Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
UyenVy  
#1 Posted : Monday, October 17, 2011 7:28:41 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

GIỚI THIỆU SÁCH :HỒNG PHÚC NƯỚC MỸ

Nguyên tác tiếng Anh: American Grace
Tác giả: Robert D. Putnam & David E. Campbell
Nhà xuất bản: Simon; Schuster ấn hành năm 2010
Người giới thiệu : Đòan Thanh Liêm

Đây là một cuốn sách nghiên cứu rất có giá trị về sinh họat tôn giáo trong xã hội Mỹ ngày nay ở vào đầu thế kỷ XXI. Các tác giả đã dày công sưu tầm nghiên cứu, và nghiêm túc phân tích nhận định tòan diện vấn đề theo đúng với phương pháp khoa học, khách quan và vô tư.Đây là một cuốn sách biên sọan rất công phu của hai nhà nghiên cứu xã hội học nổi danh hiện nay tại Mỹ.
Cuốn sách trình bày những nhận định thật sâu sắc về sự biến chuyển trong đời sống tâm linh và văn hóa của người dân Mỹ, đặc biệt trong vòng 50 năm vào cuối thế kỷ XX gần đây. Các tác giả đã dựa trên những thống kê, điều tra (survey), phỏng vấn gần đây nhất, và đã tham khảo đủ thứ tư liệu có giá trị trong suốt quá trình tìm hiểu cân nhắc, để rồi đi tới được những nhận định tổng hợp rành mạch về một trong những vấn đề rất quan trọng và phong phú của khu vực xã hội dân sự hiện nay tại nước Mỹ.
Tác giả thứ nhất, Robert Putnam là giáo sư kỳ cựu tại đại học Harvard, từng là khoa trưởng của Kennedy School of Government và là chủ tịch Hiệp hội Khoa học Chính trị Hoa kỳ. Ông cũng là tác giả của khá nhiều cuốn sách, trong đó cuốn “Bowling Alone : The Collapse and Revival of American Community” xuất bản năm 2000 thuộc lọai sách bán chạy nhất (bestseller).
Trong cuốn này, tác giả cảnh báo về sự giảm sút nghiêm trọng về nguồn vốn xã hội (social capital) trong xã hội nước Mỹ vào cuối thế kỷ XX.
Tác giả khác, David Campbell cũng là một giáo sư tại đại học Notre Dame danh tiếng ở Indiana và là một chuyên gia về tôn giáo, chính trị và chính sách công cộng. Ông này cũng là tác giả của một số cuốn sách, trong đó có cuốn được nhiều người chú ý : “Why we vote : How Schools and Communities Shape Our Civic Life ?”
Ngay nhan đề tòan bộ của cuốn sách dài tổng cộng trên 680 trang cũng đã cho người đọc hình dung được giá trị của công trình nghiên cứu khoa học rất công phu, đồ sộ và nghiêm túc của hai tác giả lừng danh này, nhan đề đó ghi chi tiết như sau :
American Grace How Religion Divides and Unites Us
(Hồng phúc nước Mỹ : Tôn giáo chia rẽ và kết hợp giữa chúng ta như thế nào).
Cuốn sách được phân bố chủ yếu trong 15 chương dài 550 trang, kèm theo 2 phần phụ lục và phần ghi chú xuất xứ dài khỏang 100 trang. Xin ghi tiêu đề của một số chương đáng chú ý như sau :
*Chương 1 : Sự Phân cực và Đa nguyên tôn giáo ở Mỹ (Religious Polarization and Pluralism).
*Chương 6 : Những sáng kiến đổi mới trong Tôn giáo (Innovations in Religion).
*Chương 7 & 10 : Những đỏan văn minh họa : Sắc tộc, Giới tính và Tôn giáo – Tôn giáo và Chính trị đan kẽ với nhau ra sao? (Vignettes)
*Chương 11 : Tôn giáo trong Đời sống Chính trị nước Mỹ (Religion in American Politics).
*Chương 15 cuối cùng : Hồng phúc nước Mỹ : Một dân tộc bao dung nối kết những chia cách tôn giáo như thế nào (America ‘s Grace : How a Tolerant Nation Bridges Its Religious Divides)

A – Mấy nét chính yếu trong cuốn sách.
Nhìn qua cuốn sách, ta có thể ghi nhận một số điểm như sau :
- Từ lâu, người Mỹ vẫn có niềm tin tôn giáo sâu sắc, nhưng cũng rất khác nhau trong cách hành đạo. Mà họ lại có tinh thần bao dung đặc biệt về tôn giáo.
Trong mấy thập niên gần đây, bối cảnh sinh họat tôn giáo đã thay đổi rõ rệt.
Từ đầu thập niên 1960, nước Mỹ đã trải qua 3 cuộc chấn động thật mạnh mẽ về mặt tôn giáo. Trước hết, trong thập niên 1960 việc hành đạo bắt đầu giảm sút nhiều. Rồi vào thập niên 1970 và 1980, đã xảy ra phong trào phản ứng bảo thủ với sự phát triển mạnh mẽ của phái hữu, thường được gọi là truyền thống “ Tin Lành Evangelical”. Và từ thập niên 1990, thì giới trẻ bắt đầu tách khỏi sự liên kết giữa tôn giáo với chủ trương chính trị bảo thủ, họ xa rời các giáo hội, nhưng lại không nhất thiết từ bỏ niềm tin tôn giáo.
- Hậu quả là đang có sự phân cực mỗi ngày một lớn rộng – hàng ngũ bảo thủ và thế tục phóng khóang mỗi bên đều có sự gia tăng về số lượng người theo, cùng lúc với số người ôn hòa ở vào phía giữa hai bên. Số người tự xếp mình không sinh họat với một nhà thờ nào - được tác giả gọi là “nones”- đã gia tăng trong vài chục năm gần đây từ 5% lên đến trên 25%, nhất là trong lớp người trẻ.
- Với nhiều hôn nhân kết hợp giữa người theo tôn giáo khác nhau (Interfaith marriage), trong các gia đình đã có sự chấp thuận dễ dàng về sự khác biệt trong nếp sống tôn giáo.
Tác giả nêu ra mô hình “Nguyên lý Dì Susan” (Aunt Susan Principle) để diễn tả hiện tượng trong nhà có một bà dì đạo đức, thánh thiện, nhưng mà lại có niềm tin tôn giáo khác biệt với đa số trong gia đình.
- Trong suốt cuốn sách, người đọc có thể dễ dàng nhận ra những khám phá thật lý thú đến ngạc nhiên của các tác giả, điển hình như :
* Có đến khỏang 40% các gia đình kết hôn giữa người thuộc tôn giáo khác nhau - * Có đến một phần ba dân Mỹ đã thay đổi tôn giáo cách này hay cách khác - * Cả những người sùng đạo cũng tin tưởng rằng người theo tôn giáo khác vẫn được lên thiên đàng
- * Người theo đạo thường cũng là người láng giềng tốt và tham gia nhiều hơn vào các việc từ thiện nhân đạo… - Trong nhiều thập niên sắp tới, đây có thể coi như là cuốn sách quan trọng nhất trình bày về đời sống tôn giáo ở nước Mỹ, và cũng là một tài liệu thiết yếu cho sự tìm hiểu về văn hóa trong xã hội Mỹ hiện nay vậy.

B – Giới thiệu một vài chương điển hình.
Chương 9 : Tính Đa dạng, Sắc tộc và Tôn giáo (trang 260-319)
(Diversity, Ethnicity, and Religion)
Là một dân tộc gồm nhiều thế hệ người di dân từ các địa phương khác nhau trên thế giới tới lập nghiệp tại nước Mỹ, nên quốc gia này có tính chất đa dạng nổi bật về mặt chủng tộc, cũng như về truyền thống tôn giáo và văn hóa. Nói chung, thì người Mỹ có tinh thần tôn giáo cao độ (high religiosity) kết hợp với sự đa dạng về sắc tộc và chủng tộc (ethno-racial diversity).
Người Tin Lành Da đen và người Do Thái đều có sự liên kết chặt chẽ về mặt chủng tộc và tôn giáo; mà hơn nữa, họ cũng thường có sự đồng nhất trong họat động chính trị.
Người Mỹ gốc Latinh hiện đang góp phần làm gia tăng ảnh hưởng của đạo Công giáo La mã trong xã hội Mỹ. Người di dân gốc từ miền Bắc Âu châu và nước Đức vẫn giữ được truyền thống của Tin Lành theo giáo phái Lutheran.
Và trong số người da trắng, thì từ ba chục năm nay, tỉ lệ chống hôn nhân dị chủng, cũng như nạn kỳ thị đánh giá thấp đối với người da đen đã giảm bớt đáng kể, hiện chỉ còn chừng 5% vẫn giữ thành kiến kỳ thị này.
Chương 13 - Tôn giáo và tính cách Láng giềng tốt (trang 442-492)
(Religion and Good Neighborliness)
Cuộc điều tra rất quy mô lấy tên là “Faith Matters Survey” thực hiện năm 2006 cho ta thấy rằng : người sùng đạo thì tham gia công việc thiện nguyện nhiều hơn và lại đóng góp vào các dự án từ thiện nhân đạo hơn là người không có niềm tin tôn giáo. Người ngoan đạo lại còn tham gia tích cực vào công tác phục vụ cộng đồng tại lối xóm địa phương nơi họ sinh sống.
Bằng nhiều biểu đồ thiết lập rất công phu, tác giả chứng minh sự đóng góp cho xã hội dưới nhiều hình thức như tiền bạc, thời gian công tác thiện nguyện do lớp người sùng đạo thực hiện thường xuyên. Tác giả còn nêu ra sự tín nhiệm của quần chúng thì thường ở mức cao đối với những người có lòng sùng đạo.
Các tác giả cũng xác nhận sự quan sát của nhà nghiên cứu thời danh Alexis de Tocqueville thực hiện vào hồi đầu thế kỷ XIX tại Mỹ rằng : “Tôn giáo đóng góp nhiều cho nền dân chủ ở nước Mỹ”.
Bởi vì thông thường người Mỹ ngoan đạo nào thì cũng là một láng giềng tốt và là người công dân tích cực nữa. Lý do chính yếu là do sự gắn bó mật thiết với sinh họat trong cộng đòan tín hữu, nên người sùng đạo dễ dàng hưởng ứng với họat động từ thiện xã hội, thêm vào với công tác thuần túy tôn giáo.
Chương 15 –Nhận định tổng kết : Hồng phúc nước Mỹ (trang 516 -550)
(America’s Grace: How a Tolerant Nation Bridges Its Religious Divides)
Nước Mỹ chia rẽ về phương diện tôn giáo, nhưng so với các lãnh vực khác như chủng tộc, giai cấp hay chính trị, thì sự chia rẽ này cũng lại nhỏ hơn nhiều.
Đa số người Mỹ vẫn coi Tôn giáo là một chất keo (glue) gắn liền các thành phần dân tộc lại với nhau. Và các nhà lãnh đạo quốc gia từ Tổng thống Jefferson hồi xưa cho đến Obama ngày nay, thì đều nói tới Thiên chúa, mỗi khi phải lên tiếng kêu gọi sự đòan kết của dân tộc trước những biến cố
nghiêm trọng nào.
Tu chính án số 1 vẫn được tôn trọng để bảo đảm tính chất đa nguyên về tôn giáo trong xã hội Mỹ. Thống kê mới nhất năm 2006 cho ta thấy có đến 80% người Mỹ coi trọng sự đa dạng về tôn giáo (religious diversity).
Trong nội bộ mỗi gia đình, thì đang có những người có niềm tin tôn giáo khác nhau, mà vẫn thuận thảo chấp nhận sự khác biệt đó.
Mà trong số mấy bạn bè thân thiết nhất, thì cũng luôn có người bạn lại có niềm tin khác với mình. Tác giả còn nêu ra mô hình “Nguyên lý Bạn Al của tôi” (My Friend Al Principle) - cũng tương tự như “Nguyên lý Dì Susan” đã ghi ở trên – để làm nổi bật sự thân thiết trong mối quan hệ giữa bạn hữu, mặc dầu họ có niềm tin tôn giáo khác nhau.
Rõ ràng là Tôn giáo được coi như lãnh vực riêng tư của mỗi cá nhân (privacy), mà mọi người khác đều phải tôn trọng. Và đa số người Mỹ ngày nay đều công nhận rằng :
“ Cũng có những chân lý căn bản ở trong nhiều tôn giáo khác ”, chứ không phải chỉ duy nhất trong tôn giáo riêng của mình, thì mới có chân lý mà thôi.
Nói vắn tắt lại, các tác giả lạc quan trước sự kiện là nhờ mạng lưới các mối liên hệ thân thiết giữa các cá nhân đan kết chặt chẽ dày đặc với nhau, mà xã hội nước Mỹ ngày nay đang bảo đảm được tình trạng đa nguyên về tôn giáo. Các mối liên hệ thân thiết trong gia đình, cũng như giữa bạn hữu ngòai xã hội đã giúp cho sự kết hợp được tính cách đa dạng tôn giáo với lòng sùng đạo của các tín đồ theo đuổi các niềm tin tôn giáo khác nhau. Và đó mới chính là “Hồng phúc của nước Mỹ” ở vào đầu thế kỷ XXI vậy.
C – Một công trình nghiên cứu được đánh giá cao.
Cuốn sách American Grace vừa mới ra mắt công chúng chưa đày một năm, mà đã được nhiều thức giả và giới phê bình đánh giá rất cao.
Cụ thể như sử gia Doris Kearns Goodwin, thì bà ghi rằng : “Đây là một công trình vĩ đại, một mô tả dựa trên nền móng của sự nghiên cứu đồ sộ… Rõ rệt, đó là một chiến thắng.”
Học giả Cornel West thuộc Trung tâm Nghiên cứu người Mỹ gốc Phi châu, Đại học Princeton, thì viết : “American Grace tức thời đã trở thành một văn bản đúng tiêu chuẩn. Cuốn sách rất cần thiết cho sự tìm hiểu về nền văn hóa tôn giáo đa nguyên của chúng ta. Và sách này cũng gợi hứng cho chúng ta phải đào sâu thêm nữa nền dân chủ đại kết của chúng ta” (our ecumenical democracy).
Giáo sư Jim Cullen dậy tại Trường Fieldston, New York, thì viết : “ Bức thông điệp chính yếu của American Grace là :” Những chia rẽ xã hội vì lý do tôn giáo trong lối sống ở Mỹ thì rõ rệt là không quan trọng bằng vai trò của Tôn giáo như là một thứ chất keo dính có khả năng gắn chặt trong xã hội “.
Vào đầu năm 2011, trong một cuộc phỏng vấn khá dài với chương trình “Faith and Leadership” (Niềm Tin và Lãnh đạo), tác giả Robert Putnam đã có dịp nhấn mạnh thêm rằng :
“ Tác giả David Campbell và tôi đều có ấn tượng sâu sắc về mức độ các tôn giáo ở Mỹ đã luôn cố gắng thích nghi và rất sáng tạo từ nhiều thế kỷ nay. Đó là khía cạnh độc đáo gần như duy nhất của nước Mỹ, nếu so sánh với những nơi khác trên thế giới…”
Giáo sư Putnam cũng lại cảnh giác rằng : “ Những tôn giáo mà không chịu thích nghi đổi mới, những tôn giáo mà quá dính líu với chính trị, thì nhất định là không thể tồn tại lâu bền được”.
Cũng trong cuộc phỏng vấn này, giáo sư Putnam còn giải thích rõ ràng thêm : “Người Thiên chúa giáo da đen (Black Christians) có thái độ khá là khoan dung, hơn là người Thiên chúa giáo da trắng, đối với người Muslim. Tại sao vậy? Đó là do có người Muslim da đen ở Mỹ.
Nhiều người da đen có Dì Susan theo đạo Muslim (Muslim Aunt Susan). Và tại nhiều nơi trong nước Mỹ mà vẫn còn sót lại nạn bất khoan dung về tôn giáo, cụ thể như đối với người theo đạo Mormon hay đạo Phật. Đó là vì chúng ta chưa có nhiều những Dì Susan theo đạo Mormon hay theo đạo Phật…” (Mormon Aunt Susan, Buddhist Aunt Susan).
Để tóm tắt lại, người viết xin nhắc thêm một lần nữa rằng : Đây là một cuốn sách nghiên cứu rất có giá trị về sinh họat tôn giáo trong xã hội Mỹ ngày nay ở vào đầu thế kỷ XXI.
Các tác giả đã dày công sưu tầm nghiên cứu, và nghiêm túc phân tích nhận định tòan diện vấn đề theo đúng với phương pháp khoa học, khách quan và vô tư.
Và xin trân trọng giới thiệu cuốn sách quý báu này đến với quý bạn đọc muốn tìm hiểu sâu xa hơn về sinh họat của dòng chính trong xã hội nước Mỹ hiện nay vậy.

California,7/2011
Đòan Thanh Liêm
UserPostedImage
UyenVy  
#2 Posted : Monday, October 17, 2011 7:41:25 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Kẻ Thù Của Nhân Dân

(Nhân đọc cuốn sách “Enemies of the people” dài 272 trang
Tác giả Kati Marton, một nhà báo nổi danh
Nhà xuất bản Simon & Shuster ấn hành năm 2009)

Đây là một cuốn chuyện kể lại một cách thật sống động về một gia đình tỵ nạn cộng sản trên đất Mỹ đã trên 50 năm nay. Cuốn sách có nhan đề phụ nữa là : “My Family’s Journey to America” (Cuộc hành trình đến nước Mỹ của gia đình tôi). Dưới ngòi bút điêu luyện của một nhà báo và cũng là một tác giả nổi danh, cuốn sách tường thuật lại nhiều chi tiết éo le của một gia đình là nạn nhân trong chế độ hà khắc cộng sản ở Hungary hồi đầu thập niên 1950, giữa thời cao điểm của cuộc chiến tranh lạnh tại khu vực Đông Âu.
Cuốn sách dài 272 trang, được dàn trải trong 20 chương kèm theo nhiều hình ảnh của gia đình, và đặc biệt là do sự khai thác cả hàng ngàn trang tài liệu của cơ quan mật vụ cộng sản Hungary, mà tác giả chỉ được biết đến mãi gần đây vào các năm 2006 - 08, sau khi cả người mẹ và cha của bà đã lần lượt lìa đời năm 2004 và 2005.

I – Thân thế và sự nghiệp của tác giả Kati Marton
Kati Marton sinh năm 1949 tại thành phố Budapest, thủ đô của nước Hungary. Cả cha và mẹ là Endre và Ilona Marton đều là nhà báo nổi tiếng cộng tác với thông tấn AP (Associated Press) và UP (United Press) của Mỹ, giữa thời cộng sản còn đang rất quá khích hung hãn tại Hungary dưới quyền sinh sát của nhà độc tài khét tiếng là Matyas Rakosi tại quốc gia này trong vùng Trung Âu.
Kati nói rành rẽ tiếng mẹ đẻ Hungary và tiếng Pháp ngay từ thời thơ ấu, do vú nuôi Gabrielle người Pháp hướng dẫn. Sau này lại được theo học tại các trường trung học và đại học ở Mỹ và cả ở Sorbonne và trường Cao đẳng chính trị tại Paris. Trong nhiều năm, Kati là một phóng viên của hãng truyền hình ABC, chuyên tường thuật về Âu châu và Trung Đông. Và bà cũng là tác giả của 7 cuốn sách được nhiều người chú ý, điển hình như các cuốn “The Great Escape”, “Raoul Wallenberg”, “ A Death in Jerusalem” v.v… Raoul Wallenberg là nhà ngoại giao Thụy Điển đã cứu thoát được nhiều người Do Thái tại Hungary thời đệ nhị thế chiến. Sau đó, ông bị Hồng quân Liên Xô bắt giữ và bị hãm hại trong nhà tù tại nước Nga.

UserPostedImage
Tác giả Kati Marton

Kati Marton lại còn được nhiều người biết đến vì là phu nhân của hai nhân vật đều rất nổi danh, đó là Peter Jennings – người điều khiển chương trình xuất sắc trong nhiều năm của đài truyền hình ABC, và Richard Holbrooke – nhà ngọai giao lỗi lạc của nước Mỹ từ trên 40 năm vừa qua. Kati có hai người con tên là Elizabeth và Christopher với Peter Jennings là người đã mất năm 2005 vì bệnh ung thư phổi. Còn Richard Holbrooke thì cũng đã qua đời vào cuối năm 2010 vừa qua vì bệnh tim mạch.
Người Việt Nam tỵ nạn cộng sản tại Mỹ đặc biệt biết ơn công lao của Richard Holbrooke, vì ông đã tận tình vận động chánh phủ Mỹ dành quy chế riêng cho người tỵ nạn từ Đông Dương dưới thời Tổng thống Jimmy Carter vào hồi cuối thập niên 1970.
II – Tóm tắt nội dung cuốn sách “Enemies of the People”
Với kinh nghiệm lâu năm của một nhà báo, tác giả đã rất thận trọng khôn khéo trong việc tìm kiếm và khai thác các nguồn tài liệu, đặc biệt là kho hồ sơ liên hệ đến gia đình được lưu trữ tại văn khố cũ của cơ quan mật vụ Hungary dưới thời cộng sản, cơ quan này được gọi là AVO, cũng tương tự như cơ quan STASI của cộng sản Đông Đức.
Tác giả lại còn tìm cách gặp lại để phỏng vấn nhiều nhân chứng từ cái thời đầu thập niên 1950, lúc mà cha mẹ của bà chịu nhiều sự truy bức, rình rập và giam hãm đày đọa của nhà nước cộng sản.
Người cha tên là Endre Marton xuất thân từ dòng dõi thượng lưu quý phái gốc Do Thái lâu đời tại Hungary, ông có bằng tiến sĩ về kinh tế học, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ. Bà mẹ Ilona cũng là người gốc Do Thái, có bằng tiến sĩ về sử học và cũng thông thạo nhiều ngoại ngữ.
Cả hai ông bà đều phải chạy trốn sự truy tầm của chính quyền Đức quốc xã hồi đệ nhị thế chiến, nhằm tiêu diệt người Do Thái.
Và nhờ được bà con người Hungary bảo bọc che chở, nên ông bà đã tránh thoát được tai họa diệt chủng này. Nhưng cả gia đình ông bà cụ thân sinh của bà thì đều bị thảm sát trong lò thiêu của Đức quốc xã.Sau chiến tranh ít lâu, thì ông được mời làm thông tín viên cho thông tấn AP và bà thì làm cho thông tấn UP.
Sau năm 1952, ông bà là hai phóng viên duy nhất còn có thể hành nghề giúp cho các hãng thông tấn quốc tế và được giới truyền thông ngoại quốc đánh giá cao về các bài tường thuật khá đầy đủ và chính xác về tình hình xã hội chính trị tại Hungary.
Do nhu cầu công tác, ông liên lạc chặt chẽ với giới chức ngoại giao Anh, Mỹ, Pháp tại Budapest và lại còn thường xuyên tham dự những buổi sinh hoạt văn nghệ thể thao với họ.
Vì thế mà cơ quan mật vụ đã mở cả một chiến dịch rất tinh vi khôn khéo để rình rập theo dõi mọi hành vi, thái độ và giao tiếp của cặp vợ chồng nhà báo này, mà họ liệt vào hàng ngũ “Những kẻ thù của nhân dân”, từ ngữ thường được dùng trong các quốc gia cộng sản thời đó. Dưới đây là một số chi tiết của mạng lưới dày đặc các “báo cáo viên” (informers) trong vụ án này :
A / Các bản báo cáo của bà vú nuôi Gabrielle
Bà vú nuôi người Pháp tên là Gabrielle Guillemet quê tại Chinon nước Pháp được gia đình mướn vừa để trông coi, vừa để dậy tiếng Pháp cho hai cô con gái Juli và Kati. Trong nhà các cô vẫn gọi bà là Madame. Bà này thường xuyên gửi báo cáo rất chi tiết về mọi sinh họat trong gia đình, kể cả các chuyện nhỏ nhặt và hình ảnh về hai cô gái còn rất nhỏ tuổi cho cơ quan AVO.
Bà dùng tên bí danh là “Gaspar”. Hồ sơ tại AVO còn lưu lại rất nhiều báo cáo của Gaspar về nhất cử nhất động của cả hai ông bà Marton, kể cả về sinh họat của bà Ilona sau khi ông Endre bị bắt giữ vào tháng Hai năm 1955. Và rồi cuối cùng chính bà mẹ Ilona cũng bị bắt giữ vào ngày 23 tháng Sáu năm 1955, để lại hai đứa con nhỏ dại bơ vơ không cha, không mẹ.
B / Những báo cáo viên được cài đặt ngay tại phòng giam
Trong suốt thời gian bị giam giữ để điều tra, AVO đều bố trí cho các người tù ở chung phòng với Endre để theo dõi và báo cáo chi tiết về lối sống, suy nghĩ và tâm sự nhớ vợ nhớ con của ông.
Họ còn bày đặt cho một báo cáo viên này bảo ông viết thư về cho bà vợ thế này, thế nọ; nhưng tất cả các thư đó đều lại rơi vào tay cơ quan mật vụ hết. Các bản báo cáo này đều còn được lưu trữ trong hồ sơ của AVO. Mánh lới này cũng được áp dụng đối với bà Ilona, nhưng với mức độ ít thâm độc hơn.
Khỏi phải nói là sau nhiều ngày tháng bị giam giữ và bị truy bức khủng bố tinh thần, Endre đã lâm vào tình trạng quẫn trí tột cùng, đến độ tìm cách quyên sinh bằng thuốc ngủ tích lũy nhiều ngày. Vì quá thương hai con còn nhỏ dại, nên ông đâm ra yếu đuối, phải nhượng bộ trước áp lực của cán bộ điều tra.
Các chi tiết này, chỉ được biết đến sau khi ông qua đời, lại càng làm cho Kati mến phục và yêu thương người cha của mình.
C / Việc xét xử hai vợ chồng Endre và Ilona Marton
Vào cuối năm 1955, hai ông bà bị đem ra xét xử. Vị chánh án tên là Bela Jonas còn có biệt danh là “Chánh Án Sắt Máu” (Blood Judge), vì trong thời kỳ đại khủng bố vào năm 1952, ông này đã tuyên án đến 50 người bị tử hình, mà ông ta còn đích thân đến xem các vụ hành quyết các nạn nhân đó nữa.

Kết cục vị chánh án này đã nêu lý do tội “làm cố vấn thường xuyên” cho người Mỹ, lại còn “đánh cắp” bản ngân sách của Hungary để trao cho người Mỹ, và xử phạt 13 năm tù giam đối với Marton.
Và tuyên án 6 năm tù giam đối với Ilona Marton về tội rất khôi hài là “thảo luận về giá cả của trứng và thịt ở Hungary với người Mỹ”. Nhưng sau đó, thì án này lại được giảm bớt xuống một nửa, chỉ còn 6 năm và 3 năm đối với hai vợ chồng.
Về ông chánh án sắt máu Bela Jonas này, thì trong cuộc cách mạng nổi dậy vào tháng Mười năm 1956 ở Hungary, ông ta đã phải tự sát.
Chi tiết này làm cho giới tù nhân chính trị ở Việt Nam nhớ đến tên tuổi của vị chánh án Lê Thúc Anh cũng là một người rất sắt máu tàn bạo quá khích trong các phiên xử tội phạm chính trị ở Sài Gòn sau năm 1975. Ông này hai năm trước đây còn bị giới luật sư ở Sài Gòn tẩy chay lúc ông được Bộ Tư pháp đặt để vào chức vụ Chủ tịch Luật sư đoàn Việt Nam.
D / Cuộc giải thoát khỏi nhà tù và cả gia đình được qua định cư tại Mỹ
Trước bản án tòa xử nặng nề như vậy đối với hai ký giả Marton,
dư luận báo chí ở Âu Mỹ đã tỏ ra rất phẫn nộ và đặc biệt là Bộ Ngoại giao Mỹ dưới sự điều khiển của Ngoại trưởng Foster Dulles đã phản ứng mạnh mẽ đòi chính phủ Hungary phải trả tự do tức khắc cho cả hai người.
Cũng may là vì lúc đó đang có cuộc thương thảo hòa hoãn giữa Mỹ và Liên Xô, thông qua cuộc Họp thượng đỉnh của hai lãnh tụ Eisenhower – Krushev ở Geneva, nên hai ông bà lần lượt được trả tự do vào giữa năm 1956.

Ông bà trở lại ngay với công việc cũ với các hãng thông tấn AP và UP, đặc biệt là việc tường thuật rất đày đủ và chính xác về cuộc cách mạng nổi dậy của dân chúng ở Hungary vào tháng Mười 1956, và tiếp theo là sự đàn áp đẫm máu của quân đội Liên Xô, tàn sát rất nhiều người dân ngay tại thủ đô Budapest.
Nhưng qua năm 1957, trước nguy cơ bị bắt trở lại của nhà cầm quyền cộng sản đang nhằm trả thù những phần tử có dính líu đến cuộc nổi dậy vừa qua, thì gia đình Marton gồm cha mẹ và hai con gái đã được cấp hộ chiếu để đi qua Vienna thủ đô của nước Áo. Và từ đó, thì được qua định cư tại Mỹ với quy chế tỵ nạn chính trị.
Tại Mỹ, Endre được bố trí ngay làm phóng viên thường xuyên tại Bộ Ngoại giao và đã trở thành một nhà báo ngoại quốc có tên tuổi tại thủ đô Washington.
Ông được sự tin tưởng quý mến đặc biệt của các Ngoại trưởng Foster Dulles, Dean Rusk và Henry Kissinger cũng như của nhiều nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ.
E / Dù đã định cư ở Mỹ, Endre Marton vẫn còn bị Hungary “theo dõi”
Trong chương 18 gần cuối cuốn sách này, tác giả Kati Marton đã kể lại chi tiết về chiến dịch có ám danh là “Flower” (Bông Hoa) do mật vụ AVO tổ chức nhằm lôi cuốn dụ dỗ Endre Marton chịu làm “cộng tác viên với họ”, mặc dầu ông bà và gia đình đã định cư ổn định tại Mỹ.
Chiến dịch Flower này bắt đầu từ năm 1962 với sự bố trí một nhà báo trẻ người Hungary làm việc tại Washington đến tiếp xúc và làm quen với Endre nhằm tìm hiểu chi tiết về nếp sinh họat của ông, để có thể tạo cơ hội dụ dỗ hay ép buộc ông phải hợp tác với chính quyền cộng sản Hungary.
Kati chỉ được biết chuyện này, mãi sau này khi được tham khảo tài liệu lưu trữ ở Budapest với hồ sơ có ký hiệu là “B Dossier”, chữ B ở đây viết tắt thay cho chữ “Benzervezes” có nghĩa là “Tuyển dụng những phần tử không sẵn lòng hợp tác” làm công tác gián điệp cho AVO (recruiting in the unwilling for espionage).

Nhưng đến năm 1967, thì do một viên chức cao cấp tại tòa Đại sứ Hungary ở Washington đào thoát khỏi nhiệm sở, nên chiến dịch Flower này bị hủy bỏ. Sau đó trên 40 năm, vào năm 2008 thì Kati đã tìm gặp được người phụ trách chiến dịch này ở Budapest và đã phỏng vấn ông ta về chuyện này. Rõ rệt, đây là một chuyện y hệt như truyện trinh thám, hết sức hồi hộp gay cấn.
III – Thay lời kết
Bài viết tới đây kể đã dài rồi, tôi chỉ xin tóm tắt lại với mấy nhận định ngắn gọn như sau :
Thứ nhất, về hình thức tác giả Kati Marton đã tỏ ra hết sức bình tĩnh, thanh thoát khi được đọc các tài liệu, các báo cáo cho cơ quan mật vụ AVO xuất phát từ những người thân cận với gia đình.
Bà tỏ ra có sự thông cảm bao dung đối với những người đã vì yếu đuối mà cam tâm cộng tác với AVO để làm hại cho cha mẹ của bà.
Thứ hai, với kỹ thuật điêu luyện của một nhà báo có tầm vóc lớn, tác giả đã thuật lại nhiều chi tiết về vụ án mà cha mẹ bà đã phải trải qua, cũng như những hệ lụy gây đến cho cả gia đình.
Vì thế mà cuốn sách đã có sức lôi cuốn hấp dẫn, đầy những chi tiết rất mới lạ đến ngạc nhiên thích thú đối với người đọc.
Thứ ba, riêng đối với độc giả Việt Nam, thì chúng ta có thể nhận ra sự tương đồng của lề lối làm việc của cơ quan mật vụ cộng sản VN với tổ chức AVO cộng sản Hungary, STASI của cộng sản Đông Đức và dĩ nhiên là cả với KGB – NKVD của cộng sản Liên Xô.
Tất cả đều là một thứ guồng máy đồ sộ, một “cỗ máy nghiền” nhằm tiêu diệt mọi nhen nhúm đe dọa cho sự độc quyền chuyên chế của đảng cộng sản ở mỗi nước. Đó là một tập đoàn tội ác tàn tệ nhất trong lịch sử nhân loại, đã gây ra không biết bao nhiêu đau thương tang tóc cho hàng trăm triệu con người ở khắp nơi trong gần một thế kỷ qua.

California, 4.2011
Đoàn Thanh Liêm
UserPostedImage
UyenVy  
#3 Posted : Monday, October 17, 2011 7:52:37 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

TÔI ĐỌC HỒI KÝ CỦa GIÁO SƯ VŨ QUỐC THÚC

Giáo sư Vũ Quốc Thúc năm nay đã vào tuổi 90, và hiện đang sinh sống tại Paris thủ đô nước Pháp. Giáo sư vừa cho ấn hành một bộ Hồi ký có nhan đề là “Thời Đại Của Tôi” gồm hai cuốn, tổng cộng dài trên 1,100 trang, do cơ sở công ty Người Việt ở California phụ trách xuất bản. Sách được in trên giấy trắng khổ chữ 12, bìa cứng, được trình bày thật trang nhã, dễ đọc.
Cuốn I dài 400 trang với phụ đề “Nhìn Lại 100 Năm Lịch Sử” viết về những nét chính yếu trong sinh hoạt chính trị xã hội của Việt nam trong thế kỷ XX.
Cuốn II dài 700 trang với phụ đề “Đời Tôi Trải Qua Các Thời Biến” viết chi tiết về cuộc đời của tác giả. Có thể coi cuốn II này mới là phần chính của bộ Hồi ký.
Mặc dầu tác giả đã minh định rằng mình không có chủ ý viết lịch sử, mà chỉ ghi lại những sự việc ông đã chứng kiến trong suốt một cuộc đời hoạt động lâu dài của mình, thì những điều vị giáo sư khả kính và khả ái này đã trung thực viết ra trong bộ Hồi ký quý báu này sẽ rất có giá trị cho những ai muốn tìm hiểu cặn kẽ hơn về cuộc sống tại đất nước chúng ta trong thế kỷ XX.
Nói chung, thì về hình thức cuốn sách được trình bày với một lối văn sáng sủa, gọn gàng, dễ lôi cuốn người đọc. Mà về nội dung, thì tác giả đã cung cấp cho chúng ta những thông tin rất phong phú với giá trị khả tín rất cao, do nhân cách đáng trọng của một nhà trí thức từ lâu nay vẫn từng được sự mến phục của đa số đồng bào trong nước, cũng như tại hải ngoại.
Lại nữa, vì là một vị giáo sư chuyên giảng dậy tại đại học trong nhiều năm, cũng như chỉ tham gia công việc của quốc gia trong lãnh vực chuyên môn về kinh tế tài chánh, nên tác giả không hề có nhu cầu, hay chịu một áp lực nào để phải giải thích, biện bạch cho các hành động của mình, như các nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp thường hay làm. Do đó, mà tập Hồi ký này dễ có tính chất khách quan trung thực hơn, để bạn đọc có thể yên tâm tin tưởng được.
Giáo sư Vũ Quốc Thúc đã dậy học tại trường Luật ở Hà Nội và tại Sài Gòn trong gần 25 năm. Ngoài ra ông cũng còn giảng dậy tại Đại học Đà Lạt, Học viện Quốc gia Hành chánh tại miền Nam Việt Nam suốt thời kỳ trước năm 1975.
Rồi sau này, khi sang định cư tại Pháp, giáo sư còn giảng dậy tại Đại học Paris XII từ năm 1978 đến năm 1988 mới về hưu. Số môn sinh được học tập với giáo sư có thể lên tới hàng bao nhiêu vạn người, nên thiết tưởng không cần phải viết dài dòng về tiểu sử của tác giả nữa.

UserPostedImage
GS Vũ Quốc Thúc
Dưới đây, tôi xin ghi lại chi tiết hơn về một số điều mình tâm đắc trong khi đọc tập Hồi ký này.

1 – Niềm say mê học tập và nghiên cứu
Như trong tập Hồi ký ghi rõ trong nhiều trang, sự thành đạt trong việc thi cử của tác giả là do việc ông đã học tập rất chu đáo, nghiêm túc.
Cụ thể như ngay từ thời còn ở bậc tiểu học và trung học ở thành phố Nam Định, ông đã miệt mài học để mà nắm vững được việc sử dụng đọc và nhất là viết tiếng Pháp. Khả năng viết tiếng Pháp trôi chảy như vậy chính là cái chìa khóa mở ra cho tác giả nhiều cánh cửa cho việc thăng tiến về khoa cử tới bậc cao nhất, như văn bằng tiến sĩ và thạc sĩ về môn Kinh tế học, cũng như về các chức vụ công quyền khác.

Riêng mục làm luận án để chuẩn bị thi bằng tiến sĩ tại đại học Paris, tác giả đã kể lại chi tiết về sự tham khảo tìm kiếm rất công phu, không những trong các tài liệu sách báo, mà còn cả trong lúc quan sát trực tiếp tại các địa phương từ nhiều năm trước, kể cả trong thời kỳ tản cư sinh sống tại làng Đào Xá thuộc tỉnh Hưng Yên trong thời Việt Minh. Nhờ vậy mà ông mới hoàn thành được tập luận văn bằng tiếng Pháp với nhan đề là : “L’economie communaliste du Vietnam” (Kinh tế Duy Xã Thôn của Việt Nam). Luận án này được ban giám khảo đánh giá rất cao, và ông đã được chấm đậu văn bằng Tiến sĩ với hạng Tối Ưu (Mention Très Bien) vào năm 1950.

Tiếp theo đến năm 1952, ông lại qua Pháp để thi văn bằng Thạc sĩ. Và cuối cùng, nhờ ở sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho kỳ thi tuyển chọn rất gay go này, ông đã lại thi đậu văn bằng cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học của Pháp một cách dễ dàng. Diễn biến các cuộc thi tại Paris đã được tác giả mô tả lại với nhiều chi tiết khá lý thú, kể cả việc đi xem bói ngay tại thủ đô Paris với lời giải đoán của bà Dumonceau chuyên về tiên tri (voyante) thật là ngộ nghĩnh.
Những chi tiết nhỏ nhoi, mà lại rất thật và đa dạng như thế đã làm cho cuốn sách thêm màu sắc tươi mát, sinh động xen lẫn với những chuyện nghiêm trang thuộc lãnh vực chuyên môn sở trường của tác giả.
Cuốn sách được đề “tặng cho con cháu thân yêu” rõ ràng đã có tác dụng nêu ra được một tấm gương sống động và chân thực về sự say mê chuyên cần trong học tập và nghiên cứu của một bậc tiền bối vậy.

2 – Hoạt động chuyên môn : Dậy học và Cố vấn kinh tế
Trong suốt trên 34 năm giảng dậy môn kinh tế tại các đại học ở Việt Nam cũng như ở Pháp, giáo sư Thúc đã góp phần đào tạo cho biết bao nhiêu thế hệ sinh viên thuộc đủ mọi giai tầng xã hội. Với nhiều chi tiết lý thú liên quan đến chuyện đụng độ gay cấn với một vài giáo sư người Pháp vốn còn giữ lề lối thực dân trịch thượng, tác giả kể lại việc tổ chức điều hành trường luật ở Hà Nội trước năm 1954, lúc trường này vẫn còn do người Pháp đảm trách, mà chưa được chuyển giao sang cho phía Việt Nam.
Tuy ông không viết gì nhiều đến kinh nghiệm giảng dậy lâu năm của mình, mà nhiều môn sinh vẫn còn nhắc nhở đến cái lối diễn giảng thật sáng sủa, gọn gàng khúc chiết của vị giáo sư với khuôn mặt thanh tú và giọng nói thân tình hiền dịu. Nhờ kinh nghiệm tham gia trong nhiều dự án của chánh phủ trong lãnh vực kinh tế, tài chánh, ngân hàng, nên giáo sư đã có thể đem ra những sự việc cụ thể, thiết thực để minh họa cho phần lý thuyết trong các bài thuyết giảng. Vì thế mà sinh viên dễ lãnh hội được những điểm mấu chốt trong các bài học và tìm được nguồn hứng khởi trong việc theo đuổi việc học hỏi và nghiên cứu sâu rộng hơn sau này.
Ngoài việc dậy học, giáo sư Thúc còn tham gia rất tích cực trong lãnh vực chuyên môn về kinh tế tài chánh trong chế độ cộng hòa ở miền nam Việt Nam.
Trong nhiều đoạn, tác giả đã kể lại những đóng góp của mình trong việc xây dựng được một nền tài chánh ngân hàng độc lập riêng cho Việt Nam, tách rời khỏi sự chi phối của người Pháp. Đây là một thành tựu rất đáng ca ngợi, mà giáo sư đã đạt được trong lúc giữ chức vụ Thống đốc Ngân hàng Quốc gia năm 1955 – 56, và cả sau này với cương vị là cố vấn kinh tế của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Điển hình như việc thành lập được Ngân hàng Việt Nam Thương Tín, Hội đồng Tối cao Tiền tệ và Tín dụng, Hội đồng Kinh tế Quốc gia v.v…
Tác giả còn thuật lại những cuộc gặp gỡ trao đổi với Tổng thống Ngô Đình Diệm với một thái độ khách quan, thẳng thắn cương trực. Cụ thể như trong việc đại diện cho phía Việt Nam để thương thảo với phái đoàn Staley của Mỹ hồi năm 1961, giáo sư đã được vị lãnh đạo giao phó trọn quyền quyết định về việc không công khai công bố việc phá giá đồng bạc của Việt Nam Cộng hòa.
Và sau này, dười thời Đệ nhị Công hòa, giáo sư lại điều khiển Nhóm Nghiên cứu Kế hoạch Hậu chiến cùng chung với phía đối tác người Mỹ do ông David Lilienthal dẫn đầu. Các chi tiết về sự thương thảo với chuyên viên người Mỹ trong hai dự án hợp tác này, cũng như việc tham dự thảo luận thường xuyên với Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới tại Washington DC cũng được tác giả ghi lại với nhiều chi tiết ngoạn mục lý thú.

3 – Lập trường quốc gia kiên định
Điểm đáng lưu ý nhất trong suốt bộ Hồi ký này là tác giả đã ghi ra được cái quan điểm và lập trường quốc gia kiên định của một người trí thức Việt Nam, không để cho mình bị mê hoặc bởi sự quyến rũ của chủ thuyết duy vật marxist-leninist.
Điển hình như trong tập luận án tiến sĩ với nhan đề : “L’economie communaliste du Vietnam”, tác giả đã không chấp nhận lề lối luận thuyết của Karl Marx, như giới trí thức tả khuynh ở nước Pháp hồi những năm 1940-50 thường áp dụng như là một cái mode thời thượng.
Và ông đã đưa ra lối phân tích độc đáo của mình về những nét đặc trưng của xã hội truyền thống ở Việt Nam, khác hẳn với mô hình marxist. Sự đóng góp này rất quan trọng về mặt lý thuyết
giúp cho giới hàn lâm đại học ở Âu Mỹ vào những năm 1950 thời đó có thể hiểu biết rõ ràng hơn về yếu tố văn hóa xã hội trong cơ cấu kinh tế nông thôn của nước ta.
Với sự phân định rạch ròi về lý thuyết như vậy, ông đã đứng hẳn về phe quốc gia, và phục vụ liên tục trong cả hai chế độ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa ở miền Nam. Và sau 1975, ngay dưới chế độ độc tài chuyên chế cộng sản, ông vẫn giữ được đức tính ngay thẳng, tiết tháo của một sĩ phu trí thức, không hề tỏ ra bị khuất phục trước tập đoàn bạo quyền.
Tác giả ghi lại những cuộc trao đổi lý luận thật là gay cấn, sôi động lý thú với ông Đỗ Ngọc Xuân là cán bộ giảng huấn trong lớp học về triết học Marx-Lenin dành riêng cho giới trí thức miền Nam.
Đến nỗi mà bà luật sư Nguyễn Thị Vui khi được nghe phu quân là ông Lâm Văn Sỹ tường thuật lại, thì đã gửi lời khen ngợi và bày tỏ sự cảm phục về sự can đảm bất khuất đối với giáo sư Thúc.
Nhờ sự can thiệp mạnh mẽ của Thủ tướng Pháp Raymond Barre là người bạn cùng dự thi văn bằng Thạc sĩ khóa năm 1950 với ông, nên giáo sư Thúc đã được qua định cư tại Pháp và được bổ nhiệm làm giáo sư dậy môn kinh tế tại Đại học Paris XII kể từ năm 1978. Chi tiết về mấy năm phải sống với cộng sản ở Sài Gòn đã được tác giả tường thuật lại khá đầy đủ, rành mạch trong nhiều trang vào phần sau của cuốn II.
Kể từ ngày qua định cư ở Pháp vào năm 1978, ngoài việc dậy học, giáo sư vẫn tiếp tục đóng góp những suy nghĩ của mình qua những bài báo về những vấn đề liên hệ đến tương lai của dân tộc, với một lập trường quốc gia vững chắc, đối lập dứt khoát với chủ trương độc tài chuyên chế áp bức của đảng Cộng sản Việt Nam.
Tác giả còn ghi lại những buổi phát biểu, thuyết trình trên đài truyền hình Pháp, nhằm phổ biến lập trường đứng đắn, nghiêm túc của người quốc gia trước sự xuyên tạc trắng trợn của những người tả phái làm lợi cho phía cộng sản.
Cụ thể như trong loạt phim lịch sử của nhà báo Henri de Turenne đã có những đánh giá quá ư thiên lệch, gây ác cảm của công luận đối với các chánh phủ quốc gia từ thời kỳ năm 1950 đến 1975.
Vì thế, giáo sư Thúc đã phải ra tay can thiệp, nhằm trình bày trước công luận nước Pháp về chính nghĩa của phe quốc gia, đối lập với chế độ độc tài tàn bạo của người cộng sản.
Sự đóng góp này đã giúp rất nhiều trong việc xây dựng và củng cố uy tín của phong trào tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.
Cuối cùng, về nhân cách của tác giả, tôi cũng xin ghi lại lời đánh giá của giáo sư Mai Văn Lễ là một cộng sự viên rất gần gũi lâu năm với giáo sư Vũ Quốc Thúc như sau :
“Ông ấy là người kiếm sống một cách lương thiện” (nguyên văn bằng tiếng Pháp được giáo sư Lễ nói với người viết bài này tại Washington DC hồi năm 1960: “Il gagne honnêtement sa vie”.)
Để tóm lược, người viết xin ghi nhận một lần nữa là : Tập Hồi ký “Thời Đại Của Tôi” của giáo sư Vũ Quốc Thúc chứa đựng rất nhiều thông tin vừa đa dạng phong phú, vừa rất mực khả tín làm cho người đọc nào cũng có thể tin tưởng được. Và xin trân trọng giới thiệu với quý độc giả.
Tập Hồi ký này sẽ được giới thiệu với công chúng tại miền nam California vào ngày Thứ Bảy 6 /11 2010, và tại Houston Texas vào ngày Chủ nhật 14 /11 2010.

California, 10/ 2010
Đoàn Thanh Liêm
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.