiện IVG. Ngoài ra, trong vài vùng, những cơ sở bệnh viện đông bệnh nhân, và khó thực hiện can thiệp này tại bệnh viện. 2. Sự thoải mái khi được ở tại nhà. 3. Động tác do không xâm nhập, nên không có nguy cơ do phẫu thuật. 4. Không phải gây mê.

    Hỏi : Ngoài thầy thuốc phụ khoa, những thầy thuốc nào có thể thực hiện IVG tại nhà ?
    BS Thierry Charassonl: Các thầy thuốc đa khoa và, từ năm 2009, những thầy thuốc của các trung tâm giáo dục và kế hoạch hóa gia đình, với điều kiện đã theo một đào tạo chuyên môn. Phải nhấn mạnh rằng sự phổ biến kém của phương pháp này một phần là do thiếu các thầy thuốc được đào tạo.

    Hỏi : Phương pháp gián đoạn thai nghén tại nhà có được đảm nhận bởi Bảo hiểm y tế không ?
    BS Thierry Charassonl:Chúng được bồi hoàn 70% với khả năng tiers payant. Trong vài trường hợp, thí dụ đối với những vị thành niên thực hiện IVG bí mật, bồi hoàn 100%

    Hỏi : Theo ông, phương pháp này, tiện nghi hơn đối với các phụ nữ, liệu có sẽ được phổ biến hay không ?
    BS Thierry Charassonl: Ngày nay, số những trường hợp IVG ngoài bệnh viện vẫn rất hạn chế bởi vì không được công chúng hay những người trong ngành biết đến. Nhưng giới hữu trách y tế, sau khi đã nhận thức những ưu điểm của phương pháp, khuyến khích các thầy thuốc theo cách xử trí này.
    (PARIS MATCH 7/6 – 13/6/2012)


    9/ ALZHEIMER : PHÁT HIỆN CÁC MẢNG AMYLOIDE BẰNG CHỤP HÌNH ẢNH HẠT NHÂN

    FDA (Cơ quan quản trị thực và dược phẩm), cơ quan hữu trách y tế ở Hoa kỳ, vừa chấp thuận việc đưa ra thị trường một nguyên tử đánh dấu phóng xạ (un traceur radioactif), florbetapir F18, để phát hiện những mảng amyloide bằng Pet Scan (tomographie par émission de positons). Protéine beta-amyloide là thành phần chính của nguyên tử đánh dấu này, khi lắng đọng quanh các neurone, cắt dần tất cả các liên lạc ở các khớp thần kinh (synapse). Cho đến nay, những protéine này chỉ có thể thấy được sau khi chết trong khi giải phẫu tử thi. Sự xuất hiện của nguyên tử đánh dấu này trong chụp hình ảnh hẳn cho phép cải thiện mức độ chính xác của chẩn đoán và, nhất là, cho phép xác lập sớm với một mức độ tin cậy khá lớn ở những bệnh nhân bị những rối loạn nhận thức (trouble cognitif) ở giai đoạn đầu. Trắc nghiệm này một phần dựa trên những công trình nghiên cứu so sánh những hình ảnh thu được ở những bệnh nhân trước và sau khi chết. Trắc nghiệm không thể sử dụng được ở những người lành mạnh không bị thiếu sót nhận thức (déficit cognitif) bởi vì các mảng amyloide có thể hiện diện ở 20% những người lành mạnh và mức độ đáng tin cậy của trắc nghiệm khi đó sẽ ít hơn. Flobetapir F18 (Amyvid) hiện chưa có ở châu Âu.
    (PARIS MATCH 4/10 – 10/10/2012)

    10/ CÀNG NHIỀU ÁNH NẮNG MẶT TRỜI, CÀNG ÍT BỊ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC

    Là bệnh mãn tính của hệ thần kinh trung ương, xơ cứng rải rác (SEP : sclérose en plaques) là do sự kết hợp của rất nhiều yếu tố di truyền và môi trường. Trong số những yếu tố môi trường, việc tiếp xúc kém với các tia tử ngoại lần nữa được nghi ngờ như là yếu tố làm dễ. Một điều tra của Thụy điển đã theo dõi hơn 2200 người trong 5 năm. So sánh với những người tiếp xúc nhiều nhất với các tia tử ngoại này, những người báo cáo tiếp xúc kém nhất có một nguy cơ xuất hiện bệnh xơ cứng rải rác hai lần quan trọng hơn. Sự tương quan này độc lập với tình trạng thiếu viatmine D, mặc dầu sự thiếu hụt vitamine D cũng làm gia tăng nguy cơ bị bệnh xơ cứng rải rác 40%. Như thế việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời bảo vệ chống lại bệnh xơ cứng rải rác bằng một một cách khác với vitamine D.
    (SCIENCES ET AVENIR 9/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (11/10/2012)

    Edited by user Saturday, October 13, 2012 7:11:06 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #10 Posted : Sunday, November 4, 2012 8:10:03 AM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 284

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ WILLIAM HARVEY, ÔNG THẦY CỦA TUẤN HOÀN MÁU

    Ở thế kỷ XVII, một thầy thuốc trẻ người Anh, nhờ tinh thần kiên trì bền bỉ, đã thực hiện một khám phá cách mạng. Trong một thời gian lâu ông vẫn bị khinh miệt.

    Ngày nay, tuần hoàn máu là một sự thật hiển nhiên. Bộ máy tuyệt vời tim, phổi, các động mạch, các tĩnh mạch cuối cùng được biết và được giảng dạy cho các trẻ em ngay ở trường tiểu học. Thành phần của máu, nguồn gốc của nó, sự đổi mới của nó, hành trình của nó đã từ lâu không còn bị tranh cãi nữa. Tuy vậy, điều đó đã không phải là một sự kiện có được dễ dàng. Sẽ cần có sự quyết tâm, sự say mê và thiên tài của một thầy thuốc trẻ người Anh của thế kỷ XVII để đạt được điều đó. Và biết bao trở ngại mà ông đã phải vượt qua giữa năm 1578, khi ông sinh ra đời ở Folkestone trong quận Kent (Anh) và năm 1657, ngày ông qua đời, để làm nghe sự thật này : máu tuần hoàn trong cơ thể của chúng ta bên trong các huyết quản phát xuất từ tim và trở lại tim.

    William Harvey nằm trong số những người đã làm xoay chuyển lịch sử và những kiến thức y khoa. Ông đã khởi xướng một quan niệm về thân thể vốn không hiện hữu trước đó. Có lẽ chính vì thế mà những công trình và tư tưởng của ông đã bị tranh cãi trong một thời gian lâu, lúc ông còn sống và sau khi ông mất. Cho đến khi đó chỉ được tín nhiệm những tư tưởng ngông cuồng và kỳ cục nhất (dưới mắt chúng ta) về sự vận hành chức năng của thân thể con người. Sự khám phá tuần hoàn máu của ông đã bị khinh miệt ở Pháp trong gần nửa thế kỷ.

    “ NẾU MÁU LƯU THÔNG, VIỆC TRÍCH MÁU SẼ LÀ ĐIỀU SAI TRÁI ”

    Vào thời đó, quý ông ở trường y đã không do dự chế giễu những người theo lý thuyết mới bằng cách gọi họ là những “ circulateurs ”, một lối chơi chữ đại học thông thái rởm : thật vậy thuật ngữ latin circulator để chỉ một lang băm (charlatan). Gui Patin, với vẻ kiêu ngạo của uy quyền khoa trưởng y khoa Paris, đã không do dự xác nhận rằng “ sự tuần hoàn là nghịch lý, vô ích đối với y khoa, dối trá, không thể có, không thể hiểu được, vô lý, có hại cho đời sống của con người.. Vì lẽ Thánh Kinh không nói đến tuần hoàn máu, vậy khó mà chấp nhận điều đó. Nếu máu lưu thông, việc trích lấy máu (saignée) sẽ là điều không đúng : thế mà sự trích lấy máu là phương thuốc tốt nhất mà ta có được ”… Điều mà biết bao nhiêu nạn nhân sẽ chứng thực không do dự !

    William Harvey xuất thân từ một gia đình khá giả của những tiểu địa chủ và thương gia. Ông theo học ở Cambridge, tại đây ông nhận được văn bằng y khoa vào năm 1599. Đó là thời kỳ mà tài năng của Shakespeare sáng chói, “ thầy thuốc văn học ” (médecin littéraire) của các căn bệnh về những trái tim yêu đương. Vào đúng năm 20 tuổi, Harvey đi xuyên châu Âu để đến Padoue, ở đây có những nhà cơ thể học xuất sắc nhất giảng dạy và ở đây Galilée gây một ảnh hưởng hứng thú. Từ năm 1600 đến 1602, ở Padoue William Harvey trở thành môn đệ của Fabricius d’Acquapendente (1537-1619). Ông này khám phá những van tĩnh mạch ở các “ chi dưới mặc dầu chẳng hiểu gì hết ý nghĩa của sự khám phá của mình ”.

    Trở lại Luân Đôn, Harvey hành nghề y khoa ở Bartholomew’s Hospital và cưới con gái của Lancelot Browne, thầy thuốc thực thụ của Elisabeth I rồi của Jacques 1er, như thế điều này mang lại một hỗ trợ tốt cho một sự nghiệp vốn đã đầy hứa hẹn. Ngay năm 1607, lúc chưa được 30 tuổi, ông được bầu vào Collège royal des médecins, trước khi đến lượt mình trở thành thầy thuốc của các vua Jacques 1er và Charles Ier. Nhưng sau cuộc nội chiến năm 1642, chính do sự thân cận với nhà vua bị phế truất này mà đến lượt ông bị buộc về hưu, bị khánh kiệt và nhiều công trình bị hủy bỏ. Điều đó không ngăn cản ông tiếp tục theo đuổi những công trình nghiên cứu của mình cho đến khi chết, ngày 3 tháng 6 năm 1657. Harvey, với tinh thần tò mò vô hạn, đã say mê nhiều chủ đề. Nhưng chính những công trình của ông về tim và chuyển động máu trong cơ thể khiến tên tuổi ông được lưu lại hậu thế và làm ông trở nên bất tử.

    Có lẽ William Harvey đã tiếp cận được toàn bộ các kiến thức thời kỳ đó khi còn là sinh viên của Fabricius d’Acquapendente ở Padoue. Nhưng, sự kiện đáng chú ý, ông dựa vào những yếu tố về lượng, cơ thể học và thí nghiệm để nghiên cứu. Bác bỏ định kiến cho rằng máu không ngừng được tạo ra, Harvey chắc chắn rằng cùng lượng máu phát xuất từ tim trở lại tim sau khi đã đi xuyên qua phổi. Để làm nòng cốt cho trực giác này, Harvey trở thành nhà thí nghiệm và khảo sát vô số tim động vật và người, không ngừng đo dung lượng của chúng và đảm bảo bằng mắt những giai đoạn vận hành chức năng khác nhau. Lập luận của ông xuất phát từ các van tĩnh mạch được khám phá bởi ông thầy người Ý. Những van tĩnh mạch cho đến khi đó được cho là để ngăn cản sự trào ngược của máu dưới ảnh hưởng của gan va trọng lực.

    Nhưng Harvey chứng minh rằng các van tĩnh mạch được hướng về tim, chỉ dấu đầu tiên chứng tỏ tuần hoàn theo một chiều duy nhất. Những thí nghiệm quan trọng của ông nhằm vào thể tích máu được tim phóng ra. Tim, trung bình chỉ chứa 0,6 L và đập 72 lần mỗi phút, trong một giờ phóng ra 259 lít. Đối với ông có vẻ chỉ có một giải pháp : máu được phóng ra bởi tim chỉ có thể trở lại bằng một tuần hoàn kín về tim… Để chứng minh máu tĩnh mạch trở về tim, ông sử dụng các garrot và những đè ép đơn thuần, cho phép ông chứng tỏ rằng máu đi từ ngoại biên về tim chứ không phải ngược lại. Tuy nhiên lý thuyết của ông không thể vạch rõ một điểm quan trọng : sự chuyển máu từ động mạch về các tĩnh mạch. Khi đó ông giả định sự hiện hữu “ hoặc là những đường nối (anastomose), hoặc là những những lỗ hổng trong các mô cho phép máu đi qua ”.

    LOUIS IV TRỞ THÀNH “ CIRCULATOR ”

    Ngay năm 1616, nhân một hội nghị được tổ chức trong khung cảnh những Lumleian Lectures, ông xác nhận sự có thực của một tuần hoàn máu mà trong những năm sau đó ông đưa ra những bằng cớ càng ngày càng nghiêm túc, điều này cho phép ông công bố ở Francfort “ Exercitatio Anatomica de Motu Cordis và Sanguinis in Animalibus ”. Vậy ông đã cần nhiều năm trước khi công bố những công trình nghiên cứu cách mạng của mình trong cuốn sách nhỏ 72 trang này, tại một nhà xuất bản William Fitzer ít được biết đến ở Francfort. Việc lựa chọn thành phố này có lẽ liên quan đến những tính toán về an ninh, để không bị lên án khi đưa ra những lý thuyết đi ngược lại Galien. Bị công kích mạnh mẽ bởi nhà cơ thể học người Pháp Jean Riolan, vào năm 1649, ông đáp lại với một chuyên luận thứ hai mà tựa đề nêu lên không úp mở “ tuần hoàn máu ” (circulation sanguine). Vào thời kỳ đó, sự chứng minh của ông được tiếp nhận như một cú sét đánh và bị bác bỏ bởi phần lớn các nhà cơ thể học, liên minh chống lại ông, tố cáo mạnh mẽ những lý thuyết của ông.

    Ở Pháp, chính bản thân Vua Mặt trời, Louis XIV, cuối cùng, vào năm 1972 tuyên bố rằng chính ông là “ circulator ” bằng cách ra lệnh cho thầy thuốc ngoại khoa Pierre Dionis giảng dạy trong Jardin du Roi, Jardin des plantes tương lai, cơ thể học của con người theo tuần hoàn máu. Dù đến lượt ông phải chịu sự khiển trách của Nghị Viện Paris. Ngay cả những người chống đối Harvey kịch liệt nhất ở Pháp cuối cùng phải theo những lý thuyết này, đến độ muốn chiếm hữu chúng, đến nỗi lên án Harvey là đạo văn ! Tuy nhiên người thầy thuốc thiên tài có được niềm vui, rất hiếm đối với một nhà khoa học lúc còn sống, khi thấy lý thuyết của mình được chấp nhận và được giảng dạy bởi phần lớn các trường y châu Âu trước khi qua đời.

    Để đi đến những khám phá của mình, Harvey đã phải làm lay chuyển một giáo điều y khoa đã hóa thạch từ 1500 năm. Bởi vì vào thời đó, Y học luôn luôn, một phần, dựa vào những lý thuyết phát xuất từ thời Thượng Cổ. Thí dụ theo Hippocrate (460 – 370), với những kiến thức cơ thể học còn sơ sài, máu là một trong 4 thể dịch (humeur) hiện diện trong cơ thể. Tim hút máu và nhờ nhiệt nội tại (énergie interne) biến đổi nó rồi phân bố trở lại trong thân thể qua một mạng các tĩnh mạch. Không khí của các lá phổi cũng được tim hút và qua nó được phân bố trong cơ thể, đồng thời làm lạnh máu. Lý thuyết các thể dịch (théorie des humeur) có một thành công vừa lâu dài vừa tai hại : bệnh tật chỉ là sự bất quân bình của các thể dịch quá nhiều hoặc không đủ dồi dào, như thế mở đường cho những liệu pháp nguy hiểm bằng trích lấy máu (saignée).

    TẤT CẢ SINH RA TỪ MỘT CÁI TRỨNG.

    Tác giả nổi tiếng khác, Galien, thầy thuốc gốc Hy lạp (131-201), trình bày một lý thuyết về máu, mặc dầu gắn bó chặt chẽ, nhưng không tránh khỏi những mâu thuẫn rõ ràng mà không một ai, đúng vậy, nêu lên và xét lại. Đối với Galien, máu được sinh ra bởi gan một cách liên tục, rồi đi đến tim phải và phổi cũng như ra ngoại biên qua những tĩnh mạch và ở đó nó được tiêu thụ một phần lớn…Thầy thuốc Ibn al-Nafis (1210-1288), trong Commentaires anatomiques du canon d’Avicenne, trình bày một cách rõ ràng tiểu tuần hoàn và bác bỏ những sai lầm của Galien, nhưng vẫn không hiểu được tất cả.

    Thiên tài của Harvey không dừng lại đó, vị thầy thuốc, tò mò mọi chuyện và có một tinh thần quan sát ngoại hạng, sẽ là người đầu tiên vào năm 1651 chứng minh rằng tất cả sinh ra từ một chiếc trứng, đánh đổ tư tưởng về sự phát sinh ngẫu nhiên dẫu sao vẫn tiếp tục tồn tại cho đến cuối thế kỷ XIX.

    Người đàn ông, đã khám phá tính chất phức tạp của tuần hoàn máu, một mình chống lại những nhà cơ thể học châu Âu của thế kỷ XVII, là một nhân vật quan trọng của khoa học, trái với những người chống lại ông, cay độc và ồn ào, tất cả đều bị hậu thế quên lãng.
    (LE FIGARO 31/7/2012)

    2/ SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA NHÓM MÁU VÀ NHỮNG NGUY CƠ TIM MẠCH

    Tin xấu đối với những người thuộc nhóm máu AB ! Theo những công trình nghiên cứu được tiến hành bởi nhóm nghiên cứu của Lu Qi (đại học Havard, Hoa Kỳ), tỷ lệ nguy cơ bị một bệnh động mạch vành lên đến 20% cao hơn đối với những người thuộc nhóm máu AB so với những người thuộc nhóm máu O. “ Từ nay câu hỏi quan trọng liên quan đến các cơ chế giải thích sự liên kết này ”, François Cambien, chuyên gia di truyền học về những bệnh lý tim mạch (đại học Pierre-et-Marie-Curie, Paris) đã bình luận như vậy. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã đề xuất vài hướng giải thích, thí dụ một sự tập trung mạnh hơn vài yếu tố viêm ở những người thuộc nhóm máu AB.
    (SCIENCE ET VIE 10/2012)

    3/ THÀNH CÔNG CỦA MỘT LIỆU PHÁP GENE CHỐNG BỆNH ƯA CHẢY MÁU

    HEMATOLOGIE. 6 bệnh nhân đã được điều trị thành công nhờ một gène mã hóa một protéine thiết yếu trong sự đông máu.

    Phải chăng liệu pháp gène (thérapie génique) một ngày nào đó sẽ thắng được bệnh ưa chảy máu (hémophilie) ? Được thực hiện bởi một kíp nghiên cứu Anh-Mỹ, một thử nghiệm mới đây trên 6 bệnh nhân được theo dõi từ 6 đến 16 tháng khiến hy vọng điều đó : 4 bệnh nhân đã có thể ngừng điều trị kháng đông mà không bị xuất huyết, hai bệnh nhân khác đã có thể cách quãng những lần dùng thuốc.

    Những người tình nguyện này bị bệnh ưa chảy máu B (hémophilie B) nghiêm trọng do sự thiếu hụt một gène mã hóa một protéine thiết yếu cho sự đông máu được gọi là yếu tố IX (FIX). Ở những bệnh nhân này, tỷ lệ FIX dưới 1% bình thường. 2 hay 3 lần mỗi ngày, họ phải tự tiêm bằng đường tĩnh mạch một concentré de FIX : một thao tác gò bó và rất tốn kém.

    Do đó nảy ra ý tưởng tiêm cho họ chỉ một lần duy nhất biến thể chức năng (version fonctionnelle) của gène này. Để đạt được điều đó, nhóm nghiên cứu đã sử dụng một virus không gây bệnh đối với người, và không có thể tự tăng sinh. Các nhà nghiên cứu đã đưa vào virus một gène d’ intérêt. Sau đó vecteur virus này đã được tiêm qua đường tĩnh mạch vào những người tình nguyện bằng một liều duy nhất. Mục tiêu : vecteur virus truyền cho các tế bào của những người tình nguyện những gène d’intérêt.

    Trước hết, tỷ lệ yếu tố IX được chuyển từ 2% lên 11% tùy theo liều được tiêm ở những người tình nguyện. “ Thế mà ta biết rằng đôi khi chỉ cần vượt qua ngưỡng 1% cũng đủ để làm giảm một cách rõ rệt những xuất huyết ”, Andrew Davidoff, thuộc bệnh viện St Jude de Memphis, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu, đã chỉ rõ như vậy. Sau đó, 4 trong số 6 người tình nguyện đã có thể gần như ngừng những mũi tiêm FIX, và hai bệnh nhân tình nguyện khác đã có thể cách quãng những lần tiêm. Sau cùng, vài bệnh nhân khác đã có thể tiếp tục trở lại những hoạt động vật lý mà cho đến khi đó họ khó thực hiện.

    “ Đây là lần đầu tiên một thử nghiệm liệu pháp gène cho phép có thể sản xuất đủ FIX, Alain Fischer, trưởng khoa immunologie-hépatologie, thuộc bệnh viện Necker Paris, đã ghi nhận như vậy. Kết quả này có liên quan đến bản chất của vecteur virus được sử dụng ”. Thật vậy, vài trong số những protéine cấu thành ít được gặp trong số những virus tấn công người : trong phần lớn các trường hợp, hệ miễn dịch không được huấn luyện tốt để nhận diện chúng và tấn công. Ngoài ra chúng bị làm thoái hóa nhanh chóng bởi những tế bào của cơ thể.

    PHẦN ỨNG MIỄN DỊCH.

    Tuy nhiên, ở hai trong số những người tình nguyện, nồng độ các men gan đã gia tăng, dấu hiệu khả dĩ của một phản ứng miễn dịch chống lại vecteur virus. Mặc dầu một điều trị thích đáng đã cho phép một sự trở lại bình thường, nhưng điều đó đặt ra vài vấn đề. Thí dụ, điều gì sẽ xảy đến ở một bệnh nhân có hệ miễn dịch có khả năng chống lại những protéine của vecteur virus này ? “ Ta cũng không biết liệu pháp gène này có sẽ hiệu quả và an toàn về lâu về dài hay không ”, Alain Fischer đã ghi nhận như vậy. Có sẽ phải cần điều trị lần nữa những bệnh nhân sau vài tuần ? Có sẽ phải cần một vecteur virus để tránh một phản ứng miễn dịch của cơ thể hay không ? Mặc dầu nhiều hứa hẹn, tuy vậy những kết quả này chỉ là một bước đầu, và sẽ cần được xác nhận trên một số lượng các bệnh nhân lớn hơn.
    (LA RECHERCHE 2/2012)

    4/ MỘT HƯỚNG ĐỂ NGỪA THAI NAM GIỚI

    PHYSIOLOGIE. Phân tử JQ1 phong bế một cách có thể đảo ngược được quá trình thành thục của các tinh trùng ở chuột.

    Phong bế sự chế tạo liên tục hàng triệu tính trùng, và một cách có thể đảo ngược được : đó là tác dụng của phân tử JQ1, được phát hiện ở chuột bởi kíp nghiên cứu quy tụ quanh Martin Matzuk, thuộc đại học y khoa của Houston, và của James Bradner, thuộc trường y Havard của Boston. Phải chăng ta tìm thấy ở đó một hướng mới ngừa thai nam giới ? Có lẽ, nhưng với điều kiện đảm bảo tính vô hại của nó.

    Cho mãi đến nay, chỉ những hormone là được xét đến như là thuốc ngừa thai nam giới (contraceptifs masculins). Là những chất xuất phát từ testostérone, chúng đánh lừa não bộ bằng cách làm cho cơ quan này tin rằng nó không cần phải kích thích quá trình trưởng thành của các tinh trùng nữa. Nhưng những thí nghiệm lâm sàng vấp phải một sự thiếu tính hiệu quả hay một sự giảm dục tính.

    Phân tử JQ1 tác động bằng cách trung hòa một protéine, được gọi là BRDT, chỉ được sản xuất trong các tinh hoàn. Năm 2009, một nhóm nghiên cứu của Grenoble đã khám phá rằng BRDT liên kết với các histone (những protéine mà ADN quấn quanh chúng và toàn bộ tạo thành nhiễm sắc chất (chromatine). Kết quả của sự liên kết này : nhiễm sắc chất của các tinh trùng thu nhỏ lại nhiều hơn nhiễm sắc chất của những tế bào khác. Vì nhiễm sắc chất nằm trong nhân, vậy nhân của các tinh trùng nhỏ hơn trung bình. Điều đó cho phép chúng có một cái đầu nhỏ, làm dễ aérodynamisme và khả năng di động của chúng. Ngoài ra, BRDT dường như cần thiết cho sự sinh tinh trùng : thật vậy vài sự biến dị của protéine này liên kết với một sự vắng mặt của các tinh trùng ở người, từ đó nảy sinh ý tưởng trung hòa BRDT để phong bế sự sản xuất tinh trùng.

    SỰ NHẬN DIỆN.

    Với mục đích này, các nhà sinh học Hoa Kỳ trước hết đã tìm kiếm, trong các ngân hàn các dữ kiện (banque de données), những phần tử mà cấu trúc cho phép chúng liên kết với BRDT và ngăn cản chúng gắn vào các histone. Chính như thế mà họ đã nhận diện ra phân tử JQ1.

    Những thí nghiệm sinh hóa đầu tiên đã cho họ thấy rằng JQ1 phong bế sự gắn BRDT vào histone. Nhưng in vivo thì thế nào ? Để biết điều đó, nhóm nghiên cứu đã cho các con chuột đực mỗi ngày những mũi tiêm JQ1. Sau 6 tuần điều trị, kích thước của các tinh hoàn đã giảm một nửa, số lượng các tinh trùng hiện diện trong tinh dịch của chúng đã sụt giảm 90%, và khả năng di động của các tinh trùng bị giảm 95%. Trái với điều ta quan sát thấy trong một điều trị với kích thích tố, việc cho JQ1 không gây nên một rối loạn hành vi sinh dục nào. Sau cùng, 4 tháng sau khi ngừng điều trị, những con đực đã có con. Những con chuột nhỏ có vẻ mạnh khỏe.

    Việc tiêm JQ1 có cho phép một sự ngừa thai không có nguy cơ ? Còn quá sớm để nói điều đó ! “ Sự kiện JQ1 tác động lên nhiễm sắc chất của các tế bào mầm (cellules germinales), những tê bào nguồn gốc của những tinh trùng, gây nên những lo ngại về tính vô hại của nó, Nathalie Rives, chuyên gia về sự sinh tinh trùng ở CHU de Rouen đã giài thích như vậy. Ta biết rằng những biến đổi loại này có thể gây nên những bất thường trong sự phát triển của phôi thai. Để biết xem hậu duệ có thật sự lành mạnh hay không, phải theo dõi các con chuột con suốt đời, kể cả bằng sự phân tích génome của chúng, điều này ngày nay nằm ngoài tầm tay.”

    Ngoài ra, JQ1 cũng gắn một cách tự nhiên vào BRD4, một protéine kiểm soát sự biểu hiện của vài gène chịu trách nhiệm các ung thư. Dùng lâu dài, JQ1 do đó có thể làm dễ sự xuất hiện của các khối u. Nhận thức mối nguy hiểm này, nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ hiện nay cố gắng tổng hợp một dẫn xuất của JQ1, lại còn đặc hiệu hơn đối với BRDT.
    (LA RECHERCHE 10/2012)

    5/ CANCER BASOCELLULAIRE KHÔNG THỂ MỒ ĐƯỢC : MỘT TIẾN BỘ CHƯA TỪNG CÓ

    BS Caroline Robert, trưởng khoa bệnh ngoài da và phụ tá của bà, BS Christine Mateus, giải thích tác dụng của điều trị đầu tiên có hiệu quả chống lại những ung thư này của da.

    Hỏi : Bà hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của những ung thư da thường gặp nhất này : những carcinome basocellulaire.
    BS Caroline Robert: Những ung thư này thường xảy ra nhất sau 50 tuổi và, nguy cơ gia tăng với tuổi tác. Đó là một trong những ung thư hiếm (ngoài vài trường hợp ngoại lệ) không di căn. Một trong những đặc điểm của chúng là xuất hiện chủ yếu trên những vùng tiếp xúc với ánh nắng mặt trời : trên mặt, trên da đầu của những người sói đầu. Những carcinome basocellulaire này có thể có những dạng vẻ khác nhau. Cổ điển nhất là hình dạng của một một nốt hồng, chắc, khá bóng. Những ung thư khác có một dạng dẹt, màu trăng trắng, có bờ ít được giới hạn hơn. Những ung thư khác tạo thành những mảng đỏ tròn. Tất cả có thể bị loet và đóng vẩy, và đôi khi được sắc tố hóa.

    Hỏi : Làm sao ta phân biệt được một cancer basocellulaire với những ung thư da khác ?
    BS Christine Mateus: Quả thật là ta có thể lẫn lộn một carcinome basocellulaire với một cancer épidermoide, nhất là khi chúng bị loét. Những sinh thiết cho phép một chẩn đoán xác định. Với mélanome sẫm màu hơn và có bờ không đều, hiếm khi ta có thể nhầm lẫn.

    Hỏi : Những carcinome basocellulaire này có phải luôn luôn do một sự tiếp xúc lâu dài với ánh nắng mặt trời ?
    Caroline Robert: Khi những tiếp xúc này xảy ra thường xuyên, đó là nguyên nhân chính. Những yếu tố di truyền cũng có thể là nguồn gốc của những ung thư da này, như trong naevomatose basocellulaire, một bệnh di truyền hiếm, gây nên sự xuất hiện nhiều carcinome basocellulaire trên thân thể.

    Hỏi : Không điều trị, những nguy cơ là gì ?
    BS Christine Mateus: Những nguy cơ của một sự tăng trưởng tại chỗ. Khối u sẽ lan rộng, đào da và đôi khi ngay cả những cấu trúc bên dưới (cho đến tận xương). Nếu ung thư tiến triển gần một con mắt, nó có thể gây mù lòa. Do đó cần điều trị càng sớm càng tốt !

    Hỏi : Ngoại khoa có phải luôn luôn là điều trị cổ điển để có được sự chữa lành không ?
    BS Caroline Robert: Vâng, với điều kiện không có chống chỉ định. Phải lấy thương tổn để phân tích và đảm bảo rằng ung thư đã được lấy đi hoàn toàn. Chỉ có những carcinome basocellulaire rất nông ngày nay mới có thể được điều trị không cần phải mổ : một crème với tác dụng của một liệu pháp miễn dịch tại chỗ hay quang liệu pháp (photothérapie), phối hợp tác dụng của một crème và tác dụng của ánh sáng.

    Hỏi : Những chống chỉ định ngoại khoa là gì ?
    BS Caroline Robert: Trong những trường hợp naevomatose basocellulaire, rất khó thực hiện cắt bỏ ngoại khoa. Ta cũng không thể mổ vài khối u ở những vị trí không thuận lợi, thí dụ quá gần một con mắt, cũng như những khối u quá lớn. Ta điều trị chúng với phóng xạ liệu pháp với những kết quả thỏa mãn ít hay nhiều. Cũng có những trường hợp rất hiếm hoi (dưới 1%) những carcinome basocellulaire đã di căn, đối với những trường hợp này ta chưa có phương sách có hiệu quả.

    Hỏi : Phương pháp mới nhằm điều trị những ung thư da không thể mổ được này là gì ?
    BS Christine Mateus: Đó là liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) (cho bằng đường miệng), dựa trên một loại thuốc, vismodegib. Chất này sẽ phong bế một cách đặc hiệu hoạt tính của một chất khác có tác dụng kích hoạt một voie de signalisation, chịu trách nhiệm sự tăng sinh của những tế bào ung thư.

    Hỏi : Những công trình nghiên cứu chứng tỏ tính hiệu quả của điều trị mới nhất này là gì ?
    BS Caroline Robert: Đã có nhiều công trình nghiên cứu. Một trong những nghiên cứu mới nhất, được công bố trong New England Journal of Medicine, được tiến hành trên hai loạt bệnh nhân. 33 bệnh nhân trong công trình nghiên cứu đầu bị carcinome basocellulaire di căn. 63 bệnh nhân của công trình nghiên cứu thứ hai có những khối u tại chỗ nhưng không thể mổ được. Tất cả được điều trị trung bình trong 7 tháng rưỡi với 150 mg vismodegib mỗi ngày. Kết quả : ở 43 những bệnh nhân không thể mổ được, ung thư đã giảm một cách ngoạn mục ! Điều này tạo nên một bước tiến chưa từng có, vì lẽ, cho đến nay, ta vô cùng bất lực. Hôm nay ngay cả vài bệnh nhân dường như được chữa lành. Trong số 33 bệnh nhân bị carcinome basocellulaire di căn, các khối u đã thoái lui một cách đáng kể ở 10 bệnh nhân trong số này. Những tác dụng phụ rất thường xảy ra, nhưng, trong hơn một nửa các trường hợp, không trầm trọng (biến đổi vị giác, co rút cơ, rụng tóc mức độ vừa phải, mệt)…
    (PARIS MATCH 19/7-25/7/2012)

    6/ MỘT CHIẾN LƯỢC ĐỘC ĐÁO CHỐNG BỆNH SỐT RÉT

    MALADIES INFECTIEUSE. Bằng cách làm biến đổi vài vi khuẩn ruột của muỗi, vecteur truyền bệnh sốt rét, một kíp nghiên cứu Hoa Kỳ đã làm giảm một cách rõ rệt sự phát triển của ký sinh trùng ở muỗi.

    Trong cuộc đấu tranh chống lại bệnh sốt rét, một hướng nghiên cứu nhằm tấn công một cách trực tiếp vào nguồn gốc của vấn đề : muỗi anophène, vecteur truyền Plasmodium falciparum, loại ký sinh trung gây chết người nhất của ký sinh trùng gây bệnh. Theo chiều hướng này, viện nghiên cứu về bệnh sốt rét Baltimore phát triển một chiến lược độc đáo : sử dụng các vi khuẩn transgénique có khả năng tấn công vào Plasmodium một cách trực tiếp ngay trong ruột của các con muỗi anophèle.

    Nhóm nghiên cứu cũng đã biến đổi về mặt di truyền các Pantoea agglomerans, những vi khuẩn có hại sống trong ruột giữa (intestin moyen) của muỗi anophèle, để chúng tổng hợp những loại proteine khác nhau, độc đối với Plasmodium falciparum. Thật vậy ruột giữa của muỗi anophèle là một vị trí chiến lược : nó chứa Plasmodium falciparum ở giai đoạn được gọi là “oocyste”, trong đó ký sinh trùng đặc biệt dễ bị thương tổn. “ Chiến lược này đáng lưu ý bởi vì những protéine gây độc này sẽ được phóng thích một cách chính xác ở nơi mà ta cần đến ”, Odile Puijalon, thuộc Viện Pasteur đã giải thích như vậy.

    SỰ TẤN CÔNG KÝ SINH TRÙNG

    Trong phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu sau đó đã cho các muỗi anophèle tiếp xúc với những Pantoea agglomerans transgénique này, rồi với các ký sinh trùng. 8 ngày sau, tỷ lệ oocyste của chúng đã giảm từ 85% đến 98%. Ngoài ra, chỉ có 16% những con muỗi này còn có oocyste trong ruột giữa của chúng, so với 90% ở những con muỗi chứng.

    “ Nhưng, việc chuyển từ phòng thí nghiệm lên thực địa là một thách thức quan trọng ”, Odile Puijalon đã nhắc lại như vậy. Tuy nhiên ba yếu tố làm cho các tác giả lạc quan. Trước hết, chiến lược này dường như có thể áp dụng cho tất cả các loại muỗi vecteur của bệnh sốt rét. Sau đó, các Pantoea agglomerans hiện hữu trong thiên nhiên, thí dụ trên các loại hoa, điều này có thể cải thiện sự khuếch tán của gène transgénique. Sau cùng, những protéine độc này tấn công vào ký sinh trùng bằng những cơ chế khác nhau, như thế hy vọng có một nguy cơ xuất hiện sự đề kháng ít hơn. Một hướng cần đào sâu, bởi vì theo ý kiến của nhiều chuyên gia, việc trừ khử bệnh sốt rét cần những vũ khí bổ sung ngoài những thuốc trừ sâu và các loại thuốc.
    (LA RECHERCHE 10/2012)


    7/ UNG THƯ : PHẢI LÀM GÌ KHI TA THUỘC VÀO MỘT GIA ĐÌNH CÓ NGUY CƠ ?

    Những consultation oncogénétique, cũng như những consultation en pré et postnatal, được hướng vào những người được xác định rõ.

    GENETIQUE. Trong tương lai phải chăng ta sẽ có thể không cần những consultation génétique và đòi hỏi một trắc nghiệm qua Internet, để biết những tố bẩm của mình đối với những bệnh và những ung thư, hay hơn thế nữa, trong một lãnh vực khác, đảm bảo rằng em bé mà ta sẽ sinh ra đời là lành mạnh ? “ Thật vô lý ! ” GS Jean Michel Dupont (Unité fonctionnelle de cytogénétique, Hôpitaux Universitaires de Paris Centre), BS Géraldine Viot (pédiatre généticienne, Hôpitaux Universitaires de Paris Centre) và BS Catherine Dugast (oncogénéticienne) thuộc Centre Eugène Marquis, CHU de Rennes) đã đồng thanh trả lời như vậy. Thật vậy, dầu những trắc nghiệm di truyền (test génétique) được đòi hỏi là những trắc nghiệm gì, chúng chỉ có ý nghĩa khi chúng được gắn vào một bệnh sử.

    Chính vì vậy ta sẽ còn cần và còn lâu dài đi thăm khám di truyền (consultation de génétique). Tùy theo những tiền sử gia đình, cá nhân của mình, tùy theo bối cảnh lâm sàng, chính chuyên gia di truyền học (généticien) hướng định những thăm khám nhằm mục đích chẩn đoán của mình. Thí dụ, trong ung thư học, có thể đó là tìm kiếm một biến dị trên một gène (khảo sát phân tử) và khiến cá nhân ta dễ bị ung thư.

    “ Những ung thư nguồn gốc di truyền là hiếm hoi nhất : chúng chỉ chiếm 5% các ung thư. Tuy vậy phải tự vấn khi nhiều thành viên của cùng một gia đình phát những ung thư, không nhất thiết cùng những ung thư, nhất là khi điều đó xảy ra trước 50 tuổi. Thật vậy, có những thể gia đình đối với hầu hết tất cả những ung thư ”, BS Dugast đã giải thích như vậy.

    LOGICIELS DE PROBABILITE.

    Như thế, trong trường hợp những ung thư xảy ra sớm (cancers précoces) trong một gia đình, điều luôn luôn hữu ích là lấy hẹn để thăm khám ung thư di truyền (consultation d’oncogénétique). Một conseiller en génétique bắt đầu dựng một cây phả hệ (arbre généalogique) của gia đình và cố thu hồi, trong chừng mực có thể được, hồ sơ y khoa của những người đã từng bị một ung thư, để xác định chẩn đoán. Nhờ những kết quả của nó, nhưng cũng nhờ logiciels tính xác suất có những gène biến dị trong gia đình và sau cùng, nhờ những trắc nghiệm di truyền nhắm đích (test génétique ciblé), thầy thuốc ung thư di truyền (médecin oncogénéticien) đến lượt mình đánh giá những nguy cơ ung thư gia đình đối với bệnh nhân thăm khám và đối với những thành viên khác của gia đình bệnh nhân này. Ở mỗi giai đoạn, một thời gian suy nghĩ và một consultation tâm lý được đề nghị.

    “ Hiện nay một khảo sát hoàn chỉnh mất từ 4 đến 6 tháng, nhưng thời gian này sẽ giảm bớt nhờ những séquenceur à ADN mới, bắt đầu trang bị các phòng thí nghiệm (séquençage cho phép đọc toàn bộ một gène ) : những séquenceur mới nhanh hơn nhiều những séquenceur cũ trong việc tìm những gène biến dị ”, BS Dugast đã ghi nhận như vậy.

    Trong số những bất thường thường được tìm thấy nhất, có những biến dị của các gène BRCA1 và BRCA2, khiến dễ có nguy cơ bị ung thư vú, buồng trứng và tuyến tiền liệt đối với đàn ông (với BRCA2). Và những bất thường khác, ít được biết đến hơn. “ Khoảng 10 gène khác có lẽ liên hệ vào những nguy cơ ung thư vú, nhưng ta còn thiếu thời gian nhìn lại để biết nguy cơ ung thư liên kết với những biến dị này là thấp hay cao. Nhờ những séquenceur mới, ta sẽ có thể tìm kiếm một cách hệ thống hơn và như thế tạo một cơ sở các dữ kiện. Đó là một giai đoạn cần thiết để biết những nguy cơ liên kết với những biến dị này là gì. Trong vài năm nữa, khi chúng ta có thể khai thác những dữ kiện này, khi đó các bệnh nhân của chúng ta sẽ nhận được một lợi ích thật sự vì lẽ chúng ta có thể nói với họ mức độ nguy cơ phát sinh ung thư này là gì ”, BS Dugast đã nhận xét như vậy.

    Hội chứng Lynch, ít được biết hơn và tuy vậy cũng thường xảy ra, kèm theo một nguy cơ cao bị ung thư tiêu hóa (ung thư đại tràng) và phụ khoa (ung thư nội mạc tử cung, buồng trứng). Hội chứng này cũng có thể cho ra những ung thư hiếm hơn như ung thư dạ dày, đường bài tiết nước tiểu, ruột non, đường mật Chính vì vậy, khi một hội chứng Lynch được khám phá ở một thành viên gia đình (những tiến bộ đáng kể đã đạt được trong lãnh vực này nhờ những trắc nghiệm được thực hiện một cách hệ thống hơn trên những khối u được lấy đi), ta yêu cầu bệnh nhân này báo cho những thành viên khác khả dĩ bị bệnh để khuyên họ thực hiện một điều tra phát hiện.

    Trong trường hợp nguy cơ ung thư được xác nhận, một sự theo dõi tiêu chuẩn hóa được đề nghị theo một nhịp độ được xác định : sự theo dõi đi từ IRM vú trong trường hợp nguy cơ ung thư vú đến nội soi đại tràng (colonoscopie) với nhuộm màu đặc biệt (bằng indigo carmin) trong trường hợp hội chứng Lynch. Đôi khi vấn đề một can thiệp ngoại khoa cũng được đặt ra ngày trước khi khối u có thể phát hiện được (ngoại khoa phòng ngừa). “ Sau cùng, Viện ung thư quốc gia (Inca : institut national du cancer) cố gắng cơ cấu hóa tốt hơn việc xử trí những bệnh nhân có nguy cơ cao này trên toàn bộ lãnh thổ. Phối hợp việc theo dõi những bệnh nhân này là một tiến bộ lớn để tránh mất tăm những bệnh nhân có nguy cơ cao này !”, BS Dugast đã kết luận như vậy.
    (LE FIGARO 17/9/2012)

    8/ VACCIN CHỐNG BỆNH ALZHEIMER : CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ CÓ KẾT QUẢ

    Kết cục của các trắc nghiệm của hai điều trị miễn dịch liệu pháp sẽ có tính chất quyết định trong cuộc chạy đua chống lại sự tiến triển của bệnh.

    Những kết quả của giai đoạn III của những thử nghiệm lâm sàng của hai vaccin chống bệnh Alzheimer sẽ được trình bày ngày 29 và 30 tháng 10 đến ở Monte-Carlo, nhân Hội nghị thế giới lần thứ 5 dành cho chủ đề này. Giai đoạn cuối của các trắc nghiệm trước khi được thương mãi hóa có tính chất quyết định. Được bắt đầu năm 2008, giai đoạn thử nghiệm cuối cùng này có mục đích phân tích sự dung nạp của điều trị và tính hiệu quả của nó trên một quy mô rất lớn, trên nhiều ngàn bệnh nhân. Cơ sở của các vaccin này là hai kháng thể : Bapineuzumab và Solanezumab, lần lượt được phát triển bởi những phòng bào chế Pfizer, liên kết với JNJ, và Eli Lilly. Chính sự ngưng kết thành các mảng protéine beta-amyloide trong chất xám của vỏ não là nguồn gốc của những thương tổn não bộ. Các kháng thể, đặc hiệu, liên kết với những protéine này để phá hủy chúng. Phương thức này, được gọi là liệu pháp miễn dịch thụ động (immunothérapie passive), sẽ cho phép làm chậm lại sự suy thoái của tình trạng nhận thức và cơ năng của các bệnh nhân
    (LA RECHERCHE 9/2012)

    9/ UỐNG RƯỢU QUÁ ĐỘ : NGUY CƠ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO SỚM HƠN.

    GS Charlotte Cordonnier, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc CHRU de Lille bình luận một công trình nghiên cứu mới đây chứng minh những nguy hiểm của sự biến đổi mạch máu não do một sự tiêu thụ hơn 4 ly rượu mỗi ngày.

    Hỏi : Những trường hợp khác nhau về tai biến mạch máu não là gì ?
    GS Cordonnier: 8 trên 10 trường hợp, đó là một động mạch bị bít lại : đó là nhồi máu não (infractus). Và 2 trường hợp trên 10, động mạch bị vỡ, gây nên xuất huyết não, một tai biến nghiêm trọng hơn nhiều so với nhồi máu não, được điều trị hiệu quả với thromolyse. Hiện nay những trường hợp xuất huyết não vẫn còn gây nên một tỷ lệ tử vong trong 40% các trường hợp, bởi vì trong những năm qua ít có những tiến bộ trong việc điều trị chúng. Một yếu tố quan trọng cần ghi nhớ là, đứng trước mọi trường hợp nghi ngờ tai biến mạch máu não (xuất hiện đột ngột một chi nặng nề, khó nói, những rối loạn thị giác), mỗi phút trôi qua rất là quan trọng : phải gọi 15, để được nhanh chóng chuyển đến một đơn vị mạch máu thần kinh (unité neurovasculaire).

    Hỏi : Tại sao uống rượu quá độ là một yếu tố nguy cơ đối với não bộ ?
    GS Cordonnier: Bởi vì rượu làm dễ vỡ những mạch máu rất nhỏ (dưới 300 micron), nằm rất sâu trong não bộ. Ở các nhân xám trung tâm (noyau gris central), ở đồi thị (thalamus), thân não, chúng trở nên cứng, xốp và có một khả năng làm đông máu ít tốt hơn. Vì vậy, do máu trở nên quá lỏng nên làm dễ sự xuất hiện một tai biến mạch máu não.

    Hỏi : Ở các phụ nữ rượu có độc hại hơn không ?
    GS Cordonnier: Vâng, bởi vì các enzyme của các phụ nữ ở gan, khác với những enzyme của những người đàn ông, không có cùng khả năng làm thoái biến rượu. Các phụ nữ chịu được một lượng rượu ít quan trọng hơn.

    Hỏi : Bắt đầu tư một sự tiêu thụ mỗi ngày nào ta cho rằng một người là nghiện rượu ?
    GS Cordonnier: Phải phân biệt hai loại người tiêu thụ, được định nghĩa bởi OMS. 1. Những người tiêu thụ “ quá độ ” (consommateur excessif), uống ít nhất 21 ly rượu mỗi tuần đối với những người đàn ông ; 14 đối với các phụ nữ hay hơn 5 ly rượu mỗi dịp hội hè. Họ tiêu thụ quá mức nhưng không phải vì vậy ở vào một giai đoạn phụ thuộc (stade de dépendance). 2. Những người tiêu thụ không kềm chế được khi đứng trước rượu. Mặc dầu họ hiểu biết các nguy cơ đối với sức khỏe của họ, nhưng họ có một nhu cầu thúc bách phải uống rượu (s’alcooliser). Đó là một căn bệnh thật sự.

    Hỏi : Những người tiêu thụ “quá độ ”, mặc dầu không phải là những người nghiện rượu, liệu họ cũng có nguy cơ làm dễ vỡ mạng mạch máu não của họ hay không ?
    GS Cordonnier: Ở họ, mối hiểm nguy là họ không nhận thức rằng, ngay cả không ở trong tình trạng phụ thuộc, họ vẫn mang những nguy cơ. Ở Pháp, sự tiêu thụ rượu đều đặn là một bộ phận của văn hóa của chúng ta. Điều này giải thích tại sao những người tiêu thụ này không cảm thấy bị liên hệ.

    Hỏi : Những kết quả của công trình nghiên cứu mới đây về sự xuất hiện những trường hợp chảy máu não phần lớn do rượu là gì ?
    GS Cordonnier: Nhóm nghiên cứu thần kinh mạch máu (neurologie vasculaire) của chúng tôi thuộc CHRU de Lille đã tiến hành công trình nghiên cứu này trong nhiều năm, và đã cho phép chúng tôi quan sát theo dõi 540 bệnh nhân, trong đó 137 là những người nghiện rượu nặng (hơn 4 hay 5 ly mỗi ngày). Các nhà nghiên cứu đã ngạc nhiên khi chứng thực rằng, trong nhóm những bệnh nhân này, những trường hợp xuất huyết não đã xảy ra ở một lứa tuổi còn trẻ, 60 tuổi (thay vì 70 tuổi ở những người uống rượu vừa phải), và rằng cứ hai bệnh nhân thì có một chết vì cơn đột qụy. Chết ở tuổi 60 do xuất huyết não chỉ vì đã uống quá nhiều rượu là điều cần phải suy nghĩ … Trong đất nước chúng ta việc tiêu thụ mỗi ngày 4 hay 5 ly được cho là chuyện bình thường là một điều sai lầm. Không những những người tiêu thụ nặng này là nạn nhân của một trường hợp xuất huyết não 15 năm sớm hơn, nhưng họ còn chết hai lần nhiều hơn.

    Hỏi : Công trình nghiên cứu của bà, được thực hiện ở miền Bắc nước Pháp, chủ yếu nhằm vào những người uống rượu mạnh và bia. Thế thì phải chăng rượu vang cũng độc hại ?
    GS Cordonnier: Không dữ kiện vững chắc nào cho phép chúng ta dành ưu tiên một loại rượu này so với một loại khác. Điều quan trọng là số lượng và sự tiêu thụ mỗi ngày.
    (PARIS MATCH 18/10 – 24/10/2012)

    10/ NGỪA THAI VĨNH VIỄN THỰC HIỆN NGOẠI TRÚ

    Phương pháp Essure bằng đường tự nhiên, nhiên hậu sẽ thay thế phương pháp thắt vòi trứng. Phương pháp này nhằm đưa vào bằng nội soi tử cung (hystéroscope) một implant nhỏ có dạng lò xo để gây nên một phản ứng xơ hóa tại chỗ. Trong vòng 3 tháng, hai vòi trứng hoàn toàn bị bịt lại. Sau đó sự xác định vị trí tốt của lò xo được kiểm trả bằng chụp hình ảnh. Phương pháp ngừa thai bằng thuốc uống (contraception orale) được thực hiện trong thời gian của quá trình xơ hóa. Nhân hội nghị châu Âu về nội soi phụ khoa (endoscopie gynécologique), GS Pierre Panel (centre hospitalier de Versailles) đã trình bày những kết quả của một công trình nghiên cứu được tiến hành trên 2500 phụ nữ trong 13 trung tâm ở Pháp. Thủ thuật đã có thể được thực hiện không cần gây mê trong 80% các trường hợp. Một nửa các bệnh nhân đã tuyên bố không bị đau đớn gì cả : ở phần lớn những bệnh nhân khác, sự đau đớn này chỉ thoáng qua, có thể so sánh với cơn đau kinh nguyệt. Chỉ 3% là kêu đau. Một năm sau, 97% đều thỏa mãn.
    (PARIS MATCH 18/10 – 24/10/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH (4/11/2012)

    Edited by user Tuesday, November 6, 2012 11:25:20 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #11 Posted : Saturday, November 10, 2012 4:49:24 AM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 285

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ MARIE CURIE : NGUỒN GỐC CỦA BỨC XẠ LIỆU PHÁP

    Quote:

    PAUL LANGEVIN

    “ Người nữ sinh viên Ba Lan ” bị buộc tội làm phá vỡ hạnh phúc của một gia đình người Pháp. Đầu tháng 11 năm 1911, nổ ra vụ Langevin. Tất cả bạn bè của Paul Langevin đều biết rằng cuộc hôn nhân của ông đã không được hạnh phúc. Vốn là học trò cũ của Pierre Curie, chết vào năm 1906, Langevin tâm sự với Marie Curie, mà ông quen biết đã dài lâu. Sự quý mến lẫn nhau biến thành tình thương. Các báo chí giật gân công bố những bức thư trao đổi giữa Marie Curie và Paul Langevin, và buộc tội “ người nữ sinh viên Balan ” đã phá vỡ hạnh phúc của một gia đình người Pháp. Cả hai đều đính chính nội dung của các bức thư nhưng vụ tai tiếng chỉ chìm đi khi Jeanne Langevin, vợ của Paul, chấp nhận một sự thoả thuận “ à l’amiable ” và từ chối đưa vụ việc ra tòa. Chiến dịch báo chí đã hung bạo đến độ bộ trưởng giáo dục đã mong muốn rằng Marie Curie hãy trở về Ba lan.


    Lúc khám phá radium, Marie Curie đã cách mạng hóa các khoa học. Trong y khoa, bà là nguồn gốc của bức xạ liệu pháp (radiothérapie), mà bà đã phát triển cùng với Claudius Regaud.

    Marie Curie đặt Irène, đứa con gái 4 tuổi vào giường, và như mọi buổi chiều, bà kể cho con nghe một câu chuyện và hát lầm rầm một điệu nhạc của một bài hát cổ Ba Lan. Sau cùng khi Irène đã thiu thiu ngủ, bà đến gặp Pierre, chồng bà, và đề nghị ông cùng bà trở lại phòng thí nghiệm. Pierre Curie không thể từ chối. Chúng ta đang ở vào tháng 7 năm 1902. Marie muốn khảo sát lần nữa chlorure de radium mà sau cùng bà đã thu được sau 4 năm dài nghiên cứu. Như vậy, vào khoảng 23 giờ, họ lại lên đường đến phòng thí nghiệm, nếu ta có thể gọi như thế cái nhà kho cũ kỹ bằng gỗ, không tiện nghi, ngột thở vào mùa hè và đón tất cả các trận gió vào mùa đông. “ Cái phòng thí nghiệm này vừa giống cái chuồng bò và cái nhà kho chứa khoai tây. Giả sử tôi không thấy ở đây nhưng máy hóa học, có lẽ tôi đã tin rằng người ta chế giễu tôi ”, nhà hóa học Wilhelm Ostwald về sau đã tuyên bố như vậy.

    Vào đầu buổi chiều, Marie để trên nệm rơm ống nghiệm trong đó chứa một décigramme de chlorure de radium mà bà đã trích được sau khi đã thao tác nhiều tấn quặng trong nhiều năm nay. Trong ngày décigramme này có dạng vẻ của một loại muối nào đó. Nhưng chiều nay, trong tranh tối tránh sáng, ống nghiệm tỏa ra một ánh sáng màu xanh xanh, như thể một con sâu láng bóng đã chiếm hữu ống nghiệm. Vào buổi bình minh của thế kỷ XX, sự khám phá vài hạt bụi huỳnh quang này sẽ cách mạng hóa thế giới khoa học. Hóa học, vật lý nhưng cũng y học sẽ được biến hóa sâu đậm. Cống hiến của Marie Curie cho khoa học to lớn đến độ, trường hợp ngoại lệ, bà sẽ được thưởng hai giải Nobel. Vào năm 1903, cùng với chồng, Pierre Curie, và với Henri Becquerel, bà đã nhận giải Nobel vật lý do những công trình nghiên cứu của họ về hiện tượng bức xạ (radiation) và vào năm 1911 bà sẽ nhận giải thưởng Nobel hóa học vì đã khám phá polonium và radium.

    NHỮNG TIA URANIUM BÍ MẬT

    Tất cả bắt đầu vào năm 1897. Marie đậu kỳ thi thạc sĩ khoa học vật lý. Năm trước đó, vào tháng chín, bà sinh ra đời một bé gái, Irène. Nhưng đối với người phụ nữ trẻ tuổi này, đến từ Ba lan năm 1891 để vào đại học, thì không có vấn đề dừng lại trên con đường tốt đẹp như vậy. Bây giờ bà phải thi lấy học vị tiến sĩ và để được như vậy bà phải tìm cho mình một chủ đề luận án.

    Để tìm kiếm một tư tưởng độc đáo, bà lục lọi các báo cáo của những công trình nghiên cứu thí nghiệm mới nhất và bà dừng lại ở những công trình của Henri Becquerel. Trong lúc nghiên cứu về hiện tượng huỳnh quang của các muối uranium, Becquerel đã khám phá sự hiện hữu của một sự bức xạ (rayonnement). Thật vậy Becquerel đã phát hiện tính phóng xạ (radioactivité), nhưng không hay biết điều đó. Những công trình này làm cho Marie Curie phải suy nghĩ. Có thể phát xuất từ đâu năng lượng mà các hợp chất urane phát ra dưới dạng những tia bức xạ này ? Những câu hỏi này làm say mê nữ khoa học gia…Bà lấy làm chủ đề cho luận án của mình.

    Đó là một lãnh vực chưa khai thác, một vùng đất chưa được thăm dò, tuyệt vời đối với người phụ nữ trẻ này, đã luôn luôn ưa thích những con đường ngang hơn là những con đường mòn. Trước hết bà ra sức đo năng suất ion hóa (pouvoir ionisant) của các tia uranium, được mệnh danh vào thời kỳ đó là những rayons uraniques. Sau vài tuần lễ, Marie Curie chắc chắn một điều : cường độ của sự bức xạ tỷ lệ với lượng uranium hiện diện trong mẫu nghiệm. Sự bức xạ này không bị ảnh hưởng bởi trạng thái của các hợp chất hóa học, cũng chẳng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ hay bất cứ những yếu tố bên ngoài nào. Nó cũng chẳng phát xuất từ sự tạo thành những phân tử mới. Sự bức xạ này là một tính chất nguyên tử. Bà đặt tên cho nó là “ radioactivité ” (tính phóng xạ).

    MỘT TRỰC GIÁC THIÊN TÀI

    Ngày nay ta biết một cách chính xác rằng đó là một hiện tượng vật lý tự nhiên trong đó những nhân nguyên tử không bền, được gọi là những chất đồng vị phóng xạ (radio-isotopes), bị biến hóa một cách ngẫu nhiên, “ bị tan rã ” đồng thời phát ra năng lượng dưới dạng những bức xạ khác nhau, để được biến đổi thành những nhân nguyên tử bền hơn, đã đánh mất một phần khối lượng của chúng. Những bức xạ được phát ra như thế từ nay được gọi, tùy theo trường hợp, là những tia apha, những tia beta hay những tia gamma.

    Một cách không mệt mỏi, Marie Curie bắt đầu xem xét nhiều kim loại, muối và các chất quặng chứa uranium. Như thế bà đã khám phá ra rằng các quặng pechblende và chalcolite đúng là hoạt tính hơn uranium. Bà lại bắt dầu đo lường, 10 lần, 20 lần. Nhung kết quả không thay đổi. Tính bức xạ mạnh hơn này xuất phát từ đâu ? Marie Curie nêu những nghi vấn của mình cùng với chồng, Pierre. Bà không hiểu được, bà đã xem xét tất cả các nguyên tố hóa học đã được biết đến. Sau khi đã xoay trở câu hỏi theo khắp mọi hướng, nữ học gia đưa ra một lý thuyết táo bạo : tính phóng xạ này được sinh ra bởi những nguyên tố hóa học mới. Chính đó ! Chỉ có thể là như thế ! “ Pierre à, em không nhầm, bây giờ chỉ còn phải tìm ra những nguyên tố này.”

    Người phụ nữ có trực giác thiên tài đã thuyết phục được Pierre Curie hợp sức với bà. Sau đó họ bắt đầu một công trình to lớn kéo dài 4 năm. Họ bắt đầu phần tách tất cả những corps chimique mà pechblende là một thành phần, nhằm tìm kiếm một hoạt chất. Họ thao tác hàng tấn chất quặng này để đạt được điều đó. Ngay năm 1898, họ đã khám phá hai nguyên tố, polonium, được Marie gọi như thế để tưởng nhớ về quê hương bà, và radium. Nhưng mãi cho đến khi đó không một ai đã thấy hai nguyên tố này. Đối với những nhà khoa học của thời kỳ đó, nếu không thể xác định trọng lượng phân tử của một nguyên tố điều đó có nghĩa là nguyên tố này không hiện hữu. Marie Curie không chán nản, bà tiếp tục tìm kiếm trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều tuần...Cho đến vào cái ngày tháng 7 năm 1902 là lúc bà đã trích được chất chlorue de radium này. Chỉ vào năm 1909 Marie Curie mới phân lập radium thuần chất.

    Các nhà khoa học trên toàn thế giới say mê khám phá này. Các thí nghiệm về tính phóng xạ gia tăng một cách nhanh chóng. Ngay năm 1990, những người Đức loan báo những tác dụng sinh lý của chất phóng xạ. Chẳng một chút sợ sệt, Pierre Curie khi đó cho cánh tay của mình tiếp xúc với radium. “ Da trở nên đỏ trên một diện tích 6 cm vuông ; hình dạng bên ngoài là hình dạng của một vết bỏng, nhưng da không, hay chỉ hơi đau đớn ”, ông đã quan sát như vậy trong một báo cáo gởi cho Viện hàn lâm. Sau một thời gian nào đó, vết đỏ, mặc dầu không lan rộng, nhưng đã bắt đầu gia tăng cường độ ; ngày thứ 20 thành hình các vảy rồi một vết thương xuất hiện. Song hành, Pierre Curie chứng thực rằng các đầu của các ngón tay, do thao tác các ông nghiệm hay các capsule chứa các hoạt chất, trở nên cứng và đau. Về phía mình, Henri Becquerel, do mang trong túi áo gilet một ống thủy tinh chứa radium, cũng bị bỏng.

    Được cấp báo về khả năng của các tia phóng xạ, Pierre nghiên cứu tác dụng của radium trên các động vật cùng với hai thầy thuốc nổi tiếng vào thời kỳ đó. Sau vài thí nghiệm, những người thầy thuốc này tin chắc : radium phá hủy các tế bào bị bệnh và có thể chữa lành bệnh lupus và vài dạng ung thư. Những điều trị đầu tiên được áp dụng. “ Tác dụng của radium trên da đã được nghiên cứu bởi BS Daulos ở Saint-Louis, Marie Curie đã viết như vậy. Theo quan điểm này, radium cho những kết quả đáng phấn khởi. Biểu bì một phần bị phá hủy bởi tác dụng của nó được tái tạo trở lại trạng thái lành mạnh. ” Curiethérapie ra đời từ đó.

    CỨU CÁC MẠNG SỐNG.

    Thật vậy, vào năm 1906, lần đầu tiên ung thư được tuyên bố là tai ương của nhân loại. Cuộc chiến chống ung thư được phát động. Cùng năm này, Claudius Regaud, thầy thuốc người Lyon, thử áp dụng vào điều trị những quy tắc quang tuyến sinh học (radiobiologique) mà ông đã khám phá, bằng cách rọi tia X lên những bệnh nhân nan y, và thu được những kết quả đáng phấn khởi. Nhưng Marie Curie ít quan tâm đến những biến cố này. Cái chết do tai nạn của Pierre Curie làm bà sững sốt. Bà vượt qua thử thách nhờ tình thương mà bà hướng vào các con gái bà nhưng cũng bằng cách mãnh liệt lao mình vào những công trình nghiên cứu của bà.

    3 năm sau, Emile Roux, người cộng tác trung thành của Louis Pasteur, đứng đầu Viện danh tiến này, đề nghị thành lập một phòng thí nghiệm quy tụ hai cực nghiên cứu. Ý tưởng của ông là tập hợp, trên cùng một địa điểm, nghiên cứu cơ bản (recherche fondamentale) về tính đồng vị phóng xạ (radioactivité) và nghiên cứu những áp dụng lên người sống. Viện Pasteur và đại học Paris sẽ liên kết để xây dựng, trên địa điểm Montagne Sainte-Geneviève, Institut du radium. Khi đó Emile Roux đề nghị với Claude Ragaud đứng đầu phòng thí nghiệm nghiên cứu sinh học. Thầy thuốc người Lyon chấp nhận lời yêu cầu. Các công trình xây dựng có thể bắt đầu. Marie Curie theo dõi sát công trường xây dựng. Bà không do dự leo lên các giàn giáo (échafaudage) và chính bà đã trồng các cây hoa hồng của khu vườn vẫn luôn luôn ngăn cách hai cánh của Viện radium. Lúc đó bà đã hơn 40 tuổi, nhưng bà muốn một phòng thí nghiệm được xây dựng để dùng được lâu, sẽ còn ở đấy 20, 30 hay 50 năm. Các công trình chấm dứt vào năm 1914, trước Đệ Nhất Thế Chiến, như một coup d’arrêt đối với Viện radium.

    Vào cuối những năm 1920, Marie Curie ngã bệnh. Người ta tin rằng đó là bệnh lao. Mặc dầu những hệ lụy về sức khỏe, bà vẫn tiếp tục làm việc ở Viện radium. Bà mất ngày 5 tháng 7 năm 1934 do bệnh ung thư máu (leucémie : bệnh bạch cầu), có lẽ gây nên bởi các tia phóng xạ radium mà bà đã chịu nhưng khi đó không hay biết những mối nguy hiểm đối với sức khỏe, nhưng cũng chính

    radium này về sau sẽ cứu không biết bao nhiêu mạng người.

    Quote:
    CURIETHERAPIE LÀ GÌ ?

    Ngày nay “ curiethérapie ” vẫn còn thường được sử dụng. Nguyên tắc đơn giản : rọi tia X vào một khối u bằng cách đặt một chất phóng xạ (substance radioactive) tiếp xúc với nó. Curiethérapie có thể sử dụng những phương tiện vật lý, thí dụ nhưng kim iridium -192 được đưa vào trong một khối u ung thư da hay những hạt iode –125 được đặt trong mô ung thư của một tuyến tiền liệt (curiethérapie interstitielle). Ta cũng sử dụng curiethérapie métabolique, căn cứ trên khả năng tập trung iode của các tế bào giáp trạng, bình thường hay ung thư để điều trị bệnh tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie) hay những ung thư của tuyến giáp trạng. Sau cùng, curiethérapie endocavitaire rất được sử dụng để điều trị những khối u ung thư của cổ tử cung, của âm đạo và của khí quản.
    (LE FIGARO 12/8/2012)

    2/ THẤT BẠI CỦA NHỮNG THỬ NGHIỆM CỦA CÁC VACCIN CHỐNG BỆNH ALZHEIMER.

    Luc Buée là chuyên gia về bệnh Alzheimer ở trung tâm nghiên cứu Jean-Pierre-Aubert (Lille).

    Hỏi : Được trắc nghiệm trên hàng ngàn bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, cuối cùng hai vaccin điều trị (vaccin thérapeutique) đã tỏ ra không có hiệu quả. Những vaccin này đã nhắm vào những gì ?
    Luc Buée : Bapineuzumab và solanezumab là những kháng thể nhắm vào những “ peptides beta-amyloide ”, những phân tử tích tụ trong não bộ của những bệnh nhân để tạo nên những mảng được gọi là lão suy (plaques séniles). Thật vậy ta nghi ngờ những mảng này góp phần làm chết các neurone, và như thế góp phần vào những rối loạn than kinh đặc trưng của bệnh Alzheimer. Mục tiêu đề ra là những kháng thể này loại bỏ những mảng lão suy hay ngăn không cho chúng được tạo thành. Tác dụng của hai kháng thể này đã được so sánh với tác dụng của placebo trong khung cảnh những thử nghiệm trên 2000 bệnh nhân trong 18 tháng. Kết quả : không một kháng thể nào đã cải thiện được tình trạng nhận thức (état cognitif) của các bệnh nhân.

    Hỏi : Những thất bại này phải chăng khiến ta phải bỏ không còn theo đuổi hướng vaccin nữa ?
    Luc Buée : Không. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, những kết quả này là do profil của các bệnh nhân tham gia vào những thử nghiệm này. Thật vậy, căn bệnh phát khởi 10 đến 15 năm trước những triệu chứng đầu tiên. Như thế, có lẽ phần lớn bệnh nhân đã đánh mất quá nhiều neurone, vì vậy các vaccin này đã không thể có hiệu quả lên năng lực nhận thức (capacité cognitive) của họ. Vậy ta có thể nghĩ rằng chúng đáng lý ra có hiệu quả nếu ta cho chúng sớm hơn. Vì vậy việc nhờ đến các công cụ cho phép một chẩn đoán sớm hơn là cần thiết.

    Hỏi : Những hướng vaccin khác phải chăng đang phát triển ?
    Luc Buée : Vâng, hướng quan trọng khác nhằm nhắm vào protéine “Tau”. Trong bệnh Alzheimer, protéine này có một dạng bệnh lý, ngưng kết trong các neurone, khiến chúng bị thoái hóa. Cùng với kíp nghiên cứu của tôi, chúng tôi đã tiêm vào những con chuột mô hình (souris modèles) của bệnh, một antigène giống với dạng bệnh lý của “ Tau ” nhằm huấn luyện hệ miễn dịch của chúng nhận biết protéine này và chống lại nó. Những con chuột này đã có thể bảo tồn trí nhớ ngắn hạn (mémoire à court terme), dạng trí nhớ bị biến đổi trong bệnh Alzheimer.

    Hỏi : Phải chăng chiến lược này đã được trắc nghiệm ở người ?
    Luc Buée : Loại tạo miễn dịch (immunisation) này được gọi là “ hoạt động ” đã từng được trắc nghiệm trên các bệnh nhân để huấn luyện hệ miễn dịch của họ chống lại peptide béta-amyloide. Nhưng các thử nghiệm đã bị hủy bỏ bởi vì một vài đã làm phát triển những phản ứng viêm nghiêm trọng của não bộ. Vậy hướng nhiều hứa hẹn nhất dường như là sử dụng các kháng thể để chính chúng tấn công vào dạng bệnh lý của Tau : những thử nghiệm trên động vật đang được tiến hành. Và nhiên hậu, dĩ nhiên giải pháp sẽ là tiêm càng sớm càng tốt một vaccin, phối hợp đồng thời các kháng thể hiệu quả chống lại Tau bệnh lý và chống lại peptide beta-amyloide.
    (LA RECHERCHE 11/2012)

    3/ MẶT CHE DẤU CỦA CÁC TRIỆU CHỨNG ĐAU ĐẦU

    Càng ngày càng có nhiều giải pháp để điều trị căn bệnh gây phế tật này.

    CEPHALES. Một nửa những người bị bệnh đau nửa đầu (migraineux) không hay biết điều đó, mặc dầu họ khổ sở vì bệnh, trong khi từ nay có sẵn những điều trị có hiệu quả. Thật vậy, đó là một bệnh thường xảy ra, ảnh hưởng từ 15 đến 20% dân chúng và đặc biệt hơn những phụ nữ trong 3 trường hợp trên 4.

    “ Đối với nhiều người, kể cả vài thầy thuốc, migraine không phải là một căn bệnh, GS Gilles Géraud, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc CHU de Toulouse đã nhấn mạnh như vậy. Đôi khi migraine được xem như là một hậu quả của đời sống hiện đại, một mối ưu tư của “ người vợ hiền ” (un souci de bonne femme) mà benh nhan phải cùng chung sống. ” Bệnh migraine, mặc dầu hiền tính, tuy nhiên có thể rất gây phế tật. Những giải pháp thỏa mãn có thể được đề nghị cho đại đa số các bệnh nhân, đôi khi sau một thời kỳ mò mẫm để tìm ra một giải pháp thích ứng bởi vì mỗi bệnh nhân khác nhau đứng trước bệnh migraine.

    TÌM MỘT PHƯƠNG THÚC TỐT

    Đó là một căn bệnh, được thể hiện bằng các cơn, lúc các cơn xảy ra bệnh nhân cảm nhận những triệu chứng thần kinh và mạch máu khác nhau gây phế tật ít hay nhiều. Bệnh được đặc trưng bởi triệu chứng đau đầu, được cảm nhận về một bên duy nhất (céphalée unilatérale), mạch đập (pulsatile), gia tăng khi gắng sức vật lý. Bấy nhiêu các tiêu chuẩn không hiện hữu trong đau đầu do căng thẳng (céphalée de tension), một nguyên nhân thường xảy ra khác của đau đầu. Cơn đau nửa đầu (crise migraineuse) cũng có thể được kèm theo bởi những rối loạn tiêu hóa như mửa hay nôn, nhiều bệnh nhân cũng kêu không chịu được ảnh sáng hay tiếng động.

    Một số người là những nạn nhân của migraine với tiền triệu (aura), một tập hợp những triệu chứng thần kinh, thường xuất hiện trước cơn và kéo dài không hơn 1 giờ. Những triệu chứng này có thể là những rối loạn thị giác như những vằn sáng (zébrures lumineuses) xuất hiện trong thị trường hay sự biến mất của một phần thị trường. Những cảm giác kiến bò hay mất cảm giác có thể xuất hiện trong các chi và, đối với vài bệnh nhân, bệnh đau nửa đầu kèm theo những rối loạn vận động liệt bán thân.

    Như vậy để điều trị những cơn đau nửa đầu, thầy thuốc đề nghị những thuốc kháng viêm và/hoặc những triptans. Thật vậy, các triptans, cuộc cách mạng thật sự đầu tiên trong điều trị bệnh migraine, từ 10 năm nay là bộ phận của vũ khí điều trị tuyến đầu. Họ mới các chất co mạch (vasoconstricteur) này nhằm một cách đặc hiệu vào sự giãn mạch liên kết với bệnh migraine và gồm có 7 loại thuốc.

    “ Ta thường phải thử nhiều loại thuốc để xác định loại nào sẽ hiệu quả nhất và được dung nạp tốt nhất bởi mỗi bệnh nan ”, GS Géraud đã xác nhận như vậy. Như thế đứng trước một cơn đau nửa đầu, bệnh nhân trước hết sẽ có thể sử dụng một thuốc kháng viêm và sau đó thêm ở một triptan nếu điều đó không đủ. Trong vài trường hợp, chính điều ngược lại tỏ ra hiệu quả nhất và đôi khi, nhất là khi cơn phát khởi về đêm đánh thức bệnh nhân dậy, cả hai loại thuốc sẽ được dùng đồng thời.

    Thường nhất, các điều trị càng có hiệu quả khi được sử dụng ngay lúc cơn đau bắt đầu. “ Vài bệnh nhân bị thất vọng bởi các điều trị bởi vì họ không dùng thuốc khá sớm ”, GS Géraud đã nhấn mạnh như vậy. Những bệnh nhân khác khước từ tìm một giải pháp, những thử nghiệm điều trị đầu tiên đã không có hiệu quả : đôi khi phải cần nhiều tháng để tìm ra một phương cách tốt. Trong khi một số điều trị nào đó đã tỏ ra có hiệu quả, cần phải tránh vài loại thuốc khác. Codéine và những dẫn xuất morphine, đôi khi được kê đơn một cách quá dễ dàng, là một giải pháp xấu : chúng có thể gây nên một tình trạng quen thuốc (accoutumance) khi các cơn xảy ra thường xuyên và sự cai nghiện đặc biệt khó khăn. Caféine cũng không phải là điều trị thích ứng, bởi vì nó có thể duy trì bệnh migraine.

    NHỮNG MÒ MẪM

    Khi các cơn xảy ra thường xuyên, tốt hơn hết là tính đến một điều trị nền (traitement de fond) nhằm ngăn ngừa các cơn và/hoặc tiền triệu (aura). Sự nghiên cứu về các điều trị nền ít tiến triển hơn so với những điều trị cơn, nhưng có nhiều họ thuốc đã chứng tỏ hiệu quả của chúng. Giải pháp tùy theo mỗi cá thể và đôi khi cần mò mẫm để thích ứng với mỗi bệnh nhân.

    Những điều trị sẵn có hiện nay cho phép, trong đại đa số các trường hợp, giảm một nửa tần số và cường độ các cơn. Một kết quả mặc dầu không cho phép những người bệnh đau nửa đầu quen căn bệnh của mình, nhưng có thể đủ để không còn phải lo ngại thường xuyên cái lúc mà cơn đau sẽ xảy đến với họ.
    (LE FIGARO 15/10/2012)

    4/ BỆNH MIGRAINE : NHỮNG HƯỚNG DI TRUYỀN ĐỂ HIỂU RÕ HƠN.

    6 gène liên hệ trọng chứng đau nửa đầu không có tiền triệu (migraine sans aura), thường xảy ra nhất, vừa được khám phá. 4 gène, có liên hệ trong những thể gia đình với triệu chứng tiền triệu liệt bán thân (aura hémiplégique) đã được nhận diện trong những năm qua. Những kết quả này sau cùng mang lại chìa khóa để hiểu một căn bệnh mà nguồn gốc và các cơ chế vẫn còn không được biết rõ.

    Mặc dầu migraine thường được tìm thấy ở nhiều người trong cùng một gia đình, nhưng hiếm khi đó là một căn bệnh di truyền trực tiếp gây nên bởi một gène. Trong đại đa số các trường hợp, sự hiện diện của những biến dị trên vài gène làm biến đổi tính nhạy cảm đối với vài yếu tố làm phát khởi và đáp ứng của cơ thể.

    “ Từ nay chúng ta biết rằng những yếu tố nhạy cảm di truyền và môi trường làm dễ sự phát khởi những cơn đau nửa đầu ”, GS Elisabeth Tournier-Lasserve, trưởng phòng xét nghiệm di truyền phân tử thuộc bệnh viện Lariboisière (Paris), và nữ giám đốc của một unité Inserm de génétique vasculaire, đã nói như vậy. Vài trong những gène này được tìm thấy trên nhiễm sắc thể X, điều

    này có thể giải thích tại sao các phụ nữ thường bị bệnh nhất.

    Như vậy ngưỡng phát khởi (seuil de déclenchement) của một cơn đau nửa đầu có thể biến thiên từ bệnh nhân này đến bệnh nhân khác tùy theo những biến dị trên vài gène. Các bệnh nhân thường biết rõ những biến cố có thể làm dễ sự phát khởi của một cơn : stress, sự mệt nhọc, vài loại thức ăn, những biến đổi hormone liên quan với chu kỳ kinh nguyệt. Quá trình phát khởi đã không được làm sáng tỏ cũng như những lý do giải thích tại sao vài trong số những yếu tố này tác động lên một số người nhưng không trên những người khác.

    NHẠY CẢM NEURONE.

    Vài gène mà từ nay ta biết vai trò của chúng trong bệnh migraine dường như xác nhận những kết quả khác từ chụp hình ảnh. Thật vậy vài gène liên kết với những kênh ion hiện diện trong thành tế bào và đóng một vai trò quan trọng trong tính nhạy cảm của neurone. Một sự bất thường trong sự vận hành của chúng như thế có thể giải thích làn sóng khử cực của các neurone lan truyền rất chậm trong não bộ đồng thời gây nên những biểu hiện thần kinh của tiền triệu (aura).

    Ngoài ra, vài nhà nghiên cứu đánh giá rằng hiện tượng này xảy ra trong tất các các cơn migraine nhưng không luôn luôn gây nên những biểu hiện của tiền triệu. Mặt khác, các nhà nghiên cứu đã nhận diện một thành phần viêm làm dễ sự kích hoạt những dây thần kinh tam thoa và những message mà những dây thần kinh này chuyển đến hệ mạch máu, nhất là ở những động mạch màng não, điều này giải thích những hiện tượng giãn mạch và đau đớn.

    Những khám phá này cho phép giải thích tại sao những thuốc kháng viêm hay vài thuốc hướng thần kinh (psychotropes) có hiệu quả để điều trị bệnh đau nửa đầu. Ngược lại, vẫn hy vọng rằng những khám phá này sẽ mở ra những hướng điều trị mới.
    (LE FIGARO 15/10/2012)

    5/ STRESS LÚC LÀM VIỆC VÀ CÁC BỆNH TIM : MỘT MỐI LIÊN HỆ ĐƯỢC XÁC NHẬN

    BS Patrick Légeron, thầy thuốc tâm thần thuộc bệnh viện Sainte-Anne, tác giả của báo cáo về tình trạng stress và những nguy cơ tâm lý-xã hội, bình luận công trình nghiên cứu mới nhất đã chứng minh những nguy cơ gia tăng bị nhồi máu cơ tim ở những công nhân viên trong tình trạng hết sức căng thẳng.

    Hỏi : Những ảnh hưởng của một tình trạng căng thẳng (stress) lên cơ thể như thế nào ?
    BS Patrick Légeron. Stress không phải là một căn bệnh nhưng là một phản ứng có thể có khi chúng ta phai đương đầu với một tình huống đặc biệt khó khăn hay gây lo âu, thậm chí đe dọa. Có một stress tốt và một stress xấu. Stress tốt, thời gian tạm thời, có lợi. Cơ quan phóng thích adrénaline, kích thích tố có tác dụng kích thích những chức năng tim và hô hấp, làm gia tăng oxygénation não bộ, gia tăng sự cảnh tỉnh và những chức năng nhận thức.

    Hỏi : Ngược lại, những nguy hiểm của một stress xấu diễn biến liên tục là gì ?
    BS Patrick Légeron. Đó là sự tán loạn (le débâcle) ! Bởi vì sự phóng thích adrénaline, trở nên quá mạnh, được liên kết với sự phóng thích của một hormone khác, cortisol. Kết quả : người bị căng thẳng bị rối loạn chức năng tim, một sự co các
    cơ, một sự gia tăng của huyết áp…Song song, cortisol có một tác dụng lên toàn bộ cơ thể, thí dụ làm giảm những đề kháng miễn dịch. Những phản ứng xúc cảm khác xảy ra đồng thời. Tùy theo các trường hợp : sự hoảng sợ, sự nổi giận, tính chất hung dữ, thậm chí cả ba cùng một lúc.

    Hỏi : Những công trình mới được công bố gần đây trong tạp chí khoa học “the Lancet ” xác nhận một mối liên hệ giữa một tình trạng căng thẳng lớn khi làm việc và một nguy cơ nhồi máu cơ tim. Ông có thể bình phẩm những kết quả này ?
    BS Patrick Légeron. Đó là những kết quả mới nhất của một phân tích méta (bao gồm tổng cộng những công trình nghiên cứu lớn ở châu Âu), được tiến hành trên 200.000 người. Ở Pháp, nhóm Gazel đã theo dõi, từ năm 1989 đến 2006, 20.000 nhân viên EDF. Mục đích là xác lập mối liên hệ giữa những tình trạng bó buộc trong khi làm việc và tỷ lệ xuất hiện bệnh động mạch vành. Ở những người bị căng thẳng mức độ cao, nguy cơ nhồi máu đã gia tăng 23%. Điều này có nghĩa rằng, trên 100.000 trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra hàng năm ở Pháp, 4000 trường hợp có thể quy cho stress trong khi làm việc : course contre la montre, sức ép của các kết quả, sự mất quân bình giữa đời sống nghề nghiệp và đời sống riêng tư, sự quá tải của các công việc, tình trạng bấp bênh về tương lai và sự thay đổi thường trực nhiệm sở. Điều chứng thực khác theo Centre d’études de l’emploi : trong số 25 nước được khảo sát, những người đồng hương của chúng ta cảm thấy bị căng thẳng nhất !

    Hỏi : Làm sao ông có thể giải thích tình trạng stress xấu có thể gây nên một bệnh tim ?
    BS Patrick Légeron. Ta có thể so sánh tình trạng căng thẳng với một động cơ đang quay. Khởi đầu, ta chăm lo : đó là giai đoạn phòng ngừa. Ngay khi có những dấu hiệu báo động, như hồi hộp kèm theo những vấn đề về tiêu hóa, mất ngủ, rối loạn tâm lý, động cơ trong tình trạng nóng quá mức (surchauffe), điều này là trường hợp khi ta nói căng thẳng lúc làm việc (stress au travail). Nếu ta không làm lạnh động cơ, nó sẽ hỏng máy. Vào giai đoạn này, người bị stress lâm bệnh. Chức năng tim của anh ta đã bị rối loạn trong một thời gian quá lâu. Nguy cơ nhồi máu cơ tim, mặc dầu nhỏ, nhưng không phải là không đáng kể.

    Hỏi : Những lời khuyên của ông để quản lý tốt hơn stress trong đời sống nghề nghiệp là gì ?
    BS Patrick Légeron. 1. Đừng chỉ đầu tư vào trong công việc của mình, phải biết gìn giữ cuộc sống cá nhân và phát triển một thú tiêu khiển (hobby). 2. Chống lại sự căng thẳng của thân thể bằng những bài tập thư giãn. Thí dụ : trong ngày, ra khỏi văn phòng và tách mình trong chốc lát, ngồi và thở rất chậm bằng bụng đồng thời làm giãn các cơ và duỗi vai ra. Hãy nhắm mắt lại và tự rọi vào mình một hình ảnh an lòng. Tất cả các kỹ thuật thư giãn đều tốt để làm chậm lại nhịp tim : yoga, massage, trầm tưởng …3. Sử dụng một trong những vũ khí tốt nhất chống lại stress xấu : hoạt động vật lý. Hai S : sédentarité (nhàn rỗi không hoạt động) + stress (tình trạng căng thẳng) = nguy hiểm ! Các môn thể thao dai sức (sports d’endurance) được dùng ưu tiên, nhưng chỉ cần bước nhanh mỗi ngày 30 phút cũng rất tốt để giải thoát những căng thẳng. 4. Chú ý những người bạn giả hiệu của stress : cà phê, thuốc lá, rượu, cho cảm tưởng làm giảm stress những trái lại làm gia tăng tình trạng căng thẳng. 5. Học quản lý tốt hơn những xúc cảm của mình và tránh tập trung vào những tư tưởng âm tính.
    (PARIS MATCH 1/11 – 7/11/2012)

    6/ BỆNH SỐT RÉT : MỘT HƯỚNG NGHIÊN CỨU THỨ HAI RA ĐỜI.

    Trên mặt trận chống bệnh sốt rét, hai vaccin (xem TSYH những số trước) đang được trắc nghiệm trên các em bé ở Châu Phi dưới Sahara (Afrique sub-saharienne), một trong những vùng của địa cầu có dịch bệnh gây chết người nhất. Dối với vaccin tiến bước nhất trong số hai vaccin này, được phát triển bởi GlaxoSmithKline, những kết quả thử nghiệm trên các em bé dưới 3 tháng sẽ được biết trước cuối năm nay. Nhưng không một vaccin nào trong hai vaccin khả dĩ này, được chế tạo từ những protéine của ký sinh trùng, hiện nay vượt quá một tỷ lệ hiệu quả 50%. Vì thế, một hướng nghiên cứu khác đang thắng thế. Sản xuất các vaccin từ các ký sinh trùng sống được làm giảm độc lực đã trở nên có thể thực hiện và an toàn từ khi ta thao tác được chúng về mặt di truyền, Robert Ménard, thuộc unité de biologie et génétique du paludisme của Viện Pasteur (Paris) đã xác nhận như vậy. Mặc dầu hiệu quả hơn nhưng phương pháp này đặt ra vấn đề hậu cần (logistique) quan trọng : thật vậy một vaccin như thế phải được tích trữ ở nhiệt độ –80 độ C.
    (SCIENCE ET VIE 11/2012)

    7/ NHỮNG VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO KHÔNG CHUYÊN : NHỮNG NGUY CƠ TAI BIẾN TIM.

    GS GS Franois Carré, médecin du sport et cardiologue thuộc hôpital Pontchaillou de Rennes, cảnh giác chống lại những hiểm nguy khả dĩ của một thực hành thể thao cường độ mạnh ở những người không được huấn luyện.

    Hỏi : Khi nào ông cho rằng một thực hành thể thao (pratique sportive) trở nên quá mạnh ?
    GS François Carré. Có hai giai đoạn trong quá gắng sức. Trong giai đoạn đầu tiên, những vận động viên thể thao này khó thở vừa phải. Họ còn có thể huýt sáo, hát lầm rầm nhưng buộc phải dừng lại từng lúc để cơ thể của họ thích ứng với những nhu cầu oxygène nhiều hơn. Giai đoạn thứ hai, ở những người chơi thể thao không chuyên (sportifs amateurs) này, có những nguy cơ. Thở rất hổn hển, bây giờ các vận động viên này buộc cơ thể mình phóng thích quá nhiều adrénaline (một kích thích tố, khi được tiết quá mức, có hại cho tim), hormone này có thể gây nên một loạn nhịp tim, và, trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, chết đột ngột.

    Hỏi : Những nguyên nhân thường nhất của tai biến tim là gì ?
    GS François Carré : Tuổi tác là một yếu tố quan trọng. Sau 35 tuổi, thường nhất đó là vỡ một mảng xơ mỡ (plaque d’athérome) trong khi gắng sức. Mảng vỡ bít một động mạch (huyết khối : thrombose) mang máu đến tim, và tim, do thiếu oxy, khi đó sẽ bị loạn nhịp, có thể có biến chứng rung thất (fibrillation ventriculaire) gây nên chết đột ngột. Nguy cơ này gia tăng ở những bệnh nhân bị một bệnh tim hay đã từng bị một nhồi máu. Trong giai đoạn hai quá mạnh này, thể thao không có tác dụng có lợi.

    Hỏi : Ở những phụ nữ không được tập luyện, phải chăng những nguy cơ giống với những nguy cơ ở đàn ông?
    GS François Carré : Ta ghi nhận ít trường hợp chết đột ngột hơn nhiều ở những phụ nữ này (cứ 6 và 8 trường hợp chết đột ngột xảy ra ở đàn ông thì chỉ có một ở phụ nữ). Điều này ta không biết rõ tại sao. Phải chăng có lẽ bởi vì những phụ nữ ít đua tranh hơn ?

    Hỏi : Có những điều kiện môi trường không thuận lợi làm gia tăng những nguy cơ ?
    GS François Carré : Có 3 trường hợp chính. 1. Trời quá nóng : trên 30 độ C. Điều này sẽ làm gia tăng quá mức nhiệt độ của cơ thể. Cơ thể sẽ khó làm quân bình giữa quá trình làm lạnh (refroidissement) và sự cung cấp máu cần thiết đến các cơ đang hoạt động. 2. Trời quá lạnh : dưới 5 độ C. Các huyết quản khó mở ra để tránh quá trình làm lạnh của cơ thể, điều này làm trở ngại tuần hoàn máu, có thể dẫn đến một sự thiếu oxy ở tim. 3. Khám phá mới đây : sự ở nhiễm trong những thành phố lớn. Trong trường hợp gắng sức mạnh, khi sự ô nhiễm đạt đến cao điểm có thể làm dễ sử xuất hiện loạn nhịp ở những người có sức khỏe kém.

    Hỏi : Những triệu chứng nào nhất thiết buộc vận động viên phải dừng lại trong khi hoạt động thể thao ?
    GS François Carré : Một cơn đau ở ngực, hồi hộp, những cảm giác chóng mặt, tình trạng khó ở, buộc phải ngừng tức khắc và, về sau, phải thăm khám thầy thuốc của mình bởi vì có thể có một vấn đề tim gây nên. Quá nhiều người đàn ông tin chắc rằng tim của họ được miễn dịch do một sự luyện tập đều đặn, và khi một triệu chúng xuất hiện, họ nghĩ rằng nguyên nhân là ở nơi khác : trung bình 50% những tai biến tim xảy ra ở những vận động viên thể thao phớt lờ những triệu chứng báo động.

    Hỏi : Những lời khuyên của ông để thực hành một môn thể thao theo đúng quy tắc ?
    GS François Carré : Trước hết, thể thao mang lại nhiều lợi ích : nó làm hạ huyết áp, nồng độ cholestérol xấu, cải thiện khả năng giãn của các huyết quản, làm giảm nguy cơ huyết khối (thrombose), làm chậm tần số tim. Nhưng trong trường hợp thực hành xấu, thể thao cường độ mạnh có thể gây nên những tai biến tim.

    Về chạy bộ, phải bắt đầu từ từ (trong khoảng 10 phút) và chậm lại từ từ, uống nhiều nước trong khi gắng sức sau 40 hay 45 phút. Đối với những người nghiện thuốc lá, đừng bao giờ hút trong hai giờ trước và sau khi thực hành thể thao. Trong cuộc sống hàng ngày, một bài tập dai sức (exercice d’endurance), như bước nhanh trong 30 phút (ngay cả bị phân đoạn, như 3 lần mỗi lần 10 phút), đặc biệt tốt cho tim.
    (PARIS MATCH 25/10 – 31/10/2012)

    8/ HƯỚNG VỀ MỘT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI ?

    Ta hầu như nghĩ rằng ung thư phổi năm ngoài khả năng điều trị, nhưng tin vui, carcinome épidermoide, một loại ung thư của phổi, khối u phổi thường gặp thứ hai ở Pháp sau adénocarcinome phế quản, sắp đến có thể đuợc điều trị bởi y khoa. Hy vọng được mang lại bởi một công trình nghiên cứu quốc tế, được công bố trong tạp chí Nature, trong khung cảnh của Projet Cancer Genome Atlas. Dự án này thật là phân tích quan trọng nhất và chi tiết nhất trong số những phân tích di truyền đã từng được thực hiện đối với loại ung thư này. 300 tác giả đã hợp lại để nhận diện, trong 178 mẫu nghiệm ung thư (échantillons tumoraux), những biến dị có liên hệ trong sự xuất hiện của bệnh và hoàn toàn không được nghi ngờ cho đến khi đó. Những bất thường có liên quan đến những gène tác động lên các enzyme có liên hệ trong những giai đoạn chủ chốt của sự tăng trưởng của những tế bào ung thư.

    Tin vui : đã có những điều trị cho phép chống lại những tác dụng có hại của 2/3 trong số những bất thường này. Kết quả này nằm trong một trào lưu cải tiến về ung thư học, không còn xét đến những khối u tùy theo cơ quan mà chúng phát xuất mà đúng hơn tùy theo những bất thường di truyền mà chúng có. Một phương thức mới nhiên hậu hẳn làm biến đổi những đường cong tỷ lệ tử vong (courbe de mortalité) của bệnh ung thư này, chịu trách nhiệm 10.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp.
    (SCIENCES ET AVENIR 11/2012)

    9/ LÀM VIỆC BAN ĐÊM CÓ LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ PHÁT TRIỂN UNG THƯ VÚ ?

    Directeur de Recherche
    Centre de recherche en épidémiologie
    et santé des populations de l’Inserm0


    Là nguyên nhân ung thư đầu tiên ở các phụ nữ, ung thư vú mỗi năm chiếm hơn 1,5 triệu trường hợp mới trên khắp thế giới trong đó 53.000 trường hợp ở Pháp. Mặc dầu ta đã biết vài yếu tố nguy cơ ung thư vú như tình trạng dậy thì sớm, tình trạng mãn kinh muộn, chậm có thai lần đầu tiên hay vài yếu tố di truyền, những yếu tố môi trường hay nghề nghiệp đã rất ít được nghiên cứu. Để bổ sung những kiến thức về những nguyên nhân khả dĩ gây ung thư vú, một công trình nghiên cứu được mệnh danh CECILE đã được tiến hành ở Inserm. Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã so sánh hành trình nghề nghiệp của 1200 phụ nữ đã phát triển một ung thư vú giữa năm 2005 và 2007 với hành trình của 1300 phụ nữ chứng có sức khoẻ tốt.

    Trong số những kết quả nổi bật nhất, từ đó rút ra rằng ung thư vú thường được quan sát ở những phụ nữ đã làm việc về đêm hơn là những phụ nữ đã không bao giờ có loại việc làm này. Những công trình nghiên cứu trước đây đã quan sát sự hiện hữu của một mối liên hệ giữa ung thư vú và việc làm về đêm ở các nữ y tá. Tính độc đáo của công trình nghiên cứu của chúng tôi là thực hiện trên một tổng thể lớn nhưng nghề nghiệp đòi hỏi làm việc về đêm và cho phép xác nhận những đặc điểm của công việc về đêm có thể là nguồn gốc của một sự gia tăng nguy cơ bị ung thư vú.

    NHỊP NGÀY ĐÊM

    Tại sao những công việc về đêm có thể gây nên một nguy cơ gia tăng bị ung thư vú. Những cơ chế được nêu lên để giải thích mối liên hệ này, đã được nêu lên từ nhiều năm, hướng về những rối loạn của đồng hồ sinh học nội tạI (horloge biologique interne) kiểm soát chu kỳ sinh lý thức-ngủ (cycle veille-sommeil) được gọi là nhịp ngày đêm (rythme circadien). Thật vậy, những rối loạn của nhịp ngày đêm ở những người làm việc ban đêm hay với những giờ giấc chênh lệch (horaire décalé) có thể biến đổi nhiều chức năng sinh học như sự tăng sinh tế bào, sự tiết kích thích tố hay hệ miễn dịch, và như thế có thể làm dễ sự xuất hiện của những ung thư. Vào năm 2010, Trung tâm quốc tế nghiên cứu chống ung thư (CIRC : Centre international de recherche contre le cancer), trên cơ sở những khuyến nghị của một nhóm chuyên gia, đã xếp loại công việc dẫn đến những rối loạn của nhịp ngày đêm như là “ có khả năng gây ung thư ” (probablement cancérigène).

    Chúng tôi đã xem xét tác động của việc làm về đêm lên ung thư vú trong một công trình nghiên cứu lớn trên dân chúng, được thực hiện ở Ille-et-Vilaine và ở Côte d’or cho đến năm 2008. Quá trình nghề nghiệp và những giờ giấc làm việc của 2500 phụ nữ tham gia đã được xem xét một cách tỉ mỉ. Hơn 11% những phụ nữ đã làm việc ban đêm vào một lúc nào đó trong cuộc đời nghề nghiệp của họ. Nguy cơ ung thư vú đã gia tăng khoảng 30% ở những phụ nữ đã làm việc ban đêm so với những phụ nữ khác. Sự gia tăng nguy cơ này đặc biệt rõ rệt ở những phụ nữ đã làm việc về đêm trong hơn 4 năm hay ở những phụ nữ có nhịp độ làm việc dưới 3 đêm mỗi tuần, nghĩa là những chênh lệch giờ giấc (décalage de phase) thường xuyên hơn giữa nhịp ngày (ryhme du jour) và nhịp đêm (rythme de nuit). Sau cùng, sự liên kết giữa ung thư vú và làm việc về đêm mạnh hơn khi ta xét đến công việc về đêm được thực hiện trước thai nghén lần đầu. Kết quả này có thể được giải thích bởi một tính chất dễ bị thương tổn (vulnérabilité) lớn hơn của những tế bào tuyến vú, mà sự thành thục không hoàn toàn ở những phụ nữ đã không bao giờ sinh đẻ.

    Công trình nghiên cứu của chúng tôi củng cố những kết quả của những công trình nghiên cứu trước đây và đặt vấn đề cứu xét việc làm về đêm trong lăng kính y tế cộng đồng, nhất là số lượng các phụ nữ làm việc với những giới giấc không điển hình đang gia tăng. Vào năm 2009, 15,2% những người làm việc ăn lương, hoặc 3,5 triệu người, làm việc về đêm, một cách thông thường hay thỉnh thoảng. Đó là 1 triệu công nhân viên nhiều hơn năm 1991, sự gia tăng đặc biệt mạnh đối với các phụ nữ.
    (LE FIGARO 1/10/2012)

    10/ CÁN CÂN LỢI ÍCH-NGUY CƠ CỦA CHỤP TUYẾN VÚ LÀ GÌ ?

    Docteur Anne Tardivon
    Radiologue, Institut Curie, site Paris
    Présidente sortante de la Société française
    de mastologie et d’imagerie du sein


    Ung thư vú thường xảy ra và gây bệnh cho một phụ nữ trên 10 trong suốt cuộc đời của họ, tuổi tác là yếu tố nguy cơ chính (hơn một nửa các ung thư vú xảy ra sau 54 tuổi). Do tần số bệnh, do sự hiện hữu của những điều trị có hiệu quả và một trắc nghiệm nhạy cảm (chụp tuyến vú) đã chứng tỏ tính hiệu quả của nó về mặt giảm tỷ lệ tử vong (giảm 25%), nên một chương trình phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) đã được thiết đặt vào năm 2004 đối với các phụ nữ giữa 54 và 74 tuổi. Ở Pháp, tỷ lệ tham gia trung bình chỉ là 52% (với một dị biệt lớn giữa các tỉnh) do sự cùng hiện hữu của một điều tra phát hiện cá nhân (dépistage individuel).

    Một cán cân những lợi ích-nguy cơ (balance bénéfices-risques) muốn nói gì ? Lợi ích của chụp tuyến vú là ở chỗ phát hiện những ung thư không sờ thấy được, có kích thước nhỏ và không di căn hạch (yếu tố tiên lượng sinh tồn), cho phép điều trị chúng hiệu quả hơn với những liệu pháp ít nặng nề hơn. Hai bất tiện chính của việc điều tra phát hiện một cách hệ thống các phụ nữ không có triệu chứng là những kết quả dương tính giả (người ta sai lầm làm một phụ nữ lo lắng vì một thương tổn với kết quả hiền tính sau sinh thiết hay một theo dõi X quang) và chẩn đoán quá mức (surdiagnostic) (ta chẩn đoán một ung thư tiên lượng tốt, thật ra đã không tiến triển trong thời gian còn sống của phụ nữ ; vậy phụ nữ này trở nên bị bệnh và được điều trị lầm). Từ nhiêu năm nay, một cách chu kỳ, công tác điều tra phát hiện được xét lại vì ta cho rằng những lợi ích được mong chờ ít hơn những nguy cơ ; và rằng mối lợi được quan sát chủ yếu dựa trên sự tổ chức điều trị và những tiến bộ điều trị.

    Cán cân thật sự lợi ích-nguy cơ của chụp tuyến vú là gì ? Muốn trả lời câu hỏi này là điều ảo tưởng bởi vì cán cân này sẽ khác nhau theo mỗi lứa tuổi và tùy theo bệnh sử cá nhân và gia đình của mỗi phụ nữ. Thật vậy,những yếu tố này sẽ biến đổi tỷ lệ mắc bệnh của ung thư vú cũng như sự giảm tỷ lệ tử vong trong cuộc đời.

    Vấn đề những dương tính giả (faux positifs) được gặp chủ yếu trước 50 tuổi bởi vì những thương tổn hiền tính thường xảy ra hơn, vú khó phân tích hơn khi chụp tuyến vú (mammographie), siêu âm bổ sung lại thêm vào những dương tính giả, trong khi tỷ lệ ung thư thấp hơn. Những nguy cơ gia tăng bị dương tính giả này phải được giải thích một cách rõ ràng cho những bệnh nhân trước 50 tuổi.

    Vấn đề chẩn đoán quá mức (surdiagnostic) thì lại khác. Tham gia một cách đều đặn vào một chương trình điều tra phát hiện cho phép thật sự gia tăng tỷ lệ những ung thư có tiên lượng tốt. Tuy nhiên, sau 20 năm theo dõi, nếu tỷ lệ ung thư có tiên lượng tốt chuyển từ 26 lên 41% trong dân chúng được điều tra phát hiện, thì tỷ lệ những tiên lượng của các ung thư có tiên lượng ít tốt hơn chỉ giảm 15%. Sự khác nhau giữa những năm 1980 và hôm nay là ở chỗ hiện nay ta có những vũ khi điều trị có hiệu quả hơn để điều trị những ung thư có tiên lượng ít tốt hơn này đồng thời phát hiện chúng ở một giai đoạn sớm. Trong vấn đề chẩn đoán quá mức, phải cá biệt hóa những ung thư tại chỗ (cancers in situ), thường nhất được phát hiện do nhưng ổ vôi hóa riêng rẻ, và tỷ lệ bách phân của những ung thư này đã gia tăng một cách đều đặn với thời gian do công tác điều tra phát hiện và do những tiến bộ công nghệ học (mammmographie numérique). Ta biết rằng vài dạng ung thư tại chỗ (cancer in situ) sẽ không bao giờ trở nên xâm nhập lúc các phụ nữ còn sống (những nghiên cứu trên giải phẫu tử thi), thế mà, một khi được chẩn đoán, chúng được điều trị một cách hệ thống.

    SỰ THAM GIA TỐT HƠN.

    Phải chăng chụp tuyến vú có khả năng tiên đoán tính chất ác tính (agressivité) của một ung thư nhỏ được phát hiện ? Nếu tính chất ác tính của một ung thư đôi khi có thể được nghi ngờ khi chụp hình ảnh, thông tin căn cứ trên những tiêu chuẩn hình thái học này trở nên khó, hoặc không thể thực hiện, đối với những ung thư có kích thước nhỏ. Như thế chỉ những prélèvement mới cho một cách đáng tin cậy thông tin này : cấp độ mô học (grade histologique), chỉ số tăng sinh (index de prolifération), những chỉ dấu sinh học (marqueurs biologiques).

    Vậy đúng hơn chính sự điều trị mà ta phải hướng về : phải chăng phải điều trị tất cả ung thư vú ? Mặc dầu sự xuống thang điều trị (désescalade thérapeutique) đã bắt đầu (thí dụ technique du ganglion sentinelle, không chỉ định hóa học liệu pháp đối với những ung thư có tiên lượng rất tốt), nhưng thái độ không điều trị (abstention thérapeutique) lại chưa có tính thời sự do tần số các ung thư phụ ở vú bị thương tổn và thường không thấy được (occulte) lúc chụp hình ảnh. Thái độ không điều trị này sẽ cần những công trình nghiên cứu có sự tham gia của tất cả các người liên quan đến công tác điều trị, mà chủ yếu là các phụ nữ.

    Nếu công tác điều tra phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) đã chứng tỏ hiệu quả đối với những phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi, lợi ích của nó cũng tùy thuộc vào sự tham gia, vậy cần phải gia tăng. Trong những bối cảnh có nguy cơ đặc biệt, một điều tra phát hiện cá thế hóa (dépistage individualisé) sẽ được xét đến trong tương lai, thích ứng nhịp và những công cụ phát hiện, đặc biệt là trước lứa tuổi 50. Đây đã là trường hợp ở những phụ nữ mang một biến dị có hai ung thư vú : theo dõi ngay lúc 30 tuổi, mỗi năm với IRM. Cơ quan hữu trách y tế (HAS : Haute Autorité de la santé) sẽ bắt đầu công tác về sựnhận diện những yếu tố nguy cơ ung thư vú và những cách thức điều tra phát hiện.
    (LE FIGARO 27/8/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH (10/11/2012)

    Edited by user Saturday, November 10, 2012 4:53:29 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    thanks 1 user thanked lly (Lynn Ly) for this useful post.
    Hoàng Thy Mai Thảo on 11/11/2012(UTC)
    lly (Lynn Ly)  
    #12 Posted : Sunday, November 18, 2012 6:02:17 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 286

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ PINCUS VA SANGER GIẢI PHÓNG TÌNH DỤC BẰNG THUỐC NGỪA THAI VÀO 1950

    Quote:
    Cuộc gây gỗ ở Quốc Hội.

    “ Viên thuốc ngừa thai sẽ làm cho người phụ nữ trở thành một vật khoái lạc vô sinh (objet de volupté stérile) và khi đó những người đàn ông sẽ đánh mất sự ý thức đáng tự hào về khả năng có con của mình.” Vào tháng 7 năm 1967 này, dân biểu Jean Coumaros định mẫu mực cho các cuộc tranh luận diễn ra ở Quốc Hội. Sợ một “ cơn bộc phát tình dục chưa từng có(flammbée inouie d’érotisme), phe phải bảo thủ đứng lên chống lại dự luật do Lucien Neuwirth (gaullist) đưa ra. Theo dự luật này viên thuốc ngừa thai sẽ được cho phép sử dụng ở Pháp, 7 năm sau Hoa Kỳ. Chỉ có 11 phụ nữ khi đó họp ở Quốc Hội. Phe phải truyền thống đưa ra những lập trường của Giáo Hội Cơ Đốc vốn đã tuyên bố viên thuốc ngừa thai là bất hợp pháp. “ Hành vi chồng vợ (acte conjugal) bị lấy mất một cách nhân tạo khả năng sinh đẻ không còn là một hành vi yêu đương (acte d’amour) nữa.” Một vài thầy thuốc cũng thù địch với dự luật này. Trong phiên họp, một trong các vị này đã tuyên bố rằng sự ngừa thai hóa học (contraception chimique) có thể, “ do tác dụng của nó lên não thùy, sẽ sinh ra các huyết khối động mạch và những quái tượng (monstruosiés)”. Ở Thượng Viện, Neuwirth được cho là “ malfaiteur public ”. Chính tướng de Gaule đã từ chối, hai năm trước đó, “ hy sinh nước Pháp cho chuyện tầm phào ”. Nhưng bản dự luật được thông qua nhờ các lá phiếu của các dân biểu xã hội và cộng sản. Những sắc lệnh áp dụng chỉ được công bố 5 năm sau.


    Viên thuốc ngừa thai ra đời là do sự gặp gỡ của hay tinh thần tranh đấu, của một phụ nữ và của một người đàn ông, sẵn sàng thách thức những cấm đoán đạo đức trong thời đại của mình. Hôm nay đó là phương pháp ngừa thai (méthode contraceptive) đầu tiên.

    Buổi chiều năm 1950 hôm đó, ở Nữu Ước, Margaret Sanger biện hộ cho lần thứ 100, với sức mạnh thuyết phục nguyên vẹn mặc dầu bà đã 71 tuổi. Như mọi khi, ký ức xót xa về một người mẹ gia đình, hầu như chết trong đôi cánh tay bà sau khi đã cố làm sẩy thai, vẫn còn theo đuổi bà. Cảnh tượng xảy ra vào mùa hè năm 1912, khi bà còn là nữ y tá trẻ trong một nhà hộ sinh của khu phố nghèo nhất của Nữu Ước, nhưng bà làm nảy sinh một sự nổi dậy mà không gì xoa dịu đuợc. Từ ngày hôm đó, người chiến sĩ tranh đấu cho bình quyền (militante féministe) này đi ngược lại với thời đại mình, bị thúc đẩy bởi ước muốn giải phóng các phụ nữ khỏi nguy cơ bị có thai ngoài ý muốn (grossesse non désirée). Những vết nhăn đã hằn lên gương mặt xinh đẹp của bà, nhưng Sanger không buông thả. Sau khi đã lắng nghe bà dài lâu, nhà sinh học Gregory Pincus chấp thuận lao mình vào việc hiệu chính thuốc uống ngừa thai (contraceptif oral) đầu tiên. Sau 40 năm tranh đấu, sau cùng Sanger đã tìm ra một nhà bác học chịu nhận lấy thách thức này.

    Viên thuốc ngừa thai ra đời như thế, từ sự gặp gỡ của hai tinh thần tranh đấu, sẵn sàng thách thức những cấm đoán đạo đức của thời đại họ. Trong những năm sau chiến tranh này, các chánh sách khuyến khích sinh đẻ (politique nataliste) và ảnh hưởng của tôn giáo chế ngự châu Âu cũng như châu Mỹ. Nghiên cứu khoa học và thông tin về các phương pháp ngừa thai chỉ được tóm lược trong phương pháp giao hợp gián đoạn (coit interrompu), các bao dương vật và sự quan sát các nhịp sinh sản (rythme de fertilité) của phụ nữ. Như BS Elisabeth Aubeny đã nhắc lại, lúc đó bà mới bắt đầu vào nghề phụ khoa, “ tất cả những phương tiện này tệ lắm thì không hiệu quá, và tốt lắm thì tùy thuộc vào ý muốn của người đàn ông. Các phụ nữ sống trong sự sợ hãi bị có thai, buộc họ phải lựa chọn giữa sự cưới hỏi và tình trạng bị khinh bỉ “fille-mère”. Mỗi năm, hàng ngàn phụ nữ này chết vì xuất huyết hay nhiễm trùng sau khi phá thai bí mật được thực hiện trong phòng tắm hay trong các cabinets des “ faiseuses d’ange ”. Những trường hợp bỏ con xảy ra hàng ngày.

    Chính sự đau khổ này làm Margaret Sanger không chịu được. Là đứa con thứ sáu của một gia đình nghèo gồm 11 đứa con, bà đã lớn lên trong thành phố công nghiệp nhỏ và rất sùng đạo ki tô của Corning, trong tiểu bang Nữu Ước. Mẹ bà chết lúc 50 tuổi, vì bệnh lao, sau khi có thai đến 15 lần. Ông bố của bà, marbrier funéraire, rất chống giáo điều. Suốt cuộc đời mình, người nữ y tá này sẽ đi ngược lại với những người gìn giữ đạo đức (gardien de la morale). Vào đầu thế kỷ, những bài báo có tư tưởng tiền phong của bà về tình trạng phụ nữ, được đánh giá là “ tục tĩu ”, khiến bà bị một năm tù và bị lưu đày ở Londres. Trở lại Nữu Ước, bà thành lập văn phòng thông tin về tình dục (sexualité) và sự ngừa thai : Kế hoạch hóa gia đình (Planning familial) tương lai. Chúng ta đang ở vào năm 1923. Sanger muốn trả lại cho các phụ nữ quyền làm chủ cuộc sống và thân thể của họ. Là người phụ nữ có tư tưởng tự do và được giải phóng (femme libérale et libérée) (có chồng rồi ly dị, người ta gán cho bà nhiều tình nhân), Margaret tấn công đều đặn vào những lập trường của Giáo Hội ki tô. Bà nhập bất hợp pháp các màng chắn (diaphragme), rồi các kem diệt tinh trùng (crème spermacide).

    PINCUS ĐƯỢC SO SÁNH VỚI FRANKENSTEIN.

    Trái với mọi dự kiến, Pincus không phải là một thầy thuốc nhưng là một nhà sinh học (biologiste), dám lao mình bên cạnh Margaret trong cuộc phiêu lưu khoa học của sự ngừa thai. Cũng như bà, Gregory Pincus hoạt động ngoài lề các thể chế y khoa của thời đại ông. Cũng như bà, đó là một người đam mê (ở tuổi 21, ông đã viết một chuyên luận về trứng của động vật có vú, có giá trị tham khảo) và là một người chống chủ nghĩa xu thời (anticonformiste). Vào giữa những năm 1930, ông đã tạo một ít tiếng tăm khi cho sinh ra đời những con thỏ con mà không cần đến sự can thiệp của một con thỏ đực. Ông đã thu được kết quả này bằng cách làm lạnh các trứng của con thỏ cái còn trinh, mà sau đó ông đã đặt trở lại trong tử cung thỏ mẹ. Hai hoặc ba thỏ con không bố đã ra đời, sau nhiều trăm thử nghiệm.. Thí nghiệm, được mệnh danh “ pincogénèse ” khi đó đã tạo những đầu đề lớn trên các tờ báo của Hoa Kỳ. Người ta so sánh nhà nghiên cứu với Frankenstein. Công đồng khoa học, bực tức, nghi ngờ tính chân thật của ông, bởi vì không thể làm lại khám phá này. Bức ảnh của Pincus, bộ tóc dày rối tung, đôi lông mày rậm và cái nhìn có quầng đen, xuất hiện trong các tờ báo, trong đó ông không chút do dự bảo vệ công trình nghiên cứu của mình. Điều đó chẳng có hiệu quả bao nhiêu. Năm sau ông mất việc ở Havard, nhưng dành được tước hiệu người khai phá (défricheur) trong lãnh vực rất chuyên khoa, nội tiết học sinh sản (endocrinologie de la reproduction).

    Những năm sau, Pincus sẽ tóm lược bước dài đã cho phép ông hiệu chính thuốc ngừa thai (pilule contraceptive) : “ Công trình nghiên cứu của tôi về sự vô sinh (stérilité) và khả năng sinh sản (fertilité) đã cho tôi một kiến thức lớn về những cơ chế rụng trứng (ovulation) và thụ thai (fécondation). Tôi đã khám phá ra rằng hai cơ quan, vùng dưới đồi (hypothalamus) và não thùy (hypophyse), kiểm soát ưu tiên những hoạt động trước khi rụng trứng. Như thế tôi đã tự hỏi phải chăng ta có thể bằng cách bắt chước thiên nhiên, phong bế sự rụng trứng, bằng những phương tiện nhân tạo. Câu hỏi này, tôi đã tự hỏi mà không bị thôi thúc bởi một động cơ tài chánh, mà chỉ do tính tò mò của một nhà nghiên cứu. Nhưng một hôm nào đó, có người đã yêu cầu tôi hãy chuyển sự tò mò đơn thuần thành công trình nghiên cứu có một áp dụng thực hành…”

    Như thế, khi Sanger thôi thúc ông vào năm 1950, Pincus đã có ở trong đầu những cơ chế tác dụng của viên thuốc ngừa thai tương lai. Không do dự, ông tập trung ngay những cố gắng của mình vào progestérone, kích thích tố sinh dục được biết có tác dụng ức chế sự rụng trứng, mà các nhà khoa học trên thế giới cố gắng phân lập từ những năm 1930. Một sự dò tìm đặc biệt gay go. Trước hết họ đã cố trích progestérone trong các buồng trứng của lợn cái. Không thành công, bởi vì phương thức rất khó nhọc : phải cần 50.000 con vật để có được 12 mg. Họ phải lên tận các cao nguyên của Mễ Tây Cơ để khám phá, trong các củ igname hoang dã, phân tử sẽ cho phép chế tạo progestérone thiên nhiên với số lượng lớn, nhưng cũng công thức để tái tạo một cách nhân tạo. Sau cùng, một hôm, nhờ tinh thần cạnh tranh của các nhà hóa học, và nhờ trí tưởng tượng không bờ bến của họ, Gregory Pincus nhận diện một phân tử có tên 19-norprogestérone hay noréthindrone, mà hiệu quả tỏ ra không thể tranh cãi ở động vật của phòng thí nghiệm. Nhà khoa học thêm vào đó một lượng nhỏ oestrogène, kích thích tố sinh dục được sản xuất liên tục để điều hòa kinh nguyệt, và cho đến khi đó chỉ được sử dụng để điều trị những trường hợp đau khi có kinh. Cocktail này tỏ ra là một chất chống rụng trứng rất mạnh. Đã đến lúc chuyển qua những công trình thực tiễn.

    Thử nghiệm lâm sàng đầu tiên có quy mô lớn bắt đầu năm 1956 trong một vùng ngoại ô của Porto Rico. Bidonville này đã được chọn lựa do sự tăng trưởng dân số đến chóng mặt cũng như do lợi ích mà giới hữu trách y tế địa phương mong muốn, dầu cho những kẻ chê trách Pincus muốn đóng vai những nhà phù thủy tập sự với một đám dân nghèo. Cũng như ông đã biết tập hợp quanh mình những nhà hóa học có tài, Gregory Pincus nhờ đến một nhân vật xuất sắc để tiến hành thực nghiệm trên người. Là thầy thuốc sản phụ khoa, chuyên gia về phôi thai học, BS John Rock, thuộc đại học Havard, đã thử thụ thai nhân tạo đầu tiên vào cuối những năm 1930. Người đàn ông này rất sùng đạo ki tô đã từng tổ chức một lễ cưới lớn kết quả của tình yêu và cho rằng các phụ nữ có quyền được có một đời sống tình dục hài hòa. Ông không bao giờ mất hy vọng thấy Giáo Hội thay đổi ý kiến về thuốc ngừa thai.

    GIẤC MƠ CỦA MAGARTET SANGER ĐƯỢC THỰC HIỆN

    “ Cả thảy 221 phụ nữ đã được tuyển mộ. Người trẻ nhất, Rosita Maria Avila, được 16 tuổi và có 3 con ”, BS Bruno Halioua, thầy thuốc ở Paris đã kể lại như vậy. Hơi căng thẳng, các thầy thuốc khám mỗi bệnh nhân trước sự hiện diện của các đại biểu của Kế Hoạch Hóa gia đình. Tức thời, những kết quả đầu tiên có sức thuyết phục : mặc dầu những tác dụng phụ, viên thuốc dễ sử dụng và có hiệu quả. Nhưng kíp của BS Rock vẫn dè dặt. Sau một hay hai năm, những phụ nữ đầu tiên của thí nghiệm đã sinh đẻ, nhưng ta không biết là những đứa bé này có mạnh khỏe hay không, Anne Meryl, phụ tá của Gregory Pincus, vài năm sau đã kể lại như vậy. Thật là tuyệt vời khi khám phá rằng sự ngừa thai có thể đảo ngược được. Và rằng những em bé sinh đủ tháng và mạnh khỏe.”

    Sau một nửa thế kỷ đấu tranh, viên thuốc ngừa thai vừa chào đời. Nhân loại sẽ được hưởng quyền điều hòa sinh sản : giấc mơ của Margaret Sanger được thực hiện. Vào năm 1960, thuốc được cho phép thương mãi hóa ở Hoa Kỳ bởi FDA, dưới tên Enovid. 5 năm sau, hơn ¼ những người Mỹ dưới 45 tuổi đã sử dụng thuốc này. Ở Pháp, sẽ còn phải đợi vài năm … Chẳng bao lâu, những thế hệ mới của viên thuốc ngừa thai, liều lượng ít hơn nhiều, sẽ xuất hiện.

    Là những trẻ thuộc một thời kỳ khác, Gregory Pincus và Margaret Sanger đã không sống khá lâu để chứng kiến sự giải phóng phong hóa xã hội, đã có thể thực hiện nhờ phát minh của họ. Vào năm 1967, Pincus qua đời vì bệnh bạch cầu (leucémie) mà đã không nhận được một vinh dự nào. “ Ông đã không bao giờ nhận được một bách phân bản quyền nào từ viên thuốc và đã không bao giờ rút được một đồng xu đặc biệt nào ”, nhà nghiên cứu Pháp Jean Jacques, một trong những cộng tác viên của Pincus, dã tâm sự như vậy. Còn về Margaret Sanger, qua đời năm 87 tuổi, bà đôi khi bị trách vì muốn đem ngừa thai phục vụ cho một quan điểm ưu sinh (une vision eugéniste), nhằm ngăn ngừa những sinh đẻ trong những gia đình nghèo hay ít học vấn. Tuy nhiên theo New York Times, trong ký ức, bà sẽ vẫn như là “ một trong những người nổi dậy lớn nhất của Lịch sử. ”
    (LE FIGARO 17/8/2012)

    2/ NGỪA THAI : DÙNG THUỐC NGỪA THAI KHÔNG PHẢI LÀ KHÔNG NGUY HIỂM

    Nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire) và viêm tĩnh mạch (phlébite) là một bộ phận của những tác dụng phụ.

    MEDICAMENT. Đó là một động tác (uống thuốc ngừa thai) mà hàng triệu các phụ nữ thực hiện mỗi ngày từ nhiều năm qua mà không tự vấn. Việc thông báo bởi bộ y tế về sự không bồi hoàn các viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba, vì lý do nguy cơ gia tăng viêm tĩnh mạch và nghẽn tắc động mạch phổi tuy vậy vừa làm sáng tỏ những biến chứng liên kết với việc sử dụng một thuốc ngừa thai kích thích tố (contraceptif hormonal). Những biến chứng rất hiếm, nhưng những hậu quả của chúng có thể bi thảm.

    “ Việc kê đơn một viên thuốc ngừa thai không phải là một động tác bình thường. Vấn chẩn lần thăm khám đầu tiên là quan trọng để nhận diện những yếu tố nguy cơ khả dĩ ”, BS Brigitte Letombe, thầy thuốc phụ khoa ở Lille đã nhấn mạnh như vậy. “ Vien thuốc ngừa thai được chỉ định để ngăn ngừa thai nghén không được mong muốn (grossesse non désirée), nhưng không phài, như ta rất thường thấy, để điều trị mụn hay những đau kinh kỳ ở những phụ nữ trẻ ”, GS Geneviève Plu-Bureau, thầy thuốc phụ khoa cũng đồng thanh như vậy.

    PHÁT HIỆN TỐT HƠN

    Các nguy cơ đã được biết từ lâu. Các thuốc ngừa thai, dầu thuộc thế hệ nào, đều liên kết một oestrogène và một progestatif, làm gia tăng nguy cơ viêm tĩnh mạch và nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire). Những tác dụng phụ này chủ yếu xảy ra trong năm đầu điều trị và ảnh hưởng các phụ nữ thuộc mọi lứa tuổi, kể cả những người rất trẻ. Những biến chứng này chỉ xảy ra cho một người trên 10.000 người nếu không sử dụng thuốc ngừa thai kích thích tố (contraceptif hormonal) nhưng hai lần nhiều hơn khi sử dụng thuốc ngừa thai thế hệ thứ hai và 4 lần nhiều hơn với thuốc ngừa thai thế hệ thứ ba hay thứ tư. Tắc nghẽn động mạch phổi gây tử vong trong 2% các trường hợp.

    Tỷ suất giữa nguy cơ rất thấp này và lợi ích (trạng một thai nghén không được mong muốn) vẫn ưu thế về phía các thuốc ngừa thai, GS Joseph Emmerich, thuộc Agence nationale de sécurité du médicament (ANSM), sắp phân phát một note d’information dành cho các thầy thuốc, đã ghi nhận như vậy. “ Nhưng, để làm giảm số các biến chứng, điều cần thiết là phát hiện tốt hơn những phụ nữ có những yếu tố nguy cơ đặc biệt.” Người thầy thuốc phải tìm kiếm chúng trong bệnh sử gia đình của bệnh nhân và những tiền sử cá nhân của bệnh nhân này.

    Những trường hợp viêm tĩnh mạch hay nghẽn tắc động mạch phổi xảy ra ở một lứa tuổi trẻ trong gia đình là những dấu hiệu báo động. “ Có những bất thường di truyền, gây nên một tình trạng tăng đông máu (hypercoagulabilité), làm dễ nguy cơ nghẽn tắc động mạch phổi. Vậy đó là một chống chỉ định dùng thuốc ngừa thai ”, BS Letombe đã chỉ rõ như vậy. Một xét nghiệm máu (tìm protéine S và C, antithrombine 3, facteur V de Leiden) cho phép xác nhận điều đó. 5% những người Pháp đều mang một bất thường thuộc loại này, nhưng đại đa số sẽ không bao giờ bị những tai biến huyết khối (événements thrombotiques). Đó là lý đó tại sao giới hữu trách y tế đã loại bỏ một điều tra phát hiện hệ thống. Mặt khác vài tình huống nguy cơ biện minh cho việc dùng thuốc ngừa thai, như một tình trạng liệt giường kéo dài.

    Viên thuốc ngừa thai cũng làm gia tăng nguy cơ mạch máu, gây nhồi máu cơ tim hay những tai biến mạch máu não. Nguy cơ này gia tăng với tuổi, chủ yếu sau 35 tuổi, nhưng cũng trong trường hợp nghiện thuốc lá, tăng thể trọng, cao huyết áp, cholestérol hay bệnh đái đường. Nếu chúng được phối hợp, những yếu tố này là một chống chỉ định đối với việc sử dụng thuốc ngừa thai oestroprogestative, nhưng một progestatif thuần chất hay một implant vẫn có thể được sử dụng. Một migraine với tiền triệu (aura) (kèm theo nôn, sợ ánh sáng) phải được báo cáo.

    “ Chính nhiệm vụ của thầy thuốc là tìm kiếm cho mỗi bệnh nhân sự phối hợp các kích thích tố (combinaison hormonale) thích ứng, BS Letome đã nhấn mạnh như vậy, nhắc lại rằng viên thuốc là một phương tiện ngừa thai tốt và rằng một lời phát biểu quá gây lo lắng có nguy cơ sinh ra những thai nghén không được mong muốn ”. “ Trước khi thăm khám, các phụ nữ trẻ phải tìm hiểu để biết những tiền sử trong gia đình của họ ”, BS Danielle Gaudry, thuộc Kế Hoạch Hóa gia đình đã nhấn mạnh như vậy. Họ phải được báo động về những triệu chứng viêm tĩnh mạch (phlébite) (đau trong các cẳng chân, phù nề, viêm) và nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire) (khó thở bất thường, đau ngực dữ dội, mệt). “ Phải thông báo và ngăn ngừa và không biến nguy cơ nghẽn tắc động mạch phổi thành một tabou như đã từng là như vậy trong một thời gian rất dài lâu ”, Pierre Markarian, chủ tịch hiệp hội của các nạn nhân bị nghẽn tắc động mạch phổi đã lấy làm tiếc như vậy.
    (LE FIGARO 1/10/2012)

    3/ THUỐC UỐNG NGỪA THAI VÀ UNG UNG THƯ VÚ: ĐIỂM TÌNH HÌNH NĂM 2011.

    Professeur Philippe Descamps
    Coordinateur du pole gynécologue-obstétrique
    CHU Angers.


    Trong khi thuốc ngừa thai oestro-progestative là phương pháp ngừa thai đầu tiên được thực hiện trong những nước công nghiệp (6,5 triệu phụ nữ dùng thuốc ngừa thai mỗi năm ở Pháp, điều này chiếm 60% những phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi muốn ngừa thai) và cần biết rằng ung thư vú gây bệnh cho một phụ nữ trên 8 trong các nước công nghiệp hóa, sự liên kết ngừa thai bằng đường miệng (contraception orale) và ung thư vú là một chủ đề gây tranh cãi (và gây lo âu đối với các phụ nữ), từ lâu là chủ đề của những cuộc tranh luận.

    Phân tích méta lớn đầu tiên (nghiên cứu thông kê nhằm vào những công trình nghiên cứu trước đây) gồm 54 công trình đã được công bố năm 1996 (Collaborative Group on Hormonal in Breast Cancers). Phân tích này đã không mang lại câu trả lời rõ ràng về nguy cơ ung thư vú liên kết với thời gian, liều lượng hay loại thuốc uống ngừa thai, nhiều lắm người ta đã ghi nhận một nguy cơ tương đối bị ung thư hơi quan trọng hơn nếu thuốc được sử dụng trước 20 tuổi. Khi đó người ta đã nêu lên khả năng gia tăng của các khối u vốn đã được khởi mào hay còn ít ác tính, và không có một kết luận chính thức nào đã được đưa ra nhưng mối nghi ngờ đã bị gieo rắc…

    Những công trình nghiên cứu dịch tễ lớn được công bố sau đó đã không chứng minh rằng sự sử dụng các viên thuốc ngừa thai oestro-progestative đã làm gia tăng một cách đáng kể nguy cơ phát triển một ung thư vú. Theo “ Nurses’ Health Study ” được thực hiện ở các phụ nữ trên 40 tuổi, việc không uống thuốc ngừa thai kéo dài trong quá khứ được liên kết với nguy cơ gia tăng ung thư vú. Một công trình nghiên cứu trên dân chúng (une étude de population), ở những phụ nữ từ 35 đến 64 tuổI, đã sử dụng ngừa thai kích thích tố (contraception hormonale) (4574 bệnh nhân bị ung thư vú so với 4682 phụ nữ của một nhóm chứng), đã được công bố năm 2002. Nguy cơ ung thư vú liên kết với uống thuốc ngừa thai oestro-progestative không gia tăng. Không được phát hiện một mối tương quan nào với liều lượng oestrogène, thời gian sử dụng, hay ngay cả lúc khởi đầu ngừa thai ở một lứa tuổi dưới 20. Cũng vậy, trong công trình nghiên cứu của Royal College of General Practionners, nguy cơ tương tự ở những người sử dụng đều đặn các thuốc ngừa thai oestro-progeastative, so với những người đã không bao giờ sử dụng. Sau cùng, công trình nghiên cứu mới nhất của Oxford-FPA không cho thấy sự gia tăng tỷ lệ tử vong do ung thư vú trong trường hợp sử dụng một ngừa thai kích thích tố (contraception hormonale).

    Do đó phân tích các văn liệu cho phép xác nhận rằng thuốc ngừa thai oestro-progestative không làm gia tăng nguy cơ toàn bộ của ung thư vú, thậm chí có thể bảo vệ những ung thư khác. Những bệnh nhân sử dụng ngừa thai oestro-progestative thấy nguy cơ phát triển ung thư đại trực tràng, nội mạc tử cung (thân tử cung) hay buồng trứng, giảm một cách đáng kể với sự giảm nguy cơ tuyệt đối của ung thư, tỷ lệ mắc ung thư vú đều như nhau trong hai nhóm.

    Ngoài vấn đề ung thư, một tác dụng bảo vệ của thuốc ngừa thai cũng đã được chứng minh từ một nhóm trên hơn 17.000 phụ nữ tuổi từ 25 đến 39, với một sự giảm toàn bộ tỷ lệ tử vong đối với tất cả các nguyên nhân. Trong trường hợp tiền sử gia đình ung thư vú, một phân tích meta mới đây xác nhận rằng không có sự gia tăng nguy cơ, tuy nhiên với một sự nghi ngờ đối với những bệnh nhân đã sử dụng thuốc ngừa thai oestroprogestative trước năm 1975 (những viên thuốc liều lượng mạnh). Mặt khác OMS đã công bố vào năm 2008 một ý kiến xác định không có sự hạn chế đối với việc sử dụng thuốc uống ngừa thai trong tình huống này.

    Về những phụ nữ có nguy cơ di truyền bị ung thư vú (mang những biến dị BRCA1 hay 2), một phân tích meta tập hợp 18 công trình nghiên cứu đã không cho thấy mối liên kết với việc sử dụng ngừa thai hormone và do đó ngừa thai bằng thuốc uống không bị chống chỉ định trong trường hợp biến dị được xác nhận.

    Kết luận, vào năm 2011 có thể xác nhận rằng các phụ nữ mong muốn sử dụng một ngừa thai bằng thuốc uống hormone oestro-progestative phải được trấn an, ngay cả trong trường hợp có tiền sử gia đình ung thư vú hay biến dị BRCA1-2. Việc lựa chọn này không đặt họ trong một nhóm có nguy cơ phát triển một ung thư vú. Mặt khác, có một tác dụng bảo vệ của thuốc với một sự giảm tỷ lệ tử vong đối với vài ung thư khác (như ung thư buồng trứng đáng sợ) và tỷ lệ tử vong toàn bộ tất cả các nguyên nhân
    (LE FIGARO 27/6/2011)

    4/ UNG THƯ PHỔI : MỘT VIỆN ĐƯỢC THÀNH LẬP ĐỂ TỐI ƯU HÓA NHỮNG CƠ MAY CHỮA LÀNH.

    GS Philippe Dartelle, trưởng khoa ngoại lồng ngực (chirurgie thoracique) thuộc bệnh viện Marie-Lannelongue, Le Plessis-Robinson và GS Thierry Le Chevalier, chuyên gia ung thư phổi thuộc Viện Gustave-Roussy, Villejuif, giải thích những ưu điểm của cấu trúc mới này, liên kết những kinh nghiệm của họ.
    Hỏi: Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi tần số của các ung thư phổi và những tử vong mà chúng gây nên.
    GS Thierry Le Chevalier. Ở Pháp ta liệt kê gần 40.000 trường hợp mới mỗi năm và hơn 1,5 triệu người trên thế giới. Đó là nguyên nhân gây tử vong đúng đầu do ung thư. Tỷ lệ gây bệnh của ung thư phổi gia tăng ở phụ nữ (ngay cả người không hút thuốc) trong khi giảm ở đàn ông. Ở Hoa Kỳ, những ung thư loại này giết nhiều phụ nữ hơn là những ung thư vú.

    Hỏi : Những dạng khác nhau của các ung thư phổi là gì ?
    GS Philippe Dartevelle : Có hai loại ung thư phổi. Những ung thư được gọi là “ những tê bào nhỏ ” (cancer à petites cellules) và những ung thư khác là những ung thư “ không phải tế bào nhỏ ” (cancer à non petites cellules). Những ung thư loại đầu tiến triển nhanh, có nguy cơ lớn di căn nhanh hơn loại ung thư thứ hai.

    Hỏi : Tại sao các ông đã thành lập một tổ chức mới, có một không hai ở châu Âu. Viện ung thư học ngực (Institut d’oncologie thoracique) ?
    GS Thierry Le Chevalier : Việc quy tụ các chuyên khoa nhằm đảm bảo một sự hiểu biết căn bệnh nhiều hơn và việc điều trị tốt hơn. Về những ung thư ngực (cancers thoraciques), ở Pháp không hiện hữu một cấu trúc có trình độ cao như thế. Sự liên kết của hoạt động ngực của Viện Gustave-Roussy và hoạt động, ung thư học, của trung tâm ngoại khoa Marie-Lannelongue, sẽ cho phép một sự điều trị toàn bộ những bệnh nan, để đảm báo cho họ chặng đường tốt nhất từ A đến Z. Không một thăm khám nào sẽ được thực hiện ở ngoài Viện.

    Hỏi : Những triệu chứng nào khiến phải đi khám bệnh ?
    GS Philippe Dartelle : Khạc đờm có máu, những đợt nhiễm trùng phổi, ho dai dẳng nhưng rất nhiều trường hợp ung thư không triệu chứng được phát hiện lúc thăm khám X quang.

    Hỏi : Về chẩn đoán, các bệnh nhân sẽ được hưởng những tiến bộ nào ?
    GS Thierry Le Chevalier : Viện của chúng tôi tập hợp những kỹ thuật chẩn đoán mới nhất. 1. Một thăm khám X quang đầu tiên, hoặc bằng scanner, nói chung được bổ sung bởi một PetScan. 2. Một sinh thiết được thực hiện hoặc bằng cách lấy một mảnh mô, hoặc bằng chọc với sự theo dõi của chụp cắt lớp vi tính (ponction sous scanner), hoặc qua nội soi mềm phế quản (fibroscopie bronchique). 3. Những phân tích phòng thí nghiệm cho biết loại mô học của ung thư (có những tế bào nhỏ hay không) và những bất thường khả dĩ về gène của mỗi ung thư.

    Hỏi : Khi nào ta xét đến một can thiệp ngoại khoa ?
    GS Philippe Dartelle : Chỉ những ung thư khu trú không di căn mới có chỉ định điều trị ngoại khoa. Có một chống chỉ định khác : khi chức năng hô hấp quá bị biến đổi. Tùy theo các trường hợp, ta sẽ quyết định cắt bỏ khối u (résection de la tumeur) hay cắt bỏ phổi (ablation du poumon). Ngày nay, với những tiến bộ to lớn về kỹ thuật, ta có thể bảo tồn phổi trong 90% các trường hợp nhờ những thủ thuật mới cắm lại các phế quản và các động mạch (procédure de réimplantation des bronches et des artères). Và để làm gia tăng những cơ may chữa lành, ta lấy đi một cách hệ thống chuỗi hạch của trung thất.

    Hỏi : Ở những giai đoạn nào ông sẽ cho hóa học liệu pháp ?
    GS Thierry Le Chevalier : Những điều trị này được dành cho những bệnh nhân không thể mổ được và càng ngày càng được kê đơn sau một can thiệp ngoại khoa. Sự xuất hiện của các liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) đã tạo nên một bước tiến đáng kể ! Chúng cho phép điều trị bệnh nhân theo những đặc điểm phân tử của khối u. Đó là những điều trị “ à la carte ”.

    Hỏi : Với sự liên kết này, những lợi ích chính đối với các bệnh nhân là gì ?
    GS Thierry Le Chevalier : Khi điều trị các bệnh nan, điều thiết yếu để tối ưu hóa mỗi quyết định là quyết định này phải được bàn bạc chung với tất cả các chuyên gia liên hệ, những thầy thuốc chuyên khoa này có tất cả những kỹ thuật chẩn đoán và điều trị mới nhất. Sự tập hợp của tất cả các chuyên khoa chung quanh cùng một căn bệnh cho phép hiểu rõ hơn và điều trị tốt hơn.
    GS Philippe Dartelle : Với một kíp như thế, các bệnh nhân sẽ được hưởng một điều trị tối ưu. Họ sẽ không còn phải chạy từ trung tâm này qua trung tâm khác… “ Đoạn đường chiến binh ” này là cách điều trị bệnh xấu nhất.

    Hỏi : Vai trò của nghiên cứu sẽ là gì ?
    GS Philippe Dartelle : Các khối u hiếm sẽ được thống kê và phân tích để có thể hiệu chính những điều trị tốt hơn. Những mẫu nghiệm lấy từ ung thư sẽ được đông lạnh và bảo quản trong một ngân hàng khối u (banque de tumeurs), cho phép bất cứ lúc nào trắc nghiệm những điều trị mới.
    (PARIS MATCH 11/10 - 17/10/2012)

    5/ VIÊM XOANG : SỰ BẤT QUÂN BÌNH CỦA QUẦN THẾ VI KHUẨN ?

    Viêm xoang mãn tính (tồn tại trên 12 tuần), nhiễm trùng với viêm các niêm mạc của các xoang, là nguyên nhân của mệt mỏi, đau đầu, khó thở và ở châu Âu gây bệnh cho 10 đến 12% dân số. Nếu viêm xoang đôi khi là do một nguyên nhân rất chính xác không được nhận thấy (như một apxe răng), nó thường vẫn được giải thích không đúng. Kíp của BS Suasan Lynch (đại học San Francisco) đã so sánh quần thể vi khuẩn (flore microbienne) của các niêm mạc của các xoang của 10 người bị nhiễm trùng với 10 người khác lành mạnh bằng cách sử dụng một kỹ thuật di truyền phức tạp. Kết quả : ở những người đầu tiên, có một sự mất những vi khuẩn bảo vệ niêm dịch (bactérie mucoprotectrice) ; những vi khuẩn này sản xuất acide lactique, LS (lactobacillus Sakei), với sự thặng dư những vi khuẩn khác, CT (Corynebacterium Tuberculostedetricum), trong môi trường có hại này, chúng trở nên hung dữ. Theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân quan trọng của sự chuyển qua mãn tính là do sự mất cân bằng này. Những thử nghiệm trên chuột đã chứng minh rằng cho các LS có một vai trò bảo vệ chống lại những nhiễm trùng của các xoang. Những công trình nghiên cứu bổ sung được dự kiến.
    (PARIS MATCH 11/10 - 17/10/2012)

    6/ SIDA : VACCIN HỨA HẸN Ở PHỤ NỮ.

    Morgane Bomsel, Nữ giám đốc nghiên cứu ở CNRS, giải thích tác dụng của vaccin mới này mà những kết quả đầu tiên rất là đáng phấn khởi.

    Hỏi : Ở Pháp, hiện nay bao nhiêu người bị nhiễm bởi virus Sida ?
    Morgane Bomsel : Ta thống kê 150.000 trường hợp huyết thanh dương tính (với 6000 trường hợp mới mỗi năm, trong đó 1700 trường hợp tử vong) nhưng thêm 40.000 đến 50.000, có lẽ không hay biết mình bị huyết thanh dương tính. Mặc dầu không có triệu chứng, những người này có thể truyền virus. Mặc dầu những chiến dịch phòng ngừa, những con số này đã không giảm từ năm 2009.

    Hỏi : Trong đất nước chúng ta, những loại người nào thường bị ảnh hưởng nhất ?
    Morgane Bomsel : Trong 50% các trường hợp, đó là những phụ nữ bị lây nhiễm khi giao hợp không được bảo vệ, và 20% những người đồng tính luyến ái có huyết thanh dương tính.

    Hỏi : Vì những lý do gì số những trường hợp huyết thanh dương tính đã không hạ xuống ?
    Morgane Bomsel : Với sự xuất hiện của tam liệu pháp (trithérapie), bệnh sida đã trở nên tầm thường hóa. Ngày nay bệnh sida quá thường được xem như là một bệnh mãn tính, do đó gây nên một sự giảm cảnh giác. Vấn đề khác : những người trẻ có thể không muốn khám phá tình dục của họ với một bao dương vật.

    Hỏi : Từ lâu người ta đã tìm cách hiệu chính một vaccin nhưng không thành công. Tại sao bị những thất bại này ?
    Morgane Bomsel : Có 3 lý do. 1. Virus sida rất dở chứng : nó thay đổi hình dạng mỗi khi tăng sinh. Dẫu sao, virus vẫn giữ vài trong số những thành phần bền vững của nó. 2. Virus sida có khả năng trốn, do đó không thể phát hiện nó để loại bỏ nó. 3. Virus đi qua niêm mạc, ở đó nó tạo nên những ổ dự trữ (réservoir de virus), trước khi đi vào máu. Vậy có hai giai đoạn trong quá trình nhiễm trùng. Thế mà, cho mãi đến nay, tất cả các vaccin thử nghiệm đều nhằm ức chế virus ở máu, vào giai đoạn 2, do đó thất bại.

    Hỏi : Hiện này bà đang tiến hành một công trình nghiên cứu ở phụ nữ với một loại vaccin mới. Cơ chế tác dụng của nó là gì ?
    Morgane Bomsel : Chúng tôi đã nghiên cứu một nhóm các phụ nữ đã từng có những giao hợp không được bảo vệ với những bạn đường phối ngẫu huyết thanh dương tính (partenaire séropositif), và đã đề kháng với nhiễm trùng. Chúng tôi đã có thể chứng minh rằng tất cả những phụ nữ này đều mang, trong các chất dịch âm đạo của họ, những kháng thể đặc hiệu có khả năng phát hiện virus và phong bế không cho virus đi vào trong các niêm mạc. Các kháng thể là những tác nhân được chế tạo bởi cơ thể phản ứng lại với sự tấn công của một yếu tố lạ và có khá năng loại bỏ nó. Chúng tôi đã phân tích những kháng thể này trong phòng thí nghiệm và khám phá rằng chúng nhận biết những yếu tố của virus vẫn còn ổn định sau khi biến hóa và chúng có thể phong bế sự đi vào của virus. Vậy chúng tôi đã tìm cách hiệu chính một vaccin có thể tạo lại những dịch tiết âm đạo đề kháng này. Những thử nghiệm đầu tiên của chúng tôi trên thỏ cái đã tỏ ra rất thỏa mãn. 5 phụ nữ đã được tiêm chủng và 6 phụ nữ khác đã nhận một placebo : 6 tháng sau khi tất cả bị nhiễm trùng, chỉ có những phụ nữ được tiêm chủng là được bảo vệ.

    Hỏi : Bây giờ bà đã chuyển qua những thử nghiệm ở phụ nữ. Protocole là gì ?
    Morgane Bomsel : Cộng tác với société Mymetics, một công trình nghiên cứu đã được tiến hành, bắt đầu với trắc nghiệm tính vô hại của vaccin ở những phụ nữ lành mạnh trong một quần thể có nguy cơ thấp. Sau khi đã chứng minh sự vắng mặt độc tính và khả năng của vaccin sinh ra những kháng thể chống lại virus, chúng tôi đã tìm cách chứng minh xem những kháng thể này có khả năng phong bế virus hay không, như những kháng thể được phát triển bởi những phụ nữ đề kháng. Nhưng vì ta không thể gây nhiễm các phụ nữ trong thí nghiệm, nên những công trình này đã được thực hiện trong phòng thí nghiệm ex vivo với những mẫu nghiệm niêm mạc âm đạo. Kết quả : thử nghiệm đã thành công trong các dịch tiết được trắc nghiệm và vaccin đã tỏ ra hoàn toàn có hiệu quả ! Virus đã không có thể đi vào trong niêm mạc.

    Hỏi : Giai đoạn sắp đến sẽ là gì ?
    Morgane Bomsel : Giai đoạn sắp đến nhằm tiêm chủng ở châu Âu 200 phụ nữ có nguy cơ và có những giao hợp không được bảo vệ. Những phụ nữ này sẽ được chia thành hai nhóm : một nhóm sẽ được tiêm chủng, còn nhóm kia thì không. Những kết quả sẽ thu được 3 năm sau. Nhưng để tiến hành công trình nghiên cứu này, chúng tôi thiếu những phương tiện tài chánh. Các quà biếu sẽ là mot hỗ trợ đáng kể.
    (PARIS MATCH 8/11 – 14/11/2012)

    7/ SIDA : CÁC THUỐC CHỐNG VIRUS HIV ĐƯỢC CHO BẰNG THUỐC DÁN (PATCH)

    Những điều trị chống virus sida HIV có bất tiện là phải dùng thuốc uống. : sự hấp thụ bằng đường tiêu hóa hàm ý rằng thuốc phải qua gan đầu tiên trước khi đến đích điều trị, điều này làm giảm tính hiệu quả và có thể gây độc cho gan. Một kíp các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ trong tiểu bang Maryland đã quan tâm đến một thuốc chống virus mới, pyrimidinedione, mà một trong những ưu điểm là sinh liệu pháp (biothérapie). Một mặt nó phong bế sự đi vào trong các tế bào của virus HIV, mặt khác thuốc ức chế enzyme cho phép virus HIV hội nhập vào ADN của những tế bào bị nhiễm. Lợi điểm khác : thuốc có thể được cho bằng đường qua da, điều này bảo đảm thuốc được cho đều đặn và kéo dài trong tuần hoàn đồng thời tránh mọi interférence trong gan. Những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên da người đã cho thấy rằng một thuốc dán (patch) có thể phát ra 96% thuốc một cách liên tục trong một tuần. Thuốc dán này sẽ được trắc nghiệm trên các động vật và ở người.
    (PARIS MATCH 29/12/2011- 4/1/2012)

    8/ MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI ĐỐI VỚI HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU

    Việc điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (TVP : thrombose veineuse profonde) trong nhiều trường hợp trở nên dễ dàng hơn.

    TĨNH MẠCH. Từ cuối hè, một thuốc kháng đông mới được sử dụng để điều trị bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu (TVP), ngày xưa được gọi là viêm tĩnh mạch (phlébite). Bệnh này được đặc trưng bởi một cục máu đông được tạo bởi chất sợi huyết (caillot de fibrine) trong một tĩnh mạch ở sâu, thường nhất là ở cẳng chân. Đó là một bệnh thường xảy ra, gây bệnh cho khoảng 1 người trên 1000 trước 60 tuổi, những nguy cơ được nhân lên gấp 10 sau 75 tuổi.

    Huyết khối tĩnh mạch sâu, trong 60% các trường hợp, được phát hiện bởi một triệu chứng đau đột ngột và dài lâu. Phù, giới hạn các cử động và tăng cao nhiệt độ của da cũng có thể xuất hiện. Những triệu chứng này hiện diện trong một cẳng chân duy nhất, tính chất một bên (unilatéralité) là tiêu chuẩn chẩn đoán phân biệt chính. Vài yếu tố nguy cơ có thể định hướng chẩn đoán như những can thiệp ngoại khoa, những chấn thương trên các chi dưới, các ung thư, các điều trị hormone, thai nghén và hậu sản, liệt giường hơn 3 ngày, voyages ở tư thế ngồi hơn 5 giờ và vài yếu tố di truyền gia đình.

    “ Công cụ chẩn đoán là định lượng các D-dimères, nếu âm tính, cho phép 95% loại bỏ chẩn đoán bệnh huyết khối nghẽn mạch (MVTE : maladie veineuse thromboembolique) ”, GS Pascal Priollet, trưởng khoa y khoa mạch máu (médecine vasculaire) thuộc groupe hospitalier Paris Saint-Joseph đã nhấn mạnh như vậy. Siêu âm Doppler sau đó là thăm khám quy chiếu. Một hình ảnh đen và trắng của hệ tĩnh mạch, thêm vào đó sự đo lường bằng siêu âm dòng máu chảy trong các tĩnh mạch, cho phép thấy được các cục máu đông làm tắc luồng máu. Ngay khi nghi ngờ một huyết khối tĩnh mạch sâu, thầy thuốc bắt đầu một điều trị kháng đông để phòng ngừa biến chứng chính khi cục máu đông di tản đến các lá phổi, nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire), gây chết người trong 5 đến 30% các trường hợp.

    HỘI CHỨNG SAU HUYẾT KHỐI (SYNDROME POST-THROMBOTIQUE)

    Điều trị gồm có tiêm một thuốc kháng đông trong những ngày đầu, liên kết với một antivitamine K, thường nhất sẽ được duy trì trong 3 tháng. Điều trị này cần một sự theo dõi nghiêm túc vài yếu tố đông máu để duy trì ở một trị số có thể chấp nhận được nguy cơ chảy máu bằng định lượng máu INR (International Normalized Ratio), một trong những indicateur rất thường thấy của sự đông máu. Từ cuối hè, các thầy thuốc có một thuốc kháng đông mới dùng bằng đường miệng, Rivaroxaban (Xarelto), được cho đơn độc ngay lúc đầu và thành hai giai đoạn, trước hết với liều lượng mạnh trong 3 tuần, rồi với liều giảm bớt.

    Ưu điểm chính : thuốc kháng đông mới không cần phải theo dõi máu.“ Đó là một bước tiến không thể tranh cãi, nhưng sự dễ dàng sử dụng không được làm quên những nguy cơ liên kết với việc sử dụng của một thuốc kháng đông ”, BS Marc Samara, trưởng khoa gây mê hồi sức ở bệnh viện Cochin Hôtel-Dieu, Paris, đã nhắc lại như vậy. Thuốc không được cho khi chức năng thận bị giảm, điều này thường là trường hợp ở những người già, tuy vậy lại sử dụng nhiều nhất một điều trị như thế.

    Ngoài ra, nếu có một chất đối kháng (antidote) đối với các antivitamine K trong trường hợp quá liều, thì một công cụ như thế sẽ không có để sử dụng trước một hay hai năm đối với những thuốc chống đông mới. Sự phấn khởi của các chuyên gia do đó không ngăn cản họ chủ trương thận trọng và một sự kiên nhẫn nào đó để học làm chủ điều trị mới này.

    Dầu thuốc kháng đông được cho là loại thuốc nào, thời gian điều trị nói chung là 3 tháng. Trong vài trường hợp, nhất là khi một yếu tố nguy cơ thường trực được nhận diện hoặc khi đó là một tái phát, thời gian này có thể được kéo dài. Ngoại khoa chỉ được chỉ định đối với dưới 5% những bệnh nhân có một nguy cơ rất cao nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire) hay không thể nhận một điều trị kháng đông. Cần giữ nhiều tháng contention élastique được cho vào lúc bắt đầu điều trị để phòng ngừa tái phát và các biến chứng.

    Biến chứng thứ hai có thể xảy ra sau một huyết khối tĩnh mạch sâu, đặc biệt là khi viêm tĩnh mạch xảy ra ở đầu gối hay cao hơn, là hội chứng sau huyết khối (syndrome post-thrombotique), xảy ra ở 30% những người đã bị một huyết khối tĩnh mạch sâu. Hội chứng này gây đau, tắc tĩnh mạch kéo dài, phá hủy các van tĩnh mạch, phù, giảm vi tuần hoàn và làm dễ sự xuất hiện một huyết khối tĩnh mạch sâu mới cũng như, đối với những trường hợp nặng, gây loét (ulcération)

    Vậy sau một huyết khối tĩnh mạch sâu, điều quan trọng là phải duy trì một sự theo dõi đều đặn trong 3 đến 6 tháng và, nhất là đừng quên biến cố này để có thể nhận biết một cách dễ dàng hơn những triệu chứng sẽ được gán cho nó.
    (LE FIGARO 5/11/2012)


    9/ HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU : NGUY CƠ GIA TĂNG TRONG TRƯỜNG HỢP UNG THƯ.

    Nhiều chiến lược phòng ngừa nguy cơ bệnh huyết khối nghẽn mạch (MTVE) từ nay được thực hiện ở những bệnh nhân bị ung thư. Thật vậy, nguy cơ này nhân 4 khi có một ung thư, với một tỷ lệ mắc bệnh gia tăng bởi vì bệnh nhân sống càng ngày càng lâu với ung thư.

    Bệnh huyết khối nghẽn mạch (MTVE : maladie veineuse thrombo-embolique) là nguyên nhân thứ hai gây tử vong của những bệnh nhân bị ung thư. 20% bệnh huyết khối nghẽn mạch được liên kết với các ung thư. Chính ung thư có thể chịu trách nhiệm sự hiện diện của một cục máu đông hoặc bởi vì nó gây nên những biến đổi trong những yếu tố đông máu hoặc bởi vì khối u đè ép các tĩnh mạch gần đó. Điều trị ung thư cũng có thể là nguyên nhân : hóa học liệu pháp (chmiothérapie), hormonothérapie và vài điều trị chống ngưng kết có thể làm dễ bệnh huyết khối nghẽn mạch. Những système implantable để làm dễ hóa học liệu pháp làm gia tăng nguy cơ này cũng như những can thiệp ngoại khoa và đặc biệt là những can thiệp liên kết với ung thư. Sau cùng những bệnh nhân bị ung thư có thể buộc bị bất động trong những thời gian dài, điều này làm gia tăng nguy cơ huyết khối.

    Những khuyến nghị hiện nay chỉ rõ rằng phải thiết đặt một điều trị phòng ngừa những bệnh huyết khối nghẽn mạch khi một bệnh nhân ung thư chịu một nguy cơ phụ như một điều trị ngoại khoa, vài hóa học liệu pháp hay một sự liệt giường kéo dài. Những chambre implantable làm gia tăng chủ yếu nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu của các chi dưới, với một nguy cơ nghẽn tắc động mạch phổi ít hơn. Sự thiết đặt một điều trị kháng đông trong trường hợp này chỉ được thực hiện nếu một huyết khối tĩnh mạch sâu phát triển.

    CÁC THUỐC KHÁNG ĐÔNG.

    Ở những bệnh nhân ung thư, các héparine có trọng lượng phân tử thấp (HBPM) chích là điều trị quy chiếu bởi vì các antivitamine K dường như ít hiệu quả hơn đối với những huyết khối tĩnh mạch sâu liên kết với ung thư. Điều trị được duy trì trong tối thiểu 3 tháng để phòng ngừa huyết khối và tốt hơn là 6 tháng nếu đó là một huyết khối đã xuất hiện. Chỉ khi người thầy thuốc dự kiến kéo dài điều trị ban đầu này thì mới có thể chuyển qua các thuốc chống đông máu bằng đường miệng. Nếu không một trong những điều trị này có thể được áp dụng, thì việc mổ để đặt một cái lọc (filtre) nhằm ngăn chặn sự đi lên của một cục máu đông đến phổi, có thể được chỉ định.

    Ngoài ra những công trình nghiên cứu dịch tễ học nhằm khảo sát mối liên hệ này giữa bệnh huyết khối nghẽn mạch và ung thư đã có thể chứng minh rằng, trong vài trường hợp, khi một huyết khối tĩnh mạch sâu hay một nghẽn tắc động mạch phổi không có nguyên nhân có thể nhận diện được (ngoại khoa, chấn thương, điều trị kích thích tố, thai nghén, liệt giường, du lịch), một ung thư sẽ được tìm thấy trong 6 đến 12 tháng sau chẩn đoán bệnh huyết khối nghẽn mạch. Những ung thư thường được gặp nhất trong những trường hợp đặc biệt này là những ung thư huyết học, những ung thư phổi và của ống tiêu hóa. Các chuyên gia hiện nay tự hỏi về lợi ích, đối với vài profile bệnh nhân huyết khối nghẽn mạch, tìm kiếm một ung thư khả dĩ xảy ra.
    (LE FIGARO 5/11/2012)

    10/ HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU : CẲNG CHÂN NẶNG HAY GIÃN TĨNH MẠCH CÓ PHẢI LÀ NHỮNG DẤU HIỆU BÁO ĐỘNG ?

    “ Có hai cẳng chân nặng không phải là một triệu chứng báo hiệu huyết khối tĩnh mạch sâu, cũng như giãn tĩnh mạch (varices), GS Hervé Decousus, trưởng khoa nội và điều trị của CHU de Sainte-Etienne và phụ trách trung tâm thăm dò lâm sàng Inserm, đã nhắc lại như vậy. Mổ những tĩnh mạch, trên đó ta quan sát thấy một hồi lưu (reflux) nhẹ, sẽ không làm giảm những cẳng chân nặng. Cũng vậy, giãn tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch không được lẩn lộn, ngay cả khi có những mối liên hệ với nhau.”

    Varices là những tĩnh mạch bị giãn có thể thấy hay sờ được ở tư thế đứng, trong đó máu có thể đi ngược chiều, nhưng không gây hậu quả tai hại. Các varices có thể được điều trị nếu chúng gây nên quá nhiều khó chịu (đau, các rối loạn ở da, khó chịu về mặt thẩm mỹ) hay nếu kích thước quan trọng của chúng gia tăng nguy cơ chảy máu khi ta đụng chúng, mặc dầu những triệu chứng không tùy thuộc vào kích thước của các varices.

    ECHODOPPLER SYSTEMATIQUE

    Trong 20% các trường hợp, các varices xuất hiện sau một huyết khối tĩnh mạch sâu (TVP). Khi đó tĩnh mạch có thể rất bị tổn hại, do sự hiện diện của cục máu đông và tiến triển dễ dàng hơn thành loét (ulcère variqueux). Một echo-Doppler có thể phát hiện những di chứng của một huyết khối tĩnh mạch sâu và đưa đến một sự theo dõi sát hơn một varice phát xuất từ đó.

    Huyết khối tĩnh mạch sâu cũng có thể gây nên phù và cảm giác cẳng chân nặng (jambe lourde) nhưng chỉ ở một phía. “ Một phụ nữ có thai kêu đau đột ngột ở lưng, nhất là về phía trái, với cẳng chân đỏ hồng và/hoặc phù có thể đó là một huyết khối tĩnh mạch sâu, GS Pascal Priollet, trưởng khoa y khoa mạch máu thuộc groupe hospitalier Paris Saint-Joseph đã chỉ rõ như vậy. Trái lại, nếu các cẳng chân nặng và phù cả hai bên, đó là do thai nghén, các triệu chứng này sẽ biến mất sau khi sinh.” Sự thiết đặt một contention élastique có thể cải thiện sự thoải mái. Ngược lại thể ngoại biên của huyết khối tĩnh mạch sâu rất thường liên kết với sự hiện diện của các varices bởi vì sự tuần hoàn ít được thực hiện trong mạng tĩnh mạch ngoại biên hơn, do đó làm dễ sự tạo thành của các cục máu đông. Đôi khi được gọi là paraphlébite, thể ngoại biên của huyết khối tĩnh mạch sâu ít đáng lo ngại hơn so với thể sâu bởi vì các biến chứng trong trường hợp này không trầm trọng như thế.

    Mặt khác, các tĩnh mạch bị ảnh hưởng thường nhất có thể thấy được, điều này làm cho thể nông dễ chẩn đoán hơn. Tuy nhiên một công trình nghiên cứu của Pháp mới đây trên 1500 bệnh nhân đã cho phép quan sát rằng, trong 25% các trường hợp huyết khối tĩnh mạch nông (TVS : thrombose veineuse superficielle), một huyết khối tĩnh mạch sâu cũng hiện diện. Mặt khác, 10% những bệnh nhân, ở họ khả năng một huyết khối tĩnh mạch sâu hay một nghẽn tắc động mạch phổi đã được loại bỏ, và như thế đã không nhận điều trị, có một tiến triển bất thuận lợi về một huyết khối tĩnh mạch sâu hay nghẽn tắc động mạch phổi. Sau cùng, 5% những bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch nông có một nghẽn tắc động mạch phổi triệu chứng (embolie symptomatique). Một écho-Doppler từ nay được thực hiện một cách hệ thống để phát hiện những trường hợp huyết khối tĩnh mạch sâu liên kết và những tranh luận đang được tiến hành về lợi ích của một điều trị kháng đông liều thấp để phòng ngừa những tiến triển thành nhưng dạng nghiêm trọng hơn.
    (LE FIGARO 5/11/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH (19/11/2012)

    Edited by user Wednesday, November 21, 2012 8:52:29 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #13 Posted : Thursday, December 6, 2012 8:47:32 AM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ DENGUE : MỘT VACCIN BẮT ĐẦU LÓ DẠNG.

    Quote:

    ĐIỂM MỐC


    25.000 trường hợp tử vong mỗi năm, nhất là ở các trẻ em. Cho đến nay không có một phương thuốc điều trị nào. Căn bệnh được truyền bởi những con muỗi thuộc loại Aedes mà sự lan truyền được giải thích bởi những phương tiện giao thông hiện đại và sự thiếu vắng chống lại bệnh trên thực địa. Hơn 50.000 người bị nhiễm trùng mỗi năm, và căn bệnh, hiện diện trong 128 nước, không ngừng lan rộng. Những trận dịch lớn hoành hành năm 2010 ở Brésil và trong Antilles thuộc Pháp. Nhiễm trùng bởi virus thường nhất không gây triệu chứng, nhưng trong 1% các trường hợp có thể dẫn đến một thể nặng đôi khi gây tử vong nếu bệnh nhân không được nhập viện.

    NHỮNG SỰ KIỆN VÀ CÁC CON SỐ


    4 loại virus (DENV-1,2,3 và 4). Dengue gây dịch bệnh trong 100 nước ; 50 triệu người mắc bệnh mỗi năm ; 500.000 người được nhập viện đối với những thể nặng, trong đó 20% trường hợp tử vong. Vào năm 2010, Pháp đã ghi nhận 2 trường hợp.

    Không có một điều trị nào hiện hữu chống lại virus của “ cúm nhiệt đới ”.

    Tất cả hy vọng dựa trên một chiến dịch tiêm chủng : được tiến hành trong hai năm ở Thái Lan trên 4000 trẻ em, chiến dịch tiêm chủng đã cho thấy một tính hiệu quả từ 60 đến 90% chống lại các virus 1,3 và 4. Nhưng than ôi, chỉ có virus loại 2 , mặc dầu rất hiện diện trong vùng, lại thoát khỏi sự bảo vệ của tiêm chủng.

    Tia hy vọng đầu tiên trong cuộc đấu tranh chống lại bệnh Dengue : trong khi virus đang thắng thế trên tất cả các lục địa, một chiến dịch tiêm chủng sau cùng đã được trắc nghiệm thành công.

    Một vaccin không hoàn hảo tuy vậy là một hy vọng đầu tiên trong cuộc chiến đấu không cân sức giữa những người bệnh không có khả năng đề kháng và những virus gây bệnh dengue, một căn bệnh có tiềm năng gây chết người mà chống lại nó hiện không có một điều trị nào. Một vaccin đã chứng tỏ tính hiệu quả trên 3 trong số 4 dạng của virus sinh bệnh, nhân một thử nghiệm lâm sàng trên 1000 trẻ em Thái Lan.

    Sốt, rất mệt mỏi, đôi khi xuất huyết… Bệnh dengue thường được mệnh danh là “ cúm nhiệt đới ” (grippe tropicale), do nguồn gốc địa lý của nó, nhưng nó bắt đầu thắng thế trong những nước ôn đới, kể cả ở Pháp, theo nhịp độ đi đi về về của các khách du lịch và do sự nhập cư của Aedes aegypti, muỗi cọp (moustique-tigre), vecteur truyền bệnh dengue. Do đó tầm quan trọng trên thế giới của các kết quả mà phòng bào chế Sanofi Pasteur trình bày : lần đầu tiên, một chế phẩm vaccin tỏ ra có khả năng bảo vệ chống lại 4 dạng virus gây bệnh Dengue.

    Được tiến hành ở Thái Lan trên 4000 trẻ em trong 2 năm. Theo một công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí The Lancet, thuốc chủng đã bảo vệ hơn một nửa các trẻ em (tỷ lệ hiệu quả từ 60% đến 90%) chống lại các virus type 1,3 và 4 nhưng ngược lại không hề có hiệu quả chống lại type 2, mặc dầu hiện diện nhất trong vùng này của quả địa cầu. Kết cục, chiến dịch tiêm chủng đã cho phép tránh những nhiễm trùng ở 30% những người tình nguyện.

    Để hiệu chính vaccin chống lại bệnh Dengue, các nhà nghiên cứu đã dựa trên một vaccin có hiệu quả từ hơn 70 năm nay : vaccin chống lại bệnh sốt vàng (fièvre jaune), một bệnh do một virus cùng họ với virus gây bệnh Dengue. Thử nghiệm lâm sàng này, có quy mô lớn nhất cho đến nay đối với bệnh Dengue, đã xác nhận rằng vaccin này, được gọi là CYD, không gây một tác dụng phụ nào. Vấn đề duy nhất là giống gốc thứ tư của virus vẫn giữ độc lực của nó. Hiện giờ, các tác giả của công trình, những nhà nghiên cứu ở Sanofi-Pasteur và ở đại học Mahidol (Bangkok), không giải thích được lý do tại sao. Hai thử nghiệm lâm sàng khác trên hơn 30.000 trẻ em ở Á Châu và Châu Mỹ La Tinh đang được tiến hành, nhưng những câu trả lời chỉ có được từ nay cho đến 3 năm nữa.

    KỀM CHẾ MỘT DỊCH BỆNH

    Thế thì, sự bảo vệ này, dầu chỉ một phần, nó đã có thể tỏ ra hữu ích không ? “ Không phải là vô lý khi sử dụng một vaccin như vậy để kềm chế một dịch bệnh đang diễn biến, miễn là bệnh dịch này được gây nên bởi các virus 1, 3 hay 4 ! “, André Ciré, trưởng khoa bệnh nhiễm trùng và nhiệt đới thuộc CHU de Fort-de-France, đã đánh giá như vậy. Cũng giống hệt như trường hợp dịch bệnh gây nên bởi sự kết hợp của các virus 1 và 4 đã giáng vào le Martinique năm 2010, gây bệnh cho 40.000 người với hậu quả hàng trăm trường hợp nhập viện và 17 trường hợp tử vong.

    Về phía mình, Tổ chức y tế thế giới đòi hỏi nhiều hơn trước khi xét đến một sự sử dụng đại trà : sự bảo vệ của vaccin phải được chứng minh chống lại 4 virus, bởi vì từ nay các virus của bệnh dengue hoành hành trên tất cả các lục địa với những tần số khác nhau tùy theo các năm. Đó là chưa kể đến rằng một vaccin không hoàn toàn có thể gây nên những phản ứng miễn dịch không được mong muốn.

    Thật vậy, trong thiên nhiên, nhiễm trùng bởi một loại virus thứ nhất làm dễ sau đó những nhiễm trùng bởi những loại khác. “ Lấy thí dụ một người đã mắc phải virus loại một và đã chỉ có những triệu chứng của một bệnh cúm, Ali Amara, giám đốc của phòng thí nghiệm Bệnh lý học và virus học phân tử thuộc viện huyết học đại học Paris đã giải thích như vậy. Nếu người này sau đó nhiễm phải virus loại 3, hệ miễn dịch của người này sẽ cố vô hiệu hóa nhờ những kháng thể loại 1 được chế tạo nhân nhiễm trùng đầu tiên. Không những đã không có hiệu quả, những kháng thể này sẽ làm dễ sự đi vào của virus loại 3 trong những tế bào miễn dịch và kích thích phản ứng viêm.” Chiến lược “ con ngựa thành Troie ” này làm dễ sự xuất hiện những trường hợp nặng nhất nhưng may mắn thay đã không được quan sát thấy trong những kết quả đầu tiên được công bố bởi Sanofi Pasteur. “ Bây giờ điều chủ yếu là phải hiểu tại sao vaccin không bảo vệ chống lại virus loại 2 ”, André Ciré đă kết luận như vậy. Đó là điều phòng bào chế đang ra sức thực hiện. Sanofi Pasteur đang tiếp tục công trình nghiên cứu của mình trên khoảng 30.000 người ở Nam Mỹ và châu Á.

    MỘT HY VỌNG KHÁC

    Một hy vọng khác trong cuộc đấu tranh chống lại bệnh dengue đến gần như đồng thời với sự nhận diện những thụ thể tế bào (récepteur cellulaire) có khả năng nhận biết virus. Được đặt tên là TIM và TAM, những protéine này đã được khám phá bởi những nhà nghiên cứu người Pháp của Inserm. Rất thường gặp ở bề mặt của những tế bào cửa cơ thể, những thụ thể này dùng để nhận biết một loại lipide màng tế bào, phospatidylsérine. Thế mà, virus được bọc bởi một màng phát xuất từ tế bào bị nhiễm trùng, và xâm nhập với lipide này. Một mẹo làm cho virus bám vào rồi đi vào trong rất nhiều tế bào, cho rằng virus chỉ là một mảnh vỡ tế bào. Các nhà nghiên cứu gợi ý, trong tạp chí Cell Host & Microbe, rằng các chất ức chế TIM và TAM như vậy có thể khai sinh một lớp mới các thuốc chống virus cho phép điều trị bệnh dengue.
    (SCIENCE ET VIE 11/2012)

    2/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP : HY VỌNG VỀ MỘT VACCIN ĐIỀU TRỊ.

    GS Marie-Christophe Boissier, trưởng khoa thấp khớp thuộc bệnh viện Avicenne (Bobigny), trình bày những kết quả đáng phấn khởi được trình bày ở Congrès de rhumatologie ở Washington.

    Hỏi : Sự khác nhau nào giữa hai bệnh viêm : viêm khớp (arthrite) và viêm đa khớp (polyarthrite) ?
    GS Marie-Christophe Boissier : Ta nói viêm khớp (arthrite) khi một khớp (articulation) bị viêm : màng hoạt dịch (membrane synoviale) tiết một cách bất thường dịch làm trơn (liquide lubrifiant) ; dịch này tích tụ, tạo nên tràn dịch (épanchement) làm khớp sưng và đau. Khi nhiều khớp bị thương tổn dài lâu bởi một quá trình viêm tự miễn dịch (inflammation auto-immune), ta gọi căn bệnh là viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide).

    Hỏi : Những triệu chứng nào cho phép chẩn đoán một cách chính xác loại thấp khớp này ?
    GS Marie-Christophe Boissier : Các khớp bị sưng (thường là các bàn tay, bàn chân..) đặc biệt đau đớn và cứng vào buổi sáng lúc thức dậy, kèm theo mệt mỏi toàn thân. Căn bệnh tiến triển thành từng cơn : các triệu chứng đau gia tăng cường độ và những khớp mới có thể bị thương tổn.

    Hỏi : Với thời gian, những nguy cơ là gì ?
    GS Marie-Christophe Boissier : Vào một giai đoạn tiến triển không được điều trị, các khớp có thể bị phá hủy, tạo nên một phế tật quan trọng : thí dụ bệnh nhân không thể xoay một chìa khóa trong một ổ khóa, không có khả năng mặc quần áo, hay ngay cả bước đi.

    Hỏi : Có những yếu tố làm dễ không ?
    GS Marie-Christophe Boissier : Có thể có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) liên kết với những yếu tố môi trường. Thí dụ, ta biết rằng chứng nghiện thuốc lá làm gia tăng nguy cơ.

    Hỏi : Rối loạn nào của hệ miễn dịch dẫn đến sự phát triển một viêm đa khớp ?
    GS Marie-Christophe Boissier : Trong bệnh này, những tế bào của hệ miễn dịch, trở nên rất dễ bị kích thích (hyperexcitable), sản xuất những tác nhân độc được gọi là cytokine viêm, sẽ còn làm gia tăng hơn nữa sự bội hoạt (suractivité) của những tế bào miễn dịch và làm phát khởi một quá trình viêm. Trong số các cytokine, nguy hiểm nhất là TNF (facteur nécrosant des tumeurs : yếu tố gây hoại tử các khối u) : kẻ thù số một cần phải chống lại.

    Hỏi : Cho đến nay, những loại thuốc nào được sử dụng ?
    GS Marie-Christophe Boissier : Vào lúc khởi đầu của căn bệnh, ta kê đơn một điều trị dựa trên méthotrexate và corticoides. Ở một giai đoạn tiến triển hơn, ta cho một sinh liệu pháp (biothérapie), nhắm một cách đặc hiệu hơn vào TNF đáng sợ, do đó có tên là anti-TNF.

    Hỏi : Những kết quả nào có được với anti-TNF ?
    GS Marie-Christophe Boissier : Với thời gian nhìn lại, ta quan sát thấy một sự thuyên giảm hoàn toàn ở 30% các bệnh nhân, 30% được cải thiện, nhưng 40% đề kháng với điều trị. Do đó lợi ích những chiến lược mới.

    Hỏi : Theo ý kiến của ông, những thất bại đối với anti-TNF là do nguyên nhân nào ?
    GS Marie-Christophe Boissier : Thuốc không phá hủy toàn bộ TNF. Lý do khác được nêu lên : hệ miễn dịch của cơ thể thải bỏ thuốc.

    Hỏi : Tác dụng của vaccin điều trị (vaccin thérapeutique) mới nhất là gì ?
    GS Marie-Christophe Boissier : Vaccin này (được trình bày nhân hội nghị mới đây của American Colllege of Rheumatology) nhằm làm cho bệnh nhân sản xuất những anti-TNF của chính mình. Cơ chế tác dụng gần giống với cơ chế của một vaccin phòng ngửa (vaccin préventif) cổ điển. Ta tiêm vào bệnh nhân một phân tử của cytokine nguy hiểm, được làm bất hoạt trong phòng thí nghiệm và được chế tạo để kích thích sự sản xuất của các kháng thể để chống lại TNF của người bệnh. Vaccin làm người bệnh sản xuất nhiều anti-TNF chứ không phải chỉ là một.

    Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã được thực hiện với vaccin này ?
    GS Marie-Christophe Boissier : Những thử nghiệm đầu tiên, ở các con chuột được biến đổi về mặt di truyền để phát triển bệnh, đã dẫn đến những kết quả tuyệt vời (được công bố trong “ Proceedings of the National Academy of Sciences USA ”). Một công trình nghiên cứu sau đó đã được tiến hành ở 40 bệnh nhân được chia thành hai nhóm, một nhóm đã nhận vaccin, nhóm kia nhận một placebo. Tất cả đều bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide) ở một giai đoạn nghiêm trọng và đã đề kháng với các anti-TNF.

    Hỏi : Những kết quả như thế nào ?
    GS Marie-Christophe Boissier : Với một năm nhìn lại : 1. Cơ thể của con người thật sự có khả năng chế tạo những anti-TNF của chính mình. 2. Tính hiệu quả của vaccin tùy thuộc liều lượng : chính những bệnh nhân đã nhận liều lượng mạnh nhất đã phát triển nhiều anti-TNF nhất. Và tình trạng đã cải thiện nhất. 3. Điều trị không gây một độc tính nào. Ở những người được tiêm chủng ta đã có thể quan sát thấy một sự giảm những tham số viêm, do đó giảm đau. Chúng tôi sẽ chuyển qua giai đoạn III vào năm 2013 với một công trình nghiên cứu trên 300 bệnh nhân. Trong trường hợp thành công, chúng tôi hy vọng có một vũ khí bổ sung có hiệu quả trong trường hợp đề kháng với anti-TNF.
    (PARIS MATCH 22/11 - 28/11/2012)

    3/ MỘT LIỆU PHÁP GENE ĐÃ CÓ THỂ PHỤC HỒI KHỨU GIÁC

    Mọi người bị cúm đã từng trải qua kinh nghiệm khó chịu về việc mất tạm thời khứu giác của mình. Nhưng đối với vài người, tình trạng mất khứu giác (anosmie), gây mất vị giác và cảm giác ngon miệng, xảy ra thường trực. Tình trạng mất khứu giác này đôi khi xuất hiện ngay khi sinh. Trong một công trình nghiên cứu được tiến hành ở đại học Michigan (Hoa Kỳ), các con chuột thí nghiệm đă tìm lại được khứu giác khi chúng có một biến dị trên gène IFT88, được nhận diện như là nguyên nhân của một dạng di truyền của căn bệnh. Sự biến dị này làm biến mất những tiêm mao vi thể (cils microscopique) trên các đầu của các neurone có liên hệ trong sự nhận biết những phân tử có mùi (molécule odorante) bao phủ xoang mũi. Để chữa lành những con chuột này, các nhà nghiên cứu đã tiêm vào mũi chúng, virus cúm đã được biến đổi, để virus này mang gène IFT88 không bị biến dị vào trong các neurone của khứu giác.15 ngày sau các tiêm mao mọc lại, tái tục chức năng, và những con chuột phục hồi lại khứu giác rồi cảm giác ngon miệng. Mặc dầu những bất thường tiêm mao (anomalie ciliaire) chỉ ảnh hưởng 0,02% những nạn nhân bị bệnh mất khứu giác bẩm sinh (anosmie congénitale), nhưng những bất thường này lại liên quan trong những bệnh lý khác, như bệnh thận đa nang (maladie polykystique des reins) hay viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire), bởi vì nhiều cơ quan mang những tế bào có tiêm mao (cellules ciliées). Khám phá này mang lại hy vọng những hướng điều trị chưa từng có đối với những bệnh này.
    (SCIENCE ET VIE 11/2012)

    4/ CÓ MỘT MỐI LIÊN HỆ GIỮA KHUẨN CHÍ RUỘT VÀ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG

    Tuổi tác, di truyền và bệnh béo phì được xem như là những yếu tố nguy cơ chính của bệnh đái đường loại 2, căn bệnh hormone phổ biến nhất thế giới. Thế mà các nhà nghiên cứu Pháp thuộc Institut national de la recherche agronomique và của Institut de génomique de Pékin vừa xác lập một mối liên hệ đáng ngạc nhiên giữa bệnh đái đường và những vi khuẩn của khuẩn chí ruột (flore intestinale). Họ đã phân tích microbiote (toàn bộ các vi khuẩn) ruột của 348 bệnh nhân bị bệnh đái đường. Phân tích AND của các vi khuẩn thu được trong phân được thực hiện trên 60.000 gène. Chúng cho phép xác lập những nhóm vi khuẩn mà sự hiện diện hay vắng mặt chỉ một mối liên hệ giữa sự mất quân bình của khuẩn chí ruột và bệnh đái đường. Đối với Dusko Ehrlich, giám đốc nghiên cứu, công trình nghiên cứu này là một sự chứng minh về nguyên tắc khả năng sử dụng sự bất quân bình vi khuẩn này như là chỉ dấu của sức khỏe (indicateur de santé). Giai đoạn sắp đến là xác định ai là trứng ai là gà : sự bất quân bình vi khuẩn phải chăng là nguồn gốc của bệnh lý hay phải chăng chính căn bệnh biến đổi khuẩn chí ruột ? Nếu trường hợp đầu tiên được xác nhận, microbiote đáng được thăm dò như là nguyên nhân đối với những bệnh khác. Ta có thể xét đến việc tác động trực tiếp lên khuẩn chí ruột bằng cách biến đổi nó để ngăn ngừa sự xuất hiện của một bệnh lý. Khi đó những vi khuẩn của ruột sẽ trở nên những công cụ chẩn đoán, tiên lượng và điều trị của ngày mai.
    (SCIENCE ET VIE 12/2012)

    5/ TA BIẾT TẠI SAO GIẤC NGỦ BẢO VỆ CHỒNG LẠI BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG VÀ CHỨNG BÉO PHÌ

    Các nhà nghiên cứu của đại học Chicago đã cho những người tình nguyện chịu những những nhịp ngủ khác nhau, rồi họ đã khảo sát tính nhạy cảm đối với insuline của các tế bào của cơ thể họ. Tính nhạy cảm này tương ứng với khả năng hấp thụ glucose lưu thông trong máu để rút lấy năng lượng hay tích trữ nó. Các tế bào càng ít nhạy cảm đối với insuline, thì tỷ lệ glucose càng cao trong máu, dẫn đến nguy cơ bị bệnh đái đường loại 2. Những người tình nguyện đã ngủ hơn 8 giờ mỗi đêm trong 4 đêm và một tháng sau, khoảng 4 giờ mỗi đêm trong 4 đêm. Sau sự hạn chế giấc ngủ, các tác giả đã chứng thực một sự giảm 16% tính nhạy cảm đối với insuline của toàn bộ các tế bào, sự giảm này lên đến 30% đối với những tế bào mỡ (adipocytes) “ Việc giảm tính nhạy cảm đối với insuline làm gia tăng nguy cơ bệnh đái đường và ngoài ra cũng làm gia tăng nguy cơ bị bệnh béo phì, Matthew Brady, đồng tác giả của các công trình đã đưa ra giả thuyết như vậy, bởi vì sự giảm tính nhạy cảm này đồng thời gây nên một giảm sản xuất leptine, một hormone có liên hệ trong sự kiểm soát sự chán ngấy (satiété : tình trạng không còn muốn ăn nữa khi đã tiêu thụ đến một mức độ nào đó). Từ 40 năm nay, thời gian ngủ trung bình đã sụt giảm khoảng 1 giờ mỗi đêm trong toàn dân. Thế thì hãy chú ý, bởi vì không những não bộ mà cả những tế bào mỡ (adipocytes) cũng cần giấc ngủ.”
    (SCIENCE ET VIE 12/2012)

    6/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : PHẢI CHĂNG LUÔN LUÔN CẦN PHẢI MỔ ?

    Michael Peyromaure là chirurgien uologue, chuyên gia ung thư tiền liệt tuyến thuộc bệnh viện Cochin, Paris

    Hỏi : Ở Hoa Kỳ, một nhóm nghiên cứu đã so sánh hai loại điều trị ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn khởi đầu : cắt bỏ tuyến tiền liệt bằng phẫu thuật và theo dõi người bệnh. Họ đã khám phá điều gì ?
    Michael Peyromaure : Công trình nghiên cứu này cho thấy rằng đối với một loại bệnh nhân nào đó chỉ cần theo dõi ung thư cũng hiệu quả như cắt bỏ tuyến tiền liệt (prostatectomie). Được chỉ đạo bởi Timothy Wilt, thuộc đại học Minnesota, công trình nghiên cứu này đã được thực hiện trên 731 người đàn ông tuổi trung bình 67 tuổi, ở họ một khối u còn khu trú trong tuyến tiền liệt đã được phát hiện. Giữa năm 1994 và 2002, 364 trong số những bệnh nhân này đã được mổ cắt bỏ tuyến tiền liệt sau khi chẩn đoán ; 367 những bệnh nhân khác đã được “ theo dõi với điều trị trì hoãn ”, nghĩa là chỉ theo dõi tiến triển của khối u và chỉ điều trị trong trường hợp di căn. Sau đó tất cả đã được theo dõi cho đến tận năm 2010. Như thế 5,8% các bệnh nhân được mổ đã chết do hậu quả của ung thư, so với 8,4% những bệnh nhân chỉ được theo dõi : sự cách biệt này không đáng kể.

    Hỏi : Vậy sự cắt bỏ tuyến tiền liệt không cho phép tránh sự gia trọng bệnh hơn là chỉ cần theo dõi ?
    Michael Peyromaure : Thật vậy, nhưng chỉ trong trường hợp chính xác của những bệnh nhân với một khối u có một nguy cơ thấp lớn lên và lan tràn trong cơ thể. Ta nhận biết những khối u này nhờ phân tích máu cho thấy một nồng độ thấp của một protéine tiền liệt tuyến PSA. Ở những bệnh nhân này, cắt bỏ tuyến tiền liệt dường như không tốt hơn là chỉ cần theo dõi ung thư. Ngược lại, ở những người tình nguyện có một tỷ lệ PSA quan trọng, sự cắt bỏ tuyến tiền liệt đã làm giảm tỷ lệ tử vong 7,6%, điều này là đáng kể.

    Hỏi : Loại điều trị cũng có tác dụng lên nguy cơ di căn ?
    Michael Peyromaure : Ở những người tình nguyện “ được theo dõi ”, 10,6% đã bị di căn, so với chỉ 4,7% những người tình nguyện được mổ. Như thế, một theo dõi dài lâu hơn có lẽ cho thấy rằng cắt bỏ tuyến tiền liệt làm giảm hơn nữa tỷ lệ tử vong. Do đó những kết quả này phải được xác nhận trên một số lượng những bệnh nhân nhiều hơn. Ngoài ra, phải đưa vào những người tình nguyện trẻ tuổi hơn bởi vì ta chẩn đoán ngày càng nhiều ung thư tuyến tiền liệt ngay ở lứa tuổi 50-55. Sau cùng, cũng phải so sánh phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt với kỹ thuật được phổ biến ngày nay : sự theo dõi tích cực (surveillance active) ung thư nhằm không chờ đợi giai đoạn di căn rồi mới điều trị bệnh nhân.

    Hỏi : Việc phát hiện bằng PSA có dẫn đến những cắt bỏ vô ích tiền liệt tuyến không ?
    Michael Peyromaure : Ở Pháp ta chứng kiến một chiến dịch điều tra phát hiện “ hoang dã ”.Thí dụ vài thầy thuốc cho định lượng PSA mỗi 6 tháng, hay ở những bệnh nhân trên 75 tuổi. Đó là một tà thuyết khi ta biết rằng 20% đến 30% những ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn khởi đầu sẽ không bao giờ tiến triển, và rằng một người đàn ông 70 tuổi sẽ chết có lẽ trước khi ung thư gây nên triệu chứng. Điều này dẫn đến sự phát hiện nhiều ung thư có nguy cơ thấp, và nhiều trường hợp được điều trị với cắt bỏ tiền liệt tuyến trong khi những điều trị ít xâm nhập hơn cũng đủ. Thế mà phẫu thuật cắt bỏ tiền liệt tuyến không phải là không có nguy cơ : nhiễm trùng, xuất huyết, rối loạn cương, són tiểu …

    Hỏi : Cắt bỏ tuyến tiền liệt được ưa thích hơn là theo dõi đơn thuần ?
    Michael Peyromaure : Có hai sức ép nghiêng về cắt bỏ tiền liệt tuyến : sức ép của vài bệnh nhân tuyệt đối muốn được mổ càng nhanh càng tốt, và sức ép của y sĩ đoàn vì lý do kinh tế. Nhưng chung cục, tôi thấy dường như cần thiết phát hiện sớm bằng PSA để làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt : với điều kiện thực hiện một cách thông minh để tránh những phẫu thuật cắt bỏ không được biện minh.
    (LA RECHERCHE 10/2012)

    7/ ESCHERICHIA COLI CÓ LIÊN CAN TRONG UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG.

    Ta biết rằng những bệnh nhân bị viêm ruột mãn tính có một nguy cơ gấp năm lần phát triển một ung thư đại trực tràng. Nhưng bởi cơ chế nào ? Một công trình nghiên cứu trên chuột chỉ vào các vi trùng sống trong ống tiêu hóa. Thật vậy, trong những tình trạng viêm, các vi khuẩn Escherichia coli tăng sinh và dính vào niêm mạc ruột già : chúng hiện diện 100 lần nhiều hơn so với các chuột chứng (souris témoins : những con chuột không bị viêm ruột mãn tính). Thế mà những vi khuẩn này sản xuất một độc tố gây nên những biến dị trong các tế bào của ký chủ của chúng. “ Ở người, sự theo dõi khuẩn chí ruột (flore intestinale) hoặc biến đổi nó, để hạ nguy cơ ung thư, là một hướng đáng quan tâm ”, Christian Jobin, nhà nghiên cứu thuộc đại học Chapel Hill (Caroline du Nord) đã chỉ rõ như vậy.
    (SCIENCE ET VIE 10/2012)

    8/ CÁC BỆNH TỰ MIỄN DỊCH : HY VỌNG CỦA INTERLEUKINE 2

    GS Patrice Cacoub, chuyên gia các bệnh tự miễn dịch thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, trưởng khoa sinh liệu pháp thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, giải thích khái niệm đổi mới được hiệu chính cùng với GS David Klatzmann để thắng những bệnh lý trong đó cơ thể tấn công những tế bào của chính mình.

    Hỏi : Ông định nghĩa như thế nào một bệnh tự miễn dịch (maladie autoimmune) ?
    GS Patrice Cacoub : Đó là một bệnh lý trong đó cơ thể sản xuất vài chất (những tự kháng thể : autoanticorps) và tấn công những tế bào của chính mình. Những tự kháng thể này được chế tạo bởi các bạch cầu của hệ miễn dịch, những tế bào lympho B, và những tê bào này không còn làm tròn chức năng bình thường của chúng. Sự tự phản ứng (autoréaction) tai hại này được làm gia trọng do sự tham dự của những tế bào khác của hệ phòng vệ miễn dịch (défenses immunitaires), những tê bào lympho T “ giết người ”, chúng trở nên độc hại một cách bất thường và làm biến đổi các mô bị xâm phạm.

    Hỏi : Làm thế nào mà những tế bào lympho T này, vốn là những tế bào phòng vệ chống lại những tác nhân bên ngoài, lại trở nên tai hại ?
    GS Patrice Cacoub : Bởi vì chúng không còn được kềm chế nữa bởi những tế bào khác của cùng họ, những tế bào lympho “ điều hòa ”. Những tế bào này rất quan trọng bởi vì chúng ngăn cản chuỗi phản ứng dẫn đến một bệnh tự miễn dịch.

    Hỏi : Ta điều trị những bệnh nhân như thế nào ?
    GS Patrice Cacoub : Phần lớn những điều trị hiện nay dựa trên corticoides và những thuốc làm suy giảm miễn dịch (immunosupprimeur). Những corticoides phong bế quá trình viêm, những thuốc làm suy giảm miễn dịch ức chế sự sản suất các tự kháng thể (auto-anticorps). Mới đây đã xuất hiện họ các sinh liệu pháp (biothérapie), nhằm một cách đặc hiện vào vài bạch cầu (hay những chất trung gian protéine).

    Hỏi : Ta thu được những kết quả nào với những liệu pháp này ?
    GS Patrice Cacoub : Ở hơn một nửa các bệnh nhân bị những bệnh tự miễn dịch, nhất là những bệnh thường xảy ra nhất (viêm đa khớp dạng thấp, bệnh đái đường, bệnh xơ cứng rải rác, lupus…), ta cải thiện được rất nhiều những triệu chứng. Nhưng ta không chữa lành được bệnh. Bất hạnh thay, trong nhiều trường hợp, những bệnh lý này vẫn nghiêm trọng, đề kháng với các điều trị.

    Hỏi : Đối với những bệnh nhân đề kháng này, ta phải làm gì ?
    GS Patrice Cacoub : Ta cố thử thực hiện những kết hợp khác nhau các loại thuốc, nhưng phương thức này đặt ra những vấn đề không dung nạp thuốc nghiêm trọng và dẫn đến nhiều thất bại.

    Hỏi : Những trường hợp nào đã khiến ông, cùng với GS Klatzmann, thực hiện một chiến lược mới ?
    GS Patrice Cacoub : Từ nhiều năm nay chúng tôi nghiên cứu một bệnh tự miễn dịch : bệnh viêm mạch máu (vascularite) (cryoglobulinémique), gây nên bởi virus của viêm gan C. Chúng tôi đã khám phá rằng bệnh này được liên kết với một sự thiếu hụt các tế bào lympho “ điều hoà ”. Những công trình nghiên cứu khác nhau đã phát hiện cùng sự thiếu hụt này trong những bệnh tự miễn dịch khác. Để chống lại bệnh viêm mạch máu, ở một số bệnh nhân nào đó, chúng tôi đã thành công làm tăng lên trở lại tỷ lệ những tế bào lympho T “ điều hoà ” thiếu sót này, nhờ một điều trị chống virus. Nhưng đối với những bệnh nhân đề kháng, chúng tôi đã nghĩ đến việc sử dụng interleukine 2 với liều lượng thấp, và kết quả đã tỏ ra ngoạn mục.

    Hỏi : Ông hãy giải thích cho chúng tôi interleukine 2 là gì ?
    GS Patrice Cacoub : Đó là một protéine tác động lên hệ phòng vệ miễn dịch. Cho đến nay, interleukine 2 đã được sử dụng trong điều trị những ung thư thận và những u hắc tố ác tính (mélanome), với một tính hiệu quả khiêm tốn và nhiều tác dụng phụ. Nhưng với liều lượng thấp, vai trò của nó chủ yếu là gìn giữ sự cân bằng giữa các tế bào lympho T “giết người ” và “điều hòa ”. Công trình nghiên cứu của chúng tôi đã được tiến hành trên 10 bệnh nhân bị viêm mạch máu đề kháng với những triệu chứng vô cùng nghiêm trọng kèm theo triệu chứng đau làm bất hoạt. Điều trị (với tiêm interleukine 2 dưới da mỗi ngày) gồm 4 đợt, mỗi đợt 1 tuần, cách nhau 21 ngày.

    Hỏi : Những kết quả như thế nào ?
    GS Patrice Cacoub : 8 bệnh nhân trên 10 đã thấy biến mất các triệu chứng (các vết loét da, đau khớp, thương tổn thận). Hai bệnh nhân khác với thương tổn ở các dây thần kinh ngoại biên đã được cải thiện rõ rệt. Sự dung nạp thuốc tốt. Ta đã chỉ ghi nhận một tác dụng phụ tạm thời : mệt mỏi, sốt giống tình trạng cúm. Yếu tố rất quan trọng : chúng tôi đã thành công làm tăng lên trở lại tỷ lệ thiếu hụt của những tế bào lympho “ điều hòa ”. Những kết quả này mở đường cho những triển vọng điều trị mới trong lãnh vực những bệnh tự miễn dịch.

    Hỏi : Những giai đoạn sắp đến sẽ là gì ?
    GS Patrice Cacoub : Chúng tôi sẽ thực hiện những công trình nghiên cứu để xác nhận rằng những kết quả đầu tiên này áp dụng cho những bệnh lý tự miễn dịch khác.
    (PARIS MATCH 29/12/2011-4/1/2012)

    9/ NHỮNG TẾ BÀO NAM GIỚI ĐƯỢC TÌM THẦY TRONG CÁC NÃO BỘ NỮ GIỚI.

    Sau khi sinh, một người mẹ vẫn còn giữ trong đầu đứa con của mình !. Nhóm nghiên cứu của Lee Nelson, thuộc trung tâm Fred Hutchinson ở Seattle (Hoa Kỳ) đã giải phẫu tử thi não bộ của 59 phụ nữ bị chết giữa 32 và 101 tuổi. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những tế bào nam giới (cellules masculines) trong 63% những bộ não này. Những tế bào này phát xuất từ đâu ? Mặc dầu họ không biết là những phụ nữ này đã có thai hay không, nhưng các nhà khoa học hướng về một nguồn gốc thai nhi : trong thời kỳ thai nghén, người mẹ và thai nhi đã trao đổi những tế bào. Ý tưởng những trao đổi tế bào như thế trong vài cơ quan đã có từ khoảng 15 năm nay. Nhưng đây là lần đầu tiên những tế bào lạ đã được khám phá trong não bộ. Vậy các nhà nghiên cứu không do dự khi nói đó là hiện tượng “ microchimérisme ”

    Khảo cứu được tập trung ở việc tìm kiếm nhiễm sắc thể X, đặc trưng của nam giới. Nhưng có thể rằng vài phụ nữ cũng còn giữ lại những tế bào từ những bé gái mà họ đã sinh ra đời. “ Tất cả chúng ta đều là những quái vật đầu sư tử (chimères) ! Nathalie Lambert, người điều khiển équipe microchimérisme thuộc Inserm (Marseille) đã kêu lên như vậy. Nói chung, hiện tượng microchimérisme xảy ra theo tỷ l trên một triệu tế bào. Nhưng ở vài phụ nữ, tỷ lệ này có thể lên đến 1% ! ” . Đối với bà mẹ, điều này không phải là không có hậu quả : khi tỷ lệ các tế bào lạ càng cao, người mẹ càng có nguy cơ bị những bệnh tự miễn dịch, nhất là bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Giải thích : cơ thể càng chứa nhiều những tê bào lạ, thì hệ miễn dịch càng có khuynh hướng trở ngược lại chống lại nó. Như thế, hiện tượng microchimérisme giải thích tại sao những bệnh tự miễn dịch xảy ta ở phụ nữ 4 lần nhiều hơn ở đàn ông. Trái lại, hiện tượng microchimérisme có thể bảo vệ người mẹ chống lại bệnh Alzheimer. Một giả thuyết phát xuất từ những thống kê, vẫn còn chưa được giải thích
    (SCIENCE ET AVENIR 11/2012)

    10/ MẸ CĂNG THẲNG : TÌNH TRẠNG LO ÂU GIA TĂNG Ở CON GÁI

    Một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu thuộc đại học Wisconsin-Madison (được công bố trong “ Nature Neuroscience ” ), chứng minh rằng tình trạng căng thẳng (stress) bị kinh qua sớm trong thời thơ ấu làm biến doi những nối kết thần kinh (connexions) trong thời kỳ phát triển não bộ nữ giới. Những bé gái đã từng chịu đựng tình trạng stress của người mẹ có một xác suất cao có, ngay ở lứa tuổi trước khi đi học, một nồng độ tăng cao hormone de stress, như cortisol. 28 cô con gái và 29 cậu con trai tuổi từ 21 đến 22 đã đuợc chụp cộng hưởng từ cơ năng (IRM fonctionnelle) để xem xét những liên lạc (communication) giữa hai vùng trọng yếu của não bộ có chức năng quản lý tình trạng lo âu (anxiété) : vùng nhạy cảm với những cảm xúc (amygdale : hạnh nhân) và vùng điều hòa những cảm xúc bằng cách làm giảm nhẹ chúng (cortex préfrontal : vỏ não trước trán). Trên hình ảnh, một sự giảm bất thường những nối kết này đã xuất hiện rõ rệt ở các cô con gái (nhưng không ở các cậu con trai). Những cô gái này, lúc còn thơ ấu, đã có một nồng độ cortisol tăng cao và đã sống trong một gia đình xáo trộn với một người mẹ bị căng thẳng.
    (PARIS MATCH 19/11-5/12/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (6/12/2012)

    Edited by user Friday, December 7, 2012 7:23:08 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #14 Posted : Thursday, December 13, 2012 4:31:46 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 288

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ ASPIRINE : MỘT THUỐC BÁ BỆNH THẬT SỰ

    Quote:
    NHỮNG ĐIỂM MỐC


    Tên thuốc : Acide acétylsalicylique (Aspirine)

    Năm thương mãi hóa : 1897

    Được cho phép để điều trị :
    • Các triệu chứng đau khác nhau, sốt, các bệnh thấp khớp, đau nhức mình mẩy (courbature), phòng ngừa các bệnh tim mạch.
    • Những tác dụng phụ : Đau bụng, chảy máu mũi hay lợi răng. Hiếm nhưng nghiêm trọng : xuất huyết đường tiêu hóa. Những tai biến dị ứng : mày đay, phù, hen phế quản.

    Quote:
    NHỮNG LÝ DO KHIẾN NGHĨ RẰNG ASPIRINE LÀ THUỐC TRỊ BÁ BỆNH :

    • Được biết đến như là thuốc để chống lại sốt và đau, aspirine để lộ những tính chất mới. Tác dụng chống đông (action anticoagulante) đã được xác định một cách rõ ràng trong sự phòng ngừa các nguy cơ tim mạch. Những cách tác dụng chống lại những nguy cơ gây ung thư và sa sút nhận thức (déclin cognitif) vẫn còn giữ một phần lớn bí mật.
    • Aspirine tối ưu hóa lưu lượng máu và giữ cho não bộ khỏi bị lão hóa...Aspirine ngăn cản không cho các tiểu cầu ngưng kết, điều này làm dễ sự lưu thông máu. Như thế não bộ được tưới máu và oxy hóa tốt hơn, điều này cải thiện chức năng và làm chậm lại quá trình lão hóa của não bộ.
    • Aspirine ngăn ngừa sự tạo thành các cục máu công và những nguy cơ mạch máu. Aspirine ngăn cản các tiểu cầu ngưng kết ở các mảng xơ mỡ (những ứ đọng mỡ hay chất khoáng trong các động mạch) và tạo ở đó những cục máu đông có nguy cơ gây nhưng tai biến mạch máu chết người.
    • Asprine bảo vệ các mô chống lại quá trình viêm và ngăn cản sự phát triển khối u. Aspirine làm giảm những hiện tượng viêm, về lâu về dài có thể làm hư hỏng những tế bào, và gây nên những biến dị làm những tế bào này trở thành ung thư. Nếu aspirine được biết có tác dụng hạn chế viêm bằng cách phong bế sự phóng thích prostaglandine, những kích thích tố làm dễ phản ứng viêm, những đường kháng viêm khác có thể can thiệp.


    Quote:
    NHỮNG BỆNH MÀ ASPIRINE NHẮM ĐẾN


    CHỐNG UNG THƯ
    • Rất nhiều công trình nghiên cứu đi theo chiều hướng một tác dụng bảo vệ của việc sử dụng đều đặn aspirine lên nguy cơ phát triển nhiều loại ung thư. Những chứng cớ vững chắc nhất liên quan đến ung thư đại tràng, aspirine được ước tính làm giảm nguy cơ mắc bệnh khoảng 30%

    CHỐNG CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
    • Vai trò của aspirine trong phòng ngừa các tai biến mạch máu não không còn cần phải chứng minh nữa. Nhiều công trình nghiên cứu, được tiến hành trong những năm 1970 đến 1990, đã chứng tỏ rằng sự sử dụng aspirine làm giảm nguy cơ tai biến mạch máu não và nhồi máu.

    CHỒNG SUY SÚT TRÍ TUỆ
    • Giả thuyết về một vai trò của aspirine chống lại sa sút nhận thức (déclin cognitif) và sa sút trí tuệ do tuổi tác vẫn còn mỏng manh, bởi vì những dữ kiện mâu thuẫn đã được công bố.về chủ đề này trong 20 năm qua. Tuy nhiên công trình nghiên cứu mới nhất tăng cường giả thuyết này, khi cho thấy một tác dụng dương lên vài năng lực nhận thức


    Là thuốc nổi tiếng nhất trong số các thuốc chống viêm, aspirine còn kiêm nhiệm những lợi ích được che dấu chống lại những tai biến mạch máu não và ung thư, thậm chí sự sa sút trí tuệ (déclin cognitif).

    Thông tin bất đầu rì rầm trong các hành lang của các phòng mạch. Có một thuốc đơn giản có khả năng làm giảm nhiều những nguy cơ tai biến mạch máu não và ung thư, và có thể ngay cả làm chậm sự lão hóa của não bộ. Một thuốc bá bệnh bảo vệ chống lại ba tai họa lớn nhất của thế giới phương tây ? “ Tôi đã uống nó đều đặn ”, Peter Rothwell, đã thẳng thắng tâm sự như vậy.Vị thầy thuốc chuyên khoa thần kinh này của đại học Oxford (Anh Quốc) không có vẻ gì là một người cuồng ngông, ông ngay cả là một trong những chuyên gia quốc tế về vấn đề này. Tại Pháp, ở bệnh viện Avicenne de Bobigny (Seine-Saint-Denis), thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa Robert Benamouzig, cũng không do dự khi tâm sự rằng ông “ đã kê đơn nó nhiều lần năm nay ”. Nhưng viên thuốc diệu kỳ này là viên thuốc nào ? Thuốc mới nhất của nghiên cứu về các nano-médicaments ? Một sinh liệu pháp (biothérapie) mới phát xưa từ génie génétique ? Hoàn toàn không phải thế. Một cách đơn giản… thuốc aspirine xưa cổ tốt lành.

    Khi nhà hóa học người Đức Felix Hoffman tổng hợp năm 1897 acide acétylsalicylique, ông không hề nghĩ rằng có lẽ ông đang khám phá điều sẽ trở nên phương thuốc nhiệm màu của thế kỷ XX … Vai trò của aspirine trong phòng ngừa các bệnh tim mạch, được công nhận ngày nay, thật ra đã không được biết đến trong một thời gian lâu, bởi vì thuốc này trước hết được phát triển để chống lại sốt, các bệnh thấp khớp và, tổng quát hơn, các triệu chứng đau. Chính vào năm 1967, trong lúc tìm cách hiểu tại sao sự sử dụng aspirine đôi khi gây nên những xuất huyết (vả lại là tác dụng không mong muốn đáng sợ nhất), mà các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã khám phá tác dụng kháng đông của aspirine. Khi đó đã lộ ra lý thuyết ngày nay được xác nhận, về một vai trò phòng ngừa của aspirine chống lại nhồi máu và những tai biến mạch máu não.

    Nhưng sự ngạc nhiên thật sự của đầu thế kỷ này, đó là vai trò của aspirine trong phòng ngừa ung thư. Peter Rothwell, nhà nghiên cứu của Oxford bảo vệ giả thuyết này từ nhiêu năm nay.Và nhờ ông, ngày nay giả thuyết này mạnh hơn bao giờ hết. Thật vậy, ông đã công bố tháng năm vừa qua một phân tích gây ấn tượng về gần như toàn bộ những tài liệu xuất bản khoa học của hai mươi năm qua về chủ đề này, cho phép ông kết luận về tính hiệu quả của aspirine chống lại nhiều bệnh ung thư. “ Và điều đó hiệu quả ngay với những liều rất thấp ! ”, Peter Rothwell đã lấy làm phấn khởi như vậy. Hoặc dưới 300 mg mỗi ngày.

    Lúc khởi đầu, giả thuyết xuất hiện hoàn toàn do tình cờ. Vào năm 1988, các nhà nghiên cứu Úc đã cố gắng xác định xem vài loại bệnh hay những điều trị nội khoa có làm gia tăng nguy cơ phát triển một ung thư đại tràng hay không. Lúc khảo sát bệnh sử của 1500 người, trong đó một nửa bị ung thư đại tràng, khi đó các nhà nghiên cứu Úc, rất đổi ngạc nhiên, khám phá rằng nguy cơ phát triển một ung thư đại tràng có tỷ lệ 40% thấp hơn ở những người dùng aspirine một cách đều đặn. Trong những năm tiếp theo, giả thuyết có khuynh hướng được xác nhận trong trường hợp ung thư này, nhưng những kết quả mâu thuẫn hơn đối với những loại ung thư khác. Rồi thì, cú sấm nổ năm nay, sau khi đã cộng lại tất cả các dữ kiện, Peter Roth làm nghiên cán cân một cách dứt khoát : aspirine chứng tỏ một cách rõ ràng vai trò phòng ngừa của nó trên nhiều ung thư. Sử dụng aspirine mỗi ngày, trong nhiều năm, ngăn ngừa nhất là sự xuất hiện những ung thư bạch cầu (leucémie) và vài loại ung thư dạ dày, thực quản và đường mật. Điều này được xác nhận bởi Robert Benamouzig, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa.

    Làm sao chỉ một loại thuốc mà có thể phòng ngừa sự xuất hiện của cả một loạt nhiều ung thư khác nhau ? Các nhà nghiên cứu chưa có câu trả lời chắc chắn và dứt khoát…nhưng có nhiều giả thuyết. Từ lâu chỉ có một giả thuyết thắng thế. Chìa khóa bí mật của aspirine là ở tác dụng kháng viêm của nó. Giả thuyết này có vẻ quyến rũ bởi vì viêm mãn tính được biết như là một trong những quá trình sinh học ăn mòn dần dần cơ thể đang già đi, nguồn gốc của nhiều ung thư. Nhưng giả thuyết này ngày nay bị đặt lại vấn đề. Thật vậy dường như rằng với những liều rất thấp gây nên tác dụng chống ung thư, aspirine không có tác dụng kháng viêm trực tiếp. Do đó hôm nay nhiều giải thích cạnh tranh nhau, nhất là qua một tác dụng kháng viêm gián tiếp còn chưa xác định rõ, hay qua khả năng của aspirine giúp đỡ vài tế bào của cơ thể, già nua hay bị hư hỏng, chết trước khi chúng có thể trở thành ung thư. “ Thật là phức tạp, bởi vì aspirine tác dụng đồng thời trên nhiều đường khác nhau ”, Peter Rothwell đã chấp nhận như vậy. Thế mà trong khi các nhà nghiên cứu đã bị ngợp bởi tính đa dạng của các tác dụng sinh học của aspirine, thì kìa một vài trò khác của loại thuốc này được phát hiện : sự sử dụng đều đặn aspirine cũng bảo vệ chống lại chứng sa sút trí tuệ (démence) và sự suy sút nhận thức (déclin cognitif) do sự lão hóa.

    Giả thuyết này đã thật sự xuất hiện vào năm 1990 khi những nhà nghiên cứu Canada đã khám phá rằng những người bị viêm khớp dạng thấp (arthrite rhumatoide), dùng đều đặn các thuốc kháng viêm, và nhất là aspirine, có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer 12 lần ít hơn. Mặc dầu những công trình nghiên cứu mâu thuẫn đã được thực hiện từ đó, một công trình của Thụy Điển vừa chứng minh, ở những phụ nữ có nguy cơ cao bị tai biến mạch máu não, một tác dụng bảo vệ của sự sử dụng aspirine lên sự sa sút nhận thức. Theo các tác giả của công trình nghiên cứu, tác dụng này là do một sự gia tăng lưu lượng máu trong não bộ. Silke Kern, nhà nghiên cứu nữ thuộc đại học Goteborg (Thụy Điển) và là tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu, tin chắc điều đó : “ Hướng nghiên cứu aspirine để bảo vệ não bộ khỏi bị suy sút nhận thức (déclin cognitif) và sa sút trí tuệ (démence) là nghiêm túc. Nhưng hãy còn quá sớm để khuyến nghị sử dụng nó trong mục đích này.” bà đã công nhận như vậy,

    Những lợi ích được chứng minh lên các nguy cơ tai biến mạch máu và ung thư, và một tác dụng khả dĩ chống lại sự lão hóa của não. Thật là đáng tiếc nếu bỏ qua bên ! Để được đảm bảo, phải chăng ta không thể tưởng tượng những loại thuốc khác với cùng cơ chế tác dụng, nhưng không có những tác dụng phụ của aspirine ?

    HƯỚNG VỀ MỘT SỰ KÊ ĐƠN RỘNG RÃI

    Đối với Peter Rothwell, đó là một sự hiển nhiên, “ aspirine chỉ là một giai đoạn đầu tiên ”. Tuy nhiên, mãi cho đến nay, tất cả những toan tính làm tốt hơn đã không thu được kết quả. Thậm chí tai họa. Thí dụ thuốc kháng viêm Vioxx, được bào chế trong mục đích này, đã bị rút ra khỏi thị trường cách nay vài năm, sau khi ta đã khám phá rằng sự sử dụng thuốc đều đặn làm gia tăng mạnh nguy cơ những tai biến mạch máu. Chính vì vậy, đối với Robert Benamouzig,“ không chắc chắn rằng ta sẽ tìm thấy những thuốc khác hiệu quả bằng aspirine trước 50 năm ”. Thật vậy, “ đối với aspirine, ta có một lợi điểm hiếm có : vì aspirine đã được sử dụng một cách đại trà và từ rất lâu rồi, nên ta có được rất nhiều dữ kiện ”. Thế thì khi nào ta sẽ có thể tận dụng những tác dụng diệu kỳ của loại thuốc này ? “ Ở Hoa Kỳ, aspirine đã được dùng hàng ngày bởi một số lượng lớn những người khỏe mạnh, Peter Rothwell đã giải thích như vậy, nhưng các thầy thuốc, họ còn chờ giới hữu trách y tế cho họ nhưng chỉ thị mới để có thể kê đơn rộng rãi hơn.” Thật vậy, hiện nay, trong phần lớn các nước, chỉ có những người có nguy cơ cao bị tai biến tim mạch mới được kê đơn aspirine. Nhưng vai trò của aspirine trong sự phòng ngừa các ung thư yêu cầu những giới hữu trách y tế xét đến một sự kê đơn mở rộng đến một bộ phận dân chúng lớn hơn. “ Những chỉ thị mới đang được soạn thảo ”. Peter Rothwell đã hứa hẹn như vậy. Hẹn gặp trong 5 đến 10 năm nữa.
    (SCIENCES ET VIE 12/2012)

    2/ ASPIRINE CÓ MỘT VAI TRÒ BẢO VỆ CHỐNG UNG THƯ

    CANCEROLOGIE. Sự sử dụng lâu dài aspirine làm giảm nguy cơ ung thư, về lâu về dài cũng như trước mắt. Nó cũng làm giảm nguy cơ di căn.

    Thuốc aspirine cổ xưa và tốt lành phải chăng sắp được hưởng quy chế thuốc chống ung thư ? Sau khi 3 công trình nghiên cứu xác nhận tác dụng bảo vệ của aspirine được công bố, câu hỏi này làm sôi nổi cộng đồng của các thầy thuốc chuyên về ung thư. Một lần nữa, những dữ kiện mới này phát xuất từ kíp nghiên cứu của Peter Rothwell, thuộc đại học Oxford. Vào năm 2010, cùng với các đồng nghiệp của mình, ông đã cho thấy rằng sau 8 đến 10 năm, sự sử dụng mỗi ngày aspirine với liều thấp làm giảm nguy cơ tử vong bởi ung thư.

    Ngược lại, với thời gian dùng thuốc ngắn hơn, tác dụng bảo vệ này không chắc chắn. Để biết rõ hơn, kíp nghiên của này đã phân tích chi tiết những dữ kiện thu thập trên hơn 77.500 người, trong 51 thử nghiệm nhằm nghiên cứu tác dụng bảo vệ của aspirine chống lại những vấn đề mạch máu. Tất cả những thử nghiệm này cũng ghi lại những trường hợp tử vong vì ung thư, và sự xuất hiện của một ung thư. “ Những kết quả của công trình nghiên cứu đầu tiên này là quan trọng bởi vì chúng phát hiện một tác dụng phòng ngừa sớm hơn nhiều so với dự kiến ”, David Malka, thầy thuốc chuyên về ung thư thuộc Institut Gustave-Roussy đã chỉ rõ như vậy. Thật vậy, ngay sau 5 năm đứng asprine đều đặn mỗi ngày với liều thấp (dưới 300 mg mỗi ngày), nguy cơ chết vì một ung thư được giảm 37% và ngày sau 3 năm dùng thuốc, nguy cơ mắc phải ung thư giảm 25%. Bài học khác : nguy cơ chảy máu nghiêm trọng liên kết với aspirine (tác dụng phụ đáng sợ nhất trong trường hợp dùng thuốc đều đặn) không còn đáng kể nữa sau 3 năm.

    TỈNH LỎNG CỦA MÁU (FLUIITE SANGUINE)

    Trong một công trình nghiên cứu thứ hai, Peter Rothwell và các đồng nghiệp đã tìm cách để biết liệu sự sử dụng hàng ngày aspirine có một tác dụng lên các di căn hay không. “ Thật vậy, tác dụng rõ rệt của aspirine lên tỷ lệ tử vong do ung thư có vẻ đo một sự ức chế các di căn ”, David Malka đã giải thích như vậy. Để đạt được điều đó, họ đã phân tích các dữ kiện y khoa của hơn 17.825 người được theo dõi trong 6 năm rưỡi, trong năm thử nghiệm cùng loại với công trình đầu tiên. Đối với những người đã mắc phải một ung thư và đã tiêu thụ một liều aspirine hơn hoặc bằng 75 mg mỗi ngày, nguy cơ di căn được giảm 36%. “ Aspirine có thể tác động lên các di căn bằng cách làm gia tăng tính lỏng của máu (fluidité sanguine), Marie Dutreix, chuyên gia về ung thư thuộc Viện Curie đã chỉ rõ như vậy. Các tế bào ung thư lưu thông trong máu định vị một cách dễ dàng hơn ở một nơi mà luồng máu bị chậm lại ”.

    Sau cùng, công trình nghiên cứu thứ ba của kíp nghiên cứu quan tâm đặc biệt hơn đến tác dụng bảo vệ của aspirine, tùy theo loại ung thư, trong đó vài loại hiếm hơn. Để đạt được điều đó, cac nhà nghiên cứu đã thu thập các dữ kiện phát xuất từ 13.728 tài liệu xuất bản báo cáo một mối liên hệ giau aspirine và các ung thư từ năm 1950 đến 2011. Phân tích thống kê của họ xác nhận rằng sự sử dụng aspirine đều đặn làm giảm khoảng 40% nguy cơ những ung thư đại trực tràng và phát hiện một sự giảm trong cùng những tỷ lệ tương tự đối với những ung thư thực quản, dạ dày, đường mật và vú. “ Bây giờ 3 công trình nghiên cứu này cần được xác nhận bởi những phòng thí nghiệm khác nhau ”, Marie Dutreix đã kết luận như vậy. Trong tình trạng hiện nay, các công trình này chưa cho phép khuyến nghị sự sử dụng hàng ngày aspirine để phòng ngừa ung thư ở những người có nguy cơ.
    (LA RECHERCHE 6/2012)

    3/ ALZHEIMER : TAC DỤNG BẢO VỆ CỦA MỘT TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN CAO

    Một trình độ học vấn cao làm chậm lại ít nhất 5 năm sự xuất hiện của bệnh Alzheimer.

    NEUROLOGIE. Tại sao chúng ta không được bình đẳng trước nguy cơ bị bệnh Alzheimer ? Một trong những câu trả lời nằm trong ý niệm “dự trữ nhận thức ” (réserve cognitive). Nói một cách khác, một vốn não (capital cérébral), khác nhau tùy theo mỗi cá thể, cho phép chống lại tốt hơn căn bệnh. Ý niệm này đã được triển khai nhân hội nghị lần thứ ba về neurosciences 2012 ở Arcachon (từ 5 đến 8 tháng 11). Thí dụ một trình độ đại học làm chậm kỳ hạn mắc bệnh ít nhất 5 năm, GS Orgogozo, chef du pole neurosciences cliniques thuộc CHU de Bordeaux và nhà nghiên cứu của Inserm, đã giải thích như vậy.

    Chính GS Yaakov Stern, thuộc đại học Columbia đã phát triển ý niệm dự trữ nhận thức (réserve cognitive) này. Ông giải thích rằng cái vốn trí tuệ (capital intellectuel) khởi đầu không phải là yếu tố duy nhất phải xét đến và rằng giữ một hoạt động trí tuệ (activité intellectuelle), ngay ở một lứa tuổi đã cao, làm chậm lại sự xuất hiện bệnh, nếu bệnh phải xảy ra. “ Nhiều học vấn giáo dục hơn, GS Orgogozo đã phân tích như vậy, điều đó có nghĩa là nhiều khớp thần kinh (synapses) hơn, một vỏ não (cortex) dày hơn, càng có nhiều khá năng bù (compensation) hơn nhờ những đường vòng thay thế (circuits alternatifs). Đó là một khái niệm quan trọng cho thấy rằng điều gì đó xảy ra trong não bộ, về mặt trí tuệ, ngay cả nhiều năm trước khi xuất hiện các triệu chứng.”

    Nhưng một hoạt động bù quá mức (suractivité compensatrice) của não bộ cuối cùng bị kiệt quệ và, như một động cơ mà ta thúc đến các giới hạn, sự suy sút bắt đầu càng đột ngột nếu động cơ càng mạnh. Theo GS Stern : “ Những người có những réserve cognitive lớn nhất sẽ bị một căn bệnh ở giai đoạn tiến triển hơn vào lúc quá trình suy sút nhận thức (giảm hiệu năng trí tuệ) của họ được khơi mào, khi đó họ sẽ cần ít thời gian hơn để đạt đến điểm mà căn bệnh sẽ tác hại lên chức năng của não bộ và như thế suy sút diễn ra nhanh hơn.”

    Nhiều chủ đề khác đã được tranh luận nhân hội nghị này. Thí dụ, tuổi thọ càng dài thì nguy cơ bị bệnh Alzheimer càng gia tăng. Những thống kê thật rõ ràng. “ Hiện nay, Pháp đếm được từ 800.000 đến 1.000.000 trường hợp, GS Orgogozo đã giải thích như vậy. Với sự đi đến cua những lứa tuổi có nguy cơ cao (nghĩa là trên 70 tuổi), những “ papyboomers ”, ta sợ một sự gia tăng rất quan trọng bệnh Alzheimer nếu ta không tìm ra một cách nhanh chóng cách để loại trừ hay làm chậm sự xuất hiện bệnh ”. Với điều kiện chẩn đoán sớm hơn như ta đang làm hiện nay.

    Hiện nay phải chăng ta có những phương tiện để chẩn đoán sớm bệnh Alzheimer ? “ Trên lý thuyết, vâng. Trên thực hành, không, GS Jean Marc Orgogozo đã trả lời như vậy, bởi vì để ta có thể xác định một tình trạng bệnh, phải có những triệu chứng gây trở ngại và những bất tiện thật sự đối với bệnh nhân hay đối với những người thân ”, ông đã nói thêm như vậy. Thế mà, sự thành hình của bệnh Alzheimer được thực hiện trong một thời gian rất lâu mà bệnh nhân không có một triệu chứng nào, rồi thì lúc đầu căn bệnh này có thể bị lẩn lộn với sự lão hóa bình thường. Còn về chụp cộng hưởng từ (IRM) và chọc dò tủy sống để tìm những dấu hiệu sớm, hiện nay những thăm dò này chỉ cho một xác suất cao nhưng không phải luôn luôn là một sự chắc chắn rằng một ngày nào đó bệnh sẽ phát triển.

    Thật đúng lúc, tạp chí khoa học quốc tế The Lancet Neurology đã công bố những kết quả của hai công trình nghiên cứu được tiến hành trên hàng chục bệnh nhân Colombia bị một dạng gia đình của bệnh Alzheimer. Những công trình này cho thấy rằng những dấu hiệu đầu tiên có thể phát hiện trong dịch não tủy của những bệnh nhân này (sự gia tăng của peptide bêta amyloide) hơn 20 năm trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên.

    THÍ NGHIỆM NHỮNG ĐIỀU TRỊ

    Dĩ nhiên, đó chỉ là một dạng đặc biệt của căn bệnh. “ Tất cả những biến dị tinh trội (mutation dominante) chỉ chiếm dưới 1% của những trường hợp Alzheimer ”, GS Orgogozo đã nói như vậy, và không có gì nói rằng ta có thể suy diễn cho những dạng khác. Ngoài ra trong thể di truyền của bệnh Alzheimer được khảo sát ở Colombie, các bệnh nhân bắt đầu bệnh trung bình vào năm 49 tuổi trong khi : “ Trong dân chúng nói chung, chẩn đoán được thực hiện khoảng 80 tuổi, và 70 tuổi hoặc ít hơn trong những trung tâm chuyên khoa ”, nhà chuyên khoa thần kinh đã nhắc lại như vậy.

    Những bệnh nhân Colombie, không có triệu chứng nhưng mang biến dị di truyền, được cho thăm dò bởi PetScan, để đo lưu lượng máu trong não, đã cho thấy một sự gia tăng bất thường của lưu lượng trong vài vùng. Đối với GS Richard Frackowiak, giám đốc của khoa thần kinh của CH Vaudois (đại học Lausane, Suisse) : Điều đó chứng tỏ khả năng của một sự bù rất sớm, cho phép duy trì chức năng não nhiều thập nhiên trước khi xuất hiện bệnh.

    Hiện nay, nghiên cứu, đang được tiến hành trên những chất chỉ dấu sớm của bệnh, thật sự đã không có ý nghĩa thực hành để chẩn đoán nhưng hy vọng là có thể thực nghiệm những điều trị ở những giai đoạn mà bệnh chỉ mới bắt đầu. Như trong bệnh cao huyết áp, ta dùng thuốc để tránh không để cho các động mạch bị hư hỏng.
    (LE FIGARO 13/11/2012)

    4/VIÊM MÀNG NÃO DO MÀNG NÃO CẦU KHUẨN B : CHẲNG BAO LÂU SẼ CÓ VACCIN ?

    BS Jean-Philippe Leroy, chuyên gia về tiêm chủng trong khoa các bệnh nhiễm khuẩn của CHU de Rouen, giải thích tác dụng của vaccin đầu tiên này, đã nhận được một ý kiến thuận lợi.

    Hỏi : Những dạng viêm màng não khác nhau là gì ?
    BS Jean-Philippe Leroy : Phải phân biệt những viêm màng não vi khuẩn với viêm màng não siêu vi. Những viêm màng não vi khuẩn (méningite bactérienne) được gây nên bởi những vi khuẩn khác nhau, trong đó có màng não cầu khuẩn (nguyên nhân của những viêm màng não thường gặp nhất loại B và C) và những phế cầu khuẩn. Những thể virus không gây những phản ứng nghiêm trọng như những vi khuẩn.

    Hỏi : Ai là những người có nguy cơ ?
    BS Jean-Philippe Leroy : Ta liệt kê 1 trường hợp đối với 100.000 dân (hoặc 500 trường hợp mỗi năm). Những người bị ảnh hưởng nhất là những trẻ em dưới 5 tuổi (nhất là trước 1 tuổi). Căn bệnh thường ít xảy ra hơn ở người lớn.

    Hỏi : Không được điều trị những nguy cơ là gì ?
    BS Jean-Philippe Leroy : Nếu hệ phòng vệ miễn dịch (défenses immunitaires) không bị suy yếu, những trường hợp viêm màng não do virus lành bệnh một cách tự nhiên trong vài ngày. Ngược lại, không được điều trị, một viêm màng não do vi khuẩn (méningite bactérienne) trầm trọng hơn nhiều vì lẽ nó tiến triển hướng về một nhiễm trùng máu (septicémie) gây tử vong. Điều đặc trưng cho viêm màng não do màng não cầu khuẩn (méningite à méningocoque) là nguy cơ dẫn đến một thể tối cấp trong 1/3 các trường hợp, với sự xuất hiện của một ban xuất huyết (purpura) trên da (vết tím : tache violacée) lan rộng rất nhanh và được liên kết với một thương tổn tim (sốc nhiễm khuẩn : choc septique). Lúc khởi đầu, không có một dấu hiệu nào cho phép phân biệt một thể gây tử vong với những thể bệnh khác.

    Hỏi : Những triệu chứng nào khiến nghi ngờ sự hiện hữu của một viêm màng não ?
    BS Jean-Philippe Leroy : Chẩn đoán lúc khởi đầu là khó bởi vì những triệu chứng đầu tiên không có gì là đặc hiệu so với những triệu chứng của những bệnh nhiễm trùng khác như bệnh cúm. Những triệu chứng chỉ gây quan ngạ i hơn : tình trạng kiệt sức quan trọng của cơ thể, sốt cao, đau cơ và khớp. Nhưng khi xuất hiện dấu hiệu cứng gáy (raideur de la nuque) ta bắt đầu nghi ngờ bệnh viêm màng não bắt đầu. Bất hạnh thay dấu hiệu này không có thường xuyên.

    Hỏi : Sau đó làm sao ta xác định chẩn đoán ?
    BS Jean-Philippe Leroy : Khi bệnh nhân không ở trong giai đoạn tiền hôn mê, ta có thể thực hiện tức thời chọc dò tủy sống để lấy dịch não tủy nhằm phát hiện sự hiện diện của các vi khuẩn. Những xét nghiệm máu khác cho phép nghi ngờ màng não cầu khuẩn (méningocoque), nhưng chủ yếu chính cấy mầm bệnh sau nhiều ngày mới xác định viêm màng não do màng não cầu khuẩn loại B hay C.

    Hỏi : Ta có những điều trị nào ?
    BS Jean-Philippe Leroy : Mặc dầu ta có các thuốc chủng chống lại những viêm màng não do phế cầu khuẩn và màng não cầu khuẩn loại C, ta lại không có thuốc chủng bảo vệ đối với những viêm màng não do màng não cầu khuẩn loại B. Ta điều trị bệnh nhân với các kháng sinh (thuộc họ céphalosporines). Trong những trường hợp nhiễm khuẩn huyết rất nặng với choáng nhiễm khuẩn (choc septique), ta can thiệp bằng những biện pháp hồi sức.

    Hỏi : Và ta thu được những kết quả nào ?
    BS Jean-Philippe Leroy : Trong khoảng 70% các trường hợp, các bệnh nhân chữa lành nhưng 30% giữ những di chứng như những biến đổi về trí nhớ và những năng lực thính giác, những thương tổn não bộ khác nhau

    Hỏi : Tác dụng của vaccin mới hiện đang được đệ trình giới hữu trách y tế là gì ?
    BS Jean-Philippe Leroy : Tác dụng phòng ngừa của vaccin được sử dụng đối với viêm màng não do màng não cầu khuẩn loại B (ba lần thường gặp hơn màng não cầu khuẩn loại C). Điều này đã có thể thực hiện được nhờ sự hợp tác của các kíp quốc tế của các nhà nghiên cứu. Theo theo lứa tuổi, cần hai hoặc ba mũi tiêm mông cách nhau một hay hai tháng. Vaccin gồm 4 thành phần (những protéine gây một phản ứng phòng vệ miễn dịch), những thành phần này sản xuất các kháng thể để chống lại các vi khuẩn nguyên nhân của viêm màng não.

    Hỏi : Những công trình nào đã được thực hiện với vaccin này và với những kết quả nào ?
    BS Jean-Philippe Leroy : Nhiều công trình nghiên cứu ở châu Âu và ở Nam Mỹ đã được tiến hành trong gần 6 năm ở hơn 8000 trẻ em và thiếu niên. Các nhà khoa học đã phân tích tính hiệu quả của vaccin trên hệ miễn dịch của các trẻ em và các thiếu niên và đã xác nhận rằng vaccin sản xuất các kháng thể đặc hiệu chống lại các màng não cầu khuẩn B. Tính dung nạp của vaccin là tốt ở tất cả những người tham dự trong công trình. Vaccin này, thuốc chủng đầu tiên thật sự có hiệu quả, đã nhận được một ý kiến thuận lợi của các chuyên gia của Agence européenne des médicaments, có chức trách cho phép sử dụng ở châu Âu. Bây giờ chúng tôi đang chờ đợi sự đồng ý để thương mãi hóa thuốc chủng này.
    (PARIS MATCH 6/12 – 12/12/2012)

    VIÊM MÀNG NÃO DO MÀNG NÃO CẦU KHUẨN : HƯỚNG VỀ MỘT VACCIN CHỐNG NHÓM B

    Các trường hợp viêm màng não do màng não cầu khuẩn thuộc sérotype B chiếm khoảng 70% những trường hợp viêm màng não do màng não cầu khuẩn được thống kê ở Pháp năm 2009. Mặc dầu chưa có vaccin chống sérotype B, những kháng nguyên (antigène) có tiềm năng làm thuốc chủng, đang được đánh giá. Được cho 3 mũi trong 6 tháng, những kháng nguyên này đã tỏ ra có khả năng gây nên một đáp ứng miễn dịch được xem là có tác dụng bảo vệ trong 80% các trường hợp. Tuy nhiên những kết quả này cần được xác nhận.
    (SCIENCE ET AVENIR 7/2012)

    5/ CÀ PHÊ PHẢI CHĂNG CÓ NHỮNG TÁC DỤNG CÓ LỢI LÊN CÁC NEURONE CỦA CHÚNG TA ?

    Được tiêu thụ trên toàn thế giới vì những năng lực kích thích của nó, plante millinaire ngày nay làm quan tâm các nhà nghiên cứu do những tác dụng khả dĩ dương tính chống lại ung thư hay những bệnh thoái hóa thần kinh (maladies neurodégénératives)

    Phát xuất từ các hạt của một loại cây có nguồn gốc từ Ethiopie được sử dụng từ nhiều thiên niên kỷ bởi nhiều nền văn minh để chống lại sự mệt mỏi, cà phê là loại nước uống “ kích thính ” được tiêu thụ nhiều nhất thế giới. Ngày nay, hơn 50% những người trưởng thành uống cà phê mỗi ngày ở châu Âu và Bắc Mỹ và thêm 25% tiêu thụ cà phê một cách không thường xuyên.

    1. Những tính chất của cà phê thay đổi tùy theo sự pha chế. Hoạt chất chính của cà phê là caféine, thuộc họ các méthylxanthine, cũng hiện diện trong trà, cacao, kola, maté hay guarana. Dùng cà phê gây nên một sự kích thích những năng lực trí tuệ (capacité intellectuelle) và caféine nối kết với những thụ thể của adénosine, một chất điều biến thần kinh (neuromodulateur) có nhiệm vụ điều hòa sự phóng thích những chất dẫn truyền thần kinh kích thích (neurotransmetteur excitateur) hoạt động não, bằng cách kích thích sự phóng thích này. Caféine cũng gây nên một sự gia tăng nhịp tim, của sự sản xuất nước tiểu và của transit intestinal. Lượng caféine thay đổi tùy theo cách pha chế cà phê. Như thế một tách (150ml) cà phê lọc (café filtre) trung bình chứa 115 mg caféine, trong khi một tách cà phê phát xuất từ một machine à percolateur hay machine à dosette chứa khoảng 75 mg và một tách cà phê hòa tan (café soluble) chứa 65 mg.

    2. Những tác dụng được cảm thấy tùy thuộc người tiêu thụ. Liều tối thiểu caféine có hiệu quả để cảm thấy một tác dụng kích thích thay đổi tùy theo cá thể. Được ước tính 60 mg tối thiểu đối với một người trưởng thành, nó có thể đạt 200mg ở những người tiêu thụ nhiều. Vài yếu tố cũng ảnh hưởng disponibilité (đo tốc độ hấp thụ và lượng hấp thụ của một chất ngoại tại) của caféine. Như thế, nếu thời gian bán hủy (demi-vie : thời gian cần thiết để loại bỏ bởi cơ thể 50% lượng của một chất ngoại tại) của caféine nằm giữa 150 và 270 phút, thời gian này bị giảm 30 đến 50% ở những người hút thuốc nhưng ngược lại tăng gấp đôi trong trường hợp dùng thuốc ngừa thai bằng đường miệng và bị kéo dài một cách đáng kể trong tam cá nguyệt cuối của thời kỳ thai nghén. Thật vậy, thai nhi , do không có các enzyme cần thiết để loại bỏ méthylxanthines, cần hơn 100 giờ để loại bỏ caféine. Vậy các phụ nữ có thai được khuyên không tiêu thụ hơn 200mg caféine mỗi ngày.

    3. Một sự tiêu thụ quá mức có những tác dụng âm tính. Trên 400 đến 800mg caféine, hoặc 5 đến 10 tách cà phê, trạng thái dễ bị kích thích, tình trạng âu lo, tính hung hăng, mất ngủ, gia tốc nhịp tim hay run xuất hiện. Ngoài ra, trong khi sự tiêu thụ cà phê trong ngày không có một ảnh hưởng nào lên sự thiu ngủ (endoimissement) hay chất lượng của giấc ngủ, một sự tiêu thụ caféine ngay cả với liều thấp (100mg) trước khi ngủ làm giảm chất lượng giấc ngủ với những khó khăn và chậm thiu ngủ đến 3 giờ sau khi tiêu thụ. Đặc biệt làm thoái biến sự tổ chức thời gian của giấc ngủ chậm và nghịch lý và chất lượng của giấc ngủ sâu, tác dụng của caféine gia tăng ở người già và người kém tiêu thụ cà phê.

    4. Cà phê có một tác dụng bảo vệ chống lại sự phát triển của bệnh Alzheimer… Những công trình nghiên cứu thông kê đã cho thấy rằng nguy cơ phát triển một bệnh Alzheimer ít hơn ở những người tiêu thụ cà phê, nguy cơ thấp nhất ở những người tiêu thụ từ 3 đến 5 tách mỗi ngày. Những công trình lên các con chuột bị biến đổi về mặt di truyền để phát triển bệnh Alzheimer lúc 8 tháng cho thấy rằng thêm cà phê vào nước uống của chúng giữa 4 và 9 tháng với một liều tương đương 5 tách cà phê mỗi ngày cho phép cải thiện học tập (apprentissage) và trí nhớ và làm giảm những nồng độ peptides beta-amyloides trong hồi hải mã, vùng não kiểm soát trí nhớ. Ngoài ra, sự tiêu thụ caféine ở những con chuột đã bị thiếu sót nhận thức (déficit cognitif) cho phép đảo ngược sự thiếu sót này. Nhưng, ở giai đoạn này, không gì được chứng minh : việc xác nhận một liên kết dương giữa tiêu thụ cà phê và giảm nguy cơ bị bệnh Alzheimer cần những nghiên cứu trên người với một số lượng lớn các bệnh nhân.

    5. Cà phê và bệnh Parkinson. Một phân tích méta được tiến hành vào năm 2010 gợi ý một sự giảm toàn bộ 25% nguy cơ mắc phải bệnh Parkinson ở những người tiêu thụ cà phê so với những người không tiêu thụ. Một công trình nghiên cứu mới đây gợi ý rằng các acide caféique của cà phê, thuộc họ các chất chống oxy hóa (antioxydants) được gọi là acide phénolique, có những tác dụng bảo vệ chống lại những phân tử có can dự trong sự phát triển của bệnh Parkinson. Căn bệnh này phá hủy các neurone của chất đen của não, vùng kiểm soát vận động và tư thế. Nếu ở những bệnh nhân già, đã bị bệnh, những triệu chứng Parkinson không được cải thiện bởi sự tiêu thụ cà phê, caféine có tác dụng cộng lực những tác dụng của L-dopa, điều trị cổ điển của bệnh.
    (SCIENCES ET AVENIR 11/2012)

    6/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG : CAFEINE KHÔNG CÓ TỘI.

    Tồn tại một mối nghi ngờ về sự hiện hữu của một liên hệ âm tính giữa bệnh đái đường và cà phê. Cà phê được cho là có một tác dụng có hại lên chuyển hóa đường hay tính nhạy cảm của các tế bào đối với insuline. Không hề như vậy. Phân tích các dữ kiện liên hệ đến hai nhóm lớn những người tình nguyện được theo dõi trong 20 năm ở Hoa Kỳ, một nữ (Nurses’health Study, trên 74.749 phụ nữ), nhóm kia nằm giới (Health Professionals Follow-up trên 39.059 người đàn ông), trái lại cho thấy rằng cà phê không đường làm giảm nguy cơ bị bệnh đái đường loại 2.
    (PARIS MATCH 13/12 – 19/12/2012)

    7/ TÌNH TRẠNG NGHIỆN THUỐC LÁ BÁO ĐỘNG Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN.

    Catherine Hill là nhà dịch tễ học thuộc Institut de cancérologie Gustave- Roussy, Villejuif.

    Hỏi : Cuộc điều tra rộng lớn nhất từng được thực hiện về sự tiêu thụ thuốc lá trên thế giới vừa cho những kết quả đầu tiên. Khuynh hướng là gì ?
    Catherine Hill : Đợt điều tra đầu tiên được thực hiện ở 14 nước có lợi tức thấp và trung bình. Ở những người đàn ông, chứng nghiện thuốc lá ở đó phổ biến hơn trong những nước giàu : trung bình, 49% những người đàn ông tiêu thụ đều đặn thuốc lá so với 24% ở Hoa Kỳ, theo điều tra quốc gia mới nhất. Ngược lại, tỷ lệ nghiện thuốc lá ở phụ nữ tương đối thấp, trung bình chỉ liên quan đến 11% dân số trong 14 nước so với, thí dụ, 16% ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các kết quả cho thấy rằng các phụ nữ bắt đầu tiêu thụ thuốc lá càng ngày càng sớm, trung bình bắt đầu từ 17 tuổi so với 20 tuổi cách nay vài năm.

    Hỏi : Công trình nghiên cứu này khác với những công trình trước ở điểm nào ?
    Catherine Hill : Công trình khảo sát này nằm trong một điều tra quốc tế về chứng nghiện thuốc lá của những người trưởng thành, được phát động năm 2007, được mệnh danh là GATS (Global Adult Tobacco Survey). 14 nước được khảo sát là những nước phát triển ít hay trung bình, đối với những quốc gia này ta chỉ có những con số phát xuất từ những điều tra quốc gia mà các kết quả không luôn luôn đáng tin cậy. Cuộc điều tra quốc tế này dựa trên một bảng câu hỏi rất hoàn chỉnh đề cập tất cả các khía cạnh của chứng nghiện thuốc lá : tần số tiêu thụ, tuổi sử dụng đầu tiên. Nó cũng liệt kê những người đã tiêu thụ đều đặn thuốc lá và đã dừng sử dụng. Tất cả các loại tiêu thụ thuốc lá, dầu đó là hút, nhai hay hit, đều được xét đến, điều này không phải thường là như vậy trong những điều tra quốc gia, chỉ tập trung ở sự tiêu thụ những điếu thuốc. Ngoài ra GATTS cho phép khảo cứu chứng nghiện thuốc lá với cũng bảng câu hỏi trong tất cả các nước. Như thế ta có thể so sánh giữa các nước ; điều này trước đây không thể thực hiện, bởi vì ta chỉ có những điều tra quốc gia được tiến hành với những phương pháp học khác nhau.

    Hỏi : Tỷ lệ những người hút thuốc phải chăng đã gia tăng trong những nước này ?
    Catherine Hill : Thật khó nói bởi vì ta không có những dữ kiện cũ hơn thu được với cùng phương pháp học. Những điều tra quốc gia đã phát hiện một con số báo động những người hút thuốc trong nhiều nước đang phát triển, ở đó những công nghiệp thuốc lá rất mạnh. Điều tra GATS xác nhận hiện tượng này. Nhờ điều tra này, từ nay ta có một điểm mốc để nghiên cứu tiến triển tương lai của chứng nghiện thuốc lá trong những nước này.

    Hỏi : Điều tra này có cho phép đánh giá tính hiệu quả của những biện pháp chống thuốc lá ?
    Catherine Hill : Trong số những nước được khảo sát, Uruguay là nước duy nhất mới đây đã tiến hành một cuộc đấu tranh tích cực chống lại chứng nghiện thuốc lá. Thế mà, ta quan sát thấy trong những nước này một tỷ lệ tăng cao hơn những người đã ngừng hút thuốc, điều này gợi ý rằng những biện pháp được thực hiện bởi nhà nước đã có hiệu quả. Điều khẩn cấp là phải áp dụng những biện pháp chống thuốc lá trong những quốc gia đang phát triển khác. Theo OMS, 6 triệu người mỗi năm chết vì một bệnh hô hấp hay tim mạch gây nên bởi thuốc lá. Nếu không gì được thực hiện, số những trường hợp tử vong này hàng năm có thể leo lên đến 8 triệu từ nay đến 2030, trong đó 80% trong những nước có lợi tức thấp và trung bình.
    (LA RECHERCHE 10/2012)

    8/ SÂU RĂNG KHỞI ĐẦU : NHỮNG KỸ THUẬT VI XÂM NHẬP VÀ BẢO THỦ.

    BS Paul Cattaneo trình bày những tiến bộ mới nhất được thực hiện để gìn giữ tối đa những mô lành manh đồng thời cải thiện sự thoải mái

    Hỏi : Những thương tổn răng xảy ra như thế nào ?
    BS Paul Cattaneo : Ta khám phá chúng thường nhất quá muộn bởi vì tiến triển của những thương tổn răng diễn ra thầm lặng. Một sâu răng (carie) bắt đầu bằng một sự mất chất khoáng (déminéralisation) không gây đau đớn : men răng (émail) ngày càng trở nên dễ vỡ. Sau đó ngà răng (dentine) bị thương tổn, dẫn đến những cảm giác nóng và lạnh. Vài tháng sau, tủy (pulpe) răng bị xâm phạm. Những cơn đau dữ dội xuất hiện, chính đau răng nhức nhối (rage de dent) khiến bệnh nhân đi khám cấp cứu.

    Hỏi : Tỷ lệ lưu hành của bệnh răng này là gì ?
    BS Paul Cattaneo : 30% những trẻ em dưới 12 tuổi có ít nhất một sâu răng cần điều trị ! Ta đạt tỷ lệ 50% ở những trẻ từ 12 đến 15 tuổi, 40% ở những người lớn. Sau cùng 37% những người già bị sâu răng.

    Hỏi : Ngoài vệ sinh miệng kém, những yếu tố làm dễ khác là gì ?
    BS Paul Cattaneo : Đối với vài người, một chất lượng men răng kém. Một sự tiêu thụ quá mức đường, những thói quen nhấm nháp, một sự khô miệng do một vấn đề về tiết nước bọt..

    Hỏi : Ở giai đoạn cuối cùng của sâu răng, những nguy cơ là gì ?
    BS Paul Cattaneo : Trước hết sự tạo thành một áp xe, ổ nhiễm khuẩn mà những mầm bệnh có thể gây nên những vấn đề ở xa : ở các xoang (sinus), ở tim, thận, các khớp. Do đó ở giai đoạn này tuyệt đối cần thiết diệt tủy (dévitaliser). Nếu sự hư hại quá quan trọng, răng cần phải nhổ đi. Sự thay thế sẽ tránh các răng lân cận bị di lệch, trở ngại khi nhai và một vấn đề thẩm mỹ.

    Hỏi : Để phát hiện thương tổn này ở giai đoạn đầu tiên hết, những kỹ thuật mới nhất là gì ?
    BS Paul Cattaneo : Để phát hiện, từ nay chúng tôi có 3 kỹ thuật thăm khám phụ. 1. Radio numérique en 2D, cung cấp những hình ảnh cực kỳ chính xác với một sự giảm liều lượng phóng xạ. 2. Nh ững hỗ trợ quang học phóng đại, kính lúp hay kính hiển vi phẫu thuật (microscope opératoire), phát hiện những chi tiết mà mắt không thể quan sát thấy. 3. Những công cụ phát hiện dựa trên huỳnh quang hay transillumination : một caméra vidéo numérique ghi hình ảnh và cho phép thấy trực tiếp những thương tổn trên một màn ảnh máy vi tính.

    Hỏi : Thông thường ta điều trị một sâu răng giai đoạn khởi đầu như thế nào ?
    BS Paul Cattaneo : Trong phần lớn các trường hợp, khi bệnh nhân đến khám chúng tôi, răng sâu đã được hình thành. Khi đó ta thực hiện gây tê tại chỗ và với một turbine rotative, thường được gọi là “ roulette ”, ta sẽ loại bỏ mô răng bị sâu. Sau đó ta tái tạo lỗ hổng bằng matériau composite. Với kỹ thuật truyền thống này, răng trở nên mảnh dẻ hơn. Mặc khác, những rung âm của cái khoan răng (fraise) này gây khó chịu, buổi chữa rằng không được thoải mái.

    Hỏi : Những điều trị vi xâm nhập mới nhất gồm những gì ?
    BS Paul Cattaneo : Phuong pháp “ rất nhẹ nhàng ” (toute en douceur) này, chỉ nhằm vào những sâu răng khởi đầu, có mục đích bảo tồn tối đa cấu trúc của răng với một sự thoải mái lớn nhất. Để loại bỏ mô răng sâu mà không chịu những bất tiện của các dụng cụ quay (instruments rotatifs) và những rung âm, có 3 kỹ thuật. 1. Sablage par air abrasion. Nha sĩ phun những vi hạt (microparticules) oxyde d’alumine trộn với không khí và nước, loại bỏ sâu răng. Với phương thức này, ta gìn giữ những mô lành mạnh của răng. 2. Sono-abrasion. Nha sĩ sử dụng một pièce à main dạng stylo với những inserts diamentés gởi những siêu âm ở răng sâu để loại bỏ nó. Kỹ thuật này đặc biệt lý thú để điều trị những thương tổn nằm giữa hai răng, không có nguy cơ gây thương tổn những mô lành. 3. Sự sử dụng lasers : các tia tập trung một lượng lớn năng lượng như những bistouri lumineux. Chúng cắt với một độ chính xác lớn viền của sâu răng. Sau khi loại bỏ nó, răng được phục hồi, như với kỹ thuật truyền thống, nhờ một produit de comblement biocompatible và một adhésif thuộc thế hệ mới nhất (đôi khi được liên kết với một tác nhân chống vi khuẩn).

    Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào cho thấy những kết quả của những kỹ thuật mới nhất này ?
    BS Paul Cattaneo : Những phương thức này được áp dụng cho 70% các bệnh nhân, được hợp thức hóa rộng rãi với cộng đồng khoa học Pháp và quốc tế.
    (PARIS MATCH 29/11 – 5/12/2012)

    9/ NHỮNG RỐI LOẠN GIẤC NGỦ LÀM DỄ SỰ SUY SÚT NHẬN THỨC

    Nhằm đánh giá tác động của những rối loạn của giấc ngủ lên các chức năng trí tuệ và trí nhớ, 2000 người tuổi trung bình 75 tuổi đã được trắc nghiệm nhiều lần (hai, sau và 10 năm sau khi được đưa vào công trình nghiên cứu) bởi một thang điểm đặc hiệu (MMSE : Mini-Mental State Examination). Kết quả : sự việc ngủ ít hơn 6 giời rưỡi mỗi đêm hay ngủ gà đều đặn trong ngày làm tăng gấp đôi sa sút nhận thức (déclin cognitif). Ngược lại, một giấc ngủ trưa ngon (hơn một giờ) làm giảm gần như một nửa nguy cơ ở 10 năm.
    (SCIENCES ET VIE 11/2012)

    10/ NHỮNG NGUY CƠ NÀO XẢY RA SAU MỘT VIÊM TĨNH MẠCH CÁC CHI DƯỚI ?

    Một viêm tĩnh mạch (phlébite) là một cục máu đông được tạo thành trong một tĩnh mạch sâu của chi dưới, ngoại trừ những cục máu đông được tạo thành trong những tĩnh mạch ngoại biên, như tĩnh mạch hiển (veines saphènes và các nhánh phụ), thường xảy ra sau các varices. Từ 50.000 đến 100.000 trường hợp viêm tĩnh mạch xảy ra mỗi năm ở Pháp, xảy ra thường nhất ở các tĩnh mạch của cẳng chân và có một nguy cơ tức thời gây nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire), nghĩa là sự di tản của một cục máu đông từ tĩnh mạch của chi, là nơi nó được tạo thành, hướng về các động mạch phổi, với các nguy cơ hô hấp. Những viêm tĩnh mạch này ở đàn ông cũng thường gặp như ở đàn bà, tuổi trung bình xảy ra khoảng từ 65 đến 70 tuổi, mặc dầu bệnh có thể xảy ra ngay ở lứa tuổi 20 hoặc 30. Trong giai đoạn cấp tính của nó, một viêm tĩnh mạch (phlébite) hay huyết khối tĩnh mạch sâu (TVP) của các chi dưới, có thể gây nguy hiểm do nguy cơ nghẽn tắc động mạch phổi, đôi khi gây chết người. Tuy nhiên, mặc dầu nguy cơ tức thời này là nghiêm trọng (nhưng hiếm), những di chứng muộn (nhiều tháng hay nhiều năm sau), hay hội chứng sau huyết khối (syndrome post-thrombotique) lại gây phế tật hơn nhiều.

    Với điều trị nội khoa và nhờ những cơ chế sinh lý, cục máu đông chịu trách nhiệm huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse profonde) có thể tự loại bỏ hoàn toàn nhưng, nếu cục máu đông không biến mất, nó sẽ đuoc biến đổi thành mô sợi ; mô sợi này tạo nên một tắc nghẽn một phần hay hoàn toàn, gây trở ngại cho hồi lưu tĩnh mạch : đó là hội chứng tắc (syndrome obstructif).

    Khi cục máu đông được loại bỏ, thành của các tĩnh mạch bị thương tổn và đặc biệt là các van tĩnh mạch, có mục đích ngăn cản máu đi xuống chân dưới tác dụng của trọng lực. Sự biến đổi hay phá hủy các van này có hậu quả là một lưu thông đảo ngược về phải dưới ở tư thế đứng hay ngồi : đó là hội chứng hồi lưu (syndrome de reflux).

    VA CHẠM TRỰC TIẾP, ĐẦU RẤT NHẸ.

    Hai hội chứng này (syndrome obstructif và syndrome de reflux) liên kết với những mức độ khác nhau tạo nên hội chứng sau huyết khối (syndrome post-thrombotique). Sự ứ đọng máu gây nên một tăng áp lực ở mô nguyên nhân của phụ nề, viêm mô và nhiên hậu tình trạng đã dễ vỡ (fragilité cutanée).

    Những rối loạn không đặc hiệu là nặng chi dưới, đau, bồn chồn, crampe ban đêm, phù, ngứa, giãn tĩnh mạch được gọi là thứ phát (varices secondaires). Những rối loạn thường gặp nhất là phù các mắc cá và cẳng chân. Vào khởi đầu của tiến triển, phù biến mất ở buổi sáng, nhưng với thời gian nó trở nên thường trực. Sự đổi màu đồng (coloration cuivrée) của da (viêm dưới da) (hay dermite ocre) là một dấu hiệu của bệnh mãn tính đã tiến triển. Ở một giai đoạn tiến triển hơn, một hypodermite (viêm dưới da) có thể xảy ra, với gia tăng đau và phù nề. Sau cùng, ở giai đoạn tối hậu, một vết loet mãn tính và tái phát xuất hiện hoặc một cách ngẫu nhiên hoặc sau một va chạm trực tiếp ngay cả rất nhẹ. Trong vài trường hợp hội chứng tắc quan trọng và ưu thế, một sự trở ngại khi bước có thể xảy ra do tăng áp lực cấp tính.

    Làm sao ngăn ngừa những rối loạn này ? Ngay khi chẩn đoán được xác lập bởi écho-doppler, điều trị kháng đông bằng đường tiêm dưới da hay tĩnh mạch phải được bắt đầu nhanh, với một sự thay thế nhanh bởi một thuốc kháng động dùng bằng đường miệng. Thời gian điều trị, từ 3 đến 12 tháng, hoàn toàn được quy định tùy theo trường hợp xuất hiện, mức độ lan rộng của huyết khối, sự hiện hữu của nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire), của một yếu tố làm dễ cá nhân và gia đình. Trong vài trường hợp bất thường đông máu, điều trị này có thể cho suốt đời.

    Sự ép đàn hồi (compression élastique) là một thành phần quan trọng của điều trị. Sự ép này được thực hiện một cách hệ thống và kéo dài. Nó cho phép làm giảm sự tăng áp (hyperpression) ở cẳng chân, nó cải thiện sự phù nề. Lý tưởng là mang một ép mạnh bằng tất hay dải đàn hồi (bas ou bandes élastiques).

    Trong những trường hợp phù quan trọng chịu trách nhiệm một sự ép các động mạch với hội chứng đau (syndrome de souffrance) do thiếu cung cấp máu, cũng như trong những huyết khối lan rộng đến tận tầng chậu-tĩnh mạch chủ (étage ilio-cave) (trong những tĩnh mạch của bụng), một điều trị tích cực hơn có thể được đề nghị để « quét sạch » những tĩnh mạch bị tắc. Ta có thể cho một thuốc nhằm làm tan cục máu đông (thrombolyse). Trong trường hợp thất bại hay chống chỉ định, ngoại khoa mở (chirurgie ouverte) có thể được thực hiện. Đôi khi nó cho phép điều trị cùng lúc mổ nguyên nhân của huyết khối. Những kỹ thuật này dành cho những trung tâm mạch máu quen với những kỹ thuật này. Chúng có mục đích hạn chế càng nhiều càng tốt nhưng di chứng của hội chúng sau huyết khối (syndrome post-thrombotique).

    Sự ép cũng là cơ sở của điều trị những trouble trophique. Sự tuân thủ của bệnh nhân là một yếu tố quan trọng của tính hiệu quả.

    Việc chống lại những yếu tố nguy cơ, béo phì, không hoạt động vật lý, và sự duy trì một chức năng tốt của khớp mắc cá (kiné liệu pháp) cũng quan trọng.

    Trong trường hợp thất bại của những điều trị khác nhau này đê điều trị những rối loan da quan trọng, tái phát hay không lành sẹo, những kỹ thuật nội mạch máu có thể được đề nghị. Những kỹ thuật này dành cho hội chứng sau huyết khối chủ yếu do tắc (syndrome post-thrombotique à prédominace obstructive), với thương tổn ở tạng bụng (các tĩnh mạch chậu và tĩnh mạch chủ dưới). Cũng như trong các động mạch, những kỹ thuật này cho phép tái mở tuần hoàn máu theo trục tĩnh mạch bị tắc bằng cách sử dụng những hệ thống tương tự : guides, ballon de dilattaion, stent hay prothèse interne (thường được gọi là ressorts). Nhung kỹ thuật này dành cho những trung tâm chuyên khoa và thành thao với những kỹ thuật này.

    Những di chứng của một viêm tĩnh mạch không phải là không tránh được. Điều trị huyết khối dựa vào sự xử trí nhanh và hiệu quả bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu, sự ép đàn hồi (compression élastique) lâu dài. Điều trị nội huyết quản ở giai đoạn cấp tính và giai đoạn mãn tính cho phép, trong những hội chứng tắc, ngăn ngừa hay làm chậm lại sự xuất hiện của những biến chứng quan trọng nhất.
    (LE FIGARO 2/7/2012)

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (13/12/2012)

    Edited by user Thursday, December 13, 2012 4:46:40 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #15 Posted : Thursday, December 20, 2012 2:38:44 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,340

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 289

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH


    1/ NHỮNG BÍ MẬT ĐƯỢC PHÁT HIỆN CỦA HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH.

    Căn bệnh này từ nay được nhận biết tốt hơn và được điều trị tốt hơn.

    GASTROENTEROLOGIE. “ Hội chứng ruột kích thích (SII : syndrome de l’intestin irritable hay colopathie fonctionnelle) ngày nay được điều trị tốt hơn, nhất là nhờ những tiêu chuẩn nhất trí, cho phép định hướng chẩn đoán tốt hơn ”, BS Gourcerol, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa thuộc CHU de Rouen, đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, căn bệnh này, gây bệnh cho từ 10 đến 15% dân số, hiện diện dưới nhiều dạng với một kết hợp các triệu chứng rất ít đặc hiệu, có thể làm chậm chẩn đoán. Ngoài ra, không một điều trị nào đã cho thấy một tính hiệu quả quan trọng lên hội chứng ruột kích thích nhưng vài phương pháp có thể tỏ ra thỏa mãn và phải được thích ứng với mỗi bệnh nhân.

    Hội chứng ruột kích thích là một bệnh không gây nguy hiểm cho mạng sống của những người bị bệnh. Ngược lại, bệnh có những hậu quả đôi khi quan trọng lên chất lượng sống của những bệnh nhân. Hội chứng ruột kích thích trong đại đa số các trường hợp gây bệnh cho các phụ nữ, thường là trước 50 tuổi. Bệnh được đặc trưng bởi những cơn đau bụng mạnh ít hay nhiều, kèm theo những rối loạn nhu động (trouble du transit), có khuynh hướng gây bón hay ỉa chảy nhưng đôi khi luân phiên nhau giữa hai triệu chứng này. Đau bụng thường giảm sau khi đi cầu.

    NHỮNG DẤU HIỆU BÁO ĐỘNG

    Những tiêu chuẩn liên quan đến lối sống hay tâm lý của bệnh nhân có thể hướng dẫn người thầy thuốc, đặc biệt là stress, đóng một vai trò quan trọng, cũng như một khuynh hướng lo âu. Chẩn đoán do đó dựa trên thăm khám lâm sàng cũng như một vấn chẩn để loại bỏ những bệnh lý khác. Trước 50 tuổi và khi các triệu chứng đã cũ, không phải luôn luôn cần thiết thực hiện những thăm dò khác. Đứng trước vài dấu hiệu báo động như máu trong phân hay những triệu chứng về đêm, người thầy thuốc đôi khi có thể yêu cầu một nội soi đại tràng để phát hiện những thương tổn có thể có trong ruột.

    “ Một khi đã an lòng về sự vắng mặt nguy cơ quan trọng đối với bệnh nhân mình, vài thầy thuốc không phải luôn luôn dành thời gian để giải thích căn bệnh, GS François Mion, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa thuộc bệnh viện Edouard-Herriot (Lyon) đã lấy làm tiếc như vậy. Vì không có điều trị đặc hiệu, các thầy thuốc cũng cảm thấy bất lực, không có giải pháp tức thời để đề nghị cho các bệnh nhân.” Vài thầy thuốc cũng có khuynh hướng cho rằng hội chứng ruột kích thích là một bệnh tâm lý không thuộc phạm vi của mình, nhất là những bệnh nhân này thường âu lo và rất đòi hỏi những thăm khám phụ nhưng lại không thành công làm an lòng họ. Một phần lớn các người bị hội chứng ruột kích thích (20%) đã từng trải qua một kinh nghiệm chấn thương trong thời thơ ấu, nhưng ở 20% các bệnh nhân một viêm dạ dày ruột dường như là nguyên nhân làm phát khởi hội chứng ruột kích thích. “ Có một thành phần tâm lý nhưng nghiên cứu đã nhận diện một số hiện tượng nào đó ở những bệnh nhân bị bệnh, dẫn đến những hướng điều trị ngày nay ”, GS Bruley des Varannes, giám đốc Viện của các bệnh của bộ máy tiêu hóa (Imad : Institut des maladies de l’appareil digestif) đã nhấn mạnh như vậy.

    Hôm nay không có thuốc có khả năng điều trị hội chứng ruột kích thích. Tuy nhiên, dùng thời gian thăm dò các triệu chứng và lối sống của mỗi bệnh nhân, thầy thuốc có thể đề nghị những điều trị triệu chứng để cải thiện chất lượng sống. Đau là một đích điều trị chủ yếu, nhờ các thuốc chống co thắt (antispasmodiques) và nhờ những thuốc hay những chiến lược điều hòa nhu động nhằm cải thiện những đợt ỉa chảy hay táo bón. Những lời khuyên vệ sinh ăn uống là một bộ phận của điều trị, nhất là hoạt động vật lý đóng một vai trò quan trọng đối với vài triệu chứng. “ Chất lượng giấc ngủ là một yếu tố quan trọng để tác động lên tính nhạy cảm tạng (sensibilité viscérale) ”, GS Philippe Ducrotté, giáo sư hépato-gastro-entérologie thuộc CHU de Rouen đã nhắc lại như vậy.

    Trên bình diện ăn uống, không có một công trình nghiên cứu nào đã xác nhận ảnh hưởng của lactose hay gluten nhưng chúng có thể có liên quan ở vài bệnh nhân. Có thể hữu ích ghi chép mỗi ngày để nhận diện một cách khách quan những thức ăn có một ảnh hưởng và tránh những chế độ ăn uống quá hạn chế, nhưng hiếm khi có ích. Các probiotique, còn ít được biết rõ, đã không chứng minh lợi ích của chúng đối với phần lớn các bệnh nhân.

    “ Chỉ cần biết ta bị bệnh gì, hội chứng ruột kích thích là gì và nó dẫn đến những triệu chứng đa dạng này như thế nào cũng đã cho phép điều trị tốt hơn căn bệnh của mình, GS Bruley đã nhắc lại như vậy. Khi đó, cùng với bệnh nhân, chúng tôi thiết đặt những mục tiêu điều trị hợp lý để làm giảm tác động của các triệu chứng ở một mức thỏa mãn.”
    Ở Pháp, chỉ có một hiệp hội các bệnh nhân, rất hữu ích đối với loại bệnh lý này : http://www.apssii.org
    (LE FIGARO 26/11/2012)

    2/ HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH : SỰ TĂNG KÍCH THÍCH CỦA NÃO BỘ THỨ HAI.

    “ Sinh lý bệnh lý của hội chứng ruột kích thích (syndrome de l’intestin irritable) vẫn còn không được biết rõ nhưng, khi xem xét các triệu chứng của nó, nhiều hiện tượng xảy ra, nhất là ở ruột, đã có thể được nhận diện ”, Michel Neunlist, giám đốc unité Inserm de neuro-gastro-entérologie của Institut des maladies de l’appareil digestif (Nantes) đã nhấn mạnh như vậy.

    Trong lúc khảo sát triệu chứng đau, các nhà nghiên cứu đã có thể chứng thực rằng những bệnh nhân với hội chứng ruột kích thích thường có một tính nhạy cảm gia tăng đối với kích thích đau đớn, được thể hiện ở hệ thần kinh trung ương (não). Những rối loạn tiêu hóa có thể là do một rối loạn vận động của ruột liên kết với hệ thần kinh ruột (SNE : système nerveux entérique), đôi khi được xem là một não não bộ thứ hai (deuxième cerveau). Thật vậy, ruột là một trong những vùng được phân bố thần kinh nhất của cơ thể và mạng thần kinh này chịu trách nhiệm, một cách tự trị, vài chức năng tiêu hóa như nhu động ruột, khiến thức ăn tiến lên trong ruột. Ruột nhận nhiều thông tin xuyên qua thành ruột nhưng, trong hội chứng ruột kích thích, thành ruột dường như dễ thấm qua hơn so với những người lành để các phân tử đi qua ; những phân tử này bình thường bị giam hãm bên trong ống tiêu hóa.

    SẢN XUẤT SEROTONINE

    Những phân tử này phát xuất từ bên trong ruột, sau đó có thể gây nên một sự tăng kích thích của hệ thần kinh ruột (SNE) (rối loạn vận động ruột) và của hệ thần kinh trung ương (SNC) (đau). Những thông tin này có thể phát xuất từ những vi khuẩn hiện diện trong ruột, mà sự cân bằng bị biến đổi trong hội chứng ruột kích thích (SII), và đặc biệt sản xuất những chất trung gian thần kinh (neuromédiateur). Vài tế bào của thành ruột cũng bị ảnh hưởng : sự vận hành chức năng của những tế bào ruột nội tiết (cellules entéroendocrines), và đặc biệt là những cellules entérochromaffines, có nhiệm vụ điều hòa những chức năng tiêu hóa khác nhau, bị biến đổi trong hội chứng ruột kích thích.

    Một sự thiếu hụt hay một sự sản xuất thặng dư sérotonine như thế đã có thể được chứng thực. Những hiện tượng viêm vi thể (micro-inflammation) cũng đã được quan sát ở niêm mạc ruột và những dưỡng bào (mastocyte) có liên quan trong phản ứng viêm này tiết ra những chất trung gian thần kinh khác nhau, như sérotonine ; khi đó chất này có thể kích thích đồng thời hệ thần kinh ruột (SNE) và não bộ. Tình trạng chướng bụng (ballonnement), gây nên một sự căng trướng ruột, mặt khác có thể làm dễ không những sự tăng tính nhạy cảm (hypersensibilité) mà còn tình trạng tăng cảnh giác (hypervigilance) đối với đau.

    Những quan sát này dẫn đến những giả thuyết về những cơ chế liên quan trong căn bệnh nhưng chúng không cho phép giải thích điều đó. Tuy nhiên những giả thuyết này mở ra những hướng trị liệu để điều trị những triệu chứng chừng nào nguyên nhân chưa biết rõ. Chính như thế mà vài thầy thuốc quyết định kê đơn những thuốc chống trầm cảm với liều thấp để điều hòa sérotonine, chính vì thế mà những chiến lược chống viêm và những thuốc tác động lên tính vận động của ruột hiện đang được nghiên cứu. Hiện nay, các nhà nghiên cứu ra sức tìm hiểu sự đa dạng của các triệu chứng nhằm hiệu chính một arsenal thérapeutique có khả năng nhắm sát đích nhất mỗi nhóm bệnh nhân có những profil tương tự.
    (LE FIGARO 26/11/2012)

    3/ HỘI CHỨNG RUỘT DỄ KÍCH THÍCH : NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG KHUẨN CHÍ RUỘT.

    “ Ta quan sát, ở những bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích (SII), một sự biến đổi cân bằng của quần thể vi khuẩn của ruột, Annick Berndier-Donadille, chuyên gia vi trùng học và giám đốc nghiên cứu thuộc Institut national de la recherche agronomique (Inra) đã nhấn mạnh như vậy. Sự biến đổi cân bằng này của khuẩn chí ruột (dysbiose) có những hậu quả lên quá trình tiêu hóa và lên sự vận hành chức năng của ruột và có thể là nguồn gốc của nhiều triệu chứng.” Nhiều nhà nghiên cứu ngày nay cố gắng tìm hiểu vai trò của microbiote, và nhất là của khuẩn chí ruột (flore intestinale), trong hội chứng ruột kích thích. Những khả năng phân tích phân tử mới đây đã cho phép xác lập rằng microbiote bị biến đổi nhưng những kết quả thay đổi tùy theo mỗi công trình nghiên cứu lên bản chất chính xác của sự biến đổi này.

    “ Các công trình nghiên cứu đôi khi tìm thấy một nhóm vi khuẩn thặng dư hay một nhóm khác tùy theo các nước ”, Annick Bernalier-Donadille đã nhận xét như vậy. Cùng với nhóm nghiên cứu của mình, bà đặc biệt quan tâm khảo sát microbiote ruột của các bệnh nhân bị thể bón của hội chứng ruột kích thích. Bà đã nhận diện nhiều nhóm cơ năng dường như bị ảnh hưởng ở những bệnh nhân này, đặc biệt về chuyển hóa của lactate, của butyrate và của hydrogène. Một nhóm các vi khuẩn từ công trình nghiên cứu này : những bactérie sulfatoréductrice sử dụng lactate và hydrogène để sản xuất sulfure. Những sulfure là những phân tử khá độc, bị nghi là những chất truyền hơi (gazotransmetteur), có khả năng kích thích và làm dễ tính nhạy cảm và đau tạng.

    “ Trước hết chúng tôi cố tìm hiểu điều gì cho phép những vi khuẩn sulfatoréductrices này thắng thế và nhiên hậu bằng cách nào chúng tôi có thể tái lập sự cân bằng. ” Thí dụ khó mà thiết lập một mối liên hệ với chế độ ăn uống bởi vì những vi khuẩn này can thiệp rất muộn trong chuỗi thoái biến các thức ăn (chaine de dégradation des aliments). Bệnh ruột kích thích xảy ra sau một viêm dạ dày-ruột (gastroentérite) cũng có thể cho những hướng để hiểu căn bệnh : các mầm bệnh gây nhiễm trùng vị tràng tạo nên một sự mất quân bình của microbiote, và tình trạng mất quân bình này không trở lại điểm xuất phát sau khi lành bệnh. Các thành của ruột cũng bị ảnh hưởng bởi loại những bệnh lý này và có thể sau đó tỏ ra hiếu khách ít hay nhiều đối với vài mầm bệnh. Sự sử dụng các probiotique, nghĩa là những vi sinh vật sống được sử dụng như những chất bổ sung thức ăn, đang được khảo sát bởi nhiều nhóm nghiên cứu.

    Nhóm nghiên cứu của Annick Bernalier-Donadille như thế đã dự kiến tái lập chương trình (reprogrammer) microbiote bằng cách đưa vào một khuẩn chí sinh acétone (flore acétogène), thuận lợi hơn và có khả năng cạnh tranh với những vi khuẩn sulfatoréductrice trong ruột. Những nghiên cứu đầu tiên trên động vật đã cho những kết quả đặc biệt đáng lưu ý.
    (LE FIGARO 26/11/2012)

    4/ TẠI SAO PHẢI CHĂM LO KHUẨN CHÍ RUỘT CỦA CHÚNG TA ?

    Professeur Pierre Bourlioux
    Membre de l’académie de Pharmacie


    Ruột già của chúng ta là một hệ sinh thái vi trùng (écosystème microbien) phức tạp được gọi là “ microbiote ”. Ruột già được định cư bởi 100.000 tỷ vi khuẩn, hoặc 10 lần nhiều hơn số lượng các tế bào của chúng ta. Nhờ những tiến bộ khoa học của séquençage des génomes, các chương trình nghiên cứu được tiến hành ở châu Âu (MetaHit) và ở Hoa Kỳ (Human microbiome project) đã cho phép séquencer toàn bộ các gène vi khuẩn của microbiote của chúng ta (métagénome) và đã tiết lộ cho chúng ta sự hiện diện của hơn 10.000 loại khác nhau mà ta có thể chia thành hai loại : những loại mà ta tìm thấy ở tất cả mỗi cá thể, cơ sở của microbiote của chúng ta và loại đặc hiệu cho chúng ta và như thế phân biệt giữa chúng ta với nhau. Ngoài ra, những vi khuẩn này mang số lượng gène 150 lần nhiều hơn các tế bào của chúng ta, điều này mang lại cho chúng nhiều chức năng, chức năng đầu tiên liên quan đến sự tiêu hóa các chất dinh dưỡng không được hấp thụ bởi cơ thể ở ruột non. Những chức năng khác nhằm vào sự hợp tác của microbiote này với niêm mạc ruột để duy trì sự cân bằng cơ quan của chúng ta và bảo vệ chúng ta chống lại những tác nhân gây bệnh ngoại nhập và những căn bệnh do chúng gây ra.

    Trước hết, phải biết rằng microbiote không phải bẩm sinh, ta không sinh ra với nó. Chính trong những năm đầu của cuộc sống mà ta tạo ra dần dần và một cách chọn lọc quần thể vi khuẩn của mình bằng tiếp xúc trực tiếp từ những vi khuẩn hiện diện trong môi trường. Ta có thể nói rằng từ 2 đến 3 tuổi, mỗi người trong chúng ta có một microbiote “ trưởng thành ”, sẽ tiến triển suốt đời mình, đổi mới và dễ hỏng với tuổi tác.

    Chính microbiote cho phép hệ miễn dịch của chúng ta phát triển và như thế bảo vệ chúng ta, trái với điều ta quan sát thấy ở những động vật axénique (không có mầm bệnh) : các vi khuẩn được gọi là “ cộng sinh ” (bactéries commensales), hiện diện thường trực trong hệ sinh thái tiêu hóa của chúng ta, giáo dục hệ sinh thái này ngay từ khi ta sinh ra đời để nó nhận biết điều mà nó cần phải thải bỏ. Như thế, ta biết rằng hệ sinh thái tiêu hóa không được quá bảo vệ (hyperprotégé) chống lại các vi khuẩn của môi trường cũng không phải chịu quá nhiều những điều trị kháng sinh, nếu không sau này sẽ xuất hiện những dị ứng hay hen phế quản.

    Ngoài ra, ta phải biết rằng hệ miễn dịch tiêu hóa của chúng ta chiếm hữu 70% những tế bào của hệ miễn dịch của cơ thể, điều này là hàng rào đầu tiên bảo vệ cơ thể đứng trước ngõ vào của các tác nhân sinh bệnh. Microbiote của chúng ta như thế đóng một vai trò hàng rào chống vi trùng (barrière antimicrobienne) bằng cách ngăn cản những vi khuẩn “ nguy hiểm ” đến định cư. Để nhận biết những vi khuẩn gây bệnh này, mang lại nguy hiểm từ bên ngoài, các tế bào của cơ thể có những thụ thể màng tế bào (récepteurs membranaires) (trong số đó có “ Tolle receptors ”), do Hoffmann (được giải Nobel y học vừa rồi) khám phá. Những thụ thể màng tế bào này nếu được kích thích sẽ là nguồn gốc của phản ứng viêm, phòng vệ đầu tiên của ký chủ đối với nhiễm trùng.

    Microbiote cũng là trung tâm của vài bệnh lý. Mặc dầu sự vận hành chức năng của nó một phần vẫn còn bí ẩn, nhưng dường như chỉ cần một sự mất cân bằng của microbiote cũng đủ để giải thích vài bệnh viêm như bệnh Crohn, hội chứng ruột kích thích (syndrome du colon irritable), những rối loạn cơ năng ruột.. Ngoài ra, sự đối thoại chuyển hóa (dialogue métabolique) giữa microbiote và ký chủ dường như ngày càng rõ rệt trong sự xuất hiện của những bệnh lý khác như bệnh béo phì, hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) hay những bệnh lý tim mạch.

    NHỮNG TÁC NHÂN ĐIỀU HÒA CHỦ CHỐT

    Sau cùng, sự đối thoại microbiote-hệ thần kinh đang trên đà tiến hoá. Hệ thần kinh ruột (SNE : systèm