Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

26 Pages«<2223242526>
Options
View
Go to last post Go to first unread
CNH  
#461 Posted : Wednesday, January 1, 2014 1:37:50 PM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Vài lời cùng quí độc giả[/size}

Tôi là người có bút hiệu là CNH, là chữ tắt của tên tôi. Trước nay ông Đông A post giùm bài của tôi trên mục “tôn giáo” nầy; nay ông muốn tôi trực tiếp chịu trách nhiệm với bài do tôi viết, nên ông đã chỉ tôi cách post bài, để khỏi phiền đến ông. Cám ơn ông Đông A rất nhiều.

Thưa quí độc giả: cứ như các bài trước nay của tôi trong mục tôn giáo nầy; quí vị đã thấy ý hướng của tôi là chỉ mong đưa niềm vui đến với mọi người trong cuộc sống tạm bợ nầy. Tôi cảm thấy mình có khả năng nhìn ra tận gốc nguyên nhân sự đau khổ và hạnh phúc viên mãn trên đời tạm nầy, và có lẽ cả cho tâm hồn sau khi ta chết. Nay tôi đang ở vào tuổi hưu; không còn lo bươi chải kiếm sống nữa, nên muốn chia xẻ cùng mọi người những tư tưởng có vẻ ngược đời; nhưng nếu ai đồng ý và chấp nhận, thì có lẽ được sống vui; và nếu được loan tỏa rộng rãi và được đa số chấp nhận, sẽ tạo được xã hội lí tưởng cho thế giới hòa bình trong tương lai.

Gọi là tư tưởng “ngược đời” vì nó không hợp với các phong tục, tập quán, lề lối, nghi lễ, công thức; thậm chí các niềm tin tôn giáo, mà tôi gọi là “định kiến”; những thứ đang tồn tại đó, nếu là tốt, thì tại sao vẫn cứ thấy tranh chấp, đau khổ; phần lớn do con người gây cho nhau. Vậy thì cái tư tưởng “ngược đời” nầy nếu thay đổi được định kiến cũ, bỏ đi lề lối xưa, để tin và thực thi những gì hợp lí và hiển nhiên theo kiến thức mới, thiết tưởng cũng tốt lắm chứ?

Những tư tưởng đó đã được trình bày trong nhiều bài trước đây; tiêu biểu như: “Ý nghĩa của sự đau khổ”, “Đau khổ là điều kiện để biết hạnh phúc”, “Thượng Đế sao vụng về thế”, “Sự giáo dục ảnh hưởng rất lớn trên xã hội”, “việc đáng làm cho đời đáng sống”, “Vị kỉ, vị tha”, “chuyện thần thoại hư cấu”, “Đạo làm người tốt”, “Cảnh giác về lối giảng dạy giáo lí và luân lí”, “Ích kỉ chưa hẳn là xấu”, “Nét đẹp của con người nhờ đâu mà có”...

Tôi đã thách và đố các khoa học gia vô thần trong bài: “Sự vô lí của quan niệm ngẫu nhiên mà có sự sống”. Ông “Th” đã nhận trả lời 2 câu thách và đố đó; nhưng thấy ông chỉ muốn chứng tỏ kiến thức của mình về thuyết tiến hóa chứ không hề trả lời trực tiếp 2 câu thách và đố đó.

Mong ước của tôi là mọi người được vui sống trong thế giới hòa bình với xã hội lí tưởng; cho nên tôi không ngại nêu lên những nguyên nhân đã gây ra sự đau khổ có thể tránh được. Những nguyên nhân đó thường nằm trong các định kiến kể trên; cho nên nếu quí độc giả thử dẹp định kiến của mình đi và nhìn tổng quát các xã hội đang được ảnh hưởng bởi nền văn hóa nào, rồi suy xét, sẽ thấy dễ dàng. Tôi không hề muốn tranh luận để giành phần hơn cách vô ích.

Tôi là người Công giáo, nhưng cảm thấy có những khuyết điểm trong đạo mình, và cố dẹp đi những định kiến riêng để nêu ra những khuyết điểm; như trong các bài “Niềm tin vào Thượng Đế và ý nghĩ về Giáo hội”, “Những điều nghịch lí trong niềm tin của đạo Công giáo”... Tin tức cho thấy đức GH Francis rất là hướng thiện, cũng đang cải tổ giáo hội, hầu như toàn diện; nhờ tinh thần khiêm tốn, đã nhận ra điểm yếu, Ngài mới cố gắng canh tân để tìm kiếm sự trọn hảo cho đạo. Ngài không hề bảo thủ, không tự cho đạo mình là toàn hảo. Nhưng khi đụng đến Phật giáo thì ông Đông A ngại bị xóa bài vì phạm “nội quy”, nên ông đã giúp tôi tự post bài.

Mong rằng những bài của tôi giúp độc giả giải tỏa được những khúc mắc, những khó khăn cho tinh thần, mà tôi nghĩ rằng nó quan trọng hơn vật chất, như đã được tôi chứng minh trong nhiều bài trước đây.

Dầu đã cố gắng hết sức, nhưng chỉ là thiển ý cá nhân, lại không thạo viết văn, nên tôi không thể tránh khỏi những sai sót và vụng về trong lối sắp xếp ý tưởng cũng như văn phạm và cách viết; mong quí độc giả rộng lượng.

CNH
12-2013

Edited by user Thursday, May 1, 2014 6:38:50 AM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#462 Posted : Saturday, January 4, 2014 10:25:33 AM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn
(Spacetime and Soul)


(Tiếp theo)

Ghi chú: Người viết xin đổi tên của đề tài từ “Thời gian là gì vậy!?” thành “Không-Thời Gian và Linh Hồn” cho hợp với nội dung của bài viết. Hy vọng bài viết này có thể trả lời được phần nào cho câu hỏi bạn Th.


Thời gian và thuyết “Tương Đối Tổng Quát” của Einstein (General Relativity theory)

Từ khi đưa ra thuyết “tương đối đặc biệt” với sự liên quan giữa không gian và thời gian, một quan niệm mới được thành hình: “không-thời gian” (spacetime). Năm 1915, ông Einstein đưa ra thuyết “tương đối tổng quát”, thuyết này bao gồm việc các quan sát viên (observers) di chuyển có gia tốc với sự liên quan giữa lực hấp dẫn của vật thể và vũ trụ “không-thời gian”. Thuyết này đưa ra vấn đề là khi những vật thể có khối lượng lớn (massive objects), chúng sẽ làm biến thái (distortion) thời gian và không gian bằng “sự cong của không-thời gian” (spacetime curvature) do ảnh hưởng của lực hấp dẫn (gravity). Sự bẻ cong như thế nào? Điều này được đề ra trong hệ thống phương trình về “trường của lực hấp dẫn” hay “Einstein field equations”, mà cách tính toán ngoài trình độ hiểu biết của người viết, mặc dù chỉ biết sơ lược về kết luận từ phương trình này mà các khoa học gia nêu ra:

Biến thái về “sự cong của không-thời gian” (spacetime curvature) = Năng lượng có từ khối lượng của vật thể (Energy from mass of matter) biến thiên theo không-thời gian.
(Sự phức tạp là hai vế của phương trình - gồm 10 công thức - ảnh hưởng lẫn nhau)


Thuyết “tương đối tổng quát” đưa đến những hệ quả như sau:

a- Thời gian chậm lại trong các “giếng hấp lực” (gravitational wells), điều này được gọi là “hấp lực giãn thời gian” (gravitational time dilation).

b- Quỹ đạo chuyển động không như trong thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton. Thí dụ như quỹ đạo của hành tinh quay quanh và gần mặt trời nhất là Thủy tinh (Mercury).

c- Tia sáng bị bẻ cong trong một “hấp lực trọng trường” (gravitational field).

d- Vặn xoắn” khung không- thời gian: Khi một vật thể có khối lượng lớn quay, nó sẽ làm vùng “không-thời gian” quanh nó bị “vặn xoắn theo” (drag along), hiện tượng “làm vặn xoắn” khung không- thời gian.

e- Độ dài của sóng điện từ (ánh sáng là một loại sóng điện từ) sẽ bị làm dài hơn (gravitational redshift) trong một “hấp lực trọng trường”.

f- Sóng của lực hấp dẫn (gravitational waves), khi có những sự kiện thay đổi mạnh trong “hấp lực trọng trường”, những gợn sóng về lực hấp dẫn sẽ được tạo ra.
v, v....

UserPostedImage


Lý thuyết tương đối tổng quát của Einstein dự đoán rằng không-thời gian xung quanh Trái đất sẽ không chỉ bị cong nhưng cũng xoắn bởi chuyển động quay của chính hành tinh này. Gravity Probe B cho thấy điều này là đúng.
(Einstein's theory of general relativity predicted that the space-time around Earth would be not only warped but also twisted by the planet's rotation. Gravity Probe B showed this to be correct)
.
Credit: NASA

Những hệ quả này đã được kiểm chứng qua những sự kiện:

* Mục c: Sự bẻ cong ánh sáng do một “hấp lực trọng trường” (gravitational field) đã được kiểm chứng bằng hiện tượng “thấu kính hấp lực” (gravitational lensing) với hình chụp về “Einstein’s cross”; một ngôi sao (cách trái đất 8 tỉ năm ánh sáng) nhìn thành bốn, do lực hấp dẫn của một thiên hà (cách trái đất 400 triệu năm ánh sáng).



Einstein’s cross
UserPostedImage

Mục d: Năm 2004, NASA đưa vệ tinh Gravity Probe B lên không gian để kiểm chứng, kết quả đã trùng hợp với thuyết này.

Mục e: Năm 1959, hai vật lý gia Robert Pound và Glen Rebka từ đại học Havard đã kiểm chứng và thấy điều này đúng.

Mục f: Hiện đang kiểm chứng với “The Laser Interferometer Gravitational Wave Observatory” vì phải chờ khi có “hấp lực trọng trường” thay đổi mạnh xảy ra.

Từ những hệ quả của thuyết “tương đối tổng quát”, qua sự tính toán, các vật lý gia lý thuyết đã đưa ra kết luận về sự hiện diện của “sao lùn trắng” (white dwarf star) [12)] , “sao trung hòa” (neutron star) [13] và “hố đen” (black holes), cũng như giả thuyết về “lỗ giun” (worm hole). Sự hiện diện của “sao lùn trắng” và “sao trung hòa” đã được kiểm chứng.

Thuyết “tương đối tổng quát” mà chúng ta biết được trong đời sống hàng ngày là “hệ thống định vị”, hay GPS (Global Positioning System). Nếu không áp dụng “thuyết” này để điều chỉnh sai số về thời gian (0.000038 giây hay 38 micro-seconds/ ngày) của “đồng hồ nguyên tử” giữa vệ tinh GPS so với gần bề mặt của trái đất, thì vị trí sẽ có sai số rất lớn, và hệ thống GPS coi như hỏng [14] ! Điều này xác định là thời gian không còn là một điều gì tuyệt đối, mà “co dãn” theo chuyển động tương đối và trọng trường (gravitation).


Chủ đề của bài viết chú trọng về liên quan giữa “thời gian” với tâm linh và tôn giáo cũng như về tình trạng “đời đời kiếp kiếp”, vì thế người viết chỉ xin cố gắng tìm hiểu thật hư về sự hiện hữu của “hố đen” (black holes), cùng với giả thuyết mới về “hố trắng” (white holes) và “lỗ giun” (worm hole) ảnh hưởng đến “thời gian”“linh hồn” như thế nào? (mặc dù điều này có thể chỉ là một sự giả tưởng!).




“Hố đen” (Black holes)


Sự xuất hiện “hố đen” đã được thuyết “tương đối tổng quát” tiên đoán, hiểu một cách đơn giản là một ngôi sao có khối lượng (mass) lớn hơn mặt trời nhiều lần (khoảng 20 lần trở lên?) [15] đã “chết” sau khi cháy hết “nhiên liệu” (nuclear fuel), sụp đổ (collapse) bởi khối lượng của chính nó và đã tạo nên lực hấp dẫn (gravitational force) cực kỳ mạnh, không có gì thoát ra được nếu lọt vào vùng “chân trời biến cố” (event horizon), ngay cả ánh sáng phát ra cũng bị hút ngược lại.

Câu hỏi được đặt ra: ánh sáng không có khối lượng (mass) thì làm sao “hố đen” có thể hút được? Câu hỏi này được các vật lý gia giải thích như sau: “Chúng ta biết rằng khi “hấp lực trọng trường” (gravitational field) của một vật thể mạnh hơn thì không gian xung quanh nó bị biến dạng. Nói cách khác, đường thẳng không còn thẳng nếu tiếp xúc với một “hấp lực trọng trường” mạnh, nó sẽ bị uốn cong. Ánh sáng bình thường di chuyển theo đường thẳng, nhưng sẽ theo một đường cong nếu nó đi qua một “hấp lực trọng trường” mạnh. Đây có nghĩa là "không gian cong", và đây chính là lý do tại sao ánh sáng bị giữ lại trong hố đen”[16] .

Đây không phải là “hố” hay “lỗ” mà là một “vùng” không-thời gian, trong đó không gian và thời gian là điều gì vô nghĩa. Khi “hố đen” đã thành lập, nó tiếp tục “nuốt” các thiên thể lọt vào vùng hấp lực của nó, rồi càng lúc khối lượng càng lớn lên thêm mãi và thể tích càng nhỏ đi cho đến khi chỉ còn “một điểm” (singularity) ? Cho những sao nhỏ hơn thì khi hết “nhiên liệu” chúng sẽ trở thành “neutron star” hay “white dwaft star”.

UserPostedImage


Mô hình về “hấp lực trọng trường” (gravitational field) của mặt trời, “sao lùn trắng” (white dwaft star), “sao trung hòa” (neutron star) và đặc biệt “Hố đen” (black hole) như một “giếng trọng trường” (gravitational well) không có đáy
.

Có bao nhiêu loại “hố đen” (black holes)?

Theo như các nhà vật lý về vũ trụ (astro- physicists) thì có 3 loại:

- “Hố đen sao” (stellar black hole) thành lập khi các vì sao có khối lượng gấp nhiều lần mặt trời đốt hết “nhiên liệu” và “sụp đổ” (collapse) bởi chính khối lượng của chúng.

- “Hố đen siêu trọng khối” (super massive black hole) ở trung tâm của các thiên hà (galaxies), chưa có giả thuyết chắc chắn cho sự thành lập, dù phỏng đoán là chúng điều hành sự chuyển động của thiên hà.

- “Hố đen tí hon” (miniature black hole), có khối lượng nhỏ hơn mặt trời rất nhiều lần, được thành lập một thời gian ngắn sau “khởi thủy của vũ trụ” (Big Bang). Đây chỉ là kết quả do sự tính toán từ những giả thuyết và các vật lý gia lý thuyết vẫn còn đang tìm tòi dù nó đã xuất hiện trong chuyện khoa kọc giả tưởng.

UserPostedImage


“Hố đen” có thật hay không?

Chúng ta không thể nhìn thấy “hố đen” vì chúng hút ánh sáng của chính chúng phát ra. Muốn kiểm chứng, các nhà khoa học quan sát các ảnh hưởng của “hố đen” đối với những vật thể gần nó.

Những tính toán và quan sát gần đây về các thiên hà đã làm cho những nhà vật lý thiên văn (astro physicists) tin rằng mỗi thiên hà có một “hố đen siêu trọng khối” (super massive black hole), ở trung tâm có khối lượng gấp 10 triệu đến vài tỷ lần so với mặt trời. Vì các vật thể trong thiên hà quay nhanh quanh tâm, nên với những kết quả từ động năng, ma xát, điện tích, v.v... những hạt năng lượng cũng như X-ray và từ trường được phóng ra với tốc độ gần với vận tốc của ánh sáng, như từ một “ống phóng” thẳng góc với tâm quay của thiên hà.

1- Cynus X-1 [17] được coi như “hố đen” đầu tiên, thuộc loại “hố đen sao” (stellar black hole) đã được kiểm chứng ở trong dãy Ngân Hà (Milkyway galaxy) . Đây là “hệ thống đôi” (binary system), chuyển động của sao có mã số HDE226868 chứng tỏ “hố đen” Cynus X-1 hiện diện cùng với X-Ray phát ra từ chính nó.

“Hố đen” Cynus X-1
UserPostedImage

Nguồn: hxtp://imagine.gsfc.nasa.gov/docs/science/know_l2/black_holes.html



2- Thiên hà Centarus A (hay NGC 5128) cách trái đất khoảng từ 11 đến 16 triệu năm ánh sáng, trong chòm sao Centarus. Khối lượng khổng lồ của “hố đen siêu trọng khối” tương đương với 55 triệu lần khối lượng mặt trời, ở tại trung tâm của thiên hà này đã được các nhà vật lý thiên văn công nhận. Dưới đây là hình chụp chụp bằng tia sáng X của thiên hà Centarus A do trạm quan sát không gian Chandra chụp một “tia tương đối” (relativistic jet) được bắn ra từ trung tâm thiên hà này. Điều này chứng tỏ sự hiện diện của “hố đen” tại đây.

UserPostedImage


Trung tâm thiên hà Centarus A phóng ra tia X

Ngoài ra, thiên hà Messier 87 (hay M87, Virgo A hay NGC 4486) xa hơn cách trái đất khoảng 53.4 triệu năm ánh sáng, đây là một thiên hà khổng lồ, sáng nhất so với các thiên hà khác, có khối lượng lớn hơn dãy Ngân Hà (Milkyway galaxy) từ 87 đến 200 lần. Tại trung tâm, một “hố đen siêu trọng khối” có khối lượng gấp 3 tỷ lần khối lượng mặt trời. Kính viễn vọng Hubble đã chụp được hình một “tia tương đối” (relativistic jet) bắn ra từ trung tâm thiên hà này với “ánh sáng nhìn được” (visible light). Điều này chứng tỏ có “hố đen” tại đây.

UserPostedImage


Trung tâm thiên hà Messier 87

Qua những điều nêu trên thì “hố đen” (black holes) đã hiện hữu trong vũ trụ, không gian cùng thời gian tại đây theo như những nhận định có tính cách khoa học [18] thì đều là “vô nghĩa”. Những gì xảy ra sau khi “lọt” vào “hố đen” là một trạng thái mà khoa học hoàn toàn mờ mịt! Tất cả những định luật về vật lý đều không còn ý nghĩa theo như không gian ba chiều mà chúng ta biết và thời gian coi như biến mất (?).

“Hố trắng” (White hole)

“Hố trắng” là giả thuyết ngược lại với hiện tượng “hố đen”. Khái niệm về “hố trắng” là từ lời giải (solutions) theo một cách nào đó của hệ thống “phương trình về trường của lực hấp dẫn” (Einstein’s field equation), mà người viết chỉ biết đến qua sự truy cập từ internet và biết là các vật lý gia đang nghiên cứu về vấn đề này. Theo giả thuyết này thì “hố đen” và “hố trắng” có chung “một điểm” (singularity), “hố đen” hút vật thể vào và vật thể không thể thoát ra, còn “hố trắng” đẩy vật thể ra, và không có gì có thể vào được, kể cả ánh sáng. Điểm khác nhau là ở hai vùng “chân trời biến cố” (event horizons) của “hố đen” và “hố trắng”. Giả thuyết này đưa ra luận điểm là bất cứ một “hố đen” nào trong vũ trụ, cũng nối kết với một “hố trắng” hay ngược lại, bằng một “lỗ giun” (worm hole), nếu lọt vào “hố đen” rồi qua “worm hole” và “ra” trong “hố trắng” sẽ vào một “vũ trụ khác” (???).

UserPostedImage



“Lỗ giun” (worm hole)

Năm 1935, Hai nhà bác học là Einstein và Rosen dùng toán học để đưa ra một giả thuyết là các “hố đen” có thể đi theo cặp với nhau để tạo một đường tắt qua không-thời gian (spacetime) gọi là “cầu Einstein-Rosen” (Einstein-Rosen bridges) mà sau đó gọi là “worm hole” (“lỗ giun”). Câu hỏi của chính người viết là nếu hai “hố đen” đến gần nhau thì chúng có thể trở thành một “hố đen” với trọng khối gom chung (?), vì không đủ trình độ nên xin tra cứu thêm và mong ước được góp ý hay đưa ra dẫn chứng.

Theo giả thuyết này thì qua “lỗ giun” (worm hole), có thể vượt một khoảng cách rất lớn của không-thời gian, hay tới một “vũ trụ khác”, có thể trở ngược về quá khứ (?) hay đi tới tương lai (?). “Lỗ giun” đã được xuất hiện nhiều lần trong những phim khoa học giả tưởng, như “máy thời gian” (time machine) hay “du lịch thời gian” (time travel). Tuy nhiên cho đến ngày nay, không có sự kiện nào có thể kiểm chứng được sự hiện hữu của “lỗ giun”, ngoại trừ được biết đến qua lời giải (solutions) từ “Phương trình về trường của lực hấp dẫn” (Einstein field equation) mà một số sự kiện được công nhận như đã trình bày (sự hợp lý do trùng hợp ngẫu nhiên?)! Những gì loài người chúng ta biết về khoa học vẫn chưa đủ (kiến thức về vũ trụ chỉ khoảng 4% !) [19].


UserPostedImage

Hình tượng trưng về "lỗ giun" (worm hole - trích từ internet)




Khoa học đang tiến triển không ngừng, hy vọng một ngày nào đó loài người có thể kiểm chứng được sự hiện hữu của “lỗ giun” (worm holes), như “hố đen” (black hole) đã được kiểm chứng. Giả sử “lỗ giun” có thật, thì có phải đây là “đường hầm” (tunnel) để linh hồn (nếu có) đi qua “một vũ trụ khác”, sau khi chúng ta đã cởi bỏ “chiếc áo thể xác”? Đã có khá nhiều người đặt ra câu hỏi này, đặc biệt trong chương trình TV: “Through the Wormhole: Is there life after death?” [20] (Qua “lỗ giun”: Có đời sống sau sự chết?). Tuy nhiên một số câu hỏi khác nên được đặt ra trước, linh hồn là gì? Có linh hồn hay không? Nếu có thì làm sao chứng minh hay chứng tỏ được sự hiện hữu của linh hồn, mà không đề cập tới niềm tin, dù rằng đa số những người có tín ngưỡng tin vào sự hiện hữu của linh hồn? Người viết xin mạn phép được tìm hiểu thêm trong phần tới.

Ghi chú:

[11] hxtp://www.edu-observatory.org/physics-faq/Relativity/SR/ex

[12] Nguồn: Wikipedia: “Sao lùn trắng” (white dwarf star) có khối lượng nhỏ hơn 1.4 khối lượng của mặt trời.

[13] Nguồn: Wikipedia: “Sao trung hòa” (neutron star) có khối lượng từ 1.35 đến 2.1 khối lượng của mặt trời, với bán kính từ 10 đến 20 kilômét (các sao neutron có bán kính nhỏ hơn thì có khối lượng lớn hơn), tỷ trọng 80 triệu tấn đến 2 tỉ tấn/cm³.

[14] Einstein's Relativity and Everyday Life. Nguồn: hxtp://physicscentral.com/explore/writers/will.cfm

[15] Theo như trong hxtp://hubblesite.org/reference_desk/faq/all.php.cat=exotic

[16] Nguồn: hxtp://hubblesite.org/reference_desk/faq/all.php.cat=exotic

[17] Nguồn: hxtp://www.centauri-dreams.org/?p=20738
Cygnus X-1: A Black Hole Confirmed

[18] “Brief history of time”, Stephen Hawking.

[19] Nguồn: ‘Scientists only understand 4% of universe’: hxtp://rt.com/news/universe-physics-laws-energy-329/

[20] hxtp://redpill.tv/through-the-wormhole-is-there-life-after-death/
hay: hxtp://science.discovery.com/tv-shows/through-the-wormhole/videos/life-after-death.htm

Linh Hồn

(Còn tiếp)

Edited by user Friday, January 17, 2014 5:42:47 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#463 Posted : Saturday, January 11, 2014 8:10:23 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn
(Spacetime and Soul)

(Tiếp theo)

Linh Hồn

Linh hồn là gì? Tùy theo tín ngưỡng, những người có niềm tin, được chỉ dạy về linh hồn theo một khuôn mẫu nào đó! Họ tin là có linh hồn! Linh hồn bất diệt và linh hồn sẽ tới một “nơi” (place) hay vào “một trạng thái” (state) nào đó, tuỳ thuộc vào quá trình đã sống của họ, sau khi thể xác đã chết! Trong đề tài này người viết xin phép không đề cập đến niềm tin để tìm hiểu về linh hồn (soul), hay lĩnh vực tinh thần (spirit realm) cũng như tri thức (consciousness) của con người. Mỗi cá nhân hay mỗi tôn giáo có những niềm tin khác nhau, vì thế người viết chỉ chú trọng đến những gì có tính cáchdẫn chứng, dữ liệu, hay tốt nhất là những gì với tính cách khoa học, để mong biết được linh hồn là gì? Sự hiện hữu của linh hồn (soul), tinh thần (spirit) và tri thức (mind) của con người là vĩnh cửu hay tạm thời?

Ngoài tôn giáo, hiện có những tài liệu hay những “bằng chứng” (?) chỉ dấu hiệu về sự tồn tại của linh hồn, như trường hợp các lời khai (testimonies), hay tường thuật được ghi lại trong những câu chuyện “chết đi sống lại” hoặc “kinh nghiệm cận tử” (NDE - Near Death Experiences), rồi những trường hợp tái sinh (rebirth) hay luân hồi (reincarnation). Câu hỏi đặt ra là những trường hợp này có đủ yếu tố để chứng tỏ là có linh hồn?

Trước hết, người viết xin nêu lên vài trường hợp làm thí dụ, cùng với những dữ liệu đã được tra cứu sơ lược về NDE.

“Kinh nghiệm cận tử”

(Xin viết tắt là NDE - Near Death Experiences) hay tình trạng “chết đi rồi sống lại”

NDE là trạng thái những gì mà người coi như đã chết, sau một thời gian được sống lại và sau đó họ kể lại những gì nhận biết được về “không-thời gian” giữa khi đã chết tới lúc sống lại. Điển hình như:

1- Bác sĩ George Ritchie's NDE [21] do chính ông kể lại trong cuốn sách “Return From Tomorrow” viết chung với Elizabeth Sherrill (được dịch ra 9 ngôn ngữ).

Tóm tắt: G. Ritchie lúc 20 tuổi (1943) là một chuẩn sinh viên y khoa trong quân đội. Tháng 12 năm 1943, Ritchie đang ở trong trại huấn luyện căn bản quân sự Barkeley, bên ngoài thành phố Abilene, Texas. Trước khi được vào trường y ở Richmond, Virginia, ông bất ngờ bị chứng sưng phổi (pneumonia) và tắt thở trong vòng 9 phút, với não bộ coi như bị hư hại nặng. Tuy nhiên ông đã sống lại và sau đó đã kể lại cuộc “hành trình” của mình “bên ngoài thân xác” (OBE. Out of body experiences).

G. Richie kể về điều này như sau (vài nét sơ lược): Ông rời khỏi cơ thể của mình, đã đi hàng ngàn dặm từ Abilene, Texas tới Vicksburg, Mississippi (sau này được kiểm chứng là chính xác [22] ) và trở lại bệnh viện, gặp “Đấng Cực Sáng” (Tremendous light Being) mà ông cho là Chúa Giê-su Ki-tô (Jesus Christ) với “tình yêu vô bờ bến” bao phủ ông, Đấng này giúp ông xét lại cuộc đời của mình. Sau đó Jesus hướng dẫn G. Ritchie “du hành” trên “cõi thế” (Earthbound Realm), thấy những “linh hồn” (spirit) đang khổ sở vì những lỗi lầm đã làm, những dục vọng không được thỏa mãn. Rồi G. Richie được dẫn đến nhiều “lĩnh vực” (realms) khác nữa như “đền của trí tuệ”, “gần thiên đàng”, v.v.. Về lại bệnh viện và G. Richie đã vào lại thân xác, sau đó được cứu sống.
Ông làm về y khoa, chết vì ung thư năm 84 tuổi.

2- Betty J. Eadie’s NDE do chính bà kể lại trong cuốn sách “Embraced by the Light” (1992) [23] , được coi như sách bán chạy nhất (best seller) tại Hoa Kỳ, sau đó là những ấn bản được dịch ra 18 ngôn ngữ khác.

Tóm tắt: Betty J. Eadie năm 31 tuổi (năm 1973), trong khi chờ phục hồi trong một cuộc giải phẫu, thì bà yếu dần sau đó qua đời. Bà chết khoảng 4 giờ, sau đó sống lại. Bà bị chứng trầm cảm một thời gian dài, sau đó viết sách kể lại “hành trình” của mình ở thế giới bên kia. Người viết xin kể sơ lược như sau:

Betty J. Eadie rời khỏi thân xác, thấy lơ lửng trên cao, rồi gặp ba người già mà bà cho đây là thiên thần. Sau đó bà “du hành” về nhà mình, về lại bệnh viện và đi vào “đường hầm”, ra khỏi đây, Betty gặp “Đấng Cực Sáng” mà bà cho là Chúa Giê-su Ki-tô (Jesus Christ) với tình yêu bao la mà bà cảm thấy, bà đã hỏi nhiều câu hỏi về những chủ đề như cầu nguyện, sự tạo dựng (creation), vườn địa đàng (Garden of Eden) và được trả lời. Được thăm “thư viện của trí tuệ” (library of the mind) và được tới những nền văn minh khác trong vũ trụ. Sau đó được biết là bà phải trở về “cõi thế” với lý do là phải “luyện tập” nhiều hơn nữa dù bà không muốn, với một thông điệp là “Các con hãy yêu thương lẫn nhau”.

3- Howard Storm’s NDE được kể trong sách “My Descent Into Death: A Second Chance at Life”, đây là một trường hợp khá đặc biệt, từng là giáo sư và là một họa sĩ, dạy về nghệ thuật tại Đại Học Bắc Kentucky, từ một người không tin, thù địch với mọi tôn giáo, sau NDE, ông đã thay đổi, không làm giáo sư và trở thành mục sư Tin Lành.

Tóm tắt: Năm 1985, H. Storm bị thủng bao tử, vì không được giải phẫu kịp thời nên rất đau đớn, sau đó ngất đi và được cho rằng đã chết. Ông thấy đang đứng bên xác của mình và cơn đau biến mất. Rồi H. Storm nghe tiếng gọi tên mình, với lời mời gọi để đi theo. Ông bị dụ theo và rơi vào vùng có nhiều “kẻ lạ” (the strange beings), sau đó ông bị những kẻ này hành hạ một cách kinh khủng. Trong lúc tuyệt vọng, ông nhớ tới khi còn nhỏ được dạy về lời cầu nguyện, và trong ông có tiếng nói “Hãy cầu nguyện với Đấng Tạo Hóa”, ông đã làm điều này và một “Nguồn sáng” đã đến, ông “nghĩ” là Jesus. Những “kẻ lạ” bỏ đi, sau đó ông đã có một cuộc ôn lại (review) cuộc sống, và đã có những hối hận. Ngoài ra ông còn hỏi về tương lai của Hoa Kỳ? Chiến tranh nguyên tử có xảy ra hay không? Sau đó là v.v... (Nếu độc giả muốn biết thêm thì có thể vào trang Web như ghi chú sau [24] để đọc, hay có thể nghe cuộc phỏng vấn [25] ). Mục sư H. Storm hiện đang sống và có nhiều cuộc “nói chuyện” về vấn đề này.

****

Đã có hàng ngàn “tài liệu” cũng như có khá nhiều sách viết về những việc tương tự.

Trong sách “Life after life” (sách bán chạy nhất năm 1975 theo New York Times) của Dr. Raymond Moody, sau khi đã so sánh 150 trường hợp NDEs đã đưa đến tổng kết với 9 yếu tố (Elements of the near-death experience) như sau:

1- Nghe thấy âm thanh lạ như tiếng rì rầm, hay tiếng rung trong khi có cảm giác là đã chết.
2- Thấy an bình và không đau đớn sau cơn hấp hối (ngay sau khi “linh hồn” rời thể xác).
3- Trải nghiệm khi vừa rời thân xác là đang ở trong một trạng thái về tinh thần mà dường như là sự sống của “một loại trường năng lượng” ( a sort of living energy field)
4- Trải nghiệm đi qua “đường hầm” (The Tunnel Experience) là bị hút vào bóng tối để thông qua một đường hầm, với tốc độ cực cao, cho đến khi đạt một cảnh giới của ánh sáng vàng - trắng rạng rỡ,, mặc dù đôi khi họ cảm thấy sợ hãi vì tưởng rằng đang vào địa ngục.
5- Lên nhanh tới thiên đàng(Rising Rapidly into the Heavens), thay vì vào một “đường hầm” một số người nói là họ được đột ngột lên các tầng trời, nhìn thấy trái đất và bầu trời như được nhìn thấy bởi các phi hành gia trong không gian.
6- “Người của ánh sáng” (People of Light), sau khi qua “đường hầm”, hoặc sau khi đã “lên trời”, người hấp hối gặp những “người tự phát sáng” (people who glow with an inner light - People of Light). Thường thì họ thấy bạn bè và người thân đã qua đời chào đón họ.
7- Đấng của Sự Sáng (The Being of Light - God), sau khi gặp những “người tự phát sáng”, người qua cơn hấp hối thường gặp một “Đấng Linh Thiêng Quyền Năng” (Powerful Spiritual Being) mà một số người đã xác định là Thiên Chúa, Jesus, hoặc một số “Hình Thái tôn giáo” (Religious Figure).
8- Kiểm lại cuộc sống (The Life Review), “Đấng của Sự Sáng” (The Being of Light) cho họ ôn lại ất cả mọi thứ họ đã từng làm. Đó là làm sống lại những hành vi họ đã từng làm với người khác và cho họ cảm thấy rằng tình yêu là điều quan trọng nhất trong cuộc sống.
9- Ngần ngại vào lại thân xác (Reluctance to Return to life), “Đấng của Sự Sáng” (The Being of Light) đôi khi “nói” với người đã hấp hối rằng họ phải trở lại cuộc sống, “lần khác” họ có thể lựa chọn ở lại hoặc quay trở về. Trong cả hai trường hợp, họ không muốn quay trở lại. Những người chọn trở lại chỉ vì những người thân yêu mà họ không muốn bỏ lại phía sau.

Kevin Williams người nghiên cứu về NDEs đã đưa ra thống kê, sau khi phân tích 50 trường hợp đã nêu ra 21 khía cạnh thông thường mà những NDE thấy hay cảm nhận được:

Tình yêu tràn ngập (Overwhelming love): 69%
Thần giao cách cảm (Mental telepathy): 65%
Xem xét lại cuộc sống (Life review): 62%
Thiên Chúa (GOD): 56%
Trạng thái hết sức ngây ngất (Tremendous ecstasy): 56%
Kiến thức không giới hạn (Unlimited knowledge): 46%
Những lĩnh vực của đời sau (Afterlife levels or realms): 46%
Được bảo là chưa sẵn sàng (để chết) (Told not ready): 46%
Trình bày tương lai (Shown the future): 44%
“Đường hầm” (Tunnel): 42%
Chúa Jesus: 37%
Quên kiến thức đã nhận biết (Forgotten knowledge): 31%
Sợ hãi (Fear): 27%
Về “quê nhà” (Homecoming): 21%
Được cho biết về những cuộc sống trong quá khứ (Told of past lives): 21%
Địa ngục (Hell): 21%
Thành phố của ánh sáng (City of light): 17%
Đền kiến thức (Temple of Knowledge): 13%
Những linh hồn đang ở giữa những người đang sống (trên trái đất) (Spirits amongst the living): 10%
Tự tử (Thấy những linh hồn chết vì tự tử) (Suiside): 6%
Quỷ (Devil): 0%


Đây chỉ là những điều sơ lược về NDE, người viết chỉ xin nêu ra vài điểm để khảo sát về những gì có liên quan đến linh hồn. Theo như những NDEs tường thuật, thì những điều này đã nêu lên khá rõ là có linh hồn và không có thời gian. Tuy nhiên một số bác sĩ và khoa học gia cho đây chỉ là những ảo giác, một hiện tượng thần kinh (neurological phenomenon), vì không có gì có thể kiểm chứng được!

Như đề tài đã nêu ra, thì NDE không phải là chủ đề, mà điểm chính là để tìm hiểu là có linh hồn hay không? Có thời gian hay không? Sự tương tác (interaction) giữa thời gian, không gian và “linh hồn” (nếu có) như thế nào?
Ngoài những tài liệu về NDE đã nêu lên về sự hiện hữu của linh hồn và thời gian cũng như không gian, (dù đây vẫn còn là một câu hỏi, vì cần bằng chứng xác thực để kiểm nhận?), còn có những sự việc có liên quan đến linh hồn như sự “Tái Sinh” (rebirth) và “Luân Hồi” (reincarnation). Người viết xin tìm hiểu sơ lược những gì đã thấy qua sách vở và truyền thông (internet) với nhiều trường hợp đặc biệt đã được phổ biến, liên quan đến sự hiện hữu của linh hồn (?).

Ghi chú:

[21] hxtp://www.near-death.com/ritchie.html

Hay với bản dịch tiếng Việt: hxtp://tamlinh.ucoz.com/load/nh_ng_chuy_n_luan_h_i_hi_n_d_i/tr_ng_h_p_ly_k_c_a_george_ritchie_a_ch_t_r_i_s_ng_l_i/9-1-0-202

[22] Investigation of George Ritchie's NDE (Near Death Experience) OBE (Out of Body Experience): hxtp://www.selfconsciousmind.com/ritchie/

[23] Độc giả có thể đọc bản dịch của dịch giả Nguyên Phong: hxtp://www.tamlinh.net/coi-sang/trovetucoisang.html

[24] hxtp://www.near-death.com/storm.html#a01

[25] hxtp://www.youtube.com/watch?v=fwfKm3O1mOw



Tái Sinh (Rebirth) và Luân Hồi (Reincarnation)
(Còn tiếp)

Edited by user Friday, January 17, 2014 5:44:01 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#464 Posted : Friday, January 17, 2014 6:48:31 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn
(Spacetime and Soul)


(Tiếp theo)

Tái Sinh (Rebirth) và Luân Hồi (Reincarnation)

Quan niệm về Tái Sinh và Luân Hồi đã có từ nhiều ngàn năm trước từ Đông sang Tây, dù hai từ ngữ này thường được dùng hoán chuyển, tuy nhiên “Tái Sinh” thiên về triết thuyết của Phật giáo (Budishm), đó là “Tái Sinh” không phải luôn luôn sinh ra và trở lại với hình dạng con người, có thể là thực thể ở trên con người (Bồ Tát - Bodhisattva), hay là dưới con người như động vật. “ Luân Hồi” thiên về Ấn Độ giáo (Hindu), hay như một số tín đồ Thiên Chúa giáo, tin là luôn luôn được sinh lại làm người.

Phương Tây trong những thế kỷ vừa qua, quan niệm về Tái Sinh và Luân Hồi bị coi như là một sự mê tín. Để chứng minh là có Tái Sinh hay Luân Hồi theo tính cách khoa học, thì hầu như là điều không thể làm, vì khoa học đặt căn bản trên những gì thực nghiệm, có thể định lượng, quan sát và chứng minh được. Tuy nhiên đến đầu thế kỷ 20, một hiện tượng đã làm các nhà vật lý nhức đầu là sự lưỡng tính (hai tính cất) của vật chất: một âm điện tử vừa là vật thể (particle), vừa là sóng (wave), để tìm sự giải thích, những tranh luận về triết học vật lý trở nên sôi nổi [26], rồi môn “Cơ học lượng tử” (Quantum mechanics) ra đời. Sự tranh luận về triết học vật lý gần như làm cho “thuyết Nhị Nguyên” (Dualism) đã có từ lâu trong triết học và thần học với chủ đề “đầu óc” (brain) - “ý tưởng” (mind), “thể xác” (body) - “linh hồn” (soul) được để ý tới nhiều hơn. Bác sĩ Ian Stevenson [27] người theo “thuyết Nhị Nguyên” - là người tiên phong trong sự nghiên cứu về “Luân Hồi” trong xã hội Âu Mỹ, ngoài ông ra, còn khá nhiều các khoa học gia khác nghiên cứu hay tìm hiểu về việc này như BS Brian Weiss, Michael Newton, Carol Bowman, BS Bruce Goldberg, TS Roger J. Woolger, TS Morris Netherton, Edgar Cayce, v.v... Riêng BS Ian Stevenson đã nghiên cứu khoảng 3000 trường hợp “Luân Hồi”, hầu hết là với trẻ nhỏ, vì ông tin là trẻ thơ thường nói thật về những gì chúng nghĩ, như câu tục ngữ của Việt Nam: “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”.

Ngày nay, nhiều trường hợp về “Luân Hồi” đã được ghi lại khó có thể phủ nhận. Tuy nhiên người viết chỉ xin nêu ra một thí dụ điển hình là trường hợp của Shanti Devi. Trong các trường hợp về luân hồi được đưa ra, thì đây là một sự việc nổi bật nhất, vì đã được kiểm chứng và được coi là xác thực.

Shanti Devi:


UserPostedImage

Tóm tắt (theo bài viết của Dr. K.S. Rawat) [28]:

Shanti Devi sinh năm 1926, trong một gia đình trung lưu ở Delhi, Ấn Độ. Từ khi được 4 tuổi, cô bắt đầu nói về “chồng” và “các con”, và nói cô là Lugdi Bai, cô đã chết 10 ngày sau khi sinh con. Shanti đã mô tả về nhà và cửa hàng vải của chồng ở thị trấn Mathura, cách Delhi 145 Km về hướng nam, luôn nói với cha mẹ là cô muốn đi tới Mathura. Lúc khoảng 8 hay 9 tuổi, cô được phỏng vấn bởi vị giáo viên và hiệu trưởng của mình, cô bí mật tiết lộ với giáo viên của mình về tên người “chồng” (kiếp trước) là Pandit Kedarnath Chaubey và diễn tả về hình dáng của người này, khi được ông này hứa đưa cô đi Mathura. Vị giáo viên (Babu Bishan Chand) viết thư cho Pandit Kedarnath Chaubey và mong ông này tới Delhi, tuy nhiên sau lúc nhận thư, ông này nhờ một người anh em họ là Pandit Kanjimal đi thay để gặp Shanti. Khi gặp ông này cô đã nhận ngay ra là anh em họ của “chồng”, tả cho ông này nghe về căn nhà mà cô đã từng sống và nói cho ông ta biết chỗ cô ta chôn tiền.

Về lại Mathura, Kanjimal khuyên Kedarnath nên đi Delhi, ông “chồng” cùng với vợ sau và con đến Delhi. Họ được đã ăn tại nhà Shanti với món mà ông “chồng” rất thích làm ông này chết điếng, ông hỏi thêm về căn nhà nơi Shanti “đã sống” để có thể tin hơn, cô trả lời về cái giếng trong sân. Khi nhìn thấy “con” là Navneet, Shanti đã ôm lấy, nước mắt tuôn rơi với đầy cảm xúc. Kedarnath hỏi Shanti làm sao cô biết đây là “con” của mình? Cô trả lời đây là một phần linh hồn của cô nên có thể biết dễ dàng. Trong thời gian ở Delhi, Kedarnath thấy rằng tác phong của Shanti rất giống Lugdi, người vợ đã quá cố của ông. Kedarnath đã nói chuyện riêng với Shanti, bởi vì những chuyện riêng tư của ông với người vợ cũ là Lugdi chỉ có hai người biết, Kedarnath đã hoàn toàn bị thuyết phục: Shanti Devi là người vợ cũ Lugdi Bai đã quá cố .

Khi Kedarnath phải trở về lại Mathura, cô năn nỉ cha mẹ để đi theo, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên câu chuyện này đã lan truyền ra cả Ấn Độ, báo chí cũng như những người trí thức bị lôi cuối để theo dõi. Khi ông Mahatma Gandhi biết chuyện này, ông gọi Shanti, sau đó nhờ 15 người nổi tiếng thành lập một ủy ban (comittee) để xem xét về việc này. Ủy ban đã thuyết phục được cha mẹ của cô, để cho phép cô đi cùng với họ đến Mathura khi cô được 9 tuổi.

Khi xe lửa tới Mathura, ủy ban đã tường trình là Shanti đã nhận diện được người anh lớn của “chồng” mình là “Jeth” hay Babu Ram Chaubey. Họ đưa cô lên xe ngựa, cô nhìn thấy một cụ già, cô cúi chào và nói đây là bố “chồng” của mình, điều này đúng. Khi tới nhà, nơi đã ở, cô đã không ngần ngại chỉ ra đây phòng ngủ “của” cô và những gì “thuộc về” cô. Shanti được hỏi với những tiếng địa phương mà những người ở nơi khác không thể biết, và đã nói đúng. Sau đó cô muốn đưa cô đến một ngôi nhà khác, khi cùng ở với “chồng”, cô chỉ đường họ tới không một chút khó khăn. Một người trong ủy ban hỏi cô về cái giếng trong sân, Shanti đã chỉ ra chính xác vị trí, dù đã bị che bằng một phiến đá vì lâu ngày đất và cỏ đã phủ bên trên. Về việc Shanti cất tiền, người trong ủy ban đã tìm thấy hộp trống nhưng không có tiền, cô khẳng định là có, “chồng” cô, Kedarnath đã khai ra là ông đã lấy tiền sau khi chôn cất Lugdi để trang trải.

Shanti được đưa tới nhà cha mẹ của Lugdi (tiền kiếp của Shanti) và nhận diện được cô và cha mình. Đưa cô tới đền Dwarkadhish và những gì cô nói trước đều được kiểm nhận là đúng.

Bản tường trình của ủy ban đã gây sự chú ý tới toàn thế giới, nhiều giới chức đã tới đây để tìm hiểu.

Năm 1986, Shanti Devi đã được phỏng vấn bởi Dr. Ian Stevenson và Dr. KS Rawat (tác giả bài viết đã tham khảo) trước khi bà qua đời lúc được 61 tuổi. Bà không kết hôn vì giữ lời hứa với người “chồng” trong tiền kiếp là Kedarnath.
***
Dù đây có thể không phải là một chứng minh (proof) cho sự Luân Hồi, nhưng là một bằng chứng (evidence) khá rõ ràng. Ngày nay niềm tin vào Luân Hồi đã bớt bị coi là một sự mê tín, dựa vào những bằng chứng và những tra cứu như trường hợp Anne Frank - Barbro Karlen (Âu Châu) hay James Leininger - James Huston (Hoa Kỳ), và v.v.... Năm 1990, bên Âu châu những người tin có Luân Hồi chiếm một số phần trăm đáng kể là 24% (số trung bình) . Ở Hoa Kỳ, có khoảng từ 20% đến 30% Ki-Tô hữu tin có Luân Hồi. Thời khởi đầu của Kitô giáo cũng tin là linh hồn đã hiện hữu từ trước khi có thể xác (the pre-existence of souls), giáo phụ Origen (~184 - ~253) là người cổ võ niềm tin này, tuy nhiên đến Công Đồng Constantinople thứ hai (553), niềm tin này đã bị cấm đoán.

Người viết chỉ nêu ra một trong những trường hợp Luân Hồi, với mục đích muốn tìm hiểu thêm cho câu trả lời về câu hỏi là có linh hồn hay không? Vì muốn trở lại làm người dưới một thân xác khác, người này phải có bản thể hay tính chất nào đó - bên ngoài tính cách vật chất - được gọi là “linh hồn” (soul) theo cách thông thường.

Ghi chú:

[26] Hệ quả triết học của cơ học lượng tử : http://vi.wikipedia.org/...B0%E1%BB%A3ng_t%E1%BB%AD

[27] “Some of My Journeys in Medicine” Dr. Ian Stevenson.

[28] “The case of Shanti Devi”, Dr. K.S. Rawat: http://reincarnation.8k.com/Shanti.html

[29] http://www.iisis.net/ind...-reincarnation-past-life

[30] http://personalityspirit...rnated-us-fighter-pilot/

DongA  
#465 Posted : Wednesday, January 22, 2014 10:30:53 AM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn
(Spacetime and Soul)


(Tiếp theo)

“Cơ học lượng tử” và sự hiện hữu của linh hồn?
(Quantum mechanics and soul existence)


Trước hết, người viết xin đưa ra một “tiên đề” (postulate) là con người có óc (brain) và tri thức (mind)” là biết suy nghĩ, vì nếu chúng ta biết nghĩ là chúng ta có tri thức (mind); dù ta có dùng “óc” để phủ nhận điều này thì ta cũng đã tự chấp nhận là chúng ta biết nghĩ. Điều này đã được đề cập tới thuyết “Nhị nguyên” (Dualism) từ lâu, nói về sự “lưỡng tính” của của người là “óc” và “tri thức”. Từ “tri thức”, con người có “nhận thức” (conscioussness). Câu hỏi được đặt ra là “tri thức” (mind) có phải là “sản phẩm” của “óc” - một dạng của thể chất - hoàn toàn tùy thuộc vào “óc” và khi “óc” chết thì “tri thức” cũng mất đi?! Tuy nhiên qua các “Trường hợp cận tử” (NDE - Near Death Experiences), với những bằng chứng khó có thể chối bỏ (như đã trình bày trong phần trước) là dù “óc ngưng làm việc”, con người vẫn còn “tri thức” (mind) hay “nhận thức” (consciousness) với kiến thức (knowlege) và đặc biệt là tình yêu (love), qua những NDEs đã được ghi nhận. Người viết xin được gom chung những điều không thuộc về vật chất và không thể chứng minh này thành một chữ có tính cách phổ thông là “Linh Hồn” (Soul), vì khoa học chúng ta biết được cho đến nay hầu như hoàn toàn đặt căn bản trên vật chất (materialistic) để chứng nghiệm. Khoa học thực nghiệm có thể hoàn toàn giải thích được những điều gọi là “đặt trên căn bản khoa học”? Thực tế là đến nay loài người vẫn còn mù mờ với những gì xảy ra trong “thế giới hạ nguyên tử” ( subatomic particle world), cũng như những “bằng chứng” (evidences) không thuộc về vật chất, mà các nhà khoa học vẫn còn đang tìm tòi và nghiên cứu.


“Lượng tử” là gì?

Lượng tử là đơn vị có thể đếm hay đo; theo ý nghĩa về vật lý có nghĩa là đơn vị căn bản nhỏ nhất của năng lượng và vật chất, thường được coi là có kích thước cực kỳ nhỏ.

“Thí nghiệm Kẽ Hở Đôi” (Double-slit experiments)

Khoảng năm 1805, Thomas Young đã làm thí nghiệm về sự giao thoa (interference) ánh sáng bằng cách rọi ánh sáng qua một kẽ hở nhỏ (S1), sau đó để ánh sáng đi qua hai kẽ hở nhỏ khác (S2), rồi ánh sáng được chiếu lên màn ảnh F. Kết quả là thấy những vạch chỗ sáng chỗ tối trên màn ảnh chỉ sự giao thoa của sóng. Điều này chứng tỏ ánh sáng có tính chất của sóng.

UserPostedImage
Sự giao thoa (interference) ánh sáng trong thí nghiệm “Kẽ hở đôi”(~1805) của Thomas Young


UserPostedImage

Sự giao thoa của âm điện tử trong thí nghiệm “Kẽ hở đôi” (1937) của George Paget Thomson

Năm 1937, George Paget Thomson vật lý gia người Anh đã đoạt giải Nobel về việc chứng tỏ âm điện tử (electrons) là một vật thể, vì nó có trọng khối, nhưng lại có thêm tính chất khác nữa là sóng, vì chúng có sự giao thoa (inteference) giống như ánh sáng. Điều này chứng tỏ vật thể (matter) không phải chỉ có tính chất về thể lý (physical), mà lại có thêm một tính chất khác không thuộc về thể lý, đó là sóng (wave). Để giải thích, môn “Cơ học lượng tử” (Quantum mechanics) đã được đề ra.

“Nối kết lượng tử” (Quantum entanglement)

Thế giới lượng tử có nhiều hiện tượng “quái gở” như vừa là vật thể, vừa là sóng, như đã trình bày trong phần trước. Hiện tượng này được gọi là “Gắn bó lượng tử” (Quantum Coherence). Một hiện tượng khác là chúng ta không thể định được vị trí chính xác của một âm điện tử, mà chỉ có thể biết được về xác suất vị trí của chúng (bằng phương trình Schrodinger). Hiện tượng này gọi là “Chồng chập lượng tử” (Quantum Superposition). Còn một hiện tượng “quái đản” hơn cả trong “cơ học lượng tử” là sự “Nối kết lượng tử” (Quantum entanglement), dù đã được biết tới nhưng đến nay vẫn không thể giải thích được: Nếu hai “hạt” (particles) A và B đã từng có tác động chung (interaction) và gây ảnh hưởng với nhau, sau khi được tách ra, chúng vẫn mang những đặc tính như trước, vẫn có sự “nối kết” (entanglement) với nhau, dù có cách xa nhau bao nhiêu đi nữa[33].

Giả sử nếu hạt A ở trái đất quay thuận chiều (kim đồng hồ), hạt B trên mặt trăng sẽ quay ngược chiều, nếu hạt A đổi chiều quay, hạt B sẽ lập tức đổi chiều quay theo. Bác học Einstein gọi đây là “Tác động ma quái qua khoảng cách” (“spooky action at a distance”)[34] .

Mặc dù đến nay khoa học vẫn chưa hiểu gì về sự “nối kết lượng tử ”, nhưng đã áp dụng hiện tượng này trong việc “viễn chuyển lượng tử” (Quantum teleportation) để chuyển dữ liệu (information) đi xa bằng cách dùng “Qubit” (Quantum bit). Hiện nay, khoảng cách được ghi nhận về “viễn chuyển lượng tử” (Quantum teleportation) bằng quang tử (photons) là 143 km (89 dặm), “viễn chuyển lượng tử” với hệ thống vật chất (material system) là 21m. “Ngày 11 tháng Chín, năm 2013, lần đầu tiên trên toàn thế giới, nhóm Furusawa tại Đại học Tokyo đã thành công trong việc chứng minh hoàn chỉnh “viễn chuyển lượng tử” với các “‘bit’ lượng tử ánh sáng” bằng “kỹ thuật lai” (hybrid technique)”[35] .

Nhiều người đã nêu lên câu hỏi là sự “nối kết lượng tử” có liên quan gì đến linh hồn? Có một số người đã nêu ra một điều là những nhận thức trong đầu óc chúng ta đã được sao chép lại từ vũ trụ không- thời gian, và trở về vũ trụ khi óc của chúng ta ngưng hoạt động. Trong bài viết “Khoa học có thể giải thích về linh hồn?” (“Can Science Explain the Soul?”) [36] của hai bác sĩ Hameroff và Chopra đã nêu kết luận [37] mà người viết xin tạm dịch như sau:

“Chúng tôi không đòi sự chứng minh hay bằng chứng cuối cùng của “nhận thức” (consciousness) sau khi chết, nhưng đề xuất ra một căn bản khoa học chính đáng cho nó. Linh hồn và tâm linh hàm ý những điều sau đây, với “giải thích lượng tử” (quantum explanations):

- Liên hệ lẫn nhau giữa các sinh vật sống và vũ trụ thuộc về nhận thức và vô thức của lý trí có thể “được nối kết lượng tử” (Quantum entangled).

- “Sự hướng dẫn thiêng liêng (Divine guidance) / Sự lựa chọn “Cách của Đạo” ('Way of Tao') trong mỗi sự kiện có ý thức, chịu ảnh hưởng của kinh Vệ Đà / giá trị Plato (Platonic values) bao trùm trong hình học không-thời gian căn bản.

- Sự nhận thức (Consciousness) / Linh hồn (Soul) sau khi chết - Sự nhận thức xảy ra ở kích thước Planck [38] , và có thể vẫn còn hợp nhất sau khi cơ thể đã chết bởi sự “Nối kết lượng tử” (Quantum entanglement), đi qua những hướng vô định khác nhau trong vũ trụ (moving through different scalar 'astral' planes).

Những đề xuất này có thể kiểm chứng, và có thể sai lầm. Chúng tôi kêu gọi để có thêm sự phân tích quan trọng”
.

Chính Bác sĩ Stuart Hameroff một trong hai tác giả bài viết này, đã cùng với nhà vật lý nổi tiếng người Anh là Sir Roger Penrose đề ra “Thuyết lượng tử về sự hiện hữu của linh hồn” (Quantum theory of soul's existence), người viết xin được gọi tắt là giả thuyết “Linh hồn lượng tử” (Quantum Soul) và sẽ cố tìm hiểu thêm trong phần sau.


Ghi chú:

[33] Độc giả có thể vào youtube để coi thêm về điều “quái đản” này trong “cơ học lượng tử” (khoảng hơn 10 phút) với đề tài “Soul is a Quantum Computer” trong web site: hxtp://www.youtube.com/watch?v=zPLbWsYhZMA

[34] Nghiên cứu về “Nối kết lượng tử” được khởi xướng bởi một bài báo năm 1935 của Albert Einstein, Boris Podolsky, và Nathan Rosen mô tả nghịch lý EPR (Einstein, Podolsky, Rosen) và nhiều bài viết của Erwin Schrödinger sau đó. (Wikipedia: Research into quantum entanglement was initiated by a 1935 paper by Albert Einstein, Boris Podolsky, and Nathan Rosen describing the EPR paradox(“Can Quantum-Mechanical Description of Physical Reality Be Considered Complete?”) and several papers by Erwin Schrödinger shortly thereafter).

[35] Nguồn: hxtp://en.wikipedia.org/wiki/Quantum_teleportation :“Presently, the record distance for quantum teleportation is 143 km (89 mi) with photons,[5] and 21m with material systems.[6] On September 11, 2013, the "Furusawa group at the University of Tokyo has succeeded in demonstrating complete quantum teleportation of photonic quantum bits by a hybrid technique for the first time worldwide.

[36] Nguồn: hxttp://www.huffingtonpost.com/deepak-chopra/can-science-explain-the-s_b_675107.html

[37] Conclusion -- A Science of the Quantum Soul
We don't claim proof or final evidence of consciousness after death, but do propose a plausible scientific basis for it. Soul and spirituality imply the following, with quantum explanations:

• Interconnectedness among living beings and the universe Conscious minds and unconscious processes may be quantum entangled.

• Divine guidance/ 'Way of the Tao' Choices in each conscious event influenced by Vedic/Platonic values embedded in fundamental spacetime geometry.

• Consciousness/Soul after death -- Consciousness occurs at the level of Planck scale geometry, and may remain unified after bodily death by quantum entanglement, moving through different scalar 'astral' planes.

These proposals are testable, and falsifiable. We welcome critical analysis.

[38] Planck length: 1.616252×10−35 m



(Còn tiếp)

Edited by user Monday, March 31, 2014 12:17:51 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#466 Posted : Friday, January 24, 2014 3:12:01 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn
(Spacetime and Soul)


(Tiếp theo)


Thuyết “Linh hồn lượng tử”
(“Quantum Soul” Theory)


Các vật lý gia gọi tên của thuyết này là “Nhận thức lượng tử” (Quantum theory of consciousness). Tên chính thức của lý thuyết mà hai tác giả đặt ra là “Thuyết Penrose-Hameroff Orch-OR - nhận thức như hàng loạt tính toán lượng tử trong tế bào thần kinh não” (the Penrose-Hameroff Orch OR theory of consciousness as sequences of quantum computations inside brain neurons). Tuy nhiên một trong hai người [39] đưa ra thuyết này là BS. Hameroff đã gọi thuyết này là Linh hồn lượng tử (Quantum Soul) trong bài viết: “The "Quantum Soul": A Scientific Hypothesis[40] .

Penrose là tên của nhà vật lý và toán học người Anh Sir Roger Penrose.
Hameroff là tên của bác sĩ Stuart Hameroff.
Orch OR là chữ viết tắt của “Orchestrated Objective Reduction” (Phối hợp để giảm mục tiêu?).

Đây là thuyết nói về sự “nhận thức” (consciousness) của con người. Năm 1989, nhà vật lý và toán học lừng danh người Anh là Penrose xuất bản sách “The Emperor's New Mind”. Ông đưa ra lập luận là “nhận thức” của con người thì “không có trình tự tính toán” (non - algorithm) hay lý giải như cách thiết lập “chương trình” (program) cho máy tính. Penrose đưa ra giả thuyết là “cơ học lượng tử” đóng vai trò cần thiết về “nhận thức” của con người. Muốn hiểu về sự “nhận thức” (consciousness) phải có một cách thức nào đó để “giảm sóng lượng tử” (quantum wave reduction), sau đó ông đổi tên hình thức này là “Giảm mục tiêu” (Objective Reduction), giảm tới kích thước Planck, đây là tầng lớp căn bản nhất trong vũ trụ (1.6*10^-35m), mặc dù ông không có ý tưởng chính xác về cách “tác động lượng tử” (quantum action) của não như thế nào, vì thiếu “ứng viên” (candidate) cho “‘bit’ sinh học lượng tử” ( biological qubits) trong não bộ [41]. Đây là phương cách “OR” của Sir Roger Penrose. Quyển sách này đã bị phê bình và chỉ trích khá nhiều bởi những nhà chuyên môn.

Bác sĩ Hameroff là chuyên viên gây mê, đồng thời ông cũng là giáo sư dạy về sự “nhận thức” tại đại học Arizona và là chuyên viên nghiên cứu về các “ống thần kinh” (neural microtubules), đã thích thú khi đọc “The Emperor's New Mind” của Penrose, vì có thể áp dụng “phương pháp lượng tử” (quantum process) cho lý thuyết riêng của mình về cơ chế gây mê (mechanism of anesthesia), nhắm vào sự tìm hiểu về “nhận thức” (consciousness) qua tác động trong những “ống thần kinh”.

Năm 1992, Dr. Hameroff và TS. Penrose đã gặp nhau, Hameroff cho rằng các “ống thần kinh” (neural microtubules) là nơi có những “tác động lượng tử” (quantum mechanism) trong não bộ. Sau hai năm hợp tác họ đã đưa ra một lý thuyết chung là “Orch OR” (Phối hợp để giảm mục tiêu?).



Thuyết “Orch OR” hay “Nhận thức lượng tử”
(Quantum theory of consciousness)

Theo thuyết này thì “Sự nhận thức” (consciousness) của con người được thành lập trong các “ống cực nhỏ” (microtube), những “ống” này nối các tế bào thần kinh não với nhau. Với hàng trăm tỷ tế bào thần kinh, não bộ được coi như một “máy tính sinh học” (biological computer). Ngoài cách thức truyền “tin tức” (information) đi bằng phương pháp điện tính và hóa tính (electrochemical processes) như khoa học giải thích, các ống này nối với nhau và đồng thời chúng cũng nối với bên ngoài bằng cách “nối kết lượng tử” (Quantum entanglement - xin coi giải thích trong phần trước), chúng có tác động như một “hệ thống thông tin” (information networks) để tạo nên “sự nhận thức” (consciousness). Vì thế “sự nhận thức” (consciousness) không bị mất khi não bộ ngưng hoạt động, nó chỉ “đi” vào vùng không-thời gian của vũ trụ rộng lớn. Khi óc bắt đầu làm việc lại, “sự nhận thức” (consciousness) trở vào trong những “ống” này như trước, vì có sự “sự thông tin nối kết lượng tử” (Entangled quantum information). Nếu não bộ bị chết hẳn, “sự nhận thức” này vẫn hiện hữu ngoài cơ thể vô thời hạn, hoặc có thể vào trong một bào thai khác để “Luân hồi”.

“Sự nhận thức” gồm có “tri thức” (mind), kiến thức (knowledge), cảm giác (sentience), tình yêu (love), kinh nghiệm, v.v... thường được gọi chung với tính cách tâm linh (spiritual) là “Linh hồn” (soul). Thuyết này được BS. Hameroff dùng để giải thích các “kinh nghiệm cận tử” (NDE) hay “luân hồi”.


Bằng chứng hỗ trợ thuyết “Orch OR”?

Thuyết “Orch OR” đã được Penrose và Hameroff đưa ra hơn 20 năm, bị đả kích khá nhiều, vì các khoa học gia khác cho là não bộ “quá ấm, ẩm ướt và ồn ào” ( "warm, wet, and noisy") không thích hợp cho “phương pháp lượng tử” (quantum process). Tuy nhiên mới đây (Jan 16, 2014), trong bài báo của “Phys.org” với tựa đề: “Discovery of quantum vibrations in 'microtubules' corroborates theory of consciousness” (“Phát hiện rung động lượng tử trong“ống cực nhỏ” chứng thực lý thuyết về ‘nhận thức’”). Tại Anh, báo chí cũng đăng bài viết “Quantum Vibrations in Brain Opens 'Pandora's Box' of Theories of Consciousness” (Rung động lượng tử trong não mở “hộp Pandora” [42] về thuyết của “sự nhận thức”). Trong phần cuối cùng của bài viết, một trong hai người đưa ra thuyết “Orch OR” là BS Hameroff đã kết luận: “Các tác giả nói là bằng chứng giờ đây "rõ ràng hỗ trợ" lý thuyết ban đầu của họ. "Orch OR” là lý thuyết khắt khe nhất về “nhận thức” từng được đề ra, và đã được thử nghiệm một cách thành công toàn diện. Từ một quan điểm thực tế là điều trị những rung động trong những “ống cực nhỏ” của não có thể làm lợi cho tâm thần, thần kinh, và điều kiện nhận biết[43].

Một hội nghị đã được mở ở Amsterdam, Hòa Lan từ ngày 16 đến ngày 18 tháng Giêng năm 2014 để tranh luận (debate) về thuyết này. Kết quả của hội nghị này ra sao, chúng ta đành phải chờ những kết luận vững chắc với đầy đủ chứng minh (?), vì hội nghị này chỉ xảy ra một tuần trước khi có bài viết này! Nếu chứng thực được điều này, thì môn “Sinh Học Lượng Tử” (Quantum biology) sẽ được chú ý nhiều hơn. Thực ra môn học này đã được vật lý gia nổi tiếng thế giới là Erwin Schrödinger đề ra từ năm 1944, trong sách "Whai í Liè" của ông. Tuy nhiên vì có nhiều hiện tượng “quái đản” về “lượng tử” như “chồng chập” (superposition), “ trùng chập” (coherence), “nối kết” (entanglement) như đã trình bày sơ lược trong phần trước, rồi lại thêm hiện tượng “xuyên hầm” [44] (tuneling) mà khoa học ngày nay chỉ áp dụng chứ không có giải thích rõ ràng, có thể vì thế mà các khoa học gia, bác sĩ, v.v.. đã “hờ hững”?
***

“Orch OR” là một thuyết gần như ngoài tầm hiểu biết của người viết, vì gồm quá nhiều lĩnh vực chuyên môn hợp lại, vì thế chỉ tóm lược lại những tóm tắt của những bài viết khác, mục đích là tìm hiểu có linh hồn hay không theo như khoa học ngày nay, chỉ xin nêu ra những điều này để mong có được sự góp ý hay thêm những sự hướng dẫn!


Ghi chú:

[39] Penrose không dùng chữ “Linh hồn” vì ông tự nhận mình là một “Atheist” (Người vô thần)
hxtp://en.wikipedia.org/wiki/Roger_Penrose: Penrose does not hold to any religious doctrine,[25] and refers to himself as an atheist. In the film “A Brief History of Time”, he said, "I think I would say that the universe has a purpose, it's not somehow just there by chance ... some people, I think, take the view that the universe is just there and it runs along – it's a bit like it just sort of computes, and we happen somehow by accident to find ourselves in this thing. But I don't think that's a very fruitful or helpful way of looking at the universe, I think that there is something much deeper about it."

[40] Nguồn: wxw.quantumconsciousness.org/documents/qsoulchap.pdf‎

[41] Theo như BS Hameroff: hxtp://www.huffingtonpost.com/deepak-chopra/can-science-explain-the-s_b_675107.html

[42] hxtp://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFc_h%E1%BB%99p_Pandora : Trong thần thoại Hy Lạp, sự tích về chiếc hộp Pandora kỳ bí đã để lại cho nhân gian những điều thú vị và hấp dẫn. Theo truyền thuyết, đó là một chiếc hộp mà các vị thần trên đỉnh núi Olympus đã tặng cho nàng Pandora - người phụ nữ đầu tiên đến thế giới loài người. Nàng Pandora đã được các vị thần dặn kỹ rằng không được mở chiếc hộp đó ra. Nhưng với sự tò mò cua mình, Pandora đã mở chiếc hộp ra và tất cả những gì trong chiếc hộp kì bí đó đã khiến cho tất cả những điều bất hạnh tràn ngập khắp thế gian: thiên tai, bệnh tật, chiến tranh… và chiếc hộp chỉ còn sót lại một chút “ hy vọng” mang tên Pandora cho loài người để có thể tiếp tục sống.

[43] hxtp://www.ibtimes.co.uk/quantum-vibrations-brain-opens-pandoras-box-theories-consciousness-1432614 : The authors say evidence now "clearly supports" their original theory: "Orch OR is the most rigorous, comprehensive and successfully-tested theory of consciousness ever put forth. From a practical standpoint, treating brain microtubule vibrations could benefit a host of mental, neurological, and cognitive conditions,"Hameroff concludes.

[44] hxtp://en.wikipedia.org/wiki/Quantum_tunneling: Một hiệu ứng lượng tử mô tả sự chuyển dịch của hệ vật chất từ trạng thái này sang trạng thái khác mà thông thường bị ngăn cấm bởi các quy luật vật lý cổ điển.


(Còn tiếp)

Edited by user Saturday, March 15, 2014 7:42:10 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#467 Posted : Saturday, February 1, 2014 12:01:14 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn
(Spacetime and Soul)


(Tiếp theo)

Thuyết Orch OR, nêu ra sự “nhận thức” (consciousness) nằm trong các “ống cực nhỏ” (microtubes) trong não bộ, các ống này liên kết với nhau bằng những trạng thái lượng tử (quantum states) như “nối kết” (entanglement) và “xuyên hầm” (tunneling) [45]. Rồi khi não bộ ngưng hoạt động, thì “nhận thức” không mất và đi vào vũ trụ qua hình thức “nối kết lượng tử” (quantum entanglement). Tuy nhiên điểm chính của thuyết này chỉ giải thích về “nhận thức” nằm ở đâu trong não bộ và những tác động “lượng tử” tạo ra sự “nhận thức lượng tử” (quantum consciousness) . Đây là thuyết hoàn toàn có tính cách khoa học, có lẽ vì Penrose là một trong hai tác giả của thuyết này, ông muốn tránh né những gì có thể dính dáng đến tâm linh, vì thế Orch OR không giải thích gì nhiều về chi tiết của “kinh nghiệm cận tử” (NDE - Near death experiences).

Để giải thích về NDE, một giả thuyết khác do một Tiến sĩ ở Netherlands (hay Hòa Lan) đề ra, thuyết này đặt căn bản trên vật lý để giải thích. Người viết thấy thuyết này khá thú vị và có vẻ khá thuyết phục, nên chỉ xin tóm lược lại bài viết tóm tắt* từ trong sách của chính tác giả.
* Độc giả có thể đọc bài viết được phiên dịch sang Anh ngữ: “THE (NEAR-) DEATH DECODED” trong trang web sau: hxtp://www.nderf.org/NDERF/Books/maureen_v_research.htm


Thuyết “Năm Giai Đoạn”(“The five phases theory”)

Giải thích về những “kinh nghiệm cận tử” (NDE - Near Death Experiences)

Thuyết của Tiến Sĩ MAUREEN VENSELAAR


TS Venselaar là người đã nghiên cứu về NDE (“kinh nghiệm cận tử”) 10 năm với hàng trăm trường hợp và cho là hiện đang có hai cách giải thích về hiện tượng này:

1- Cách giải thích thứ nhất cho đây là một “hiện tượng thần kinh” (neurological phenomenon), với những “vẻ” (features) đặc biệt như thấy lại đời sống đã qua của mình, nhìn lại thân thể mình, thấy điều kỳ lạ , v.v... bởi vì não bộ thiếu dưỡng khí (oxygen), kích thích bởi điện năng, bởi căng thẳng, hay thuốc gây ảo giác. Giải thích này coi như não là nơi sản xuất ra NDE và “nhận thức” (consciousness).

2- Cách giải thích thứ nhì cho đây là một “điều siêu nhiên” (supernatural one), coi não bộ chỉ là một nơi nhận (receiver) sự “nhận thức vũ trụ” (cosmic consciousness) có lẽ là lớn lao vô tận. Người có NDE nối vào được một phần của “nhận thức vũ trụ” bao la này, nên họ thấy và cảm được như khi ra khỏi thân thể, cảm nhận được tình yêu vô bờ bến, thấy lại đời sống đã qua, du lịch vũ trụ, thấy người thân đã quá cố, v.v...

TS Venselaar cho là cả hai giải thích này đã không xét đến bị thương hay bệnh nặng hoặc nhẹ, nên “kinh nghiệm cận tử” khác nhau, hơn nữa cả hai đã không giải thích tất cả những “vẻ” (features) về NDE đã được ghi nhận. Cảm thấy điều này đã gây nên sự thử thách, nên TS Venselaar đề ra thuyết “Năm Giai Đoạn”, dựa vào căn bản vật lý để giải thích đại cương về hiện tượng này như sau:

“Khi chúng ta đi tới (gần) sự chết, cảm quan để quan sát của chúng ta suy giảm, ý thức (awareness) thay đổi, và sâu thẳm trong thân xác (trong các nguyên tử), bắt đầu một quá trình căn bản mà điều này phát ra một “năng lượng kỳ lạ” ('exotic energy' = năng lượng ánh sáng / quang tử). “Năng lượng kỳ lạ” đặc biệt này là nền tảng của một “cơ thể mới”, tinh khiết và hoàn hảo khác, một cách nhận thức / ý thức khác. Với “cơ thể mới” này (năng lượng kỳ lạ / quang tử), chúng ta có thể đi thông qua các rào cản của không gian và thời gian. Không nghi ngờ gì NDE là một cuộc hành trình thực thụ. Và cuộc hành trình này có thể đi đến bên lề (edge) của vũ trụ này...” [46].

Những giai đoạn về NDE được TS Venselaar diễn tả như sau:

1- Tách rời thân xác.
2- Một “hành trình” (qua một đường hầm) đến “ánh sáng thiên đàng” (heavenly light).
3- “Bản thể” (Being) “hiện diện” trong ánh sáng (in the presence of the light) gần với ranh giới.
4- Trở lại (qua một đường hầm) để “nhập” vào thân xác cho người có “kinh nghiệm cận tử” NDE - Người chết không trở lại, họ qua ranh giới.
5- Hợp lại với thân xác.
Ghi chú của tác giả:Bài viết này chỉ là một bản tóm tắt, vì vậy không thể giải thích mọi “vẻ”(features) bằng từng lý thuyết khoa học”[47].

Những dẫn chứng khoa học về NDE

Tác giả đã nêu dẫn chứng [DC] về khoa học cho mỗi giải thích, người viết xin gồm chung những dẫn chứng lại như thứ tự dưới đây để tránh sự lập lại cho từng sự kiện trong mỗi giai đoạn:

DC 1- Theo như các chuyên gia thì các “trị số điện từ” ( electromagnetic values) trong và chung quanh thân thể của người cận tử thay đổi [Atwater, Chawla, Greene].

DC 2- Các nguyên tử trong thể xác của chúng ta , khi cơ thể bị hư hại nặng hoặc bị chết, chúng phóng ra “năng lượng ánh sáng kỳ lạ” (exotic light energy) với vô số quang tử (photons) [Gurwitch, Fritz-Albert Popp].

DC 3- Quang tử (photons) “có thể nhận thức” (can be consciousness) [Popp], có thể chứa “tin” (information) [Laszlo, Gary E. Schwarz] và không thể bị hủy diệt (indestructible) [Hawking].

DC 4- Toàn thể vũ trụ được cấu tạo bởi quang tử [Laszlo, Brian Cox].

DC 5- Có các loại quang tử / ánh sáng khác nhau. “Vật thể (matter) do ánh sáng “cô đọng” tạo nên [Scientist David Bohm: “If something (like our physical body) is 'matter', David Bohm says: it is condensed frozen light”][48].

DC 6- Quang tử có thể “không có tính cách ‘địa phương’”[49] (non-local) [Grinberg].

DC 7- Từ tính và ánh sáng là hai phương diện của cùng một bản chất [Maxwell].

DC 8- Ánh sáng có thể bị ảnh hưởng bởi những thứ khác, như sự thu hút (attraction) và trọng trường (gravity) [Cox, Mc Donald].

DC 9- Sự sụp đổ (collapse) do trọng trường (gravity) là sự thu nhỏ (contraction) của vật chất (substance).

DC 10- Sự thu nhỏ (contraction) của vật chất (do sức hút trọng trường) có thể tạo nên các “hố đen” (black holes), thí dụ như “hố đen” đuợc thành lập từ các vì sao hay thiên hà (galaxies).

DC 11- “Hố đen” là một thực thể của vũ trụ không- thời gian và có thể là một phần của “lỗ giun” (worm hole), một “đường hầm” (tunnel) thông qua không gian của chúng ta, và thời gian ở đây không còn ý nghĩa, đây là “lỗ giun” trong “nội bộ” của vũ trụ này (intra- universe wormhole). Quang tử có thể đi qua “hố đen” hay “lỗ giun” mà không bị hủy diệt [Hawking].

DC 12- Có những “lỗ giun rất nhỏ” ( hiện diện trong vũ trụ này “very small/tiny wormholes are plausible”) [Cox, Rujula, CERN [50]].

DC 13- Gần “hố đen” có một biên giới gọi là “chân trời biến cố” (event horizon), quang tử có thể ở tại đó trong một thời gian (?) [Ferguson].

DC 14- Trọng trường (gravity) và sự “sụp đổ trọng trường” (gravity collapse - tại “hố đen”) không như nhau ở mọi nơi.

DC 15- “Hố đen” không hoàn toàn “đen”, chúng được bao quanh bởi ánh sáng cực kỳ mạnh (vì ánh sáng không tỏa ra được, do sức hút của trọng trường từ “hố đen”)[ Hamilton].

DC 16- Mô hình về lý thuyết vật chất thiên văn của vũ trụ này và vũ trụ khác là một cái “đồng hồ cát” ( ‘sand-glass’clock) [Hawking].

UserPostedImage
(Hình trích từ hxtp://en.wikipedia.org/wiki/Hourglass)

Mô hình này có “'lốc xoáy' trên” (upper 'tornado' ) và '”lốc xoáy' dưới” (lower 'tornado'): “Lốc xoáy trên” quay theo chiều kim đồng hồ và hướng ra ngoài, “lốc xoáy dưới” quay theo hướng ngược lại. Cả hai vũ trụ có thể được kết nối với nhau bởi một “lỗ giun” (wormhole) “liên vũ trụ” [Poplawski]. “Lỗ giun” này gồm một “hố đen” (được bao quanh với ánh sáng) nối với một “hố trắng” (white hole).

DC 17- Hiệu ứng Doppler ( Doppler effect) làm cho người quan sát thấy ánh sáng màu xanh (có tần số cao trong quang phổ), do tinh tú di chuyển đến gần, và thấy ra ánh sáng màu đỏ (có tần số thấp hơn) khi chúng di chuyển ra xa [Doppler, Hawking].

DC 18- Trọng trường (gravity) không phải chỗ nào cũng giống nhau (tùy theo trọng khối ảnh hưởng lẫn nhau).

DC 19- Trọng trường (gravity) hiện hữu trên toàn vũ trụ.



Giải thích về thuyết “Năm Giai Đoạn”

1- Giai đoạn 1: Tách rời thân xác

Kinh nghiệm:
Khi một người bị “chấn thương hóa” (traumatized) nghiêm trọng (ví dụ : do một tai nạn hoặc bệnh tật), họ mất ý thức.

- Thấy một tiếng động lạ và cảm thấy rung động và có tiếng nổ nhỏ ở sâu thẳm trong thân thể.

- Có được một “nhận thức” (consciouness) và một “cơ thể” khác’

- Nhìn thấy thân xác của mình. Đây là bắt đầu kinh nghiệm ra khỏi cơ thể.

- Khi cận tử họ nhận ra là họ có một cơ thể “ma” được tạo bằng ánh sáng giống như thân xác của họ .

- Đôi khi, họ đã nhìn thấy “bản thể ánh sáng” (“light beings") khác, những kẻ này hướng dẫn họ đến thiên đàng.
- Không cảm thấy có sự thay đổi nào trong “cá tính” (personality) của họ, không còn thấy sự đau đớn của thể xác, cảm thấy hạnh phúc và bình yên.

- Có thể nghe và thấy, trong một cách khác, nhưng họ không thể giao tiếp với mọi người như bác sĩ, y tá, v.v... Đôi khi người cận tử nghe các bác sĩ tuyên bố về cái chết của họ.
Người bên cạnh đôi khi nhìn thấy ánh sáng như sương mù (foggy light) rời khỏi thân xác kẻ cận tử.

Kết luận thận trọng (Cautious conclusion) về giai đoạn tách rời thân xác

- Chúng ta sẽ có một cuộc sống sau cuộc đời này - như “bản thể của ánh sáng” - do sự kiện (fact) các nguyên tử bị hư hoặc chết, cơ thể phát ra vô số các quang tử (năng lượng ánh sáng) [DC 2].

- Các “quang tử kỳ lạ” có thể có “nhận thức” (nhận thức hàng ngày được kết nối với não bộ trong những hoàn cảnh bình thường sẽ được thay đổi thành một nhận thức siêu nhiên bao la hơn). Những “quang tử kỳ lạ” này cũng không thể bị phá hủy (vì vậy đời sau có thể là một “cuộc sống vĩnh cửu” ). Các “quang tử kỳ lạ” này có thể 'mang' “tin tức” (chúng ta đã và đang là ai. Vì vậy, “cơ thể mới” tạo bởi các “quang tử kỳ lạ”, nhiều hay ít cũng giống như thể xác của chúng ta.) [DC 3].

2- Giai đoạn 2: Hành trình qua đường hầm (the journey through a tunnel)

Kinh nghiệm:
Khi sự chấn thương đến mức cực kỳ nghiêm trọng, người gần chết (hiện đang là “bản thể ánh sáng”) thấy cách xa hơn với thân xác, thí dụ như nhìn thấy như mái nhà của bệnh viện , v.v...

- Sau đó bị bao quanh bởi một không gian tối tăm, đôi khi họ nhìn thấy những “bản thể xám hay tối” (grey/dark beings). Gần như cùng một lúc, họ thấy trái đất, mặt trăng, sao, ngân hà như các phi hành gia thấy (tương đối của không gian)[51] (“Nối kết lượng tử” (quantum entanglement - Photons can be non-local)? ) [ DC 6].

- Họ cũng nhận ra rằng họ trở thành nhỏ như một “hạt cát” (với cơ thể ánh sáng (body of light) của họ).

- Một “đường hầm” mở ra , “người cận tử” qua “đường hầm” này, với tốc độ ánh sáng (do sự hấp dẫn của một 'nam châm' khổng lồ) hoặc nhanh hơn (?) để đến với “ánh sáng thiên đàng” (heavenly light) mà mỗi lúc lại lớn hơn ở cuối đường hầm.

- Họ trải nghiệm qua tất cả các loại âm thanh và màu sắc.

Kết luận thận trọng (Cautious conclusion) về giai đoạn vào “đường hầm”

Càng đi đến cái chết, các quang tử càng được phát ra nhiều hơn từ các nguyên tử của thể xác, “cơ thể mới” càng thu nhỏ lại [DC 8] và “kinh nghiệm cận tử” NDE sẽ càng sâu sắc hơn (profound) do sự liên quan đến cả năm giai đoạn. “Đường hầm được mở ra” Với “bản thể ánh sáng”, “cơ thể” sẽ giảm kích thước xuống thành một chấm cực nhỏ để vào “đường hầm nhỏ trong vũ trụ này” (a tiny intra-universe wormhole) [DC 10], [DC11], [DC 12], càng lúc càng nhanh, vượt qua tốc độ ánh sáng (?) do sự thu hút của ánh sáng tuyệt diệu cuối “đường hầm” như một “nam châm” cực lớn, sau đó tiếp cận với nguồn ánh sáng này [DC 15][DC 16].

3- Giai đoạn 3: Nơi“muốn tới”cuối cùng (cho lúc này): Nguồn Sáng

[ Final destination (for the time being): The Light]

Kinh nghiệm: Người kế cận với cái chết (như “bản thể của quang tử” - as beings of photons) với NDE chậm lại khi tiến gần đến “ánh sáng thiên đàng” (heavenly light) - một “thế giới” đẹp đẽ khác. Tuy nhiên họ trải nghiệm và biết là đến một ranh giới không thể vượt qua. Chỉ “những bản thể có thể xác đã chết hẳn” mới có thể vượt qua ranh giới này để vào “ánh sáng thiên đàng”.

Cho những người cận tử, họ tự “đánh giá lại cuộc sống” (life review), họ sẽ gặp những “bản thể ánh sáng” hay những “bản thể thần thánh” (higher spiritual being of light). Sự truyền thông xảy ra lập tức. Cũng có lúc phán xét với đầy ân sủng và tình yêu. Theo như những người cận tử, lý do này có vẻ như ánh sáng là tình yêu, là kiến thức. Cạnh những kinh nghiệm này, người cận tử biết tất cả những câu trả lời cho tất cả những câu hỏi của nhân loại.

Hơn nữa : không chỉ là ánh sáng đẹp , những người cận tử cũng thấy hai lốc xoáy, giống như mô hình “đồng hồ cát” mênh mông (immense ‘sand-glass’clock) , họ nói rằng các cơn lốc xoáy trên được quay theo chiều kim đồng hồ ra phía ngoài, cơn lốc xoáy thấp đang quay ngược chiều kim đồng hồ vào phía trong.

Kết luận thận trọng (Cautious conclusion)

Khi mọi người gần cái chết (với “bản thể của ánh sáng”), không có một nghi ngờ chúng ta có khả năng du hành trong không-thời gian, thông qua một đường hầm nhỏ (“lỗ giun” trong vũ trụ này) [DC 12] đến “bên lề” của vũ trụ của chúng ta. Họ thấy hai vũ trụ khác nhau [DC 16]: một là vũ trụ của chúng ta, còn cái khác là “vũ trụ thiên thể” (astral universe), với các rung động huyền ảo của ánh sáng.

Ở giữa các vũ trụ, gần “chân trời biến cố” (event-horizon) [DC 13] của một “hố đen” khổng lồ thuộc về “lỗ giun liên vũ trụ” ( inter-universe wormhole) là “cửa” [DC 16] đến “vũ trụ thiên thể”, chúng ta sẽ ở lại “hố đen” một thời gian [52] [DC 11]. Lỗ đen này được bao quanh với ánh sáng và điều này là một sự thực [DC 15]. Chúng ta có một “cơ thể ma”, một bản sao của cơ thể vật chất. Chúng ta sẽ gặp những người thân yêu đã chết , bởi vì họ cũng là những “bản thể ánh sáng” không thể phá hủy, sau khi họ đã qua đời trên trái đất. Sự thông tin (information) gần như ngay lập tức và có vẻ như “thần giao cách cảm” (telepathic), quang tử được trao đổi, gần như ngay lập tức. Việc xét lại cuộc sống (trong quá khứ) hay viễn cảnh (trong tương lai) là do các quang tử “mang” thông tin với “hiện tượng hình ảnh ba chiều” (holographic phenomena). Sự thật ánh sáng là sự “thông tin” (information) [DC 3], giải thích lý do tại sao chúng ta biết tất cả mọi thứ ở đó (trong ánh sáng), các câu trả lời cho những câu hỏi của nhân loại. Bên cạnh đó, chúng ta chắc chắn sẽ trải nghiệm về một “ranh giới”. Đây là “cửa" vào “vũ trụ thiên thể” (“astral” universe) [DC 16], người cận kề cái chết không vào “vũ trụ thiên thể” này, nhưng người đã chết vào.

4- Giai đoạn 4: Trở về (the return)

Kinh nghiệm: Người cận tử đôi khi có thể lựa chọn giữa “những tia ánh sáng” (beam of light) màu xanh hay xanh lá cây, hoặc những tia màu đỏ hay màu hồng và họ biết chắc chắn là các tia màu xanh có nghĩa là tiếp tục sống trên trái đất; những tia màu đỏ có nghĩa là kết thúc của sự sống trên trái đất (nhưng nhận được sự sống đời đời, đằng sau cánh cửa, trong vũ trụ khác). Người gần chết trở về đôi khi trái với ý muốn của họ, một lần nữa lại qua một đường hầm vẫn mở để về lại thân xác của họ. Một lần nữa họ nhìn thấy các ngôi sao và hành tinh, giống như các phi hành gia đã thấy.

Kết luận thận trọng (Cautious conclusion)

Người cận tử sẽ trở lại đường hầm nhỏ (“lỗ giun” trong vũ trụ này) [DC 12]. Những tia sáng màu xanh hoặc đỏ là do hiện tượng Doppler [DC 17], có nghĩa là khi ta tiến gần tới vùng ánh sáng tuyệt diệu là tiến gần về vũ trụ này, nơi có thể xác chúng ta, đã hay đang và vẫn có “Big Bang đời đời” (everlasting big bang), đời đời vì không có thời gian khi chúng ta là “bản thể ánh sáng”. Vì thế màu xanh có nghĩa là đến gần với đời sống trên trái đất (life on earth), còn màu đỏ có nghĩa là xa dần thể xác để vào một vũ trụ khác, cõi vĩnh hằng.

Tổng quát (overall) : Sự suy nghĩ là điều cực kỳ quan trọng, không chỉ trong cuộc sống của chúng ta (khi xét lại - review), mà còn để thiết lập mục tiêu của chúng ta ( số phận ) ở “thời điểm này”.

5- Giai đoạn 5: Hợp nhất (với thể xác)

Kinh nghiệm: Sau cuộc hành trình này, người cận tử thấy mình như một quả bóng hay một dấu chấm nhỏ hòa nhập với thể xác và họ cảm thấy những đau đớn hiện đang có. Họ quên đi hầu như tất cả những kiến thức, hay những gì hiểu biết trong hành trình vừa qua, khi tiếp cận với “ánh sáng thiên đàng” (heavenly light). Quên lãng là điển hình cho các người cận tử, đôi khi họ mong ước trở lại với nguồn “ánh sáng thiên đàng”.

Kết luận thận trọng (Cautious conclusion)

Người cận tử với “bản thể ánh sáng” sau khi đi qua “đường hầm” trong vũ trụ hiện tại (intra-universe wormhole), sẽ từ từ đến gần thể xác do sức hút trọng trường (force of gravity) (?) [DC 18, 19], trở vào lại các nguyên tử trong thể xác và kết nối với chúng. Trị số điện từ trên thể xác lại thay đổi, do năng lượng ánh sáng tạo nên khi hội nhập với thể xác. Sau một thời gian, nếu sự chấn thương hay bệnh tình không nặng hơn, họ sẽ có lại những nhận thức hàng ngày như đã có.


*****

Giả thuyết “Năm Giai Đoạn” đưa ra những giải thích với những dẫn chứng bằng khoa học khá thuyết phục. Tuy nhiên tác giả chỉ nói đến việc các các “quang tử kỳ lạ” ra khỏi thể xác, mà không nhắc đến những “quang tử” này là gì, từ đâu đến, để con người có sự “nhận thức” (consciousness). Có lẽ điều này ngoài mục đích giải thích về NDE, nên tác giả không luận tới. Còn một điều nữa là khá nhiều (69% ) những người có NDE nó là họ cảm được “tình yêu tràn ngập” (overwhelming love) khi tiếp cận với nguồn sáng, tuy nhiên tác giả cũng không nhắc đến điều này. Tình yêu là một bản chất thật của con người, kiến thức, cảm nhận, suy nghĩ, tưởng tượng, v.v... và tình yêu là yếu tố để tạo nên “linh hồn”. Theo như quan niệm của cá nhân người viết, mà đã học được từ đâu đó, thì không có “cái ác”, điều này xảy ra chỉ vì sự thiếu vắng của “tình yêu”, cũng như không có “sự tối”, vì chỉ tại không có “ánh sáng” và không có “sự lạnh”[53] chỉ vì không có “sức nóng”.
Tác giả viết là “nhận thức” là do tập hợp của những “quang tử kỳ lạ”, có điều gì để chứng minh là chúng ta có và phát ra quang tử (photon) và quang tử hoàn toàn rời khỏi thân xác khi chúng ta chết? Người viết xin phép lạm bàn về “quang tử sống” (biophotons) trong phần tới.


Ghi chú:

[45] “Consciousness in the Universe” - Roger Penrose & Stuart Hameroff (hxtp://journalofcosmology.com/Consciousness160.html): Orch OR suggests that quantum states in microtubules in one neuron could extend by entanglement and tunneling through gap junctions to microtubules in adjacent neurons and glia, and from those cells to others, potentially in brain-wide syncytia.

[46] “When we approach the (near) end of life, our sensorial observation decreases, our awareness changes, and deep down in our physical body (in the atoms) a fundamental process starts which releases an 'exotic energy' (= light energy/photons). This special 'exotic energy' is the foundation of an other new pure and perfect 'body', and another kind of consciousness/awareness. With this new body (of exotic energy/photons) we can travel through the barrier of space and time. The (near-)death experience is without a doubt a real voyage. And this voyage is maybe to the edge of our universe...”

[47] “This article is just a summary, so it is impossible to explain all features and every single scientific theory”.

[48] hxtp://www.sciencedaily.com/releases/1997/09/970918045841.htm : A team of 20 physicists from four institutions has literally made something from nothing, creating particles of matter from ordinary light for the first time. The experiment was carried out at the Stanford Linear Accelerator Center (SLAC) by scientists and students from the University of Rochester, Princeton University, the University of Tennessee, and Stanford. The team reported the work in the Sept. 1 issue of Physical Review Letters.

[49] Điều này đã được trình bày trong phần trước về sự “nối kết lượng tử” (Quantum entanglement).

[50] Nơi thí nghiệm “vật lý cao năng lượng” lớn nhất thế giới, nằm ở phía Tây Bắc ngoại ô Geneva, trên đường biên giới Pháp vàThuỵ Sĩ.

[51] “And (almost) at the same time, they see the earth, moon, stars, the milky way like astronauts do (= relativity of space)

[52] “There is no escape from a black hole in classical theory,” Hawking told Nature. Quantum theory, however, “enables energy and information to escape from a black hole”.

[53] Nhiệt độ tuyệt đối trong vũ trụ là -273.15 độ Celcius hay 0 độ Kelvin, khi hoàn toàn không có sức nóng.

(Còn tiếp)

Edited by user Monday, March 31, 2014 12:23:40 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#468 Posted : Friday, February 7, 2014 1:14:42 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn
(Spacetime and Soul)


(Tiếp theo)

Thuyết "Biophotons"

Ghi chú: Tạm dịch là “quang tử sống” hay “quang tử sinh học” (“bio”: chỉ về sinh vật, loài có sự sống, “photon”: quang tử, đơn vị của ánh sáng), vì thế người viết xin dùng chữ biophotons của Tiến sĩ Popp, tiếng Việt chưa có chữ nào để phiên dịch chữ này.

Trong ngành “sinh vật học khuôn mẫu” (conventional biology), giải thích về tiến trình của sự sống dựa trên phản ứng hóa học phức tạp giữa những phân tử của tế bào. DNA được phát giác, chúng được cho là yếu tố để tạo dựng, tổ chức, cũng như chi phối các tế bào và mô cho mọi sinh vật, chúng mang “tín hiệu” về sự di truyền, tái tạo cũng như tương tác giữa các tế bào [54]. Tuy nhiên có một điều bí ẩn là DNA giống nhau trong một cơ thể, ngoại trừ những “tín hiệu”, thì làm sao mà chúng “biết” là chỗ nào phải tạo nên tế bào của ngón tay, chỗ nào phải tạo nên tế bào thần kinh? Một lý thuyết mới được nêu ra là do “biophotons” - là “hạt ánh sáng” (light particles), nguồn tác động cho sự tạo dựng và điều hành này.

Biophotons” là gì? Năm 1923, khoa học gia người Nga là Alexander Gurwitsch, đã thí nghiệm và phát hiện về việc “ánh sáng cực tím” (ultravilet light -UV) rất yếu phát ra từ rễ của cây hành. Tuy nhiên đã có nhiều nỗ lực để lập lại thí nghiệm này nhưng không có kết quả, việc này bị chìm vào quên lãng.

Đến năm 1974, một nhà “vật lý sinh học” (biophysicist) người Đức là Fritz-Albert Popp đã chứng minh sự hiện hữu của nguồn ánh sáng này (biophoton emission) mặc dù cường độ ánh sáng cực kỳ yếu [55]. Nguồn sáng này không giống như sự “phát quang” (bioluminescence) được phát ra từ những sinh vật như đom đóm (firefly) hay một số sinh vật dưới biển, v.v..., do phản ứng hóa học. Theo như thuyết của TS. Popp [56] thì DNA của sinh vật chứa “biophotons” và chúng cũng được phát ra từ đây. “biophotons” có nhiều tần số, chúng tạo thành một “hệ thống tín hiệu” (signaling system), để những DNA “liên lạc” (communicate) với nhau, hay những tế bào khác trong cơ thể. Những “biophotons” được tạo ra có sự “trùng chập” (coherence) [57] tương tự như tia laser, có nghĩa là chúng “đồng bộ” (fixed phase) với cùng tần số sóng. Điều này làm “biophotons” tạo ra và duy trì một vùng “tín hiệu ánh sáng ba chiều” (hologram of light signals) lan ra khắp cơ thể, để DNA “ra hiệu” cho từng tế bào “biết” nhiệm vụ phải làm gì! Sự phát ra “biophotons” từ DNA đã dẫn đến một mô hình mới về cơ thể học (?).

Marco Bischof [58]: “Lý thuyết “Biophotons” - hình ảnh toàn diện mới về cơ thể được đưa ra bởi TS Popp trên căn bản do kết quả thực nghiệm của ông - đang được sử dụng bởi một số lượng các khoa học gia và bác sĩ càng ngày càng tăng, sự kiện này như một yếu tố quan trọng và khích lệ để phát triển một lý thuyết khoa học đầy đủ về sự sống , điều cần thiết này đã được một số đông cảm nhận (Ho, 1993; Zhang, 2003; Curtis & Hurtak, 2004)” .

Biophotons” có thật sự hiện hữu hay không? TS Popp đã chứng minh với hình chụp sau đây:

UserPostedImage


“Trong một bộ phim tài liệu cũ được thực hiện trong phòng thí nghiệm tại Viện Quốc tế về Vật Lý Sinh Học ( International Institute of Biophysics), Tiến sĩ Popp mở cửa một buồng tối kích thước bằng một hộp bánh. Ông đặt một cành cây nhỏ và một que diêm bằng gỗ trong một bao nhựa bên trong buồng tối và đóng chặt cửa chặn ánh sáng. Ngay lập tức ông mở máy khuếch đại ánh sáng (photomultiplyer) và hình ảnh đã xuất hiện trên một màn hình máy tính. Que diêm có màu đen trong khi, hình có màu xanh của lá được thấy rõ ràng.

Tiến sĩ Popp thốt lên: "Bây giờ ngày hôm nay chúng ta đã biết, con người thực chất là bản thể của ánh sáng (a being of light).” [59]

Hình ảnh trên đã chứng tỏ có “biophotons” phát ra từ thực vật. Còn con người thì sao?

Ngoài phương pháp dùng máy khuếch đại ánh sáng (photomultiplyer) để có hình ảnh về sự phát ra “biophotons” theo như TS Popp đã thí nghiệm; một cách mới hơn là dùng “máy hình CCD có độ nhiễu xạ cực thấp” (Ultra low noise CCD [charge-coupled device] camera) để ghi lại “biophotons” phát ra từ con người như trường đại học Tokyo đã thí nghiệm [60].


Ghi chú : 1- Vì hình không đúng với format của diễn đàn nên đã không hiện ra.
Độc giả có thể vào đây để xem hình: hxtp://www.plosone.org/article/fetchObject.action?uri=info:doi/10.1371/journal.pone.0006256.g001&representation=PNG_M

2- Hình I (góc phiá dưới bên phải)là hình “thermographic”, hình không do “biophotons” phát ra.[61]


Một cách phổ thông khác là “nhiếp ảnh Kirlian” (Kirlian photography) [62] cũng đã được dùng từ lâu. Dùng máy hình Kirlian, chúng ta có thể chụp được “hào quang” (aura) ở đầu ngón tay như hình sau đây.

UserPostedImage


Tuy nhiên đây có phải là “bio- emission” tạo ra bởi “biophotons” hay chỉ là sự “phóng ra” (discharging) của điện thế cao như trường hợp “electrostatic discharging”? Người viết tin tưởng cách dùng máy khuếch đại ánh sáng (photomultiplyer) của TS Popp , hay dùng “máy hình CCD” để ghi nhận hơn là cách “chụp hình Kirlian” mà các khoa học gia không đề cập đến khi tìm hiểu về “biophotons” .
***
Qua những khám phá của TS Popp, chúng ta biết có “biophotons” hiện hữu trong các sinh vật, chúng mang “tín hiệu” đến các tế bào khác, DNA của sinh vật chứa “Biophotons” và chúng được phát ra từ đây. Hiện TS Popp và các cộng sự trong “International Institute of Biophysics” đang nghiên cứu và tìm hiểu thêm về “biophotons”, cũng như những áp dụng điều này trong y khoa.

Người viết không hào hứng lắm với sinh vật học (biology) vì sự hiểu biết về nghành này gần như số không. Tuy nhiên vì muốn tìm hiểu về tâm linh, mà điều này liên quan đến sự nhận thức (consciousness), nên xin đưa ra câu hỏi: “biophotons” có chứa “tín hiệu” này từ đâu đến? Đặc biệt là ở trong DNA của những tế bào thần kinh não bộ, nơi mà các khoa học gia cho là nguồn “nhận thức” (consciousess) của con người! Vẫn chưa có câu trả lời đặt trên căn bản khoa học mà chúng ta biết! Đây là một điều mà có lẽ các khoa học gia đang tìm tòi để hiểu: tại sao chúng ta - con người - có “nhận thức”, và điều này đến từ đâu? Hiện nay sự nghiên cứu về “khoa học nhận thức” (consciousness science) đang được đặc biệt quan tâm bởi các khoa học gia.

Có một giả thuyết khác khá thú vị đã nêu lên về nguồn gốc của “biophotons” trong não bộ là chúng từ đâu đến, tác giả đặt tên là “Neurophoton” mà người viết xin tạm chuyển âm là “quang tử não”, với tên tạm gọi là “Sự nhận thức bằng quang tử não” (“The Neurophoton Consciousness Theory”) và sẽ xin tìm hiểu trong phần tới.

Ghi chú:

[54] Người viết gần như không biết gì về sinh vật học, đây chỉ là tham khảo từ internet.

[55[ Tương đương với ánh sáng của cây nến cháy được nhìn ở khoảng cách 15 dặm.

[56] “About the Coherence of Biophotons” - Fritz-Albert Popp - International Institute of Biophysics (Biophotonics) Raketenstation, 41472 Neuss, Germany.
Source: hxtp://www.academia.edu/1901658/About_the_Coherence_of_Biophotons_Fritz-Albert_Popp_International_Institute_of_Biophysics_Biophotonics_Raketenstation_41472_Neuss_Germany :
Abstract: Biophoton emission is a general phenomenon of living systems. It concerns low luminescence from a few up to some hundred photons-per-second per square-centimeter surface area. At least within the spectral region from 200 to 800nm. The experimental results indicate that biophotons originate from a coherent (or/and squeezed) photon field within the living organism, its function being intra- and inter-cellular regulation and communication.

[57] Tương tự như sự “trùng chập”(coherence) của tia laser được phát ra: Khi âm điện tử từ tầng ngoài cao năng lượng (do được kích thích bằng một năng lượng khác như điện năng) “nhảy vào” tầng trong ít năng lượng hơn, thì “quang tử” sẽ được tạo ra do sự dư năng lượng, nhưng những “dao động” của chúng và phải cùng “pha” (phase), thì mới đủ năng lượng để phát ra ngoài “vật phát quang”.

[58] “Biophotons - The Lights in our cells” - Marco Bischof (directors of the International Institute of Biophysics, Neuss, Germany): hxtp://www.bibliotecapleyades.net/ciencia/ciencia_fuerzasuniverso06.htm

[59] Nguồn: hxtp://www.viewzone.com/dnax.html

[60] hxtp://www.plosone.org/article/info:doi/10.1371/journal.pone.0006256 (Imaging of Ultraweak Spontaneous Photon Emission from Human Body Displaying Diurnal Rhythm)

[61] A. Schematic illustration of experimental setup. B–F. Images of ultraweak photon emission from human body. B. Image of the subject under light illumination. C. Image at 10:10. D. Image at 13:10. E. Image at 16:10. F. Image at 19:10. G. Image at 22:10 with a calibration bar which indicates the estimated radiation intensity expressed by photon number per unit of time per unit of skin surface. H. Daily rhythm of photon emission from face and body from 5 volunteers. Significant difference from the photon emission at 10:00 AM (n = 15, Mean±SD; **P<0.01, *P<0.05). I. A typical thermographic image of the subject from Fig. 1B–G.
doi:10.1371/journal.pone.0006256.g001

[62]Wikipedia: Kirlian photography is a collection of photographic techniques used to capture the phenomenon of electrical coronal discharges.
(Còn tiếp)

Edited by user Monday, March 31, 2014 12:24:54 PM(UTC)  | Reason: Not specified

CNH  
#469 Posted : Monday, February 10, 2014 7:57:10 AM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Hữu thần hay vô thần.

Suy nghĩ của tôi rất là đơn giản: Phần tinh thần (trí khôn, kiến thức, ý muốn, tình cảm, trí nhớ, niềm tin...) của mỗi người được gọi là “thần”, mà tiếng Anh gọi là “spirit”.

Thứ nhất (I): Nhờ vào phần tinh thần nầy người ta mới biết sáng tác, thiết kế, phát minh..., mọi thứ mà ta đang dùng hiện nay.

Thứ hai (II): một người đang sống mới có tinh thần để làm được nhiều thứ. Cái xác chết thì vô tri, vô giác, vô thức, vô thần..., không sáng chế được bất cứ vật gì cả.

Vậy thì trên đời nầy đã có thần rồi, thế thì vô thần thế nào được? Cho nên thuyết vô thần là bậy bạ.

Thiên Nhiên (Tôi không tìm được ngôn từ nào khác) đã tạo được sự sống trên Địa cầu nầy; mà sự sống có những tính kĩ thuật cao, vượt xa hơn bất cứ vật gì do loài người sáng tạo. Đố loài người tạo được 1 hạt giống “đơn giản” như hạt lúa chẳng hạn.

Từ đó suy ra Thiên Nhiên phải có siêu tinh thần mới tạo được sự sống trên Địa cầu; mà sự sống đang xảy diễn trong hiện tại.

Từ đó tôi suy ra rằng Thiên Nhiên có siêu tinh thần và đang sống. Hơn nữa: Tính kĩ thuật của sự sống vượt quá xa, có thể nghĩ là vô hạn so với bất cứ vật gì do loài người sáng tạo. Cái “vô hạn” đó giúp ta suy ra rằng: kiến thức của Thiên Nhiên là “toàn tri”; và khả năng điều hành vũ trụ, cũng như việc tạo được sự sống lạ lùng như vây, giúp ta suy ra rằng cái khả năng đó phải là vô hạn. Cái khả năng vô hạn đó được gọi là “toàn năng”.

Tóm lại: ý kiến cá nhân tôi nghĩ rằng: Thiên Nhiên là Nguồn Tạo Hóa, có (là) siêu tinh thần, siêu khoa học đến độ toàn tri, toàn năng, đang sống và đang điều hành vũ trụ, mà người Thiên Chúa giáo gọi là Thiên Chúa; người VN gọi là Ông Trời, Thượng Đế.

Tôi còn được ông Đông A (đọc tài liệu về khoa học) cho biết là loài người biết về vũ trụ chỉ mới 4% thôi. Thế mà nếu không biết suy luận, thì dầu cho 100% nhà “bác học” thuộc loại “thuộc bài” cũng chẳng “thấy” được gì cả. Chán quá, phát biểu (state) mãi cũng vô ích đối với họ mà thôi. Tư tưởng nầy chỉ để dành riêng cho những ai chịu suy nghĩ.

CNH
12-2013

Edited by user Monday, February 10, 2014 7:58:20 AM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#470 Posted : Wednesday, February 19, 2014 1:47:49 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn
(Spacetime and Soul)

(Tiếp theo)

Thuyết “Quang tử não

“Biophotons” hay những “quang tử sống” như đã được trình bày trong phần trước là chúng mang “tín hiệu”, là nguồn tác động đến sự tạo dựng và điều hành các tế bào của cơ thể. Tuy nhiên, những “biophotons” này ảnh hưởng đến tiến trình (process) “nhận thức” (consciousness) như thế nào vẫn chưa được bàn đến! Theo như “khoa học khuôn mẫu” (conventional science) thì “nhận thức” của con người được xảy ra trong não bộ, những thần kinh não liên kết với nhau tạo sự thông tin để suy nghĩ, hành động, cảm nhận, v.v...và sự nhận thức được coi như là “sản phẩm” của não bộ.

Một tác giả là Daniel R. Hankins đã đề ra một giả thuyết là “The Neurophoton Consciousness Theory” (“Thuyết nhận thức do quang tử não”), người viết xin tạm dịch vắn tắt là “Thuyết Quang Tử Não”. Giả thuyết này đặt căn bản trên khoa học, phân tích rằng sự "nhận thức" là do “neurophotons” (“quang tử não”) - một tên do tác giả đặt ra - cũng là “biophotons” do TS Popp phát giác, nhưng đặc biệt dành cho sự "nhận thức" (consciousness).

Người viết xin tóm tắt cũng như lược dịch những đoạn chính được nêu lên trong Thuyết Quang Tử Não như sau:

1- Sự cấu tạo của thể xác con người

- Thể xác chúng ta do các nguyên tử đã được thành lập từ khoảng 12 tỷ năm về trước. Khi những ngôi sao (mặt trời là một vì sao) với “phản ứng hợp tâm” (fussion), các nguyên tố (elements) được tạo thành ở trong “lõi” sao. Khi “nhiên liệu” đã hết, ngôi sao này bị “sụp đổ” (collapse) vào “lõi” (core) và sau đó bùng nổ (hiện tượng “supernova”) các nguyên tố được bắn tung ra khắp phía[63].

- Hydrogen là một nguyên tố đơn giản nhất, có rất nhiều trong vũ trụ cũng như trên trái đất, gồm có một “âm điện tử” (electron) quay quanh một “dương điện tử” (proton), gọi là một nguyên tử (atom), một nguyên tử đơn giản nhất. Khoảng cách giữa các nguyên tử này cũng rất xa nhau. Giả sử khuếch đại [64] nguyên tử hydrogen bằng “trái bóng chày” (baseball) thì mỗi nguyên tử sẽ cách nhau bằng khoảng cách từ New York đến San Francisco (~2900 miles).

- Cơ thể chúng ta được cấu tạo hầu hết là nước (H2O), gồm hai nguyên tử Hydrogen (H) và một oxygen (O). Nhân của nguyên tử Hnày là “dương điện tử” (proton) được cấu tạo bằng hai “quark lên” (“up” quark) và một “quark xuống” (“down”quark). Cho những nguyên tử có trọng khối (mass) lớn hơn hydrogen, nhân nguyên tử gồm nhiều “dương điện tử” (protons) và một số lượng tương đương [65] “trung hòa tử” (neutrons) được cấu tạo bằng một “quark lên” (“up” quark) và hai “quark xuống” (“down”quark) . Những “quarks” trong nhân này được gắn cực kỳ chặt chẽ với nhau bởi “chất keo” (gluons) [66]. “Chất keo” này không có khối lượng, nó được coi như dạng trong “quang phổ điện từ” (electro-magnetic spectrum) [67], là một dạng “quang tử” (photons). Như thế thể xác của chúng ta được cấu tạo hầu hết bởi ánh sáng. Chúng ta không đề cập đến lĩnh vực siêu hình (metaphysical realm), tôn giáo, hay mê tín dị đoan, nhưng theo lĩnh vực “vật lý lượng tử” (quantum physics) để tìm hiểu vấn đề.

2- “Nhận thức” (consciousness) không phải là sản phẩm của não bộ

- Chúng ta đã hiểu là thể xác con người được cấu tạo bởi những nguyên tử (atoms). Một thể xác đã chết nằm im không động đậy và không có sự sống, điều này rõ ràng là thiếu “cơ chế sinh động” (animation mechanism). “Cơ chế” này là điều gì đó để kích thích hệ thống thần kinh, mà chúng ta gọi là sự “nhận thức” (consciousness) hay “linh hồn” theo quan niệm thông thường. Từ lâu con người đã có câu hỏi về sự “nhận thức”. Tuy nhiên giới khoa học đã cố tình tránh né, vì rất “nguy hiểm” khi bàn đến sự tìm hiểu về “linh hồn” (soul). Đây gần như là lĩnh vực “cấm đoán”, vì những khoa học gia này sẽ bị “tẩy chay” khi “lén” đi đến gần niềm tin tôn giáo hay hiện tượng siêu hình (metaphysical phenomenon).

- Với mục đích khoa học, việc đầu tiên là chúng ta phải thừa nhận sự hiện hữu của “nhận thức” và sau đó chúng ta phải xác định sự “nhận thức”.

“Thuyết Quang Tử Não” sẽ xác định sự “nhận thức” là tổng số của tất cả các kiến thức được giữ lại trong thể xác vật lý trong bất kỳ hoàn cảnh, nơi chốn, phương tiện và dưới mọi hình thức, kể cả ý thức và tiềm thức. Chữ “quang tử não” có nghĩa là các quang tử có thể hợp vào sự “nhận thức” của con người. Sự hiện hữu của “nhận thức” (conciousness) được chấp nhận rộng rãi bởi nhân loại và khoa học, cho dù “nhận thức” đã được thể hiện trong thuật ngữ của tôn giáo hay tâm lý.

Tuy nhiên, “khoa học khuôn mẫu” (conventional science) cho rằng nhận thức” là “sản phẩm của não bộ(a creation of the human brain), được tạo ra cho mỗi cá nhân khi mới ra đời và không còn hiện hữu sau khi chết.

- Điều này sai , không khoa học và không đáp ứng được nhu cầu căn bản nhất của luật “Tương đối đặc biệt” (Special Relativity). Vật lý lượng tử chấp nhận khái niệm là ánh sáng có thể trở thành “vật chất” (matter), hay ngược lại “vật chất” có thể trở thành ánh sáng. Đó là khoa học về sự “hạch tâm” (fission - tách rời nhân của nguyên tử) và “hợp tâm” (fusion - hợp nhân của nguyên tử lại).

Điều này đã được chứng nghiệm:

a- “Vật chất” có thể trở thành ánh sáng: Vụ bom nguyên tử nổ năm 1945 ở Nhật.

b- Ánh sáng có thể trở thành “vật chất”: Thí nghiệm năm 1997 tại “Stanford Linear Accelerator Center” [68], lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, thí nghiệm này đã chứng minh là ánh sáng có thể tạo nên “vật chất”.

- Khoa thần kinh học nói cho chúng ta biết là não bộ con người có khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh. Các tế bào giao tiếp với nhau và với thể xác bằng những “chấn động điện - hóa” (electrochemical impulses) nhỏ. Tiến trình truyền đi trong hệ thống thần kinh theo hóa tính có vận tốc từ 200 đến 250 dặm (mile)/giờ, trong khi tiến trình truyền đi bằng điện có tốc độ bằng ánh sáng. Mất điện thể xác sẽ chết.

- Cơ thể con người bắt đầu từ “sự ra đời” (birth), tức là cơ thể không hiện hữu bởi sự “không” (“nothing”), nó được cấu tạo bằng những nguyên tử đã có hàng tỷ năm trước, được gắn bó với nhau bằng năng lượng ánh sáng (gluons?) và hành động phù hợp với nguyên tắc của vật lý lượng tử. Thể xác của con người sẽ không biến mất sau khi chết, nó sẽ đổi trở lại thành những nguyên tố từ nơi nó đã đến. Cơ thể- theo nghĩa đen- được cấu tạo từ các “bụi của sao” (stardust) và nó sẽ trở lại thành “bụi của sao” khi “năng lượng của ánh sáng điện” (electrical light energy) rời nó.

- Theo khoa học, chúng ta không nhận được bất cứ cái gì từ sự không có gì (we don’t get something from nothing)! Luật “bảo toàn năng lượng” (energy conservation) sẽ phải bị loại bỏ nếu “nhận thức” (conciousness) là một sản phẩm của não bộ. Vậy “nhận thức” không phải là sản phẩm của não bộ!
- Mỗi cá nhân có một “nhận thức” (conciousness) riêng, khác với tất cả những người khác. Nhưng làm sao chúng ta có được sự “nhận thức” này?

3- “Quang tử não”

- Vũ trụ có một “quang phổ điện từ” (electromagnetic spectrum) rộng lớn, ánh sáng nằm trong “quang phổ điện từ”. Do “quang tử” rung động một cách “trật tự” theo sóng hình “sine”, nên chúng ta biết được tần số (frequency) hay “độ dài sóng” (wavelength) của chúng. “Quang phổ” với tần số thấp là sóng của radio (radio wave - tần số thấp), đến tần số cực cao là tia phóng xạ “gamma” (“trung hòa tử” phát ra trong hiện tượng phóng xạ). “Quang phổ mắt” (visible spectrum) chỉ là một phần cực nhỏ (khoảng một phần ngàn của một phần trăm - 1/100,000) của “quang phổ điện từ”.

Thật là “đỉnh cao về kiêu ngạo của khoa học” (the height of scientific arrogance) khi cho rằng chúng ta đã xác định được tất cả các quang phổ trong “quang phổ điện từ” này. Thực ra chúng ta chỉ là những đứa trẻ với món đồ chơi mới trong không-thời gian liên tục (space-time continuum).
Xin coi họa đồ về “Quang phổ điện từ” bên dưới.


UserPostedImage

Quang phổ điện từ (Electromagnetic Spectrum)

Nguồn: Wikipedia

Ghi chú:

Infra-red: Hồng ngoại tuyến
Ultraviolet: Tử ngoại tuyến
um (micro meter) = 1/1000 mm, 1/1.000.000 m
nm (nano meter) = 1/1000 um = 1.000.000 mm = 1 phần tỷ của mét = 10-9 m
A0 (Angstrom) = 1/10 nm = 1 phần 10 tỷ của mét = 10-10 m


[63] Sơ lược về giả thuyết “Tạo dựng nguyên tố”: Sau “Big Bang”, nguyên tử đơn giản nhất là “hydrogen” rồi “helium” được tạo, rồi do sức“vạn vật hấp dẫn”, chúng tụ lại thành từng nhóm, lập thành những đám “tinh vân” (nebula), sự tương tác tiếp tục tiến hành để tạo thành một khối với thể tích nhỏ hơn. Vì kế cận nhau, các nguyên tử này va chạm với nhau: sự ma xát (friction) và động năng (kinectic energy) tạo nên sức nóng (nhiều triệu độ), gây nên “phản ứng hợp tâm” (fussion) để tạo nên những nguyên tố khác, các khối này là những ngôi sao (stars). Khi những ngôi sao cháy gần hết “nhiên liệu”, hiện tượng “supernova” (“siêu tân tinh”) xảy ra, đó là hiện tượng một ngôi sao phát nổ, các nguyên tố được bắn tung ra (do sức ép lớn hơn sức hút trọng trường?). Phần còn lại, do sức hút của trọng trường, có thể sẽ tạo thành “hố đen” (black hole), “sao trung tính” ( neutron star), “sao lùn trắng” (white dwaft star), hay mặt trời tuỳ theo khối lượng. Những phần bị bắn tung ra từ từ hợp lại do sức hút trọng trường của chúng, sau một thời gian, các hành tinh được thành lập.

[64] hxtp://hudsonvalleygeologist.blogspot.com/2011/12/scale-of-atoms.html : Nếu “dương điện tử” (proton) của một nguyên tử hydrogen có kích thước bằng một trái banh golf (lớn gấp 173 triệu lần “dương điện tử”), thì “âm điện tử” sẽ ở quỹ đạo cách “dương điện tử” gần một dặm (quỹ đạo của “âm điện tử” bằng 64706 lần đường kính của ““dương điện tử” (1.7x10-15m) = 1.391 Km)! Đó là lý do tại sao chúng ta nói nguyên tử gần như là một vùng không gian trống rỗng.

[65] Số lượng protons và neutron bằng nhau cho những chất không phóng xạ (stable atoms), số lượng neutrons lớn hơn cho những chất phóng xạ (unstable atoms).

[66] Khi nhân (protons + neutrons) bị tách ra chúng sẽ gây nên phản ứng “hạch tâm” (fission), một năng lượng khổng lồ sẽ phát ra, thí dụ như lò điện nguyên tử hay bom nguyên tử.

[67] “IBM scientists Monty Denneau and David George worked for two years nonstop with the world’s fastest computers to calculate the properties of an elusive elementary particle, called a "glueball." Độc giả có thể đọc thêm tại : hxtp://xb0423.xb0.serverdomain.org/tardyon/mirror/glueball/glueball.htm

[68] hxtp://www.sciencedaily.com/releases/1997/09/970918045841.htm

(Còn tiếp)

Edited by user Monday, March 31, 2014 12:32:29 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#471 Posted : Friday, February 21, 2014 10:31:08 AM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn
(Spacetime and Soul)


(Tiếp theo)

Thuyết “Quang tử não”

(Tiếp theo)


4- “Quang tử não” và sự “nhận thức” (consciousness)

“Quang tử” (photons) có vận tốc của ánh sáng, bởi vì chúng là ánh sáng. Chỉ một số có “tín hiệu” (information) có thể nhận được bởi con người qua các giác quan. Thuyết này đề cập đến tất cả các “quang tử” trong quang phổ điện từ (electromagnetic spectrum) nếu con người có thể hấp thụ và “tích lũy” (intergrated) qua hệ thống thần kinh để thành sự “nhận thức”, những “quang tử” này được gọi là “quang tử não”.

“Quang tử não” gây ra “những chấn động” (impulses) tạo nên sự sự cảm nhận (impulse) hấp thụ qua các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và chuyển vào não bộ qua hệ thống thần kinh để thành sự “nhận thức”.

“Quang tử” là ánh sáng, di chuyển 186,000 dặm mỗi giây (~300,000 Km/s). Theo như thuyết “tương đối đặc biệt” (special relativity) thì không có gì có thể nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Giả sử bạn đang sống trên hành tinh Kepler-69c [69], một hành tinh trong chòm sao Cygnus, cách trái đất 2700 năm ánh sáng, với một kính viễn vọng cực kỳ tối tân để nhìn rất xa, có lẽ bạn sẽ nhìn thấy dân Ai Cập đang xây Kim Tự tháp. Còn nếu bạn muốn nhìn thấy những gì trên trái đất ngày hôm nay, bạn phải chờ 2700 năm nữa. Những “quang tử” từ trái đất đi tới hành tinh bạn đang sống chứa những “tín hiệu” (information) đã có từ 2700 năm về trước. Hơn nữa những “quang tử” có mang “tín hiệu” này sẽ tiếp tục đi đến vô hạn (infinitive).

“Thuyết Quang Tử Não” này đề ra rằng những “quang tử” có mang “tín hiệu” (information) hay “quang tử não” có thể hội nhập vào “nhận thức” của con người. Cũng như bất cứ “quang tử” nào, chúng di chuyển với vận tốc ánh sáng, và cũng là tốc độ của tín hiệu. Sự thông tin qua việc thâu thập những “tín hiệu” đã tạo nên sự “nhận thức” (conciousness) của chúng ta như đã được xác định trong phần trước.

Bây giờ khoảng cách được giảm đến mức thật gần, giữa bạn và những điều bạn đang quan sát là tờ giấy bạn đang đọc, hay màn hình bạn đang xem. “Tín hiệu” (information) tiếp cận với bạn rất giống như ánh sáng trong hình thức “quang tử não”. Bạn không nối trực tiếp với những gì đang quan sát. Các “tín hiệu” này đến với bạn qua không gian và thời gian bằng các “quang tử não”. Bản chất tự nhiên của “nhóm tín hiệu” (bundles of information) này là sẽ tiếp tục đi đến vô hạn.

Chúng ta thu thập thông tin chủ yếu là từ hình ảnh và âm thanh. Sự nhìn hay thị lực nhận được do sự hấp thụ các “quang tử não” hay ánh sáng. Làn sóng âm thanh với rung động nhanh đập vào màng nhĩ của chúng ta với tốc độ khoảng 1100 ft/s (1234 km/giờ hay 767 miles/hr). Âm thanh cần phải có môi trường (medium) để truyền đi, không có âm thanh trong chân không. Tai khi nhận được sự rung động của âm thanh, sẽ chuyển cơ năng thành những chấn động tới thần kinh để đến não bộ. Về thị lực, chúng ta nhận những “tín hiệu” trực tiếp từ mắt khi quan sát, những hình ảnh sẽ được chuyển thành “chấn động” (impulse) điện, truyền theo thần kinh để đi đến não bộ. Những cảm nhận khác về khứu giác, vị giác hay xúc giác cũng tương tự như nghe và nhìn, được truyền về não bộ và tái truyền khắp thể xác thông qua kích thích điện qua các dây thần kinh.

5- Sự “Nhận Thức” (Consciousness) và ánh sáng

Vậy là chúng ta biết “nhận thức” (consciousness) đến từ đâu, nó được hấp thụ qua giác quan của chúng ta, từ một loại photon (ánh sáng) có mang “tín hiệu” được gọi là “quang tử não” mà chúng ta nhận và “khai triển” (process) chúng trong não, sau đó lưu trữ lại trong não bộ. Các “quang tử não” ngoài sự cảm nhận do thị lực là các “quang tử não thứ cấp ” (secondary neurophotons).

Sự “nhận thức” (conciousness) không có nguồn gốc từ não bộ. Các “quang tử não” có thể được “khai triển” (processed) và lưu trữ trong não bộ, nhưng tất cả những “thông tin” (information) được “chiết ra” (extract) từ các “quang tử não”.

Ánh sáng không có trọng khối (mass) và ánh sáng được lấy từ ánh sáng vẫn là ánh sáng (light taken from light remains light). Đây là bằng chứng từ những sự học hỏi về thần kinh: não phát ra “chấn động điện-hóa-từ” (electrochemical-magnetic impulses) để điều hành cơ thể của chúng ta và sản suất ra những ý tưởng hay phản ứng từ những ý tưởng này. Hiện tượng điện-từ là “sản phẩm” của “quang tử” trong chuyển động [70]. Do đó, mỗi cử động bạn làm, có nguồn gốc từ ánh sáng. “Sự thông tin” (information) là điều căn bản của “nhận thức”, “sự thông tin” này được sinh ra từ ánh sáng và thực tế nó là ánh sáng. Vì thế, sự “nhận thức” (conciousness) chính là ánh sáng.

Theo như thuyết “tương đối đặc biệt”, thì ánh sáng không thay đổi tốc độ dù với bất cứ “khung quy chiếu” (reference frame) nào. Khi đưa ra thuyết này, Einstein nói đây là quy luật của vũ trụ vật chất nhưng ánh sáng sẽ không theo các quy tắc này [71]. Toàn bộ vũ trụ chuyển động, nhưng tốc độ ánh áng vẫn không đổi và nó là một hằng số.

“Quang tử” không bị ràng buộc bởi thời gian, thời gian sẽ ngưng đọng (hay vô hạn) khi cái gì đó di chuyển bằng vận tốc ánh sáng [72]. “Quang tử” là ánh sáng nên không có thời gian cho “quang tử” và chúng tiếp tục đi về vô hạn.
Chúng ta đã xác định là sự “nhận thức” (conciousness) đến từ đâu: nó đến từ ánh sáng, được lưu trữ trong não như ánh sáng, và được chuyển khắp cơ thể của chúng ta như ánh sáng.

6- Sự “Nhận Thức” (Consciousness) đi đâu sau khi thể xác đã chết?

Khi thể xác đã chết, nó không biến mất hoàn toàn, sự cấu tạo của thể xác do các nguyên tử đã được thành lập từ hơn 12 tỷ năm trước trong vũ trụ. Thể xác của chúng ta, thời gian tồn tại không là gì so với “tuổi” của các thiên hà, chỉ sau vài năm ngắn ngủi, thể xác của chúng ta sẽ là bụi tro, nhưng những gì về “nhận thức” không được cấu tạo bởi vật chất (matter), mà được tạo bởi ánh sáng và các “quang tử”, chúng sẽ không theo luật về vật thể trong vũ trụ “không-thời gian liên tục” (space-time continuum). Với ánh sáng thời gian ngưng đọng, thực ra thời gian không thực sự hiện hữu với ánh sáng ngay từ khi khởi thủy.

Không có trò “ảo thuật” (magic) hay “mê tín” (superstition) trong vật lý lượng tử; giả sử là tôi chết ngay lập tức, mọi phần tử trong thể xác của tôi phải tuân theo luật của vật lý lượng tử, sẽ phải “hòa tan” (“dissolve”) thành những nguyên tử và sẽ hiện hữu trong một cái gì khác nào đó trong vũ trụ. Không có “trò ảo thuật vũ trụ” (cosmic magic), những “quang tử” thuộc về sự “nhận thức” của cá nhân này sẽ không bị hạn chế bởi vật thể và sẽ phải “hành động” như “quang tử”. Chúng “du hành” (travel) với tốc độ của ánh sáng vì không có trọng khối. Ánh sáng (cũng là năng lượng) không thể biến mất, vì không thể vi phạm luật căn bản về vật lý lượng tử (hay luật bảo toàn năng lượng).

“Nhận thức” là điều gì duy nhất cho từng người, là một sự “kết hợp của trường ánh sáng” (unified field of light). Khi “năng lượng ánh sáng của nhóm quang tử não” này rời thể xác, “người” này sẽ được “tự do”, ngay lập tức họ có tốc độ ánh sáng - trong thời điểm chính xác đó - họ sẽ ở trong không-thời gian và bất tử. Đây không phải là tôn giáo, đây là khoa học (tác giả nhấn mạnh điều này).

Chúng ta không thể quan sát “trường ánh sáng”nhận thức”của từng cá nhân” (a unified light field of individual consciousness) trên quang phổ điện từ rộng lớn của vũ trụ. Tương tự như chúng ta không thể nhìn thấy tia X hay tia cực tím (UV). Như đã trình bày, những gì chúng ta nhìn thấy chỉ vào khoảng 1/100,000 [73] của quang phổ điện từ. Bản chất thiên nhiên của “nhận thức” được biểu lộ trong một quang phổ ngoài “quang phổ mắt” (visible spectrum) tương tự như điện hay tia Gamma (tia phóng xạ).

Khi thể xác đã chết, sau một thời gian nó sẽ tan rã thành hàng tỷ tỷ nguyên tử, để rồi tạo thành các dạng có khối lượng khác, kể cả các dạng sinh vật. Tại sao “nhận thức” không giống như vậy? Xin lập lại là “nhận thức” được cấu tạo bằng ánh sáng, các “quang tử” không theo quy tắc chung đã được đề ra trong luật “tương đối đặc biệt”. Sau khi thể xác đã chết, “nhận thức” có thể phát tán đi muôn hướng khác nhau, nhưng “nhận thức duy nhất” của mỗi cá nhân vẫn mang toàn bộ “thông tin” cho dù chúng bị phát tán! Tại sao lại có sự nghịch lý như thế ? Nhưng chúng ta biết đây là sự thật, mặc dù khoa học vẫn chưa hiểu rõ là ở cấp hạ nguyên tử (subatomic levels), một hạt (particle) có thể ở cả hai nơi cùng một lúc, ngay cả những hạt có trọng khối (mass) như “âm điện tử”. “Quang tử” không có khối lượng, nên chúng có thể mang tín hiệu tới muôn triệu hướng khác nhau. Tác giả đưa ra một thí dụ là khi một ngôi sao bùng nổ cách đây hàng triệu năm, những quang tử của ngôi sao này phát ra chứa những “tín hiệu” về sự bùng nổ, hiện tượng mà chúng ta quan sát được thực sự đã xảy ra hàng triệu năm trước. Những “quang tử” chứa “tín hiệu duy nhất” này tiếp tục đi đến vô hạn, không bị gián đoạn về thời gian và trọng khối. Dù ở bất cứ chỗ nào trong vũ trụ, người quan sát với khoảng cách thích hợp, sẽ nhìn thấy sự bùng nổ của ngôi sao này bằng một “nhóm quang tử” chứa đầy “tín hiệu hợp nhất” (information). Như thế, khi một thể xác đã chết, “nhận thức” là ánh sáng, sẽ đi vào vũ trụ với muôn hướng khác nhau, nhưng sự “thông tin” vẫn hợp nhất và vẫn phải theo các luật của vật lý.

Kết luận về giả thuyết “quang tử não” của tác giả

Không khí đi qua phổi nhưng không khí không phải là một sản phẩm của phổi. Máu đi qua tim nhưng máu không phải là một sản phẩm của tim. “Nhận thức” (conciousness) đi qua não nhưng “nhận thức” không phải là sản phẩm của não bộ , mặc dù não lưu trữ và khai triển các “dữ liệu điện từ” (electromagnetic data) lấy từ không gian mà chúng ta tương tác với. “Nhận thức” (conciousness) là một sản phẩm của ánh sáng. Khởi đầu như ánh sáng, là ánh sáng khi tương tác trong cơ thể, và tiếp tục vẫn là ánh sáng khi thể xác đã chết.

Chúng ta phải đi đến kết luận rằng sự “nhận thức” không kết thúc với cái chết của con người, trừ phi luật “tương đối đặc biệt” phải được sửa đổi [74]. Sự “nhận thức” được tạo một cách duy nhất cho mỗi cá nhân bằng năng lượng ánh sáng qua các giác quan vào cơ thể, được xác định bởi “quang phổ điện từ” của vũ trụ. Những “quang tử” chứa “tín hiệu” (information) được dùng để tạo nên sự “nhận thức” độc nhất cho từng cá nhân, chúng đã hiện hữu trước khi ra đời và sẽ tiếp tục hiện hữu sau cái chết về thể xác của từng cá nhân, vì toàn bộ “nhận thức” (conciousness) cho mỗi cá nhân là một phần của quang phổ điện từ. Hơn nữa, một khi những “quang tử não” bị ràng buộc vào một lĩnh vực của “nhận thức duy nhất” cho từng cá nhân, chúng sẽ tiếp tục hiện hữu như một “trường ánh sáng được liên kết duy nhất” (a singular cohesive light field), vì đó là sự tự nhiên (?) của “ánh sáng mang tín hiệu” (light bearing information). Ở tốc độ của ánh sáng, “quang tử” không bị tác động bởi thời gian, hay bất kỳ những gì như đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến vật thể có “trọng khối ở thể tĩnh” (rest mass), vì thế sự hiện hữu của “nhận thức” sẽ vĩnh cửu!

****

Nhận xét về “thuyết quang tử não”

Theo thiển ý cá nhân thì đây là một thuyết rất hay, thuyết này giải thích về sự “nhận thức” theo tính cách khoa học như những trình tự sau:

1- Thể xác của con người (hay các sinh vật) được cấu tạo từ những nguyên tử có từ lúc khởi thủy của vũ trụ, sẽ không biến mất sau khi chết, nó sẽ trở lại thành những nguyên tử từ nơi nó đã đến.

2- Những nguyên tử này được tạo ra từ ánh sáng, vậy bản thể của con người là ánh sáng (với dẫn chứng là “vật chất” có thể trở thành ánh sáng hay ngược lại).

3- Chấp nhận như một định đề là con người có sự “nhận thức”(consciousness).

4- Sự “nhận thức” là ánh sáng.

5- Sự “nhận thức” là tổng số của tất cả cáckiến thức được giữ lại trong thể xác vật lý trong bất kỳ hoàn cảnh, nơi chốn, phương tiện và dưới mọi hình thức, kể cả ý thức và tiềm thức. Ở đây, qua định nghĩa này, chữ “nhận thức” được dùng thay cho chữ thông thường là “linh hồn”, gồm có cả những cảm nhận hay rung động về tình yêu mà tác giả đã không đề cập đến một cách rõ ràng (vì ngại đi vào lĩnh vực tôn giáo?).

6- Sự “nhận thức” (consciousness) không phải là sản phẩm của não bộ, vì sự “nhận thức” là ánh sáng. Ánh sáng là năng lượng, không thể kiến tạo hay hủy diệt. Luật “bảo toàn năng lượng” (energy conservation) sẽ phải bị loại bỏ, và không đáp ứng được nhu cầu căn bản nhất của luật “tương đối đặc biệt”, nếu “nhận thức” (conciousness) là một sản phẩm của não bộ.

7- “Nhận thức” có được do một loại ánh sáng “đặc biệt” nằm trong “quang phổ điện từ” của vũ trụ, do tập hợp của “quang tử não” mang những “tín hiệu thông tin” (information), được tạo thành do sự hấp thụ qua thần kinh của giác quan để vào não bộ.

8- “Nhận thức” là điều gì duy nhất cho từng người.

9- Khi thể xác đã chết, “nhận thức” hay nhóm “quang tử não” của cá nhân này rời thể xác, “bản thể” này sẽ được “tự do”, ngay lập tức họ có tốc độ ánh sáng - trong thời điểm chính xác đó - họ sẽ ở trong không-thời gian và bất tử.

10- Sau khi thể xác đã chết, “nhận thức” có thể phát tán đi muôn hướng khác nhau, nhưng “nhận thức duy nhất” của mỗi cá nhân vẫn mang toàn bộ “thông tin” cho dù chúng bị phát tán!

11- Chúng ta không thể quan sát “trường ánh sáng nhận thức” của từng cá nhân” này trên quang phổ điện từ rộng lớn của vũ trụ (vì chúng ta chưa đủ khả năng!).

12- Những “quang tử” chứa “tín hiệu” (information) được dùng để tạo nên sự “nhận thức” độc nhất cho từng cá nhân, chúng đã hiện hữu trước khi ra đời và sẽ tiếp tục hiện hữu sau cái chết của thể xác. Vì thế sự hiện hữu của “nhận thức” hay theo ngôn ngữ thông thường là “linh hồn” thì vĩnh cửu!

Sau khi tìm hiểu giả thuyết “quang tử não”, người viết có thiển ý như sau:

a- Thuyết này có giải thích tương tự như “Giai đoạn 1” trong thuyết “Năm Giai Đoạn” về những “kinh nghiệm cận tử” (NDE - Near Death Experience) của Tiến Sĩ MAUREEN VENSELAAR nhưng chi tiết hơn. Người viết xin lập lại đơn giản như sau: “Các “quang tử kỳ lạ” này có thể 'mang' “tin tức”, có “nhận thức”, chúng cũng không thể bị phá hủy (vì vậy đời sau có thể là một “cuộc sống vĩnh cửu)”. Các “quang tử kỳ lạ” này, theo như tác giả Daniel R. Hankins, thì chúng được gọi là “quang tử não”. Điều này có vẻ hợp lý cho những giai đoạn sau trong thuyết “Năm Giai Đoạn”. Đồng thời thuyết này có thể giải thích về ánh sáng mà những NDE “nhìn” thấy, là quang phổ ở khoảng nào đó trong (hay ngoài?) “quang phổ điện từ” (Electromagnetic Spectrum), hay có tần số và năng lượng cao hơn, dù vẫn ở trong quang phổ này mà loài người chưa hiểu rõ (thí dụ như “vũ trụ tuyến” [cosmic rays]).

b- Trong trình tự 12: “Nhận thức” (“linh hồn”) hiện hữu trước khi ra đời và sẽ tiếp tục hiện hữu sau cái chết của thể xác”. Điều này giống như những điều đã dạy bởi giáo phụ Origen (thế kỷ thứ 3) của Thiên Chúa giáo là “linh hồn đã hiện hữu từ trước” (pre-existence of souls), trước khi một bào thai được tạo thành (việc giảng dạy này đã bị cấm tuyệt, kể từ năm 553 sau “Công Đồng Constantinople thứ hai” của Thiên Chúa giáo).Sự hiện hữu từ trước của linh hồn có thể giải thích về những trường hợp “luân hồi”.

c- Thuyết “Quang tử não” đề ra là “nhóm quang tử não” đã hiện hữu trong “vũ trụ không - thời gian” (spacetime universe), nhưng đã không đề cập đến nguồn gốc là chúng có từ lúc nào? Chúng được tạo dựng như thế nào? Có lẽ điều này đi đến bên lề của tôn giáo, hơn nữa vấn đề này lại đi vào lĩnh vực siêu hình (metaphysical realm), mà khoa học chưa thể giải thích nên tác giả tránh né. Tuy nhiên, cho chủ đề thì thuyết này cũng đã nêu lên khá nhiều những giải thích về “nhận thức” và người viết cũng cảm thấy tạm đủ.

d- Theo thuyết này thì tác giả đã giải thích là “nhận thức” đến với con người như thế nào, đi đâu sau khi thể xác đã chết. Tuy nhiên, khi thể xác còn sống, “nhận thức” vẫn còn trong cơ thể, cách thức con người truyền đạt “nhận thức” ra ngoài như thế nào đã không được đề cập tới. Giả sử chúng ta biết rõ được điều này, có lẽ một số “hiện tượng huyền bí” (paranormal phenomenon) thí dụ như “thần giao cách cảm” (telepathy) có thể giải thích được (?).

e- Theo như tác giả thì thuyết này giải thích về “nhận thức” đặt căn bản trên “cơ học lượng tử”, như đã trình bày trong phần trước là có một “tác động ma quái” (spooky action) của cơ học lượng tử - “nối kết lượng tử” (quantum entanglement) - đã không được đề cập đến. Đó là sự đồng thời (hay ít nhất nhanh hơn ánh sáng 10,000 lần [75] theo như một số tài liệu đã nêu ra) đã làm ông Einstein “nhức đầu”, trong khi tác giả chỉ nói về tốc độ tuyệt đối của ánh sáng như trong thuyết “tương đối đặc biệt”.

Người viết sẽ cố tìm hiểu thêm nữa trong phần tới, may ra có thể đi đến một kết luận nào đó chăng (?).


Ghi chú:


[69] hxtp://www.nbcnews.com/science/space/8-8-billion-habitable-earth-size-planets-exist-milky-way-f8C11529186: NBC news: 8.8 billion habitable Earth-size planets exist in Milky Way alone: “...Kepler-69c, a super-Earth-size planet in the habitable zone of a star like our sun, located about 2,700 light-years from Earth in the constellation Cygnus”.

[70] Ánh sáng phát ra bởi chính nó là sóng điện từ

[71] Einstein said, here are the rules of the physical universe but light won’t play by these rules. Everything else does, but light (photons) will not.

[72] Sự chậm lại hay giãn nở của thời gian (Time dilation): Khi một vật thể gia tăng tốc độ, thời gian sẽ chậm lại cho chính vật thể đó. Từ luật này, thời gian sẽ là vô hạn- hay không có thời gian - khi vật thể có tốc độ bằng vận tốc của ánh sáng.

[73] Tia Gamma phóng xạ có tần số khoảng 40 triệu tỷ chu kỳ (40x1018) . Ánh sáng màu đỏ có tần số khoảng 400 ngàn tỷ chu kỳ (400x1012 hay 40x1013) . (40x1018) / (40x1013) = 100,000.

[74] Kể cả định luật bảo toàn năng lượng, vì năng lượng khô ng thể kiến tạo hay hủ diệt, chúng chỉ có thể đổi từ dạng này qua dạng khá mà thôi.

[75] hxtp://www.livescience.com/27920-quantum-action-faster-than-light.html
hxtp://en.wikipedia.org/wiki/Faster-than-light
hxtp://www.scientificamerican.com/blog/post/quantum-weirdnes-wins-again-entangl-2008-08-13/?id=quantum-weirdnes-wins-again-entangl-2008-08-13


(Còn tiếp)

Edited by user Monday, March 31, 2014 12:38:44 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#472 Posted : Friday, February 28, 2014 4:50:13 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn

(Spacetime and Soul)


(Tiếp theo)

Nhận xét sơ lược về “nhận thức” và “linh hồn” từ những điều đã trình bày

Để tìm hiểu về “nhận thức” hay một danh từ gần như “tương đương” và phổ thông hơn là “linh hồn”, ( chữ mà giới khoa học tránh né, vì cho là thuộc phạm vi tâm linh), người viết xin gom những gì đã trình bày trong những phần trước, để thử tìm hiểu “nhận thức” là gì? “Linh hồn” là gì? Có “linh hồn” hay không? “Linh hồn” có từ khi nào, từ đâu mà có? Sẽ mất đi khi thể xác đã chết, hay sẽ tồn tại vĩnh viễn? Nếu tồn tại thì sẽ đi về đâu?

1- “Nhận thức” (consciousness) là gì?

“Consciousness” (nhận thức) là một “chữ” đã có khá nhiều định nghĩa (khi tra cứu qua Google), nhưng xin ghi lại một cách tổng quát như sau:

“Nhận thức” của con người là những gì không thuộc vật chất, có ý thức (awareness) về: sự hiện hữu của chính mình; kiến thức (knowledge); kinh nghiệm (experiences); suy nghĩ (thoughts); những cảm giác (senses); tâm trí (mind); sự quan tâm (concerns); những ý thức nội tại về tình cảm (sentiment) như yêu, ghét, thù hằn, tham lam, kính trọng, khinh thường, v.v... ; cảm xúc (emotion); những việc chung quanh với những cảm nhận đầy đủ qua giác quan, qua trí óc, trong bất kỳ hoàn cảnh, nơi chốn, phương tiện và dưới mọi hình thức, kể cả tri thức và tiềm thức (subconsciousness) trong cuộc sống. “Nhận thức” hiện đang điều hành (control) những cảm giác, hiểu biết, suy nghĩ và hành động, v.v... của chúng ta (hay những sinh vật cấp dưới như các loài động vật khác).

2- “Linh hồn” (soul) là gì?

Nói một cách đại cương thì “linh hồn” là những gì thuộc về “lĩnh vực tâm linh” (spiritual realm) hay tinh thần, không thuộc “lĩnh vực vật chất” (physical realm). “Linh hồn” là một loại “năng lượng của sự sống” (“life energy”?), điều hành cuộc sống như cảm giác, hiểu biết, suy nghĩ, và hành động, v.v... trong con người, coi như là một thực thể riêng biệt và nó được tách rời khỏi thể xác sau khi đã chết.

3- Tương quan giữa “nhận thức” và “linh hồn”

Theo như hai định nghĩa nêu trên thì “nhận thức” (consciousness) và “linh hồn” (soul) đều là những gì không thuộc về thể chất. Con người gồm có hai phần là thể xác (body) và tinh thần (spirit). Từ điều này có thể tạm đưa ra kết luận là “nhận thức” là “linh hồn” (?) mà hiện vẫn còn nhiều tranh luận và phản biện. Khoa học không muốn dùng hay đề cập tới chữ “linh hồn”, vì có tính cách tâm linh thuộc về lĩnh vực niềm tin hay tôn giáo. Đây là một điều phải “tránh né”, vì những gì không thuộc phạm vi vật chất, khoa học khó có thể giải thích, nên giới khoa học đã bác bỏ hay “tảng lờ” sự hiện hữu của “linh hồn”, họ dùng chữ “consciousness” và coi như đây là “sản phẩm” của não bộ. Để nghiên cứu về “consciousness” thì khoa học về thần kinh (neuroscience) là một nghành gần như là duy nhất để tìm hiểu về vấn đề này, dù hiện đang có nhiều nỗ lực. Tuy nhiên nếu chỉ dùng mô hình trong “lĩnh vực vật chất”, để tìm hiểu về “lĩnh vực phi vật chất” thì chỉ là một sự không tưởng!? Ngoại trừ một mô hình mới về sự tương quan giữa hai lĩnh vực này phải được đề ra (?!).

4- Có “linh hồn” hay không?

a- Sự hiện hữu của “nhận thức” (consciousness)


Trước hết chúng ta phải chấp nhận về điều này, vì nếu “nhận thức” không hiện hữu thì chúng ta không thể suy nghĩ và biết là mình đang sống, tương tự như một thể xác đã chết, hay một vật vô tri vô giác nào khác. Đây là một định đề (axiom) hay tiên đề (postulate) [76], và phải chấp nhận như một sự thật, tương tự như định đề Euclid trong hình học. Vậy nếu theo kết luận tạm thời “nhận thức” là “linh hồn”, thì “linh hồn” là một thực thể và hiện hữu.

b- “Linh hồn” (soul) là ánh sáng?


Như đã trình bày trong mục “biophotons” thì “nhận thức” là ánh sáng, dù đây vẫn chỉ là giả thuyết, tuy nhiên theo như thí nghiệm của TS Popp, thì những tế bào trong sinh vật được điều hành bởi những “rung động điện từ” (electromagnetic vibrations) tạo ra bởi “biophotons”, sóng điện từ là ánh sáng hay ngược lại. Rung động ở các tần số khác nhau, tạo ra những “tín hiệu” để những phân tử (molecules) trong các tế bào làm những nhiệm vụ hay gây tác dụng khác nhau. DNA trong nhân (nuclear) của tế bào nhận ánh sáng và phát ra “biophotons”.

Theo như thuyết “OrchOR” của Sir Penrose và BS Hameroff (đã trình bày trong phần trước), thì sự “nhận thức” (consciousness) nằm trong các “ống cực nhỏ” (microtubes) trong thần kinh của não bộ, các ống này liên kết với nhau bằng những trạng thái lượng tử (quantum states) như “nối kết” (entanglement) và “xuyên hầm” (tunneling). Những “ống’ này nhận “tín hiệu” của “biophotons” phát ra từ DNA trong cùng tế bào, tạo ra những “rung động lượng tử” (quantum vibration) để truyền “sự hướng dẫn” (instructions) đến các tế bào khác trong cơ thể, cho từng nhiệm vụ riêng của mỗi tế bào (?).

Dù là giả thuyết, nhưng hai vấn đề đã được kiểm nhận là sự hiện hữu của “biophotons” và “rung động lượng tử” (quantum vibration) của “microtubes”. Hiện các khoa học gia đang nghiên cứu về vấn đề này và rất có thể sự “nhận thức” là ánh sáng sẽ được khoa học kiểm chứng trong tương lai (?). Vậy nếu “nhận thức” là “linh hồn” thì có thể tạm kết luận “linh hồn” là ánh sáng.

5 - “Linh hồn” từ đâu mà có, có từ khi nào?


Khoa học có thể giải thích được nhiều vấn đề, nhưng với câu hỏi rất bình thường: “nhận thức” của chúng ta (kể cả các sinh vật khác) đến từ đâu? Đã từ lâu đến nay, điều này vẫn chưa có câu trả lời cho câu hỏi này. Theo như khoa thần kinh học thì “nhận thức” cũng như “tâm trí” (mind) là sản phẩm của não bộ. Tuy nhiên, câu trả lời này chưa có bằng chứng thuyết phục nào để giải thích. Hơn nữa những trường hợp “cận tử” (NDE - Near death experience) cho thấy là khi não bộ ngưng hoạt động vì thiếu oxygen, “nhận thức” vẫn hiện hữu và ở ngoài thể xác. Vì thế để tìm sự giải thích xác đáng, giới khoa học vẫn còn đang nghiên cứu. Một số người cho rằng, não bộ chỉ là một “môi trường” để “nhận thức” khai triển (process). Hankins đưa ra giả thuyết “Quang tử não” (“Neurophoton hypothesis”), cho là não bộ không sản xuất mà chỉ là nơi để sự “nhận thức” có tiến trình (process), tương tự như không khí qua phổi nhưng không là sản phẩm của phổi, “nhận thức” qua não là ánh sáng, sẽ tồn tại mãi mãi trong không-thời gian. BS Hameroff (Thuyết OrchOR) thì cho rằng “nhận thức” hay “linh hồn”[77] sẽ không mất đi khi thể xác đã chết và đi vào vũ trụ rộng lớn.

Thật ra đã có khá nhiều giả thuyết cố gắng đưa ra những giải thích về nguồn gốc của “nhận thức”, nhưng những gì để chứng minh theo tính cách khoa học thì gần như không có! Khoa học hiện đang dùng những lý thuyết đặt căn bản trên “vật thể” để tìm hiểu về “phi vật thể”, có lẽ khó có sự giải đáp!

Một câu hỏi khác là con người (hay động vật) bắt đầu có “nhận thức” từ khi nào? Không dám lạm bàn về sinh vật học, vì người viết gần như không biết gì, chỉ xin nêu lên suy nghĩ của mình để tìm hiểu “nhận thức” bắt nguồn từ đâu.

Khởi đầu cho sự thụ thai là khi một tế bào “giao tử” (sperm cell) của giống đực kết hợp với một tế bào trứng (egg cell) của giống cái. DNA trong nhân của hai tế bào này kết hợp với nhau để khởi đầu cho một sự sống, từ “phôi thai” (embryo) đến “bào thai” (fetus), rồi một động vật được ra đời. Điều gì đã làm cho hai chuỗi DNA của “hai tế bào cha và mẹ” hợp lại thành một chuỗi DNA của một “tế bào con”, rồi tự hấp thụ chất dinh dưỡng, tự tách ra và nhân lên thành từng nhóm tế bào cho mỗi cơ phận trong cơ thể. Chúng ta biết mỗi chuỗi DNA trong một tế bào có khoảng 3 tỷ mã số (code), mỗi mã số do 4 chữ ACGT (chữ viết tắt của hóa chất) tạo thành [78] . Đây là một “program” (“lập trình” - nv xin dùng chữ “program” quen thuộc cho dễ hiểu) lớn khủng khiếp cho mỗi tế bào.

Người viết lạm nghĩ là “tín hiệu” (information) trong DNA của “trứng” (egg cell) từ mẹ, tương tự như “program” BIOS (Basic Input/Output System) trong một bộ “hardware” đã được tạo của máy vi tính. DNA của “bào tử” (sperm cell) từ cha tương tự như “program” DOS (Disk Operating system) hay Window (của Microsoft), chứa trong một “USB drive” (hay CD, DVD) biết “tự” [79] (?) tìm đến gắn vào “input” của trứng. Hai “programs” này hợp lại thành toàn bộ “program” chứa trong chuỗi DNA trong “tế bào con”, với những phân tử (molecules) là “hardware”, một “máy tính lượng tử” (quantum computer) được hình thành (theo thuyết OrchOR). Tuy nhiên khác với computer mà chúng ta dùng, “tế bào con” này hấp thụ dinh dưỡng rồi tách ra làm nhiều tế bào khác giống như nó.

Sau một thời gian ngắn, với hàng tỷ “máy tính lượng tử” liên kết với nhau, một “Hệ thống computer tế bào lượng tử” (Quantum cellular computer networks) được thành lập, trao đổi “tín hiệu” cũng như những “hướng dẫn” (instructions) bằng hóa tính, điện, sóng điện từ, hay những “biophotons” có những tính chất “lượng tử” (quantum) như “nối kết” (entanglement), “trùng chập” (coherence), “xuyên hầm” (tuneling) hay “chồng chất” (superposition) là những cách thức mà hệ thống này liên lạc với nhau.

Khoa học đã biết từ khá lâu là DNA hấp thụ ánh sáng. Nếu cường độ tia cực tím (UV ray) mạnh, DNA sẽ bị hư hại, nhưng nếu với cường độ vừa phải của UV light với tần số thấp hơn (gần ánh sáng xanh) rọi vào, DNA có thể được chữa lành (photoreactivation). Theo như thuyết “biophoton” của TS Popp, DNA phát ra “biophotons” với những rung động của một tần số nào đó đã được ghi trong “program” của DNA, tạo nên sự “hướng dẫn”, mà các tế bào khác có thể nhận được, cho từng nhiệm vụ chúng phải làm.

Qua những điều nêu trên, người viết tưởng tượng và suy nghĩ rồi phỏng đoán là ngay từ khi hai “tế bào” của cha và mẹ gặp nhau, khởi đầu cho một sự sống phát sinh, “nhận thức” bắt đầu được tạo dựng với tính cách sơ khai, để tạo ra một “hệ thống lượng tử” (quantum network) có tính cách “địa phương” (locality), đây là thời kỳ “phôi thai” (embryo stage) .

Đến khi não bộ thành hình, có đủ “bộ nhớ” (memory), một “Hệ thống lượng tử não bộ” (Quantum brain network) được thành lập và bắt đầu có những “nối kết lượng tử” (quantum entanglement) không có tính cách địa phương (non-locality), qua “Hệ thống internet lượng tử” (Quantum “internet”), để nối với “Hệ thống nhận thức lượng tử của VŨ TRỤ” (CELESTIAL quantum consciousnesS server), dày đặc những “tín hiệu thông tin”, bằng sóng điện từ, ánh sáng, hay đặc biệt là cách “nối kết lượng tử”, tương tự như trường hợp sử dụng cell phone hay coi TV. Đây là sự “nhận thức” đến với não bộ trong trạng thái “bào thai” (fetus state).

Lúc này nếu tế bào não bộ gặp những sóng điện từ có tần số, hay quang phổ thích hợp của một “chùm ánh sáng” (bundle of light) nào đó (thí dụ như “nhận thức”, kiến thức, hay sự cảm nhận, từ một nguồn nào, hay của ai với thể xác đã chết), “chùm sáng” này có thể sẽ được “bào thai” hấp thụ, do sự “trùng chập lượng tử” (quantum coherence). “Nhận thức”, kiến thức hay cảm nhận sẽ được lưu trữ trong “bộ nhớ” của não bộ thai nhi từ những “neurophotons” được hấp thụ (thuyết “quang tử não” của Hankins). Đây là điều mà người viết muốn đề cập đến sự đầu thai (luân hồi) hay hiện tượng thiên tài (nếu tính theo phần trăm của dân số thì những điều này rất ít khi xảy ra, dù một số trường hợp đã được kiểm nhận) trong trạng thái còn là bào thai (fetus).

Khi một thai nhi ra đời với đầy đủ bộ phận của cơ thể, những “Hệ thống computer lượng tử của giác quan” (Sense quantum computer networks) bắt đầu khởi động, “nhận thức” nhận được từ “quang tử não” (neurophotons - theo giả thuyết của Hankins) trong không-thời gian, từ “Hệ thống nhận thức lượng tử của vũ trụ” (CELESTIAL quantum consciousness server), đi qua các giác quan, được đưa về não bộ để lưu trữ, tạo thành những kinh nghiệm, cảm nhận (như yêu, ghét, v.v...), kiến thức. Những điều này được “khai triển” (process) trong não bộ, đưa đến những hành động hay những suy nghĩ sau này.

Những điều đã trình bày xin được tóm lược theo trình tự như sau:

“Hệ thống computer tế bào lượng tử”
( Cell Quantum cellular computer networks)
đến
“Hệ thống computer lượng tử của giác quan”
(Sense quantum computer networks)
đến
“Hệ thống lượng tử não bộ”
(Quantum brain network)
qua
“Hệ thống internet lượng tử”
(Quantum “internet”)
đến
“Hệ thống nhận thức lượng tử của VŨ TRỤ”
(CELESTIAL quantum consciousness server)
rồi đến
“Hệ thống nhận thức lượng tử của VŨ TRỤ” ở tầng cao hơn
... ?


Từ trình tự này, người viết hình dung đến “Mô hình điện toán trên mây” (Cloud Computing model) [80] cũng có thể tương tự như “Hệ thống nhận thức lượng tử của VŨ TRỤ”.

Như đã trình bày, vật thể được cấu tạo từ ánh sáng, khởi đầu là “Big Bang”, các quang tử từ lúc khởi thủy đã có sự “tương tác” (interaction) với nhau, chúng đã có những “nối kết lượng tử” (quantum entanglement), như thế tất cả các vật thể trong vũ trụđã có những “liên quan lượng tử”. Một quang tử trong não bộ của chúng ta đổi chiều quay (spin) thì lập tức tại một nơi nào đó trong vũ trụ cũng sẽ có một quang tử khác đổi theo, đây là “tác động quái đản” (spooky action) về tính chất “nối kết” (entanglement) của cơ học lượng tử. Vậy cũng không phải là tưởng tượng “quá đáng” khi phỏng đoán là có một “bản sao” (a copy) của “nhận thức” con người đang hiện hữu trong “Hệ thống nhận thức lượng tử của VŨ TRỤ” (CELESTIAL quantum consciousness server).

Qua những suy nghĩ nêu trên, thì thiển ý của người viết là con người có “nhận thức sơ khai” ngay từ khi sự sống được tạo dựng. Sự “nhận thức” càng lúc càng trở nên phong phú hơn khi được “nối kết” với “nhận thức trong vũ trụ”. Nếu nói theo tính cách tâm linh, thì “linh hồn” hiện hữu từ khi có sự sống vì nó từ “Nguồn” mà có và thăng tiến khi được nối với “Nguồn” là “Hệ thống nhận thức lượng tử của Vũ trụ” (CELESTIAL quantum consciousness server).


Ghi chú:

[76] Một tiên đề, hay định đề là tiền đề hoặc khởi điểm của lý luận. Một nguyên tắc hiển nhiên được chấp nhận là đúng, mà không cần có bằng chứng để làm căn bản cho sự lập luận, được chấp nhận như là sự thật mà không cần tranh cãi.

[77] “Can Science Explain the Soul?” (By Stuart Hameroff MD. and Deepak Chopra MD.): “The concept of life after death, or more specifically conscious awareness after bodily death, is generally referred to in the context of the 'soul' ”.

[78] hxtp://ghr.nlm.nih.gov/handbook/basics/dna
What is DNA?: “ ... The information in DNA is stored as a code made up of four chemical bases: adenine (A), guanine (G), cytosine (C), and thymine (T). Human DNA consists of about 3 billion bases, and more than 99 percent of those bases are the same in all people. .... An important property of DNA is that it can replicate, or make copies of itself.

[79] Người viết tự hỏi: Tự tìm đến hay đã có “hướng dẫn” (instruction) từ sự “nối kết lượng tử” (quantum entanglement) từ lúc này?
[80] hxtp://www.cloudwatchhub.eu/glossary: “Describe a variety of different computing concepts that involve a large number of computers that are connected through a real-time communication network (typically the Internet)” [Mô tả một loạt các khái niệm tính toán khác nhau có liên quan đến một số lượng lớn các computer được kết nối thông qua một mạng lưới thông tin liên lạc thời gian thực thụ (điển hình là Internet)].

6 - “Linh hồn” sẽ mất đi khi thể xác đã chết, hay sẽ tồn tại vĩnh viễn?

(Còn tiếp)

Edited by user Monday, March 31, 2014 12:57:10 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#473 Posted : Thursday, March 6, 2014 4:23:12 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn
(Spacetime and Soul)


(Tiếp theo)

Nhận xét sơ lược về “nhận thức” và “linh hồn” từ những điều đã trình bày

(Tiếp theo)

6 - “Linh hồn” sẽ mất đi khi thể xác đã chết, hay vẫn tồn tại ?

Theo như thuyết OrchOR thì một trong hai tác giả là BS Hameroff cho rằng “sự nhận thức” (consciousness) hay “linh hồn” không bị mất khi thể xác đã chết, nó chỉ “hòa nhập” vào vùng “không-thời gian” (spacetime) của vũ trụ rộng lớn.

Theo thuyết “Biophoton” của TS Popp thì “quang tử” (biophotons) phát ra từ DNA của những tế bào thần kinh, những quang tử này có chứa “tín hiệu” (information) để “ hướng dẫn” các tế bào khác làm những “nhiệm vụ” (functions) thích hợp và con người là “bản thể của ánh sáng” (being of light)[81] .

Giả thuyết “Năm giai đoạn” (The five phases theory” ) của Tiến sĩ Venselaar nói là khi thể xác bị chết, trong “giai đoạn thứ nhất” , lúc “linh hồn” rời thể xác sẽ có vô số các “quang tử kỳ lạ” được phát ra, vì con người là “bản thể của ánh sáng” và một “bản thể” mới được tạo bằng ánh sáng, mang theo “hình ảnh và tính chất” của cơ thể khi còn sống. Giai đoạn 1 của thuyết này đặt căn bản trên thuyết “biophoton” của TS Popp.

Giả thuyết “Quang tử não” (The Neurophoton Consciousness Theory) của Hankins gần như lấy “biophotons” làm căn bản, tuy nhiên tác giả đã đặt một tên riêng cho những “quang tử” (hay ánh sáng) này là “quang tử não” (neurophotons) có chứa “tín hiệu” (information) mà con người có thể hấp thụ. Con người là “bản thể của ánh sáng”, đây là điểm chính mà thuyết này nêu ra, cũng như lập luận “nhận thức” (consciousness) của con người không phải là sản phẩm của não bộ. Con người nhận ánh sáng chứa những “nhận thức” từ vũ trụ, “khai triển” những “ánh sáng của “nhận thức” trong não và cũng vẫn còn là ánh sáng “vĩnh cửu” sau khi thể xác đã chết.

Dù có không ít những giả thuyết ngoài những điều người viết đã nêu lên, nhưng vì tài liệu chưa được thâu thập đầy đủ và thời gian không cho phép, nên chỉ giới hạn trong những giả thuyết này vì tự cảm thấy thích hợp và tạm đủ (?) cho mục đích tìm hiểu về tâm linh!

Theo như một số đông các khoa học gia, bác sĩ, và đặc biệt những bác sĩ chuyên về khoa thần kinh, thì cho rằng khi não ngưng hoạt động thì sự “nhận thức” cũng chấm dứt. Điều này có đúng không? Xin khoan đề cập lại những “kinh nghiệm cận tử” (NDE) hay sự “luân hồi” (reincarnation), chúng ta hãy thử nhận xét điều này theo tính cách khoa học.

Vật lý gia William A. Tiller cùng các cộng sự viên tại đại học Stanford đã làm một thí nghiệm (lập đi lập lại) để chỉ ra rằng năng lực của “trí óc” (mind) có thể biến đổi tính chất của vật thể (matter) [82]. Điều này chứng tỏ sự suy nghĩ- một tác động của sự “nhận thức” - có năng lượng (energy). Tuy nhiên thí nghiệm này ít được giới khoa học chú ý tới, vì bị coi như là hiện tượng có tính cách “tâm thần” (psychic). Dù ông là một trong số ít các khoa học gia không bị phê bình và “tẩy chay” bởi cộng đồng khoa học.

Theo định luật “bảo toàn năng lượng” (law of energy conservation): “Năng lượng không thể tự nhiên sinh ra hoặc mất đi, nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác” (Energy can be neither created nor destroyed, but can change form)”.

Sự “nhận thức” (consciouness) là năng lượng, hay với sự diễn tả bằng ngôn từ (như định nghĩa trong phần trước) với tính cách tâm linh là “linh hồn” (soul). Vậy “linh hồn” là một loại năng lượng, nó không thể bị hủy diệt hay mất đi khi thể xác đã chết, sẽ tồn tại vĩnh viễn.

7- “Linh hồn” về đâu sau khi thể xác đã chết?

Theo như phần đông các khoa học gia, thì “nhận thức” sẽ mất khi thể xác đã chết, nhưng theo một số ít khoa học gia khác, thì “nhận thức” vẫn hiện hữu. Vì thế người viết sẽ dùng chữ “linh hồn” thay cho chữ “nhận thức” từ đây. Như đã trình bày với quan niệm theo khoa học về năng lượng trong những phần trước, thì “linh hồn” sẽ tồn tại mãi mãi, nhưng sẽ đi về đâu sau khi thể xác đã chết? Đây là một câu hỏi khó trả lời! Tuy nhiên qua những “kinh nghiệm cận tử” (NDE), như Tiến sĩ Venselaar đã đề cập đến trong “Giai đoạn 3: Nơi muốn tới cuối cùng : Nguồn Sáng”, với suy nghĩ cá nhân đặt căn bản trên những điều đã trình bày, người viết thử tưởng tượng và phỏng đoán như sau:

a- Sự rung động của “ánh sáng linh hồn”

“Linh hồn” là “bản thể ánh sáng” (Light Being), với rung động ở một tần số nào đó trong quang phổ điện từ (electromagnetic spectrum). Tùy theo tình cảm, sự cảm nhận, suy nghĩ, rồi đưa đến hành động trong cuộc sống, con người sau khi chết, “ánh sáng” trong quang phổ này có những tần số và “biên độ” (amplitude) khác nhau. Những gì “tốt”, nhận được với tần số nào đó của những “biophotons”, đến với bào thai (fetus) từ trong vũ trụ với một “biên độ” (amplitude) nhỏ. Thí dụ như những “quang tử” này chứa “tín hiệu” về tình yêu, tạm gọi là “sóng ánh sáng tình yêu” (light wave of love) , được “bào thai” (fetus) nhận và lưu trữ trong não.

Nếu trong cuộc sống sau đó có những rung động nào cùng tần số và “cùng pha” (in -phases) được ghi lại trong não, sóng này sẽ được khuếch đại, đây là “sóng kiến tạo” (constructive wave).

Những hận thù, ghen ghét, tham lam, v.v.... trong cuộc sống, sẽ tạo ra những làn sóng khác “pha” (phase), tệ hơn hết là sự kiêu ngạo, 180 độ ngược với sóng từ “Nguồn Sáng”, đây là “sóng hủy diệt” (destructive wave). Nếu có “biên độ” (amplitude) cao, nó sẽ làm “sóng ánh sáng tình yêu” bị xóa mất. Tệ hơn hết là sự kiêu ngạo, 180 độ ngược với sóng từ “Nguồn Sáng”. Những gì “không thanh khiết” (impure) trong cuộc sống, sẽ tạo nên những “tiếng ồn” hay “nhiễu xạ” (noise) và làm “chìm” (signal buried under noise level) những rung động “ánh sáng tinh ròng” (pured light sine wave frequency) của “linh hồn”. Những “rung động ánh sáng” này sẽ không có cùng “điểm giao sóng” (nodes) với tần số của “Nguồn Sáng”, vì thế sẽ không có sự “hòa hợp” (harmonic) [83] hay “cộng hưởng” (resonate) với “Nguồn Sáng”.

b- Tần số của ánh sáng tinh ròng (purified light frequencies)

Mỗi cá nhân có những rung động riêng biệt, để có được “ánh sáng tinh ròng” (pure sinewave light), mỗi người cần phải có những “bộ phận lọc sóng” (wave filter), tương tự như những “bộ lọc RF” (Radio Frequency filters) như trong cellphone, để có thể nhận, hay phát đi tín hiệu chọn lọc đến người đối thoại.

Trong cuộc sống, con người đã có những “rung động hỗn tạp” (mixed vibration) đến từ đời sống hàng bgày, rồi lưu trữ trong não. Để có những “rung động tinh khiết” (pure vibration) như những rung động của “Nguồn Sáng” thì con người phải tự tạo cho mình có những “bộ lọc” (filters), để thanh lọc những tần số (frequencies), pha (phases), “sự nhiễu xạ” (noise), là những rung động đến từ sự kiêu ngạo, độc ác, ghen tương, tham lam, ham mê vật chất, danh vọng, tiền bạc, v.v.. Những “rung động được thanh lọc” này sẽ có những “điểm giao sóng” (nodes), tạo nên “tần số hòa nhập” (harmonic frequencies), hay “cộng hưởng” (resonate) với rung động của “Nguồn Sáng” có tần số căn bản ( fundamental frequency) sau khi thể xác đã chết.


UserPostedImage

Ghi chú: Những “điểm giao sóng” (nodes) là những vòng tròn nhỏ có tô màu, cũng như những chỗ giao nhau của sóng, từ trên xuống dưới: 1rst “harmonic” (tần số căn bản - fundamental frequency) tới 7th “harmonic”.

Nguồn: hxtp://en.wikipedia.org/wiki/Harmonic

c- Tìm về “Nguồn Sáng”

“Linh hồn” là “bản thể ánh sáng”, vì không hợp với “vũ trụ không- thời gian”, nó sẽ muốn, hay bởi một “định luật” nào đó để tìm về với “Nguồn Sáng”. Có hai giai đoạn phụ, theo như trong “Giai đoạn 3” của thuyết “Năm giai đoạn”.

Giai đoạn a,
“Bản thể ánh sáng” sẽ bị cuốn hút vào một “đường hầm” do một “wormhole” (lỗ giun) nhỏ tạo ra để đi đến “bên lề” của “vũ trụ không- thời gian” và vũ trụ song song là “vũ trụ thiên thể” (Astral Universe). Ra khỏi đường hầm, với “kết nối lượng tử” (quantum entanglement), “bản thể ánh sáng” lập tức được nối với “Hệ thống nhận thức lượng tử của VŨ TRỤ ” (CELESTIAL quantum consciousness server).

Với một sự “truy cập” (access) đến theo “lập trình tự động thực hiện” của server (“auto-execution program” ) đã được lập sẵn, với những “bit” là “quang tử”. “Bản thể” sẽ thấy một “bản sao” (copy) của những gì đã xảy ra trong cuộc sống, được “ghi” lại trong “hệ thống” này, hiện ra theo “hình ảnh nổi” (holographic). Đây là sự “xét lại cuộc sống”, rồi cảm nhận được sự hiện hữu cũng như có sự “thần giao cách cảm” (telepathic) với những “bản thể ánh sáng” khác, hay của những người thân mà thể xác đã chết. Điều này xảy ra như các NDE đã tường thuật.

“Bản thể ánh sáng” là tập hợp của quang tử. Nếu có cùng tần số và “cùng pha” (in-phase)“Nguồn Sáng”, hiện tượng “trùng chập lượng tử” (quantum coherence) sẽ xảy ra, tương tự như khi tia laser được phát ra. Nếu “bản thể” có những “quang tử tình yêu” (“love-biophotons”) rung động ở “biên độ” (amplitude) cao, thì “Nguồn ánh sáng Tình Yêu” từ “server” sẽ làm “biên độ” của sóng tình yêu được khuếch đại hơn nữa và “bản thể” cảm nhận được “tình yêu tràn ngập” (overwhelming love), từ “Nguồn ánh sáng Tình Yêu”. Điều này tương tự như 69% NDE đã tường thuật (đã trình bày trong phần trước).



UserPostedImage

Nguồn: hxtp://guweb2.gonzaga.edu/faculty/cronk/CHEM101pub/L06-index.cfm?L06resource=EM-waves


Những “bản thể ánh sáng” không thích hợp vì không cùng tần số, hay “khác pha” (out-of-phase) với “Nguồn Sáng”, thì sẽ có những rối loạn với ánh sáng của chính họ, do sự pha trộn các sóng (mixed signals), những biên độ (amplitude) về làn sóng ánh sáng của họ sẽ bị dao động, thí dụ như những rung động của “quang tử tình yêu” (“love-biophotons”) có thể suy giảm và chìm trong mức “nhiễu xạ” (noise level) hay mất hẳn nếu ngược “phase” (180 độ)với “Nguồn Sáng”, nên họ từ chối cũng như tránh né sự hội nhập.

“Tình yêu tinh khiết” (pure love) là những rung động của “ánh sáng tình yêu” với “tần số căn bản” (fundamental frequency), có sóng “hình sine tinh ròng” (pure sine wave) không có sự nhiễu xạ (noise). Những rung động về “kiến thức” hay sự “cảm nhận” cũng tương tự như những rung động của “tình yêu”. Đầy tình yêu sẽ đưa đến trạng thái an bình, sung sướng. Mất tình yêu sẽ đưa đến những độc ác, hận thù, ganh ghét, tham lam, v.v...

Giai đoạn b
Những “bản thể ánh sáng” bên lề của “vũ trụ không-thời gian” thấy một “hố đen” (black hole) khổng lồ với sức hút cực kỳ mạnh, kết nối với một “hố trắng” (whitehole) tạo thành một “lỗ giun liên vũ trụ” (inter- universe wormhole), đây là “cổng” để sang “vũ trụ thiên thể” (astral universe) song song với “vũ trụ không-thời gian”, nơi có những “ánh sáng lung linh huyền ảo” (subtle vibrations of light) - “ánh sáng thiên đàng”. Để vào vũ trụ này, “bản thể ánh sáng” có cùng những rung động với “ánh sáng thiên đàng”, sẽ được cuốn hút vào “hố đen” khổng lồ, đi qua “cổng” để sang vũ trụ này.

Những “bản thể ánh sáng” không có cùng “rung động” với vùng “ánh sáng huyền ảo” từ chối qua cửa, vì thấy không “thích hợp”, hay được một “bản thể ánh sáng cao hơn về tâm linh” khác bảo họ phải vào lại “lỗ giun nhỏ” để trở lại “vũ trụ không-thời gian”.

- Những “linh hồn” (“bản thể ánh sáng”) trở về có thể hội nhập vào thể xác của mình nếu chưa chết hẳn, như những người có “kinh nghiệm cận tử” (NDE).

- Trường hợp khác là “họ” có thể “đầu thai”, để có một cuộc sống tinh thần cao hơn, hầu có được sự giao hưởng với vùng “ánh sáng thiên đàng” sau này.

- Có những “linh hồn” khác trở lại vũ trụ này, dù muốn đến với “ánh sáng thiên đàng”, nhưng cảm thấy không có những “rung động thích hợp”, nên tự tìm cách để nhận ánh sáng thích hợp trong vũ trụ không-thời gian, hầu có “biên độ” (amplitude) cao hơn và giảm sự “nhiễu xạ” (noise) để có được những rung động tinh khiết hơn. Tuy nhiên họ không có “phương tiện” tạo những “bộ phận lọc sóng” để làm cho sóng tinh khiết hơn như những “linh hồn” trong thân xác còn sống.

Những người còn sống có thể giúp họ thanh lọc các rung động của những quang tử “khác pha” (out- of- phase) và khác tần số bằng hiện tượng “nối kết lượng tử” (quantum entanglement), đó là sự “thành tâm cầu nguyện”. Loài người đã có những “nối kết lượng tử” từ lâu (DNA của loài người giống nhau rất nhiều, DNA phát ra “biophotons” như đã trình bày trong phần trước), đặc biệt là những người thân yêu, hiện tượng “trùng chập lượng tử” (quantum coherence) càng dễ xảy ra hơn nhiều để nâng cao “biên độ” (amplitude) rung động của “Ánh sáng thiên đàng”.
Thí nghiệm của Vật lý gia William A. Tiller cùng các cộng sự viên đã chứng tỏ là năng lực của sự tập trung trí óc có thể làm biến đổi tính chất của vật thể. Biến đổi sự rung động của quang tử sẽ ít tốn năng lượng hơn và sẽ có hiệu quả hơn (?)

- Những “linh hồn” từ chối những “rung động của sự yêu thương”, “cảm nhận” và “trí tuệ” thì những rung động này bị mất. Không còn thương yêu thì chỉ là những hận thù, ghen ghét và khổ ải. Không còn rung động của ánh sáng thì chỉ là bóng tối dày đặc. Không còn trí tuệ thì không biết là “bản thể” vẫn còn có tự do (free will), để có thể tự “giải thoát” cho chính mình. Điều này đã được đề cập đến trong “kinh nghiệm cận tử” (NDE) của giáo sư Howard Storm (đã được đề cập tới trong “kinh nghiệm cận tử” của ông ).

Ghi chú:

[81] hxtp://biontologyarizona.com/dr-fritz-albert-popp/ : Prof. Fritz-Albert Popp: “We know today that man, essentially, is a being of light.

[82] White Paper I: “A Brief Introduction to Intention-Host Device Research” by William A. Tiller, Ph.D. and Walter E. Dibble, Jr., Ph.D (hxtp://www.tillerfoundation.com/White%20Paper%20I.pdf) : “I and my colleagues have discovered that it is possible to make a significant change in the properties of a material substance by consciously holding a clear intention to do so. For example, we have repeatedly been able to change the acid/alkaline balance (pH) in a vessel of water either up or down, without adding chemicals to the water, by creating an intention to do so”.
Xin tạm dịch: “Tôi và các đồng nghiệp đã phát hiện ra rằng có thể làm một sự thay đổi đáng kể trong các thuộc tính của một chất liệu, với ý thức là có một ý định rõ ràng để làm như vậy. Thí dụ, chúng tôi nhiều lần đã có thể thay đổi sự cân bằng axid / kiềm (pH) lên hoặc xuống trong một chậu nước, mà không cần thêm hóa chất vào nước, bằng cách tạo ra một ý định làm như vậy”.

[83] hxtp://en.wikipedia.org/wiki/Harmonic
“Harmonic: frequency of the signal that is an integer multiple of the fundamental frequency i.e. if the fundamental frequency is f, the harmonics have frequencies 2f, 3f, 4f, . . . etc.”
Xin tạm dịch: “Tần số hòa hợp” (harmonic frequency) của tín hiệu là một bội số của tần số căn bản (fundamental frequency), nếu tần số căn bản là f, thì những “tần số hòa hợp” là 2f, 3f, 4f,. v.v...

Kết luận

(Còn tiếp)

Edited by user Monday, March 31, 2014 1:12:24 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#474 Posted : Wednesday, March 12, 2014 5:29:41 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Không-Thời Gian và Linh Hồn
(Spacetime and Soul)


(Tiếp theo)

Kết luận

Mục đích của bài viết này là để trình bày về một lĩnh vực tâm linh, đó là muốn tìm hiểu về sự hiện hữu của “linh hồn”. Linh hồn từ đâu mà có? Nếu hiện hữu thì đi về đâu sau khi thể xác đã chết? Với ước muốn là sự suy nghĩ này đưa đến “sự tin tưởng” (belief), đặt căn bản trên khoa học, không liên quan đến “đức tin” (faith) đã được dạy từ trước, hy vọng là có thể chia sẻ với những người muốn tìm hiểu về vấn đề này.

“Linh hồn” là một thuật ngữ (terminology) mà giới khoa học không muốn đề cập tới, vì chữ này đi vào lĩnh vực tôn giáo. Họ dùng chữ “nhận thức” (consciousness) để chỉ về phần tinh thần của con người như sự cảm nhận, ý thức, kiến thức,... như là một “sản phẩm” của não bộ. “Nhận thức” hay cũng như “linh hồn” có bản thể là “ánh sáng”, với một tần số nào đó trong quang phổ điện từ (electromagnetic spectrum). Vì "linh hồn" có tốc độ của ánh sáng nên không có thời gian với “linh hồn” (luật “tương đối đặc biệt”). “Linh hồn” là năng lượng nên không do não kiến tạo mà não chỉ có thể biến chuyển năng lượng này (luật bảo toàn năng lượng). Do đó con người không thể tạo nên “linh hồn” và “linh hồn” tồn tại mãi mãi.

Có những "sự việc" tỏ về sự hiện hữu của “linh hồn”, đó là những tường thuật của những người có “kinh nghiệm cận tử” (NDE- neardeath experience), cùng với những trường hợp về sự “luân hồi”. Tuy nhiên những điều này không thể chứng minh theo như tính cách khoa học ngày nay.

Khoảng “trống” trong vũ trụ “không-thời gian” này không “hoàn toàn trống rỗng”, mà có dày đặc những quang tử chứa “tín hiệu” (information). Có thể có sự “nối kết lượng tử” của những “quang tử của sự sống” (“biophotons”) từ vũ trụ này (vũ trụ không-thời gian) với “vũ trụ song song” (?), hay còn được gọi là “vũ trụ thiên thể” (astral universe).

Hiện tượng “nối kết lượng tử” (Quantum Entanglement) là một sự khó hiểu đối với khoa học ngày nay, dù đang được thí nghiệm để chuyển những “ ‘bit’ lượng tử” (Quantumbit - Qbit) qua khoảng cách (quantum teleporting), với tốc độ nhanh hơn ánh sáng rất nhiều lần và gần như lập tức [84]. Có thể có sự “nối kết lượng tử” của sự “nhận thức” từ vũ trụ này với “vũ trụ song song” (?).

Sự sống của con người (hay của các động vật) được thành lập ngay khi có sự thụ thai do hai “programs” khổng lồ với khoảng 3 tỷ mã số (A-C-G-T codes, Genome project [85]) từ DNA của “giao tử” (sperm cell) và “trứng” (egg cell) hợp lại. Sự vận hành (processing)gần như lập tức được xảy ra, một tế bào mới được thành lập, sau đó tế bào này tách ra và số lượng được nhân lên gấp bội, để từ từ tạo thành một “phôi thai” (embryo), rồi chuyển sang thời kỳ “bào thai” (fetus).

Từ khi tế bào thần kinh của “bộ nhớ” được thành lập trong não bộ, sự “nhận thức” bắt đầu khởi động. Có lẽ “nhận thức” là sở hữu của “linh hồn” (dù rằng hai chữ này đã được coi như một, “nhận thức” với tính cách khoa học và “linh hồn” với tính cách tâm linh). Tuy nhiên “linh hồn” hiện hữu từ lúc nào trong bào thai đã là một câu hỏi lớn, vì điều này liên quan đến vấn đề tôn giáo (như việc phá thai). Như đã trình bày trong phần trước,“linh hồn” là ánh sáng, đến với bào thai như ánh sáng (có thể bằng cách “nối kết lượng tử”, hay rung động điện từ), ra đời với một thân xác có “linh hồn” là ánh sáng. Rồi thể xác chết đi, nhưng “linh hồn” vẫn tồn tại với bản thể là ánh sáng.

Để có những rung động có thể hòa hợp được với “Nguồn Sáng” sau khi thể xác đã chết, trong đời sống, “linh hồn” của con người phải có những trau dồi, học tập những điều tốt để nâng cao “biên độ” (amplitude) sóng ánh sáng thanh khiết của linh hồn. Tuy nhiên trong cuộc sống, những điều không tốt làm cho ánh sáng của linh hồn không còn “tinh tuyền” (pure sine wave), vì đã bị pha trộn (mixed) bởi những tần số khác (frequencies) hay khác “pha” (out- of- phase) cũng như sự “nhiễu xạ” (noise) mà hầu như không có ai tránh khỏi. Nói theo tính cách tôn giáo thì đây là những tội lỗi con người phạm. Vậy trong đời sống, con người phải tự tạo những bộ lọc (filters) cho chính mình, rồi khuếch đại (amplify) bằng những hành động tốt, để có được những sóng ánh sáng thanh kiết với “biên độ” cao, hầu có thể “hòa hợp” với “Nguồn Sáng” sau khi đã cởi bỏ “chiếc áo” là thể xác con người.

Có lẽ một ngày nào đó trong tương lai, khoa học và tâm linh sẽ đến gần với nhau. Trong sách “Đạo của Vật Lý” (“The Tao of Physics”), vật lý gia Fritjof Capra đã viết trong phần kết luận [86] (xin tạm trích và dịch):

“Trong cuộc sống hàng ngày, cả hai quan điểm về vũ trụ với tính cách cơ học (mechanistic) và hữu cơ (organic) đều có giá trị và hữu ích, một cho khoa học và công nghệ, một cho tính cách cân bằng và trọn vẹn về đời sống tinh thần. Tuy nhiên, ngoài phạm vi môi trường hàng ngày của chúng ta, những khái niệm cơ giới bị mất hiệu lực và phải được thay thế bằng khái niệm hữu cơ rất giống như những đạo gia (mystics).
...
Ngược lại với các đạo gia, vật lý gia bắt đầu tìm hiểu về bản chất tự nhiên của sự vật bằng cách nghiên cứu thế giới vật chất. Nhập vào cõi sâu xa hơn của lĩnh vực vật chất, họ đã ý thức được sự thống nhất cần thiết của các vật và sự kiện. Hơn thế nữa, họ cũng đã học được rằng bản thân họ và sự nhận thức (consciousness) của họ là một phần của sự hiệp nhất này. Do đó, đạo gia và vật lý gia đến cùng một kết luận, một kẻ bắt đầu từ lĩnh vực bên trong, người kia từ thế giới bên ngoài”.


Câu cuối cùng này tương tự như "mục đích đời sống" của Msgr. Georges Lemaitre “người cha của thuyết Big Bang”: “Có hai cách để đi đến sự thật và tôi đã chọn cả hai[87].

Trước khi chấm dứt, người viết xin phép trích dẫn vài câu viết (lịch sử) có tính cách tôn giáo, liên quan đến vấn đề đã nêu trên :

Thánh Kinh Tân Ước của Thiên Chúa giáo: “4 Ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (John 1-4); “Ta là ánh sáng thế gian” (John 8-12); “14 Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Matthew 5-14).

Kinh “The Bhagavad Gita”[88] của Ấn Độ giáo, bản dịch bằng Anh ngữ của Shri Purohit Swami, người viết xin tạm phiên âm:
“ ..., Ở đó, nơi mà toàn bộ bản chất được nhìn thấy trong ánh sáng của chính mình,....” ; “Ngài bất diệt, Sự Duy Nhất xứng đáng để biết đến, là kho tàng vô giá của vũ trụ, là Giám Hộ của cuộc sống vĩnh cửu, Thần Linh (spirit) vĩnh hằng. Không có khởi đầu, không có bây giờ, không có tận cùng, quyền năng vô hạn, “cánh tay” Ngài ôm trọn mặt trời và mặt trăng, mắt và mặt Ngài rực sáng với lửa hy sinh, tràn ngập toàn vũ trụ với ánh sáng”.



Ghi chú:

[84] hxtp://www.dailygalaxy.com/my_weblog/2013/04/quantum-space-network-between-earth-and-the-iss-10000-times-the-speed-of-light-1.html

[85] hxtp://www.genome.gov/11006943

[86] The Tao of physics, Fritjof Capra, 4th edition, 1999, page 305: “In everyday life, then, both the mechanistic and the organic views of the universe are valid and useful; the one for science and technology, the other for a balanced and fulfilled spiritual life. Beyond the dimensions of our everyday environment, however, the mechanistic concepts lose their validity and have to be replaced by organic concepts which are very similar to those used by the mystics.
...
In contrast to the mystic, the physicist begins his enquiry into the essential nature of things by studying the material world. Penetrating into ever deeper realms of matter, he has become aware of the essential unity of all things and events. More than that, he has also learnt that he himself and his consciousness are an integral part of this unity. Thus the mystic and the physicist arrive at the same conclusion; one starting from the inner realm, the other from the outer world.


[87] hxtp://ebookbrowsee.net/god-the-multiverse-and-everything-pdf-d85451232 : ‘There are two ways to truth and I have chosen them both.’

[88] hxtp://d23a3s5l1qjyz.cloudfront.net/wp-content/uploads/2012/10/Bhagavad-Gita.pdf


Trần Việt Bắc
Lakewood, California
3/12/2014

Edited by user Monday, March 31, 2014 1:18:51 PM(UTC)  | Reason: Not specified

CNH  
#475 Posted : Sunday, March 16, 2014 1:26:51 PM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Nối gót Jesus & ước vọng hòa bình

Hầu như ai cũng mong ước thế giới được hòa bình; nhưng điều đó chưa bao giờ xảy ra.

Các chủ thuyết về hòa bình đều thất bại; như chủ nghĩa cộng sản chẳng hạn; họ đề xướng một thế giới đại đồng, sống chung hòa bình... nghe rất hấp dẫn, nhiều người mê. Đến khi thực hành thì không được. Chẳng những không được, họ còn tạo thêm chiến tranh khốc liệt giữa các ý thức hệ. Thất bại, vì họ dùng độc tài, sắt máu để kiến tạo hòa bình theo kiểu “mười phần chết bảy còn ba, chết hai còn một mới ra thái bình”.

Nếu là “một” người thì họa may; chứ không thể nào là một dân tộc, một nước, một đảng hay một tôn giáo...; vì hòa bình theo kiểu đó có nghĩa là mạnh được, yếu thua. Mà đã như thế thì trong một cộng đoàn, thế nào cũng có kẻ yếu, người mạnh; rồi trở lại mạnh hiếp yếu; lại xảy ra bất công, bất hòa và chiến tranh. Còn nếu là “một” người, thì chắc là không có ai mơ ước sống một mình; vì như thế thì cô đơn, buồn tẻ... chán lắm; đến khi người đó chết rồi thì thế giới nầy sẽ không còn người. Như vậy là không thể được.

Các chính trị gia thường hứa hẹn thực thi hòa bình, hội thảo về hòa bình trong nhiều thập kỉ qua; đến nay hòa bình vẫn chưa ló dạng.
Các tôn giáo đều cầu nguyện cho hòa bình đã nhiều ngàn năm qua, cũng chưa đi đến đâu; bởi vì họ cầu theo cách chỉ ỷ lại vào Ơn Trên, mà không biết tự mình sống một lối thích hợp nhất để có hòa bình. Thiết tưởng Ơn Trên không thể chấp nhận lối sống sai trái của loài người rồi ban hòa bình miễn phí.

Vậy thì chính chúng ta phải quyết tâm thể hiện đức hạnh trong lối sống trước đã; rồi Ơn Trên mới phù trợ thêm cho. Ơn Trên đã gởi Jesus đến thế gian, để dạy người ta cách sống sao cho được hòa bình; nhưng vì Jesus đã dạy những điều ngược đời, trái tai, như là: yêu kẻ thù; đưa má kia cho chúng tát, nâng đở kẻ yếu...liền bị các nhà “đạo đức” Do Thái thời bấy giờ tìm cách tiêu diệt.

Đường lối của Jesus đã bị các chức sắc trong giáo hội truyền đạo theo lối ép buộc. Họ tìm cách giải thích Thánh Kinh và chế biến thêm những tín điều, những phép bí tích, điều luật, lễ tục, công thức...sao cho thích hợp với quyền và lợi phàm tục của họ. Tín đồ phải tuyệt đối vâng theo. Họ bảo đó là “đức” vâng lời; hoặc như vậy mới là “đức tin”... Do đó đến nay xã hội vẫn nhiểu nhương, tranh chấp...

Tôi đã nêu lên những đề tựa khác nhau với những tư tưởng có vẻ ngược đời, không giống ai; bởi vì nếu giống ai thì viết làm gì? Vết cũ, lối mòn đã bị lệch lạc khá xa rồi; chẳng lẽ biết lạc đường mà cứ tiếp tục đi?

Jesus xưa dầu biết nếu rao truyền những tư tưởng nghịch với bộ luật rườm rà của Do Thái giáo, sẽ phải bị rắc rối, bị kết án tử hình; Ngài vẫn cứ làm để cứu nhân độ thế. Nay chúng ta may mắn hơn nhiều; được sống trong hoàn cảnh tự do phát biểu tư tưởng, thì ngại gì những nghịch ý, những chống đối...mà không dấn thân?

Những đề nghị của người viết nhằm mục đích giúp độc giả sống vui; cộng đồng hài hòa, xã hội lí tưởng và sau cùng là một thế giới hoà bình trong yêu thương, mà Jesus đã chủ trương hơn hai ngàn năm trước.

Những tư tưởng “ngược đời” nầy dĩ nhiên sẽ gây khó chịu nhiều cho các độc giả tín đồ “ngoan đạo”; vì đã nêu lên những điểm có hại trong các định kiến, quán tính, lễ tục, công thức... theo niềm tin mơ hồ, như là: các ẩn dụ mà họ cứ tưởng là thật, vì đã không được giải thích rõ; cho nên có người bảo “Sách viết cái gì thấy cũng có lí hết, nhưng mà không được”.

Cũng có kẻ bảo “ông là ai mà dám chỉ trích bao hệ thống tôn giáo đồ sộ xưa nay”; kẻ khác lại bảo: tên vô danh tiểu tốt nầy sao quá kiêu ngạo, đến độ dám đòi nối gót Jesus? Xin thưa: Jesus cũng chỉ là một ông thợ mộc “tầm thường”, nơi quê mùa hẻo lánh Nazareth đó thôi; chẳng phải là luật gia hay học giả gì đâu! Có lẽ thất học nữa là khác. Có điều, đặc điểm của Ngài là dạy những việc khó làm quá; nhưng nếu làm được, sẽ tạo nên xã hội lí tưởng, nhờ đó thế giới mới được hòa bình./.

CNH
1-2014

Edited by user Sunday, March 16, 2014 1:31:15 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#476 Posted : Friday, April 25, 2014 6:02:21 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Đông A đọc thấy một cái “quiz” khá hay, xin nêu lên để chúng ta biết về sự THA THỨ của chính chúng ta.

Đây là các câu “thử nghiệm” về sự tha thứ (đã tạm dịch như bên dưới), đặt căn bản trên tổng kết về kinh nghiệm của những người có “trải nghiệm về việc cận tử” (Near Death Experiences - Với rất nhiều trường hợp) kể lại.

Đông A xin tạm phiên dịch từ trang :
htxp://aleroy.com/q1463869.htm

Mục tiêu : Trả lời câu hỏi một cách chính xác với 9 điểm trên 10 (hay 10) sẽ đi sang bước kế tiếp (trong trang web nêu trên). Tuy nhiên trang web này sẽ không cho quý vị sang trang kế, nếu không được 9 điểm hay 10 (đặt căn bản trên những “kinh nghiện cận tử” của tác giả đã thu thập - từ trang web trên). Đông A sẽ đưa ra các câu trả lời sau (theo như trang web trên).


“Thử nghiệm” (test) về sự tha thứ (forgiveness)
_______________________________________
A1. Ai nhận được những lợi ích nhất từ sự tha thứ ?
a- Người tha thứ.
b- Người được tha thứ.
c- Cả hai được hưởng lợi như nhau.
d- Không có lợi ích gì.

A2 . Tại sao sự tha thứ lại quan trọng?
a- Nó giải trừ cảm giác tội lỗi.
b- Để sự tha thứ không còn bị trói buộc .
c- Xóa bỏ thái độ.
d- Để cho người tha thứ có tự do.

A3 . Khi nào bạn nên tha thứ ?
a- Ngay sau khi bạn được yêu cầu.
b- Trước khi bạn được yêu cầu.
c- Ngay khi bạn cảm thấy bị tổn thương.
d- Sau khi họ nói xin lỗi.

A4 . Bạn nên tha thứ cho ai?
a- Gia đình và bạn bè.
b- Kẻ thù và những người khác mà bạn không thích.
c- Những sự kiện, diễn biến, làm tổn thương bạn.
d- Tất cả các điều nêu trên.

A5 . Những điều gì mà bạn nên tha thứ ?
a- Những chuyện nhỏ nhặt, những sự bực mình, v.v...
b- Tất cả mọi thứ nên được tha thứ.
c- Trộm cắp, lừa đảo, giết người, v.v...
d- Hầu hết mọi thứ nên được tha thứ.

A6 . Tại sao lại phải bận tâm để tha thứ cho bất cứ ai ?
a- Bởi vì nó làm vui lòng Thiên Chúa.
b- Đó là điều phải làm.
c- Nó làm bạn bước ra khỏi quá khứ.
d- Tất cả các điều nêu trên.

A7 . Bạn nên tha thứ cho một người bao nhiêu lần ?
a- Bằng số lần họ xúc phạm đến bạn.
b- Bảy mươi lần bảy.
c- Một hoặc hai lần là đủ.
d- Cho đến khi người đó lớn và được học hỏi nhiều hơn.

A8 . Trong những điều kiện nào Thiên Chúa tha thứ cho con người?
a- Khi con người cầu nguyện cho sự tha thứ.
b- Khi con người ăn năn và thay đổi.
c- Thiên Chúa không cần phải tha thứ cho con người.
d- Không có những điều nêu trên.

A9 . Có phải có những điều không thể tha thứ được?
a- Đúng, những thứ như tự tử.
b- Không.
c- Không chắc chắn.
d- Nếu không có những điều không thể tha thứ, thì nên có.

A10 . Người khó tha thứ nhất để bạn có thể tha thứ là ai?
a- Chính mình.
b- Mẹ chồng, mẹ vợ.
c - Kẻ thù của bạn.
d- Tất cả các điều nêu trên.



Bước thứ 2

B1. Ý nghĩa về quan điểm của sự phán xét từ “Thực Thể với Tinh Thần Vĩ Đại” là gì?
a- Có biện pháp xứng đáng.
b- Là thước đo về giá trị.
c- Là thước đo về sự tinh khiết.
d- Tất cả các điều nêu trên.

B2 . Tại sao phán xét này lại rất quan trọng?
a- Nó không phải là điều quan trọng , nhưng nó có thể chỉ ra những lỗi lầm.
b- Để quyết định về sự trừng phạt hay khen thưởng.
c- Để chứng tỏ ta là con người.
d- Phán xét là niềm vui .

B3 . Khi nào bạn nên đánh giá hay phán xét người khác ?
a- Ngay sau khi bạn nhìn thấy sai lầm của mình.
b- Trên những điều gì người khác nói về mình.
c- Không bao giờ.
d- Vào những gì bạn biết về họ là loại người nào.

B4 . Khi nào bạn nên đánh giá hoặc phán xét chính mình ?
a- Ngay sau khi bạn làm điều sai lầm.
b- Khi những người khác đánh giá hoặc chỉ trích bạn.
c- Ngay sau khi cảm tự cảm thấy là mình tốt.
d- Không bao giờ.

B5 . Những điều nên được phán xét ?
a- Những việc nhỏ, những điều bực mình, v.v...
b- Tất cả mọi thứ nên được phán xét.
c- Không có gì nên phán xét.
d- Những điều làm cho bạn cảm thấy xấu xa.

B6 . “Không có trường hợp ngoại lệ” về luật của sự phán xét , hoặc công lý?
a- Những gì tương đồng thu hút lẫn nhau (“like that attracts like”).
b- Bạn sẽ gặt hái những gì bạn gieo (nhân quả).
c- Những gì bạn làm cho người khác là bạn làm cho chính mình.
d- Tất cả các điều nêu trên.

B7 . Thiên Chúa phán xét toàn thể nhân loại như thế nào?
a- Bằng cách cho chúng ta những khó khăn và bệnh tật.
b- Thiên Chúa không bao giờ phán xét ai.
c- Với lòng thương xót và tha thứ.
d- Với hình phạt và phần thưởng.

B8 . Tại sao Thiên Chúa không trừng phạt / phán xét thế giới này để làm cho nó tốt hơn?
a- Bản chất của Thiên Chúa là tình yêu vô điều kiện.
b- Thiên Chúa không quan tâm những gì chúng ta làm.
c- Thiên Chúa không hiện hữu.
d- Ngài đang bận rộn với những thứ khác.

B9 . Trong “trường hợp cận tử” , trong việc “xem xét lại cuộc sống”, ai là người xét xử mình ?
a- Thiên Chúa.
b- Chính là mình.
c- Thiên thần và các bản thể ánh sáng (light beings).
d- Tất cả các điều nêu trên.

B10 . Người phán xét cuối cùng về cuộc sống của bạn là ai ?
a- Vợ hoặc chồng của bạn.
b- Thiên Chúa.
c- Chính là bạn.
d- Đồng nghiệp của bạn.


Bước thứ 3

C1. Định nghĩa của tình yêu thật sự là gì?
a- Một cảm xúc.
b- Một trạng thái của tâm trí.
c- Một lực hay sức mạnh.
d- Quan hệ về tình dục.

C2 . Đặc tính của tình yêu thật sự là gì?
a- Đó là tình yêu vô điều kiện.
b- Đó là tình yêu toàn thể (univesal).
b- Tình yêu thật sự giữ tất cả mọi thứ lại với nhau.
d - Tất cả các điều nêu trên.

C3 . Ai hưởng lợi nhiều nhất từ tình yêu?
a- Người được yêu.
b- Người yêu kẻ khác.
c - Cả người được yêu người yêu kẻ khác đượng hưởng lợi như nhau.
d- Cả hai không có lợi ích gì.

C4 . Bạn nên yêu ai ?
a- Gia đình và bạn bè.
b- Những người yêu bạn.
c- Tất cả mọi người.
d- Kẻ thù của bạn.

C5 . Những điều bạn nên yêu ?
a- Rau dền (spinach) và bông cải xanh (broccili).
b- Những điều không thể yêu nổi.
c- Những điều đáng yêu.
d - Tất cả các điều nêu trên.

C6 . Tại sao bạn lại phải bận tâm để yêu người khác?
a- Bởi vì nó là tốt cho bạn.
b- Đó là điều phải làm.
c- Điều này tạo nên bạn hữu.
d- Bởi vì nó làm vui lòng Thiên Chúa.

C7 . Bạn thường nên yêu kẻ khác ?
a- Thường xuyên như bạn có thể.
b- Tất cả mọi lúc.
c- Khi bạn nghĩ về nó.
d- Hầu hết thời gian.

C8 . Thiên Chúa yêu con người trong những điều kiện nào ?
a- Trong mọi điều kiện và mọi lúc.
b- Khi con người khẩn cầu cho tình yêu.
c- Khi con người theo ý muốn của Thiên Chúa.
d- Không có điều gì đã nêu ở trên.

C9 . Có ai không nên yêu ?
a- Có, những thứ như oatmeal.
b- Không.
c- Không chắc chắn.
d- Nếu không có thứ không nên yêu thì cần có.

C10 . Người khó làm cho bạn yêu nhất là ai?
a- Chính mình.
b- Mẹ chồng, mẹ vợ.
c- Kẻ thù của bạn.
d - Tất cả các điều nêu trên.


Chúc bình an.


Edited by user Friday, April 25, 2014 6:10:41 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#477 Posted : Saturday, April 26, 2014 4:04:03 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Câu trả lời sẽ được tô xanh với chữ nghiêng (italic), đặt căn bản trên tổng kết về kinh nghiệm của những người có “trải nghiệm về việc cận tử” (Near Death Experiences - Với rất nhiều trường hợp) kể lại:

Originally Posted by: DongA Go to Quoted Post


“Thử nghiệm” (test) về sự tha thứ (forgiveness)
_______________________________________
A1. Ai nhận được những lợi ích nhất từ sự tha thứ ?
a- Người tha thứ.
b- Người được tha thứ.
c- Cả hai được hưởng lợi như nhau.
d- Không có lợi ích gì.

A2 . Tại sao sự tha thứ lại quan trọng?
a- Nó giải trừ cảm giác tội lỗi.
b- Để sự tha thứ không còn bị trói buộc .
c- Xóa bỏ thái độ.
d- Để cho người tha thứ có tự do.

A3 . Khi nào bạn nên tha thứ ?
a- Ngay sau khi bạn được yêu cầu.
b- Trước khi bạn được yêu cầu.
c- Ngay khi bạn cảm thấy bị tổn thương.
d- Sau khi họ nói xin lỗi.

A4 . Bạn nên tha thứ cho ai?
a- Gia đình và bạn bè.
b- Kẻ thù và những người khác mà bạn không thích.
c- Những sự kiện, diễn biến, làm tổn thương bạn.
d- Tất cả các điều nêu trên.

A5 . Những điều gì mà bạn nên tha thứ ?
a- Những chuyện nhỏ nhặt, những sự bực mình, v.v...
b- Tất cả mọi thứ nên được tha thứ.
c- Trộm cắp, lừa đảo, giết người, v.v...
d- Hầu hết mọi thứ nên được tha thứ.

A6 . Tại sao lại phải bận tâm để tha thứ cho bất cứ ai ?
a- Bởi vì nó làm vui lòng Thiên Chúa.
b- Đó là điều phải làm.
c- Nó làm bạn bước ra khỏi quá khứ.
d- Tất cả các điều nêu trên.

A7 . Bạn nên tha thứ cho một người bao nhiêu lần ?
a- Bằng số lần họ xúc phạm đến bạn.
b- Bảy mươi lần bảy.
c- Một hoặc hai lần là đủ.
d- Cho đến khi người đó lớn và được học hỏi nhiều hơn.

A8 . Trong những điều kiện nào Thiên Chúa tha thứ cho con người?
a- Khi con người cầu nguyện cho sự tha thứ.
b- Khi con người ăn năn và thay đổi.
c- Thiên Chúa không cần phải tha thứ cho con người.
d- Không có những điều nêu trên.

A9 . Có phải có những điều không thể tha thứ được?
a- Đúng, những thứ như tự tử.
b- Không.
c- Không chắc chắn.
d- Nếu không có những điều không thể tha thứ, thì nên có.

A10 . Người khó tha thứ nhất để bạn có thể tha thứ là ai?
a- Chính mình.
b- Mẹ chồng, mẹ vợ.
c - Kẻ thù của bạn.
d- Tất cả các điều nêu trên.



Bước thứ 2

B1. Ý nghĩa về quan điểm của sự phán xét từ “Thực Thể với Tinh Thần Vĩ Đại” là gì?
a- Có biện pháp xứng đáng.
b- Là thước đo về giá trị.
c- Là thước đo về sự tinh khiết.
d- Tất cả các điều nêu trên.

B2 . Tại sao phán xét này lại rất quan trọng?
a- Nó không phải là điều quan trọng , nhưng nó có thể chỉ ra những lỗi lầm.
b- Để quyết định về sự trừng phạt hay khen thưởng.
c- Để chứng tỏ ta là con người.
d- Phán xét là niềm vui .

B3 . Khi nào bạn nên đánh giá hay phán xét người khác ?
a- Ngay sau khi bạn nhìn thấy sai lầm của mình.
b- Trên những điều gì người khác nói về mình.
c- Không bao giờ.
d- Vào những gì bạn biết về họ là loại người nào.

B4 . Khi nào bạn nên đánh giá hoặc phán xét chính mình ?
a- Ngay sau khi bạn làm điều sai lầm.
b- Khi những người khác đánh giá hoặc chỉ trích bạn.
c- Ngay sau khi cảm tự cảm thấy là mình tốt.
d- Không bao giờ.

B5 . Những điều nên được phán xét ?
a- Những việc nhỏ, những điều bực mình, v.v...
b- Tất cả mọi thứ nên được phán xét.
c- Không có gì nên phán xét.
d- Những điều làm cho bạn cảm thấy xấu xa.

B6 . “Không có trường hợp ngoại lệ” về luật của sự phán xét , hoặc công lý?
a- Những gì tương đồng thu hút lẫn nhau (“like that attracts like”).
b- Bạn sẽ gặt hái những gì bạn gieo (nhân quả).
c- Những gì bạn làm cho người khác là bạn làm cho chính mình.
d- Tất cả các điều nêu trên.

B7 . Thiên Chúa phán xét toàn thể nhân loại như thế nào?
a- Bằng cách cho chúng ta những khó khăn và bệnh tật.
b- Thiên Chúa không bao giờ phán xét ai.
c- Với lòng thương xót và tha thứ.
d- Với hình phạt và phần thưởng.

B8 . Tại sao Thiên Chúa không trừng phạt / phán xét thế giới này để làm cho nó tốt hơn?
a- Bản chất của Thiên Chúa là tình yêu vô điều kiện.
b- Thiên Chúa không quan tâm những gì chúng ta làm.
c- Thiên Chúa không hiện hữu.
d- Ngài đang bận rộn với những thứ khác.

B9 . Trong “trường hợp cận tử” , trong việc “xem xét lại cuộc sống”, ai là người xét xử mình ?
a- Thiên Chúa.
b- Chính là mình.
c- Thiên thần và các bản thể ánh sáng (light beings).
d- Tất cả các điều nêu trên.

B10 . Người phán xét cuối cùng về cuộc sống của bạn là ai ?
a- Vợ hoặc chồng của bạn.
b- Thiên Chúa.
c- Chính là bạn.
d- Đồng nghiệp của bạn.


Bước thứ 3

C1. Định nghĩa của tình yêu thật sự là gì?
a- Một cảm xúc.
b- Một trạng thái của tâm trí.
c- Một lực hay sức mạnh.
d- Quan hệ về tình dục.

C2 . Đặc tính của tình yêu thật sự là gì?
a- Đó là tình yêu vô điều kiện.
b- Đó là tình yêu toàn thể (univesal).
b- Tình yêu thật sự giữ tất cả mọi thứ lại với nhau.
d - Tất cả các điều nêu trên.

C3 . Ai hưởng lợi nhiều nhất từ tình yêu?
a- Người được yêu.
b- Người yêu kẻ khác.
c - Cả người được yêu người yêu kẻ khác đượng hưởng lợi như nhau.
d- Cả hai không có lợi ích gì.

C4 . Bạn nên yêu ai ?
a- Gia đình và bạn bè.
b- Những người yêu bạn.
c- Tất cả mọi người.
d- Kẻ thù của bạn.

C5 . Những điều bạn nên yêu ?
a- Rau dền (spinach) và bông cải xanh (broccili).
b- Những điều không thể yêu nổi.
c- Những điều đáng yêu.
d - Tất cả các điều nêu trên.

C6 . Tại sao bạn lại phải bận tâm để yêu người khác?
a- Bởi vì nó là tốt cho bạn.
b- Đó là điều phải làm.
c- Điều này tạo nên bạn hữu.
d- Bởi vì nó làm vui lòng Thiên Chúa.

C7 . Bạn thường nên yêu kẻ khác ?
a- Thường xuyên như bạn có thể.
b- Tất cả mọi lúc.
c- Khi bạn nghĩ về nó.
d- Hầu hết thời gian.

C8 . Thiên Chúa yêu con người trong những điều kiện nào ?
a- Trong mọi điều kiện và mọi lúc.
b- Khi con người khẩn cầu cho tình yêu.
c- Khi con người theo ý muốn của Thiên Chúa.
d- Không có điều gì đã nêu ở trên.

C9 . Có ai không nên yêu ?
a- Có, những thứ như oatmeal.
b- Không.
c- Không chắc chắn.
d- Nếu không có thứ không nên yêu thì cần có.

C10 . Người khó làm cho bạn yêu nhất là ai?
a- Chính mình.
b- Mẹ chồng, mẹ vợ.
c- Kẻ thù của bạn.
d - Tất cả các điều nêu trên.


Chúc bình an.




CNH  
#478 Posted : Thursday, May 1, 2014 6:28:26 AM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)

­Nên quan niệm về Thiên Chúa như thế nào?

Với kiến thức phổ thông và theo thiển ý cá nhân, người viết nhận thấy rằng: “Chúa” (God), theo quan niệm thông thường của các đạo mà được gọi là “hữu thần”, như là Do Thái giáo, Hồi giáo, và các Kitô giáo như là Công giáo, Anh giáo, Chính Thống giáo, các giáo phái Tin Lành... Hầu hết hình như họ quan niệm Chúa giống như ông Thần, ông Tiên, ông Ngọc Hoàng Thượng Đế...; ngồi đâu đó ở trên trời, có phép mầu. Tôi cho rằng điều sai lầm trầm trọng của đa số tín đồ “hữu thần” là họ ưa nhân cách hóa Chúa cách vô ý thức; cho nên họ nghĩ rằng Chúa cũng thích nhận lễ vật, thích được tôn vinh, ca tụng...; cũng hay nổi cơn thịnh nộ, cũng thích được nịnh hót, ưa xét xử, tha tội, buộc tội, rồi thưởng, phạt... như lối hành xử của loài người. Cho nên họ hành đạo theo quan niệm đó.

Điều đáng ngạc nhiên là ít ai nhận biết rằng việc nhân cách hóa Chúa như thế chính là cách họ sỉ nhục Chúa; họ coi Chúa cũng tầm thường, cũng ham mê những thứ phàm tục như họ. Cách riêng về các tín đồ Kitô giáo, hầu hết họ tin rằng Jesus là Thiên Chúa giáng trần; thì họ phải hiểu rằng Jesus đã dùng cuộc đời hèn mọn cách cố ý của chính Ngài: sinh ra nơi chuồng lừa, sống cuộc đời thợ thuyền lam lũ, chết như một tử tội đại hình... để nêu gương và dạy họ đừng quá ham mê những thứ sang trọng phàm trần. Thế nhưng các vị có chức sắc của các tôn giáo đó lại phủ lên chính Thiên Chúa những thứ cao trọng thế gian. Họ đã nhân cách hóa Chúa. Họ “noi gương” Chúa bằng những danh vị cao trọng: “cha, đức ông, đức cha, đức thánh cha...”; với áo mão cân đai, ngai tòa lộng lẫy, công thự nguy nga tráng lệ, nhà thờ đồ sộ, còn bảo là “nhà Chúa”. Mỉa mai thay!

Thế rồi mỗi đạo đặt ra những tín lí, giáo lí, những phép bí tích, những điều mầu nhiệm mà họ tưởng tượng ra được; rồi họ bảo đó là được “mặc khải”; được Chúa hiện ra truyền dạy... Họ chế ra những tín lí, luật lệ, kinh kệ, nghi lễ, điều buộc, công thức... Dĩ nhiên là có sự dị biệt giữa các đạo về những thứ được kể trên; từ đó phát sinh ra kì thị tôn giáo; cũng là nguyên nhân của sự bất hòa, của chiến tranh.

Với nền khoa học ngày nay, nhất là môn Thiên văn học, người ta đã nghiên cứu, tìm hiểu và khám phá thấy vũ trụ được thành lập không giống như những gì mà các đạo đã bắt buộc tín đồ phải tin. Do đó người ta tưởng rằng tôn giáo đối nghịch với khoa học. Cho nên người theo phái duy vật vô thần và người Phật giáo mới có cớ để nhạo báng các tôn giáo hữu thần, với quan niệm đó. Cũng do đó, giới trẻ, nhất là dân Tây phương không thèm tin vào đạo nữa. Họ bỏ đạo. Cho nên họ bị cho là vô thần. Sự thật không phải vậy; họ tin Chúa theo cách khoa học hơn; như nhà đại bác học Einstein đã từng phát biểu đại ý rằng: Khoa học mà thiếu tôn giáo là mù lòa. Tôn giáo mà thiếu khoa học là què quặt. Ông chỉ không tin Chúa như một ông thần (“personal God”) theo quan niệm trên đây thôi.

Thiển ý cá nhân tôi đã dùng khoa học để chứng minh có Chúa qua cách nhận xét về sự sống trong nhiều bài, như là: “Tự hữu. hằng hữu”, “Chúa hằng ở cùng chúng ta”, “Sự vô lí của quan niệm ngẫu nhiên mà có sự sống”, “Siêu khoa học”, “ Sự sống”, “Con người khác thú vật ở điểm nào?”, “hữu thần hay vô thần”, ...

Vì tôi quan niệm về Chúa như thế, nên bị coi như “không giống ai”, ngược đời... và dĩ nhiên bị cho là tôi chống phá đạo; vì họ không chịu thấy rằng đó mới chính là cách củng cố niềm tin sao cho hợp với sự thật, với khoa học ngày nay. Ngoài ra tôi còn chủ trương một lối sống đạo thích hợp, để có thể tạo nên xã hội lí tưởng, mới đưa thế giới đến hòa bình được. Cách đó là mỗi người nên trau dồi đức hạnh trong tính lương thiện với nhân ái và khinh tởm sự gian trá, kiêu căng...qua nhiều bài trước đây như: “Đạo làm người tốt”, “Thượng Đế sao vụng về thế”, “Nét đẹp con người nhờ đâu mà có”, “Ích kỉ chưa hẳn là xấu”...

Xin nhớ rằng niềm tin vào những điều không chứng minh được mà gọi là huyền nhiệm, bí tích, huyền bí, mầu nhiệm... đều không có giá trị và được coi là mê tín đối với khoa học thực nghiệm. Và thực tế đã cho thấy rằng các xã hội mà tín đồ càng mê tín, càng không chứng tỏ được xã hội của họ là lí tưởng, là gương mẫu; chẳng hạn như các xã hội Mễ, Phi, nam Mĩ và các nước chậm tiến ở Phi châu và Á châu... Lí do dễ hiểu là sống ác dễ hơn sống thiện; mà khi đã ỷ lại vào mê tín, thì người ta hay quên trau dồi đức hạnh; tệ hại hơn nữa, còn được giới “lãnh đạo tinh thần” dạy rằng mặc dầu ở ác vẫn được Chúa thích, nếu kêu nài “Lòng Chúa Thương Xót”; và quên đi rằng Nguồn Tạo Hóa có luật công bằng tuyệt đối; quên đi điều Kinh Thánh đã dạy đại ý rằng: … ngươi sẽ không ra khỏi đó (“Luyện ngục”?) cho đến khi trả hết đồng xu cuối cùng./.

CNH
2-2014
[/size]
BuonHiu  
#479 Posted : Thursday, May 1, 2014 10:12:27 AM(UTC)
BuonHiu

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,250

Thanks: 5 times
Was thanked: 12 time(s) in 11 post(s)
Quote:
Tôi cảm thấy mình có khả năng nhìn ra tận gốc nguyên nhân sự đau khổ và hạnh phúc viên mãn trên đời tạm nầy, và có lẽ
cả cho tâm hồn sau khi ta chết. Nay tôi đang ở vào tuổi hưu; không còn lo bươi chải kiếm sống nữa, nên muốn chia xẻ cùng mọi
người những tư tưởng có vẻ ngược đời; nhưng nếu ai đồng ý và chấp nhận, thì có lẽ được sống vui; và nếu được loan tỏa rộng rãi và
được đa số chấp nhận, sẽ tạo được xã hội lí tưởng cho thế giới hòa bình trong tương lai.


Mèn, tui mới vô cái thread này lần đầu tiên, đọc cái bài giới thiệu của cái ông CNH này, ko hiểu ở đâu lòi ra cái ông "Học giả" này
tuyên bố hùng hồn như là một Đức Phật mới vừa giác ngộ hay là một đấng Cứu thế mới giáng sinh (!), chắc ông lại muốn sang tác
thêm một giáo phái mới với các ý tưởng mà ông tưởng như là tân tiến của ông để cứu nhân độ thế ?

Tôi có cảm tưởng ông đội lốt một vài loại người nào đó để đả phá các tôn giáo đặc biệt là với Công Giáo .

Tôi cũng ko rảnh hơi để tranh luận với những lý luận cùn của tác giả, nhưng cũng có vài ý kiến nêu lên:

- Về lòng tin, cái đó cũng cần phải có "ơn" để có được sự cảm nhận, và nhìn thấy được lòng tin của mình . Không phải bất cứ chuyện
gì cũng có thể dựa theo khoa học để mà chứng mính 1 + 1 = 2 . Có quá nhiều ví dụ thực tế để mà nêu ra , và cũng có rất nhiều nhà
khoa học, tổng thống, chính trị gia và nhiều học giả khác mà tôi chắc rằng ông có tái sinh thêm 10 kiếp nữa cũng ko có đủ học vấn như họ, đều có lòng tin vào Thượng Đế chứ ko phải chỉ có mình ông mới có những lý luận như vậy để mà phản bác .

- Vấn đề Thiên Chúa xuống thế làm người là tự Ngài nhân cách hóa bản thân Ngài để có thể dạy dỗ con người theo cách của Ngài .
Vấn đề con người có những ứng xử nào đó là theo bản năng và sự tiến hóa của con người . Con người theo những thời đại, vị trí địa lý , hoàn cảnh giáo dục có những cách cảm nhận và thể hiện ra bên ngoài khác nhau, ko ai giống ai cả nên ko có gì gọi là đúng hay ko
đúng . Bởi vì con người có quyền tự do, mỗi người có suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử khác nhau cho nên muốn quy tụ lại thì phải có tổ
chức và những điều lệ nhất định nào đó để có những lề lối chung tối thiểu . Vấn đề mà ông cảm thấy khó chịu khi nghe những từ xưng hô trong GHCG đó chỉ là cảm nhận riêng của ông, với tôi chẳng hạn, nó ko quan trọng, chỉ biết dùng để phân biệt những người đó giữ những nhiệm vụ gì trong GHCG . Cái nhà thờ lớn hay nhỏ với tôi cũng ko quan trọng gì, xấu cũng được, đẹp cũng được, theo tôi hiểu Thiên Chúa cũng ko coi đó là quan trọng . Vấn đề là với xã hội con người, người ta có quyền tự do và theo từng thời đại, văn hóa, tập tục mà người ta tạo nên như vậy, nhưng điều đó ko phản ánh thực chất của các tôn giáo nói chung và Thiên Chúa Giáo nói riêng . Nếu mà có lòng tin vào Thượng Đế, vào Thiên Chúa, phải hiểu rằng Thiên Chúa là ngoài thời gian và không gian, với Ngài những gì mà loài người đang trăn trở ko là gì cả . Cho nên những gì mà con người đang đau khổ, trăn trở, khúc mắc mới sinh ra những bài viết lý sự cùn đả kích các tôn giáo, đả kích Thiên Chúa Giáo dựa vào một bộ óc ....không biết thông thái tới đâu, học vấn tới đâu mà viết bài còn sai chính tả .

Làm ơn đi, nếu mà ông còn cảm thấy những sự khó chịu và phải moi móch đả kích các tôn giáo hay các tổ chức, các cá nhân thì bản thân sẽ ko bao giờ hiểu được ý nghĩa của cuộc đời chứ ở đó mà khoác lác :
Quote:
Tôi cảm thấy mình có khả năng nhìn ra tận gốc nguyên nhân sự đau khổ và hạnh phúc viên mãn trên đời tạm nầy
CNH  
#480 Posted : Wednesday, May 7, 2014 6:35:51 AM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Kính chào BuonHiu

Cám ơn Bạn đã có ý kiến về những bài liên quan đến tôn giáo và xã hội của tôi. Mặc dầu tôi đã bị Bạn mắng là “cùn”, “khoác lác”, “sai chính tả”; nhưng tôi vẫn cám ơn Bạn; vì tôi sẵn sàng đón nhận những nghịch ý mà tôi biết là của đa số. Những điều tôi nêu lên thường là ngược với những nề nếp, phong tục, tập quán, thành kiến, quán tính..., là những thứ mà hầu như không thể thay đổi; đến nỗi có lời nói đại ý rằng: đánh tan 1 quân đoàn còn dễ hơn thay đổi 1 thành kiến.

Tôi không là “học giả” nào cả. Trình độ học vấn của tôi, như Bạn đã thấy, còn sai nhiều lỗi chính tả, nhưng không phải vì vậy mà không biết suy nghĩ. Tôi đã học được tư tưởng đẹp của người phương Tây, đại ý là: "Mặc dầu ý anh nghịch với ý tôi, nhưng tôi quyết tranh đấu tới cùng để bảo vệ quyền phát biểu của anh". Cho nên tôi không buồn khi bị mắng; ngược lại tôi vui mừng vì đã luyện được tính chịu đựng; biến nghịch cảnh thành lợi điểm; vì tôi chọn sống lạc quan hơn là chọn nếp sống lúc nào cũng buồn hiu. Như vậy vẫn còn dễ hơn là “đưa má kia cho chúng tát, sau khi bị tát má nầy”, như Thầy chí Thánh Jesus đã dạy. Nếu tôi đạt được đến trình độ đó; có lẽ tôi còn vui mừng hơn nữa; vì những gì khó làm nhất mà mình đã làm được. Đó mới là đệ tử đích thực của Jesus.

Bạn đã cho rằng tôi khoác lác vì câu: “tôi cảm thấy mình có khả năng nhìn ra tận gốc nguyên nhân sự đau khổ và hạnh phúc viên mãn trên đời tạm nầy....”. Tôi đã không dám khẳng định, nên đã dùng chữ “cảm thấy”. Tôi cho đó là quyền phát biểu với thành tâm tận đáy lòng mình; không ngoài mục đích dấn thân và giúp đời.

Tôi xin dẫn chứng vài ví dụ về những điều tôi thấy mà đa số không thấy:

1- Việt Nam thường có câu “Tiên học lễ, hậu học văn”. Tôi cho rằng nếu “Tiên học đức, hậu học kiến thức”, thì xã hội VN sẽ tốt hơn nhiều. Bởi vì cái “lễ” chỉ để làm hài lòng kẻ lớn, chứ chẳng giúp ích gì cho phúc lợi xã hội. Nhiều khi giới trẻ có sáng kiến còn hay hơn người lớn; nhưng vì phải giữ “lễ”, nên không dám cho ý kiến; còn sợ bị gạt phắt, bị mắng, cho là con nít mà biết gì... Trong khi thầy giáo người Nhật vào lớp, dở nón cúi chào học sinh. Người Việt thấy lạ; hỏi sao ông làm vậy? Thầy giáo trả lời đại ý rằng: biết đâu trong đám học sinh sẽ có những vĩ nhân sau nầy. Xã hội Nhật văn minh và tốt đẹp ra sao chắc Bạn đã biết rồi?

2- Các LM. VN. hầu hết đều cầu xin Chúa “chúc” phúc, hoặc xin Chúa “chúc” lành. Hầu hết giáo dân Công giáo VN cũng bắt chước các “cha” nói theo như thế. Tôi ngạc nhiên quá sức, vì các ngài hầu hết đều có tiến sĩ thần học, mà sao không hiểu nghĩa ngôn từ “toàn năng” là gì. Khi được hỏi, một anh thợ nề đã giải thích: Toàn năng nghĩa là làm gì cũng được. Vậy mà các “cha” không hiểu!? Cho nên họ nghĩ: Chúa cũng cần phải “chúc”, chứ không đủ khả năng để ban? Chúc chỉ vì không có khả năng, nếu có khả năng thì không cần phải chúc. Chắc không có ai nói: “xin ông chủ “chúc” cho nhân công được tăng lương”. Nếu có, Bạn nghĩ sao về người nói câu đó?

3- Đoạn 1146 trong nhật kí của bà “thánh” Faustina (được Chúa “mặc khải”), có câu: “Thậm chí Ta cũng không thể trừng phạt các tội nhân gian ác nhất nếu kẻ đó kêu cầu tới lòng trắc ẩn của Ta”. Được các ngài “lãnh đạo tinh thần” phổ biến. Tôi cho rằng phổ biến như thế chỉ gieo mầm gian ác, khuyến khích sự dữ; bởi vì sự ác, sự dữ thì rất dễ bị vấp phạm, dễ bị cám dỗ. Còn việc kêu cầu lòng Chúa thương xót thì quá dễ, không hao tốn gì nhiều. Kết quả đã thấy trước mắt: dân Mễ đa số là Công giáo, mà mang tiếng là “không .., không phải Mễ”. Ngoài ra, bọn buôn lậu ma tuý Mễ, gian ác khét tiếng, in hình Chúa, Mẹ trên báng súng bằng vàng...

Và vân vân. Tôi còn có bài: “Những điều nghịch lí trong niềm tin của đạo Công giáo” nơi trang 22. Những giáo điều dầu là nghịch lí, nhưng ít ai thấy; vì ít ai chịu đưa 2 điều nghịch lí lại với nhau để mà nhìn ra sự nghịch lí.

Đó là những điều tôi thấy mà ít ai thấy. Tôi nêu lên chỉ với mục đích cải thiện xã hội. Nếu những điều tôi nêu ra, Bạn thấy điều nào không đúng, thì xin cứ dẫn chứng và chỉ giáo; tôi sẵn sàng phục thiện. Tôi không dám hỗn với Bạn đâu, vì tôi không muốn mất nhân phẩm.

Đã có nhiều trường hợp một vài người thấy mà đa số không thấy như: Đức Jesus, ông Galileo... nhưng Họ vẫn đúng; mặc dầu biết phải khốn khổ, Họ vẫn nêu ra điều mà Họ cho là sự thật và giúp đời. Ngày nay mình may mắn hơn, được sống trong xã hội tự do phát biểu; thì sá gì những trách mắng, những nghịch ý. Tôi cam lòng đón nhận theo tinh thần đó; cho nên “Nối gót Jesus và ước vọng hòa bình”, là môt sự dấn thân.

Chúa cho ta trí khôn, ta nên dùng để biết điều đúng-sai, lợi-hại, tốt-xấu... để chọn cho mình nếp sống thích hợp và chịu trách nhiệm với lựa chọn đó; chứ tại sao phải vâng lời tuyệt đối những điều mang lại hậu quả xấu? Đạo cũng đã dạy “Yêu mến Chúa hết sức, hết tâm hồn, hết trí khôn”; thì tại sao ta không chịu dùng trí khôn, mà phải vâng lời giáo hội tuyệt đối? Để rồi ngày nay Đức Francis phải cải tổ toàn diện GH? Năm ngoái, trước khi chết, Hồng Y Carlo Maria Martini cũng đã phát biểu rằng: “Giáo hội Công giáo bị lạc hậu 200 năm”. Hồng Y nói thì được đưa lên tin tức; người thường phát biểu thì bị mắng. Đó chẳng qua chỉ vì cảm tính chứ chẳng phải do lí trí./.

CNH
5-2014







Edited by user Sunday, February 8, 2015 4:58:42 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest
26 Pages«<2223242526>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.