Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

91 Pages«<4546474849>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#921 Posted : Saturday, March 12, 2011 7:59:40 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Miếng cá kho giữa làng Vũ Ðại

(02/17/2011)

Cứ về Hà Nam, hỏi đường về làng Vũ Ðại, xã Hòa Hậu (huyện Lý Nhân, Hà Nam) của nhà văn Nam Cao là nhiều người vừa chỉ đường vừa cười mủm mỉm “về mua cá kho hả?”. Tưởng có hậu duệ nào của cụ Bá hay anh Chí làm được món cá kho um trấu trong nồi đất nay nổi tiếng cả trong và ngoài nước, mà không phải...

[img=left]http://www.vietherald.com//images/upload/Article/2011/2/17/634335313223885075_400x224.jpg[/img=left]

Cá kho làng Vũ Ðại, những khúc cá trắm đen dậy mùi riềng trong nồi đất đã theo xe khách, lên máy bay đi từ Nam chí Bắc, chễm chệ trong siêu thị Sài Gòn, thậm chí còn theo chân bà con Việt kiều ra nước ngoài. Tưởng là nghề xưa trong làng, hóa ra lại là nghề mới, nên duyên vì một sự tình cờ.
Thành nghề vì tình cờ

Ông Trần Bá Luận, sinh năm 1955, chủ một “cơ sở” kho cá ở xóm 1, Hòa Hậu, cho biết bố ông tên Trần Bá Nhuận, gia đình nghèo khó nên xưa vào Thanh Hóa nấu ăn thuê cho Pháp. Năm 1954, Pháp rút khỏi Việt Nam, ông Nhuận chuyển sang nghề buôn nồi đất từ Thanh Hóa, Nghệ An ra các tỉnh ngoài Bắc. Những năm đi nấu ăn thuê giúp ông Nhuận học được dăm bảy bí quyết nấu ăn, nêm nếm gia vị, nhưng món cá kho của nhà ông chỉ được kho mỗi khi tát ao độ tết và cũng chỉ để ăn trong nhà.


[img=left]http://www.vietherald.com//images/upload/Article/2011/2/17/634335313716065939_400x280.jpg[/img=left]

Từ năm 1998, khi lần lượt các con ông Luận đi học xa, phải ở trọ, thỉnh thoảng muốn có món quà biếu thầy cô ngày tết, ông kho một nồi cá để con mang đi lễ thầy, có lúc lại mang biếu khách quý của nhà. Cá được kho bằng nồi đất, ủ trong lửa trấu cả chục tiếng đồng hồ nên xương nhừ thấu, vậy mà thành một cái vị lạ lùng, người ăn cứ tấm tắc khen ngon.

Rồi cũng chính họ, quen cái vị thơm bùi của món cá lại đặt ông kho giúp nồi cá vào những dịp lễ tết. Chừng vài năm nay, kho cá bán mới thật sự trở thành nghề của gia đình ông, khi người con trai út vào đại học đã làm hẳn một trang web giới thiệu tỉ mỉ về món cá kho của làng Vũ Ðại - cái tên mà nhà văn Nam Cao đã đặt cho làng Ðại Hoàng nơi ông ở.

Nay thì vài nhà trong làng Vũ Ðại kho cá bán cho thiên hạ. Những ngày giáp tết, cơ sở kho cá của bà Trần Thị Xuyến (xóm 11) lúc nào cũng có năm bảy người làm. Hôm tôi xuống làng, hàng trăm niêu cá kho đang được um trấu cho cạn nước nên những người làm chuyển sang cạo gừng và riềng. Ngay sát nơi kho cá là bể cá tạm quây bằng tấm bạt, chứa hàng chục con trắm đen nặng nề quẫy nước, có con nặng cả chục cân.

Mẻ cá này vừa được kéo lên lúc chiều - bà Xuyến bảo - đợi đến đêm thì sơ chế. Nhà cũng có sẵn ao nuôi cá (khoảng 1,000m2) nên sau khi mua cá về thường thả luôn xuống ao, bắt lên kho dần. Mỗi năm, cơ sở kho cá Hiền Xuyến phải mua gần 3 tấn cá mới đủ kho bán.

Dù có thể nói cả tiếng đồng hồ về cách kho cá nhưng bà Xuyến cũng chỉ cười khi nghe hỏi về nguồn gốc của món cá kho Vũ Ðại: “Cũng chỉ là lớn lên thấy nhà thường kho cá để ăn tết vì được chia cá, chứ chịu, chả biết ai là tổ nghề kho cá ở đây”. Những người già ở Hòa Hậu cũng không rõ nguồn gốc món cá kho. Ông Trần Bá Luận thì giảng giải theo cách riêng: những năm còn bao cấp, các xóm, thôn, xã đều có ao chung. Vào dịp cuối năm tát ao, gia đình nào cũng được chia cá để ăn tết, mỗi khẩu được chừng 1kg. Vì cả tết chỉ có cá (phần lớn là cá mè hoa) nên món cá thường được kho nhừ để ăn cả xương. Cá được bỏ vào nồi đất cùng rất nhiều muối và riềng, rồi um trấu cả ngày, khi nồi cá cạn cũng là lúc cá nhừ. Những miếng riềng khi ấy cũng trở thành thức ăn. “Có khi một miếng riềng ăn được hai bát cơm đấy”, ông Luận cười.
Ðắt đỏ vì tỉ mẩn

Một niêu cá kho thường có ba khúc giữa của một con cá nặng ít nhất 1.5kg, có giá thành là 300,000 đồng, đưa đi đâu thì tính thêm phí vận chuyển, nồi to hơn, thêm một khúc cá thì giá tăng thêm, ngày tết có nồi 400,000 đồng, có nồi đến 500,000 đồng. Chẳng thể gọi đấy là một món dân dã rẻ tiền nữa rồi.

Ông Luận cũng có cách lý giải sự đắt đỏ ấy: “Hồi trước còn khó khăn, các cụ thường kho cá mè, cá trôi và cả cá rô đồng. Nhưng khi coi đây là một công việc có thể kiếm được tiền thì gia đình tôi chỉ kho cá trắm đen, rồi thêm giá các loại gia vị để kho, thành ra một nồi cá mới có giá cao như vậy”. Ðất nông nghiệp ở Hòa Hậu chẳng còn bao nhiêu, nhiều nhà phải chuyển sang nghề dệt hoặc đi làm thuê, vườn tược cũng không nhiều nên hầu như các loại nông sản đều không sản xuất được.

Ðể kho một nồi cá, ông Luận phải tìm mua nguyên liệu từ khắp nơi: cá mua từ Nam Ðịnh, Ninh Bình; gừng, riềng đi cất từ mấy tỉnh miền núi về, đến củi, trấu cũng đi mua, nồi đất phải thửa từ Thanh Hóa. Củ riềng già vỏ đỏ tía mua về được cạo vỏ, giã vụn, thêm chút gừng, lót dưới đáy nồi một lớp. Rồi đến một lớp cá cắt khúc đều chằn chặn, nước mắm ngon và hạt tiêu gia giảm theo bí quyết mỗi nhà, đổ ngập nước để kho.

Riêng công đoạn kho liu riu trên bếp củi rồi ủ trấu cũng mất cả nửa ngày... Tất cả những tỉ mẩn, nhiêu khê ấy đều được tính vào từng miếng cá kho, nên nhà ông Luận chọn luôn cá trắm đen để kho, đã đắt thì cũng cho nó “xắt ra miếng”.

Hẳn nhiều người phải ơn cụ Nam Cao, bởi trong cái sự đắt “xắt ra miếng” ấy của món cá kho có phần góp quan trọng của cái tên làng Vũ Ðại, cái tên làng mà hầu như người Việt Nam nào cũng biết với những câu nói, những nhân vật văn học trứ danh như Chí Phèo, Bá Kiến hay Thị Nở. Cũng chẳng biết được, hay biết đâu lại nhờ cái hồi ức xưa cũ của khối thị dân thời nay về những món ăn giản dị của nhà quê thuở nào?
“Tôi không phải họ hàng của ông Bá Kiến”

Hòa Hậu xưa nổi tiếng bởi có nhà văn Nam Cao và căn nhà nguyên mẫu của ông Bá Kiến trong chuyện Làng Vũ Ðại ngày ấy, nay còn nổi tiếng hơn vì có thêm món cá kho. Nhưng không phải nhà ai ở Hòa Hậu cũng ăn cá kho. Ông xe ôm đầu làng đưa ra lý do đơn giản là “quá đắt” và “cũng chả ngon đến mức để đắt như thế”.

Món cá có lẽ chủ yếu chu du thiên hạ để làm dịu những cồn cào “thương nhớ đồng quê” của người thành phố hay Việt kiều xa quê ngày tết, cũng có thể vì hương vị giản dị của một món ăn thân quen, một lối nấu nướng không mấy cầu kỳ, một thức đồ nhắm không tanh tao ngấy chán trong những ngày tết dư thừa thịt mỡ...

Ông Luận khoe sẽ “mở rộng quy mô sản xuất món cá kho”, lại dự tính đầu tư vốn cho một số hộ nuôi cá để đảm bảo có nguồn nguyên liệu sạch, ổn định, để “có món cá kho thơm ngon, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm đưa đến người tiêu dùng”. Trong xã có chừng chục nhà kho cá bán, nhưng làm quanh năm với số lượng lớn thì chỉ có gia đình ông và gia đình bà Xuyến. Mỗi năm, vẫn chỉ nồi cá kho ấy thôi nhưng Hòa Hậu tiêu thụ hàng chục tấn cá.

“Tôi không phải là họ hàng của ông Bá Kiến đâu nhá”, ông Luận nói khi tôi chuẩn bị về, bởi ông kể có một vài nhà báo đã đặt câu hỏi, thậm chí viết ỡm ờ về mối quan hệ họ hàng của ông với ông Trần Bá Bính (nguyên mẫu cho nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm của Nam Cao). “Ở Hòa Hậu nhiều người họ Trần, nhưng tôi chỉ có họ hàng xa với cụ Nam Cao thôi”.
(Theo Tuổi Trẻ)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#922 Posted : Tuesday, March 15, 2011 5:15:38 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
Đọc...chơi vài bài ca dao

Ca dao, ai cũng biết là hay. Tuy nhiên, có nhiều bài ca dao chúng ta đọc đi đọc lại cả trăm lần, mơ hồ cảm nhận là chúng hay, mà chả hiểu chúng hay ở chỗ nào cả. Chỉ đến một lúc nào đó...

Ví dụ bài ca dao rất quen thuộc này:

Mình nói dối ta mình hãy còn son,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước tắm cho con mình.

Tôi thuộc bài ca dao này từ nhỏ. Nhưng chỉ gần đây, tôi mới bắt đầu loé thấy một ít cái hay của nó. Trước hết, chúng ta biết ngay bài ca dao này được làm theo thể lục bát. Bình thường, trong thơ lục bát, câu sáu chữ nằm trên câu tám chữ, lục rồi mới đến bát. Tuy nhiên, trong bài này có điểm lạ: là thơ lục bát, nhưng thay vì mở đầu bằng một câu lục thì nó lại mở đầu bằng một câu bát phá thể. Hệ quả là gì? Hệ quả là hơi thơ của câu thứ nhất dài hẳn ra. Dài và thiết tha vô hạn: tấm lòng của anh thanh niên mở ra bao la với những nguyên âm "o" và nguyên âm "a" rộng rãi và khép lại ở nguyên âm "i" thầm thì trong chữ "mình" lặp lại đến hai lần ở câu thứ nhất. Thành ra ở đây, ngay câu thứ nhất, đã có một nghịch lý: ý câu thơ là tố cáo một sự dối trá ("Mình nói dối ta...") mà giọng thơ thì lại rất mực ngọt ngào và ấm áp: anh thanh niên biết mình bị lừa mà lại sẵn sàng chấp nhận bị lừa, sung sướng để chịu bị lừa.

Hay nhất trong bài ca dao trên là chữ "mình". "Mình" là cách xưng hô đầy âu yếm để gọi người mình yêu. Chữ "mình" ấy lặp lại đến năm lần, mang hai ý nghĩa hoàn toàn khác nhau: bốn lần đầu, "mình" là em, chỉ người con gái, ngôi thứ hai số ít: "con mình" là con của em, là "your child". Đến lần thứ năm, cũng là "mình", nhưng "mình" ở đây lại là ta, là chúng ta, ngôi thứ nhất số nhiều, bao gồm cả người con trai lẫn người con gái: "con mình" ở câu cuối là "our child". Người thanh niên chấp nhận đứa con riêng của người yêu làm con của mình.(1)

Bài ca dao mở đầu bằng chữ "mình", kết thúc cũng bằng chữ "mình". Từ chữ "mình" đầu bài đến chữ "mình" cuối bài, cách nhau chỉ có 28 từ mà thực ra là cả một quá trình chuyển hoá của mối quan hệ giữa người con trai và người con gái, là lịch sử của một mối tình vừa ngang trái lại vừa cảm động. Trước là hai, sau chỉ là một: người thanh niên chấp nhận người tình ngay cả khi bị chị đánh lừa.

Cuối cùng, vì lặp đi lặp lại nhiều lần từ "mình", chứa đựng nhiều âm "m" vốn là một phụ âm môi, nhẹ nhàng và ngọt ngào, bài ca dao mang đầy giọng tâm tình. Như một lời thủ thỉ, thầm thì. Hiếm có bài ca dao nào của Việt Nam mà có cái giọng ngọt và ấm đến như vậy.

Hay bài ca dao này, còn nổi tiếng và quen thuộc hơn nữa:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc;
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay...
- Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ;
Chim vào lồng, biết thuở nào ra.

Bài ca dao này đã được khá nhiều người phân tích. Phần lớn đều tập trung ở khía cạnh hình tượng và ngữ nghĩa. Những sự phân tích ấy ít khi khác nhau cho nên tôi không muốn nhắc lại làm gì. Tôi chỉ xin lưu ý đến khía cạnh ngữ âm, một khía cạnh ngờ như có khả năng tiết lộ khá nhiều điều thú vị, đặc biệt là cảm xúc của người con gái.

Bài ca dao được cấu trúc bằng hai ngôn ngữ: ngôn ngữ của người con trai và ngôn ngữ của người con gái. Bài ca dao giống như một vở kịch với hai lời đối thoại. Nhưng lời nói của người con trai không hẳn là một lời nói, có vẻ như là lời kể của ai đó, một nhân vật thứ ba, ở ngoài. Tại sao? Không có gì khó hiểu cả: người con trai đang ở trong một trạng thái bất ổn, phân thân, hồn một nơi mà thân xác một nơi. Nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: không hiểu anh loăng quăng, líu quýu trèo lên, trèo xuống để làm gì vậy? Thật ra, có gì lạ đâu. Nhớ, trong một bài ca dao khác, một người con gái cũng có cái dáng điệu loăng quăng líu quýu như thế: "Khăn thương nhớ ai / Khăn rơi xuống đất / Khăn thương nhớ ai / Khăn vắt lên vai..." Sự loăng quăng líu quýu ấy chỉ là một cách để làm nguôi ngoai một tâm trạng bời bời, đồng thời cũng là một dấu hiệu cho thấy anh không còn tự chủ được mình nữa, anh bị thất lạc tâm hồn. Anh bàng hoàng. Anh thảng thốt. Anh chấn động trước sự việc người anh yêu thầm đi lấy chồng.

Ngắm nụ hoa tầm xuân xanh biếc, người con trai ngẩn ngơ: "Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay." Câu này còn có dị bản là "Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay". Ca dao là một thứ văn chương truyền khẩu, từ đời này sang đời khác, do đó, khó mà nói được bản nào là đúng, bản nào là sai. Nhưng tôi vẫn có thích câu "Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay" hơn. Lý do thứ nhất là vì cách dùng chữ "đã" trong câu sau khiến cho tôi nghĩ đó là một cách nói khá mới. Lý do thứ hai là vì nhạc điệu: khi chữ "rồi" thay thế chữ "đã", câu thơ thêm một thanh bằng, hơi thơ thành ra nhẹ hơn, ngậm ngùi hơn; hơn nữa, khi chữ "rồi" đi liền theo sau chữ "chồng", âm "ông" trong chữ "chồng" cũng bớt mạnh và vang hơn là lúc nó đứng một mình.

Một câu hỏi quan trọng mà người đọc thơ không thể không đặt ra: có quan hệ gì giữa nụ tầm xuân và việc người con gái lấy chồng, từ đó, dẫn đến niềm tiếc nuối, xót xa kia? Ngỡ như không có. Mà lại có. Ở cái vần "iếc" trong chữ "biếc" cuối một câu thơ vốn có thật nhiều nguyên âm mở. Nó như một sự khép lại. Nó mảnh. Nó sắc. Như một sợi khói bay lên, bay lên, xa hút: nó hình tượng hoá một sự mất mát, một cái gì vuột khỏi tầm tay.

Người con gái chắc cũng yêu bạn mình. Chị đã từng chờ đợi. Hoài công vì sự nhút nhát của anh. Chị vừa thông cảm lại vừa giận. Chị đay nghiến: "ba đồng... một mớ....". Sở dĩ đay nghiến là vì còn yêu, còn thương. Nhưng dẫu sao thì cũng đã lỡ: chị đã có chồng. Người con gái ý thức rất rõ điều đó, cho nên, giọng chị cứng lại:

Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng...

Vần hai câu thơ rơi vào âm "ông" sang sảng, ngân vang. Mạnh, rất mạnh. Dứt khoát, rất dứt khoát. Nhưng tôi ngờ là chị chỉ cao giọng để lừa dối chính chị. Bởi, nói chưa hết câu ấy, giọng chị đã trầm xuống, thổn thức:

... Như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ;
Chim vào lồng biết thuở nào ra.

"Câu", "đâu", "gỡ", "thuở": những chữ kết thúc bằng nguyên âm "u" và "ơ", nửa khép nửa nhẹ, bềnh bồng, rưng rưng, không chừng là một tiếng khóc.

Câu ca dao dưới đây khác hẳn:

Em như cục *** trôi sông
Anh như con chó chạy rông trên bờ.

Từ trước đến nay, bài ca dao này thường chỉ được đọc trong những lúc nói chuyện phiếm, như một bài ca dao trào lộng. Đọc cho vui, đọc để cười chơi, vậy thôi. Trong ý nghĩa ấy, bài ca dao được nhìn nhận như một cái gì khá tục và khá nhảm.

Tuy nhiên, theo tôi, không chừng đó là một bài ca dao hay.

Vấn đề là: nó hay ở chỗ nào?

Trước hết là nó bạo và nó mới. Nó không có một chút sáo ngữ nào cả. Dĩ nhiên, nói thế, chúng ta cần thận trọng. Không phải cứ hễ viết tục là thoát sáo. Từ trước đến nay, ở đâu cũng có những người khoái viết tục và viết bạo. Hiện nay, người ta lại càng viết tục và viết bạo. Nhưng chưa chắc đã hay. Dù sao, theo tôi, cái tục của câu ca dao này quả là hay thực. Nó không phải chỉ bạo để bạo, chỉ mới vì mới mà còn là một sự sáng tạo hầu vẽ nên một thế giới gần hiện thực hơn. Chúng ta hãy nhớ lại xã hội Việt Nam ngày xưa. Đâu phải ai cũng như là Thuý Kiều và Kim Trọng, cũng là "người quốc sắc, kẻ thiên tài", là "trai anh hùng, gái thuyền quyên" cả. Trong xã hội thời xưa, đặc biệt là ở nông thôn, đại đa số các cặp tình nhân là những anh thợ cày và những chị đầy tớ. Anh đi làm mướn, chị đi ở đợ. Anh giống như Chí Phèo, chị giống như Thị Nở. Đời sống của họ cơ cực, tối tăm. Cho nên, không có gì lạ khi họ tự ví

Em như cục *** ...
Anh như con chó ...

Cái tục của ngôn ngữ, cái thô của hình tượng ở đây lại là những cái thực và là một sự sáng tạo. Nó phá đổ những khuôn sáo cũ kỹ và giả tạo trong văn chương bác học. Nó vứt bỏ những son phấn những mũ mão đai hia để làm hiện hình những con người gần gũi với cuộc đời hằng ngày.

Hơn nữa, điều đáng cảm động ở đây là cặp tình nhân tự biết thân phận của người họ yêu và của chính họ chẳng ra gì. Em không ra gì. Mà anh thì cũng chẳng ra gì. Thế nhưng họ vẫn cứ yêu nhau, thương nhau. Chúng ta nhớ trong truyện "Chí Phèo", Chí Phèo và Thị Nở cũng từng có lúc yêu nhau như tất cả mọi cặp tình nhân khác trên đời này. Và trên đời này, tất cả những con người bất hạnh khác, khi yêu nhau, thì cũng yêu nhau như tất cả những con người bình thường hay may mắn khác yêu nhau. Cách biểu hiện tình yêu có thể khác nhau nhưng những rung cảm những xao xuyến những quyến luyến những ngây ngất trong lòng thì chắc chắn là không có gì khác nhau cả.

Ở giữa câu lục là hai từ bắt đầu bằng phụ âm [k] ("cục ***") mạnh, gắt, như một nỗi đau uất. Ở giữa câu bát là hai từ bắt đầu bằng phụ âm [ch] ("chó chạy") mềm mại, ngân vang, như một nỗi buồn tênh. Câu ca dao, như thế, không phải chỉ tả mối tình giữa hai người khốn khó bất hạnh tự ví mình với những gì hèn mọn, thậm chí hèn hạ nhất trên mặt đất. Điều đáng đau xót, toát lên từ câu ca dao này là ở chỗ, mặc dù họ tự biết thân phận của mình, mặc dù họ hoàn toàn an phận, chấp nhận cái số kiếp làm phân, làm chó, họ vẫn không được gần nhau. Em vẫn lênh đênh giữa sông và anh vẫn chạy rông trên bờ. Anh vẫn không bắt được em, vẫn ở từ xa mà nhìn em một cách thèm thuồng. Giữa hai người vẫn có một khoảng cách vời vợi. Không cùng.

Bài ca dao, do đó, mặc dù có một số chữ có vẻ tục, có vẻ sỗ sàng lại chứa đựng một ý nghĩa hết sức thâm trầm, thể hiện được đúng số phận của hàng triệu triệu cặp thanh niên nam nữ nghèo khó, lam lũ và bất hạnh trong cuộc đời, nhất là cuộc đời ngày xưa.

Còn một câu ca dao khác cũng rất đáng bàn. Đó là câu

Vân Tiên ngồi dưới bụi môn
Chờ cho trăng lặn bóp l. Nguyệt Nga

Xin nói ngay: tôi không có ý định khen đây là bài ca dao hay.

Không hay, nhưng nó không hẳn chỉ là một cách nói tục tĩu, nhảm nhí, và chắc chắn không phải là những câu vần vè vô nghĩa như lâu nay chúng ta vẫn thường tưởng.

Chỉ cần đặt câu hỏi: tại sao người ta lại không nói Kim Trọng hay Từ Hải hay Sở Khanh hay Mã Giám Sinh "ngồi dưới bụi môn"? Trả lời câu hỏi ấy, chúng ta sẽ thấy ngay tác giả của câu ca dao này chính là những độc giả của Nguyễn Đình Chiểu. Thế nhưng, ở đây lại nảy ra một câu hỏi khác: tại sao, trong truyện Lục Vân Tiên, người ta không chọn nhân vật nào khác, như Bùi Kiệm, một nhân vật được Nguyễn Đình Chiểu mô tả bằng những lời lẽ rất nặng nề, rất thích hợp với vai trò của kẻ "ngồi dưới bụi môn": "Còn thằng Bùi Kiệm máu dê / Ngồi chề bê mặt như sề thịt trâu"? Tại sao?

Tại sao người ta lại chọn ngay chính Lục Vân Tiên, một nhân vật được xem là nghiêm trang, nghiêm túc, thậm chí nghiêm khắc, có thể xem như một khuôn mẫu về đạo đức, để bắt làm cái chuyện phàm phu tục tử ấy? Tại sao người ta lại chọn cái nhân vật không dám nhìn cả phụ nữ "Khoan khoan ngồi đó chớ ra / Nàng là phận gái, ta là phận trai", không dám lần khân lâu bên phụ nữ "Vân Tiên ngó lại rằng: Ừ / Làm thơ cho kịp chừ chừ chớ lâu" lại làm cái việc "công xúc tu sỉ" ấy?

Tại sao? Chắc chắn là có lý do. Và lý do cũng không có gì khó hiểu: Chúng ta dễ dàng thấy được câu ca dao trên là một cách phản ứng chống lại thái độ đạo đức khắt khe, có phần giả tạo của Lục Vân Tiên, và phần nào cũng là của Nguyễn Đình Chiểu. Chế diễu thái độ đạo đức cứng nhắc ấy, dân chúng đã cho Lục Vân Tiên làm cái việc nhảm nhí là "ngồi dưới bụi môn, chờ cho trăng lặn..." Trong cách nhìn này, câu ca dao trên có cùng trường nghĩa với một câu ca dao khác, từ lâu vẫn được xem là có "lập trường tiến bộ" và "đứng đắn" hơn:

Ban ngày quan lớn như thần,
Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

Nói cách khác, tôi nghĩ, chúng ta hoàn toàn có lý để xem câu "Vân Tiên ngồi dưới bụi môn..." như một cách đọc truyện Lục Vân Tiên. Đó là một lời phê bình cuốn Lục Vân Tiên. Trong vô số những lời phê bình truyện Lục Vân Tiên, không chừng cách phê bình này của dân gian là một cách phê bình hay. Hay và sắc sảo. Nó nhắm vào một trong những vấn đề trung tâm của tác phẩm là quan niệm đạo đức cũng như cách thức xây dựng nhân vật của cụ Đồ Chiểu nói chung.

Cũng vậy, chúng ta có thể đọc những câu:

Vân Tiên cõng mẹ chạy ra,
Đụng phải cột nhà, cõng mẹ chạy vô.
Vân Tiên cõng mẹ chạy vô,
Đụng phải cái bồ, cõng mẹ chạy ra.
Vân Tiên cõng mẹ chạy ra...

hay một dị bản của nó:

Vân Tiên cõng mẹ trở ra
Đụng phải Chà Và, cõng mẹ trở vô.
Vân Tiên cõng mẹ trở vô,
Đụng phải ông Tây cồ, cõng mẹ trở ra.
Vân Tiên cõng mẹ trở ra...

như một sự phê phán quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu: ông một mực đề cao những chuẩn mực đạo đức cổ điển và cổ kính như trung, hiếu, tiết, nghĩa với hy vọng là chúng sẽ giúp duy trì sự ổn định trong xã hội, tuy nhiên, một là, xã hội Việt Nam vào nửa sau thế kỷ 19, trong sự cọ xát dữ dội với văn minh Tây phương và thế lực thực dân, cứ ngày một rạn nứt, vô phương hàn gắn; hai là, bản thân những chuẩn mực đạo đức tưởng đâu là chân lý vĩnh cửu ấy thật ra rất đáng ngờ, và với sự lung lay của Nho học, càng ngày càng đáng ngờ thêm. Con thuyền "chở đạo" của Nguyễn Đình Chiểu, do đó, không phải chỉ trôi trên một dòng nước ngược mà còn, hơn nữa, trên thực tế, chỉ loay hoay mãi trong một vũng nước tù, không có lối thoát, hết "đụng" cái này thì "đụng" cái kia, cứ quanh quanh quẩn quẩn mãi trong sự tuyệt vọng và bế tắc. Nói cách khác, đó là những lý tưởng ở đường cùng. Biện pháp dựa trên nguyên tắc đạo đức mà Nguyễn Đình Chiểu đề xuất, hay đúng hơn, cổ vũ, đã không giải được bài toán của thời đại.

Theo tôi, chỉ với cách hiểu như thế, chúng ta mới giải thích được tại sao một nhân vật chính diện trong một tác phẩm nặng dụng tâm giáo huấn của một tác giả được xem là tiêu biểu nhất của dòng văn học giáo huấn lại biến thành - không phải một lần mà là nhiều lần, ít nhất là hai lần như vừa nêu - một nhân vật hài trong nền văn học dân gian.

Một ngày nào đó, nếu tôi đủ hứng thú và can đảm làm một tuyển tập phê bình về Nguyễn Đình Chiểu, có khi tôi sẽ chọn in những câu ca dao trên ngay ở trang đầu. Ở đâu đó, bên kia thế giới, đã xa lắm lắm những lời dạy lẩm cẩm kiểu "trai thời trung hiếu làm đầu / gái thời tiết hạnh làm câu trau mình", đọc những lời phê bình thông minh và hóm hỉnh ấy, không chừng cụ Đồ sẽ cả cười.

Chú thích:

1. Nói chung, chữ "mình" trong tiếng Việt có khá nhiều nghĩa và đặc biệt, quá trình chuyển nghĩa của nó rất thú vị. Ý nghĩa đầu tiên của chữ "mình" là bộ phận chính của cơ thể (đầu/mình/tứ chi); từ đó, nảy sinh ra ý nghĩa thứ hai là toàn bộ cơ thể (mình mẩy). Cũng từ đó, "mình" sẽ nảy ra ý nghĩa thứ ba là bản thân người nói, tương đương với chữ "I" trong tiếng Anh. Rồi cũng từ đó, "mình" chuyển sang nghĩa thứ tư là chỉ người mình yêu (tương đương với chữ "you"). Lý do là, với người Việt, yêu ai là xem người đó là một với chính mình, như trong câu thơ:

Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai.

Gọi người mình yêu là "mình" tức là xem người đó chính là cơ thể của mình, là chính bản thân mình. Hai người nhập làm một. Từ đó, lại nảy ra ý nghĩa thứ năm của chữ "mình", đó là ý nghĩa chỉ chúng ta (tương đương với "we"). Bởi vì "mình" là mình, mà người yêu cũng là "mình", thì như vậy, "mình" đã là số nhiều, là một không gian chung dành cho nhiều người.

Sự chuyển nghĩa của chữ "mình" cho thấy, với người Việt Nam, tình yêu không phải chỉ là một sự hoà nhập làm một; hai người yêu nhau không những chỉ thuộc về nhau. Đó là những quan niệm bình thường và quen thuộc ở khắp nơi. Với người Việt Nam, yêu nhau là cho cái mình của mình cho nhau, là đem cái chữ "mình" vốn chỉ cơ thể của bản thân mình để tặng cho người mình yêu, là nhường cả chủ quyền trên cơ thể của mình cho người mình yêu. Nếu chúng ta kết hợp chữ "mình" này và chữ "nhà" dùng để chỉ vợ hay chồng lại với nhau, chúng ta sẽ thấy một quan niệm khá hoàn chỉnh về tình yêu và hôn nhân của người Việt Nam: Yêu nhau và lấy nhau là đem chính bản thân mình tặng cho nhau, là biến người mình yêu thành chính mình, hơn nữa, thành nơi cư ngụ của mình. Người này là "mình" của người kia, là "nhà" của người kia. Nói cách khác, yêu nhau và lấy nhau là ở trong nhau, là che chở cho nhau, là tự biến thành tổ ấm cho nhau.
Nguyễn Hưng Quốc
hongvulannhi  
#923 Posted : Saturday, March 19, 2011 9:57:11 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
NẾU HUẾ ĐƯỢC KỂ CHO TÔI NGHE...
VĨNH BỘI


Những trưa hè oi bức, với tiếng xe kêu rỉ rả, hoặc những trận mưa lũ dầm dề hàng tháng, làm tường ủ rêu xanh, đôi khi đã làm cho mẹ tôi phải bực mình thốt lên "Đồ xứ chi mà Ô châu ác địa!".

Bốn chữ "Ô châu ác địa" làm tôi suy nghĩ, tìm tòi trong lịch sử, mới biết rằng Huế ngày trước thuộc Chiêm Thành, tạo dựng nên nhờ bàn tay của hai Công Chúa Huyền Trân và Ngọc Báu, không khác gì Nữ Thần Athena đã dựng nên kinh đô xứ Hy Lạp mấy ngàn năm trước đó. Nguyên mùa xuân năm 1307, vua Trần Nhân Tôn gả Công Chúa Huyền Trân cho Vua Chàm Chế Mân. Để đổi lấy hai châu Ô và Lý, gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và phía bắc Quảng Nam bây giờ. Gần một năm sau Chế Mân mất, theo tục lệ Chàm, người vợ phải được hỏa thiêu theo chồng. Vua thương con gái nên sai Trần Khắc Chung sang Chiêm giải cứu. Mặc dầu có cảm tình với vị tướng anh dũng đã liều thân cứu mình, nhưng vì thể diện một Hoàng Hậu, lại nợ nước cao dày, nên nàng đã xuống tóc đi tu.

Ngày nay, mỗi khi du ngoạn trên sông Hương, khách thường được nghe điệu ca Nam Bình:

Nước non ngàn dặm ra đi
Cái tình chi, mượn màu son phấn
Đền nợ Ô Ly,
Đắng cay vì, tương độ xuân thì.

Vì là "ác địa" nên ít ai chịu cư ngụ tại các Châu Ô và Lý. Đã có lần Hồ Quý Ly dùng chính sách di dân bắt buộc, đày các tội phạm vào đây sinh sống. Nhưng khi nhà Hồ mất ngôi, luật pháp không còn, thì các phạm nhân đi cướp bóc, quấy nhiễu người lương thiện. Bởi vậy ca dao có câu:

Thương anh em cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.

Hoàng tử Huế còn ngủ thêm hai trăm năm nữa, mãi đến năm 1558 mới được công chúa Ngọc Báu đánh thức, trang hoàng lộng lẫy và để lại cho chúng ta đến ngày nay. Âu cũng là một thiên mệnh.

Như thủ đô Athenes ngày trước, nước Hy Lạp được trị vì hơn 500 năm bởi những lời sấm truyền trên đỉnh núi Olympia thì Huế cũng được khai sinh nhờ lời sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Hoành sơn nhất đới
Vạn đợi dung thân
(Sau dãy Hoành Sơn sẽ được yên thân vạn đời).

Nguyên vị sáng lập nhà Nguyễn là Nguyễn Kim, phò Lê diệt Mạc, mất đi để lại ba người con: một gái là Công Chúa Ngọc Báu gả cho Trịnh Kiễm là tướng của mình, và hai trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Nguyễn Uông chết trong một trường hợp bí mật. Vì công chúa sợ Nguyễn Hoàng sẽ khó sống bên cạnh người anh rể, nên đã bí mật sai người vào vấn kế Trạng Trình và được trả lời thuận lợi. Nàng bèn xin chồng cho em mình được vào trấn "Ô Châu ác địa". Trịnh Kiểm nhận lời, vì nghĩ rằng Nguyễn Hoàng vào đất rừng thiêng nước độc, sẽ chết ở đó, và không còn là mối đe dọa cho mình về sau.

Nguyễn Hoàng lúc bấy giờ mới 30 tuổi, ban đầu vào đóng ở Ái Tử (thuộc tỉnh Quảng Trị bây giờ). Một hôm, nhân đi quá về phía Nam, đến một nơi non sông cẩm tú, thấy dòng sông xanh mát, uốn lượn như một con rồng đang uống nước, ngẩng đầu quay lại, bên phải và bên trái có hai cù lao Thanh Long, Bạch Hổ giữ thế "rồng chầu hổ phục", phía trước có núi Ngự Bình làm bình phong, trấn giữ các ác quỷ phương Nam. Nguyễn Hoàng mừng thầm như chọn được một nơi tốt để lập kinh đô, đúng theo địa lý; nhưng khi nhìn lại phía sau chỗ chùa Thiên Mụ bây giờ, thì thấy một hố dài và sâu, cắt đứt long mạch, nên buồn rầu vô cùng.

Quả nhiên, hơn một ngàn năm về trước, vào năm 111 trước Tây lịch, khi Huế vẫn còn là đất nhà Hán, các tướng Tàu gọi nơi đây là Tây Quyền, và chọn là quận lỵ Nhật Nam. Vào thế kỷ thứ 3 và 4 sau Tây lịch, nước Chàm lại đổi tên Tây Quyền là Khu Túc (theo di tích Chàm còn để lại vùng Hổ Quyền ngày nay). Mãi đến thế kỷ thứ 9, một tướng Tàu, giỏi về cầm quân cũng như địa lý, tên là Cao Biền, trấn thủ miền An Nam, thấy Huế là một nơi trời dành, nếu để lọt vào tay kẻ địch, sẽ di hoạn về sau, bèn cắt đứt long mạch để yểm, như Nguyễn Hoàng đã trông thấy sau này. Ngài đang rầu rĩ thì bỗng dưng nằm mộng gặp một bà tóc mi bạc trắng, khoác áo đỏ, mặc quần xanh, báo cho biết sẽ có một vị minh quân đến lấp hố sâu và lập Kinh đô ở đây.
Nguyễn Hoàng mừng rỡ, nên vào năm 1601, tháng 6 Âm Lịch, xây một tháp lấy tên là Thiên Mụ (bà Trời cũng nên biết chữ mụ ở Huế nghĩa là bà).

Thiên Mụ ngà nay là một thắng cảnh, mà du khách ghé Huế ít ai không viếng thăm:

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.

Kinh đô tiền định ấy, cũng như viên ngọc quý, còn được mài dũa, đẽo gọt, qua chín triều Chúa, mỗi lần chỉ xê dịch mươi cây số về phương Nam, cho đến đời Sãi Vương mới đến gần địa điểm ngày nay; và cũng mấy lần mất vào tay họ Trịnh rồi Tây Sơn cho đến năm 1802, khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, lên ngôi, thì "châu mới về hợp phố", Huế mới trở về với nhà Nguyễn.

Không để mất thời gian quý báu, vua Gia Long bắt tay vào xây dựng Kinh Đô thái bình như các vua Đường, Nghiêu, Ngu, Thuấn bên Tàu. Bài thơ khắc ở chính diện điện Thái Hòa cho ta thấy quyết tâm:

Văn hiến thiên niên quốc,
Xa thư vạn lý đồ,
Hồng Bàng khai tịch hậu,
Nam phục nhất Đường Ngu

(Ý nói là đất nước có nghìn năm văn hiến. Cơ đồ muôn dặm xây dựng từ đời Hồng Bàng. Trời Nam đã thái bình như nhà Đường Ngu thuở trước).

Công trình xây cất khởi đầu từ năm 1804 cho đến năm 1845 trải qua các triều đại Gia Long, Minh Mạng và các vua kế tiếp. Kinh thành hình vuông chu vi đo được 10,936m. Bên trong Kinh thành là Hoàng Thành, bên trong Hoàng Thanh là Tử Cấm Thành. Cả ba thành cùng chung một trục hướng. Hoàng hành và Tử Cấm Thành còn lấy tên là Đại Nội.
Kinh Thành có 11 cửa mở ra bốn hướng. Phía trước là sông Hương, xung quanh có sông đào bao bọc, gọi là Hộ thành hà. Hoàng thành dù được xây bằng gạch, bốn hướng có cửa ra vào: phía trước có Ngọ Môn, phía sau có Hòa BÌnh, bên trái là Hiển Nhơn, bên phải là Chương Đức. Ngọ Môn,sân Đại triều, điện Thái Hòa, là nơi cử hành đại lễ. Vườn Cơ hạ có điện Khâm Văn, là nơi vua nghỉ ngơi. Cung Diên Thọ, cung Trường Sanh, là chốn ở của bà mẹ và bà nội Đức Vua. Hồ Hòa Bình nằm bên trong cửa Hòa Bình, được xây như hòn non bộ, có am, có đảo trông rất ngoạn mục.

Tử Cấm Thành có các điện Cần Chánh, Đông Các, Văn Minh, Võ Hiển v.v..là nơi Vua, Hoàng Hậu và các cung tần Mỹ nữ, thái giám trú ngụ. Chỉ kể một vài cung điện vì Đại Nội có đến 147 công trình xây cất lớn nhỏ.

Màu xanh của cây bóng mát, cây ăn trái, cỏ hoa ven hồ, cung điện, làm tỏa sự mềm mại và tươi mát, sang các kiến trúc gạch đá cứng khô. Làm sao kể hết những công trình sáng tạo ấy: một bước đi là một di tích lịch sử quý báu; đây cửu đỉnh được đúc vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835). Nhà vua muốn ghi lại công đức các triều vua nhà Nguyễn, kể từ Gia Long trở đi, cũng như vua nhà Chu ngày trước, đã đúc cửu đỉnh để tượng trưng cho chính Quận của nước mình (túc cửu đỉnh dĩ tượng cửu châu). Cao đỉnh đặt đối diện với án thờ vua Gia Long, là Thế Tổ Cao Hoàng Đế (ta để ý có chữ Cao). Nhân đỉnh đối diện với án thờ vua Minh Mạng là Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế. Các đỉnh tiếp theo là Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, và Huyền đỉnh.

Bên trái Ngọ Môn là nhà chứa chín súng thần công (cửu vị thần). Bốn vị tượng trưng cho Xuân, Hạ, Thu, Đông, còn 5 vị kia tượng trưng cho Kim, Mộc, Thủy, Thổ, Hỏa. Cửu vị thần được đúc từ 1804, đến 1805 thì hoàn tất. Nguyên liệu gồm các chiến lợi phẩm thu được, sau khi thắng Tây Sơn. Chiều dài súng đo được 5.9m, lòng sóng 0.22m, bên trên có khắc các sự việc đã xảy ra, như năm 1774 Huệ Vương phải bỏ kinh thành Huế trước sự xâm lăng của Chúa Trịnh; năm Mậu Thân 1788, Vua Gia Long đem quân về Gia Định: năm Tân Dậu 1801, Kinh đô được tái chiếm v.v..Đã là Thần, các vị khỏi phải xuất trận, nhận nhiều lễ vật lúc thắng, nhưng khi thua thì không bị khiển trách!

Điện Thái Hòa nằm cuối sân Đại triều nghi, nền lợp đá Thanh, mái ngói vàng óng ánh, cột sơn son thiếp vàng, trông thật uy nghi lộng lẫy. Điện xây vào năm 1804, là nơi để Vua thiết nghi lễ, như Hưng Quốc khánh niệm,lễ Đăng quang v.v..cũng nên biết bên trong các mái ngói, phía trên, được chia làm nhiều hộc, có khắc các bài thơ tổng cộng đến 297 bài.

Không xa điện Thái Hòa là cửa Ngọ Môn, được xây cất năm 1833, dưới Triều Minh Mạng.

Ngọ Môn năm cửa chín lầu,
Một lầu vàng tám lầu xanh,
Ba cửa thẳng, hai cửa quanh
(Ca dao)

Mái lợp tráng men vàng và xanh lấp lánh, với một tầng để trống, lầu Ngũ Phụng xây trên đài Ngọ Môn, như năm con phượng hoàng nhẹ nhàng và thanh thoát. Đọc bài thơ khắc trên lầu Ngũ Phụng:

Vân tế huyền sơ thưởng,
Ảnh tà thể vị viên,
Hà tu tam ngũ dạ,
Dĩ chiếu mãn sơn xuyên.

(Ý nói; Bên áng mây, trăng mới mọc. Bóng còn chênh, hình chưa tròn. Nhưng chẳng đợi đến đêm khuya. Cũng đã sáng khắp sông núi, cũng đủ thấy đêm trăng trên lầu Ngũ Phụng đẹp chừng nào!).

Ở đây kiến trúc và thiên nhiên là một sự hòa hợp kỳ diệu.
Cũng may chúng ta đã có những ông vua thi sĩ (roipoete) như các nhà Tây Phương khi viếng thăm Huế đã từng nói. Thấm nhuần tư tưởng phương Đông, nhà vua đã biết lưu ý đến quan niệm kiến trúc, làm sao cho hòa hợp với thiên nhiên như một phần của nó. Thiên nhiên đã tặng cho Huế một dòng Hương trong xanh, hiền hòa như một người tình, mà Hoàng Tử là Kinh đô đã ôm gọn vào lòng, như ôm một nỗi nhớ thiết tha về một vẻ đẹp nào đó chưa đạt thấu trên cõi đời này, vả cũng như những người tình đẹp khác, dòng sông cũng thay áo tùy theo ánh sáng: lúc thì xanh thẫm; nhưng khi ánh nắng vàng chiếu xuống gay gắt thì chuyển hóa sang màu lục lá chuối non; chiều tà xuống, ánh trời đỏ rực, nhuộm màu nước xanh thành tím ngát, như một dòng sông hoang đường, làm thi sĩ Đoàn Phú Tứ ngẩn ngơ:

Màu thời gian không xanh,
Màu thời gian tím ngát.

Sông Hương đã quyến rũ biết bao nhiêu thi sĩ, nghệ sĩ sáng tác, là nơi hẹn hò của tao nhân mặt khách.

Chúng ta thử đi một vòng đò trên sông Hương để lắng nghe điệu hò Mái nhì, khoan thai, nhịp nhàng và trong trẻo;

Hơ à à...hơ à hơ
Trời một vùng sông dài vô hạn
Mượn gió chiều hỏi bạn ngàn sông.
Thân em như sợi chỉ hồng.
To duyên có chắc như dòng nước không?

Tiếng hò người con gái ngân lên trong đêm khuya, chờ đợi câu trả lời bên nam, và cứ tiếp tục như thế cho đến phá Tam Giang thì chia cách.
Điệu Nam Ai thì nghe buồn não nuột; lời ca nghệ sĩ hòa nhịp với tiếng đàn, tiếng phách:

Huyền Trân công chúa,
Ngoảnh lui cố quốc, ngập ngừng gót ngọc,
Mây phủ kín trời thương,
ngơ ngẩn bâng khuâng.
...

Hò giã gạo, nhịp nhàng vui vẻ thường là đấu trí giữa nam và nữ:

Đố anh trên trời có mấy vì sao?
Dưới rào (sông) có mấy con cá,
Dưới Hà bá có mấy ông vua,
Đông, tây, nam, bắc, có mấy chùa,
Chợ Đông Ba kẻ bán với người mua, mấy người? Khi cối gạo cuối cùng gần xong thì "tiếng gà đã rộn trong thôn"...và người viết cũng ngỡ ngàng vì... "Nhớ Huế!".
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#924 Posted : Monday, March 21, 2011 7:08:49 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
TỤC NGỮ CA DAO VÀ QUÊ HƯƠNG


UserPostedImage


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 3 users thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 3/28/2011(UTC), lanthanh on 4/25/2011(UTC), Góc on 7/12/2011(UTC)
hongvulannhi  
#925 Posted : Monday, March 21, 2011 8:52:13 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Một Chút Tâm Tình


Ca dao tục ngữ là một trong những đặc điểm chính trong nền văn hóa đẹp và sáng ngời của dân tộc …nên vấn đề bảo tồn và lưu truyền những nét đẹp văn hóa của dân tộc mình rất cần thiết.

Vì vậy Tục Ngữ Ca Dao Và Quê Hương có mục đích để chúng ta, những người con của Mẹ Việt Nam, hãy cùng nhau cố gắng gìn giữ những lời nói mộc mạc, chân tình phát xuất từ những người dân quê qua kinh nghiệm trong đời sống hàng ngày, về tình người, tình quê hương, Dân Tộc.

LN cũng xin mời các bạn, mỗi người góp một tay, chỉ cần mỗi ngày một câu ca dao, hay là câu chuyện đồng quê có dính dáng đến ca dao, để chúng ta cùng thưởng thức.

LN cũng xin khẳng định, đây là tiếng nói chân thực của tục ngữ ca dao, không là những ca dao tục ngữ đã bị biến chế theo thời đại.

Tình thân,

HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 2 users thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 3/28/2011(UTC), lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#926 Posted : Monday, March 21, 2011 9:17:46 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
VÌ SAO TÔI YÊU TỤC NGỮ CA DAO


Vì sao tôi yêu tục ngữ ca dao, đó chính là điều mà hôm nay tôi muốn nói đến lòng biết ơn sâu xa của tôi đối với Mẹ hiền, người đã ru vào đời tôi những câu ru ngọt ngào, đầy tình tự quê hương... từ thuở nằm nôi, và sẽ còn mãi mãi cho tôi biết yêu những câu lục bát dễ thương, đẹp như dòng sông nước chảy lững lờ, hay như buổi chiều khi nắng nhạt nhoà trên những vòm cây nơi thôn làng...

Tôi yêu miền quê, yêu tiếng chày giã gạo vào đêm trăng, yêu tiếng sáo diều vi vu trên bầu trời đầy mây vào buổi chiều, và yêu tiếng ru hờ à ơi với tiếng võng kẽo kẹt, trong buổi trưa nồng gió hạ, có tiếng gà gáy trưa im buồn...

Tôi yêu tiếng ru của mẹ, khi nằm chờ giấc ngủ, được gối đầu trên cánh tay mẹ, và quàng tay ôm khuôn mặt mẹ, như muốn níu xuống thật thấp, để nghe rõ ràng lời ru êm:

À a à ơi,

Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chua về
Bắt được con diếc, con trê
Đem về làm thịt cho cái ngủ ăn
Cái ngủ ăn chẳng hết
Để dành đến tết mồng năm...

và giọng mẹ ngọt ngào ru tiếp, một tay khi xoa đầu tóc tôi, khi xoa lưng vì sợ cơn nóng hè oi ả, " rôm " sẽ làm ngứa lưng..

À à ơi,

Con mèo mày trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đàng xa
Mua mắm muo muối giỗ cha chú mèo...

hoặc :

Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
Chém tre đẫn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Những tre cùng nứa lấy ai bạn cùng...

Tiếng ru êm ái ngọt ngào đó của mẹ đã làm cho đôi mắt tôi khép lại và chìm dần trong giấc mộng trẻ thơ :

Hôm qua tát nưóc đầu đình
Để quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho
Giúp em một thúng xôi vó
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu ẹm nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau ...

Mỗi tối, mẹ ru hoài những lời ca dao tình tự ấy đã thấm nhuần vào trí hồn tôi lúc nào không hay.

Cho nên, sau này, khi tôi đã 5, 7 tuổi, biết chơi búp bế, tôi cũng đã ru búp bế ngủ bằng những bài ru mà tôi đã thuộc nằm lòng từ mẹ.

Tôi chỉ còn nhớ mang máng khi chiến tranh Pháp - Việt Minh bùng nổ vào tháng 8 năm 1945, gia đình tôi đã chạy xuống Vĩnh Hồ, cách Hà Nội khoảng mấy chục cây số. Gia đình tôi đông anh em, tới 11 người, lại còn cộng thêm gia đình ông anh thứ hai là Lê Huy Giáp đã lập gia đình và chị Giáp lúc ấy đang có bầu gần ngày sinh nở, cho nên Thày mẹ tôi đã phải thuê một căn nhà khá lớn.

Tôi vẫn còn nhớ, đó là căn nhà trong một khu biệt thự lớn, có cổng sắt to, và căn nhà gia đình tôi thuê là căn nhà đã bỏ hoang, nhưng rất nhiều phòng và rộng rãi.

Và cháu Minh Phú đã mở mắt chào đời tại Vĩnh Hồ, vào ngày mồng 1 tháng 9 năm 1945.

Tôi hay thơ thẩn ngoài vườn sạu trong khu đất trống bỏ hoang cách nhà cũng khá xa. Tôi thích ngồi trên những tảng đá bị cỏ hoang phủ đầy, và nhẩm học những câu ca dao mà mẹ tôi đã bắt học thuộc lòng.

Bây giờ, không còn là những bài hát ru nữa, mà là những câu dạy đời, khuyên nhủ về đạo đức về tình người:

Chẳng hạn:

- Bầu ơi thuơng lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

- Ở sao cho vừa lòng ngườí
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.

- Chẳng tham ruộng cả ao liền
Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

- Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng.

- Sông sâu còn có kẻ dò
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.

Học thuộc lòng mấy câu tục ngữ ca dao thì dễ thôi, cái mà tôi sợ nhất là mẹ bắt học thuộc lòng bài kinh thật dài với tựa đề " Dọn Mình Chết ". Chao ôi, ở cái tuổi chưa đủ lớn, mà lại đã phải nghĩ đến ngày nào đó, mình ra đi, thì nản đời biết chừng nào. Ấy vậy mà tôi cũng đã phải học thuộc, và còn nhớ như in đến bây giờ.

Tuy nhiên, vì từ thuở ấu thơ, mẹ đã gieo vào lòng tôi những câu thơ lục bát, cho nên khi có trí khôn, tôi đã yêu những vần thơ lục bát. Và điển hình là yêu những câu thơ chân chất tình người, những vần thơ của nhà thơ chân quê Nguyễn Bính:

Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương,
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa
Cậy em, em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Hôm nay xác pháo đầy đường
Ngày mai xác pháo còn vương khắp làng
Chuyến này chị bước sang nagng
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây.
Ruợu nồng em uống cho say
Vui cùng chị một vài giây cuối cùng
( Rồi đây sóng gió ngang sông
Đầy thuyền hận chị lo không tới bờ )...

( Lỡ Bước Sang Ngang )

Chỉ với 10 tuổi đầu, tôi đã mê thơ Nguyễn Bính, và thuộc lòng bài thơ Lỡ Bước Sang Ngang, dù chẳng ai bắt học thuộc lòng cả.

Và, hình ảnh miền quê, với sông, núi, với con thuyền lơ lửng trên sông, với khóm tre đong đưa theo gió, và những vần thơ lục bát, đã tạo nên một Hồng Vũ Lan Nhi với tâm hồn thơ mộng, lãng mạn tuyệt vời!

Nhắc đến mẹ, lòng tôi bao giờ cũng xót thương, bởi vì tôi luôn là kẻ làm mẹ buồn nhiều hơn vui.

Mẹ muốn tôi học giỏi, thì tôi lại ham chơi hơn học.
Mẹ muốn dạy tôi cách nấu nướng, những món đặc nhà quê, như kho thịt, kho cá bằng nồi đất v..v... Nhưng tôi lại chỉ thích là kẻ chạy bàn trong những ngày giỗ chạp, để phần các chị lớn lo nấu cỗ. Mẹ đã cho tôi đi học nấu cỗ với bà Lộc, nhưng tôi lại thưa cùng mẹ :

- Nếu số con giầu có, con đã có tiền nuôi xẩm, lo gì phải nấu. Nếu số con nghèo, làm gì có tiền để mua gà, mua nấm, để mà nấu.

Biết con gái lười, mẹ cũng đành cười:

- Vụng chèo nhưng lại khéo chống.

Năm tháng qua đi trong vui, buồn, sướng, khổ. Giờ đây, viết về ca dao tục ngữ, nhắc đến mẹ, để thấy lòng con hãnh diện về mẹ đến thế nào!

Mẹ ơi!

HONG VU LAN NHI

Edited by user Thursday, March 24, 2011 4:36:54 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 3 users thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 3/28/2011(UTC), langthang09 on 3/29/2011(UTC), lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#927 Posted : Tuesday, March 22, 2011 7:25:16 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
UserPostedImage


Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhuỵ vàng
Nhuỵ vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

(Ca dao)

Edited by user Thursday, March 24, 2011 4:35:37 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#928 Posted : Thursday, March 24, 2011 4:32:57 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Ca Dao và Lịch Sử


Phương Nghi

Ca dao, tục ngữ là tiếng nói của dân gian Việt, trải qua nhiều thời đại, từ thời xưa và đến cả thời nay. Ca dao, tục ngữ phản ảnh tâm tư, tình cảm của người dân trong sinh hoạt hằng ngày, không chỉ ở nơi đồng nội mà còn ở thành thị, kinh đô. Tuy là ngôn ngữ dân gian, nhưng ca dao, tục ngữ không phải là tiếng nói bình thường mà là ngôn ngữ có vần điệu, ngắn gọn và vì ngắn gọn, có vần điệu nên dễ phổ biến rộng rãi trong quần chúng.

Từ trước, người ta thường có quan niệm rằng ca dao, tục ngữ là văn chương bình dân, phát xuất từ nông thôn, thật sự ca dao tục ngữ là tiếng nói của nhiều tầng lớp dân chúng, và có lẽ phần lớn tác giả là những kẻ sĩ, cư ngụ ở khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn.

Ca dao, tục ngữ là loại văn chương truyền khẩu, biểu hiện nhiều mặt sinh hoạt của quần chúng Việt Nam, nhất là về mặt tình cảm, nên trong ca dao rất phong phú khúc hát trữ tình. Ngoài ra, đặc biệt ca dao, tục ngữ còn biểu lộ những nhận định của dân chúng đối với những hành vi tốt, xấu của con người trong xã hội khi giao tiếp với nhau, hay bình luận, phê phán giới lãnh đạo trong chính quyền hiện tại, hoặc trong quá khứ, tức là những nhân vật lịch sử và các biến cố liên quan đến vận mệnh dân tộc và đất nước.

Trường hợp này, ca dao, tục ngữ có thể xem là một hình thức ngôn luận của quần chúng ở thời đại xưa, khi xã hội chưa phát triển, chưa có điều kiện phổ biến dư luận của người dân như là báo chí hoặc các hình thức thông tin trong thời đại mới, mặc dù từ trước đã có thư tịch nhưng chỉ là để chuyển tải văn chương, sử liệu, mô phạm (thánh mô hiền phạm) v...v... Bài viết này chỉ đề cập đến phần ca dao, tục ngữ có liên hệ với các vấn đề lịch sử Việt Nam.

Nho giáo từ Trung Quốc truyền sang đất Việt, qua giới nho sĩ, từ trước thường có quan niệm trọng nam khinh nữ (nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô). Nhưng đối với người dân Việt thì không có quan niệm kỳ thị đó, nhất là đối với hạng anh thư nữ kiệt.

Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cỡi voi bành vàng

Rõ ràng câu ca dao này đã ca ngợi công đức chống ngoại xâm của Triệu Nữ Vương (tức là Triệu Thị Trinh - mà sử Tàu miệt thị gọi là Triệu ...u : Bà vú Triệu). Sau cuộc nổi dậy chống Tô Ðịnh của Hai Bà Trưng bị thất bại, Bà Triệu noi gương anh dũng đó đã phất cờ khởi nghĩa chống quân Ðông Ngô. Khi Bà đánh giặc, mặc áo giáp vàng cỡi voi xông vào quân địch như vào chỗ không người, xưng danh hiệu là Nhụy Kiều tướng quân. Sau một thời gian dài bị lệ thuộc Trung Hoa, Việt Nam giành được độc lập và Ngô Quyền thiết lập một vương triều tự chủ, sau hơn 10 thế kỷ chịu nhục của người dân dưới ách đô hộ. Nhưng cuối đời nhà Ngô, vì thế lực suy yếu, nên đã có 12 sứ quân nổi dậy, đánh lẫn nhau, làm cho dân tình khổ sở. Các sứ quân đó, trong hơn 20 năm, vẫn xưng hùng xưng bá, không ai chịu phục ai. Kết cuộc, họ phải khuất phục dưới tay Vạn Thắng Vương Ðinh Bộ Lĩnh, tức Ðinh Tiên Hoàng sáng lập ra vương triều nhà Ðinh. Phán xét sự tranh giành quyền lực của các sứ quân và cuộc chiến thắng của Ðinh Bộ Lĩnh, dân gian đã tóm gọn trong câu ca dao:

Ở đời muôn sự của chung
Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

Thật vậy, ở đời muôn sự của chung, nhưng của chung đó không phải là ai cũng có thể chiếm hữu dễ dàng. Phải có tài năng hay mưu lược quyền biến.

Ngôi vua cuối cùng của nhà Lý thuộc về Lý Chiêu Hoàng, tức là Chiêu Thánh công chúa, con vua Lý Huệ Tôn, mới lên 7 tuổị Quyền hành lúc đó ở trong tay Trần Thủ Ðộ. Và Thủ Ðộ đã làm chủ hôn cho cháu là Trần Cảnh lấy Chiêu Hoàng, để chuyển vương quyền qua nhà Trần. Quần chúng có lòng lưu luyến nhà Lý đã tỏ lòng công phẫn và mỉa mai trong câu ca truyền khẩu:

Trống chùa ai đánh thì thùng
Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng

Dưới đời vua Trần Anh Tông, vì lý do chính trị, đã gả em gái là Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân để đổi lấy 2 châu Ô, Lý (tức Ðịa Lý và Bố Chính), sau đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu. Người Việt vẫn có tinh thần kỳ thị chủng tộc, cho người Chiêm là giống man di, lên tiếng phản đối việc làm này của triều đình nhà Trần

Tiếc thay cây quế giữa rừng
Ðể cho thằng Mán thằng Mường nó leo

Quần chúng còn tiếc thương cho thân phận một vị công chúa, lá ngọc cành vàng, phải lấy chồng man rợ ở phương xa, qua ca khúc Nam Bình, vẫn lưu truyền ở cố đô Huế: "Nước non ngàn dặm ra đi".

Về sau, Chế Mân chết, vua Trần sai Trần Khắc Chung sang Chiêm tìm cách đưa Huyền Trân về nước để khỏi bị hỏa thiêu theo chồng (theo tục lệ Chiêm). Dư luận quần chúng có vẻ khắc nghiệt khi nghi ngờ về tình cảm của Trần Khắc Chung đối với công chúa Huyền Trân trên chặng đường thủy dài ngày đưa công chúa về nước. Người ta xót xa thân phận Huyền Trân, một lần nữa, qua tay Trần Khắc Chung.

Tiếc thay hột gạo trắng ngần
Ðem vò nước đục lại vần lửa rơm

Nhưng đó chỉ là chuyện đồn đại trong dân gian, không có bằng chứng gì xác thực.

Khi Lê Lợi dấy binh chống Minh, khởi đầu ở vùng Thanh Hóa, sau chiếm lĩnh Nghệ An để mở rộng khu vực chiến đấu, nhân dân đã phấn khởi ca ngợi vùng đất tự do ấy và cổ võ cuộc di dân vào vùng này:

Ðường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô

Các biến cố lịch sử ảnh hưởng rất lớn đến đời sống dân chúng, nhất là loạn lạc. Chiến tranh gây cảnh điêu tàn, chết chóc, nhà tan cửa nát. Nhân dân chỉ biết kêu trời, bày tỏ nỗi oán thán:

Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Em về nuôi cái cùng con
Ðể anh đi trẩy nước non Cao Bằng

Ấy là thảm cảnh của người dân phải thi hành nghĩa vụ tòng quân dưới thời Nam Bắc Triều, xảy ra cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc. Cao Bằng là căn cứ địa trọng yếu của nhà Mạc. Người lính trong câu ca dao trên thuộc hàng ngũ quân Trịnh, được lệnh lên đường đánh quân Mạc, vỗ về vợ con trong buổi chia ly. Từ khi Trịnh Tùng diệt được nhà Mạc, dù với danh nghĩa phù Lê, nhưng tập trung mọi quyền hành vào tay mình rồi xưng Chúa, vua Lê chỉ còn giữ hư vị.

Trong lúc họ Trịnh xưng chúa ở miền Bắc, thì Nguyễn Hoàng được Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hóa từ trước, gây dần thế lực, đến lúc vững mạnh cũng xưng chúa ở miền Nam. Rồi đôi bên gây nên cuộc Nam Bắc phân tranh, kéo dài đến non nửa thế kỷ. Họ đánh nhau liên miên, xây thành đắp lũy kiên cố, hiểm trở để phòng chống nhau, nên có câu tục ngữ:

Hiểm nhất lũy Thầy
Thứ nhì đồng lầy Võ Xá

Lũy Thầy tức là lũy Trường Dục, do Ðào Duy Từ chỉ huy xây cất. Nhờ lũy này, quân Nguyễn mới chống cự được lâu dài với quân Trịnh, phải lặn lội đường xa, vất vả nên ở thế bất lợi trong việc tiến quân đánh Nguyễn. Cuộc nội chiến Nam Bắc giữa hai nhà Trịnh - Nguyễn kéo dài, nhưng hai phe cũng liên tục kế truyền nghiệp Chúa. Và cũng vì chiến tranh quá lâu dài nên sau cuộc ngưng chiến, với sông Gianh làm giới hạn hai miền Nam Bắc, họ Trịnh tổ chức một xã hội gần như thanh bình ở Bắc. Các vua chúa cũng như quần thần có mức sống xa xỉ, trụy lạc. Theo tập "Vũ Trung Tùy Bút" của Phạm Ðình Hổ, đời chúa Trịnh thứ 12 là Trịnh Sâm thường tổ chức nhiều cuộc vui chơi ở ly cung trên Tây Hồ, sai người xây cất luôn mãi. Mỗi lần vui chơi thì lại có binh lính hầu quanh hồ, các nội thần thì giả làm đàn bà và dân thì bày bán hàng hóa như ở chợ để vua quan mua sắm.

Cũng dưới triều Trịnh Sâm, phế bỏ con cả là Trịnh Khải, lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử (con của sủng phi Ðặng Thị Huệ, thường gọi là Bà Chúa Chè), giao cho Huy Quận Công Hoàng Ðình Bảo làm phụ chính. Khi Trịnh Sâm mất, đảng Trịnh Khải mưu với quân tam phủ nổi loạn, giết Quận Huy và được tam quân (thường gọi là loạn kiêu binh - hạng lính được ưu đãi, tuyển mộ ở Thanh Nghệ = Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần) lập lên làm Chúa, tức là Ðoan Nam Vương. Khi Trịnh Sâm còn sống, ham vui thú ăn chơi, nên mọi quyền hành ở tay Quận Huy. Ông này tự do ra vào cung cấm và có mối liên hệ bất chính với Tuyên phi Ðặng Thị Huê Việc này không tránh khỏi búa rìu của dư luận quần chúng:

Ba quân có mắt như mờ
Ðể cho Huy Quận vào sờ chính cung

Khi viết tập "Vũ Trung Tùy Bút", về việc chúa Trịnh ham mê hưởng lạc, bày cảnh vui chơi làm khổ dân với nhiều sai dịch, Phạm Ðình Hổ đã cho là có sự bất tường. Cho nên hết đời Trịnh Sâm, các con ông là Trịnh Khải và Trịnh Cán vì tranh quyền đã gây rối loạn ở kinh thành. Trịnh Cán (con Tuyên phi Ðặng Thị Huệ) mới được lập lên, với sự hỗ trợ của Quận Huy, chưa được hai tháng, thì bị anh là Trịnh Khải trừ diệt. Và các chúa Trịnh từ đó về sau cũng vì lý do nữ họa mà mất nghiệp:

Sự này chỉ tại Bà Chè
Cho Chúa mất nước cho Nghè làng xiêu

Về chuyện hai anh em họ Trịnh tương tàn, dân gian đã cố lời bàn tán:

Ðục cùn thì giữ lấy tông
Ðục long cán gãy còn mong nỗi gì

"Tông" ám chỉ tước hiệu của Trịnh Cán (Tông Ðô Vương). "Ðục long cán gãy" là nghiệp chúa của Trịnh Cán không tồn tại bao lâu.

Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ thứ 17 đến đầu thế kỷ thứ 19, suốt 200 năm là một chuỗi biến cố đẫm máu. Hết cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn, đến cuộc tương tranh Nguyễn - Tây Sơn. Từ lúc anh em Tây Sơn khởi nghĩa, chủ yếu là vua Quang Trung, lập nên một triều đại huy hoàng với nhiều võ công oanh liệt, nhưng khá ngắn ngủi:

Ðầu cha lấy làm đuôi con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi

Tương truyền đây là một câu sấm ứng vào việc triều Tây Sơn mất nghiệp sau 14 năm. Ðầu chữ Quang (- Quang Trung) lấy làm đuôi chữ Cảnh ( - Cảnh Thịnh).

Một câu ca dao khác, cũng cùng ý nghĩa:

Cha nhỏ đầu con nhỏ chân
Ðến năm Nhâm Tuất (1802) thì thân chẳng còn

Chữ "tiểu" ở trên đầu chữ Quang, ở chân chữ Cảnh. Trong xã hội Việt Nam ngày trước, có hạng sĩ phu, ở lẫn trong dân chúng, thường nhận định về các hoạt động của giới cầm quyền đương thời và đề xuất những câu sấm để tuyên truyền cho một phe phái nào đó. Câu sấm được truyền trong dân gian bằng cách dạy cho trẻ con hát khi nô đùa ở các nơi công cộng. Chẳng hạn câu sấm sau đây, dưới hình thức ca dao, được truyền là của các cựu thần nhà Mạc tổ chức chống Trịnh làm ra để liên lạc với các đồng chí tìm đến cơ sở ở mạn Bắc:

Ai lên Phố Cát Ðại Ðồng
Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa?
Có chồng năm ngoái năm xưa
Năm nay chồng bỏ như chưa có chồng

Dù chiến tranh xảy ra giữa hai miền Nam Bắc hết sức khốc liệt, nhưng hai họ Trịnh Nguyễn vẫn thực hiện những công cuộc phúc lợi ở vùng họ cai trị.

Ở Nam, các chúa Nguyễn nhiều đời trấn thủ, mưu cầu an cư lạc nghiệp cho dân chúng. Dưới đời chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu, đường đi qua vùng Hồ Xá - Quảng Trị (tức truông nhà Hồ) thường có bọn cướp ẩn núp, cướp bóc kẻ qua đường. Năm 1722, Chúa sai ông Nguyễn Khoa Ðăng, làm Nội Tán, đi đánh dẹp bọn cướp đó. Người dân ca tụng việc ấy, qua câu ca dao quen thuộc:

Nhớ em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ, Nội Tán cấm nghiêm

Phá Tam Giang ở huyện Quảng Ðiền, tỉnh Thừa Thiên, nơi có 3 sông lớn của Huế (sông Ô Lâu, sông Bồ,sông Hương) chảy về rồi đổ ra cửa biển Thuận An. Phá này nhiều sóng lớn, thuyền bè qua lại khó khăn, về sau cạn đi.

Sau một thời gian dài, suốt 25 năm, đấu tranh gian khổ, Chúa Nguyễn Ánh đã có thế vững mạnh, tiến quân ra Trung để chiến thắng Tây Sơn. Nhân dân miền Nam vốn có cảm tình với nhà Nguyễn đã truyền câu hát:

Lạy trời cho chóng gió nồm
Ðể cho Chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra

Khi Chúa Nguyễn còn ở trong Nam, tổ chức cuộc Nam tiến vào đất Gia Ðịnh, khẩn hoang lập ấp. Dân chúng đồng lòng cổ võ:

Nhà Bè nước chảy rẽ hai
Ai về Gia Ðịnh Ðồng Nai thì về

Vua Gia Long thống nhất sơn hà, lập nên triều Nguyễn, truyền được 13 đời vuạ Kế tục sự nghiệp mở nước của Thế Tổ Gia Long, vua Minh Mạng đã có công dẹp các vụ nổi loạn ở Bắc và Nam, cũng như chống cự ngoại xâm (Xiêm), chiếm Chân Lạp, bảo hộ Ai Lao.

Về nội trị, vua chấn chỉnh luật pháp, chế độ, làm thành một nước có kỷ cương, văn hiến. Trong việc bảo vệ phong tục, vua đã chạm đến tinh thần bảo thủ của người dân miền Bắc, tức là cấm đàn bà mặc váy:

Tháng sáu có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Ði thì phải lột quần chồng sao đang?

Dưới triều vua Tự Ðức, nhiều biến cố trọng đại đã xảy rạ Từ những vụ nổi loạn ở miền Bắc, chủ trương phù Lê, như giặc Châu Chấu (có Cao Bá Quát làm quốc sư), Cai Tổng Vàng ở Bắc Ninh, giặc Khách ở Cao Bằng. Ở triều đình, có người anh vua Tự Ðức là Hồng Bảo, âm mưu đoạt ngôi nhưng thất bạị Năm 1886, nhân dịp vua Tự Ðức cho xây Khiêm Lăng ở Vạn Niên (Huế), ba anh em họ Ðoàn (Ðoàn Trưng, Ðoàn Trực, Ðoàn AÙi) khai thác nỗi oán hận của người dân phải đi làm phu gian lao vất vả, nổi dậy chống triều đình. Họ khích động dân bằng câu ca dao:

Vạn niên là Vạn niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân

Trong cuộc khởi nghĩa nầy, họ Ðoàn tôn Ðinh Ðạo (con của Hồng Bảo - cải họ Ðinh, sau khi Hồng Bảo bị tội, tự thắt cổ chết) làm minh chụ Vụ này cũng không thành công. Ngoài các vụ nổi loạn, triều vua Tự Ðức còn phải đối phó với cuộc xâm lăng của người Pháp.

Tự Ðức là ông vua có tinh thần bảo thủ, từ khước đề nghị canh tân của các sĩ phu, nhất là Nguyễn Trường Tộ, nên vận nước có chiều suy vong. Vua Tự Ðức chỉ là một nho sĩ thuần túy, có tiếng hay chữ nhất triều Nguyễn, ưa thích thi văn, ngâm vịnh. Dưới triều vua, có ông Lê Ngô Cát là một danh sĩ, đã soạn một bộ sử bằng văn vần là "Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca". Soạn xong, ông dâng lên vua Tự Ðức ngự lãm. Vua xem rồi ban thưởng cho ông Cát:

Vua khen thằng Cát nó tài
Ban một cái khố với hai đồng tiền

Việc ban thưởng này, có lẽ do chuyện bàn tán giữa các đồng liêu với ông Cát ở triều đình, nhưng lại lọt ra ngoài, nên dân gian đã có lời phẩm bình mỉa mai trên, cho rằng vua Tự Ðức không quí trọng văn tài của người khác.

Sau khi vua Tự Ðức mất, quyền hành ở triều đình Huế thuộc về hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Hai ông này trong bốn tháng đã phế và lập 3 vua: Dục Ðức, Hiệp Hòa và Kiến Phúc. Cho nên thời đó, trong dân gian có câu, giữa lúc có sự tranh chấp gi"a Pháp và Việt:

Nhất giang lưỡng quốc nan phân THUYẾT
Tứ nguyệt tam vương triệu bất TƯỜNG

Nghĩa là: Một sông hai nước (Việt - Pháp) không thể thương thuyết, bốn tháng ba vua điềm chẳng lành. (cuối 2 câu có tên hai ông Thuyết và Tường).

Thời gian triều đình Huế khởi xướng công cuộc chống Pháp với các đại thần và các tướng lãnh, dù có tâm huyết nhưng thiếu kinh nghiệm lãnh đạo chiến tranh, nên dân chúng đã có lời bình phẩm có phần khắc nghiệt:

Nước Nam có bốn anh hùng
Tường gian Viêm dối Khiêm khùng Thuyết ngu

Tường là Nguyễn Văn Tường, trước sát cánh với Tôn Thất Thuyết chống Pháp, sau ra hàng. Viêm là Hoàng Kế Viêm, trước cũng chống Pháp, sau được vua Ðồng Khánh phục chức và sai đi dụ hàng vua Hàm Nghị Khiêm là Ông Ích Khiêm, một vị quan thời Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chuyên quyền, vì tính khẳng khái, không luồn cúi cấp trên, làm phật ý hai ông Tường, Thuyết nên bị giam vào ngục. Dân gian nói ông Khiêm "khùng vì có tính khí khác thường, ngang bướng, không chịu khuất phục cường quyền. Và "Thuyết ngu", ngụ ý cho rằng ông Thuyết là một kẻ "hữu dũng vô mưu". Dù sao, dư luận quần chúng cũng chê hai kẻ gian dối và khen hai người trung can, nghĩa khí.

Thời Pháp xâm lược nước ta, người dân không khỏi buồn lòng nhìn thế sự rối reng:

Ðêm đêm chớp bể mưa nguồn
Hỏi người quân tử có buồn chăng ai?

Nhất là cảnh quốc phá gia vong với một triều đại suy tàn:

Một nhà sinh đặng ba vua
Vua còn (Ðồng Khánh) vua mất (Kiến Phúc) vua thua chạy dài (Hàm Nghi)

Tuy thua chạy dài, nhưng vua Hàm Nghi với sự phù trợ của Tôn Thất Thuyết và các trung thần, nghĩa sĩ đã phát hịch kêu gọi nhân dân hưởng ứng chống Pháp, khởi xướng phong trào Cần Vương ở khắp nơị Tình trạng trong nước Việt lúc bấy giờ đã phân hóa làm hai:

Gẫm xem thế sự thêm rầu
Ở giữa Ðồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi

Ở giữa, tức là kinh đô Huế, hai đầu là Nghệ Tĩnh và Nam Ngãi, nơi phát triển phong trào Cần Vương.

Tinh thần ái quốc của người Việt vẫn liên tục sôi nổị Dù công cuộc chống Pháp của vua Hàm Nghi bị thất bại, nhưng đến đời vua Thành Thái, âm mưu chống Pháp vẫn âm thầm trong trí vị vua đã từng giả điên giả cuồng để tránh mắt dò xét của người Pháp.Dân gian phát hiện một hành động của vị vua yêu nước này, mà người ta tưởng lầm là hành vi bất chính, khi vua vốn mang tiếng điên khùng:

Kim Long có gái mỹ miều
Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi

Tương truyền vua Thành Thái có tổ chức một đội nữ binh ở ngoại thành, một địa điểm bí mật ở vùng Kim Long và giao cho một vị tướng phụ trách huấn luyện để chờ dịp khởi nghĩa. Nhiều đêm vua xuất cung vi hành để đến xem xét kết quả của việc huấn luyện đó.

Vua Duy Tân lên làm vua lúc mới 8 tuổi, nhưng lớn lên có chí khí và có lòng yêu nước mãnh liệt. Cũng như vua Thành Thái, vua Duy Tân có ý chống Pháp. Vua thường ra ngoài cung điện để xem xét dân tình và tìm cách liên lạc với các nhân sĩ. Ði dạo chơi trên bãi biển, tay vấy cát, người hầu lấy nước cho vua rửa. Vua nói: "Tay nhớp (bẩn) lấy nước rửa, thế nước nhớp lấy gì mà rửa?".

Phong trào Văn Thân bí mật liên lạc với vua để tìm phương cứu quốc. Năm 1915, đảng Việt Nam Quang Phục cử Trần Cao Vân và Thái Phiên hợp tác với vua mưu đồ khởi sư Họ hẹn gặp nhau trên bờ sông Ngự Hà, giả làm người đi câu để tránh tai mắt địch. Rồi mưu đồ phục quốc của vua Duy Tân cũng bị thất bại và vua phải đi đàỵ Người dân Huế thương tiếc vua cùng các nghĩa sĩ Trần Cao Vân và Thái Phiên đã hiến thân vì nước:

Chiều chiều ông Ngự ra câu
Cái ve cái chén cái bầu sau lưng

Và trên dòng Hương Giang, nhiều năm sau, trên các chuyến đò dọc, người ta còn nghe mấy câu hò trầm thống, bi đát, đầy tâm sự của kẻ mang hoài bão cứu nước không thành:

Trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu
Ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm
Ai nhớ ai mong
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non

Như trên đã nói, ca dao là phản ảnh một phần nào dư luận của quần chúng Việt Nam đối với các hiện tượng trong xã hội ở thời kỳ các phương tiện truyền thông bằng văn tự chưa phát triển.

Với người dân, các hành vi của giới cầm quyền, cũng như hành động của các nhân vật trong nước, đều phải chịu sự bình phẩm, phán xét của công luận. Những hành vi có đạo đức, thiện tâm được khen ngợi, ca tụng, trái lại xấu xa, đê tiện đều bị chê bai, nguyền rủa.

Trăm năm bia đá cũng mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Ca dao, nhất là loại ca dao có liên quan đến lịch sử Việt Nam là tấm bia miệng để đời cho người ta ghi nhớ, là tấm gương cho nhiều thế hệ soi chung và bản thân những câu ca dao đó cũng là những phán xét của lịch sử.

Phương Nghi

Edited by user Friday, March 25, 2011 3:40:02 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 3 users thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 3/28/2011(UTC), langthang09 on 3/29/2011(UTC), lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#929 Posted : Friday, March 25, 2011 3:39:14 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
CỤ THỂ HÓA VÀ KỊCH TÍNH TRONG CA DAO


TRIỀU KHÊ


Ca dao ca ngợi tình người, ca ngợi tình yêu. Tuy tình yêu là vở kịch buồn của cõi đời, tuy biết tình yêu đôi khi còn mạnh hơn nỗi chết, nhưng người ta vẫn say mê, lao đầu đi tìm. Trái với văn chương bác học, văn chương quần chúng là ca dao, không đủ từ ngữ trừu tượng để diễn tả ý tình, cho nên các tác giả khuyết danh của ca dao đã lấy những gì tả thực, có đủ kích thước ba chiều, để đưa vào những câu thơ bình dị.

Xin đọc một vài ví dụ:
Đôi ta như thể con tằm,
Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong.
Đôi ta như thể con ong,
Con quấn con quít, con trong con ngoài.
Đôi ta như thể con bài,
Chồng đánh vợ kết, chẳng sai quân nào.

Con tằm, lá dâu, con ong, bài tam cúc,... là những gì rất quen thuộc trong đời sống hàng ngày. Những con vật nhỏ bé, cây dâu, bộ bài đã gây đau khổ, sung sướng, hồi hộp, mừng vui, thất vọng cho người dân ở thôn quê. Còn cảnh nào hả hê, thích thú bằng ngắm một nong tằm đang ăn rỗi, hứa hẹn những cái kén tơ vàng ối. Ví hai kẻ yêu nhau như đôi tằm đang chăm ăn chung một lá dâu xanh, tuy thiếu lãng mạn nhưng vẫn tình tứ và thực tế. Cảnh đàn ong tíu tít làm tổ, kéo mật quấn quít trong ngoài thì rõ ra một mối tình xây dựng, tính đến hôn nhân. Hai câu ba bốn là một hoạt cảnh hay một vở kịch thật ngắn về xã hội loài ong. Hai câu năm sáu là một vở kịch ngắn khác về thú chơi bài tam cúc.

Gió nam đánh tốc yếm đào,
Anh nghĩ oản trắng, anh vào thắp hương.
Hai cô bốn oản rõ ràng,
Anh xin một chiếc cô nàng không cho.

Cụ thể hóa để ví von bộ ngực hớ hênh của hai cô gái vô tình bị gió thổi bóc yếm với bốn cái oản xôi trắng no đầy thì thật thần tình! Đọc xong bốn câu trên, người ta chỉ mỉm cười về cái hiểu lầm cố ý chứ không trách chàng trai sỗ sàng. Anh chàng còn tinh nghịch đóng kịch đòi xin một chiếc tuy biết trước là sẽ bị từ chối. Chưa kể anh chàng còn lém lỉnh nhắc đến oản, một đồ lễ dâng lên Phật, có liên hệ đến chuyện thắp hương, tuy khôi hài nhưng không hề báng bổ Phật trên cao.

Nói đến gió thì nói “gió đánh tốc” thật mạnh khỏe, không có cụ thể hóa một cách thi vị nhẹ nhàng như:

Chân gió nhẹ lướt qua làng sóng,
Nắng chiều xuân rung động trên cành.

Thế Lữ cho gió có chân và nắng chiều biết rung động, hay Xuân Diệu thì đã Âu hóa ngay từ năm 1938:

Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối,
Đêm bâng khuâng đôi miếng lẩn trong cành.

Gió kéo mình lướt thướt thì thơ mộng hơn nhưng không khỏe bằng gió đánh tốc. Tuy đã nhân hóa “đêm” nhưng tại sao lại có hai “miếng” lẩn trong cành? Ca dao không có những rắc rối này. Anh chàng liên tưởng da trắng với màu oản trắng, rất tự nhiên chứ không dồn nén như Hàn Mặc Tử:

Ống quần vo xắn lên đầu gối,
Da thịt, trời ơi, trắng rợn mình!

Chỉ mới thấy đầu gối thôi, câu 8 của nhà thơ đã kích động ghê gớm, nhưng vẫn kém ca dao vì phải nói rõ là “da thịt”. Ca dao không khiêu khích, chỉ mô tả:

Cổ tay em trắng lại tròn.

Đây là một màn kịch ngắn khác:

Xưa kia nói nói thề thề,
Bây giờ bẻ khóa trao chìa cho ai?
Bây giờ nàng đã nghe ai?
Gặp anh ghé nón chạm vai chẳng chào!

Chàng trai trách cô gái mau quên lời thề cũ, dùng hình tượng cụ thể là ổ khóa và cái chìa để nói lên sự thân mật và tin cậy lẫn nhau. Cô gái khi đã hết yêu và có người yêu mới, vô tình đến nỗi trông thấy người tình xưa đã lờ đi. Làm sao diễn tả cái bạc bẽo, cái ngượng ngùng đó?

Mượn luôn đến cái nón – nón, trầu cau, cốm hồng, khăn tay – những vật dụng thường dùng trong đời sống để diễn tả cụ thể. Câu thứ tư, một hoạt cảnh: Nàng thấy rõ tình xưa nghĩa cũ bằng xương thịt đứng ngay cạnh, đã cố ý giả vờ nghiêng nón như không thấy, tuy đã chạm vai nhau rõ ràng.

Đồng tiền chì mua mớ tôm tươi,
Mua rau cải cúc, mua người đảm đang.
Đồng tiền chinh mua vội mua vàng,
Mua rau muống héo, mua nàng ngẩn ngơ.

Mua đây là chọn vợ, ngẩn ngơ không phải là điên khùng nhưng là vụng về, chậm chạp. Đồng tiền chì chắc phải kém giá trị đồng tiền chinh. Nàng trách chàng mà dùng đến tôm tươi, rau cải cúc, rau muống héo thì chắc chắn trong văn chương chốn triều đình không thể có được vậy.

Đôi ta như thể con bài,
Đã quyết thì đánh, đừng nài thấp cao.
Đôi ta như đá với dao,
Năng liếc thì sắc, năng chào thì quen.

Giới bình dân không hay lưỡng lự, so đo hơn thiệt, đứng núi này trông núi nọ. Đã thương yêu nhau đừng quá tính toán, làm sao có thể mười phân vẹn mười được, ở đời ai không có khuyết điểm? Đá với dao trong câu trên còn nhắc đến tính quyết định, cái sắc lẻm của dao và cái bền vững của đá. Không bóng bẩy như lời cô gái trong thơ Lưu Trọng Lư:

Vắng chàng, quên cả lời chàng dặn,
Dạ buồn lại thổi tiếng vi vu.

Lòng dạ đã được nhân cách hóa biết thổi tiếng vi vu. Thơ bình dân cũng nhân cách hóa, cụ thể hóa rất nhiều, nhưng chưa bao giờ ngâm nga rằng “trong dạ thổi tiếng sáo vi vu”...

Cổ tay em trắng như ngà,
Con mắt em liếc như là dao cau,
Miệng cười như thể hoa ngâu,
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.

Tả khăn đẹp thì nhớ đến con dao bổ cau sắc như nước, không nói mắt phượng, mắt bồ câu. Nói đến hoa thì kể đến hoa ngâu, hoa sen, những thứ hoa rất đại chúng, không thấy nhắc đến hoa cúc, hoa hải đường, hoa thược dược. Tả làn da trắng thì nhớ đến ngà voi chứ không nói đến tuyết, ở Việt Nam có tuyết bao giờ đâu?

Để nói lên nỗi tiếc rẻ công trình theo đuổi người đẹp nhưng sau đó bị kẻ khác hớt tay trên, chàng trai than thở:

Công anh đắp đất rào phên,
Để người ngắt ngọn còn nên công gì!

Công anh gánh đá xây tường,
Để ai đóng oản, dâng hương chùa này?

Công anh đắp nấm giồng chanh,
Chẳng được ăn quả vin cành cho cam.

Trên thực tế chàng không đắp đất, rào phên, gánh đá, xây tường, đắp nấm trồng cây. Nhưng phải ví von như thế mới thấy công lao chàng vất vả lo lắng cho người yêu đến thế nào. Đã thế không được ăn một quả chanh, nếm một ngọn rau. Thấy thiên hạ sóng đôi đi lễ chùa thì giận thật. Kịch ở đó chứ đâu!

Muốn nhắc đến tình nghĩa vợ chồng thì liên tưởng đến món canh nhà quê em vẫn nấu cho mình ăn:

Canh cải mà nấu với gừng,
Không ăn thì chớ, xin đừng mỉa mai.
Khuyên chàng chớ ở đơn sai,
Vắng em, chàng có yêu ai mặc lòng.

Canh cải nấu suông với gừng giã nát tuy có thơm, có cay nhưng chắc ăn mãi cũng nhàm. Khi anh chàng được kẻ khác cho ăn súp măng cua, lẩu lươn thì nhăn mặt chê bai món canh của vợ. Một lần nữa, qua ca dao, ta càng thấy sự chịu đựng của đàn bà Việt Nam ngày xưa. Chỉ xin khi có mặt vợ thì nên đối xử tử tế, còn vắng mặt thì đành chấp nhận!

Có yêu thì nói rằng yêu,
Chẳng yêu thì nói một điều cho xong.
Làm chi dở đục dở trong,
Là lờ nước hến cho lòng chẳng thương

Tâm lý bách tính là dứt khoát, không phân vân, dở giăng dở đèn, đứng núi này trông núi nọ. Đây là cảnh lưỡng lự, bỏ thì thương vương thì tội. Trong câu thứ ba, người tình đã dùng đến nước đục nước trong để diễn tả sự dùng dằng nhưng e chưa đủ, phải dùng đến hình ảnh “lờ lờ nước hến” để nhấn mạnh:

Để tả màu sắc, Thế Lữ viết:

Vài chàng trai trẻ sầu biêng biếc,
Mộng nở trong lòng sắc đỏ hoe.

Cái sầu có màu biêng biếc và mộng yêu đương nở ra sắc đỏ hoe thì chỉ thời 1940 mới có, chứ ngày xưa chỉ có “lờ đờ nước hến” thôi!

Thấy anh em cũng muốn chào,
Sợ rằng chị cả giắt dao trong mình.
Dao trong mình nhưng gươm anh cắp nách,
Đã thuận tình ta khoét vách sang chơi.

Đây là một tấm kịch khác. Mở đầu cô gái bước ra sân khấu, sau đó là một thanh niên, người yêu của cô. Nghe cô nhân tình than thở, chàng trai hùng dũng rút gươm cắp nách ra, la lớn: Có gươm đây thì sợ gì dao. Đã yêu nhau, anh sẽ lấy gươm này... khoét vách sang hú hí với em!

Những âm ắt, ắp, ách, oét rất gợi thanh khiến ta liên tưởng đến tiếng gươm dao chạm nhau nghe phát rùng mình. Có điều khôi hài ở chỗ khán giả tưởng đâu đấng trượng phu đa tình sẽ vung gươm đánh văng dao vợ, chứ nếu chỉ chờ đến đêm dùng gươm sắc lén khoét vách sang chơi thì còn yếu lắm, còn nể vợ lắm!

Chẳng tham nhà ngói bức bàn
Trải duyên coi bẵng một gian chuồng gà.
Ba gian nhà rạ lòa xòa.
Phải duyên coi tựa chín tòa gỗ lim.

Cửa gỗ bức bàn ở vùng quê đã là sang, khác hẳn với cửa phiên, cửa liếp. Nhà giàu mới dám làm cửa bức bàn, một loại cửa gỗ có thể kéo ra từng tấm. Làm sao giải nghĩa được tình yêu! Nhà anh lợp ngói cửa bức bàn mà em không yêu thì cũng chỉ coi như cái chuồng gà. Ngược lại, tuy chỉ có ba gian nhà lợp rạ nhưng đã yêu thì coi như chín tòa nhà gỗ lim thênh thang đường bệ!

Ngày xưa ca dao không nói “túp lều lý tưởng” hay “một túp lều tranh hai trái tim vàng”. Thơ bình dân không dùng đến con tim, quả tim để nói đến ái tình, chỉ dùng lòng, dạ và gan mà thôi:

Đàn ông năm bảy lá gan,
Lá ở cùng vợ lá toan cùng người.

Còn đêm nay nữa mai đi,
Lạng vàng không tiếc, tiếc khi ngồi kề.
Còn đêm nay nữa mai về,
Lạng vàng không tiếc, tiếc kề má son.

Dùng một lạng vàng, một “cây” để nói lên mức quý báu là thực tế nhất, dễ biết giá trị nhất. Một lạng vàng bằng độ 400 đô la Mỹ hay gần 5 triệu đồng bạc Xã Hội Chủ Nghĩa không thể bằng kề má người yêu được!

Nói đến sầu nhớ, tiếc nuối, Huy Cận ngâm nga:

Sầu thu lên vút song song,
Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu.

Không trừu tượng, bóng bẩy bằng; tục ngữ ca dao chỉ so sánh “buồn như chấu cắn”, một cách giản dị cụ thể.
Ca dao dùng rất nhiều lối tỷ giáo, điệp ngữ, đối ngữ, ngoa ngữ. Bài dưới đây là một ví dụ:

Có oản anh phụ tình xôi,
Có cam phụ quít, có người phụ ta.
Có quán tình phụ cây đa,
Ba năm quán đổ, cây đa hãy còn.
Có mực anh phụ tình son,
Có kẻ đẹp giòn, anh phụ nhân duyên.
Có bạc anh phụ tình tiền,
Có nhân ngãi mới anh quên em rồi!

Đó là những lời trách móc kẻ ham thanh chuộng lạ. Chữ “có” được nhắc đi nhắc lại mãi ở đầu câu để nhấn mạnh sự so sánh cũng như động từ “phụ tình, tình phụ” được láy đi láy lại. Oản đối với xôi, cam với quít, người với ta, quán với cây đa, mực với son, bạc với tiền. Món đứng trước bao giờ cũng có giá trị hơn món đứng sau.
Cùng trong tâm cảnh ấy, Huy Cận trong thơ mới đã ví von khác hẳn:

Thuở chờ đợi, ôi thời gian rét lắm,
Đời tàn rơi cùng sao rụng canh thâu.

Ở đây người viết không chủ tâm so sánh thơ tiền chiến với ca dao, duy muốn đặt gần nhau để nổi bật tính kịch và tính cụ thể trong văn chương bình dân.

Chăn đơn nửa đắp nửa hong,
Cạn sông lở núi ta đừng quên nhau.
Từ ngày ăn phải miếng trầu,
Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu.
Hay là thuốc đấu bùa yêu,
Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa.
Làm cho quên mẹ quên cha,
Làm cho quên cả đường ra lối vào,
Làm cho quên cá dưới ao,
Quên sông tắm mát quên sao trên trời.
Đất bụt mà ném chim trời,
Ông tơ bà nguyệt xe dây xe nhợ nửa vời ra đâu.
Cho nên cá chẳng bén câu,
Lược chẳng bén đầu, chỉ chẳng bén kim.
Thương nhau nên phải đi tìm,
Nhớ nhau một thuở như chim lạc đàn.

Yêu nhau, nhớ nhau mà đến nỗi “quên mẹ quên cha”, quên cả đường ra lối vào, quên con sông tắm mát, quên sao trên trời... thì thực tế quá, cụ thể quá. Xuân Diệu tương tư cao cấp hơn:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời,
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.

Ca dao chưa biết dùng hai câu bảy toàn vần bằng tạo cảm giác chơi vơi như thế. Ca dao thuộc phái tả chân, nhìn gần hơn, dùng ví dụ thật hơn:

Nhớ ai con mắt lim dim,
Chân đi thất thểu như chim tha mồi.
Nhớ ai hết đứng lại ngồi,
Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân.

Trong khi Vũ Hoàng Chương nhân cách hóa ái ân có hình có sắc:

Ái ân sắc lợi hình xiêu,
Song song chiều cũ, nay chiều lẻ đôi.

Thì người bình dân ví người bị tình hành trông “thất thểu như con chim tha mồi”, hay mạnh hơn, khi bị thuốc lào hành:

Nhớ ai như nhớ thuốc lào,
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.

Hay muốn tả cho rõ nét hơn, yêu nhau thì nhớ, nhớ thì khóc, khóc nhiều quá như mưa, một chuyện thật tự nhiên:

Nhớ ai em những khóc thầm,
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa.

Không thấy ca dao gọi nước mắt là lệ, là hạt châu, hạt ngọc.
Tả cái nóng lòng sốt ruột bồn chồn, bồi hồi vì thương nhớ thì nhắc ngay đến than, đến lửa:

Nhớ ai bồi hồi bồi hồi,
Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

Thế mới biết, người Việt chẳng những đã giàu hồn thơ, mà ca dao còn có kịch tính. Có lẽ chính vì hai đặc tính này mà sau ca dao, các bộ môn ca nhạc kịch bình dân như tuồng, chèo, hát bộ, cải lương,... đã phát triển mạnh và phổ biến rất nhanh.



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 3 users thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 3/28/2011(UTC), langthang09 on 4/2/2011(UTC), lanthanh on 4/25/2011(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#930 Posted : Saturday, March 26, 2011 6:18:17 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,612

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Triết lý dân tộc Việt Nam qua tục ngữ


Võ Thu Tịnh

Về ý nghĩa của tục ngữ, trong Việt-Nam văn-học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã nhận xét: " Các câu tục ngữ là do những điều kinh nghiệm của cổ nhân đã chung đúc lại, nhờ đấy mà người dân vô học cũng có một trí thức thông thường để làm ăn và cư xử ở đời ... ". (1) Phạm Thế Ngũ, trongViệt Nam Văn học sử giản ước tân biên đã ghi: "Tục ngữ là kho tàng kinh nghiệm và hiểu biết của người xưa về vũ trụ cũng như về nhân sinh.... Có thể nói đó là một quyển sách khôn mở ngỏ và lưu truyền trong giới bình dân từ xưa đến nay" (2)
Tóm lại, theo các nhà biên khảo nầy thì các câu tục ngữ là một "quyển sách khôn, một kho tàng kinh nghiệm và hiểu biết về vũ trụ và về nhân sinh" giúp cho dân gian ta "có được một tri thức thông thường để làm ăn và cư xử ở đời".
Trong các tục ngữ của chúng tôi đã sưu tập, ngoài những câu nói về "mưu sinh" và "tâm lý người đời" ra (như canh nông, thời tiết, nghề nghiệp, phong tục, luân lý, lý sự đương nhiên..., mà ở văn chương truyền khẩu nước nào cũng có), thì phần nhiều là những câu về "cái biết", về "cái khôn" của người đời, rồi đến những câu về "vũ trụ" (như đạo Trời, vận mệnh con người, Phật, tu hành, phúc đức...), về "nhân sinh" (như trung với vua, quan lại tham nhũng, các kinh nghiệm ứng xử khôn ngoan giữa xã hội với nhau). Chúng tôi nghĩ rằng đây là cẩm nang, là bản chúc thư của tiền nhân, truyền lại cho con cháu cả một "triết lý dân tộc" xây dựng trên cái "biết" và cái "khôn", để cư xử cho đúng "đạo làm người", theo "Lẽ Trời và Tình người".
Tuy tiền nhân không nói rõ ra, nhưng con cháu chúng ta phải hiểu rằng dụng ý của các Ngài không ngoài mục đích tối thượng là chỉ đường cho chúng ta "tranh đấu bảo tồn nòi giống, đất nước, chống xâm lăng cho khỏi bị đồng hóa, diệt chủng". Các nhà Nho, các thành phần sang giàu, các thị dân có những sách vở của Nho giáo để căn cứ vào đấy mà ứng xử với nhau. Còn dân gian nông thôn không có chữ, nên trong sự giao thiệp, ứng xử thường ngày, chỉ căn cứ vào các câu tục ngữ, là kho tàng hiểu biết, khôn ngoan, kinh nghiệm mà tiền nhân đã truyền miệng lại cho chúng ta .
Tục ngữ nước ta rất nhiều, không có một trường hợp nào mà dân gian không có thể dùng một vài câu tục ngữ để minh chứng cho thái độ, hành vi của mình. Ở bài "Parémiologie viêtnamienne et comparée" ("Tục-ngữ- học Việt Nam và đối chiếu"), học giả Thái Văn Kiểm có kể lại câu chuyện về công dụng của tục ngữ trong một việc tranh chấp giữa dân gian với nhau, tóm lược như sau: " Trước đây có một lái buôn bán cho người Việt Thượng một cái áo bằng vải bông giá 50 đồng, trả được 30, còn thiếu 20 đồng, thì người Thượng bỏ lên núi không thấy quay lại thanh toán. Sau một thời gian khá lâu, người lái buôn gặp lại người Thượng xuống đi chợ, liền túm lấy dẫn đến viên cai trị người Pháp để kiện. Người Thượng nói áo mua, vải không tốt, không xứng 50 đồng, nay y chịu trả thêm 10 đồng nữa mà thôi . Còn người lái buôn nhất định đòi cho được 20. Viên cai trị Pháp xét việc cũng không có gì rắc rối, mà y lại nói tiếng Việt và tiếng Thượng thông thạo, thấy không cần gọi viên chức Việt đến giúp. Không ngờ suốt cả buổi mai y giải thích luật lệ, khuyên dụ đủ mọi cách, mà cả hai bên nguyên bị vẫn không ai chịu nghe theọ Cùng lắm, y cho gọi viên chức Việt đến. Viên chức Việt chỉ nói qua nói lại có mấy phút mà người lái buôn bằng lòng nhận 10 đồng. Viên cai trị Pháp lấy làm lạ, hỏi, thì viên chức Việt kể lại là đã dùng các câu thành ngữ, tục ngữ để nói với người lái buôn rằng: "Anh cho người Thượng mắc chịu như vậy cũng như "thả trâu vô rú", nay được người Thượng bằng lòng trả thêm 10 đồng, là như "của đổ mà hốt lại" thôi . Xưa nay anh có thấy ai hốt của rơi lại cho đủ không? Ông bà ta thường nói: "gạo đổ lượm chẳng đầy thúng". Bây giờ họ bằng lòng trả 10 đồng là được rồi, chớ bày chuyện kiện cáo vì tục ngữ ta có câu: "được kiện mười bốn quan năm, thua kiện mười lăm quan chẳn ". Khôn dại, hơn thiệt thế nào, là một thương gia, anh hẳn thấy rõ." Người lái buôn cho là phải, nên nghe theo" (3)

1- Khôn dại trong thi ca

Vấn đề "khôn dại" rất quan trọng trong việc xử thế, cho nên trong văn thơ của các bậc thức giả xưa nay, vẫn thường thấy được nói đến. Từ thế kỉ thứ XV, Nguyễn Trãi, trong Quốc-âm thi tập, đã nêu lên vấn đề "khôn dại" nầy: "Chẳng khôn chẳng dại, chỉ ương ương, "Chẳng dại người hòa (tất cả) lại chẳng thương" đại ý nói rằng nếu ta chẳng chịu nhận là dại thì tất cả mọi người chẳng ai thương mình... đến thế kỉ thứ XVI, trong Bạch-Vân am quốc ngữ thi tập, Trạng Trình cũng phân biệt hai chữ "khôn dại" như sau: "Khôn thì người dái (sợ, nể), dại thì thương, "Nhắn bảo bao nhiêu người ở thế, "Chẳng khôn đành dở, chớ ương ương" Nghĩa là: Khôn thì thật khôn cho người ta sợ, dại thì rõ ràng dại đi cho người ta thương, nếu không khôn được thì đành chịu dại, chớ không nên ương ngạnh.
Vào cuối thế kỉ thứ XIX, khi người Pháp bắt đầu đặt quyền thống trị ở nước ta, Nguyễn Khuyến cáo bệnh từ quan, làm ra vẻ ngây ngô để khỏi bị ép ra làm việc lạị Ở Nam định thời bấy giờ, có một người đàn bà tên là Mẹ Mốc, chồng đi mất tích (có thuyết cho là theo kháng chiến), bà giả điên giả cuồng và hủy hoại nhan sắc để khỏi bị chọc ghẹọ Nguyễn Khuyến thấy tâm sự của bà giống với tâm sự của mình, nên cảm tác ra một bài hát nói, có câu kết như sau: "Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ, "đắp tai, ngảnh mặt làm ngơ, "Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây"Khôn kia dễ bán dại nầy..." (4)
Rồi đến đầu thế kỉ thứ XX, Trần Thế Xương cũng than lên: "Thiên hạ đua nhau nói dại khôn, "Biết ai là dại, biết ai khôn? "Khôn nghề cờ bạc là khôn dại, "Dại chốn văn chương, ấy dại khôn..." Vấn đề "khôn, dại" nầy, từ thời xa xưa, ở Trung Hoa, Khổng Tử (551- 479 t.T.L.) cũng đã nêu ra để giảng dạy cho các môn đệ, rằng: "Ninh Võ Tử, khi trong nước có đạo lý thì ông ta tỏ ra có tài trí (để ra làm việc), nhưng gặp khi chính quyền vô đạo, thì ông làm như ngu dại (để khỏi bị ép ra cọng tác, tiếp tay với quân cường bạo sát hại nhân dân). Cái khôn của ông nhiều người làm được, đến như cái ngu của ông thì không mấy ai bì kịp." (5)

2- Khôn dại trong tục ngữ

Trong các câu tục ngữ của ta, dân gian đã nói nhiều về "khôn" dại", và đặc biệt, cũng có một câu giống như các câu thơ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa thấy trên đây: "Khôn cho người dái (nể, sợ), dại cho người thương "Dở dở ương ương, tổ cho người ta ghét" Nhưng vì sao dân ta cho rằng cần phải phân biệt dứt khoát "khôn", "dại" như thế? Nguyên là trải qua bao thế kỉ, dân tộc Việt thường xuyên phải chọn lựa giữa hai con đường: đầu hàng, cộng tác với địch, hay kháng chiến chống lại với ngoại xâm và bạo quyền tàn ác. Con đường nào là khôn? Con đường nào là dại.
Nhưng khôn hay dại, thường bị các thành kiến chủ quan thiên lệch của người đời chi phốị Lắm khi, điều mà ta cho là khôn, thì người khác lại cho là dại, hay ngược lại, như trong cổ tích "Trâu rừng với trâu nhà ": "Trâu rừng chê trâu nhà là dại, vì để cho chủ bắt làm việc cực nhọc, rồi cuối cùng cũng bị chủ làm thịt, và cho mình là khôn vì đã chọn cuộc sống tự do, không bị cưỡng bách lao lực. Còn trâu nhà thì chê lại trâu rừng là dại, vì ở rừng bị đói khát, nhất định có ngày sẽ bị beo cọp ăn thịt, và cho mình là khôn vì thường ngày có cỏ để ăn, có nhà để ở, khỏi bị dãi dầu mưa nắng, khỏi bị thú dữ sát hại. Bên nào cũng tự cho mình là khôn hơn bên kia, và cảnh cáo lẫn nhau: "Khôn thì sống, mống (dại) thì chết". (Truyện cổ nước Nam, Nguyễn Văn Ngọc, tập 2, tóm lược truyện số 28).
Trong suốt bao nhiêu thế kỉ bị ngoại thuộc hay hay bị kềm hãm dưới các chế độ bạo ngược, cái "khôn thật", "khôn giả", và cái "dại thật", "dại giả" thường bị lẫn lộn với nhaụ Tuy vậy, dân gian không phải là không phân biệt được, song không dám nói rõ ra, mà trái lại, thường còn làm như dại khờ không biết đến. Cũng như Nguyễn Khuyến, dân gian đã có câu kín đáo tự hào rằng: "Rù đầu, giả dại, làm ngây, "Khôn kia dễ bán dại nầy mà ăn !"
Sau đây, chúng tôi xin mượn lời của Lê Văn Siêu, tác giả Văn minh Việt Nam, để giải thích thêm về vấn đề nầy: "Làm thế nào khác hơn được? khi một dân tộc bị sống trong hoàn cảnh đe dọa diệt tộc thường xuyên, bởi một kẻ mạnh gấp trăm ngàn lần mình, ở ngay bên nách mình, nếu chẳng nghĩ tha thiết đến sự sống còn, đến con cái nối nghiệp, thì chỉ sơ sẩy để đầu óc viễn vông một chút thôi, cũng đủ mất tích vào trong bản đồ của địch thủ.
Cho nên Trạng Trình, một vị hiền triết được dân chúng kính trọng là có tài tiên tri, đã chỉ dạy có một điều rất gọn: "Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống". Biết tương quan lực lượng giữa mình và người, biết tâm lý khát vọng giữa mình và người, biết dằn lòng chờ cơ hội thuận tiện để thực hiện ý định, biết giả dối để che đậy bí mật hành động cho khỏi hại, biết cương quyết tiến lui, biết cứng mềm tùy lúc, biết thích ứng hoàn cảnh để sống còn, biết lẩn tránh mũi dùi của địch... toàn là những cái biết rất thực tế, có thể kiểm điểm lại qua mọi sự kiện lịch sử, và có thể thấy rất rõ ràng là chính nhờ cái biết ấy mà nước Việt Nam chúng ta còn được tới ngày nay". (6)
"Khôn cũng chết " như Trạng Trình nói, đó là cái "khôn giả"; và "dại cũng chết " như Trạng Trình nói, đó là cái "dại thật". Chỉ ai biết phân biệt được "khôn thật" với "khôn giả", "dại thật" với "dại giả", thì mới có thể sống được mà thôị Cũng như Trạng Trình, tục ngữ đã kết thúc rằng: "Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống"
Xem như thế, "biết" là điều kiện chính yếu để biện biệt cái "khôn" với cái "dại", giúp cho chúng ta có thể thực hiện được "đạo làm người", giúp cho dân và nước Việt Nam chúng ta khỏi bị diệt vong.
Cho nên tưởng trước hết, chúng ta nên tìm hiểu qua các câu tục ngữ : "Biết là thế nào?" và "Khôn là thế nào?"

A) "Biết " là thế nào?

1- Biết là suy xét cho đúng phép: suy chín, xét xa, biết rõ gốc ngọn, vắn dài, đắn đo nặng nhẹ, nông sâu: "Làm người suy chín, xét xa, "Cho tường gốc ngọn, cho ra vắn dài" ..."Làm người phải đắn, phải đo, " Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâụ" Biết suy nghĩ rất quan trọng, cho nên dân gian thường nhắc đi nhắc lại cho chúng ta ghi nhớ rằng: "Làm người mà chẳng biết suy, "đến khi nghĩ lại, còn gì là thân."
2- Biết còn là suy đoán phân biệt để nhận diện đúng sự vật. Suy đoán là sở trường của những câu đố. Câu đố - Câu đố có hình thức một câu gọn ngắn có vần hay không có vần, có bản văn nhất định, nhưng câu đố cũng có hình thức một chuyện kể ngắn, không có lời văn nhất định.
Tuy vậy vì nội dung hoàn toàn thuộc về trí tuệ, suy luận, nên chúng tôi vẫn xem câu đố như là một loại tục ngữ. Câu đố thường dùng để mua vui, giải trí sau nhữg giờ làm việc mệt nhọc, nhưng câu đố cũng góp phần không nhỏ với tục ngữ để luyện tập, một cách linh động, tinh thần và lề lối suy đoán, biện biệt cho dân gian.
Ở đây chúng tôi không thể đi sâu vào việc nghiên cứu toàn thể các câu đố, mà chỉ dẫn ra một số câu đố liên hệ hơn cả với cách suy đoán biện biệt, bổ túc thêm về cái "biết" trong các câu tục ngữ mà thôi. Chúng tôi chú trọng nhiều đến các câu đố gọi là đố mẹo, nghĩa là dùng những cách kín đáo, khéo léo để "gài bẩy", làm cho người nghe hoặc không thấy được, hoặc hiểu sai lệch chủ đề, nên không biết đâu mà suy đoán giải đáp.
a) Về loại câu đố mẹo nầy, trước hết, có những câu đố "vừa dố vừa giảng" rất dung dị, song người nghe qua tưởng lầm là vấn đề khó khăn, rắc rối, nên suy nghĩ xa xôi, đi tìm lời giải ở ngoài lời đố, không ngờ lời giảng lại nằm sờ sờ trong câu đố rồi: "Con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt, rõ ràng con cua " "Tổ kiến, kiển tố, vừa đố vừa giảng" đố: Là những con gì, vật gì? Giải: Là con cua và tổ kiến (có ghi rõ trong các lời đố). Người Pháp cũng có một câu đố mẹo như thế: "Quelle est la couleur du cheval blanc d'Henri IV?" (Màu lông con ngựa trắng của Henri IV là màu gì?). Giải: Màu trắng (có ghi rõ trong lời đố).
b) Có các câu đố mẹo khác, trong lời đố cố tình làm lẫn lộn các ý niệm "đồng thời" với "lần lượt", "trọng lượng" với "khối lượng" khiến cho người nghe nào sơ ý, hấp tấp sẽ giải đáp sai: "Luộc 1 cái trứng 4 phút là chín, vậy muốn luộc chín 8 cái trứng phải tốn bao nhiêu phút?" "Một tạ sắt với một tạ gòn, tạ nào nặng hơn tạ nào?" Giải: Luộc chín 8 quả trứng cũng 4 phút thôi (bỏ 8 trứng chung vào một nồi mà luộc đồng thời với nhau). Một tạ sắt và một tạ gòn, không tạ nào nặng hơn tạ nàọ (Vì tạ là 100 cân, thì tạ sắt cũng nặng 100 cân, tạ gòn cũng nặng 100 cân như nhau).
c) Có câu đố mẹo cố tình làm cho lẫn lộn các ý nghĩa (đồng âm dị nghĩa) để đánh lạc hướng người nghe: "Trục trục như con chó thui, "Chín mắt, chín mũi, chín đầu, chín đuôị" đố là con vật gỉ Giải: Con chó thui (Vừa đố vừa giảng; chữ "chín" ở câu nầy không phải là số 9, mà nghĩa là "thui chín", trái nghĩa với "sống")
d) Cũng có câu đố mẹo đã cố tình sắp đặt sẵn một câu giải đáp khôi hài nghe qua cũng hợp lý, mà thật ra thì "lãng nhách" (trả lời không đâu vào đâu cả) và ngộ nghĩnh, để "chọc quê" người giải câu đố: "Vì sao khi hành nghề, mọi tên ăn cắp, móc túi phải nhìn trước rồi nhìn sau? " Giải: Vì hắn không thể nhìn trước và nhìn sau cùng một lượt.
đ) đặc biệt có câu đố mà có thể có nhiều lời giải đúng, như: "Con gì đứng thì thấp, ngồi thì caỏ " Trong sách, thấy ghi lời giải đáp là: "Con chó". Nhưng thật ra, lời giải có thể là "con mèo" vì mèo cũng "đứng thì thấp, ngồi thì cao", như con chó. Mà con beo, con cọp cũng vậy.
Về "đố toán số" cũng có trường hợp một câu đố mà có thể có vô số lời giải đúng. Chẳng hạn như: "Ba người mua trứng. Người thứ nhất mua nửa giỏ và nửa quả, người thứ hai cũng thế (mua nửa só trứng còn lại trong giỏ và nửa quả). Người thứ ba mua số trứng còn lạị Hỏi số trứng là bao nhiêu " Trong sách chỉ thấy ghi có mỗi một lời giải như sau: Số trứng trong giỏ là 7, rồi giảng thêm: Người thứ nhất: Ba quả rưỡi + nửa quả = 4 quả Người thứ hai : (còn lại: 7 - 4 = 3. Phân nửa của 3 = 1 quả rưởi) một quả rưỡi + nửa quả = 2 quả. Người thứ ba: (7 - 4 - 2) = 1 quả. Nhưng thật ra có vô số lời giải đúng khác nữa, như số trứng trong giỏ là 11, 15, 19, 23, 27... chẳng hạn. Số trứng là 11: thì người thứ nhất 6, thứ hai 3, thứ ba 2 quả. Số trứng là 15: thì - 8, - 4, - 3 quả- Số trứng là 19: thì - 10, - 5, - 4 quả. Số trứng là 23: thì - 12, - 6 , - 5 quả. Số trứng là 27: thì - 14, - 7, - 6 quả... Cái mẹo trong câu đố nầy là đưa ra việc mua thêm "nửa quả" trứng. đó là điều trên thực tế không thể làm được.
Điều nầy làm cho người giải câu đố bị hoang mang. Cho nên trước tiên, phải tìm hiểu vì sao lại có việc mua thêm "nửa quả", thì mới tiếp tục suy đoán được. Là vì số trứng trong giỏ là một số lẻ, nếu chia thành hai phần đều nhau (nửa giỏ) thì, trên lý thuyết kế toán, trong mỗi phần sẽ có "nửa quả". Cho tiện việc mua bán, người mua, ngoài phần nửa giỏ trứng ra, lại mua thêm "nửa quả" nữa, cho có được trọn y một quả. Như vậy, số trứng trong giỏ phải là một số lẻ. Từ điều kiện tiên quyết nầy, người giải câu đố mò mẫm với những con số lẻ, từ số nhỏ đến số lớn, từ 1, 3, 5, 7, 9, 11, 13, 15, 17, 19, 21, 23, 25 đến 27 chẳng hạn ..., thì thấy các con số đáp ứng với các tiêu chuẩn trong câu đố, là 7,11, 15, 19, 23, 27. Và nhận thấy thêm rằng: lấy số 7 mà cọng với 4, hay cọng với các bội số của 4 (cho đến vô tận), thì chúng ta sẽ có rất có vô số lời giải đúng.
Cái hay của câu đố nầy là ở chỗ giúp cho ta hiểu được rằng:
1- Cần đối chiếu với thực tế mà kiểm soát sự việc mới có thể suy đoán hữu hiệụ
2- Thường không phải chỉ có một lời giải (của mình) là đúng mà thôi, cũng có nhiều lời giải khác đúng nữạ Phải có sự "truyền thông" với nhau giữa những thành phần nhân loại.
e) để kết thúc phần nầy, chúng tôi xin dẫn ra một vài câu "đố tục, giảng thanh", chẳng hạn như: "Bộ tịch quan anh xấu lạ lùng "Khom lưng, uốn gối, cả đời cong "Lưỡi to mà sức ăn ra khoét, "Cái kiếp theo đuôi có thẹn không?" Câu đố nghe qua, thì thấy rõ ràng là một thóa mạ" một ông quan "có hành động xấu xa lạ lùng, bên trên thì cả đời khom lưng, uốn gối nịnh bợ, phía dưới thì ra sức hà hiếp, đục khoét dân đen, thử hỏi cái kiếp nô lệ theo đuôi ấy, tự mình có thấy hổ thẹn không?" Lời chê bai, hạch tội có phần tục tằn, sống sượng, nhưng khi giảng giải khác đi, thì nghe thanh nhã: Câu nầy tả cái càỵ "Cái cày hình dáng không đẹp, cán uốn cong, lưỡi cày to, bao giờ cũng phải theo đuôi con trâu để cày". Rồi dân gian, nhân cách hóa cái cày, mà lên tiếng hỏi rằng: "Sống cuộc đời theo đuôi con trâu như vậy, "quan anh" có thẹn không?" (Chữ "quan" trong "quan anh", chỉ "người có địa vị không phải đi phu, tạp dịch trong làng, dưới thời Pháp thuộc" (theo Từ điển tiếng Việt, Nguyễn Lân, 1991).
Kinh nghiệm: Một chuyện mới nghe qua cho là chướng tai, biết đâu nếu đứng vào một lập trường nào khác mà nhìn, thì không phải vậy.
Dân gian biết dùng lối vừa đùa cợt giải trí, vừa đào luyện cho nhau về suy đoán và cân nhắc trong nhận định, một cách không kém phần sâu sắc.

B) Khôn là thế nào?

Khi đã "biết" suy xét, nhận định, suy đoán, thì có thể phân biệt được "khôn" với "dại", để hành động cho khỏi sai lầm:
1- Khôn không phải là làm khôn, (tiếng Việt, có chữ "làm khôn" nghĩa là tỏ ra mình khôn ngoan hơn người và can thiệp, xía vào việc của người khác), như thế chỉ có hại cho mình. "Khôn vừa chứ, khôn lắm lại chết non." Từ thế kỉ thứ XV, Nguyễn Trãi đã có câu thơ đại ý như thế: "Hễ kẻ làm khôn thì phải khó." Và Trạng Trình cũng khuyên đừng "tranh khôn" mà có hại: "Tranh khôn ắt có bề lo lắng." Mà trái lại, tục ngữ bảo ta phải biết cư xử cho nhún nhường, khiêm tốn: "Ai nhất thì tôi thứ nhì, "Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba"
2- Mà khôn là thận trọng biết giữ gìn lời ăn tiếng nói. Chỉ vì thiếu tinh thần cảnh giác, không thận trọng, nên người ta thường thốt ra những câu hớ hênh, vô ý thức, gây ra bao nhiêu tai họa cho bản thân và cho công cuộc đấu tranh của toàn dân: " Vạ ở miệng ra, bệnh qua miệng vào." ..." Thứ nhất là tội miệng mà..." Cho nên: "Khôn thì ngậm miệng, khoẻ thì cắp tay" ..."Người khôn đón trước rào sau, "để cho người dại biết đâu mà dò." ..."Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời. "Sông sâu, sào ngắn khôn dò, "Người khôn ít nói, khôn đo tấc lòng."... ..."Người khôn nói mánh, người dại đánh đòn."
Ông cha chúng ta có cách nói gần, nói xa, rào trước đón sau, để khỏi mất lòng người nghe và nhất là để không ai có thể bắt bẻ, hay buộc tội mình được. đó gọi là "nói mánh". (Trong đại Nam quốc âm tự điển, 1896, Huỳnh Tịnh Của định nghĩa chữ "mánh" là "ý tứ, tình ý, màng dò" và "nói mánh" là "nói ý tứ, xa gần, nói ướm thử" để người nghe suy nghĩ mà hiểu lấy).
3- Khôn không phải là quỉ quyệt để làm thiệt hại người khác: "đã khôn lại ngoan, "đã đi làm đĩ lại toan cáo làng." Nếu khôn mà quỉ quyệt, thì trước sau gì cũng: "Khôn ngoan quỉ quyệt chết lao, chết tù..." "Càng khôn ngoan lắm, càng oan trái nhiều."
Ở tiếng Việt, từ "ngoan" vốn có hai nghĩa trái ngược nhau: "ngoan" là khôn, nhơn lành, (như ngoan đạo, đứa bé ngoan), mà "ngoan" cũng có nghĩa là khó trị, quỉ quái (như ngoan cố, gian ngoan), (đại Nam quốc âm tự vị, Huỳnh Tịnh Của, Saigon, 1896). Trong mấy câu trên đây, từ "ngoan" được hiểu theo nghĩa thứ hai, tức là "gian tham, quỉ quyệt".
4- Mà khôn là thật thà ngay thẳng, vì cuối cùng cái khôn ngay thật bao giờ cũng hơn cái khôn gian trá: "Khôn ngoan chẳng đọ thật thà, "Lường thưng, tráo đấu chẳng qua đong đầy" (đấu: thùng bằng gỗ để đong lúa, gạo; thưng: 1/10 đấu). Tức là: Khôn ngoan không bằng thật thà, ngay thẳng; có gian lận, tráo đổi cũng không bằng làm ăn đứng đắn, lương thiện: đong đầy, cân đúng.
Chưa kể, "khôn" mà làm điều gian ngoan, bất nhân, thất đức, chết đi sẽ bị xuống địa ngục; còn ở đời nầy dại mà hiền lành, chết đi sẽ được lên thiên đàng: "Khôn thế gian, làm quan địa ngục, "Dại thế gian , làm quan thiên đàng"
5- Khôn không dùng để hại dân, bán nước: không phải là đem cái khôn ra chống lại với đồng bào, phản lại quyền lợi chung: "Khôn ngoan đối đáp người ngoài, "Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau."... ..."Chim không đánh chim cùng một tổ "Trâu một chuồng, đâu có húc nhau "Cùng chung một giọt máu đào, "Nỡ nào hại nước, nỡ nào hại dân." Và "Tiếc thay con chim phượng hoàng còn dại chửa có khôn, "Núi Tam Sơn chẳng đậu, lại đi đậu cồn cỏ may !" Dân gian ở vùng của chúng tôi cũng có một câu nữa tương tự như thế: "Chim kia dại lắm không khôn, "Núi Lam Sơn không đậu, lại đậu cồn cỏ maỵ" Lam Sơn là nơi ngày xưa Lê Lợi khởi nghĩa, ở đây "Lam Sơn" dùng để tượng trưng cho "kháng chiến". Câu nầy đại ý nói: Thương hại cho những kẻ dại dột không biết theo kháng chiến cứu nước, mà lại đi theo phường Việt gian (đậu cồn cỏ may là một thứ cỏ, mỗi lần ta ngang qua, thì bị những hạt nhỏ của cỏ móc vào quần, rất dơ bẩn, phải mất thì giờ mới gỡ hết được).
Và cũng có câu: "Gáo đồng múc nước giếng tây, "Khôn ngoan cho lắm tớ thầy người ta" . "Giếng tây" là "giếng ở phía tây" mà cũng có thể hiểu là "người Tây"; "múc nước giếng Tây" có thể hiểu là "đem nước dâng cho Tây". Đại ý câu nầy là: Cộng tác với Tây, mà tự cho là mình khôn, nhưng có khôn cho lắm, cũng chỉ là đem thân ra làm nô lệ cho ngoại nhân mà thôi!
6- Mà khôn dùng để giữ vững lập trường, đừng để cho đối phương lung lạc, mua chuộc, dụ dỗ đưa vào con đường bán nước, phản dân: "Người đời phải xét thiệt hơn, "đừng nghe tiếng sáo, tiếng đờn mà saị"... "đây ta như cây giữa rừng, "Ai lay không chuyển, ai rung không dời"
7- Khôn mà ý thức được giới hạn của cái khôn. Chính tục ngữ đã vạch ra cho ta thấy rõ những hoàn cảnh khách quan và chủ quan đã hạn chế cái khôn của người đời:
a) Hoàn cảnh khách quan đã hạn chế cái "khôn", như: tiền bạc, lẽ phải, may mắn, thiên thời, địa lợị.. : "Cái khó, bó cái khôn." ..."Khôn như tiên, không tiền cũng dạị"... ..."Khôn chẳng qua lẽ, khoẻ chẳng qua lờị"... ..."May hơn khôn."... ..."Chẻ vỏ (biết nhiều) vẫn thua vận đỏ."... ..."Người đời ai có dại chi, "Khúc sông eo hẹp phải tùy khúc sông." ..."Khôn ngoan ở đất nhà bay, "Dù che, ngựa cưỡi, đến đây phải luồn."
b) Hoàn cảnh chủ quan đã hạn chế cái "khôn", như: dục tình, nhẹ dạ, bản tính trời sinh, già nua lú lẫn... "Miệng khôn, trôn dại" ..."Khôn ba năm, dại một giờ " ..."Khôn từ trong trứng khôn ra, "Dại dẫu đến già cũng dại" ..."Trẻ khôn qua, già lú lại"
Tổng kết Qua tục ngữ, chúng ta thấy được đường lối nghìn năm của ông cha chúng ta, là trường kỳ tranh đấu cho sự sống còn của dân tộc, của quốc gia, mà triết lý căn bản là: "biết thì sống", biết "phân biệt dại và khôn" để bản thân, nòi giống khỏi bị diệt vong, một triết lý xây dựng trên tình người , trên sự làm lành, đùm bọc, giúp đỡ, cứu vớt lẫn nhau, một lề lối ứng xử chừng mực vừa phải, biết thận trọng, ẩn nhẫn, chịu đựng để thích nghi hóa với mọi hoàn cảnh để sống, để tồn tại, để chờ thời, chờ cơ hội thuận lợi mà vùng lên. Nguyễn Thùy, trong Tinh thần Việt Nam, cho rằng: "Có như thế, dân tộc ta mới tồn tại, mới bảo vệ được tinh thần của mình, mới tiếp thu được mọi thứ của người để có thể thể hiện được một hội nhập tròn đầy cái lý dịch hóa của vũ trụ vạn vật và của con người vào thời kỳ cuối của kỉ nguyên. Cái tính "chấp nhận để từ khước", "hòa mà không đồng", "tỏ ra thua thiệt để không đầu hàng", "chịu thiệt thòi để không mất tất cả", nếu có đưa dân tộc đến chỗ phải gánh chịu nhiều trầm luân, nhưng chính là một cuộc "chạy trốn về đằng trước" rất tế nhị của dân tộc ta để sửa soạn cho một bước đi tốt đẹp vào hồi chung cục. Chịu đựng tất cả để khỏi bị tiêu diệt."
Tóm lại, dân tộc Việt Nam quả đã có một triết lý riêng của mình, triết lý mà ông cha chúng ta dụng ý trối gửi lại qua các câu tục ngữ. Bổn phận con cháu chúng ta là khám phá cho thấy được triết lý ấy, để hành động cho đúng, hầu tiếp tục đấu tranh bảo tồn nòi giống và quê hương. Và danh từ "triết lý" trong đầu đề "Triết lý dân tộc Việt Nam" mà chúng tôi dùng trên đây, tưởng không phải là lạm xưng!?



(1)- Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học sử yếu, q. I, Paris, SudAsie, 1986, Tục ngữ, tr. 6,7.
(2)- Phạm Thế Ngũ, Việt-Nam văn-học sử giản ước tân biên, q. I, đại Nam tái bản, Glendale,CẠ, năm ?, tr. 22, 23.
(3)- Thái Văn Kiểm, Parémiologie việtnamienne comparée , in Présence Indochinoise, Paris, No1 - Avril 1979, pp. 81 - 117.
(4)- Nguyễn Khuyến - Mẹ Mốc: So danh giá ai bằng Mẹ Mốc, Ngoài hình hài gấm vóc cũng thêm rạ Tấm hồng nhan đem bôi lấm xóa nhòa, Làm thế để cho qua mắt tục. Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc, Tâm trung thường thủ tự kiêm kim.(a) Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm, Giữ son sắt êm đềm một tiết. Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết; Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhợ đắp tai ngảnh mặt làm ngơ, Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thâỵ Khôn kia dễ bán dại nầy ! (a)- Kiêm kim = vàng ròng
(5)- Luận Ngữ, bản dịch của đoàn Trung Còn, Paris, SudAsie, năm ?, chương Công Dả Tràng, tiết 20, trang 76: "Tử viết: Ninh Võ Tử, bang hữu đạo tắc trí, bang vô đạo tắc ngụ Kỳ trí khả cập giã, kỳ ngu bất khả cập giã"
(6)- Lê Văn Siêu, Văn minh Việt Nam, Saigon, Nam Chi tùng thư, 1964, tái bản Glendale CA, Đại Nam, năm ?, tr. 92, 93.
(7)- Nguyễn Thùy và Trần Minh Xuân, Tinh thần Việt Nam, San José CA, Mékong Tỵ nạn, 1992, tr.195-196.
(7) Tinh thần kết hợp cái "khôn" và cái "biết" trong tục ngữ, đã chi phối mọi xử sự, thông truyền giữa dân gian nước tạ Tinh thần ấy cũng phần nào giống với quan niệm kết hợp "khôn" và "biết" trong triết học hiện đại Tây phương. Một giáo sư Pháp, Didier Julia, cũng xác nhận rằng: "Cái "khôn", theo nghĩa xưa, là cái "biết" bằng trực giác về những qui luật của vũ trụ, và theo định nghĩa hiện đại, là cái "biết" về những vấn đề của những người khác. Nói một cách thông thường hơn, cái "khôn" là một khái niệm luân lý chỉ sự "thăng bằng" của phẩm cách con người : sự "tiết độ" (theo Platon), hay sự "chừng mực" của mọi ham muốn. Theo nghĩa ấy, cái "khôn" trái lại với sự "say mê", cũng như trái lại với cái "dại". Cái "khôn" có khuynh hướng hóa đồng với sự "thận trọng".
(8) Từ điển về Triết-học Pháp cũng đã định nghĩa: "La sagesse est le but de la philosophie", nghĩa là "cái khôn là cứu cánh của triết học". (8)
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
langthang09 on 3/29/2011(UTC), lanthanh on 4/25/2011(UTC)
Mắt Buồn  
#931 Posted : Monday, March 28, 2011 12:28:13 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,725

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
NGHỀ ĐƯỜNG MÍA CỔ TRUYỀN Ở QUẢNG NGÃI


HỒ PHI


Quảng Ngãi là xứ đường mía. Từ khi vua Hồ Quý Ly mở rộng lãnh thổ về phương Nam đến vùng này, không rõ tổ phụ ta bắt đầu nghề đường mía từ lúc nào. Nhưng chắc chắn đã có lâu, trước khi người Pháp sang cai trị. Để nhớ lại và hiểu thêm về quê nhà, xin mời bạn đọc bài này.

1. TRỒNG MÍA:

Khí hậu Quảng Ngãi nóng ẩm, thích hợp việc trồng mía. Những vùng đất thổ, đất cát, đất cao, hay đất phù sa ven sông Trà, sông Vệ thường được trồng mía. Thời trước tổ phụ ta có giống mía ta, thân nhỏ như cây lau còn gọi là mía lau. Mía ta cho ít đường, nhưng phẩm chất cao. Đường mía ta được cho là hiền nên dành cho người bệnh ăn. Về sau người Pháp mang vào nhiều giống mía từ các thuộc địa khác phổ biến cho xứ ta trồng. Tất cả đều được gọi là mía tây, gồm đủ thứ mía tím, mía mốc, mía vàng, mía mây. Bây giờ chỉ gọi là mía, không còn tây hay ta gì nữa.

Cây mía mọc lên, thân thẳng đều, gồm nhiều đốt lá. Mỗi đốt là nơi bẹ lá dính vào thân cây, cũng là chỗ mọc rễ,
mọc mầm sinh ra cây mía con về sau. Mía được trồng bằng khúc ngọn gồm hai ba đốt trên cùng. Vào khoảng cuối xuân, người ta cày bừa đất vài lần, xong cày kéo hàng thưa, cách nhau chừng 0,5m. Kế đặt ngọn mía dài chừng 3 đốt (3,5 dm), hơi nghiêng trong luống cày và đạp đất phủ, để ló đầu một ít. Chừng vài tháng sau, mầm mía đã mọc lên thành cây nhỏ cao khoảng 0,5m. Người ta bỏ phân vào gốc và xới chung quanh, diệt cỏ và lấp phân cho mía tốt. Gần một năm sau, mía lên cao khoảng hơn 2 m, người ta bắt đầu đốn mía làm đường. Mía già đến trổ bông sẽ cho ít đường. Mùa mưa, mía nhạt nhẽo ít đường.

2. LÀM ĐƯỜNG:

Sau Tết âm lịch mùa đường chính bắt đầu. Người ta lựa chỗ cao ráo, rộng khoảng 50m x 50m, thuận tiện đường đi trên ruộng mía để làm trại mía, chòi mía, hay lò đường, gọi nhiều tên nhưng cũng chỉ một thứ. Người ta dùng những cây tre dài chôn gốc xuống đất, cột ngọn chụm đầu vào nhau, dùng làm vừa kèo vừa cột, dùng những cây tre dài cột ngang song song làm đòn tay, và trên đấy người ta lợp tranh rạ hay lá mía khô, không vách che. Trại mía có hình thuẫn, dài khoảng 20 m và rộng 15 m. Trại mía chia làm hai phần, ngăn cách bằng một bức vách bằng phên tre hay lá mía kết lại, chính giữa có một cái cửa thông thương, không cần cánh cửa. Một phía được đặt bộ hàng, còn gọi là bộ che hay vòng che dùng để ép mía lấy nước ngọt. Một phía được đào lò nấu đường.

A. BỘ CHE ÉP MÍA Vào mùa đông rảnh rỗi, chủ lò mía thường sửa soạn bộ che, đặt mua che mới từ trên rừng, hoặc đem bộ che cũ tiện lại cho tròn đều. Bộ che gồm có ba khối viên trụ bằng gỗ thật cứng, như gỗ xoay hay kiền kiền, được tiện tròn, đường kính khoảng từ 0,5 đến 0,75 m cao hơn 1,3 m. Có cổ và chân tròn ló ra làm trục quay. Khối che trống ở giữa to hơn và cổ cao hơn 0,25 m, hai che mái hai bên nhỏ hơn, cổ ngắn hơn.

Mỗi trụ che 2/3 dưới được tiện tròn láng đều, 1/3 trên mỗi che có ba hàng răng nan hoa ăn khớp lẫn nhau. Khi che trống chính giữa quay tròn, nhờ ba vòng nan hoa sẽ lôi kéo hai trụ che mái cùng quay khít. Cả ba trụ che này dựng trên bồn gỗ dưới, nhờ chân trục quay đặt khít vào ba lỗ tròn ở bồn dưới. Bồn dưới dùng làm ổ quay giữ cho ba che quay khít vào nhau, và dùng hứng nước mía ép chảy xuống. Bên trên ba đầu che được đặt vào ba lỗ tròn của bồn trên bằng gỗ cứng làm ổ quay cho ba che quay khít vào nhau. Ba khối che này được dựng thành hàng ngang, hai đầu có hai trụ gỗ dựng thẳng, chôn xuống đất giữ cho cả bộ che trên dính kết với nhau thành một hệ thống đứng vững trên nền đất hình tròn. Người ta bắt vào cổ che giữa một đòn bẩy ngang, dài chừng 5 m ló ra ngoài, bên dưới có gắn một cái ách, để đút cổ hai con bò hay một con trâu vào. Một trâu hay hai bò được lùa đi vòng vòng chung quanh bộ che, làm cho cổ che giữa quay, khiến cho hai che hai bên cũng quay theo hai chiều ngược nhau. Mía được chặt gốc ngang mặt đất, dùng rựa mía, (cán gắn lưỡi mỏng, nhỏ và dài) róc sạch lá, rễ, chặt ngọn riêng ra, gánh về từng bó chất ngoài sân trại, lần lượt được đưa vào che. Một người ngồi bên này đút mía vào che, che quay tròn kẹp sát ép giẹp cây mía đưa qua phía bên kia, nước ngọt chảy xuống bồn che và đi vào chum đất miệng ngang mặt đất. Bên kia, một người bốc cây xác mía đưa vào khe ép bên cạnh, xác mía đi ngược qua lại bên này. Cây mía được ép qua lại bốn lần là sạch ráo nước. Người ta đem xác mía phơi khô làm củi đun cháy rất tốt. Khi chum hứng nước mía đã đầy, người ta múc nước này chuyển vào thùng lóng bằng gỗ đặt hai bên chảo nấu hay đổ trực tiếp vào chảo nấu. Kế bên vòng che, người ta có làm một chuồng nhốt trâu bò cho ăn lá mía. Trâu bò này dùng thay phiên nhau đặt vào ách đi vòng quay vòng che ép mía suốt ngày.

B. LÒ ĐƯỜNG Cách vòng che chừng 3, 4 m, người ta đào một cái hầm hình thuẫn sâu hơn 1 m, rộng 2 m, dài 2,5 m, chính giữa người ta đặc một khung tre đặt, hình chữ X hơi nổm lên ở giữa, chia miệng hầm làm bốn lỗ lớn: trước sau và hai bên, xong người ta lấy rơm trộn đất sét bó riệt chung quanh. Xong người ta đặt vào mỗi lỗ một chiếc chảo bằng gang miệng rộng gần đến 0,8 m, nằm vững trên lỗ nhỏ dựa trên vách miệng hầm và khung tre hình chữ X bọc đất sét này. Người ta trám những khe hở và bao phủ khắp viền miệng chảo bằng đất sét, xong dùng lá bàng, lá mít, lá dung và gai bưởi bọc kín khắp viền miệng bốn chảo, bao cho đất sét khỏi tan vào nước đường. Phía trước người ta đào một hầm hình chữ nhật bề ngang khoảng 2 m, chiều dài khoảng 3 m, theo chiều dài từ ngang mặt đất lài xuống dần ngang mức đáy lò cách lò khoảng 0,75 m, và được thông vào lò bằng một cửa lò hình vòng cung ngang cỡ 0,4 m và cao cỡ 0,6 m. Người thợ phụ đưa đẩy những bó lá mía khô được bó bằng xác mía qua cửa lò vào lò để đốt bằng một cây sào tre dài. Sào này cũng dùng khơi cho lửa cháy mạnh hơn. Đầu bên kia lò người ta đào một lỗ nhỏ (2 dm) để khói thông ra. Nơi đây người ta đặt hoặc treo nồi nấu nước chè cho mọi người uống. Hai bên lò đặt hai thùng lóng ghép bằng gỗ, hình chậu, có dung tích khoảng 0,8 m3, mỗi thùng có một vòi tre dài 2 dm. Khi mở nút vòi, nước mía trong thùng lóng có thể chảy vào chảo ngay đó. Người thợ cả nấu đường có một gáo bầu (nửa trái bầu khô, gắn cán tre dài khoảng 2,3 m) dùng để múc nước đường và đường lóng ra khỏi chảo, và một cái vợt bằng thau đường kính khoảng 0,25 m, có cán tre dài 2,3 m dùng vớt những chất bẩn nhẹ nổi trên nước mía khi đun sôi. Người thợ cả không học sách vở nào, chỉ kinh nghiệm theo nghề nhiều năm. Ban đầu là một chàng trai khỏe mạnh theo làm thợ phụ một thời gian và học người thợ cả và sau lại trở thành thợ cả. Người thợ cả giỏi sẽ nấu ra đường tốt hơn. Kinh nghiệm biết bỏ vào bao nhiêu vôi thì vừa, và biết nấu đặc đến cỡ nào thì đường tốt. Còn thợ phụ có một sào tre để đưa rác bỏ vào lò đốt, một bừa cào dùng cào lá mía và một đòn xóc để gánh rác mía. Công việc của người thợ phụ rất vất vả nặng nề: ra ruộng mía cào lá mía, dùng xác mía bó lại gánh về lò, bó rác thành từng nùi để đốt lò, cào tro trong lò ra ngoài, bưng đường đổ vào muỗng.

Nước mía từ chum ở vòng che được chuyển vào chảo nấu sôi, vớt bọt, dùng gáo múc đổ vào thùng lóng trở lại để lóng chất bẩn. Nước mía đã nấu sôi này có màu vàng rêu gọi là nước chè hai. Nước này sẽ được nấu cô đặc lại trong chảo để hóa ra đường. Khi đường sôi trào lên chảo, thợ đường dùng dầu phụng rảy vào để tăng nhiệt độ sôi của dung dịch đường trong chảo khiến đường sẽ hạ bọt sôi, khỏi trào ra ngoài. Khi đường đặc tới, người thợ cả dùng gáo bầu múc đường sôi vào thùng gỗ nhỏ, và người thợ phụ bưng đường này đổ vào một dãy muỗng, đặt ngửa hai hàng theo vách ngăn nói trên. Muỗng bằng đất sét nung, hình chóp ngửa, miệng rộng khoảng 0,3 m, cao khoảng 0,5 m, đầu nhọn có một lỗ nhỏ, được nhét kín bằng cùi bắp hay xác mía và chôn phía đầu nhọn vào đất để đứng vững khỏi ngã. Mọi muỗng đều được đổ chưa đầy hẳn. Lúc gần nguội, thợ dùng một cái nạo quậy vào. tạo những tinh thể đường đầu tiên cho cả muỗng đường ra cát (kết tinh), cứng lại chứ không dẻo nữa. Ngày hôm sau đường đã đặc lại và sụp mặt ở chính giữa vì co rút, thợ phụ dùng nạo cạo riêng chỗ sụp trên, thợ cả cô đường đặc hơn một tí, đổ lên mặt muỗng cho đầy bằng và sau đó dùng nạo quậy vào cho phần đường vừa đổ vào kết tinh và đặc lại. Chiều hôm đó đường nguội, thì người ta dùng đòn gánh khiêng nguyên muỗng vào kho chứa, đặt mỗi muỗng trên một cái ui nhỏ hay để đứng tựa vào nhau cho khỏi ngã. Xong lại đặt những muỗng trống vào thay thế cho việc nấu đường ngày hôm sau.

Làng tôi có một nông dân, làm thợ phụ được vài năm, sau đó tập kết ra Bắc năm 1955. Đến cuối năm 1975 trở về quê, anh kể chuyện hai mươi năm ngoài ấy anh được bố trí nấu đường. Sau đó, anh được học qua bổ túc văn hóa, đọc viết rành rẽ, và được phong cấp bằng Kỹ Sư Đường và nấu lò đường mãi đến lúc hưu. Tiếp anh, người bà con đem đường ra mời ăn. Vừa cắn cục đường, anh lại nói là lần đầu tiên sau 20 năm anh mới trở lại được ăn đường, ngon quá. Người nghe rất ngạc nhiên, hỏi sao anh nấu đường 20 năm mà không được ăn đường, sao lạ vậy. Anh kể tiếp rằng đường nấu ra, được nhà nước quản lý chặt chẽ chở đi. Nếu thèm, ăn húp bậy bạ sẽ bị các đồng chí phê bình, đảng kỷ luật nghiêm khắc.

C. MÍA TƠ, MÍA GỐC Trồng mía một lần có thể thu hoạch hai lần. Sau khi chặt mía xong, người ta cào đốt sạch rác mía trên ruộng mía. Gốc mía vẫn còn nằm y nguyên đấy, chừng hơn tháng sau đã thấy gốc mía lại nẩy mầm, và khi mía lên khoảng 5 dm, người ta lại cuốc xới đất và bỏ phân, sau đó người ta lại có một ruộng mía mới, không cao tốt bằng mùa trước, nhưng ít tốn công cày bừa mà vẫn có một đám mía, gọi là mía gốc. Mùa trước gọi là mía tơ.

3. TIÊU THỤ ĐƯỜNG

Đến mùa đường, những người có vốn thường đến các chòi mía mua đường muỗng, theo giá đơn vị từng muỗng, tùy theo muỗng lớn nhỏ xê xích và thời giá lên xuống. Đường muỗng được gánh giao cho các trại buôn đường. Nơi đây mỗi muỗng đường được để trên mỗi chiếc ui, rút cùi ở đáy muỗng, để mật trong muỗng đường chảy ra nhỏ xuống ui bên dưới. Còn lại bên trong muỗng một loại đường có màu hơi vàng đậm nhưng khô ráo hơn. Hoặc người ta còn hốt bùn dưới đáy ao, xoa phủ trên mặt muỗng đường gọi là đổ bùn. Nước trong bùn thấm xuống đường và lôi kéo mật chảy xuống ui nhiều hơn, khiến ta có loại đường cát trắng hơn. Xong bùn khô, người ta vất bùn đi, úp muỗng, lấy ra một cục đường trắng hình chóp nặng vài chục kg. Xong người ta lấy rơm bó gói lại chung quanh. Xong đặt lên xe chở ra miền Bắc hay Thanh Nghệ để bán cho các hãng buôn ngoài đó.

4. CHẾ BIẾN ĐƯỜNG

Các trại buôn đường, nhiều khi còn dùng đường muỗng chế biến ra các loại đường kể sau để bán ra thị trường cả nước:
A. ĐƯỜNG CÁT: Sau khi đổ bùn rút mật, khối chóp đường còn lại trong muỗng có màu trắng, gồm những hạt đường nhỏ như cát kết vào nhau nên gọi là đường cát. Đường này được cưa thành nhiều cục nhỏ bằng đầu gối bán lẻ ngoài chợ tiêu thụ. Hoặc bán nguyên cục số lượng lớn cho các nhà buôn đường. Họ mua về tinh lọc, chế biến ra nhiều loại phẩm chất và sử dụng khác nhau.
B. ĐƯỜNG PHÈN: Đường cát trắng được thêm nước, lóng, lọc lại, nấu thành mật đặc, chứa vào các vại gốm hay thùng gỗ lớn, để một thời gian, kết tinh bằng đầu ngón tay, ngón chân cái, được lấy riêng ra khỏi mật, phơi sấy khô, ta có đường phèn.

C. ĐƯỜNG BÔNG: Mật đường phèn nấu đặc lại, tinh lọc, thêm chút ít vôi làm xúc tác, đổ vào muỗng trở lại, lại rút mật, ta sẽ có đường bông trắng hơn đường cát.

D. ĐƯỜNG PHỔI: Mật đường phèn hay đường cát trắng, được đem nấu lại, có cho thêm trứng gà, đổ vào đồ chứa cũng có hình muỗng, dùng nạo đánh sệt sệt chứa nhiều bọt không khí, đến khi gần đông cứng lại, người ta dùng dao cắt ra từng miếng như hình lá phổi, dài cỡ 4dm, rộng 1,5 dm, dày 1,5 dm. Đường phổi màu vàng vàng có nhiều lỗ xốp, cắn ăn như kẹo giòn.
E. ĐƯỜNG CÁU: Lúc nước mía được nấu sôi, các chất bẩn nhẹ được vớt riêng và các chất bẩn nặng cũng được lóng lấy riêng ra. Xong cả hai được lọc lại qua lớp vải một lần nữa và hứng vào vại. Thợ đường lấy phần này thắng lại và đổ vào muỗng hay ui. Đường này đen hơn, để lâu trong ui cũng kết tinh nho nhỏ bằng đầu chiếc đũa, lẫn lộn với mật, gọi là đướng cáu. Nhà nông dùng đường này để ăn nửa buổi sáng, chiều trong công việc đồng áng và vườn tược suốt năm.

F. MẬT: Muỗng đường được rút đáy, đặt lên trên ui. Mật nhỏ xuống ui, ta có phần mật thanh, tương đối cũng sạch. Dùng hòa nước nặn chanh vào uống cũng ngon. Lúc mặt muỗng đường được đổ bùn lên trên, nước trong bùn rỉ xuống đường lôi kéo nhiều mật hơn chảy xuống, làm cho phần đường trên muỗng trắng hơn. Nhưng phần mật bên dưới có pha lẫn những chất hòa tan trong nước bùn, nên mật có vị không thanh mấy. Người ta cũng vẫn dùng mật này để ăn với cơm gạo làm hèm nấu rượu đế, hoặc dùng làm kẹo mâm. Gọi là kẹo mâm vì người ta nấu mật cô đặc, trộn với bắp rang, đậu phụng, cơm dừa, đổ bào mâm thau trẹt, cắt nhỏ bán ngoài chợ cho trẻ con ăn chơi. Mật này có vị ngọt gắt không thanh.

G. MẬT XÍT: Phần mật cặn bã, có phẩm xấu nhất. Mật này dùng pha nước trộn với cơm rượu, để lên men, dùng cất rượu đế. Nói chúng, quê nghèo, phẩm chất mật đường gì cũng đều an được cả.

5. MÓN ĐẶC BIỆT CỦA MÙA LÀM ĐƯỜNG

Quê ta thường thiếu ăn, nên cơ thể thèm chất đường để có năng lượng hoạt động. Đến mùa đường ăn đường, mía thỏa thích.

A. ĂN MÍA: Lựa cây mía mềm tốt, đốt dài, bẻ làm đôi, dùng răng tước vỏ, cắn từng khúc, nhai vừa nuốt nước mía ngọt chảy ra trong miệng. Nước mía nuốt tới đâu thấy khỏe người tới đấy. Chưa tới mùa, chớ nên bẻ trộm mía ăn, sẽ bị tuần đinh bắt. Mục đồng có câu chế nhạo những kẻ bẻ mía trộm bị bắt:

Mía ngọt tận đọt, heo béo tận lông
Cổ thì mang gông, tay cầm lóng mía.

Đến mùa, đi ngang chòi đường, người ta có thể ghé vào, dù quen hay lạ cũng có thể xin vài cây mía cầm theo ăn chơi. Chủ lò luôn sẵn sàng cho. Nếu chủ nào keo kiết không cho, gặp kẻ lắm miệng có thể chưởi rủa bằng câu: “Chúc cho sụp chảo, đỗ che, trâu bè, hàng gãy.” Thời trẻ ở Quảng Ngãi hai mươi năm, tôi chưa bao giờ thấy chuyện trục trặc kỹ thuật trong lò đường như câu nguyền rủa vừa nhắc.

A. NƯỚC CHÈ HAI: Nước mía ép từ che, được nấu sôi trên chảo, vớt bọt bỏ, cho vào thùng để lóng chất bẩn, nhưng chưa cô đặc có màu vàng rêu, gọi là nước chè hai. Sau lúc lao động, trời nắng khát nước, ta uống vào một bát nước chè hai vừa nguội, lấy ra thùng lóng, thấy ngon ngọt khỏe khoắn thích thú. Nhưng chớ nên ham uống nhiều, ta sẽ có cảm giác say say.

B. ĐƯỜNG DẺO: Đường đổ vào muỗng xong, còn để lại một ít, đổ vào tô bát. Vì không nạo khuấy, đường này được tiếp tục dẻo như mạch nha đến năm bảy ngày sau mới ra cát và cứng lại. Trong thời gian này người ta dùng đầu đũa vích lên từng vích cắn ăn, hay bôi lên bánh tráng nướng, ăn cũng thú vị. Đường quá cô đặc sẽ khó vích. (Nếu muốn đường dẻo lâu, không ra cát, thì người ta phải nấu riêng ra một chảo và tránh không bỏ vôi vào. Vôi là chất xúc tác giúp đường kết tinh và cứng lại).

C. XÂU CHUỖI KHOAI LANG: Khoai lang được xắt lát, dùng dây lạc tre xỏ thành xâu, giống như xâu chuỗi bông đeo cổ. Cột nhiều xâu thành một chùm, thả vào chảo đường đang thắng tới cô đặc. Xong xách ra đựng vào thau. Người ta cũng dùng năm bảy cái bánh tráng nướng, xỏ thành một chùm và làm như vậy. Người ta sẽ có thau khoai lang hay thau bánh tráng bọc đường, để ăn chơi, chen vào giữa vài bữa ăn thường ngày.

D. BẮP, ĐẬU PHỤNG RANG NGÀO ĐƯỜNG:

Khi đường đã nấu tới độ đậm đặc, được múc đổ ra muỗng xong, còn lại một ít ở đáy chảo, thợ đường có thể cho bắp rang, hoặc đậu phụng rang vào, dùng gáo quậy đều, xong múc tất cả ra bát hay thau. Ta sẽ có món bắp rang hay đậu phụng rang ngào đường, một món ăn ngọt hấp dẫn.

E. BẮP NON, KHOAI LANG LÙI TRO LÒ ĐƯỜNG:

Tro nóng từ trong lò đường được thợ phụ cào ra, xúc đổ vào một hố cạn bên ngoài lò. Sức nóng còn âm ỉ, người ta có thể bẻ bắp non để nguyên vỏ, hay khoai lang vùi vào tro này một lát thì chín nhưng không cháy, bươi bắp ra ăn, khỏi chê.

6. CÔNG DỤNG PHỤ CỦA MÍA

A. BÃ MÍA: Xác cây mía phơi khô, dùng để nhóm lửa nấu bếp rất dễ dàng, hơn là củi gỗ, vì mau bắt lửa. Bã mía này thường được dùng để thui bò tái trong các dịp làng xóm cúng tế hay giỗ, tết.

B. GỐC MÍA: Sau khi thâu hoạch xong mùa mía gốc, người ta cày đất, những gốc mía trốc lên. Nhà nông vác vồ đi đập những gốc này cho rơi sạch đất, gánh về phơi khô làm củi chụm bếp.

Ngày nay lối sản xuất và chế biến đường không còn như tôi vừa kể. Vì từ thời Việt Nam Cộng Hòa, người ta đã lập ra nhà máy đường ở Núi Ông, Xuân Phổ, kỹ thuật sản xuất đường được canh tân theo máy móc dây chuyền, đầu này mía vào, đầu kia đường ra vào bao bì. Người ta chỉ trồng mía xong đến mùa chặt, chở bán cho nhà máy đường, khỏi phải làm chòi, trại, che, chảo, muỗng, thùng nữa. Vấn đề còn lại được nêu ra là lợi tức người trồng mía có được nhiều hay ít mà thôi.

HỒ PHI
(Trích Đặc San Quảng Ngãi Xuân kỷ Mão – 1999 Hội Đồng Hương và Thân Hữu Quảng Ngãi Nam Cali)
thanks 2 users thanked Mắt Buồn for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 3/28/2011(UTC), lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#932 Posted : Saturday, April 2, 2011 1:57:44 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

Những loại hoa có thể ăn được


Rất nhiều loại hoa có thể ăn được như bông bí, hoa chuối, bông điên điển, bông lục bình, hoa sen, hoa thiên lý, hoa ban... Mỗi vùng miền lại có cách chế biến độc đáo.

Vô vàn món ngon từ hoa ban

Loài hoa bừng sáng núi rừng Tây Bắc những ngày xuân không chỉ tô đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên nơi đây mà còn là dịp để những người mẹ, người chị dân tộc Thái trổ tài nấu các món ăn ngon từ lá và bông hoa ban tuyệt đẹp.

Món phổ biến nhất hoa ban hấp. Những người phụ nữ Thái chọn bông hoa ban mới nở, rửa sạch bằng nước trong khe suối, rồi mang hấp cách thủy. Chỉ khoảng 15-20 phút là xôi hoa ban chín. Món này châm với chéo-một món chấm truyền thống của người Thái gồm muối trắng giã nhuyễn trộn với hạt dổi, mắc khén, mùi tàu, tỏi, ớt.

Món hoa ban xào có vị rất đặc biệt, bùi bùi của những chiếc lá bánh tẻ, ngọt thanh của bông hoa chớm nở. Người Thái xào món hoa ban như xào rau cải, cho ít mỡ lợn, đun nhỏ lửa, xào vừa chín tới, không nên cho thêm gừng để không mất vị thơm tự nhiên của hoa.

UserPostedImage


Hấp dẫn thực khách khi ghé qua Tây Bắc mùa hoa ban nhất chính là món nộm. Vẫn dùng cả hoa và những chiếc lá bánh tẻ, nhưng món nộm được làm rất cầu kỳ. Đầu tiên, hoa ban và lá cũng được hấp cách thủy, sau đó trộn với gia vị chính là chéo cho vừa miệng ăn. Nêm chút giấm tự nhiên hoặc chanh cho vị thanh mát. Món này ai ai cũng ưa bởi hương vị quyến rũ của lá, quyện cùng với gia vị tự nhiên của núi rừng. Đặc biệt, với những người thích nhậu, món ăn này đủ làm bạn "say" dù mới chỉ uống vài chén rượu...

Trong mâm cỗ đãi khách của người Thái, món canh hoa ban chiếm một vị trí khá quan trọng. Cũng giống như món xào, canh hoa ban được xào sơ qua, thêm nước vừa sôi là được.

Bạn có thể đặt những món ăn từ hoa ban tại các khách sạn, nhà hàng tại Điện Biên, Sơn La. Hoặc nếu ghé qua những bản người Thái, bạn sẽ được thưởng thức những món ngon từ hoa ban đậm đà hương vị dân tộc.

Đậm đà hoa chuối

Không lạ như hoa ban, hoa chuối là món ăn rất phổ biến và có từ lâu đời ở khắp mọi miền Tổ quốc. Hoa chuối hay được dùng để chế biến các món gỏi, nấu canh chua, hoặc dùng làm rau ăn kèm bún bò cũng rất ngon.

UserPostedImage


Món nộm hoa chuối có lẽ là thân quen nhất với nhiều người. Tùy từng nơi mà món nộm này được gia giảm thêm thịt gà, thịt bò khô hay hải sản.

UserPostedImage


Nhiều người còn rán hoa chuối lên để dùng như một món chay. Trong hoa chuối chứa nhiều thành phần dinh dưỡng tốt cho sức khỏe và lợi tiểu.

Hoa thiên lý

Hoa thiên lý còn gọi là Dạ ly hương, không chỉ là nguyên liệu để chế biến món ăn dinh dưỡng mà còn được xem là một bài thuốc. Có rất nhiều món ăn từ hoa thiên lý. Vị ngọt của hoa thiên lý rất hợp để nấu các món canh đơn giản với thịt lợn, xương hay hầm với giò lợn rất ngon.

UserPostedImage


Mùa hè, bạn cũng có thể cho thêm vào nồi canh cua nấu với rau đay, mồng tơi để tăng thêm vị ngọt. Hoa thiên lý nấu cua cũng là một món ăn khá lạ miệng. Ngoài ra, hoa thiên lý xào thịt bò hay dùng chung với các món lẩu cũng rất đặc sắc.

Hoa hẹ


UserPostedImage


Phổ biến ở trong miền nam, vừa để trang trí, vừa làm món xào với hương vị hấp dẫn. Hoa hẹ có màu trắng, món ăn ngon và dễ chế biến nhất hoa hẹ nấu đậu phụ, thêm ít thịt nạc băm, ăn mát và giải nhiệt trong ngày nóng bức.

Hoa Atisô


UserPostedImage


Là một món ăn "đặc sản" và khá đắt khi bạn ghé thăm thành phố mộng mơ Đà Lạt. Khi nhắc đến Atiso, mọi người thường nghĩ ngay đến đấy là một vị thuốc, một loại trà thanh nhiệt, giải độc. Hoa Atisô khi nấu chín có tác dụng bổ dưỡng, tăng cường sinh lực, kích thích tiêu hóa, làm ngon miệng, lợi gan mật, trợ tim, lợi tiểu, chống độc, tăng tiết sữa cho sản phụ (khi hầm với chân giò).

Hoa bí

Hoa bí là món ăn dân dã, phổ biến khắp cả nước. Hoa bí có thể ăn được là hoa bí đực của cây bị rợ, không ra quả. Bông bí lớn, màu vàng tươi rất vui mắt. Bông bí được cắt chừa cuống dài, bó thành bó nhỏ đem ra chợ bán. Tuy nhiên, mùa hè, bông bí mới có nhiều.

Người miền Bắc thường luộc hoa bí vì có vị ngọt thanh, phần cuối bí có vị giòn dai, ăn rất thú vị. Món canh mùa hè cũng thường được nấu cùng với hoa bí, nêm thêm ít vị chua, cùng với thịt băm.

Riêng ở miền Nam, bông bí cũng như các loại bông khác như điên điển, bông so đũa làm thành món "lẩu hoa" đầy màu sắc và ngon miệng. Người miền Nam luộc bông bí chấm nước kho cá, kho thịt hay tương dầm ớt. Bông bí còn dùng để nấu canh, xào tỏi, xào thịt bò, xào nghêu…xào bông bí phải canh cho vừa chín mới còn giòn.

UserPostedImage


Món đặc sắc nhất của bông bí là “bông bí dồn thịt chiên“ hay còn gọi là chả bông bí. Muốn bông bí ngon, phải hái ngay từ khi bông mới chớm nở, tước sơ qua ở cuống, rửa qua nước để ráo. Sau đó, các thứ như tôm, mực, thịt nạc vai heo quết nhuyễn, trộn tiêu hành, mắm muối, bột năng làm nhân. Để những bông hoa không bị nát khi chiên, bẻ gập các cánh hoa úp đè lên nhau, nhẹ tay bỏ vào chiên với lửa nhỏ để bông bí còn màu vàng tươi, không bị cháy xém.

Ngoài ra, ở Huế còn có món chả bông bí beo béo, thơm thơm, chấm nước tương dầm ớt. Món ăn này thường được làm trong những ngày giỗ, tết của gia đình hay tụ họp

Bông điên điển

Hoa điên điển còn được người dân các tỉnh miền Tây Nam Bộ gọi bằng cái tên rất dân dã: hoa mùa lũ, hoa cứu đói. Loại hoa này nở theo mùa nước lũ tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Mùa lũ cũng là mùa đói của nhiều người dân ở đây, lúc này ngoài cá thì các loại rau củ quả khá hiếm hoi. Giữa mênh mông nước, chỉ có bông điên điển nở rực. Với nhiều người, bông điên điển có thể làm món dưa chua, món canh, món nộm, kho cùng với cá linh...

UserPostedImage


Ngoài ra, để có thêm thu nhập, nhiều người dân đã đi hái điên điển để bán cho nhà hàng làm món ăn, đổi gạo với những người khác...

Bông lẻ bạn

Cây lẻ bạn có nguồn gốc từ các nước Trung Mỹ, được trồng rộng rãi ở Việt Nam. Cây trồng trong chậu làm cây cảnh, trồng ngoài vườn để làm thuốc. Cây có thân rất ngắn, lá mọc gần như sát đất.

UserPostedImage


Lá không cứng, có bẹ, đầu thuôn dài, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới màu đỏ tím. Cụm hoa nhỏ, mọc ở nách lá, ngoài có hai mo úp vào nhau, giống như vỏ con sò, nên còn được gọi là bông sò huyết (oyster plant). Hoa màu trắng, dùng làm thuốc trị ho, hay nấu canh với xương heo ăn cho mát, bồi bổ cơ thể suy nhược.

Bông so đũa

Cây so đũa hoặc mọc hoang, hoặc được trồng nhiều ở các vùng bờ quanh ruộng của đồng bằng sông Cửu Long. Cây so đũa thon cao, thẳng, vỏ nham nhám, xù xì, nứt nẻ. Trái so đũa nhỏ dài , hình dáng như chiếc đũa.

UserPostedImage


Bông so đũa mọc ở trên cao, kết thành từng chùm, có 2 màu: trắng và tím. Bông so đũa có vị nhân nhẫn đắng, nhưng ngọt hậu. Đầu tháng 10 âm lịch trở đi, cây so đũa đồng loạt ra hoa, cùng lúc với mùa cá linh để có món ăn nức tiếng là cá linh nấu canh chua bông so đũa.

Cũng gần giống với điên điển, bông so đũa được hái xuống, rửa sạch. Bông so đũa khá "mong manh", vì vậy, khi nấu hay xào, kho, cũng chỉ cho vào một lúc, vài phút rồi bỏ ra thì mới giữ được vì giòn giòn của hoa.

Còn có một vài món ngon khác phải kể tới đó là món canh chua so đũa với tôm he hoặc tôm nõn, món cá lóc bọc bông so đũa hấp cách thủy... cũng dậy hương vị đồng quê, dân dã, thơm ngon khó tả!.

Thanh Phong

Edited by user Saturday, April 2, 2011 2:54:12 AM(UTC)  | Reason: font color change

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#933 Posted : Tuesday, April 5, 2011 1:26:09 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

AN GIANG, NGÀN XANH BÁT NGÁT



Về phía Bắc Cần Thơ là một dãy đất rất phì nhiêu với cả một vùng bạt ngàn xanh mướt với đồng lúa, xen lẫn vùng bảy núi huyền bí và vùng Đồng Tháp Mười với nhiều triển vọng phát triển về nông nghiệp trong tương lai. Cheo các nhà khảo cổ học Việt và Pháp thì vùng này trước đây là trung tâm văn minh Óc Eo của vương quốc Phù Nam thời xa xưa. Từ khoảng những năm 1931 đến 1936, các nhà khảo cổ học đã khám phá ra gần 30 đường nước phát khởi từ Angkor Borei chảy về Châu Đốc rồi qua vùng núi Sam, Tri Tôn, Ba Thê, sau đó có nhiều nhánh chảy ra Rạch Giá hợp thành một hệ thống dẫn thủy quan trọng cho cả vùng. Những khám phá này cho chúng ta thấy một thời vùng Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, và Đồng Tháp đã từng là trung tâm văn hóc Óc Eo. Vào thời Nguyễn Ánh và Tây Sơn thì vùng An Giang là đất Tầm Phong Long của Miên. Năm 1757, vua Miên là Nặc Tôn dâng đất này cho các chúa Nguyễn để làm đạo Châu Đốc, trực thuộc dinh Long Hồ (tỉnh Vĩnh Long bây giờ). Lúc bấy giờ chúa Nguyễn cho Trương Phúc Du và Nguyễn Cư Trinh đem dinh Long Hồ về xứ Tầm Bào (nay là tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Long) đặt ra bao đạo là Đông Khẩu (Sa Đéc), Tân Châu (Tiền Giang) và Châu Đốc (Hậu Giang). Đến đời Minh Mạng thứ 13, nhà vua cho tách huyện Vĩnh An của tỉnh Vĩnh Long để nhập vào Châu Đốc đạo làm tỉnh An Giang. Lúc bấy giờ tổng đốc Hà Tiên thống lãnh hai tỉnh Hà Tiên và An Giang, trong khi tổng đốc Vĩnh Long thống lãnh hai tỉnh Vĩnh Long và Định Tường. Về vị trí An Giang thời đó, Bắc giáp Cao Miên, Đông giáp Kiên Giang (Rạch Giá).

An Giang thời Minh Mạng có 3 phủ là Tuy Biên, Tân Thành và Ba Xuyên. Phủ Tuy Biên gồm các huyện Tây Xuyên, huyện Phong Phú, huyện Hà Dương, huyện Hà Âm; phủ Tân Thành (bây giờ là Sa Đéc), gồm các huyện Vĩnh An, huyện An Xuyên, huyện Đông Xuyên; phủ Ba Xuyên gồm các huyện Phong Nhiêu, huyện Vĩnh Định. Như vậy, thời Minh Mạng, tỉnh An Giang bao gồm các vùng bây giờ là An Giang, Châu Đốc, Cần Thơ và Sóc Trăng. An Giang có núi, nhưng không lớn và không cao như vùng Trường Sơn của miền Trung, tuy nhiên, những núi này cũng tô thắm và nổi bậc giữa một vùng đồng bằng bao la lại có một vùng nui non hùng vĩ. Đây là những núi Ba Thê, núi Thụy Sơn, núi Trà Chiếu, núi Trà Nghinh, núi Tượng, núi Tô Sơn, núi Cấm, núi Ốc Nhẫm, núi Nam Vi, núi Tà Biệt, núi Nhân Hòa, núi Đài Tốn, núi Thị Vi, núi Ba Xôi, núi Ca Âm, núi Nam sư, núi Khe Săn, núi Ngất Sum, núi Chân Sum, núi Thâm Đăng, núi Đại Ba Đê... Ngày nay, ngoại trừ núi Ba Thê bây giờ còn thuộc tỉnh An Giang, còn lại những núi khác nằm trong vùng "Thất Sơn", thuộc tỉnh Châu Đốc. An Giang trong Nam Kỳ Lục Tỉnh, nằm dọc hai bên bờ sông Tiền Giang và Hậu Giang (vì ngày đó Sa Đéc cũng thuốc An Giang). An Giang trong Nam Kỳ Lục Tỉnh có sông Tiền Giang, sông Tân Giang, sông Tân Châu, sông Lễ Công, sông Tú Điền, sông Hội An, sông Mỹ An, sông Tân Đông, sông Long Phượng, và sông Sa Đéc. Dân chúng tại vùng này gồm đa số là người Kinh, kế đến là người Chà Châu Giamg (Chàm), và người Miên. Tập quán cư trú tại vùng này vẫn còn lưu lại những nét nhà sàn bằng gỗ, vì đây là vùng thường hay bị lũ vào những tháng nước song Cửu Long dâng cao. Tại Sac Đéc, có vùng Hồi Oa Nước Xoáy. Ở đây dòng nước chảy vòng thành xoáy do nước hai bên sông Tiền Giang và Hậu Giang giao hội với nhau. Ngoài ra, vùng Sa Đéc còn có sông Nha Mân, chảy từ bờ Nam sông Tiền, từ các đồng ruộng và đổ ra sông Hậu Giang. Sông An Thuận, chảy từ phía Đông ngã ba Cái Ngang (Vĩnh Long), qua ngã Bắc đến sông Long Hồ, rồi chảy về ngã Đông qua rạch Phú An, và ngã Tây chảy đến Trà Ôn (thuộc tỉnh Vĩnh Long). Thuở ấy sông Hậu Giang chảy vào địa phận tỉnh An Giang, bắt đầu từ chỗ phân nhánh Tiền Giang và Hậu Giang, rồi chảy ra đến tận biển. Phía Tây sông Hậu Giang có các rạch Bàn Tăng, rạch Ô Môn, rạch Trà Nóc, rạch Bình Thủy, rạch Cái Khế; phía Đông qua các rạch Dừa Nước, rạch Quít, rạch Mít, rạch Song Đôi, rạch Dầu, rạch Trâm, rạch Bồn, rạch Trưng, rạch Sách, sông Trà Ôn, sông Tân Dinh, sông Sâm Đăng (những sông này nằm trong địa phận tỉnh Vĩnh Long). Sau khí Pháp chiếm Nam Kỳ họ chia tỉnh An Giang ra làm bốn tỉnh là Sóc Trăng, Cần Thơ, Long Xuyên và Châu Đốc.

Tỉnh Long Xuyên dưới thời Pháp thuộc phía Bắc giáp Châu Đốc, Nam giáp Cần Thơ, Tâp giáp Rạch Giá và Động giáp Sa Đéc. Tổng diện tích khoảng 120,432 mẫu Tây. Ngoại trừ hai ngọn núi Sập (86 mét) và núi Ba Thê (210 mét), còn lại toàn tỉnh Long Xuyên là một dãy đất thấp, nên mỗi năm đến mùa nước lũ, Long Xuyên thường bị nhập lụt như một biển nước mênh mông. Cũng như các vùng khác trong đồng bằng sông Cửu Long, Long Xuyên chằng chịt với một hệ thống kinh rạch và sông ngòi khắp nơi, nên vận chuyển giao thông bằng đường thủy là chính yếu. Dưới thời Pháp thuộc, Long Xuyên có bên tàu đi Nam Vang và Rạch Giá, mỗi tuần đều có 4 chuyến đi và về từ Nam Vang. Bên cạnh đó, Long Xuyên cũng có hệ thống đường bộ nối liền Long Xuyên với Cần Thơ, Sài Gòn, Châu Đốc, Sa Đéc, Vĩnh Long, Rạch Giá, và Tri Tôn (nay thuộc Châu Đốc). Năm 1899, Pháp cho xây chiếc cầu thớt dựng, nối ngang con kinh ăn vào rạch Long Xuyên, khi có tàu qua lại thì dựng cầu lên, bình thường thì hạ cầu xuống cho lưu thông qua lại, dân chúng gọi đó là "Cầu Máy". Tỉnh An Giang dưới thời Minh Mạng chỉ có những chợ sau đây: chợ Thái An Đông ở gần sông Ô Môn, chợ Tân An ở gần sông Bình Thủy, chợ Cần Thơ ở gần sông Cần Thơ, chợ Vĩnh Phúc hay chợ Sa Đéc. Các chợ Tân Phú Đông, chợ Tân Thuận, chợ Mỹ An thuộc huyện Vĩnh An. Chợ Nha Mân, chợ Hòa Mỹ, chợ Long Hậu, Tú Điền và Bình Thành Đông. Tỉnh An Giang đã sản sinh ra những nhân vật từng theo phò tá Nguyễn Ánh giành giựt giang sơn với nhà Tây Sơn như Nguyễn Văn Nhân, quê ở huyện Vĩnh An, Tống Phước Thiêm, từ Tống Sơn qua ngụ tại An Giang, Nguyễn Văn Nhàn người huyện Vĩnh An, Hoàng Phúc Bảo người huyện Tân Thành (Sa Đéc), Nguyễn Văn Trọng người huyện An Xuyên, Đoàn Văn Trường người huyện Đông Xuyên, Nguyễn Văn Định người huyện An Xuyên, Nguyễn Văn Tuyên người huyện Vĩnh An, Nguyễn Công Yến người huyện An Xuyên. Về thổ sản, thời Minh Mạng, An Giang gồm có lúa, các loại đậu, các loại dưa, và hoa quả. Về lâm sản, An Giang không có rừng lớn, nhưng có rừng tràm, nên ngoài cây tràm, dùng để làm cừ đóng nọc, An Giang còn có cây mù u, giáng hương, cây cao, cây dừa và những cây tạp khác. An Giang cũng còn có các vùng chuyên nghề nuôi tằm dệt vải lụa. An Giang còn có những sản phẩm khác như hạt sen và tôm khô. Vì An Giang là một vùng bạt ngàn sông nước, ruộng đông, nên An Giang có rất nhiều loại cá đồng như cá rô, cá đối, cá phèn, cá lưỡi trâu... Thời Pháp thuộc, sau khi chiếm toàn bộ Nam Kỳ Lục Tỉnh họ chia An Giang làm những tỉnh lớn như Cần Thơ, Châu Đốc, Rạch Giá và An Giang, còn những phần đất khác thì cho sáp nhập vào các tỉnh khác.

Thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa thì tỉnh An Giang có 4 quận: Quận Châu Thành, quận Chợ Mới, quận Thốt Nốt và quận Huệ Đức. Riêng vùng Núi Sập thì được dâng lên hàng thị trấn. Tại vùng núi Sập, nay thuộc quận Thoại Sơn, cách Long Xuyên khoảng 30 cây dố có thành Óc Eo cũ, nay đã bị chìm sâu dưới lòng đất, được phát hiện khi dân chúng đào kinh Xáng Ba Thê. Đa số đất đai của tỉnh An Giang là những cánh đồng bao la bát ngát, tuy nhiên, riêng quận Huệ Đức có đến sáu (06) ngọn núi là những núi Sập, núi Chóc, núi Ba Thê, núi Cậu, núi Bà và núi Tượng. Tuy những núi này không lớn nhưng cũng đủ biến toàn vùng đồng ruộng này trở nên thâm u huyền bí hơn các vùng lân cận. Vào thời đệ nhất Cộng Hòa, chánh quyền trung ương có tài trợ xây dựng con lộ chạy vào núi Ba Thê. Tại Ba Thê hiện còn có một cộng đồng người Khmer rất đông nên ngoài lễ Tết Nguyên Đán vào đầu năm âm lịch, họ còn ăn Tết Miên vào khoảng tháng ba Âm lịch. Họ thường chuẩn bị Lễ Tết trước đó hàng tháng và lễ Tết của họ thường kéo dài đến hơn nửa tháng mới dứt. Tại núi Sập, hiện còn đền thờ ông Thoại Ngọc Hầu, hàng năm đến ngày cúng đình ở núi Sập vào tháng ba Âm lịch, dân chúng các nơi trong tỉnh thường đổ xô về đây che sạp trước đình để chiêm bái và ăn chơi còn vui hơn cả ngày Tết nữa là khác. Nói đến An Giang mà không nói đến ngày Khai Đạo của Đức Huỳnh Giáo Chủ vào ngày mười tháng tám âm lịch là một thiếu sót lớn vì đa số dân vùng An Giang đều theo đạo Hòa Hảo. Họ tổ chức ngày Khai Đạo của Đức Thầy thật lớn vì chẳng những dân chúng trong tỉnh An Giang đổ về dự lễ mà tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở khắp các tỉnh miền Nam đều đổ xô về dự lễ. Bên kia sông Hậu là vùng Chợ Mới cũng thuộc địa phận tỉnh An Giang. Nổi tiếng nhất của quận Chợ Mới phải nói là cù lao Ông Chưởng (được bao bọc xung quanh bởi rạch Ông Chưởng). Phải nói cù lao Ông Chưởng là một niềm hãnh diện cho dân chúng trong tỉnh An Giang, vì đây là một vùng sông nước bao la với cá mắm đầy sông, rau cỏ đầy đồng, lúa trải đầy ruộng. Chính vì vậy mà có câu ca dao:

"Chiều chiều quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm."

Bên cạnh đó, người dân cù lao Ông Chưởng đa phần theo Phật Giáo Hòa Hảo nên tính tình họ rất thuần lương, chân chất, mộc mạc và hiếu khách.

Nói về giáo dục, thì hầu như trước năm 1975 ở miền Nam tỉnh nào cũng có một trường trung học lớn như ở Sài Gòn thì có Pétrus Ký, ở Mỹ Tho thì có trường Nguyễn Đình Chiểu, ở Cần thơ có trường Phan Thanh Giản, ở Vĩnh Long có trường Tống Phước Hiệp... thì ở An Giang có trường Thoại Ngọc Hầu. Trường được thành lập năm 1948, do cố Phó Tổng Thống VNCH Nguyễn Ngọc Thơ (quê của ông cũng tại An Giang) khởi xướng và vận động. Cũng như các vùng lân cận khác, trước thời đó sau bậc tiểu học sinh An Giang phải xuống Cần Thơ để tiếp tục bậc trung học. Chính vì vậy mà lúc đó ông Nguyễn Ngọc Thơ (đang là tỉnh trưởng Long Xuyên) đã vận động thành lập trường. Trường được khai giảng khóa đầu tiên 1948-1949. Sau đó vào thời đệ nhị Cộng Hòa, năm 1968, trường Chưởng Binh Lễ được thành lập vì nhu cầu học sinh trong tỉnh đòi hỏi.

Thành phố Long Xuyên là một trong những thành phố lớn của miền Tây, chỉ thua có Cần Thơ. Long Xuyên có nhà thờ chánh tòa và tòa tổng giám mục. Từ Long Xuyên muốn về Sài Gòn có hai ngã, một ngã qua Bắc Vàm Cống đi Sa Đéc, rồi qua cầu Mỹ Thuận, ngã ngày ngắn hơn với khoảng cách chừng 190 cây số. Ngã thứ hai là đi về Thốt Nốt, qua Ô Môn rồi đến Bắc Hậu Giang, hướng về Vĩnh Long, rồi cũng qua cầu Mỹ Thuận để đi Sài Gòn, ngã này xa hơn với cự ly là 228 cây số. Ra khỏi thành phố Long Xuyên, đi về phía Tây Bắc là cầu Hoàng Diệu, nối liền Long Xuyên với thị xã Châu Đốc. Vùng Long Xuyên còn nổi tiếng với các "Chợ Nổi" dọc theo bờ sông Hậu. Đi Chợ Nổi phải cần có xuồng hay ghe, tuy nhiên, hàng hóa ở Chợ Nổi rất rẻ vì người bán không cần phí tổn cho mặt bằng. Các ghe trên Chợ Nổi cũng không cần trương bảng hiệu mà họ chỉ cần treo trên một cây tre những hàng hóa mà họ dang bán. Chợ Long Xuyên nằm cạnh bến đò đi khắp các vùng miền Tây, vì như các tỉnh khác ở miền Nam, Long Xuyên chằng chịt những sông rạch nên phương tiện giao thông thuận tiện nhất vẫn là đường thủy. Ngoài ra, tại thành phố Long Xuyên hãy còn những chiếc "xe lôi" rất thuận tiện cho việc chuyên chở hàng hóa và hanh khách đi lại trong thành phố. Về giao thông đường bộ, liên tình lộ 91 nối liền Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc, Núi Sam và Nhà Bàng. Trên liên tỉnh lộ 91 tại thành phố Long Xuyên, có tỉnh lộ 943 đi Núi Sập, Tri Tôn. Từ Tri Tôn lên Tịnh Biên bằng tỉnh lộ 948, sau đó đi thẳng về hướng Bắc gặp liên tỉnh lộ 91 tại Nhà Bàng. Trên liên tỉnh lộ 91 tại An Châu thuộc quận Châu Thành có tỉnh lộ 941 đi Tri Tôn. Ngoài ra, bên phía cù lao Chợ Mới và Phú Tân, tỉnh lộ 841 từ Sa Đéc lên Cái Tàu Thượng, lên Chợ Mới rời nối liền với tỉnh lộ 942 lên Chợ Vàm và Tân Châu. Từ Tân Châu có tỉnh lộ 953 về thị xã Châu Đốc.

nguồn: SaigonTimes
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#934 Posted : Tuesday, April 5, 2011 1:39:01 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

Giữ gìn bản sắc làng nghề sản xuất đạo cụ Đào Xá


04.03.2009 10:50

Theo bản đồ địa chính, xã Đông Lỗ, huyện Ứng Hòa, Hà Nội là cái rẻo đất cuối cùng của thành phố giáp với Hà Nam. Nơi đây người dân của vùng này đang lưu giữ được nghề sản xuất nhạc cụ, nhất là các loại nhạc cụ truyền thống.

Dọc theo con đường làng vàng ươm rơm rạ của những ngày mùa, chúng tôi vào nhà ông Đào Ngọc Soạn, một trong những người có thâm niên làm các loại nhạc cụ truyền thống của làng Đào Xá, xã Đông Lỗ. Trên nền gạch xám là những chiếc phôi đàn bầu, đàn tam, đàn nguyệt nên trông vẫn còn có phần thô mộc giản đơn. Những chiếc thân đàn bầu làm bằng gỗ nhãn đỏ au, những cái mặt cộng hưởng của đàn tam được bịt bằng da trăn vẫn còn nguyên cả đai chằng phơi nắng để hong khô chờ vào công đoạn mới.

Tôi lặng im dõi theo từng ngón tay của người thợ, đó là một người đàn ông gầy gò có khuôn mặt xương xương, hiền hậu áng chừng đã hơn bảy mươi tuổi đang gò mình khéo léo ép một thanh gỗ mỏng vào chiếc khuôn tròn xoe như mặt trăng rằm.

Sau cái ấn mạnh tay của ông lão, một tiếng "khụp" chắc gọn vang lên, hai mép đầu của thanh gỗ mỏng ép khít vào nhau tưởng chừng như không còn một khe hở. Thấy lạ, tôi lân la dò hỏi mới biết đó là công đoạn ép khuôn thành bầu cộng hưởng của loại đàn nguyệt, thứ đàn mà dân miệt sông nước miền Nam vẫn thường gọi là đờn kìm.

Theo lời ông Soạn, nghề làm nhạc cụ của làng này đã có từ lâu lắm rồi. Trước đây, lúc các dòng âm nhạc cổ truyền như tuồng, chèo, cải lương, quan họ, ả đào… còn đang thịnh hành thì nghề làm nhạc cụ truyền thống của làng này phát triển thịnh lắm.

UserPostedImage
Nghệ nhân Đào Ngọc Soạn đang chỉnh dây đàn


Vào những năm thời kỳ bao cấp, Nhà nước còn mở hẳn cả một xưởng lớn gọi là xưởng nhạc cụ Việt Nam để mời các nghệ nhân của làng lên đấy hành nghề cũng như truyền nghề cho các lớp thợ trẻ; mà điển hình của lớp nghệ nhân ngày ấy hiện có cụ Tuyên vẫn làm nghề tại Hà Nội.

Hiện bây giờ, cả làng chỉ còn độ 8 nhà còn theo nghề. Trong đó có nhà ông Soạn, nhà cụ Phác, nhà anh Tư là sản xuất lớn hơn cả. Sản phẩm của các nhà làm ra thường được gom lại thành chuyến. Khoảng một, hai tháng, người ta lại chuyển hàng lên Hà Nội một lần để từ đây các nhà buôn lại đưa hàng đi khắp mọi nơi.

Cũng có người tìm về làng để đặt làm một thứ nhạc cụ đặc biệt nào đó để dùng hoặc biếu tặng, những người như thế thường là giới nghệ sĩ hoặc những người ở nước ngoài có tâm hồn hồi cổ muốn tìm giữ lại chút hình ảnh về văn hóa âm nhạc của quê hương.

Sản phẩm của làng kể cũng khá đa dạng, từ cây đàn bầu, đàn tam thập lục, đàn đáy, đàn nguyệt, đàn tỳ bà… cho đến những cây nhị, cây hồ, cây líu… đều có cả.

UserPostedImage
Da trăn dùng để trang trí đàn


Nghề làm nhạc cụ truyền thống cũng lắm công phu. Để ra được một cây đàn như ý phải trải qua không biết bao nhiêu công đoạn cùng với sự tỉ mẫn và tài hoa của bàn tay người thợ. Từ khâu chọn gỗ, ra gỗ, phơi gỗ cho đến công đoạn chắp, ghép, bịt da trăn, đánh bóng, trau chuốt, khảm trai và hoàn thiện… tất cả đều được làm theo phương pháp thủ công đúng với kỹ thuật của ngày xưa để lại.

Tâm sự với chúng tôi, ông Đào Ngọc Soạn cho biết, cái nghề này thu nhập chẳng được bao nhiêu, nhất là trong thời buổi hiện nay. Chỉ có những ai yêu nghề lắm mới có thể theo đuổi được với nghề.

Quay sang lớp thợ trẻ đang cắm cúi làm, ánh mắt ông như chợt vui vẻ hẳn lên. Nhấc cây đàn tranh trên vách xuống, đôi tay gầy guộc của người thợ già lần chỉnh lại những phím tơ rồi lướt nhẹ trên bàn phím, tiếng đàn thánh thót vang lên những khúc nhạc vi vu như thể hiện nỗi lòng và tâm trạng của người đã làm nên nó. Tôi biết đó là niềm vui của một người thợ già đã tìm được lớp cháu con kế cận theo đuổi nghiệp của cha ông, giữ lại những giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam.



(Theo Báo Ảnh Việt Nam)



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#935 Posted : Wednesday, April 6, 2011 8:42:33 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

CỬA ĐẠI


UserPostedImage


NGUYỄN PHÚC VĨNH TUNG

Giữa rừng và biển, tôi thích biển và có kỷ niệm đẹp với biển nhiều hơn là rừng núi. Những kỷ niệm của rừng núi chỉ là một khoảng thời gian 4 năm, ngày ngày làm gã tiều phu, đốn cây về cho mấy tên cai tù bán lấy tiền riêng. Không thích làm những việc lặt vặt trong trại, tôi tình nguyện lãnh công tác đi rừng, mặc dù rừng đối với tôi có vẻ âm u, bí hiểm và nhiều thách đố, nhưng dù sao tôi cũng được một khoảng thời gian dài trong ngày ra khỏi cái trại giam đầy nhục nhằn. Đi rừng mệt về thể xác, nhưng thoải mái về tinh thần. Bốn năm đi rừng tạo cho tôi thành một tay tiều phu chuyên nghiệp. Tôi tự hào có thể đốn bất cứ một cây nào cho ngã về hướng mình chọn, có thể nhìn qua một cái là biết cây này gỗ chắc hay bỘng, có thể bất bất cứ một loại rắn độc nào lành nghề như một thầy pha-kia Ấn Độ. .. Nhưng nếu phải chịu nhận những vết lưu lại trong ký ức của một người, thì đương nhiên ai cũng chọn dấu môi son ngọt ngào hơn là những vết hằn của đòn thù, vì vậy tôi chỉ giữ những kỷ niệm với biển.

Đối với tôi biển như người đàn bà đẹp và lãng mạn lúc bình thường nhưng thật tàn nhẫn khi nổi cơn cuồng nộ. Tuy vậy, biển không làm cho tôi sợ và e dè như khi đối diện với rừng núi. Và trong đời, tôi đã có dịp đặt chân lên rất nhiều bãi biển, mà theo tôi, chưa có một bãi biển nào đẹp bằng biển Cửa Đại của phố cổ Hội An. Cổ thể đây là một nhận xét bị ảnh hưởng nhiều bởi những tình cảm riêng tư, nhưng đó là chuyện thường tình của con người. Bàn tay ai cầm bút mà không bị chi phối nửa phần bởi khối óc, nửa phần bởi con tim?

Quê nội tôi Ở Huế, thuộc Phủ Tùng Thiện Vương. Quê ngoại tôi ở làng Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, con cháu của Tướng Hoàng Kế Viêm. Tôi sinh ra tại Đồng Hới, thị xã của tỉnh Quảng Bình, thời gian đó ba me tôi đang làm việc tại đây, vì vậy bãi biển đầu tiên mà tôi biết và còn giữ lại được một vài hình ảnh đã quá nhạt nhòa là bãi biển Đồng Hới, lúc đổ tôi mới 4 tuổi.

Năm 1952, gia đình tôi đổi vào Đà Năng. Thành phố này có một hải cảng và rất nhiều bãi biển chung quanh, đủ cho tôi vui chơi, tận hưởng trong những năm làm học trò của trường Nam Tiểu Học Đà Năng, từ lúc mà trường này còn học ké với trường Nữ Tiểu Học bên cạnh nhà Đèn. Vài năm sau, khi Bệnh Viện Đà Nẵng dời về đường Hùng Vương, trường Nam mới dời về chỗ bệnh viện cũ, đối diện với trường Trung Học Phan Chu Trinh sau này.

Tuổi thơ của tôi là những ngày tháng màu hồng với những gốc phượng trong sân trường Nam Tiểu Học, với những gốc me trên mả Tây, nghĩa trang nam ngay góc đường Lê Lợi và Thống Nhất, sau được san bằng để xây trường Nữ Trung Học Đà Năng, với những trận đá banh bầm chân, sưng gối trên sân cát trường Phan Chu Trinh trong những ngày hè vắng lớp, với những buổi chiều lén đi tắm biển Thanh Bình, lúc mà bãi biển còn nguyên một rừng thông, cát trắng, chưa có bóng dáng những mái nhà tôn lấn dần, lấn dần ra tận ngoài cồn cát bồi, và rừng thông thì trơ trụi...

Lên đến lớp Nhì, lớp Nhất, tôi được đi xa hơn, qua tận biển Mỹ Khê, một bãi biển nổi tiếng đối với những người lính Mỹ đã từng sang Việt Nam tham chiến từ đầu thập niên 60, có biệt danh China Beach. Gần đó là bãi biển Trên Sa, khung cảnh thiên nhiên và thơ mộng. Về phía Bắc của Đà Năng, bãi biển Nam Ô cát trắng ngần và nước mắm Nam Ô ở miền Trung cũng nổi tiếng như nước mắm Phú Quốc ở miền Nam. Qua khỏi đèo Hải Vân là Lăng Cô, tuy nằm trong phần đất của Thừa Thiên nhưng lại gần Đà Nẵng hơn. Bãi biển Lăng Cô phong cảnh trữ tình, và sò huyết là một đặc sản của vùng này.

Năm tôi lên lớp Đệ Lục, ba me tôi đổi vào làm việc ở Hội An. Lúc ở tiểu học, học Sử Địa, tôi còn thuộc lòng Hội An là một thành phố cổ từ thế kỷ 17, đã một thời rất phồn thịnh trong việc buôn bán với ngoại quốc. Nhưng những bài học lúc đó chỉ vẽ trong trí tôi một vài chấm phá về thành phố này, cho đến hôm nay, khi đặt chân đến Hội An, đứng trên đường Cường Để, một trong những đường chính giữa lòng thành phố, nhìn con đường nhỏ đến độ tôi nghĩ nếu có hai chiếc xe jeep ngược chiều, khi gặp nhau không biết có qua lọt hay không. Sát đường là vách nhà dựng đứng, có đoạn không có một khoảng trống để làm vỉa hè, khiến cho con đường càng thấy hẹp và dài hun hút. Những căn nhà phố này mới thật là độc đáo, có nhà cửa trước ở mặt đường Cường

Để, cửa sau ở mặt đường Nguyễn Thái Học, nghĩa là dài nguyên một block phố. Căn nhà có một khoảng lộ thiên ở giữa để cho ánh mặt trời chiếu vào, cho không khí luân lưu tận các phòng ngủ hai đầu, những căn phòng lúc nào cũng trong tình trạng ánh sáng mờ mờ nếu không có đèn. Khoảng lộ thiên còn dùng để hứng nước mưa, đặt hòn non bộ và chúng cây kiểng hay nuôi chim.

Những buổi chiều hè, hai nhà đối diện nhau, chỉ cần bắt ghế ngồi trước cửa nhà mình, nói vói qua đường, chuyện trò thoải mái với nhà bên kia. Câu chuyện thỉnh thoảng bị ngắt quảng chút xíu vì một chiếc xe hơi chạy qua. Những ngày lụt lội mới thấy cái tiện nghi trong thành phố này, những dãy nhà nằm gần bờ sông Hội An, nền nhà cao hơn mặt đường chừng nửa thước, mùa mưa, khi nước sông dâng lên, nửa phần thành phố nằm gần sông thật giống như Venice, chỉ thiếu những chiếc thuyền chở du khách len lỏi từ đường này qua đường khác. Nhà nào làm biếng không muốn bơi ra chợ, có thể đứng trước cửa nhà mình, cầm cây sào đầu có móc một cái lon sữa bò hướng qua nhà đối diện, mượn tạm trái ớt hay vài muỗng nước mắm. Thật ra, khi trời mưa lụt, chợ Hội An di tản trước tiên vì nằm sát bờ sông.

Đi một vòng quan sát phố phường rồi lên xem Chùa Cầu, có người gọi là Cầu Chùa, vì đây là một cây cầu gỗ ngắn, trên lại có mái, đứng xa trông như một ngôi chùa nhỏ. Hai đầu cầu có hai con khỉ và hai con chó bằng đá ngồi đối diện nhau, bốn tượng đá không biết tượng trưng cho cái gì và

linh thiêng như thế nào, nhưng những ngày rằm và mồng một, vẫn có người đến thấp hương, thỉnh thoảng cũng được cúng dĩa xôi, nải chuối. Chùa Cầu dài chừng 15 mét, mặt cầu là những thanh gỗ gắn ngang qua mấy cây đà lớn nối hai bờ của một con lạch nhỏ chảy thông ra sông Hội An, một đoạn của sông Thu Bồn. Sau này có dịp đi bộ qua Chùa Cầu, dừng lại ngắm nhìn, tôi thấy hai chú khỉ đá mặt mũi cũng sáng sủa, hai tay chắp trước ngực trông rất nghiêm chỉnh. Nhưng đối với người Hội An, ba chữ "khỉ Chùa Cầu" đã thành biểu tượng để xỉ vả hoặc rủa nhau: "Cái mặt như khỉ Chùa Cầu mà làm bộ làm tịch!"

Chùa Câu là một di tích nổi tiếng của phố Hội, một trong những ngỏ vào thành phố, mỗi lần có chiếc xe hơi chạy qua, những thanh gỗ bất ngang đã lỏng lẻo, từng thanh lần lượt bị ấn xuống, rồi bật lên theo bánh xe lăn , tựa như những phím đàn dương cầm, phát ra những âm thanh rộn ràng, một nhạc khúc nào đó, như Comeback To Soriento, trong lòng những chàng, những nàng xứ Quảng, từ Quốc Học, Đồng Khánh, Đại Học Sư Phạm, Luật Khoa, Văn Khoa Huế... vào cuối năm, chiều 23, 24 Âm Lịch trở về quê ăn Tết.

Mùa hè đầu tiên ở Hội An, tôi khám phá ra Cửa Đại và kết với bãi biển này liên tiếp những mùa hè sau đó. Tuy có tên là Cửa Đại, nhưng không phải là một bãi biển lớn lại ít người biết vì Hội An chỉ là một thành phố nhỏ, cổ kính và nằm xa Quốc Lộ I. Những năm đầu của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, chính quyền đẩy mạnh phong trào văn nghệ, thể thao cho toàn dân miền Nam, để tạo nên một sắc thái thanh bình, thịnh trị. Cái thời mà giới bình dân còn mê mẩn giọng hát ngọt ngào của đôi song ca Ngọc Cẩm- Nguyễn Hữu Thiết lưu diễn khắp nơi với "Gạo Trắng Trăng Thanh": ...vì đâu trăng ham vui nên trăng rụng xuống cầu... Những đêm hội chợ náo nhiệt với những trận võ đài đẹp mất bởi đường bái tổ của các võ sư Huỳnh Tiền, Minh Cảnh... Những vị trí du lịch, trong đó cổ Cửa Đại, được tu bổ để tạo thành một nơi nghỉ mát và vui chơi cuối tuần cho dân chúng hai thành phố Đà Nẵng, Hội An. Con đường từ phố Hội về Cửa Đại được tráng nhựa, hai hàng dương liễu trồng hai bên. Con đường có đoạn chạy sát theo bờ con sông nhỏ, nước xanh biếc, bờ bên kia rũ bóng một hàng dừa chĩu trái, khiến cho phong cảnh thêm phần thơ mộng và giúp cho những kẻ mới quen nhau bước nhanh vào cuộc tình.

Tôi mê Cửa Đại vì bãi biển này vừa được khai phá, bãi cát còn trắng ngần. nước biển còn trong xanh và rừng thông chỉ mới chừng 3, 4 tuổi. Bãi biển Cửa Đại không lớn, không rộn ràng quanh năm như biển Mỹ Khê, Nha Trang, Vũng Tàu... Cửa Đại là của mọi người trong hai ngày cuối tuần và suốt ba tháng hè, nhưng Cửa Đại có thể của riêng bạn, của riêng tôi hay người nào đó đặt chân đến một ngày trong mùa thu hay mùa đông. Cửa Dại vào những ngày mùa đông có khung cảnh thật đặc biệt, hấp dẫn tôi một cách kỳ lạ. Cho mãi đến những năm sau khi trở ra Huế học, mỗi dịp về nhà ăn Tết, tôi xuống thăm Cửa Đại như ghé thăm một người tình cũ. Bãi biển trong mùa đông bị nước dâng lên thâu ngắn lại. Mặt cát trang phau, liền lặn, không một dấu chân người. Những vỏ ốc lớn, những con sao biển bị sóng đùa lên không ai nhặt. Gió thổi qua rừng thông không ngừng tạo nên những âm điệu vi vu hòa với tiếng sóng vỗ ầm ì vào bờ. Một dãy hàng quán và nhà nghỉ mát công cộng đóng cửa im ỉm. Những bông cỏ, không biết từ đâu, bị gió thổi lăn dài trên bãi cát như những quả bóng, thỉnh thoảng đụng nhau, nhập thành một quả bóng lớn, tiếp tục lăn đi tận chân trời. Những ngày mùa đông, Cửa Đại rộng mênh mông như tên đã có, và tôi đứng đó, thích thú với sự nhỏ bé, cô đơn của mình trong một cảnh trí hoàn toàn hiu quạnh. Thích thú nhặt một cái vỏ ốc, ép sát vào tai, lắng nghe âm điệu tình ca của biển. Thích thú nhìn lại những dấu chân vừa in trên cát, chỉ có mình ta với biển. Cửa Đại những ngày mùa đông tinh khiết như chưa bao giờ có dấu vết của loài người.

Tôi học ở trung học Trần Quý Cáp hội An hai lớp Đệ Lục và Đệ Ngũ. Những năm sau đó chỉ về trong dịp Tết và ba tháng hè. Sống xa nhà quanh năm cơm hàng, cháo chợ, qua một mùa đông, da dẻ xanh xám như mây mùa thu ở Huế. Mẹ tôi lắc đầu vì mỗi lần tôi về, bà lại thấy sợi dây chuyền vàng trên cổ tôi mỗi nhỏ lại. Ngày xa nhà ra Huế học, bà cẩn thận đánh cho tôi một sợi dây chuyền vàng để tôi đeo trên cổ phòng thân. Thằng con đãng tử thỉnh thoảng lại mang sợi dây chuyền đi cầm lấy tiền tiêu vặt. Tết về thăm nhà, không có tiền chuộc, đành đổi sợi nhỏ hơn. Đến mùa hè thứ hai, vác mạng về nhà thì trên cổ không còn một ly vàng nào cả. Mẹ tôi và Cửa Đại đã làm cho màu da của tôi trở lại hồng hào. Tôi tận hưởng những ngày hè trên Cửa Đại với nước biển trong xanh ấm áp, với bãi cát trắng và sạch, với tôm cá vừa lưới lên tươi rói, với những trái dừa xanh ngọt lịm, với khung cảnh đầm ấm của vài gian hàng dựng lên toàn bằng lá dừa khô trông rất thơ mộng, cùng với một vài khuôn mặt quen thuộc của Hội An vẫn thường lui tới Cửa Đại, trong đó có bác Huỳnh Sỏ, chủ nhân tiệm ảnh Huỳnh Sỏ và tôi. Bác Huỳnh Sỏ sức khỏe yếu nên cần giá biển.

Ban ngày vui chơi trên phố Hội, ban đêm ôm mền gối xuống Cửa Đại ngủ. Mấy quán ăn thắp đèn măng sông sáng như đèn điện, mở cửa tới mười một giờ đêm. Thường thường tôi ngồi nói chuyện với bác Huỳnh Sỏ hay đánh cờ với bác cho đến khi nhà hàng đóng cửa mới ra bãi tìm chỗ ngủ. Buổi sáng thức giấc, nằm trên bãi cát, nhìn mặt trời lớn như cái mâm, đỏ tươi một màu, dưới lòng biển từ từ nhô lên, nhìn những người dân chài kéo mẻ lưới đầu tiên trong ngày. Khi thấy mấy con cá nục tròn vo, nẩy tưng tưng trong những chiếc rổ tre lớn, thì chạy xuống mua vài con với giá rẻ mạt gần như cho, mang lên quán nhờ luộc đùm để điểm tâm sau một hồi bơi lội vẫy vùng thỏa thích trong làn nước biển ấm áp và không khí trong lành của ban mai.

Cửa Đại gắn liền với thời niên thiếu của tôi, quãng đời mà lý trí và tình cảm vừa mới nở như đóa hoa đầu tiên mở cánh trong vườn xuân. Từ một thành phố xa lạ, cổ kính, dần dần Hội An trở nên thân thiết như căn nhà nhỏ của mình, tôi có nhiều bạn bè tâm giao và những mối tình thật lãng mạn trong cái thành phố buồn thiu này. Tuổi thanh xuân của tôi trôi êm đềm trên ba thành phố Huế-Đà Nẵng-Hội An, mỗi nơi mỗi quãng đời và nơi nào cũng đầy ắp những kỷ niệm, lai láng, cuồn cuộn theo dòng đời trôi nổi, như mặt nước sông Hương, sông Hàn và sông Thu Bồn trong mùa nước lũ.

Xa Hội An, nhưng Hội An vãn ở trong tôi. Hội An trong tôi không phải chỉ có Khổng Miếu, Chùa Cầu, trường Trần Quý Cáp Cửa Đại... Hội An trong tôi còn là những đêm đội mưa đi xem ciné ở rạp Hoà Bình, rạp hát nằm sát bờ sông, vãn hát ra về thì nước sông đã dâng lên quá bờ, ngập gần đến đầu gối. Hội An trong tôi còn là những tô cao lầu mộc mạc, những viên hoành thánh Hai Huế lừng danh cả miền Trung, những cái bánh ú tro mồng năm xinh xắn và những chiếc bánh ổ để càng mốc meo càng ngon, khi chiên lên, đường mía và bột nếp tạo thành một hương vị độc đáo. Hội An trong tôi là những chiều cuối năm, cùng bạn bè từ Huế về quê ăn Tết trên những chuyến xe An Lợi, Phi Long, chen lấn gọi nhau. Tôi nhìn thấy nét mặt họ bồn chồn, tâm tư họ rộn ràng, tôi hiểu rằng dù cho dĩa bánh bèo Ngự Bình, tô bún bò Gia Hội có ngon, cô nữ sinh Đồng Khánh có đẹp, nhưng không gần gũi, thân yêu như tô mì Quảng màu vàng nghệ, cái bánh tráng khoai ngọt ngào mềm mại, cuốn tròn mà cắn không cần nướng và những người con gái không đài các kiêu sa, nhưng cũng đa tình lãng mạn trong cái thành phố cổ xưa này...

Ngày vượt biên, thuyền tấp vào một bãi biển của Mã Lai, sau này mới biết thuộc làng Trenganu, ngồi trên bãi cát nhìn vọng ra biển khơi, cùng một khối nước trong xanh trước mặt, bên kia bờ đại dương là những bãi biển yêu dấu của quê hương, nay đã ngàn trùng cách biệt, bên đó có biển Đồng Hới, nơi tôi sinh ra đời, có biển Thanh Bình, Nam Ô, Mỹ Khê của tuổi ấu thơ, có Cửa Đại, nơi tôi đã thở những hơi gió biển mặn nồng như tình cảm của một gã con trai mới lớn. Rồi Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu, Rạch Giá, Phú Quốc... của những ngày chinh chiến, và cuối cùng, từ cửa Hàm Luông, giả biệt quê hương. Đêm đầu tiên ở phương trời tự do, nằm ngủ trên bãi biển hoang vu xa lạ, tôi cứ ngỡ như năm nào trên Cửa Đại, một đêm hè.

Gần 30 năm rồi, tôi chưa một lần trở lại thăm Hội An . Người ta hiểu rõ tâm trạng của vị vua vẫn muốn đập cổ kính ra tìm lây bóng, nhưng ít ai hiểu rằng đập cổ kính cũng là điều can đảm đối với một người đa tình, đa cảm. Tôi không làm được như ông cha của tôi, không biết vì tâm tư yếu đuối hay mình là kẻ bạc tình, lòng chỉ muốn phủ gương xưa để khỏi nhìn thấy bóng.

Nhưng tôi đã tự hứa, một ngày nào đổ sẽ về thăm Hội An.

Nguyễn Phúc Vĩnh Tung
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#936 Posted : Sunday, April 10, 2011 9:50:42 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

LÀNG RAU TRÀ QUẾ


PHẠM HỮU ĐĂNG ĐẠT


"Ai về Trà Quế thì về
Trà Quế có nghề nấm giá đậu xanh
Sớm mai đi bán rau hành
Chiều về tưới nước suốt canh chưa nằm
Khuya thì dậy sớm cắt rau
Sáng lo đi bán suốt năm không nhàn"

Làng Trà Quế, nay thuộc xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, là một trong những vùng đất khai phá từ rất sớm. Theo đó, tộc Mai và tộc Phạm là những tộc đến trước và đã trải qua nhiều đời con cháu nối nghiệp sinh sống trên vùng đất này. Tương truyền, thuở sơ khai, ông bà tổ tiên của cư dân Trà Quế vốn là những ngư dân thực thụ. Họ sinh sống bằng nghề lưới bén, chuyên đánh bắt cá tôm trên sông Đế Võng kiếm ăn qua ngày. Thế rồi, càng về sau, việc đánh bắt cá tôm ngày càng khó khăn. Cuộc sống của ngư dân làng vạn rơi vào chỗ lao lao đao. Nhiều gia đình bữa đói, bữa no. Trong lúc bị dồn vào chân tường, một số bà con mới nghĩ đến việc thử khai phá thêm đất. Thôi thì nếu không thể trồng lúa, ta trồng thứ khác. Như rau chẳng hạn. Trước mắt là có rau ăn. Dư thừa bán cũng có tiền.
Từ suy nghĩ đơn giản ấy, họ bắt tay vào thực hiện. Những vạt ngò, rau húng rồi đến rau é, hành, cải, hẹ... lần lượt mọc lên trên vùng đất mới khai phá. Và cũng thật bất ngờ, các loại rau kể trên không những lên xanh tốt mà còn có hương vị đặc biệt thơm ngon. Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, cây rau Trà Quế từng bước nổi danh dần. Chẳng mấy chốc, các chợ lớn, chợ nhỏ trong vùng Hội An và lân cận trở thành thị trường tiêu thụ chính của rau Trà Quế. Thấy có thể sống được từ nghề mới mẻ này, những hộ còn lại bắt chước làm theo. Chẳng ai đủ sức trụ lại với nghề đánh bắt cá tôm bấp bênh, bữa đực bữa cái nữa. Từ một làng thuở ban đầu, Trà Quế dần dần biến thành một làng rau.

Theo các bô lão, danh xưng của làng gắn liền với nghề nghiệp của người dân địa phương. Danh xưng đầu tiên của Trà Quế là Nhà Quế với ý nghĩa nhà nào cũng trồng rau thơm cả. Đến khi cây rau trở thành loại cây chủ lực, được trồng đại trà, làng mới cải sửa tên lại là Trà Quế. Ước đoán danh xưng Trà Quế ra đời cách nay khoảng 200 năm trong lịch sử, tức vào cuối thế kỷ XVIII. Từ lúc bấy giờ, người dân địa phương đều lấy nghề trồng rau làm nghề sinh sống chính. Chuyện kiếm cá trên sông hay tác ít đất lúa ngập mặn vụ đông xuân hằng năm chẳng qua chỉ góp phần cải thiện đời sống gia đình mà thôi. Hơn nữa, trồng lúa nước ngập mặn không dễ ăn và không phải ai cũng có ruộng để làm. Cho nên, với cư dân Trà Quế, chắc ăn nhất vẫn là trồng rau. Mà đã trồng rau, giàu thì khó như mò kim đáy biển nhưng đủ ăn, đủ mặc, chẳng nói làm gì. Chỉ cực một điều là phải thức khuya, dậy sớm, cần mẫn, kiên trì như con ong làm tổ.

Bên cạnh những hộ trồng rau thì vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tại Trà Quế đã xuất hiện một số hộ vừa trồng rau vừa buôn rau. Đó là hộ các ông Nguyễn Trí, Nguyễn Trì, Võ Lang, Mai Phiến... Họ đều có ghe riêng, sẵn sàng chở rau qua sông Đế Võng rồi gánh bộ tỏa đi các chợ xa gần. Trong đó, người có máu mặt nhất là ông Võ Lang. Ngôi nhà ngói ba gian hai chái to đùng của ông là điều mơ ước của nhiều gia đình thời bấy giờ. Ngoài nhà ngói, ông còn nuôi một lúc bảy, tám con trâu để cày ruộng lúa nước mặn. Nói chung, đã đi buôn, dù là buôn rau đi nữa thì cuộc sống cũng đỡ. Nghĩa là có đồng ra đồng vào. Còn chỉ chuyên trồng rau để bán, giỏi lắm cũng chỉ đắp đổi qua ngày.

Tuy nhiên, làng rau Trà Quế phát triển mạnh nhất từ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945. Đó là thời điểm cư dân Đà Nẵng biết tiếng và chuộng các loại rau có nguồn gốc từ Trà Quế. Theo các cụ già cao tuổi trong làng thì bấy giờ, ngày nào cũng như ngày nào, dân Trà Quế thức dậy từ lúc hai, ba giờ sáng, ăn uống qua loa rồi gánh gánh rau đi bán. Mà bán tận Đà Nẵng chứ chẳng chơi. Họ nhắm hướng đường biển mà đi. Người nọ nối tiếp người kia, lặng lẽ đi trong bóng đêm, khi mọi người còn say nồng trong giấc điệp. Ra tới An Hải, họ qua đò Hà Thân rồi bán sỉ ngay tại chợ Hàn. Xong, cũng theo đường biển mà về. Cùng với hàng chục hộ Trà Quế gánh bộ gánh rau nặng ì ra Đà Nẵng để bán thì cũng có hàng chục chị em ở Đà Nẵng lặn lội vào tận Trà Quế mua rau về bán lại. Hành trình của họ cũng vào lúc ba giờ sáng làm sao đến Trà Quế mua xong gánh bộ ra Đà Nẵng để kịp sáng hôm sau có mặt tại các chợ nội thành. Tiêu biểu như các bà Lệ, bà Tâm, bả Hảo... đều quê gốc An Hải. Và, trong suốt hai mươi năm trường, từ năm 1945 đến năm 1965, theo cách ấy, rau Trà Quế kịp thời cung cấp nhu cầu cho thị trường Đà Nẵng. Sau đó, khi tuyến đường Đà Nẵng Hội an có xe đò chạy thường xuyên, họ mới chuyển qua đi xe đò.

Cũng như nhiều ngành nghề truyền thống khác, làng rau Trà Quế cũng có những bước thăng trầm. Đặc biệt, nhà văn Chu Cẩm Phong khi về công tác ở vùng thị xã Hội An vào năm 1968 có ghi lại nhật ký về làng rau Trà Quế như sau: "Đất Trà Quế (hay Nhà Quế?) nổi tiếng về trồng rau. Ở đây có nhiều giống rau ngon và thơm, quanh năm đều có. Trồng rau trở thành một nghề nghiệp rất chuyên môn, một thứ gia truyền. Người ta sinh sống, phát đạt bằng những mảnh vườn thẳng tắp, ngăn nắp và xinh đẹp như một vườn hoa. Khắp các ngõ lối, chỗ nào cũng ngào ngạt hương thơm quyến rũ kích thích của rau. Nhất là về buổi chiều, khi gió ngoài sông thổi lộng vào, các cô gái và bà già gánh những gánh rau đầy ắp từ ngoài vườn về để đầy sân, chuẩn bị cho chuyến chợ phố ngày mai. Rau ở đây ngon nhờ chất đất, cũng cây hành, xà lách, cũng rau húng, rau quế, cũng cây ngò, cây cải đó, một khi đem ra khỏi cái làng nhỏ bé ngửa ra mặt sông này, đem cấy xuống mảnh đất lạ khác, chẳng hạn ở Trường Lệ, rau như vì nhớ đất mà kém sút đi, và cái hương vị đặc biệt của Trà Quế mất hẳn."
Sau 1975, người dân không những phục hồi nghề cũ mà còn từng bước khai phá cánh đồng lác ngập mặn để trồng thêm cây lúa nước. Mạnh nhất là vào đầu thập kỷ 1980, khi rau Trà Quế tiêu thụ gặp nhiều khó khăn. Thành quả thật đáng tự hào: sau hàng bốn, năm trăm năm phải mua gạo quanh năm, giờ đây người dân Trà Quế đã tự túc được lương thực. Đời sống dân làng cải thiện đáng kể.

Thời trước trồng được cây rau không dễ. Ngày lại ngày, họ phải thức khuya, dậy sớm để tưới rau, chăm sóc rau. Sự cực khổ, vất vả ấy khiến trai gái các làng rất ngại... kết duyên với trai gái làng rau Trà Quế:

"Muốn về Trà Quế trồng rau
Sợ e gánh nước hai gàu không quen".

Còn nay, nhờ đến lưới quốc gia kéo về từ năm 1991, nhiều hộ dành dụm mua sắm máy bơm để tưới. Công việc trở nên nhẹ nhàng hơn nhiều. Khác xưa, hiện nay, cư dân Trà Quế trồng rau quanh năm. Đất rau dĩ nhiên chẳng có thời gian ngơi nghỉ. Ngoài phân chuồng, người ta chuộng lấy phân từ rong vớt tại sông Đế Võng và dọc các ao hồ ở Trà Quế nhằm giữ hương vị đặc trưng của cây rau truyền thống quê mình.

Đã hàng mấy trăm năm nay, rau Trà Quế theo chân bà con tỏa đi các nơi phục vụ nhu cầu ẩm thực của người dân các địa phương khác. Trong đó, chợ Hội an luôn luôn là địa điểm chính của rau Trà Quế. Ngày nào cũng có hàng chục chị em gánh rau hoặc chở rau trên xe đạp ra ngồi bán. Xong xuôi, họ mới thu dọn quang gánh, đồ đoàn về nhà. Thỉnh thoảng, lại có đôi chuyến xe tốc hành từ Sài Gòn ra Đà Nẵng nhân tiện ghé chợ Hội An mua rau chính gốc Trà Quế. Về thị trường tiêu thụ, ngoài những thị trường truyền thống như Hội An, Đà Nẵng, thời gian gần đây, rau Trà Quế vào đến Tam Kỳ, vươn ra Huế. Nhiều chị em nhờ buôn rau mà khá lên như các chị Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Nhiều, Nguyễn Thị Thơ, Nguyễn Thị Bẻo, Nguyễn Thị Thơm... Nhưng với người dân làng nghề, thu nhập vẫn thấp. Giá các loại rau hạ dần. Nguyên nhân là các xã vùng cát xưa bỏ hoang nay sẵn máy bơm, họ đẩy mạnh việc trông rau theo thời vụ. Mặc dù vậy, dân làng Trà Quế vẫn trung thành với cây rau. Rau luôn là nguồn thu nhập đáng kể. Cho nên cả làng có 216 hộ thì cả 216 hộ đều trồng rau. Kể cũng lạ, các loại rau Trà Quế từ rau é, hành ngò, rau húng, xà lách... tuy không xanh tốt bằng rau các nơi nhưng hương vị lại vượt trội, thơm ngon, đậm đà không đâu sánh bằng. Và đó cũng chính là những ưu điểm nổi bật tạo nên nét đặc trưng của làng rau truyền thống Trà Quế xưa nay.

(Trích Chuyện Làng Nghề - Đất Quảng của Phạm Hữu Đăng Đạt)


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#937 Posted : Thursday, April 14, 2011 7:59:07 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

CHUYỆN ĐÔI ĐŨA


LÊ QUỐC


Từ giã quê hương ra đi, những gì ta mang theo, nếu có, nhứt định không phải là đôi đũa. Vậy mà ngày đầu tiên đặt chưn đến đảo cũng như sau nầy.. trong những bữa ăn, đôi đũa vẫn xuất hiện bên cạnh ta, đi theo ta suốt một đời.. Nó hiển nhiên đến đổi không còn ai biết nó từ đâu đến, tại sao có? Trong những bữa cơm nghèo nàn, muối dưa đạm bạc hay những yến tiệc linh đình, mỹ vị cao lương, người Việt ta vẫn phải dùng đến đôi đũa. Không thể dùng tay để bốc thức ăn như con người 5000 năm trước đây của nửa phần trái đất nầy.

Tuy tầm thường, thô sơ, rẻ mạt.. không ai để ý, nhưng nó luôn luôn ở bên cạnh ta. Cả đến khi ta qua đời, đôi đũa cũng được so ngay ngắn để bên chén cơm cúng ta trên bàn thờ.

Đôi đũa là một phát minh của nền văn minh nông nghiệp cách đây hàng ngàn năm của vùng Hoa hạ và sau đó lan tràn cả vùng Đông Nam Á. Nó vừa là một dụng cụ vừa là một chứng nhân của dòng sinh hoạt văn hóa dân gian, biểu tượng một phần của đời sống văn minh trong sự ăn uống. Riêng người Việt Nam, qua cung cách sử dụng, đôi đũa còn thể hiện nét đẹp của tinh thần gia tộc: Biết kính trên nhường duới, biết ''ăn coi nồi, ngồi coi hướng'', biết gắp miếng ngon dâng cho ông bà, cha mẹ, nhưng đồng thời cha mẹ, ông bà cũng chia sẻ, nhường nhịn thức ăn cho con cháu. Tình gia tộc chan hoà ấm áp qua sự sử dụng đôi đũa trong bữa cơm.

Trước khi ăn, người ta còn cầm đũa xá 3 xá, để nhớ ơn người nông dân lam lũ, một nắng hai sương, nhọc nhằn vất vả, mới tạo ra được hột cơm. Và khi ăn, phải ăn cho sạch cơm trong chén – để thể hiện cái đạo lý ''Ăn trái nhớ kẻ trồng cây'' của dân tộc ta. Tập quán tốt đẹp nầy hiện vẫn còn một số gia đình áp dụng. Đôi đũa còn mang lại cho ta cái thú vị trong cách thưởng thức món ăn. Cứ thử ăn món phở mà dùng chiếc nĩa cuộn tròn mấy cọng bánh đưa vào miệng, hoặc ăn món mắm và rau mà cầm nĩa xăm từng cọng rau, con dao cắt từng miếng thịt – mắm, thịt và rau rời rạc.. không còn là món ''mắm-thịt-cá-và-rau'' hài hoà tuyệt diệu.. ăn một miếng, ngon thấm tận vào da thịt.. như âm hưởng một bản đàn đã dứt mà dư âm còn lan man mãi trong tâm hồn. Ăn mắm bằng muỗng nĩa.. thì không còn thú vị gì nữa..

Nếu văn hoá là cái gì còn sót lại, khi người ta đã quên hết.. như một tác giả nào đó đã nói (“La culture est ce qui reste, quand on a tout oublié”), thì chính đôi đũa là cái còn sót lại..

ĐÔI DÒNG VỀ LỊCH SỬ ĐÔI ĐŨA

Theo nhiều sử liệu nghiên cứu về đôi đũa thì người dân vùng Hoa Nam thuộc giống dân Bách Việt là dân tộc đầu tiên phát minh ra đôi đũa dùng để gắp thức ăn. Trong quyển L'histoire culturelle de la Chine, sử gia Đàm Gia Kiện xác nhận người Tàu thời tiên Tần (trước Tần Thỉ Hoàng) vẫn còn ăn bốc tức dùng tay như một đứa trẻ đưa thức ăn vào miệng. Riêng dân Trung Hoa miền Hoa Bắc – ăn bốc là một thói quen truyền thống. Vì miền nầy khí hậu lạnh lẽo.. dân ở đây chỉ trồng được lúa mạch (orge) và lúa kê (millet) và ăn bánh mì, tất nhiên là ăn bốc, vì phải dùng tay để cầm bánh mì đưa vào miệng ăn. Và bánh mì của họ khác với bánh mì Tây Phương. Chỉ khi họ bành trướng lãnh thổ về phương Nam – vùng đất của dân Bách Việt (100 giống dân Việt) đất ấm áp, nơi có nhiều rừng tre và trồng được lúa nước, người Hán khám phá ra dân nơi nầy dùng một dụng cụ thô sơ bằng tre, dùng để và cơm và gắp thức ăn đưa vào miệng. Đôi đũa đuợc phát sinh qua hình ảnh cái mỏ con chim ngậm giữ một cách có hiệu quả.. hột lúa hay một con cá, trước khi đưa vào miệng ăn. Và cũng vì thức ăn có nhiều thứ ẩm nước hay nóng sôi.. dùng tay ăn sẽ dơ bẩn hay bị phỏng tay, rất bất tiện.. Từ đó, họ dùng 2 cái que, hình ảnh cổ xưa nhứt của đôi đũa. Họ Đàm kết luận, với những khám phá mới gần đây nhứt, đã minh chứng ĐÔI ĐŨA là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp của vùng Đông Á. (Đàm Gia Kiện, L'histoire culturelle de la Chine - p.769)

Người Tàu còn sử dụng đôi đũa trong Toán học trước khi phát minh ra được bàn toán (boulier ). Đời nhà Hán, người Tàu đã biết sử dụng những chiếc đũa viết những con số để xếp thành những phương trình đại số.. Liu Hui (220-280 ) dùng những chiếc đũa màu đỏ (chỉ số dương) và những chiếc màu đen (chỉ số âm), để dạy Toán học, để xếp thành những ma trận (matrice), một ngàn năm trước cả GAUSS. Người Tàu cũng sớm biết rút căn số (extraire les racines carrées) từ thời đó. (Theo J. Claude Marzloff, Histoire des Mathématiques chinoises (J. Claude Marzloff, 1988, p.376)

Qua những nghiên cứu về nguồn gốc đôi đũa, luận chứng của sử gia Đàm Gia Kiện gần đây nhứt, có lẽ là đáng tin cậy hơn cả. Nhà Hán bành trướng lãnh thổ về phương Nam – vùng các tỉnh phía Nam sông Dương Tử gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Phúc Kiến – là những vùng khí hậu tương đối ấm, trồng được lúa nước và có nhiều rừng tre. Thực phẩm vùng nầy là cơm nấu từ lúa gạo không phải là bánh mì như vùng Hoa Bắc (ăn bằng cách cầm tay). Ăn cơm thì phải dùng 2 cái que bằng tre để lua cơm vào miệng và để gắp thức ăn – tiện lợi, sạch sẻ hơn dùng 2 bàn tay.

TRÊN ĐƯỜNG LƯU LẠC XỨ NGƯỜI.

Bây giờ lưu lạc xứ người, cộng đồng ta là một thiểu số nhỏ bé. Môi trường khác, văn hoá khác, ngôn ngữ tập quán khác. Văn hóa mới ảnh hưởng ào ạt trực tiếp – tác động có tánh cách thượng phong, áp đảo, nhứt là đối với giới trẻ. Muốn sống còn, dù không muốn, ta vẫn phải hội nhập vào xã hội mới. Giới trẻ được giáo dục theo văn hoá sở tại. Từ nơi ăn chốn ở, cách ăn uống, nếp suy tư – là hệ quả của nền giáo dục mới. Bữa cơm Việt Nam, tất nhiên có đôi đũa, có còn giữ vững địa vị của nó trong nếp sống của nhiều thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên tại hải ngoại không?

Nhiều người ưu tư.. nghĩ rằng chỉ vài ba thế hệ sau.. nền văn hoá ta sẽ chìm mất vào nền văn hóa bản địa. Trẻ con ta dần dần sẽ không nói được tiếng Việt, không học tiếng Việt hoặc có, cũng chỉ là qua loa, thứ yếu.. Hậu quả tất nhiên là không đọc sách báo Việt, không thích nhạc Việt. Trẻ con thích Hamburger hơn cơm, thích khoai tây chiên hơn phở. Bữa cơm gia đình sẽ không còn canh chua cá kho, sẽ vắng bóng mấm tôm cà pháo, và đôi đũa, cũng sẽ bị dòng nước lũ văn hoá mới cuốn trôi đi mất…

Mặc dù có rất nhiều tổ chức, hội đoàn, chùa chiền.. khắp thế giới hoạt động thiện nguyện, nhiệt tình, tích cực cho việc giáo dục tiếng Việt cho con em, nhưng có một sự thật không thể chối cãi là phần lớn con em sinh tại hải ngoại không đọc sách báo Việt ngữ và thích ăn Hamburger, hot dog hơn cơm và phở.

Bảo tồn và duy trì văn hoá cũng còn tùy thuộc nơi sức tranh đãu của chúng ta – những bậc cha ông của các thế hệ sinh tại hải ngoại. Tại sao các cộng đồng Tàu còn giữ được văn hóa của họ. Thăm dò những người Tàu nhiều thế hệ sinh đẻ tại đây – hiện có người từ 60 tới 90 tuổi.. họ vẫn đọc được tiếng Tàu, ăn cơm Tàu, sử dụng đôi đũa.. Người Tàu đã làm được. Còn ta thì không biết ra sao!

ĐÔI ĐŨA TRONG BÀN TIỆC.

Một người Tây Phương, Ô. G. Charles, trong tác phẩm: ''La table du dragon'' hết sức ca tụng đôi đũa và thức ăn Á Đông. Ông viết: ''Người ta tự đào huyệt chôn mình bằng chiếc nĩa, nhưng ngườt ta xây dựng sức khoẻ của mình với đôi đũa (On creuse sa tombe avec la fourchette, mais on construit sa santé avec les baguettes). Tác giả một mặt đề cao đôi đũa và thức ăn Á Đông, mặt khác, ông nhận xét cung cách ăn uống của mấy ông con trời: ''Bữa ăn được xem là khoảng thời gian xum họp, vui vẻ, nên người Tàu gây nhiều tiếng động ồn ào trên bàn ăn. Xương xẩu, rác rưởi bỏ bừa bãi bên cạnh chén cơm hoặc vứt đầy xuống mặt đất.. và rất ít khi không thấy họ khạc nhổ xuống nền nhà. Chiếc bàn sau bữa ăn giống như một bãi chiến trường ngỗn ngang xác chết..'' (G. Charles, La table du dragon).

Người Việt ta có lẽ cũng đã từng thấy ngoài đời lẫn trong phim, người ta ăn lẫu.. Họ dùng đôi đũa dính cơm, thức ăn đang nhai, gắp thịt cá nhúng vào lẫu rồi đưa vào miệng ăn. Đôi đũa dính đầy đờm dãi, xác rau, thịt cá nhai nát.. nhúng vào rồi còn quậy quậy trong nước lẫu.. cho thịt mau chín. Chao ơi! cái lẫu bây giờ giống như một chậu nước rữa chén! Mọi người dùng cái muỗng múc nước trong lẫu húp xì xụp..!

Chính người viết bài nầy những ngày gần đây cũng đã từng trải qua nhiều lần ăn lẫu như thế: Cá bóng kèo còn sống nhảy soi sói.. được bỏ vào chiếc lẫu để giữa bàn. Rau rác cũng được bỏ vào cùng lúc. Hàng chục đôi đũa chỏ vào nhúng, gắp, quậy quậy.. rồi đưa vào miệng nhai, ăn.. và tiếp tục dùng đôi đũa dính đầy thức ăn chỏ vào lẫu lập lại cái ''điệp khúc'' nầy nhiều lần trong bữa ăn. Nước dùng trong giây lát.. ngã màu, nổi màng màng. Kỳ vi, thịt cá, rau rác vụn và chắc chắc có cả nước miếng, đờm dãi trôi lều bều trong nước lẫu.. Ly la ve độc nhứt trên bàn chuyền nhau.. nốc ừng ực một hơi, khà một tiếng khoái trá! Những người khác trong bàn vỗ tay: ‘Dzô! Dzô! Chăm phần chăm’! Tiếng vỗ tay rôm rốp. Tới phiên mình cũng đành phải nâng ly và cũng đành chỏ đũa, nhúng, gắp như mọi người, nếu không muốn lãnh cái cán búa. Thiệt tình! Ớn thấu trời xanh!

Thói quen ''truyền thống'' nầy đã có lâu đời nên người trong cuộc thấy rất bình thường. Nếu để ý một chút hoặc khi xem người Tàu ăn lẫu.. thấy thật muốn nhợn.. Ớn quá trời! Người Tây Phương lấy làm lạ trong lòng!

Trong bàn tiệc, người mình cũng vậy thường dùng đôi đũa đang ăn dính đầy nước miếng, đờm dãi chỏ vào gắp thức ăn trong dỉa. Mười người mười đôi đũa chỏ vào gắp cá, thịt, rau.. cho vào miệng nhai.. rồi tiếp tục dùng đôi đũa đó gắp như vậy suốt bữa tiệc. Cứ tưởng tượng thức ăn nhai nát cùng đờm dãi, vi khuẩn, vi trùng sẽ đi du lịch thoải mái từ miệng người nầy sang miệng người khác.. Và nếu có người bị cảm cúm, hépatite, ho lao hay bệnh truyền nhiểm nào đó, thì nhứt định sẽ lây sang người khác.. Trong tiệc cưới hỏi hay party hội họp bạn bè.. người mình có thói quen dùng đôi đũa đang ăn trong miệng gắp thức ăn bỏ vào chén các vị cao niên, các bà, các cô… để bày tỏ sự kính trọng người lớn tuổi hay sự xã giao lịch lãm của mình. Tuy nhiên, qua sự thố lộ của nhiều người, họ rất khổ tâm trước vấn đề nầy. Có nhiều điều bất tiện. Dùng đôi đũa đang ăn gắp thức ăn phục vụ cho người khác có khi làm họ không hài lòng. Vì món ăn đó không thích hợp với cái răng vừa mới thay, vì muốn tự mình gắp món nào mình thích, hoặc vì cử món đó, hay vì món đó khi được phục vụ chỉ còn đầu và vỏ (Thí dụ như tôm hùm) Và đôi đũa mình đang ăn, đã dính nước miếng, cơm và thức ăn nhai trong miệng, mà gắp thức ăn bỏ vào chén phục vụ người khác. Bỏ thì sợ mích lòng bạn mà ăn thì nuốt không vô.. Một bà bạn tâm sự: Tui ngồi chết trân, hổng biết phải làm sao, bèn lén lén để ra dĩa lấy giấy khăn ăn đậy lại, mắt lấm lét vì sợ bị bắt gặp. Trông cho anh bồi đi tới dọn để phi tang cho lẹ lẹ..

Ta vẫn có thể lịch sự phục vụ người khác bằng cách sử dụng muỗng nĩa do nhà hàng dọn sẳn trong dĩa để lấy thức ăn để vào chén họ. Ta vẫn giữ được thói quen tốt đẹp nầy. Người viết đã có một lần chứng kiến một vị phu nhân dùng đôi đũa bươi bươi dĩa mì xào.. để tìm kiếm cái gì đó. Dường như bà bất mãn nhà hàng xào mì không có tôm. Dĩa mì sau đó còn nguyên, không ai rớ tới.. Dùng đôi đũa để gắp thức ăn, cái muỗng để húp canh, là một thói quen lâu đời. Thay đổi một thói quen không phải là một việc dễ dàng có khi còn lãnh cái cán búa.

Xoá bỏ một thành kiến còn khó hơn phá vỡ một thành trì. Huống chi đôi đũa trong bữa ăn người Việt còn là một tập quán lâu đời, một nét văn hoá trong đời sống ông cha hàng ngàn năm nay. Bỗng nhiên thay đổi cung cách sử dụng, dù biết đúng đi nữa cũng khó mà chấp nhận. Nhưng nếu so sánh chuyện cái búi tóc và bộ âu phục ngày xưa, quả nhiên chuyện đôi đũa có phần dễ dàng hơn. Đạo lý Khổng Mạnh quan niệm: ''Thân thể phát phu thọ chi phụ mẫu – bất cảm hủy thương hiếu chi thị giả'' (Thân thể, tóc da, do cha mẹ sinh ra. Hủy bỏ hay làm thương tổn đến nó là điều bất hiếu). Bất hiếu là tội lớn nhứt. Làm thương tổn đến tóc da là bất hiếu. Làm sao có thể tưởng tượng người Việt Nam thời đó dám hy sinh cái búi tóc. Thế mà các nhà ái quốc Trần Cao Vân, Mai Xuân Thưởng đã dám đứng lên cổ xúy cho phong trào cắt cái búi tóc thế kỷ trước đây, đã gặp một sức phản kháng dữ dội. Thế nhưng dần dà.. dân chúng ý thức được cái tiện lợi, sạch sẽ.. nên cái ''củ tỏi'' lần lần biến mất. Các chiếc áo dài, khăn đống, giày hàm ếch, dây thắt lưng bằng lụa xanh, cũng chỉ còn lại trong các buổi lễ… để tượng trưng cho một dấu vết của nền văn hóa dân tộc.

Dòng văn hóa ngàn đời của ta là gạn lọc và thâu thái. Gíáo dục của ta vừa dân tộc, vừa khai phóng.. Vừa bảo tồn, vừa biến đổi.. Gìn giữ cái hay nhưng đào thải cái dở.. Nhưng chính chúng ta là những người trực tiếp tham dự, đóng góp vào dòng văn hoá đó. Đôi đũa là một di sản dân tộc.. Cho đến ngàn sau ta vẫn còn sử dụng nó, nếu ta còn là người Việt.. Nhưng biến đổi, cải tiến cung cách sử dụng.. cho thích nghi với nếp sống văn minh hiện đại là điều cần thiết, là phù hợp với dòng văn hóa ngàn đời của ông cha ta.. Hiện tại, sau gần bốn năm, kể từ khi phổ biến bài viết nầy, có một số khá đông hưởng ứng. Cứ nhìn cái cung cách sử dụng đôi đũa trong bàn tiệc, trong bữa ăn người ta thấy được điều đó. Nhưng cũng có một số người không hưởng ứng. Nhưng dầu không đồng ý –thậm chí đến mỉa mai, chống đối– nhứt định không thể dữ dội bằng vụ cái búi tóc hai thế kỷ trước. Dần dà bà con thấy là chuyện nên làm thì như sự hiện diện bộ âu phục ngày nay và sự biến mất cái búi tóc ngày trước, đôi đũa sẽ được sử dụng đẹp hơn bao giờ hết.

LÊ QUỐC
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 2 users thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 4/18/2011(UTC), lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#938 Posted : Sunday, April 17, 2011 1:13:36 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

VIẾNG ĐỒ BÀN


VÂN ĐÌNH


Phật Thệ là đây
Đồ bàn hay Trà bàn cũng là đây.
Vijaya đất Chiêm Thành.
Hoa gấm nhiều phen, phế hưng mấy độ.

Hơn ngàn năm lịch sử, tự thân nó chứa đựng một quá khá dày.

UserPostedImage

Chùa Thập Tháp nằm trong thành Đồ Bàn về phía Bắc


Đồ Bàn được hình thành đâu khoảng thế kỷ thứ 10 sau Tây lịch kỷ nguyên dưới triều Indravarman II. Người Chiêm dùng làm kinh đô từ năm 988.

Đời Lý, năm 1044, vua Lý Thái Tông thân chinh, giết vua là Sạ Đẩu rồi tiến quân vào thành bắt Vương Phi Mỵ Ê cùng các cung nữ biết múa hát điệu Tây Thiên đem về Bắc. Đến phủ Lỵ Nhân(tỉnh Năm Định) vương phi trầm mình. Đời sau có thơ cảm thán:

Thuyền rồng không dựa, dựa thuyền chài
Gắn bó vì chưng trót một hai
Tiết nghĩa mảnh chiên trời ấm lạnh
Cương thường giọt lệ nước đầy vơi

Chứng minh đã có mười phương Phật
Sống thác cùng nhau một giống Hời
Sử sách ngàn năm ghi chép đó
Thương ai mà lại thẹn cho ai

(Hoàng Cao Khải)

Năm 1069, Vua Lý Thánh Tông thân chinh, bắt được vua Chiêm là Chế Củ, Chế Củ dâng đất 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để chuộc mạng.

Qua đời Trần, năm 1301 Thượng Hoàng Nhân Tôn sang chơi Chiêm Thành, ước gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. 6 năm sau (1306) vua Anh Tông mới đưa nàng về Chiêm sau khi nhận 2 châu Ô, Lý làm sính lễ. Nàng công chúa nước Việt về làm dâu Chiêm Thành:

Chiều Chiều mây kéo Ải Vân
Chim kêu ghềnh đá gẫm thân em buồn

Tuy nhiên mối duyên Chiêm Việt không kéo dài được lâu. Chưa đầy năm Chế Mân chết và tướng Trần Khắc Chung được phái cử vào lấy cớ điếu tang rồi tìm cách đưa nàng về Việt.

Tiếp sau nữa, giữa Chiêm Việt thường xảy chiến tranh, đánh phá lẫn nhau. Nước Việt đem quân vào tận Trà Bàn, vua Trần Duệ Tông mạng vong, đến vua Chiêm Chế Bồng Nga cũng kéo quân ra tận Thăng Long đánh Việt, rốt cuộc bỏ mạng.

Đời Lê, năm 1470, vua Lê Thánh Tông cất quân đánh Trà Bàn, bắt vua là Trà Toàn và sát nhập Chiêm Quốc và Việt. Phủ Hoài Nhơn có tên từ đây.

Khi Nguyễn Hoàng tổng trấn Thuận Quảng đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn (1602). Thái Tông Nguyễn Phước Tần đổi làm Quy Ninh phủ(16?). Thế Tông Nguyễn Phước Khoát phục lại tên cũ là Quy Nhơn(1742).

Đời Duệ Tông Phước Thuần, năm 1773 Nguyễn Tây Sơn chiếm cứ, củng cố thêm...Nơi đây anh em Tây Sơn vì xảy ra chuyện bất hòa đến nỗi Nguyễn Huệ kéo quân vây hãm: Nguyễn Nhạc đã phải than thở: "Sao nỡ nồi da nấu thịt".

Hoàng đế Thành dưới triều Thái Đức Nguyễn Nhạc. Thời kỳ lưỡng Nguyễn tranh hùng, năm Kỷ Mùi(1799) Chúa Nguyễn Phúc Ánh tức sau này là vua Gia Long đánh lấy thành đổi tên làm Bình Định thành sau hậu quân Võ Tánh và lễ bộ Ngô Tùng Châu trấn giữ.

Tháp Cánh Tiên nằm ngay trung tâm Đồ Bàn

UserPostedImage


Năm sau (1800) Tây Sơn do tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem quân vây thành. Trong hơn một năm vậy chặt, trong thành hết cả lương thực, hai ông Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đều tuẫn tiết: ông Châu dùng thuốc độc, còn ông Tánh tự thiêu. Ấy là vào tháng 5 năm Tân Dậu 1801. Cái chết bi tráng của hai ông bậc quốc sĩ văn chương có tác phẩm truyền đời:

Ngó lên hòn tháp Cánh Tiên
Cảm thương quan hậu thủ thiền ba năm
Ba năm quan hậu thủ thiền
Thành cô lửa dậy tôi hiền gởi thân.

(Ca Dao)

...

Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vì mà tìm tới quân vương
Bởi rằng thương muôn mạng tì hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ.
Sửa mũ áo lạy về bắc khuyết, ngọn quang minh un mát tấm trung can
Chỉ non Tây thề với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chánh khí
Tiếng hiệu lệnh mơ màng trước gió, ân tín xưa người bộ khúc thương tâm,
Bóng tinh trung thấp thoáng dưới đèn, phong nghi cũ kẻ liêu bằng sái lệ...

(Đặng Đức Siêu)

Kịp khi nghe tin Phú Xuân thất thủ, vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc tháng 7 năm Nhâm Tuất 1802, tướng Trần Quang Diệu bỏ thành Quy Nhơn, lên đường thượng đạo ra Bắc. Bình Định thành lại về tay chúa Nguyễn.

Từ ấy đến giờ, suýt soát đã 200 năm.

Ôi! Cùng một nơi mà từng là kinh đô hai nước, cuốn theo với nó bao nhiêu cuộc biến đổi đau tang thương.

Ta từ thuở trẻ đến giờ đến nơi đây kể đã ba lần, mỗi lần cách nhau tính ra trên dưới vài mươi năm. Và lần nào cũng nhận ra cảnh vật tiêu sơ thêm nhiều ít, khiến lòng xúc cảm bồi hồi bèn trộm mượn đôi vần lưu niệm

Trà Bàn Hoàng đế cô đô thành
Cựu tích duy tổn sổ đoạn khuynh
Lầm thương cao khâu chiêm nhất vọng
Bồi hồi suy thán đối thương thanh.

Viếng Trà Bàn

Đô kỳ hai nước dấu còn đây
Dâu bể bao lần cuộc đổi thay
Tiên Tháp đồi cao ngơ ngẩn bóng
Song Trung miếu quạnh thẫn thờ cây

Mưa sa há quản lòng voi đấy
Nắng dãi nài chi dạ nghễ này
Thành quách ngàn năm trời man mác
Bùi ngùi dạ khách bước khôn nguôi.

VÂN ĐÌNH
(Lê Văn Đích)
(Trích Đặc San Lại Giang)


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#939 Posted : Monday, April 18, 2011 4:27:58 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM


G.S. Nguyễn Thanh Liêm


Văn hóa là gì?

Một cách tổng quát có thể hiểu văn hóa là lối sống (life style) của một nhóm người ở trong một khu vực địa lý nào đó hay rộng hơn là của cả một dân tộc trong một quốc gia. Có xã hội loài người là có văn hóa vì có những sinh hoạt có ý thức của con người. Ngôn ngữ, tư tưởng, tín ngưỡng, các hoạt động kinh tế, các kỹ thuật, các sinh hoạt nghệ thuật, cách xử sự ở đời, cách ăn mặc, các thứ lễ nghi...tất cả mọi hoạt động của con người trên cõi đời này đều thuộc về văn hóa. Khi mở mắt chào đời ta đã được đặt trong một cộng đồng, một xã hội, một nền văn hóa rồi.

Văn hóa cổ truyền Việt Nam

Khi nói đến văn hóa Việt Nam chúng ta nghĩ ngay đến nền văn hóa của người dân Việt từ thuở xa xưa nào đến giờ và từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, với một số những đặc tính nào đó gắn liền với con người và xã hội văn hóa Việt, làm cho nó khác biệt với những nền văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới. Nó bao gồm tiếng Việt, tư tưởng Việt, tôn giáo tín ngưỡng Việt, lễ nghi Việt, quần áo thức ăn Việt, vv.. Vì mang những đặc tính rất đặc biệt của dân tộc Việt Nam từ nhiều năm qua nên văn hóa dân tộc thường được đồng hóa với văn hóa cổ truyền hay truyền thống văn hóa Việt. Đó là nền văn hóa mà hầu hết người Việt Nam chúng ta đều nghĩ rằng nó là của chung của chúng ta do tổ tiên ta dựng nên từ hơn bốn ngàn năm qua.

Văn hóa biến đổi

Những người thiết tha với văn hóa Việt Nam, muốn làm cái gì tốt đẹp cho văn hóa nước nhà thường có thể nghĩ đến một mặt bảo tồn nền văn hóa cổ truyền của dân tộc và mặt khác phát huy hay tân tiến hóa nền văn hóa đó để xây dựng nên một nền văn hóa mới. Và khi nói đến bảo tồn hay phát huy hay tân tiến hóa là phải nói đến sự biến đổi của văn hóa. Không có một nền văn hóa nào đứng yên một chỗ, không có một nền văn hóa nào có thể giữ nguyên trạng thái của nó từ buổi ban đầu cho đến bây giờ dù người ta có cố bảo tồn duy trì nó mãi. Kết quả của những công trình nghiên cứu về văn hóa của các nhà văn hoá nhân loại học (cultural anthropology) cho thấy không có một nền văn hóa nào hoàn toàn giữ được nguyên vẹn những đặc tính của nó qua thời gian. Bất cứ nền văn hóa nào, dù ở trong những xã hội đóng kín không có những tiếp xúc với bên ngoài đi nữa, vẫn ít nhiều thay đổi theo thời gian. Nhịp điệu biến đổi có thể từ rất nhanh, đến nhanh, hay chậm và rất chậm, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo trường hợp. Phần nhiều các nền văn hóa đều thay đổi rất chậm nếu không có những va chạm/xung đột lớn lao như sự va chạm/xung đột giữa văn hóa Á Đông và văn minh Aâu Tây hồi thế kỷ XIX-XX. Nhưng dầu chậm nó vẫn phải thay đổi mặc dầu trong đà biến đổi tự nhiên của văn hóa bao giờ cũng có khuynh hướng chóng chọi lại không nhiều thì ít.

Sự biến đổi trong văn hóa Việt Nam

Văn hóa Việt Nam không tránh được những định luật thay đổi tự nhiên đó theo thời gian và không gian. Từ trước thời Bắc Thuộc cho đến cuối thế kỷ XX nền văn hóa Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo thời gian. Một số những tập tục xưa được ghi chép trong sách sử bây giờ không còn tồn tại nữa, hoặc chỉ còn sót lại trong các thế hệ trước đây ở một ít vùng quê xa xôi mà thôi như tục xăm mình, ăn trầu, nhuộm răng chẳng hạn. Ngược lại có những thói quen mới chỉ xuất hiện gần đây chớ không có trong xã hội xưa như thói quen uống cà phê buổi sáng hay bắt tay khi chào nhau. Tư tưởng, khoa học, kỹ thuật thay đổi nhiều từ khi có công cuộc đô hộ của người Pháp hồi cuối thế kỷ XIX. Trong quá trình bành trướng lãnh thổ từ Miền Bắc vào Miền Nam nền văn hóa Việt Nam cũng có nhiều thay đổi theo không gian, theo môi trường sinh sống, từ thức ăn, quần áo, đến cách phát âm tiếng Việt, làng mạc, tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật, tâm lý, tư tưởng, vv...

Về thức ăn chẳng hạn. Người Bắc có bún chả trong khi người Nam thì có bún thịt nướng tuy cả hai thứ đều dùng những mẫu số chung là bún, thịt nướng, rau sống và nước mấm, chỉ khác nhau ở phần sắp xếp trình bày. Người Bắc thì để chung thịt nướng vào trong chén với nước mấm còn bún với rau thì để riêng cho khách tùy nghi, trong khi người Nam để chung tất cả các thứ vào trong cái tô với một chén nước mấm để riêng để khách hàng tùy nghi chan vào. Nếu lấy bún với nước lèo làm mẫu số chung thì ta có bún thang bún riêu bún ốc của người Bắc, bún bò Huế của người Trung, và bún mấm với bún nước lèo của người Nam. Nước lèo là tiếng Nam trong khi nước dùng là tiếng Bắc, tuy hai tiếng chỉ cùng một thứ nước dùng cho các loại bún nói trên. Cách ăn mặc cũng có chỗ khác nhau từ chiếc áo tứ thân của người Bắc đến chiếc áo bà ba của người Nam. Đàn ông miền Nam theo Tây sớm hơn trong khi nhiều người đàn ông miền Bắc vẫn còn mặc áo dài theo xưa. Hồi thập niên 1950 ở Đại Học Văn Khoa và Cao Đẳng Sư Phạm Saigòn người ta thấy mấy cụ giáo sư Cử/ Tú từ miền Bắc vào (cụ Bình, cụ Nghinh, cụ Quỳnh, cụ Chiểu, trừ cụ Nghè Giác) vẫn mặc áo dài khăn đóng đi dạy học trong khi các giáo sư lớn tuổi miền Nam (thầy Tấn, thầy Lúa, thầy Trụ, cụ Sển...) đều ăn mặc theo Tây.

Về phương diện ngôn ngữ tuy cả ba miền đều sử dụng một thứ ngôn ngữ chung như nhau nhưng trên phần lớn ngữ vựng thông dụng cho cả ba miền còn có những tiếng địa phương đặc biệt chỉ xài cho một vùng hay một địa phương nào đó thôi. Có khi cùng một từ ngữ nhưng ý nghĩa lại khác nhau tùy theo miền. Cái hòm đối với người miền Nam là cái hàng để tẩn liệm người chết trong khi người Bắc dùng chữ đó với ý nghĩa của cái rương đựng đồ dùng của người miền Nam. Củ sắn của người Bắc là củ khoai mì của người Nam. Những tiếng xưng hô trong gia đình họ hàng cũng có chỗ khác biệt. Tiếng cô, chú, bác giữa người Nam và người Bắc rất khác nhau cũng như những tiếng dì dượng thì chỉ có người miền Nam và một số người miền Trung dùng đến. Khác biệt rõ ràng nhất là cách phát âm tiếng Việt của mỗi vùng, mỗi địa phương. Người miền Bắc phát âm đủ cả năm dấu, nhất là phân biệt được rõ ràng dấu hỏi và dấu ngã, phân biệt được phụ âm t và c ở cuối chữ (như phát và phác, phút và phúc...), nhưng lại không phân biệt được hai phụ âm tr và ch (trân châu và chân trâu chẳng hạn). Phần đông người miền Nam đều phân biệt các phụ âm tr và ch nhưng không phân biệt hỏi ngã và các phụ âm t và c ở cuối chữ. Đối với người bình dân miền Nam thì người Huế phát âm các dấu sắc hỏi ngã đều như dấu nặng, và người Quảng Nam/Quảng Ngãi thì phát âm những nguyên âm a như ơ và ơ như ô.

Trên phương diện tôn giáo, tín ngưỡng, mặc dầu hầu hết người Việt Nam đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của tam giáo và đều xem sự thờ cúng tổ tiên như một tôn giáo chính của người Việt Nam nhưng riêng ở miền Nam thì ngoài căn bản tín ngưỡng đó còn có thêm những tôn giáo tín ngưỡng khác hơn chẳng hạn như Cao Đài giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật Giáo Hòa Hảo. Ở địa hạt nghệ thuật hát cải lương và câu ca vọng cổ là cái gì rất đặc biệt của người miền Nam trong khi hát chèo hát quan họ thì chỉ có người Bắc mới biết. Tiểu thuyết (như tiều thuyết của Hồ Biểu Chánh chẳng hạn) hay nói chung văn chương miền Nam có những sắc thái đặc biệt của người miền Nam mà chỉ những người sanh trưởng ở vùng đồng bằng sông Củu Long mới có thể thưởng thức được cái hay cái thích thú trong đó. Đặc biệt là tổ chức làng xã ở trong Nam không giống tổ chức xã thôn ở ngoài Bắc. Ở ngoài Bắc các xã thường được bao bọc bởi lũy tre xanh và có một cái cổng vào làng. Làng này cách biệt với làng kia bằng những ranh giới có thể nhận biết dễ dàng. Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long làng này tiếp nối với làng khác, không có cổng làng, không có lũy tre làm ranh giới. Nếu không phải là người ở tại địa phương thì khó mà biết được ranh giới giữa làng này với làng khác. Tổ chức hành chánh địa phương cũng khác với miền Bắc. Ở đây mỗi làng, dưới thời Pháp thuộc có ban hội tề gồm hương cả, hương chủ, hương sư, hương trưởng, hương quản...và chánh lục bộ, lo về việc cai trị, hành chánh trong làng. Ngoài ban hội tề còn có các vị bồi, bái, kề hiền... là những người lớn tuổi có nhiều uy tín trong làng thường giữ vai trò như cố vấn nhất là trong những việc tế tự lễ nghi. Ở miền Nam thời Pháp thuộc có những chức vụ không thấy có ở miền Bắc như Thầy Cai Tổng hay ông Hội Đồng. Tóm lại từ châu thổ sông Hồng Hà đến châu thổ sông Cửu Long lối sống của người dân Việt cũng như tổ chức xã hội Việt Nam đã có nhiều biến đổi.

Điều kiện cần để có biến đổi

Tại sao có những biến đổi như vậy? Môi trường sinh sống mới và sự tiếp xúc với những nền văn hóa khác là những điều kiện cần yếu đưa đến những biến đổi đó. Từ khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa và các chúa Nguyễn nối tiếp, xây dựng nên Đàng Trong thì bắt đầu có một nhánh văn hóa Việt biến dạng dần dần trở thành một chi nhánh văn hóa (subculture) có phần khác biệt với văn hóa cổ truyền ở miền Bắc. Sự cắt đứt liên hệ chính trị giữa Đàng Trong (Chúa Nguyễn) và Đàng Ngoài (Chúa Trịnh), sự phân tranh Nam Bắc và chia đôi lãnh thổ đã là cơ hội để tạo nên một chi nhánh văn hóa mới xa dần văn hóa cổ truyền. Đến thế kỷ XVII khi Họ Nguyễn chiếm hết cả miền Trung và rồi một số người miền Trung vào khai phá miền Nam khẩn hoang lập ấp xây dựng nên miền Nam thì một chi nhánh văn hóa khác nữa lại thành hình. Chi nhánh văn hóa mới này lại càng cách biệt với văn hóa gốc ở miền Bắc hơn nữa. Về phương diện địa lý và môi trường sinh sống, khác với những vùng đất đai chật hẹp khô cằn nằm giữa núi non và ven biển, miền Nam là cả một vùng đất hoang mênh mông chằng chịt sông rạch với không biết là bao nhiêu cá tôm rau cỏ cây trái. Đất đai lại rất phì nhiêu do phù sa mang lại. Khẩn hoang lập nghiệp tuy có cực nhọc nặng nề nhưng kết quả thu lượm dễ dàng và khả quan, đời sống tự nhiên ung dung thoải mái. Vùng mới lập này tuy có ít nhiều liên hệ với Chúa Nguyễn nhưng triều đình ở xa, tổ chức cai trị không chặt chẽ tùy thuộc ở triều đình Huế (chế độ tổng trấn), thêm vào đó còn có những biến cố chính trị làm thay ngôi đổi chủ nhiều lần cho nên tương đối có nhiều tự do địa phương. Nỗ lực chính của những thế hệ đầu tiên vào đây là khai khẩn đất đai, thiết lập đời sống mới nhiều hơn là trau dồi kinh sử để lãnh lấy mão áo chức tước của triều đình. Đời sống dễ dãi, tương đối thừa thãi về vật chất và tự do về tinh thần, đã không bắt buộc người dân Việt ở đây phải duy trì hay theo đúng những phong tục tập quán đã được mang vào Đàng Trong từ mấy thế kỷ trước. Sự lỏng lẻo của khuông phép từ thế hệ này sang thế hệ khác đã tạo nên một nếp sống mới, một tính tình và nhân cách mới, rộng rãi và phóng khoáng, với tâm hồn chân thật, chất phác, mở rộng để đón nhận những cái mới lạ hơn là khép kín để duy trì những cái đã có. Ngoài hoàn cảnh địa lý nói trên, trong quá trình mở rộng đất đai về phương Nam chi nhánh văn hóa Đàng Trong đã phải tiếp xúc va chạm với những nền văn hóa khác tạo nên điều kiện rất cần cho sự biến đổi về văn hóa. Có tiếp xúc với văn hóa khác là có cơ hội để nhìn thấy lối sống, cách hoạt động, sự tín ngưỡng, lề lối suy tư của một giống người khác. Từ đó có thể có những thích nghi với nhau hay vay mượn lẫn nhau ít nhiều từ tập quán, kỹ thuật, đến tín ngưỡng và nghệ thuật. Từ thế kỷ XVII người Đàng Trong đã có cơ hội gần gũi với văn hóa Chiêm Thành, đã nhìn thấy và hiểu biết lối sống của người dân Chàm. Sau đó sang thế kỷ XVIII người Việt khi bành trướng lãnh thổ về miền Nam lại có dịp sống bên cạnh người Miên và người Trung Hoa (Minh Hương, Triều Châu). Và gần đây hơn từ thế kỷ XIX người Việt ở đây lại có nhiều dịp để biết đến đạo Thiên Chúa cùng văn minh Tây Phương do người Pháp mang đến. Có thể nói miền Nam cũng na ná như xứ Mỹ, nó là một xã hội mới thành hình với nhiều chủng tộc sống lẫn lộn trong đó và với một nền văn hóa ít nhiều pha trộn đủ thứ. Nó như cái “melting pot” hay cái “salad bowl” của Việt Nam. Nó mang rất ít tính chất cổ truyền của nền văn hóa gốc.

Điều kiện đủ để có biến đổi

Sự gặp gỡ, tiếp xúc giữa các nền văn hóa thật ra chỉ là điều kiện cần mà thôi chớ chưa phải là điều kiện đủ để cho sự vay mượn, học hỏi xảy ra. Trường hợp của bốn bộ lạc lân cận trên vùng Nilgiri (Ấn Độ) chẳng hạn, cho thấy tuy có tiếp xúc văn hóa với nhau nhưng bốn bộ lạc khác nhau này không hề vay mượn nhau tí nào trong lối sống của họ. Các nhà văn hóa nhân loại học gọi trường hợp trên đây là “kinh tế, xã hội cọng sinh”(economic and social symbiosis) nghĩa là cùng sống với nhau về phương diện xã hội và kinh tế mà thôi nhưng không vay mượn nhau hay thích nghi với nhau về văn hóa (acculturation). Điều kiện đủ để đưa đến vay mượn và thích nghi văn hóa là sự có mặt của những yếu tố sau đây: (1) tinh thần khai phóng của người vay mượn, (2) sự tự do chấp nhận cái mới lạ của người vay mượn, và (3) sự lợi ích của những gì được vay mượn học hỏi. Văn hóa không thay đổi nếu các thành phần trong nền văn hóa đó không có tinh thần cởi mở, không chấp nhận những cái mới lạ của nền văn hóa khác. Mặt khác dù các thành phần chấp nhận những cái mới lạ của văn hóa khác nhưng không có tự do để học hỏi, thực hiện thì văn hóa cũng không có cơ hội thay đổi. Có thể vì luật lệ cứng rắn của quốc gia, có thể vì tính khắt khe của phong tục tập quán mà người ta không có đủ tự do để học hỏi và thực hiện điều gì mới lạ trong cuộc sống. Sau hết người ta chỉ học hỏi vay mượn khi nào điều người ta muốn học hỏi vay mượn đó đáp ứng được nhu cầu sinh sống của con người. Đây không phải là những đòi hỏi căn bản ở hạ tầng sinh lý (primary drives) như đói, khát, làm tình...mà là những thôi thúc ở gia tầng cao hơn (secondary drives) như phẩm chất của đồ ăn thức uống, phẩm chất và sự tiện lợi của loại đồ dùng nào đó, và cao hơn nữa là những nhu cầu tinh thần như tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật, vv...

Thích ứng với môi trường: sinh tồn và tiến hóa

Những điều kiện trên đây cần phải có đủ thì văn hóa mới có thể thay đổi được. Người Việt Nam trong quá trình bành trướng lãnh thổ và định cư vào Phương Nam đã có đủ những điều kiện ghi trên. Họ có tinh thần rộng rãi khai phóng, không mù quáng tôn sùng cổ nhân, không khép kín chật hẹp hay bế quan tỏa cảng. Họ có ít nhiều tự do chớ không bị chặt chẽ ràng buộc bởi luật lệ cứng rắn của triều đình hay tập quán khắt khe của xã hội. Khi đã có đủ những điều kiện cần và đủ thì tất nhiên văn hóa phải thay đổi theo lối sống thay đổi của con người ở vùng đất mới mẻ này. Như vậy có thể nói một cách tổng quát là người Việt Nam có một nền văn hóa chung (general culture) là văn hóa Việt Nam (Vietnamese Culture), và dưới nền văn hóa chung đó có những chi nhánh văn hóa (subculture) như chi nhánh văn hóa sông Hồng, chi nhánh văn hóa miền Trung, chi nhánh văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long. Các chi nhánh văn hóa có cùng một số đặc tính xem như cùng mẫu số chung nhưng trên mẫu số chung đó vẫn có những nét đặc thù khác biệt của mỗi vùng hay mỗi miền. Những khác biệt này là những biến đổi tự nhiên của văn hóa Việt Nam qua bao nhiêu thế hệ và qua quá trình bành trướng lãnh thổ, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác. Biến đổi để thích ứng với môi trường và hoàn cảnh mới, đó là điều kiện cần yếu để một nền văn hóa sinh tồn và tiến hóa.

Ý kiến kết thúc

Những người làm chính trị cũng như những nhà làm văn hóa, hay nói rộng ra hơn, tất cả những ai thiết tha với nền văn hóa nước nhà, cần phải nhìn thấy sự khác biệt giữa những chi nhánh văn hóa cũng như những lý do đưa đến sự khác biệt đó. Nhận biết như vậy không phải để cổ võ cho sự chia rẽ hay gây tinh thần kỳ thị địa phương mà là để có thể đi đến tinh thần đa nguyên đa văn hóa (cultural pluralism). Tinh thần này đòi hỏi người ta phải nhìn thấy và chấp nhận sự khác biệt giữa các nền văn hóa hay giữa các chi nhánh văn hóa với nhau. Từ sự chấp nhận khác biệt đó người ta mới có thể hiểu nhau và cọng tác với nhau lâu dài và hữu hiệu được. Ngược lại nếu phủ nhận sự khác biệt để đi đến cái nhìn thiên lệch là chỉ có văn hóa của mình là tốt nhất thì khó có thể tránh được hậu quả tai hại là sẽ bị rơi vào một hình thức nào đó của chủ nghĩa “chủng tộc độc tôn” (ethnocentrism) và tinh thần kỳ thị chủng tộc hoặc một hình thức kỳ thị nào khác. Sự đoàn kết quốc gia cũng như sự thống nhất ý chí để làm một việc lớn lao nào cũng phải tựa trên tinh thần đa nguyên, đa văn hóa. Phải khởi sự bằng sự chấp nhận những khác biệt của người khác cái đã rồi mới có thể đi đến những cuộc đối thoại thông cảm xây dựng và có hiệu quả thật sự. Hơn nữa, muốn dân tộc tiến bộ, muốn hiện đại hóa xã hội, cần phải biết rõ những điều kiện cần và đủ để làm cho văn hóa biến đổi theo chiều hướng tiến bộ chung của nhân loại. Đó là những điều kiện đã đưa xã hội Miền Nam đến chỗ giàu có và dân Miền Nam đến chỗ thịnh vượng, hạnh phúc hơn xã hội Miền Bắc như đã thấy ở phần trên.

Edited by user Monday, April 18, 2011 4:28:54 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 2 users thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 4/18/2011(UTC), lanthanh on 4/25/2011(UTC)
hongvulannhi  
#940 Posted : Monday, April 18, 2011 11:11:19 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

LINH ĐỊA LA VANG


BÙI VĂN GIẢI


Nói đến Quảng Trị mà không nói đến La Vang là một điều thiếu sót. Bởi vì ít ai là dân Quảng Trị mà không nghe nói đến địa danh La Vang. Không những thế, La Vang đã là nơi mà từ Bắc chí Nam nhiều người biết đến, không chỉ là người Công Giáo mà cả đồng bào ngoài Công Giáo nữa. Ngày nay, trên thế giới nhiều người cũng biết đến La Vang. Ở đất Mỹ cũng đã có những ngôi nhà thờ lấy danh hiệu Đức Mẹ La Vang.

UserPostedImage


Người lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo La Mã: Đức Gioan Phaolô II cũng đã nói đến linh địa La Vang sau buổi phong thánh cho 117 vị Tử Đạo Việt Nam vào ngày 19-06-1988, ở quảng trường Thánh Phêrô La Mã, trong buổi đọc kinh truyền tin, Ngài đã ngỏ lời với Giáo Hội Toàn Cầu vì sự hiện ra của Đức Mẹ tại La Vang năm 1798... Vào ngày 28-11-1992, trong buổi triều yết chung cho các phái đoàn Công Giáo khắp nơi về Rôma, lại một lần nữa Đức Gioan Phaolô II đề cập đến đền thờ Đức Mẹ La Vang thuộc Giáo Phận Huế. Đặc biệt, sau khi chủ tế thánh lễ bế mạc đại hội giới trẻ vào chiều 15-08-1993 tại Denver (Hoa Kỳ), Đức Gioan Phaolô II đã ưu ái dành một giờ để tiếp xúc riêng với khoảng 20,000 bạn trẻ và người Việt Nam ở Hải Ngoại đang có mặt tại Denver. Dịp này Ngài đã gởi cho toàn thể giới trẻ, Giáo Hội và dân tộc Việt Nam một thông điệp. Trong phần cuối cùng của thông điệp Ngài đã nói đến Đức Mẹ La Vang: “Tôi xin phó thác toàn thể cộng đồng Công Giáo Việt Nam dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ La Vang, Ngài là Mẹ yêu thương, năm 1798 hiện ra an ủi những người giáo dân hồi đó bị Văn Thân bách hại. Giáo Hội tại Việt Nam đã được dâng hiến cho Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ Maria. Giờ đây sắp sửa đến ngày kỷ niệm 200 năm biến cố nói trên. Ước gì thời gian chuẩn bị lễ đệ nhị bách chu niên này cũng là thời gian tăng cường Đức Tin sốt sắng và hăng say sống đời Công Giáo, là thời gian liên kết với Giáo Hội bên nhà, thời gian lưu niệm quá khứ, nhưng cũng là thời gian chuẩn bị một tương lai sáng sủa hơn cho các thế hệ mới của người Việt Nam. Cầu chúc cho họ lớn lên với niềm hiên ngang lành mạnh xứng với nguồn gốc Quốc Gia, với nền văn hóa sung mãn, với sự lớn mạnh của tổ tiên họ xưa kia, vẫn hùng tráng trước mọi thử thách gian truân...”

Thật ra người dân Quảng Trị, không kể thuộc tôn giáo nào, cũng đáng hãnh diện với vùng đất La Vang, nơi mà nhiều người trên thế giới đã biết đến.

UserPostedImage


Vậy La Vang là nơi nào? Trở về thời xa xưa, La Vang là nơi rừng núi hẻo lánh có nhiều cây “lá vằng”, có thú dữ, nằm về phía Tây cách đồn Dinh Cát, về sau là tỉnh lỵ Quảng Trị, bốn cây số và cách Phú Xuân, tức Kinh Đô Huế, 58 km về phía Bắc. Theo địa bộ của làng Cổ Vưu được lập đời nhà Lê và được quản tu lại đời Gia Long có ghi tên “phường Lá Vằng”. Sở dĩ gọi vậy là vì nơi đó có nhiều lá vằng, một loại cây mà người phụ nữ lúc sinh đẻ thường nấu nước, có vị đắng, để uống như một vị thuốc, rồi đọc trại ra là La Vang. Có người cho rằng gọi là La Vang vì ngày xưa nơi rừng rú có cọp, beo, thú dữ nên mỗi lần các toán người đi làm củi ngang qua phải la vang để thú dữ lẫn tránh.

Dở lại những trang sử đau thương của đất nước từ năm 1765-1801, nhận thấy trăm họ lầm than, dân tình khổ sở vì nạn đói kém, chiến tranh. Đối với người Công Giáo lại còn bị bắt bớ, tù đày, giết chóc. Theo truyền thuyết thì Đức Mẹ đã hiện ra tại La Vang trong thời gian đen tối đó, tuy không rõ năm nào, nhưng theo truyền khẩu, nhiều người cho rằng Đức Mẹ đã hiện ra dưới thời vua Cảnh Thịnh triều Tây Sơn vào năm 1798.

Ngày 17-08-1798 vua Cảnh Thịnh, con của vua Quang Trung, ra sắc dụ cấm đạo từ Phú Xuân đến Bắc Hà, lệnh cho tiêu diệt đạo Giatô, là đạo ngoại quốc, phải triệt hạ các đạo đường, đạo quán và tróc nả các đạo trưởng. Để trốn tránh sự bắt đạo của quan quân Tây Sơn, giáo dân xứ Trí Bưu (Cổ Vưu), xứ Thạch Hản... đã trốn vào ẩn náu trong “phường Lá Vằng”. Họ phá rừng làm rẫy, có người đã làm trại để giữ hoa màu. Và theo truyền thuyết, đêm đêm họ họp nhau đọc kinh lần chuỗi. Và bỗng nhiên vào một đêm, họ thấy một bà đẹp, tay bồng chú bé xuất hiện ở một cây đa cổ thụ, có hai vị cầm đèn chầu. Họ nhận ra đó là Đức Mẹ bồng Chúa Hài Đồng, có hai thiên thần chầu. Đức Mẹ đã ngỏ lời an ủi họ, bảo họ hái lá cây xung quanh mà uống sẽ được lành bệnh và hứa rằng ai đến cầu khẩn tại chốn này Ngài sẽ ban ơn. Đức Mẹ còn hiện ra nói với họ nhiều lần...

Dĩ nhiên, như trong bài diễn thuyết của Đức cố Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn nói về sự tích La Vang đã nêu lên vấn đề như sau: “Sự tích về La Vang chúng tôi có biết đặng ít nhiều thì bởi truyền khẩu chứ không bởi truyền thơ. Những điều truyền khẩu về Đức Mẹ La Vang thật hư thế nào, mặc ai tự nghĩ. Chúng tôi chỉ luận chung rằng: có tích mới dịch ra tuồng. Nay việc La Vang đã ra như một việc lớn lao thế này, lẽ nào là một việc vô tông vô tích”.

Năm 1802, Gia Long thống nhất sơn hà. Việc đạo tạm yên. Sự tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang được truyền miệng khắp các xứ đạo vùng Dinh Cát. Người ta còn kể rằng người lương đi làm rú đến La Vang sau bị “động” nên rút lui, nhường lại cho giáo dân. Và do đó trước năm 1885, La Vang đã có một nhà thờ kính Đức Mẹ. Nhà thờ này, cũng theo khẩu truyền: ngày 9-8-1885 đã bị cha con tên Mẹo dựa thế Văn Thân đốt cháy, nhưng ngay chiều hôm đó, Văn Thân đến thiêu sống cả gia đình ông ta.

Từ đó, La Vang một danh từ bắt đầu quen thuộc và trìu mến của giáo dân giáo phận Huế, rồi nhanh chóng vang danh khắp Việt Nam. Không ai là Công Giáo trong toàn quốc mà không nghe nói đến Mẹ La Vang.

Năm 1886 Đức Cha Gaspar (Lộc) cho xây đền thờ ngói, 15 năm mới hoàn thành, vì địa điểm núi non nên vận chuyển vật liệu khó khăn. Năm 1901, đại hội La Vang đầu tiên được tổ chức vào ngày 08-08 để mừng khánh thành nhà thờ. Dịp nầy, Đức Cha Gaspar đã chọn bổn mạng cho thánh đường La Vang với tước hiệu: “Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu” và đã quy định về các cuộc kiệu ở La Vang như sau: mỗi năm kiệu Đức Mẹ một lần vào ngày mồng 3 tết nguyên đán gọi là kiệu minh niên và cứ ba năm mở đại hội ba ngày trong tuần lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Tục lệ này vẫn được tôn trọng và thi hành cho đến ngày nay.

Năm 1924, Đúc Cha Allys (Lý) cho phép Linh Mục Morineau (Cố Trung), cha sở họ Cổ Vưu (Trí Bưu) cất một ngôi thánh đường rộng lớn. Ngôi nhà thờ ấy còn cho đến năm 1972, rồi bị chiến tranh tàn phá.

Năm 1949-1954, La Vang nằm trong vùng kiểm soát của phe Việt Minh, giáo hữu La Vang tản cư ra thị xã Quảng Trị thì đồng bào ở vùng lân cận như Long Hưng, Phú Hưng lại đến quây quần chung quanh đền Đức Mẹ. Một điều lạ lùng là trong vòng hai năm (1949-1950) có gần 1,000 người lương trở lại Công Giáo, dưới thời cha Giacôbê Nguyễn Linh Kinh làm cha sở ở linh địa La Vang (1946-1955).

Năm 1954 hiệp dịnh Gienève chia đôi đất nước, La Vang nằm về phía Nam vĩ tuyến 17. Cảnh hành hương bắt đầu nhộn nhịp... Nhiều người, nhiều đoàn thể từ Bến Hải đến Ca Mau thay phiên nhau đến kính viếng Đức Mẹ.

Ngày 22-08-1961, Hội Đồng Giám Mục miền Nam đã long trọng tuyên bố tại La Vang là chọn đền thờ Đức Mẹ La Vang làm “đền thờ toàn quốc dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ” và nhận linh địa La Vang làm “Trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc”. Công trình xây dựng trung tâm bắt đầu trong năm 1962 đến năm 1964 với sự tích cực đóng góp của giáo dân khắp nơi. Cùng trong ngày 22-08-1961, ngày bế mạc đại hội, sắc Tòa Thánh Vatican nâng đền thờ Đức Mẹ La Vang lên bậc Vương Cung Thánh Đường đã được rước từ nhà thờ Trí Bưu vào theo nghi lễ đặc biệt Á Đông.

Năm 1972, chiến tranh quốc cộng giữa Nam Bắc khốc liệt xảy ra ở Quảng Trị, La Vang bị tàn phá nặng nề. Bao công trình kiến tạo đều bị bom đạn san bằng, ngôi thánh đường còn một nữa phía sau, chỉ trừ ba cây đa nhân tạo nơi đài Mẹ, tục truyền là nơi Mẹ đã hiện ra là còn nguyên vẹn.

Mùa xuân 1974, Đức Mẹ thánh du Đạo Binh Xanh quốc tế tổ chức đã đến La Vang trong cảnh hoang tàn, nhưng rất đông con cái mẹ đến kinh viếng.

Từ sau năm 1975, mặc dù hoàn cảnh có khó khăn, chính quyền Cộng Sản cấm ngặt những sự tụ tập ở linh địa La Vang, tuy thế con cái Mẹ không riêng gì ở giáo phận Huế mà nhiều nơi trong nước Việt Nam, vẫn tìm cách về bên Mẹ.

Mãi đến năm 1990, chính quyền thấy rằng việc nghiêm cấm giáo dân hành hương “về bên Mẹ” là bất lợi, nên chính quyền huyện Triệu Hải (tỉnh Quảng trị) cho phép tổ chức đại hội trong sự hạn chế tối đa. Văn bản cho phép của huyện chỉ có trước một tuần lễ, và chỉ cho phép linh mục E. Nguyễn Vinh Gioang, cha sở Diên Sanh kiêm linh địa La Vang đứng ra điều hành thôi. Bởi đó, về mặt tổ chức chẳng có gì. Điện đèn lờ mờ chẳng ra sao, máy móc âm thanh phát tiếng cũng èo uột... nhưng về mặt tinh thần đạo đức của trên 20,000 giáo dân lên đến tột độ.

Năm 1993, đại hội lần thứ 23 diễn ra từ thứ năm 12 tháng 8 đến 15-08-1993. Đại hội lần này tuy còn bị hạn chế nhưng cũng được rộng mở hơn, lý do chính quyền CS nhận thấy có lợi về mặt chính sách và vật chất, chỉ riêng việc độc quyền giữ xe cũng đã thâu được mấy triệu đồng, chưa kể việc cho thuê đất để các quán xá dựng lên...

Ngày bế mạc có gần 50 ngàn con Mẹ từ Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tĩnh, Sài Gòn, Đà Lạt, Gia Lai, Kontum, Đà Nẵng cùng với giáo dân Huế cung nghinh Mẹ qua các con đường quanh linh địa, có cả trên 100 đơn vị.

Hôm nay, ở quê người, nhớ về Quảng trị, nơi chôn nhau cắt rốn, một tỉnh miền Trung tuy nghèo nàn nhưng đậm đà biết bao tình quê hương. Tôi cầu xin cho quê hương tôi thoát khỏi bao đau thương, một ngày nào được trở về sống những ngày còn lại của cuộc đời để rồi được chết chôn trong lòng đất Mẹ.

(Trích Đặc San Quảng Trị)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
lanthanh on 4/25/2011(UTC)
Users browsing this topic
Guest (4)
91 Pages«<4546474849>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.