Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

84 Pages«<81828384>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1641 Posted : Monday, September 6, 2021 12:31:55 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

RFI - 06/09/2021

(AFP) - Nam tài tử Jean Paul Belmondo qua đời thọ 88 tuổi. Luật sư của ngôi sao điện ảnh này cho biết biểu tượng của “Làn Sóng Mới - Nouvelle Vague” Belmondo từ trần trưa ngày 06/09/2021 sau nhiều năm sức khỏe bị suy yếu. Sinh trưởng trong một gia đình nghệ sĩ, thủa trẻ, Jean Paul Bemondo rất mê thể thao, nhất là môn quyền anh và bóng đá. Chung cuộc, Belmondo trở thành một huyền thoại của làng điện ảnh Pháp, với những tác phẩm khó quên như A bout de souffle (1960) Pierrot le Fou (1964)… Trong hai thập niên 1960-1970, Belmondo tham gia 48 bộ phim, mỗi tác phẩm điện ảnh đó đều thu hút hơn 1 triệu lượt khán giả. Ông được trao tặng Cành Cọ Vàng danh dự năm 2011. Venise vinh danh toàn bộ sự nghiệp nghệ sĩ Pháp này với giải Sư Tử Vàng năm 2016.


(AFP) - Ban nhạc Thụy Điển Abba dẫn đầu thị trường ca nhạc tại Anh Quốc. Hai ca khúc trong album mới sắp trình làng của Abba hiện nằm trong 10 bài hát ăn khách nhất tại Vương Quốc Anh. Theo thẩm định của giới âm nhạc được cập nhập hôm Chủ Nhật 05/09/2021, hai ca khúc I Still Have Faith in You - Tôi Vẫn Tin Người và Don't Shut Me Down - Xin đừng bỏ tôi, hiện tại chiếm hạng 6 và 7 trong Top 10 của làng nhạc Anh. Đó là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy hào quang của Abba vẫn sáng chói sau 40 năm xa sân khấu.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1642 Posted : Tuesday, September 7, 2021 12:30:59 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Ngôi sao điện ảnh Pháp Jean-Paul Belmondo qua đời ở tuổi 88

07/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Một thân hình rắn chắc lực lưỡng như võ sĩ quyền anh, một gương mặt điển trai với nụ cười rạng rỡ làm điêu đứng bao trái tim hâm mộ. Vóc dáng đào hoa ấy giờ đây không còn nữa : Jean-Paul Belmondo ngôi sao điện ảnh Pháp ngự trị trên màn ảnh lớn trong nhiều thập niên liền, đã vĩnh viễn ra đi hôm 06/09/2021, hưởng thọ 88 tuổi.

Trong làng phim Pháp, Jean-Paul Belmondo (1933-2021) là một trong những tượng đài lớn nhất. Tài nghệ diễn xuất của ông sáng chói không kém gì ngôi sao màn bạc Alain Delon, với gần 80 bộ phim truyện và hơn 35 vở kịch, trong gần 50 năm sự nghiệp.

Sinh trưởng tại Neuilly, vùng ngoại ô Paris trong một gia đình có dòng máu nghệ sĩ, Jean-Paul Belmondo từ thuở thiếu thời muốn đeo đuổi sân khấu đường phố hơn là các bộ môn nghệ thuật hàn lâm. Thân phụ của ông (Paul Belmondo) là một nhà điêu khắc có uy tín, nhờ công lao giảng dạy nhiều năm tại trường cao đẳng Paris mà được bầu làm thành viên Viện Hàn lâm Mỹ thuật của Pháp. Tuy được gia đình dạy dỗ khuyên bảo, nhưng Jean-Paul lại không học giỏi, ông nhiều lần bị đuổi học do thiếu kỷ luật, ngồi trên ghế nhà trường mà chỉ mơ ra sân đá bóng, lên võ đài đấm bốc, hay làm diễn viên gánh xiếc.

Hóa thân vạn kiếp còn hơn chỉ sống một đời

Trong quyển hồi ký mang tựa đề ''Mille vies valent mieux qu'une'' (tạm dịch Hóa thân vạn kiếp còn hơn chỉ sống một đời) của nhà xuất bản Fayard, Jean-Paul Belmondo cho biết lúc còn sống, bố ông không bao giờ khiển trách mà lại khuyến khích con cái đi tìm một hướng đi riêng. Bản thân Jean-Paul chọn nghề diễn xuất trên sân khấu, vì theo ông, nhập vai diễn xuất là một cách để sống cuộc đời của cả ngàn nhân vật khác nhau. Có lẽ cũng vì thế mà sau này, khi đã thành danh trong làng phim ảnh, nam diễn viên người Pháp đã thành lập một viện bảo tàng ở Boulogne-Billancourt để ghi nhớ công ơn sinh thành của người cha quá cố.

Dù được gia cha mẹ khuyến khích, nhưng Jean-Paul Belmondo khi mới vào nghề lại gặp khá nhiều khó khăn. Ông phải thi tới ba lần mới đỗ vào Học viện nghệ thuật sân khấu (sau này là trường cao đẳng CNSAD) cùng một khóa với các diễn viên Jean Rochefort, Jean-Pierre Marielle, Claude Rich hay Bruno Cremer. Các diễn viên trẻ sau đó đều trở nên nổi tiếng; nhưng lúc đầu để kiếm sống, họ chấp nhận đóng các vai phụ trong phim hay trong kịch của Jean Anouilh, Georges Feydeau và Bernard Shaw.

Dịp may đến với Jean-Paul Belmondo vào năm 1957 khi ông xuất hiện trong bộ phim "Un drôle de Dimanche'' của đạo diễn Marc Allegret. Thời bấy giờ, ông Jean-Luc Godard còn là một nhà phê bình điện ảnh (cũng như đồng nghiệp François Truffaut, cả hai đều viết bài trên tạp chí Cahiers du Cinéma) từng chê kịch bản bộ phim này quá tệ, chỉ có anh diễn viên đóng vai phụ mới thật sự có hồn. Vài năm sau, đến khi trở thành đạo diễn, Jean-Luc Godard mới giao vai chính cho Jean-Paul Belmondo trong bộ phim đầu tay của mình là ''À bout de souffle''.

Do ngân sách hạn hẹp, cho nên nam diễn viên chấp nhận khoản tiền thù lao ít ỏi. Khi thấy đạo diễn Godard quay phim tùy theo ngẫu hứng, kịch bản không hề được viết sẵn, Jean-Paul Belmondo đinh ninh rằng bộ phim chỉ được quay cho bạn bè xem, chứ chẳng bao giờ có cơ hội ra mắt khán giả ở rạp. Bất ngờ thay, phim lại đoạt giải thưởng điện ảnh Pháp Jean Vigo dành cho tác phẩm đầu tay, đồng thời giành được luôn Giải thưởng lớn của Ban giám khảo liên hoan Berlin vào mùa xuân năm 1960.

Mới vài hôm trước còn vô danh, Jean-Paul Belmondo lại trở nên nổi tiếng chỉ nội một ngày sau. Tựa như một bản tuyên ngôn, bộ phim ''À bout de souffle'' đặt nền móng cho phong trào điện ảnh ''Làn sóng mới'' (Nouvelle Vague) của Pháp có tầm ảnh hưởng lớn trên khắp thế giới sau đó kể cả dòng phim độc lập của Mỹ hay trường phái Dogma của Bắc Âu.

Belmondo và Delon : Sự hội tụ trên tột đỉnh

Sự nghiệp của Jean -Paul Belmondo thật sự cất cánh vào đầu những năm 1960 và kéo dài trong hơn ba thập niên liền. Trong giai đoạn huy hoàng nhất, ông tham gia tới 4 hoặc 5 dự án điện ảnh mỗi năm, xen kẻ phim nghệ thuật và phim giải trí. Trong thập niên 1960, ông được giới phê bình tán thưởng trong tác phẩm ''Ciociara'' của đạo diễn Ý Vittorio de Sica bên cạnh Sophia Loren, ''Un singe en hiver'' của Henri Verneuil đóng với Jean Gabin, hay vào vai linh mục ''Léon Morin prêtre'' của Jean-Pierre Melville…

Nổi danh vào năm 27 tuổi, Jean-Paul Belmondo từng bước gầy dựng sự nghiệp để rồi trở thành một trong những ngôi sao màn bạc lẫy lừng. Trên màn ảnh lớn, Jean-Paul Belmondo thường chọn những vai đòi hỏi nơi diễn viên cả sinh lực dồi dào lẫn thể chất tráng kiện.

Đầu những năm 1970, đánh dấu sự hội tụ trên tột đỉnh giữa Jean-Paul Belmondo và Alain Delon, hai ngôi sao sáng giá nhất điện ảnh Pháp thời bấy giờ trong bộ phim trùm xã hội đen "Borsalino". Phim thành công vượt bực với hơn 5 triệu lượt khán giả, nhưng rồi lại gây bất hòa giữa hai diễn viên chính, vì hai vua khó thể nào ngự trị trên cùng một cõi. Mối bất đồng kéo dài hơn một thập niên, mãi đến năm 1998, đạo diễn Patrice Leconte mới đứng ra "hòa giải", thuyết phục cả hai ngôi sao Jean-Paul Belmondo và Alain Delon đóng chung trong phim "Une chance sur deux", với Vanessa Paradis trong vai chính.

Trên đà thành công của ''Borsalino'', Jean-Paul Belmondo thành lập công ty sản xuất phim (Cerito Films) hầu giành quyền quyết định thực hiện những dự án quan trọng nhất. Để dễ kinh doanh thu lời, ông chọn những bộ phim nặng tính thương mại, có độ giải trí cao. Đây cũng là giai đoạn ông chuyên đóng phim hành động phiêu lưu, với nhiều pha rượt đuổi gay cấn nghẹt thở, hoặc đóng phim điều tra hình sự với tuýp nhân vật táo bạo, liều lĩnh, quyết đoán, đôi khi hơi tàn nhẫn lạnh lùng khi phải truy lùng hung thủ cho tới cùng.

Giai đoạn lập liên tục kỷ lục doanh thu phòng vé

Trong mắt giới phê bình, phim của Belmondo (mà người Pháp thường gọi một cách thân mật là Bébel) trong hai thập niên 1970-1980 thường không có nhiều giá trị nghệ thuật, như thể ông chú trọng đến việc thực hiện các cảnh đầy nguy hiểm mà không cần diễn viên đóng thế, nhiều hơn là các màn diễn đạt nội tâm của nhân vật. Thế nhưng, trong các rạp chiếu phim, thương hiệu Belmondo lại ngự trị các phòng vé, lập kỷ lục doanh thu trong giai đoạn 1978-1985. Tính tổng cộng, phim do ông sản xuất thu hút đến 130 triệu lượt khán giả.

Vầng hào quang của Jean-Paul Belmondo lu mờ từ đầu những năm 1990 trở đi, cho dù ông đoạt giải diễn xuất nhân kỳ trao giải thưởng điện ảnh César của Pháp vào năm 1989. Vào thời ấy, ông đóng vai chính trong bộ phim của Claude Lelouch ''Itinéraire d'un enfant gâté'' (Hành trình của một đứa bé hư hỏng). Dần dần, ông rời bỏ phim trường để chuyển qua kịch nghệ, tìm lại mối tình đầu đời sau nhiều năm lánh xa ánh đèn sân khấu qua các tác phẩm của Edmond Rostand (Cyrano de Bergerac), Georges Feydau (Tailleur pour Dames), Sacha Guitry (Désiré) hay Alexandre Dumas (tác phẩm ''Kean'' theo lối phóng tác của Sartre).

Sự nghiệp đóng kịch kéo dài được gần mười năm, Jean-Paul Belmondo buộc phải giải nghệ do bị tai biến mạch máu não đầu những năm 2000. Từ đó trở đi, ông còn ít xuất hiện trước công chúng. Vào năm 2011, Liên hoan phim Cannes trao giải Cành cọ vàng hầu tôn vinh toàn bộ sự nghiệp của Jean-Paul Belmondo, nâng ông lên hàng tượng đài cao quý của làng điện ảnh Pháp. Dù sức khỏe đã thật sự suy giảm, nhưng trong ánh mắt của người nghệ sĩ vẫn hừng hực cuồng nhiệt ngọn lửa đam mê, mãnh liệt bầu tâm huyết dành trọn cho nghề diễn xuất.

Tựa phim ''Itinéraire d'un enfant gâté'' (Hành trình của một đứa bé hư hỏng) có thể tóm tắt phần nào cho sự nghiệp lẫy lừng của Jean-Paul Belmondo, thời còn trẻ ông bị đuổi ra khỏi trường không phải vì chơi bời lêu lổng, mà thật ra ông không hứng thú với chuyện học hành, nếu không chọn đúng hướng, ông sẽ thật sự thành một kẻ xấu tính, hư hỏng. Phải thật sự yêu nghề nên mới không chịu bỏ cuộc dù nhiều lần thi trượt : những khuyết điểm ấy lại xây dựng nên huyền thoại Belmondo trên màn ảnh lớn : một nhân vật dễ ghét ở chỗ càng nghe khuyên bảo, người đàn ông càng cứng đầu lì lợm, nhưng lại đáng yêu vì đó mãi là tâm hồn trẻ con nghịch ngợm.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1643 Posted : Wednesday, September 8, 2021 1:25:14 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Những bộ phim nổi tiếng của Jean-Paul Belmondo

07/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Ngôi sao màn bạc người Pháp Jean-Paul Belmondo vừa vĩnh viễn ra đi hôm 06/09/2021 ở tuổi 88. Lúc sinh tiền, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong làng nghệ thuật thứ bảy, với hơn 80 bộ phim đủ loại trong vòng 50 năm sự nghiệp diễn xuất. Phim của Belmondo có thể được chia thành hai loại : giai đoạn vào nghề gồm nhiều tác phẩm đậm chất nghệ thuật, giai đoạn thứ nhì độc quyền sản xuất với nhiều bộ phim giải trí.

Bộ phim quan trọng đầu tiên đối với Jean-Paul Belmondo chính là tác phẩm ''À bout de souffle'' của đạo diễn Jean-Luc Godard. Trong phim này, Jean-Paul Belmondo đóng vai chính cùng với nữ diễn viên Jean Seberg. Đoạn tuyệt với lối làm phim truyền thống trong studio, bộ phim dài đầu tay của Godard quay hầu như toàn bộ các cảnh phim ở ngoài trời với ánh sáng tự nhiên, chi tiết kịch bản không cứng nhắc theo kiểu viết sẵn, mà lại linh hoạt uyển chuyển, thích nghi theo tình huống. Lối tiếp cận ấy giúp cho bộ phim ''À bout de souffle'' đoạt giải thưởng điện ảnh Pháp Jean Vigo dành cho tác phẩm đầu tay, đồng thời giành được luôn Giải thưởng lớn của Ban giám khảo liên hoan phim Berlin vào mùa xuân năm 1960.

Thành danh nhờ một tác phẩm tiêu biểu của ''Làn sóng mới''

Trong lịch sử điện ảnh, nhà phê bình kiêm tác giả Jean-Luc Godard cùng với các bạn đồng nghiệp là François Truffaut, Jacques Rivette, Claude Chabrol, Éric Rohmer, Agnès Varda, Alain Resnais… đã góp phần gầy dựng phong trào ''Nouvelle Vague'' (Làn sóng mới) của làng phim Pháp, có tầm ảnh hưởng lớn sau đó trên khắp thế giới. Gợi hứng từ ''Làn sóng mới'', có phong trào Cinema Novo ở Brazil, các tác phẩm của Shōchiku ở Nhật Bản, dòng phim độc lập của Mỹ hay là trường phái Dogma của nền điện ảnh Bắc Âu.

Nổi tiếng trong làng phim vào năm 27 tuổi, Jean-Paul Belmondo trong suốt giai đoạn 1961-1973 sẽ hợp tác với nhiều đạo diễn quan trọng. Ông được giới phê bình tán thưởng trong tác phẩm ''Ciociara'' của đạo diễn Ý Vittorio de Sica bên cạnh Sophia Loren, bộ phim ''Un singe en hiver'' của đạo diễn Henri Verneuil quay với diễn viên bậc thầy Jean Gabin. Bộ phim do Michel Audiard phóng tác từ quyển tiểu thuyết cùng tên của Antoine Blondin. Đạo diễn Jean-Pierre Melville chọn ông vào vai linh mục ''Léon Morin, prêtre''. Trong phim này, Belmondo thuộc dạng diễn viên hài lại nhập vai chính kịch rất trội.

Vào năm 1970, đánh dấu sự hội tụ trên tột đỉnh giữa Jean-Paul Belmondo và Alain Delon, hai ngôi sao sáng giá nhất điện ảnh Pháp thời bấy giờ trong bộ phim trùm xã hội đen "Borsalino". Belmondo và Delon từng gặp nhau khi mới vào nghề, họ cùng đóng vai phụ trong bộ phim của Marc Allegret vào năm 1958, nhưng "Borsalino" lại là lần đầu tiên cả hai cùng đóng vai chính và diễn chung trong nhiều màn khác nhau. Kết quả là tác phẩm này đã thành công vượt bực với hơn 5 triệu lượt khán giả, nhưng rồi lại gây bất hòa giữa hai diễn viên hàng đầu. Bộ phim này sau đó có phần hậu truyện, nhưng không thành công như tập trước, khi cặp bài trùng Belmondo-Delon từ hai ngôi sao chỉ còn một mà thôi.

Thương hiệu Belmondo thu hút 130 triệu lượt khán giả

Kể từ đầu thập niên 1970 trở đi, Jean-Paul Belmondo đã hợp tác với hầu hết các nhà đạo diễn Pháp lừng danh nhất thời bấy giờ, ngoại trừ các tác phẩm giàu tính sáng tạo như ''La Sirène du Mississipi'' của François Truffaut, ''Le Voleur'' của Louis Malle, ''Stavisky'' của Alain Resnais, Jean-Paul Belmondo nhận đóng mọi vai trong nhiều thể loại khác nhau trên màn ảnh lớn, kể cả phim hồi hộp ''Le Corps de mon ennemi'' (Xác của kẻ thù) của đạo diễn Henri Verneuil, phim ''Le Cerveau'' (Đầu não băng cướp) của Gérard Oury, phim tâm lý hình sự ''L'Héritier'' (Người thừa kế) của Philippe Labro, phim hài ''Le Magnifique'' (Điệp viên tuyệt vời) của Philippe de Broca… Ông thường chọn những vai đòi hỏi nơi diễn viên chính, nguồn sinh lực dồi dào và thể chất tráng kiện.

Sau khi thành lập công ty Cerito Films, Jean-Paul Belmondo chuyển sang lãnh vực kinh doanh phim ảnh. Để dễ thu lời, hãng phim của ông chọn những dự án nặng tính thương mại, có độ giải trí cao. Đây cũng là giai đoạn Belmondo chuyên đóng phim hành động với nhiều pha rượt đuổi gay cấn, nghẹt thở, như ''Flic ou Voyou'' (Cảnh sát hay Du côn), ''Le Guignolo'' (Tay trộm hào phóng) của Georges Lautner, ''L'As des as'' của Gérard Oury. Bên cạnh đó, thể loại sở trường của ông là phim điều tra hình sự với type nhân vật táo bạo, liều lĩnh, quyết đoán, đôi khi hơi tàn nhẫn, lạnh lùng, khi phải truy lùng hung thủ cho tới cùng.

Đó là trường hợp của các bộ phim ''Peur sur la ville'' của Henri Verneuil, ''Le Marginal hay Le Solitaire'' của Jacques Deray… Nếu như trong mắt giới phê bình, phim của Jean-Paul Belmondo trong hai thập niên 1970-1980 ít có giá trị nghệ thuật, thì ngược lại thương hiệu Belmondo lại ngự trị các phòng vé, lập kỷ lục doanh thu tại các rạp chiếu phim trong giai đoạn những năm 1977-1985. Tính tổng cộng, phim do ông sản xuất thu hút đến 130 triệu lượt khán giả. Belmondo lên ngôi ông hoàng của dòng phim hành động và người Pháp thường gọi một cách thân mật là Bébel.

Giải César diễn xuất nhờ bộ phim của Claude Lelouch

Sau gần ba thập niên có mặt trong nghề, giới chuyên nghiệp ở Pháp quyết định trao cho Jean-Paul Belmondo danh hiệu nam diễn viên xuất sắc nhất nhân kỳ trao giải thưởng điện ảnh César của Pháp 1989. Chính đạo diễn Claude Lelouch (tác giả của Un Homme et Une Femme) đã tặng cho Belmondo một trong những vai diễn để đời trong bộ phim mang tựa đề ''Itinéraire d'un enfant gâté'' (Hành trình của một đứa bé hư hỏng). Kể từ đầu những năm 2000 trở đi, Belmondo ít còn hoạt động trong cả hai lãnh vực điện ảnh và kịch nghệ sau khi bị tai biến mạch máu não.

Trong quyển hồi ký do nhà xuất bản Fayard phát hành vào năm 2016, Jean-Paul Belmondo cho biết ước mơ ban đầu của ông vẫn là trở thành diễn viên gánh xiếc hay võ sĩ quyền anh. Có lẽ cũng vì khó khăn lắm ông mới thi đỗ, để rồi tốt nghiệp trường diễn xuất, cho nên bản thân ông nghĩ rằng mình sẽ không trụ lại được lâu, nghề đóng phim cũng chỉ là nhất thời. Rốt cuộc, ít ai ngờ rằng Belmondo lại trở thành một thương hiệu hái ra tiền, sự nghiệp diễn viên lại kéo dài trong 5 thập niên liền.



Pháp và thế giới thương tiếc Belmondo, « chàng điệp viên tuyệt vời »

07/09/2021 - Minh Anh / RFI
Từ tổng thống Pháp cho đến các kênh truyền hình, những nền điện ảnh lớn trên thế giới, tin tài tử điện ảnh gạo cội của Pháp Jean-Paul Belmondo qua đời đã để lại nhiều lời thương tiếc. Phủ tổng thống Pháp, ngày 07/09/2021, loan báo lễ tưởng niệm quốc gia cho diễn viên được mệnh danh « Điệp viên tuyệt vời » sẽ được tổ chức tại điện Invalides, thứ Năm 09/09/2021.

Ngay khi tin Belmondo qua đời được loan báo, mạng xã hội đã tràn ngập lời chia buồn từ các nhà tổ chức những liên hoan điện ảnh lớn. Đại diện của Liên hoan Cannes, Thierry Frémaux, cho biết nhiều nhà nhiếp ảnh sẽ « đặt các ống kính trên những bậc thềm, vỗ tay hoan hô ông ». Họ ca tụng sự hào phóng của một người nghệ sĩ đã mang lại nhiều sáng tạo vào những thời khắc lớn trong lịch sử điện ảnh. Frémaux viết : « Cảm ơn Jean-Paul. Vĩnh biệt ‘‘chàng điệp viên tuyệt vời’’ ».

Liên hoan Venise cũng thương khóc một Belmondo tuyệt vời, rất gần gũi với nền điện ảnh Ý, qua những những vai diễn « bi, hài, phiêu lưu » để đời. Năm 2016, ông được trao giải Sư tử Vàng, vinh danh sự nghiệp điện ảnh của « Bebel, người khổng lồ của nền điện ảnh », như cách gọi của truyền thông Ý, theo lời thuật của thông tín viên Anne Le Nir tại Roma.

Ở bên kia bờ biển Manche, nhà điện ảnh Edgar Wright trên Twitter thảng thốt : « Jean-Paul Belmondo qua đời, và điện ảnh sẽ chẳng bao giờ ‘‘cool’’ như vậy nữa ».

Tại Matxcơva, thông tín viên Paul Gogo cho biết, tất cả các trang mạng truyền thông Nga, từ đối lập cho đến thân chính phủ, đều đưa tít lớn. Belmondo, mà người hâm mộ Nga vẫn luôn tin là « bất tử », là một trong số các nghệ sĩ nước ngoài hiếm hoi để lại nhiều dấn ấn nhất trong tâm trí người Nga thời Xô Viết và cho nhiều thế hệ ngày nay.

Nhưng có lẽ chẳng có nơi nào mà cái chết của Belmondo lại được bàn luận sôi nổi như tại Trung Quốc. Thông tín viên Stephane Lagarde cho biết 32 triệu lượt người xem cho hashtag #Jean-PaulBelmondo vào bữa điểm tâm sáng nay tại Bắc Kinh. Công ty Sina Entertainment bình luận : Belmondo là một trong số các diễn viên hiện thân hay nhất cho nền điện ảnh Pháp. Nhiều tác phẩm lớn của ông như « À bout de souffle », « Un singe en hiver », « L’Héritier » hay « Paris brule-t-il » lại xuất hiện trên các plate-forme như Sohu và Tencent, phục vụ cho người hâm mộ Trung Quốc !

Belmondo ra đi, nước Pháp đã mất đi một người « đại diện cho nền điện ảnh Pháp những năm 1960-1970 » như lời tiếc nuối của Hayao Shibata, một nhà phân phối phim Pháp tại Tokyo, « Một phong cách điện ảnh mới, sexy, điên khùng và cool » như đánh giá của nhà đạo diễn Mỹ Quentin Taratino của Hollywood tại Washington.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1644 Posted : Saturday, September 11, 2021 11:44:28 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Khi ta hai mươi : Các bài phóng tác hay nhất của Everly Brothers

11/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Giai đoạn thành công của ban nhạc The Everly Brothers trùng hợp với thời kỳ phát triển của phong trào nhạc trẻ những năm 1960 tại Pháp. Điều đó giải thích vì sao đã có khá nhiều bài hát ăn khách của ban nhạc này được phóng tác sang tiếng Pháp.

Hai anh em Phil và Don Everly bắt đầu đi hát từ khi họ lên 10. Thành ra khi trình làng những bản ghi âm đầu tiên vào năm 1957, ban song ca người Mỹ này tuy độ tuổi chỉ mới khoảng đôi mươi, thật ra lại có nhiều năm tay nghề. Một trong những bản nhạc ăn khách đầu tiên của họ chính là bài ''All I have to do …. is dream'' (của hai tác giả nhạc country người Mỹ Felice & Boudleaux Bryant) phát hành vào năm 1958. Trong tiếng Việt, bài này được tác giả Trường Kỳ đặt lời thành ''Khi ta hai mươi'', nhạc phẩm này từng ăn khách trước năm 1975 qua tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Lan và gần đây hơn đã được ca sĩ Phương Vy ghi âm lại.

Sau khi giành lấy ngôi vị quán quân trên thị trường quốc tế kể cả Anh, Úc, Canada và Hoa Kỳ, tình khúc ''All I have to do …. is dream'' trở thành bài hát của nhóm The Everly Brothers được phóng tác nhiều nhất. Tính tổng cộng, đã có đến hàng trăm phiên bản trong 10 thứ tiếng khác nhau kể cả tiếng Ý, Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Phần Lan, Bồ Đào Nha …

Còn trong tiếng Pháp, bản nhạc này có đến ít nhất ba phiên bản khác nhau. Tại Canada, ban nhạc Les Bel Canto ghi âm ca khúc này với tựa đề ''Seul'' (Cô đơn), còn trên thị trường Pháp có phiên bản phóng tác ''Line'' của Eddy Mitchell thời ông là ca sĩ chính của nhóm Les Chausettes Noires, đồng thời vào năm 1963, một trong những thần tượng nhạc trẻ nổi tiếng nhất thời bấy giờ là Sheila ghi âm một phiên bản tiếng Pháp khác với tựa đề ''Pendant les Vacances'' hiểu theo nghĩa ‘‘Tình yêu trong kỳ nghỉ hè’’.

Richard Anthony và bản nhạc ''Khóc thầm trong mưa"

Một trong những gương mặt tiên phong của phong trào nhạc trẻ Pháp những năm 1960 chính là nam ca sĩ quá cố Richard Anthony (1938-2015). Vào lúc các thần tượng như Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Hervé Vilard hay Chrisophe vẫn còn ngồi ghế nhà trường, ông đã ký hợp đồng ghi âm vào năm 1958, thời ông phóng tác ca khúc ''You are my destiny'' của Paul Anka sang tiếng Pháp. Vào năm 1961, trong lúc đang đi công tác ở Luân Đôn, ông tình cờ nghe được cách hát bè điêu luyện nhuần nhuyễn của nhóm The Everly Brothers trong bản nhạc ''Crying in the Rain'' (Khóc thầm trong mưa).

Ca khúc này là bản nguyên tác của hai nhạc sĩ Carole King và Howard Greenfield. Khi về tới Paris, Richard Anthony mới chấp bút đặt lời tiếng Pháp thành ''J'irai pleurer sous la pluie'' (Khóc một mình dưới mưa) tình khúc ăn khách mùa hè năm 1962. Đây là một trong những bài hát tủ của nam danh ca. Bản thân ông ghi âm nhiều phiên bản tiếng Pháp cho các vòng lưu diễn trên sân khấu, mở đường cho các bản phóng tác sau này với nhiều lối hoà âm khác nhau.

Trong đời có ai hiểu thấu

Con tim vỡ đến độ nào

Mặc nhiên ngẩng cao mái đầu

Dù muôn vạn nỗi buồn đau

Người sẽ chẳng bao giờ thấy

Trái tim mảnh vụn còn đây

Hạt mưa sa vào đôi mắt

Bỗng dưng hóa mặn thật đầy

Chờ tới khi trời giông bão

Mưa tuôn thác đổ từ cao

Cho bao niềm đau chôn giấu

Thầm theo dòng lệ tuôn trào

Sau khi tạo dấu gạch nối giữa dòng nhạc tình của Paul Anka với dòng nhạc rock của The Beatles (nhạc phẩm ''Put your head on my shoulder'' sẽ có hai phiên bản tiếng Pháp ''Prouve moi que tu m'aimes'' và ''Pose ta tête sur mon épaule'') Richard Anthony chuẩn bị nhường ngôi lại cho các giọng ca trẻ như Christophe (Aline) và Hervé Vilard (Capri c'est fini) vào năm 1965. Dù muốn hay không, ông đã mở đường cho phong trào chuyển thể, phóng tác các ca khúc Anh Mỹ sang tiếng Pháp. Riêng về nhóm The Everly Brothers, có khá nhiều ca khúc của ban song ca đã được giới ca sĩ trẻ ở Pháp ghi âm lại.

Claude François thành danh nhờ ghi âm bài ''Made to Love''

Đó là trường hợp của bài ''Le p'tit clown de ton cœur'' (1960) của Johnny Hallyday gợi hứng từ nhạc phẩm ''Cathy's Clown'' của Don Everly. Cũng chính giai điệu ''Made to Love'' do Phil Everly sáng tác, một khi được dịch sang tiếng Pháp thành ''Belles Belles Belles'' đã giúp cho sự nghiệp của thần tượng nhạc trẻ Claude François cất cánh bay cao vào năm 1962, để rồi thành công liên tục trong hơn một thập niên liền.

Trong số những ca khúc để đời của nhóm The Everly Brothers, có nhạc phẩm ''Let it be Me'' ghi âm vào năm 1959 theo cách đặt lời tiếng Anh của tác giả Manny Curtis. Trong nguyên tác, đây là một bài hát tiếng Pháp (mang tựa đề ‘‘Je t'appartiens’’) của ca sĩ kiêm tác giả Gilbert Bécaud. Chính phiên bản tiếng Anh của ban song ca The Everly Brothers đã giúp cho tình khúc này trở nên nổi tiếng trên thị trường quốc tế vào đầu những năm 1960. Sau khi ban song ca chia tay nhau vào năm 1973, Phil Everly từng ghi âm lại ca khúc ''Let it be Me'' với một lối hoà âm mới, chất giọng tenor trong sáng của ông với lối phát âm nhẹ nhàng thướt tha, cách vuốt chữ đầy đặn mượt mà, nâng giai điệu hồn nhiên lên hàng kinh điển.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1645 Posted : Sunday, September 12, 2021 7:25:59 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Linda Lê: "Văn chương là quê hương, vì máu là từ mực"

12/09/2021 - Sơn Ca / RFI
Trong cuốn Chống lại Sainte-Beuve, Marcel Proust đã chỉ trích Sainte-Beuve không nhìn thấy vực sâu chia cắt giữa con người nghệ sĩ với con người xã hội, không hiểu rằng cái tôi của nhà văn chỉ hiện diện trong tác phẩm, không phải trong những cuộc chuyện trò với người khác.

Proust cho rằng văn chương, điều khi nhà văn viết trong cô đơn khác với chuyện kể trong lúc hàn huyên, bởi cái tôi bề ngoài cất tiếng nói khi có sự hiện diện của người khác, còn cái tôi sâu lắng khi ở một mình mới là điều mà người nghệ sĩ muốn đạt tới. Theo Proust, không thể đồng hoá tác phẩm với con người bề ngoài của tác giả, qua lời kể của bạn bè hay qua thư từ. Sainte-Beuve đi từ đời tư tác giả để giải thích tác phẩm, còn Marcel Proust đi từ tác phẩm để tìm tới tác giả. (1)

Linda Lê, với tiểu thuyết Œuvres Vives, viết năm 2014, đã làm việc ngược lại với Proust, là viết một tác phẩm trong đó kể về một nhà báo điều tra về cuộc đời của nhà văn mới tự tử, Antoine Sorel, thông qua việc tìm gặp những người thân, những người quen biết nhà văn. Nhân vật nhà báo, người tiến hành cuộc điều tra, cùng lúc đã đọc rất nhiều tác phẩm của nhà văn này, nhưng người đọc, là chúng ta, tuyệt nhiên không biết gì về nội dung những cuốn sách ấy.

Điều ta biết khi đọc tác phẩm Œuvres Vives là câu chuyện về cuộc đời riêng tư của Antoine Sorel, thông qua lời kể của nhiều người khác nhau. Linda Lê chia sẻ rằng, nội dung những cuốn tiểu thuyết của Antoine Sorel được ẩn đi, vì theo bà, người đọc vẫn luôn đồng hành cùng người viết để hoàn thiện tác phẩm trong quá trình đọc. Vì vậy, thông qua việc dựng lên chân dung của một nhà văn, bà muốn để người đọc tưởng tượng và hình dung về những cuốn sách mà người ấy sáng tác. (2)

Linda Lê cũng giải thích về tiêu đề của tác phẩm: "Thông thường, người ta gọi "Œuvre vive" là phần chìm dưới mặt nước của một chiếc tàu. Đó là bộ phận mà chúng ta không trông thấy, vì nó khuất dưới mặt nước. Ngược lại "Œuvre morte" là phần ở bên trên mặt nước. Cái gì nhìn thấy là phần "chết", còn phần "sống" lại là cái gì không trông thấy…Thế rồi ở đây tựa cuốn sách này cũng gợi lên ý tưởng là những tác phẩm của Sorel tiếp tục sống mãi cho dù ông văn sĩ đã về cõi vĩnh hằng." (3)

Tác phẩm Œuvres Vives được dịch ra trong tiếng Việt năm 2018 với tựa đề Vượt sóng có thể chưa thật chuẩn với nội dung tiểu thuyết và ý đồ của Linda Lê.

Đọc Linda Lê, rất khó tách bạch sáng tác khỏi cuộc đời bà, hệt như Patrick Modiano đã dùng chất liệu đời mình để nhào nặn nên tác phẩm văn chương. Nhà văn Đinh Linh, trong lời đề từ tiểu thuyết Tiếng nói của Linda Lê xuất bản năm 2017 tại Việt Nam, cũng thừa nhận Linda Lê chịu ảnh hưởng của một số nhà văn Tây phương nhưng ảnh hưởng lớn nhất tới sáng tác của bà là ảnh hưởng của lý lịch và bà đã thừa hưởng những bất hạnh của một dân tộc chịu nhiều bất hạnh.

Những đề tài trong tiểu thuyết của Linda Lê

Người chết, người điên, người viết, người đọc, người tha hương khỏi ngôn ngữ và quê hương và người tha hương trong những cuộc tình, là đề tài chính trong các tác phẩm của Linda Lê.

Thư chết, Sóng ngầm, Œuvres Vives, In memoriam...là những tác phẩm của Linda Lê mở đầu bằng cái chết, trong đó, trừ tác phẩm Thư chết nói về cái chết của người cha, những tác phẩm còn lại đều là cái chết của nhà văn. Lại chơi với lửa là tuyển tập truyện ngắn sáng tạo về ngôn từ và hình ảnh, đầy ẩn dụ và mê hoặc, ám ảnh và bạo liệt những câu chuyện về người đọc và người viết, nơi từ ngữ tách ra khỏi trang sách, nhảy vọt lên cắn vào cổ người đọc, nơi lọ mực lên tiếng xúi giục người viết cầm dao đuổi theo đâm chết tên độc tài, nơi một người khách từ trong bản thảo bước ra khi một tác phẩm hoàn thành.

Nhân vật trong các tác phẩm còn lại của Linda Lê đều là những người đọc và người viết. Mở đầu tiểu thuyết Cronos là hình ảnh một người đàn ông mải đọc sách trên băng ghế dưới chân một ngọn đèn, quên mất giờ giới nghiêm nên bị một tên lính nện báng súng vào đầu. Ông ngã xuống với khuôn mặt đẫm máu khi trong tay vẫn ôm chặt cuốn sách. Thư chết và Vu Khống là hai tác phẩm đều nhắc đến một người cậu bị điên và cả hai người điên này đều sống trong sách vở. Đặc biệt, người điên trong Vu khống sống trong bệnh viện, học tiếng Pháp từ những cuốn tiểu thuyết văn chương của một bác sĩ đưa cho anh, và chính những cuốn sách ấy đã cứu rỗi anh.

Nhân vật cháu gái trong Vu khống, nhân vật Văn và Ulma trong Sóng ngầm, nhân vật Sorel trong Œuvres Vives cũng là những người đọc và người viết. Qua lăng kính của Linda Lê, họ là những người tha hương khỏi cuộc đời này: "Tôi sáng tác những câu thơ kinh khủng, chỉ để nói rằng cuộc sống không thực sự ở đây. Tôi cũng viết nhật ký, chỉ để nói rằng tôi không tìm thấy chỗ của mình trong thế giới này." (4)

Tha hương là đề tài trở đi trở lại trong tác phẩm của Linda Lê: tha hương về địa lý, tha hương trong ngôn ngữ, trong đời sống và sáng tác, đặc biệt là tha hương bên lề cuộc đời người khác, trong gia đình và trong những cuộc tình. Nhân vật trong tác phẩm của Linda Lê bị bật rễ khỏi quê hương, gia đình và những người yêu quý. Các mối quan hệ cha mẹ, con cái trong tác phẩm Sóng ngầm, Œuvres Vives hầu như không có mối quan hệ mật thiết, xa cách về tư tưởng, ngôn ngữ và văn hóa, thậm chí xung đột gay gắt. Đặc biệt, Linda Lê luôn tạo các mối tình tay ba, các mối tình ngoài luồng trong tác phẩm của mình. Trong Vu Khống có một chi tiết Linda Lê đã so sánh tình cảm của một người đứng bên lề cuộc đời người khác, giống hình ảnh của một người tha hương bên lề đất nước không phải quê hương nguồn cội mình.

Lưu đày ngôn ngữ cũng là một ám ảnh trong sáng tác của Linda Lê, như bà từng viết: "Viết trong một ngôn ngữ không phải của mình, là làm tình với một thây ma." (5)

Thế giới của người ở bên rìa tất cả

Linda Lê cũng xuất bản nhiều tập tiểu luận vinh danh những nhà văn tha hương, những người viết bằng ngôn ngữ khác, nơi bà tìm thấy nhiều sự đồng cảm và có những người đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp văn chương của bà như: Tu écriras sur le bonheur năm 1999, Marina Tsvetaieva, ça va la vie? năm 2002 và Par ailleurs (exils) năm 2014.

Tác phẩm Sóng ngầm của Linda Lê xây dựng hai nhân vật kỳ lạ. Hai người Pháp gốc Việt, anh em cùng cha khác mẹ, đã tìm thấy nhau tại Pháp, và bắt đầu một mối tình, không chỉ là mối tình tay ba nơi người chồng ngoại tình, mà còn là mối tình loạn luân cùng huyết thống. Nhưng họ không cưỡng lại được sự hút nhau, như thể việc chung quê hương nguồn cội và tiếng nói đã giúp họ chạm vào được phần sâu thẳm bên trong mình. Lần đầu tiên nói "yêu em" trong tiếng Việt đã khiến Văn, nhân vật trong tác phẩm, có được cảm giác hạnh phúc lạ kỳ.

"[...] không phải chúng tôi cùng cha sinh ra mà bởi trong sâu thẳm chúng tôi là những kẻ ngoại cuộc, tôi không biết xứ nào là quê hương, em có nhiều danh tính mà không cái nào làm điểm tựa. Cùng ở vị thế lập lờ, cả hai chúng tôi đều như những kẻ mất hồn [...]. Tôi thấy ngọt ngào làm sao khi thốt "yêu em" với Ulma bằng thứ tiếng ba mươi năm nay tôi không còn nói nữa và lại có vẻ thật du dương. Không có Ulma tôi đã không nối lại với thứ, nơi tôi, còn rơi rớt, dù ít ỏi chừng nào, của phương Đông. Tôi bị xáo động tột cùng." (6)

Hãy để ý đến một điểm chung của tất cả những người chết, người điên, người viết, người đọc, người tha hương trong tác phẩm của Linda Lê. Đây là những người luôn sống ở bên rìa của tất cả, nơi thuộc về những tròng trành, nơi thuộc về vùng đất của no man's land, như trong tiểu luận Tròng trành mà Linda Lê đã viết. "Tôi yếu lòng bảo vệ tính tiểu thuyết và chưa làm sáng tỏ bí ẩn của sự chuyển hóa những tròng trành, rách xước và tang thương thành những từ ngữ mà ta ráng, trong một sự ương ngạnh hung cuồng, lấy dao trổ khắc." (7)

No man's land, từ mà Linda Lê đã dùng trong tiểu luận trên một lần nữa gợi nhắc về Patrick Modiano, ngay cả cách Linda Lê dùng tên các địa danh và dữ liệu đời thực đưa vào tác phẩm làm ta nghĩ đến ông, nhưng thế giới của Linda Lê là thế giới gần như đối lập, không u sầu thơ mộng như trong thế giới của nhà văn của giải thưởng Nobel 2014. Thế giới của Linda Lê luôn được đẩy đến mọi thái cực, quyết liệt, đen tối, kỳ dị, bất thường, điên loạn...dù văn phong có sự thay đổi qua các thời kỳ nhưng ngôn từ không thôi bùng cháy. "Tôi thích sự bùng cháy của ngôn từ, rằng những cuốn sách là ngọn lửa rực cháy." (8)

Bóng dáng cuộc đời trong tiểu thuyết

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, càng ở những tác phẩm sáng tác về sau, ngòi bút của Linda Lê càng trở nên điêu luyện trong cách kể chuyện bằng nhiều giọng kể. Nếu như Tiếng nói (1988) và Thư chết (1999) chỉ là những độc thoại nội tâm của một giọng kể duy nhất, nơi người ta dễ dàng có thể nhận thấy đó là tiếng lòng sâu thẳm và day dứt nhất của Linda Lê sau những năm tháng mất cha, thì trong Sóng ngầm (2012) và Œuvres Vives (2014), Linda Lê đã một mình phân thân mình thành nhiều mảnh và hóa thân mình trong nhiều nhân vật, thể hiện sự lao động sáng tạo bền bỉ trong ngôn từ và trí tưởng tượng. Sóng ngầm là bốn giọng kể trực tiếp của bốn nhân vật khác nhau còn Œuvres Vives là nhiều giọng kể gián tiếp của nhiều nhân vật khác nhau.

Bóng dáng cuộc đời cá nhân của Linda Lê dường như vẫn hiện diện sắc nét trong tất cả các tác phẩm nhưng rõ ràng đó là những tiểu thuyết văn chương hư cấu nơi Linda Lê theo nhiều cách đã luôn tìm cách trao tiếng nói cho một người vừa mới qua đời. Linda Lê như người bị vỡ thành trăm mảnh và bà đã nhặt từng mảnh vỡ và đặt mỗi mảnh nhỏ vào một nhân vật, và trong những cuốn tiểu thuyết khác nhau, dù mỗi nhân vật đều có giới tính, tính cách, đời sống, giọng nói riêng khác nhưng ta đều thấy Linda Lê ở đó.

Có thể nói văn chương Linda Lê thuộc dòng văn học chấn thương như Anna Gotlib phân tích trong tiểu luận Chấn thương và chuyện kể: "Chấn thương châm ngòi cho tự sự. [...] Những gì nó có thể làm là trở thành chất xúc tác cho nhiều câu chuyện khác nhau – những câu chuyện sâu sắc hơn về việc chúng ta là ai, chúng ta có giá trị như thế nào và làm sao chúng ta có thể sống “sau” chấn thương. Chúng là câu chuyện về sự kiến tạo ý nghĩa, làm lại ý nghĩa [...] mở ra những khả năng cho việc tái tạo các câu chuyện, [...] tích hợp một số những kinh nghiệm tệ hại nhất của mình vào trong những câu chuyện không ngừng được mở ra về chính bản thân mình.” (9)

Linda Lê sinh năm 1963 tại Đà Lạt và lớn lên tại Sài Gòn. Cha bà là một kỹ sư Bắc Việt còn mẹ xuất thân từ một gia đình khá giả có quốc tịch Pháp. Thuở nhỏ, khi còn ở Việt Nam, Linda Lê đặc biệt gắn bó với cha về tình cảm nhưng xa lạ với tiếng Việt và văn hóa Việt. Không có nhiều sợi dây liên hệ tinh thần với mẹ nhưng Linda Lê được mẹ cho học trường tiếng Pháp, rất say mê và am hiểu văn chương Pháp. Năm 1977, Linda Lê cùng mẹ và các chị em rời Việt Nam định cư tại Pháp, để lại người cha ở lại Việt Nam. Linda Lê liên lạc với cha qua những lá thư, ngầm đặt cha mình là độc giả tưởng tượng khi viết văn. Năm 1995, cái chết của người cha đã để lại nhiều day dứt và chấn thương trong lòng bà, khiến bà thậm chí có những khoảng thời gian rơi vào trầm cảm. Đó cũng là lý do vì sao đề tài về một người cha đã mất luôn lặp đi lặp lại trong tác phẩm của bà.

Hơn một lần, trong tác phẩm cũng như trong trả lời phỏng vấn, Linda Lê đều viết mình không biết nơi đâu là nhà, bất cứ chốn nào cũng xa lạ, ở quê hương nguồn cội, ở đất nước mình đang sống, ở giữa mọi người và ở trong cuộc đời. Sola trong In memoriam và Sorel trong Œuvres Vives là hai nhà văn trong tác phẩm của Linda Lê, đều chọn con đường tự tử để kết thúc cuộc đời. Dường như văn chương không thể cứu rỗi cuộc đời họ. Nhưng với Linda Lê, văn chương không chỉ cứu rỗi, văn chương còn giúp bà được chữa lành, được xoa dịu, được học hỏi và được lớn lên từ đó. (10) Linda Lê cũng nhiều lần khẳng định văn chương chính là Tổ quốc mình. Bởi thế, nhà phê bình Brigitte Lannaud Levy đã viết, với Linda Lê, ”văn chương là quê hương vì máu là từ mực”. (11)

Trích nguồn:

(1) Phê bình cũ - phê bình mới, Phê bình văn học thế ký 20, Thụy Khuê:

http://thuykhue.free.fr/...uong03-PheBinhCuMoi.html

(2) Linda Lê trả lời phỏng vấn tại hiệu sách La Galerne:

https://www.youtube.com/...v=p3DBmaDl8Fg&t=326s

(3) "Œuvres Vives", tâm trạng cô đơn của kẻ lưu đày, Tạp chí văn hóa RFI Tiếng Việt năm 2014:

https://www.rfi.fr/vi/vi...ng-co-don-cua-ke-luu-day

(4) Vượt sóng, Phạm Duy Thiện dịch từ nguyên tác "Œuvres Vives", Công ty cổ phần Sách Tao Đàn và NXB Hội nhà văn, năm 2018.

(5) Linda Lê : de l'exil du langage au langage de l'exil, Thi Thu Thuy Bui:

https://www.academia.edu...gage_au_langage_de_lexil

(6) Sóng ngầm, Hồ Thanh Vân và Bùi Thu Thủy dịch từ nguyên tác Lame de fond, Nhã Nam và NXB Hội nhà văn, năm 2018.

(7) Tiểu luận Tròng trành của Linda Lê, Hồ Thanh Vân dịch đăng trên tạp chí của Nhà xuất bản độc lập Ajar: http://www.ajarpress.com...ailVi.aspx?ProjectId=181

(8) Linda Lê : “J'aime que les livres soient des brasiers“, Marine Landrot, 2020

https://www.telerama.fr/...t-des-brasiers,59204.php

(9) Anna Gotlib – Chấn thương và chuyện kể, Hải Ngọc dịch

https://hieutn1979.wordp...han-thuong-va-chuyen-ke/

(10) Linda Lê trả lời phỏng vấn Mediapart, thực hiện bởi Dominique Conil và Yannick Sanchez: https://www.youtube.com/watch?v=mco7JdliulE

(11) "Sang d’encre", Brigitte Lannaud Levy: https://www.onlalu.com/l...-vives-linda-le-le-8647/



(RFI) – Điện ảnh : Phim Pháp đoạt giải Sư Tử Vàng. Với giải thưởng danh giá này, bộ phim « L’Evènement » (tạm dịch là Sự kiện) của nữ đạo diễn Audrey Diwan, hôm qua 11/9/2021, đã khép lại mùa giải điện ảnh Mostra de Venise lần thứ 78. Đây là giải thưởng lớn thứ hai dành cho nữ đạo diễn sau liên hoan phim Cannes tại Pháp. Bộ phim của bà chuyển thể từ một câu chuyện có thật của Annie Ernaux, thuật lại hành trình phá thai trái phép tại Pháp còn nặng truyền thống trong những năm 1960. Ban giám khảo do đạo diễn Hàn Quốc Bong Joon Ho chủ trì đã bỏ phiếu tuyệt đối cho một bộ phim phản ảnh một thời kỳ đã qua nhưng vẫn còn rất mang tính thời sự.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1646 Posted : Monday, September 13, 2021 7:35:02 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Shang-Chi và huyền thoại Thập Luân, luồng sinh khí mới cho dòng phim Marvel

13/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Với hơn 257 triệu đô la doanh thu chỉ sau 9 ngày trình chiếu tại các rạp phim, có thể xem bộ phim ''Shang-Chi và huyền thoại Thập Luân'' là chiêu đánh thật sự mở màn cho giai đoạn thứ tư của Vũ trụ điện ảnh Marvel mở rộng. Giới sản xuất điện ảnh hy vọng bộ phim siêu anh hùng đầu tiên với nhiều diễn viên châu Á này sẽ lập lại thành tích trước đây của Black Panther (Chiến binh Báo đen) từng đạt tới mức 1,3 tỷ đô la doanh thu toàn cầu.

Trên màn ảnh lớn, lần đầu tiên hãng phim Marvel đưa các màn đấu võ với cách dàn dựng công phu, lối chỉ đạo đẹp mắt vào trong thể loại phim siêu anh hùng. Thêm vào đó, đạo diễn Destin Daniel Cretton biết khai thác nét tương phản của các tình huống bi hài để tạo điểm nhấn trong mạch phim. Điều đó có thể giải thích vì sao phim ''Shang-Chi and the Legend of Ten Rings'' đã được khá nhiều ngòi bút phê bình Anh Mỹ khen nức nở (92% điểm cộng trên mạng Rotten Tomatoes), thổi một luồng gió mới vào dòng phim Marvel.

Tuy nhiên, trong mắt giới phê bình ở Pháp, cũng có nhiều ngòi bút cảm thấy thất vọng, nét đột phá manh nha nhưng rốt cuộc vẫn không thoát ra khỏi công thức làm phim theo kiểu Marvel. Còn trong phần cuối của ''Shang-Chi và huyền thoại Thập Luân'', bộ phim chưa khai thác tới nơi tới chốn mối quan hệ mâu thuẫn giữa hai cha con (nhân vật chính và thân phụ của mình).

Phim siêu anh hùng châu Á đầu tiên trong tủ phim Marvel

Bộ phim kể lại câu chuyện của Shang-Chi (Thượng Khí do nam diễn viên Lưu Tư Mộ/Simu Liu thủ vai) hành nghề giữ xe cùng với cô bạn là Katy do Awkwafina thủ vai (tên tiếng Hoa là Lâm Gia Trân). Cô không hề biết gì về quá khứ hay thân thế của bạn đồng nghiệp. Cho đến cái ngày họ bị tấn công trên xe buýt giữa lòng đường phố San Francisco, Katy lúc đó mới khám phá rằng Shang-Chi mất mẹ từ khi anh còn nhỏ. Thân mẫu của anh từng là một võ sư siêu phàm đến từ một gia tộc sống trong một khu rừng thiêng liêng, ngàn năm bí ẩn. Trong bộ truyện tranh Marvel, khu rừng thiêng này còn mang tên ''Great Canopy of Heaven'', thực sự là một vương quốc thần tiên, một thế giới thu nhỏ với nhiều loài linh thú như phượng hoàng, kỳ lân, rồng thần ….. Ngọn núi Linh sơn ở đây có yểm bùa ''vảy rồng'' để ngăn không cho hung thần bay vào thế giới của loài người.

Còn thân phụ của Thượng Khí/Shang-Chi chính là Văn Vũ/The Mandarin (do Lương Triều Vỹ thủ vai) chưởng môn phái Thập Luân. Nhân vật phản diện này có sức mạnh vô song, có phép cải lão hoàn đồng, khi đeo trên tay 10 chiếc vòng đầy ma thuật, thống trị thế giới nhờ cái tài chỉ huy vạn quân thích khách hùng hậu. Chính ông phái thuộc hạ truy tìm đứa con trai, đã bỏ trốn từ nhiều năm qua. Sau khi Shang-Chi bị tước đoạt món quà của hiền mẫu qúa cố là viên ngọc mắt rồng, anh mới lên đường đi tìm cô em gái, hy vọng rẳng hai anh em sẽ hợp sức thuyết phục người cha ''cải tà quy chính''.

Cốt truyện bộ phim kể lại thân thế nhân vật (origin story) một cách khá cơ bản trong quá trình hóa thân thành một siêu anh hùng. Nhờ vào cách dựng phim xen kẻ xưa và nay, sắp đặt đúng chỗ các đoạn hồi tưởng, ''Shang-Chi và huyền thoại Thập Luân'' làm nổi bật các thế mạnh thường thấy trong dòng phim Marvel. Ít ra trong suốt nửa đoạn đầu, lối xây dựng nhân vật, cách cài đặt các màn pha trò dí dỏm xen kẻ nhịp nhàng với các pha hành động chớp nhoáng, nhịp phim vẫn không hề bị chậm lại dù có thêm nhiều chi tiết phụ. Bộ phim cũng bắt nhịp cầu với các tác phẩm trước là Iron Man III (Người Sắt tập 3) và Doctor Strange (Phù thủy Tối thượng) qua hai nhân vật ''The Mandarin giả mạo'' và Pháp sư Wong.

Một nhân vật châu Á để làm giàu vũ trụ siêu anh hùng

Ưu điểm của bộ phim nằm trong các pha hành động với dàn dựng công phu : Các cảnh cận chiến dồn dập đẹp mắt với cường độ càng lúc càng tăng, các màn đấu võ đi sau lúc nào cũng kịch liệt dữ dội hơn trước nhờ vậy mà tăng thêm sức cuốn hút, hấp dẫn trên màn ảnh rộng. Phim mở đầu với cuộc tấn công trên xe buýt rồi sau đó là trên một giàn giáo thi công xây dựng, đạo diễn Mỹ Destin Daniel Cretton đã muốn vinh danh bậc đàn anh Thành Long (Jackie Chan), hai màn này từng được dựng trong phim Hồng Kông Police Story (1985) và Rush Hour II (2001).

Còn trong các trận đấu võ thời xưa, đạo diễn Mỹ đã gợi hứng khá nhiều từ tác phẩm của các bậc đàn anh như Ngọa Hổ Tàng Long (Lý An), Võ Đại Tông Sư/The GrandMaster (Vương Gia Vệ), Thập diện mai phục (Trương Nghệ Mưu). Các pha hành động đều khá hoàn chỉnh nhờ có đầu tư kỹ lưỡng, kể cả trong khâu chỉ đạo võ thuật và tập dượt các động tác sao cho nhuần nhuyễn thuần thục. Các nhân vật ''phản diện'' khi xuất hiện trên màn ảnh không kém phần ''bá đạo'', giúp cho phim thêm gay cấn.

Bước sang phần hai, bộ phim ''Shang-Chi và huyền thoại Thập Luân'' lại vướng phải một số khuyết điểm đáng kể, vầng hào quang của nhân vật chính đáng lẽ ra phải sáng, lại bị lu mờ trước một dàn nhân vật phụ quá đông. Sự xuất hiện của nhân vật ''The Mandarin giả mạo'' (rồi giả chết) làm cho các màn hài hước bị lố so với phần đầu. Các màn chạm trán đọ sức, ban đầu đơn thuần mang tính võ thuật càng về sau càng có nhiều phép thuật, bắt buộc khâu hậu kỳ sử dụng nhiều kỹ xảo bằng máy vi tính (CGI).

Té không sợ đau, đánh không sợ chết

Trong trận đại chiến cuối cùng với bầy quái vật, màn ảnh rộng tràn ngập kỹ xảo CGI, do đây là bộ phim thứ 25 của Marvel cho nên mất đi phần nào tính ngoạn mục hoành tráng, thậm chí đã trở nên nhàm chán đối với một số khán giả. 10 chiếc vòng thần thay vì phục vụ cho tài nghệ võ thuật của Shang-Chi lại làm cho nhân vật này mất đi nét đặc thù của mình, giống như bao siêu anh hùng khác. Nhất là dòng phim võ thuật của Hồng Kông hay Hoa Lục gần đây đều có xu hướng thần thánh hóa các nhân vật chính, biến họ thành những kẻ siêu phàm : té không sợ đau, đánh không sợ chết.

Trước sau gì, Shang-Chi và huyền thoại Thập Luân vẫn là một bộ phim võ thuật châu Á theo cách nhìn của người Âu Mỹ. Dù vậy, đây vẫn là một bộ phim khá hấp dẫn nhờ có tính giải trí cao, tạo ra được một sắc thái khác thay vì mới cho dòng phim Marvel. Hẳn chắc nhân vật Shang-Chi sẽ có cơ hội xuất hiện trong các bộ phim Marvel sắp tới. Về mặt diễn xuất, nhân vật nổi trội trong phim không phải là Lưu Tư Mộ mà chính là Lương Triều Vỹ (Văn Vũ/The Mandarin), cách diễn của anh đem lại nhiều chiều sâu cho nhân vật phản diện, vì không chấp nhận được nỗi mất mát quá lớn, vì đã mất đi lẽ sống trên đời, cho nên đâm ra lạnh lùng vô cảm, sa ngã mù quáng.

Mâu thuẫn giữa hai cha con Thượng Khí và Văn Vũ (Shang-Chi và The Mandarin oán trách lẫn nhau dù có cùng một nỗi mất mát) là điểm then chốt của bộ phim, nếu khai thác đúng mức sẽ càng có thêm giá trị. Bộ phim chỉ cho thấy được một vế : Shang-Chi muốn bằng mọi cách tự bứt mình ra khỏi ''oan nghiệp'' do cha mình để lại. Phim kể lại quá trình hóa thân của một ''siêu nhân'' nhưng bỏ lỡ cơ hội phản ánh nội tâm của một cậu bé mồ côi trên con đường ''thành nhân'', luôn nhớ mãi lời dặn dò của mẹ, dùng tình thương hóa giải hận thù.



hongvulannhi  
#1647 Posted : Monday, September 13, 2021 10:10:45 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,704

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

20 Năm Vở Nhạc Kịch Nhà Thờ Đức Bà Paris –


Tuấn Thảo

January 8, 2019



Trong giới yêu nhạc Pháp, hầu như ai cũng biết Richard Cocciante là người đã soạn nhạc (tác giả Luc Plamondon đặt lời) cho toàn bộ vở kịch Nhà Thờ Đức Bà Paris.

Thế nhưng ít ai biết rằng một trong những nguyện vọng của tác giả này là đem vở nhạc kịch Notre Dame de Paris đến biểu diễn tại Sài Gòn, nơi ông từng sinh ra.

Tác giả Richard Cocciante từng có tuyên bố như trên khi trả lời phỏng vấn báo Le Parisien (số ra ngày 26/12/2018) nhân đợt biểu diễn kỷ niệm 20 năm vở nhạc kịch Notre Dame de Paris.

Trong hai thập niên qua, tác phẩm này đã được trình diễn tại 21 quốc gia trên thế giới kể cả Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn và tại nhiều nước Châu Âu.

Richard Cocciante sinh tại Sài Gòn năm 1946 trong một gia đình có hai dòng máu, bố người Ý mẹ người Pháp.

Ông sống ở Việt Nam cho tới năm 10 tuổi, sau đó ông theo bố mẹ trở về Châu Âu.

Có lẽ cũng vì thế mà tác giả Richard Cocciante hy vọng một ngày nào đó sẽ nhìn thấy bản gốc vở nhạc kịch Nhà Thờ Đức Bà Paris được biểu diễn tại Việt Nam (cho dù đã từng có kế hoạch tại Việt Nam dựng bản phóng tác của nhạc sĩ Vũ Huy Tiến từ vở nguyên tác tiếng Pháp vào năm 2014).

Năm nay tròn 20 tuổi, Nhà Thờ Đức Bà Paris phiên bản mới đã thay đổi toàn bộ thành phần diễn viên.

Ca sĩ người Canada Daniel Lavoie là gương mặt duy nhất đã từng tham gia vào nguyên tác (trong vai cha xứ Frollo), từ đợt biểu diễn đầu tiên cho tới phần ghi âm bản chính gốc.

Ngoại trừ tên tuổi này ra, hầu hết các nghệ sĩ còn lại đều là gương mặt mới: Hiba Tawaji ca sĩ người Liban vào vai Esmeralda (thay thế cho Hélène Ségara), ca sĩ người Ý Angelo del Vecchio xuất hiện trong vai thằng gù Quasimodo (sau nam danh ca Garou đến từ vùng Québec), còn Martin Giroux thay thế nam danh ca người Pháp Patrick Fiori trong vai diễn Phoebus …..

Khi chọn biểu diễn tại nhà hát Palais des Congrès (ở Paris) cho tới ngày 06/01/2019, một cách tượng trưng, đoàn diễn viên trở về với cội nguồn, nơi mọi chuyện đã bắt đầu hai thập niên trước, bởi vì cách đây đúng 20 năm, tác phẩm Nhà thờ Đức Bà Paris đã ra mắt công chúng trên cùng một sân khấu.

Lần này, ngoài sinh nhật 20 tuổi, đoàn diễn viên còn ăn mừng một sự kiện khác đầy ý nghĩa: Từ khi ra đời cho tới tận ngày 06 tháng Giêng 2019, vở kịch này đã được biểu diễn đúng năm ngàn lần trên sân khấu.

Được phóng tác từ quyển tiểu thuyết cùng tên của văn hào Victor Hugo, vở nhạc kịch Nhà Thờ Đức Bà Paris thành công trước hết nhờ cốt truyện sống động hấp dẫn cộng thêm với những giai điệu cực kỳ dễ nhớ.

Thế nhưng, theo lời kể của tác giả Richard Cocciante, vào thời ấy chẳng có nhà sản xuất nào chịu bỏ tiền ra để tài trợ cho việc dàn dựng tác phẩm này trên sân khấu.

Vào giữa những năm 1990, thể loại nhạc kịch bị cho là lỗi thời, ít có khả năng thu hút khán thính giả.

Nhà sản xuất Charles Talar là người duy nhất đã đồng ý đầu tư vào dự án này sau khi được nghe một số ca khúc chủ đạo đánh bằng đàn piano.

Điều đó có thể giải thích vì sao hai tác giả Luc Plamondon và Richard Cocciante đã mất hơn 5 năm trời để hoàn thành tác phẩm.

Những ca khúc đầu tiên viết cho vở kịch (hai nhạc phẩm Belle và Vivre) từng được sáng tác kể từ năm 1993 nhưng mãi đến năm 1998 mới được ghi âm và phổ biến.

Giai điệu đã làm cho nhà sản xuất Charles Talar phải xiêu lòng chính là nhạc phẩm Belle (có nghĩa là Người Đẹp hay Giai Nhân).

Chính ông đã đề nghị phát hành trước bài hát này dưới dạng đĩa đơn để thăm dò phản ứng của người nghe, tầm vóc và quy mô của kế hoạch dàn dựng vở nhạc kịch trên sân khấu còn tùy theo sự đón nhận của công chúng.

Kết quả là nhạc phẩm Belle lập kỷ lục số bán với tổng cộng hơn 2,5 triệu bản, bài hát cũng được xếp hạng cao trong vòng 60 tuần lễ liên tục, trong đó có 18 tuần ngự trị ở hạng đầu thị trường Pháp và sau đó đoạt giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique dành cho ca khúc hay nhất trong năm (1999).

Một số bài khác cũng giành được vị trí quán quân chẳng hạn như nhạc phẩm Le Temps des Cathédrales (Kỷ nguyên Thánh đường) hay là Vivre (Sống) tính cả hai phiên bản của hai nữ ca sĩ Noa và của Hélène Ségara.

Về phần mình, tác giả Luc Plamondon cho biết ông đã lấy cảm hứng để đặt lời cho ca khúc Belle, sau khi được xem lại bộ phim ‘‘Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà’’ Paris của đạo diễn Jean Delannoy với Gina Lollobrigida và Anthony Quinn trong vai chính.

Trong đoạn phim Quasimodo bị phạt tội, phải quỳ gối và bị trói bằng dây xích, cho nên Thằng Gù mới thốt lời than van và xin Giai Nhân làm ơn cứu kẻ tật nguyền (Thằng Gù Quasimodo gọi tên Belle trong cách xưng hô chứ không hề dùng tên Esmeralda).

Động lòng thương xót kẻ xấu số, người đẹp Esmeralda mới đem bình rót nước uống cho tội phạm khỏi chết khát, bất kể hình dung ghê tởm dị hợm của Thằng Gù.

Bản nhạc Belle trở thành bài hát cực kỳ phổ biến của vở nhạc kịch Nhà Thờ Đức Bà Paris, từng được dịch trong nhiều thứ tiếng khác nhau kể cả tiếng Anh, Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Nga, Tiệp, Belarus, Ba Lan, Nam Hàn…..

Còn trong tiếng Việt bài này có đến hai lời ca khác nhau. Phiên bản tiếng Việt đầu tiên từng được Bằng Kiều, Nguyên Khang, Tiến Dũng cùng thể hiện. Tác giả Hà Quang Minh đặt lời thành nhạc phẩm ‘‘Ta Vẫn Yêu Người’’ với những câu như sau:

Tìm làn mây trôi, trôi về cuối nơi chân trời xa vời.
Lòng thầm nghe bao sầu lắng trong tim người cười nói.
Ôi nỗi nhớ như êm mãi mưa hoài từng phút hiu quạnh.
Ta bỗng mơ về giấc mơ chẳng thể tìm đến.
Tình như bóng dáng trăng cao bao ngày nào đâu tới được.
Tình như những ánh sao xa cho lòng chất thêm u hoài.
Ðể mình ta mãi mãi mang theo khát vọng, mình ta thở dài.
Mình ta mãi mãi trông mong giấc mơ xa vời.
Nào có ai người sẽ đến bên đời ru giấc rã rời.
Chỉ có nỗi buồn cùng những đêm ngà nhìn bóng trăng tàn ……

Phiên bản tiếng Việt thứ nhì của bài Belle (Nàng) cũng từng được Trần Thái Hoà, Thế Sơn, Trịnh Lam ghi âm thành một bài tam ca khác.

Trong cách chuyển ngữ, tác giả Thái Thịnh đã đặt lời gần sát hơn với nguyên tác qua những câu mở đầu :

Nàng là một nhan sắc tuyệt thế giữa nhân gian.
Nàng là bông hoa mỹ miều hóa công đã ban tặng.
Ôi như cánh chim tuyệt vời giữa xuân ngời rực rỡ khung trời.
Tôi thấy đang mở rộng dưới chân mình địa ngục tăm tối.
Hồn tôi đắm đuối với nét khoe tươi gợn trên áo nàng.
Ngàn muôn giáo huấn tín ngưỡng đức tin bỗng dưng phai tàn.
Ai, nào ai nói đứng trước dung nhan nàng không rung động.
Là đang nói dối giấu diếm con tim khát khao vô vọng.
Tôi ước ao một lần bước chân thật gần đến bên nàng.
Đan ngón tay vào dòng tóc êm đềm tựa suối thiên đàng ……

Đợt biểu diễn đầu tháng Giêng 2019 đánh dấu 20 năm ngày vở nhạc kịch Notre Dame de Paris ra đời.

Không ai có thể ngờ rằng hai thập niên sau, tác phẩm này lại trở thành vở nhạc kịch Pháp nổi tiếng nhất ở nước ngoài với hơn mười ba triệu lượt khán giả trên thế giới.

Hai tác giả người Ý Richard Cocciante (soạn nhạc) và người Canada Luc Plamondon (đặt lời) tiếp tục mang tiếng chuông Nhà thờ Đức Bà Paris đi đánh xứ người từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á.

Tiếng chuông ngân vang ấy vẫn còn vọng mãi trong lòng người mến mộ cho tới tận ngày nay
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 9/14/2021(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1648 Posted : Tuesday, September 14, 2021 5:15:18 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Phim Pháp đoạt giải Sư tử vàng liên hoan Venise

14/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Bộ phim Pháp ''L'Événement'' là Sự kiện quan trọng nhất nhân kỳ bế mạc liên hoan phim Venise, với buổi lễ trao giải truyền thống hôm 11/09/2021.

Trên bảng vàng năm nay, bộ phim nói về chủ đề phá thai của nữ đạo diễn Pháp Audrey Diwan đã vượt trội so với 20 tác phẩm khác cùng tham gia chương trình tranh giải chính thức. Bộ phim này đã nhận Sư tử vàng, giải thưởng cao quý nhất, từ tay chủ tịch ban giám khảo là đạo diễn Hàn Quốc Bong Joon-Ho.

Phải chăng do trùng hợp ngẫu nhiên mà liên hoan Venise đã khai mạc hồi đầu tháng 9/2021, hầu như vào cùng thời điểm lệnh cấm phá thai chính thức có hiệu lực tại bang Texas, Hoa Kỳ. Đối với giới phê bình quốc tế đến Venise tham dự liên hoan, thì dù muốn hay không, mảng tin thời sự đã tạo ra tiếng vang cho chủ đề nhạy cảm này, gây thêm sự chú ý đối với bộ phim Pháp mang tựa đề ''L'Événement'' hiểu theo nghĩa của một ''biến cố'' trong cuộc đời của người phụ nữ, nhiều hơn là một ''sự kiện''. Nhà làm phim Audrey Diwan về đầu trên bảng vàng đúng một năm sau khi nữ đạo diễn Cholé Zhao (Triệu Đình) được ban giám khảo liên hoan Venise trao giải Sư tử vàng cho bộ phim Nomadland (Kẻ du mục).

Một bộ phim tâm lý nhưng không nặng tính tuyên ngôn

Khi lên sân khấu nhận giải Sư tử vàng, nữ đạo diễn Pháp cho biết là cô đã thực hiện bộ phim này với tất cả tâm huyết và tấm lòng, những tình cảm lẫn lộn giữa phẫn nộ và ham muốn. Bản thân cô cũng không ngờ rằng chủ đề phá thai lại mang nhiều tính thời sự đến như vậy, một cách tiêu cực hơn là tích cực. Audrey Diwan cũng hy vọng rằng nỗ lực của đoàn làm phim sẽ giúp cho khán giả hiểu thêm về tâm can cũng như nỗi đoạn trường của người phụ nữ, ở bất cứ thời nào hay lứa tuổi nào, họ đều đau đớn khổ sở khi đứng trước quyết định có nên phá thai hay không.

Bộ phim này là một "cuộc hành trình nội tâm'', ống kính với lối quay phim gần sát và ngang tầm nhìn của nhân vật chính, mời khán giả thử đặt mình vào "thế kẹt'' của người phụ nữ trẻ trong phim. Bộ phim được giới phê bình đánh giá có nhiều bề dày và chiều sâu tâm lý nhưng vẫn không quá nặng tính tuyên ngôn xã hội, theo kiểu dấn thân đấu tranh đòi nữ quyền.

''L'Événement'' là bộ phim truyện thứ nhì của Audrey Diwan, một phiên bản điện ảnh phóng tác từ quyển sách cùng tên của nhà văn Annie Ernaux. Được viết theo lối tự truyện, quyển sách kể lại những kinh nghiệm của chính tác giả trong bối cảnh nước Pháp đầu những năm 1960, khi vấn đề phá thai vẫn còn bị cấm đoán, bị xã hội bảo thủ lên án. Vào thời bấy giờ, phụ nữ mang bầu mà không muốn có con, buộc phải phá thai một cách lén lút, thường là trong những điều kiện y tế tồi tệ. Nước Pháp chỉ thông qua luật cho phép phụ nữ phá thai vào năm 1975. Nhưng trước thời điểm hợp pháp hóa, mọi hình thức phá thai đều bị truy tố, kẻ vi phạm (kể cả người giúp phụ nữ phá thai) đều có nguy cơ bị kết án tù giam.

Khi chuyển thể tác phẩm ''L'Événement'' lên màn ảnh lớn, đạo diễn Audrey Diwan đã muốn dựa vào câu chuyện có thật của một nhà văn Pháp trưởng thành trong một xã hội còn có một cái nhìn hạn hẹp khắt khe đối với vai trò trong gia đình cũng như trong xã hội của người phụ nữ. Bộ phim kể lại câu chuyện của Anne, một nữ sinh viên khoa văn. Khi khám phá rằng cô đang mang bầu, Anne đứng trước một sự chọn lựa khó khăn : nghỉ học về quê để sinh con, hay là tìm cách phá thai nhưng phải giấu chuyện này để tránh cho gia đình bị liên lụy.

Phim dựa vào câu chuyện thật của một nhà văn Pháp

Hành trình đầy gian truân của Anne bắt đầu khi cô chọn con đường thứ hai, nhất là cô không phải là con nhà giàu, cho nên không thể nào rời Pháp sang nước ngoài một thời gian, tại những nơi mà phụ nữ muốn phá thai sẽ không bị truy tố… Đằng sau vấn đề này là cả một khối thành kiến xã hội đối với người phụ nữ. Bác sĩ, y tá, giáo sư, bạn học cùng trường, tất cả đều sợ và không muốn giúp đỡ cô sinh viên. Anne quyết định tự phá thai, trong lúc cô ở nhà một mình, cho dù điều đó hết sức rủi ro, Anne có nguy cơ mất mạng nếu bị xuất huyết quá nhiều, và cho dù có cầm được máu, thì nguy cơ bị sốc do nhiễm trùng toàn thân cũng rất cao.

Trong vai Anne, đạo diễn Audrey Diwan đã chọn nữ diễn viên người Pháp gốc Rumani Anamaria Vartolomei. Đây là vai diễn quan trọng đầu tiên với chiều sâu tâm lý khá phức tạp đối với một cô gái mới ngoài 20 tuổi, nhưng lối diễn xuất tự nhiên của cô đã được đa số các ngòi bút phê bình tại liên hoan Venise tán thưởng khen ngợi, cho đây là một trong những vai diễn đặc biệt gây ấn tượng trong kỳ liên hoan năm nay. Bản thân Anamaria cho biết là mãi đến khi đóng phim này, cô mới ý thức được rằng quyền phá thai vẫn còn khá mong manh. Trên thế giới, vẫn còn nhiều quốc gia hoàn toàn cấm phụ nữ làm chuyện đó.

Vào năm 41 tuổi, nữ đạo diễn người Pháp Audrey Diwan đã thực hiện cú đột phá ngoạn mục với bộ phim thứ nhì của mình. Trước khi đoạt giải Sư tử vàng tại liên hoan phim Venise, cô đã tham gia vào khá nhiều dự án làm phim, chủ yếu trong khâu viết kịch bản của các bộ phim thuộc thể loại trinh thám hình sự, chẳng hạn như phim "Bac Nord" của đạo diễn Cédric Jimenez đang được chiếu tại các rạp hát ở Pháp, kể lại câu chuyện của một đội cảnh sát điều tra tại vùng ngoại ô phía Bắc Marseille (2021). Ngoài ra còn có phim "La French" nói về các đường dây buôn ma túy cũng tại thành phố Marseille (2014).

Audrey Diwan đảm nhiệm khâu kịch bản trước khi chuyển qua nghề đạo diễn lần đầu tiên vào năm 2019, và từ cách viết kịch bản phim cô đã phát huy sở trường thắt nút sao cho phim thêm gay cấn, để rồi gỡ nút sao cho hợp tình hợp lý, thuyết phục dễ dàng đông đảo người xem.

Từ Cannes đến Venise : Ngày đăng quang của các nữ đạo diễn

Qua việc trao giải Sư tử vàng năm nay cho bộ phim ''L'Événement'', đạo diễn Hàn Quốc Bong Joon-ho, từng đoạt Cành cọ vàng với phim ''Parasite'' (Ký sinh trùng) một mặt đã muốn công nhận tài năng của Audrey Diwan, mặt khác ông muốn tránh một cuộc tranh luận không cần thiết liên quan tới những bộ phim hợp tác sản xuất với nền tảng trực tuyến Netflix. Mặc dù đã mở rộng sân chơi cho các bộ phim đến từ kênh phân phối này, tuy nhiên vào năm 2018, liên hoan Venise đã gây tranh cãi khi trao giải Sư tử vàng cho tác phẩm "Roma" của đạo diễn Alfonso Cuarón, một bộ phim được cho là có nhiều giá trị nhưng hầu như không được chiếu ở các rạp phim và chủ yếu chỉ được giới thiệu trên mạng phim Netflix.

Giải Sư tử vàng năm nay nếu như chưa phải là thời điểm lên ngôi của ''nữ quyền'', nhưng ít ra cho thấy các liên hoan phim quốc tế nói chung dành nhiều tình cảm ưu ái cho các nữ đạo diễn. Trong ngành điện ảnh, cho tới tận bây giờ, số phụ nữ nắm giữ những vai trò quan trọng vẫn là thiểu số.

Chỉ hai tháng sau khi liên hoan phim Cannes trao Cành cọ vàng cho bộ phim ''Titane'' của nữ đạo diễn trẻ tuổi người Pháp Julia Ducournau, đến phiên một bộ phim khác cũng của Pháp và cũng do một nữ đạo diễn thực hiện, giành lấy giải Sư tử vàng. Liệu xu hướng này sẽ có tiếp tục trong những năm tới hay không, điều này chưa ai dám quả quyết là đúng nhưng ít ra 2021 là một năm ''thượng hạng'', đánh đấu ngày công nhận các nữ đạo diễn như những gương mặt mới, đầy tài năng hứa hẹn sáng chói.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1649 Posted : Thursday, September 16, 2021 5:39:44 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

RFI - 16/09/2021

(AFP) – Omar Sy lọt vào danh sách 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Tạp chí Mỹ Time, số ra ngày 15/09/2021 chọn tài tử điện ảnh người da đen người Pháp Omar Sy. Anh được công chúng biết đến nhiều nhờ bộ phim nhiều tập Lupin chiếu trên Netflix. Omar Sy cũng là người Pháp duy nhất được Time bình chọn năm nay. Danh sách này bao gồm những tên tuổi như cây vợt nữ người Nhật, Naomi Osaka, nhà đối lập Nga Alexeï Navalny hay tổng thống Mỹ Joe Biden, nữ ca sĩ Mỹ Billie Eilish…

(Yonhap) – Song Joong Ki và Park So Dam sẽ điều khiển buổi khai mạc liên hoan phim Busan. Ngày 16/09/2021, ban tổ chức thông báo liên hoan phim quốc tế Busan – châu Á BIF lần thứ 26 sẽ khai mạc vào ngày 06/10/2021. Song Joong Ki nổi tiếng với những bộ phim dài nhiều tập được chiếu trên đài truyền hình như là « Descendants of the Sun » hay « Vincenzo ». Còn Park So Dam từng tham gia bộ phim Parasite của đạo diễn Bong Joon Ho, phim đoạt Cành Cọ Vàng liên hoan điện ảnh Cannes 2019.

(Yonhap) – Samsung ký hợp tác với bảo tàng Louvre Paris. Theo thỏa thuận ký ngày 16/09/2021, bất kỳ ai sở hữu vô tuyến Samsung The Frame có thể ngắm ít nhất 40 tác phẩm nghệ thuật lớn được trưng bày ở bảo tàng Louvre, Paris (Pháp), trong đó có La Joconde của danh họa Leonardo da Vinci, thông qua ứng dụng Art Store. Samsung phát triển ứng dụng này theo xu hướng ở nhà vì đại dịch Covid-19 và hiện có hơn 1.500 tác phẩm nghệ thuật của 600 nghệ sĩ từ 42 nước (bảo tàng Ermitage ở Saint-Petersburg (Nga), bảo tàng Prado ở Madrid (Tây Ban Nha).

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1650 Posted : Friday, September 17, 2021 10:49:05 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Marguerite Duras, văn chương của điều không viết ra

17/09/2021 - Sơn Ca / RFI
"Con ruồi đã chết ở đó lúc ba giờ hai mươi." Ta nghĩ gì về một con ruồi đã chết, chết ở đó, chết vào lúc ba giờ hai mươi? Trong cuốn Viết, Marguerite Duras kể, khi bà chỉ vào con ruồi vừa chết và nói như vậy với cô Michelle Porte, người đến làm phim tài liệu, cô đã cười ngặt nghẽo, dù bà mỉm cười mong chuyện ấy chấm dứt, nhưng cô vẫn cười.

Duras đã dành nhiều trang sách để mô tả lại tỉ mỉ và phân tích về cái chết của con ruồi mà bà đã chứng kiến. Đằng sau cái chết vô danh đó, nỗi đau cũng tương tự như cái chết của viên phi công trẻ người Anh trong chiến tranh, hay cái chết của hàng triệu người Do Thái trong thảm họa diệt chủng. Với Duras, cái chết của con ruồi mang tính tổng quát trên bản đồ chung của cuộc đời trên trái đất.

" Đó là một cuốn sách.

Là một bộ phim.

Là đêm tối.

Giọng nói ở đây là giọng, được viết ra, ở cuốn sách.

Giọng nói mù lòa.

Không diện mạo.

Trẻ măng.

Lặng lẽ."

Những câu văn trên trong tiểu thuyết Người tình Hoa Bắc của Duras nói lên điều gì? Là thơ, là văn, là kịch bản phim hay chỉ là những từ ngữ đơn lẻ xếp cạnh nhau vô nghĩa? Có gợi hình, có gợi cảm, có mang câu chuyện nào đằng sau đó chưa được viết ra không?

Ta, người đọc, đôi khi có thể sẽ giống cô Michelle Porte, ta chẳng cảm nhận gì, hoặc chỉ thấy đó là những câu chữ tầm phào. Nhưng Duras đã viết trong cuốn Viết: "Có một thứ văn chương của cái-không-viết-ra. Một ngày nào đó nó sẽ đến. Một thứ văn chương ngắn gọn, không ngữ pháp, một thứ văn chương chỉ toàn các từ. Những từ không có ngữ pháp làm nền tảng. Lạc lối. Đó, những tác phẩm."

Điều này giống như họa sĩ người Pháp Pierre Soulages viết: "Tôi đã xóa bỏ hết những đường nét tươi đẹp của phong cảnh, chỉ giữ lại những vùng đá khoáng sa mạc, sự bao la nơi những đàn gia súc và con người biến mất, đá trập trùng giữa đá." (1) Soulages không chỉ xóa bỏ những đường nét tươi đẹp của phong cảnh, ông bỏ đi toàn bộ những màu sắc khác, chỉ giữ lại màu đen. Cách mà Duras đặt những câu văn ngắn gọn, không ngữ pháp, nơi ta chỉ thấy bề mặt thô ráp của ngôn từ, cũng giống như Soulages, họa sĩ bậc thầy của màu đen và ánh sáng, đã vẽ bằng cách chỉ đặt những nét cọ màu đen nằm cạnh nhau.

Marguerite Duras và phong trào tiểu thuyết mới

Nhắc đến Marguerite Duras không thể không nhắc đến phong trào tiểu thuyết mới ở Pháp vào đầu những năm 1950 đến những năm 1970, là khuynh hướng tiên phong trong việc mở đường cho văn chương đến với điện ảnh. Tiểu thuyết mới đã phá bỏ lối kể chuyện truyền thống, nơi câu chuyện chỉ có một tuyến tính, một dòng chảy của thời gian, ngôi kể chuyện cố định, tên người và xuất xứ nhân vật rõ ràng. Alain Robbe-Grillet là người đầu tiên đưa ra khái niệm tiểu thuyết-điện ảnh, chú ý đến cái nhìn, chú trọng bút pháp miêu tả bằng ngòi bút-camera, đưa văn bản viết gần gũi hơn với các phân cảnh điện ảnh, các chương được phân chia thành các đoạn văn ngắn không theo trật tự thời gian, giống kỹ thuật dựng phim trong điện ảnh. (2)

Đập ngăn Thái Bình Dương, Người tình và Người tình Hoa Bắc của Duras đều có chung đề tài Đông Dương, đều có bi kịch liên quan đến mảnh đất ngập mặn ở Cam Bốt mà người mẹ bị lừa mua. Đập ngăn Thái Bình Dương được viết năm 1950, tuy vào đầu thời kỳ của phong trào tiểu thuyết mới, nhưng vẫn mang dáng dấp của lối kể chuyện truyền thống. Năm 1984, Duras viết tiểu thuyết Người tình, sau gần 30 năm kể từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên được bà viết theo phong trào tiểu thuyết mới là cuốn Le Square (1955), nghệ thuật viết của bà đã đi xa hơn rất nhiều so với những gì mà phong trào tiểu thuyết mới đã định nghĩa, giúp bà dành giải Goncourt với kỷ lục sách được bán ra là 1,63 triệu bản. Kỷ lục này vẫn đứng đầu danh sách tiểu thuyết đoạt giải Goncourt được bán ra nhiều nhất cho đến nay.

Ở những trang đầu của Người tình, Duras viết: "Tôi đã viết nhiều về những thành viên trong gia đình tôi, nhưng lúc bấy giờ họ đều còn sống, mẹ tôi và những người anh tôi. Và tôi đã đi vòng quanh họ, đi vòng quanh tất cả những điều này mà không thực sự nắm bắt lấy họ." Như vậy, Người tình đã đi sâu hơn, đã nhìn trực diện hơn, đã viết ra được nhiều hơn những điều không viết hoặc chưa thể viết ở những tiểu thuyết trước. Không đồng tình với đạo diễn Jean-Jacques Annaud trong việc chuyển thể tiểu thuyết thành phim, Duras đã viết lại Người tình theo lối thể nghiệm văn bản, vừa là tiểu thuyết văn học vừa là kịch bản phim. Năm 1991, tiểu thuyết Người tình Hoa Bắc đã được ra đời như thế. Tiểu thuyết sau không chỉ là sự tái cấu trúc về mặt phong cách so với tiểu thuyết trước, tác phẩm còn chứa đựng những điều mà Duras đã không viết ra ở tiểu thuyết trước.

Tiểu thuyết Người tình và Người tình Hoa Bắc

Người tình là một tiểu thuyết văn học chứa đựng nhiều ngôn ngữ điện ảnh như thể bản thân văn bản đã trở thành những thước phim giàu hình ảnh chạy qua tâm trí người đọc. Không gian, thời gian, ngôi kể chuyện, điểm nhìn của nhân vật được dịch chuyển tài tình, khiến cho mỗi trường đoạn nhỏ của tác phẩm giống như những mảnh mosaïque được Duras tỉ mỉ sáng tạo riêng biệt, rồi đặt chúng cạnh nhau trong trạng thái rất phiêu của cảm xúc, khiến chúng trở nên mềm mại, mơ hồ, không cần hiểu, không cần lý giải.

Nhịp điệu của sự dịch chuyển này ban đầu được kéo giãn ở những chương đầu của tiểu thuyết. Trường đoạn cô gái trên chiếc phà qua sông được viết theo dòng ý thức, khi suy nghĩ của nhân vật chảy như những nhánh sông nhỏ, lúc trải ra, lúc bện chặt lấy nhau, để rồi trở đi trở lại điểm mốc chính là khi cô đang đứng trên phà. Đồng thời, Duras đã dùng đồ vật để kể chuyện, dùng mũ, áo, giầy...để khéo léo hé lộ cho bạn đọc biết về hoàn cảnh gia đình và người mẹ.

Nhịp điệu dịch chuyển mỗi lúc một nhanh hơn, ở những chương gần cuối tác phẩm, các phân cảnh thay đổi liên tục, nhòe vào nhau, chồng chéo lên nhau. Một trường đoạn đẹp nơi hình ảnh đan xen vào nhau là cảnh xen kẽ chuyện tình của bà Lớn với một thanh niên ở Savana Khét, người trẻ hơn bà nhiều tuổi đã tự sát bằng một viên đạn, với chuyện tình của cô gái cùng chàng triệu phú người Tàu. Nhưng đẹp và xúc động hơn cả có lẽ là trường đoạn trong hành trình cô gái trên tàu về Pháp, nơi cô kể về một người thanh niên trẻ nhảy xuống đại dương tự vẫn trong đêm; rồi một đêm khác khi nghe tiếng nhạc Chopin vang lên dưới bầu trời được thắp sáng bởi những vì sao rực rỡ, cô đã định đứng lên với ý nghĩ sẽ gieo mình xuống biển cả; và bất chợt cô nghĩ về người tình Trung Hoa: "Nàng không chắc chắn rằng nàng đã không yêu chàng với một tình yêu nàng không nhìn thấy, bởi vì tình yêu đó đã đánh mất chính nó trong cuộc tình như nước trong cát."

Trong cả hai tiểu thuyết, Duras chỉ dùng tình yêu ấy làm nền để kể những câu chuyện khác. Người tình còn kể về tình yêu thương quá đà của mẹ cho người anh cả, mối quan hệ khắc nghiệt giữa cô gái và mẹ, tình yêu cùng huyết thống của cô với người anh thứ, phức cảm đồng tính của cô và cô bạn Hélène. Câu chuyện về mảnh đất bị ngập mặn ở Cam Bốt và sự bất nhân của người anh cả cũng là những tình tiết không thể bỏ qua. Cách kể chuyện của tiểu thuyết đi từ ngôi thứ nhất, sang ngôi thứ ba, sang ngôi người kể chuyện trung tính như trong kịch bản phim. Không gian trong tiểu thuyết còn được dịch chuyển sang Pháp ở giai đoạn sau khi gia đình đã rời Đông Dương còn thời gian luôn được đo bằng tuổi của cô bé.

Người tình Hoa Bắc đã hé lộ thêm những điều Duras chưa nói hết ở Người Tình, hoặc có thể, những điều viết thêm ra chỉ là tưởng tượng để bà có cơ hội được xoa dịu và nguôi ngoai đi những nỗi đau. Những điều viết thêm này như những cành cây trổ thêm nhánh, nơi xuất hiện thêm nhân vật Thanh và cộng thêm một tình yêu nữa của cô gái với nhân vật này. Không gian ở Pháp không được nhắc đến, thời gian chính xác bắt đầu câu chuyện vào năm 1930, nhưng những mối quan hệ tình cảm giữa các nhân vật trở nên chồng chéo và phức tạp hơn. Phức cảm đồng tính rõ hơn khi Hélène được xuất hiện nhiều hơn. Mảnh đất ngập mặn ở Cam Bốt và người anh cả cũng được đẩy ra làm phân cảnh chính, được đặt lên bàn để làm cuộc trao đổi về tiền bạc rõ ràng hơn. Cô gái, đã thực sự làm tình với người anh thứ của mình.

Người tình Hoa Bắc có thể như một sự thèm khát được giải đáp cho một câu hỏi, một niềm hy vọng hoặc một sự xoa dịu về tình mẫu tử giữa cô gái và mẹ. Đó là điểm quan trọng khác biệt nhất trong nội dung giữa hai tiểu thuyết. Ngay từ đầu, cô gái tha thiết hỏi mẹ tại sao mẹ lại yêu người anh cả như thế, mà chẳng bao giờ yêu cô và người anh thứ. Cô đã khóc về sự bất công khủng khiếp mà mẹ cô là nạn nhân trong sự lừa gạt của bọn người da trắng ở sở địa chính Pháp. Cô thương mẹ. Còn người mẹ cũng tỏ tình cảm với cô gái nhiều hơn qua lời nói, cử chỉ, hành động và đặc biệt bà đã quyết định tách rời người anh cả từ rất sớm để bảo vệ hai đứa con còn lại.

Trong những mối quan hệ yêu đương chằng chịt và những phức cảm nội tâm của nhân vật, ta có cần phải hiểu sâu xa đằng sau những mối quan hệ này thực chất ai yêu ai không? Hay những nhân vật Duras tạo ra chỉ là những ảo ảnh trong tâm trí bà được hắt lên tấm màn chiếu, như muốn viết ra những ẩn ức sâu xa của nhân vật trong tiểu thuyết hay của chính mình, đã phải chịu đựng những tác động và hậu quả từ bối cảnh sống, từ hiện thực.

Duras cho rằng, nỗi đau là thứ mà chúng ta không thể viết về nó một cách trọn vẹn nên khi không thể đi thẳng vào nó, người ta sẽ đi lòng vòng quanh nó. Các nhân vật cũng vậy, những cái tôi bị tổn thương và bị đè nén sẽ trổ những nhánh cây khác tạo nên những phức cảm nội tâm. Vì thế, tình yêu, nỗi đau, niềm khao khát thường được ẩn sâu hơn bên dưới lớp vỏ của ngôn từ. Đằng sau nỗi đau và thân phận con người, là hiện thực, chính là hiện thực mà Duras muốn nói đến.

Kết

Duras viết trong tác phẩm Viết:

"Văn chương, nó đến như cơn gió, nó trần trụi, nó là mực viết, nó là điều được viết ra, và nó trôi qua như không có bất kỳ điều gì khác trôi qua trong đời, không gì hơn, ngoài nó, cuộc sống."

Những điều ta thấy qua văn chương là những điều được viết ra, những điều có thể kể lại, và kể đi kể lại một câu chuyện, bằng nhiều cách khác nhau, thêm vào, bớt đi, trực diện hoặc né tránh, kể thật hoặc tưởng tượng, hoặc hoang tưởng, hoặc phân tách thành nhiều cái tôi trong vô thức, trong chấn thương, trong ẩn ức bị kìm nén. Còn trong cuộc đời, những nỗi đau câm lặng mà con người phải chịu đựng, đôi khi là những điều không được viết ra, hoặc không thể viết ra. Chính điều đó, một lần nữa Duras khẳng định trong tác phẩm Viết: "Viết văn cũng là không nói năng gì, là im miệng, là gào thét không thành tiếng". Điều này đã làm nên văn chương của điều không viết ra. Cô đơn, để rồi viết. Viết trong cô đơn. Viết nhưng không thể nói hết. Cô đơn, càng cô đơn sau khi viết, và vì thế nhà văn viết, viết mãi.

Chú thích:

(1) Pierre Soulages, Những phát ngôn về nghệ thuật. Fage éditions 2017.

(2) Khuynh hướng tiểu thuyết - Điện ảnh trong Văn học Pháp thế kỉ XX, Trần Hinh.

https://bitly.com.vn/c6bn5c

Những câu văn, đoạn văn in nghiêng trong bài được trích từ các tác phẩm:

Viết, Marguerite Duras, Trần Văn Công dịch. Nhã Nam và NXB Văn học năm 2010.

Người tình, Marguerite Duras, Lê Ngọc Mai dịch, Nhã Nam và NXB Văn học năm 2007.

Người tình Hoa Bắc, Marguerite Duras, Lê Hồng Sâm dịch, Bách Việt và NXB Văn Học, năm 1991.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1651 Posted : Saturday, September 18, 2021 6:31:45 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

ABBA - Hành trình âm nhạc sau bốn thập niên

18/09/2021 - Gia Trình / RFI
Ban nhạc huyền thoại Thụy Điển, ABBA chính thức tái xuất trở lại sau 40 năm vắng bóng. Sức hút của Dancing Queen hay Mamma Mia vẫn là thỏi nam châm khổng lồ với khán giả hâm mộ. Album mới nhất có tên Voyage (Hành trình) sẽ trình làng vào tháng 11/2021, đồng thời, ABBA sẽ có buổi biểu diễn trực tiếp tháng 05/2022 tại Luân Đôn nhờ sự hỗ trợ tối tân của công nghệ.

Cỗ máy sản xuất những bản hit

ABBA hội tụ được nhiều điểm ưu việt mà hiếm có ban nhạc nào lập lại được kỳ tích như vậy. Thành lập từ năm 1972, bộ tứ làm rạng danh đất nước Thụy điển nhờ vào các sáng tác bằng tiếng Anh. Năm 1974, bản hit Waterloo giành chiến thắng cao nhất trên sân chơi âm nhạc Eurovision. Cú đột phá này mở ra cánh cửa danh vọng trên bình diện toàn cầu. Họ đóng góp cho kho tài nguyên âm nhạc bằng vô vàn ca khúc đi theo năm tháng. Trong thập kỷ 1970, sáu trong 7 bản hit của họ leo lên vị trí số 1 tại Bảng xếp hạng Anh Quốc gồm có Fernando, Mamma Mia, Dancing Queen, Knowing me Knowing you, Take a chance on Me. Ngoài các ca khúc nổi tiếng kể trên, nhóm còn có tới ba ca khúc đạt hạng 1 và hơn 19 ca khúc trong top 10 ca khúc được ưa thích.

Không chỉ âm nhạc, ban nhạc còn gây sự chú ý bởi hai cặp đôi: Lyngstad và Andersson, Faltskog và Ulvaeus. Đội hình cân bằng 2 nam, 2 nữ tạo nên sự khác biệt so với các ban nhạc nam giới lúc đó. Khá thú vị, Faltskog và Ulvaeus kết hôn vào năm 1971 cùng năm với cặp đôi Lyngstad và Andersson trao nhẫn đính hôn. Bất ngờ hơn, sau hơn 10 năm, cả hai cặp đôi cùng tuyên bố ly dị năm 1981. Bất chấp mâu thuẫn tình cảm, xung đột cá nhân, họ vẫn chung tay làm nên album cuối cùng năm 1981. Đáng chú ý là bản hít xuất sắc The Winner Takes It All (Người chiến thắng lấy đi tất cả) phơi bày được những trúc trắc tâm lý, cay đắng, cướp đi hàng triệu con tim khán giả. Ban nhạc chính thức tan rã vào năm 1983 mà không có tuyên bố chính thức.

Ảnh hưởng của ABBA tới các ban nhạc thời kỳ 1990-2000 vô cùng sâu sắc, đặc biệt như nhóm nhạc đồng hương Roxette. Giai điệu đẹp và cuốn hút luôn là kim chỉ nam cho những sáng tác của ABBA. Các bài hát của họ đều khác biệt và không nhàm chán nhờ lối hát bè ăn ý và phần phối khí bắt tai. Đặc biệt, hai thành viên nữ của nhóm tỏa sáng trên sân khấu và hai người bạn đời của họ lại chọn công việc “bếp núc” chuyên tâm sáng tác, phối khí. Ít người biết rằng, Ulvaeus và Andersson vẫn cùng hợp tác viết nhạc sau khi nhóm tan rã. Họ đã làm nên thành công của vở nhạc kịch Chess (Ván cờ) nhờ bản hit đình đám I know him so well (Tôi hiểu anh ấy quá rõ). Nếu thiếu bộ đôi Ulvaeus và Andersson, kho nhạc đồ sộ ABBA sẽ kém trọn vẹn.

Tin đồn tái hợp

Kể từ sau khi tan rã đến trước khi ra mắt Voyage, luôn có những tin đồn thất thiệt về việc ban nhạc sẽ tái hợp. Năm 2014, trả lời báo giới, Lyngstad từng nói “Chúng tôi chỉ có một câu trả lời là : Không. Tiền không thể khiến chúng tôi đổi ý. Có thể chúng tôi thỉnh thoảng nói rằng sẽ khá thú vị nếu hợp tác với nhau một ca khúc. Chỉ thu âm thôi và không có gì khác”.Hai năm sau, năm 2016, họ cùng chia lửa sân khấu để kỷ niệm 50 năm sự nghiệp sáng tác của Andersson và Ulvaeus. Ca khúc có tựa đề The Way Old Friends Do (Cách những người bạn tri kỷ thường làm) được chọn để trình diễn.

Bộ tứ Thụy Điển vẫn là bạn bè tri kỷ, ngay cả khi không còn là vợ chồng. Ulveus nói rằng “Thật khó tin chúng tôi có thể ở bên nhau. Không thể tưởng tượng được! Sau hơn 40 năm, chúng tôi vẫn là bạn bè thân thiết, ra mắt album nhạc mới. Liệu ai có thể trải nghiệm điều đó? ” Có lẽ không phải vì túng thiếu tiền mà là họ muốn lưu giữ kỷ niệm tình bạn đẹp nhất trên sân khấu và ngoài đời. Ông đã nói một lý do khiến người hâm mộ không khỏi ngỡ ngàng và xúc động: “Tại sao lại làm chung dự án này ư? Chúng tôi muốn hợp tác trước khi nhắm mắt lìa xa”.

Lý do tái hợp này càng thắp lửa mong mỏi của người hâm mộ bấy lâu nay. ABBA luôn đồng nghĩa là ký ức âm nhạc đẹp đẽ. Giá trị cốt lõi của nhóm chính là âm nhạc đẹp, tinh túy. Họ dành cho nhau những lời có cánh về thành quả hợp tác này. Andersson không chút do dự khi được hỏi về điều tuyệt vời nhất khi là thành viên ABBA: “Bạn chẳng bao giờ lo lắng về tiền bạc. Bạn hoàn toàn tự do làm thứ bạn muốn, chuyên tâm vào sáng tác nhạc”. Lyngstad, giọng nữ chính bộc bạch: “Chúng tôi hạnh phúc vì những gì mình làm, Andersson và Ulvaeus là những nhạc sỹ thiên tài”.

Họ sẽ biểu diễn live tại Luân Đôn (Anh Quốc) vào tháng 05/2022 để quảng bá cho album mới nhất Voyage. Tại sao không phải là Paris kinh đô ánh sáng hay thành phố châu Âu khác? Ulvaeus trả lời rằng “Khi nhắc đến giải trí, âm nhạc, nhà hát, Luân Đôn luôn là vị trí hàng đầu. Chúng tôi luôn cảm nhận rằng người Anh chào đón chúng tôi nồng nhiệt nhất”.

Quả thực nước Anh chưa bao giờ hết yêu mến ABBA. Tuyển tập các bản hit ABBA Gold ra mắt năm 1992 nắm giữ kỷ lục 1.000 tuần trên bảng xếp hạng âm nhạc xứ sở sương mù. Vở nhạc kịch Mamma Mia xây dựng trên nền nhạc ABBA được công chiếu lần đầu tại Anh năm 1999, giờ vẫn là show diễn ăn khách. Sức hấp dẫn của nhạc kịch Mamma Mia còn lan tỏa sang phim cùng tên Hollywood tạo nên cơn sốt phòng vé khắp toàn cầu.

Hành trình âm nhạc và kỹ xảo hiện đại

ABBA sớm tung ra 2 đĩa đơn đầu tiên trích từ album mới. Ca khúc I still have faith in you (Em vẫn đặt niềm tin ở anh) là một bản ballad có giai điệu vô cùng tươi sáng. Bài hát có tempo chậm rãi và thông điệp tình yêu rất truyền cảm. Bên cạnh đó, ca khúc Don’t shut me down (Đừng ngăn cản em) có tiết tấu nhanh hơn, khỏe khoắn hơn. So với bốn thập niên trước, yếu tố tuổi tác phản ánh rất rõ trên khuôn mặt, giọng ca và khả năng trình diễn của họ. Nhưng thời gian không làm suy xuyển được nhạc cảm và giai điệu chuẩn mực kiểu ABBA. Thú vị hơn, ban nhạc bật mí rằng trong album mới ra mắt tháng 11, sẽ kèm theo một ca khúc Giáng sinh.

Khi bước sang tuổi 80, họ phải biểu diễn trước hơn 3.000 khán giả với thể lực giảm sút hơn so với 40 năm trước. Yếu tố công nghệ sẽ giúp ích rất nhiều trong các buổi trình diễn trực tiếp giữa năm sau. Phiên bản digital điện tử của ABBA được sử dụng công nghệ lưu trữ chuyển động như kỹ xảo Hollywood. Các thành viên mặc bộ quần áo bó sát để ghi hình chuyển động. Công ty kỹ xảo phim ảnh của George Lucas sẽ chế tác ra avatar trẻ hóa của nhóm trong đoạn video. Công nghệ này khác hẳn với hologram, không sử dụng video clip cũ để tạo phiên bản ảo biểu diễn trên sân khấu. Thành viên của nhôm Anderson nói rằng “Nhờ sự trợ giúp phiên bản ABBA được trẻ hóa, chúng ta sẽ cùng du hành vào tương lai”. Giờ đây, ABBA không chỉ là ký ức âm nhạc đẹp nhất, mà là hành trình xuyên thời gian của âm nhạc đỉnh cao.

(Theo Guardian, AllMusic)



Vì sao trang phục ban nhạc ABBA lại kỳ quặc đến như vậy ?

11/03/2014 - Đức Tâm / RFI
Nếu ABBA là một ban nhạc huyền thoại đi vào lịch sử âm nhạc, với những bài hát lừng danh thế giới, như Mamma Mia, Dancing Queen, Waerloo…thì trang phục trên sân khấu của nhóm này, theo giới chuyên gia thời trang, cũng nổi tiếng không kém vì quá lòe loẹt, phô trương, chẳng giống ai.

Nhân kỷ niệm bốn mươi năm sau khi đoạt giải ở cuộc tranh tài Eurovision, ABBA cho ra mắt cuốn album ảnh « Super Trouper’ collector’s edition of ABBA – The Official Photo Book ». Trên nhật báo Daily Mail, ngày 15/02/2014, nhóm này mới tiết lộ thông tin vì sao bốn thành viên lại ăn mặc kỳ quặc như vậy : Đó là để phải trả ít thuế hơn.

Bởi vì hệ thống thuế Thụy Điển cho phép trừ chi phí trang phục nghề nghiệp trong tổng thu nhập phải khai để tính mức thuế, với điều kiện là những trang phục này rất đặc biệt, khác lạ, đến mức không thể mặc để ra ngoài đường, trong các sinh hoạt hàng ngày. Chính vì thế, ABBA đã cho may những bộ trang phục biểu diễn kỳ cục như vậy.

Khoản tiền tiết kiệm được này quả là quá ít ỏi so với mức thu nhập có được qua việc bán tới 380 triệu đĩa hát trên thế giới của nhóm ABBA.

Chính Björn Ulvaeus, người chơi đàn ghi ta trong nhóm thừa nhận : « Không một ai có thể mặc biểu diễn trên sân khấu xấu hơn chúng tôi vào thời đó. Theo thiển ý của tôi, vào thời đó, chúng tôi có vẻ điên khùng ». Vẫn theo lời ca sĩ này, « chúng tôi đã nghĩ rằng với trang phục như vậy, mọi người sẽ nhớ đến chúng tôi ».

Dường như chuyện thuế khóa ám ảnh nhóm ABBA. Báo Pháp Le Parisien cho biết, năm 2007, Björn Ulvaeus đã bị cáo buộc không nộp 85 triệu couronne, tương đương 9,7 triệu euro, tiền thuế, sau những vụ trốn thuế liên tiếp trong giai đoạn 1999 – 2005. Cuối cùng, tư pháp Thụy Điển cũng tha bổng ca sĩ này.

Tạp chí L’Express cho biết là các quy định về thuế liên quan đến trang phục nghề nghiệp vẫn có hiệu lực tại Thụy Điển. Cuối năm 2013, nhà văn chuyên viết tiểu thuyết trinh thám Camilla Läckberg đã bị truy thu thuế. Bởi vì, bà đã mua quần áo trong các cửa hiệu thời trang Zara, nhưng lại khai đó là tiền mua trang phục nghề nghiệp.

Về album ảnh The Official Photo Book của ABBA, tập ảnh được thực hiện với sự hợp tác của cả bốn thành viên ban nhạc là Björn, Benny, Frida và Agnetha, được phát hành vào tháng 03/2014 tại hơn 20 quốc gia, để kỷ niệm 40 năm nhóm ABBA giành được giải Eurovision. Album được phát hành hạn chế, chỉ có 5000 bản, được đánh số, có 460 trang với hơn 600 bức ảnh, trong đó có khoảng 100 bức chưa từng được công bố.

Ca sĩ Frida cho biết cô thích tất cả những tấm ảnh và có một số ảnh lần đầu tiên cô nhìn thấy.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1652 Posted : Sunday, September 19, 2021 10:02:44 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

“Kẻ trộm siêu thị” : Điều làm nên một gia đình

19/09/2021 - Lệ Thu / RFI
Xin được mượn một câu thoại trong phim để mở đầu bài viết này: “Thường thì không ai được chọn bố mẹ. Nhưng khi được chọn thì sẽ khăng khít hơn, phải không?” Đó là lời nói của nữ chính trong bộ phim “Kẻ trộm siêu thị” (Shoplifters) của đạo diễn người Nhật Kore-eda Hirokazu. Vị đạo diễn này được mệnh danh là “thỏi nam châm hút giải thưởng” bởi phần lớn các tác phẩm của ông đều làm mưa làm gió tại các liên hoan phim ở Nhật cũng như trên thế giới.

“Kẻ trộm siêu thị” không phải là một ngoại lệ khi một mình ẵm hàng chục giải từ Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản, cho tới giải César cho “phim nước ngoài hay nhất” và vị trí cao quý nhất tại Liên hoan phim Cannes - giải Cành Cọ Vàng cho hạng mục “Phim hay nhất” năm 2018.

Trong hầu hết các tác phẩm của mình, Kore-eda Hirokazu đều đề cập tới đề tài gia đình với câu hỏi lớn “Điều gì làm nên một gia đình?”. Ở đó, mỗi bộ phim là một góc nhìn - một câu trả lời khác nhau, mang những ý nghĩa khác nhau, và dù có khác đến mức nào thì tất cả cùng phản ánh chính xác sự tồn tại thực sự của con người. Cộng đồng nhỏ bé gồm 6 thành viên trong “Kẻ trộm siêu thị” là lớp người nghèo khó, gần như sống cô lập với xã hội. Họ có những cuộc đời bị xô đẩy vào ngõ cụt, bất hạnh dồn dập… nhưng có vẻ trong cuộc sống ngày nay, những điều này đã quá nhiều đến nỗi người ta dường như trở nên vô cảm với chúng.

Là một bộ phim thuộc thể loại chính kịch gia đình, “Kẻ trộm siêu thị” toát lên trong nó những âm hưởng thật bình dị nhưng đầy cay đắng, khiến cho nhiều người xem đã phải thốt lên rằng “Tôi muốn khóc mà lại không thể, muốn gào thét nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu”.

Truyện phim kể về một gia đình sống bằng nhiều nghề, nhưng nghề chính là ăn cắp đồ dùng trong các cửa hàng tiện lợi bởi cuộc sống của họ quá nghèo khổ và khó khăn. Đó là Osamu Shibata và vợ là Nobuyo, bà Ngoại và Aki - cháu gái của bà, cậu bé Shota - con nuôi của vợ chồng Osamu và cô gái nhỏ Yuri - đứa bé được nhặt từ ngoài đường về.

Điều gì làm nên một gia đình?

Liệu đó có phải là cuộc sống với vật chất dư thừa như gia đình Aki, cháu của bà Ngoại - mà thật ra bà là vợ cả của ông nội Aki, họ không hề có cùng chung huyết thống? Nếu tiền bạc làm nên Gia đình thì sao Aki bỏ đi, tới sống với bà trong căn nhà lụp xụp chật hẹp tồi tàn thiếu thốn cùng những con người xa lạ? Ba mẹ cô có đủ gắn kết với cô không khi mà cô vẫn sống ở cùng thành phố còn họ lại nghĩ cô đang du học ở Úc châu?

Liệu đó có phải là những người cùng chung máu mủ dưới một mái nhà tươm tất như gia đình của cô bé Yuri mới 5 tuổi với đầy những vết sẹo chi chít trên cơ thể và những lời chửi bới thậm tệ từ chính cha mẹ ruột của mình?

Hay, cái làm nên gia đình chính là một nhóm người nghèo khổ gần như tận đáy xã hội nương tựa và ràng buộc với nhau bởi những lý do đầy uẩn khúc? Là một Osamu làm việc ngắn hạn ở công trường xây dựng. Là Nobuyo làm công nhân trong một xưởng giặt là. Là Aki trẻ người non dạ bị hấp dẫn bởi nghề múa khiêu dâm. Là bà Ngoại già móm mém ưa chơi game, chuyên gia vòi tiền từ con trai của vợ hai của chồng. Là cậu bé Shota tuổi teen vô tư tin rằng “chỉ những đứa trẻ không thể tự học thì mới phải đến trường” và ăn cắp trong siêu thị là vô tội vì “đồ trong siêu thị thì chẳng phải là đồ của ai cả”.

Chỉ trong gần 9 phút đầu tiên, đạo diễn, đồng thời là tác giả kịch bản Kore-eda đã phơi bày tất cả không giấu diếm hoàn cảnh của cái gia đình kì lạ này. Phim mở ra là trò ăn cắp trong siêu thị của hai chú cháu Osamu và Shota. Trên đường trở về, họ bắt gặp cô bé Yuri ngồi ngoài hiên nhà giữa lúc trời bắt đầu chuyển lạnh. Cả hai nghĩ rằng không có người lớn ở nhà nên đã đưa Yuri về. Nobuyo nhất định không đồng ý giữ con bé lại vì lo sợ người ta sẽ nghi họ bắt cóc nó.

Sau khi cho con bé ăn no, hai vợ chồng người cõng người bế Yuri mang trả lại cho cha mẹ bé. Nhưng, họ đã dừng khựng ngay bên ngoài cánh cửa. Cha mẹ Yuri đang đánh nhau, người mẹ hét toáng lên rằng chính cô ta cũng không muốn sinh ra con bé. Không chỉ những lời nói ấy, mà cả những vết sẹo trên thân thể Yuri khiến Nobuyo đau lòng. Là một người vợ mang nỗi đau không thể có con, Nobuyo quyết định giữ Yuri lại, đổi tên cô bé là Lai, coi nó như một thành viên mới.

Thế là, gia đình họ là nơi mà tất cả mọi người chẳng ai có huyết thống với ai, nơi mà bữa ăn hàng ngày được coi như một chiến lợi phẩm, nơi mà họ cùng ăn, cùng ngủ, cùng sinh hoạt trong khoảng vài mét vuông nhưng lại có vẻ không hề thiếu thốn sự sẻ chia.

Yêu thương hiện hữu

Tất cả được xây dựng một cách chân thực và rất Đời, đúng như phong cách của tác giả, là để phản ánh chính xác sự tồn tại của con người. Những người lớn trong gia đình chắp vá ấy có thể là người tốt nhưng không Đẹp như những thiên thần có cánh. Họ vẫn có những phần ti tiện bị tạo ra bởi cái Nghèo. Bao nhiêu chi tiết là bấy nhiêu xúc cảm khán giả cảm nhận, vừa giận, vừa thương, vừa cảm thông thấu hiểu, lại vừa ước giá mà có ai đó giúp đỡ họ hoặc họ sẽ làm khác đi.

Ấy là Aki thích thú với nghề múa khiêu dâm dù cô không hề thiếu thốn về mặt tiền bạc; cô còn tự giữ tiền cho mình, thi thoảng hai bà cháu đi ăn riêng những món ngon. Là lúc bà Ngoại mất vì tuổi già, vợ chồng Osamu đau buồn vì sự ra đi của bà nhưng vẫn hí hửng khi tìm được chỗ tiền bà cất giấu riêng. Là lúc Shota phải nằm viện, có nguy cơ bị cảnh sát phát hiện, họ vẫn cùng nhau bỏ trốn và bỏ rơi cậu bé. Là Osamu quyết định thêm nghề đập cửa kính ô tô để ăn cắp đồ…

Họ rõ ràng là những kẻ vẫn đầy Tham - Sân - Si theo những lẽ riêng nhưng lại dành cho nhau sự yêu thương kì lạ mà ở trong những gia đình đầy đủ vật chất và chung dòng máu có lẽ ít khi hiện hữu. Thì ra, Shota là do hai vợ chồng Osamu nhặt được trước một tiệm chơi game, trong một chiếc xe ô tô mà chắc hẳn ai đó mải chơi đã quên mất cậu. Bao năm nuôi dưỡng thằng bé, cả hai chỉ mong cậu gọi một tiếng “Cha mẹ” nhưng Shota liên tục nói rằng chưa đến lúc.

Chính vì cái khát khao ấy, bằng cả tình yêu của một người Mẹ, Nobuyo đã dành trọn sự quan tâm cho Yuri. Cái ngày mà cả nhà giữ con bé lại, Aki cắt tóc cho Yuri còn Nobuyo thì mang bộ đồ cũ của con bé ra đốt. Xung quanh là cả gia đình, Nobuyo ôm Yuri vào lòng, thì thào vào tai con rằng “họ đánh con không phải vì con hư. Nếu họ yêu con thì đây là điều họ phải làm”. Rồi cô ôm con bé chặt hơn, hôn hít nó, khiến nó cũng ôm lấy cô, vuốt bàn tay bé nhỏ lên má cô, lau đi những giọt nước mắt không rõ là đau buồn hay hạnh phúc.

Càng về cuối phim, câu chuyện càng lúc càng được đẩy lên cao trào bằng sự “tỉnh ngộ” của cậu bé Shota trước hàng loạt những hành động mà cậu coi là không chuẩn mực của vợ chồng Osamu. Và cú sốc lớn nhất với Shota, dấy lên sự ân hận trong lòng cậu là khi cậu thấy một cửa hàng mà mình hay ăn cắp phải đóng cửa.

Chưa hết, giọt nước làm tràn ly chính là lúc cô bé Yuri đi theo anh vào một cửa hàng nhỏ và bắt đầu ăn cắp đồ. Shota muốn ngăn cản em. Rõ ràng mọi thứ đã đi quá sức chịu đựng của cậu bé và việc cậu cố tình để bị bắt chỉ như một việc hiển nhiên.

Tất cả vỡ òa, bao nhiêu bí mật của vợ chồng Osamu được tiết lộ, trong đó, có cả tội giết người. Thì ra trước đây, hai người đã cùng nhau giết và chôn xác của chồng cũ của Nobuyo vì hắn hành hạ cô. Nobuyo nhận tất cả lỗi về mình để Osamu không phải ở tù. Shota được nhận vào một nhà tình thương, được đi học. Còn bé Yuri thì trở về với cha mẹ của mình.

Nghe thì có vẻ như kẻ ác đã phải đền tội. Nhưng… nếu ai vẫn ngồi xem tới đoạn này của phim, thì hãy nán lại thêm chút nữa… Chỉ một chút nữa thôi… Sau hai tiếng đồng hồ vừa trải qua… ta sẽ thấy Shota thú nhận với Osamu rằng cậu đã cố tình để bị bắt, rồi cậu ngồi trên xe bus trở về nhà tình thương… thì Osamu chạy theo, liên tục gọi “Con”… Và ngay giây phút ấy… Shota đã nghẹn ngào lẩm bẩm từ “Cha” trong nước mắt.

Cũng chỉ một chút nữa thôi… chúng ta sẽ thấy cô bé Yuri sau khi được về với cha mẹ ruột thì lại lẩn thẩn chơi một mình ở hành lang bên ngoài căn nhà, không được ai chú ý, hát bài đồng dao mà cả gia đình không máu mủ kia đã từng hát với cô bé, chơi những viên bi mà anh Shota cho và chới với đứng lên ngó qua hàng rào… Một nhà tù vô hình… Một sự độc ác sẽ không bao giờ phải đền tội. Vậy ai? Ai là kẻ có lỗi trong tất cả những chuyện này?

“Kẻ trộm siêu thị” với thủ pháp chậm rãi, góc máy tĩnh, lối kể chuyện dung dị, nhẹ nhàng, đưa đẩy cảm xúc của người xem, từ rung động, bật cười dí dỏm tới chua xót, sâu cay… đơn giản chỉ để chúng ta tự đặt ra câu hỏi “Điều gì làm nên một gia đình?”. Chắc hẳn chúng ta đều đã có câu trả lời của riêng mình.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1653 Posted : Tuesday, September 21, 2021 12:14:40 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

New York mở lại sân khấu nhạc kịch Broadway

20/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Sau hơn 18 tháng đóng cửa, rốt cuộc sân khấu nhạc kịch Broadway đã được mở lại hôm 14/09/2021 tại Manhattan, New York, Mỹ. Trong những ngày đầu tiên, các nhà hát xung quanh quảng trường Times Square đã chật kín chỗ ngồi. Còn khán giả nào chưa có vé thì vẫn chịu khó đứng xếp hàng nhiều tiếng đồng hồ để mua vé đi xem nhạc kịch, thường là các vở diễn trong ngày hay hôm sau.

Theo ghi nhận của tạp chí chuyên ngành kịch nghệ Playbill, kể từ khi mở cửa đón khán giả trở lại, các vở kịch như ''Chicago'', ''Vua sư tử'' hay ''Aladdin và cây đèn thần'' đều đã bán sạch vé trong ba ngày đầu tiên. Nhưng vở nhạc kịch ăn khách nhất vẫn là vở ''Hamilton'', kể lại cuộc đời của Alexander Hamilton, xuất thân là một cậu bé mồ côi di cư, lớn lên làm trợ lý cho sĩ quan chỉ huy George Washington, sau này trở thành vị tổng thống Mỹ đầu tiên (1789-1797). Sau thời kỳ ''nội chiến'', ông Hamilton hành nghề luật sư và có công trong quá trình lập quốc Hoa Kỳ.

Hamilton, Aladdin, Chicago : Các vở kịch nổi tiếng đều hết chỗ

Vở nhạc kịch ''Hamilton'' được diễn tại nhà hát Richard Rodgers, nằm ngay bên cạnh khách sạn Marriott Marquis và kể từ hôm 14/09, mặt tiền của nhà hát vào mỗi suất diễn đều có đông người tụ tập. Cảnh tượng chen chúc đó đã hoàn toàn thiếu vắng trong vòng một năm rưỡi do đại địch Covid-19, khi các nhà hát kịch Broadway dọc con đường số 46th ít còn lên đèn vào mỗi buổi tối, phố xá trung tâm Manhattan càng vắng lặng khiến khung cảnh tiêu điều hơn ngay cả vào những ngày cuối tuần.

Với việc mở lại sân khấu nhạc kịch Broadway, thành phố đã New York đã thực hiện bước đột phá ngoạn mục trong việc nối lại với đời sống văn hóa, cho dù cơ hội phục hồi vẫn còn khá mong manh trước mối đe dọa của biến thể Delta. Dù vậy, đa số người dân Manhattan cảm thấy ấm lòng khi được nhìn lại các sinh hoạt thân quen thường ngày, sau các viện bảo tàng và rạp chiếu phim, nay đến lượt các nhà hát và các rạp kịch thu hút đông đảo khán giả trở lại, ít ra đám đông đứng xếp hàng chờ nhà hát mở cửa đủ để che kín vỉa hè Broadway, giữa lòng thành phố New York.

Theo đánh giá của mạng thông tin Broadway Shows, thật là một tin vui khi có khá nhiều vở nhạc kịch đã không còn vé để bán trong những ngày đầu, do đa số khán giả đã mua vé từ lâu, hy vọng rằng tình trạng đắt khách này sẽ tiếp tục kéo dài, chứ không phải là nhất thời, do ngành sân khấu Broadway nói riêng, ngành văn hóa ở Mỹ nói chung đã hứng chịu khá nhiều thiệt thòi. Thiệt hại kinh tế được ước tính đến hàng tỷ đô la.

Sân khấu Broadway mất 2,4 tỷ đô la sau 18 tháng đóng cửa

Hội đồng thành phố New York cũng thở phào nhẹ nhõm khi nhận thấy việc mở lại các nhà hát xung quanh phố Broadway đã diễn ra một cách tốt đẹp, đúng theo lịch trình ấn định từ hồi mùa xuân năm 2021. Sân khấu nhạc kịch cùng với các nhà hát lớn của thành phố là mảng sinh hoạt văn hóa cuối cùng được mở lại, chỉ một ngày sau khi Viện bảo tàng Metropolitan tổ chức thành công đêm dạ hội Met Gala nhằm gây quỹ từ thiện thường niên.

Đêm Met Gala đã quy tụ hàng trăm nhân vật tên tuổi trong làng thời trang, ca nhạc, điện ảnh, bước lên thềm đá trắng trong muôn ngàn kiểu áo dạ hội lấp lánh sắc vàng, rực rỡ hào quang. Thành công của buổi dạ hội sẽ mở đầu cho một loạt sự kiện quan trọng khác, mà thành phố New York rất cần để thu hút khách du lịch quốc tế trở lại, sau một thời gian khá dài buộc phải hạn chế việc đi lại.

Việc mở lại đa số các sinh hoạt văn hóa chỉ có thể được tiến hành với việc tôn trọng các quy định giãn cách xã hội cũng như về mặt chích ngừa. Tất cả các khán giả muốn vào xem nhạc kịch đều phải trình giấy chứng nhận tiêm chủng, cũng như toàn bộ giới nhân viên (kể cả những người không có tiếp xúc trực tiếp với công chúng), từ nghệ sĩ, chuyên viên kỹ thuật, hay nhân viên quầy vé đều phải chích ngừa nếu muốn làm việc trở lại. Khán giả cũng buộc phải đeo khẩu trang trong suốt buổi diễn và ngay cả trong giờ ''giải lao'', nếu buổi diễn kéo dài hơn hai tiếng rưỡi đồng hồ.

Trong suốt mùa Covid-19, ngành sân khấu nhạc kịch Broadway đã mất khoảng 2,4 tỷ đô la doanh thu. Vào năm 2019, tính trung bình, các nhà hát Broadway thu về 33 triệu đô la mỗi tuần. Tựa như một lá phổi kinh tế, sân khấu Broadway chẳng những tạo nhiều việc làm, mà còn là nguồn thu hút du khách từ khắp nơi đổ về, đem lại lợi nhuận cho các ngành phục vụ như chuyên chở, ẩm thực hay lưu trú.

Vì thế, đà phục hồi từng bước của New York rất quan trọng, cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa. Cho tới giờ, Manhattan vẫn còn thiếu rất nhiều khách du lịch nước ngoài, tương đương với 2/3 số khán giả đi xem nhạc kịch Broadway. Nguồn khách quốc tế này lệ thuộc nhiều vào việc tái lập các tuyến hàng không dân dụng, và hiện thời du khách Pháp nói riêng và du khách châu Âu vẫn chưa được quyền đặt chân trở lại nước Mỹ.

Những dấu hiệu đáng mừng cho đà phục hồi của Broadway

Dù vậy, các nhà sản xuất vẫn giữ niềm lạc quan, vì kể từ mùa xuân năm 2021, hội đồng thành phố New York đã đầu tư vào các chiến dịch vận động thông tin hầu thu hút thêm nguồn khách nội địa đến New York. Theo mạng thông tin Broadway Shows, có hai dấu hiệu cho thấy du khách nội địa đang gia tăng.

Khi nhìn vào mã bưu chính của những người đặt mua vé đi xem nhạc kịch trên mạng internet, hơn một nửa số khán giả đến từ các bang dọc Đại Tây dương, tức bờ Đông Hoa Kỳ. So với năm 2019, trước khi có dịch Covid-19, lượng khán giả đến từ các bang này có phần gia tăng hay ít ra họ đi xem kịch Broadway thường xuyên hơn. Ngay cả những tác phẩm được mở lại trong tuần này như vở kịch ''Come from Away'', nói về đợt khủng bố ngày 11/09, cũng đã bán sạch vé từ nhiều tuần trước.

Dấu hiệu đáng mừng thứ nhì là các quầy bán vé giờ chót lúc nào cũng đông khách, kể từ khi hoạt động trở lại. Được thành lập từ năm 1973, các quầy bán vé TKTS là một truyền thống của New York. Thành phố này có 3 quầy vé như vậy, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là quầy vé TKTS tại quảng trường Times Square, tọa lạc trong toà nhà mái đỏ với cầu thang ở trên nóc mà bất cứ du khách nào từng ghé chân viếng thăm Manhattan đều đã chụp hình kỷ niệm ít nhất một lần trong đời. Quầy bán vé này nằm ở góc đường 47th với đại lộ Broadway và chủ yếu bán vé giờ chót cho các buổi biểu diễn nội trong ngày. Nếu muốn mua cho những ngày hôm sau, thì khách nên ghé quầy vé ở South Street Seaport hay là Downtown Brooklyn

Tại quảng trường Times Square, hình ảnh tượng trưng đầu tiên cho việc mở lại sân khấu Broadway chính là dòng người rồng rắn xếp hàng bên quầy vé, hy vọng tìm được một tấm vé giờ chót cho các show trong ngày. Vé xem kịch Broadway không phải là rẻ, ngay cả khi có giảm giá, tính trung bình vé giờ chót của các vở nhạc kịch nổi tiếng là trên 100 đô la. Cho dù đắt, nhưng trong thời gian đầu, có lẽ mức cầu vẫn cao hơn mức cung.

Việc đóng cửa Broadway trong vòng một năm rưỡi đã tạo ra sự mong chờ rất lớn nơi giới hâm mộ. Hy vọng rằng cơn sốt ấy sẽ giúp khởi động lại một trong những guồng máy quan trọng nhất của làng giải trí, nơi biến hóa những ý tưởng "điên rồ" thành giấc mơ sân khấu khổng lồ.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1654 Posted : Wednesday, September 22, 2021 5:59:18 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

K-Pop: Ngành công nghiệp hái ra tiền của Hàn Quốc

22/09/2021 - Nguyễn Hương / RFI
Trong thời đại của Youtube và các ứng dụng nghe nhạc trực tuyến, K-Pop hiện là một ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ đô la. Gần đây, Billboard công bố nhóm nhạc nổi tiếng BTS là một trong 5 ngôi sao âm nhạc kiếm nhiều tiền nhất thế giới năm 2020, với doanh thu khoảng 31,5 triệu đô la.

Theo thống kê thị trường âm nhạc Mỹ nửa đầu năm 2021 của MRC Data cho Billboard, BTS đã bán được 573.000 đĩa CD và trở thành nghệ sĩ bán được nhiều album CD nhất tại Hoa Kỳ. Album bán chạy nhất tại Hàn Quốc tính đến năm 2021 là Map of the Soul: 7 của nhóm nhạc nam này, với 4,1 triệu bản được bán ra trong vòng chưa đầy một tháng. BTS cũng là nghệ sĩ sở hữu nhiều album bán được hơn 1 triệu bản nhất, với 9 album.

Công ty HYPE quản lý của BTS đã trở thành công ty có lợi nhuận ròng cao nhất trong quý II/ 2021, lên tới 20,2 tỷ won (khoảng 17 triệu đô la). Lợi nhuận được BTS mang về cho công ty chủ yếu từ việc bán album, biểu diễn, các chương trình trực tuyến được phát trên khắp thế giới và các hợp đồng quảng cáo trị giá hàng triệu đô.

BTS không chỉ nổi tiếng với 7 nam ca sĩ trẻ đẹp, hay những màn trình diễn sôi động, mà còn nhờ vào thông điệp khích lệ trong nhiều bài hát, như nhận định của Nguyên, một du học sinh Việt Nam theo học thạc sĩ quản trị kinh doanh văn hóa nghệ thuật tại Hàn Quốc :

“Tôi là một người hâm mộ lớn đối với K-Pop và đặc biệt là nhóm BTS, bởi vì BTS là nhóm nhạc có nhiều bài hát mang ý nghĩa tích cực và truyền cảm hứng cho tôi và tôi nghĩ đó chính là một trong những yếu tố giúp BTS phát triển không chỉ ở Hàn Quốc, mà còn trên toàn thế giới. Tôi nghĩ là đối với nền công nghiệp K-Pop đang được đào tạo bài bản và thành công như hiện nay, thì trong tương lai K-Pop sẽ không chỉ gói gọn ở trong khu vực châu Á, mà còn lớn hơn ở các khu vực khác trên toàn thế giới, giống như sự phát triển của nền âm nhạc US và UK”.

Sức ảnh hưởng của sao K-Pop đến thời trang

K-Pop không chỉ là âm nhạc, K-Pop còn là khởi nguồn của những xu hướng thời trang mới cho giới trẻ: từ quần áo, phụ kiện cho tới cách trang điểm. Thần tượng “Idol” và nghệ sĩ K-Pop là nguồn khai thác cho các hãng thời trang, từ xa xỉ tới bình dân, để quảng cáo cho thương hiệu của họ tới thị trường người hâm mộ K-Pop. Chỉ cần được xuất hiện trên phương tiện truyền thông xã hội, các món đồ mà thần tượng sử dụng, dù là trên sân khấu hay ở sân bay, đều được người hâm mộ lùng mua.

Ví dụ như Rosé, thành viên của BlackPink và là gương mặt đại diện cho các chiến dịch quảng bá toàn cầu của hãng thời trang và mỹ phẩm Yves Saint - Laurent, hay thương hiệu trang sức Tiffany&Co. Nhờ Rosé mà Yves Saint - Laurent trở nên phổ biến hơn rất nhiều tại thị trường châu Á - một thị trường mới đầy tiềm năng mà các ông lớn ngành thời trang đều tìm cách khai thác. Theo tạp chí The Glossary, chiến dịch quảng bá toàn cầu của Rosé là một trong những chiến dịch ấn tượng nhất mùa thu 2020.

Jungkook - thành viên nhỏ tuổi nhất của BTS - được fan đặt cho biệt danh “Vua bán chạy” nhờ vào khả năng làm cho tất cả các sản phẩm mà anh dùng đều được bán hết veo. Ví dụ, khi tương tác trong buổi phát sóng trực tiếp trên VLive với người hâm mộ ngày 27/02/2021, Jungkook uống trà Kombucha của thương hiệu Teazen. Ngay sau đó, doanh số bán trà của Teazen tăng 500% nhờ người hâm mộ của Jungkook. Kho nước uống Kombucha cũng được bán hết sạch chỉ trong ba tháng. Và Teazen giành giải Thương hiệu của năm 2021.

K-Pop : Niềm tự hào của dân Hàn Quốc

Nhờ sức ảnh hưởng của K-Pop mà nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng một cách đáng kể. K-Pop trở thành một hiện tượng mới ở các nước phương Tây nhờ ca sĩ PSY và bài hát nổi tiếng Gangnam Style năm 2012. Điệu nhảy “cưỡi ngựa” phổ biến khắp thế giới và giúp PSY thu về 8 triệu đô la từ Youtube. Hiện nay, nhiều ông lớn trong ngành giải trí Hàn Quốc đã góp mặt trong danh sách tỷ phú đô la của tạp chí Forbes. SM Entertainment, YG Entertainment, HYPE Corp và JYP Entertainment được coi là bốn công ty giải trí lớn của Hàn Quốc. Năm 2019, làn sóng văn hóa Hàn Quốc như K-Pop, phim truyền hình đã đóng góp khoảng 12,3 tỷ đô la cho nền kinh tế nước này.

Không phải ngẫu nhiên mà K-Pop nổi tiếng toàn cầu như hiện nay. Vào cuối những năm 1990, khi châu Á đang trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính lớn, các nhà lãnh đạo Hàn Quốc quyết định sử dụng âm nhạc và điện ảnh để xây dựng hình ảnh văn hóa riêng. Chính phủ Hàn Quốc đã lập một ban chuyên về K-Pop và thực hiện nhiều chính sách phổ biến và cổ vũ yêu thích K-Pop, như đổi mới công nghệ hình ảnh, xây dựng phòng nhạc lớn và thậm chí điều hành các quán karaoke... Mục tiêu là để K-Pop trở lên phổ biến hơn nữa trên toàn cầu, tương tự như văn hóa Mỹ.

Là một công dân Hàn Quốc, Jieun đã trả lời một cách đầy tự hào khi nói về tầm ảnh hưởng của K-Pop :

“Hình ảnh thương hiệu quốc gia của Hàn Quốc đã được phổ biến hơn nhiều nhờ K-Pop. Càng ngày càng có nhiều người nước ngoài quan tâm hơn đến việc học ngôn ngữ Hàn Quốc, và K-Pop cũng đã được quảng bá khắp thế giới. K-Pop còn khai thác rất nhiều hướng đi mới để đóng góp phát triển cho nền công nghiệp”.

Đằng sau ánh hào quang

Bên cạnh sự hỗ trợ từ chính phủ, việc đào tạo các ngôi sao K-Pop cũng được ban thành luật và điều hành hết sức nghiêm túc. “Idol” là từ chung để chỉ các nghệ sĩ hoạt động trong ngành công nghiệp K-Pop. Có hàng triệu người khao khát được trở thành “idol” ở Hàn Quốc, nhưng để làm được thì không hề dễ dàng.

Độ tuổi của các “idol” khi được ra mắt công chúng là vào khoảng cuối độ tuổi 10 và đầu độ tuổi 20 vì vậy các thực tập sinh thường rất trẻ. Khi đã trở thành thực tập sinh của một công ty giải trí, họ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, như tập luyện vất vả, trong khi được trợ cấp ít ỏi và phải sống xa gia đình. Nếu được nhận vào một công ty giải trí có tiếng thì các bạn trẻ sẽ được đào tạo miễn phí thanh nhạc, vũ đạo và diễn xuất. Công ty sẽ có những bài kiểm tra hàng tháng để đánh giá năng lực của học viên và sẽ quyết định, lựa chọn những thực tập sinh sáng giá để cho ra mắt.

Thời gian tập luyện có thể phải kéo dài từ vài tháng cho tới vài năm, nhưng không chắc các bạn thực tập sinh có thể được ra mắt với tư cách là một “idol”. Một số người đã phải từ bỏ ước mơ trở thành “idol” khi bước sang tuổi 20, vì quá tuổi, dù họ đã dành hết thanh xuân cho việc tập luyện. Thời gian đầu ra mắt, mọi thu nhập đến từ hoạt động của các nghệ sĩ sẽ được công ty giữ lại để chi trả cho việc đào tạo của “idol” đó khi còn là thực tập sinh. Có rất nhiều công ty không đủ điều kiện về tài chính đã bỏ ra một số tiền lớn để đào tạo “idol”, rồi sau đó vẫn phải để nhóm nhạc tan rã vì thu nhập của nhóm không đủ để bù lại vào đầu tư ban đầu.

Tuy nhiên, đằng sau ánh hào quang, nhiều “idol” phải đối mặt với nhiều khó khăn, như hợp đồng nô lệ, quấy rối tình dục, đời tư bị kiểm soát và hầu như mất tự do trong cuộc sống. Đó là mặt tối khác của ngành công nghiệp giải trí Hàn Quốc. Do vậy, những năm gần đây, tỉ lệ tự tử hoặc mắc các bệnh về tâm lý của idol K-Pop ngày càng tăng.

Cuộc truy quét văn hóa K-Pop tại Trung Quốc

“JIMINBAR”, tài khoản Weibo fanclub Trung Quốc của ca sĩ Jimin trong ban nhạc BTS Hàn quốc bị cấm đăng bài trong vòng 60 ngày vì “gây quỹ bất hợp pháp” khi kêu gọi quyên góp để đưa hình ảnh của nam ca sĩ 9X trên một chiếc máy bay của hãng hàng không Jeju Air.

Thực ra, sao Hàn bị vạ lây trong chiến dịch "thanh lọc" ngành giải trí Trung Quốc, cũng là cái cớ để tiếp tục hạn chế văn hóa Hàn Quốc, được chính quyền Bắc Kinh chủ trương từ năm 2016.

Ngoài “JIMINBAR”, có khoảng 22 tài khoản mạng xã hội Sina Weibo khác của người hâm mộ K-Pop tại Trung Quốc đã bị khóa vì theo đuổi thần tượng “không lý trí”. Việc “cấm ngôn” một fanlcub của Jimin được cho là cái cớ nằm trong chiến dịch loại sao nam “yểu điệu”, để “nhấn mạnh đến văn hóa truyền thống Trung Quốc, văn hóa Cách mạng và văn hóa xã hội chủ nghĩa”, theo một hướng dẫn của Tổng cục Quảng bá Phát thanh Truyền hình Trung Quốc đầu tháng 09/2021.

Chính sách mới của Bắc Kinh đã buộc Seoul phải lên tiếng, nhưng đại sứ Trung Quốc ở Hàn Quốc trấn an là “không nhắm cụ thể đến bất kỳ quốc gia nào”. Trung Quốc, nước đông dân nhất thế giới, giúp cho các sao Hàn duy trì được độ nổi tiếng và có lực lượng fan đông đảo, hoạt động mạnh và chịu chi, dù K-Pop và Làn sóng Hàn Quốc (Hallyu) ngày càng khẳng định được vị trí trên thế giới, không chỉ về mặt âm nhạc, phim ảnh và còn về thời trang và phong cách sống.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1655 Posted : Thursday, September 23, 2021 11:28:23 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Los Angeles khánh thành Bảo tàng Điện ảnh

23/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Los Angeles là nơi tọa lạc nhiều hãng phim Mỹ từng làm nên huyền thoại của Hollywood. Ngay ở trong thành phố Los Angeles cũng có hơn 40 viện bảo tàng và phòng triển lãm, nhưng cho tới giờ Hollywood vẫn chưa có một bảo tàng thật sự xứng đáng dành riêng cho nghệ thuật thứ 7. Bù đắp thiếu sót này, Los Angeles sẽ khánh thành một viện bảo tàng lớn do Viện hàn lâm điện ảnh Mỹ điều hành.

Sau một thời gian dài trùng tu xây cất, viện bảo tàng này đáng lẽ phải được khai trương từ hồi năm ngoái, nhưng vì đại dịch Covid-19, ngày khánh thành đã hai lần bị trì hoãn. Mãi đến giữa tuần sau, vào ngày 30/09/2021, Bảo tàng Điện ảnh tại Los Angeles mới chính thức mở cửa đón khách tham quan. Đây sẽ là viện bảo tàng dành riêng cho nghệ thuật thứ 7 thuộc vào hàng lớn nhất khu vực Bắc Mỹ. Cơ sở này sẽ do Viện hàn lâm khoa học và nghệ thuật điện ảnh Mỹ (AMPAS) quản lý, cho nên mới có tên gọi chính thức là ''Academy Museum of Motion Pictures''.

390 triệu đô la để biến đổi toà nhà lớn thành bảo tàng

Hôm 22/09/2021, nam diễn viên hai lần đoạt giải Oscar Tom Hanks và cũng là thành viên hội đồng quản trị Bảo tàng điện ảnh đã giới thiệu với giới truyền thông báo chí về tầm quan trọng của việc xây dựng viện bảo tàng đầu tiên dành cho ngành điện ảnh ngay tại thành phố Los Angeles. Trong tâm thức của hàng tỷ khán giả trên thế giới, đây chính là nơi đóng đô của Hollywood. Có lẽ cũng vì thế, theo Tom Hanks, tuy nhiều nơi khác trên thế giới cũng có lập bảo tàng điện ảnh, nhưng trong trường hợp của Los Angeles, bảo tàng này lại càng có thêm ý nghĩa sâu sắc, một ngôi đền dành cho những thành tựu trong làng nghệ thuật thứ 7.

Đằng sau công trình xây dựng Bảo tàng Điện ảnh nằm ở phía tây thành phố Los Angeles là kiến trúc sư nổi tiếng người Ý Renzo Piano. Ông đã từng đoạt giải Priztker vào năm 1998 (tương đương với giải Nobel kiến trúc) và trong số các công trình nổi tiếng do ông thiết kế có Quỹ nghệ thuật Beyeler tại Basel, dự án mở rộng bảo tàng High Museum of Art tại Atlanta, cũng như Trung tâm văn hóa Pompidou tại Paris (đồng thực hiện với kiến trúc sư người Anh Richard Rogers). Lần này, ông Renzo Piano đã sử dụng một tòa nhà trước kia là một cửa hàng lớn, có từ những năm 1930. Sau nhiều năm sửa chữa trùng tu, toà nhà này đã được tái tạo thành viện bảo tàng, nơi thiết lập không gian trưng bày chính.

Ngay trong khuôn viên, kiến trúc sư Ý đã sắp đặt thêm một cấu trúc giống như một quả cầu khổng lồ lơ lửng. Ở bên trong là rạp chiếu phim (mang tên David Geffen) với một ngàn chỗ ngồi. Hình dáng của rạp chiếu phim làm cho nhiều người liên tưởng ngay đến bộ phim ''Star Wars'' (Chiến tranh giữa các vì sao). Trả lời báo chí, ông Renzo Piano nói rằng đây không phải là ''Death Star'' (Ngôi sao Tử thần), một loại vũ khí siêu phàm có khả năng hủy diệt cả một hành tinh. Ông gọi đó là một chiếc khí cầu, một chiếc tàu bay ''Zeppelin'' đưa khách đến một thế giới khác. Chi phí xây cất thêm các cơ sở với trang bị tối tân hiện đại cũng như tái tạo một toà nhà cổ thành viện bảo tàng, lên đến hơn 390 triệu đô la. Nguồn tài trợ chủ yếu đến từ các tập đoàn sản xuất phim ảnh nổi tiếng tại Hollywood, trong đó có Disney, Warner, cũng như nền tảng trực tuyến Netflix.

Triển lãm chuyên đề và bộ sưu tập thường trực

Về nội dung, viện bảo tàng sẽ có hai khu vực chính. Không gian thứ nhất dành cho các cuộc triển lãm theo chuyên đề. Đạo diễn Nhật Bản Hayao Miyazaki là gương mặt quan trọng đầu tiên được vinh danh. Cuộc triển lãm Mizayaki sẽ diễn ra trong nhiều tháng, trưng bày các tác phẩm có liên quan tới thế giới của các bộ phim hoạt hình của ông như ''Người bạn hàng xóm Totoro'', ''Phù thủy tí hon Kiki'', ''Công chúa Mononoke'', ''Lâu đài bay của pháp sư Howl'' hay ''Chihiro ở thế giới thần bí'', đa số đều là những tác phẩm quan trọng của hãng phim hoạt hình Ghibli.

Còn trong không gian triển lãm thường trực, bộ sưu tập của Viện Hàn lâm Điện ảnh Mỹ phác họa một bức tranh tổng thể về nền điện ảnh trong suốt một thế kỷ. Trong số các hiện vật được trưng bày có cả xưa và nay, chẳng hạn như bộ áo choàng của Dracula theo nhà văn Bram Stoker, Chiến binh Orc trong bộ trường thiên ''Lord of the Rings'' (Chúa tể các chiếc nhẫn), nhân vật thủy quái trong phim ''Shape of the Water'' (Dáng hình của nước), bộ đồ phi hành gia trong bộ phim "2001, A Space Odyssey'' của đạo diễn bậc thầy Stanley Kubrick, hay là hai người máy cực kỳ nổi tiếng C-3PO và R2-D2 trong loạt phim ăn khách ''Star Wars''.

Xưa hơn nữa, có đôi hài hồng ngọc trong ''The Wizard of Oz'' (Phù thủy xứ Oz), với Judy Garland trong vai chính vào năm 1939. Bộ trang phục lộng lẫy thêu chỉ vàng và vương miện rắn hổ mang của nữ hoàng Ai Cập Cleopatra, nhưng không phải là phiên bản với Elizabeth Taylor vào năm 1963, mà là với nữ diễn viên Claudette Colbert vào năm 1934 trong bộ phim sử thi cùng tên của đạo diễn Cecil B. DeMille. Ngoài xa còn có chiếc xe gỗ trượt tuyết tên là Rosebud (bị thiêu rụi) trong kiệt tác ''Citizen Kane'', phim của đạo diễn Orson Welles thường được giới phê bình quốc tế chọn là tác phẩm điện ảnh hay nhất mọi thời đại. Trong số ba chiếc xe trượt tuyết bằng gỗ được tạo cho bộ phim này, chỉ còn lại một chiếc duy nhất, được trưng bày tại bảo tàng Los Angeles.

"Ngôi đền điện ảnh" đầu tiên tại kinh đô Hollywood

Những hiện vật, trang phục, đạo cụ, hay hình ảnh cực kỳ tiêu biểu, khiến cho đại đa số khán giả chỉ cần lướt nhìn là hình dung được ngay thế giới của từng bộ phim, Bảo tàng điện ảnh tại Los Angeles muốn cho khách tham quan có một tầm nhìn rộng về nền điện ảnh trên thế giới, kể từ lúc khai sinh vào cuối thế kỷ XIX cho đến tận ngày nay, khi hầu như bất cứ ý tưởng ngoạn mục nào cũng đều có thể được tái tạo nhờ công nghệ kỹ xảo. Bảo tàng Los Angeles chỉ chính thức mở cửa cho công chúng vào ngày 30/09, nhưng vào cuối tuần này, ngày 25/09, không khí tại Hollywood sẽ náo nhiệt hẳn lên, khi hàng loạt ngôi sao và nhân vật nổi tiếng sẽ tề tựu đông đủ để tham gia lễ khai trương chính thức trước ống kính truyền hình.

Sau nhiều thập niên ấp ủ, cuối cùng thành phố Los Angeles cũng đã biến giấc mơ thành hiện thực khi khai sinh một viện bảo tàng dành riêng cho các ''thước phim'' được chiếu trên màn ảnh rộng. Sự kiện này càng đáng ghi nhận vì kế hoạch được hoàn tất trong một bối cảnh không mấy thuận lợi, ngành công nghiệp sản xuất vẫn chưa phục hồi, doanh thu phim chiếu ở rạp vẫn chưa thật sự ổn định, ít ra chưa đủ để trấn an giới sản xuất cũng như các nhà phân phối. Nhưng thà trễ còn hơn không, vì Hollywood, kinh đô của nghệ thuật thứ 7, mà không lập một Bảo tàng Điện ảnh thì chẳng khác gì thủ đô Paris mà không có Bảo tàng thời trang.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1656 Posted : Saturday, September 25, 2021 4:21:02 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Paris tổ chức chương trình vinh danh Johnny Hallyday

25/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Hơn 3 năm sau khi vĩnh biệt cuộc đời, giọng ca của Johnny Hallyday lại vang lên hôm 14/09/2021 vừa qua, tại nhà hát Accor Arena, Paris (sân khấu Bercy cũ). Vóc dáng rocker số 1 của Pháp lại xuất hiện trên màn ảnh lớn, đi kèm với một dàn nhạc giao hưởng. Với sự hỗ trợ của Tòa Đô chính Paris, nhạc trưởng Yvan Cassar cùng với Læticia Hallyday, vợ của nam danh ca quá cố, tổ chức một buổi trình diễn tưởng niệm nhằm gây qũy chống bệnh ung thư.

Lấy lại tựa đề ‘‘Que je t’aime’’, một bài hát rất ăn khách trước đây của Johnny Hallyday, đêm trình diễn đã được tổ chức trong khuôn khổ một chương trình hoành tráng, trong đó có lễ khai trương một quảng trường mang tên thần tượng nhạc rock, ngay bên cạnh nhà hát Accor Arena, quận 12 Paris vào buổi sáng 14/09. Sở dĩ nơi này được chọn là vì lúc còn sống, Johnny từng nắm giữ kỷ lục biểu diễn trên sân khấu này đến 101 lần.

Đàn ghita và xe môtô : hai biểu tượng của rocker số 1

Cũng trên quảng trường này, Paris đã làm lễ khánh thành một bức tượng cao 6 thước của nhà điêu khắc người Pháp Bertrand Lavier. Pho tượng này kết hợp cây đàn ghi ta Gibson với một chiếc xe môtô Harley Davidson, hai biểu tượng quan trọng, nếu không nói là gắn liền với cuộc đời của thần tượng nhạc rock Johnny Hallyday : sự nghiệp âm nhạc và hành trình xuyên Hoa Kỳ tựa như một tác phẩm điện ảnh ‘‘road movie’’.

Nếu như cả hai sự kiện này đều đi kèm với phần biểu diễn của 5 nhạc sĩ chơi lại các bài hát của Johnny Hallyday, thì quan trọng nhất trong chương trình sinh hoạt vẫn là đêm trình diễn 14/09 tưởng niệm thần tượng Johnny Hallyday. Trên sân khấu, người dẫn chương trình chính là Michel Drucker, ngoài đời là bạn thân của Johnny, hai người chỉ cách nhau có một tuổi. Một cách cảm động, Laeticia và Michel Drucker đã gợi lại những kỷ niệm với Johnny, trong khi phần biểu diễn triệu tập một dàn nghệ sĩ cực kỳ hùng hậu : phía nữ có các tiếng hát như Catherine Ringer (bài Gabrielle), Louane (bài Diego), Nolwenn (Chanteur abandonné) hay Jenifer, còn các giọng ca nam có Slimane, Calogero, tam ça Florent Pagny, Patrick Bruel và Patrick Fiori (ca khúc Vivre pour le Meilleur) hay Christophe Maé (Je te promets).

Đa số các nghệ sĩ này có một điểm chung : họ đã từng tham gia nhiều album vinh danh Johnny Hallyday, do hãng đĩa Universal phát hành từ cuối năm 2017 cho tới nay. Đổi lại, hai người con lớn là Laura Smet và David Hallyday cũng như người vợ đầu tiên của Johnny là Sylvie Vartan đều vắng mặt trong chương trình tưởng niệm nam danh ca Johnny Halyday.

Tầm ảnh hưởng của Johnny đối với thế hệ đàn em

Cũng như nam ca sĩ Kendji đã nói (trên sân khấu anh hát bài "L'envie"), giới nghệ sĩ trẻ của Pháp thời nay đã học hỏi rất nhiều từ thần tượng nhạc rock. Bản thân anh từ thời còn nhỏ đã nghe rất nhiều bài hát của Johnny Hallyday, để rồi học cách phát huy nội lực, tập trung sức mạnh vào giọng ngực để rồi phóng ra như một mũi tên bắn trúng vào tim. Đó chính là sở trường của Johnny, ngay cả trong những nốt nhạc cao nhất, nam danh ca này luôn hát với giọng ngực, ít khi nào dùng giọng kim hay giọng óc, có lẽ cũng vì thế mà chất giọng của Johhny thường hợp với những bản nhạc hùng hồn, những giai điệu dũng mãnh … tung hoành trên sân khấu khổng lồ giữa sân vận động dành cho hàng chục ngàn khán giả.

Nhạc phẩm ‘‘Le Pénitencier’’ phiên bản tiếng Pháp của bài hát nổi tiếng ‘‘The House of the Rising Sun’’ có thể minh họa cho sở trường hát toàn giọng ngực của danh ca quá cố. Bài hát này được trích từ album vừa được phát hành trong tuần này mang tựa đề ‘‘Johnny Hallyday : Acte II’’. Tập nhạc này là album thứ nhì trong đó các bài hát của Johnny đã được phối lại với dàn nhạc giao hưởng, dưới sự chỉ đạo của Yvan Cassar.

Album rock giao hưởng thứ nhì của Johnny

Sau khi thành công với tập nhạc giao hưởng đầu tiên (Acte I) với hơn nửa triệu album bán chạy vào giữa năm 2019, nhạc trưởng Yvan Cassar lần này đã chọn ra 12 bài hát của Johnny (những bài ít ghi âm trong studio mà chỉ hát trên sân khấu) để rồi từ đó thực hiện những bản phối khác nhau. Có thể chia các bản nhạc này thành hai loại : lối hòa âm rất mộc, giọng ca chỉ được đệm với tiếng đàn ghi ta thùng, chẳng hạn như bản nhạc ‘‘Love Me Tender’’ mà Johnny đã hát trên sân khấu để bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với Elvis Presley. Bên cạnh đó, còn có các bài hát được hòa âm như nhạc phim, đặc biệt các đoạn cao trào hoành tráng phối với nguyên một bộ đàn dây.

Riêng trong nhạc phẩm ‘‘Le Pénitencier’’ hay bài hát ‘‘Je te Promets’’, nhạc trưởng Yvan Cassar cho biết là lúc sinh tiền Johnny Hallyday rất mê xem phim của đạo diễn người Ý Sergio Leone, vì thế từ lâu ông đã có ý tưởng đưa không khí nhạc phim cao bồi của Sergio Leone vào trong các bài hát của Johnny Hallyday, lối hòa âm trùng trùng lớp lớp gợi lên khung cảnh trời xanh bao la, đồi núi hùng vĩ, sa mạc mênh mông.

Khi nam danh ca còn sống, trong cuộc hành trình cuối cùng của đoàn biker xuyên đất Mỹ, từ New Orleans đến Los Angeles, Johnny Hallyday xuất hiện trong phim tài liệu "À nos promesse : Le Dernier Voyage" vào tháng 09/2016. Trong hành trình trên các vùng đất hoang vu, Johnny Hallyday ngồi trên một chiếc môtô Harley Davidson, tựa như cưỡi ngựa phi về cuối chân trời, nơi ông tìm được niềm vui ngàn đời, rong chơi tự do kiếp người.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1657 Posted : Sunday, September 26, 2021 4:21:56 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Marc Riboud, kẻ đứng bên lề hay người nhập cuộc ?

26/09/2021 - Tưởng An / RFI
Bất cứ ai lang thang rảo qua từng bức ảnh trong cuộc triển lãm mang tên « Marc Riboud, những câu chuyện khả thể » (Marc Riboud, les histoires possibles), trưng bày tại Bảo tàng Viện Châu Á Guimée, quận 16 Paris, từ ngày 19/5 đến ngày 06/09/2021, cũng sẽ sựng lại khi tình cờ bắt gặp vài nét thân quen của chính quê hương mình.

Vì vậy chắc chắn không người Việt Nam nào không xúc động khi nhìn thấy Huế tang thương qua ống kính của nhiếp ảnh gia Marc Riboud – người tự cho mình là một kẻ đứng bên lề, nhưng thật ra đã dấn thân nhập cuộc vào từng nhịp thở của con người ở những nơi ông cố ý hay vô tình đi qua.

Trong tiếng Pháp, từ « histoire » mang hai ý nghĩa : Câu chuyện và Lịch sử. Cuộc triển lãm mang đậm dấu ấn thời gian : những hình ảnh ông thực hiện trong vòng gần 50 năm từ năm 1952 đến năm 1969, từ những chuyến đi xuyên lục địa, từ nước Pháp, Châu Âu, nơi ông sinh ra, đến Châu Á, Việt Nam.

Ai đã từng biết đến Henri-Cartier Bresson và Robert Capa sẽ hiểu ảnh hưởng từ hai nhiếp ảnh gia bậc thầy này. Bresson nổi tiếng với các bức ảnh nghệ thuật Siêu Hiện Thực và cả chính trị. Capa được biết đến như một ống kính chiến tranh, nhất là các hình ảnh do ông chụp về cuộc nội chiến Tây Ban Nha năm 1936.

Marc Riboud đã chụp khoảng 50.000 bức hình phóng sự các loại. Cuộc triển lãm lần này giới thiệu 200 bức ảnh tiêu biểu nhất của ông. Trong đó, bức « Người thợ sơn tháp Eiffel » đã từng làm ông nổi tiếng. Hình chụp người đàn ông đang sơn lại tháp Eiffel, một tay cầm cọ, miệng ngậm điếu thuốc, tư thế như thể anh đang khiêu vũ trên cao. Bức hình được đăng ở tạp chí « Đời Sống » (Life) năm 1953.

« Tôi chụp hình như một nhạc sĩ đang hát nghêu ngao. Nhìn thấy, có nghĩa là được sống, là được thở, và mọi tình cờ đều mang đến cho tôi niềm vui » - vợ của ông, bà Catherine Riboud kể lại. Bức ảnh này đã đưa ông vào Agence Magnum, được thành lập bởi Bresson và Capa, nơi chuyên sưu tầm, lưu trữ và vinh danh quảng bá hình ảnh phóng sự. Chỉ những nhiếp ảnh gia có tay nghề cao mới được có tên ở Magnum, bởi sự tuyển chọn rất khắt khe. Magnum đưa ông lên cao từ đó. Vì quá yêu nhiếp ảnh, ông đã thôi không làm việc như một kỹ sư trong xưởng thợ tại Villeurbanne (gần Lyon nơi ông sinh ra), để dành hết thời gian và cả cuộc đời còn lại cho nhiếp ảnh.

Người xem triển lãm như được dịp đi du ngoạn tại chỗ qua nhiều quốc gia, bắt đầu từ thành phố Lyon của Pháp vào những năm 1940, tiếp theo là Anh, rồi Afghanistan, Iran, bay đến tận Hàn Quốc, Nhật Bản, vòng qua Cam Bốt, Việt Nam, sang Mỹ, rồi về Cuba… Người xem được chứng kiến những giai đoạn lịch sử và hình ảnh đặc trưng của từng nước, từng dân tộc. Cách ông bấm máy không bao giờ ở vị trí của người phê bình hay chỉ trích, mà đặt người nhìn ngang tầm với hình ảnh, như thể người xem và người chụp đang chia sẻ một cái nhìn chung. Cả những ảnh chụp nước Pháp, chúng cho thấy một đất nước nghèo xác xơ những năm 1953-1954. Như tấm hình dưới đây, Paris không hề mang vẻ tráng lệ, quần áo giăng phơi đầy dẫy dọc bờ sông Seine.

Luân Đôn năm 1954 được gợi lại qua những bức ảnh chụp người biểu tình ở Liverpool, với bố cục rất đặc biệt. Cũng như trong các tác phẩm chụp quần chúng, ánh nhìn của đám đông bao giờ cũng chiếm đầy khung hình, nói lên được tâm trạng chung của từng cá thể vào thời điểm cảm xúc được thu vào ống kính.

Mỗi bức hình là một câu chuyện. Mỗi câu chuyện đều mang đậm tình người. Như tấm « Siem Reap, Cam Bốt » năm 1990, Marc Riboud chụp cảnh sông nước. Trong ảnh chỉ là dáng người, không chân dung. Một phụ nữ đang ngồi giặt đồ bên bờ sông Cửu Long, cánh tay với về phía trước, mặt nước phản chiếu hình bóng người đàn bà với dáng ngồi khắc khổ, sông nước và nhân vật như hòa nhập làm một. Xa xa, một cậu bé đang đứng trên thuyền, ngây ngất nhìn xoáy nước trong cảnh thiên nhiên lung linh ánh sáng. Bức ảnh này thể hiện tất cả tâm hồn và quan niệm về cái đẹp của Marc Riboud : yêu phụ nữ, yêu sông nước (sông Cửu Long, sông Seine, sông Rhône, sông Saône, …), yêu con người trong mọi tâm trạng, mọi hoàn cảnh, mọi đất nước.

Sau khi đến Ấn Độ, năm 1957, Marc Riboud là một trong những nhiếp ảnh gia đầu tiên đặt chân đến Trung Quốc, ông đã chứng kiến sự thay đổi của cả một đất nước, lưu lại đấy đến 3 tháng trong chuyến đi đầu tiên, sau đó còn quay trở lại nhiều lần nữa đến tận năm 2010. Từ tỉnh Cam Túc đến Thượng Hải. Cái nhìn qua ống kính của Marc Riboud như xoáy sâu vào sự nghèo khổ của cả một dân tộc, dù vậy ông không hề có thái độ chỉ trích hay chê bai sự độc tài của Mao. « Phải xem những hình ảnh tôi để lại như những ghi nhận và những đánh dấu. Tôi chỉ kể lại những gì nhìn thấy bên lề » - ông giải thích trong một cuộc phỏng vấn năm 1996.

Thưởng thức bức « Những cửa sổ nơi phố cổ » ông chụp năm 1965 tại Thượng Hải, chúng ta càng hiểu thêm góc máy của ông, một bác phó nhòm đứng bên lề cuộc đời nhìn vào thế giới qua ống kính vuông vức, như qua các ô cửa : kẻ ngoài cuộc là ông, chỉ quan sát và ghi nhận, không ý kiến hay quan điểm.

Marc Riboud sang Việt Nam năm 1954, giai đoạn Nam-Bắc bị chia đôi theo hiệp định Genève. Ông đã ghi lại những hình ảnh chiến tranh vào những năm 1968, tại Huế, Hoàng Thành của Bảo Đại, vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Đó là cảnh hoang tàn của một Huế đổ nát. Ông đã biến tang thương thành một bức tranh thật đẹp và sống động. Tờ báo Le Monde của Pháp đã từng viết vào ngày 13 tháng 4 năm 1968 « Huế (qua ống kính của Marc Riboud) là một Guernica của Việt Nam ».

Picasso vẽ bức Guernica năm 1937 vào thời điểm chiến tranh Tây Ban Nha đã gây xúc động mãnh liệt trong lịch sử hội họa và làm mồi lửa cho các phong trào phản chiến trên thế giới. Được so sánh với Guernica, ta thấy rõ tác động vô cùng lớn của tác phẩm Huế qua các cú lia máy của Marc Riboud. Quân đội Mỹ tiêu hủy gần như toàn bộ Hoàng Thành nhưng trong cảnh chết chóc, người phụ nữ, trong chiếc áo dài thanh lịch, vẫn toát lên vẻ đẹp quý phái. Ảnh chụp hay tranh vẽ đây? Marc Riboud khiến cho tác phẩm của mình chẳng những mang nhiều ý nghĩa mà còn nói lên cả niềm khát khao của con người, luôn muốn xây dựng lại cuộc sống từ những hoang tàn đổ nát.

Dù trong giai đoạn đau thương, bức « Đôi tình nhân » với bối cảnh Hà Nội vẫn mang nét bi hài. Hai người tình ngồi bên nhau nhìn xuống hồ Hoàn Kiếm, sau lưng họ là cận cảnh một hố tránh bom.

Marc Riboud đã từng nhìn thấy chiến tranh ở nhiều nước khác nhau. Có lẽ chiến tranh Việt Nam để lại nơi ông rất nhiều ấn tượng. Trong số ảnh trưng bày, khá nhiều bức liên quan đến hình ảnh chiến tranh Việt Nam. Ông chụp các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam ở các nước khác nhau, đặc biệt tại Mỹ; những bức đặc trưng nhất : « Biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, Thượng Hải, năm 1965 », « Thiếu nữ và bông hoa, Washington, 1967 », « Biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, Washington 21 tháng 10 năm 1967 ».

Bức « Thiếu nữ và bông hoa » khiến ta không biết nên cười hay khóc. Bên trái là quân đội cầm súng, bên phải là người con gái với bông hoa trong tay. Người xem mang hai trạng thái : vừa lo ngại vì chiến tranh Việt Nam (cây súng mang tính chất đe dọa), vừa hy vọng một kết thúc tốt đẹp (bông hoa đại diện cho vẻ đẹp và sự bình an). Như thể cô gái không sợ súng đạn, vì tin tưởng ở những người lính trẻ, những người sẽ mang lại chiến thắng. Những người lính trong hình dường như cùng suy nghĩ với cô. Tấm hình ghi lại một cách nhìn từ Washington, trong khi một số hình ảnh khác nói lên sự tàn ác của Mỹ vì đã dội bom thành phố Huế.

« Ông ấy bao giờ cũng muốn làm chủ cách làm việc của mình và cả các chuyến đi của mình » - Catherine Riboud kể lại. Chính nhờ vậy, dù ông chụp con người trong bom đạn, trong thảm kịch hay trong cảnh sông nước bình an, mỗi bức hình của ông đều toát lên vẻ đẹp riêng và mang đậm tình người.

Loạt hình cuối của cuộc triển lãm là những tác phẩm Marc Riboud chụp núi Hoàng Sơn (tỉnh An Huy - Trung Quốc) đưa người xem về trạng thái tĩnh tại. Ai từng xem tranh họa sĩ Triệu Vô Cực (Zao-Wou-Ki) sẽ thấu cảm sâu sắc bức ảnh này : chập chùng cao nguyên ẩn hiện trong sương mù, chụp theo gam màu đen trắng ngược sáng, làm nổi bật các đường viền dọc triền núi, y như một bức tranh thủy mặc Trung Hoa.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1658 Posted : Tuesday, September 28, 2021 2:06:12 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Ca sỹ hải ngoại Phi Nhung qua đời ở Việt Nam vì COVID


28/09/2021 - VOA Tiếng Việt
Ca sỹ Mỹ gốc Việt Phi Nhung vừa qua đời sau hơn một tháng được điều trị tích cực các biến chứng từ lây nhiễm COVID-19 tại Bệnh viện Chợ Rẫy ở Sài Gòn.

Ca sỹ Phi Nhung, người từng mồ côi cha mẹ trước khi trở thành một nghệ sỹ thành danh trên sân khấu hải ngoại ở Mỹ, đã ra đi vào lúc 12 giờ 15 phút ngày 28/9 sau một thời gian dài chống chọi với bệnh tật, theo thông báo của nghệ sỹ Việt Hương qua một đăng tải trên trang Facebook cá nhân. Nghệ sỹ này cho biết cô cùng gia đình đang chuẩn bị các thủ tục cần thiết để lo hậu sự cho Phi Nhung.

Cùng ngày, các báo mạng trong nước cũng cho biết rằng ca sỹ Phi Nhung trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Chợ Rẫy dù được sự nỗ lực điều trị của y bác sỹ tại bệnh viện này. Trước khi mất, ca sỹ Phi Nhung được chẩn đoán bị biến chứng nặng của COVID-19, gồm đông đặc phổi và hoại tử một phần phổi, kèm cơn bão Cytokine, tức suy đa cơ quan.

Trích dẫn nguồn tin từ bệnh viện Chợ Rẫy, Tuổi Trẻ cho biết bệnh nhân được chạy ECMO, tức tim phổi nhân tạo, và lọc máu liên tục.

“Tất cả các loại thuốc cao cấp nhất đã được bệnh viện sử dụng đề điều trị cho ca sỹ Phi Nhung,” nguồn tin từ bệnh viện nói với Tuổi Trẻ. “Tất cả y bác sỹ đã nỗ lực hết mình nhưng đã không thể cứu sống được ca sỹ và rất đáng tiếc trước sự ra đi này.”

Chỉ trước đó hai ngày, trong một đăng tải trên trang trang Facebook cá nhân của Phi Nhung hôm 26/9, Wendy Phạm, con gái ruột của cô, cho biết nữ ca sỹ, từng có thời gian hát trên sân khấu Paris by Night, “vẫn đang được điều trị tích cực tại bệnh viện Chợ Rẫy” để phủ nhận những thông tin về tình hình sức khoẻ của cô “được lan truyền trên mạng xã hội” được cho là “không đúng sự thật.”

Phi Nhung nhập viện vào giữa tháng 8 sau khi có kết quả dương tính với nCoV. Theo VnExpress, ca sỹ này bắt đầu bị ốm sau một thời gian đi làm từ thiện. Phi Nhung được chuyển từ Bệnh viện Gia An 115 sang Bệnh viện Chợ Rẫy để điều trị ở khoa Hồi sức tích cực. Vẫn theo VnExpress, từ tối ngày 22/9, người thân của gia đình cho biết tình hình sức khoẻ của ca sỹ này chuyển biến xấu sau hơn một tháng nằm viện.

Nhiều nghệ sỹ và những fan hâm mộ bày tỏ trên mạng xã hội sự tiếc nuối và xót xa của họ đối với sự ra đi của nữ ca sỹ ở tuổi 51 và được biết tiếng không chỉ với giọng hát “ngọt ngào, sâu lắng” mà còn bởi những hoạt động thiện nguyện của cô.

Một thông cáo báo chí đăng tải hôm 28/9 trên trang Facebook chính thức của nữ ca sỹ này cho biết rằng Phi Nhung đã hoãn kế hoạch quay về Mỹ để đoàn tụ với con gái hồi tháng 7 vì muốn tiếp tục ở lại Sài Gòn hoạt động thiện nguyện thời đại dịch. Lý do cô quyết ở lại vì “Sài Gòn đang tổn thương như thế này, nhiều người còn khổ vì dịch mình ở lại, có khi lại có ích. Khi mọi thứ ổn hơn, mình đi đâu cũng không áy náy”.

Giọng ca “Bông điên điển” đã nhận nuôi nhiều trẻ mồ côi, trong đó có việc bảo trợ cho quán quân The Voice Kids 2016 Hồ Văn Cường ăn học đến năm 18 tuổi. Theo Lao Động, ngoài cô con gái ruột Wendy Phạm, hiện đang làm y tá tại Mỹ, Phi Nhung còn nhận 23 người con nuôi, trong đó có Cường và một số người khác được nữ ca sỹ tạo cơ hội phát triển nghệ thuật và cũng khá thành công.

Cho biết về lý do nhận nhiều con nuôi, Phi Nhung từng nói với MC Lại Văn Sâm trong một chương trình trên VTV rằng do cô “thiếu tình thương cha mẹ” vì mồ côi từ lúc còn nhỏ và chỉ “ở với ông bà ngoại.”

Chia sẻ trong chương trình Ký ức vui vẻ của VTV, nữ ca sỹ sinh ra ở Gia Lai cho biết cô là con lai, có mẹ là người Việt và bố là người Tây Ban Nha, và bị bỏ lại chùa trước khi được ông bà ngoại đưa về nuôi. Năm 16 tuổi, cô một mình bước chân đến Mỹ và bắt đầu con đường sự nghiệp ca hát gần 30 năm của mình. Khởi đầu bằng vai trò hát lót, Phi Nhung sau đó đã trở thành một trong những nghệ sỹ phát hành nhiều băng đĩa nhất vào những năm 1994-1998 với mệnh danh “nữ hoàng băng đĩa”.

Bày tỏ đau buồn về sự ra đi của nữ ca sỹ từng nổi danh trong dòng nhạc trữ tình với các ca khúc như “Tình đẹp mùa chôm chôm” và “Nhớ mẹ lý mồ côi”, MC Trấn Thành viết trên trang Facebook cá nhân rằng “tiếng hát Phi Nhung da diết vì nó được đúc kết từ những vết xước của cuộc đời.” Nam danh hài kiêm diễn viên cho biết với những gì “đã chứng kiến và trải qua” cùng cố ca sỹ, trong anh “Phi Nhung là một người phụ nữ mạnh mẽ, trái tim luôn nhân hậu dù ký ức của bạn chỉ toàn những trầy trụa và cay đắng.”
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1659 Posted : Friday, October 1, 2021 1:13:35 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

"YÊU EM, ANH DÁM KHÔNG" : Yêu là không bao giờ lớn!

01/10/2021 - Lệ Thu / RFI
Yann Samuell khởi đầu sự nghiệp là một nhà biên kịch. “Yêu em, anh dám không?” là bộ phim đầu tay của ông với tư cách vừa biên kịch vừa đạo diễn. Bộ phim có tên tiếng Anh là “Love me if you dare” và tên tiếng Pháp là “Jeux d’enfants” - được dịch là “Trò chơi con trẻ”.

Ngay từ khi bộ phim được trình chiếu vào năm 2003 cho tới bây giờ, nhiều người vẫn cho rằng tên tiếng Pháp chính là cái tên gợi nhất và đúng nhất với tinh thần của tác phẩm, không gì có thể thay thế được.

Điều kì lạ ở bộ phim này là cho dù nó không có bất cứ một giải thưởng nào ở bất cứ một liên hoan phim lớn nào thì trong lòng những khán giả yêu Điện Ảnh Pháp nói riêng và những người đam mê Điện Ảnh nói chung, “Yêu em, anh dám không” vẫn có một vị trí vô cùng đặc biệt. Nhắc tới bộ phim, người ta chỉ có thể nói rằng, đó là một tình yêu ngây thơ, trong sáng, kì quái và lạ lùng, dù đến tận cùng cái chết thì vẫn Đẹp vẹn nguyên như thuở thiếu thời. Thứ tình yêu gợi cho khán giả cả nỗi buồn và niềm hạnh phúc.

Dám hay không dám

Xuyên suốt truyện phim là câu thoại “dám hay không dám” giữa hai nhân vật chính, cô bé Sophie có cái họ thuần Đông Âu Kowalsky, không có cha mẹ, sống cùng người chị ruột tại một khu nhà chung cư cũ nát và Julien, cậu bé giàu trí tưởng tượng vừa mất mẹ vì căn bệnh ung thư cùng người cha không thể thấu hiểu mình. Mọi chuyện bắt đầu khi Julien bắt gặp cảnh Sophie bị đám bạn trêu chọc, vứt sách vở xuống vũng nước đọng trên đường. Quá thương cảm, cậu đã tặng cho cô bạn chiếp hộp nhạc bằng thiếc của mẹ và họ cũng bị trò chơi cuốn theo từ đó.

Luật chơi thật ra vô cùng đơn giản, hộp nhạc sẽ được truyền cho nhau, nếu muốn giành quyền giữ chiến lợi phẩm này thì phải thực hiện thành công lời thách đố của đối phương. “Dám hay không”. Khi nói “Dám” tức là tham gia trò chơi.

Cũng từ lúc này, thế giới u ám của hai đứa trẻ bỗng chốc sáng bừng lên bằng những thách đố tưởng như vô thưởng vô phạt, ngốc nghếch, đôi khi đi ngược lại mọi định nghĩa về chuẩn mực văn hóa. Càng lúc, những trò thách đố càng khó khăn hơn, quái dị và nực cười hơn, nhưng như một ma lực nào đó, cả hai vẫn bị quấn vào nó với đầy những hăm hở, háo hức, vui vẻ và mãn nguyện. Đó là khi Sophie phát âm những từ bậy bạ trong giờ ngữ pháp, là khi Julien tè bậy trước mặt thầy hiệu trưởng lúc hai đứa đang bị thầy rao giảng đạo đức ngay trong văn phòng của thầy, là quậy phá trong đám cưới của chị gái Sophie và kéo đổ bàn đặt bánh cưới.

Người ta thấy hai đứa trẻ là cả một đống những sự phiền phức mệt mỏi nhưng với chúng, đó lại là niềm vui bất tận. Trí tưởng tượng kéo chúng lại với nhau, như một sức mạnh giúp vượt qua được cuộc sống gần như đã bị xã hội và gia đình lãng quên. Và cũng từ đây, người xem có thể hình dung được những trái khoáy của trò chơi sẽ càng lúc càng được đẩy lên cao trào, chờ đợi giây phút mà nó sẽ vỡ bung ra.

Những đứa trẻ trong hình hài người lớn

Thời gian trôi qua, Sophie và Julien lớn lên cùng nhau. Đúng như người ta mong muốn, đạo diễn Samuell tiếp tục tung thêm những màn thách đố quậy phá không thể tưởng tượng khi Sophie mặc áo lót ra bên ngoài sơ mi để đi thi toán còn Julien tán tỉnh một cô bạn mà Sophie ghét chỉ để lấy đôi bông tai của cô ta và khiến cô ta bị loại khỏi kì thi. Họ thậm chí còn thách đố nhau tát huấn luyện viên thể hình và kết quả là Sophie bị anh ta bẻ tay.

Tỉ lệ thuận với những màn trình diễn ngu ngốc ấy là tình cảm giữa hai người cũng ngày một lớn dần lên. Nhưng dường như, chỉ có một mình Sophie là cảm nhận nó rõ ràng hơn cả. Lần đầu tiên, họ đã hôn nhau. Vẫn là trò chơi “dám hay không dám” khi Sophie ngỏ lời “Anh dám yêu em không?”. Nụ cười tinh nghịch cùng câu trả lời “dám” của Julien bỗng khiến Sophie cảm thấy bị tổn thương. Cô đã nghĩ tình cảm của Julien dành cho cô chỉ như một trò đùa. Cô ào lên xe bus, mặc cho Julien chạy đuổi theo phía sau và hét lên rằng “Anh yêu em” trong vô vọng.

Cái thứ tình yêu không thể gọi tên và cũng không dám nói ra ấy luẩn quẩn cùng trò chơi “dám hay không” khiến họ xa nhau tới 4 năm. Khi gặp lại, cả hai tiếp tục làm tổn thương nhau, đẩy nhau vào tận cùng của đau khổ, uất ức, thậm chí có cả căm giận bẽ bàng. Đến đây, có thể nói, là sự tài tình trong sắp đặt của đạo diễn, kiêm biên kịch của phim khi đưa sự đùa giỡn độc ác về tình yêu vào trong trò chơi trẻ thơ này.

Julien gặp lại Sophie, đưa cô tới nhà hàng sang trọng cùng với rượu sâm-panh và những lời có cánh như là anh sắp muốn cưới cô. Sophie xúc động rớt nước mắt ngay lúc Julien trao cho cô hộp đựng nhẫn nhưng sau đó anh lại thản nhiên nói anh nhờ cô làm người giữ nhẫn cho đám cưới của mình và trơ trẽn giới thiệu cô người phụ nữ mà anh yêu. Sophie sụp đổ, ăn miếng trả miếng bằng cách phá hoại đám cưới của Julien, khiến cha anh phát điên mà từ mặt anh.

Khán giả cảm thấy bất bình với Julien biết bao khi anh đưa cô bạn ra đường tàu, thách đố cô đứng ở đấy cho tới khi một đoàn tàu ập đến, chỉ suýt chút nữa đã đâm vào cô. Nhưng chỉ một giây sau, lại bỗng thương Julien ghê gớm bởi trong một ngày, Sophie đã khiến cho anh mất tất cả, nhất là việc anh sẽ không được gặp lại cha nữa.

Tình yêu hình như sâu đậm và khó quên hơn khi người ta căm giận nhau. Phải thế không mà sau lời thách “dám hay không” 10 năm không gặp, họ đã khát khao rồ dại sự tái hợp và làm đau nhau một lần nữa? Phải thế không mà vì quá đau, họ mới nhận ra họ yêu nhau đến nhường nào?

Sự đau đớn trong tình yêu

Diễn xuất quá tuyệt vời của Guillaume Canet trong vai Julien và Marion Cotillard trong vai Sophie, đến giây phút này của phim, đã khiến người ta vừa ghét, vừa khó chịu, vừa giận, vừa trách lại vừa thương đôi bạn trẻ. Sophie gọi Julien tới nhà song lại báo cảnh sát là có người đột nhập. Cô thích thú nhìn Julien chạy trốn còn anh chàng thì hào hứng đến mức cười như điên trong ô tô. Anh ví Sophie còn gây nghiện và phê pha hơn đủ mọi loại thuốc lắc, ma túy, cần sa, anh ví trò chơi này khiến anh rần rần cảm xúc mạnh mẽ hơn cả việc được bay lên mặt trăng hay được nghe những ca sỹ xuất chúng mọi thời đại, hay thậm chí là còn hơn cả một vụ nổ bom hạt nhân.

Họ yêu và say mê nhau quá. Nhưng họ không thể dừng cái trò làm tổn thương nhau lại. Càng yêu, càng chơi, càng thách đố thì dường như cảm xúc trong họ càng trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết. Julien thừa thắng tiến tới, giả bộ mình bị thương rất nặng trong cuộc chạy trốn để rồi lại hối hận vì đã lừa Sophie. Còn Sophie thì cũng nhận ra cô yêu anh biết bao khi nghĩ là mình đã làm hại anh. Họ chạy đến với nhau, ôm chầm lấy nhau ngay trước mặt vợ và chồng của người kia. Họ không còn quan tâm tới thế giới xung quanh nữa vì dường như giờ đây, cuộc sống của họ mới thật sự có ý nghĩa khi ở bên nhau.

“Yêu em, anh dám không” vì thế mà có một nhịp điệu phim rất nhanh, liên tục thay đổi, trải qua nhiều cung bậc cảm xúc, khá khác biệt so với phần lớn các tác phẩm khác của Điện ảnh Pháp. Ca khúc duy nhất, cũng chính là âm hưởng của bộ phim, “La vie en Rose” thật sự mang lại hiệu quả không ngờ khi xuất hiện ở cả đám tang của mẹ Julien, đám cưới của chị gái Sophie và tuôn ra từ đôi môi run run tràn ngập tình yêu của Julien.

Nhưng điều thành công nhất của phim có lẽ chính là cái kết, một cái kết hoàn toàn bất ngờ, không thể đoán trước và khó có thể khẳng định là một Happy Ending hay không. Mở đầu phim, Yann Samuell đã cho khán giả thấy chiếc hộp nhạc bị gắn một phần vào một khối bê tông lớn, thì tới cuối phim, là lúc ông giải thích điều này. Julien và Sophie đưa nhau tới công trường xây dựng, cùng đứng dưới cái hố rất sâu, bên trên là chiếc xe bồn đang chuẩn bị đổ bê tông vào hố. Họ ôm nhau, hôn nhau và nắm chặt tay nhau. Như thế này, họ sẽ ở bên nhau mãi mãi.

Ai có thể ngờ, đôi trẻ tuyệt vời không bị bất cứ điều gì ngăn cản lại sẵn sàng chết cùng nhau để bảo vệ tình yêu? Hay là vì họ sợ sẽ tiếp tục làm nhau đau? Hay là bởi họ không thể dừng trò chơi giết người này lại được? Hay là một lý do nào khác nữa? Người ta không tìm cách giải thích. Người ta ngỡ ngàng đến mức đau khổ… Và rồi… một giây nào đó, người ta lại mỉm cười, bởi, Julien đã nói rằng dưới lớp bê tông này, họ sẽ sống cuộc sống mà họ từng mơ cùng nhau.

Những hình ảnh cuối phim không phải là hình ảnh mang tính bi thương mất mát mà lại là hình ảnh đôi trẻ dám thể hiện tình yêu với nhau. Không còn ngờ nghệch, giấu diếm. Không còn băn khoăn do dự. Họ hôn nhau nhiều, rất nhiều. Họ nắm tay nhau sống cho tới lúc về già, tóc bạc trắng và móm mém, đưa nhau ra ngoài vườn phơi nắng và Julien không ngần ngại nói “Anh yêu em” với Sophie.

Họ đã “đổ bê tông” tình yêu của mình, mãi mãi không rời. Thứ tình yêu trẻ nít, điên cuồng, quái dị và không bao giờ lớn của họ.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1660 Posted : Saturday, October 2, 2021 7:01:13 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,461

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Các bài hát hay của Michel Sardou được dựng thành nhạc kịch

02/10/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Hơn ba năm sau khi tuyên bố giải nghệ, nam danh ca Michel Sardou đã bật đèn xanh cho dự án khai thác những bài hát quen thuộc của ông dưới dạng nhạc kịch. Một album gồm 20 bản nhạc vừa được trình làng hồi cuối tháng 09/2021, còn vở nhạc kịch sẽ ra mắt khán giả qua một vòng lưu diễn các sân khấu lớn vào mùa thu năm nay.

Mượn lại tựa đề "Je vais t'aimer'' (Ta sẽ yêu em), một nhạc phẩm cực kỳ ăn khách của Michel Sardou vào năm 1976, vở nhạc kịch này tập hợp 10 diễn viên, kể lại cuộc hành trình bằng du thuyền thưởng ngoạn từ nước Pháp sang New York. Được xây dựng theo mô hình của "Mamma Mia" nhưng lần này với toàn các bài hát tiếng Pháp, vở nhạc kịch không nói về tiểu sử của Michel Sardou mà lại dùng các giai điệu của nam danh ca để phản ánh tâm trạng của các nhân vật chính : giữa hoài niệm và hiện tại, giữa quá khứ và tương lai.

Thông qua những câu chuyện cá nhân, vở nhạc kịch muốn cho thấy quan hệ gắn bó giữa người Pháp với dòng nhạc Sardou. Từ các buổi văn nghệ cuối năm học, các bữa ăn gia đình cho tới đám hỏi, tiệc cưới, ít nhất là hai thế hệ khán giả tại Pháp đều có kỷ niệm riêng với Sardou, do sự nghiệp của ông trải dài trên nửa thế kỷ.

Đằng sau dự án nhạc kịch "Je vais t'aimer'' là hai nhà sản xuất người Pháp Roberto Ciurleo và Franck Montel, trước kia là giám đốc điều hành các đài phát thanh nổi tiếng (NRJ Radio và Chérie FM). Khi chuyển từ ngành truyền thông sang lãnh vực kinh doanh giải trí, họ đã từng thành công với các vở nhạc kịch như "Robin des Bois" (Hiệp sĩ rừng xanh) và "Les Trois Mousquetaires'' (Ba chàng lính ngự lâm). Nhờ có nhiều năm tay nghề, họ đã nhanh chóng thuyết phục Michel Sardou cho phép khai thác các bài hát của ông. Trong số này, dĩ nhiên có bài ''La Maladie d'Amour'' của tác giả Jacques Revaux. Tác phẩm này từng được Việt hóa với ít nhất là ba phiên bản khác nhau.

Nhạc phẩm ''La Maladie d'Amour'' có đến ba lời Việt

Trong phiên bản thứ nhất do Elvis Phương trình bày, tác giả Khắc Dũng đã giữ lại ẩn dụ tình yêu như căn bệnh để đặt lời thành "Cơn đau tình ái''. Phiên bản thứ nhì là của ca sĩ kiêm tác giả Phạm Khải Tuấn, đặt thêm lời Việt cho ca khúc này thành nhạc phẩm ''Tình Yêu Vụt Sáng''. Lời tiếng Việt thứ ba là của tác giả Lữ Liên và con trai của ông là nam ca sĩ Anh Tú đã ghi âm thành bài hát ''Người Yêu Muôn Đời''.

Trở lại với nhạc kịch Sardou, phần thực hiện đã được giao cho một êkíp người Canada : đạo diễn Serge Denoncourt, một trong những gương mặt tài ba nhất vùng Québec (từng sáng lập nhà hát Opsis) sau khi dàn dựng hơn 80 vở kịch, nay sẽ đảm nhiệm phần chỉ đạo các diễn viên. Về mặt âm nhạc, tác giả Scott Price, từng tốt nghiệp nhạc viện Toronto và hiện là giám đốc âm nhạc của thần tượng Céline Dion, sẽ là người tạo ra sợi chỉ đỏ, hầu kết nối các bài hát khá đa dạng của Michel Sardou thành một khối.



Nhớ vóc dáng tàng cây

Run rẩy ngọn gió đầy

Nghe tiếng thầm sóng dậy

Treo lơ lửng biển mây



Con lộ trước cổng nhà

Nhớ từng viên sỏi đá

Phơi tim khô mùa hạ

Cho đến tận đông qua



Đâu phải máu chan hoà

Cuộn siết trong tim ta

Tuôn nhánh sông tuổi nhỏ

Trở về với mẹ cha



Cớ chi hồn băn khoăn

Buồn trong ta thăm thẳm

Bỗng nhức nhối âm thầm

Vết chảy mòn tháng năm



Nay dòng sông tuổi già

Về siết chặt tim ta

Kỷ niệm đành hoá đá

Đông huyết mạch, vỡ oà



Vừa rồi là lời phóng tác của nhạc phẩm ''La Rivière de notre Enfance'' (Dòng sông tuổi thơ) từng ăn khách qua phần song ca của Michel Sardou với Garou. Bản thân nam danh ca đã giải nghệ cách đầy hơn 3 năm. Vòng lưu diễn nước Pháp tựa như một lời tri ân với giới hâm mộ trung thành đã chính thức kết thúc vào tháng 4 năm 2018. Ở tuổi 74, ông muốn tận hưởng cuộc sống an nhàn sau 50 năm sự nghiệp, cho đến cái ngày ông được nghe các bài ghi âm thử cho vở nhạc kịch, dưới dạng song ca hay tam ca. Ông cảm thấy phấn khởi hào hứng vì các diễn viên có chất giọng tốt, lối hòa âm cũng rất tài tình vì biết tạo sắc thái mới mà không bóp méo giai điệu nguyên tác. (Người đã thực hiện phần hoà âm là tác giả Pierre Billon, từng sáng tác ca khúc cho Johnny Hallyday và Michel Sardou trước khi hai danh ca này xích mích với nhau).

Vở kịch ra mắt khán giả sau đĩa hát

Đối với đoàn diễn viên vở nhạc kịch "Je vais t'aimer", thời điểm quan trọng nhất vẫn là ngày 21/10/2021, khi tác phẩm này sẽ được diễn lần đầu tiên trên sân khấu Zénith tại thành phố Lille. Cả đoàn kịch sau đó sẽ thực hiện một đợt lưu diễn tại các nhà hát lớn trên khắp nước Pháp. Sau khi đi một vòng các tỉnh thành, vở nhạc kịch này sẽ ra mắt khán giả Paris với một loạt live show trên sân khấu khổng lồ của nhà hát La Seine Musicale, vùng ngoại ô Paris, kể từ ngày 20/05/2022.

Để hỗ trợ cho chiến dịch quảng cáo đĩa hát và giới thiệu vở nhạc kịch này với công chúng tại Pháp, có ít nhất ba đĩa đơn đã lần lượt được phát hành. Đầu tiên hết là nhạc phẩm "La rivière de notre enfance" (Dòng sông tuổi thơ) lần đầu tiên được soạn lại cho một nhóm tam ca (Tony Bredelet, Boris Barbé và Hakob Ghasabian). Kế đến là bản nhạc ''Je viens du Sud'' (Tôi đến từ phương Nam) từng ăn khách trước đây qua giọng ca Chimène Badi, nay được Sofia Mountassir ghi âm lại. Bài hát thứ ba là một liên khúc tập hợp 8 nhạc phẩm chọn lọc trong ''tủ nhạc'' gồm toàn là các giai điệu ăn khách của Michel Sardou ("La java de Broadway", "Être une femme", "Chanteur de jazz", "Je vais t’aimer", "Les lacs du Connemara", "En chantant", "Je vole", "Musulmanes").

Michel Sarsou đã thành công trong 50 năm sự nghiệp ca hát, cho nên thật không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm khi toàn bộ các bài hát trong nhạc kịch đều quen thuộc gần gũi với công chúng, còn giới yêu nhạc Pháp hẳn chắc cũng từng nghe qua ít nhất một lần trong đời.

Users browsing this topic
Guest (6)
84 Pages«<81828384>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.