Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
UyenVy  
#1 Posted : Tuesday, December 13, 2011 8:53:14 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Văn & Ánh : Điểm Sách :Tuổi Thơ Của Tôn Nữ Thu Nga

UserPostedImage

Theo tôi, Huế mà thuộc hoàng phái là Huế đến hai lần. Ý tôi muốn nói Tôn Nữ Thu Nga là một cây bút rất Huế, mặc dù cho tới nay thời gian sống ở hải ngoại của cô thì nhiều hơn tại Việt Nam, và ngay khi còn sống tại Việt Nam thì thời gian ở Nha Trang và một số nơi khác có lẽ nhiều hơn ở Huế. Thế mà nếu hỏi đặc tính nổi bật trong văn chương của Thu Nga là gì, thì tôi trả lời ngay, là Huế.Kể ra, tôi chỉ có một tiêu chuẩn rất chủ quan để khẳng định tính chất Huế: thanh cảnh.
Đối với bản chất khá thô thiển của dân Quảng Nam nơi tôi thì việc nhận ra sự thanh cảnh của người Huế rất dễ dàng. Giọng Huế nhiều âm điệu và dịu dàng, thái độ Huế tế nhị, thức ăn Huế đi rất sâu, rất tinh tế vào nghệ thuật thưởng ngoạn ẩm thực, nhà ở của người Huế, dù là ở Huế hay ở Đà Nẵng, Sài Gòn hay tại nước ngoài đều có một cái “gu” mỹ thuật riêng...
Từ đó, văn chương nghệ thuật dĩ nhiên cũng có nét riêng, vừa bác học vừa tao nhã. Nói chung, Huế có một nền văn hóa đặc thù, bắt nguồn từ triều đình nhà Nguyễn cai trị một thế kỷ rưỡi tại đất Thuận Hóa. Chính vì thế mà tôi nói là người hoàng phái “Huế đến hai lần”.
Tôn Nữ Thu Nga là một chuyên viên về y tế ở Mỹ, thế mà cô rất ham thích nghệ thuật, thoạt tiên là nghệ thuật tạo hình bằng nhiếp ảnh, rồi sau đó, viết văn. Có lẽ cái trước làm nảy sinh cái sau. Chụp hình thì phải biết tìm ra những góc đẹp của sự vật, phải lên đường đi đến những nơi danh lam thắng cảnh, đi rất nhiều nơi, trong nước Mỹ, tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới, chính hành trình đi tìm cái đẹp hình thể ấy tạo ra nhu cầu viết để ghi lại những vẻ đẹp khác không thể thể hiện bằng môn nhiếp ảnh.
Xung quanh một tấm ảnh đẹp có thể là cả một câu chuyện nhiều tình tiết (một cuộc hành trình gian nan mà lý thú, những lần gặp gỡ ly kỳ, những cái duyên may không thể ngờ trước v.v...) mà khi ngắm bức ảnh người ta không thể thấy được, người chụp ảnh thấy rằng nếu không viết ra thì... tiếc lắm.
Tôi đoán đó là một trong những động lực khiến Thu Nga cầm bút viết. Dĩ nhiên tiềm năng nghệ thuật đa dạng của cô đã có sẵn từ lâu, khi cái duyên nợ văn nghệ chằng chịt đã buộc trói thì cái này làm nảy sinh và bổ túc cho cái kia thôi.Đây là tập hợp đầu tiên các bài viết của tác giả trong khoảng thời gian trên dưới mười năm để in thành sách. Trong cái nhìn của tôi, tất cả các bài viết đều thuộc dạng bút ký, kể lại những mẩu chuyện thật mà chính tác giả đã trải qua, kể cả những truyện liên quan đến nghề nghiệp y tế của cô.
Những bài liên quan đến Huế, tác giả viết như cá bơi trong nước, với những nhận xét như đã có từ lâu trong tâm khảm nay chỉ việc tuông ra, tiếng địa phương dùng một cách thoải mái không e dè, chuyện riêng của gia đình được trình bày tự nhiên như của chung cả xứ Huế... khiến người đọc cảm động vì sự thành thật của nó đến nỗi thấy chuyện đó cũng có thể là chuyện của mình.
Thật ra những mảng đời của thời thơ ấu, hình ảnh ngôi nhà xưa của ông nội cùng nét cổ kính của một nếp sống xưa... ai mà chẳng có, chuyện của người này có thể phảng phất của người kia, tất cả có thể thành một cái vốn văn hóa chung để mà tưởng nhớ, để mà hoài niệm.
Truyện Tuổi Thơ là một điển hình của loại hoài niệm này, có thể xem là một truyện ngắn hay, mặc dù tính chất tự sự rất rõ. Chuyện kể của một cô con gái mười hai tuổi, cùng gia đình từ Nha Trang về Huế thọ tang ông nội, đã cho thấy những mảng sinh hoạt đặc thù của một nhà có tang xứ Huế.
Giọng kể hồn nhiên của cô gái, gần như gặp gì nói nấy, nhưng lại đằm thắm, tự nhiên, lôi cuốn một cách đầy nghệ thuật. Có những chi tiết như thế này:
“Lũ trẻ con hàng xóm bu ngoài cửa tò mò ngắm nghía bọn trẻ vừa đến từ Nha Trang, như những kẻ mới đến từ một hành tinh khác. Bác Ben, tuy được chúng tôi gọi bằng bác nhưng chỉ lớn hơn tôi vài tuổi, rủ rê:
- Đi hái ổi không?
Không chờ mẹ cho phép, tôi chạy theo bác, trốn ra vườn. Ổi nhà nội năm nay sai trái, mơn mởn treo trên những nhánh vừa tầm tay với, tôi ham hố bẻ trái nhét đầy hai túi.”Thật là một đoạn văn đầy thú vị vì đây là một việc mà tôi hay bất cứ đứa trẻ nào từ xa về thăm quê cũng gặp, cũng vui sướng ngay lập tức với khu vườn cây trái của ông bà mình. Bác Ben của Thu Nga là điển hình của một người thân cùng lứa nào đó của tôi hay của bất cứ ai, sẵn sàng rủ rê giới thiệu cho đám trẻ ở xa về các cây cối đầy quả ngon ngọt trong khu vườn. Nếu đây là một truyện hư cấu, việc tác giả chọn chi tiết này để cho vào truyện quả là rất tài tình, nhưng trong lời kể của một cô bé 12 tuổi, nhớ đến chi tiết này lại càng tài tình hơn.
Cứ như thế truyện Tuổi Thơ trôi đi trong lời kể “hồn nhiên” của cô bé, nhưng tất cả chi tiết trong chuyện kể, từ hình ảnh của những người khóc mướn, các nhạc cụ của ban nhạc bát âm, hay ăn bún bò nơi nghĩa địa trong ngày cất đám... đều đặc thù và được sắp xếp như chẳng cố ý gì nhưng thật ra rất nghệ thuật, khiến lòng người đọc bồi hồi chùng xuống khi ngẫm nghĩ rằng ai cũng có một vùng tuổi thơ đầy kỷ niệm, nhưng đang ngày một xa mờ dần.
Đó là Huế của tuổi thơ. Thu Nga còn nói nhiều về Huế của ngày hôm nay dưới con mắt của một “Việt kiều” từ Mỹ về, nhưng tâm tình thì vẫn vậy, làm như đặt chân về tới Huế thì tất cả chuỗi ngày đi xa bỗng biến mất.
Thăm ông chú bị tâm thần nhẹ vẫn sống mãi trong ngôi nhà xưa với những ảo tưởng của mình, mà “từ một ngõ ngách sáng suốt nào đó trong trí, chú cương quyết ôm chầm mảnh đất bà Cố để lại, mấy mươi năm chính quyền và xóm giềng manh tâm chiếm đoạt nhiều lần nhưng vô hiệu”, tác giả đã cho thấy một mẫu người điển hình luôn luôn bám vào các định kiến của dĩ vãng.
Căn bệnh tâm thần của người chú có thể là tượng trưng cho sức mạnh tiềm tàng xưa cũ của Huế, đang cố gìn giữ một nề nếp tốt đẹp nào đó đã được quá khứ xây dựng nên.
Khi theo một cô gái hướng dẫn đi chụp ảnh suốt ngày, tác giả đã ghi lại một chi tiết rất kín đáo:
“Tôi và Hòa Nam vô chùa Diệu Đế, một người đàn bà lớn tuổi nhìn Hòa Nam:
‘Màu áo dài tím dễ thương lắm...’ Nhìn khuôn mặt đơn sơ hiền lành của Hòa Nam bà tiếp lời ‘... rứa mới tỏ ra cái hạnh của gái Huế’. Tôi mỉm cười nhìn bà cám ơn thay cho Hòa Nam vì biết cô đang mắc cỡ. Chao ôi, khó cho tôi thật, làm sao tôi diễn tả được cái hạnh của người con gái Huế trong tác phẩm của mình?”
Không cần định nghĩa, giải thích cái “hạnh” đó là gì, chỉ cần ghi lại một chi tiết thế thôi là đã nói lên được nhiều lắm rồi về cái truyền thống văn hóa đẹp đẽ của xứ Huế, mà biết bao cái thô tục của một cuộc đổi đời đã tỏ ra không đủ sức phá hủy đi.
Một cái “hạnh” định hình phải qua bao thời gian với một nề nếp đạo đức được liên tục vun xới giữ gìn suốt nhiều thế hệ, dù bị đe dọa bằng bạo lực hay bằng những cung cách sống thực dụng một cách phũ phàng cũng không dễ gì mà biến đi một sớm một chiều.
Người của xứ Huế, người yêu xứ Huế chỉ cần nhìn ra một chi tiết nhỏ thế thôi là đủ an tâm cho cả một nền tảng tinh thần vững chắc của cố đô yêu dấu vẫn còn bàng bạc trên sông Hương núi Ngự, vương vất trong thành cổ miếu xưa và trong lòng bao thế hệ đang tiếp nối.
Trong những chuyến đi về Việt Nam, ngoài Huế ra Thu Nga còn đi nhiều nơi khác, khi thì thuần túy du lịch, khi thì làm công tác y tế với Project Việt Nam. Đối với con người nghệ sĩ nơi Thu Nga, đó cũng là những dịp để chụp ảnh và ghi nhận để viết du ký về sau.
Tôi tự hỏi: cái nào là chính? Và phân vân thấy khó trả lời. Tôi biết niềm đam mê môn nhiếp ảnh của Thu Nga, nhưng khi đọc các bài du ký thì mới thấy nơi người này cái nợ chữ nghĩa cũng không phải là nhẹ. Cô có lối viết hồn nhiên kể lại sự việc trên đường đi như chẳng cần quan tâm đến kỹ thuật, nhưng những gì cô kể tưởng như “thấy gì nói đó” thật ra đã qua một sự lựa chọn rất tinh tế, lối lựa chọn có lẽ phần nào chịu ảnh hưởng của nghệ thuật chụp hình nhằm phát giác những góc độ thật độc đáo.
Vì thế bài viết của Thu Nga luôn luôn sinh động, dù là khi gặp gỡ những cảnh trí cùng người dân tộc thiểu số ở Sapa, đi tìm thăm bà con ở Quảng Ngãi, ngồi thuyền và leo núi để đi thăm chùa Hương, hoặc trong khi làm công tác xã hội, y tế...
Bàng bạc khắp các bài viết chúng ta nhận thấy tác giả không mấy khi đề cập đến những gì tiêu cực, dù là chuyện ngoài xã hội hay trong tâm tư tình cảm của mình.
Thu Nga trò chuyện, chụp ảnh với các em nhỏ dân tộc thiểu số miền thượng du Bắc Việt với sự vui thích rất tự nhiên; làm bạn với những người đàn bà người Dao đỏ, người H’mong đen, người Tày như chẳng có cách biệt gì về văn hóa, trình độ; mua bánh kẹo cho một lớp học ở Mộ Trạch và vui đùa cùng các em học trò nhỏ; bồi hồi với thành phố Nha Trang nơi đã trải qua tuổi thơ nay đã quá nhiều thay đổi; tận tình săn sóc một bệnh nhân tí hon trong bệnh viện... Luôn luôn ở đâu cũng với tấm lòng yêu mến. Phải nói là chính tấm lòng ấy đã xây dựng nên tác phẩm này.
Quả cụ Nguyễn Du đã nói không sai, “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”, khi đã có cái tâm thiện lành thì biểu lộ nào cũng tốt đẹp.
Và khi cái Thiện lại đi chung với cái Mỹ như trong trường hợp Thu Nga thì càng tốt đẹp gấp bội, dù trong một tác phẩm nhiếp ảnh hay một bài bút ký. Nhưng tôi có cảm tưởng những ghi nhận của tôi ở đây chưa được đầy đủ, không diễn đạt hết những gì cần nói về tác phẩm này, vậy xin trân trọng dành phần còn lại để mong quý độc giả khám phá nốt.

Phạm Xuân Đài
2011

Edited by user Saturday, February 11, 2012 10:07:12 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#2 Posted : Saturday, February 11, 2012 10:12:52 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Duyên Anh (1935-2.1997) chọc trời khuấy nước

Nhà văn nhà báo Duyên Anh (1935-1997) là khuôn mặt khó vẽ nhất trong những chân dung văn nghệ sĩ nổi tiếng sau 1954 tại miền Nam.
Cuộc sống và cái chết của cây bút nòng cốt của tuần báo Con Ong gây nhiều xung đột, hành trình văn chương của tác giả Hoa Thiên Lý (tác phẩm đầu tay, Sài Gòn) tạo nhiều mâu thuẫn, trong khi ấy, ông là nhà văn có nhiều tác phẩm xuất bản nhất (trên 50 nhan đề sách trước 75), là người có nhiều độc giả nhất, và mặt khác, là cây bút gây nhiều thảo luận nhất trong các giới.
Con người ấy lại là chủ nhiệm một tờ báo thiếu niên, là Tuổi Ngọc, viết truyện cho lớp choai choai:
-Tuổi Mười Ba (1969), Dzũng Ða Kao (1966), Ngày xưa còn bé (1968),... và viết về thế giới hè phố, những nhân vật bị coi là côn đồ, du đãng, đến khi ra hải ngoại. 1983, lại trở thành tác giả của những vấn đề thời thế, viết về cộng sản, về chế độ cầm quyền trong nước:
Một Người Tên Là Trần Văn Bá (1985), Một Người Nga Tại Sài Gòn (1985), Nhà Tù (1987), Trại Tập Trung (1988), và cuốn hồi ký văn nghệ Nhìn Lại Những Bến Bờ (1988)...
Viết về Duyên Anh cũng giống như đụng vào một bầy ong, chạm vào một tổ kiến, mà con ong cái kiến ấy lại chính là các tác phẩm của ông.
Nhiều vô kể và ồn ào vô kể. Tháng 2 này là ngày giỗ thứ 15 của tác giả Ðiệu Ru Nước Mắt (1965), tôi sẽ viết về ông như viết về một đồng nghiệp, một người bạn, qua vài kỷ niệm riêng tư.
Duyên Anh tên khai sinh là Vũ Mộng Long, người Thái Bình, sinh ngày 16 tháng 8, 1935, năm 1954 bỏ gia đình lớn, di cư vào Sài Gòn một mình, sinh sống trong ngành thông tin thuộc Bộ Thông Tin.
Khi gần 30 tuổi anh mới xuất bản tác phẩm đầu tay nhan đề Hoa Thiên Lý. Hôm ấy nhân đến thăm một người bạn làm báo cư ngụ ở khu Bùi Viện, gần ngã tư Cống Quỳnh, Nguyễn Cư Trinh, đang đi xăm xăm tôi bị chận lại trên hành lang và tác giả Duyên Anh tặng tôi cuốn sách của anh. Ðó là lần đầu chúng tôi gặp nhau.
Trước đó khoảng 5, 7 năm, anh sống ở Trảng Lớn-Tây Ninh, như anh kể chi tiết trong cuốn hồi ký: “Tôi dẫn cô Hiên đi trên hương lộ đi ra thị xã Tây Ninh (...)
Cô Hiên và tôi đang sống và bây giờ là 1956 (...)
Tôi ở Trảng Lớn hơi lâu rồi... giữa tôi và sinh hoạt văn nghệ, báo chí Sài Gòn hoàn toàn xa lạ. Văn nghệ ví như đất thánh. Mà tôi, kẻ ngoại đạo.
Tôi ôm mộng trở thành nhà văn cũng giống những kẻ tưởng mình sẽ câu được trăng sao in hình trên mặt nước.” (Duyên Anh, Nhìn Lại Những Bến Bờ, tr. 202- 203)
Tuy viết thế mà chỉ ít lâu sau, chàng trẻ tuổi đột ngột bỏ cô Hiên, vì muốn một cuộc sống bay bổng hơn một cảnh đời bình dị.
Không rõ hư hay thật, cuốn hồi ký kể lại chuyện Vũ Mộng Long đang ôm đàn hát (đàn của Ty Thông Tin Trảng Lớn), thì một ông thầy bán thuốc sán lãi chạy xe ngang qua.
Nghe tiếng hát chàng, ông ta vào làm quen, rủ chàng hãy đi theo ông ta, dùng tiếng hát mưu sinh đây đó, sống cuộc đời tự do nay đây mai đó, hơn là chôn chân ở một xóm quê. Nghe lời rủ quyến, chàng bỏ cô thôn nữ đi theo tay bán thuốc dạo.
Nhưng chỉ hơn 4 tháng sau, hai người chia tay vì sứ mệnh: ông bán thuốc chính là một nhân vật đảng phái quốc gia ở miền Trung, bị mật vụ của ông Ngô Ðình Diệm truy nã, đang đi kết hợp lại các đồng chí chống Diệm và chống cộng sản, còn Vũ Mộng Long trở về Sài Gòn, quyết đi vào văn nghệ. Trong đoạn hồi ký này, xuất bản vào năm 1988, Duyên Anh đã vô tình báo trước cái chết thảm của mình vào 9 năm sau.
Vốn là trên bước đường bán thuốc dạo (kéo dài 4 tháng 13 ngày), hai thầy trò đàm đạo đủ chuyện nhân sinh, triết lý, đạo đức, chính trị, và một hôm thầy bảo trò: “Mày mâu thuẫn với chính mày. Mày sẽ trở thành con người tổng hợp trí nhớ, trí tuệ, trí khôn và trí ngu. Rốt cuộc, mày là đứa đối địa, nghịch thiên, chung thân bất mãn, chồng chất oan khiên.
Mày sẽ giống Nễ Hành* [*một tay thuyết pháp trong truyện Tầu] không chết bởi tay Tào Tháo, Lưu Biểu, mà bị bêu nhục bởi đám vô lại Hoàng Tổ.” (tr. 222)
Tám chín năm sau, trong khi đang đi trong khu tiệm sách Tú Quỳnh trên đường Bolsa, Quận Cam, Duyên Anh bị đánh bởi một bàn tay sắt. Theo lời của một họa sĩ nhân chứng ngồi trong tiệm ăn Ngân Ðình gần đó kể lại, thì Duyên Anh đang đi, có hai kẻ từ phía sau tiến đến gần, lên tiếng gọi. Duyên Anh ngoái cổ lại xem ai, thì một bàn tay sắt vung lên, đánh một cái gọn vào thái dương anh.
Chỉ một cái, rồi người đó và kẻ đồng hành đi thẳng, ra đường Bolsa, khuất sau một góc nhà về phía đường Bushard, biến mất. Duyên Anh bất tỉnh, được đưa vào bệnh viện.
Vì định cư ở Pháp, anh không có bảo hiểm sức khỏe ở Mỹ, nên được đưa lên máy bay về Pháp. Cú đánh đã khiến nạn nhân tê liệt nửa người, sau này phải tập viết bằng tay trái.
Anh từ trần ngày 6 tháng 2, 1997 tại Paris. Vụ ám hại Duyên Anh đã tốn nhiều giấy mực, và nước bọt, khi dư luận đặt các giả thuyết ai muốn giết nhà văn? Việt Cộng, tư thù cá nhân, hay một tổ chức kêu gọi kháng chiến, như câu văn “có linh” anh viết từ nhiều năm trước, viết ở trên: “...mày sẽ giống Nễ Hành, chết bởi tay Hoàng Tổ.”
Văn chương của một tác giả nhà nghề, viết cách gì đi nữa cũng hàm chứa tâm thức và thái độ đối với cuộc sống. Riêng về Duyên Anh, người viết bài này còn nghĩ rằng văn thơ anh là vũ khí của anh.
Một hai năm sau cuộc đảo chính 1 tháng 11, 1963, hai Tướng Trần Văn Ðôn, Tôn Thất Ðính, lúc ấy đang là nghị sĩ Thượng Viện, xuất bản nhật báo Công Luận, Duyên Anh phụ trách trang trong, có mang tôi vào làm việc một thời gian, trong khi tôi cũng đang viết truyện dài đăng báo từng kỳ nhan đề “Cuối cùng em đã đến” cho báo này.
Anh cũng nói với ông Tướng Ðính để một mục cho Mai Thảo, lấy tên là “Nhận đường,” đến giờ giao bài, Mai Thảo không viết được, chúng tôi bàn nhau và thỏa thuận hôm đó tôi phải viết thế, nhưng không ký tên, làm như bài đó là do Mai Thảo viết.
Sau này mục “Nhận đường” xuất hiện hàng tuần trên tờ Khởi Hành. Tháng nào đi cắt tóc ở đường Gia Long, Duyên Anh cũng kéo tôi đi cùng, nói đủ thứ chuyện đời.
Thân Duyên Anh từ niên thiếu có nhà thơ Vũ Băng Ðình, giám đốc báo chí Phủ Tổng Thống, hiện là chàng duy nhất còn sống trong 8 chàng “nhà quê tỉnh Lúa” (Thái Bình) năm 1950 rủ nhau “dinh tê” vào Hà Nội chạy giặc Pháp. Băng Ðình làm bài thơ có đoạn như sau về bạn:

Duyên Anh văn sĩ Vũ Mộng Long

Bút sắt vườn hoang lúc thẳng cong

Chúng bẩn ông tha hồ viết nhảm

Lâu đài “công lý” ngụ lâu không.

(Thái Bình Bát... Mẻ, Khởi Hành)

(Mấy chữ “lâu đài công lý” gồm hai nghĩa: ngoài nghĩa bóng, còn nghĩa thật: nhà Duyên Anh là một tòa biệt thự khá sang có sân có vườn ngay trên đường Công Lý, là con đường xe hơi có cắm cờ quốc gia qua lại mỗi khi đưa đón quốc khách giữa phi trường Tân Sơn Nhất và Dinh Ðộc Lập.) Ðể kết thúc bài viết nhớ bạn ngắn ngủi này, mời độc giả đọc một đoạn thơ của chính tác giả cuốn truyện “Nặng Nợ Giang Hồ”:

Tôi khôn lớn ở Sài Gòn

Biết thấm nỗi buồn sau mỗi cơn chính biến

Chưa hề đi lính

Nhưng bạn thân chết trận dần mòn...

Em ơi chiều ba mươi tháng tư

Tâm hồn tôi chít mảnh khăn sô

Tôi đứng giữa hoàng hôn nào đó

Như ngày xửa ngày xưa bé nhỏ

Ðếm xác người chết đói ngổn ngang

Ôi xác ngày xưa

Hôm nay súng ngắn súng dài mũ sắt quân trang

Nằm rên rỉ dưới dép râu cộng sản...

Tôi đã đến vùng Orange County

Của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ
Và cần thiết thơ tôi tuyên chiến

(...)
Thứ thơ văn tô móng tay khi dân tộc đói nhăn răng

Thơ văn nhầy nhụa môi son

Vênh vang trưng diện...
(...)

Tôi làm thơ không gióng trống phất cờ

Tôi làm thơ vì công bằng lẽ phải

Thơ nâng niu nỗi khổ mủ sưng

Thơ vuốt ve niềm hiu quạnh quê hương

Thơ tôi sẽ tiết kiệm giùm nước mắt

Sẽ lãi gấp trăm trương mục nụ cười...

(Duyên Anh, Nhân Danh Tất Cả Những Gì Tôi Biết)

Viên Linh
UserPostedImage
UyenVy  
#3 Posted : Monday, April 9, 2012 2:01:16 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Gió Mùa Đông Bắc

Gió Mùa Đông Bắc là tên cuốn “tự truyện” của Bác Sỹ Trần Nguơn Phiêu, do nhà xuất bản Hải Mã phát hành. Sách dày 506 trang, gồm 37 chương, in bìa cứng, chữ mạ vàng rất trang trọng. Bằng tất cả sự thận trọng và trân quý, chúng tôi đã đọc cuốn sách và có đôi hàng nhận xét về cuốn sách.
Đây là một cuốn bút ký hiếm quý. Hiếm vì cuốn sách hầu như chứa đựng được hầu hết những biến cố quan trọng của đất nước chúng ta từ sau đệ nhị thế chiến cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, đặc biệt ở Miền Nam. Tác giả từng là một thiếu niên tham gia vào những sinh hoạt tranh đấu dành độc lập cho xứ sở.
Phụ trách báo Nam Thanh của tổ chức Nam Bộ Thanh Niên Kháng Chiến Đoàn. Đã trực tiếp thấy bộ mặt tàn bạo của Cộng Sản, ông bỏ vào thành tiếp tục đi học và trở thành Bác Sĩ Y Khoa Hải Quân.
Biến cố nào tác giả cũng có những dữ kiện chứng minh thật cụ thể do chính mình tham dự, hay do những nhân chứng đáng tin cậy.
Quý, bởi xuyên suốt 500 trang sách ta thấy được tấm lòng tha thiết của tác giả với đất nước, với thân tộc, cũng như với bằng hữu. Có người ở phe này, kẻ ở phe kia, khi là người cùng chung sống lúc hàn vi, khi là những kẻ bên kia chiến tuyến.
Giữa những cảnh huống éo le, tác giả luôn thể hiện được tấm lòng chung hậu. Và bẳng một bút pháp êm đềm, rộng lượng của Miền Nam, tác giả đã cho chúng ta thấy được lòng bao dung, đơn giản của người Miền Nam cùng sự sung túc của đất nước này bao phủ lên mọi cảnh huống của thời cuộc trong hoà bình cũng như trong thời ly loạn. Qua những trang sách ta gặp những người từng là danh nhân của thời cuộc, nhưng ta cũng thấy họ từ những ngày còn trẻ thơ, đã được nuôi dưỡng trong những gia đình nề nếp.
Riêng với những người cộng Sản thì lại khác. Từ trong trứng nước họ là những người khác, suy nghĩ khác, đầy xảo quyệt, dối trá và cực kỳ tàn bạo.
Hệt như những người Cộng Sàn ở Bắc, họ đã thẳng tay tàn sát những người tuy cùng chiến đấu chống Pháp, nhưng khác chính kiến với họ. Ta hãy nghe Dương bạch Mai nói với Phan văn Hùm: “ ‘Anh Hùm, tôi nhớ lúc ở Côn Đảo, trong những bữa ăn như chiều hôm nay, anh thường ngồi bìa, đưa lưng hứng chịu roi vọt của cai tù để anh em được ăn yên ổn.
Nhưng nay chúng tôi lãnh đạo cách mạng. Chúng tôi không chấp nhận đường lối: Đánh chung, Đi riêng của các anh’. Sau bữa chiều đó, nhóm chiến sĩ đệ tứ đã bị đưa đi, không còn hiện diện trong trại giam nữa.” ( trang 300). Từ đó người ta không ai gặp Phan văn Hùm ở đâu nữa.
Những cảnh huống như thế tràn đầy trong sách. Kể từ 30 tháng 4 năm 1975, người Cộng Sản đã tạm thời cướp được đất nước chúng ta. Nhưng đất nước sẽ đi về đâu. Ta có thể lấy lời của Giáo Sư Phạm Thiều, một người đã bỏ cả cuộc đời đi theo Cộng Sản, khi về già từ Bắc về lại Miền Nam, ông nhận xét về người Cộng Sản như sau :
“Dốt mà lãnh đạo nên làm Dại.
Dại mà muốn thành tích nên báo cáo Dối.
Dốt, Dại, Dối, đó là ba điều làm cho các nước Xã Hội Chủ Nghĩa sụp đổ, làm cho nước ta đi từ sai lầm này đến sai lầm khác”. ( trang 37).
Bỏ ra ngoài vấn đề của một thời oan trái, cuốn sách còn lấp lánh những góc cạnh rất đẹp của đời sống. Nói về những kỷ niệm khi còn bé được mẹ dội nước tắm cho, ông viết : “Nắng chiều chiếu qua những giọt nước còn đọng trên mi, mặt mẹ Triệu cúi gần mặt Triệu, nên khi mở mắt Triệu thấy hình ảnh mẹ lung linh tuyệt đẹp…” Trong văn chương Việt Nam, có lẽ đây là lần đầu tiên hình ảnh người Mẹ được ghi lại thân thương, đơn giản mà đẹp đẽ như thế, khiến “Tám chục năm về sau, mỗi lần tưởng nhớ đến mẹ, Triệu vẫn còn giữ mãi nét mặt của mẹ qua ánh nước long lánh của buổi chiều ngày đó.” (trang 23).
Và suốt chiều dài của đời sống, từ một ngưởi học trò sống ở vùng quê, mồ côi mẹ rất sớm, lớn lên ở Sài Gòn dưới sự trông nom của ông bà ngoại, rồi đi du học tại Pháp để trở thành vị Bác Sĩ Y Khoa của Hải Quân Việt Nam.
Với biết bao thay đổi, nhưng dưới nhận xét tinh tế của ông, hầu như không có cảnh trí nào đặc biệt mà ông không ghi nhận. Sống ở Bordeaux, Pháp trong 6 năm trời, cái nôi của rượu vang, ta hãy nghe ông nói về cách thưởng thức rượu vang của xứ này : “... Khách sành điệu cần nhìn bề mặt rượu trong ly. Ven bờ rượu thấy trong sáng và tròn trịa là rượu còn non ngày tháng.
Ven bờ rượu màu hổ phách là rượu đúng tuổi uống. Nếu màu ven rượu chuyển sang màu đỏ như gạch thì quả đã quá già ... để biết tuổi rượu là nên nghiêng ly cho rượu sắp trào rổi nhanh nhẹn dựng ly trở lại. Nếu chân rượu rút từ từ xuống ven bờ là độ cồn đã cao, không phải rượu non tuổi.
Theo chủ quán tiếng nhà nghề gọi là ‘chân rượu’ ( jambe).”
Những ghi nhận chi ly như thế nhiều lắm. Một ghi nhận khác về Hải Quân, khi ông nhắc đến khiến tôi giật mình. Đó là trên chuyến hải hành vượt Thái Bình Dương của chiến hạm Nhật Tảo, HQ 10, kỳ hiệu M được kéo lên trên kỳ đài khi có sự hiện diện của vị y sỹ trên chiến hạm.
Điều ấy ai là những sĩ quan Hải Quân cũng biết, cũng được học, nhưng hầu như không phải xử dụng bao giờ, nên không nhớ. Và cũng trên hải trình lịch sử từ Mỹ vượt Thái Bình Dương về Việt Nam, tôi cũng đã trải qua.
Khi đã ra khỏi eo biển của Phi Luật Tân, radio trên tàu HQ 504 đã bắt được làn sóng thân thương của đài Sài Gòn, quê nhà đã gần, bỗng có một nhân viên thần trí bất thường vì những ngày dài hải hành trên đại dương mông mênh, bốn phương không bờ bến, nên anh ta phát khiếp, bỗng lấy dao cứa nát bắp tay mình, máu phun như tưới. Anh y tá cuốn chặt cánh tay người bị thương để cầm máu, rồi Hạm Trưởng phải liên lạc gấp với Sài Gòn, xin trực thăng bay ra, đáp xuống sân chiến hạm bốc anh ta về bịnh viện Cộng Hoà. Khi ấy, nếu gặp chiến hạm có kéo cờ M (Medecin), thì mọi việc đã được giải quyết gọn gàng.
Chính ghi nhận này đã chứng tỏ rằng Bác Sĩ Trần Nguơn Phiêu là một người rất chi tiết, ông không bỏ sót một sự kiện gì đáng chú ý trong cuộc sống. Song cũng chính suy nghĩ này khiến tôi tìm chưa ra ý nghiã tên sách: Gió Mùa Đông Bắc.
Trong 500 trang sách, Mùa Gió Đông Bắc chỉ được ông nhắc đến hai lần. Lần một khi ông tham dự đón đồng bào Miền Trung đi định cư ở Miền Nam.
Ông đã chứng kiến cảnh sóng gió như thế nào khi Gió Mùa Đông Bắc thổi, khiến mọi người trên tàu nôn mửa, có mấy ngưởi đàn bà đẻ non, được Bác Sĩ Phiêu săn sóc, mẹ tròn con vuông. Và chót hết ở cuối sách ông viết sau khi đã thắp hương lên bàn thờ gia tiên và bàn thờ Phật, cung kính khấn lời giã từ, chính lúc ấy đài phát thanh loan tin tức khí tượng và ông đã ghi lại: “Tin tức cho tàu chạy ven biển: Hôm nay gió mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải. Trời không nhiều mây nhưng sẽ có mưa rào rải rắc. Biển động mạnh.”
Cuốn sách đã được đóng lại với hàng chữ này, khiến lòng tôi ngẩn ngơ.
Phải chăng cuộc đời ông đã bị Gió Muà Đông Bắc mời gọi. Ngọn gió làm điêu đứng những người đi biển, những người lính mà ông, tuy không phải dày dạn với gió mưa, nhưng ông đã suốt đời gắn bó với họ qua bao nhiêu nỗi vui buồn. Khi vận nước đã khác, như đa số những người lăn lộn với thời cuộc, tất cả đã phải bỏ nước hướng ra biển khơi, không biết ngày mai ra sao. Giữa lúc ấy, cuối tháng 4 năm 1975, là cuối mùa Đông Bắc, “biển động mạnh.”
Phải chăng đó là kỷ niệm, là nỗi niềm của vị Hải Quân Y Sỹ Đại Tá Trần Nguơn Phiêu, nguyên Trưởng Khối Quân Y Hải Quân, nguyên Cục Phó Cục Quân Y, nguyên Tổng Trưởng Xã Hội của chính phủ VNCH?
Nghĩ thế, là một người đi biển, người viết xin trân trọng cám ơn Bác Sỹ và luôn nghĩ rằng, ở ngoài tuổi 80, ông đã có một món quà hiếm quý để lại cho mai sau. Một tấm gương trong sáng của người trí thức Miền Nam.

Phan Lạc Tiếp
UserPostedImage
UyenVy  
#4 Posted : Tuesday, April 17, 2012 8:46:55 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Ðọc ‘Hội và Ngộ’ của Trịnh Hội

Ðơn giản, nhẹ nhàng, hài hước và một chút tếu táo, là những gì tôi nghĩ về văn phong của Trịnh Hội trong “Hội & Ngộ,” bên cạnh những vấn đề đa dạng được ghi lại trong nội dung quyển sách đầu tay của tác giả này.
Tôi không gọi Trịnh Hội là nhà văn, vì thực sự anh không phải là nhà văn. Tôi cũng không gọi Trịnh Hội là nhà báo, vì anh không phải là nhà báo, dù mấy năm qua anh là người viết cho cột báo thường xuyên
“Ði và Học” của nhật báo Người Việt.
Ðơn giản, tôi nghĩ Trịnh Hội là Trịnh Hội, một người làm nhiều công việc khác nhau, nhiều thú đam mê và dùng chữ nghĩa để gom góp, trải bày những điều anh thu nhặt được trong quá trình làm việc, cũng như ghi nhận những cảm xúc, những suy nghĩ chợt có trong bước đường lãng du của mình.
Với suy nghĩ đó, tôi đến với “Hội & Ngộ” của Trịnh Hội trong tâm thế khá thoải mái, không kỳ vọng, không đòi hỏi, chỉ đọc và đọc.
Thế nhưng, lạ là càng đọc càng thấy ngồ ngộ, thấy hay hay, đến khi lật đến trang cuối cùng thì mới ngẩn ra, “Ồ đọc 'Hội & Ngộ' của Trịnh Hội cũng phê lắm chứ!”Quyển sách đầu tay dày hơn 500 trang của Trịnh Hội, người từng tốt nghiệp cử nhân văn chương và luật tại Ðại Học Melbourne (Úc) và thạc sĩ tại Ðại Học Oxford (Anh), được chia ra làm 5 đề mục: Thế Giới, Việt Nam, Văn Nghệ, Chính Trị, và Chuyện Riêng Tư, với tổng cộng 86 bài viết ngắn dưới dạng “blog”. Nếu hình dung một cách giản dị thì cứ như một kiểu nhật ký, không đào quá sâu, không đi vào thật chi tiết bất cứ vấn đề gì.
Tất cả cứ như kiểu anh chàng lãng tử bước qua vùng đất này, tới miền lãnh thổ khác, thấy có cái này hay, thấy có cái kia lạ, gặp được người này tài, tiếp xúc với người kia “xấu,” theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, thế là chàng ngoái đầu, hất mặt, đá lông nheo, “Hey, ở đó có chuyện hay lắm, ngộ lắm á!”
Còn chuyện hay ra sao, ngộ đến mức nào thì Trịnh Hội chỉ kể lướt qua, ai muốn hiểu sâu hơn, tường tận hơn thì xin tự tìm kiếm thêm.
Với chừng ấy đề mục, chừng ấy bài viết, phải nói rằng Trịnh Hội có cơ may đi nhiều, biết nhiều, như trong lời giới thiệu của nhà xuất bản Người Việt có viết:
“Trịnh Hội đi nhiều, phải nói là quá nhiều. Có những vùng đất trên thế giới khó mà mời gọi những người có hoàn cảnh sống ‘chăn êm đệm ấm’. Vậy mà Trịnh Hội cứ thế lao tới, dĩ nhiên một phần vì công việc bắt buộc, nhưng trên hết, vì óc phiêu lưu, mạo hiểm, khao khát những vùng trời mới.”
Cứ nhìn tựa bài, đã thấy bước chân Trịnh Hội ghi dấu những nơi đâu. Từ một đất nước rộng lớn “Mỹ Quốc” đến thành phố đa văn hóa “New York”, từ “Người Việt ở Canada” đến lời “Xin Lỗi” từ Úc, từ Haiti, Uganda, Kampala, đến Kenya, Nairobo, Dadaab, rồi Granada, Alhambra, Bhutan, thậm chí “Vào Cõi Hoang Vu (Leichtenstein)” hay “Lỡ tới Nam Phi”... tất cả cũng đều được Trịnh Hội ghi lại, để “suy cho cùng cũng nhờ đó mà tôi đã thấy và học được rất nhiều, cảm nhận được rất nhiều những trái ngang trong cuộc sống”.
Ði là để cảm nhận, từ con người đến cảnh vật, từ đời sống văn nghệ đến sắc thái chính trị, và hơn hết, đi là để hiểu về chính mình, những điều rất riêng tư hiện hữu quanh mình. Ðó là điều người đọc có thể bắt nhịp được ngay qua từng bài viết ngắn của Trịnh Hội.
Tuy nhiên, điều thú vị đầu tiên tôi bắt gặp ở tác giả “Hội & Ngộ” chính là ở chỗ anh khá sòng phẳng khi bộc bạch về con người mình qua những trang viết.
Anh không tỏ ra khoe khoang vốn hiểu biết của mình. Qua mỗi bài viết, cảm tưởng như gan ruột Trịnh Hội thế nào thì cứ tuồn tuột mà phơi ra, như kiểu “Cái dở của tôi là ở chỗ đó: Biết rõ mình thích làm gì, biết rất rõ ai mình luôn quan tâm, ngưỡng mộ.
Nhưng chưa bao giờ tôi có đủ cam đảm để 'rebel' để đi hết đoạn đường còn lại bất kể khó khăn” (‘Nổi loạn chính đáng - Rebel with a Cause’) hay “Ooops. Tôi lại lạc đề nữa rồi. Thiệt là bậy bạ. Xin lỗi quí độc giả nha. (“Cô Tuyết”), hoặc như “Cũng có thể là tôi quá vớ vẩn.
Nhưng đấy thật sự là cảm nhận của riêng tôi” (“Một người Việt ở Barcelona”).
Thậm chí, Trịnh Hội cũng chẳng thèm che giấu sự yếu đuối, thất vọng về chính bản thân mình, “Sau khi để rơi nước mắt trước mặt người công an không ra gì đó tôi thật sự đã thất vọng ở chính tôi vì tôi không ngờ là mình có thể yếu đuối, dễ để lộ cảm xúc đến vậy...
Nó vừa không đáng lại vừa hơi cải lương lai căng kiểu quân tử Tàu... Tôi thất vọng ở chính tôi cũng phải” (“Ngày nảy ngày nay”).
Tuy nhiên, đọc “Hội & Ngộ,” tôi có cảm giác đằng sau dáng vẻ bình dân, ngô nghê, trong Trịnh Hội có một điều gì đó sâu sắc và nhân bản vô cùng.
Tôi nhận ra điều này qua những dòng cuối cùng trong bài viết có tựa đề “Tử,” viết về chuyện tác giả đến viếng thăm mộ phần của cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm:
“Thế là gần một nửa thế kỷ đã trôi qua. Vậy mà cho đến giờ này mộ bia của họ vẫn không được khắc ghi tên tuổi.
Ai bảo văn hóa của người Việt là từ tâm, độ lượng? Nghĩa tử là nghĩa tận?
Ai trả lời được giùm tôi xin rất cám ơn.”
Trịnh Hội viết không câu nệ, không trau chuốt, nhưng chính cái mộc mạc đó mà tôi lại thấy Trịnh Hội gần gũi, và bình dân quá đỗi, như kiểu anh hay mặc quần ngắn, áo thun, mang dép lê, đi vào tòa soạn báo Người Việt, đứng nói chuyện hỷ hả với người này người kia.
Trịnh Hội chọn kiểu viết như đang đối thoại, kể chuyện trực tiếp với người đối diện, “Các bạn có biết không,” “Hay là thế này nhé. Tôi sẽ chờ các bạn cho biết ý kiến...
Các bạn thấy có được không?” “Các bạn có biết tại sao không?” nghe vừa “hiền” vừa “trẻ con” nhưng đồng thời cũng giữ được người nghe phải dừng lại xem Trịnh Hội muốn nói gì vậy.
Một điểm đặc biệt khác trong “Hội & Ngộ” là cách đặt tựa bài của tác giả. Xoáy ngay vào vấn đề mà nội dung sẽ đề cập. Chỉ cần đọc tựa là biết luôn tác giả viết gì trong đó.
“Ðông,” “Tuyết,” “Cái loa,” “Viết,” “Thu,” “Ðọc,” “Luật sư và tòa án,” “Thái Lan và Cha Tôi, “Kỳ thị,” “Sở thích,” “Cánh diều vàng,” “Cờ vàng bốn sọc đỏ,”... không cần màu mè, bóng bẩy, làm duyên làm dáng gì hết.
Tuy nhiên, bên cạnh cái bàng bạc, phơn phớt thoáng qua, người đọc cũng có thể bắt gặp trong “Hội & Ngộ” nhiều điều khiến lòng người phải day dứt.
Như trong “Ngày Xửa Ngày Xưa,,” Trịnh Hội kể về kỷ niệm của 13 năm trước khi lần đầu tiên trong đời anh biết thế nào là “bị trục xuất ra khỏi chính đất nước của mình”. Ðọc bài này, người ta sẽ cảm thấy ngộ nghĩnh hay cười cay đắng với chuyện “trên đời này đố bạn tìm được ai vừa bị bắt một cách vô lý, đã vậy còn phải tự trả tiền phòng giam giữ cho chính mình!” với giá khoảng $20 cho mỗi đêm?
Từ “Ngày Xửa Ngày Xưa,” Trịnh Hội dẫn người đọc qua “Ngày Nảy Ngày Nay,” kể về chuyện Trịnh Hội bị chụp mũ “là ủy viên trung ương của đảng Việt Tân”.
Với tôi, đây là một trong những bài hấp dẫn nhất của “Hội & Ngộ,” vì qua kỷ niệm này, Trịnh Hội vẽ lên được một vở kịch với đủ hỷ nộ ái ố của một xã hội không có luật pháp rõ ràng.
Hay nhất của “Ngày Nảy Ngày Nay” là trường đoạn tác giả đối đầu cùng người công an có vẻ “bặm trợn” với khẩu súng lục giắt bên hông.
rịnh Hội đi từ vẻ hiền lành của chàng công tử không muốn va chạm, thích sự bình yên, qua kiểu nhún nhường trong cách xưng hô, “Xin lỗi anh, anh có thể cho em biết là anh đang nói về vấn đề gì không ạ?” “Xin lỗi anh, anh quy kết em như vậy nhưng anh có bằng chứng gì không?” Ðến lúc sự tức giận trào lên tự lúc nào Trịnh Hội cũng không biết, “Tôi không dám thách ai nhưng tôi cũng không thể nào tin được là tôi bị các anh vu khống như thế!”
Rồi đến cao trào: “Tôi nhìn thẳng, trừng trừng vào mắt ông ta, nghiến chặt răng cố đừng để rơi nước mắt. Thế vậy mà tôi đã thất bại.
Hôm trước trên phim trường, cả ngày lẫn đêm tôi đã cố rất nhiều nhưng không thể nào khóc được cho một cảnh quay, khi tôi nói lời tạm biệt với người yêu. Thế vậy mà hôm nay chỉ sau vài ba giờ với một người công an không ra gì, tôi đã để mình rơi nước mắt...
Tôi thật sự đã thất vọng ở chính tôi vì tôi không ngờ là mình có thể yếu đuối, dễ để lộ cảm xúc đến vậy... Nó vừa không đáng lại vừa hơi cải lương lai căng kiểu quân tử Tàu... Tôi thất vọng ở chính tôi cũng phải.”
Trong “Hội & Ngộ,” câu chuyện có nhan đề dài nhất, cũng là một trong những câu chuyện xúc động nhất. Ðó là “Thái Lan và Cha Tôi và chùa Phật và chuyến đi vượt biển và quá khứ và hiện tại”.
“'Con Hội. Tôi quay lại và nhìn cha tôi đang chầm chậm bước ra cổng chùa đến đứng gần bên cạnh tôi. Ông xin được lá xăm cho tôi và bảo tôi cầm lấy. Bỗng nhiên ông giơ cả hai cánh tay của ông và ôm tôi vào lòng. Lúc ấy tôi chỉ biết đứng lặng yên để cho ông ôm thật chặt.
Tôi nghe thấy hình như là ông đang cảm ơn tôi... Tôi cần phải cảm ơn ông vì ông đã dùng mạng sống của chính mình để đi tìm một bến bờ mới cho riêng ông. Và cho cả riêng tôi.”
Và bài viết gần như ngắn nhất, nhưng lại toát lên được tất cả tình cảm sâu lắng lẫn sự hài hước của Trịnh Hội là “Tôi có con”. Tôi bật cười khi đọc câu kết rất “đời”: “Nhưng mà thôi.
Chuyện đó chắc còn lâu. Bây giờ điều mà tôi cần phải làm là mau về nhà để thay tã cho con.”
Trong lời bạt in cuối tập sách, nhà báo Ngô Nhân Dụng viết: “Trịnh Hội đúng là một nhà văn. Một người thợ mộc cầm miếng gỗ trên tay, nhìn trên nhìn dưới, đo đắn trước sau, âu yếm nâng niu những miếng gỗ trước khi biến chúng thành một cái ghế hay cái bàn.”
Tôi thì lại không nghĩ như vậy. Tôi vẫn không gọi Trịnh Hội là một nhà văn. Nhưng “Hội & Ngộ” với bìa đen chữ trắng của Trịnh Hội, người từng đoạt giải thưởng Người Úc Gốc Việt Trẻ Xuất Sắc năm 1998 và được công nhận là một trong những luật sư trẻ xuất sắc của Úc năm 1999, là quyển sách đọc hấp dẫn hơn sách của một số người được gọi là nhà văn.

Ngọc Lan
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.