Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

91 Pages«<4344454647>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Mắt Buồn  
#881 Posted : Monday, January 24, 2011 8:56:34 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,725

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Chuyện Chiếc Cầu Trên Sông Mỹ Thuận

Đã lâu lắm tôi không về lại Việt Nam. Nói vậy không có nghĩa là tôi không nhớ quê hay nhớ ít hơn những người đi đi về về từ mấy năm nay. Không, tôi nhớ quê tôi lắm chớ. Tôi nhớ đâu ngay từ khi mới vừa đặt chân xuống ghe trong đêm vượt biển. Nỗi nhớ như những lọn máu nhỏ từ đời kiếp nào vẫn chảy rì rầm trong trái tim héo mỏi. Tôi có quên đâu. Thấp thoáng giữa đám lau lách của trí nhớ bội bạc, quê hương vẫn còn đó, lẻ loi như một bông cúc vàng nở muộn, đẹp đến xót xa. Tôi nhớ như một người tình bị phụ rẫy nhớ lời đay nghiến, như người thương phế nhớ một phần thân thể đã thất lạc. Nhớ từ cơn đổ vở nhớ đi. Nhớ trong hồi đoạn lìa nhớ lại. Vậy mà tôi không về. Hay chưa về lại đó một lần. Nghe thì rắc rối như bày đặt. Nhưng mà cuộc đời cũng có suông sẻ gì đâu.

Những năm mười tám, đôi mươi từ tỉnh nhỏ lên Sài-gòn trọ học, cách quê đâu chừng trên trăm cây số gì đó là tôi đã bắt đầu thấy nhớ. Hồi đó bạn bè cứ sửa câu hát ru em mộc mạc thành câu hát trêu chọc: “Đèn Sài-gòn ngọn xanh ngọn đỏ. Đèn lục tỉnh ngọn tỏ ngọn lu. Mới đi xa anh khóc lu bù. Chừng quen con nước bắt bỏ tù anh cũng đi”. Dĩ nhiên con trai mới nhổ giò nhổ cẳng, đứa nào chẳng có lần mơ mộng làm những chuyến giang hồ vặt để cứ tưởng mình đã lớn. Lẩn quẩn trong cái phố chợ nhỏ xíu đi tới đi lui chưa mỏi cẳng đã thấy vòng lại chỗ cũ, lòng cứ nôn nao những chuyến đi xa. Đọc hành Nguyễn Bính thấy mê làm sao cái hình ảnh hào tráng của người khách lữ, rũ áo phong sương một chiều cuối năm trên gác trọ, rượu say ngất ngưởng rồi cười khinh mạn mà nhắc tới mấy con mắt trắng với mắt xanh. Chưa hết đâu, còn cái hình ảnh não nùng của người em gái sầu muộn bên song cửa cứ vò võ trông chừng từng cánh nhạn đưa tin. Trời ơi được làm người tình cho người ta chờ đợi như vậy có nhuốm bụi cũng cam. Mơ thì mơ toàn chuyện động trời như vậy mà mới xách va-li đi khỏi nhà được đâu trăm cây số chừng đôi ba bữa là đã thấy nhớ cồn cào cả người. Có lạ không. Vẫn có những chiều đang lang thang giữa phố, lòng bỗng nhiên chùng xuống khi chợt thấy chân mình lỡ đạp trùng lên mấy lọn nắng cũ vàng hoe. Hay những sớm thức dậy bỗng thấy buồn ngang vì một tiếng xe thổ mộ lăn lóc cóc đều đều như gõ nhịp vào thiên cổ. Cái thằng đang vui đời đô thị bỗng trở buồn ngang xương vì vệt nắng hoang, vì tiếng xe ngựa sao giống y như bóng nắng tiếng xe ở quê nhà. Có một cái gì trùng lẫn ở đâu đây. Dường như mấy góc phố nhỏ, cây me già cỗi, đêm mưa tỉnh lỵ, giọt trăng châu thổ… vẫn là một dù người ta đã thay nơi đổi chốn. Người đi bỏ lại hình ở chốn cũ mà quên bóng cứ lúc thúc theo sau. Có lúc giả bộ ngoảnh mặt mà thật ra có làm ngơ được đâu. Nó cặp kè, lẩn lút, chỉ đợi dịp là ló mặt ra trêu chọc. Bởi vậy mà trong khi đầu tôi thì háo hức lo đuổi bắt mấy cái bóng sắc mới lạ thì lòng tôi lại trì trì những kỷ niệm cũ xì. Cứ như vậy mà dằng co níu kéo hết tháng sang năm lòng vòng chơi mãi cái trò bắt trốn. Hết nhớ rồi quên. Hết quên rồi lại nhớ. Riết rồi tôi cứ thả mặc cho dòng đời xốc nổi, bởi gốc vốn từ đất ruộng bốc bụi bay đi thì làm sao chẳng có lúc tấp lại bên đường mà không nhớ xó đất quê !

Vậy đó, suốt mấy năm lang bạt ở Sài-gòn, mặc dầu lúc nào cũng tỏ ra là “tay chơi” sành sõi, nhẵn mặt khắp đầu trên xóm dưới, như một dân Sài-gòn chính hiệu, tôi vẫn cứ là một tên nhà quê đặc sệt ở trong lòng. Hở ra là nhớ. Nhớ từ cọng cỏ ướt sương nhớ đi. Nhớ từ bụi lúa trổ đòng đòng nhớ lại. Người tình đầu đời sao tôi quên cái một. Mà khoảnh đất quê nhà sao tôi lại nhớ hoài. Có lúc tôi thấy thèm về ngồi lại trên bực đá lở bên bờ sông Cái, một buổi trưa hè nào đó, lượm đá thảy lia thia trên mặt sóng mà đầu thì thả lông bông như một người vô tích sự. Có lúc tôi muốn được quay lại bãi cỏ xanh cạnh ngôi đền văn miếu cũ, chắp hai tay sau gáy nằm dài ra đó ngủ dật dờ ngó lơ mơ mặc cho cuộc đời xoay trở chung quanh. Cả cái tỉnh nhỏ mà gần như ai nấy đều biết mặt nhau, ở thì rầu muốn chết mà đi xa thì nhớ đến đứt ruột. Tôi cũng không biết tại sao. Có phải cái đó là cái mà mấy ông văn sĩ gọi là tình quê đó chăng? Tôi nhớ những con đường lặng lẽ duổi dài theo bóng mấy hàng sao, tôi nhớ cái châu thành nhỏ xíu như chiếc khăn tay với những căn nhà xây cất nửa tây nửa ta, nhớ mấy quán sinh tố góc chợ chiều có mấy cô chiêu đãi quê mùa gọi mời đon đả. Tôi nhớ ngôi trường tiểu học với cái sân chơi lầy lội, ngôi trường trung học im ỉm uy nghiêm và tiếng trống gọi trường nghe dồn dập đến thót tim mỗi lần ham chơi tụ tập lê la ngoài phố. Tôi nhớ như in dãy phố tàu. Bạn bè dăm đứa rủ rê nhau. Áo phanh ngực đón mùi hương lạ. Háo hức chia nhau khói thuốc đầu. Còn nữa, còn nhiều lắm, làm sao kể hết. Ngay cả những thứ có lúc thấy tầm thường, nhạt nhẽo gì đâu mà sao cứ … nhớ ơi là nhớ !

Như cái bến phà Mỹ Thuận vậy đó, tôi đã đi qua lần đầu đâu thuở chín mười tuổi rồi cứ nhớ hoài mặc dầu sau này, lớn lên đã qua không biết bao nhiêu là bến đợi khác. Có một cái gì lạ lắm như nối kết tôi, thằng con trai sinh ra và lớn lên ở bên này sông cứ nhìn ngó bên kia sông như chót đỉnh của một giấc mơ phiêu lãng. Có phải con sông lớn mênh mông đó như một ranh giới vô tình đã chằng giữ những cơn mơ tuổi nhỏ. Có phải những con sóng cuồn cuộn đó đã một thời đẩy đưa hồn tôi phiêu lưu đến những chân trời xa tít, miễn phí và không nguy hiểm. Bằng lý do nào, thì đó vẫn là nơi ưa thích nhất và cũng là nơi tôi nhớ nhiều nhất, nhất là từ lúc biết mình khó có dịp qua lại nữa.

Những năm mới bỏ xứ ra đi, năm ba hôm là lại chiêm bao thấy mình về quê cũ. Mà lần nào cũng vậy, mỗi lần lại thấy đứng đợi phà qua bến Mỹ Thuận. Nghĩ cũng lạ. Lội sông lội suối cũng nhiều mà rồi cũng chỉ nhớ có khúc sông trắc trở đó thôi. Dĩ nhiên điều đó chắc không ăn nhằm gì với cái vị trí quan trọng của nó trong việc thông thương ở miền tây. Quốc lộ số 4 từ Sài-gòn xuôi nam đến đó là phải khựng lại. Sông rộng mênh mông, tách nguồn từ Tiền giang ở phía bắc chảy nghiêng nghiêng theo hướng tây nam đến đó phát đổ ròng ròng đến phát sợ. Thuở ấy, tiền bạc và kỹ thuật chắc còn non yếu quá, người ta chưa đủ sức bắc cầu. Xe đò, xe hàng tới đó là phải đậu lại, sắp hàng dài thậm thượt đợi lượt qua sông. Gặp lúc có công-voa nhà binh chiếm ưu tiên là thôi chờ đợi dài người ra. Xe cộ phì phò hục hặc, khách khứa nhốn nháo, mấy chú lơ xe hấp ta hấp tấp xách thùng xuống sông múc nước đổ máy cho hạ hỏa, mấy bà mấy cô cũng vội vội vàng vàng chạy tìm mấy chỗ giải thủy cho nhẹ mình, khi thì bờ ruộng lúc lại mấy lùm cây khuất khuất hở hở. Cái hoạt cảnh ồn ào náo nhiệt không có chỗ nào giống được. Lạ lắm. Làm như đó là một nơi người ta rất mong cho mau tới, mà tới rồi lại cứ mong cho mau đi. Nói vậy mà không đi mau được là cũng vui vẻ như thường. Có khi thấy xe kẹt nhiều quá là thiên hạ cứ miệng lầm thầm rủa xả mà chân thì xắn xả nhắm hướng mấy cái quán nước thân tình. Hàng quán thì bán đủ thứ thượng vàng hạ cám. Người đi xa lỡ độ đường không sợ đói. Cơm nước trái cây bốn mùa, mùa nào thức nấy. Cứ nhìn mấy giỏ mận hồng đào chín mọng là bắt khát nước, mấy giỏ ổi xá-lỵ căng da xanh mướt mà phát thèm. Điệu nghệ hơn nữa, những xâu chim trao trảo quay vàng ngậy chảy mỡ bóng lưỡng chấp chới trong lồng kiếng quyến rũ còn hơn cao lâu Chợ Lớn, mấy miếng thịt sườn nướng than tại chỗ bốc mùi thơm thấu tới thiên đình. Kề đó mấy chai bia con cọp sắp hàng dọc ngang như nghinh nghinh thách đố ai mà chịu nỗi. Bởi vậy mà khách giang hồ qua đó thế nào rồi cũng phải có lần ngả bàn nhậu dọc đường. Mà bởi vậy khách đa tình qua đó cũng không thiếu người vướng lại những cuộc tình tứ chiếng. Bà lớn bà nhỏ em gái em nuôi gì không biết chớ chuyện ghen bóng ghen gió vẫn xảy ra hà rằm làm cho cái bến đổ vốn đã ồn ào lại được thêm phần…ầm ĩ.

Nhưng mà tại sao là Mỹ Thuận mà không là một cái bến khác. Dọc theo miền tây còn bao nhiêu là bến phà. Vàm Cống, Cần Thơ, Rạch Miểu, Chợ Gạo, Cổ Chiên … sao không nhớ. Mà chỉ nhớ rặt có Mỹ Thuận? Hay tại tôi cũng nòi tình như ông cò quận chín trong tuồng cải lương Tuyệt tình ca có bà vợ nhỏ ở Vĩnh Long đã chèo xuồng đưa chồng qua sông Mỹ Thuận về Mỹ Tho thăm vợ lớn rồi biệt tăm biệt tích luôn mấy chục năm trời. Không, tôi biết cái bến phà đó từ lúc còn rất nhỏ, chưa tới tuổi có một vợ chớ đừng nói tới vợ hai. Kỷ niệm của tôi với cái bến phà đó không dính líu gì hết tới mấy cái chuyện tình duyên tấm mẳn. Nó chỉ dính líu tới cái tuổi nhỏ mà mộng lớn của tôi thôi. Vốn là quê tôi cách bến phà Mỹ Thuận đâu chừng chín mười cây số gì đó. Con đường nối liền bến nước với tỉnh lỵ chạy qua những thửa ruộng nho nhỏ cắt chia bằng mấy bờ đê lúp xúp, ngang qua vài xóm nhà lá lụp xụp và một hai chiếc cầu xi-măng bắt cong cong rất điệu. Con đường hiền lành thơ mộng một cách quê mùa, cũng chẳng có gì là đặc sắc. Chỉ có điều con đường đó là cái ngõ thoát êm đềm nhất để chạy trốn nhịp sống đều đặn nhàm chán của tỉnh nhỏ buồn hiu. Con đường là cái gạch nối ngắn nhất đưa đứa con trai mới lớn từ thực tế vây khốn đến mộng mị phiêu lãng qua trung gian là cái bến phà rộn rịp đầy khách lữ hành xuôi ngược. Lần đầu tiên qua đó một lần năm chín tuổi là bắt mê ngay cái không khí chộn rộn, tất tả, lăng xăng của kẻ đến người đi, của người qua kẻ lại làm như ai nấy đều vội vã lắm. Người ta sốt ruột trông cho mau đến, đến rồi sốt ruột trông cho mau đi, đi hấp ta hấp tấp như chỉ sợ trễ một chuyến qua sông là sẽ trễ luôn cả một cuộc đời. Làm như cuộc sống không chịu ngừng lại một chút, cứ phải là những chuyến lên đường.

Ờ, những chuyến lên đường! Hình ảnh những khách bộ hành lật đật xuống xe, tay xách nách mang kéo nhau đi như chạy qua phà là cái biểu lộ tuyệt diệu nhất cho sức hút của dặm trường thiên lý, của kiểu đời gạo chợ nước sông đã làm tôi mê mẩn suốt một thời mới lớn.

Hình dung trở lại đứa trẻ sinh ra ở một tỉnh nhỏ lần đầu tiên được cha mẹ dẫn cho đi Sài-gòn. Chuyến xe tài nhứt khởi hành đâu khoảng bốn giờ sáng. Trời gần tết đẫm sương. Lòng xe tối mò. Hơi khói xăng xông lên mũi kích thích. Đứa bé cố nhướng mắt thật to để nhìn cho hết con đường mơ trước mặt. Mà có được đâu. Cơn mê ngủ đậu chực trên mí mắt cứ đè sụp xuống hoài làm nó lắc lắc đầu như để phủi đi mà không phủi được. Tiếng xe chạy ù ù càng như ru thêm. Nhưng mà mới ngủ gà ngủ gật đâu được một chút đã giựt mình nghe tiếng anh lơ la oang oang. Bà con cô bác xuống xe qua đò. Có ăn gì thì xả rác trong xe bà con ơi…Đứa bé giựt mình mở choàng mắt dậy. Ôi thôi đâu mà đèn đuốc sáng trưng. Người qua lại rộn rịp, kêu réo thúc hối kèn cựa tự nhiên như giữa chỗ không người. Đứa bé ngơ ngác tưởng trong chiêm bao. Đâu mà mới chút nãy còn ở giữa đồng hoang tối mịt, mới ngủ quên một chút, bừng con mắt dậy đã thấy ở ngay giữa bữa chợ đông. Bở ngỡ, chớp chớp con mắt mấy cái là tỉnh như sáo sậu. Nó khoái chí dòm cái hoạt cảnh mới thấy lần đầu. À thì ra người ta có ngủ như nó đâu. Người ta đi đi lại lại, chạy tới chạy lui, cười giỡn nạnh hẹ nhau suốt đêm suốt ngày. Cái cõi người lớn này lạ thiệt. Đêm hào hứng như vậy cách chỗ nó ở có bao xa, bằng đâu một chớp mắt thôi. Vậy mà ở nhà mới chạng vạng ba má đã bắt nó phải lên giường ngủ một mạch cho tới sáng trưng. Như vậy ở ngoài căn nhà nó ở, ngoài con đường tráng nhựa nó đi tới trường hàng ngày, ngoài ngôi chợ lớn cạnh bờ sông thỉnh thoảng có mấy gánh sơn đông về múa võ bán cao đơn hòan tán, ngoài cái rạp xi-nê chiếu phim cao bồi bắn lộn với mọi da đỏ… còn có cả một thế giới lạ lùng, vui tươi, rộn rịp, chờn vờn một sức sống mãnh liệt bừng bừng ngay kề bên cái phố nhỏ buồn hiu của nó. Đúng là cả một khám phá kỳ diệu. Xe chạy chậm lại rồi rà rà tìm chỗ đậu. Mọi người lục tục xuống xe. Thằng bé nắm chặt tay mẹ nó đi những bước như nhảy. Nó cố làm ra vẻ người lớn như để được hòa hết mình vào cái thế giới sôi sùng sục quanh nó. Nó nở mũi hít thật dài một hơi không khí mát lạnh từ ngoài sông thổi tới, thấy như hít luôn cả cái chộn rộn của đoàn người đang vội vã đi bên cạnh, luôn cả cái mùi kỳ lạ pha trộn đủ thứ thập vật trần gian: hơi người, hơi gà vịt treo buộc tòn teng dưới cặp đòn gánh của mấy bà bạn hàng, hơi trái cây vừa mới hái đổ đống trên sạp, hơi nước lèo của mấy xe hủ tiếu thơm phức, hơi xăng nhớt nồng nồng, cả hơi tinh sương của một ngày đang trổi dậy. Trong khi đó đoàn xe chạy chậm chậm cẩn thận từng chiếc một xuống phà theo sự chỉ dẫn của ông “xếp bắc”, miệng ngậm tu-huýt mặt câng câng như tự thấy mình quá sức quan trọng. Mỗi chiếc xe bò lên cầu từ tốn vừa chạy vừa run run chắc vì lòng cầu nhỏ quá chỉ vừa lọt chí mí. Kề bên một anh lơ chạy lúp xúp tay cầm cục gỗ chặn như để sẵn sàng can thiệp khi xe lỡ trớn. Chiếc cầu sắt lót ván kêu rần rần dưới vòng bánh xe nặng trịch. Xe chạy tới đầu “bông-tông” thì ngừng lại, khục khà khục khặc như vừa thấy nguy hiểm chờn vờn trước mặt. Mà nguy hiểm thật. Ở giữa “bông-tông” là một cái cầu quay hình chữ thập, bề ngang đâu cũng chỉ vừa lọt hai bánh xe, cái nhánh thẳng nối với đường cầu đâu chỉ dài hơn chiều dài chiếc xe đò một chút mà lại đâm thẳng ra dòng sông đang chảy cuồn cuộn. Ngó mà thấy rùng mình. Hèn chi ngay đầu cầu lúc nãy thấy có một tấm bảng đỏ ghi mấy hàng chữ trắng:”Coi chừng thử thắng xe qua phà”. Điệu này không khéo xe chạy tuốt xuống sông như chơi. À thì ra tại vậy người ta bắt bộ hành xuống xe đi bộ bỏ mặc chiếc xe với ông tài xế thử thời vận. Mà chắc cũng không sao vì ông tài xế coi bộ bình tĩnh lắm, miệng ngậm trệch điếu thuốc lá, từ từ rà thắng cho xe rề rề chạy xuống tới mút bửng cầu thì ngừng lại đúng lúc ông kiểm soát khoác hai tay ra dấu ngừng. Tất cả ăn khớp đúng phốc như dứt hết sáu câu mà rơi ngay đúng nhịp song lang. Tức tốc, anh lơ xe chêm ngay hai khúc cây chặn cứng hai bánh xe hết đường nhúc nhích. Rồi đợi đâu sẵn, bốn người phu đứng ngay bốn đầu cầu quay, người kéo người đẩy vận sức xoay bàn cầu quay một phần tư vòng tròn cho đầu mũi xe hướng ngay mũi phà đã hạ bửng đợi sẵn. Chiếc xe rú một hơi dài rồi chồm lên chạy xuống phà. Vậy là xong một chiếc xe. Phà nhỏ chở được có bốn năm xe là đầy một chuyến. Ông tài công ngồi tuốt trên phòng lái ra lệnh dở bửng. Ai đó đánh một tiếng kẻng. Vậy là coi như nội ngoại bất xuất, trên dưới không được lên xuống nữa, hành khách và xe cộ không được chộn rộn chàng ràng nữa. Phà dỡ đõi rồi từ từ lùi ra bến. Trời hưng hửng sáng. Gió bốc theo khói sóng thổi phần phật mấy tấm bạt che hàng trên mui xe. Nước bắn tung toé hai bên thành phà làm ướt nhem mấy dãy băng dành cho hành khách. Mặt trời hà tiện chút ánh sáng vàng cam không soi nổi con sông lớn quẩy sóng đen ngòm. Phà chạy chậm như thong thả lắm hay là tại không có sức nhanh hơn. Máy nổ rì rì đến sốt ruột. Ngồi trên mấy cái băng gỗ có lúc người ta tưởng chừng như đang đứng yên một chỗ nếu không có mấy dề lục bình trôi băng băng ngược chiều. Gặp mùa lũ chướng xem chừng còn nhàn nhã hơn nữa. Phà qua ngang không nổi, phải thả trôi theo con nước xuống tuốt đuôi cồn rồi mới ì ạch vòng lên bờ bên kia. Như vậy mà chắc ăn nếu không phà tròng trành có thể lật ngang như chơi. Vậy mà thằng bé vẫn khoái như thường. Dễ chừng nó còn mong cho lâu tới nữa. Đâu phải lúc nào cũng được đi trên sông một cách nghênh ngang như vậy, ngó mấy chiếc tam bản chèo chống lê thê bị sóng tàu nhồi đờ đẫn mà tội nghiệp. Nó ngửa mặt hứng mấy giọt nước bay trong gió, tóc dựng đứng như bờm ngựa, lòng mơn man một nỗi vui kỳ lạ. Cùng lúc trời lộ hết bình minh. Con sông hiện rõ dần, lớn lao, chói lọi, bất trắc và mê hoặc như một huyền nhiệm. Đứa bé thấy con sông và bến nước lần đầu tiên mà sao có cảm tưởng như sẽ thấy muôn đời. Tấm lòng nhỏ xíu của nó như đã dành một chỗ rất lớn cho khoảnh sông nước đó. Nó chăm bẩm cái hình ảnh của thiên nhiên cựa mình sống dậy như một khám phá bất ngờ. Và lớn lên một cách đột ngột, từ đó.

Như vậy mà tôi qua phà Mỹ Thuận lần thứ nhất. Tôi trở ngược lại qua phà lần thứ hai ít ngày sau gì đó. Cũng y như lần đầu. Chỉ khác là vào buổi chiều, trời sắp tắt nắng. Bóng đêm chực chờ càng làm con sông, chiếc phà và người ta thêm gấp gáp. Cũng cái vội vã thêm một chút lo lắng. Cũng cái ồn ào nhưng bớt đi một chút náo nhiệt. Nhưng không có vẻ gì là sắp ngừng nghỉ. Sông nước có thôi chảy đâu. Và người ta cũng đâu có hết lên đường. Ở đó là hình ảnh một dòng sống không có khởi đầu và cũng không có kết cuộc.

Có phải tại vậy mà tôi mê cái bến Mỹ Thuận hay không? Tôi đã giữ trong tôi cái hình ảnh qua lại bất tận trên dòng sông bất tuyệt này rất lâu. Mãi đến khi lên trung học, tôi vẫn thường trốn nhà những ngày nghỉ học đạp cái xe đạp cà tàng chín cây số lên đó, đứng ngó ngu ngơ một đỗi rồi đạp xe trở về. Mệt đừ mà lòng lại thấy vui sướng như vừa làm một chuyến đi xa, hồn mê mải với cuộc mộng du tưởng tượng. Không biết có phải tại tôi chịu ảnh hưởng của đứa bé mê nhà ga và xe lửa trong thơ Tế Hanh hay không mà tôi cứ hay làm như nó. “Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt. Lòng buồn đau xót nỗi chia xa”. Cái hình ảnh đẹp và buồn đến dại người. Mà cũng dại thiệt. Tôi mê cái bến phà Mỹ Thuận đến dại dột. Năm học lớp đệ tứ, cô bạn gái cùng lớp thân thích với tôi như quít với cam. Còn tôi thì cứ tưởng thiên hạ ai cũng mê thích kỳ quái như tôi. Lần đó tôi rủ cô ta trốn học, hai đứa lén ra bến xe lam đi Mỹ Thuận. Cô ta nghe tôi tả cái cảnh và cái tình của Mỹ Thuận nên cũng náo nức đi theo. Đến chừng lên tới đó thấy phố xá lu bu, người ta lật đật, sông nước thì vô tình cô ta đâm chán nản đòi bỏ về đi coi chớp bóng. Tôi đâu chịu. Thế là giặc giã nổi lên đùng đùng. Cô bạn thường ngày phụng phịu dỗi hờn dễ thương hết sức, hôm đó không biết nổi chứng gì mà quyết liệt còn hơn bà Trưng thù nhà hận nước dứt khoát bỏ tôi lên xe trở về. Tôi tự ái ở lại. Xui một cái là sau đó cô ta bị cha mẹ khám phá được chuyến giang hồ vặt, chắc bị nọc ra đánh đòn rồi đày vào lãnh cung hay sao đó mà thề cự tuyệt mặt tôi. Thế là “anh đi đường anh, tôi đường tôi…” Nghĩ cũng uổng, chỉ vì ba cái vụ lên xe xuống xe mà đành rẽ thúy chia uyên. Nhưng mà tôi có tởn đâu. Tôi vẫn chứng nào tật nấy. Hể được cô nào thân ái là tôi cứ cà rà mời cho được lên chơi Mỹ Thuận một lần. Ở đó tôi huyên thuyên dẩn giải hoặc trầm ngâm tâm sự làm như chỗ đó là giang sơn riêng của tôi vậy. Có cô cũng kiên nhẫn ngồi nghe nhưng đa số thì dẩy nẩy đòi về. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại thì cũng đâu lỗi tại tôi. Nơi cái thành phố tôi ở thuở đó có chỗ nào thơ mộng đâu mà hẹn hò. Chẳng lẽ đưa nhau vào Văn thánh miếu, chỗ thờ ông thánh Khổng chuyên trị lễ giáo mà đi lạng quạng dưới mấy gốc mù u tối om để nỉ non tâm sự. Lỡ ổng nghe được thì hóa ra tôi cũng lỗi đạo với bậc tiên sư. Nếu không thì dưới bóng cây da Cửa Hữu có miếu Bảy Bà sơn thủy cũng hữu tình nhưng thời đó nghe đồn bà hay xẹt đi xẹt lại thì càng nên tránh cái chuyện tới đó thề non hẹn biển. Còn cái rạp xi-nê nhỏ như cái lổ mũi chuyên môn chiếu tuồng cao bồi đánh nhau với da đỏ thì giữa cảnh tên bay đạn lạc đó thì còn đâu tâm trí mà nói chuyện tâm tình. Vả lại ngay xuất chiếu buổi trưa rạp chẳng có máy lạnh lại còn đóng cửa kín bưng nên cứ vừa coi phim vừa quạt phành phạch thì hơi sức đâu nữa mà thủ thỉ. Chỉ có Mỹ Thuận của tôi là thượng hạng. Vừa có gió sông lồng lộng, có phà trôi rập rình, có đủ thứ quà cáp trần gian và nhất là có những vóc dáng giang hồ qua qua lại lại. Bến nước là nơi tao ngộ của những tay tứ chiếng, là ngã tư gặp gỡ của trăm họ miền Tây. Cà mau, Rạch Giá, Long Xuyên, Châu Đốc, Vĩnh Long , Sa Đéc, Trà Vinh… Họ băng ngang thì thôi chớ còn xổ dọc là gặp nhau ở đó. Không hẹn mà gặp. Gặp không chào không hỏi. Gặp một lần trong một đời. Rồi thôi. Rồi mất biệt như chưa từng đã gặp. Dĩ nhiên chắc họ cũng có trở đi trở lại nhưng rồi có ai gặp lại ai đâu. Tôi đã thấy ở đó bao nhiêu là mặt người, bao nhiêu là nhân dáng mà rồi có gặp lại ai bao giờ. Phải vậy không, ở đó giống y như cái cõi đời này mà một ông Tàu xưa đã cảm thán đến để rơi nước mắt: “tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất kiến lai giã, niệm thiên địa chi du du, độc thương nhiên nhi lệ hạ”. Đó là một quán trạm bên đường mà mọi người phải ghé qua trong cuộc hành thiên lý dù có muốn hay không. Ghé qua một chút, vui vẻ hay buồn rầu, nhẹ nhàng hay gồng gánh thì cũng phải ghé qua, đi tới đi lui, dòm ngó loanh quanh rồi quay lưng đi mất biệt. Đó chẳng giống cái đường trần thăm thẳm này sao mà khách lữ chính là chúng ta đó. Chúng ta đến rồi đi có ai biết, dòng đời vẫn chảy đến biệt mù cũng chẳng làm sao hay. Thuở ấy tôi đã triết lý vụn như vậy với bạn bè mà không ai chịu nghe tôi. Riết rồi chỉ còn mình tôi là đi lại chung tình với cái bến phà-bến đời náo nhiệt đó. Vậy mà hay, bởi vì ở đó tôi đã sống bao nhiêu cảnh tình mà cả chục năm sau tôi cũng chưa hề sống lại được. Bãi trường năm 66, 67 gì đó, tôi từ Sài-gòn về quê nghỉ hè, cô bạn con nhà trọc phú được cha mẹ lo cho đi du học ở Pháp, ngày đi quá bất ngờ cô ta đáp xe đò về tìm tôi từ giã. Không biết lúc ấy lòng buồn đến đâu mà sau khi đưa cô ta qua sông trở lại Sài-gòn, một mình đón phà ngược trở lại, bỗng nhiên tôi khải ngộ được một điều thắc mắc từ thuở mới mê thơ. Đưa người ta không đưa qua sông. Sao có tiếng sóng ở trong lòng. Trời ơi lần ấy tôi mới thấy hết cái tài hoa của người thi sĩ mệnh bạc. Đưa người, ông không đưa qua sông mà nghe sóng vỗ ở trong lòng. Còn tôi đưa người, tôi lại đưa ngang sông thì sóng vỗ biết cơ man nào mà nói. Con tim dù lớn cách mấy cũng chỉ bằng nắm tay thì chỉ có nước chết đuối thôi. Lần đó tôi tôn ông Thâm Tâm làm sư phụ. Mấy thằng bạn trời đánh của tôi chỉ lo chạy xe lạng đào trong thành phố làm sao hiểu thấu được cái lớn lao u trầm của người thơ. Đời mộng và thực như vậy đó bàng bạc trên từng ngọn sóng, từng khúc quành, từng vết xe lăn, từng chuyến phà ngang trắc trở. Sao không tới đó mà coi, không tới đó mà nghe tiếng đời kêu réo. Phải rồi còn cái tiếng đời huyễn hoặc này nữa, tiếng độc huyền của ông ăn mày mù ngồi trước hàng ba một tiệm nước. Ông ta ngồi đó tự lúc nào tôi không biết. Chỉ biết khi tôi bắt đầu quến thật sự cái sinh hoạt của bến Mỹ Thuận thì ông ta đã có ở đó rồi. Ông ta ngồi đó lặng lẽ, nhỏ nhoi, có mà như không có, giống như cây cột đèn bữa cháy bữa không. Sự có mặt của ông có làm bận tâm ai đâu họa chăng là mấy thầy phú-lít. Nhưng mà ông ta mờ nhạt quá, cũ kỹ quá nên riết rồi người ta cũng lờ đi coi như là một vai câm của vở kịch cứ đổi cảnh hoài. Như cái phần tĩnh của bức tranh động vậy. Ông ta ngồi yên như một khúc gỗ đẽo sần sùi, lưng cong vòng, mặt nghiêng nghiêng, đôi mắt sâu hoắm, hai chân xếp lại, gần như không nhúc nhích. Chỉ có tiếng đàn của ông là bay lượn thảm sầu. Cái giọng ỉ ôi như kêu rêu, như trách cứ mà cam phận, nghe nghèn nghẹn đến tức tưởi. Nó gần như gom hết tất cả cái gì oan nghiệt nhất, cái gì đoạn trường nhất, cái gì tang thương nhất của cuộc đời này lại rồi phát ra một lượt làm chết điếng lòng người. Đàn chỉ có một dây thôi mà đủ hết mùi trường hận. Tôi khám phá ra ông một bữa về ngang trời đổ mưa bất chợt. Mọi người chạy túa vào mấy cái mái hiên tìm chỗ đụt. Vừa tấp vào một quán nước tôi để ý tới người đàn ông mù tức khắc. Có một vẻ gì lạ lắm toát ra trên gương mặt vô tri như trét sáp. Ông ta ngồi đó, lặng lờ như một vệt khói, mặc cơn mưa rào rơi lộp độp, mặc đám phàm nhân lao xao. Ông làm như không hay biết gì hết, ông chỉ biết tiếng đàn của ông thôi. Mấy ngón tay xương xẩu, đen đúa thoăn thoắt bắt nắm sợi dây đàn độc nhất, còn bàn tay trái vặn vẹo cái cần gỗ đã lên nước bóng ngời. Tôi không biết ông đàn bản gì chỉ nghe được cái não nuột của âm thanh như từng mũi kim chích thẳng vào da thịt mình đến nhức buốt. Tiếng đàn thoát đi bay lượn lẹo trong không khí ẩm đục nghe như tiếng khóc từ cõi âm vọng lại, kêu réo, van nài làm tôi rùng mình muốn phát lãnh. Nó bay ra xa, uốn éo rồi vòng lại, oằn oại. Nó vút lên cao, lanh lảnh rồi chùi xuống thấp, rụng rời. Người ăn mày mù vẫn say mê đàn như không biết cái tiếng đàn ma quái đang truyền nhiễm về đời bóng tối của u minh, dẫn đường cho những hồn oan kéo nhau về lướt thướt. Một lúc mưa bỗng tạnh. Mọi người lục tục bỏ đi. Có bà nhón vài đồng bạc cắc bỏ nhẹ vào cái hộp thiếc đặt trên góc chiếu. Còn đa số thì chắc quá vội đi mà không kể gì đến tiếng đàn bỏ lại. Còn tôi sao tôi bỗng nhiên thấy đi không nỡ. Sao tôi có cảm giác như thiên hạ quá vô lễ với nghệ nhân. Người ăn xin mù đó đúng là một nghệ nhân. Con người đó, tiếng đàn đó sao tôi thấy tài hoa đến tột vời. Mù đã là một thiệt thòi. Mù mà tài hoa thì đúng là tội nghiệt. Có phải ông mù đã gởi tâm sự mình trong tiếng đàn tận tuyệt đó không? Tôi quay vào quán, gọi một ly cà-phê bảo người hầu bàn đem ra cho người ăn xin rồi đến ngồi trong một góc nhìn ra. Suốt buổi chiều, tôi ngồi nghe lóm hết khúc này đến khúc khác, lòng cứ thắc thỏm từng hồi theo mấy cung bạc mệnh. Mà thật ra tôi có biết bài bản nào đâu. Thuở đó đối với tôi, những kim tiền bản, khốc hoàng thiên hay gì gì nữa cũng là quê mùa hết. Tôi chỉ khóai rum-ba với lại xì-lô. Đã nói tôi còn dại dột lắm mà. Vậy mà buổi chiều đó tôi ngồi im như chết trong góc quán, hồn mỏi mê như bị ma ám, lần đầu tiên khám phá ra cây độc huyền quái đản. Tại sao có loại đàn kỳ dị như vậy. Và tuyệt diệu như vậy. Còn người mù đó nữa, có phải chính cặp mắt đục lờ đó mới nhìn thấu được tới vô thanh để biến ngũ cung thành trăm bài kinh khổ? Đã có lúc tôi tưởng chừng ông ta biến đi đâu mất tiêu mà chỉ còn tiếng đàn ở đó thay ông kêu khóc. Hay có thể nói ông ta và đàn như nhập làm một. Làm sao có sự hóa thân kỳ diệu đó nếu không là một bậc dị nhân. Có lúc thần trí tôi mê hoang tưởng như Sư Khoáng đội mồ trở về vác đàn đi tìm bạn tri âm… Rồi tiếng đàn dứt. Tôi giựt mình thấy mình ngồi ủ rũ. Trời ngoài kia đã chạng vạng, bến phà cũng thưa bớt người qua.

Bữa đó khi ra về tôi đã dốc hết tiền còn lại trong túi cho ông ta rồi nhảy lên đeo xe hàng có giang về chợ.

Đấy cái bến Mỹ Thuận nó hỗn mang như vậy đó, nó tập trung tất cả mọi hạng người từ cùng căn mạt kiếp tới những tay đâm thuê chém mướn, coi trời bằng vung, trước ngực thì xâm “ hận kẻ bạc tình” sau lưng thì xâm “thù người hại bạn” đến người cuồng sĩ tối ngày cứ đón phà từ bờ này qua bờ kia như để đón đợi một người nào đó chưa bao giờ gặp mặt mà hể mở miệng ra là cứ “liên hoành” với “hợp tung”. Tôi đã thấy có ông tự chặt ngón tay thề thôi cờ bạc, có ông cầm dao đòi rạch bụng khi người yêu đòi “tách bến sang ngang”, có ông dẫn cô nhân tình bụng mang dạ chửa đâu từ dưới quê lên tới đó rồi “quất ngựa truy phong” bỏ cô ngồi khóc bù lu bù loa bên bờ sông “định mạng”. Tôi đã thấy những anh lơ xe mở miệng ra là chửi thề thí mạng mà giữ chữ tín còn hơn cả đám anh hùng Lương Sơn Bạc, những em bé bán hàng rong nhỏ như ngón tay út tối ngày chạy theo mấy chuyến xe đò ép nài từng xâu mía ghim để nuôi bà mẹ tật nguyền. Mấy ông già ngồi bán báo mà thông hiểu trời đất không sót một mảy may, bình chuyện đời xưa không thua gì Mao Tôn Cương hay Kim Thánh Thán.Thôi thì đủ thứ cảnh đời mà có học đến già người trong trường lớp cũng không làm sao biết được. Bởi vậy tôi yêu mến Mỹ Thuận như một người tình chung thủy, như một người thầy lão luyện đã dạy tôi bao nhiêu ngón khôn khéo mà cũng không biết bao nhiêu món đoạn trường. Có lúc tôi tự thấy mình giàu có như một tay hào trưởng.

Bởi vậy bỏ đi xa rồi mới thấy mất mát biết bao nhiêu.

Ở đây xa quá lắm lúc nhớ quê, tôi hay làm thơ kể lể. Có khi nhắc tô canh chua tôm nấu với bông sua đũa, nhắc tộ cá lòng tong kho khô rắc chút tiêu thơm, có khi nhớ dĩa cơm sườn ram mặn, nhắc tô hủ tiếu của chú Thoòng có cái bụng to bằng thùng nước lèo, có khi thèm nghe lại một điệu vọng cổ mà hồi trước cứ chê lên chê xuống. Trời ơi bây giờ mà cho tôi chui vào rạp Miếu Quốc Công đeo tòn teng mấy chiếc cột chỗ hạng cá kèo mà coi tuồng cải lương Nửa đời hương phấn chắc là tôi sướng lắm. Nhưng mà sướng hơn nữa nếu được về đứng lại dòm ngó ngu ngơ hai bên bờ sông Mỹ Thuận như ở tuổi mới vào đời.

Vậy đó tôi vẫn nhớ quê như mọi người nhớ quê của họ. Tôi còn nhớ thêm cái bến nước ơn nghĩa của tôi nữa. Nơi mà không ai chịu nhớ tới chỉ bởi cái tội nằm ở giữa một chặng đường. Người ta chỉ nhớ nơi đi và nơi đến. Đâu ai bỏ công đi thương nhớ một trạm dừng. Rồi bây giờ nghe đâu người ta đã bỏ luôn cái bến phà đó nữa. Người ta đã cất cầu treo ở trên dòng sông lớn. Những chuyến phà chắc đã kéo vào ụ hay rã ra đem bán sắt vụn. Hàng quán hai bên bờ chắc cũng phải đóng cửa. Mấy người chủ quán chắc đã đổi nghề khác làm ăn. Con đường đá chạy xuống phà chắc bây giờ bỏ hoang cho cỏ dại mọc lan. Tôi không về nên chỉ tưởng tượng được thôi. Sông kia rày đã nên đồng. Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai. Đêm nghe tiếng ếch bên tai. Giựt mình còn tưởng tiếng ai gọi đò. Đấy ông Tế Xương ngày xưa cảm khái như vậy đó sau khi con sông ở Nam Định quê ông bị Tây tới lấp đi. Nghe mà thấy tội tình. Tôi nghĩ ông chưa nói hết những điều muốn nói. Ông không chỉ nhớ tiếng gọi đò thôi đâu. Chắc chắn ông còn rất nhiều kỷ niệm khác mà ông giữ kín cho riêng mình. Bởi vì nói ra cũng không hết được. Mà lắm khi còn bị bĩu môi là hoài cổ, là không thức thời. Cũng như tôi bây giờ vậy, tôi cứ bị người thân kẻ lạ rầy rà, lắm khi mắng nhiếc khi thấy tôi cứng đầu cứ khư khư giữ riết lấy cho mình những hình ảnh cũ, những thương tiếc này, những ngậm ngùi nọ. Chi mà mệt vậy. Quên phức cái cho được việc. Cuộc đời còn hàng trăm chuyện phải lo, hàng ngàn chuyện phải làm, nhắc làm chi cái chuyện đất nước cũ xì, mốc thếch. Chuyện đời thay ngôi đổi chúa là thường tình, trăm họ có khốn khó thì cũng là vận số thôi. Thì vâng. Nhưng vận số gì mà quái đản. Kẻ quyền thế dư ăn dư mặc thì cứ ngày một phủ phê. Còn bạn bè anh em tôi vốn dĩ nghèo đói ngu dốt thì cứ tiếp tục trần ai khổ lụy. Nếu tin được vào vận số thì cũng phải tin vào một quyền lực thiêng liêng nào đó. Mà hể thiêng liêng thì phải có công bằng. Đằng này chuyện bất công ngang trái cứ xảy ra nhan nhản. Như vậy thì đâu phải là vận số nữa. Mà cái này đúng là chuyện thế gian rồi. Ai đời một dân tộc với đức kiên nhẫn, tánh cần cù, lòng đạm bạc đã đi vào huyền thoại mà mấy mươi năm rồi vẫn không ngóc đầu lên nổi thì thử hỏi có lạ không. Đã không còn giặc giã để đổ thừa, cũng không ai chen vào phá đám. Vậy thì tại sao? Chắc chắn không phải tại đám con đỏ đang chạy gạo từng bữa toát mồ hôi, càng không phải tại đám con ghẻ lang bạt kỳ hồ tứ tán ngoài cõi tạm. Vậy thì tại ai? Hỏi thì cứ hỏi chớ câu trả lời đã sờ sờ ra đó.

Gần đây bè bạn ân cần gởi cho mấy tấm hình chụp chiếc cầu trên sông Mỹ Thuận. Cầu mới tinh, cất theo kiến trúc và kỹ thuật tân kỳ, thoạt nhìn ngất ngưởng chẳng thua gì Kim môn kiều ở Cựu Kim Sơn, chỉ thiếu có một chút sương muối lửng tha lửng thửng là lẫn lộn như chơi. Cũng mấy cột tháp cao treo mấy sợi giây cáp cong cong. Nhìn trong hình chắc không đẹp bằng cảnh thực. Ngoài đó có con sông lớn, có gió lồng lộng, có mặt trời dát vàng buổi sáng, có mặt trăng dát bạc đêm rằm chắc còn đẹp hơn nữa. Ở xa tôi hình dung xe cộ qua lại suông sẻ, khách đi đường khỏi phải lên xe xuống phà lôi thôi. Nghĩ tới nghĩ lui thấy cũng mừng. Mặc dầu trong bụng vẫn có chút nao nao khi biết đã mất rồi nơi chốn cũ. Bến phà xưa không còn nữa thì những vóc dáng xưa chắc cũng đã biệt mù. Chén cơm nóng lỡ đường, giỏ ổi làm quà đường xa, ly nước mía mới ép ngọt lịm, người chủ quán hay kể chuyện Tam quốc mấy buổi trưa ế khách, những cuộc tình xốc nổi, những gặp gỡ bất chợt, người hành khất mù và ngón đàn tận tuyệt… tất cả rồi sẽ được xếp vào loại chuyện cổ tích mà người kể nào cũng bắt đầu bằng hai tiếng “hồi xưa…”. Có thể mấy chi tiết mà tôi vừa nhắc đã mất đâu từ nhiều năm trước. Có thể trong thời buổi gạo châu củi quế người ta phải vội vã hơn trước, ăn uống nhín nhút, nói cười dè sẻn chớ không còn bung thùa như thuở tôi còn đi lại. Có thể cái bến nước đó đã mất phong độ từ lúc mới đổi đời. Nếp tinh thần đã khác thì nếp sống cũng khác theo. Người đi lại ơ thờ thì sông nước cũng chỉ là một cõi bơ vơ có lấy gì làm thân thiết. Nếu bây giờ đường đi phải rẽ qua hướng khác để đắp cao dốc cầu, bỏ lại xóm cũ hắt hiu thì cũng chỉ là nối tiếp một cách hợp lý cái cuộc sống đã bị bỏ quên từ lâu lắm. Bởi vậy mà càng nhìn tấm hình chiếc cầu mới, tôi càng thấy buồn hơn vui. Chiếc cầu được xây cất bằng vốn liếng tiền bạc và kiến thức của người nước ngoài để nối hai bờ con sông trắc trở. Mừng thì có mừng cho việc đi lại đỡ phần vất vả nhưng sao vẫn tiếc cho một nếp đời đã ăn sâu trong lòng của một số không ít người.

Và nhất là cứ tự hỏi, sao còn hàng chục triệu chiếc cầu lỗi nhịp trong lòng người mà không chịu lo bắc lại để mọi tấm lòng người Việt không còn những bờ bến phân chia?

Chính vì những chiếc cầu lỗi nhịp đó mà tới giờ này tôi chưa trở lại được quê nhà.
CAO VỊ KHANH



Hoàng Thy Mai Thảo  
#882 Posted : Tuesday, January 25, 2011 12:11:29 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,612

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Thượng tướng Trần Khát Chân

Ông thuộc dòng dõi Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, một danh tướng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông ở thế kỷ13. Cũng theo sử cũ, Trần Bình Trọng thuộc dòng dõi Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, người sáng lập nhà Tiền Lê thế kỷ 10. Như thế, Trần Khát Chân gốc họ Lê ở Châu ái.

Văn bia xã Tương Mai ghi năm Thuận Thiên thứ 3 (1430) cho biết ông sinh ngày Tân Sửu, tháng Chạp, năm Thiệu Khánh thứ nhất (1370).

Năm Kỷ Tỵ (1389), quân Chiêm Thành vào cướp Thanh Hóa, Hồ Quý Ly đem quân đi chống cự. Bị thua, Quý Ly trốn về Thăng Long. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông bèn sai Trần Khát Chân làm tướng đem quân đi chặn đánh giặc đang theo đường sông Hồng tiến về Thăng Long. Ông "vâng mệnh, khảng khái rỏ nước mắt lạy tạ rồi ra đi". Thượng hoàng cảm động cũng khóc, lấy nước mắt tiễn đưa.

Quân Đại Việt đến Hoàng Giang thì gặp địch. Ông liệu nơi ấy không thể đánh nổi nên rút lui về phục binh ở ngã ba sông Hải Triều và sông Nhị Hà. Ngày 23 tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390), thuyền địch đi qua đấy, ông tập trung hỏa pháo bắn vào thuyền vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga. Bồng Nga chết tại trận, quân Chiêm tan tác như rắn mất đầu, vội rút về nước không dám gây sự nữa. Chiến công này đã cứu Thăng Long khỏi tai họa bị tàn phá. Ông được phong làm Long Tiệp Bổng thần Nội vệ Thượng tướng, tước Vũ tiết quan Nội hầu và được ban thái ấp ở vùng Kẻ Mơ, phía nam kinh thành Thăng Long.

Năm 1399, thấy Hồ Quý Ly chuyên quyền, giết vua Trần Thuận Tông, ông cùng một số vương hầu nhà Trần mưu sát Hồ Quý Ly trong hội thề ở núi Đốn Sơn (xã Cao Mật, huyện Vĩnh Lộc). Việc bị bại lộ, hơn 730 người bị giết. Người đời truyền rằng khi sắp bị chém, Trần Khát Chân gào thét ba tiếng. Chết qua ba ngày sắc mặt vẫn như còn sống.

Tại nơi ông bị hành hình, sau có đền thờ ở làng Phương Nhai và ở sườn núi Đốn Sơn. Ba tổng Cao Mật, Bỉnh Bút, Nam Cai có tới 29 làng cúng tế. ở Thăng Long, dân vùng Kẻ Mơ cũng lập đền thờ, tạc tượng đá, dựng bia ghi nhớ công đức của ông. Hiện nay, ở Hà Nội có đường phố mang tên Trần Khát Chân.
Nguyễn Quang Ân
Mắt Buồn  
#883 Posted : Tuesday, January 25, 2011 6:05:28 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,725

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Tản Mạn Về Cầu, Bắc
Huỳnh Ái Tông


Không có một cái móc nào để tôi nhớ được hồi thuở nhỏ, vào năm nào tôi đã được theo mẹ lên Sàigòn để thăm anh tôi. Có lẽ vào năm 1948, thuở đó muốn đi Sàigòn, duy nhất chỉ có hảng xe đò Thành Long chạy đường Sàigòn-Châu đốc mỗi ngày một chuyến.

Xe phải chạy từ Châu đốc xuống Long Xuyên qua bắc Cần Thơ rồi bắc Mỹ Thuận, sáng sớm xe chạy, không kẹt bắc, kẹt cầu cũng phải ba, bốn giờ chiều mới đến, khi nào kẹt đoàn "công-voa" xe nhà binh Pháp, hai mươi hay ba mươi chiếc "cam-nhông" thì phải lâu hơn, thời đó xe đò rất ít nên nạn kẹt xe, chỉ tại đám xe nhà binh Pháp mà thôi.

Ở bắc thì chiếc cầu nổi nhỏ xíu, phà thì chỉ lên xuống một chiều, mỗi chiếc phà chỉ chở có hai chiếc xe. Để được an toàn, trên chiếc cầu nổi người ta làm một bàn xoay, xe chạy xuống cầu nổi là nằm gọn trên bàn xoay, có mấy công nhân dùng tay đòn để xoay một cái trụ quay, trụ này sẽ vận chuyển bàn quay làm cho chiếc xe quay đầu lại, rồi tài xế chạy lùi xe xuống bắc để khi sang bên kia bờ, xe chạy thẳng lên bờ dễ dàng. cũng như ngày nay, khi xe qua bắc trên xe chỉ có trẻ con và người già yếu mà thôi. Vì ít xe, nên có khi một, hai giờ mới có một chuyến bắc.

Việc qua bắc gây ấn tượng cho tôi đến ngày nay còn nhớ là tôi ngồi trên xe, mẹ tôi xuống xe qua bắc, khi xe tôi xuống bắc, nhìn tới nhìn lui không thấy mẹ, tôi bỏ xe định chạy lên bờ tìm mẹ, khi chạy lên được nửa nhịp cầu sắt, có một người mặc đồng phục kaki màu vàng đi ngược chiều, chận tôi lại hỏi:

- Thằng nhỏ! Mầy chạy đi đâu vậy?
- Tui đi kiếm má tui!
- Má mầy ở đâu mà kiếm?
- Má tui đi xe Thành Long, xe xuống mà tui không thấy má tui.
- Má mầy đi qua bên kia rồi! Mầy phải xuống bắc theo xe, không được chạy lên bờ! Mầy lên bờ, bắc sẽ chạy, vậy là mầy sẽ lạc má mầy! Nghe lời tao, chạy trở lại xuống bắc mau lên.

Nhờ có người đó, chắc là nhân viên ở bến bắc, họ có kinh nghiệm trẻ con hay bị lạc cha mẹ như tôi, nên đã chận tôi lại, đuổi tôi xuống bắc. Nếu không nhờ người nhân viên đó, xe qua bờ bên kia mà không có tôi, xe không thể chờ chuyến bắc sau đến một, hai tiếng đồng hồ, lúc ấy mẹ tôi phải bỏ xe ở lại tìm tôi, rồi đâu phải như ngày nay có nhiều xe để đi tiếp, nghĩ đến chuyện này làm tôi nhớ đến một người đã đi bộ từ Sàigòn về đến quê tôi. Người đó là cô sáu Hòa, hàng xóm của tôi. Năm 1945, cô sáu Hòa lên Sàigòn thăm con, chiến cuộc xảy ra năm đó, không có tàu bè, xe cộ, cô muốn trở về quê, có chết được nằm cạnh ông bà, thế là cô một thân một mình lội bộ về quê. Hồi đó, tôi từng được nghe cô kể về thành tích của mình vượt qua bao nỗi khó khăn trong thời buổi chiến tranh loạn lạc, kẻ đi đường xa lạ có khi bị bên này tình nghi là Việt gian, bên kia là Việt minh thế là mất mạng, biệt tăm, mất tích!

Tôi không hiểu cho đến khi nào thì có tuyến đường Châu đốc - Vàm Cống - Mỹ Thuận - Sàigòn, năm 1956, khi tôi dự trại Hè học sinh toàn quốc tại Vũng Tàu thì tuyến đường này đã có, đã có bắc 2 chiều, mỗi chiếc chứa đến bốn xe đò, cầu nổi lớn hơn và không có bàn quay nữa.

Hảng xe đò vàng hiệu Thành Long không còn nữa, thay vào đó là hảng xe Công Tạo, xe chạy tốc độ nhanh hơn, ở Sàigòn đi lúc 6 giờ, về đến Châu đốc có khi 11 hay 12 giờ. Rồi sau này thêm hảng xe Tam Hữu, Thuận Thành. Bến xe Châu đốc nằm bên cạnh Bồ Đề Đạo Tràng.

Còn bến xe Sàigòn, lần đầu tiên tôi đến nằm trên đường Nguyễn Thái Học ngày nay, khi tôi đi trại ở Vũng Tàu, bến xe Lục tỉnh đã dời về đường Pétrus Ký, nay là Lê Hồng Phong, cho đến đầu thập niên 70 mới dời ra Xa Cảng Miền Tây.

Tôi không biết thuở nhỏ, lúc tôi đi Sàigòn bắc có chạy ban đêm không, nhưng từ năm 1956 tôi lên Sàigòn học thì bắc có chạy ban đêm, khuya bắc ngưng chạy từ 12 giờ cho tới 2 giờ.

Những năm Sàigòn giới nghiêm ban đêm, quốc lộ 4 không an ninh, ban đêm phải có xe "com-măng-đô-ca" thường xuyên chạy từ Mỹ Tho đến Mỹ Thuận để giữ an ninh. Sau đó có thời gian bắc ngưng chạy từ 10 giờ đêm cho đến 4 giờ sáng.

Những năm thanh bình đi xe đêm từ Sàigòn về Châu đốc rất thú vị, đi học ra, 7 giờ lên xe, 12 giờ hay trễ lắm là 1 giờ về tới Châu đốc, cái thú là đến bến bắc, lúc chờ đợi, xuống cầu bắc ngồi trên trên cọc sắt dùng để móc giữ chiếc bắc vào cầu nổi, ngồi đó đêm mát lạnh, trên bầu trời xanh thẳm, trăng sáng vằng vặc, dòng nước lững lờ trôi, xa xa bên kia bờ vài bóng đèn đêm leo lét ẩn hiện trong tàng cây, đêm thật êm đềm.

Bắc Mỹ Thuận cũng như Cần Thơ, ngày càng nhiều xe cộ, từ những chiếc bắc nhỏ V-50 họ đóng những chiếc V-100 rồi sau cùng là V-200 chở được mỗi lần chừng 12 chiếc xe tải lớn. Vậy mà trước 1975 vẫn có nạn kẹt bắc thường xuyên ở Mỹ Thuận.

Quốc lộ 4 chỉ được mở mang thêm vào giữa thập niên 60, đường Bắc Mỹ Thuận - Bắc Vàm Cống đang triển khai, đổ đất nửa chừng rồi bỏ dở sau khi Cộng sản chiếm miền Nam, những năm 1980, đường ấy như bị bỏ hoang không tu sửa, ổ gà bằng cái nia, manh đệm. Xe đò bị đưa vào quốc doanh, chạy đường Châu đốc, Long Xuyên - Sàigòn phải qua bắc Cần Thơ, Mỹ Thuận. Dần dần có Công tư hợp doanh hay Hợp tác xã, một số xe Châu đốc, Long Xuyên dùng bắc An Hòa, Cao Lãnh, tránh Cần Thơ, Mỹ Thuận. Đường Tân Châu - Sàigòn xe chạy Sàigòn - Hồng Ngự rồi dùng bắc qua Tân Châu.

UserPostedImage

Cầu Mỹ Thuận khởi công ngày 6-7-1997 và hoàn tất cho xe lưu thông ngày ngày 2-5-2000, do Úc viện trợ 66% là 90.66 triệu dô la Úc

UserPostedImage

Cầu Cần Thơ khởi công ngày ngày 25-9-2004 thoạt đầu dự kiến hoàn tất sau 50 tháng tức vào tháng 12-2008, nhưng trong khi thi công, ngày 26-9-2007 các trụ 13, 14, 15 bên phía Cần Thơ bị sụp đổ gây tử thương 50 công nhân và thương tật 80 công nhân khác, đến 25-8-2008 bắt đầu xây dựng lại các trụ từ 13 đến 15, đến ngày 3-10-2009 dầm thép cuối cùng bề ngang hơn 7m nặng 85 tấn, được lắp ghép thành công, nối liền cầu, nhưng còn những công trình phụ khác sẽ tiếp tục, dự kiến đến 31-3-2010 sẽ thông xe. Công trình này do Nhật viện trợ 85%, vốn dự kiến năm 2001 là 4,832 tỉ đồng VN.

Rồi đây, những chiếc bắc Cần Thơ không còn sử dụng nữa, nó sẽ chuyển về Vàm Cống hay Cao Lãnh. Người ta nói cầu Cần Thơ sẽ giúp ích cho dân miền Tây, nhưng chắc là hữu dụng cho những tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Còn người Châu đốc Long Xuyên vẫn sử dụng bắc Vàm Cống hay bắc An Hòa và Cao Lãnh để đi Sàigòn vẫn phải sử dụng hai chiếc bắc. Chỉ trừ khi nào dân An Giang muốn tham quan cầu Cần Thơ mới đi đường Cần Thơ, Mỹ Thuận.

Hơn sáu mươi năm qua, từ Tây cho đến ta, bao nhiêu lần tôi qua bắc Cần Thơ, Mỹ Thuận, hai nơi đó dựng nên cầu, bây giờ tôi phải đi qua hai con bắc khác là Cao Lãnh, An Hòa. Những khi kẹt phà, đợi bắc thời gian dài vô kể, nhưng cũng có đôi khi được nhìn trời, nhìn nước mênh mông, biết bao nhiêu kỷ niệm đã theo sông ra biển. Có những hôm đến Vàm Cống, chưa có bắc qua sông, ngồi ăn một tô bún tôm càng nướng với nước mắm và rau sống đậm đà hương vị đồng quê. Lại có những hôm đến đó, chạng vạng tối bắc vừa ra bến, hành khách muốn về sớm, xuống đò ngang, đò chạy máy đuôi tôm, ra sông sóng vỗ vào mạn đò đôi khi ướt cả áo quần, vậy mà vẫn vui.

Sau này, rất nhiều lần tôi đi xe đêm, về tới Cần Thơ không còn xe đi Long Xuyên hay Châu Đốc, tôi đi xe Lam từng chặng đường rồi cũng về tới quê, ngã lưng nằm xuống ở nhà mình cảm thấy về tới chốn,không khí gia đình ấm áp lạ thường.

Cho nên nghe tin Cầu Cần Thơ sẽ thông thương, tôi nghĩ nó không giúp ích chi mình, nhưng nó gợi cho tôi biết bao kỷ niệm từ thuở ấu thơ, thanh niên cho tới tuổi bạc đầu, sáu mươi năm cuộc đời! Còn gì nữa?

UserPostedImage
Huỳnh Ái Tông 15-10-2009

Hoàng Thy Mai Thảo  
#884 Posted : Thursday, January 27, 2011 1:16:40 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,612

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Tại sao lại cúng Táo Quân vào ngày 23 tháng Chạp?
Thế gian một vợ một chồng
Chẳng như vua bếp hai ông một bà (ca dao)


Xưa có hai vợ chồng son, nhà nghèo sống bằng nghề làm mướn. Một năm trời làm đói kém khắp nơi, người chồng từ biệt vợ đi kiếm ăn nơi khác, hẹn sau 3 năm không về thì vợ đi lấy chồng khác.

Người vợ ở nhà may mắn được một nhà giàu cưu mang nên thoát khỏi trận đói. 3 năm qua chồng nàng vẫn không về. Vợ người chủ qua đời. Sau 3 năm đoạn tang, nàng chờ thêm 1 năm nữa mới nối duyên với ông chủ tốt bụng. Được 3 tháng thì chồng cũ trở về, tìm đến an ủi và từ biệt. Người vợ nài nỉ và người chồng mới xin trả lại vợ, nhưng chàng nhất quyết ra đi. Rồi chàng treo cổ tự vẫn. Người vợ cảm thấy vì mình mà chồng cũ chết nên trầm mình xuống ao. Người chồng mới cũng tự dằn vặt mình nên uống thuốc độc tự tử.

Chuyện tình của họ làm Diêm vương cảm động, ngài đã hóa phép cho họ thành ba ông đầu rau để ngọn lửa luôn đốt nóng tình yêu và họ được sống gần nhau mãi mãi. Đồng thời phong cho 3 người chức Táo Quân trông nom bếp núc của từng nhà trên trần thế… coi sóc cuộc sống. Và cứ 23 tháng Chạp hàng năm thì cưỡi cá chép lên thiên đình bẩm tấu với Ngọc Hoàng mọi việc tốt xấu của gia chủ. Từ đó người dân Việt Nam lấy ngày này làm Tết Táo Quân.

(Theo Truyện cổ tích Việt Nam
do tác giả Nguyễn Đổng Chi biên soạn)
hongvulannhi  
#885 Posted : Friday, January 28, 2011 7:15:26 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,838

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

UserPostedImage
Hồng Vũ Lan Nhi
Mắt Buồn
Linh Phượng
Hoàng Thy Mai Thảo
Hà Phương Hoài
Lang Thang Từ Bích
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#886 Posted : Friday, January 28, 2011 8:12:23 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,838

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

UserPostedImage
Cố Quận
QUANG DŨNG

Trăng sáng sân vờn đôi bóng cau
Ngồi đây mà gửi nhớ phương nào
Gió mát long lanh vầng Bắc đẩu
Tiết hè ếch nhái rộn bờ áo

Ngồi đây năm năm miền ly hương
Quê người đôi gót mỏi tha phương
Có những chiều trăng tròn đỉnh núi
Nhà ai chày gạo giã đêm sương

Tịch mịch sầu vơi bèo râm ran
Chuối vườn khuya lọt ánh trăng tàn
Người ơi quê cũ đèn hoe ngọn
Tóc bạc trông chừng cổng héo hon

Ngõ trúc quanh quanh sâu bóng lá
Trăng vàng rơi rắc nẻo nào xưa
Ngõ cũ không mong người trở lại
Mà mùi hoa mộc vẫn thơm đưa

Em ơi! Em ơi! Đêm dần vơi
Trông về phương ấy ngóng trông người
Trăng có soi qua đầu tóc bạc
Nẻo chừng cố quận nhớ thương ơi?

Trăng sáng năm năm mùa lại mùa
Hạ này vơi lại nhớ thu xưa
Người đi người đi đường quạnh quạnh
Ngày tháng thương vay kẻ đợi chờ.
QUANG DŨNG 1940
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#887 Posted : Saturday, January 29, 2011 5:57:37 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,838

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
NHỮNG VẦN THƠ ĐÓN XUÂN

Thoáng đấy mà chàng đã xa quê hương hơn ba mươi cái Tết. Chưa một lần trở lại quê hương, mặc dù người thân trong gia đình giục giã chàng về. Cha mẹ chàng đã khuất núi từ lâu, mấy anh cũng đã mất, chỉ còn hai chị nay tuổi đã cao. “Em ạ, có dịp em về chơi để các chị gặp em lần chót vì tuổi già, chẳng biết lúc nào…” “Vâng, em cũng nhớ quê hương và nhớ các chị lắm. Em muốn được nhìn lại ngôi nhà mẹ sinh em ở đó, ngôi nhà ông bà nội và thầy mẹ dựng lên. Em muốn đi trên con đường làng tới khu đình, tới ngôi trường tiểu học em học khi xưa (ông thầy giáo dạy em chắc nay chẳng còn); em cũng muốn thăm ruộng đồng và con sông chảy qua làng, cầm nén nhang ra thắp trước mộ thầy mẹ và ông bà nội, thăm ngôi giáo đường nhỏ đã dầm dãi với nắng mưa cả thế kỷ; thăm ngôi chợ phiên khi xưa mẹ vẫn bán hàng xén và mỗi buổi chiều em đứng cổng ngõ chờ mẹ đi chợ về với món quà như bánh đa kê, bánh nếp, bánh giò, bánh rán…trao cho em với nụ cười thật tươi trên môi. Em cũng muốn nhìn lại những bức trướng liễn treo trong nhà mình mà chữ viết trên đó là đại tự của thầy. Em muốn coi lại hết mọi thứ em đã nhìn ngày xưa sau hơn nửa thế kỷ em xa quê, nghĩa là từ cuộc di cư 1954… “Vậy thì về đi chứ em!”

Chàng thương hai chị, gửi quà bánh nhưng nói đến về chàng lại ngại. Giả sử còn cha mẹ…Vả lại, chàng cũng đã đi vào tuổi già, còn trẻ trung gì đâu!

Ngày Tết nơi đất khách phải nói là tẻ nhạt và buồn! Chàng nhớ cha mẹ, nhớ các anh các chị, các cháu. Khi xưa mỗi độ Xuân về, cùng cha mẹ đi chúc Tết ông bà nội ngoại, chàng tung tăng như con chim non vừa rời tổ, nhìn cái gì cũng đẹp, thức ăn gì cũng ngon, làng xóm đâu cũng vui, tấp nập và rộn rã.

Nhớ nhất là những đêm 30 tháng chạp, ngoài trời rét căm căm, cả nhà ngồi đón Giao thừa bên nồi bánh chưng sôi sùng sục. Có Tết cha mẹ chàng đến nhà ông bà ngoại bên Đông thành, Thái bình; có Tết lại ở ngay làng quê với ông bà nội; con cháu bên nào cũng đông cả ba, bốn mươi người xum họp đầm ấm, tiếng cười nói rộn rã mấy gian nhà. Lửa nấu bánh bập bùng trong gian bếp, gió heo may rào rạt thổi ngoài vườn làm những tàu lá cau cọ vào nhau nghe xào xạc. Ông ngồi kể chuyện cổ tích cho con, cháu nghe như Sự tích bánh chưng, bánh dày; chuyện Trầu Cau, chuyện Phù Đổng thiên vương, chuyện ăn khế trả vàng v.v… Mọi người ngồi nghe đợi Giao thừa lên nhà trên, gian chính giữa dùng làm phòng khách, nơi đó đã thiếp lập bàn thờ có bài vị tổ tiên, con cháu dâng hương, lòng thành nhớ ơn tổ tiên và khấn vái các Ngài …về vui Xuân với con, cháu.

Bánh pháo Giao thừa nổ đẹt đùng khắp làng trên xóm dưới báo hiệu năm mới đã sang, mọi người cầu chúc nhau sức khoẻ dồi dào và những điều tốt đẹp.

Ngày mồng 1 Nguyên Đán thường có thi bơi chải dưới sông, thi đánh roi, quyền cước và đô vật ở sân đình. Ngày mồng 2, nấu cơm thi, đôi khi các cụ chơi bài chòi cờ tướng. Những đứa trẻ như chúng tôi, nhất là con trai sính võ nghệ, chúng tôi không bỏ môn thi đấu nào. Giờ này quan sát đàn anh bắt chước những ngón hay để sau này mình cũng có dịp biểu diễn sau khi đã học tập đầy đủ từng bộ môn, từng thứ hạng tựa như đai vàng, đai nâu, đai đen của võ Judo và võ Đại Hàn.

Cũng có năm được mùa, dân làng ngả trâu, giết bò, mổ lợn chia thịt cho khắp mọi nhà cùng hưởng lộc trời ban. Ai nấy mặc quần áo mới và đẹp, dáng điệu nghiêm trang, trịnh trọng. Những đứa trẻ đầu còn để trái đào, súng sính những bộ quần áo mới, mặt tươi hơn hớn đi cạnh cha mẹ đến mừng tuổi ông bà, chú bác, cô dì rồi nhận những đồng tiền mừng tuổi. Ai cũng giữ lời ăn tiếng nói sao cho lịch sự và vui vẻ trong những ngày đầu năm. Những đứa trẻ hay nói tục ngày hôm nay cũng phải sửa đổi.

Bài thơ sau đây mô tả lại những háo hức của tuổi trẻ thời xa xưa ấy:

Tết Quê Xưa

Tôi lang thang trên vỉa hè Nữu Ước
Trưa mồng 1 đúng ngày Tết năm Dần
Nhìn phố phường lòng nhung nhớ bâng khuâng
Ngày hôm nay, quê tôi mồng 2 Tết!
Thuở thiếu thời mừng Xuân vui hết biết
Cùng mẹ cha đi mừng tuổi họ hàng
Quần áo đẹp, giầy mũ diện thật sang
Túi rủng rỉnh những đồng tiền mừng tuổi!
Ba mươi Tết dạo chợ hoa cả buổi
Nào thược dược, hoàng cúc với thủy tiên
Những cành đào trong gió sớm cười duyên

Nũng nịu cánh mai vàng đang gọi Tết!
Mẹ đã ninh chục bánh chưng, bánh tét
Vại giưa hành, nồi thịt lợn nấu đông
Ngay trước sân, xác pháo nổ đỏ hồng

Bố cắm nêu, chiếc khánh sành ru gió!
Người lại qua, dập dìu ngay truớc ngõ
Câu chúc mừng năm mới sẵn trên môi
Dăm cô gái quê, môi má đỏ bồi hồi

Nghe câu hò những chàng trai thôn dã!
Ngoài sân đình, thanh niên chạy việt dã
Rồi đô vật, quyền cước, đấu roi thi
Chục chiếc thuyền, ông thuyền trưởng uy nghi

Sắp bơi chải, sẵn sàng đoàn trai tráng!

Cuộc thi đua để còn phân thứ hạng
Và mồng 3 những mâm cỗ dự thi
Các chủ nhân, những thôn nữ mong gì?
Được chấm nhất là đắt chồng, mau mắn!

Làng quê tôi khi hoa đào nở thắm
Đón Xuân về, vui nồng ấm thôn trang
Đến nửa dêm còn nghe trống thúc vang
Hát Quan họ, hát chia phe trai gái!

Nửa thế kỷ, xa quê, tôi đi mãi
Nhớ làm sao bao kỷ niệm ấm lòng
Cha mẹ tôi, còn tựa cửa ngóng trông?
Đứa con trai, biệt phương trời, ngày ấy!

(tđn)

Ngày vui qua mau! Tuổi hồn nhiên không còn ở mãi với tôi. Những ngày ảm đạm bắt đầu.

Chiến tranh đã cướp đi những ngày vui ấy. Chiến tranh đã phủ lên non sông một lớp khăn tang trắng xóa như trên mái đầu những góa phụ và các trẻ thơ. Chàng trai trẻ ra đi vào ngày cuối cùng khi chiến cuộc vừa tàn với những nhức nhối day dứt khôn nguôi. Cái Tết này là cái Tết thứ 35 của cuộc đời tị nạn.

Ngày đầu năm, cảm khái trong lòng, chàng lấy bút giấy ghi lại:

Năm Mới Xứ Người

Năm mới xứ người bình lặng quá!
Tôi ngồi nhớ lại những năm xưa
Tiếng pháo Giao thừa sao rộn rã
Tiếng cười, tiếng tí tách hạt dưa…

Trống làng thùng thùng đang réo gọi
Thầy tôi kính cẩn đứng giữa sân
Thắp hương chăm chú nhìn riêng cõi…
Như có hồn thiêng của tiền nhân

Sáng mồng một chúc tuổi ông bà
Đầy đàn con cháu khắp gần xa
Nhân ngày Nguyên đán về họp mặt
Những tấm lòng, quà bánh phương xa!

Nhiều năm tôi đã đi biệt xứ
Tết đến làm chi khiến não lòng
Quê hương thuở ấy bao tình tự
Có cảm thông cùng kẻ lưu vong?

Tết đến mai vàng càng gợi nhớ
Những cành đào vui gượng, lẻ loi
Lan với thủy tiên nhìn bỡ ngỡ
Ngậm ngùi bao xa cách, chia phôi!

(tđn)

Nhiều người tại hải ngoại đã về thăm quê hương. Người bạn quen tôi về, người em họ của tôi cũng về. Tôi gửi em cả tấm lòng, nhờ em hãy mang về nơi chôn nhau cắt rốn giùm tôi.

Em hãy đi thăm con sông chảy qua làng đục ngầu phù sa. Kia là cái giếng dân làng ra lấy nước ăn, mỗi buổi chiều đầy những thiếu nữ quảy đôi hũ sành gánh nước về nhà. Thăm giùm tôi bờ đê chạy dài tới chân trời, đi xuyên làng này sang làng khác, mỗi khi nước lũ về ai nấy sợ vỡ đê mà đã một lần làng bị. Tiếng trống hộ đê dồn dập ba tiếng một vang lên. Cả mõ, chuông nhà thờ và chuông chùa. Khẩn cấp! Khẩn cấp! Đàn ông trong tổng và cả đàn bà chạy nhanh ra bờ đê, xắn cao ống quần, người xắn đất, kẻ vác, kẻ đội đất từ trong ruộng đắp lên bờ đê cho cao cho chắc để ngăn nước. Hàng ngàn cây tre dài được đóng xuống để giữ cho chân đê chắc trước khi đổ thêm đất. Nước càng dâng cao thì lòng người càng hồi hộp, đất đắp mãi vào cho bờ đê cao và dầy hơn để ngăn nước lũ. Khi nào cảm thâý đê đã vững, nước lũ không phá được thì người người mới lơi tay để nghỉ, ăn uống lấy lại sức. Nếu nước tràn vào làng, vào ruộng được là năm đó nhìn thấy cái đói, cái rét, khổ sở vô cùng! Làng tôi chỉ sống bằng cây lúa, lúa bị lũ lụt phá thì còn cái gì làm lẽ sống nữa!

Em Về Cho Anh Gửi

Mai em về bên nớ
Cho anh gửi tấm lòng
Thăm làng quê quá nhớ
Từ lâu vẫn đợi mong

Cho anh thăm bờ ao
Thăm bụi tre, giậu rào
Thăm dòng sông nhẹ chảy
Lên tháp chùa ngắm sao

Cho anh thăm bờ đê
Cuối năm lũ tràn về
Hàng ngàn dân xẻng cuốc
Sợ đê vỡ não nề

Cho anh thăm chợ huyện
Tháng chỉ họp sáu phiên
Hàng trâu bò, kê khuyển
Lụa sản xuất riêng miền

Cho anh thăm sân đình
Dân làng vẫn cung nghinh
Nào tượng thờ Trời, Phật
Nơi thi đấu võ sinh

Cho anh thăm đồng lúa
Đều đặn có hai mùa
Tháng năm và tháng mười
Đất ngọt pha đất chua!

Cho anh thăm ngôi nhà
Của cha mẹ, ông bà
Để lại cho con cháu
Trên mảnh đất làng ta!

Nhớ ơi, sao mà nhớ!
Nơi phần mộ tổ tiên
Nơi chôn nhau cắt rốn
Kỉ niệm chẳng sao quên!

(tđn)

Chơi Xuân, hưởng Tết; riêng với con trai có cái thú uống rượu. “Nam vô tửu như kỳ vô phong” anh thanh niên không uống rượu không khác gì cờ không có gió, không bay phấp phới ngạo nghễ được. Các cụ ta quan niệm thanh niên phải có rượu mới là thanh niên hùng dũng, khoẻ mạnh. Phụ nữ xưa cả đời không uống rượu. Thanh niên không biết uống rượu có khác gì phụ nữ, những người chân yếu tay mềm, không phải là nam nhi chi khí! Hội Xuân, cúng đình hay làng vào đám bao giờ cũng có ngả trâu hoặc bò, hay lợn và có rượu (thứ rượu trắng quê ta cất lấy xưa kia, ngon và bổ) bởi chén rượu là đầu câu chuyện trong những bữa tiệc, khao vọng, mừng rỡ, đón Xuân ở trong làng, trong tổng.

Nào mời !

Nào mời bạn nâng ly!
Hãy quên mọi thứ đi
Quên đất trời mưa nắng
Quên quá khứ gian nguy

Quên thân phận con người
Ông Trời luôn trêu ngươi
Quên đất bằng nổi sóng
Quên tiếng khóc, tiếng cười!

Hãy uống cho thực say
Để nhớ lại những ngày
Bên gia đình êm ấm
Chan chứa mộng vơi đầy!

Ngày mai ta lên đường
Dò theo ánh thái dương
Bằng lòng với vũ trụ
Gò lưng giật giây cương!

Hỡi người bạn tâm tri
Quên đời quên người đi
Nào cùng nhau cạn chén
Và quên hết sầu bi!

(tđn)

Tài tử với giai nhân luôn có nhiều gắn bó. Họ được sinh ra cho nhau và để yên ủi nhau vì cuộc đời có nhiều bất trắc, rủi nhiều hơn may, bận lòng nhiều hơn thanh thản. Nhưng họ hiếm khi được hưởng hạnh phúc lứa đôi cùng nhau như Roméo-Juliette, tướng Trần khắc Chung với Huyền Trân công chúa, danh sĩ Phạm Thái với Trương Quỳnh Như, Kim Trọng với Thúy Kiều v.v…Họ thường bị lạc nhau giữa chợ đời.

Họ mong Xuân sang để được gặp lại nhau, mang lại hạnh phúc lứa đôi cho nhau bởi hạnh phúc lứa đôi là lẽ sống của con người.

Bao Giờ Xuân Sang ?

Mùa Xuân tôi sống làng Yên
Một hôm lạc lối tôi lên Vân Hàng
Vào hè tôi sống với nàng
Hiu hiu gió mát, trăng vàng dạo chơi
Mùa Thu mây ở muôn nơi
Giã nàng tôi muốn vào chơi động vàng
Mùa Đông trở lại kiếm nàng
Để mùa Xuân tới có nàng bên tôi
Tôi như một áng mây trôi
Xuân, Thu, Đông, Hạ biết nơi nào tìm
Còn nàng mải miết cánh chim
Tôi đi biển Bắc nàng tìm biển Nam
Bao giờ Xuân mới lại sang?
Để tôi đi đón nàng về với tôi!
Nàng kia, tim đập bồi hồi
Tôi nghe rộn rã một trời đắm say
Em ơi, ta hãy nắm tay
Hưởng muôn hạnh phúc bõ ngày cách chia!

(tđn)

Kể ra những trò chơi ngày Tết còn nhiều, kể đến “tối” cũng chưa hết nhưng bài báo Xuân có hạn, xin hẹn quí bạn đọc một dịp khác, chúng ta lại trà dư tửu hậu, kể những chuyện lý thú cho nhau nghe lúc giao mùa!

Tết Hải Ngoại

Bút Xuân Trần Đình Ngọc

(Những bài thơ trên trích từ 3 Thi tập Như Áng Mây Trôi I và II và Nắng Quê Hương tác giả Trần Đình Ngọc
Tác giả Trần Đình Ngọc
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#888 Posted : Sunday, January 30, 2011 8:25:25 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,612

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
NHỮNG TẾT NĂM XƯA TRÊN QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU

MƯỜNG GIANG


Tết Nguyên Ðán là một trong những lễ hội thiêng liêng nhất của dân tộc Việt. Ngay từ buổi bình minh dựng nước, thời họ Hồng Bàng trị vì cách đây hơn mấy ngàn năm, tổ tiên ta đã biết tổ chức các cuộc vui mừng xuân, tuy đơn sơ mộc mạc nhưng thắm đượm tình tự dân tộc.

Thế rồi đất nước không may đắm chìm trong địa ngục Bắc thuộc suốt ngàn năm đô hộ của giặc Tàu. Tuy sử không nhắc tới thảm tuyệt đau hận nhục hờn, mà người nô lệ Việt gánh chịu, chúng ta cũng có thể hình dung được số phận của dân tộc lúc đó ra sao, qua bức tranh vân cẩu hiện thực của chế độ toàn trị CSVN ngày nay. Năm 938 sau Tây lịch (STL), Ngô Vương Quyền đánh tan quân Nam Hán trên Bạch Ðằng Giang, cởi ách nô lệ cho dân tộc, mở đầu kỷ nguyên độc lập tự cường cho VN.

Nhưng phải tới năm 1010 Lý Thái Tổ dựng lên nhà Hậu Lý, chỉnh đốn triều cương ban hành luật pháp, thì xã hội nhân tâm mới được ổn định, an hưởng thái bình. Cũng từ đó Phật giáo được chọn làm quốc giáo đồng hành với Nho và Lão, ảnh hưởng trực tiếp tới các phong tục tập quán của dân tộc Việt. Tết Nguyên Ðán vì thế cũng mang những sắc thái mới, chẳng những trong chốn cung đình mà còn phổ quát khắp dân gian. Do tính chất thiêng liêng cao quý trên, nên người Việt dù sống trong hoàn cảnh nào cũng không bao giờ quên những ngày tết, thậm chí ngay lúc phải sống lưu vong hay tha phương cầu thực nơi xứ người.

Trên đất Bắc từ sau năm 1955 và cả nước sau ngày 30-4-1975 dưới ách thống trị của cộng sản Hà Nội, những ngày tết đến trong sự buồn bã tủi nhục, vì đã mất hết ý nghĩa thiêng liêng cao quý, truyền thống ngàn đời của dân tộc. Sau năm 1990, đệ tam cộng sản quốc tế từ Liên Xô, Ðông Âu tới Ðông Ðức và nhiều nước khác trên thế giới lần lươt sụp đổ. Ðể cứu đảng cứu mạng, Hà Nội hoan hĩ cuốn rèm sắt, mở cửa quan, trải thảm đỏ quỳ gối cúi đầu rước tư bản luôn cả người Việt tị nạn về nước thăm nhà.

Trong nước, để xoa dịu sự căm hận tột cùng của hơn 80 triệu đồng bào đang bị kềm kẹp bóc lột, ngụy quyền Hà Nội giả bộ nới lỏng vòng xiết, nhắm mắt làm lơ để các cơ sở tôn giáo như chùa chiền, nhà thờ mở cửa hoạt động trở lại bên cạnh những sinh hoạt xã hội.

+ Tết Nguyên Ðán : Ngày Thiêng Liêng Trong Ðại .

Theo các nguồn sử liệu, thì dân tộc Việt hiện nay là một trong những bộ tộc thuộc Bách Việt ở phía nam sông Dương Tử (Trường Giang). Truyền thuyết trên nay vẫn còn được nhắc nhớ qua bài ca dao truyền khẩu, mà các bà mẹ VN thường dùng để ru con ngủ

“ Gió Ðộng Ðình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Ðường ấp ủ năm canh
Tiết trời thu lạnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ , hoa cành thương đông
Bống bồng bông, bống bồng bông
Võng đào mẹ bế, con rồng cháu tiên..”

Cũng chính trên khu vực Trường giang thất tỉnh này, Bách Việt hay Viêm tộc đã xây dựng nên một nền văn minh rực rỡ. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Bách Việt cùng với Hán tộc đã tranh bá đồ vương lừng lẫy một thời. Cô Tô thành nay thuộc tỉnh Triết Giang là nơi bắt nguồn của nền văn minh văn hóa Bách Việt, từ ngàn xưa đã có nhiều phong tục tập quán tốt đẹp tron đó có Tết Nguyên Ðán vẫn còn giữ được nét cổ truyền độc đáo. Vì vậy ta không ngạc nhiên khi thấy ngày Tết của VN và Trung Hoa có nhiều nét giống nhau

Tết Nguyên Ðán bắt đầu từ Tết Lạp Tế mở vào tháng Chạp, để kết thúc một năm làm lụng vất vã. Lễ Lạp Tế mở ra để cúng tế thần linh tổ tiên ông bà, đồng thời cám ơn thiên nhiên đã ưu đãi con người, có cái ăn cái mặc. Theo thời gian, lễ này trở thành phong tục Tết, chung qui cũng không ngoài hai mục đích “ Tống cựu, Nghênh tân”.

Với người Việt Nam dù ở miền nào chăng nữa, cứ đến cuối tháng mười một âm lịch, thì bắt đầu mua sắm chuẩn bị ăn Tết. Tại miền Bắc ngày xưa nơi các làng quê, thường có tổ chức Họ Ăn Tết (trong Nam gọi là Hụi hay Huê), gồm có Họ bánh chưng, Họ thịt, Họ gạo. Theo cách tổ chức, thì người làm cái mỗi tháng đi thâu tiền các nhà con, rồi dùng tiền đó sinh lợi. Gần Tết gom tiền lại để mua thịt gạo làm bánh phân phối đều cho các hội viên. Riêng các gia đình không tham dự, thì chuyện đầu tiên lo lắng là nồi bánh chưng phải hoàn tất trước ngày 20 tháng Chạp. Ngoài ra còn phải có vại dưa hành, lọ cũ kiệu.. để ba ngày Tết ăn chung với thịt mỡ, bánh chưng. Cũng không thể thiếu được nồi cá kho quấn rơm, ũ trấu. Các gia đình trung lưu khá giả thì gói thêm giò heo, giò thủ, giò lụa và đặc biệt nhà nào cũng có một con gà trống thiến, để cúng đón giao thừa.

Tại miền Nam khi cái lạnh của mùa đông sắp dứt, nhường chỗ cho nàng xuân nõn nường trở về cùng nhân thế, cũng là lúc mọi người lo Tết theo phong tục cổ truyền. Nếu trên đất Bắc, nồi bánh chưng là món ăn tượng trưng của Tết, thì trong Nam món bánh tráng là đặc sản của xuân. Bởi vậy từ đầu tháng Chạp, nhà nào cũng lo đặc bánh tráng cùng lúc với với việc làm mứt dừa, khiến cho các lò bánh làm việc tối đa, vẫn không ứng kịp với nhu cầu của khách hàng. Theo tập quán thì bánh tráng không những là món ăn chính trong ba ngày Tết, mà còn là quà quý để tặng cho thân bằng quyến thuộc tại thị thành, cho nên nhà nào cũng phải có.

Người Việt, Hoa và nhiều dân tộc thiểu số sống ở miền thượng du Bắc phần, dọc theo biên giới Hoa Việt như Nùng, Mán, Mèo, Thái, Mường .. có chung phong tục đưa Táo quân về trời đêm 23 tháng Chạp. Tương truyền Táo quân vốn bị điếc, nên khi đến thiên đình thường tấu trình sai lệch chuyện thế gian. Vì vậy trên bàn thờ Táo nơi nhà bếp đặc biệt tại Hà Tiên, trong các lễ vật cúng kiến lúc nào cũng có xôi, chè, kẹo mạch nha.. để ‘ hối lộ ‘ cho ngài được ngọt miệng, bớt tấu rỗi. Ngày nay sự cúng kiến có phần nào thay đổi theo phong tục địa phương. Với người Việt, ngày 23 tháng Chạp là ngày vía chung của Táo quân, Thổ địa và Thổ kỳ. Hôm đó nhà nào cũng làm mâm cơm cúng ba vị thần trên thật thịnh soạn. Riêng Táo quân còn có thêm cặp cá chép để làm ngựa cởi về trời.

Tục cúng Táo quân bắt nguồn từ nhiều truyền thuyết dân gian, tôn giáo.. trong đó có câu chuyện tình thương tâm, giữa hai người đàn ông và một người đàn ba tên là Trọng Cao, Phạm Lang và Thị Nhi. Họ cùng là vợ chồng và đều chết chung trong biển lửa để giữ tròn tiết nghĩa phu thê. Do truyền thuyết trên, trong lễ vật cúng Táo quân thường có hai mão đàn ông màu đen và một mão đàn bà màu đỏ.

Tại Trung Hoa ngày nay còn có một miễu thờ Táo quân rất nguy nga đồ sộ ở ngoài Sùng Vân Môn thành Bắc Kinh. Ðầu tiên Táo quân của người Tàu là phụ nữ như sách Trang Tử đã viết “ Táo mặc áo đỏ hình dung như phụ nữ “ . Kế đó, qua các sách của Ðạo giáo mô tả Táo quân là một bà lão ở núi Côn Lôn có tên là ‘ Thần Hỏa Lão Mẫu Chi Quân ‘ cai quản 36 vị thần , chuyên theo dõi sinh hoạt của nhân gian, ghi chép chuyện thiện ác để Thượng Ðế căn cứ vào đó thưởng phạt. Từ nhà Hán về sau, Táo quân được thay thế là nam nhân rất được mọi người kính trọng và địa vị ngang với Thần Xã Tắc.

Sách Hoài Nam Tử viết “ Hoàng đế làm ra bếp, khi chết được phong làm Táo thần. Còn Viêm Ðế phát minh ra lửa nên lúc về trời được nhận chức Táo quân.Tóm lại dù tin vào truyền thuyết nào chăng nữa, Táo quân vĩnh cửu vẫn được tôn sùng, vì người trần vốn coi miếng ăn sánh với trời. Bởi vậy thiên hạ ai cũng trọng lửa, một hình thức cảm tạ vị thần đã ban bố cho ho nhu cầu sống hằng ngày.

Năm năm tháng tháng, lúc nào con người cũng phải ăn để sống nhưng đặc biệt nhất là bữa cơm tối ba mươi Tết, còn được gọi là bữa cơm trừ tịch, bữa cơm chia tuổi hay là bữa cơm đaòn tụ này, bởi vậy thường có thêm chén đũa dành cho người đi xa chưa kịp về quê ăn tết. Ðây là bữa cơm vui vẽ và thiêng liêng nhất trong năm nên giàu nghèo bất luận, đều có mâm cơm cổ đầy. Trẻ con hôm đó được ăn uống thỏa thích . Theo phong tục Tàu thì dù có cao lương mỹ vị đến đâu, bữa cơm tất niên không thể thiếu cá, khoai sọ và đậu phụ. Nguyên do vì món thực phẩm trên khi phát âm đều có nghĩa là dư thừa, nên đều mang ý nghĩa mong ước sang năm mới được dư giả hạnh phúc hơn năm cũ.

Trong đêm giao thừa, người Việt cũng như người Hoa có tục đốt pháo để trừ tà, xua đuổi ma quỷ. Tục này theo thời gian biến thành tập quán chào đón chúa xuân, mang đến cho nhân gian một năm mới hạnh phúc tốt lành “ Ðì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột, om xòm trên vách búc tranh gà “ Ðêm ba mươi tết, mọi nhà làm lễ rước Táo quân về lại nhân gian, cũng là lúc phong tỉnh, tức là đậy giếng nước lại không dùng cho tới ngày mùng hai tết mới được mở giếng.

Trong nhà ngoài vườn được quét dọn sạch sẽ tươm tất, tới mùng ba tết mới quết dọn trở lại, dù rác rưởi có đầy nhà cũng mặc kệ. Cuối cùng làm lễ niêm phong cửa nhà bằng hai miếng giấy đỏ có viết chữ “ phong môn đại cát “ hay “ khai môn đại cát “. Cửa sẽ mở lại sau khi cúng giao thừa.Bắt đầu từ giớ phút đó mới chính thức là năm mới. Trong gia đình, những người lớn tuổi thường mang nhang, đèn hoa quả đi cúng chùa, đình làng. Riêng thanh niên nam nữ thì du xuân hái lộc, cầu may mắn trong năm mới. Lộc thường được chọn từ những loại cây sống lâu năm như đa với mong ước được trường thọ, giàu sang và hạnh phúc.

Rồi tết cũng đến và việc quan trọng nhất trong ngày đầu năm là cúng Trời, Phật và tổ tiên ông bà. Từ nghi lễ trên, nên tất cả các bàn thờ đều trưng bày la liệt hoa quả, bánh trái và đèn nhang nghi ngút sáng choang, tạo nên không khí trong gia đình vừa trang nghiêm đầm ấm khác hẳn những ngày thường. Lúc này mọi người trong nhà, đều thức dậy, ăn mặc chỉnh tề để cúng bái thần linh và tổ tiên. Sau đó mới khai môn bằng một phong pháo dài đã được lựa chọn kỹ càng.

Cũng trong ngày mùng một tết, người Việt vẫn còn giữ nguyên phong tục xông đất đầu năm. Theo quan niệm chung của mọi người, thì đối tượng xông đất đầu năm phải là người có ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh của gia chủ trong năm như hợp duyên, hợp vía, hợp tính tình. Ngoài ra còn phải có tư cách đạo đức. Trước đây tại một vài địa phương như chợ Ðồng (Hà Nam), Phủ Giầy (Nam Ðịnh) và vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh .. đã tổ chức các phiên chợ tết đặc biệt, để mọi người tới đó bán cái dại, xui xẽo, đen đúa trong năm. Ðồng thời mua về sự may mắn phúc lợi. Vì tính chất quan trọng và vinh dự như thế, nên phải là người thân thiết hay nễ nang lắm, người ta mới tới xông đất đầu năm với quà tặng và phong pháo mừng gia chủ.

Tết còn là dịp để mọi người đi chơi, thăm hỏi và chúc mừng lẫn nhau; để trai gái có cơ hội giao tiếp, tìm hiểu. Qua “ Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư “ ta biết phong tục tết của tổ tiên Việt tộc tự ngàn xưa, đã mang tinh thần rự do phóng khoáng. Những trò chơi ngày tết như đánh đu, hát quan họ.. nói lên sự giao hảo thân mật của trai gái, một điều khó chấp nhận trong xã hội Nho giáo thời đó, luôn khắt khe cấm đoán, rình rập. Với người thiểu số tại miền thượng du Bắc Việt (Mường, Nùng, Thái, Thổ..), trong ba ngày tết còn cho phép nam nữ đá cầu, thổi kèn, hát đúm.. Tóm lại, dù cuộc vui nào chăng nữa, cũng đều được xếp đặt , để vừa phù hợp với thiên nhiên và mang lại lạc thú cho con người.

+ Một vài phong tục Tết đã mai một theo thời gian :

Gần 2 thế kỷ qua, chiến tranh không lúc nào ngưng trên đất nước Việt, khiến cho nhân tâm suy bại và cái tết cũng thay đổi rất nhiều theo thời cuộc và vận mệnh nổi trôi của dân tộc. Do đó có nhiều tập tục và thú vui ngày tết xưa chỉ còn trong nhắc nhớ của mọi người hay được ghi chép lại trong sách vở.

- Lệ Nạp Ấn và Ban Thưởng cho Triều Thần : Trước năm 1945 VN còn theo chế độ quân chủ. Hàng năm cứ đến ngày 25 tháng Chạp, từ địa phương tới trung ương, bửu ấn (ấn vua) và ấn quan được chùi rữa sạch sẽ rồi đem niêm phong và cất vào hộp khóa kỹ, dù rằng vua quan vẫn thiết triều làm việc nhưng không ký văn bảng, cho tới cuối năm mới nghĩ.. Qua tết, sau khi làm lễ hạ nêu, ấn lại được lấy ra dùng và đóng trước tiên vào những giấy tờ có liên quan tới sự thịnh vượng và may mắn của đất nước.

- Vua ban quà tặng cho bá quan văn võ : Theo Michel Ðức Chaigneau viết trong ‘ Souvenirs de Hue ‘ cho biết nhà Nguyễn từ thời vua Gia Long trở về sau (1802-1945), các quan lại trong triều không có lệ dâng quà cho vua trong dịp tết. Trái lại chính nhà vua là người ban quà cho hàng quan lại. Quà thông thường là quan phục hay vải vóc nhưng giá trị tinh thần thì tuyệt hảo và long trọng, nên ai cũng muốn lưu giữ làm báu vật suốt đời. Quà được đựng trong các hộp sơn son thiếp vàng có vẽ hình rồng, do thị vệ nội cung mang tới tận phủ đệ của các quan. Thời Gia Long (1802-1820) , giám mục Véren trong dịp tết Nguyên Ðán hằng năm, thân hành mang quà vào cung tặng vua, trong đó có dầu thơm Cologne rất được hoàng gia ưa thích.

- Tục dán Sắc Bùa cầu may : Tác giả Trịnh Hoài Ðức đã kể lại trong ‘ Gia Ðịnh Thành Thông Chí ‘ rằng tại Gia Ðịnh, hằng năm từ đêm 28 tháng Chạp trở đi, có nhiều toán Na Nhân tục danh là ‘ Nậu Sắc Bùa ‘ chừng 15 người. Họ hát dạo theo đường phố và tới những gia đình giàu có hay khá giả để dán lá sắc bùa nơi cửa, rồi niệm thần chú làm phép và hát xướng cầu chúc gia chủ may mắn, phát tài suốt nămmới. Xong việc, họ được chủ nhà khoản đãi trầu rượu và tiền thưởng. Các toán Na Nhân lại tiếp tục tới nhà khác cho tới cuối đêm trừ tịch mới dứt.

Trên đất Bắc, vào đêm giao thừa cũng có nhiều toán thiếu nhi chừng 5 - 7 em, đi chúc tết làng xóm. Ðồ nghề chỉ có hai ống nứa, một cái đựng nước cái kia có mấy đồng xu đồng hay kẽm. Các em vừa hát vừa rung ống , mang đến cho xóm làng cái không khí thanh bình an lạc, trong lúc xuân về :
“ Súc sắc súc sẻ
Nhà nào còn đèn, còn lửa
Mở cửa cho anh em chúng tôi vào..”

- Cây Nêu : Phong tục này được cả nước noi theo. Nêu được làm bằng một cây tre thẳng cao, lá được róc sạch chỉ chừa lại một it1 trên cùng. Nêu được dựng lên trong sân nhà hay trước cửa vào chiều ba mươi tết. Trên đầu ngọn nêu có treo một cái giỏ nhỏ, trong đựng cau trầu vôi và giấy tiền vàng bạc, để ém quỷ trừ tà. Ngoài ra người xưa còn căn cứ vào sự lay động của chòm lá trên đầu cây nêu để đoán thời tiết năm tới . Qua tới ngày mùng bảy tết, nêu mới hạ và mọi sinh hoạt bắt đầu trở lại bình thường.

- Tục bói chân gà : Phong tục này xuất hiện từ thế kỷ XIX, do một phụ nữ tại Hải Dương tên Nguyễn Thị Châm đặt ra. Người xem giò chặt chân một con gà còn sống, rồi căn cứ vào móng vuốt để đóan chuyện tương lai của thân chủ có liên quan tới nhà cửa, tiền bạc và vận mệnh.

+ Những Tết năm xưa trên quê hương :

Những năm tháng thanh bình thuở trước, ngươì Việt ăn tết rất vui vẽ và hưởng trọn vẹn cái ý nghĩa thiêng liêng của ngày tết Nguyên Ðán . Thông thường ở nông thôn, dân chúng vui chơi lâu hơn nguời thành thị, vì công việc đồng áng đã xong . Tết nông thôn ít đốt pháo, trừ các thôn xóm ven làng pháo Bình Ðà. Cái vui của ba ngày tết vẫn là cờ bạc được thực hiện dưới mọi hình thức, từ các sòng tổ tôm, sóc dĩa, chắn cạ ở miền Bắc, bài chòi, đổ tam hường tại miền Trung và bầu cua cá cọp, , tài xĩu, tráo bài ba lá khắp miền Nam. Nơi nào cũng có đông đảo người tham dự. Riêng các sòng tổ tôm, xì phé, tam cúc.. thường được tổ chức nơi đình làng hay các tư gia, thường kéo dài thâu đêm suốt sáng trong dịp tết.

Nhưng vui nhất vẫn là các buổi hát mừng xuân. Rạp được dựng tạm bằng tre lá trước sân đình, chùa hay bãi đất trống. Bên trong thiết kế sân khấu để diễn tuồng hay chèo. Xung quanh rạp hát là các hàng quán che tạm, bầy bán đủ các loại đồ ăn thức uống, kể cả bia rượu cho dân nhậu. Cũng không thiếu các sỏng bạc tụ năm tụ bảy.

Thông thường đầu năm các gánh hát không diễn tuồng buồn thảm hay tan vỡ thương tâm , mà chỉ diễn những lớp vui nhộn, chúc phúc, cầu cho quốc thái dân an. Ði xem hát đầu năm, mọi người thường bói tuồng qua các nhân vật trên sân khấu mà mình gặp đầu tiên khi vào rạp, để đoán quẻ tốt xấu.

Tại Bình Ðịnh những ngày tết còn tổ chức kỷ niệm vua Quang Trung, tập trận Ðống Ða thường tổ chức vào ngày mùng năm tết. Ðịa điểm hành lễ ngay tại sinh quán của vua tại làng Phú Phong, quận Bình Khê, nằm trên QL 19 đi Phú Bổn, Pleiku. Ðây cũng là nơi an nghĩ cuối cùng của Anh hùng Mai Xuân Thưởng bị thực dân Pháp xử bắn vì chống lại ngoại xâm. Hôm đó quang cảnh thật náo nhiệt tưng bừng. Trên đường chỉ thấy toàn xe cộ và người với đủ mọi thành phần tham dự. Các cụ mặc áo dài khăn đóng rất trang trọng, còn các em học sinh thì mặc đồng phục. Nhưng hấp dẫn nhất vẫn là các cô các bà mặt hoa da phấn, trang phục đẹp đẽ tạo cho buổi lễ thêm diễm lệ. Rồi thì binh lính xuất hiện với voi ngựa trận, cờ quạt, tán lộng, gươm giáo.. diễn tập lại trận đánh oanh liệt của Quang Trung Ðại Ðế ngày xưa đã đánh tan mấy chục vạn quân Mãn Thanh vào những ngày tết Kỷ Dậu (1789) tại Bắc Hà.

Cuộc chơi tết tại Bình Ðịnh thường kéo dài hơn các nơi khác nhất là tại nông thôn, chỗ nào cũng tổ chức chơi Bài Chòi. Ðây là một môn chơi vừa tiêu khiển lẫn đỏ đen, rất được thịnh hành ở miền Trung và Nam Phần. Bài Chòi còn được gọi là bài tới hay bài trùng, gồm 23 cặp, 46 con với những tên gọi rất ngộ nghĩnh như Ầm Ầm, Tám dầy, Bảy Thưa, Tứ Tượng.. Ðể chơi bài, người ta cất nơi bãi đất trống hai dãy chòi cao, giữa có rạp nhỏ nơi dành cho bộ chỉ huy gồm các viên chức làng xã, được trưng bày chiêng trống cờ quạt và một ống thẻ phát cho nhà con tại hai dãy chòi. Thẻ gồm 2 cái, một để tại chòi trung ương, một phát cho người chơi. Trong khi các chòi đánh bài thì giữa sân cũng đang trình diễn hát bộ giúp vui.

Trên vùng cao giáp biên giới Hoa-Việt, đồng bào thiểu số ăn tết cũng rất vui nhộn tuy không xa xỉ như người Kinh vùng thấp. Người Nùng có tục múa gánh nước hoa từ đêm giao thừa tới sáng mùng một tết. Các thiếu nữ rũ nhau ra suối lấy nước và hái vài nhánh hoa rừng bỏ vào đó, quẩy về nhà. Trên đường đi họ vừa múa những gánh nước , vừa cất tiếng hát những bài ca ngợi hạnh phúc lứa đôi và lạc thú đời người. Gặp các bạn trai cùng bản, họ hát mừng và các cuộc tình trai gái thường bắt đầu từ đó. Ðầu năm mới, bản làng lại tổ chức lễ ‘ Ra Ðồng ‘ , già trẻ trai gái đều ăn mặc quần áo mới, đẹp lộng lẫy. Họ chia thành 2 phe nam, phe nư, múa nhảy theo điệu cầy cáy giữa tiếng trống chiên dồn dập, khắp nơi cây cỏ xanh tốt, khiến cho đất trời cũng vui lây.

Ðồng bao Dao thì có các điệu múa kiếm, múa bắt ba ba,xúc tép dẫn gổ. Người Mèo sống trên các đỉnh núi cao chót vót, ngày tết cũng mở hội Sãi Sán. Thiếu nữ Mèo mâc váy hoa rực rỡ, tay cầm dù cùng với trai bản làng say sưa nhảy múa theo điệu khèn mừng xuân. Sau đó từng cặp dìu nhau ra suối, nơi có những rặng hoa đào đang nở rộ khoe hương sắc nõn nường.

Miền tây bắc là giang san của người Thái. Vào những ngày đầu xuân, hoa Ban nở trắng khắp núi rừng. Dịp này các cô gái Thái cũng mở hội múa xòe, đâm đuống để vui tết mừng xuân. Ðiểm đặc biệt là tết ông Táo của người Thái cũng vào ngày 23 tháng Chạp. Ðồ cúng gồm một con gà, mâm xôi, ghè rượu, giấy vàng bạc và hoa quả. Sau khu cúng, ba hòn đá làm bếp được thay mới.

Tại chợ Tam Lộng thuộc tỉnh Vĩnh Yên, mỗi năm đúng vào ngày 25 tháng Chạp, phiên chợ tết biến thành phiên chợ cưới của đồng bào Mán ở các thôn bản quanh vùng Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Chợ cưới qui tụ hầu hết các sơn nữ trong vùng, ai nấy đều ăn mặc đẹp đẽ với xiêm y lộng lẫy, yếm màu sặc sỡ, cổ và tay mang đầy trang sức làm bằng bạc hay hột cườm. Họ sánh vai bên cạnh những chàng trai hôm đó, giờ thật hiên ngang trong bộ lễ phục ngày tết. Sau một ngày hẹn hò trao đổi, nhiều cặp trai gái dưới sự đồng ý của cha mẹ đôi bên, đã trở thành gia thất ngay sau khi trở lại bản làng. Vì lý do trên, nhiều cô gái người Mán phải lội bộ hàng trăm cây số để được tới chợ cưới Tam Lộng tìm chồng.

Trong các dân tộc vùng cao, chỉ có người Mường và người Thái là có phong tục gần giống người Kinh, còn người Nùng thì theo phong tục của Tàu. Tuy vậy tết Nùng cũng có bánh chưng và bánh tổ. Ngoài tục gánh nước hoa đêm ba mươi tết, người Nùng còn có hội Chè do nam nhân phụ diễn, để chào mừng năm mới.

Người Mường hiện có chừng 100.000 dân, sống đông đúc tại tỉnh Hòa Bình, một ít ở Phú Thọ, Hà Nam, Thanh Hóa và Long Khánh Theo sử liệu thì người Mường và Việt có chung huyết thống. Tuy nhiên người Mường xưa nay vẫn theo chế độ phong kiến với hai giai cấp ‘ Quan Lang và Âu Mệ ‘ . Người Mường ăn tết theo âm lịch nhưng lịch Mường mất một ngày. Tết Mường hao hao giống tết Việt . Ngoài ra các cuộc vui đầu xuân thật hấp dẫn và đặc biệt nhất là ‘ Sắc Bùa ‘, một hình thức hòa nhạc của người Kinh nhưng bắng các nhạc khí cồng (chiêng) lớn và nhỏ. Tiếng Sắc Bùa của người Mường trong ngày tết, là tiếng vọng cuộc sống an nhàn, hạnh phúc và ấm no của họ.

‘ Rằng Thương ‘ là lối hát ví của trai gái Mường, như hát Quan Họ của người Kinh ở miền Bắc. Trong dịp đầu xuân, những toán thanh niên Mường vận khăn đóng, áo dài, rủ nhau tới các làng Mường khác để cùng với cô thiếu nữ ở đây ném đúm (cót còn). Cũng từ đó, nhiều mối tình đẹp của trai gái cũng phát sinh sau buổi ‘ cót còn ‘.Ðêm đến, nơi núi rừng thơm lừng hương hoa, các cặp trai gái lại tiếp tục cuộc vui xuân nơi nhà các bà con thân thiết. Họ thi nhau uống rượu cần như rượu nếp ngọt, ăn bánh chưng.. Trong giây phút thần tiên diễm ảo này, chính nàng mới là chủ động trong cuộc tình như tự tay đút thức ăn cho chàng. Tuy nhiên tất cả đều trong sạch và đứng đắn, cho tới giai đoạn cuối của cuộc vui xuân là ‘ Bô Meng ‘ , một hình thức tỏ tình bằng lối ngâm thơ . Kỷ niệm của thuở ban đầu đã khắc ghi nơi hai trái tim nam nữ và duyên nợ chắc chắn sẽ tới.

Trong Nam, các cô gái Chàm đón xuân cũng rất đặc biệt . Họ vào rừng kiếm lá Chà Niềm, để nhuộm đỏ móng tay móng chân làm duyên. Còn thanh niên thì bẻ hoa Mli tặng cho người yêu. Hoa này được các nàng cài lên mái tóc hay xỏ vòng đeo cổ hoặc pha chế vào nước để tắm gội cho thơm. Những ngày xuân trai gái cùng nhảy múa chung trong các vũ điệu Dội Nước, Chèo Thuyền, Nhảy Lửa, Múa Quát.. đệm theo các điệu múa là những bản trường ca, làm cho không khí xuân càng thêm thắm đượm tình nồng .

Tại Hà Nội, mảnh đất ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt với 36 phố phường, càng thêm rộn rịp trong những ngày xuân tết. Và khi những đợt gió lạnh cóng từ miền đông bắc thổi về, cũng là lúc màu đỏ thắm của hoa đào , pháo, câu đối.. báo hiệu tết Nguyên Ðán sắp về. Càng gần tết, đường phố và chợ búa càng vui vẻ , tấp nập vì nhà nào cũng phải ăn tết. Hà Nội có sự khác biệt với các thành thị khác của VN vì các phố chuyên bán một loại hàng. Tại ngã tư chợ Ðồng Xuân, nơi phố Hàng Khoai và Hàng Lược, từ những ngày áp tết đã trở thành chợ Hoa được chở tới từ các làng trồng hoa nổi tiếng của đất Bắc như Ngọc Hà, Nhật Tân, Nghi Tàm, Yên Phụ. Các loại hoa cảnh trong ba ngày tết được yêu thích trong ba ngày tết là đào, quất, cúc và thủy tiên. Tại Hà Nội từ ngày 20 tháng Chạp trở đi thường có mưa bùn gió bấc nhưng người vẫn cứ đi trong mưa bụi để ngắm và chọn hoa. Ngày tết tại Hà Nội dân chúng rũ nhau đi trẩy hội và lễ chùa . Tấp nập nhất vẫn là ngày giổ trận ở gò Ðống Ða gần ấp Thái Hà. Vào những ngày tết, các làng xã ven thành nội cũng thi nhau mở hội mừng xuân, trong đó có đá gà, đánh đu, đánh cờ người, cờ thế, thả chim câu, thi dệt vải, bấu cơm..

Huế là thành phố của vua chúa từ mấy trăm năm qua, có nhiều sắc thái đặc biệt dù là giới thượng lưu quý tộc hay bình dân. Người Huế đa số có nguồn gốc từ các tỉnh miền bắc Trung phần (Thanh, Nghệ, Tĩnh), nên mấy ngày tết Nguyên Ðán của họ phần nào còn hơi hướng miền bắc. Ngoài các phong tục phổ quát khắp nước, tết ở Huế là dịp để các bà, các cô trổ tài gia chánh bếp núc.

Tết ngoài việc chúc tụng, lễ chùa, đi chợ Gia Lạc mua bán, xem lễ hội và tham dự các trò chơi ngoạn mục. Chợ chỉ họp mỗi năm một lần từ mùng một tới mùng ba mới chấm dứt. Chợ được lập từ năm 1826 do một thân vương đời Nguyễn là Ðinh Viễn với mục đích dành cho hoàng tộc và dân chúng quanh vùng tụ họp mua bán và vui chơi trong ba ngày tết. Lâu dần chợ Gia Lạc trở thành nơi thị tứ dù không có lều quán gì cả, người bán hàng tiện đâu ngồi đó trên một khoảng đất rộng, chạy dọc theo bờ sông Nam Phổ tới bến đò Dinh trên sông Hương. Từ sáng mùng một tết , quang cảnh chợ Gia Lạc đã tưng bừng náo nhiệt với tiếng trống lân, nhạc, pháo xen lẫn tiếng hô thai bài chòi . Người tham dự không những là dân Huế, mà còn có nhiều người đến từ Dương Nổ, Thuận An, Bao Vinh và các quận kế cận. Chợ tồn tại trên 150 tuổi qua các cuộc đổi đời bi thiết nhưng khách hàng quen của chợ vẫn là những người lịch sự nho nhã, biểu tượng của đất thần kinh văn vật.

Sài Gòn là trung tâm kinh tế của VN xưa nay cũng là nơi tụ hội của nhiều địa phương khác tới sinh sống lập nghiệp, trong số này có lượng lớn người Hoa, nên những ngày tết cũng rất đặc biệt. Nói chung người miền Nam không cầu kỳ câu nệ như người Hà Nội hay Huế, nên tết của họ cũng đơn giản dù chốn đô thành rất nhộn nhịp. Người Sài Gòn chơi tết bằng hoa mai và vạn thọ> Mai được đưa từ các tỉnh miền Trung, Ðà Lạt, Thủ Ðức, Hốc Môn về.. dành cho người giàu có và giới trung lưu, còn vạn thọ thì được giới bình dân ưa chuộng hơn vì rẽ và cũng rất đẹp. Ðặc biệt những ngày tết Sài Gòn có nhiều dưa hấu của Trảng Bàng, Cao Lảnh, Trà Vinh.. bày bán tại các chợ Cầu Ông Lảnh và Bến Thành. Ngày 23 tháng Chạp tại Sài Gòn vừa là ngày đưa ông Táo về trời, đồng thời cũng là ngày chạp mã ông bà cha mẹ quá cố của mọi gia đình. Nhiều người mang lễ vật tới tận nghĩa trang, vừa phát cỏ dọn sạch mồ mả, vừa cúng tế tại chỗ. Tóm lại dù thời gian có đổi thay thì Sài Gòn muôn đời vẫn là tết của bánh tét có trộn thêm tôm khô, lạp xưởng. Mâm cổ tết còn có thêm nhiều món khác như bánh tráng, bánh phồng, bánh tổ, bánh ít, khổ qua hầm thịt, chả luạ, tré nem, thịt kho nước dừa, thịt khìa.. và không bao giờ thiếu dưa giá củ cải, củ kiệu muối mặn.

Quê người lại thêm một tết ly hương buồn thảm, bổng dưng nhớ lại những tết năm xưa ở quê nhà đặc biệt là Phan Thiết quê tôi vào dịp tết, hoa vông vang nở rộ nhuộm đỏ cả bầu trời, không gian tĩnh mịch cũng bị xao động bởi lũ chim én, tu hú và đàn sếu biển. Bao chục năm qua, chiến tranh không còn nhưng nổi hận hờn khắp đất nước vẫn còn đó nên tết về xuân tới đâu có gì vui ? vì hầu hết người Việt ai cũng nói ‘ hãy chờ hết giặc Tàu, giặc Cộng.. dân tộc Việt sẽ ăn tết lớn ‘ ! .

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Giêng 2011
MƯỜNG GIANG
Hoàng Thy Mai Thảo  
#889 Posted : Tuesday, February 1, 2011 7:50:36 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,612

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
NHỮNG ĐIỀU KIÊNG KỴ TRONG NGÀY TẾT


Với người Việt Nam, Tết Nguyên đán được coi là ngày khởi đầu của năm mới. Bởi thế mà cả ba miền Bắc – Trung – Nam đều tồn tại những tập tục kiêng kị khá thú vị….
Miền Bắc:

* Kiêng quét nhà: Trong ba ngày Tết, kiêng quét nhà vì sợ quét hết vận đỏ đi. Vì thế, ai cũng quét dọn nhà cửa, vườn tược trước lúc giao thừa.

* Kiêng đổ rác: Tục kiêng đổ rác xuất phát từ câu chuyện trong Sưu thần ký. Chuyện kể rằng, có một người lái buôn đi qua một cái hồ được Thủy thần tặng nàng hầu tên là Như Nguyệt. Ông trở nên giàu có, tiền bạc đầy nhà.

Năm ấy, vào ngày mồng Một Tết, Như Nguyệt mắc lỗi nhỏ, bị ông chủ đánh đập nên biến vào đống rác. Người lái buôn không biết, mang rác đổ đi. Từ đấy, ông lại nghèo như xưa.

* Kiêng không treo những tranh "xui xẻo" như: đánh ghen, kiện tụng… mà phải tìm bằng được tranh lợn, gà, cậu bé…

* Kiêng cho lửa ngày Tết: Ngày mùng Một Tết người ta rất kỵ người khác đến xin lửa nhà mình, vì quan niệm lửa là đỏ là may mắn. Cho người khác cái đỏ trong ngày mùng Một Tết thì cả năm đó trong nhà sẽ gặp nhiều điều không may như làm ăn thua lỗ, trong nhà lủng củng, ra đường hay gặp tai bay vạ gió..

* Rắc vôi bột ở 4 góc vườn: Ở nông thôn, nhà nào cũng rắc vôi bột ở 4 góc vườn rồi vẽ hướng ra phía cổng để xua đuổi ma quỷ.

* Xông nhà: Những người "nặng vía", không hợp tuổi với gia chủ đừng nên đến xông nhà ngày đầu năm. Người có tang không nên xông đất nhà người khác để tránh xui xẻo.

* Tránh nói giông: Ngày đầu năm, ta phải hết sức tránh những ngôn ngữ, hành động có thể đem lại sự không may, còn gọi là nói giông hoặc nói xui như: "Chết rồi!", "Tiêu rồi!".

* Kiêng cho nước đầu năm: vì nước được ví như nguồn tài lộc trong câu chúc tiền vô như nước, nếu cho nước thì coi như mất lộc

* Kiêng làm vỡ bát đĩa: Bát đĩa tượng trưng cho gia đình, vì thế, trong ngày này không được đánh vỡ bát đĩa, ấm chén, cãi nhau, chửi nhau, kiêng những điều không vui xảy ra với gia đình.

* Kị mai táng: Ngày Tết Nguyên Đán là ngày vui của toàn dân tộc, ngày mở đầu cho vận hội hanh thông của cả một năm, có ý nghĩa rất thiêng liêng. Gia đình phải tạm gác mối sầu riêng để hoà chung với niềm vui toàn dân tộc.

Vì vậy có tục lệ cất khăn tang trong ba ngày Tết. Nhà nào có đại tang kiêng đi chúc Tết, mừng tuổi bà con, xóm giềng, ngược lại bà con xóm giềng lại cần đến chúc Tết và an ủi gia đình bất hạnh.


Miền Trung

Người miền Trung kiêng ăn tôm trong ngày Tết vì sợ đi giật lùi như tôm

Người dân miền Trung có tục kiêng ăn trứng vịt lộn, thịt vịt trong ngày Tết và cả tháng đầu năm. Người ta cho rằng ăn thịt vịt sẽ gặp xui xẻo. Một số vùng không ăn tôm vì sợ… đi giật lùi như tôm. Nếu ăn trong ngày Tết, công việc sang năm sẽ lùi chứ không thể tiến tới.

Kiêng mua quần áo màu trắng, vải trắng suốt tháng Giêng Âm lịch.


Miền Nam

Ở một số vùng quê Nam bộ còn có tục kiêng không để cối xay gạo trống vào những ngày đầu năm. Điều này tượng trưng cho việc thất bát, mất mùa năm tới. Chính vì vậy, người ta thường đổ một ít lúa vào cối xay, ngụ ý cầu mong năm mới lúa gạo đầy tràn.

Ngày Tết có lệ ai đến nhà, bất kể giờ giấc nào, gia chủ cũng dọn cỗ, mời uống rượu, ăn bánh. Khách không được từ chối bữa ăn, dù no cũng phải nhấm nháp chút ít.

Đi đâu xa cũng phải về nhà trước giờ Giao thừa. Ai không về kịp xem như cả năm sau người ấy phải bôn ba vì công việc làm ăn.

Sau khi quét dọn phải cất hết chổi. Nếu trong ngày Tết để mất chổi nghĩa là năm đó gia đình sẽ bị trộm vét sạch của.
Thùy Dương (Tổng hợp)

Linh Phuong  
#890 Posted : Tuesday, February 1, 2011 5:24:43 PM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357


UserPostedImage
Chúc Mừng Năm Mới Tân Mão An Khang và Thịnh Vượng đến các bạn và độc giả thân thương.
Linh Phượng
Hoàng Thy Mai Thảo  
#891 Posted : Wednesday, February 2, 2011 8:42:39 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,612

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Năm Mới Xông Đất Nhà Mèo


Thư Sinh

Cuối năm con Cọp, đi ăn phở bò, tôi được nhân viên nhà hàng tặng cho một cuốn lịch, mà ngay nơi tờ bìa có ghi hàng chữ Anh: Year of Rabbit. Tôi đoán, cuốn lịch được in ở bên Tầu. Vì, chỉ lịch Tầu mới có con Thỏ đứng đàng sau con Cọp. Còn lịch Ta, phải là con Mèo mới đúng. Đó là điểm khác nhau giữa lịch Ta và lịch Tàu. Dầu cả hai nước đều lấy Âm lịch làm căn bản.

Vậy, Âm lịch là gì??

Theo học giả Hương Giang Thái Văn Kiểm trong cuốn tạp văn “Việt Nam Gấm Hoa”, thì Âm lịch xuất hiện vào năm 61 đời vua Hoàng Đế bên Tầu, trước Tây lịch khoảng 2637 năm. Âm lịch còn được gọi là Nguyệt lịch. Vì 3 yếu tố Trời Đất và Người đều được tạo dựng từ nửa đêm về sáng, theo thứ tự sau đây:

Thiên khai ư Tí (11-1 giờ sáng )

Địa tịch ư Sửu (1-3 giờ sáng )

Nhân sinh ư Dần (3-5 giờ sáng )

Trời đất cũng như con người, đều thay đổi theo sự vận hành của thời gian, cùng với nguyên lý Âm Dương tác hợp. Dương gồm Thập Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý). Âm gồm Thập Nhị Chi (Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi)

Cứ 10 năm, thì một chữ trong Thập Can sẽ trở lại, gọi là một Giáp.

Cứ 12 năm, thì một con vật trong Thập Nhị Chi sẽ trở lại, là một Kỷ.

Trong một Kỷ, có 4 tam hợp (Thân Tí Thìn; Tị Dậu Sửu; Dần Ngọ Tuất; Hợi Mão Mùi), và 3 tứ hành xung (Dần Thân Tị Hợi; Tí Ngọ Mẹo Dậu; Thìn Tuất Sửu Mùi). Mọi việc quan hôn tang tế, đều dựa vào 4 Tam hợp và 3 Tứ hành xung này.

Và một năm Âm lịch, sẽ được kết hợp bằng một Can với một Chi. Năm nay là năm Tân Mão, hay Tân Mẹo. Tuy hai cái tên gọi khác nhau, nhưng rút cục, cũng vẫn chỉ là... con Mèo. Mà lịch nguyên thủy từ nước Tầu chỉ có con Thỏ, chứ không có con Mèo trong Thập Nhị Chi. Khi lịch Tầu qua bên Ta, các Cụ mới thay con Thỏ bằng con Mèo. Nhiều vị thức giả cho rằng, đây là một hình thức đối kháng trước sự xâm lăng của văn hoá Tầu trong suốt nhiều thế kỷ nước nhà bị Tầu đô hộ. Cũng có thể, các Cụ ta xưa nghĩ rằng, Mèo và Chó là hai con vật thân cận nhất với loài người. Nên trong lịch, có Chó mà không có Mèo, thì không được ... fair. Vì thế, con Mèo được ăn theo con Chó, mà còn tọa vị ngay sau con Cọp.

Vị trí này, kể ra cũng hợp lý. Vì Mèo và Cọp có họ hàng với nhau. Chúng cùng chung giòng họ Filadae, với 3 Cụ tổ nổi tiếng:

- Cụ Tổ Smilodon Grailis

- Cụ Tổ Smilodon Fatalis

- Cụ Tổ Smilidon Populator

Cả ba Cụ Tổ đều hiện diện trên trái đất cách đây cả triệu năm. Từ 3 vị Tổ này, giòng họ Filadae chia thành nhiều Chi. Cọp thuộc chi Felis Tigris. Còn Mèo thuộc chi Felis Catus.

Mèo lại còn gồm nhiều loại: Mèo nhà, mèo hoang, mèo rừng, mèo núi.. Riêng Chi Felis Catus, chỉ dành cho loại mèo nhà (domestic cat). Mà hễ nói đến mèo nhà, ta phải nói đến sự liên hệ giữa nó và người. Sự liên hệ này được thể hiện bằng việc thuần hóa mèo. Theo các sử gia, mèo đã được thuần hóa từ thời cổ Ai Cập (Ancient Egypt), căn cứ vào một bức tranh cổ cách đây khoảng 3,600 năm. Nhưng vào năm 2004, khi khai quật một ngôi mộ cổ có niên kỷ 9,500 năm tại đảo Cypres, các nhà khảo cổ đã nhận dạng được bộ xương con mèo nằm bên mộ xương người. Nhưng con mèo này thuộc loại mèo hoang Phi Châu (Felis Silvestus Lybica). Nên kết luận chung vẫn là: Mèo khởi thủy được thuần hóa tại vùng Cận Đông, rồi sau đó mới lan qua Âu Châu, do bởi sự bành trướng của đế quốc La Mã.

Tuy Mèo sống chung với người, nhưng tuổi thọ của Mèo rất ngắn. Trung bình, một con Mèo chỉ sống được từ 12 đến 14 năm. Thảng hoặc lắm, mới có con Mèo sống tới 38 năm, như trường hợp con Mèo Creme Puff ở tiểu bang Texas.

Tuy đời sống ngắn ngủi, nhưng Mèo lại sanh đẻ nhiều. Trung bình một năm 3 lứa. Mỗi lứa vài con. Nên ta đừng ngạc nhiên, khi biết rằng hiện nay có khoảng 500 triệu con Mèo trên toàn thế giới. Theo báo cáo năm 2007, chỉ riêng tại nước Mỹ không thôi, lũ mèo đã đông lúc nhúc tới 82 triệu con. Nếu so sánh dân số Mỹ (khoảng 302 triệu), thì số lượng Mèo kể trên, quả là khủng khiếp.

Ấy vậy mà, người ta cứ nuôi Mèo, cưng chiều và xếp hạng chúng còn trên cả bọn đàn ông chúng mình (Nhất con nít, nhì đàn bà, ba mèo chó, bốn cỏ cây và hạng chót: đàn Ông)

Bởi Mèo là con thú được cưng chiều nhất trong số các loài thú, nên cách đặt tên

cho nó cũng cầu kỳ không kém loài người. Sau đây là những cái tên Mèo được lựa chọn nhiều nhất:

- Ở Úc: Oscar, Max, Tiger, Sam, Misty, Siemba, Cole, Chloe, Lucy, Missy

- Ở Anh: Molly, Felix, Smudge, Sooty, Charlie, Alpie, Oscar, Millie, Misty, Mistly.

- Ở Mỹ: Max, Chloe, Bella, Olives, Tiger, Smokey, Tigger, Lucy, Shadow, Angel.

Còn liệt kê vào hàng Top Ten trên thế giới gồm: Max, Chloe, Bella, Oliver, Tiger, Smokey, Tigger, Lucy, Sahdow, Angel.

Ngoài ra, còn có những con Mèo được ghi vào sách vở, nhờ chủ nhân của chúng là những người nổi tiếng: Blackie (Winston Churchill), Elvis (John Lenon), Charo (Yoko Ono), Dancer (Walter Kronkite), Tommy (Ann Frank) ..

Giáo chủ đạo Hồi, Muhamad cũng có một con Mèo mang tên Muezza. Ngài cưng nó đến độ, khi cần chiếc áo choàng để làm việc, Ngài cũng không nỡ đánh thức nó dậy, khi nó ngủ trên chiếc áo đó.

Riêng nước Nhật, con Mèo huyền thoại Manek Neko, được dân chúng ngưỡng vọng, vì nó mang đến những điều may mắn cho mọi người. Nhưng không phải lúc nào, mèo cũng được cưng chiều. Bên Âu Châu thời Trung Cổ; đã rộ lên phong trào tận diệt mèo, vì chúng dính dáng đến nghề phù thủy.

Còn nếu bạn tin dị đoan, gặp phải một con Mèo đen băng qua lối bạn đang đi - thì đó là một điềm xấu.

Trong cuốn sách “Những điềm chiêm bao”, tác gỉa Micheal Halbert đã ghi nhận một số điềm chiêm bao về Mèo như sau:

- Thấy mèo vồ: là bị người công kích

- Thấy mèo trắng: là gặp bạn dữ

- Thấy mèo đen: là gặp người đàn bà quỷ quyệt

- Nghe tiếng mèo ngao mà không thấy mèo: là điềm xui xẻo

- Thấy mèo ngao trước cửa: là gặp tang khó

- Thấy rờ rẫm mèo hay mèo cạ lông vào mình: là có cạm bẫy

Tuy không thuộc chuyên nghề Lốc Cốc Tử, tôi cũng xin ghi ra đây hai điềm chiêm bao để mong bọn đàn ông chúng mình đừng dính vào:

- Nằm mơ thấy mèo hai chân: là coi chừng bị vợ... đá văng khỏi gường

- Nằm mơ thấy Thúy Kiều: là sẽ gặp... Hoạn Thư!

Còn đối với người Việt mình, hình như ai cũng nhớ đến thành ngữ:

“Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang”

Tại sao, kỳ vậy?

Tại vì, mèo kêu meo meo. Tiếng nó mà trầm một chút, sẽ thành... Nghèo, nghèo!!

Còn con Chó, khi nó gầm gừ bằng âm thanh gầu gầu, ta nghe như nó bảo... Giầu giầu!

Tự âm thanh, ta đã thấy hai con vật khác nhau rồi. Huống chi, trong đời sống hàng ngày, chó với mèo chẳng bao giờ bầu bạn với nhau, dầu chúng sống chung với nhau trong một mái nhà. Lại nữa, dân quê ta xưa vốn nghèo. Thức ăn dành cho chó mèo, chỉ là cơm thừa canh cặn. Nên hai con vật này dành ăn, dẫn đến cảnh “chó cắn mèo quào”. Mà mỗi lần như thế, chó lãnh đòn nhiều hơn. Vì chỉ thoắt một cái, mèo đã trèo lên cao. Tài leo trèo của mèo, được tả qua mấy câu ca dao:

“Con mèo mà trèo cây cau

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

Chú chuột đi chợ đường xa

Mua mắm mua muối, giỗ cha chú mèo”.

Dĩ nhiên, mèo không đi dự đám giỗ. Nó trèo lên cây cau, chỉ vì một mục đích duy nhất: Giết chuột. Đó là nhiệm vụ chủ nhà giao cho nó. Còn không, nó chỉ ngủ. Tính trung bình, mèo ngủ từ 12 đến 14 giờ mỗi ngày. Nó là con vật ngủ nhiều nhất so với những loài thú khác.

Hiện giờ, mèo ở xứ ta không đến nỗi vô dụng. Ta cho nó... giấc ngủ ngàn thu, bằng cách cho nó... dzô nồi!! Thịt thà xương xẩu mèo đều không quý bằng cái túi mật, vì túi mật này pha với rượu sẽ trị được bá bệnh.

Nói thế, liệu cái mật mèo có tỏ ra ép phê gì với phái mày râu vốn thường phải cầu cứu đến loại thuốc Ông uống mà Bà khen hay không?. Chớ nếu theo đúng quan niệm

Đông y “ăn gì bổ nấy” thì “của quý” của con mèo cũng quý lắm. Vì trên trển, có tới 150 cái gai nhỏ. Nên mỗi lần xáp trận, mèo đực hoàn toàn làm chủ tình thế!

Rồi thêm chuyện phân biệt loại thịt, tùy theo mầu lông con vật. Thịt chó, ngon nhiều hay ít, đều dựa vào tiêu chuẩn “nhất bạch, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm”. Còn mèo, hình như ở Việt nam chỉ có 4 loại: Mèo mướp (lông màu xám tro, có thể vằn đen); mèo Mun (lông màu đen); mèo Nhị thể (lông màu vàng và trắng); mèo Tam Thể (lông màu đen vàng và trắng).

Vậy, trong 4 loại mèo trên, loại thịt nào được liệt vào hạng... tuyệt cú mèo?

Theo nguồn tin từ trong nước, thị trường mèo đang khan hiếm. Nên giới mối lái phải vượt biên sang các nước láng giềng (Lào, Campuchea) thu gom mèo ngoại, mới thỏa mãn nhu cầu ăn nhậu của nhân dân ta.

Chả bù với hai anh Ba Giai, Tú Xuất tại đất Hà Thành thưở xưa. Đói quá, lại không đồng xu dính túi, hai anh chơi mẹo vặt: ôm một con mèo vào hàng cơm do một vị nữ lưu xinh đẹp làm chủ, rồi trân trọng chào hàng rằng: đây là con mèo... biết nói tiếng người.



Một chầu cá cược xẩy ra bằng một bữa cơm. Sau khi đã giao ước xong xuôi, anh này bèn hỏi con mèo.

- Này mèo!! Đố mày “cái ấy của cô chủ tròn hay méo?”. Đồng thời anh kia nhéo con mèo một cái đau điếng. Theo phản xạ tự nhiên, con mèo kêu: Méo! Thế là, chủ quán biết bị mắc lỡm, cũng phải đãi hai anh dân chơi xứ Hà Thành một chầu cơm rượu ê hề. Câu chuyện trên tuy hơi hướm tí ti văn chương, nhưng khá mặn, không thích hợp với lứa tuổi học trò thò lò mũi xanh, và làm tôi chợt nhớ tới 4 câu thơ đầy hình ảnh đẹp sau đây trong bài thơ Đêm Hè của thi sĩ Đoàn Văn Cừ:

“Ông lão nằm chơi ở giữa sân

Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân

Thằng cu đứng vịn bên thành chõng

Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân”.

Riêng trong nền văn chương truyền khẩu, các Cụ ta xưa cũng để lại cho con cháu những câu tục ngữ nói về mèo, nhưng lại mang ý nghĩa về người:

- Tự đề cao mình – là “mèo khen mèo dài đuôi”.

- Hạng người lăng nhăng, tư cách đáng khinh – là “mèo mả gà đồng”.

- Kẻ ăn chơi đàng điếm, sống nơi đầu đường xó chợ - là “mèo đàn, chó điếm”.

- Kẻ tinh ranh quá mức – là “mèo già hoá cáo”.

- May mắn đạt được kết quả bất ngờ ngoài khả năng mình – là “mèo mù vớ cá rán”.

- Kẻ biết mình làm đúng khả năng mình – là “mèo nhỏ bắt chuột con”.

- Thèm thuồng quá đáng – là “như mèo thấy mỡ”.

Tôi không biết bạn có tìm thấy hình ảnh mình qua mấy câu tục ngữ trên hay không??. Nhưng với hai chữ mèo mỡ” không thôi, thì bọn đàn ông chúng ta phải cẩn thận. Vì khi các bà nhắc hai chữ ấy với chúng ta, các Bà rất dễ trở thành một con vật cùng họ hàng nhà mèo: Sư tử Hà Đông!!. Và nếu ở trong trường hợp như thế này, thì bốn chữ “Sư tử Hà Đông”, phải được hiểu là một loại tiếng lóng (slang) để anh em ta được yên cửa yên nhà.

Người Mỹ cũng xử dụng tiếng lóng, như trong vài trường hợp sau đây:

- Món Ketchup là cat soup.

- Một người đàn ông trầm tính là cool cat.

- Một kẻ nhút nhát, hay sợ bóng sợ gió là Faidy cat.

- Một người giàu, có những đáng kể trong các cuộc vận động chính trị là Fat cat

- Cổ phần lên xuống chút đỉnh trên thị trường chứng khoán là Dead Catty

- Những cổ phần đáng nghi ngờ trên thị trường chứng khoán là Cats Dogs.

Nhưng đáng nhớ nhất vẫn là câu ví von của Đặng Tiểu Bình khi viên Cố Bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc này cho rằng: mèo trắng hay mèo đen gì cũng đều bắt được chuột. Câu nói là châm ngôn cho chính sách “mở cửa”. Và nhờ đó Trung Quốc đã vươn mình trở thành một thế lực đáng gờm trên thế giới.

Còn Đảng Cộng sản Việt nam? Cũng mở cửa, nhưng để cắt đất dâng biển cho bọn bành trướng phương Bắc, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt.

Khi xưa, trên con đường Nam tiến, Nguyễn Hoàng đã được Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên: “ Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Nay, Đảng ta cho kẻ thù vào Tây nguyên khai thác Bauxit, thì cũng chẳng khác nào cảnh... mỡ dâng miệng mèo!

Thế nên, mối lo trước hiểm họa đất nước lại lọt vào vòng nô lệ ngoại bang, đã làm con dân Việt không cảm thấy vui, khi đón chào... Xuân Con Mèo.
Thư Sinh
hongvulannhi  
#892 Posted : Thursday, February 3, 2011 2:13:42 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,838

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Mèo" Trong Ca Dao Việt

Thứ tư, 02 Tháng 2 2011 07:56

UserPostedImage

* Lê Ngọc Châu (Nam Đức) (bản hiệu đính 2011)

Mỗi năm lịch của người Việt đều gắn liền với một con giáp. Đi theo thứ tự từ năm Tý đến năm Hợi rồi vòng trở lại. Canh Dần 2010 vẫy tay giã từ. Năm mới Tân Mão (hay Tân Mẹo) 2011, năm con Mèo lại về với chúng ta.

Khi nói đến Mèo, hầu hết người Việt thường lại nhớ đến bốn câu ca dao bất hủ sau đây:

“Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ Đồng xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo”.

Mèo với Chuột là hai con vật mà nói chung ai mà cũng biết. Riêng miền quê Việt Nam thì chẳng ai lạ gì "chuột" vì chúng hay phá hoại mùa màng, ngủ cốc lúa gạo, bắp khoai, đậu. Ở thành phố thì ít thấy chuột vì thực phẩm được lưu trữ, cất giấu kỹ. Để chống lại chuột người ta nuôi mèo. Mèo và chuột xét về bản chất thì hai con vật này đối kháng nhau. Chuột thân phận nhỏ bé nên luôn là miếng mồi ngon cho mèo, vì thế nơi nào có mèo, chuột khó sống.

Với chuột, mèo là kẻ tử thù, chẳng thân thiết gì cả. Vậy thì tại sao chuột lại tận tâm với ông tổ nhà mèo như ngụ ý bốn câu ca dao trên?.

Tương truyền rằng có một chú chuột bị con mèo vớ được, tính ăn thịt. Chuột sợ quá bằng năn nỉ ỉ ôi, lạy mèo tha cho rồi chuột ta sẽ mua "cao lương mỹ vị" như tôm, thịt ...làm giỗ mời mèo hôm sau tới ăn. Nghe thế, mèo vì thèm các món ăn ngon chuột nói trong khi chuột nhỏ xíu, thịt đâu có bao nhiêu nên tha chết cho. Y như hẹn, mèo đến nơi trèo lên cây cau réo gọi nhưng nào thấy chuột, bàn cổ để cho mèo ăn cũng chẳng thấy. Lúc đó mèo ta mới biết mình bị chú chuột kia đánh lừa. Chỉ biết tức giận, không được gì hết, ngay cả miếng thịt chuột!

Qua những câu ca dao trên chúng ta nhận ra điều kỳ lạ ở đây là chuột lo đi chợ mua đồ ăn để giỗ cha mèo, kẻ thù truyền kiếp luôn hại giống nòi nhà chuột. Tuy nhiên khi mèo đến chơi nhà chuột, leo lên cây cau nhưng không gặp được chuột. Câu chuyện ngắn ngủi nghe phải bật cười bởi sự phi lý của nó và sau đó ngẫm nghĩ kỹ thì thấy đau đớn, nhức nhối tâm can vì "bị lừa"!. Ngoài ra, 4 câu ca dao còn hàm chứa sự thâm thúy khác mà ai cũng có thể hiểu là muốn giữ được mạng sống thì chuột chỉ còn cách làm cái việc chẳng đặng đừng với kẻ mạnh hơn mình "năn nỉ tha mạng". Đau đớn là thế. Thực ra thì ai cũng hiểu chẳng có chuyện mèo chuột gì cả ở đây mà chỉ là "chuyện con người ". Trong cuộc sống bên ngoài xã hội cũng thế "mạnh được yếu thua" vì vậy con người đôi khi phải "hạ mình, quỳ lụy" để giữ mạng sống. Và những câu ca dao ở trên là "sự mách nước rất khéo léo" cho kẻ yếu ứng xử với kẻ mạnh!

Công tâm mà nói, tiếng Việt mình thâm thúy thật! Ca dao Việt lại càng không thể nào chê được, chẳng những bởi "sự thâm thúy, trừu tượng" thôi mà còn có cả sự trêu, giễu trong đó.

Để chào đón Năm Mới Tân Mão 2011, năm con "Mèo", tôi sưu tầm thêm những câu ca dao khác liên quan đến "Mèo" và trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả qua bài phóng tác:

"Mèo Trong Ca Dao Việt".

Không những chỉ ám chỉ loại mèo vô dụng, câu ca dao sau đây còn đề cập đến loại người chưa học làm điều tốt mà đã nhiễm phải thói xấu, muốn nói đến những người vô tích sự:

Chưa học bắt chuột đã học ỉa bếp

Miền Trung, Nghệ Tĩnh có câu:

Chua như *** mèo

ám chỉ sự nói năng của ai đó với giọng điệu gây khó chịu cho người khác, rằng cái "mụ nớ, thằng đó" ăn nói chua như "kít mèo", vì *** mèo mùi chua khắm rất khó chịu.

Cho nên chúng ta thường nghe "Giấu như mèo giấu ***" là vậy! Cũng còn có ý khác chê những người giấu diếm vật gì, điều gì đó quá ư là kỹ.

Hoặc

Có ăn nhạt mới thương tới mèo

ngụ ý muốn diễn tả cảnh ai từng trải qua sự cực khổ mới biết thương kẻ khốn cùng.

Đã yếu đuối, khốn khổ nếu lại gặp thêm hoạn nạn, thì người ta đành ngậm ngùi than thở:

mèo què phải trận chó đòi

Gặp ai quá đanh đá, ghê gớm không từ một thủ đoạn nào. Khuyên người khác đừng có trêu mệ nớ, là " mổ mèo lấy cá " chứ không phải vừa đâu thì có những câu:

Mẹ chồng đối với nàng dâu
Như mèo với chuột có thương nhau bao giò.

Thật chẳng biết đâu mà mò. Đàn ông nếu ăn như mèo thì bị chê bai, cho là tật xấu. Nhưng phụ nữ ăn uống từ tốn, ăn từng miếng một, uống từng hớp nhỏ được khen là có nết na:

Ăn nhỏ nhẻ như mèo

Nói đến kẻ hà tiện, tính bủn xỉn thì có câu:

Buộc cổ mèo, treo cổ chó

Hoặc muốn bảo rằng mỗi người có sở trường riêng, chưa chắc ai đã hơn ai, tế nhị có thể nói:

Chẳng biết mèo nào cắn mỉu nào

(Mỉu: do tiếng miu là mèo đọc chệch ra)

Để diễn đạt ai cũng có nghề nghiệp chuyên môn của mình, cho nên đừng tị nạnh nhau làm chi và chuyện ai nấy lo, đừng can thiệp vào việc người khác thì thiên hạ thường buông lời:

Chó giữ nhà, mèo bắt chuột

Đặc biệt để phê phán kẻ không nhìn thấy lỗi nơi mình, mà chỉ tìm thấy lỗi ở người khác:

Chó chê mèo lắm lông

Dùng để chê những kẻ đần độn, ngu ngốc:

Chó gio, mèo mù

hay để chê bai hạng người không có tài năng:

Chó khô, mèo lạc

Để ám chỉ những vật vô giá trị, bị bỏ lăn lóc chẳng ai thèm lấy:

Chó tha đi, mèo tha lại

Người ta thường treo thức ăn trên cao để tránh chó ăn và đậy kỹ để không cho mèo lục đớp. Câu ca dao sau đây ngụ ý cảnh giác chúng ta cẩn thận cửa nẻo đề phòng trộm cuỗm mất:

Chó treo, mèo đậy

Muốn gián tiếp khuyên lơn người khác hãy thận trọng, đừng làm ơn cho kẻ có thể hại mình:

Chuột cắn dây buộc mèo

Như chúng ta biết, mèo thấy chuột là vồ lấy ăn thịt ngay. Để cảnh giác ai đó không nên làm một việc liều lĩnh, nguy hiểm thì ca dao mình cũng có câu:

Chuột gặm chân mèo

Hay tỏ vẻ tức giận người khác bằng cách chửi mắng vu vơ. Bực mình họ nhưng lại trút bực tức qua những con vật nuôi trong nhà. (giận cá, chém thớt) chẳng hạn:

Chửi chó mắng mèo
Đá mèo, quèo chó

Nhằm nói đến sự đau khổ càng lớn của những ai mất quyền lợi ở địa vị cao, nhiều hơn nếu so sánh sự đau khổ với người ở địa vị thấp:

Hùm mất hươu hơn mèo mất thịt

Hoặc để ám chỉ những kẻ cố tình che giấu tội lỗi bằng cách im lặng tuyệt đối, hay đề cập đến những kẻ hễ thấy lợi là giấu giếm không cho ai hay biết hưởng một mình:

Im ỉm như mèo ăn vụng

Trong trường hợp mỉa mai, đánh giá cho việc sử dụng người trong một công việc không đúng với sở trường, khả năng của người đó:

Không có chó bắt mèo ăn ***

Ám chỉ ai nói dai, thường nói đi nói lại để nài xin:

Lèo nhèo như mèo vật đống rơm

Ngụ ý khuyên ai trước khi làm việc gì phải tự lượng sức mình, cố gắng cho lắm cũng vô ích:

Mèo cào không xẻ vách vôi

Muốn khen người trẻ tuổi tài cao, làm được việc mà nhiều người lớn làm không nổi:

Mèo con bắt chuột cống

Muốn nói người già nhờ sống lâu nên đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báu. Nghĩa khác là mới đầu làm việc gì có vẻ rụt rè nhút nhát, nhưng lâu năm thì tinh ma ranh mãnh:

Mèo già hóa cáo

Ám chỉ những kẻ vô lại thường hay kết bè tựu đảng với nhau, thiên hạ thường nói rằng:

Mèo hoang lại gặp chó hoang;
anh đi ăn trộm gặp nàng bứt khoai


Còn ai tự đề cao, khen ngợi mình thì ca dao Việt cũng chẳng tha:

Mèo khen mèo dài đuôi

Ngụ ý so sánh thanh niên bạo gan hơn, trong khi người lớn tuổi thì nhút nhát:

Mèo già lại thua gan chuột nhắt

Một đặc điểm khác, khi nói đến hai chữ “mèo chuột” thì chúng ta, nhất là những người đầy lãng mạn tính thường liên tưởng ngay tới chuyện “trai gái, bồ bịch, mèo mỡ”, vì từ xưa, ông bà mình cũng từng diễn tả sự thu hút lẫn nhau giữa nam nữ qua những câu tục ngữ sau đây mà mọi người đều đã nghe biết, ý nói đặt trước mặt người ta một thứ gì hay muốn chế giễu họ trước thứ mà họ đang mong muốn, thèm khát, ví dụ như chuyện "người đàn ông khi ... gần gũi muốn chiếm đoạt phụ nữ", đó là:

Như mèo thấy mỡ

Mỡ để miệng mèo

hay

Lửa gần rơm không cháy cũng tròm trèm
Mèo không ăn vụng đi đêm làm gì ?

Để diễn tả cảnh "bất hoà giữa mẹ chồng nàng dâu", ca dao Việt Nam cũng mượn "con mèo":

Con mèo trèo lên cây táo
Mẹ chồng nương náu, chưởi mắng nàng dâu
Bà ơi không sợ bà đâu
Bà đừng chửi mắng mà mang tiếng đời

Hay để chọc quê người khác:

Con mèo trèo lên cây vông
Con chó đứng dưới ngó mong con mèo
Mèo rằng, sao chó chẳng theo ?
Lên đây mèo sẽ dạy leo cho mà

Xa hơn nữa, nhằm ám chỉ đến những người đàn bà bị chồng chê, chồng bỏ vì hư đốn, phải về nhà cha mẹ ruột. Thay vì biết thân phận âm thầm sống đến già, nhưng lại khoa trương nọ kia để củng cố danh giá mình thì thiên hạ hay nhắc đến, mỉa mai qua các câu ca dao sau đây:

Mèo làm ai nỡ cắt tai;
gái kia chồng bỏ khoe tài làm chi?

Hoặc để chê bai các người đàn bà tính hư, tật xấu, ngày hai bữa cứ ăn cơm hàng cháo chợ, không lo cơm nước cho gia đình:

Mèo lành chẳng ở mả;
ả lành chẳng ở hàng cơm

Hay nhằm ám chỉ hạng người vô lại, trai trộm cướp, gái lăng loàn khiến ai cũng khinh ghét:

Mèo mả gà đồng

Nói đến những kẻ không còn phương kế sinh nhai:

Mèo mù móc cống

Đề cập kẻ nghèo hèn đang túng quẫn nhưng gặp vận may bất ngờ:

Mèo mù vớ cá rán

Khuyên người hãy biết liệu sức mình mà đảm đương công việc. Tài hèn sức mọn nhưng nếu ham đảm trách một việc lớn thì trước sau chỉ chuốc lấy thất bại mà thôi:

Mèo nhỏ bắt chuột con

Nói đến kẻ có quyền hành làm việc sai trái thì không sao, trong khi kẻ dưới bị trừng phạt nặng (như chuyện tham nhũng ở dưới xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay chẳng hạn! Theo Internet, tham nhũng hạng "bự" thì cứ "phây phây"; còn cở "nhỏ" thì lại bị kết án xử tù!).

Mèo tha miếng thịt xôn xao;
hùm tha con lợn thì nào thấy chi

Khuyên người ta nếu biết tiện tặn chi tiêu thì không sợ túng:

Mèo uống nước bể chẳng bao giờ cạn

Chỉ kẻ tài thô trí thiển mà thích, muốn cáng đáng việc lớn lao quá sức mình, không đúng với khả năng cho phép, thiên hạ nghịch rằng:

Mèo vật đụn rơm

Nhằm nói cho dù kẻ thù nguy hiểm đến cỡ nào nhưng nếu mình có mưu mẹo, có phương tiện thì thế nào cũng thắng:

Sắc nanh, chuột dễ cắn được cổ mèo

Bày tỏ vì thất vọng nên buồn rầu, không muốn nói năng, làm ăn gì cả:

Tiu nghỉu như mèo cắt tai

Sự kiên nhẫn, siêng năng cho đến khi được việc mới thôi được thể hiện qua câu :

Rình như mèo rình chuột

Ca dao Việt cũng khuyên các ông chồng không nên quá nuông chiều và cũng đừng hiếp đáp vợ quá, vì nuông chiều quá thì vợ lờn mặt, lâu dần sẽ lấn áp quyền chồng. Còn hiếp đáp thì vợ buồn rầu, gia đình mất hòa khí, hạnh phúc:

Vợ quá chiều ngoen ngoẻn như chó con liếm mặt;
vợ phải rẫy tiu nghỉu như mèo lành mất tai !

Nhằm mục đích răn dạy người đời hãy tìm cách giải quyết những mâu thuẫn trong cuộc sống để sống hòa thuận, đoàn kết, yêu thương nhau vì ngay cả loài vật còn biết nhường nhịn nhau mà sống huống chi con người, ca dao mình cũng có câu:

Trâu bò ở với nhau chia nhau phần cỏ,
Người ở với nhau như chó với mèo

Và để kết thúc bài phóng tác này vì 2011 là năm con "Mèo (Mẹo)", tôi xin trích dẫn câu ca dao sau đây đề cập đến quan niệm mê tín từ xưa lưu truyền lại:

Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì giàu !

Mong rằng Quý độc giả luôn được sức khoẻ dồi dào, đầy đủ "Phước, Lộc, Thọ" cho dù " Chó " hay " Mèo " đầu năm tình cờ ghé đến thăm nhà quý vị.

Như chúng ta thấy, ca dao tục ngữ thường đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống, đặc biệt là xã hội, gia đình và tình yêu. Riêng về con "Mèo" thì còn rất nhiều nhưng rất tiếc bài viết có giới hạn nên người viết không thể trích dẫn hết để trình bày cùng quí vị, xin thông cảm. Tuy nhiên qua đó cũng gói ghém đủ ý nghĩa sâu sắc của Ca Dao, có thể nói là căn bản nền văn hóa của Dân Tộc Việt Nam.

Trước thềm năm mới, xin kính chúc quý độc giả một Năm Tân Mão 2011 "An Khang Thịnh Vượng và Hạnh Phúc".
* Lê Ngọc Châu (Ger_31-01-2011)
Phỏng theo tài liệu sưu tầm từ In-Tờ-Nét và từ Website của Hà Phương Hoài
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#893 Posted : Thursday, February 3, 2011 6:52:21 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,612

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Andrée Marie Vĩnh San con gái út vua Duy Tân tử nạn

UserPostedImage
Andrée Marie Vĩnh San

Thứ bẩy, 29.1.2011 bà Andrée Marie Vĩnh San bị tử nạn do một vụ bùn lở tại Saint Denis, Réunion (Dom-tom Pháp quốc)

Andrée Marie Vĩnh San sinh ngày 1 - 12 - 1945 tại Saint-Denis. Bà là con gái út của Vua Duy Tân với bà vợ thứ ba - Ernestine Maillot.

Vua Duy Tân Vĩnh San là thiếu tá trong quân đội Pháp thời đệ chiến thứ Hai và đã có cuộc tiếp kiến với tướng De Gaulle về vấn đền Đông Dương và Việt Nam. Vua Duy Tân có dự định tháng ba 1946 (sau 30 năm bị lưu đày)sẽ cùng đi với tướng De Gaulle để về lại Việt Nam. Nhưng ngày 24.12.1945 Vua Duy Tân bay từ Paris qua Alger. Ngày 26.12.1945, trên đường bay từ Alger về đảo Réunion, lúc 18h30 - tới gần Bangui máy bay bị tai nạn. Vua Duy Tân và 2 phi công cùng 5 hành khách khác đều tử nạn.

Vào năm Vua Duy Tân Vĩnh San tử nạn, hai người con khác của Vua với bà Antier (vợ thứ hai)là Georges Bảo Ngọc Vĩnh San- 12 tuổi và Claude Bảo Vang Vĩnh San - 11 tuổi.

Tại La Réunion, Vua Duy Tân Vĩnh San trước khi ra nhập quân đội Pháp, ông làm nghề sửa máy thu thanh và chơi vô tuyến điện, có máy phát và thu thanh. Chính nhờ vậy mà Vua Duy Tân Vĩnh San là người đầu tiên ở đảo này nghe được và truyền tiếp lời kêu gọi kháng chiến Pháp ngày 18.6.1940 của tướng De Gaulle.

UserPostedImage
Claude Bảo Vang Vĩnh San và Andrée Marie Vĩnh San

PS.
Một vài hình ảnh lịch sử về Vua Duy Tân

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


(hình ảnh trong bài này sưu tầm google)

========================================
========================================

* chị HVLN thương mến,
bài hôm qua em thấy trong MGP, đọc đoạn đầu thấy cũng có vẻ là tin tức về dòng họ Vua Duy Tân, nên em post lại trong này . Sau rồi em bỏ bài lên diễn đàn liên mạng toàn cầu xong, khi đó mới ngồi đọc kỹ lại .. í a là không ok tí nào . Nên em phải tức thì vào đây xóa bài. Sau đó lo viết thư xin lỗi các diễn đàn liên mạng . Rồi sau nữa mới là vào MGP báo cho người post bài đó biết và cả ban điều hành Net này nữa .
Bên MGP họ đã xóa đi phần không cần thiết của bài viết, và chỉ để lại đoạn ngắn - như một tin thông báo vậy thôi .
Còn em thì mãi giờ này mới rảnh ngồi tìm trong nhà bác Gù những trữ liệu về Vua Duy Tân và viết lại bài ngắn gọn (như trên đây)

Vậy chị HVLN lấy bài này của em post trong UNT (thay bài hôm qua chị post nhé). Còn nếu chị thích bài đó hơn thì em nhờ chị xóa chữ màu nâu ghi chú HTMT đã post bài này và chị là người post lại) - mong chị cảm phiền cho nhỏ em út với ạ . Em xin cám ơn chi.
HTMT
hongvulannhi  
#894 Posted : Thursday, February 3, 2011 5:12:33 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,838

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Đền Phù Đổng

UserPostedImage
.Đền Phù Đổng, nằm cách Hà Nội 17km (tại làng Gióng, xã Phù Đổng, Gia Lâm), là nơi thờ Thánh Gióng.

UserPostedImage

Theo truyền thuyết, Thánh Gióng vốn người làng Giáp Ban, thọ làng Phù Đổng. có mẹ nhà ở vườn cháy, phía đông chùa Kiến Sơ, bà tuổi cao nhưng vẫn chưa có con. Một hôm thăm vườn, bà giẫm phải một vết chân lớn, sau đó có thai và sinh ra Thánh Gióng. Tương truyền Thánh Gióng lên 3 tuổi mà vẫn không biết nói, cười. Vào thời Hùng Vương thứ VI, nước ta bị giặc Ân phương Bắc xâm lược, Vua bèn sai sứ giả đi giao mõ cầu người hiền tài để dẹp giặc Ân. Nghe thấy tiếng mõ giao, Thánh Gióng bỗng bật dậy, nói với mẹ ra mời sứ giả vào nói: “Sứ giả về tâu với nhà Vua cho đúc ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt để đi đánh giặc. Vua ra lệnh đúc các thứ đem tới, Thánh Gióng vươn vai một cái đứng dậy, người cao lớn khác và thường nhảy lên ngựa vung roi sắt đi đánh giặc. Thánh Gióng hăng hái xông vào trận chiến. Roi sắt bị gẫy ra đã nhổ tre để đánh giặc. Giặc Ân thua chạy tán loạn. Sau khi dẹp xong giặc, Thánh Gióng cưỡi ngựa lên đỉnh núi Vệ Linh (huyện Sóc Sơn) cởi áo giáp để lại rồi người cùng ngựa bay thẳng lên trời.

UserPostedImage

Để ghi nhớ công ơn người anh hùng dân tộc. Nhà vua ra lệnh xây đền thờ ở quê (Làng Gióng). Vào thế kỷ thứ XI Lý Công Uẩn cho tu bổ lại Đền Phù Đổng và ban hành tổ chức ngày Hội Gióng vào ngày 9/4 âm lịch hàng năm.

UserPostedImage
Vừa qua Hội Gióng ở đền Phù Đổng cùng đền Sóc (ngôi đền thờ Thánh Gióng ở Sóc Sơn) đã chính thức được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#895 Posted : Thursday, February 3, 2011 6:10:36 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)

UserPostedImage
Mến chúc LN ,các bạn trang TỤC NGỮ CA DAO VÀ QUÊ HƯƠNG
cùng quý độc giả năm mới Tân mão An Khang - Hạnh Phúc - Thịnh Vượng

LT

hongvulannhi  
#896 Posted : Friday, February 4, 2011 12:47:34 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,838

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

UserPostedImage
LN cùng các bạn cám ơn anh LT đã chúc những lời tốt đẹp. Cũng xin chúc lại anh một mùa Xuân thắm tươi và như ý.
HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#897 Posted : Friday, February 4, 2011 5:24:02 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,838

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Tết Nói Chuyện Câu Đối
I.

Tết đến, nhà nào chẳng treo đèn, kết hoa, sửa sang bàn thờ, lo những chậu quất cành đào, cỗ bàn cho thật ưng ý. Nhưng tết lại cũng không thể thiếu câu đối xuân được.

Theo sử sách, câu đối lúc đầu là bùa bát quái được người Trung Hoa cổ xưa dùng để treo ở giữa đòn dông nhà và dán hai bên cửa để giữ yên nhà cửa, xua đuổi không cho ma quỷ đến gần. Các bùa chú này phải được đặt đúng nơi, đúng lúc và phải làm lễ cúng bái mới phát huy được tác dụng. Không chỉ dán bùa chú, người Trung Hoa cổ xưa còn vẽ hình các vị thần thánh, các nhân vật huyền thoại theo tín ngưỡng, đem dán ở cửa nhà cũng để trừ tà ma. Tương truyền, Thần Thư và Uất Luật là hai vị thần chuyên bắt những con ma hung dữ, trói chúng lại bằng cỏ lau rồi đem cho hổ ăn. Vì vậy, trong những ngày giáp tết, người ta thường vẽ hình hai vị thần này rồi dùng cọng lau treo hai bên cửa để trừ ma quỷ. Người Trung Hoa cổ xưa cũng tin rằng cây đào là linh thụ chứa tinh anh trong ngũ hành nên được gọi là cây tiên đào và có khả năng trừ ma quỷ. Do đó, vào ngày tết, người ta thường vẽ hình của Thần Thư và Uất Luật trên ván bằng gỗ đào đế trấn giữ tà ma. Sau này, gỗ đào được thay bằng giấy và các vật khác. Nội dung hình vẽ và bùa chú cũng được thay bằng các câu văn rút ra từ kinh điển hay tác phẩm văn học, hoặc những lời chúc tụng cho năm mới tốt lành và hạnh phúc. Như vậy, từ hình thức tín ngưỡng có phần mê tín ban đầu dần dần việc dán câu đối vào ngày tết đã trở thành một mỹ tục của người Á Đông.

Ngày nay, câu đối được chạm khắc hoặc viết trên gỗ rất hiếm. Trong dịp tết, câu đối thường được viết trên giấy hồng điều bằng mực tàu, chữ Hán (hoặc chữ kim nhũ vàng). Cũng có khi câu đối được viết trên giấy đó dát vàng.
Làm câu đối không quy định chữ, dài ngắn đều được, có điều phải tuân theo một số quy định như đối phải chỉnh, phải đúng lối bằng, trắc và các lối đối như câu tiểu đối (bốn chữ), câu đối thơ (năm chữ hoặc bảy chữ), câu song quan, gồm hai câu đối nhau, mỗi câu là một đoạn văn liền, từ năm chữ đến chín chữ.

Câu cách cú, có hai vế, mỗi vế gồm hai đoạn đối ngắn dài tiếp nhau (Ví dụ: Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới. Đá xanh xây cổng, hòn dưới nống hòn trên). Câu gối hạc (hạc tất) mỗi vế có từ ba đoạn trở lên như chân con hạc (Ví dụ: Nào thuở trước dưới rừng cây nghe nhạc ngựa, thấp thoáng bóng dù dáng kiệu, những than dài chí cả trượng phu. Mà đến nay ngồi bệ ngọc ngắm tranh người, xôn xao đầu mũ gót hài, lại làm khoảnh ngôi sang hoàng đế)…

Câu đối lại cần có người viết chữ, chữ đẹp thì càng đắt giá. Câu đối Tết là một thú chơi đặc biệt, thường được nhà nhà treo trước cửa, mừng xuân mới, với những mong ước an hòa, hạnh phúc của từng nhà.

Theo học giả đời Thanh Trần Vân Đạm thì: "Câu đối tết có từ thời Thái tổ nhà Minh Chu Nguyên Chương, nhà vua định đô ở Kim Lăng, đêm ba mươi Tết truyền chỉ: Các vị công khanh, học trò, dân thường, nhà nào cũng phải có câu đối tết dán ở cửa nhà. Các học giả đời sau cũng cho rằng câu đối tết trở thành phổ biến là từ đầu đời Minh.

Người dân Trung Quốc thường lại nhớ đến bài thơ nổi tiếng "Nguyên Đán" của Vương An Thạch đời Tống. Thơ có nhắc đến chuyện câu đối tết như sau: "Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ. Xuân phong tống noãn nhập Đô Tô. Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật. Tổng bả tần đào hoán cựu phù", nghĩa là: "Pháo trú kêu vang hết một năm. Rượu Đô Tô uống đón mừng xuân. Hơi xuân nồng hậu, muôn nhà sáng. Thẻ đào tống cựu, đón bình an”.

Thẻ đào chính là câu đối. Nhưng có nhà nghiên cứu thì cho là câu đối xuân đã có trước đó nhiều. Trương Đường Anh đời Thanh cho câu đối xuân có trước cả đời Tống. Có người lại dựa vào giai thoại của Vương Hy Chi về câu đối của ông nhân ngày tết, thì chủ trương câu đối xuân phải có từ đời Tấn.

Chuyện đó như sau: Có một năm nhà thư pháp trứ danh Vương Hy Chi chiều ba mươi tết, cho treo đôi câu đối chữ rất đẹp. Nhưng ai đến xem thưởng thức thì đều không hiểu sao ông lại chơi đôi câu đối tết thế này. Xem ra, toàn chuyện không hay. Vế một là Phúc vô song chí (Phúc không đến hai lần), vế hai là Họa bất đơn hành (Họa chằng đi một mình). Đọc rồi mọi người đều cau trán bỏ đi. Nhưng đến hôm sau, phần gỗ đào ở phía dưới mới được Vương Hy Chi viết tiếp, toàn văn như sau:

Phúc vô song chí, Kim triêu chí
Họa bất đơn hành, tạc dạ hành

Nghĩa là:

Phúc không đến cặp, sớm nay đến
ọa chẳng đi xuống, tối trước đi

Thì lại là đôi câu đối thật hay, vừa ỡm ờ lại vừa độc đáo…

Trong từ điển Trung Quốc thì chép theo sách cổ Sơn hải Kinh: "Câu đối bắt đầu từ tục làm đào phù (thẻ đào). Ngày trước, dân Trung Hoa, tết đến dân chúng thường lấy gỗ đào khắc lên hai vị thần là Trần Trà và Quách Lũy, treo ngoài cửa để đuổi tà ma gọi là đào phù (thẻ đào hoặc bùa đào).

Sau đó thay bằng giấy vẽ lên, cho đến đời Hậu Thục thì phát triển thành câu đối. Người có câu đối đầu tiên treo ở đời Hậu Thục là Mạnh Xưởng. Đó là câu: “Tân niên khai dư khánh, Giai tiết hạ trường xuân" nghĩa là "Năm mới bày tiệc lớn. Tiết đẹp mừng xuân dài”…

Ở Việt Nam, tục chơi câu đối Tết ở những thế kỷ trước cũng khá phổ biến. Câu đối cửa miệng nói điều ngày Tết, nhà nào cũng có là:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Tết xưa, câu đối gánh về bán tận làng, hoặc bày bán trong các cửa hàng ở chợ tết. Thường thì ngày tết, nhà giàu, mua thêm đôi câu đối hay trang hoàng hoặc thờ trong nhà câu đối thường làm bằng gỗ tốt, sơn then hoặc sơn son, chữ vàng, được ban sẵn, phần lớn là trên gỗ phẳng, cũng có khi hình cong ốp vào cột, nổi bật hơn. Câu đối chơi có khi khắc họa văn điểm tô ở đầu và chân từng vế, còn hình thức thì khắc theo hình qủa bầu, quả bí khá đẹp. Có đôi còn khảm trai, khá đắt tiền…

Những người hay chữ, tết đến thường dùng mực nho tốt, giấy điều, tự nghĩ ra câu đối mình ưng, hợp với cảnh nhà mình mà viết ra...

Câu đối tết xưa được lưu truyền cũng có nhiều câu khá hay như của Nguyễn Công Trứ:
*Chọc trời ngất một cây nêu, hết tối ba mươi, gì cũng hết

Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một, thế là xuân.

*Tối ba mươi, nợ hỏi tít mùa, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.

Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà…

Của Nguyễn Khuyến:

*Tết đến, rượu ngon đưa mấy chén
Xuân về, bút mới thử vài trang

*Tranh pháo vui xem đàn trẻ nhỏ
Tóc râu them một sợi tuổi trời cao.

Của Trần Tế Xương:

*Đì đẹt, ngoài xân, tràng pháo chuột
Lập loè trên vách, bức tranh gà

*Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
Nhân tình trắng thế lại bôi vôi…

Có người lấy thơ Đường ra viết câu đối, được câu rất hay, thờ cũng được mà chơi tết cũng được:

Hiền giả quý vị đức
Thanh sơn sắc tự xuân

(Người hiền quý vì đức
Núi xanh sắc tự xuân).

Thông thường dân chúng thường mua hoặc viết đôi câu đối tết, cầu phúc lộc cả năm như sau:

Nhân tăng phú quý nhân tăng thọ

Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường

Nghĩa là: Người thêm giàu sang, người thêm thọ. Xuân đầy trời đất, phúc đầy nhà…

Ngày nay, nhiều nhà thư pháp, dân chúng vẫn còn thú chơi câu đối tết. Không những câu đối bằng chữ Hàn mà còn viết bằng chữ Việt nữa khá bay bướm. Nhiều tờ báo tết, mục câu đối cũng là một nhu cầu của bạn đọc, không thể thiếu được.
II.

Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các nhà nho cho tới những người bình dân "tồn cổ" vẫn còn trọng tục treo "câu đối Đỏ" nhân ngày Tết. Những câu đối này được viết bằng chữ nho (màu đen hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào nên thường được gọi chung là câu đối đỏ.

Chữ nghĩa ở các câu đối này thường là những chúc tụng nhân năm mới, chẳng hạn như:

Phước thâm tự hải (hạnh phúc nhiều sâu như biển)
Lộc cao như sơn (của cải nhiều cao như núi)

Hay:

Thiên tăng tuế nguyệt, nhân tăng thọ (Trời đất ngày gia tăng ngày tháng ví như con người mỗi năm tăng thêm tuổi thọ)

Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường (mùa xuân về đầy trong Trời đất ví như hạnh phúc đầy nhà)

Câu đối cũng còn được gọi là Liễn. Liễn thường là những dải giấy màu đỏ hay hồng đào, hai đầu dải giấy có làm trục bằng gỗ hay bằng tre để khi treo lên thì dải câu đối được ngay ngắn. Cũng có khi liễn không cần có trục và chỉ là những dải giấy để tiện dán vào những nơi cần treo như ở hai bên bàn thờ, các cột nhà cửa, cổng hay ngõ...

Trước đây ở chốn thôn quê, mỗi khi Tết đến, người ta còn cẩn thận dán liễn đỏ ở cửa chuồng lợn, trâu, bò hoặc ở thân cây dừa, nhãn, ổi, na... để ngụ ý cầu mong cho mọi sự được tốt đẹp như lợn, trâu, bò hay ăn chóng lớn, sinh đẻ đầy đàn... các cây thì sai trái.

Những nhà không có đủ khả năng và phương tiện viết câu đối ăn Tết thường phải nhờ những cụ đồ nho chuyên viết và bán những câu đối Tết.

Các văn nhân nhân dịp Tết cũng thường làm câu đối để bày tỏ ý chí của mình hoặc chỉ trích những thói hư tật xấu của người đời, chẳng hạn:

Thiên hạ xám rồi còn đốt pháo
Nhân tình bạc thế, lại bôi vôi

(Trần Tế Xương)

Hay:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn
Ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới
Sáng mồng một, lỏng theo tạo hóa
Mở toang ra, cho thiếu nữ đón xuân vào

(Hồ Xuân Hương)

Câu đối Tết
Những câu đối hay ngày Xuân

Ngày xuân, nhâm nhi chén rượu, đọc đôi câu đối, cũng là một cái thú của người Việt Nam ta.
Xin gởi đến Thân Hữu vài câu Đối ngày Xuân để chúng ta cùng vui xuân, thưởng thức tài trí của ông cha ta trong lĩnh vực văn hoá đậm đà màu sắc dân tộc này.

Những câu đối Tết quen thuộc :

-Ông vua này hay chữ Lê Thánh Tông trong ngày cuối năm đã mặc giả thường dân, ra ngoại thành xem dân tình chuẩn bị Tết. Nhà vua ghé thăm một quán bán trầu nước, thấy gia đình neo đơn, chưa hề có không khí đón Tết, đã tự tay viết giúp bà chủ quán đôi câu đối đỏ hoàn toàn bắng tiếng mẹ đẻ treo trước cửa hàng:

Nếp giầu quen thói kình cơi, con cháu nương nhờ vì ấm

Việc nước ra tay chuyên bát, Bắc Nam đâu đấy lại hàng.

Câu đối miêu tả một quán bán trầu nước mà ta thường gặp, có đủ giầu (cau), cơi (trầu), ấm, nước, bát, hàng… nhưng lại mang khẩu khí của bậc đế vương: “Việc nước ra tay chuyên bát, Bắc Nam đâu đấy lại hàng ”.

- Câu đối Tết của “Bà chúa thơ Nôm” thì dân gian biết bao và tuy còn đôi từ Hán-Việt nhưng ai cũng hiểu được:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỷ tới

Sáng mồng một lỏng then tạo hoá, mở toang ra cho thiếu nữ ruớc xuân vào.

Nhưng quen thuộc nhất là câu đối Tết của nhà thơ đất Vị Hoàng mà người Việt Nam ta ai cũng nhớ:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Câu đối “dán chuồng lợn” hay là câu đối chỉ dùng có …hai chữ

Đây là câu đối của Nguyễn Khuyến khi ông còn là cậu học trò nhỏ. Học giỏi được thầy, bạn quý nhưng cậu lại bị anh trưởng tràng học kém hơn ganh ghét. Anh ta bày trò bắt cậu làm câu đối “dán chuồng lợn” để giễu cợt (vì có ai làm câu đối để dán chuồng lợn bao giờ!?). Cậu đã làm ngay đôi câu đối để trả đũa anh trưởng tràng, vì vậy hai vế chỉ dùng có… hai chữ “trưởng tràng”:

Trưởng trưởng, tràng tràng, tràng trưởng trưởng.

Tràng tràng, trưởng trưởng, trưởng tràng tràng.

(Nghĩa là: Lớn lớn, dài dài, dài lớn lớn Dài dài, lớn lớn, lớn dài dài).

Câu đối dán chuồng lợn là để cầu cho lợn chóng lớn, thiết tưởng không còn câu nào hay hơn thế, nhưng đã cho anh trưởng tràng một vố thật sâu cay, nhớ đời.

Câu đối cực ngắn, dí dỏm thông minh là những câu đối vui, những câu đối cực ngắn chỉ có thể tìm trong văn học dân gian.

Ngày xuân, hai ông đồ cùng ngồi nhắm rượu, đối văn. Ồng đồ thôn Đông gắp một miếng chả nhai tóp tép rồi tung ra một vế đối:

- Chả ngon

Ông đồ thôn Đoài cũng đang bí vì cái từ “chả” hai nghĩa ấy thì may quá từ gầm giường một con cóc nhảy ra, miệng cũng nhai tóp tép.

Ông liền đối ngay:

- Cóc sướng

“Cóc” đối lại “chả” thật tuyệt vì nó cũng mang hai nghĩa như vậy. Ông thôn Đông chịu là giỏi, vờ cắn phải lưỡi kêu lên:

- Ái! (vừa là tiếng kêu, lại có nghĩa là yêu). Tiếng kêu làm ông thôn Đoài giật mình, đánh rơi miếng thịt hoen bẩn hết chiếc quần sộp.

Ông đối lại ngay:

- Ố! (vừa nghĩa là hoen ố, lại có nghĩa là ghét) Thế là hoà cả làng. Người ra đã hóm, người đối cũng hay. Tài trí dân gian thật tuyệt vời.

Câu đối chơi chữ Việt với chữ nước ngoài:

Câu đối chơi chữ Việt-Pháp:

Hai chân duỗi thẳng đơ (deux= hai)
Sáu cỗ ngồi xúm xít (six= sáu)

Câu đối chơi chữ Việt- Anh:

Chó gâu gâu đi cắn trộm ăn đòn (to go= đi)

Lợn ủn ỉn ốm nằm dài chê cám (ill= ốm)

Câu đối viếng của giới Văn nghệ sĩ:

Tú Xương sinh năm 1870, sau Nguyễn Khuyến 35 năm (1835), nhưng lại ra đi trước, khi nhà thơ mới có 37 tuổi (1907). Cụ Tam nguyên Yên Đổ lúc đó đã 72 tuổi, chống gậy đến viếng người bạn thơ đất Vị Hoàng bằng câu đối:

Kìa ai chín suối Xương không nát
Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn

Khi nhà thơ Quang Dũng qua đời (13/10/1988), nhà thơ lão thành Khương Hữu Dụng đã có đôi câu đối viếng:

Yêu sao chàng tuổi trẻ!

Cơm lên khói, súng ngửi trời, đoàn Tây Tiến đường lên thăm thẳm.

Tiếc mấy bạn thơ già!

Nắng đốt màu, mưa rụng lá, mây đầu ô gió đuổi bời bời.

Câu đối... toán học:

Câu chuyện xảy ra giữa bố vợ và chàng rể. Bố vợ là cụ đồ sống vào buổi giao thời nên hiểu cả Tây học, cụ quý chàng rể ham đọc sách và biết ngoại ngữ. Một bữa bắt được con ba ba, định bụng gọi chàng rể đến làm thịt, nấu nướng rồi cùng nhau nhâm nhi. Nhưng thấy con rể vẫn cắm đầu vào quyển sách ngoại ngữ dày cộp, cụ lại thôi. Nấu nướng xong xuôi, cụ sang gọi chàng rể:

- Ham đọc sách thế là tốt. Nhưng đọc sách thì phải biết vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Ta ra cho anh một vế đối, nếu đối được thì sang đánh chén, không đối được thì bị “ăn đòn”:

- Dạ. Xin thầy ra vế đối.

- Được. Hãy nghe đây:”Hầm ba ba đã chín”. Đối đi. Đối cho chỉnh vào.

Câu đối quả là hóc búa, vì “ba ba” là con ba ba nhưng cũng là ba lần ba là chín. Chín vừa là tính từ (đã được hầm chín), lại vừa là số 9. Phải đối sao cho có phép tính nhân với tích số mang hai nghĩa như vế đối ra. Chàng rể đang bí, bỗng có chiếc xe bò chở cát đi qua. Anh ta mừng quá, vội xin đối:

- Dạ con xin đối là: “Chở cát cát đầy xe”

Cụ đồ nghe xong, vỗ đùi khen “Giỏi”.

Chàng rể đối “cát cát” nghĩa là hạt cát, nhưng tiếng Pháp “cát” (quatre) là số 4, “cát cát” là 4x4=16. Tiếng Pháp đọc 16 là seize, đọc là xe, nên “xe” ở đây vừa là cái xe bò vừa là số 16, tích của phép nhân. Thật tài tình! Vế ra chơi chữ tiếng Việt, vế đối lại chơi chữ cả tiếng Việt- Pháp.
III.

Sáng tác câu đối là một thú chơi tao nhã của bậc trí thức nhiều thời, có nội hàm văn hóa rất cao, thể hiện luân lý của người Á Đông nói chung, tính nhân văn của dân tộc ta nói riêng. Mỗi độ xuân về, ngoài việc trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, nhà nào cũng dán câu đối.

Nội dung của các câu đối thường mang nghĩa chúc tụng, thể hiện ước vọng an lành, cầu an khang, thịnh vượng:

Gia đình hòa dẫn xuân phong mãn
Diên kí quang đăng thọ diện cao

(Nhà đầu ấm gió xuân phơi phới
Tiếc mừng vui sao thọ ngời ngời)

Tết đến, người người thêm một tuổi, trướng thành hơn. Đó cũng là sự hãnh diện, là niềm hạnh phúc của mỗi người. Xuân về, trăm hoa đua nở, không khí mát lành là thời gian đế mọi người nghỉ ngơi, vui chơi sau một năm lao động mệt nhọc. Để tổng kết lại chặng đường trong năm qua và định hướng cho năm tới tốt lành hơn trong ngày xuân, người ta cũng thích dùng câu đối:

Thiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường

(Trời thêm năm tháng, tuổi thêm thọ
Xuân khắp đất trời, phúc khắp nhà)

Phúc là điều tốt lành được dân gian quan niệm là trên hết. Theo triết lý phương Đông, có phúc thì sẽ có con cháu đầy đàn, giúp ích cho việc tăng gia sản xuất, nối dõi tông đường. Vì vậy, trong tam tinh (Phúc, Lộc, Thọ) thì Phúc đứng đầu. Trong các mùa của năm, mùa xuân đứng đầu vì mùa này giúp cho cây trái tươi tốt, đem đến bao ước vọng an lành, vì lý do đó, chúc xuân là phải chúc Phúc:

Tứ thời xuân tại thủ
Ngũ phúc thọ vi tiên

(Bốn mùa xuân trên hết
Năm phúc thọ đầu tiên)

Ngày tết cũng là dịp để mọi người nhớ về cội nguồn, nhớ đến công ơn dưỡng dục, sinh thành của ông bà, tổ tiên nên bàn thờ gia tiên ngoài hương đăng trà quả còn có các hoành phi, câu đối thể hiện sự biết ơn tổ tiên, ông bà:

Cúc dục ân thâm Đông hải đại
Sinh thành nghĩa trọng Thái Sơn cao

(Ơn dưỡng dục sâu tựa biển Đông
Nghĩa sinh thành cao hơn núi Thái)

Ngoài ra, còn có các hoành phi, liễn đối khác dán khắp nhà cũng không ngoài mục đích ước mong sự thái bình, làm ăn phát đạt, cát tường. Trước cửa nhà, người ta thường dán câu: Xuất nhập bình anh hay Ngũ phúc lâm môn. Trên tủ quần áo hoặc trên trái cây thờ cúng thì dán chữ đại kiết, còn ở lu gạo thì người ta dán chữ Mãn thể hiện ước muốn gạo trong lu đầy mãi. Riêng những gia đình chuyên buôn bán thì dán câu đối với sự cầu mong mua may, bán đắt, dập dìu khách đến, tấp nập người mua:

Xuân đáo khách phòng xung hỷ khí
Hoa khai tương điếm phức hương phong

(Phòng khách xuân sang đầy vẻ đẹp
Cửa hàng hoa nở nức mùi hương)

Bên cạnh các câu đối mang nội dung chúc tụng trong các dịp hiếu hỷ, lễ tết, một số nơi ở Nam bộ còn cho dán câu đối ở trước cửa nhà để nói lên chí hướng và hoài bão của gia chủ.

Phục kế tổ huấn lập đại chí
Thân công đạo lộ chấn gia thanh

(Khôi phục và nối tiếp lời dạy của tổ tiên để lập nên chí lớn
Con đường thành công của bản thân mình cũng sẽ làm cho thanh thế của gia đình nổi lên)

Ngoài ra, những gia đình có đặt tên hiệu cho nhà mình cũng dùng lối chiết từ để tạo thành câu đối. Tên hiệu của mỗi gia đình thường là để nói lên ý chí, ước vọng của gia chủ về những điều lành, sự giàu sang, phú quý. Cho nên, chiết tự từ cửa hiệu để tạo thành câu đối cũng nhằm khuếch trương quang đại cho gia đình và dòng họ. Ví dụ, một gia đình ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng có cửa hiệu là Mộc Lợi, đã dùng câu đối sau:

Mộc gia tiên đức sáng cơ nghiệp
Lợi phát tài nguyên chấn gia thanh

(Cái đức đời trước của gia đình họ Mộc an dựng nên cơ nghiệp
Nên lợi lộc tiền tố đời nay làm uy danh gia tộc mình thêm)

Một gia đình khác có tên hiệu là Kim Lợi, thì sẽ tương ứng với câu đối sau:

Kim ngọc mãn đường tích thiên tứ
Lợi lộ hanh thông vạn đại xương

(Vàng ngọc đầy nhà là do thụ hưởng được ơn của trời
Con đường lợi lộc có tốt đẹp là do gia tộc: muôn đời làm điều tốt)

Một số tỉnh, thành Nam bộ, câu đối không chỉ được viết trên giấy màu đỏ (Câu đối đỏ), mà còn được viết ra giấy màu xanh (câu đối không chỉ viết bằng chữ Hán hay chữ quốc ngữ, mà còn bằng chữ Khmer. Dán câu đối màu xanh là việc chẳng đặng đừng vì chỉ có màu đỏ mới thể hiện cho sự cát tường, may mắn. Câu đối xanh chỉ do trong trường hợp gia đình có chuyện buồn vào những ngày vui, chẳng hạn không may trước ngày tết có người thân qua đời. Câu đối xanh là "trung hòa" cho việc buồn xảy ra trong ngày vui đó. Dán câu đối xanh cũng giúp cho những người đến viếng đỡ bối rối, ngại ngùng khi ngày tết mà phải đi viếng đám tang.

Nội dung câu đối xanh thường là nói về tình nghĩa của người đang sống với người đã khuất hoặc ca ngợi công đức của người quá cố.

Câu đối được viết bằng chữ Khmer là do sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Việt, Hoa, Khmer trên mảnh đất Nam Bộ, viết bằng mực đen và giấy đỏ, cũng được dán trước cửa nhà, cửa buồng, dán ở cột nhà, nội dung các câu đối cũng là chúc mừng năm mới, đón chào quý khách, giàu sang phú quý…

Ngày xưa, trong các phiên chợ Tết, người ta thường mua vài câu đối của các ông đồ viết sẵn mang về nhà treo.

Thật là thiếu sót nếu ngày Xuân mà không có câu Đối.
NNS
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#898 Posted : Saturday, February 5, 2011 3:53:30 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
CÁI TÌNH TRONG CA DAO VIỆT-NAM

UserPostedImage

Ca dao là tiếng nói trung thực,phản ảnh rõ nét nhất trong văn chương bình dân, được miêu tả sự việc xẩy ra hằng ngày giữa cuộc đời và trở thành những câu hò, điệu hát của nhân gian như những bản tình ca bất diệt, đượm màu thế tục;tình yêu,tình đời với một ẩn dụ tự nhiên làm cho người ca ngâm cũng như người nghe có một cảm nhận gần gủi,tuyệt vời.Ca dao còn hóa giải mọi tình huống uẩn khúc,lời ca ấy làm cho con người không còn cảm thấy đau khổ nữa “L’homme souffre,mais en chantan sa souffrace,il la dépasse”.

Vì vậy; nói đến văn chương bình dân chúng ta không thể quên thi ca bình dân mà ca dao nắm một vai trò chủ lực và những thể loại quen thuộc, không ước lệ,không qui cách,tuy nhiên lời thơ của ca dao vẫn giữ đúng vần điệu có khi rất chuẩn về luật bằng trắc nhờ đó mà dể đả thông tư tưởng, trực chỉ vào lòng người một cách sâu lắng.

Ca dao là ca hát,tự nó trở thành khúc đi thẳng vào lòng và bày tỏ được nội giới dù dưới một không gian hay thời gian nào ngoài ra ca dao còn là gia-huấn-ca,một tâm lý đạo đức,dạy làm người…đôi khi văn thơ phải mượn ngôn từ của ca dao để nói lên cái tình người,tình đời một cách chính xác hơn.
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

giáo dục con trẻ khi mới lớn:
Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu giao tình

hoặc một ý nghĩa thâm sâu khác:

Cá không ăn muối cá ương Con cãi cha mẹ trăm đường con hư


Những câu ca dao lục bát như thế ắt phải nằm sẳn trên môi của mọi người một cách dể dàng và thông đạt lắm!

Đó là cái nhìn nội giới trong ca dao mà mỗi khi chúng ta phóng vào hiện tượng; đó là bản thể của “cái tình” trong ca dao.Tuy mỗi câu hò điệu hát có khác nhau nhưng cái nhìn của tình yêu vẫn là một và cái gặp gỡ đó,nói chung; là cái đồng tình bất biến của con người.Sự gặp gỡ chính nơi lòng ý thức,nơi thức tỉnh của ý thức trước những hiện hữu đời và gia đình hay chính là nơi những gì mà con người kêu lên thiết tha hay để bộc lộ sự thống khổ.Hình ảnh của thi ca nói chung và của ca dao Việt Nam nói riêng là tiếng kêu thức tỉnh của con người tạo nên, dùng để ví von của người dân quê trước cuộc đời.Mà cuộc đời này; con người đã gắng bó chặt chẽ trong mọi hoàn cảnh trong mọi tình huống của đời người,từ những tình cảm của cái tình đó đã nói lên được một cái gì âu yếm và thầm kín.
Anh đi ba bửa nhớ về Rừng sâu nước độc chớ hề ở lâu

Hình ảnh “anh đi ba bửa”rồi”chớ hề ở lâu” nó biến ca dao thành thi ca,từ những hiện tượng thực thể biến thành tha thể xuất phát từ ngoại giới đi vào nội giới giữa mối liên hệ tha nhân và chủ thể nó cặp kè,sánh vai trong hoàn cảnh đối đáp để nên vợ nên chồng,ca dao không còn hiện diện với ca với hát mà biến dạng thành hò,câu hò trực diện với thực tại như một sự hiến dâng!
Trai nào nỗi tiếng anh hào Anh mà đối đặng má đào em xin trao ơ…ơ

Cái vũ trụ mộng mơ ấy hoàn toàn ở trong đôi mắt chiêm ngưỡng của con người khi phóng cái nhìn vào tương lai giữa sự viên mãn của tình yêu.Vũ trụ này chưa hiện thực rốt ráo nhưng đã xuất phát một ước vọng thực hữu.Hình ảnh cuộc đời không bị tha hóa mà bắt nguồn từ vũ trụ thực hữu;vì vũ trụ ấy có thực trong cuộc đời này.
Trai nước Việt nỗi tiếng anh hào Anh đà đối đặng vậy má đào xin trao dâng ơ…ơ

Hẳn nhiên; ý thức giữa trai gái rất đặc thù trong phạm vi lứa đôi,nói trắng ra là tình yêu qua mọi lứa tuổi, đặc biệt tình yêu nông thôn, ý thức ấy bừng lên từ cuộc sống và chiếu sáng cuộc sống đó là lối tả chân mà cảnh đời không có hoặc chưa có nên chi vũ trụ dự ước của con người cũng là những cảnh đời có thực mà được phóng nhiệm lên cảnh đời có thực trong ca dao.Cho nên ca dao phát ra giữa chốn đồng quê,giữa nơi xa phố thị tự nó dâng tràn trong nhân gian,vì thế tìm đến một tác giả trong ca dao đều trở nên không cần thiết và có muốn biết chăng nữa cũng không được vì mọi người đã đi vào cảnh đời một cách tự nhiên và tự nhiên như mình là tác giả vậy! Nó vượt thoát cả không gian và thời gian kể cả hiện tại,quá khứ và tương lai,vượt thoát từ những người sáng tạo ra ca dao,ca dao bỗng nhiên độc lập để tạo cái đắm đuối,rụt rè,e lệ nhưng đầy tính lãng mạn cho dù mối tình chân lấm tay bùn.
Ngó em chẳng dám ngó lâu Ngó qua một chút đở sầu mà thôi!

Cái ngó ấy là cái ngó thức tỉnh,một cái ngó của kẻ tình si và cũng là cái nhìn mơ mộng của người đồng quê đứng trước cuộc đời có thực.Chính đó là sự sáng tạo của ca dao.Nói đến mơ mộng hình như chúng ta đụng phải một phản ứng tâm lý.Theo tâm lý học giài thích: khi mơ mộng thì đó không phải là một trạng thái thức tỉnh.Tâm lý học quan niệm như thế nầy”En suivant la pente de la reverie”Tiếp đó là cái mơ về của ý thức thức tỉnh “đở sầu” nằm trong ý thức mơ về (rêver à/daydreaming)mà ở đây mơ không có nghĩa là buông xả theo giòng đời và chìm dần trong mộng để rồi mất luôn tính sáng tạo nghệ thuật vì ý thức thức tỉnh thường đối lập với ý thức thức tỉnh nghệ thuật và làm lu mờ ý thức mơ về cho dù trong chiêm bao chăng nữa đã cho thấy một ý thức thức tỉnh.
Một duyên, hai nợ, ba tình Chiêm bao lẫn quất bên mình năm canh

Thành ra mơ chiêm bao ở đây là cái nhìn sáng tỏ của cái mơ về giữa duyên,nợ và tình đã bừng lên trong ý thức về thân phận của người phụ nữ.

Mơ về hay chiêm bao không còn là mối sầu buông xuôi của tâm lý học mà trái lại mơ và chiêm để phóng thể ngôn từ”bên mình năm canh”trong giấc mơ nữa đêm trở nên ý thức chớ không phải chiêm bao vô thức.

Trong cái nhìn vũ trụ quan như thế đã cho ta thấy được ca dao là một lối sáng tạo hết sức đặc biệt mà chất liệu là cảnh đời,cô đọng trong từng câu hò điệu hát mượn từ ca dao để mơ về…

Ca dao không đòi hỏi tác giả là ai,nó đã trở thành của chung,tác giả chung giữa cuộc đời này mà trong thi ca vốn có sự bừng tĩnh đầy sáng tạo,ca dao đại diện cho những cuộc tình trọn vẹn hay tan hợp,nói lên nỗi nghẹn ngào,uất nghẹn tất cả qui về sự mơ về cõi thực để tìm thấy được chân lý của cuộc đời.Giờ đây ngôn từ sáng tạo của ca dao đã thành thơ,những thể thơ mới như ngày nay.
Cá lý ngư sầu tư biếng lội
Chim phượng hoàng nhớ cội biếng bay
Anh thương em đừng vội nắm tay
Miệng thế gian ngôn dực Phụ mẫu hay sẽ rầy


Ca dao như thế đấy! mỗi khi đọc lên đã cho chúng ta cái cảm giác tợ như ức chế,như phụ rẫy như khoa phân tâm học quan niệm.Lối thoát bằng ức chế chỉ xẩy ra với cảnh đời,những người bị tập quán kiềm chế mới lâm vào khát vọng của bản năng cho nên mới tìm lối thoát bằng lối này hay hình thái khác để tránh né.Quan điểm đó đôi khi cũng có tính võ đoán và không hoàn toàn đúng hẳn,cho nên đừng để cái nhìn ức chế vào đây.Vì sao? Vì “anh thương em” có nghĩa là đừng vội đánh mất cái đẹp mà đây là tiếng nói mặn mà,bất luận ở đâu nơi chốn nào người phụ nữ Việt Nam đoan trang trong tiếng nói ấy tức tiếng nói của ca dao,tiếng nói soi sáng,tiếng nói của ái tình.
Em có thương anh
Em nói cho thiệt tình
Để anh lên xuống Ơ…ơ chớ một ơ…ơ mình ơ bơ vơ


Đó là một thứ gì vô biên chân thật của tình đồng quê một bày tỏ cao nhất trong đời nhưng biết nói làm sao khi ý thức vô biên chưa có thì nói làm sao khi cái nhìn tuyệt đối chỉ ngưng trong hiện tượng của đất trời cho nên họ không ngần ngại bộc bạch một cách chân tình cho dù ngập ngừng bày tỏ “ơ.. ơ chớ một ơ.. ơ mình ơ..bơ vơ” Ca dao nông thôn nó diễn tả tích cực như thế đó!diễn tả cái mùi vị chất phát mặn mà, đượm bạc,cái ngập ngừng dể yêu ấy.

Đó là hướng đi lên của ngôn từ ca dao Việt Nam thoát ra từ tiếng nói văn chương bình dân để đạt tới hiệu năng của sự bày tỏ.Cho nên hình ảnh của ca dao;dù sao đi nữa nó vẫn có cái mới của riêng mình,mở ra một ngôn từ sáng lạn và nó cũng đánh dấu những bước thăng trầm của sức diễn đạt giữa người với người,những hình ảnh của ca dao vô hình chung trở nên tư liệu của cảnh đời:người,cảnh vật,nhân sinh và tình yêu.Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng nhờ ý thức chuyển vị đẹp đẻ đó của con người cuộc đời trở nên tươi đẹp hơn “the beautiful-life”nhờ đó tình cảm con người được tỏa rạng.Cho nên khi bắt gặp một hình tượng trong ca dao,dù có mộc mạc bao nhiêu cũng mở rộng cho chúng ta một chân trời mới đầy ý nghĩa hơn nhất là tình yêu có một sắc màu luôn luôn lung linh của người con gái xuân thì dưới một cái gì lả lướt của ca dao.Ngôn ngữ ca dao rất cô đọng và tràn đầy.
Tóc em dài em cài bông hoa lý Miệng em cười anh để ý anh thương

Ý nghĩa của ca dao là ở cái chỗ mộc mạc đơn sơ nhưng lại là một sự thức tỉnh nội tại,một sự khám phá của con người vừa hào hứng vừa can đảm mà chúng ta phải đón nhận như chính chúng ta đón nhận cuộc đời này. Đó là cái nhìn khám phá:

- Khám phá nội tâm bằng cái nhìn ngoại giới.

- Khám phá ngoại giới bằng cái nhìn nội tâm.

Chính hai cái nhìn tuy nghịch đảo nhưng bổ sung cho nhau để nhìn thấy giấc mơ của người nghệ sĩ ca dao. Đó là một vũ trụ hiện thực để góp phần hạnh phúc cho đời.

Cho nên cái mộc mạc của nông thôn đã làm cho họ cảm thấy hạnh phúc,sung sướng và mỗi câu ca dao nói lên cảnh đời;dù trong mơ vẫn trung thực với đời.Vì vậy cái nhìn của họ như bao trùm từ ngoại giới đến nội giới đều đúc kết thành lời thơ,lời thơ đó chúng ta gọi là ca dao.
Nàng về nàng nhớ ta chăng Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười

Mỗi lúc cái nhìn hay cái nhớ càng phóng ra rộng rãi, càng thấy cuộc đời đẹp và bao la diệu vợi,kể cả nụ cười nhe răng”cần cẩu” vẫn là niềm nhớ không quên,bởi vì; chán gì những cái nhớ mà lại đi nhớ hàm răng em cười,biết đâu trong cái nhớ đó có một chút gì lãng mạn của ca dao(?),tầm thường thật nhưng bao la và mênh mông vô cùng đối với ngôn từ của ca dao.

Thật ra đi vào cuộc đời, đi vào vũ trụ không dể dàng như thế mà chính là một sự khám phá không ngừng.Trong sự khám phá ấy,con người bắt gặp vừa mình vừa vũ trụ một lối khám phá tìm ra được hai hiện tượng. Đối tượng của sự tìm gặp chính là khám phá cái nội giới mà ca dao lãnh một phần trách nhiệm trong ngôn từ(kể cả đối thoại) và ý nghĩa.Nhưng trong hai tượng ấy người ta có thể phân biệt được;

- Bản ngã tự tại
- Vô ngã vũ trụ

Những cái vô ngã vũ trụ được hữu ngã hoá cho nên cái bản ngã tự tại ngay phút đầu đã trở thành cái vô ngã của bản ngã. Đó là sự cố đã khua động bản ngã của con người để sáng tạo và giúp cho con người thực hiện câu thơ để chia xẻ với tha nhân;con người đã nhìn cái đẹp một cách siêu thoát đó là cái vô ngã được hữu ngã hoá nhờ cái nhìn của bản ngã từ “một thương cho tới mười thương” là đề cao cái đẹp phong phú vừa cao đẹp vừa thẩm mỹ học và chính cái tôi bày tỏ lại đứng sau và được hữu ngã hoá vũ trụ để làm tan biến ngoại giới mà trở về với bản ngã mà không có cái tôi trong đó .


UserPostedImage
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thượng quai thao dịu dàng
Bảy thương nét ở khôn ngoan
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh
Chín thương em ở một mình Mười thương con mắt đưa tình với anh


Do đấy con người của ca dao là con người của cuộc đời,của vũ trụ chớ không phải con người chỉ là con người như một ý thức bi đát về người.Lối về của vũ trụ đã chiếm cứ hiện tượng bằng bản ngã của mình,chính là lối đi về của tình thương,cái tình mà con người tìm thấy;tất cả ca dao là ở chỗ ấy và có thể nói ca dao có hai bề mặt là bản ngã và vô ngã cả hai mảng nầy dùng để xoa dịu những xót thương hay thương mong về tình cảnh khi con người mới dấn thân vào đời và vũ trụ.Bởi vì tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức được.

Từ những vị trí đó giấc mơ về vũ trụ giúp cho con người thoát được thời gian,không còn thấy sự lôi cuốn của thời gian.Từ bản thể nhìn ra đó là trạng thái của tâm thức và ca dao mở rộng trước mắt ta bằng hiện tượng của trạng thái tâm hồn.
Chiều chiều ra đứng ngõ sau Ngó về quê mẹ ruột đau chít chìu

Tất cả là biểu tượng để biểu dương trạng thái mơ về(Rêve a/daydreaming) đó là trạng thái thắc mắc về nhớ thương. Đấy là tâm hồn hiến dâng cho vũ trụ “chiều chiều” là thời gian thuộc khách thể,trong cái đau đớn “ruột đau”là thế giới của nội tại.Với ca dao những ngôn từ thường chứa đựng một nội dung mới của từ ngữ đều qui định một tâm thức trước cuộc đời và vũ trụ.

Mọi sự vật đều hướng tới với con người và đó là cơ hội để người nghệ sĩ đưa vào ca dao những khát vọng yêu đương một khát vọng đầy hứa hẹn,như cuộc tình hay cuộc đời mong muốn.
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn đỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu Chín trăng em đợi mười thu em chờ


Đó là hiện thực của sự bày tỏ về cảnh giới giữa thành thị với nông thôn và ngôn từ của cuộc sống đã lý giải cái tâm sự tha thiết và chân thật của người yêu,chân thật ở cái chỗ ẩn dụ đó.Người nghệ sĩ bình dân sắp xếp ngôn từ trong thơ để có cái nhìn sự vật và chính cái nhìn đó thoát ra một số tâm lý của con người và chính cái tầm thường đó chẳng hạn như “râu tôm”hay”ruột bầu” ở những nơi thôn dã đìu hiu được người nghệ sĩ cho sống lại cái tình chân đó như một đòi hỏi cần thiết mà nghe rất bình dị của lớp người muôn đời trong ao tù nước đọng.Ca dao bình dân nói lên được cái khát vọng đó mà nhà thơ bình dân của chúng ta hoà nhập một cách tài tình giữa vũ trụ đầy khát vọng tình người.
Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

Đọc lên ta cảm nhận được phần nào lẽ sống,một lẽ sống nồng đượm của tình yêu khát khao đi từ chủ thể con người đến cuộc đời.Ca dao diễn đạt được cái mối giây liên lạc ấy.Mối giây đó không phải hai chiều giữa người và sự vật.Vũ trụ khát vọng của ca dao là hình ảnh cuộc đời mà con người mơ về một cái gì tầm thường nhưng ước sống.Ca dao tạo được cảnh giới mơ về cho những người thành thị và những người xa tầm vóc bình thường.Ngay cả việc mơ về của tình yêu trong cái dung dị đó nó đã hàm chứa một tương lai,một lối đi về của cuộc đời.Mơ về ở đây là cuộc đời có thực chính đấy là phần ý nghĩa hiện hữu của con người.Ca dao tạo nên những giấc mơ hiện thực như vậy đó; cho nên cuộc đời mà ca dao vốn có ý nghĩa và sống có ý nghĩa để đưa tới cảnh đời hiện thực.
Trầu vàng ăn với cau xanh Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời

Cho nên văn chương bình dân thường nói lên tâm trạng khát vọng đôi khi nó pha lẫn màu sắc triết lý tiềm ẩn trong ca dao,nó có cái gì mầu nhiệm trong cuộc đời tình ái, đầy bí ẩn trong cái nhìn ẩn dụ(metaphorical) của con người đó là biện-chứng-tức-thì trong mỗi tâm trạng,một tình cảm đơn thuần.Nhưng với triết học có một sự tương quan tối thiểu giữa ta và cuộc đời như một tương quan giữa chủ thể và tha thể; đó là tương quan giữa con người với cuộc đời.Nên chi vượt qua cái nhìn đối tượng và cũng nhờ cái nhìn đó mà vượt qua được giới hạn để đi tới một giá trị trực tiếp.

Duyên,nợ,tình là khát vọng của tình cảm song hành với công việc và sự vật đó là cái nhìn mơ về của hạnh phúc,một gắng bó thực hữu giữa tình yêu vợ chồng một lối mơ về của ca dao,một khát vọng trung thành phát xuất từ cảnh đời hiện thực cho nên lối mơ về đó tạo nên một hiện hữu đồng nhất giữa người và vũ trụ.Con người trôi chảy vào đời nhờ những hình ảnh thuần đơn mà khát vọng đó đã tạo nên thơ;một nguồn thơ nhất thể.Thành thử vũ trụ khát vọng của ca dao là vũ trụ bắt nguồn từ cuộc đời thực hữu để tiến tới khát vọng.Vì thế ca dao là tiếng kêu chân thành của con người ham sống,yêu đời,yêu người.Ca dao không yêu cầu cái ủy mị đài các,mơ mộng viễn vông,ca dao đi gần với quần chúng,nhất là đồng bào miền quê và hoá giải mọi uẩn khúc,vui buồn đưa con người về với hạnh phúc.Tác giả của ca dao muốn vậy! Đó chính là cuộc đời mà người nghệ sĩ miền quê yêu cầu.
Sớm mai gánh nước mờ mờ
Đi qua ngõ giữa tình cờ gặp anh
Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu
Trầu nầy ăn thật là cay
Dù mặn dù lạt dù cay dù nồng
Dù chẳng nên vợ nên chồng
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương
Cầm lược thì nhớ tới gương Cầm trầu nhớ túi,nằm giường nhớ nhau.


Ca dao còn là hình ảnh, ở đây là những hiện tượng của bản thể.Do đó hình ảnh không còn là hiện tượng đơn thuần mà hiện tượng có nội dung cho nên mới được gọi là hình ảnh.Chính những chất liệu trong ca dao đã tạo nên hình ảnh,hình ảnh của vật thể,hình ảnh của vũ trụ,hình ảnh của tình yêu. Đó là những cái nhìn khai phóng của chúng ta để tìm ra cái nội dung đó;với cái nhìn của ca dao luôn luôn có sự ẩn dấu,tiềm ẩn, đẩy cái hình ảnh đó như thúc dục người nghệ sĩ ca dao phải ẩn mình, đấy là cái nhìn thuở ban đầu.Cái nhìn hai chiều song phương từ bản thể đến hiện tượng để rồi từ hiện tượng qui về bản thể tạo nên một nội dung hình thể như thế là cái nhìn trực tiếp của ca dao nói riêng và thi ca nói chung do đó những sự vật cùng từ ngữ tham dự vào cuộc đời và tạo nên hình ảnh và từ hình ảnh tạo nên ý nghĩa của mình.Cái nhìn đồng hoá mình với sự vật như vậy là cái nhìn trực tiếp đi vào bản thể không cần tìm đến bản thể mà thấy hiện tượng từ bản thể và từ đó tình yêu được bừng sáng lên và hiện hữu “Tôi đặt trái táo trên bàn,rồi tôi hoà mình vào trong trái táo. Ôi!tuyệt vời biết là bao…”(Henri Michaux) Tuy không trực tiếp bằng cái nhìn phối hợp của ca dao nhưng cũng tương đồng ý nghĩa.Tâm trạng đó người ta gọi là ý thức biểu tượng.

Qua đình ghé nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói,thương mình bấy nhiêu

Cho nên cái nhìn trong ca dao dù chỉ là cái nhìn ban đầu là truyền thừa vào biến trình diễn đạt của dân tộc,nội dung ý nghĩa vẫn còn vang vọng nhờ những hình ảnh đó.Cái ngôn từ trong ca dao Việt Nam trước sau vẫn vướng vít hình ảnh của tình yêu mà ca dao là môi giới trong lãnh vực của tình yêu.
Kết.

Ca dao là mạch thở của thơ,là nguồn sáng tạo vô tận,là ngôn từ của văn chương bình dân chứa đựng hết thảy tình người trong đó.Ca dao càng mộc mạc bao nhiêu thì càng chan chứa bấy nhiêu,ca dao không đỏm dáng,chải chuốt bóng bẩy mà thường xử dụng những ngôn từ thực tế của cuộc đời,mà chúng ta thường gắn liền với nhau:con người và cuộc đời,nó trở thành như định lệ.Nhưng nghĩ cho cùng đó chính là sức sống,chính bản thể thôi thúc,con người với hiện tượng tình yêu và từ hiện tượng nầy thoát ra hiện tượng khác bằng ý thức bản thể có ý hướng của mình.

Valery có lần nói:”Le vrai poète est celui qui inspire”Giòng thơ thực chỉ đến với người có tâm hồn bộc phát;người nghệ sĩ ca dao thực thi đúng tinh thần ấy, đó là ca dao khua động bản thể của con người,gợi lên sức sống để đi vào cuộc đời và hoà mình với hiện tượng rồi từ hiện tượng ấy hoà mình với sự vật để đột biến thành hình ảnh cho ca dao,lúc đó sự hiện diện của ca dao sáng tỏ không còn gì gọi là ẩn tàng hay ẩn dụ nó biến thành thi ảnh mang nội dung ý nghĩa biến động của bản thể con người.Do đó ca dao trở nên hiện hữu như ta đã thấy trong ca dao.

Cho nên những nhà nghệ sĩ nông thôn,không phải là nhà nghệ sĩ của văn chương bác học mà họ từ những người thợ cày,thợ gặt,trẻ chăn trâu đều có con mắt nhìn vào thực tế, họ nhìn thấu suốt giữa người và vật,ca dao nông thôn đầy cảm hứng thi vị.Nghệ sĩ ca dao bình dân thể hiện được ý thức đó nghĩa là muốn xây dựng một hình ảnh phải phóng bản thể của mình vào hiện tượng cho bản thể sống trong hiện tượng và trở thành hiện tượng của bản thể và cho sự vật là ta như ta trong sự vật.Vì đó; là khi bản thể giao tiếp với cuộc đời.

Tóm lại ca dao đã du nhập những giòng thơ của văn chương bình dân,biến hình từ câu hò điệu hát,trao đổi,hò đối đáp,cắt xén,rút gọn,dể dàng truyền khẩu từ đó được gọi là ca dao,nó thường mô tả tình người dưới muôn hình vạn trạng, từ nội giới tới ngoại giới. Đấy cũng là một phần bản thể dân tộc,một văn hoá văn minh truyền thống. Điều đặc biệt của ca dao ,ngôn từ không ước lệ,ca dao nói những gì thực hữu giữa cuộc đời,nương theo chiều sáng tạo của thi ca qua bao thế kỷ và chế ngự cả thơ Việt lẫn thơ Đường bằng những câu rất đơn sơ mà đầy ý nghĩa và đi sâu vào mọi tầng lớp trong xã hội một cách dể dàng và nhanh chóng.Một ngôn từ thiết tha,một đường giây giữa nội tâm và ngoại giới. Đó là nhân tố trong văn chương bình dân Việt Nam.Một thứ triết lý của văn chương bình dân cần phải tô điểm và nghiên cứu chiều sâu của nó ./.
VÕ CÔNG LIÊM
hongvulannhi  
#899 Posted : Sunday, February 6, 2011 11:55:17 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,838

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Lễ hội Việt Nam

UserPostedImage

Lễ hội đền Hùng

UserPostedImage

Lễ hội Ook-Om-Boc

UserPostedImage

Lễ hội đâm trâu

Mùa xuân - mùa khởi đầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của vạn vật, cỏ cây...Giữa tiết trời ấm áp ấy, lòng người phơi phới rủ nhau đi hội, hành hương về cội nguồn, vui chơi và cầu mong cho mùa màng tốt tươi, con người hạnh phúc.

Lễ hội ở nước ta thật đa dạng và phong phú. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyền lớn, nhỏ trải rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế... Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình. Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân.

Bởi phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng nhớ người có công với nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các trò vui chơi ở lễ hội thường mang nhiều tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như: thi bắn nỏ, đấu vật (hội Cổ Loa) đấu vật, đấu võ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, Nam Định), thi bắn nỏ, ném còn (ở vùng đồng bào dân tộc phía Bắc) v.v...ở các lễ hội của bà con dân tộc Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu được coi như tiêu biểu nhất. Trong lễ hội này, ngoài nghi lễ đâm trâu hiến tế hấp dẫn, ly kỳ còn có trò múa khiên, ném lao, đấu gậy.

Các trò vui chơi giải trí ở lễ hội còn bao gồm những hoạt động văn hoá, xã hội khác như thi hát Quan họ, thi thổi cơm, chọi gà, dệt vải, đấu vật, đánh đu... Đặc biệt nhất là thi đánh đu, không chỉ xuất hiện trong dịp lễ hội lớn mà còn là một trò vui chơi dân dã trong những ngày Tết ở khắp các làng xã.

Ngày xuân, người ta thường đi chơi đông hơn bình thường. Kẻ đi xa, người đi gần, trang phục lộng lẫy, hân hoan phấn khởi làm cho không khí đầu xuân càng thêm rạo rực. Có lẽ ai cũng muốn dành ít thời gian để vãn cảnh thiên nhiên đất trời, tận hưởng bầu không khí trong lành với mùa xuân tươi đẹp. Họ đến với các di tích lịch sử, danh thắng, đền, chùa để tham dự các lễ hội truyền thống. Chỉ tính riêng tháng Giêng cũng đã có biết bao nhiêu lễ hội tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc, những người có công chống giặc ngoại xâm như: Hội Đống Đa, kỷ niệm chiến thắng của vị anh hùnh dân tộc Nguyễn Huệ và tưởng niệm các chiến sĩ vong trận trong đại chiến thắng Đống Đa vào ngày 5-1. Hội đền An Dương Vương (Cổ Loa Hà Nội) ngày 6-1 tưởng niệm Thục Phán người có công dựng nước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa; Hội đền Cửa Suốt (Quảng Ninh) tưởng niệm Trần Quốc Toản có công đánh đuổi giặc Nguyên, hội đền Hạ Lôi (Mê Linh) tưởng niệm Hai Bà Trưng, hội "Cơm hòm" ở Phổ Yên, Thái Nguyên ngày 6 tháng Giêng kỷ niệm người đàn bà vô danh thời Hậu Lê có công bày mưu đánh giặc Minh...

Cũng vào thời điểm này, du khách bốn phương về hội Hoa Vị Khê (Nam Định) từ ngày 20 đến ngày 30 tháng Giêng để chiêm ngưỡng hoa, cây cảnh của làng nghề truyền thống Vị Khê, hội du xuân lễ bái cầu mong một năm mới thịnh vượng ở núi Bà Đen (Tây Ninh). Đặc biệt vào mùa này, du khách đổ lên núi Yên Tử dự lễ hội chùa, vãn cảnh hùng vĩ của đất nước và thử thách lòng thành của mình. Đến Hòa Bình để được xem hội Chơi hang, hội Xên bản, Xên mường của người Thái; lên Sơn La cùng thả hồn vào những cánh rừng ban trắng trong ngày hội hoa ban, đi chơi núi, du thuyền độc mộc trên thắng cảnh hồ Ba Bể. Ngoài ra, người Tày, Nùng Tây Bắc còn có hội Lồng Tồng, người Dao có hội Tết Nhảy, người Mông có hội Sắc bùa, hội chơi núi chơi xuân, người Khơ me Nam Bộ có hội mừng năm Mới...

Sự phong phú của lễ hội ở Việt Nam vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc nhưng cũng vừa là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Hầu hết các trang Lễ Hội nầy được trích từ: http://www.vietnamtourism.com

http://www.thudo.gov.vn/Hanoivanhien
nguồn: e-cadao.com

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#900 Posted : Tuesday, February 8, 2011 1:45:00 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
Tát nước đầu đình

UserPostedImage

Nhân dịp Xuân về, Tết đến , kính mời quí vị độc giả thưởng thức bài ca dao Tát Nước Đầu Đình, một bài ca dao rất hay và vui trong kho tàng văn học dân tộc. Phạm Thị Nhung

Tát Nước Đầu Đình là một bài ca dao tỏ tình hay nổi tiếng của dân tộc. Bài ca dao này đặc biệt rất vui, vừa tươi về ý vừa đẹp về lời.

Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà?
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng anh lại giúp cho.
Giúp em một thúng xôi vò
một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo
giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.

Qua bốn câu đầu (c.1-4) , chàng trai ngỏ lời với cô bạn về chuyện bỏ quên áo và xin lại áo.

Đây có thực là chủ đích của chàng không? Hẳn là không rồi. Chính thế, câu chuyện bỏ quên áo chàng kể dù rất tự nhiên với đầy đủ những chi tiết cụ thể như:

Thời gian: hôm qua, chứng tỏ việc mới xảy ra.

Điạ điểm: đầu đình, nơi có đầm sen, một khung cảnh êm đềm,thân quen, vừa cổ kính vừa thơ mộng nơi thôn dã.

Trường hợp: đi tát nước, một công việc lao động bình thường.

Nhưng sau đó, chi tiết bỏ quên cái áo “trên cành hoa sen” đã làm cho câu chuyện đảo lộn tất cả:Chuyện đang thực trở thành hư cấu, lời nói đang bình thường trở thành ba hoa.

Song hư cấu mà dễ thương vì bịa đặt bởi hữu tình, cố ý mượn cớ quên áo để làm quen ; và ba hoa mà thanh nhã, có duyên.

Nếu xét về lý, không ai lại vắt cái áo trên cành hoa sen, một loại cành nhỏ, rỗng, “trong thông, ngoài thẳng” rất giòn, dễ gẫy, áo tất sẽ rơi xuống đầm nước

Nhưng xét về tình thì hình ảnh chiếc áo vắt trên cành hoa sen chẳng là một cách nói cho đẹp lời, đẹp ý mỹ nhân hay sao? người thiếu nữ nào mà không ưa thích những hình ảnh thanh nhã, lời nói lịch sự bóng bẩy? Vả trong thực tế, có chàng trai nào tán gái mà không ba hoa, bay bướm? Có chàng còn đòi ngả cành hồng làm cầu, bắc qua sông đón bạn tình sang chơi nữa là:

Đôi ta cách một con sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.

Thì chuyện “Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen” không phải là điều khó hiểu. Huống chi trong những lời trò chuyện tình tứ giữa trai gái, những hình ảnh hư hư thực thực như thế lại dễ làm cho tình cảm các cô man mác, tâm hồn các cô bềnh bồng trong cõi mộng mơ. Bởi thế, ta có thể tin rằng lời kể chuyện có chút ba hoa nhưng thanh tao và duyên dáng kia đã gây được thiện cảm của đối phương.

Lại nữa, từ câu 3 sang câu 4, không khí trò chuyện đã thay đổi rõ rệt :

-Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà?

Từ lời hỏi han thân mật, lịch sự vừa phải, chuyển sang lời ướm hỏi, thăm dò một cách ỡm ờ, nửa đùa nửa thực; nửa như có ý trêu ghẹo hóm hỉnh, nửa lại có ý tấn công một cách âu yếm tình tứ, làm cô gái thẹn thùng luống cuống, không kịp phản ứng hay chưa biết phản ứng ra sao&

Không bỏ lỡ cơ hội, chàng trai liền dẫn câu chuyện cái áo bỏ quên đi xa hơn trong bốn câu tiếp(c.5-8)

-Áo anh sứt chỉ đường tà

Lần nầy chàng lấy cớ áo bị “sứt chỉ đường tà”, để giới thiệu hoàn cảnh gia đình của mình một cách khéo léo , tế nhị:

-Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.

Phụ nữ thường hay thắc mắc về người bạn trai đang tán tỉnh mình còn độc thân hay đã có gia đình, biết được tâm lý ấy, chàng trai liền trả lời ngay cho bạn yên lòng.

Đã qua được hai điểm khó khăn khởi đầu của cuộc tỏ tình là gợi chuyện làm quen và giới thiệu gia cảnh, chàng trai tiến thêm bước thứ ba:

-Áo anh sứt chỉ đã lâu

Chàng nói ra cái điều chàng không được ai săn sóc để gợi lòng thương cảm của cô bạn, đồng thời chàng lại có cớ đưa câu chuyện đi xa hơn nữa: “áo anh sứt chỉ đã lâu” mà chưa ai khâu cho, thôi thì :

-Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.

Và để tiến vào giai đoạn chót của cuộc tỏ tình, chàng trai đưa đề nghị về chuyện trả công trong 8 câu cuối(c.9-16):

-Khâu rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng anh lại giúp cho.

Anh giúp những gì nào?

-Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo.

Còn hơn thế nữa kia :

-Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.

Những gì chàng hứa trả công, hứa giúp toàn là đố sính lễ rước dâu, như vậy ý chàng đã rõ, chàng muốn cưới nàng làm vợ, và đây chính là lời cầu hôn vậy.

Chàng trai sử dụng đại danh từ phiếm chỉ ”cô ấy” một cách mập mờ, nửa kín nửa hở trong lời đề nghị mượn khâu là rất khéo, vì nếu cô gái tỏ ý không bằng lòng, chàng còn có lối thoát: “tôi mượn cô ấy chứ có mượn em đâu”. Đồng thời cũng là cách nói gián tiếp tế nhị cho đối tượng khỏi thẹn.

Đặc biệt khi kể về những đồ sính lễ trong ngày rước dâu, giọng chàng trai bỗng trở nên rộn ràng, hào hứng : những từ ngữ “giúp em” với “một” rồi “đôi” được lập đi lập lại dồn dập, xen kẽ nhau, chẳng khác nào tiếng lòng reo vui, phấn khởi của chàng lúc đó, vì chàng tin rằng mình đã thành công, cô bạn gái đã chịu chuyện, lắng nghe và hoàn toàn im lặng. “Im lặng là bằng lòng !”, con gái xưa nay chẳng thế sao ?!

Chúng ta cũng biết, trong nhiều bài ca dao trữ tình khác, cái áo thường được nhắc đến như một phương tiện để bầy tỏ tình cảm của nhân vật, như :

-Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.

-Chàng về để áo lại đây
Phòng khi em đắp, gió tây lạnh lùng.

-Yêu ai tha thiết, thiết tha
Áo em hai vạt trải ra chàng ngồi.

v.v...và v.v&

Nhưng cái áo bỏ quên trên cành hoa sen ở đây phải kể là một sáng kiến độc đáoNó không chỉ là cái cớ dẫn khởi mà còn được khai triển trong từng giai đoạn tấn công tình cảm đối phượng, cũng như thổ lộ tình yêu cuả chàng trai ở đây, để tiến dần đến chuyện cầu hôn thành công như ý muốn.

Tóm lại, câu chuyện “bỏ quên áo” trong bài ca dao Tát Nước Đầu Đình trên là hoàn toàn hư cấu :Cái áo bỏ quên kia có thật không mà hỏi xin lại Ai đã bắt được áo và đã trả lại chưa mà đòi mượn khâu ? Tà áo có sứt chỉ thật không ? Mà dẫu có thì cũng không ai trả công và giúp đỡ người khâu bằng từng ấy lễ vật, rõ là cái áo tưởng tượng ! Nhưng cũng chính nhờ vào những chi tiết tưởng tượng, hư cấu bầy đặt ấy mà chàng trai ở đây đã bộc lộ được một sự thật, rất thật, đó là tình yêu trong sáng, thơ mộng, lãng mạn và cũng rất trân trọng, đằm thắm của chàng đối với người con gái mà chàng muốn cưới làm vợ.
Bài ca dao Tát Nước Đầu Đình quả là một bài ca dao tỏ tình tuyệt vời, nó đẹp từ hình thức đến nội dung, nó sẽ mãi mãi còn gây được niềm xúc động xôn xao và thú vị trong lòng độc giả, nhất là đối với lứa tuổi thanh xuân đang bước vào ngưỡng cửa của tình yêu.

Nhân đây tôi cũng xin giới thiệu một bài ca dao khác, cùng một đề tài tỏ tình, và cũng mượn chuyện quần áo làm cái cớ để cầu thân, rồi tính dần đến chuyện hôn nhân, để chúng ta có dịp nhận xét:

Tình cờ bắt gặp nàng đây
Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần
Để mà kết nghĩa tương thân
Sau này chỉ Tấn, tơ Tần se duyên.

Đọc bài ca dao sau,ta thấy sao nó trơ trụi quá, nó chỉ có xác mà không có hồn. Ngay xác nó cũng khô cứng, thiếu hẳn những gì gọi là duyên dáng, óng ả của ngôn từ, của cách diễn đạt. Về nội dung nó chỉ là một chuỗi ý xếp cạnh nhau, thiếu hẳn cái hồn, cái cảm xúc của tác giả. Điều này cho ta thấy, có ý chưa đủ mà còn cần phải có hứng cảm ; nhờ hứng cảm, ý thoát ra được thành những lời thơ mềm mại, tự nhiên, có sức hấp dẫn và phản chiếu được tâm hồn cùng tình cảm của tác giả.
pham thi nhung
Users browsing this topic
Guest (4)
91 Pages«<4344454647>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.