Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

90 Pages«<4243444546>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#861 Posted : Monday, January 3, 2011 5:17:36 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
BÀ CHÚA CHIÊM SƠN
NGUYỄN PHƯỚC TƯƠNG


Cuộc đời của cô gái trồng dâu nuôi tằm dệt lụa ở làng Chiêm Sơn, huyện Diên Phước thuộc dinh Quảng Nam bên bờ sông Thu Bồn có một giai thoại đẹp đẽ đi vào sử sách và truyền thuyết dân gian địa phương. “Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên” đã viết rằng: “Năm mười lăm tuổi (Bà) hái dâu bên bãi trông trăng mà hát. Bấy giờ Hy Tông Hoàng Đế ta (tức Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên) đi chơi Quảng Nam, Thần Tông Hoàng Đế ta (tức Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan) theo đi hộ giá. Đêm đáp thuyền trăng đi chơi. Đỗ thuyền ở Điện Châu (bây giờ là An Phú Tây) câu cá, nghe tiếng hát lấy làm lạ, sai người đến hỏi biết là con gái họ Đoàn, cho tiến vào hầu Chúa ở tiềm để, được yêu chiều lắm”
Theo truyền thuyết dân gian, vào một đêm trăng đẹp (1615), Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên lúc đó đang trấn giữ Quảng Nam dinh và con trai là Công Tử Nguyễn Phúc Lan dạo thuyền trên sông Thu Bồn. Khi thuyền rồng ngược dòng sông từ Thanh Chiêm đến địa phận làng Chiêm Sơn, thuộc huyện Diên Phước, nổi tiếng trồng dâu nuôi tằm dệt lụa thì một giọng hát trong ngần và quyến rũ của một thôn nữ từ một nương dâu bên bờ sông vọng tới theo làn gió mát. Cô gái hát rằng:

Thiếp nghe chúa ngự thuyền rồng
Thiếp thương phận thiếp má hồng nắng mưa...

Một lát sau cũng giọng hát đó lại cất lên uyển chuyển, mượt mà nghe da diết làm sao:

Thuyền rồng Chúa ngự nơi đâu
Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình...!

Giọng hát và lời ca của cô thôn nữ trong đêm trăng thanh vắng đã làm rung động tâm hồn và xao xuyến trái tim của chàng công tử đa cảm Nguyễn Phúc Lan. Được phép thân phụ, công tử cho thuyền rồng men theo triền sông đi tìm tiếng hát. Khi lên bờ, bên bóng dâu xanh thắm nhuộm ánh trăng vàng, chàng trai vương bá đem lòng say mê vẻ đẹp yêu kiều của một thục nữ vừa độ trăng tròn rất mực đôn hậu là Đoàn Thị Ngọc Phi, con gái út của một hào trưởng nổi tiếng, chuyên làm nghề tầm tang, quê ở làng Chiêm Sơn, huyện Diên Phước là Đoàn Công Nhạn. Hình như cuộc kỳ ngộ này đã được sắp xếp từ trước bởi bàn tay của Ông Tơ Bà Nguyệt se duyên. (l)

"Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên" đã viết về người thục nữ đó rằng “Bà là con gái thứ ba của Thạch Quận Công Đoàn Nhạn. Mẹ là phu nhân Võ Thị. Bà là người minh mẫn thông sáng… sáng thơm, tý mỵ, phép tốt trinh thuần”.

Công Tử Nguyễn Phúc Lan và cô thôn nữ Đoàn Thị Ngọc Phi đã bén duyên vào tuổi mười lăm (1615) và sau đó hai năm, họ cùng nhau kết duyên trăm năm vào tuổi mười bảy (1617) và đã sống với nhau ở dinh trấn Thanh Chiêm cùng với thân phụ là Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên và thân mẫu là phu nhân Nguyễn Thị Giai (tức là Mạc Thị Giai được mang họ Chúa Nguyễn).

Sau khi Nhân Lộc Hầu Nguyễn Phúc Lan trở thành Quận Công trấn giữ Quảng Nam Dinh, Bà Đoàn Thị Ngọc Phi đã hết lòng ủng hộ, khuyến khích nhân dân các phủ Điện Bàn, Thăng Hoa phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa, nhờ vậy mà nghề tầm tang ở Đàng Trong được mở mang, đã mở mang vào thời kỳ đó và đã sản xuất được nhiều mặt hàng tơ lụa nổi tiếng như đoạn, lãnh, gấm, vóc, trườu, sa để bán trong nội địa và xuất khẩu ra nước ngoài qua thương cảng Hội An. Bởi vậy, Lê Quý Đôn đã viết trong "Phủ Biên Tạp Lục" rằng “Người Phủ Thăng, Phủ Điện dệt được các loại the, đoạn, lụa, là hoa hòe chẳng kém gì Quảng Đông”.

Cũng từ đó, cảng thị Hội An dưới thời Chúa Nguyễn đã trở thành một trung tâm trung chuyển của con đường tơ lụa quốc tế xuyên đại dương trong thế kỷ XVI - XVII nối liền Tây Âu và Viễn Đông. Và Bà Đoàn Thị Ngọc Phi trở thành "Bà Chúa Tầm Tang" ở Đàng Trong. Các cô gái trồng dâu nuôi tằm dệt lụa ở quê hương Bà đã từng hát:

Chiêm Sơn là, lụa mỹ miều
Mai vang tiếng cửi, chiều chiều tơ giăng...



Nương dâu xanh thắm quê mình
Nắng lên Gò Nổi đượm tình thiết tha
Con tằm kéo kén cho ta
Tháng ngày cần mẫn làm ra lụa đời...

Đến năm 1635, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên qua đời, Nhân Lộc Hầu Nguyễn Phúc Lan trở thành Chúa Thượng và sống ở Thuận Hóa. Chúa thượng đã dời Phủ Chúa từ làng Phước Yên ở huyện Quảng Điền về làng Kim Long thuộc Phú Xuân. Bà Đoàn Thị Ngọc Phi được Chúa Thượng phong tước là Đoàn Quý Phi và thân phụ Đoàn Công Nhạn của bà được phong tước là Thạch Quận Công. Đoàn Quý Phi trong thời kỳ này cũng khuyến khích nghề tầm tang ở Phú Xuân phát triển.

Đoàn Quý Phi sinh hạ được ba hoàng tử, trong đó các hoàng tử Nguyễn Phúc Võ và Nguyễn Phúc Quỳnh đều mất sớm, hoàng tử Nguyễn Phúc Tần là con trai thứ hai, trở thành thế tử. Công chúa út là Nguyễn Phúc Ngọc Dung.

Thế tử Nguyễn Phúc Tần ngay thời còn là Lễ Dũng Hầu, quan quản lảnh Quảng Nam dinh, đã tỏ ra là một con người am hiểu binh pháp, vũ dũng và giỏi chiến trận, đã có công lớn trong việc đánh tan hạm đội Hà Lan dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Peter Back âm mưu đánh phá cảng thị Hội An vào năm 1644. Về sau Thế Tử Nguyễn Phúc Tần trở thành Chúa Hiền năm...

Đoàn Quý Phi mất ngày 17 tháng 5 năm Tân Sửu, tức ngày 12 tháng 7 năm 1661, hưởng thọ 60 tuổi (3,4). Sau khi Bà qua đời, Chúa Hiền đã đưa mẫu hậu về an táng tại quê hương Bà. Lăng mộ của Bà đặt bên cạnh lăng mộ của nhạc mẫu là Hoàng hậu Nguyễn Thị Giai.

Theo "Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên" Đoàn Quý Phi mất năm Tân Sửu (1661 Lê Vĩnh Thọ thứ tư) mùa hạ tháng 5, táng Vĩnh Diện (ở Thượng Cốc, Hùng Cương thuộc xã Chiêm Sơn, tỉnh Quảng Nam).

Trong "Đại Nam Nhất Thống Chí" quyển 5 viết về Quảng Nam, đã ghi lại vị trí tọa lạc của các Lăng mộ của hai Hoàng Hậu Nguyễn Thị Giai và Đoàn Thị Ngọc Phi như sau: “Lăng Vĩnh Diễn phía Nam núi Hàm Long, xã Chiêm Sơn, huyện Duy Xuyên. Đây là Lăng của Hiếu Văn Hoàng Hậu Nguyễn Thị. Lăng Vĩnh Diện ở phía Tây Gò Hùng, thôn Thượng Cốc, xã Chiêm Sơn. Đây là Lăng của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi”.
Ngược dòng lịch sử, chúng tôi đi tìm dấu tích cổ xưa của nơi an nghỉ cuối cùng của hai Hoàng Hậu đó. Đến nay, tại làng Chiêm Sơn thuộc xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam vẫn còn di tích của hai lăng mộ đó với mức độ hư hại khác nhau.

Lăng Vĩnh Diện, mộ phần của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi (1601-1661) mà nhân dân địa phương quen gọi là Lăng Trên, tọa lạc trên một khu đất cao, gọi là Gò Hùng thuộc làng Chiêm Sơn, xã Duy Trinh, tỉnh Quảng Nam ngày nay. Lăng được xây dựng vào năm 1661 và toàn bộ khu vực Lăng rộng 4 sào 2 thước 7 tấc, ứng với lô đất số hiệu 2583 theo địa bộ xã Duy Trinh (2). Lăng này được đặt tên là Vĩnh Diện vào năm Gia Long thứ 5 (1806) và được tu bổ vào năm Gia Long thứ 13 (1814).

Trong địa phận Lăng Trên còn có mộ của công chúa út của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu. Theo hồi cố của bà con tộc Đoàn xã Duy Trinh, công chúa này có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng thường được gọi là công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Dung, có dị tật bẩm sinh. Lúc sinh thời, công chúa đã hạ giá với Chưởng Cơ của triều đình tên là Minh và đã mất sớm(2).
Phần mộ của công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Dung không rộng lắm và ứng với lô đất số hiệu 698 của địa bộ xã Duy Trinh (2).

Lăng Vịnh Diện được bao bọc bởi hai lớp thành bảo vệ cao khoảng 1 mét, dày khoảng 0,8 mét: bên ngoài là bảo thành ngoại và bên trong là bảo hành nội, phía sau ở chính giữa các thành này đều có bia tẩm. Trên các bia tẩm này không thấy ghi một chữ Hán nào mà chỉ có phù điêu hình mây cuộn, kỳ lân trông rất ngoạn mục. Các thành bảo vệ đều bị hư hại nặng, chỉ còn vài đoạn ngắn nhưng cái bia tẩm vẫn còn. Ở giữa Lăng là mộ chí của Hiếu Chiêu Hoàng Hậu mà đến nay vẫn còn nguyên vẹn theo kiểu kiến trúc cổ xưa.

Còn Lăng Vĩnh Diễn là mộ phần của Hiếu Văn Hoàng Hậu Nguyễn Thị Giai (1578-1630) được nhân dân địa phương gọi là Lăng Dưới, cũng tọa lạc trên một khu đất cao gọi là Gò Hàm Rồng cũng thuộc làng Chiêm Sơn, xã Duy Trinh, cách Lăng Vĩnh Diện, Lăng Trên hơn nửa cây số. Khu vực Lăng này, ngày xưa rộng gấp đôi Lăng Trên, có diện tích 8 mẫu 4 sào 5 tấc, ứng với lô đất số hiệu 1220 theo địa bộ xã Duy Trinh (2). Niên đại xây dựng Lăng này có lẽ vào cuối năm 1630, vì Hoàng Hậu mất vào ngày mồng 9 tháng 11 năm Canh Ngọ, tức ngày 12-12-1630 tại dinh trấn Thanh Chiêm(5).

Theo "Đại Nam Nhất Thống Chí" thì Lăng Vĩnh Diễn cũng được đặt tên vào năm 1806 và tu bổ vào năm 1814 cùng một lúc với Lăng Vinh Diện.
Trước đây, bên ngoài khu vực của hai Lăng, Chúa Nguyễn còn xây dựng một công trình kiến trúc gọi là Chùa Vua là nơi thờ phụng hai Hoàng Hậu nói trên có vườn cây bao quanh gọi là Vườn Chùa mà nay không còn nữa. Ở đây, trước kia luôn luôn có Đội Cận Vệ Hoàng Gia, gồm khoảng hai mươi người, thường là con cháu họ Đoàn, có nhiệm vụ bảo vệ các khu Lăng và lo việc thờ cúng.

Diện tích Vườn Chùa khá rộng, đất bên trong thành bao bọc chùa rộng 3 sào 0 thước 9 tấc, đất bên ngoài thành là vườn trồng hoa cảnh, cây ăn trái rộng 5 sào 4 thước 4 tấc ứng với lô đất số hiệu 2281 theo địa bộ xã Duy Trinh.

Ngoài ra, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan còn cấp thêm tư điền làm hương hỏa cho hai Hoàng Hậu họ Mạc và họ Đoàn ở địa phương để con cháu chăm lo hương khói cho hai bà Tư Điền mà Chúa Nguyễn đã cấp trước đây cho Hoàng Hậu Nguyễn Thị Giai là 4 mẫu 8 sào 12 thước thuộc làng Kiệu Đông và làng Kiệu Tây, huyện Duy Xuyên và 2 mẫu thuộc làng Hương Quế huyện Quế Sơn. Tư Điền mà Chúa
Nguyễn đã cấp trước đây cho Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi là 4 mẫu 3 sào 12 thước thuộc làng Phú Trang, huyện Quế Sơn(2).

Theo “Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên", đến năm 1744, Thế Tôn Hiên Võ Hoàng Đế, tức Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã truy dâng Bà Đoàn Quý Phi là Trinh Thục Từ Tỉnh Huệ Phi và sau đó thêm hai chữ Mẫu Duệ.

Vua Gia Long, sau khi thống nhất đất nước và lên ngôi, năm 1806 lại truy tôn Bà Là Trinh Thục Từ Tỉnh Mẫu Duệ Kính Hiếu Chiêu Hoàng Hậu và khắc tên lên Kim Sách của Hoàng Tộc và tôn hiệu này được thờ chung với Hiếu Chiêu Hoàng Đế (tức Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan) vào gian thứ nhất bên phải của Thái Miếu ở Huế.

Để tỏ lòng tường niệm công đức của bà Chúa Tầm Tang, vua Thành Thái (1888-1907) năm thứ 18 (1905) đã ban cho tộc Đoàn 1.000 lạng bạc để dựng Nhà Thờ Hiếu Chiêu Hoàng Hậu tại thôn Đông Khuông, xã Điện Châu, tức Đông Yên Châu, huyện Điện Bàn. Về sau, sông Thu Bồn chuyển di cắt Đông Yến Châu làm đôi thành Đông Yên Đông thuộc huyện Điện Bàn và Đông Yên Tây thuộc huyện Duy Xuyên.

Hiện nay, nhà thờ Hiếu Chiêu Hoàng Hậu nằm trên đất Đông Yên Đông, nay là xã Điện Phương, cách Cầu Mống về phía Bắc bên phải chừng 100 mét. Hàng năm vào ngày 17-5 Âm lịch tộc Đoàn kết hợp với tộc Nguyễn Phước tổ chức kỵ giỗ bà tại đây và tại nhà thờ xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên.

Sau tháng 8, 1945, các khu Lăng Mộ Vĩnh Diện và Vinh Diễn vẫn còn nguyên vẹn, nhưng không còn được bảo vệ như trước nữa và bị lãng quên. Trải qua ba mươi năm chiến tranh, nhân dân đã đào mộ tìm vàng, phá thành lăng để lấy gạch đá làm vật liệu xây dựng, biến khu Lăng thành nơi trồng cây lấy gỗ... làm biến dạng môi trường ở đây.

Vào tháng 2-3 năm 1992, bà con tộc Đoàn xã Duy Trinh đã kết hợp với bà con Nguyễn Phước tộc Quảng Nam - Đà Nẵng đốn hạ cây cối trồng bừa bãi, thu dọn vệ sinh khu Lăng Vĩnh Diện và Lăng Vĩnh Diện, đồng thời bỏ ra kinh phí trùng tu lại mộ chí của Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc Phi, nhưng do thiếu tài chính, các thành bảo vệ xung quanh cũng chưa phục chế lại được như cũ.

Có lẽ công đức đối với nghề trồng dâu dệt lụa trên quê hương cũng như thiên diễm tình một thời vang dội của Bà Chúa Tầm Tang còn lưu lại cho mãi đến tận nay mà các cô gái trên quê hương bà vẫn hát:

Thuyền rồng mái đẩy đi đâu
Để cho em đứng hái dâu một mình...!

Chúng tôi cho rằng các Lăng Vĩnh Diện và Lăng Vĩnh Diễn là những di tích văn hóa, lịch sử cổ xưa nhất của thời Chúa Nguyễn còn tồn tại cho đến nay, có giá trị nhiều mặt về lịch sử, văn hóa, khảo cổ, kiến trúc... có tầm cỡ quốc gia với chiều dày lịch sử 400 năm cần được phục chế, trùng tu, tôn tạo toàn bộ.
* Tài liệu dẫn và chú giải:

1- Có tác giả nêu lên một giả thuyết trong đó nói rằng Đoàn Quý Phi là một cô gái tài hoa nhưng xấu xí “rỗ chằng rỗ chịt, rỗ chín mười tầng” là không đúng sự thật và lẫn lộn với chuyện “Chung Vô Diệm” của Trung Hoa nên cần loại bỏ.

2- Gia phả tộc đoàn, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

3- Có tác gia ở huyện Duy Xuyên đã viết không đúng rằng Đoàn Quý Phi chỉ hưởng thọ được 29 tuổi.

4- Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phước Tộc. Nguyễn Phước Tộc Thế Phả 1995.
5- Toc Mạc hậu duệ của Hoàng Hậu Mạc Thị Giai dưới thời Tây Sơn đã đổi thành tộc Nguyễn Tường và hiện nay sống tại xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#862 Posted : Monday, January 3, 2011 11:00:29 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,481

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Con "QUỐC QUỐC", Cái "GIA GIA"


1. Con "Quốc Quốc :

Con "Quốc Quốc" vốn là chim Cuốc. Tiếng "quốc quốc" do cách tá âm (mượn âm) "cuốc cuốc" mà ra và có điển tích gốc Trung Hoa. Trong bài "Qua đèo Ngang" của bà Huyện Thanh Quan có câu :

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Chim Cuốc còn có tên là Đỗ Quyên, Tử Quy, Thục Vũ hay Đỗ Vũ. Giống chim này, đầu mỏ hơi cong, miệng to đuôi dài, lưng màu tro, bụng sắc trắng có một đường đen thẳng ngang. Nó thường lũi trong bụi rậm dưới ao sâu hoặc hồ rộng. Cuối xuân vào hè thì kêu ra rả suốt đêm (có người cho rằng chim này có khi kêu ra rả suốt cả đêm, đến máu chảy hòa với nước mắt, đến rựng sáng là giẫy chết). Tiếng của chim Đỗ Quyên kêu rất thảm thiết, gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn nhớ quê hương vô hạn. Chim này không tự làm ổ lấy, đẻ trứng vào ổ chim Oanh. Chim Oanh ấp, nuôi cho đến lớn\ .

Sự tích chim Cuốc có nhiều thuyết, nhưng chính yếu vẫn là điển tích sau đây.

Vua nước Thục là Đỗ Vũ có tính đam mê nữ sắc, tư thông với vợ của bề tôi là Biết Linh. Biết Linh dấy loạn. Vua Thục thất bại, mất ngôi, chạy trốn vào rừng. Đoạn này sách "Thành đô ký" lại nói : Vua Thục thông dâm với vợ Biết Linh. Biết Linh biết chuyện, bày kế cho vợ nói khích Đỗ Vũ nhường ngôi cho Biết Linh rồi cùng vợ Biết Linh bỏ nước đi, để sống trọn tình chung. Đỗ Vũ nghe theo, giao nước cho Biết Linh nhưng vợ Biết Linh bấy giờ lại bỏ Đỗ Vũ, trở lại sống cùng chồng. Hối hận vì hành động xằng bậy của mình để nước mất nhà tan, vua Thục rầu buồn sanh bịnh rồi mất, hồn hoá thành chim Đỗ Quyên. Do đó, người ta cho rằng chim Đỗ Quyên mến tiếc thời vàng son của mình nên kêu gào thảm thiết. Các văn nhân thi sĩ thường dùng chữ "đỗ quyên" để nói lên nỗi niềm luyến nhớ quê hương, và cũng để diễn tả mùa hè.

Trong Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, đoạn tả về khúc đàn của Kiều gảy cho Kim Trọng nghe lúc tái hợp, có câu :

Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục đế hay mình Đỗ Quyên.

Thật vậy, không có tiếng kêu gì bi thảm, não nuột cho bằng tiếng chim Cuốc. Những buổi trưa hè nắng chang chang hay những đêm hè tịch mịch, tiếng chim Cuốc trong những bụi rậm hay trong bụi niễng dưới đầm vọng lên làm người cảm thấy bi ai một cách lạ lùng. Nó gợi lên được sự nhớ nhung về một thời oanh liệt xa xôi nào; có khi nó thúc giục và làm bừng dậy cái tinh thần ái quốc nồng nàn đương tiềm tàng trong lòng người thời nước mất nhà tan.

Thi ca cổ điển VN dùng rất nhiều từ liên hệ tới điển về chim Cuốc.

Trần Danh An, một di thần nhà Hậu Lê (1428-1788; thời kỳ thống nhất là từ 1428-1527 gồm Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông và Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Hoàng và Lê Cung Hoàng), nghe tiếng Cuốc kêu cũng cảm xúc, nhớ lại một triều đại hưng thịnh, một công nghiệp dựng nước của Lê Thái Tổ (tức Bình Định Vương Lê Lợi, chống giặc Minh 10 năm -- 1418-1427 -- và đuổi được giặc Tàu về nước, lên ngôi và đặt quốc hiệu là Đại Việt), tài đức của Lê Thái Tông (tức vua thứ hai đời nhà Hậu Lê, nối ngôi Lê Thái Tổ)... Hôm nay, Lê Chiêu Thống hèn nhát, họ Trịnh (tức Trịnh Duy Sản) chuyên quyền, lòng ái quốc thiết tha sống động trong tâm hồn thi sĩ, nhưng ông cảm thấy mình bất lực trước thời cuộc nên đành gói ghém tâm sự di thần của mình trong mấy vần thơ :

Chim giá cô ở bờ sông Nam,
Chim Đỗ quyên ở bờ sông Bắc,
Giá cô kêu gia gia,
Đỗ quyên kêu quốc quốc
Chim nhỏ kêu tiếng nước nhà
Cô thần đối cảnh tình man mác

(Giá cô tại giang Nam
Dỗ quyên tại giang Bắc
Giá cô minh gia gia
Đỗ quyên minh quốc quốc
Vi cầm do hữu quốc gia thanh
Cô thần đối thử tình vô cực)

Mặt khác khi đứng trước thành Cổ Loa (1), nhà thơ Chu Mạnh Trinh bất giác sinh lòng hoài cổ. Cung miếu đó, xưa kia tráng lệ huy hoàng bao nhiêu thì ngày nay điêu tàn quạnh hiu bấy nhiêu. Trong cảnh vắng vẻ lạnh lùng này, dưới ánh trăng mờ nhạt, tiếng cuốc khắc khoải năm canh vọng lên buồn bã :
...
Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt
Trăng mờ khắc khoải Cuốc kêu thâu

(Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu
Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm)

Tiếng Cuốc kêu của Quan Án Chu Mạnh Trinh tuy có não nuột thật nhưng chưa sâu xa thấm thía và bi đát bằng tiếng Cuốc của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến. Tiếng Cuốc của ông nói lên nỗi mất nước, nỗi đau buồn uất hận trước cảnh đen tối của thời cuộc :

Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,
Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ.
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tang bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi ?
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ ?
Ban đêm ròng rã kêu ai đó ?
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.

Mượn tiếng Cuốc kêu để diễn tả tâm sự của một người dân lưu vong, vong quốc là một thông lệ trong văn chương VN. Như vậy "Thục Đế", "Đỗ Quyên, "Quốc Quốc" đều do điển tích về Thục Đế bên Tàu mà ra.

2. Cái "Gia Gia" :

Cuối đời nhà Thương (1783-1154 trước TL), vua Trụ hoang dâm vô đạo, tàn hại lê dân, người người oán giận. Văn vương là Cơ Xương, vốn là một chư hầu của nhà Thương, nhân từ đức hạnh, được các chư hầu và dân chúng kính phục. Văn vương có một người tôi tài giỏi là Khương Tử Nha phò tá làm cho chính trị trong nước ngày càng thịnh. Văn vương chết, truyền ngôi cho con là Cơ Phát, lấy hiệu là Võ vương. Sau, Võ vương nghe lời quần thần, hội chư hầu lại đem binh phạt Trụ mong cứu dân chúng thoát cảnh lầm than. Bá Di và Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc nghe thấy, ra nắm dây cương ngựa của Võ vương, nói rằng :

- Cha chết chưa chôn mà đã lo việc chinh chiến, thế có gọi là hiếu được không ? Bầy tôi giết vua để cướp nước, thì còn gọi là nhân được không ?

Võ vương bảo :

- Vua Trụ hoang dâm vô đạo, sát hại lê dân làm giận lòng người, trái ý trời. Nếu ta thủ phận, ngồi nhìn sự hà khắc của vua Trụ thì muôn dân còn trông cậy vào đâu. Hơn nữa, giang san có riêng gì của vua Trụ, ngày xưa vua Thành Thang chẳng chinh phạt vua Kiệt nhà Hạ để dựng lên nhà Thương đó sao ?

Bá Di, Thúc Tề chẳng nghe, cho Võ vương là bội chúa. Nhưng cận thần của Võ vương tức giận, muốn giết cả hai. Tử Nha can :

- Không nên. Hai ông là người nghĩa.

Sau Võ vương thắng trận, vua Trụ tự thiêu, lập nhà Chu, các chư hầu đều thần phục. Bá Di, Thúc Tề lấy làm hổ thẹn, coi thóc gạo cũng là của nhà Chu mà không ăn nữa... Hai ông lên ẩn ở núi Thú Dương, hái rau vi mà ăn, và làm bài hát "Thái vi" (hái rau vi) rằng :

Lên núi Tây sơn chừ, ta hái rau vi
Kẻ bạo thay bạo chừ, biết phải trái gì
Thần Nông, Ngu, Hạ (2) đã qua chừ, ta biết đâu mà quy y
Đành chịu vậy chừ, vận mạng ta suy

(Đăng bỉ Tây sơn hề thái kỳ vi hĩ
Di bạo dịch bạo hề bất tri kỳ phi hĩ
Thần Nông, Ngu, Hạ hốt yên một hề ngã an thích quy hĩ
Vu ta tồ hề mạng chi suy hĩ)

Nhưng một hôm có người bảo hai ông :

- Đất bây giờ là đất của nhà Chu, thiên hạ là thiên hạ của nhà Chu, hai ông đã chê, không ăn cơm gạo nhà Chu mà hái rau vi của giang san nhà Chu thì có khác gì.

Hai ông cho là có lý nên từ ấy nhịn ăn mà chết.

Tương truyền, hai ông vì uất ức, oan hồn chưa tan nên biến thành một loại chim, thường gào thét giọng bi thảm :


- Bất thực túc Chu gia...Bất thực túc Chu gia (Không ăn lúa nhà Chu...Không ăn lúa nhà Chu)

Vậy cái "gia gia" là chim Đa Đa do âm gia gia mà ra.

--------------------------
(1) Lời chú thích của Kim Nguyễn : Như ta đã biết, lịch sử nước ta được chia làm 7 giai đoạn như sau :

1. Thượng cổ thời đại
2. Bắc thuộc thời đại
3. Tự chủ thời đại
4. Nam Bắc phân tranh thời đại
5. Nhà Nguyễn Tây Sơn
6. Nhà Nguyễn Gia Long
7. Cận kim thời đại

Thượng cổ thời đại (kéo dài 2768 năm, từ 2879-111 trước Tây Lịch) với họ Hồng Bàng (2879-257 trước Tây Lịch), nhà Thục (257-207 trước TL) và nhà Triệu (207-111 trước TL). Riêng nhà Thục, ứng với thời này bên Tàu là gần cuối thời Chiến Quốc và đến phiên Tần Thủy Hoàng gồm thâu Lục Quốc mở ra nhà Tần từ 221-207 trước TL. Nước Văn Lang (Văn Lang là quốc hiệu đầu tiên của nước ta, có vị trí ở địa phận miền Bắc bây giờ; thủ đô là Phong Châu, thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên ngày nay) của các vị vua Hùng bị Thục Phán, vua nước Âu Lạc cũng gọi là Lạc Việt, đánh chiếm. Theo Khâm Định Việt Sử thì đây không phải là nước Thục bên Tàu vậy Lạc Việt hẳn thuộc một dòng họ độc lập nào đó ở gần nước Văn Lang. Thục Phán xưng là An Dương Vương và đổi tên nước là Âu Lạc (gồm 2 nước Lạc Việt và Văn Lang), đóng đô ở Phong Khê (Cổ Loa), nay là huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (An), gần Hà Nội. Năm 214 trước TL, Tần Thỉ Hoàng đánh chiếm Bách Việt (Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây), thấy thế An Dương Vương thần phục nhà Tần, Bách Việt và Âu Lạc được chia thành 3 quận : Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Âu Lạc). Tuy thuộc về Thượng cổ thời đại, nhưng trong thời gian mới lập quốc An Dương Vương đã biết xây thành Cổ Loa, một kiến trúc vĩ đại, thành cao và từ ngoài vào thì xoáy trôn ốc, nên gọi là Loa thành.

Tại Cổ Loa Thành còn ghi lại mối tình của nàng công chúa Mị Châu vì nghe lời ngon ngọt của chồng là Trọng Thủy, con của kẻ tham vọng Triệu Đà, đã khiến cho nhà Thục mất nước. Năm 208 tức năm 50 đời vua An Dương Vương, có một quan Thái thú quận Nam Hải (Quảng Đông) tên là Triệu Đà đem quân đánh Âu Lạc. Đánh nhiều lần vẫn không thắng vì không vào được thành Cổ Loa. Theo tục truyền thì khi xây thành Cổ Loa, An Dương Vương được Thần Kim Quy hiện lên giúp trừ yêu quái phá rối. Thần Kim Quy đã cho An Dương Vương một cái móng chân để làm lẫy nỏ. Nỏ đó, khi nào có quân giặc tới, đem ra bắn chết hàng vạn người, nên Triệu Đà thua mãi phải rút quân. Sau đó Triệu Đà nghĩ kế cho con trai là Trọng Thủy kết duyên với con gái An Dương Vưong tên là Mị Châu. Lấy được vợ rồi, Trọng Thủy dọ thám tình hình và đươc Mị Châu lấy nỏ thần cho chồng xem. Trọng Thủy bèn lấy lẫy thật thay
bằng một lẫy giả, rồi định mang về đưa cho cha. Trước khi đi, Trọng Thủy hỏi Mị Châu rằng nếu chàng ta về lỡ khi có giặc đánh đuổi thì làm sao để tìm được Mị Châu. Mị Châu cho biết rằng, "Thiếp có chiếc áo lông ngỗng, hễ chạy tới đâu thì lấy lông ngỗng rắc ra dọc đường để chàng biết mà tìm thiếp". Trọng Thủy về báo cho cha hay sự tình. Triệu Đà liền cất binh đánh Thục Phán. Cậy có nỏ, Thục Phán không phòng bị, chờ giặc tới gần chân thành mới đem nỏ ra bắn thì không thấy hiệu nghiệm nữa. Thua trận, An Dương Vương đem con là Mị Châu chạy về phía Nam. Đến núi Mộ Dạ (huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An) gần bờ bể, thấy giặc đuổi quá sát, mới khấn thần Kim Qui lên cứu. Kim Quy hiện lên nói rằng, "Giặc ngồi sau lưng đó !". Quá tức giận, An Dương Vương chém đứa con gái rồi nhảy xuống biển tự tử. Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng đuổi tới núi Mộ Dạ thì thấy xác vợ nằm chết tại đó. Bi thương vô hạn, Trọng Thủy đem vợ về an táng rồi nhảy xuống cái giếng gần Cổ Loa Thành mà tự tử. Có điển tích cho rằng hồn Thục Phán vì nhớ nước nên hoá thành chim Cuốc, ngày đêm kêu lên những tiếng não nuột. Hiện nay dấu tích Cổ Loa Thành và đền thờ An Dương Vương còn lưu lại ở xã Xuân Kiều, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, gần Hà Nội. Về phần Triệu Đà, sau khi lên ngôi, Triệu Đà lấy hiệu là Vũ Vương, đặt tên nước là Nam Việt (Quận Nam Hải + Âu Lạc; vậy Nam Việt này khác với Nam Việt của VN ngày nay), đóng đô ở Phiên Ngung, gần thành Quảng Châu bây giờ.

(2) Thần Nông : thuộc về Tam hoàng (Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông), dạy người làm ruộng.

Ngu Thuấn : một vị vua đời xưa của nước Tàu, nhờ hiền đức mà được Đường Nghiêu truyền ngôi cho.

Hạ : Vua Vũ đời nhà Hạ (2205-1818 trước TL). Đây là vị minh quân đời Thượng cổ.


* posted by Eagle / TGNV
hongvulannhi  
#863 Posted : Tuesday, January 4, 2011 5:28:07 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

UserPostedImage
LƯU PHƯƠNG ƠI SẼ TRỞ VỀ

Trong cơn nắng hạ oi nồng,
Tôi chờ làn gió từ đồng ruộng sâu
Thổi về, làm mát lòng nhau
Hương đồng cỏ nội đẹp màu xóm quê.

Vẫn mơ uớc một ngày về,
Vẫn mong nhìn lại con đê đầu làng.
Lưu Phương xa tắp ngút ngàn
Quê tôi chìm đắm ngập tràn khổ đau.

Nghèo xưa kéo đến ngàn sau,
Nhà tranh vách đất, vườn cau, luống cà
Đất khô cằn chẳng nở hoa
Ruộng hoang, cỏ cháy thật là tang thương.

Sẽ về thăm lại quê hương,
Bước chân lên những con đường làng xưa.
Để lòng thôi mộng thôi mơ
" Sống trong quê vẫn còn ngờ chiêm bao!"
HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#864 Posted : Wednesday, January 5, 2011 12:26:02 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

UserPostedImage
GÒ CÔNG ƠI ! TA NHỚ
*-Thương gửi Đồng Hương Gò Công sống nơi đất người

Đất tạm dung lòng bỗng chợt vui
Thư em một thoáng mát xuân đời
Sóng xưa ngược hướng về quê cũ
Em gái Gò Công ! em của tôi ...

Em viết lời thơ thật dễ thương
Gợi mơ gợi nhớ nắng thu hường
Gió cầu Long Chiến bay tà áo
Trăng đón hoàng hôn - sách nhớ trường !!

Hàng cây so đũa bên Cầu Huyện
Theo gió chướng về đã trổ hoa
Đậu rồng me dốt bông so đũa
Tôm đất nguyên đầu thơm canh chua

Canh chua so đũa - tôm Xóm Cội
Muối ớt tươi màu - gạo Sóc Nâu
Em nhắc cho anh thèm muốn khóc
Đất lạ quê người biết tìm đâu!!

Trái đậu rồng tươi xanh nét non
Bên giàn mới hái gạo hương thơm
Mắm tôm chà béo tình quê mẹ
Ớt hiểm bên vườn cay rất ngon...

Em nhắc cho anh nhớ Tân Thành
Ngang Cống Bà Chài ...vườn ai xanh
Điểm hồng hương ngọt Sơ Ry thắm
Mát cả trưa hè ...nhớ không anh !?

Anh còn nhớ mãng cầu Pháo Đài
Ngọt ngào tình mẹ - mãn cầu dai
Quê mình nghèo lắm nhưng không thiếu
Những thức ăn ngon để nhớ hoài ..!

Em nhắc cho anh mì Miểu Bà
Ớt hồng cải trắng dấm ngâm chua
Con tôm vàng áo phồng hương bột
Bụng đã căng mà vẫn như chưa

Ghé lại Chú Cưng vào buổi tối
Cá Chìa Vôi ngọt vị canh chua
Ly bia chưa cạn mà cơm thố
Vỏ chất cao ngang đã tới đầu

Bánh neo Chú cẩu dòn hương cốm
Ghé Quảng Lợi Hoà nghỉ nắng trưa
Ly mắt trâu uống trà Bố Lĩ
Gò Công ơi nhớ mấy cho vừa ..!

Em dẫn anh về quê Tân Trung
Tháng năm còng lột mắm thơm lừng
Khế chua chuối chát , ngò om, quế
Tự Đức còn khen món bảo trân ...

Xuôi xuống Bình Ân ăn đám giổ
Làm sao quên được món nham cua
Thịt cua quyện gạch , chua rau vấp
Rượu đế Gò Me say được chưa !?...

Em dẫn anh lên vườn Vĩnh Lợi
Trời trưa gay nắng mát dừa xiêm
Có cô con gái bên cây Éo
Trái Éo quằn say theo nhịp tim...

Kiến vàng đùa giởn bên cành quít
Vĩnh Hựu vườn trưa ngọt vị cam
Em đút cho anh từng múi ngọt
Quê nghèo mà đẹp phải không em !?

Tháng sáu theo em về Vàm Láng
Trẻ con áo mới đón nghinh Ông
Gỏi Sam , Tôm Tít , tái Cá Nhám
Rượu uống bao nhiêu đủ ấm lòng !?

Em nhắc cho anh ngày tháng tết
Mẹ ngồi ngắm nghía hủ tôm chua
Đu đủ hườm xanh tươi mỏ vịt
Thịt ba chỉ thái - nuốt như cò ...

Buổi sáng chợ đông chảo mỡ sôi
Thơm lừng bánh giá , khách quanh ngồi
Mắm pha chanh ớt, rau tươi rói
Ngon quá nhờ em miệng khéo cười!!

Ghé lại Kim Lang mua bánh ngọt
Ơ kìa cô chủ nét hương duyên
Bánh bông lan nở thơm đường cát
Cô chủ cười tươi - quên trả tiền ...

Đất tạm dung mà đọc thư em
Đang vui em nhắc lại buồn thêm
Mẹ anh quê cũ giờ hiu quạnh
Leo lét đèn khuya lạnh gió đêm!!

Anh hẹn em - Anh sẽ trở về
Một ngày nắng đẹp - mát tình quê
Cờ vàng phất phới bay kiêu hãnh
Mình sẽ bên nhau trọn ước thề
THY LAN THẢO ( 16 - 3 )
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#865 Posted : Thursday, January 6, 2011 2:14:27 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,481

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

UserPostedImage
NHỮNG CHUYỆN LẠ VỀ MÈO TRONG NĂM MẸO


HỒ ÐINH

Trong tất cả những gia súc gia cầm gần gũi với con người, duy nhất chỉ có mèo là con vật đầy mâu thuẫn, vì nó vừa thân thiết với chủ nhân nhưng cũng không quên đòi hỏi sự tự do độc lập của riêng mình. Ðó là con vật có cuộc sống hai mặt, là một trưởng giả đạo mạo trên ghế cao nệm gấm, đồng thời cũng là một tên sát thủ ghê gớm trong bóng tối hay góc vườn. Nó luôn che giấu bộ mặt thật của mình nên họa hoằn lắm mới đem con mồi bắt được vào nhà hành hạ một cách độc ác trước khi phanh thây xơi tái.
Có một thắc mắc mà ai cũng muốn biết là tại sao loài mèo dù nhỏ hay lớn cũng đều muốn được chủ mình ve vuốt thương yêu ? Theo Desmond Morris giải thích, đó là tình mẫu tử bởi vì ngay từ thuở mới lọt lòng, mèo con được mẹ liếm láp hằng ngày. Do đó nó luôn coi mọi người chung quanh đều là mèo mẹ vì đó là sự cần thiết giúp nó sống lại thuở ấu thơ. Về chuyện mèo thích dùng chân cào vào đầu gối chủ. Ðây cũng là tập quán lúc mèo còn bé thường làm như vậy để mèo mẹ tiết sữa cho nó bú.
Còn bí ẩn, tại sao mèo thích thịt chuột, cũng đã được y học dựa theo một vị thuốc có tên “ ngưu hoàng, ngưu hoàng toan “ là những viên sỏi kết tinh bởi dịch mật của trâu, bò và thủy ngưu tiết ra. Ðó là acid mật (đảm toan) mang gốc NH2 chữa được nhiều thứ bệnh và làm tăng thị lực trong đêm. Loài chuột cũng có khả năng sản xuất được chất đảm toan như họ nhà trâu. Mèo là con vật chuyên săn mồi ban đêm rất cần thị lực, nên phải ăn chuột để thay thế chất đảm toan không có trong cơ thể mình.
Là con vật được người thuần dưỡng lâu đời và nuôi nấng sớm nhất khi được sinh ra chẳng bao lâu nên mèo luôn coi mình như con vật có nguồn gốc giữa mèo và người. Nói chung thì chúng luôn coi con người như một thứ cha mẹ nuôi, vì vậy rất trung thành với chủ. Ðiểm này cho thấy mẻo và chó có sự tương đồng vì cả hai đều coi chủ mình như là cha mẹ nuôi. Tuy nhiên tình cảm của chó đối với chủ còn mang ý nghĩa của một vị chúa tể nên hết lòng cung cúc tận tụy dù có phải hy sinh tính mạng để bảo vệ chủ mình. Trái lại mèo chỉ sống cho riêng mình, dù được nuôi nấng trong nhà hay còn sống nơi hoang dã. Ðó cũng là sự khác biệt về tâm lý của người thích nuôi mèo thường là phái nữ, giới nghệ sĩ, kẻ sống cô độc. Trái lại người ưa nuôi chó thường là nam giới, lính tráng, những người ưa hoạt động xã hội, cộng đồng..
Nên chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy các nhà sinh học xếp mèo là loài thú tự tôn và sống theo cá nhân chủ nghĩa. Mèo xuất hiện trên trái đất khoảng 10 triệu năm về trước, tuổi thọ từ 30-38 năm. VN có tới 9 loài mèo nhưng đang trên đà tuyệt chủng vì hiện là món ăn khoái khẩu của Tàu đỏ, Tàu trắng và cả nước.
1 ố NHỮNG CON MÈO ÐẶC BIỆT :
Ngày 24/11/1999, mèo Jazz được chào đời tại đại học New Orleans (Hoa Kỳ) bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm như con người. Ðó là con mèo được lai giống từ trứng mèo mẹ Cayenne (loại mèo nhà) và tinh dịch mèo đực hoang dã Phi Châu đang có nguy cơ tuyệt chũng Ðây cũng là kỹ thuật mà mấy năm trước tại vườn thú Cincinnat (Mỹ) đã cho ra đời con mèo NOAH giống mèo sa mạc Ấn Ðộ, sau bốn lần thử nghiệm thất bại.
+ Mèo Rừng Serval Châu Phi : Có thân mình dẽo và thon với trọng lượng không quá 18 kg, đầu nhỏ, bốn chân dài như đại thử Úc nhưng đôi tai rất to, chuyên săn mồi ban đêm và là con thú duy nhất trên thế giới tóm được chim bằng một thủ thuật chính xác và nhanh nhẹn phi thường. Ðây cũng là một bậc thầy về môn nhảy cao hơn 3m và xa với vận tốc như muốn xé rách không khí chết trong sa mạc. Nó ăn chim, ếch nhái, thằn lằn, sâu bọ và những con linh dương còn nhỏ.
Mèo Serval còn bắt cả khỉ dù con vật này nhanh nhẹn không thua nó. Nhưng nhờ vào tài rùnh rập và vồ mồi tuyệt hảo, sự bén nhạy của tai mắt và lòng nhẫn nại đợi cho con mồi lọt hẳn vào bẩy rập mới ra tay sát kẻ đích. Vì nhỏ nên mèo thường mất sức khi đuổi theo con mồi trên khoảng đường xa, trái lại trên cây hay dưới nước, nó luơn đạt chiến thắng nhờ leo trèo và bơi lội giỏi. Nó có 4 răng hàm và cửa bén như dao dùng để xé thịt con mồi ra từng mãnh vụn trước khi ăn.
Mèo này sống khắp Châu Phi trừ sa mạc Sahara và vùng Tây Nam. Nó phân định địa bàn hoạt động của mình bằng nước tiểu và các dấu cào xé trên các võ thân cây trong khu rừng. Mèo sống cô độc và chỉ cặp đôi trong mùa giao phối diễn ra một lần trong năm. Con cái mang thai từ 67 tới 77 ngày thì sinh mỗi lứa 4 con và nuôi chúng trong vòng 1 năm mới tự đi kiếm mồi. Tuổi thọ của mèo rừng chừng 20 năm nhưng giờ đây chúng đang có nguy cơ tuyệt chũng vì bộ lông đang có giá tại Âu Mỹ và thịt rất được người bản xứ ưa chuộng.
+ Mèo Giống Nhân Sư : Mèo này có tên Sphynx (tượng đá Ai Cập, có thân sư tử, đầu người), sỡ dĩ mang tên trên vì hình dáng dị kỳ với lớp da nhăn gần như không có lông. Nó có đôi tai lớn như lừa, mắt to như nai và hình dạng cổ quái như con thú Yoda trong bộ phim Star Ware (chiến tranh những vì sao). Riêng vuốt mèo này giống móng gấu trúc sống tại Mỹ.
+ Mèo Munchkin : Còn có tên khác là Chó Chồn (Dachshund) có thân dài chân ngắn, biến dạng từ sự thay đổi giống của các loại mèo dị dạng.
+ Mèo Lion King : Ðược gọi là vua sư tử (Lion King) có nguồn gốc từ Ba Tư. Mèo này rất được các người nuôi mèo yêu quí vì bộ dạng lịch sự và lạ mắt. Bộ lông ngắn bó sát thân hình một cách tự nhiên, nên còn được gọi là sư tử trụi. Người ta còn đeo cho nó một vòng chuổi bạc làm bằng xương cá, tăng thêm vẽ thanh lịch của mèo.
+ Mèo Cornish Rex : Mèo có xuất xứ từ vùng Cornwall (Anh) , có bộ lông dợn sóng và mềm như tơ. Mèo có bụng thon, đuôi dài đặc biệt bốn chân cao nghệu, thêm đôi tai to và mềm như thỏ . Bộ dạng giống như con chó ốm, chạy nhanh chuyên săn mồi .
+ Mèo Bob Tall Long Hair : Có nguồn gốc từ Nhật Bản, đuôi ngắn có chùm lông xoắn ngộ nghĩnh . Mèo có bộ lông rậm và dài, mịn màng màu trắng sáng.
+ Mèo Tai Cụp : Xuất xứ từ vùng Scotland (Anh) , có đôi tai cụp về phía sau tạo thành một vùng hào quang phản chiếu quanh đầu. Mèo tai cụp nhìn rất dễ thương. Mèo có bộ lông sặc sỡ luôn ánh lên trước mắt mọi người nên rất được ưa thích.
+ Mèo Ocicat : Có xuất xứ từ giống mèo rừng Nam Mỹ, có bộ lông vàng rực điểm thêm những chấm tròn, nhìn giống như loài mèo Bobcat (mèo lông ngắn_ hat Linh Miêu (Lynx). Ðây là loài mèo tạp chủng được lai giống từ mèo Abysainian, mèo Xiêm và mèo lông ngắn Mỹ, được coi là giống mèo cực quý trong họ nhà mèo.
+ Mèo Xiếc : gồm chin con mèo được huấn luyện từ lúc mới lên hai tháng tuổi. Tất cả được đặt theo tên các tài tử nổi tiếng trên thế giới, trong số này có con mèo cái Madonna tuy còn nhỏ nhưng tài giỏi nhất. Mèo được các sư tập luyện từ nhỏ, nghe được tiếng người và các mệnh lệnh của chủ, có thể nhảy xuyên qua những chiếc vòng nhỏ cao quá đầu người. Những tiết mục độc đáo do các con mèo xiếc biểu diễn tại ngôi chùa Nga Phe Chaung trong vùng rừng núi Miến Ðiện, do ba vị sư trụ trì tài giỏi huấn luyện mà ngay cả những nhà dạy thú tài ba tới nay vẫn chưa đạt được.
2 ố NHỮNG CHUYỆN LẠ VỀ MÈO :
Ngày nay ai cũng biết chó là con vật luôn trung thành với chủ, còn mèo nổi bật với tính độc lập của mình. Với cặp mắt tinh anh có thể nhìn thủng màn đêm nhưng ít ai biết được loài mèo lại mù màu đỏ, khiến cho chúng đắm chìm trong thế giới của hai màu đen trắng mà thôi
Mèo là loài vật ích kỷ đúng hơn là vô chính phủ. Tập quán trên đã được chứng minh từ khi mèo chưa mở mắt mà đã cố quờ quạng dành cho được núm sửa của mèo mẹ và bám lì nó cho tới khi bỏ bú. Sau đó chúng cũng rời đàn để tự kiếm ăn và bạc bẽo nhất vẫn là những con mèo đực. Ðó là loài vật bảo thủ không muốn bất kỳ ai đụng chạm tới mình, dù đó ghế bành, giường ngủ hay bộ ván gổ. góc vườn, khu rừng.. chỗ nào mèo cũng muốn là giang san riêng của chính mình.
Lịch sử của sự thuần dưỡng mèo của con người chỉ với mục đích gạt bỏ những sự sợ hãi của họ đối với con vật. Mèo nhà được thuần dưỡng chỉ còn mang trong mình 20% tính hoang dã, phần còn lại là ảnh hưởng của môi trường, sự giáo dục của chủ và hoàn cảnh xã hội. Những con mèo nhà hiện diện khắp thế giới ngày nay, không phải là sản phẩm được hình thành từ sự hắt hơi của con cọp như huyền thoại Hồi giáo đã kể. Nó là con cháu của giống mèo rừng Nam Mỹ (Ocelot), của loài mèo Felix Lybica Ai Cập..
Theo Rupert Sbeldrake, một nhà sinh học người Anh thì mèo đặc biệt có thêm giác quan thứ sáu “ thần giao cách cảm “ và thứ bảy là “ khả năng định hướng “ , đã giúp nó băng qua những đoạn đường dài mà không sợ lạc lối như chim và cá (trừ loài bồ câu và cá thiên di).. Hiện các nhà khoa học đã chứng minh được nó có chất kim loại Magnetite chứa sắt rất nhạy cảm với từ trường, ở xoang mặt và sau những sợi lông dài mọc ở chân trước mèo. Ngoài ra nó còn có một trí giác rất mạnh và góc nhìn rộng 187 độ, giúp nó nhớ rõ những nơi chốn đã đi qua một cách chính xác, dù chỉ một lần. Mèo còn có những máy phát sóng nằm dưới chân chuyên sản xuất chất Phéromore là một loại hormone dùng làm vạch mốc khứu giác, đánh dấu các địa điểm đã đi qua.
Còn những tiếng gầm gừ của mèo cũng là tín hiệu cho biết gia đình chúng (mèo mẹ và đám con nhỏ) đang sống hạnh phúc. Việc mèo phi tang “ của quí vừa đại tiện của mình “ không phải chúng sạch sẽ mà đó là bản tính lúc nào cũng muốn che giấu sự thật, để luôn tại hình ảnh tốt trước mặt chủ..
+ Những Bệnh Lạ Do Mèo Gây Ra : Gần đây người ta phát hiện chứng bệnh viêm loét bao tử là loại bệnh truyền nhiễm, mà nguyên nhân do vi khuẩn H.Pylori gây ra bằng đường tiêu hóa nhưng bệnh này cũng dễ trị nếu biết giữ gìn vệ sinh và uống kháng sinh. Hiện các nhà khoa học ở Lausanne (Thuỵ Sĩ) qua nhiều lần thử nghiệm, đã chứng minh rằng những người thường gần gũi với mèo, đã mất vài dạng bệnh loét bao tử do vi khuẩn H. heilmannil truyền sang từ mèo.
Ít người ngờ tới họ nhà mèo gồm mèo nhà, mèo rừng, báo.. đều có thể mắc bệnh AIDS như người, mà y học gọi là bệnh liệt kháng gây ra bởi vi khuẩn FIV (Feline Immunodeficiency Virus) không ảnh hưởng tới người và các loại động vật khác. Hiện có khoảng 2-7% mèo nhà vùng Bắc Mỹ nhiễm FIV, được phát hiện lần đầu vào năm 1986 tại California. Ðây là loại virus thuộc họ retrovirus tương tự như nhóm HIV gây bệnh AIDS ở người.
FIV có nhiều trong nước bọt mèo gây bệnh qua vết cắn, chứ không phải từ đường máu và sinh hoạt tình dục như ở người. Ngoài ra mèo mẹ lây bệnh sang mèo con qua đường nhau thai. Con đực dễ bị lây bệnh hơn con cái vì hay ra ngoài cắn lộn. Bệnh phát triển chậm ở mèo và trải qua 6 thời kỳ tới giai đoạn chót với các bệnh ung thư hạch và tuỷ xương, co giật, thiếu máu. Năm 2002 các nhà khoa học tại đại học Florida đã thử nghiệm một loại thuốc chũng ngừa bệnh AIDS mèo , tuy nhiên thuốc chỉ có công dụng rất hạn chế . Tóm lại loại virus FIV rất đặc thù, nó chỉ có thể gây bệnh ở họ nhà mèo mà thôi, tuyệt đối không truyền sang cho người được.
+ Mèo Trong Chiến Tranh : Dù là con vật yếu nhỏ nhưng mèo đã được sử dụng trong chiến tranh từ 2500 trước tây lịch, qua cuộc chiến giữa Ai Cập và Ba Tư. Với người Ai Cập, mèo được coi như một con vật linh thiêng tượng trưng cho thần Pasht , nên ai làm tổn thương mèo sẽ bị xử tử. Dựa vào yếu tố tinh thần đó, người Ba Tư đã đưa mèo ra chiến trường, khiến cho người Ai Cập chỉ còn nước đầu hàng.
Trong thế chiến I, mèo được đưa ra chiến trường để diệt chuột và làm máy dò khí gaz độc và truyền tin tức. Nhưng lạ lùng nhất là việc sử dụng mèo trong thế chiến II của Cục phản gián OSS (tiền thân của CIA ngày nay) đánh bom tàu chiến Ðức quồc xã. Người Mỹ đã lợi dụng tính sợ nước của mèo, gắn vào chúng một quả bom và thả gần tàu đich. Số mèo này vì muốn sống nên đã cố gắng leo lên booing tàu Ðức và bom nổ. Tuy nhiên kế hoạch này đã thất bại vì phần lớn mèo từ máy bay thả xuống nước đã bị ngất xỉu
Năm 1961 thời kỳ chiến tranh lạnh, CIA lại có kế hoạch gọi là “ chiến dịch mèo nghe trộm (operation Acoustic Kitty) sử dụng mèo thành một thiết bị nghe lén, bằng phương pháp giải phẩu mèo, đặt trong cơ thể chúng một thiết bị điện tử nghe lén, còn đuôi là cần ăngten. Dự án tốn hơn 15 triệu USD và mất 5 năm thực hiện, trước khi được sử dụng lần đầu để nghe lén cuộc nói chuyện tại tòa đại sứ Liên Xô ở Hoa Thịnh Ðốn. Tiếc thay con mèo gián điệp đã bị xe cán chết khi băng qua đường, nên CIA dẹp luôn kế hoạch trên.
+ Những Con Mèo Giàu Nhất Thế Giới : Ða số những người giàu trong đó có giới nghệ sĩ đều thích nuôi thú cưng trong nhà như chó, mèo và trước khi chết thường viết di chúc để lại cho chúng tài sản có khi lên tới hàng triệu USD.. Tài sản này được coi sóc bởi những quản gia trung thành với chủ.
Mèo Pepe le Pew và Ani với một con chó giống Chihuahua tên Frankie, cùng làm chủ một biệt thự ở San Diego (California). Ngoài ra chủ còn viết di chúc cho hai con mèo trên 18,5 triệu USD, riêng con chó Frankie 15 triệu USD. Tinker là con mèo mun Anh thuộc giống mèo hoang, được thừa hưởng phần gia tài của bà quả phụ Margaret Layne 800.000 USD và một căn nhà 3 phòng ở Harrow. Cuối cùng là 350 gia súc gồm chó, mèo và cừu trong trại chăn nuôi Aberdeen Angus (khu vực Mey Farm phía bắc nước Anh của mẹ Nữ hoàng Anh Elizabeth II, được thừa hưởng gần 6 triệu USD.
+ Ðảo Mèo Kinh Dị : Walter William là một nha sĩ trẻ, sống và hành nghề tại thị trấn Saint Thomas, tỉnh Ontario (Canada). Vì có máu giang hồ nên đã từ bỏ cuộc sống sung túc nơi quê nhà, quyết tâm tìm tới một hòn đảo tên Society giữa Thái Bình Dương, theo lời quảng cáo của một công ty du lịch. Và mộng ước của Walter không phải chỉ tới đó để ngắm cảnh rong chơi, mà còn nuôi tham vọng được làm chủ một hòn đảo nho nhỏ, dựng nhà, câu cá, tắm biển.. sống an một đời không màng tới lợi danh phù phiếm.
Ðó là năm 1902 và vùng đất đầu tiên sau chuyến hải trình dịu vợi mà Walter đặt chân tới là kinh đô Papeete của vương quốc Tahiti, một hải đảo thuộc địa của Pháp. Ðể kiếm sống nơi xứ lạ quê người, Walter lại quay về nghề chữa răng cho mọi người trên đảo, bằng bộ đồ nghề đã mang theo với tên mới “ ông đốc Willy “.Và đây cũng là cơ duyên giúp ông ta quen biế với hoàng gia kể cả hoàng đế, qua những lần trồng răng chữa răng miễn phí.
Ðể đền ơn, vua Pomare V đã tặng cho người nha sĩ trẻ tuổi một hoang đảo thuộc lãnh thổ vương triều. Có điều đây là một đảo “ chuột “ vì cư dân trên đảo không phải là người mà toàn là chuột, hàng ngàn, hàng vạn con lúc nhúc hiện diện khắp nơi, từ mặt đất tới cả ngọn cây dừa.. chổ nào cũng có mặt chuột. Không chịu thua trước hoàn cảnh tuyệt vọng, đầu tiên Walter dùng thức ăn trộn thuốc độc để giết chuột nhưng không có hiệu quả.
Sau cùng Walter phải sử dụng tới đạo quân mèo và nhờ đó gần như diệt được loạn chuột đã hùng cứ hằng trăm năm trên đảo, trước sự bất lực của con người. Nhưng chuột đi mà mèo vẫn ở lại trên đảo, hết chuột để ăn, đàn mèo lại sinh tồn bằng cá biển tung tăng khắp bờ và cứ thế không biết từ lúc nào, đảo Tetiaroa đã đổi thành “ đảo mèo “ . Còn chủ nhân ông Walter William không làm gì hơn, ngoài việc thay đổi thần dân của mình “ từ chuột sang mèo “ và trồng thêm thật nhiều dừa và chuối khắp đảo.
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, người thừa kế “ đảo mèo “ là tài tử Mỹ nổi tiếng Marlon Brando, có tham vọng biến đảo này thành một thiên đường dành cho giới văn nghệ sĩ. Nhưng nơi này không bao giờ có sự yên tĩnh bất cứ một phút giây nào, vì sự cuồng loạn của giặc mèo.
+ Giặc Mèo Ở Nhật : Trong quá khứ, đảo Ishima của Nhật từng là nạn nhân kinh khiếp của đám giặc chuột trong một thời gian dài. Cảnh tượng trên đảo lúc đó gần như là vườn không nhà trống, vì giặc chuột tới đâu là chúng ngốn hết rau quả, thức ăn, củi gổ luôn đến những gia súc gia cầm. Tới nay chưa có ai xác định được đàn chuột làm sao đến được đảo.
Ðể diệt chuột, người trên đảo đã tìm đủ mọi cách nhưng càng xua đuổi thì chúng lại càng phá phách và sinh sôi thêm đông đảo hơn trước. Cuối cùng chính quyền địa phương kể cả trung ương đã nhập cuộc để chống lại trận giặc chuột dữ tợn này. Và chiến lược cuối cùng vẫn là sử dụng mèo diệt chuột, theo truyền thống ngàn đời của con người.
Thế là hàng vạn con mèo bị bỏ đói nhiều ngày, được tàu chở tới thả lên đảo. Ðang lúc đói lại gặp mồi ngon, nên chỉ trong ngày đầu tiên đàn mèo tranh giành nhau để bắt chuột. Vì thế chỉ trong một tháng, không còn ai thấy bóng một con chuột nào xuất hiện trên đảo.
Nhưng niềm vui chưa được bao lâu thì nổi buồn phiền sợ hãi khác lại xuất hiện. Nguyên do là đàn mèo đông đảo sau khi đã ngốn hết lũ chuột nên không còn cái ăn. Vì vậy chúng phải tự kiếm sống bằng mọi thứ, từ cá thịt hoa quả bày bán ngoài chợ, trong tiệm quán.. cho tới thức ăn đồ uống cất kỷ trong tủ. Trận giắc mèo kỳ này còn ghê gớm gấp trăm lần trần giặc chuột đợt trước, Dân chúng trên đảo trước khổ vì chuột nay lại đau bởi mèo, nhiều gia đình không chịu nổi phải bỏ đảo Ishima tha phương cầu thực. Cuối cùng chính quyền phải sử dụng súng để diệt mèo nhưng không làm sao hạ hết đàn mèo tinh quái.
+ Bảo Tàng Mèo Tại Thành Phố Kuching (Mã Lai) : Kuching là thủ phủ của bang Sarawak (Mã Lai Á) nổi tiếng nhờ mèo. Ðặc biệt giống mèo ở đây đều có chiếc đuôi xoắn tít hay đuôi cụt như pho tượng mèo được tạc đứng trước chiếc cổng dẫn vào thành phố.
Cho đến nay không ai biết được xuất xứ của những con mèo kỳ lạ này tại Kuching, ngoài việc sự hiện diện đông đảo của chúng khắp thành phố. Có nhiều ý kiến về nguồn gốc của giống mèo này được các thương gia Tàu hoặc Ấn mang tới. Ngoài ra chúng cũng là hậu duệ của mèo rừng và mèo Xiêm tạo ra.
Theo tiếng Mã Lai, Kuching ngoài nghĩa chính là mèo còn dùng để chỉ một loại trái nhỏ giống như trái vải qua tên “ Saungai Mata Kuching “ mà cả người Mã lẫn người Việt đều gọi là mắt mèo, lúc đó mọc đầy hai bên bờ suối Mata Kuching. Năm 1988 Kuching trở thành thủ phủ của bang Sarawak, người dân ở đây đã dựng tượng “ đại miêu “ được coi là lớn nhất thê giới để ăn mừng. Ở đây còn có một bảo tàng mèo đặc biệt, trưng bày nhiều hình ảnh, hiện vật và tài liệu quý giá.. nên thu hút rất nhiều du khách bốn phương. Từ đó ta mới biết được sự tôn thờ mèo như thần thánh củ người cổ Ai Cập Riêng các doanh nghiệp rất thích hai tượng mèo Nhật Bản mang tên Manekineko với ý nghĩa “ chúc mừng thịnh vượng và phát tài “ Ngoài còn có một phòng đặc biệt, trưng bày hình ảnh của những nhân vật nổi danh trên thế giới rất yêu mèo như Victor Hugo, Florence Nightingale, Lincoln, Einstein, Hemingway..
“ Chuột ăn hại, mèo ăn tham “ muôn đời là một chân lý nên người VN xưa đã thâm thúy khi tạo nên bức tranh tết trong làng tranh Ðông Hồ “ đám cưới chuột “ với dụng ý nhân cách hóa con mèo và 12 con chuột trong tranh, trở thành những biểu tượng đại diện cho bọn tham quan ô lại (mèo), bọn con quan quyền quí (ông rễ chuột và đám nịnh thần) cùng với những người dân nghèo cực thấp cổ bé miệng (các chuột khiêng kiệu, vác cờ, thổi kèn, đánh trống). Cái khôi hài đầy châm biếm của bức tranh, là sự hòa họp, hòa giải sống chung hòa bình của “ mèo và chuột “ là hai kẻ thù không đội trời chung nhưng vì mèo tham ô ăn hối lộ (chim bồ câu, cá chép) nên nhắm mắt quên nhiệm vụ tiêu diệt phường ăn hại thối nát là chuột
Cuối cùng là câu chuyện “ dùng chó thay mèo bắt chuột “ đọc được trong tác phẩm “ cái cười của thánh nhân “ của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, có kể chuyện một con chó săn rất giỏi nhưng lại bị chủ nhốt trong nhà để bắt chuột cho nên chó đã không thi thố được tài năng của mình. Câu chuyện “ cùm chân con chó có tài săn thú, để thay mèo bắt chuột “ tại những đất nước tự do chỉ có thể làm cho người ta cười nhưng tại thiên đường xã nghĩa như CSVN, Bắc Hàn, Tàu đỏ.. thì lại trở thành câu chuyện cười ra nước mắt.
Là một con chó (hay con người) có tài năng, mà bị chủ cùm chân, bịt miệng bắt làm chuyện “ thay mèo bắt chuột “ hay tôi tớ phục vụ cho đảng thì thật là quá thê thảm. Nhưng có lẽ bi hài nhất cho những ai không hề bị “ cùm chân “ mà tự mình “ cùm chân “ chính mình, để làm đầy tớ nô bộc, giúp cho kẻ thù của dân tộc “ bán nước hại dân “ chỉ vì hám danh và mê bã vinh hoa phú quí. Ðó mới là chuyện nên cười hay khóc của người Việt hôm nay ?!
Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Giêng 2011
HỒ ÐINH
__._,_.___
Vuong Sinh  
#866 Posted : Sunday, January 9, 2011 1:48:25 AM(UTC)
Vuong Sinh

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,179

Was thanked: 1 time(s) in 1 post(s)
UserPostedImageNụ cười trẻ thơ

Mùa xuân đẹp vì cây xanh lá biếc

Nhưng sao đẹp bằng mắt biếc trẻ thơ

Vườn hoa đào chúm chím sắc hồng tơ

Nhưng vẫn thua …

Má hồng trẻ thơ còn thơm mùi sữa mẹ.


Ô miệng bé cười, thế gian cùng thở nhẹ

Bao muộn phiền, căng thẳng bỗng tiêu tan

Kho báu địa cầu, danh lợi, ngai vàng…

Cùng vô nghĩa so với tình con trẻ.


Mẹ thương con như suối nguồn ra bể

Cha thương con như núi xẻ tầng mây…

Tình gia đình bền chặt, gió nào lay?

Hạnh phúc ấm êm, nụ cười con trẻ.


Ầu ơ… chiều chiều mẹ dắt con về
Tan trường ... xum họp ... yên bề mẹ cha!

Vương Sinh
hongvulannhi  
#867 Posted : Tuesday, January 11, 2011 6:23:35 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Lời cha dạy
HỒ THANH NHÃ


Nguyễn Phi Khanh xoa mái đầu con trẻ
Nhìn xa xăm đường cố quốc mịt mù
Cùm nặng trĩu trên bờ vai nhỏ bé
Vạt áo tù phơ phất gió biên khu

Nguyễn Trãi con! Nơi đây là giới tuyến
Trở lại đi! Về lãnh thổ Nam Bang
Hãy thắp sáng trong lòng muôn ngọn nến
Tạo niềm tin khôi phục lại giang san

Thế nước biến lấy chi đền nợ nước?
Tình quê hương bền chặt giữ trong lòng
Đất nước còn, không còn con cũng được
Đất nước không, con có cũng là không?

Gông cùm cha như xích xiềng sông núi
Muôn dân đen rên xiết kiếp tôi đòi
Mong một sớm non sông bừng mở hội
Minh chúa ra đời, sao lại đổi ngôi

"Về đi con! Trời phương Nam vượng khí
Vùng Lam Sơn đất hổ phục long tiềm
Rừng Mê Linh mài gươm rèn tướng sĩ
Dựng cơ đồ khởi nghiệp gót chinh yên

Con yêu quí! Đây là cầu biên giới
Chia tay đây rồi lui bước quay về
Nơi đất Bắc cha sẽ chờ tin mới
Cho mắt già bừng ánh nắng sơn khê."

Nguyễn Trãi lạy cha nghẹn ngào nước mắt
"Thôi cha đi! Con sẽ quyết vâng lời
Một lạy nầy đền ơn cha dưỡng dục
Một lạy thêm, tạ sông núi đáp bồi."

Rồi từ đấy mười năm dài khởi nghĩa
Phò minh quân Nguyễn Trãi dựng cờ đào
Sạch quân thù liên hoan mừng hội lớn.
Nước thanh bình dân tộc ngẩng đầu cao.

(Trích thi phẩm Giọt Nắng Thiên Thu vừa xuất bản)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#868 Posted : Thursday, January 13, 2011 8:04:51 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

UserPostedImage
DÒNG SÔNG QUÊ EM

Con sông Lưu Phương nước chảy xuôi dòng
Uốn dọc theo bờ, hàng cây lá xanh
Nắng chiều phôi phai, nhạt nhòa thơ mộng
Khói bếp nhà ai tỏa khói mong manh.

Quê em dân nghèo, tâm hồn bình dị
Lễ sớm, kinh chiều, đạo đức, tin yêu
Chủ Nhật trẻ con đi học giáo lý
Cuộc sống nhà nông, hạnh phúc thật nhiều.

Anh đã một lần ghé viếng quê em
Tiếng hò nhặt khoan, cuộc sống êm đềm
Tre già nghiêng ngả theo từng cơn gió
Ánh trăng trắng ngà soi rõ bóng đêm.

Một thuở thanh bình giờ không còn nữa
Giặc đã tràn về, tang tóc, sầu thương
Dòng sông vẫn chảy trong niềm đau nghẹn
Đã vắng lâu rồi vang vọng tiếng chuông.

Mấy chục năm rồi em chưa trở lại
Thăm làng quê cũ, thăm mái nhà xưa
Hình ảnh Lưu Phương làm sao quên được
Tuổi ấu thơ vui cùng ngọn gió đùa.

Chẳng biết vì sao anh lại ghé thăm
Ma soeur dịu dàng trong áo dòng đen
Và Notre Dame mang màu áo trắng
Hai dòng ở miền quê anh chẳng quen.

Mãi đến bây giờ mình mới gặp nhau
Tháng đợi năm chờ dài biết bao lâu
Tuỳ duyên nên đã có ngày gặp gỡ
Tình hứa thủy chung đến thuở bạc đầu.
HONG VU LAN NHI 10/3/10

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#869 Posted : Saturday, January 15, 2011 8:08:38 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

UserPostedImage
Trưa hè

Tuổi thơ em trải vùng châu thổ
Ruộng trũng, đất gò, mộng ngát xanh
Tre trúc la đà đường xóm nhỏ
Hiu hiu trong gió lá ru cành

Ơ bé thơ ơi, lòng lụa mới
Thênh thang trải khắp nẻo đường đời
Hồn nhiên trong mắt nai âu yếm
Lắng vọng bên trời tiếng viễn khơi

Cắt khúc trúc già làm ống sáo
Lưng trâu, thả nhạc buổi trưa hè
Véo von tiếng mỏng bay cao vút
Âm hưởng dạt dào, ai lắng nghe?

Ơ những trưa hè vàng lóe nắng
Sáo đưa người thả giấc thiu thiu
Chợt nghe trong đáy hồn sâu thẳm
Sôi réo đời qua tiếng nhạc thiều

Lối về cuối xóm không xa ngói
Mà sáo dặt dìu vọng đến đâu?
Để khách yêu quê nhìn bóng khói
Chân mây đồng vọng tiếng còi tàu

Cuống rún đứt lìa, tôi bỏ xóm
Miệt mài trôi giạt khắp quê hương
Nhà xưa có buổi về thăm lại
Bỡ ngỡ chừng như bước lạc đường

Cảnh lạ, người thân trôi giạt hết
Bé xưa đất lạnh đã vùi sâu
Nhưng còn lối trúc tre qua xóm
Còn bóng đong đưa giấc mộng đầu

Lưng trâu một bé ngây thơ khác
Cũng đẹp hồn nhiên cặp mắt nai
Thả sáo du dương vào nắng tỏa
Trúc tre lắng đọng điệu u hoài

Tiếng sáo ru trưa, ru quá khứ
Chập chờn từng thoáng rợn mong manh
Để tôi ngùi ngậm niềm man mác
Gửi sóng thời gian chút ý tình

Em xưa có phải đầu thai lại
Trên mảnh đất nhà trộn thịt xương?
Giao cảm nối liền qua kiếp trước
Tặng tôi bằng điệu sáo quê hương?

Để tôi sống lại bao năm trước
Những buổi trưa hè giữa xóm quê
Những buổi mênh mông nhìn nắng đẹp
Thương người đã mất dấu đường về

Dồn dập tang thương, ơi chốn cũ
Lạ lùng người cảnh, ngán ngao quê
Để rồi thêm một lần lưu lạc
Bỏ nước không hy vọng buổi về
HỒ TRƯỜNG AN
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#870 Posted : Saturday, January 15, 2011 11:26:21 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
TIẾNG VIỆT, HỒN DÂN TỘC VIỆT NAM
BÁC SĨ THÁI MINH TRUNG


Thấm thoát đã 30 năm người Việt chúng ta phải xa lìa quê hương để sống tha phương khắp mọi nơi. Chúng ta như đàn chim vì tìm tự do phải rời tổ ấm bay phân tán đi khắp thế giới. Chúng ta chọn xứ lạ làm quê hương thứ nhì. Chúng ta sinh sống trên đất người nhưng lúc nào lòng cũng hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Chúng ta học được nhiều ngôn ngữ mới, biết được nhiều tập quán lạ để gia nhập vào cuộc sống mới. Nhưng rồi những buổi chiều sau giờ làm việc mệt nhọc, ta cảm thấy cần nghe và nói tiếng Việt. Chỉ có tiếng Việt mới có thể đưa ta trở về con người sâu sắc của chính mình. Tiếng Việt đưa ta về cội nguồn của tâm hồn ta và nó có thể làm vơi đi những căng thẳng trong ngày. Tiếng Việt đem ta trở về một thế giới quen thuộc êm đềm và ru ta vào giấc ngủ say sưa.

Trong giấc ngủ ta trở thành bé thơ nằm gọn trong lòng mẹ và nghe mẹ ru ta ngủ bằng giai điệu ngọt ngào của tiếng Việt. Chính vì thế mà tiếng mẹ đẻ đã thấm nhuần vào từng thớ tâm hồn ta như dòng sữa ngọt đưa ta vào đời. Thân thể ta cần sữa thì tâm hồn ta cần nghe mẹ ru ta. Ta nhắm mắt lại và chìm đắm trong một thế giới êm đềm. Tiếng mẹ ru như những câu thần chú đánh đuổi những sợ hãi của đêm tối. Ta nở một nụ cười hạnh phúc trên môi và trôi dần vào giấc ngủ say sưa.

Ta thức dậy. Thời gian trôi qua nhanh quá. Mới đây tóc xanh giờ đã hoa tiêu. Những con sóng của cuộc đời nhồi lên nhồi xuống con thuyền không bến. Tuy ta mất quê hương nhưng khi ta duy trì được tiếng mẹ đẻ thì ngôn ngữ đó trở thành một mảnh đất quê hương mà ta mãi mang theo trong tâm hồn của người tha hương. Khi những người đồng hương ở xứ người gặp nhau trò chuyện bằng tiếng Việt, giai điệu âm thanh đó ngọt ngào làm sao. Khi di tản, ta không mang theo mảnh đất quê hương yêu dấu được, nhưng khi hỏi thăm trò chuyện với nhau bằng tiếng Việt thì quê hương ta hiện ra đâu đó.

Khi nói đến ngôn ngữ thì phải nói đến văn hóa. Ngôn ngữ và văn hóa như sữa và nước thật khó tách rời. Vị sữa làm cho nước ngọt và chất nước làm cho sữa dễ tiêu hóa. Văn hóa ta tôn trọng quan hệ gia đình và xã hội chớ không đề cao chủ nghĩa cá nhân đè đầu người khác để làm mình trội hơn. Cá nhân được thương mến khi cá nhân đó tôn trọng quan hệ giữa người và người. Vì thế người Việt chúng ta rất tình cảm. Quan hệ tình người được bảo vệ và tăng trưởng nhờ ngôn ngữ. Thí dụ ta dùng từ "anh chị" để gọi nhau, để tự nhắc nhở cho nhau chúng ta cùng một đại gia đình Việt Nam. Chúng ta dùng từ "chú, bác, dì, thím" để gọi những người lớn tuổi hơn ta. Qua ngôn ngữ ta cho họ biết là ta tôn trọng họ như những người lớn tuổi trong gia đình ta.
Ngôn ngữ Việt Nam, ngoài vai trò thông tin còn có vai trò củng cố quan hệ tình cảm nửa. Đó là cái tính chất văn hóa lồng trong ngôn ngữ. Thí dụ như vợ chồng Mỹ gọi nhau bằng "I" và "you". Khi phân tích ngôn ngữ học thì "I" hoàn toàn cách biệt với "you", "I" và "you" là hai cá thể hoàn toàn độc lập và khác biệt. Tiếng Việt ta dùng từ "anh, em" hay "mình", cho ta thấy rõ cái quan hệ tình cảm của cặp vợ chồng. Tuy vợ chồng không có máu mủ với nhau, nhưng khi gọi nhau bằng "anh, em" thì diễn tả được mối tình thân thiết. Còn từ "mình" có vẻ thân thiết hơn, ta coi người phối ngẫu như một phần của chính ta, ta không thể sống thiếu người đó được.

Ngôn ngữ nào cũng có giai điệu của nó. Khi đứa bé mới học nói, nó không hiểu hết ý nghĩa của danh từ. Đầu óc nó học qua giai điệu (melody) của âm thanh qua tiếng nói người mẹ. Nó vui buồn theo cái giai điệu biểu hiện tình cảm do người mẹ phát ra. Vì thế giai điệu ngôn ngữ gắn liền với rất nhiều tình cảm đồi dào trong lòng người. Giai điệu đó phản ảnh tình mẫu tử bao la và đồng thời phản ảnh non nước quê hương bao quanh ta. Cái giai điệu và cách cấu trúc câu văn (cú pháp) đặc trưng ở từng ngôn ngữ. Có thể nói giai điệu và cú pháp rung động cùng nhịp với môi trường sống tại một thời điểm nào đó. Thí dụ ta khó dịch câu thơ Việt Nam tả cảnh sống êm đềm ở nông thôn ra ngôn ngữ ngoại quốc mà vẫn giữ được hồn thơ. Có lẽ ngôn ngữ của thành thị không có khả năng diễn tả những rung động đặc trưng của nông thôn. Những câu ca dao tục ngữ, những bài ca, điệu hò mang đặc trưng cái hồn dân tộc Việt Nam và chỉ có tiếng Việt mới diễn tả được. Vì thế khi tuổi trẻ sanh trưởng tại hải ngoại không học nói tiếng Việt từ nhỏ, sẽ mất đi cái chìa khóa quý giá giúp họ đi vào hồn dân tộc khám phá nhiều kho tàng văn chương và tình cảm vô giá.
Duy trì ngôn ngữ Việt Nam ở tuổi trẻ hải ngoại là một điều rất cần thiết. Trao đổi bằng tiếng Việt làm cuộc sống tình cảm dồi dào hơn, nhứt là khi ta so sánh với tiếng ngoại quốc và ý thức được nét đặc trưng của ngôn ngữ và văn hóa ta đề cao quan hệ tình người. Cũng thời hai thiếu nữ Việt Nam mặc áo dài, cô thiếu nữ nói được tiếng Việt và hiểu được văn hóa Việt Nam lúc nào cũng có vẻ dịu dàng và dễ mến hơn. Cô ta diễn tả được hồn Việt trong chiếc áo dài đó! Khi hiểu được tiếng Việt thì tuổi trẻ sanh ra tại hải ngoại sẽ yêu và thông cảm cha mẹ mình hơn. Khoảng cách giữa hai thế hệ sẽ rút ngắn lại và những mâu thuẫn sẽ ít đi. Rồi trong tình yêu tiếng Việt đó họ sẽ gặp gỡ được hồn dân tộc và cảm thấy gần gũi với quê hương Việt Nam hơn. Duy trì ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam sẽ làm tuổi trẻ Việt Nam nổi bật vì họ có thêm cái đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam mà các nước khác không có.

Ta sẽ mất quê hương lần thứ nhì khi ta để con cái ta dần dần quên tiếng Việt. Chính vì thế, chúng tôi tha thiết kêu gọi các vị lãnh tụ chính trị và tôn giáo ở hải ngoại nên thành lập một ngày tưởng nhớ đặc biệt sau ngày 30 tháng 4 gọi là ngày "Tiếng Việt, hồn dân tộc". Đó sẽ là ngày mà tất cả dân Việt Nam rải rác trên thế giới tổ chức nhiều cuộc họp mặt thảo luận qua truyền thông báo chí về những nét hay và đặc trưng của ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Nơi nào có đông dân Việt Nam, chúng ta nên vận động chính quyền bản xứ đem tiếng Việt vào trường học, với những lớp căn bản học nói và viết tiếng Việt đến những lớp cao hơn nghiên cứu về ngôn ngữ học (linguistic) Việt Nam, văn hóa, văn chương Việt Nam trong nước và hải ngoại. Có nghiên cứu, có hiểu được về tiếng Việt, con cháu ta mới tự hào về nguồn gốc mình và cảm thấy gắn bó yêu thương dân tộc mình hơn. Bằng không thế hệ trẻ sau này chỉ là những người mang dòng máu Việt Nam nhưng với tâm hồn của người ngoại quốc.
Qua tiếng Việt, chúng tôi muốn thế hệ sau này hiểu dòng máu mà mình mang trong người là dòng máu của một thế hệ trước đấu tranh với những thảm cảnh của ngục tù cải tạo và những chuyến vượt biên tràn đầy hiểm nguy. Thế hệ đó đã cắn răng sống trong bao nỗi nhục nhằn để thế hệ sau này được vẻ vang trên đất người. Chúng ta không nên nhắc lại những chuyện đau lòng đó để gợi lên lòng hận thù, đó là cái nhìn về quá khứ. Chúng ta nên nhìn về tương lai và nhắc lại những chuyện đó như một tình thương hy sinh cao cả của thế hệ trước. Cái chất keo hàn gắn sự khác biệt giữa hai thế hệ tạo sự thông cảm chính là ngôn ngữ Việt Nam! Ta có thể hình dung rằng khi mất tiếng Việt Nam, ta sẽ có nhiều cô gái Việt trên thế giới mặc áo dài, mới nhìn trông thật đẹp, nhưng khi lại gần trò chuyện thì mới biết họ là những người ngoại quốc trong chiếc quốc phục dịu dàng. Lúc đó ta chợt hiểu rằng khi ta mất tiếng Việt thì hồn dân tộc bị chết theo!


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#871 Posted : Tuesday, January 18, 2011 9:56:54 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,481

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
7 loại cây khai vận năm mới

UserPostedImage

Năm mới sắp đến, hãy lựa chọn cây cảnh trang trí cho ngôi nhà thêm đẹp và mang đến nhiều may mắn hơn nữa cho mọi người trong gia đình.
Theo quan niệm của phong thủy, một số cây cảnh có tác dụng phong thủy như hoa cúc, hoa đào, hoa lan... Trồng những loại cây đó trong nhà sẽ mang đến những điều tốt đẹp cho gia đình trong năm mới.

UserPostedImage
Hoa Cúc
Ngày Tết, người ta thường thấy xuất hiện hoa cúc trong nhà, đặc biệt là hoa cúc vàng và đỏ... Bởi vì theo phong thủy, hoa cúc là biểu tượng của sự sống, tăng thêm phúc lộc cũng như sự hoan hỉ đến nhà. Trồng những chậu cúc nhỏ hay cắm hoa cúc có thể giúp ổn định phúc khí trong nhà. Cũng lưu ý rằng, hoa cúc nên đặt nơi có nhiều ánh sáng trong nhà để sự may mắn thêm mạnh mẽ và rực rỡ.

UserPostedImage
cây Quất
Cây quất (hoặc quýt) tượng trưng cho sự thu hoạch và cũng là một khởi đầu tốt đẹp. Vì thế, vào đầu năm mới, ta thường thấy mỗi gia đình thường mua một cây quất (quýt) quả vàng xum xuê, lá xanh tốt với mong muốn khởi đầu một năm mới tốt đẹp, giúp gia tăng tiền tài và vận may cho các thành viên trong gia đình.

UserPostedImage
hoa Mai
Hoa mai thích hợp với khí hậu ở miền Trung và miền Nam nước ta. Mai vàng tượng trưng cho sự phú quý, giàu sang. Trong ngày Tết, mọi người thường mua cây (hoặc cành) mai vàng nhiều lộc bởi theo quan niệm của phong thủy, hoa mai nở đúng lúc giao thừa hay sớm mùng một sẽ mang lại nhiều may mắn, thịnh vượng và hạnh phúc sẽ đến với gia đình trong năm đó.

UserPostedImage
hoa Đào
Nếu miền Nam chuộng hoa mai trong ngày Tết thì miền Bắc nước ta lại thường mua những cành đào để trang trí cho căn nhà vào những ngày đầu Xuân. Hoa đào không chỉ có tác dụng xua đuổi tà ma mà còn có thể mang đến nguồn sinh khí mới, giúp mọi người trong nhà luôn khỏe mạnh và bình an trong năm mới.

UserPostedImage
hoa Thủy Tiên
Hoa thủy tiên được xem là loài hoa thanh tao, quyền quý. Trồng hoa thủy tiên có tác dụng khử tà, mang lại cát tường như ý cũng như tăng thêm tài khí cho gia đình. Hoa thủy tiên là loại hoa rất khó trồng, hoa thường được trồng trong nước, hình dáng giống như củ hành tươi. Trước khi mua về, bạn nên tìm hiểu cách chăm sóc để cây hoa có thể sống thật lâu trong nhà.

UserPostedImage[/B]
Cây sung cảnh
Cây sung là loại cây khá dễ trồng và dễ sống. Chọn một cây sung có dáng đẹp và nhiều quả trang trí trong nhà vào ngày Tết cũng có thể mang đến sự no đủ và nhiều điều tốt lành cho năm mới.

UserPostedImage
hoa Đồng Tiền
Cây hoa đồng tiền còn gọi là cây kim tiền. Trong những dịp đầu xuân năm mới, nếu trồng hoa hoặc cắm hoa đồng tiền sẽ mang đến nhiều tài lộc và tiền của cho gia đình.

* S/T Net
Linh Phuong  
#872 Posted : Thursday, January 20, 2011 1:19:30 PM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

***VỀ XUÔI***

Con cá quảy bờ ao , chiều ngã bóng
Xuồng ai trôi - thấp thoáng một vuông khăn
Em có về mạn ngược với ta chăng ?
Đôi mắt liếc , nụ cười duyên đến lạ ...
Chèo khua nước như lòng tôi nghiêng ngả
Chậm thuyền ơi …lối rẽ - khuất nhau rồi !
Rặng trâm bầu đợi gió đứng chơi vơi
Hàng dừa nước nghiêng mình soi bóng lá
Tiếng ai gọi , bóng ai vời hối hả
Khói lam chiều vương mái rạ bâng khuâng
Thần Nông , Sáu tư , Bụi sữa , Tám thơm...
Mùa giáp hạt đắn đo từng đấu thóc !
Tiếng con trẻ nhà ai u ơ khóc
Lời mẹ ru nghe buồn đến não lòng
Ngủ đi con - mẹ còn phải ra đồng
Bước cao thấp chông chênh đời thiếu phụ !...
Đất phương Nam rộng dung hồn lữ thứ
Chốn quê nghèo vương vấn khách tha hương
Thoáng dừng chân , manh áo bạc phong sương
Nhìn nước trẩy về xuôi lòng chợt khát !...
Nước về xuôi cho nỗi buồn trôi ngược
Mát mái thuyền đi , bến đợi thuyền không ?
Ơi người em gái nhỏ ở ven sông
Chỉ thoáng gặp - sao lòng lưu luyến mãi...
Tịnh Vân
hongvulannhi  
#873 Posted : Friday, January 21, 2011 12:18:12 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Tranh lụa Nét đẹp quê hương

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
(còn tiếp)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#874 Posted : Friday, January 21, 2011 12:31:34 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Tranh lụa Nét đẹp quê hương (tt)

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
(còn tiếp)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#875 Posted : Friday, January 21, 2011 12:40:29 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Tranh lụa Nét đẹp quê hương (tt)

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
(còn tiếp)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#876 Posted : Friday, January 21, 2011 12:48:17 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Tranh lụa Nét đẹp quê hương (tt)

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
(còn tiếp)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#877 Posted : Friday, January 21, 2011 12:58:36 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

Tranh lụa Nét đẹp quê hương (tt)

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
(còn tiếp)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#878 Posted : Friday, January 21, 2011 4:19:18 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Tranh lụa Nét đẹp quê hương (tt)

UserPostedImage
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#879 Posted : Saturday, January 22, 2011 5:06:18 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,481

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
ĐÔI NÉT VỀ HUẾ
Tuệ Quang Tôn Thất Tuệ


Không phải là một chuyên đề tham luận mà chỉ là đôi nét tản mạn , do từ "nhớ tới đâu, nói tới đó" , nên chắc chắn nội dung sẽ có nhiều thiếu sót; nhất là về mặt thi ca, rất nhiều danh sĩ cũng như nhiều kiệt tác có liên hệ đậm đà với Huế mà không được đề cập đến. Âu chỉ là chuyện ngoài ý muốn, rất mong được cảm thông!

@@@@


Vào thời-kỳ Hồng Bàng, Huế nói riêng và Thuận Hoá nói chung thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước VĂN LANG.
Dưới triều vua Trưng, Huế thuộc quận Nhật Nam, một trong sáu quận miền nam NGŨ LĨNH.
Sau khi người Tàu tái lập ách đô hộ, họ bị người Lâm Ấp (tức Chiêm Thành) đánh đuổi khỏi Nhật Nam, từ đó Thuận Hóa do người Chiêm kiểm soát với địa danh là châu Ô và châu Lý.
Trong suốt nhiều thế-kỷ, hai châu Ô, Lý từng là vùng tranh chấp giữa hai dân tộc Chiêm, Việt. Cho tới đầu thể kỷ XIV, đời nhà Trần, mới vĩnh viễn thuộc về nước ta và châu Ô đổi thành châu Thuận, châu Lý đổi thành châu Hoá.
Thời Minh thuộc, hai châu Thuận và Hoá được ghép chung thành phủ Thuận Hoá, sang đời Lê đổi thành lộ rồi xứ và cuối cùng là trấn Thuận Hoá.



Trấn Thuận Hoá, từ khi Thái Úy Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng (tức chúa Tiên hay Thái Tổ Gia Dũ Hoàng-đế triều đại Nguyễn-phước) được vua Lê Anh Tông cử vào trấn nhậm, đã dần dần được cải tiến, chuyển hoá từ tình trạng khu giới tuyến địa đầu lỏng lẻo về tổ-chức, bất ổn về an ninh thành một miền đất ổn định và an lạc.
Kế tục sự nghiệp chúa Nguyễn Hoàng, các chúa Nguyễn hậu duệ một mặt tích cực mở mang lãnh thổ về phiá nam, mặt khác lo xây dựng, canh tân, bồi đắp cứ địa căn bản Thuận Hoá, đưa vùng này lên địa vị một trung-tâm chính trị, hành chánh và văn học vô cùng quan trọng.
Từ năm 1636, chúa Thượng Nguyễn phúc Lan chọn Kim Long ở phiá bắc Huế làm thủ phủ. Nửa thế kỷ sau, năm 1687, chúa Nghĩa Nguyễn phúc Thái lần thứ nhất, rồi 1738, Võ vương Nguyễn phúc Khoát lần thứ nhì, đều đặt thủ phủ ở làng Phú Xuân thuộc huyện Hương Trà, cho xây dựng thành trì, cung thất, mở mang giao thông thủy bộ... Từ đó Phú Xuân tức Huế nghiễm nhiên trở thành một vị trí lịch sử với nhiều ưu điểm về chiến lược.


Sau khi thống nhất đất nước, Thế-tổ Cao-hoàng đế Gia Long, cho xây dựng kinh thành Huế với công trình quy mô to lớn, phối hợp kỷ thuật kiến trúc Đông và Tây.

Trên dòng lịch sử, Kinh đô Huế từng trải qua nhiều thăng trầm theo vận nước phế hưng :
Huế từng là chứng tích của những cuộc tranh phong khốc liệt giữa các thế lực nội chiến Trịnh , Nguyễn và Tây Sơn.
Huế đã ghi đậm những nét bi hùng của trận chiến chống xâm lược Pháp năm Ất Dậu 1885.
Huế cũng là mục tiêu chính của vụ tàn sát bách hại chưa từng có trong lịch sử dân tộc, phát động bởi nhóm người ngụy tín cuồng sát vào tết Mậu Thân 1968.
Huế còn trải qua chẳng biết cơ man nào những biến cố đau thương khác.
Thế nhưng, được củng cố un đúc từ khí thiêng sông núi, địa linh Huế sau bao cơn biến động, vẫn sừng sững ngang nhiên vượt thắng mọi thách đố, vẫn tồn tại và vươn lên trong thời gian miên trường, trong không gian miên viễn.


Phối hợp cùng những đãi ngộ từ thiên nhiên, Huế còn có những công trình xây dựng do nhân lực với nhiều kiến trúc quy mô: nào đền đài miếu vũ, nào lăng tẩm chùa chiền, tiêu biểu hơn hết là kinh thành Huế, đã làm ấn tích hùng hồn đánh dấu thời vàng son về văn hoá của một triều đại.
Huế ngày nay không chỉ là chiếc nôi yêu thương xứng đáng là niềm tự hào, kiêu hãnh của riêng người Huế hay người Việt, mà Huế đã chuyển mình trở thành đối tượng trân qúi chung của cả nhân loại.


Tìm về đất Huế là tìm về một vùng trời tĩnh lặng, thơ mộng và an bình.
Nghĩ tới người Huế là nghĩ tới cái đậm ngọt trong tình tự, cái đoan trang trong cung cách; là suy tưởng tới cái bản chất đôn hậu hiền hoà, cái nếp sống hồn nhiên tự tại; là mường tượng thấy nét e ấp qua làn môi, sự kín đáo trong nụ cười, nỗi thẹn thùng nơi khoé mắt. Ít khi người ta bắt gặp được ở đất Huế hay từ dân Huế những sự xô bồ, suồng sã, thô bạo.
Nói thế, nhưng Huế cũng như mọi nơi khác, vẫn chịu chi phối bởi luật tương đối, thừa trừ của tạo hoá. Song song bên cạnh những ân sủng thiên phú, Huế đã vướng mắc ít nhiều khuyết tật, rõ nét nhất là về mặt khí hậu và kinh tế : nào là thời tiết mưa nắng thất thường với cái nóng ẩm ghê người vào tháng hè, cái mưa dầm triền miên buốt giá về mùa đông; nào là tính khô cằn thiếu mầu mỡ của những đồng bằng nghèo nhỏ hẹp, khiêm tốn mà phần lớn là đất cày lên sỏi đá.
Tuy nhiên, chính từ môi trường bạc đãi đầy cam go, Huế đã vươn lên một sức sống dồi dào, một kháng tính mạnh mẽ. Từ trong khó khăn gian khổ, dân Huế tôi luyện được cho chính mình sức chịu đựng bền dẻo, đủ khả năng đương đầu với mọi nghịch cảnh.



Thiên nhiên đã phối hợp hài hoà cùng lịch sử để kiến tạo Huế thành chiếc nôi bao dung, bồi dưỡng, un đúc nhiều thế hệ con dân có những nét đặc thù về tâm hồn lẫn phong cách.
Trong "Ô Châu cận lục", Dương văn An có nhận định : đàn ông Huế thì kiên cường, dũng cảm; đàn bà Huế thì yểu điệu, đoan trang.
Trong 'Địa dư chí", Nguyễn Trãi bình luận rằng : dân Thuận Hoá đã hấp thụ nếp sống của Chiêm Thành nên quen chịu đựng khó khăn, gian khổ.
Phan Kế Bính thì cho là người Huế khiêm tốn và kín đáo. Tính kín đáo ấy đã được Bích Lan phát hiện một cách lý thú rằng :
"Người xứ Huế trang nghiêm và trầm lặng,
Thường hay buồn giữa lúc thế nhân vui,
Tâm sự nhiều mà ít hé trên môi ... "


Cảnh Huế thì thơ mộng, người Huế lại đa tình nên Huế hiển nhiên là tụ điểm của thi ca và nghệ thuật. Mỗi cơ thể Huế chất chứa một hồn thơ, mỗi mảnh đất Huế là một nguồn cảm hứng phong phú đủ làm chủ đề cho cả một kho tàng thi, văn, nhạc, hoạ.
Hình như Huế có một hấp lực lôi cuốn, dụ hoặc rất kỳ diệu, khiến cho ai trót sinh ra, lớn lên từ Huế là trọn đời "đi thấy nhớ, ở thấy thương"; khiến cho ai, từ bất cứ phương trời nào, một lần dừng chân nơi đất Huế là mãi mãi lưu luyến, vấn vương "đi thì nhớ, ở thì mê ".
Chẳng mấy ai trước vẻ đẹp trầm lặng của Huế mà không rung cảm. Cũng chẳng mấy ai khi chiêm thưởng một áng thơ về Huế mà không say sưa, dù là thơ tả cảnh hay tả tình và dù tác giả là người Huế hay không là người Huế.


Trước cái tĩnh mịch tuyệt vời của thiên nhiên, thi hào Nguyễn Du từng bồi hồi đối cảnh sinh tình :


"Hương giang nhất phiến nguyệt,
Kim cổ hứa đa sầu"
(Nam trung thi tập)


Xin tạm dịch


"Một mảnh trăng chiếu dòng Hương,
Xưa nay từng gợi sầu thương cho đời"


Cùng một cảnh sắc đó mà Á Nam Trần tuấn Khải thì :


"Sông Hương một giải xanh xanh,
Gió vờn mặt nước, sóng tình đầy vơi!"
(Non nước Thần Kinh)


Đông Hồ lại đắm đuối "Trong đôi mắt Huế ":


"Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ,
Ngàn thông núi Ngự đứng như mơ,
Gió cầu vương áo nàng Tôn Nữ,
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ".


Và Tản Đà một lần tới "chơi Huế" , đã thấy thích thú như anh nhà quê lên tỉnh :


"Kinh thành gái lịch trai thanh,
Lại thêm Hương thủy, Ngự bình điểm tô.
Con người ngoài Bắc mới vô,
Mừng nay được thấy đế đô một lần."


Một vài thi nhân lại khéo vay mượn cảnh sắc Huế để tỏ bày tâm sự riêng tư, thổ lộ nỗi u hoài trăn trở của mình trước vận nước điêu linh.
Ngắm dòng sông An Cựu mà Nguyễn hữu Bài ray rứt :


"Đục trong, biết nỗi trời hanh tạnh
Bồi lỡ theo dòng nước vận trôi."
(Vịnh sông Lợi Nông)


Phan sào Nam, một lần "Vào Thành" đã ngậm ngùi cảm thán :


"Dạo khắp trong với ngoài,
Đàn địch vang tai trời,
Đau lòng có một kẻ,
Hỏi ai? Ai biết ai!"


Vi Bằng, sau những năm phiêu bạt, trở về thăm lại cố đô, lòng trĩu nặng u hoài trước cảnh sao dời vật đổi :


"Về đứng bên sông nhìn khói sóng
Yên ba giang thượng thấy mà đau".
(Khói sóng)


Trong lòng khách đa tình, Huế luôn luôn là nguồn thi cảm bao la :

Nhà thơ Kỉnh Chỉ Phan văn Hy , sau mấy năm xa cách, đã "Nhớ Huế" dạt dào, tha thiết :


"Gần năm năm chẵn, chẳng về Kinh,
Nhớ cảnh sông Hương núi Ngự Bình,
Nhớ súng Ngọ Môn khi rợn sáng,
Nhớ chuông Thiên Mụ lúc tàn canh.
Nhớ sân Cần Chánh, quan đâu cả?
Nhớ rạp Thanh Bình khách vắng tanh.
Nhớ chị chèo đò, o bán hến,
Nhớ bao nhiêu chuyện, bấy nhiêu tình."


Nữ sĩ Tương Phố năm 1929 "Trở lại Thần kinh" để hoài niệm một cuộc tình đã lỡ :


"Nhớ anh trở lại Thần kinh,
Sông Hương nước chảy, non Bình thông reo!"


Cảnh cũ còn đó, người xưa khuất rồi! Trong nhớ nhung chất ngất, thi nhân không ngăn được nước mắt :


"Khóc anh từ ấy đên giờ,
Lệ lòng lai láng đôi bờ sông Hương".


Trong "Đây thôn Vỹ Dạ", Hàn mạc Tử bằng một cảm quan bàng bạc, lâng lâng vẽ nên một bức tranh vừa mộng vừa thực :


"Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?"


Với thi phẩm "Nocturne sur le fleuve des parfums", nhà thơ Pháp Francois Henri Guibier cũng có nguồn cảm hứng tương tự :


"La barque obéit, endormie
Aux coups réguliers du rameur.
Mon âme tressaille, meurtrie
Aux coups de la vie dans mon coeur."


Rồi Vũ hoàng Chương, nhà thơ sở trường của những mỹ từ kiêu sa, gọt dũa, chải chuốt cũng ngây ngất :


"Công Chuá - là đây mộng ngự thuyền,
Bài thơ mờ tỏ nón nghiêng nghiêng,
Hàng mi ánh phớt tình thanh liễu,
Gờn gợn dòng thu mắt ngọc tuyền."
(Em là Công chúa)



Thưỏng thức tổng hợp toàn bộ các đoạn thơ trên của một số nhân vật thành danh mà tên tuổi đã đi vào lịch sử hay văn-học sử, ta tưởng như lạc vào một rừng hoa thơm cỏ lạ, mà dù với tần-số rung cảm nào của tâm hồn, ta đều say sưa, thích thú.


Nếu ngắt từng đoá lẻ trong rừng hoa đó, đem chưng bày riêng để thưởng thức, hoặc đem giải phẩu, phân tích tìm cái chất liệu tinh túy sâu thẳm tận cùng về nghệ thuật, ta còn phát hiện được những nét đặc thù nổi bật về tư tưởng, về tình cảm nội tâm, biểu hiện rõ trên những góc cạnh riêng của từng tác giả.
Qua thơ Nguyễn Du, ta thở dài bắt gặp nỗi cô đơn của một tâm sự u hoài.
Với thơ Tương Phố, ta ngậm ngùi cho một chuyện tình dang dở.
Trong thơ Phan Sào Nam, Nguyễn hữu Bài hay Vi Bằng, ta cảm thông nỗi uất nghẹn, ray rứt, xót xa vì thời cuộc.
Rồi ta lâng lâng, nhẹ nhàng bị cuốn hút, mê hoặc bởi tứ thơ trữ tình của Á Nam Trần Tuấn Khải, Đông Hồ, Hàn Mạc Tử, Vũ hoàng Chương, Tương Phố...



Thoát ra ngoài vũ trụ thơ của giới thi nhân tên tuổi, ta đi vào khung trời thi ca dân gian Huế.
Nhiều người cho rằng âm ngữ Huế líu lo như tiếng chim, trầm bổng như điệu nhạc; tình cảm Huế thì đậm ngọt, tràn đầy ... nên người Huế nào cũng thích thơ, yêu thơ, mê thơ, sính thơ, sành thơ. Nói thế tưởng cũng không phải là khoa trương, cường điệu. Chính từ môi trường thuận lợi tự nhiên, người dân giả đất thần kinh trước tác thơ một cách nhẹ nhàng, thong thả, dung dị và linh hoạt; thi ca dân gian Huế cũng nhờ đó mà có những nét độc đáo, đặc thù.



Với một nguồn ca dao sung mãn về phẩm lẫn lượng, thi ca dân gian Huế được truyền tụng qua thời gian bằng nhiều thể điệu: mái nhì, mái đẩy, giã gạo, ru em, hò vè v.v...
Chẳng rõ khởi nguồn từ hồi nào của xa xưa, thi ca dân gian Huế đã được bồi dưỡng qua nếp sống dồi dào về tình cảm, cao đẹp về tư tưởng, duyên dáng về phong cách; dù có mang chung tính trữ tình, lãng mạn, song không bị gò ép vào trạng huống đơn điệu, nghèo nàn, trái lại đã thể hiện được nhiều sắc thái, diễn đạt mọi tư duy, phản ảnh nhiều mặt thực tế.


Cũng từ nguồn thi ca dân gian đó, người ta phát hiện được tính hội tụ, đa diện; cùng một thi phẩm mà lắm khi mô tả nhiều khía cạnh, chuyên chở nhiều ý nghĩa, thẩm thấu vào tâm hồn người qua nhiều lối ngỏ, có thể thích nghi, phù hợp với nhiều tâm trạng và nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Thi ca dân gian Huế thường khai dụng những từ ngữ, cảnh vật, nhân vật và sự tích thuần túy địa phương.


"Ăn sung, ngồi gốc cây sung,
Lấy anh đành lấy, nằm chung không nằm."


là lời ca đề cao tiết tháo của cụ Phan Bội Châu trong thời gian bị an trí tại Bến Ngự, đã thề không bao giờ hợp tác với thực dân Pháp.


Rồi những đoạn ca dao khác :
"Một nhà sinh được ba vua (1),
Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài.
Đồn rằng quan tướng có tài (2),
Cửa Thuận An Tây lấy, Trấn Bình Đài Tây vô!"


hay là :


"Chuyện đời càng nghĩ càng rầu,
Ở giữa Đồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi!"


Bằng đôi chút trầm tư khi thưởng thức, ta nghe thấy từ mấy vần ca dao trên, có những tiếng thở dài, uất nghẹn, khóc cho thảm trạng tan tác của triều đình Huế vào những ngày quốc biến, khi vết giày xâm lược của nền văn minh cơ giới phương Tây dẫm tràn lên đất nước.
Từ sau ngày kinh đô thất thủ, thực dân Pháp với chiến lược "tằm ăn dâu", biến dần Việt Nam thành thuộc địa trực trị. Trước cơn quốc nạn nát ruột tan lòng, trước cảnh biển dâu sao dời vật đổi, đây đó khắp nơi vang vọng lời ta oán, hoài cảm, tiếc thương:


"Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông...
Thuyền ai thấp thoáng trên sông,
Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non!"



Không phải chỉ gò bó, giới hạn trong phạm trù nhất định của thứ tình cao cả dành cho quê hương, ca dao Huế cũng còn vượt thoát đi tìm những thế giới riêng của nội tâm, ca ngợi nhiều thứ tình yêu khác.


Trong khung cảnh buổi trưa hè tĩnh mịch ở làng quê, một bé gái tóc để chỏm, lim dim đôi mắt, đẩy nhẹ tay nôi, khe khẻ cất tiếng hò:


"Ru em, em théc (3) cho muồi,
Để mẹ đi chợ mua vôi têm trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh..."


Thật vô cùng tuyệt diệu, mấy vần mộc mạc, bình dị đó không chỉ vẽ nên bức tranh bé nhỏ của chiếc nôi đầu đời, mà đã phác họa được cả một khung trời bao la của tình chị em thân thương.


Ca dao Huế như một pho kinh sách, rao truyền luân lý phương Đông mà hệ thống gia đình, xã hội Việt coi như mô thức khuôn mẫu để đạt tới chân, thiện, mỹ. Ở đó, đức hy sinh cao cả, tình yêu tuyệt vời của cha mẹ dành cho con cái đã được vinh danh :


"Chợ xa đi sớm về trưa,
Nuôi con không kể nắng mưa dãi dầu."


hay


"Rạm đồng nấu với bẹ môn,
Đói no, mẹ cũng nuôi con nên người."


Để đền đáp công ơn trời biển của cha mẹ, người con Huế luôn luôn chu toàn bổn phận:


"Tôm rằn lột vỏ, bỏ đuôi,
Gạo de An Cựu em nuôi mẹ già."


Khi gặp cảnh nhà đơn chiếc, không nỡ rời xa cha mẹ già yếu, người con gái Huế dám hy sinh trọn vẹn tuổi xuân, quên hẳn bản thân mình:


"Ai đưa cau trầu tới đó thì xin chịu khó mà bưng về,
Em đây còn phải theo chân Thầy gót Mẹ cho trọn bề hiếu trung!"


Ca dao Huế còn dung chứa đến độ bão hòa một thứ tình yêu khác tự nhiên, tất yếu, tối cần để cho âm dương hòa hợp, nhân loại trường cửu, vạn vật sinh tồn..., đó là tình yêu nam nữ. Tính thủy chung son sắt, lòng yêu thương tận tụy trong nghĩa vợ chồng thường được ngợi ca;


"Tai nghe anh đau đầu chưa khá,
Em đây băng đồng chỉ sá, bẻ nắm lá cho anh xông.
Có mần ri (4), mới trọn đạo vợ chồng,
Đổ mồ hôi ra thì em chặm (5), ngọn gió lồng thì em che."


hay


"Thương chồng nấu cháo le le,
Nấu canh bông lý, nấu chè hột sen."


Thói thường, một chuyện tình tưởng cho là đẹp để hoài niệm nhớ nhung, để ngợi ca tiếc nuối lại là chuyện tình không trọn. Ca dao Huế khi diễn đạt về nhu tình nam nữ, nếu không dày vò vì dang dở thì cũng than thở vì truân chuyên, âu lo cho duyên phận. Có những cuộc tình phù du, không hẹn chỉ để lại nỗi buồn bâng quơ:


"Gặp nhau giữa ngả ba Sình,
Anh xuôi, em ngược đem tình nhớ thương."


hay


"Rồi mùa, tót rã rơm khô,
Bậu (6) về quê bậu, biết mô mà tìm?"


Lại có nhiều đường tình chông gai, trắc trở, khiến người trong cuộc phải quay quắt :


"Hai ta thương chắc (7) mần ri,
Bọ mạ (8)mần rứa, mình thì mần răng (4)"


Khi gặp phải nghịch cảnh, cô gái thần kinh hoặc chỉ biết âm thầm than thở:


"Chim xa rừng, còn thương cây nhớ cội,
Người xa người, tội lắm người ơi!
Nõ thà không biết thì thôi,
Biết nhau rồi hai đứa hai nơi cũng buồn!"


hoặc đành đầu hàng định mệnh, duyên số :


"Cầu Tràng Tiền sáu vài, mười hai nhịp,
Em qua không kịp, tội lắm ai ơi!
Mấy lâu ni chịu tiếng mang lời,
Có xa nhau đi nữa, cũng tại trời mà ra."


Trên nhiều khúc quanh của đường đời, có biết bao mối tình "bình thủy tương phùng", mà khi chia tay trước một mai sau mờ mịt, người ta không khỏi băn khoăn cho một lần tái ngộ:


"Tình về Đại Lược, duyên ngược Kim Long,
Tới nơi đây là chỗ rẽ của đôi lòng,
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào?!"


Nếu trong một tình cờ bất chợt, từ nơi góc biển chân trời nào đó, đột nhiên không hẹn mà muộn màng gặp lại, thì chỉ còn biết nhìn nhau ái ngại, vì :


"Chuyện xưa hồ dễ một lần hé môi!"
(Khái Hưng )
bởi


"Có những niềm riêng một đời dấu kín."
( Lê Tín Hương )


Và nếu có tiến xa thêm chút nữa, thì cũng chỉ :


"Nâng chén ân tình, ôn chuyện cũ,
Đâu còn dám tính việc mai sau."
(Tuệ Quang - Xa xôi)


Rất nhiều ca dao Huế mang tính đa diện, hàm chứa nhiều ý nghĩa, có thể thích nghi một cách uyển chuyển với từng thực trạng bên ngoài :


"Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại,
Cầu Tràng Tiền đúc lại xi mon.
Ai người lỡ hội chồng con,
Về đây gá nghĩa vuông tròn cùng ta."


hay:


"Tiếng hát ngư ông giữa sông Nhật Lệ,
Tiếng kêu đàn nhạn bên áng Hoành Sơn.
Một mình em ở giữa sông Hương,
Tiếng ca, nghe khúc đoạn trường ai hay!"


và thiết tha hơn nữa :


"Thuyền ai trôi trước, cho em lướt theo cùng!
Chiều xuống rồi, trời đất mông lung,
Có phải duyên thì xích lại,
Cho bớt não nùng đêm sương!"



Vào một khung cảnh bình thường, với một tâm trạng thanh thản, thoáng nghe qua những đoạn mái nhì trên, ta tưởng như đây chỉ là tiếng kêu vu vơ của chiếc nhạn tìm bầy hay tiếng gọi mời của đôi tâm hồn nam nữ săn bắt nhau. Nhưng nếu bằng cái tận cùng sâu thẳm trong nội tâm của một người ưu tư, xót xa vì vận nước, ta sẽ phát hiện được từ những tiếng hò bình dị đó, hình như âm vang tiếng gọi của núi sông; sẽ nhận diện được cái thực chất cốt lõi đang mang nặng một ý nghĩa cao đẹp của tình yêu tổ quốc; sẽ bắt gặp được cái tâm trạng khắc khoải của những kẻ đồng hội, đồng thuyền cảm thông đồng điệu.


Cũng với dòng suy tư ấy, có những người con đất Huế, vào những tháng năm lưu lạc, không ngừng "thắp đuốc soi đường đi tìm tri kỷ", không ngừng xuôi ngược "ngậm ngải tìm trầm" để kiếm tìm chiến hữu mà chung lòng chung sức:


"Ai, đấng anh hùng Lam Sơn tụ nghĩa,
Để cho ta xin vác kiếm theo hầu?"
(T.Q - Ngậm ngải tìm trầm)


Một bận dừng chân bên bờ sông St-Laurent mà tưởng nhớ Hương giang ngày cũ, khi đối bóng hoàng hôn (hoàng hôn ngoài không gian lẫn hoàng hôn của đời mình), một người con của mẹ Huế đã xót xa:


"Ta còn ngồi lại,
Thời gian và dòng sông
Vẫn cứ vô tình đi, chẳng đợi,
Trời đổ hoàng hôn, có biết không?"
(Tuệ Quang - Bên dòng St-Laurent)


Rồi, một nghẹn ngào từ lâu nén chặt, có cơ hội trổi dậy bời bời :


"Chiều nay viễn xứ, buồn ray rứt,
Một thoáng rưng rưng lệ nhạt nhòa."
(T.Q - Bên dòng St-Laurent)


Sau cuộc "đổi đời ", đã có những âm mưu chính trị muốn xóa nhòa vết tích của một triều đại đối lập, người ta tìm cách tàn phá những dấu ấn một thời của Huế, xuyên tạc bôi bác lịch sử và nhân vật Huế, khiến cho Huế ngày nay đang mang nhiều ẩn ức chưa được biện minh, đã có ít nhiều biến dạng bên ngoài và khiến cho đàn con của mẹ Huế dù yêu mẹ vô cùng, đã vì một ma lực ly tâm xua đẩy khỏi lòng mẹ mà tản lạc khắp bốn phương trời.


Nhưng, với sức chịu đựng không gì lay chuyển nổi, mẹ Huế vẫn hiên ngang tồn tại. Và, với mạch sống kiên cường do mẹ bồi dưỡng, un đúc, đàn con của mẹ dù xa cách mẹ, dù lạc xứ lưu vong, vẫn giữ tròn khí tiết.


Từ nghìn trùng xa cách, đêm đêm các con hằng mơ thấy mẹ, tháng ngày vẫn mong về bên mẹ, vẫn nhớ mẹ qua từng bước đi, nghĩ đến mẹ trong từng nhịp thở.
Nếu có người con nào đó, sau ba thập niên cách biệt, vẫn chưa một lần về thăm mẹ, thì không phải là bạc nghĩa vô tình, mà chỉ là không muốn làm cho mẹ tủi nhục, đau lòng như trường hợp bà mẹ hiền của mưu sĩ Từ Thứ đời Tam Quốc bên Tàu, đã hổ thẹn, tuyệt vọng đến phải tự sát khi thấy con mình nhẹ dạ về với Tào Tháo, vô tình tạo chính nghĩa cho một chế độ bạo tàn, tà ngụy.
Chính người con đó của mẹ đã thực hiện đúng cái khí tiết kiên cường do mẹ truyền đạt, tuy để mẹ phải nhớ nhung nhưng không làm mẹ mất đi niềm tự hào, kiêu hãnh.


Hoa phượng vỹ đã theo vết chân di tản của các con, vượt trùng dương mà đâm chồi kết nụ, nở rộ khắp muôn phương để vinh danh mẹ Huế, để chứng minh hùng hồn tính trường cửu bất diệt trong mẹ Huế.


Mẹ Huế ơi! "Nhật nguyệt hối rồi lại minh. Càn khôn bỉ rồi sẽ thái", sau cơn mưa, chắc chắn sẽ có nắng đẹp. Một ngày không xa, khi quê hương thực sự có ánh sáng, có tình người, các con của mẹ nhất định sẽ cùng về chung sức chữa khỏi cơn đau trong tim gan mẹ, hàn gắn vết hằn trên da thịt mẹ.
Xin mẹ hãy chia sẻ cùng các con một tâm nguyện mà cũng là một niềm tin :


"Tôi nuôi niềm tin trở về nước cũ,
Cùng dân tôi dựng lại quê tôi,
Cho đất nước từng nhiều đau khổ,
Ánh bình minh chói rạng chân trời."
(T.Q- Tôi sẽ về)


Và, ân cần gởi về quê hương một lời ước hẹn :


“Huế ơi!
Việt Nam ơi!
Xin chờ đơị nhé,
Cho tôi hẹn một ngày về!”




Tuệ Quang Tôn-Thất Tuệ

Montréal, Canada


@@@@@



(1) Ba vua Đồng Khánh, Kiến Phúc và Hàm Nghi đều là con của Kiên Thái
Vương Hồng Cai, cháu nội của vua Thiệu Trị.
(2) Quan Phụ Chánh Tôn Thất Thuyết.
(3) Théc : ngủ (dùng cho trường hợp các em bé. Em bé théc: em bé ngủ).
(4) Mần : làm. Mần ri; như thế này; mần rứa : như vậy; mần răng : làm sao.
(5) Chặm : lau hay thấm cho khô, ráo.
(6) Bậu : bạn. Choa và bậu hay qua và bậu : tôi và bạn.
(7) Chắc : nhau. Thương chắc : thương nhau; trỡn chắc : đùa giỡn với nhau.
(8) Bọ mạ : cha mẹ.

hongvulannhi  
#880 Posted : Sunday, January 23, 2011 4:55:22 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Phong tục ngày Tết cổ truyền

UserPostedImage

Ngày Tết Việt Nam ta có nhiều phong tục, chúng ta cần biết để tránh những hủ tục, là những tục thuộc về mê tín dị đoan.

Nước ta là nước nông nghiệp, nên lịch năm theo Âm lịch chia thanh 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, lại phân chia thêm có hai mươi bốn tiết trong năm là lập xuân 立春, vũ thủy 雨水, kinh trập 驚蟄, xuân phân 春分, … Lại có những ngày đặc biệt như nguyên đán tiết 元旦節 tiết nguyên đán, thanh minh tiết 清明節 tiết thanh minh, trung thu tiết 中秋節 tiết trung thu… Nguyên có nghĩa là khởi đầu, đán là buổi sáng sớm, tiết nguyên đán là buổi sáng sớm khởi đầu của năm, chữ tiết ấy đã biến âm thành Tết Nguyên Đán, đơn giản hơn chỉ nói là Tết, tức là ngày đầu năm.

Ai cũng mong ước trong năm mới nhà mình mọi người được ấn no hạnh phúc, tránh được những họa do thiên tai, tật bệnh do ma quỷ làm ra, tưởng nhớ tới tổ tiên cha mẹ đã mất, nên nhà nhà đều chuẩn bị đón Tết, trong bài này chúng tôi muốn nói riêng đến phong tục Tết ở trong miền Nam đất Việt.

Sự chuẩn bị đến trước tiên là vào ngày 23 tháng Chạp, người ta cúng đưa ông táo về trời và dọn dẹp, sửa sang mồ mả.

Về cúng ông Táo theo truyện cổ tích sau đây:

Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin.

Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.

Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.

Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.

Ngọc Hoàng cảm động trước mối chân tình của cả ba người, (2 ông, 1 bà), và cũng cảm thương cái chết trong lửa nóng của họ, ngài cho phép họ được ở bên nhau mãi mãi bèn cho ba người hóa thành “ba đầu rau” hay "chiếc kiềng 3 chân" ở nơi nhà bếp của người Việt ngày xưa. Từ đó, ba người ấy được phong chức Táo Quân, trông coi và giữ lửa cho mọi gia đình, đồng thời có nhiệm vụ trông nom mọi việc lành dữ, phẩm hạnh của con người. Táo Quân, còn gọi là Táo Công, là vị thần bảo vệ cho cuộc sống gia đình, thường được thờ ở nơi nhà bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp. Vào ngày 23 tháng chạp Táo quan cỡi cá chép về Thiên đình, báo cáo mọi việc lành dữ trong gia đạo cho Ngọc Hoàng rõ, để định việc tội phước trong năm qua.

Về thời gian trong ngày, người ta tin tưởng buổi sáng thuộc về tiên, trưa thuộc về Phật, buổi chiều thuộc về cõi âm, cho nên trưa ngày 23 người ta cúng mâm cơm canh, hoa, quả trên bàn thờ ông bà cũng như bàn thờ ông Táo, nếu không có bàn thờ ông Táo riêng, người ta dọn lễ vật cúng ông Táo gần chỗ bếp. Thay vì dĩa quả, người ta lại cúng Thèo lèo. Có khi vì ngày mùa giáp Tết bận rộn, nhiều nhà không có thì giờ nấu nướng họ chỉ cúng, hoa và Thèo lèo. Cúng xong người đốt giấy áo, mão, cá chép và vàng bạc.

Táo quan chỉ có áo mão mà không có quần, có người giải thích vì tục này của người Việt đã lâu đời, người Việt xưa không có mặc quần, đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy, quần là văn hóa của người Trung Hoa. Chúng ta thấy rõ, những dân tộc thiểu số Việt Nam, đàn bà đều mặc váy, kể cả người Chăm, người Thượng ở Cao nguyên và người Việt vùng Thượng du Bắc Việt.

Tôi thấy một bài văn cúng Táo quan trên Mạng, có lẽ là mới sáng tác, xin chép ra đây:

Bài văn khấn cúng ngày 23 tháng chạp (ông táo về trời)

(Nam mô A di đà Phật)
Nay nhân ngày 23 tháng Chạp
Lòng chúng con dào dạt mênh mông
Toàn gia quyết dốc một lòng
Sắm lễ mọn dâng lên dinh tọa
Đã nhất tâm một lòng một dạ
Thắp hương thơm lễ tạ chư thần
Đông trù tư mệnh. Táo phủ thần quân
Ngài là chủ ngũ tại chư thần xét soi
Người trần phạm tục phạm sai
Cúi nhận lỗi các ngài gia ân
Ban lộc ban phước ban phần
Công bằng hợp lý mười phân vẹn mười
Hôm nay ngài sắp về trời
Lòng con tâm niệm vài cầu xin
Cầu cho trăm họ bình yên
Cầu cho gia sự ấm êm thuận hòa
Xanh như lá, đẹp như hoa
Bước sang xuân mới trẻ già yên vui
(Họ tên… số nhà… đường phố)
Cùng nhất tâm cẩn cáo
Nam mô A di đà Phật

(Khấn xong 3 lần rồi đốt vàng. Nếu cúng cá chép sống thì đem thả ra sông)

Cũng trong ngày này, cho đến ngày 28 tháng chạp mọi người phải sửa sang, dọn dẹp cỏ rác xung quanh mồ mả thân nhân của mình, nấm mộ đất người ta phải dùng cái chéc dẩy cỏ trên nấm mộ và xung quanh, nếu mộ xây gạch, đá, xi măng, người ta cũng quét dọn, chùi rửa hoặc quét vôi mới.

Có những ngôi mộ lâu đời, con cháu không có hoặc không biết, không có người chăm sóc, có những người đi làm thí công. Cho nên ai có mồ mả ông bà đều phải lo làm cho xong trước ngày 28, để tránh người ta làm thí công, con cháu bị mang tai tiếng. Còn việc sửa sang mộ, người ta thường làm trong Lễ Thanh Minh.

Ngày 30 Tết (tháng thiếu 29), từ trong nhà ra cho tới ngoài sân, ngoài đường đi, người ta quét dọn sạch sẽ, chuẩn bị đón Tết. Dán ở trước cổng một đôi liễn chữ nho giấy hồng đơn, mực Tàu đen, nhà không có cổng người ta dán vào cột hàng ba trước nhà, chẳng hạn như cặp liễn, một câu đối Tết chữ Nho:

春 入 春 天 春 老
Xuân nhập xuân thiên xuân bất lão

愊 臨 福 地 福 無 疆
Phúc lâm phúc địa phúc vô cương

Nghĩa: Xuân nhập trời xuân chẳng lão
Phúc vào đất phúc phúc vô biên.

Chúng ta thường nghe câu đối Nôm về ngày Tết như:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Hoặc câu đối :

Tối ba mươi, đạp thằng Bần ra cửa,
Sám mồng một, rước ông Phúc vào nhà.

Cùng ý đó:

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.

Văn chương, nghĩa lý hơn:

Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới,
Sáng mồng một, lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân về.

Người Nam, món ăn chánh yếu trong ba ngày Tết là nồi thịt kho, dưa giá, bánh thì có bánh tét, bánh phồng, mứt dừa, mứt bí. Trái cây thì có dưa hấu, quit, bưởi. Những thức ăn và bánh trái chuẩn bị cho ba ngày Tết là mồng một, mồng hai và mồng ba.

Trên bàn thờ, người ta đánh bóng bộ lư đồng, lau chùi chân đèn, ống khói, lư hương. Nhà giàu trên bàn thờ có tranh sơn thủy vẽ trên khung kính, hay khung vải, nhà nghèo mua tranh giấy thay cho bức tranh cũ.

Cũng trên bàn thờ nhất thiết phải có bình hoa, nhà giàu có hoa Lay-dơn, thường thì chưng hoa hoa mai hay vạn thọ vàng, hai dĩa trái cây hoặc một dĩa ngũ quả và một dĩa bánh tét.

Dĩa ngũ quả là theo thuyết âm dương ngũ hành có Mộc (cây), Hỏa (lửa), Thổ (đất), Kim (kim loại), Thủy (nước) theo thứ tự, tương ứng với hướng Đông, Nam, Trung ương, Tây, Bắc về màu sắc tương ứng với Xanh lục, Đỏ, Vàng, Trắng/Da cam, Đen/xanh dương về mùa tương ứng Xuân, Hạ, chuyển mùa cứ 3 tháng, Thu, Đông về trái cây tương ứng với Mận, Mơ, Táo Tàu, Đào, Hạt dẻ về ngũ cốc, tương ứng với Lúa mì, Đậu, Gạo, Ngô, Hạt kê.

UserPostedImage

Do vậy người ta chọn 5 thứ trái cây trên là Mận, Mơ, Táo Tàu, Đào, Hạt dẻ hoặc trái cây có 5 màu như trên, biểu tượng cho ngũ hành hòa hợp sinh ra mọi điều tốt đẹp, như mưa thuận gió hòa thì được mùa, đất nước hưng thịnh thanh bình. Trái cây màu xanh lục có chuối sứ (kỵ không bao giờ cúng chuối già: tục), màu đỏ có trái điều, màu vàng có trái Phật thủ hay bưởi, cam, quít, màu trắng có mận, màu đen hay xanh dương có dưa hấu.

Do đó dĩa ngũ quả của người miền Nam, thường là ở dưới một hay hai nải chuối, giữa một trái dưa hấu, xung quanh dưa hấu trên nải chuối là những trái quit, trái điều và mận trắng.

Có nhiều người không rõ về ngũ quả, thấy người ta chưng dĩa trái cây rồi cũng chưng theo với những thứ dễ có trong mùa Tết như chuối, dưa hấu, quít, mận. Có người them chum trái sung, với nghĩa trái sung là sung túc. Từ đó, chừng 50 năm trở lại đây, từ trái sung nghĩa là sung túc, ngưòi ta biến cải ra chưng trái mãn cầu, trái dừa, trái đu đủ, trái xoài cho rằng dĩa trái cây biểu trưng cho: “Cầu vừa đủ xài!” Cho nên trên một DVD có ban kịch chưng cúng trái mãn cầu, trái xoài, trái đu đủ, cái líp xe đạp, cái ba-ga xe đạp, được giải thích là “Cầu cho đủ xài líp ba-ga!”

Ở bàn tiếp khách, để một bình trà, xưa để trong cái vỏ bình là trái dừa khô, một bình hoa cắm cành mai, một khai trầu, một hộp thuốc vấn, một dĩa bánh, mứt.

Chiều 30 Tết, người ta dựng Cây Nêu ở Đình, Chùa hay trong sân trước nhà. Theo sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Tập Hạ ghi: "bữa trừ tịch (tức ngày cuối năm) mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, ở bên giỏ có treo giấy vàng bạc, gọi là "lên nêu"... có ý nghĩa là để làm tiêu biểu cho năm mới mà tảo trừ những xấu xa trong năm cũ”.

Chuyện kể rằng, ngày trước ruộng đất đều thuộc quyền sở hữu của loài quỷ. Loài người phải ăn nhờ ở đậu trên đất đai của quỷ nên hằng năm phải cống nạp thuế cho chúng. Lũ quỷ vô cùng hiểm độc, chúng bày lắm mưu nhiều kế hòng chiếm đoạt công sức lao động của con người. Số thuế phải nộp ngày càng gia tăng thêm, chúng tác oai tác quái để làm khổ cho con người. Chúng đặt ra những điều lệ hết sức vô lý, dùng bạo lực buộc con người phải tuân thủ điều lệ “ăn ngọn cho gốc” (nghĩa là chúng lấy phần ngọn còn phần gốc để lại cho người). Thế là sau vụ lúa năm ấy, mọi người đành chịu đói khổ, ngậm ngùi nhìn lũ quỷ đánh chén no nê.

Thấy cảnh tượng đói khổ của con người, đức Phật động mối từ tâm, hiện đến để cứu giúp người dân thoát khỏi sự hà hiếp của lũ quỷ. Ban đầu đức Phật dạy người trồng khoai lang, đến mùa thu hoạch, cứ theo quy định đã đưa ra, lũ quỷ lấy phần ngọn còn phần gốc là của con người. Thế là người dân được một mùa bội thu, còn lũ quỷ ngán ngẫm nhìn đống dây và lá khoai khô héo. Sau đó chúng lại đổi điều lệ thành “ăn gốc cho ngọn”. Đức Phật dạy người dân chuyển trồng khoai sang trồng lúa. Cuối mùa, lũ quỷ lại một phen ngậm ngùi cay đắng. Lần này, chúng lại đặt ra điều lệ mới là “ăn cả ngọn lẫn gốc”. Lũ quỷ tưởng rằng như thế là chúng nắm chắc được phần lợi trong tay, nhưng đức Phật đã dạy con người trồng ngô. Vụ mùa đến, người dân thu hoạch ngô đem về nhà, còn lũ quỷ thì lại bị một vố chua cay, tức tối. Cuối cùng lũ quỷ tức giận thu hồi lại cả đất đai, không cho con người thuê đất nữa, chúng thà không có gì chứ không chịu cho loài người ăn một mình. Trước tình hình đó, đức Phật bảo người dân đến điều đình với quỷ cho tậu một miếng đất bằng tấm áo cà sa. Nghĩa là con người sẽ trồng một cây tre, trên ngọn tre chỉ treo một tấm áo cà sa, bóng của cà sa phủ được bao nhiêu diện tích ở mặt đất thì số đất đó là đất của con người sử dụng. Ban đầu quỷ không chấp thuận, nhưng sau chúng nó suy tính thấy bóng của một chiếc áo cà sa chẳng bao nhiêu bèn nhận lời. Khi người dân trồng xong cây tre, đức Phật đứng trên ngọn tre tung chiếc áo cà sa ra, cây tre càng lúc càng cao, áo cà sa càng lúc càng rộng, bóng của áo cà sa phủ đến đâu lũ quỷ phải rút lui đến đấy. Cuối cùng chiếc áo che phủ cả đất đai lũ quỷ không còn đất để ở, phải rút ra biển.

Bị mất hết đất đai, quỷ vừa tiếc vừa hầm hực tức giận, chúng chiêu tập binh mã vào cướp lại. Nhờ có sự giúp đở của đức Phật nên người dân đã đánh bại tất cả những đợt tấn công của lũ quỷ. Nhận thấy không thể nào đánh thắng loài người, lũ quỷ đành quỳ xuống van xin đức Phật rũ lòng thương tưởng, mỗi năm vào những ngày Tết cho chúng trở lại đất liền để viếng thăm mồ mã tổ tiên của chúng. Phật thương tình hứa khả, nhưng để lũ quỹ không vào quấy nhiễu người dân, đức Phật dạy người dân trồng cây nêu vào dịp Tết để xua đuổi chúng.

Gần đây, trên Cây nêu người ta treo lá phướng ngũ sắc tượng trưng cho ngũ hành, trầu cau, gạo muối, một cái khánh có dùi, hay cái chuông nhỏ có treo cục kim loại ở trong, để khi gió thổi, khánh hay chuông bị giao động khua ra tiếng nghe vui tai.

UserPostedImage

Trong nhà, người ta dọn mâm cơm cúng ông bà, rước ông Táo. Trẻ con được mặc quần áo mới. Cả nhà sẽ dùng bửa cơm đông đủ mọi người, là buổi tiệc tất niên của gia đình.

Ngoài đường, người ta treo cờ, ban đêm treo những chiếc lồng đèn ngôi sao hay lồng đèn hình con thú có màu sắc, làm cho cảnh sắc ban đêm ở thôn quê sáng sủa, vui mắt, trẻ con ra đường từng tốp vài ba đứa, hớn hở nắm tay nhau đi xem đèn, đốt pháo chuột.

Đêm 30 Tết gọi là đêm Trừ tịch 除夕, Trừ có nghĩa là bỏ, trừ khử, Tịch có nghĩa là đêm, nghĩa là đêm trừ bỏ cái xấu của năm cũ, theo Trung Hoa nó mang ý nghĩa đêm khu trừ ma quỹ. Vào giờ Tý, người ta cúng Giao thừa 交 承 Giao có nghĩa là bàn giao lại, Thừa có nghĩa là tiếp nối. Theo tín ngưỡng dân gian, người ta tin rằng có 12 vị thần, luân phiên cai quản trần gian, mỗi năm một vị. Do đó vị thần năm cũ đi, trao quyền hành lại cho vị thần năm mới tiếp nhận. Vì vậy người ta cúng xôi, thịt, rượu ở đình làng, hoa quả ở chùa. Ở nhà, người ta bày bàn ra sân cúng có hương, đăng trà quả. Trong Nam có bàn thông thiên, thường người ta cũng cúng trong nhà với trà mứt, ở bàn thông thiên với hương đăng trà quả như trên, sau khi cúng thì đốt pháo mừng năm mới.

Sáng mồng một, chủ nhà sẽ ăn mặc chỉnh tề, khăn đống áo dài, cúng bánh mứt, nước trà, lạy bàn thờ ông bà, tiếp theo con cháu lạy bàn thờ, sau đó ông bà ngồi cho con cháu chúc thọ, chẳng hạn như : “- Năm mới con chúc cha mẹ sống lâu trăm tuổi, khỏe mạnh” rồi lạy 2 lạy. Ông bà hay cha mẹ nhận mừng thọ sẽ cho lộc đầu năm cho con cháu là tiền. Ngày nay ông bà, cha mẹ hầu hết “miễn lạy”, lì xì cho con cháu “phong bao” để “lấy hên” đầu năm.

Sau đó những người lớn tuổi đi lạy bàn thờ những nhà có thờ tự ông bà trong họ, vì trong Nam ít có “từ đường”, chúc Tết những người thân. Việc lễ lạy thăm viếng chúc tụng trong ba ngày Tết có Tục ngữ:

Mồng Một ngày cha, mồng Hai ngày mẹ, mồng Ba ngày Thầy.

Hoặc ca dao có câu:

Mùng Một thì ở nhà cha,
Mùng Hai nhà vợ, Mùng Ba nhà thầy.

Sáng mồng một Tết, ai đến nhà trước, người ta tin rằng đó là người xông đất đầu năm ở nhà mình, người ấy có thể mang đến điềm hay vận hên, xui, may, rủi cho cả năm. Do vậy có nhiều người tìm những người tuổi hạp với mình để nhờ xông đất, có người nhờ người có tên Phúc, Lộc, Thọ … xông đất nhà mình để được phước, được lộc hay sống lâu. Cũng do vậy mà có một số người không dám đi thăm bạn bè ngày mồng một Tết, hoặc phải chờ chiều hay tối mới đi thăm, để tránh xông đất nhà người ta.

Trong ba ngày Tết người ta đốt pháo dây, pháo nồi, pháo chuột, đêm đốt pháo bông, những đội lân đi múa mừng, được gia chủ thưởng tiền. Có pháo và Lân làm cho ngày Tết rộn thêm niềm vui. Thập niên 90 nhà nước Cộng sản Việt Nam cấm đốt pháo làm cho ngày Tết mất vui phần nào.

UserPostedImage

Trong ba ngày Tết, người ta thường cúng trên bàn thờ mỗi ngày hai buổi cơm sáng, chiều, bà con tới nhà mời rượu trà bánh mứt, gặp bửa mời cơm gây thành bửa tiệc, để tiêu khiển thì giờ người ta bày ra những cuộc chơi như “hốt me”, đánh bài cào, bài tứ sắc, lắc “bầu cua cá cọp”.

Ba ngày Tết, có nhiều thứ người ta kiêng cử, để chọn được may mắn suốt năm, ra khỏi nhà đầu năm phải coi hướng tùy theo năm và tuổi mỗi người có hướng xuất hành đầu năm khác nhau. Người ta kiêng cử quét nhà, theo điển tích 搜神记 Sưu thần ký của Trung Quốc như sau:

Có người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy thần cho một con hầu tên là Như Nguyệt, đem về nhà được vài năm thì Âu Minh ăn nên làm ra, giàu to. Ngày mồng một tết năm đó, Âu Minh đánh Như Nguyệt, cô ta sợ quá chui vào đống rác rồi biến mất, sau đó nhà Âu Minh nghèo đi. Kể từ đó, mọi người kiêng quét nhà, đổ rác trong ba ngày tết.

Cũng cùng từ câu chuyện trên, từ sáng mồng một tết cho đến hết ngày mồng ba tết, mọi người trong gia đình không được làm điều xấu, cự cãi nhau, đánh nhau hoặc nói những điều không tốt đẹp.

Sau năm 1954, đêm 30 hay ngày mồng một Tết người ta thường đi Lăng Ông hay Chùa, Miếu hái “lộc” làm cho cây cảnh chưng bày ba ngày Tết bị xác xơ. Sau 1975, Tết người ta đi chùa mỗi người đốt một bó nhang, chỗ nào cũng cắm nhang, khói nhang mù mịt. Chùa chiền không còn thanh tịnh, trang nghiêm.

Ba ngày đó, chợ búa không bán, xe cộ không chạy. Ngày mồng ba những nhà nào hành nghề như thợ rèn, thợ mộc, thợ hồ, thợ bạc … sẽ cúng ra nghề với con gà luộc, hương, đăng, hoa quả và rượu. Nếu nghề có nhiều thợ cùng làm sau khi cúng vái, họ sẽ bày ra cỗ bàn để nhậu nhẹt và sau đó hành nghề. Chợ búa mở cửa, xe cộ chạy lại.

Đến ngày mồng ba, người ta bày mâm cỗ cúng gọi là tiễn đưa ông bà, còn Cây nêu đến ngày mồng bảy người ta mới hạ xuống, vì xưa ăn Tết đến bảy ngày. Dần dần còn ba ngày.

UserPostedImage

Tết có những phong tục, trong đó có những thuần phong mỹ tục, nhưng cũng có những phong tục hủ bại. Những phong tục hủ bại như kiêng cử quét nhà, để nhiều rác nhà mất vệ sinh, đi chùa miếu hái lộc, hái những hoa, những cây cảnh chưng dọn cho đẹp thì đã bị hái hoa, bẻ cành trơ trọi! Tin vào việc xông đất đầu năm! Những phong tục hủ bại vì chúng làm cản trở cho sinh hoạt, mất vệ sinh, thẩm mỹ. Nên bài trừ. Những thuần phong mỹ tục nên giữ gìn, vì đó là nét văn hóa của dân tộc.

Có một điều tôi chưa nói đến, tại sao Tết ở miền Nam cúng bánh Tét, đãi khách bánh phồng trong khi miền Bắc có bánh chưng, bánh đa. Có ảnh hưởng gì trên đất cũ của người Khmer ?

Những năm 50, 60 là những năm miền Nam thoát khỏi ách đô hộ của người Pháp, mới được độc lập. Đất nước thanh bình, nhân dân ấm no hạnh phúc. Tết người ta đi lại vui chơi, pháo nổ dòn tai, lân múa rộ ràng, trẻ con tung tăng khoe áo mới. Biết đến bao giờ được trở lại như xưa, từ đồng bằng cho đến cao nguyên, từ nhà quê cho tới thành thị, người già cũng như trẻ con tưng bừng đón Tết trong khi đất nước thanh bình, nhà nhà ấm no hạnh phúc.

Lou. 16-1-2011
Huỳnh Ái Tông

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest
90 Pages«<4243444546>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.