Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

3 Pages123>
Options
View
Go to last post Go to first unread
mit  
#1 Posted : Tuesday, December 21, 2010 4:00:00 PM(UTC)
mit

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 8/19/2011(UTC)
Posts: 964
Location: Earth

Was thanked: 9 time(s) in 9 post(s)
Đây là bài liên quan đến "10 Câu Hỏi (và trả lời bởi một tín đồ Công Giáo) Về Phật Giáo" vừa mới đăng trên forum VB.
Note: Theo Boy Scouts of America (BSA) Scout Law, điều thứ 12 là reverent: Hướng Đạo Sinh (HDS) chấp nhận sự hiện hữu của các tôn giáo khác và tôn trọng tín ngưỡng của tha nhân. HDS là các thiếu niên học về leadership & citizenship trong phong trào Hướng Đạo.


Nguyên tác: Ven. Shravasti Dhammika
Việt dịch: Thích Nguyên Tạng

HỎI : Người Phật tử có tin ở Thượng Đế không ?

ĐÁP : Không, chúng tôi không tin . Có nhiều lý do để giải thích điều này. Đức Phật, như các nhà tâm lý học và xã hội học hiện đại, tin rằng ý niệm đạo lý và nhất là quan điểm về Thượng Đế có cùng một nguồn gốc là sự sợ hãi. Đức Phật từng nói:

"Vì sự sợ hãi bất an mà con người thần thánh hóa núi non, cây rừng, lăng miếu." (Pháp cú 188)

Con người vào thời sơ khai tự thấy mình sống trong một thế giới nguy hiểm và thù địch, sợ hãi loài dã thú, không có khả năng kiếm đủ thực phẩm, lo sợ mình bị thương hay bệnh hoạn và hãi hùng khi những hiện tượng thiên nhiên như sấm chớp, núi lửa luôn đe dọa họ. Họ nhận ra sự bất an và chính họ tự tạo ra những tư tưởng thần thánh để tự an ủi mình trong một hoàn cảnh, và khơi dậy lòng can đảm khi họ lâm nguy và để an ủi họ khi hoàn cảnh trở nên xấu đi. Đối với thời điểm khủng hoảng hiện nay, bạn sẽ thấy người ta trở về với tín ngưỡng nhiều hơn, bạn sẽ nghe họ nói rằng tin tưởng vào một vị thần, một vị thánh nào đó thì họ sẽ có được sức mạnh để có thể đương đầu với cuộc sống. Bạn sẽ nghe họ giải thích rằng họ tin vào một đấng thiêng liêng đặc biệt, và lời cầu nguyện của họ được đáp ứng. Tất cả những điều này đã được Đức Phật dạy rằng ý niệm về Đấng thiêng liêng là do sự sợ hãi và thất vọng của con người mà có. Đức Phật dạy chúng ta nên cố gắng tìm hiểu những nỗi sợ hãi của chúng ta, hãy loại bỏ đi những tham muốn và hãy tiếp nhận những gì không thể đổi thay được trong bình tỉnh và can đảm. Đức Phật đã thay thế nỗi sợ hãi ấy không phải bằng một niềm tin phi lý mà bởi chánh kiến hợp lý

Lý do thứ hai, Đức Phật không tin vào thần linh vì ở đó dường như không có một bằng chứng nào để xác tín cho ý tưởng ấy. Có nhiều tôn giáo tuyên bố rằng chỉ có lời dạy của Đấng giáo chủ của họ là được duy trì, rằng họ hiểu là chỉ có một vị Chúa độc nhất, rằng Đấng thiêng liêng của họ đang hiện hữu còn những giáo chủ của những tôn giáo khác thì không có. Một số tôn giáo thì tuyên bố Thượng Đế là nam, nhưng một số khác thì cho rằng Thượng Đế là nữ, số còn lại thì cho là trung tính. Tất cả họ đều thỏa mãn rằng có nhiều bằng cớ để chứng minh Thượng đế của họiện hữu nhưng họ lại cười mỉa mai và không tin vào những chứng cứ cho sự có mặt Thượng Đế của những tôn giáo khác. Thật không có gì ngạc nhiên, vì có quá nhiều tôn giáo đã bỏ ra nhiều thế kỷ để cố gắng chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế mà vẫn không có thật hoặc không có chứng cớ cụ thể nào được tìm thấy. Đối với người Phật tử ngưng hết mọi phán quyết ấy cho đến khi những chứng cứ đó được phơi bày.

Lý do thứ ba, Đức Phật không tin vào Thượng Đế, vì tin tưởng như thế không cần thiết. Một số người tuyên bố rằng tin tưởng ở Thượng Đế là cần thiết để lý giải về nguồn gốc của vũ trụ. Nhưng điều này không đúng. Khoa học có một lối giải thích rất thuyết phục về quá trình hình thành của vũ trụ mà không liên hệ gì đến ý niệm của Thượng Đế. Có một số cho rằng tin tưởng vào Thượng Đế là cần thiệt để có một cuộc sống ý nghĩa và hạnh phúc. Một lần nữa chúng ta thấy điều đó cũng không đúng. Không kể đến tín đồ Đạo Phật, có hàng triệu người không theo tôn giáo nào và có tư tưởng tự do, không đặt niềm tin nơi Thượng Đế mà vẫn có một cuộc sống hạnh phúc, có ý nghĩa và hữu ích. Một số cho rằng tin vào sức mạnh của Thượng Đế là cần thiết vì con người là những sinh vật yếu đuối không đủ sức để tự cứu lấy mình. Một lần nữa, chứng cớ ấy vẫn đưa đến sự mâu thuẫn. Người ta thường nghe rằng có từng vượt qua bao chướng ngại, bao tai họa, bao xung đột và bao khó khăn bằng nỗ lực nội tâm của họà không tùy thuộc vào niềm tin nơi Thượng Đế. Một vài người tuyên bố rằng tin tưởng Thượng Đế là cần thiết để con người được cứu rỗi. Lý lẽ này chỉ đúng nếu trường hợp bạn là người chấp nhận lý thuyết của cứu rỗi và với người Phật tử không chấp nhận một quan niệm như thế. Dựa vào kinh nghiệm bản thân, Đức Phật nhìn thấy rằng mỗi chúng sanh đều có khả năng tịnh hóa tâm hồn , phát triển lòng từ bi và hoàn thiện sự hiểu biết. Ngài đã gạt bỏ sự chú ý về thiên đàng và nhắc nhở chúng ta nên tìm kiếm những giải pháp cho những vấn đề của chúng ta qua sự hiểu biết của chính mình.

HỎI : Nhưng nếu không có Thượng Đế thì làm sao có được vũ trụ ?

ĐÁP : Mọi tôn giáo đều có những chuyện huyền bí để giải đáp cho câu hỏi này. Ngày xưa, con người ngây ngô chưa biết gì, những chuyện huyền bí như vậy rất phù hợp. Nhưng vào thế kỷ hai mươi này, trong thời đại vật lý, thiên văn học và địa chất học, những điều huyền bí như thế sẽ bị những cơ sở khoa học đẩy lui. Khoa học đã giải thích nguồn gốc của vũ trụ mà không theo ý niệm của Thượng Đế.

HỎI : Như vậy thì Đức Phật đã nói gì về nguồn gốc của vũ trụ ?

ĐÁP : Thật là thú vị là lời giải thích của Đức Phật về nguồn gốc của vũ trụ rất phù hợp và gần gũi với quan điểm khoa học. Trong Kinh Trường A-Hàm, Đức Phật mô tả vũ trụ bị hoại diệt và rồi tái tiến hóa thành hình dạng hiện nay vô số triệu năm. Cuộc sống sơ khai hình thành từ những sinh vật có dạng đơn giảng đến dạng phức hợp trên mặt nước trải qua vô số triệu năm. Tất cả những tiến trình đó không có khởi đầu và kết thúc, và được vận hành theo những nguyên lý tự nhiên.

HỎI : Bạn nói không có chứng cớ về sự hiện hữu của Thượng đế. Vậy những phép lạ là cái gì ?

ĐÁP : Nhiều người tin rằng những phép lạ là bằng chứng về sự hiện hữu của Thượng Đế. Chúng ta từng nghe những lời tuyên bố bừa bãi về cách dùng phép lạ để chữa khỏi bệnh, tuy nhiên chúng ta chưa bao giờ có được một chứng cứ nào từ văn phòng y khoa hay của một bác sĩ xác nhận về việc đó. Chúng ta đã nghe những tin đồn rằng có một số người được cứu sống khỏi những thiên tai một cách kỳ lạ nhưng chúng ta chưa bao giờ thấy có được một lần chứng kiến giải thích về việc ấy. Chúng ta đã nghe đồn đoán rằng lời cầu nguyện có thể đi thẳng vào thân thể hay đến với tứ chi què quặc của bệnh nhân, nhưng chúng ta chưa bao giờ thấy chụp quang tuyến hay có một lời nhận xét đúng đắn của những bác sĩ và y sĩ. Thật hiếm khi những phép lạ có bằng chứng rõ ràng và những bằng chứng này lại không thay thế được những lời tuyên bố bừa bãi, những bản báo cáo và tin đồn nhãm. Tuy nhiên, đôi khi những trường hợp không thể giải thích cũng có xảy ra, những sự kiện không chờ đợi đã xảy đến. Chúng ta phải thừa nhận sự bất lực của con người không thể giải thích được những bằng chứng về sự hiện hữu của Thượng Đế. Điều đó chứng minh rằng kiến thức của chúng ta còn giới hạn. Trước thời kỳ nền y học hiện đại phát triển, người ta không biết đâu là nguyên nhân gây ra bệnh và tin rằng Thần linh hay Thượng đế tạo ra bệnh tật để trừng phạt con người. Ngày nay chúng ta đã biết được lý do nào gây ra bệnh và khi đau bệnh chúng ta uống thuốc. Đã đến lúc kiến thức của chúng ta về thế giới ngày càng hoàn thiện hơn, chúng ta có thể hiểu cái gì tạo ra những hiện tượng không giải thích được, cũng như những nguyên do gây ra bệnh.

HỎI : Nhưng có quá nhiều người tin vào một vài hình thức của Thượng Đế, điều đó chắc là đúng ?

ĐÁP : Không hẳn. Đã có lúc người ta tin rằng trái đất này là bằng phẳng. Nhưng họ đã sai. Số người đã tin vào tư tưởng mà họ không dựa trên sự thật thường hay sai lầm. Chúng ta có thể nói việc ấy đúng hay sai chỉ bằng cách quan sát các sự kiện và kiểm tra lại chứng cớ.

HỎI : Như thế, nếu như người Phật tử không tin vào Thượng Đế thì họ tin vào cái gì ?

ĐÁP : Chúng tôi không tin vào Thượng Đế vì chúng tôi tin ở con người. Chúng tôi tin rằng mỗi con người là cao quý và quan trọng, rằng tất cả đều có một tiềm lực để thành một vị Phật - một con người toàn hảo. Chúng tôi tin rằng con người có thể vượt thoát được vô minh, những điều phi lý và thấy được mọi sự vật đúng như thật. Chúng tôi tin rằng ghen ghét, giận dữ, ganh tỵ, khinh khi có thể thay thế bằng lòng yêu thương, nhẫn nhục, rộng lượng và tử tế. Chúng tôi tin rằng tất cả những điều này đang có sẳn ở trong mọi người, nếu họ nỗ lực và được hướng dẫn , được những Phật tử thuần thành hỗ trợ và được hấp thụ giáo lý của Đức Phật.

Như lời Phật dạy:

"Không ai có thể cứu giúp được ta ngoại trừ chính ta.
Không ai có thể và không ai có thể làm được.
Chính ta phải bước vào con đường này. Chư Phật chỉ là người dẫn đường." Kinh Pháp Cú 165
thanks 1 user thanked mit for this useful post.
lly (Lynn Ly) on 7/11/2012(UTC)
tom92870  
#2 Posted : Thursday, December 23, 2010 3:24:26 PM(UTC)
tom92870

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 104

Bài viết rất có giá trị xac' thuc , rất gân vơi triết hoc Phật giáo nguyên thuỷ Tuy nhiên dể củng cố niềm tin chung ta nen chap nhan su thay dổi trong Tư tuong suy luận dể phù hơp với sự phat triển niềm tin trong thế kỷ 21 nầy, Sư châp nhận ly thuyết mới Dức Thế Tôn từ trời xuong dể cứu dộ chúng sanh, ban phước lành và giải thoát khổ dau cho toan phương thiên hạ .
TVB  
#3 Posted : Saturday, December 25, 2010 12:42:37 AM(UTC)
TVB

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 52

quote:
Originally posted by Mit
Đây là bài liên quan đến "10 Câu Hỏi (và trả lời bởi một tín đồ Công Giáo) Về Phật Giáo" vừa mới đăng trên forum VB.
Note: Theo Boy Scouts of America (BSA) Scout Law, điều thứ 12 là reverent: Hướng Đạo Sinh (HDS) chấp nhận sự hiện hữu của các tôn giáo khác và tôn trọng tín ngưỡng của tha nhân. HDS là các thiếu niên học về leadership & citizenship trong phong trào Hướng Đạo.


Nguyên tác: Ven. Shravasti Dhammika
Việt dịch: Thích Nguyên Tạng


ĐÁP : Không hẳn. Đã có lúc người ta tin rằng trái đất này là bằng phẳng. Nhưng họ đã sai. Số người đã tin vào tư tưởng mà họ không dựa trên sự thật thường hay sai lầm. Chúng ta có thể nói việc ấy đúng hay sai chỉ bằng cách quan sát các sự kiện và kiểm tra lại chứng cớ.

"Không ai có thể cứu giúp được ta ngoại trừ chính ta.
Không ai có thể và không ai có thể làm được.
Chính ta phải bước vào con đường này. Chư Phật chỉ là người dẫn đường." Kinh Pháp Cú 165




Thử xem qua vài số liệu và những sự kiện lịch sử sau:

1/-Tinh thần của đạo Phật là TỪ BI, Thái lan là quốc gia có tới 94,7% người dân là Phật tử (đạo Phật là quốc giáo). Thế mà thảm trạng cướp biển Thái lan, cướp-hiếp-giết..,những thuyền nhân VN tỵ nạn CS tay không tấc sắt, 1 thời đã làm rúng động lương tâm nhân loại...

+Câu hỏi ở đây là, những tên hải tặc Thailand đó có được hấp thụ giáo lý của Đức Phật; có được sự hỗ trợ của những Phật tử thuần thành hay không mà lại xử sự như lũ cầm thú CỘNG SẢN VÔ THẦN làm vậy?!? (hxxp://en.wikipedia.org/wiki/Religion_in_Thailand)

2/-Tinh thần của đạo Phật là TỪ BI, Miến Điện là quốc gia có 89,20% người dân theo đạo Phật. Thế mà, chế độ độc tài quân phiệt Miến đã thẳng tay đàn áp những nhà sư hiền lành , những người dân vô tội, lầm than....(hxxp://asiarecipe.com/burreligion.html)

3/-Tinh thần của đạo Phật là TỪ BI, Cam-pu-chia là quốc gia có tới 95% dân theo Phật giáo. Thế mà đã có những “cánh đồng giết người”, tàn sát đồng loại 1 cách man rợ nhất trong lịch sử loài người.

+Câu hỏi ở đây là, những tên đồ tể đó có được hấp thụ giáo lý của Đức Phật; có được sự hỗ trợ của những Phật tử thuần thành hay không mà lại sử xự y như lũ cầm thú CỘNG SẢN VÔ THẦN vậy?!? (hxxp://en.wikipedia.org/wiki/Religion_in_Cambodia)

4/-Còn anh Ba Tàu (China), có Tam Tạng đi thỉnh kinh (Phật) thì sao? Có “Thiên An môn”; có Hồng vệ binh; có “Trăm hoa đua nở”; có “Đại nhảy vọt”; có..., có... và có....quá nhiều sự kiện đẫm máu-man rợ đã xảy ra.

5/-Ở VN ta thì sao? Miền Bắc được xem như cái nôi của Phật giáo VN, nơi mà tên Việt gian Hồ chí Minh đã phát lệnh tiến hành “Cải cách ruộng đất” tàn sát đồng bào 1 cách tàn bạo-điên cuồng-kinh khủng nhất nhì trên TG. Còn “Nhân văn giai phẩm”; còn “Mậu Thân 1968” ở Huế..

Từ những kẻ đầu têu như Minh, Giáp, Đồng, Chinh, Duẫn...cho đến những tên tay sai trực tiếp nhúng tay vào máu đều thấm nhuần tư tưởng VÔ THẦN của bọn Cộng sản.


+++Như vậy, có thể kết luận VÔ THẦN là nguồn gốc của cái ÁC được chưa?

TVB  
#4 Posted : Saturday, December 25, 2010 2:43:31 AM(UTC)
TVB

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 52

_Nguyên tác: Ven. Shravasti Dhammika
Việt dịch: Thích Nguyên Tạng

(HỎI : Người Phật tử có tin ở Thượng Đế không ?

ĐÁP : Không, chúng tôi không tin . ….)

+”Chúng tôi” bao gồm những ai? Là tất cả những Phật tử thuộc mọi chi phái trên TG như Đại thừa, Tiểu thừa, Mật tông....? Tất cả đều không tin có TĐ chăng? Thế “cầu Trời, khẩn Phật” nghĩa là gì?

Tác giả V.S. Dhammika có quyền nói rằng cá nhân mình không tin TĐ. Tác giả cũng có thể tuyên bố rằng: “Tuyệt đại đa số Phật tử chúng tôi không tin có TĐ (Trời)”, nhưng nhất thiết phải trưng dẫn các cứ liệu khả tín liên quan (nếu có), chứ không nên nói khơi khơi như thế. Lúc suy nghĩ (Ý), nói (KHẨU), làm (THÂN) chỉ nên nhân danh chính mình mà thôi.


_(...tin rằng ý niệm đạo lý và nhất là quan điểm về Thượng Đế có cùng một nguồn gốc là sự sợ hãi. Đức Phật từng nói:
"Vì sự sợ hãi bất an mà con người thần thánh hóa núi non, cây rừng, lăng miếu." (Pháp cú 188)

+TĐ không phải là núi non, cây rừng, lăng miếu. Ở đoạn này, tác giả đã “vô tình” có ý so sánh TĐ (có tính cách tâm linh siêu hình) với núi non-cây rừng-lăng miếu (thuộc phạm trù vật chất), ==> vô nghĩa và vô giá trị.

+Tác giả có quyền tuyên bố rằng:"đa số những người tin có TĐ là do sợ hãi,...blah blahh.." (nhưng nhớ cho dẫn chứng và các số liệu thống kê liên quan).
Nhưng Fate, người tin vào TĐ, nói rằng: “tôi tin không phải do sợ hãi mà bắt nguồn từ sự cảm kích và lòng biết ơn”. Và có 1 số người Fate biết, cũng có niềm tin vào TĐ mà không phải do sợ hãi mà tin.


_(Lý do thứ hai, Đức Phật không tin vào thần linh vì …
Lý do thứ ba, Đức Phật không tin vào Thượng Đế, vì....)

+Dám hỏi tác giả dựa vào đâu để ngôn rằng Đức Phật không tin có TĐ? Tác giả không là Phật sao biết Phật không tin?

Fate cho rằng Đức Phật là người tin có TĐ, nhưng có thể Ngài nghĩ rằng ý niệm về thần linh, về TĐ sẽ tạo ra sự ỷ lại, mê tín, hối lộ-mua chuộc-nhân danh thần thánh..., không tốt cho sự phát triển tâm linh con người vào thời đó.

Có thể Đức Phật vì tin rằng tất cả đều là con cái của TĐ, nên Ngài mới thương yêu tất cả chúng sanh và đi giảng pháp để độ cho những anh em khác còn ngụp lặn trong cõi tối tăm, vô minh khốn khổ.
mit  
#5 Posted : Monday, December 27, 2010 2:16:40 AM(UTC)
mit

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 8/19/2011(UTC)
Posts: 964
Location: Earth

Was thanked: 9 time(s) in 9 post(s)
quote:
Originally posted by Fate_
_Nguyên tác: Ven. Shravasti Dhammika
Việt dịch: Thích Nguyên Tạng

(HỎI : Người Phật tử có tin ở Thượng Đế không ?

ĐÁP : Không, chúng tôi không tin . ….)

+”Chúng tôi” bao gồm những ai? Là tất cả những Phật tử thuộc mọi chi phái trên TG như Đại thừa, Tiểu thừa, Mật tông....? Tất cả đều không tin có TĐ chăng? Thế “cầu Trời, khẩn Phật” nghĩa là gì?

Tác giả V.S. Dhammika có quyền nói rằng cá nhân mình không tin TĐ. Tác giả cũng có thể tuyên bố rằng: “Tuyệt đại đa số Phật tử chúng tôi không tin có TĐ (Trời)”, nhưng nhất thiết phải trưng dẫn các cứ liệu khả tín liên quan (nếu có), chứ không nên nói khơi khơi như thế. Lúc suy nghĩ (Ý), nói (KHẨU), làm (THÂN) chỉ nên nhân danh chính mình mà thôi.


_(...tin rằng ý niệm đạo lý và nhất là quan điểm về Thượng Đế có cùng một nguồn gốc là sự sợ hãi. Đức Phật từng nói:
"Vì sự sợ hãi bất an mà con người thần thánh hóa núi non, cây rừng, lăng miếu." (Pháp cú 188)

+TĐ không phải là núi non, cây rừng, lăng miếu. Ở đoạn này, tác giả đã “vô tình” có ý so sánh TĐ (có tính cách tâm linh siêu hình) với núi non-cây rừng-lăng miếu (thuộc phạm trù vật chất), ==> vô nghĩa và vô giá trị.

+Tác giả có quyền tuyên bố rằng:"đa số những người tin có TĐ là do sợ hãi,...blah blahh.." (nhưng nhớ cho dẫn chứng và các số liệu thống kê liên quan).
Nhưng Fate, người tin vào TĐ, nói rằng: “tôi tin không phải do sợ hãi mà bắt nguồn từ sự cảm kích và lòng biết ơn”. Và có 1 số người Fate biết, cũng có niềm tin vào TĐ mà không phải do sợ hãi mà tin.


_(Lý do thứ hai, Đức Phật không tin vào thần linh vì …
Lý do thứ ba, Đức Phật không tin vào Thượng Đế, vì....)

+Dám hỏi tác giả dựa vào đâu để ngôn rằng Đức Phật không tin có TĐ? Tác giả không là Phật sao biết Phật không tin?

Fate cho rằng Đức Phật là người tin có TĐ, nhưng có thể Ngài nghĩ rằng ý niệm về thần linh, về TĐ sẽ tạo ra sự ỷ lại, mê tín, hối lộ-mua chuộc-nhân danh thần thánh..., không tốt cho sự phát triển tâm linh con người vào thời đó.

Có thể Đức Phật vì tin rằng tất cả đều là con cái của TĐ, nên Ngài mới thương yêu tất cả chúng sanh và đi giảng pháp để độ cho những anh em khác còn ngụp lặn trong cõi tối tăm, vô minh khốn khổ.
Thay vì trả lời từng câu phê bình của bác, tôi xin trích một đoạn trong bài đăng của Tueuyen trong Forum nầy:
"Điển hình nhất của lòng tôn trọng và hòa hài này là câu chuyện Đức Đạt Lai Lạt Ma thường kể trong các pháp hội.

Ngài nói: "Tôi có quen biết một người bạn Âu Mỹ tu trong truyền thống Thiên Chúa Giáo của giòng tu Phan Xi Canh, một giòng tu kín và thường hay nhập ẩn tu, để trầm tư mặc tưởng (thiền theo lối Thiên Chúa Giáo). Một hôm, trong lúc nói chuyện, tôi hỏi thăm là khi ông nhập ẩn tu như vậy để mặc tưởng thì ông thiền định về điều gì? Ông ta nói rằng chỉ để thiền định về lòng nhân từ (nhân ái-từ bi) [6].

Tôi thật là thích thú nhận ra rằng căn bản của các tôn giáo vẫn là lòng từ bi. Sau một thời gian quen biết và trao đổi các kinh nghiệm tu tập, ông ta càng ngày càng thích về Phật giáo. Rồi đến một hôm, ông đến gặp tôi nói rằng, thưa Ngài, tôi bây giờ đang tìm hiểu về Tánh Không. Tôi bèn cười và nói với ông ta: đấy không phải là chuyện của ông (that is none of your business)".
Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích là vì ông ta từ xưa đến giờ vẫn tu trong truyền thống tôn giáo hữu thần, nghĩa là đặt trọng tâm trên lòng tin vào đấng Thượng Đế Toàn Năng. Nếu bây giờ tìm hiểu vào Tánh Không của Phật giáo sẽ phải loại bỏ ý niệm và lòng tin vào đấng Thượng Đế, vì Tánh Không đồng nghĩa với Nhân Quả và Duyên Khởi, nói rằng không có đấng Tạo Hóa nào sinh ra mọi sự vật, mà tất cả chỉ là do nhân duyên, tùy thuộc vào nhau mà khởi sinh. Nếu tìm học thêm như thế, ông ta sẽ có nguy cơ bị mất lòng tin vào Thượng Đế và sẽ lâm vào tình rạng rối loạn tâm linh, đó là một điều rất nguy hiểm cho người tu sĩ..."



thanks 1 user thanked mit for this useful post.
lly (Lynn Ly) on 7/11/2012(UTC)
TVB  
#6 Posted : Monday, December 27, 2010 4:11:22 PM(UTC)
TVB

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 52

quote:
Originally posted by Mit
Quote:
Originally posted by Fate_
_Nguyên tác: Ven. Shravasti Dhammika
Việt dịch: Thích Nguyên Tạng
vì Tánh Không đồng nghĩa với Nhân Quả và Duyên Khởi, nói rằng không có đấng Tạo Hóa nào sinh ra mọi sự vật, mà tất cả chỉ là do nhân duyên, tùy thuộc vào nhau mà khởi sinh. Nếu tìm học thêm như thế, ông ta sẽ có nguy cơ bị mất lòng tin vào Thượng Đế và sẽ lâm vào tình rạng rối loạn tâm linh, đó là một điều rất nguy hiểm cho người tu sĩ..."[/brown]






Chào bạn Mit,

Dường như có chút gì như là hiểu lầm giữa Fate và Mit.

Fate luôn nghĩ rằng tinh thần của ĐẠO PHẬT là hướng dẫn con người đi về CHÁNH ĐẠO. Có điều Fate thường hay tự hỏi rằng, những lời Phật dạy rất rõ ràng, đơn giản và trong sáng mà tại sao những "đệ tử" của Ngài lại đi huyền bí hóa, cao siêu hóa, úm-ba-la hóa....những lời chỉ dạy của Ngài????

Phải chăng họ muốn khẳng định rằng ĐẠO PHẬT chỉ dành riêng cho những người có "nhân-duyên", có "khởi sinh" khác người?? Còn những anh chị em nào không có ( hiểu) được NHÂN-DUYÊN tùy thuộc vào nhau mà KHỞI SINH là cái gì, thì không "có cửa" để hiểu Phật chăng? Tại sao phải làm cho tối nghĩa những lời nói của Người? Để làm gì???

Fate chỉ có ý phê bình những ai đang nhân danh ĐỨC PHẬT, nhân danh Chúa,..., mà tòan là làm ngược lại những lời dạy của THẦY họ. Chỉ có thế.

Mit là người nhã nhặn, thông minh và tự chủ. Fate thành thật xin lỗi nếu có lời gì khiến bạn không vui. Nhưng có 1 sự thật là hiện nay có quá nhiều kẻ giả hình, lợi dụng tôn giáo để mưu cầu DANH- LỢI. Đó là những người mà tôi không thể "ưa được".
Hư Trúc  
#7 Posted : Tuesday, January 25, 2011 11:38:01 PM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
26.- Swati Chopra: Đức Phật đã im lặng đối với câu hỏi về Thượng Đế. Ngài thì sao?
Đức Đạt Lai Lạt Ma: Tại sao Đức Phật không nói bất cứ điều gì về Thượng Đế? Bởi vì Ngài đã nói về luật nhân quả. Một khi quý vị chấp nhận luật nhân quả, điều ấy hàm ý rằng không có ‘đấng tạo hóa’. Nếu Đức Phật chấp nhận khái niệm về một đấng tạo hóa, ngài đã không im lặng; mọi thứ đã là Thượng Đế!
thanks 1 user thanked Hư Trúc for this useful post.
lly (Lynn Ly) on 7/11/2012(UTC)
Hư Trúc  
#8 Posted : Friday, February 4, 2011 2:20:44 AM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)

27.- HỎI: Ai làm nên luật nhân quả?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Về điều ấy, Đức Phật đã nói là ‘tâm’, chẳng bao giờ là Thượng Đế hay pháp thân hay ngay cả chính Đức Phật.


thanks 1 user thanked Hư Trúc for this useful post.
lly (Lynn Ly) on 7/11/2012(UTC)
Hư Trúc  
#9 Posted : Sunday, February 13, 2011 2:50:16 AM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
28.- HỎI: Tâm đã diễn ra như thế nào?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Cội nguồn của tâm là tự nhiên, là bản chất. Từ ngữ được dùng cho sự tồn tại là ‘duyên khởi’. Nói về Thượng Đế, ai tạo ra Thượng Đế? Không có điểm nào tranh luận được. Pháp Xứng và Tịch Thiên tranh luận về sự tồn tại của Thượng Đế và đạt đến kết luận rằng nếu chúng ta tin tưởng trong một đấng tạo hóa nhân từ, làm thế nào chúng ta giải thích về khổ đau? Tôi nhớ một sự kiện buồn cười. Trong kịch nghệ Tây Tạng, bình phẩm cho phép và ngay cả Đức Phật cũng không được tha. Có một người diễn kịch ở trên sân khấu và ông nói rằng ông không tin Thượng Đế. Nếu Thượng Đế làm ra chúng ta, ông nói, thay vì đặt cả đôi mắt ở phía trước, một mắt nên được đặt ở phía sau! Chúng ta sẽ tiện lợi hơn trong cách ấy. Ngoài hài hước ra, ý tưởng không có ý bất kính một tôn giáo nào nhưng là để phân tích bản chất tự nhiên của thực tại.

thanks 1 user thanked Hư Trúc for this useful post.
lly (Lynn Ly) on 7/11/2012(UTC)
Hư Trúc  
#10 Posted : Thursday, February 17, 2011 12:25:36 PM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
29.- HỎI: Ngài có thấy một nền tảng chung nào giữa Phật Giáo và Ấn Giáo không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA:: Một cách lịch sử, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni là một người Ấn Giáo. Vì thế tôi muốn gọi Ấn Giáo và Phật Giáo là anh em sinh đôi. Rồi thì có những sự thực tập chung như chỉ (samadhi) và quán (vipassana). Sự phân ranh đến từ khái niệm tính không. Trong khi Ấn Giáo tin tưởng trong ngã (atma), Phật Giáo tin tưởng vô ngã (anatma). Trong sự thực tập bất bạo động, Kỳ Na Giáo (Jain) hoàn hảo hơn cả Phật Giáo và Ấn Giáo.


thanks 1 user thanked Hư Trúc for this useful post.
lly (Lynn Ly) on 7/11/2012(UTC)
Hư Trúc  
#11 Posted : Thursday, February 17, 2011 12:41:26 PM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
30.- HỎI: Aldous Huxley [3] đã nói về ‘triết lý lập lại’ – nền tảng huyền bí thông thường của tất cả mọi tôn giáo. Ngài có tin điều ấy không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA::: Điều này thì khó để nói. Tại một trình độ, tất cả mọi tôn giáo đều có một khuynh hướng – chuyển hóa cá nhân thành những con người tích cực. Ở một trình độ khác, những tôn giáo hữu thần không có nhận thức về niết bàn.

Hư Trúc  
#12 Posted : Sunday, February 27, 2011 8:14:56 AM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
Phật giáo khác các tôn giáo khác ở điểm nào?

Phật giáo khác các tôn giáo khác ở chỗ: Phật giáo không thừa nhận có một Thượng đế sáng tạo, ngự trị và chi phối đời sống của con người. Khổ đau hay hạnh phúc là do mỗi con người tự tác thành cộng với sự chi phối của dòng nghiệp lực cũng do chính mỗi con người tạo ra.

Đức Phật dạy: “Con người trở nên cao quý hay đê hèn không phải do nguồn gốc sinh thành từ gia đình hay đẳng cấp xã hội mà trái lại do chính hành động của tự thân làm cho con người trở nên cao quý hay đê hèn” .

Thêm vào đó, điểm khác biệt căn bản trong hệ thống triết lý của Phật giáo và các tôn giáo khác là: Phật giáo cho rằng tất cả pháp (những gì có mặt trên cuộc đời, bao gồm cả tâm và vật) trên thế gian này đều là duyên sinh, có điều kiện; và do đó, tất cả pháp là vô ngã, không hề có một thực thể nào bất biến, vĩnh hằng, cũng không có ai làm chủ đời sống của con người, ngoại trừ con người cá thể.

Điều quan trọng nổi bật trong giáo lý của đạo Phật là tất cả chúng sinh đều có Phật tính, và đều có khả năng thành Phật.

Sự giác ngộ, giải thoát tối thượng là chân lý bình đẳng đối với tất cả chúng hữu tình mà không phải là một ân sủng đặc biệt dành cho riêng ai. Đây là quan điểm bình đẳng vĩ đại, khó có thể tìm thấy ở những tôn giáo thần quyền khác.

Khải Thiên (Theo Cẩm nang của người Phật tử)

http://giacngo.vn/thoisu/2011/02/18/7F721B/
thanks 1 user thanked Hư Trúc for this useful post.
lly (Lynn Ly) on 7/11/2012(UTC)
Hư Trúc  
#13 Posted : Saturday, March 5, 2011 12:52:43 PM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
Đức Phật có phải là một thượng đế hay không?

Tác giả : Thanh Tâm


Từ trước đến nay, câu hỏi “đức Phật có phải là một đấng thượng đế hay không?” đã được đặt ra và được trả lời khác nhau trên nhiều phương diện. Vào thời đức Phật, có nhiều người đã tôn thờ Ngài như là Thượng đế hoặc là sự hóa thân của Thượng đế. Nhưng đức Phật không bao giờ đồng ý với sự tôn thờ này. Trong kinh Tăng Chi Bộ, đức Phật dạy rằng: “Quả thực Như Lai không phải là một thiên thần, không phải là một Càn-thát-bà, chẳng phải là quỷ thần, cũng chẳng phải là người. Hãy biết rằng Như Lai là một vị Phật”. Điều đó chứng tỏ Ngài chưa bao giờ tuyên bố Ngài là Thượng đế hay sứ giả của Thượng đế. Thế nhưng, trong quá trình học hỏi của giới bình dân cũng như một số nhà nghiên cứu hiện tại vẫn còn nhiều người lầm tưởng xem đức Phật là một vị thần linh tối cao, có quyền ban phước giáng họa như ở một số tôn giáo khác. Hoặc giả khi đọc vào tư tưởng triết học Ấn giáo (hóa thân của Bà-la-môn giáo), có quan niệm Phật là hóa thân từ “Đại ngã” thì chúng ta phải nhận thức thế nào? Chúng ta biết rằng, nền triết học của Ấn Độ giáo ra đời trước Phật giáo và trong một thời gian dài đã mất thế đứng trong lòng quần chúng do sự ảnh hưởng của Phật giáo quá lớn. Vì thế, họ đã gán ghép cho đức Phật là một vị thần linh biến thân của “Đại ngã”. Không chỉ tôn giáo đó mà các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác thỉnh thoảng cũng lầm tưởng đức Phật là một vị Thượng đế. Chính những quan niệm mơ hồ này khiến cho mọi người hoang mang, không biết nhận định thế nào là đúng là sai. Vậy, người con Phật làm thế nào để định hình được niềm tin; phải trả lời như thế nào khi có một người hỏi đức Phật có phải là một vị thượng đế hay không? Hay rồi không hiểu rõ lại đánh đồng cho rằng Phật là một đấng Thượng đế. Để giải trừ sự nghi ngờ và trả lời câu hỏi, chúng ta hãy đi sâu vào tìm hiểu đời sống của đức Phật từ khi Ngài xuất hiện trên thế gian cho đến lúc nhập Niết-bàn, thì sẽ hiểu và thấy Ngài có phải là một đấng Thượng đế hay không hay Ngài cũng là một con người nhưng vượt qua những con người khác, đó là con người tỉnh thức, con người giác ngộ.

Đức Phật có cuộc sống của một con người nhưng cuộc sống đó thánh thiện hơn, cao thượng hơn. Cuộc sống của một người không còn vướng mắc vào ngũ dục trần gian. Tự thân vận động tu tập phấn đấu cho quả vị tự giác ngộ vô thượng của mình, không nương nhờ một ai. Nhờ vào những nỗ lực cá nhân, Ngài tu tập hạnh Thập độ ba la mật: bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, kiên định, từ tâm, xuất ly, chân thật và xả. Nhờ đó, Ngài đã mở được những cánh cửa đưa đến tất cả các tri kiến. Ngài chứng biết tất cả các pháp được biết, tu tập tất cả những pháp môn được tu tập và đoạn trừ tất cả các lậu hoặc phải được đoạn trừ. Thật vậy, trên cuộc đời này không có một bậc Đạo sư nào có thể so sánh tương xứng với Ngài, xét về lĩnh vực tu tập và chứng đắc quả vị. Ở đây, chúng ta nên đi vào tìm hiểu về lịch sử và hành trình thuyết pháp của Ngài để làm sáng tỏ vấn đề.

Đức Phật sinh ra trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Ngài có một cuộc sống vương giả quyền quý, rồi từ bỏ ngôi vị ấy để đi xuất gia tìm kiếm con đường chân thật, giải quyết những khổ đau của kiếp người cho đến lúc giác ngộ Bồ-đề.

Vào năm 624 BC, lúc Ngài mới sinh ra, có một vị tiên nhân tên là A-tư-đà đang tu hành ở trên núi, thấy tâm tư chấn động biết có bậc vĩ nhân ra đời nên đã rời núi để đến xem tướng. Khi gặp Thái tử Sĩ-đạt-ta, vị tiên nhân đã cúi lạy và tiên đoán rằng con người này trong tương lai sẽ đắc quả Chánh giác. Sau khi biết được lời tiên đoán của vị tiên nhân, vua cha lo lắng tương lai con mình rồi đây sẽ xuất gia tu hành và sự hoài vọng có người kế nghiệp lãnh đạo thay mình sẽ không còn nên đã cho xây dựng nhiều lâu đài tráng lệ để cột chân Ngài, đồng thời tuyển chọn những cung nhân mỹ nữ đẹp nhất trong hoàng thành về hầu hạ Ngài, và còn làm lễ chọn hoàng phi cho Ngài. Công chúa Gia-du-đà-la, một hoa khôi đẹp nhất thời bấy giờ, con của vua Thiện Giác đã trở thành vợ của Thái tử.

Mặc dù sống trong hoàng cung xa hoa lộng lẫy như vậy, nhưng hoài bảo về kiếp người, nỗi ưu tư về cuộc sống vẫn luôn khắc sâu trong tâm trí của Ngài. Một hôm, Ngài xin vua cha được ra khỏi hoàng cung đi dạo. Ngài đã tiếp xúc và thấy được kiếp sống thật sự của người dân, đặc biệt ba cảnh ấn tượng nhất: một người già, một người bệnh và một người chết với nhiều người khóc lóc đập vào mắt Ngài. Thái tử rất ngạc nhiên với những cảnh tượng này, bởi vì Ngài chưa bao giờ tiếp xúc và được biết đến cảnh con người rồi sẽ già, sẽ bịnh và sẽ chết đi bao giờ. Thấy được thực cảnh như vậy, lòng xúc cảm trào dâng về thân phận của kiếp người: “Tất cả rồi sẽ khổ đau giống nhau”. Điều đó đã đập mạnh vào trong tiềm thức của Ngài, làm sống dậy tình thương nhân loại trong vô lượng kiếp. Những thắc mắc dấy khởi: làm sao kiếp người hết khổ, được vui; làm sao con người không còn sự phân chia trong sắc tộc, không còn sanh già bệnh chết? Trong sự ưu tư thắc mắc đó, Ngài gặp được hình bóng một vị khất sĩ thong dong tự tại, liền đến hỏi và biết được con đường chấm dứt tất cả những đau khổ kia sẽ không còn hiện hữu khi chánh đạo hiển bày, và con đường đó nhất quyết cần phải khám phá ra ngay trong tự thân của mình.

Trở về hoàng cung, những ảnh tượng thấy được ở ngoài thành càng trổi dậy, nhưng Thái tử chưa quyết định được chuyện ra đi. Đến khi nhận được tin hoàng phi hạ sanh vị hoàng nam, Ngài thấy mình đã làm xong bổn phận của một người con, nên trong đêm tối gọi Xa-nặc thắng ngựa Kiền trắc ra đi, bỏ lại sau lưng sự xa hoa cám dỗ của hoàng cung, vợ đẹp, con thơ, quyết tâm sống đời sống không gia đình, mong sao tìm sự thật của cuộc đời. “Hỡi nhân loại đang quằn quại đau thương, hỡi đời sầu khổ! Vì các người mà ta đành bỏ tuổi măng tơ, bỏ ngôi báu, bỏ những ngày vàng và đêm ngọc, gỡ cánh tay bám víu của người vợ hiền, cắt ngang tình yêu mãnh liệt của phụ vương và xa lánh đứa con thơ đang nằm trong lòng mẹ. Hỡi phụ hoàng hiền thê bào nhi và xã tắc! Xin hãy gắng chịu sự chia ly này cho đến ngày tôi tìm ra Đạo.” (Ánh Đạo vàng, Võ Đình Cường) Ngài đã ra đi trong sự im lặng tịch tĩnh của đêm khuya khi mọi người đang yên giấc, để lại sau lưng bao sự nhớ nhung tiếc nuối của phụ hoàng, thân tộc, quần thần và dân chúng. Nhưng sự đau khổ của kiếp người mới chính là vấn đề đặt lên hàng đầu cho hành trình ra đi của Ngài. Sau khi đến bờ sông A-nô-ma, Ngài từ giả Xa-nặc, người cận thần thân thương để ra đi một mình, đi vào chốn thâm sơn cùng cốc tầm sư học đạo. Trải qua nhiều tháng, nhiều năm, Ngài đã học được tất cả các học thuyết của các trường phái tu học bấy giờ, chứng ngộ những cảnh giới khác nhau của các thiền dục giới, sắc giới và vô sắc giới, nhưng cánh cửa bất tử vẫn không thể nào hé mở, và những sở đắc đó vẫn nằm trong sanh tử nên Ngài tiếp tục từ bỏ nó để ra đi. Ngài bắt đầu thực hành nếp sống khổ hạnh ép xác, trở thành vị tinh chuyên khổ hạnh đệ nhất trong nếp sống khổ hạnh, nhưng vẫn không đạt được giải thoát. Sau 6 năm khổ hạnh, Ngài kết luận rằng: khổ hạnh chỉ làm cho con người kiệt sức, làm cho tinh thần bạc nhược mà không đem lại kết quả gì. Ngài liền từ bỏ và tiếp tục ra đi. Ngài đã đến vườn Lộc uyển, bên dòng sông Ni-liên-thuyền. Tại đây, Ngài quyết định thiền định dưới gốc Bồ-đề với lời thề sống chết: “Dù thịt nát xương tan quyết không rời khỏi gốc Bồ-đề này cho đến lúc thành Chánh giác”. Lời khuyến tấn đó khiến cho Ngài thêm tinh tấn. Ngài đã nỗ lực tinh chuyên trong 49 ngày đêm tư duy thiền định, đến khi sao mai vừa mọc, mọi lậu tận rơi rụng, đã chứng ngộ Vô thượng Bồ-đề, trở thành đức Phật Thích-ca, mặc dù đã bị Ma vương quấy nhiễu trong giai đoạn cuối cùng, nhưng nội ma và ngoại ma phải khuất phục trước ánh sáng của tuệ giác và bóng tối vô minh phải được đẩy lùi khi ánh sáng chân lý bừng khởi.

Sau khi thành đạo, với tri kiến thanh tịnh, với chân lý vừa chứng ngộ được, Ngài lên đường vận chuyển truyền trao giáo pháp. Trong suốt 45 năm truyền đạo cho đến lúc sắp nhập Niết-bàn, đức Phật truyền trao giáo lý giác ngộ không lúc nào ngừng nghỉ. Ngài đã để lại cho cuộc đời một kho tàng giáo lý sống, đem lại cho con người sự an tịnh hỷ lạc nội tâm và cho cuộc đời một lộ trình tỉnh thức. Giáo lý đó ngày càng thâm nhập vào quần chúng, chẳng những nó được giai cấp cao sang của xã hội như Sát-đế-lợi, Bà-la-môn tiếp nhận và tu tập mà giáo lý ấy còn được triển khai áp dụng trong các giới bình dân, giới cùng đinh của xã hội. Cả mọi giới đều bình đẳng trong Phật tánh và sự giác ngộ, không có sự phân biệt trong giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Qua việc tìm hiểu cuộc đời của Ngài, một lần nữa nói lên được tính chất thiết thực về đức Phật và giáo pháp của Ngài. Ngài không phải là Thượng đế hay hóa thân của một Thượng đế. Ngài là một con người tối thiện trên mọi phương diện, hiện hữu trong giác ngộ bản thân rồi đem sự giác ngộ của bản thân truyền dạy lại cho nhân sinh lợi lạc. (Giáo lý được đức Phật triển khai không căn cứ vào giai cấp mà căn cứ vào giới hạnh và trí tuệ của con người, người nào có phạm hạnh thì được xã hội tôn thờ, quý trọng, còn không có thì dù sống trong một cộng đồng nào cũng đều không được tôn kính). Thế nên, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định rằng, cả cuộc đời từ lúc đản sanh cho đến lúc nhập Niết-bàn, đức Phật chỉ là một con người, nhưng bằng nỗ lực tự thân, Ngài đã liễu ngộ được sự thật đau khổ của kiếp người, Ngài đã ra đi tìm đạo và cuối cùng giác ngộ chân lý, rồi đem chân lý ấy truyền trao cho nhân sinh. Như vậy, đức Phật không phải là một Thượng đế. Và việc cầu xin của người đệ tử đối với đấng giáo chủ là điều không cần thiết. Điều đó đã được Ngài dạy trong kinh: “Hãy làm hòn đảo cho chính mình, hãy nương tựa vào chính mình, lấy giáo pháp làm nơi nương tựa”. Giáo pháp là kim chỉ nam cho hành động, là phương châm để hướng dẫn con người đi những bước đi không có ưu sầu, không có lo lắng khổ đau. Vấn đề cần đặt ra là, một người muốn hiểu được Phật giáo cần phải học và hành, còn không thì việc học Phật đó chỉ là tiếp thu một kho tàng lý luận mà không đem lại lợi lạc gì cho tự thân và tha nhân.

Nguồn: Tập San Pháp Luân 14


http://www.hoavouu.com/D_1-2_2-86_4-9885_15-2/
Hư Trúc  
#14 Posted : Wednesday, March 9, 2011 9:00:09 AM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
Phật Và Thượng Đế

CÁI TƯ DUY THỰC DỤNG

Tai họa đến với con người chúng ta, không phải từ những suy tưởng siêu hình mà từ những suy tư thực dụng của khoa học. Các nước phương Tây đã biến những suy tư khoa học, thành tư duy thực dụng, khiến cho môi trường sống của con người và loài vật càng ngày càng trở nên ô nhiễm và độc hại.

Khoa học thực dụng của Tây phương đã biến con người trở thành vô dụng của sự sống và đã khiến cho con người chạy đua và bám lấy sự sống một cách tội nghiệp, như những bầy thú chạy đua và bám lấy những khúc xương khô để khới gặm.

Trong xã hội thực dụng ấy, con người không còn là người nữa, con người là những dụng cụ giây chuyền để sản xuất, là một bộ phận sản xuất của nhà máy, của xí nghiệp, của nông trại. Với một xã hội như vậy, con người không còn có thì giờ để làm cha, làm mẹ, làm vợ chồng, làm anh em với nhau; không còn có thì giờ để suy tư về tốt và xấu; công việc cá nhân, gia đình, tình cảm, thể hiện đức tin, tất cả đều dồn vào ngày chủ nhật.

Và tất cả cuộc sống con người chỉ là vậy, thì những tư duy thực dụng của khoa học Tây phương đưa con người chúng ta đi về đâu? Phải chăng, chúng đang đẩy con người đi đến với đời sống vô cảm.

Bệnh vô cảm là cơn bệnh khủng khiếp nhất của con người, nó còn nguy hiểm hơn cả ngàn lần bệnh HIV. Do bị mắc bệnh vô cảm, nên con người không còn biết sống là gì, không còn biết thiên nhiên là gì, có đâu mà có được những suy tư về sự sống, để có khả năng tiếp nhận sự sống một cách có ý nghĩa.

Vì tham lam, vì tư duy thực dụng, con người đã sử dụng khoa học kỹ thuật để bóc lột thiên nhiên, bóc lột loài vật, thực vật, đất đai và bóc lột đồng loại, khiến cho thế giới con người ngày càng trở nên bệnh hoạn và điên dại, và người chủ trương bóc lột ấy lại càng bệnh hoạn và điên dại hơn.


BIẾT LẬP ĐỨC

Càng văn minh vật chất, con người lại càng sinh ra những sinh hoạt hưởng thụ thấp kém và phiền toái. Càng giàu có vật chất, con người lại càng sinh ra những lo lắng, sợ hãi, thất vọng và khổ đau.

Trong mọi sự sinh hoạt của xã hội con người, ta hiếm thấy xảy ra ở nơi một người, vừa giàu có vật chất mà lại vừa giàu có tâm hồn. Phần nhiều, người giàu có vật chất là người rất nghèo nàn về tâm hồn và rất dễ khiếm đức.

Nên, những bậc có trí trong đời, thường trọng đức mà khinh tài, nhưng những kẻ vô trí trong đời thì coi trọng tiền tài mà coi thường đức hạnh và nhân nghĩa. Đức hạnh bị khinh thường, thì xảo trá điêu ngoa, gian dối phát triển, đạo đức xuống cấp, nhân cách hủ bại, thuần phong rách nát. Nên, những bậc có trí trong đời dùng đức để lập thân. Họ biết lập đức trước khi lập thân và lập ngôn; kẻ ngu trong đời thì lập ngôn trên xảo trá và lập thân trên gian tà, khiến cho thân càng ngày càng sa đọa, và ngôn càng ngày càng trở nên nham hiểm và vô luân.


BÀN TAY THẢNH THƠI

Một người thương ta có gốc rễ từ lòng tham của họ, khiến cho ta không an lạc, không thảnh thơi và nếu ta thiếu chánh niệm tỉnh giác, năng lượng của sự thương yêu ấy thẩm thấu vào trong ta, làm cho ta sống trong giẫy giụa và chết trong thất vọng, khổ đau.

Và một người thương ta có gốc rễ từ hỷ và xả, khiến sự an lạc của ta sinh khởi một cách tự nhiên; giúp ta sinh khởi niềm tin, và khiến tuệ giác trong ta càng ngày càng sáng ngời, nên mỗi ngày đi qua là mỗi ngày làm cho sự tự do trong ta lớn lên, khiến cho ta nhìn cuộc đời bằng con mắt tự do, và mọi vật đều có sự thảnh thơi khi bàn tay ta chạm đến.


PHẬT VÀ THƯỢNG ĐẾ

Ta đã có thể gọi danh hiệu Đức Phật với một ngày cả ngàn lần, và ta cũng đã gọi tên Thượng Đế qua những đêm thâu cầu nguyện, nhưng tất cả các Ngài đều im lặng đối với ta, để cho hạt giống Phật trong tâm hồn ta sinh khởi và quyền năng sáng tạo của Thượng Đế trong ta biến thành hiện thực.

Khi trong đời sống của ta không còn vô minh, hận thù và quyết đoán sai lầm, thì ta là Phật. Và trong cuộc sống, ta có chủ quyền và có khả năng sáng tạo thì ta là Thượng Đế.

Như vậy, Phật và Thượng Đế không phải là ai xa lạ mà chính là tâm hồn trong sạch và khả năng sáng tạo trong mỗi chúng ta!

Thích Thái Hòa
http://www.gdptthegioi.o...ws&file=article&sid=4514
thanks 1 user thanked Hư Trúc for this useful post.
lly (Lynn Ly) on 7/11/2012(UTC)
Dixon  
#15 Posted : Thursday, March 24, 2011 2:18:27 PM(UTC)
Dixon

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 66

Dức Phât dã di tìm dạo va Ngài dã tĩm dược dạo giải thoát, Dức Phật dã vào NiếtBàn, vào nơi cực lac. Co cac tư tưởng diễn giải dạy sai lạc ve tu va cac kinh da làm nhieu nguoi chúng ta mang mang nghiep chứng tu những kiep nào dó khi mà ta không phải là ta Những sự việc sảy ra tu nhung noi xa xôi hay từ mot kiep của mot thứ vật nào hay ngưỡi nạo, ta tự chấp nhận mang vào dời sống quan niệm tien kiếp vào cuộc song làm chung ta có cố gắng cug chẳng có cách nào thoát ra khỏi những ma nghiêp dó dược . Như vậy dời dời kiếp Kiếp chung ta sẽ chỉ là nghiep va nghiêp.Chung ta da degraded ourself or extreamly cynical about ourself .Va se chẳng bao giời ra khỏi trầm luân bể khổ . Va chỉ khi nao ta là ta thì mot kiếp sẽ dạt vao cực lậc
Hư Trúc  
#16 Posted : Friday, March 25, 2011 9:18:08 AM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
HỎI:Còn khái niệm về một vị Trời thì như thế nào ? Có thể xem Đức Phật như một vị thần linh hay không ?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Không, trừ trường hợp định nghĩa Trời như một nơi Nương tựa, một Người Giác ngộ. Đức Phật là một Sinh linh đạt được sự hiểu biết toàn năng một cách tuyệt vời ; trái lại, Ngài không phải là một vị Sáng tạo. Chúng tôi cho rằng mỗi con người đều hàm chứa bản thể của Phật, vì thế chúng ta không thể nào tự tạo ra chúng ta được (1)…Đối với người Phật giáo, chính là nghiệp (karma) làm phát sinh ra thế giới này. Bất cứ một hành vi nào cũng đều phát sinh từ một hành vi trước đó, bất cứ một biến cố nào cũng đều sinh ra từ một biến cố đã có từ trước, thuận theo luật nhân quả. Sức mạnh của tâm thức, những cảm tính và xúc cảm làm phát sinh ra thế giới của chúng ta và tác tạo ra mọi sinh linh.
Hư Trúc  
#17 Posted : Tuesday, March 29, 2011 1:39:11 PM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
Sau lời chào mừng ngắn gọn với đoàn Phật tử Việt Nam, ngài nói ngay rằng: “Đức Phật không phải là đấng tạo hóa (Creator). Ngài là một con người bình thường, đã tu hành và đã giác ngộ viên mãn, và đối với đạo Phật, mọi sự mọi vật đều do nhân duyên sinh khởi, do tác động của định luật nhân quả: “Law of Cause and Effect” . Ngài nói tiếp rằng “muốn đạt được hạnh phúc chân thật thì cần phải có một tinh thần an lạc, và muốn có tinh thần an lạc, cần phải có tình thương và lòng từ bi (love and compassion), làm sao để chúng ta phát triển được tình thương và lòng từ ? Chỉ nghĩ đến cũng chưa đủ, chúng ta cần phải làm sao để chuyển hóa tâm niệm và hành động của mình trong đời sống hàng ngày. Chìa khóa cho một thế giới hòa bình, hạnh phúc và an lạc bản thân chính là phát triển tình thương và lòng từ bi.” Ngài cũng nhắc nhở “mỗi người chúng ta đều có Phật tánh và cần nỗ lực thực hành để trờ thành vị giác ngộ như Phật đã thành”. Ngài cũng không quên nhắc nhở Phật tử Việt Nam “nên đọc và thực hành kinh Đại Bát Nhã (Mahà Prajnàpàramità Sùtra), nhất là những phẩm nói về Từ Bi, Trí Tuệ, Ba La Mật Đa (paramitas) và Tánh Không (emptiness)…”

Người viết đã nhiều lần được nghe trực tiếp các buổi thuyết giảng dành cho Phật tử Việt Nam tại Hoa Kỳ, bao giờ ngài cũng mở đầu bằng cách khuyên nhủ Phật tử Việt Nam hãy giữ truyền thống tu tập sẵn có của mình mà không nên chạy theo một truyền thống khác, nhưng đặc biệt lần này ngài không nói như vậy mà ngài đã lập lại đến hai lần trong một bài pháp ngắn rằng : “Đức Phật không phải là một đấng tạo hóa”. Có lẽ đây là một thông điệp quan trọng và ngài chỉ muốn nhắc nhở Phật tử Việt Nam đừng xem ông Phật như một đấng thần quyền đầy quyền năng sáng tạo, có quyền ban phước giá họa cho muôn loài. Đừng cầu xin van lạy Ngài (Đức Phật) mà phải nỗ lực tinh tấn tự thân tu tập. Không biết Đức Đạt Lai Lạt Ma có tha tâm thông không mà hình như ngài biết rõ tâm của người Phật tử Việt Nam, đa số đều đặt nặng lòng tin, sùng kính lễ lạy và bái sám cầu nguyện. Trong một bài pháp ngắn không soạn trước mà ngài đã lập lại hai lần về mỗi từ “Tạo Hóa”, từ “Nhân Quả”, từ “Thực Hành” và nhiều lần về từ “Từ Bi”, lại nhắc nhở Phật tử Việt Nam nên đọc và thực hành từ bi, trí tuệ, ba la mật đa (Paramitas) và Tánh Không (Emptiness) trong kinh Đại Bát Nhã. Ngài không nói chi tiết nhưng qua nội dung bài pháp, dường như ngài muốn nhắc nhở người Phật tử Việt Nam ba điều: (1) Đừng xem Đức Phật như là một đấng tạo hóa, có quyền năng ban phước giá họa. (2) Hãy tin sâu, tin bền và tin chắc về Phật tính, về mỗi người đều có giác tính, đều có khả năng thành Phật và về nhân quả. Chỉ có tinh tấn tu tập tự thân mới có thể chuyển hóa được nghiệp quả. (3) Nỗ lực thực hành Phật Pháp trong đời sống hàng ngày qua việc phát triển tình thương và lòng từ bi, qua việc thực hành Ba La Mật.

http://www.thuvienhoasen...50_6-1_17-202_14-1_15-1/
Hư Trúc  
#18 Posted : Wednesday, April 6, 2011 2:31:45 AM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
Có điểm giống nhau cơ bản nào giữa Phật giáo và các tôn giáo khác?
Những điểm khác nhau cơ bản giữa Phật giáo và các tôn giáo khác là thế nào?

Như đã nói ở trên là tất cả các truyền thống Phật giáo khẳng định không tin tưởng vào một đấng tạo hoá tối cao. Tuy thế nếu định nghĩa thánh Allah, thượng đế, hay là đấng tạo hoá tối cao như toàn năng, toàn trí tạo dựng nên vũ trụ, tạo nên muôn loài, thì đối với Phật giáo có hiện diện một khái niệm tương tự cũng có khả năng tạo ra tất cả đấy là TÂM hay chân tâm, và như Lati Rinpoche nói: " Nếu chúng ta thừa nhận một đấng tạo hóa cho mọi thứ thế thì nó là tâm thức chúng ta.Tâm thức chúng ta là đấng tạo hóa ra mọi thứ. ", hay như kinh Hoa Nghiêm nói: "tất cả đều do tâm tạo."

"Nhược nhân dục liễu tri
Tam thế nhứt thiết Phật
Ưng quán pháp giới tính
Nhất thiết duy tâm tạo
Vạn pháp do Tâm sinh
Nhất Tâm sinh vạn pháp
Phật do Tâm thành
Ðạo do Tâm đắc
Phước do Tâm tích
Họa do Tâm di
Tâm năng tác Thiên đường
Tâm năng tạo Ðịa ngục
Tâm năng tác Phật
Tâm năng tác chúng sinh."

dịch:

"Nếu người nào muốn biết rõ
Tất cả Phật ba đời
Nên quán vũ trụ này
Tất cả đều do Tâm tạo nên
Một Tâm sinh vạn vật
Phật là do Tâm mà thành
Ðạo là do Tâm đạt được
Họa là do Tâm gây ra
Phước là do Tâm bồi đắp
Tâm tạo được Thiên đường
Tâm tạo được Ðịa ngục
Tâm có thể biến mình thành Phật
Tâm khiến mình chỉ là chúng sinh."

Phật quan sát sum la vạn tượng trong vũ trụ này tất cả đều do Tâm sanh ra cả. Hai câu sau đây xác định nhãn quan nói trên của nhà Phật đối với pháp giới:

"Vạn pháp do Tâm sanh
Nhất Tâm sanh vạn pháp."


Tuy vậy, khi nói đến TÂM là phải hiểu bản thể, bản thể của tất cả, Phật là những ai đạt đến bản thể của vạn pháp. Không như thánh Allah, thượng đế, hay là đấng tạo hoá tối cao có thể ban phúc, giáng họa, quyết định vận mạng của muôn loài, mà chúng ta thường được nghe đến như thuyết thiên mệnh, trời kêu ai nấy dạ; Phật giáo không như thế mà Phật giáo dựa trên thuyết nhân quả nghiệp báo. Đây là điểm căn bản khác nhau giữa Phật giáo và các tôn giáo khác.
Hư Trúc  
#19 Posted : Wednesday, April 6, 2011 7:20:57 AM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
TÍNH KHÔNG VÀ HIỆN HỮU

Nguyên tác: Emptiness and Existence
Tác giả: Tenzin Gyatso, His Holiness the Fourteenth Dalai Lama
Anh dịch: Jeffrey Hopkins



Để phát sinh loại từ ái và bi mẫn thúc đẩy chúng ta kiếm tầm Phật quả, không phải cho riêng chúng ta mà vì lợi ích của những người khác, đầu tiên chúng ta phải đối diện với khổ đau bằng sự nhận diện những thể loại của nó. Đây là chân lý cao quý thứ nhất - khổ đế. Từ lúc chúng ta được sinh ra đến khi chết chúng ta đau khổ tinh thần và đớn đau thân xác (khổ khổ), khổ đau của sự thay đổi (hoại khổ), và khổ đau cùng khắp của điều kiện không thể kiểm soát (hành khổ). Chân lý thứ hai và thứ ba làm cho chúng ta thấu hiểu những nguyên nhân của khổ đau và cho dù những nguyên nhân ấy có được xóa đi hay không. Nền tảng của khổ đau là vô minh si ám – sự lĩnh hội sai lầm về chúng sinh (ngã) và các đối tượng (pháp) tồn tại một cách cố hữu (có tự tính).

Tất cả chúng ta có một ý thức chính xác vững chắc về tự ngã, hay cái “tôi”, nhưng ngoài ra chúng ta cũng có một nhận thức sai lầm về cái “tôi” ấy như một sự tồn tại cố hữu (có tự tính).. Dưới sự ảnh hưởng của vọng tưởng này, chúng ta nhìn tự ngã như sự hiện hữu dưới năng lực của chính nó, thiết lập bởi cung cách tự nhiên của nó, và tự nó có thể hình thành nên sự tồn tại.

Tuy thế, nếu có một cái tôi riêng biệt như thế - tự thiết lập và tồn tại trong năng lực của chính nó – nó phải trở nên rõ ràng hơn và rõ ràng hơn dưới ánh sáng của khả năng phân tích đầy đủ như tự ngã có hiện hữu như thân thể hay tâm thức hay không, hay là tập họp của tâm và thân , hay tự ngã là khác biệt với tâm thức và thân thể. Thực tế, càng quán sát gần gũi hơn, càng không thể tìm thấy nó. Điều này biến thành trường hợp của mọi thứ, của tất cả mọi hiện tượng,[hay tất cả mọi pháp đểu như vậy]. Sự thật rằng chúng ta không thể tìm thấy chúng có nghĩa rằng những hiện tượng đó không tồn tại dưới năng lực của chính chúng; chúng không phải tự hình thành.

Vào một thời gian nào đấy đầu những năm sáu mươi khi chúng tôi đang quán chiếu lại về một đoạn văn của Đạo sư Tông Khách Ba (sơ tổ của tông Hiền nhân-Gelugpa) về khả năng không thể tìm thấy và sự thật rằng hiện tượng ấy là tùy thuộc trên nhận thức, nó giống như tia chớp trên bầu trời. Đây là đoạn văn ấy:

- Một sợi dây ngoằn ngoèo lốm đốm sắc màu và quấn cuộn lại, những thứ đó tương tự như một con rắn, và khi làn dây ấy được nhận thức trong một vùng ánh sáng lờ mờ, một tư tưởng nẩy sinh, “Đây là một con rắn.” Về phần sợi dây, vào lúc ấy khi được thấy như môt con rắn, cái tập họp và những phần tử của làn dây ngay cả không ở trong một cung cách tối thiểu nào của một con rắn. Do thế, con rắn ấy chỉ đơn thuần được thiết lập bởi nhận thức.

Trong cùng cách ấy, khi tư tưởng “tôi” sinh khởi trong sự lệ thuộc vào thân thể và tâm thức, không có điều gì trong tâm thức và thân thể ngay cả trong cách tương tự nhỏ nhiệm nhất của cái “tôi” - cũng không có cái tập họp là điều mà nó là sự tương tục của những khoảnh khắc trước đấy và sau đó, cũng không có tập họp của những bộ phận cùng lúc ấy, cũng không là những bộ phận tách biệt, cũng không là sự tương tục của bất cứ những phần tử riêng biệt nào. Cũng không có ngay cả điều gì tương tự tối thiểu là một thực thể khác biệt với tâm thức và thân thể có thể so sánh như cái “tôi”. Tuy thế, cái “tôi” chỉ đơn thuần là sự thiết lập bởi nhận thức trong sự lệ thuộc trên thân thể và tâm thức; [có nghĩa là] nó không được thiết lập bởi phương cách của sự tồn tại của chính nó.

Tác động kéo dài trong một lúc, và trong vài tuần tiếp theo bất cứ khi nào tôi thấy người ta, họ dường giống như những ảo ảnh của ảo thuật trong ấy họ đã xuất hiện để tồn tại một cách cố hữu nhưng tôi biết rằng họ không hiện hữu một cách thật sự như thế. Kinh nghiệm ấy, điều giống như tia chớp trong con tim, thật giống như một trình độ ở dưới một giá trị toàn hảo và nhận thức rõ ràng. Đây là khi sự thông hiểu của tôi về sự chấm dứt của những cảm xúc phiền não như một điều khả dĩ chân thật trở thành hiện thực.

Ngày nay tôi luôn luôn thiền quán về tính không vào buổi sáng và mang kinh nghiệm ấy vào trong những hành vi hằng ngày. Chỉ suy nghĩ hay nói “tôi”, như trong “tôi phải làm như thế và như thế,” sẽ thường thúc đẩy cảm giác ý thức. Nhưng tôi vẫn không thể cho rằng mình thấu hiểu hoàn toàn về tính không.

Một ý thức thai nghén một sự tồn tại cố hữu không có một nền tảng thuyết phục. Một ý thức thông tuệ, đặt nền tảng trong thực tại, thấu hiểu rằng sự sống của chúng sinh và những hiện tượng khác – tâm thức, thân thể, tạo tác, và v.v… - không có sự tồn tại cố hữu (vô tự tính). Đây là tuệ trí của tính không. Sự thông hiểu thực tại một cách chính xác đối kháng đến nhận thức sai lầm về tồn tại cố hữu (có tự tính), [làm cho] tuệ trí dần dần vượt thắng si mê. Xóa tan mê muội mà chính nó nhận thức sai lầm những hiện tượng tồn tại cố hữu và chúng ta ngăn ngừa sự phát sinh những cảm xúc phiền não như tham dục và sân hận. Do thế, đến lượt khổ đau có thể được tiêu trừ. Thêm nữa, tuệ trí tính không phải được phối hợp bởi một động cơ sâu xa của việc quan tâm đến người khác ( tức là lòng vị tha và bằng những hành động do bi mẫn thúc đẩy) trước khi tuệ trí tính không có thể tiêu trừ những chướng ngại để đạt đến sự toàn trí toàn thiện toàn giác (nhất thiết chủng trí), vì những chướng ngại có thiên hướng cho sự hiện hữu giả tạm của những hiện tượng – ngay cả cảm nhận ý thức – giống như chúng tồn tại cố hữu.

Do thế, sự thực tập tâm linh toàn vẹn đòi hỏi việc trau dồi tuệ trí trong sự phối hợp với lòng đại bi và khuynh hướng để trở nên giác ngộ mà trong sự giác ngộ ấy những người khác là đáng yêu hơn chính mình. Chỉ có như thế, ý thức chúng ta mới có thể được chuyển hóa thành sự toàn tri toàn thiện toàn giác của một vị Phật.
Hư Trúc  
#20 Posted : Tuesday, April 19, 2011 9:37:18 AM(UTC)
Hư Trúc

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 569

Was thanked: 234 time(s) in 172 post(s)
VÔ NGÃ

Cả sự thực hành thiền tập Phật giáo và không Phật giáo để đạt đến hỉ lạc và thoát khỏi khổ đau, và trong cả những hệ thống Phật giáo và không Phật giáo tự ngã là đối tượng trung tâm của sự nghiên cứu. Có những trường phái không Phật giáo nào đấy chấp nhận sự tái sinh và thừa nhận tính tạm thời của tâm thức và thân thể, nhưng họ tin tưởng trong một tự ngã là nó thường còn, không thay đổi và duy nhất. Mặc dù những trường phái Phật giáo chấp nhận tái sinh, nhưng cho rằng không có một cái ngã trường tồn bất biến như vậy. Đối với người Phật tử, chủ đề chính của sự rèn luyện trong tuệ trí là tính không hay vô ngã, mà nó có nghĩa là sự vắng bóng của một cái ngã thường còn, duy nhất và độc lập, hay một cách vi tế hơn, sự vắng bóng của sự tồn tại cố hữu (vô tự tính) hoặc là trong chúng sinh (nhân vô ngã) hay trong những hiện tượng (pháp vô ngã) khác .
Users browsing this topic
Guest
3 Pages123>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.