Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

105 Pages«<102103104105>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#2061 Posted : Monday, July 26, 2021 8:33:47 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Thế giới phải thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra ngày càng nhiều

26/07/2021 - Thanh Phương / RFI
Hôm nay, 26/07/2021, đại diện 195 quốc gia bắt đầu thông qua các dự báo mới của các chuyên gia khí hậu của Liên Hiệp Quốc, một báo cáo mà chắc chắc sẽ càng khiến nhân loại phải có hành động nhanh hơn và mạnh hơn chống biến đổi khí hậu, vào lúc mà các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra ngày càng nhiều và càng dữ dội.

Lũ lụt ở châu Âu, Trung Quốc

Vào giữa tháng 7, một số nước châu Âu, đặc biệt là Đức và Bỉ, đã hứng chịu những trận lũ lụt kinh hoàng do các cơn mưa lớn liên tục, khiến hơn 200 người thiệt mạng. Riêng ở Đức, tính đến ngày 23/07/2021, đã có đến 180 người chết và khoảng 150 người còn mất tích. Mưa lũ cũng đã gây nhiều thiệt hại nặng nề ở các nước láng giềng Hà Lan, Luxembourg và Thụy Sĩ. Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới, lượng mưa trong hai ngày 14 và 15/07 ở những nước đó đã bằng với lượng mưa bình thường của hai tháng.

Tại châu Á, Trung Quốc cũng bị nhiều cơn mưa lũ gây ngập lụt dữ dội chưa từng có, nhất là tại thành phố Trịnh Châu của tỉnh Hà Nam. Tính đến thứ sáu tuần trước, đã có ít nhất 56 người chết. Lượng mưa trong 3 ngày đã tương đương với lượng mưa của cả một năm. Trong khi đó, tại nhiều nơi khác, kể cả Canada, nhiệt độ bổng tăng vọt một cách bất thường vào cuối tháng 6, có khi lên tới gần 50 ° C. Bang California và Oregon của Hoa Kỳ cũng bị đợt nóng tương tự, dẫn đến những vụ hỏa hoạn dữ dội mà cho đến hôm nay vẫn chưa được dập tắt. Vụ hỏa hoạn lớn nhất được mệnh danh là « Bootleg Fire » ở bang Oregon trong hai tuần đã thiêu rụi một diện tích rừng tương đương với diện tích của thành phố Los Angeles.

Vai trò của biến đổi khí hậu ?

Hiện giờ, các nhà khoa học đang cố gắng xác định xem biến đổi khí hậu đóng vai trò như thế nào trong các trận lũ lụt vừa qua ở châu Âu, nhưng có một điều chắc chắn đó là các hiện tượng thời tiết cực đoan đó sẽ xảy ra ngày càng nhiều và nhân loại sẽ buộc phải thích ứng với các hiện tượng đó.

Trước mắt, họ nhận thấy có những yếu tố chủ chốt của cách thức mà biến đổi khí hậu sẽ tác động lên các cơn bão, khiến cho các trận mưa sẽ lớn hơn và kéo dài hơn, dẫn đến các vụ lũ lụt bất ngờ và dữ dội. Cụ thể, các nhà khoa học thẩm định là cứ mỗi 1°C tăng thêm, bầu khí quyển lại giữ thêm 7% độ ẩm. Bầu khí quyển càng ẩm ướt, thì các hiện tượng thời tiết, như áp thấp bên trên châu Âu, hay các cơn bão hình thành ở vùng Đại Tây Dương, càng tạo ra nhiều mưa.

Theo nhà khí hậu học Dieter Gerten của Viện nghiên cứu về Tác động Biến đổi Khí hậu ở Potsdam, Đức, trong các dự phóng về mô hình khí hậu, người ta đã ghi nhận sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan. Nhưng nhà nghiên cứu này vẫn hoàn toàn bị bất ngờ bởi tầm mức và cường độ của các trận lũ lụt vừa qua tại châu Âu.

Theo các nhà khoa học, biến đổi khí hậu dường như đã góp phần vào các trận lũ lụt thông qua hai yếu tố: lượng mưa và sự di chuyển chậm của cơn bão. Cụ thể, không khí càng nóng, thì nó càng giữ nước. Ở nhiệt độ nóng hơn, các phân tử nước tụ lại thành hơi và tập trung trong bầu khí quyển.

Để cho mưa lớn gây ra lũ lụt lớn, có nhiều yếu tố phải tính đến: lượng mưa trước đó, sự phát triển đô thị và địa hình của nơi đó. Theo nhà khí hậu học Dieter Gerten, chính mưa lớn bất thường đã khiến lũ lụt thêm trầm trọng. Việc di chuyển chậm hơn của các áp thấp hay các cơn bão mang theo một lượng lớn nước cũng khiến cho các cơn mưa ở châu Âu có cường độ cao hơn, theo một nghiên cứu được đăng trên chuyên san Geophysical Research Letters ngày 30/06.

Một trong các tác giả của nghiên cứu này, Hayler Fowler, đại học Newcastle, cho rằng các cơn bão sẽ di chuyển chậm hơn vào mùa hè và mùa thu do nhiệt độ ở hai cực tăng cao. Nhiệt độ ở Bắc Cực và Nam Cực tăng nhanh gấp từ hai đến ba lần so với phần còn lại của địa cầu. Chính sự hâm nóng này đang làm đảo lộn một dòng khí mà tiếng Anh gọi là jet stream, tức là dòng khi đi ngược với chiều kim đồng hồ ở cực Bắc. Sự đảo lộn này khiến cho các áp thấp và các cơn bão di chuyển chậm hơn.

Thật ra thì theo nhà khoa học Kai Kornhuber, đại học Columbia, rất khó mà xác định vai trò chính xác của biến đổi trong các trận lụt vừa qua ở Đức, nhưng ông cho biết sẽ rất ngạc nhiên nếu hiện tượng đó xảy ra một cách hoàn toàn tình cờ.

Ông cảnh báo : « Thời tiết đã thay đổi. Chúng ta biết rằng cứ mỗi 1°C tăng thêm, các trận mưa dữ dội sẽ càng thêm dữ dội. Tôi nghĩ rằng trong tương lai sẽ có thêm nhiều hiện tượng như vậy».

Theo dự báo của các nhà nghiên cứu, các trận mưa bão như ở châu Âu vừa qua có thể sẽ xảy ra với tần suất gấp 14 lần so với hiện nay .

Về đợt nóng kinh khủng vừa qua ở Canada, các nhà khoa học của World Weather Attribution, một sáng kiến quy tụ các chuyên gia của nhiều viện nghiên cứu trên thế giới, cho rằng hiện tượng thời tiết cực đoan này có lẽ gần như không thể xảy ra nếu không có sự hâm nóng bầu khí quyển do con người gây ra. Theo các nhà khoa học này, biến đổi khí hậu khiến khả năng xảy ra đợt nóng như vậy tăng ít nhất là 150 lần.

Thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan

Các trận lụt vừa qua ở châu Âu càng cho thấy sự cần thiết phải thi hành các biện pháp để hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và thích ứng với các tác động đó. Theo lời giáo sư Eduardo Araral, Viện chính sách về nước của Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Singapore, được Reuters trích dẫn ngày 22/07, các cơ sở hạ tầng được xây dựng trước đây và kể cả những cơ sở hạ tầng được xây gần đây đều không thể chịu đựng được các hiện tượng thời thiết cực đoan.

Các trận lũ lụt vừa qua ở Đức và Trung Quốc cho thấy các vùng đông dân cư bị tác hại rất nặng nề bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan. Theo nhà khoa học Fred Hattermann của Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu Potsdam, cũng được Reuters trích dẫn, phải thi hành các biện pháp về mặt kỹ thuật, chẳng hạn như củng cố các đê điều và các hàng rào chống lụt. Ông Hattermann cũng đề nghị những giải pháp thích ứng cho các thành phố, tức là chung quanh các thành phố nên quy hoạch những vùng đồng bằng hoặc vùng đất lấn biển, có thể bị ngập nước dễ dàng, để tránh nguy cơ các trận lũ lụt bất ngờ trong thành phố.

Nhưng nhà nghiên cứu này cũng lưu ý là những giải pháp đó sẽ không đủ để đối phó với các cơn mưa lũ như vừa xảy ra ở châu Âu và Trung Quốc, mà nhân loại phải tập sống quen với những hiện tượng thời tiết cực đoan đó. Ông dự báo là chi phí để làm cho các nhà ở và các cơ sở hạ tầng chịu đựng tốt hơn với biến đổi khí hậu sẽ lên tới hàng tỷ đôla.

Đối với chuyên gia khí hậu Koh Tieh-Yong, Đại học Khoa học Xã hội Siungpore, phải cấp tốc đánh giá hiện trạng của các con sông và những khu vực nóng ẩm tại những vùng dễ bị tác động của biến đổi khí hậu nhất. Lý do là vì các trận lụt thường do hai yếu tố : mưa nhiều hơn bình thường và các con sông không đủ khả năng để cho nước mưa thoát nhanh.

Ngoài ra người dân ở mọi nước nay phải ý thức được là cần phải làm gì khi xảy ra các trận lụt như ở Đức vừa qua, theo ý kiến của ông Christian Kuhlicke, đứng đầu một nhóm làm việc về các hiện tượng thời tiết cực đoan tại Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Helmholtz, Đức. Ông nói : « Nếu không chặn được nước lũ, nếu không cứu được các tòa nhà, ít ra quý vị phải làm sao di tản hết những người dễ bị tổn thương.»



Tàu sân bay của Anh tiến gần Biển Đông, Trung Quốc phẫn nộ

26/07/2021 - Thanh Hà / RFI
Hải Quân Mỹ trên trang mạng USNI News ngày 25/07/2021 thông báo, căn cứ vào các tín hiệu qua vệ tinh cho thấy tàu sân bay của Hải Quân Hoàng Gia Anh tiến gần đến Biển Đông sau đợt tập trận với hải quân Ấn Độ tại vịnh Bengal vừa qua. Global Times của Trung Quốc cảnh cáo là cụm tàu sân bay này nên tránh thâm nhập khu vực 12 hải lý của Trung Quốc.

Tàu sân bay của Hải Quân MHS Anh Queen Elizabeth được sự hộ tống của khu trục hạm săn tàu ngầm HMS Richmond, khu trục hạm có trang bị tên lửa HMS Defender, tàu chở dầu Tidespring, tàu ngầm Artful, khu trục hạm của Mỹ USS Sulivan, khinh hạm của Hà Lan Evertsen.

Từ sáng Chủ Nhật 25/07/2021, tàu khu trục Defender đã cập cảng Brunei còn chiếc tàu chở dầu Tidesping thì đã rời cảng Singapore để tiến về Biển Đông. Tàu sân bay MHS Anh Queen Elizabeth chuẩn bị cập bến tại Singapore, đúng vào lúc bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, Austin Lloyd đang có mặt tại nước này trong chuyến công du ba nước Đông Nam Á.

Tờ Hoàn Cầu Thời Báo trong ấn bản ngày Chủ Nhật 25/07/2020 đề cập đến sự kiện nói trên và cảnh báo : “Điều tàu chiến vào bên trong vùng 12 hải lý thuộc chủ quyền của Trung Quốc là một thách thức trực tiếp nhắm vào các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc” tại Biển Đông và đó là “một sai lầm” của Anh Quốc. Cũng Hoàn Cầu Thời Báo trích lời một chuyên gia thuộc đại học Bắc Kinh cho rằng “tới nay Anh Quốc luôn từ chối theo chân Mỹ và sẽ không dễ đối đầu với Trung Quốc hay trực tiếp khiêu khích Trung Quốc”, do vậy phía Trung Quốc chờ đợi là Hải Quân Anh sẽ “thận trọng, không bị Hoa Kỳ xúi giục và sẽ không tiến sâu vào vùng biển của Trung Quốc ở Biển Đông”.

Anh gạt Trung Quốc ra khỏi một dự án nhà máy điện hạt nhân

Thêm một dấu hiệu cho thấy quan hệ giữa Anh và Trung Quốc đang xấu đi : Nhật báo tài chính Anh Financial Times ngày 25/07/2021 tiết lộ Luân Đôn đang nghiên cứu khả năng loại đối tác CGN của Trung Quốc ra khỏi dự án nhà máy điện hạt nhân Sizewell. Đây là một dự án mà CGN hợp tác với nhiều tập đoàn khác, như EDF của Pháp, để cung cấp điện hạt nhân cho Anh. Trị giá toàn bộ hợp đồng lên tới hơn 20 tỷ bảng Anh.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2062 Posted : Wednesday, July 28, 2021 8:30:46 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Giới khoa học báo động: Các “dấu hiệu sinh tồn” của Trái đất đang suy yếu

28/07/2021 - Trọng Nghĩa / RFI
Trong một lời báo động được công bố vào hôm nay 28/07/2021 trên tạp chí khoa học Bioscience, một nhóm các nhà khoa học hàng đầu thế giới hiện nay đã cảnh báo rằng các “dấu hiệu sinh tồn” của hành tinh đang suy yếu dưới tác động của các hoạt động kinh tế toàn cầu và khả năng “khí hậu đột biến”.

Đối với các nhà nghiên cứu này, thành viên của nhóm hơn 14.000 nhà khoa học đã ủng hộ việc ban bố tình trạng khẩn cấp về khí hậu toàn cầu, các chính phủ đã thất bại một cách có hệ thống trong việc giải quyết các nguyên nhân của biến đổi khí hậu: Tình trạng “khai thác quá mức Trái Đất”.

Trên cơ sở lần đánh giá trước đây vào năm 2019, các nhà khoa học đã nhấn mạnh trên đà “gia tăng chưa từng thấy” của các thảm họa khí hậu, từ lũ lụt đến nắng nóng, lốc xoáy và hỏa hoạn.

Châu Âu, Trung Quốc, Canada và Hoa Kỳ đã phải hứng chịu những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt, đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người trong tháng Bảy này.

Trong số 31 “dấu hiệu sinh tồn” trên hành tinh, có việc phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, độ dày của sông băng hoặc nạn phá rừng, 18 dấu hiệu đã đạt mức kỷ lục.

Một số ví dụ được nêu bật: Mặc dù lượng khí thải nhà kính đã sụt giảm do đại dịch Covid-19, nồng độ CO2 và mêtan trong khí quyển vẫn đạt mức kỷ lục vào năm 2021. Bên canh đó, đà tan chảy của các sông băng đã nhanh hơn 31% so với cách nay 15 năm, trong lúc nạn phá rừng ở vùng Amazon của Brazil cũng đạt kỷ lục vào năm 2020, biến bể thu carbon quan trọng này của Trái Đất thành nơi thải ra khi CO2.



Vỏ bọc bề ngoài của sức mạnh của Trung Quốc

28/07/2021 - Thanh Hà / RFI
Bắc Kinh hung hăng về đối ngoại để giải tỏa những áp lực nội bộ. Theo hai nhà Trung Quốc học, Emmanuel Lincot và Emmanuel Véron, thái độ cứng rắn của đảng Cộng Sản nước này là « vỏ bọc bề ngoài » nhằm che đậy « nhiều nhược điểm ở bên trong ».

Giáo sư Emmanuel Lincot giảng dậy tại Viện đại học Công Giáo Paris, cộng tác viên Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược Pháp – IRIS. Còn nhà nghiên cứu Emmanuel Véron thuộc Học Viện Ngôn Ngữ và Văn Minh Đông Phương INALCO. Trên trang mạng chuyên về địa chính trị Diploweb số ra tháng 1/2021, qua bài "Có gì ở phía sau bức tranh tươi sáng của Trung Quốc ?" hai nhà nghiên cứu này đã phân tích về chính sách đối ngoại của Bắc Kinh, về những « ngòi nổ âm ỉ » từ bên trong. RFI xin trích dịch một số đoạn trong bài phân tích của hai chuyên gia Lincot và Véron.

Nguy cơ giải pháp quân sự từ những bất mãn chồng chất trong nước

Nhược điểm thứ nhất, theo giáo sư Lincot, chính là địa hình địa lý của nước đông dân nhất địa cầu : Trung Quốc tuy nhiều tài nguyên thiên nhiên nhưng các nguồn tài nguyên đó lại ở những vùng rất xa với trung ương, cách xa các lò sản xuất của Trung Quốc. Từ đó nẩy sinh « căng thẳng thường trực giữa chính quyền trung ương và các địa phương ». Hiềm khích đó có chiều hướng gia tăng từ khi ông Tập Cận Bình lên lãnh đạo đất nước. Điểm yếu thứ nhì là núi và sa mạc chiếm một phần lớn diện tích quốc gia rộng lớn này, « tối thiểu 400 triệu dân Trung Quốc khó tiếp cận với các nguồn nước ngọt (…) Sự khan hiếm nước đó giải thích một số xung đột với các quốc gia sát cạnh ». Điểm yếu thứ ba là vấn đề nhu cầu thực phẩm. Emmanuel Lincot giải thích : đất canh tác của Trung Quốc không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cho 1,5 tỷ dân và « sự lệ thuộc của Trung Quốc vào lương thực, thực phẩm của nước ngoài là một vấn đề lớn » đối với bản thân Trung Quốc và toàn thế giới. Nguy hiểm hơn nữa là diện tích đất canh tác của Trung Quốc ngày càng bị thu hẹp để nhường chỗ cho thành phố phát triển. Sự phát triển đó dẫn đến một hậu quả tai hại không kém về mặt xã hội : khác biệt giữa nông thôn và thành thị càng lúc càng lớn.

60 % dân Trung Quốc sống với thu nhập chưa tới 140 đô la hàng tháng. « Trái với các chiến dịch tuyên truyền của Bắc Kinh, Trung Quốc không phải là một xã hội hài hòa ». Người dân Trung Quốc không dám nói ra, nhưng « bất mãn chồng chất đang tích tụ ». Emmanuel Lincot kết luận : Vì những nhược điểm vừa nêu, Bắc Kinh chưa có đủ phương tiện để trở thành một siêu cường của thế giới và đó là mối bức xúc của ông Tập Cận Bình.

Chênh lệch giữa tham vọng và khả năng để trở thành một cường quốc là « một mối nguy hiểm » vì « trong một chế độ độc tài, ngõ thoát duy nhất để giải tỏa bức xúc đó đôi khi có thể là một giải pháp quân sự ».

Dùng công nghệ mới để giải tỏa bế tắc nội bộ

Đối với nhà nghiên cứu Emmanuel Véron Viện INALCO, nhược điểm của Trung Quốc là dân số đông nhất địa cầu và diện tích tương đương với cả một châu lục, với những mức độ phát triển quá chênh lệch. Để vượt lên trên những khó khăn đó, Bắc Kinh « khai thác những công nghệ mới từ trí thông minh nhân tạo đến mạng 5G và tới đây là 6G ». Trung Quốc đã nhanh chóng phát triển, sử dụng ở quy mô lớn và không có giới hạn các công nghệ mới vừa để kiểm soát mọi hoạt động của các công dân nước này, vừa để phục vụ mục đích trở thành một cường quốc. Điều ấy « đang và sẽ đẩy Trung Quốc cũng như là thế giới vào một thực tế khác hẳn so với những gì mà chúng ta đang chứng kiến hiện nay ».

Bước ngoặt trong chính sách ngoại giao của Bắc Kinh

Vậy Bắc Kinh có những lá chủ bài nào để chinh phục thế giới ? Trong phần trả lời dành cho trang mạng chuyên về địa chính trị Diploweb giáo sư Lincot, Viện đại học Công Giáo Paris và cộng tác viên của Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược Pháp gắn liền vế kinh tế và ngoại giao.

Từ thời Đặng Tiểu Bình đến Hồ Cẩm Đào, Trung Quốc đã nhã nhặn trên trường ngoại giao vì cần đầu tư của phương Tây. Nhưng bước sang thế kỷ XXI, vững mạnh về kinh tế (Bắc Kinh đã ra đời những định chế riêng như là Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải, Ngân Hàng Phát Triển Cơ Sở Ha Tầng…) Trung Quốc không còn nhút nhát trong bang giao quốc tế và đã bắt đầu « đọ sức với Ấn Độ, uy hiếp Đài Loan, kích động công luận khơi dậy hiềm khích trong quá khứ lịch sử với Nhật Bản, với châu Âu trong thời kỳ chiến tranh nha phiến »… Emmanuel Lincot lưu ý những nỗ lực đó của đảng Cộng Sản Trung Quốc khơi lại quá khứ để kích động quần chúng, nhưng « chưa bao giờ xin lỗi về cái chết của 80 triệu nạn nhân của những phong trào Trăm Hoa Đua Nở, Đại Nhẩy Vọt hay Cách Mạng Văn Hóa ».

Tiêu tan những nỗ lực ngoại giao

Thái độ hung hăng dưới thời ông Tập Cận Bình thể hiện khá rõ với việc Trung Quốc « đòi viết lại lịch sử » về diễn biến dịch Covid-19, « về nguồn gốc con virus, về số nạn nhân ở Vũ Hán » và qua áp lực của Bắc Kinh với Tổ Chức Y Tế Thế Giới về một thảm họa đã cướp đi sinh mạng của hơn bốn triệu người trên hành tinh.

Theo nhà Trung Quốc học Emmanuel Lincot, do virus corona mà « trong vài tuần lễ thế giới đã sáng mắt ra » về « mức độ nguy hiểm của sức mạnh Trung Quốc, về thái độ vô trách nhiệm của Bắc Kinh » và quan trong hơn nữa là « trong một thời gian rất ngắn, ông Tập Cận Bình đã hủy hoại những nỗ lực của nền ngoại giao Trung Quốc để tô điểm cho hình ảnh của quốc gia này ». Giáo sư Lincot Viện đại học Công Giáo Paris cho rằng giờ đây, Trung Quốc hiện nguyên hình là một « kẻ phá hoại » vơ vét của người khác về làm của mình đồng thời cho thấy « hợp tác một cách bình đẳng » với Bắc Kinh là điều không tưởng. Ngay cả với các nước như Iran, hay Nga thường khẳng định có mối bang giao chặt chẽ với Trung Quốc nhưng đó cũng chỉ là vỏ bọc bề ngoài.

« Mối quan hệ đặc biệt Nga-Trung »

Trong trường hợp của Matxcơva chẳng hạn, giáo sư Lincot cho rằng, tổng thổng Putin cũng như công luận Nga không hề « ngây thơ » chút nào trước những ý đồ của Bắc Kinh.

Giáo sư Lincot nhắc lại : Ngay cả dự án Một vành đai một con đường mà Trung Quốc đề xướng hiện nay, khởi đầu là một sáng kiến của Nga. Từ thập niên 1980 Matxcơva đã có ý định làm sống lại con Đường Tơ Lụa để đánh lạc hướng công luận Liên Xô về những thất bại quân sự trên chiến trường Afghanistan và để chứng minh rằng mô hình xã hội chủ nghĩa có thể phát triển và hợp tác với các nước Hồi Giáo. Nhưng rồi Bắc Kinh đã có tham vọng lớn hơn, có nhiều phương tiện hơn.

Bên cạnh những chủ đích kinh tế, những ý đồ về địa chính trị của Trung Quốc đã « quá rõ ràng » và điều rõ ràng không kém là « Bắc Kinh có những phương tiện tài chính mà Matxcơva không có được ». Nhưng Trung Quốc phải dựa vào ảnh hưởng của Nga tại Trung Á thông qua Tổ Chức Hiệp Ước An Ninh Tập Thể (OTSC) được thành lập từ tháng 10/2002 quy tụ Nga và Armenia, Belarus, Kazakhstan Kirghizistan và Tadjikistan. Tổ chức này cho phép Matxcơva can thiệp quân sự trong khu vực liên quan để giải quyết xung đột. Trong khi đó Trung Quốc không có thẩm quyền đó với Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải.

Tuy nhiên giáo sư Emmanuel Lincot nhấn mạnh đến tính chất « tình thế » của trục Matxcơva – Bắc Kinh : thứ nhất tới nay Trung Quốc chưa mạnh dạn đầu tư vào Nga. Điểm thứ nhì là điện Kremlin không ngần ngại bán vũ khí cho Việt Nam hay Ấn Độ. Chủ tịch Tập Cận Bình không mấy hài lòng về điều đó.

Về phía giáo sư Véron thuộc viện INALCO, ông cho rằng Trung Quốc và Nga chủ yếu gắn kết với nhau trên ba hồ sơ, đó là năng lượng - nguyên liệu - khoáng sản, là công nghiệp vũ khí và địa chính trị. Nhà nhiên cứu này cũng cho rằng không nên đánh giá quá đáng về sự « thắm thiết » của cặp bài trùng nói trên bởi vì « Matxcơva không muốn Trung Quốc hiện diện quá nhiều và quá mạnh ». Trong khi đó « Bắc Kinh hài lòng về thế thượng phong của mình đối với nước Nga cho dù Matxcơva là một tâm điểm của thế giới cả về mặt ngoại giao lẫn quân sự và chiến lược, nhưng cả về đối ngoại lẫn đối nội, nước Nga của ông Putin lại không có phương tiện tài chính xứng tầm.

Đó là điều khiến Bắc Kinh hài lòng.

Trung Quốc chỉ muốn dựa vào ảnh hưởng của Nga tại châu Âu và trong khu vực Trung Á mà thôi. Thế nhưng nhà nghiên cứu Emmanuel Véron lưu ý : Nga không là cửa ngõ duy nhất để Trung Quốc bắt rễ vào hai khu vực vừa nêu, bởi Bắc Kinh đã kết nối với những người bạn mới, như là Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và cũng đã từng bước chen chân vào vùng Capkaz thuộc ảnh hưởng của Matxcơva hay vùng Địa Trung Hải.



TT Biden: Tấn công mạng có thể đẩy Mỹ vào chiến tranh trên thực địa

28/07/2021 - Voa / Reuters
Hôm 27/7, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden cảnh báo rằng nếu Hoa Kỳ rốt cuộc bị rơi vào một “cuộc chiến nổ súng thực sự” với một “cường quốc” thì đó có thể là hậu quả của một cuộc tấn công mạng nghiêm trọng vào Hoa Kỳ. Phát biểu của ông Biden nêu bật lên điều mà Washington coi là mối đe dọa ngày càng tăng do Nga và Trung Quốc gây ra, theo Reuters.

An ninh mạng đã trở thành vấn đề hàng đầu trong chương trình nghị sự của chính quyền Biden sau một loạt các cuộc tấn công gây xôn xao đánh vào các pháp nhân như công ty quản lý mạng SolarWinds, công ty Colonial Pipeline, công ty chế biến thịt JBS và công ty phần mềm Kaseya, đã gây tổn hại lớn cho nước Mỹ, không chỉ bó hẹp trong các công ty bị tấn công. Một số cuộc tấn công này đã ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nhiên liệu và thực phẩm ở các vùng của Hoa Kỳ.

Tổng thống Biden nói trong bài phát biểu kéo dài nửa giờ khi đến thăm Văn phòng Giám đốc Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ (ODNI): “Tôi nghĩ rất có khả năng là rốt cuộc chúng ta sẽ đi đến, nếu rốt cuộc chúng ta đi đến một cuộc chiến - một cuộc chiến nổ súng thực sự với một cường quốc - đó sẽ là hậu quả của một vụ xâm nhập mạng gây hậu quả lớn”.

Trong hội nghị thượng đỉnh ngày 16/6 tại Geneva giữa ông Biden và Tổng thống Nga Vladimir Putin, ông Biden chia sẻ danh sách các cơ sở hạ tầng quan trọng mà Hoa Kỳ coi là “bất khả xâm phạm” đối với các tổ chức tấn công cấp nhà nước.

Kể từ đó, các thành viên cấp cao của đội ngũ an ninh quốc gia của chính quyền Biden thường xuyên liên lạc với các thành viên cấp cao của Điện Kremlin về các cuộc tấn công mạng nhằm vào Hoa Kỳ, Nhà Trắng cho biết.

Vẫn theo Reuters, ông Biden nhấn mạnh những mối đe dọa từ Trung Quốc, mô tả Chủ tịch Tập Cận Bình là người “hết sức quả quyết về việc Trung Quốc trở thành lực lượng quân sự hùng mạnh nhất thế giới, cũng như nền kinh tế lớn nhất và nổi bật nhất thế giới vào giữa những năm 2040-2050”.

Trong bài phát biểu trước khoảng 120 nhân viên ODNI và các quan chức lãnh đạo cấp cao, Tổng thống Biden cũng gửi lời cảm ơn đến các thành viên của cơ quan tình báo Hoa Kỳ, nhấn mạnh sự tin tưởng của ông vào công việc của họ và cho biết ông sẽ không gây áp lực chính trị lên các nhân viên ODNI.

Hiện tại ODNI giám sát 17 tổ chức tình báo của Hoa Kỳ.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2063 Posted : Thursday, July 29, 2021 1:05:38 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Tập Cận Bình - Vladimir Putin : Hợp tác đối phó với Biden hay là « nụ hôn thần chết » ?

29/07/2021 - Thùy Dương / RFI
Trong những tuần gần đây, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và tổng thống Nga Vladimir Putin không ngừng điện đàm với nhau. Điều gì đang xảy ra? Đó có phải chỉ đơn giản là hệ quả của cuộc đối đầu ý thức hệ gay gắt giữa Mỹ và hai nước Nga - Trung ? Sự xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và nước láng giềng khổng lồ Nga có vẻ rõ ràng, nhưng mọi chuyện lại không đơn giản như vậy.

Trên đây là nhận định của chuyên gia Trung Quốc Pierre-Antoine Donnet trong bài viết đăng trên trang mạng châu Á The Asialyst ngày 07/07/2021 : « Nga - Trung : Đối phó với Biden, những giới hạn khi Tập và Putin xích lại gần nhau ». RFI giới thiệu bài viết dưới dạng hỏi đáp.

Bắc Kinh và Matxcơva thời gian qua có vẻ rất gắn bó với nhau ?

Mọi người đều biết cặp đôi nào cũng trải qua thời kỳ tốt đẹp và những giai đoạn khó khăn. Quan hệ giữa cặp đôi Trung Quốc và Nga cũng như vậy, đôi bên từng có những giai đoạn « yêu thương » rồi « thù hằn». Nhìn vẻ bề ngoài thì trong thời gian qua dường như cặp đôi Nga - Trung đang có « tình yêu cuồng nhiệt ». Nhưng nếu tìm hiểu kỹ thì có thể thấy không chắc là như vậy.

Vào ngày 28/06/2021, một tuyên bố chung giữa Bắc Kinh và Matxcơva dường như đã làm sáng tỏ nhiều điều. Nga và Trung Quốc khẳng định mong muốn tăng cường, củng cố sự hiểu biết lẫn nhau và thúc đẩy « một trật tự quốc tế công bằng, chính đáng hơn và dân chủ hơn » nhằm làm đối trọng với Hoa Kỳ và với sự tấn công ý thức hệ của Washington.

Gần đây, sau một hội nghị trực tuyến, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và tổng thống Nga Vladimir Putin đã bác bỏ việc hai nước đang tìm cách tiến hành một cuộc chiến tranh lạnh mới và phủ nhận việc đôi bên lập liên minh quân sự. Ngược lại, hai nhà lãnh đạo khẳng định quan hệ song phương Nga - Trung đã trở nên « chín muồi hơn, ổn định hơn và vững chắc hơn » và hai nước giờ đây đều là « đối tác ưu tiên » của nhau.

Liệu có phải Tập Cận Bình và Putin xích lại gần nhau vì Joe Biden ?

Cuộc họp thượng đỉnh trực tuyến lần thứ hai giữa hai nguyên thủ quốc gia Nga - Trung chỉ trong vòng vài tuần lễ và thông cáo rất dài của họ rõ ràng là nhắm vào tổng thống Mỹ Joe Biden. Kể từ khi ông Biden chính thức nhậm chức tổng thống Mỹ hồi tháng 01/2021, ưu tiên lớn nhất của nguyên thủ Mỹ là cuộc đối đầu chống lại một nước Trung Quốc độc tài và xâm lăng.

Trước đó 2 tuần, tổng thống Nga Vladimir Putin đã gặp đồng nhiệm Mỹ Joe Biden tại Genève, Thụy Sĩ, nhằm tìm kiếm một mối quan hệ ổn định hơn cho Nga và Mỹ, và đặc biệt là để có thể tin tưởng lẫn nhau. Nguyên thủ Mỹ Biden luôn nhớ rằng quan hệ giữa Bắc Kinh và Matxcơva ngày càng trở nên chặt chẽ. Chúng ta đừng quên rằng, cách đó vài tuần, Joe Biden đã xem Vladimir Putin là « kẻ sát nhân ».

Do đó, dù không nói ra, nhưng thông cáo Trung - Nga là nhắm vào Washington : « Một số quốc gia sử dụng ý thức hệ để vạch ra các lằn ranh, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các quốc gia có chủ quyền, áp đặt các biện pháp trừng phạt đơn phương và làm đảo lộn các cơ sở pháp lý của hệ thống quan hệ quốc tế, bao gồm cả trong lĩnh vực kiểm soát vũ khí. »

Thông cáo còn cho biết: « Thế giới càng xáo động thì Trung Quốc và Nga càng phải củng cố, tăng cường quan hệ hợp tác chiến lược ». Vẫn theo thông cáo chung, trước tình hình này, đôi bên không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phối hợp và hợp tác sâu rộng hơn trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, quân sự, kinh tế, năng lượng và công nghệ. Mục tiêu của Matxcơva và Bắc Kinh là « bảo vệ lợi ích chung » của hai nước trên trường quốc tế và « tiếp tục chủ nghĩa đa phương đích thực » để bảo vệ thế cân bằng quốc tế. Thông cáo chung của ông Tập và Putin còn nhấn mạnh : « Nước Nga cần một Trung Quốc thịnh vượng và ổn định còn Trung Quốc cần một nước Nga hùng mạnh và chiến thắng. Trung Quốc và Nga coi nhau như những đối tác ưu tiên ».

Liệu Nga và Trung Quốc có muốn kích động một cuộc xung đột vũ trang với Mỹ hay không ?

Đối với Shi Yinhong, giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Nhân Dân ở Bắc Kinh, được South China Morning Post trích dẫn, chừng nào liên minh Tây phương do Hoa Kỳ dẫn đầu vẫn tham gia vào một cuộc đối đầu ngày càng gay gắt nhắm vào Trung Quốc và Nga, thì hiển nhiên là hai quốc gia này còn « cảm thấy có nhu cầu khẩn thiết về việc thắt chặt các mối quan hệ vốn đã gần như là một liên minh […] Các mối liên kết này nhất định sẽ còn được thắt chặt thêm nếu thế đối đầu Trung - Mỹ và Nga - Mỹ trở nên căng thẳng hơn ».

Danil Bochkov, một chuyên gia tại Hội đồng Nga về các vấn đề quốc tế, mà nhật báo Hồng Kông trích dẫn, cũng có cùng nhận định. Ông khẳng định là trên thực tế, hiếm khi cụm từ « các đối tác ưu tiên » xuất hiện trong các văn bản chính thức, mặc dù các nhà lãnh đạo của hai quốc gia này có xu hướng coi quan hệ đối tác chiến lược Nga-Trung như một ưu tiên đối với cả hai bên. Trong một cuộc phỏng vấn được phát ngay trước thượng đỉnh Nga - Mỹ tại Genève, tổng thống Nga Vladimir Putin thậm chí còn tiến xa tới mức bảo vệ chính sách của chính phủ Trung Quốc nhắm vào người Hồi Giáo thiểu số Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương.

Chúng ta nên nhớ là Tập Cận Bình và Putin đã gặp nhau hơn 25 lần và họ đều coi nhau là « người bạn tốt nhất ». Mỹ đã nhiều lần bày tỏ quan ngại, đặc biệt là về sự hợp tác quân sự và các cuộc tập trận chung của Nga và Trung Quốc. Nhưng sẽ là liều lĩnh, mạo hiểm nếu tuyên bố rằng sự hợp tác này có thể đi xa đến mức nhắm cụ thể vào Mỹ.

Đối với giáo sư Shi Yinhong, « sự hợp tác quân sự này dường như là sự hỗ trợ của Nga đối với Trung Quốc về trang thiết bị quân sự công nghệ cao. Nhưng tôi không nghĩ rằng Nga sẽ đề cao, khoe khoang về các mối quan hệ quân sự chung với Trung Quốc để nhắm vào Đài Loan, cũng như sự hỗ trợ quân sự của Trung Quốc để chống Ukraina. Trung Quốc và Nga không muốn khiêu khích, kích động một cuộc xung đột vũ trang quy mô lớn với liên minh phương Tây do Mỹ dẫn đầu ».

Quan hệ Nga - Trung hiện giờ có gì căng thẳng ?

Theo giáo sư Artyom Lukin, cộng tác viên của Đại học Viễn Đông Nga ở Matxcơva, quan hệ Matxcơva-Bắc Kinh cũng có những căng thẳng liên quan đến sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc ở Trung Á. Giáo sư Lukin nhận định : « Nhưng cho đến nay, những mối xung khắc này chỉ có ý nghĩa ngoại biên trong mối quan hệ song phương của họ. Trong tương lai gần, họ sẽ xích lại với nhau hơn là theo chiều ngược lại ».

Tuy nhiên, trọng lượng kinh tế của Nga không thể sánh bằng Trung Quốc. Nga chỉ có GDP gần bằng nước Ý. Còn Trung Quốc có thể trở thành cường quốc kinh tế lớn nhất với tổng GDP vượt Mỹ vào khoảng năm 2028, theo các dự báo mà các kinh tế gia phương Tây cũng đồng ý kiến. Vì thế, Nga chỉ như « tiểu đệ » của nước láng giềng Trung Quốc hùng mạnh. Đó là lý do tại sao Vladimir Putin lo ngại rằng một ngày nào đó Tập Cận Bình sẽ trao cho ông « nụ hôn của thần chết ».



Đập Renaissance : Vũ khí để Ethiopia lật đổ thế độc quyền của Ai Cập kiểm soát sông Nil Xanh

29/07/2021 - Minh Anh / RFI
Sử gia Herodote thời Hy Lạp Cổ Đại từng nói rằng « Sông Nil là lộc trời ban cho Ai Cập » và « Ai Cập là viên ngọc quý của sông Nil ». Nhưng món « lộc trời ban » mà Ai Cập ra sức gìn giữ từ hơn hai thế kỷ qua nay có nguy cơ vuột khỏi tầm tay, chỉ vì một nguyên nhân duy nhất : Đập thủy điện đồ sộ « Renaissance », ở thượng nguồn sông Nil Xanh, trên lãnh thổ Ethiopia.

Sông Nil, một trong những con sông dài nhất trên thế giới, được hình thành từ hai nhánh sông lớn : Nil Trắng – nhánh phụ lưu dài nhất bắt nguồn từ Burundi và Nil Xanh đến từ hồ Tana, trên cao nguyên Agish Abbay, Ethiopia. Với chiều dài gần 1.500 km, đi qua tám nước, sông Nil Xanh cung cấp đến 80% lưu lượng cho sông Nil.

Nước ngọt : Chìa khóa an ninh quốc gia cho Ai Cập và Sudan

Những năm gần đây nhánh Nil Xanh trở thành tâm điểm tranh cãi gay gắt giữa ba nước Ai Cập, Sudan và Ethiopia. Năm 2011, Ethiopia dưới thời thủ tướng Meles Zenawi đã quyết định khởi công xây dựng đập thủy điện mang tên Renaissance, cao 145 mét, rộng gần 1.880 cây số vuông, và có sức chứa đến 74 tỷ m3 nước bất chấp những phản đối từ Sudan và nhất là Ai Cập. Một khi hoàn thành, công trình thủy điện này có thể tạo ra 6450MW điện năng.

Là quốc gia có khí hậu sa mạc, Ai Cập phụ thuộc nhiều vào sông Nil về nhu cầu nước ngọt. Từ nhiều năm qua, quốc gia này bắt đầu đối mặt với tình trạng khan hiếm nước do biến đổi khí hậu gây ra. Ông Frank Galland, chủ tịch ES2, Văn phòng Thiết kế đồ án tổng hợp và nhà nghiên cứu cộng tác cho Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược trên đài RFI giải thích, đối với chính quyền Cairo, đập giữ nước này là một hiểm họa cho sự sinh tồn, trong bối cảnh Ai Cập đối mặt với tình trạng bùng nổ dân số.

« Trên thực tế, 98% nguồn cung nước ngọt cho Ai Cập phụ thuộc nhiều vào sông Nil. 95% người dân Ai Cập sinh sống bên hai bờ sông Nil. Vào lúc cả thế giới bị phong tỏa, Ai Cập đã vượt ngưỡng 100 triệu dân. 60% dân số Ai Cập là những người trẻ, chưa tới 35 tuổi. Tổng thống Sissi thật sự đang phải đối đầu với một quả bom dân số.

Thế nên, nước ngọt còn là một vấn đề chủ quyền lãnh thổ, một vấn đề an ninh quốc gia cho Ai Cập. Ngay cả vị tổng thống trước đó, ông Mohamed Morsi, thuộc phe Huynh Đệ Hồi Giáo, từng nhấn mạnh rằng vấn đề đập thủy điện Renaissance còn có thể là một lời tuyên chiến ».

Tương tự, Sudan – quốc gia láng giềng sát cạnh của Ethiopia – cũng có cùng mối lo như Ai Cập. Đập thủy điện Renaissance của Ethiopia chỉ cách công trình thủy điện Roseires của Sudan ở hạ lưu 120 km, có quy mô nhỏ hơn hai lần và sức chứa nước chỉ ở mức 7 tỷ m3, ít hơn đến 10 lần so với công trình thủy điện của Addis-Abeba.

Với Khartoum, đập thủy điện Roseires là một trong những cột trụ cho nền kinh tế. Gần 2/3 trong tổng số 35,5 triệu dân phụ thuộc vào nguồn điện do Roseires tạo ra. Hồ chứa Roseires còn là nguồn dự trữ nước ngọt quan trọng cho nhiều dự án nông nghiệp hay cho các trạm bơm cung cấp nước ngọt đến tận thủ đô Khartoum. Ngay khi Ethiopia hoàn tất giai đoạn một việc đổ nước vào hồ (3,5 tỷ m3), lượng nước sông Nil đổ vào lãnh thổ Sudan đã bị tụt giảm, khiến chính quyền nước ngày quan ngại.

Đập Renaissance : Sự hồi sinh một Ethiopia hùng mạnh

Thế nhưng, chính quyền Addis-Abeba xem công trình thủy điện lớn nhất châu Phi, trị giá gần 5 tỷ đô la và được thực hiện với sự hỗ trợ của Trung Quốc, lại là một niềm tự hào dân tộc, một chiếc bệ đỡ cho sự phát triển kinh tế, và có thể cung cấp điện năng cho hai phần ba trong tổng số 115 triệu dân. Là quốc gia châu Phi có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất (GDP 8%, số liệu năm 2019), « con Hổ » Ethiopia lại thiếu nguồn năng lượng trong khi mức nhu cầu điện năng tăng đều đặn 30%/năm.

Điểm mấu chốt của sự tranh cãi giữa ba nước chính là nhịp độ đổ nước vào hồ chứa. Với sức chứa 74 tỷ m3 nước, Ai Cập và Sudan đề nghị một nhịp độ đổ nước chậm, kéo dài 21 năm. Cairo lo lắng tốc độ đổ nước quá nhanh vào bể chứa khổng lồ này dẫn đến một mức giảm to lớn lưu lượng sông Nil, ảnh hưởng đến hàng triệu người dân, đặc biệt là tầng lớp nông dân vốn đã chịu nhiều thiệt thòi vì cách quản lý nước bất bình đẳng ở tại quốc gia này.

Nhưng Ethiopia lại muốn một nhịp độ tích đầy nước chỉ trong vòng 7 năm để có thể nhanh chóng vận hành cỗ máy sản xuất điện. Những bất đồng này kéo dài dai dẳng từ nhiều năm qua bất chấp sự can thiệp của nhiều tổ chức quốc tế, Mỹ, Liên Hiệp Quốc…

Căng thẳng còn leo thang gay gắt khi thời gian gần đây chính quyền Addis-Abeba đơn phương hành động khi cho bắt đầu đổ nước vào hồ mà không cần sự đồng thuận. Ngày 19/7/2021, Ethiopia thông báo hoàn thành giai đoạn hai đổ nước vào bể, tức ở mức 13,5/74 tỷ m3 nước và con đập lớn Renaissance giờ đã có thể vận hành để sản xuất điện.

Tuy nhiên, ông David Blanchon, giáo sư địa lý, trường đại học Nanterre, trong một chương trình của France Culture (ngày 13/09/2020) từng lưu ý rằng, sự thay đổi về lưu lượng dòng chảy các con sông tại Ai Cập sẽ tương đối ít, bởi vì đã có những con đập tại Sudan (Roseires) và ở Ai Cập (Assouan được xây dựng từ năm 1970), vốn dĩ cũng đã làm điều chỉnh dòng chảy. Tranh cãi về nhịp độ đổ nước chỉ là một cái cớ, vấn đề này còn mang dáng dấp của địa chính trị, một cuộc cạnh tranh giành quyền ảnh hưởng nhằm khẳng định thế mạnh trong khu vực.

Việc chọn tên cho đập thủy điện là « Renaissance – Hồi sinh » cũng không phải là chuyện ngẫu nhiên. Điều này khẳng định rõ sự trở lại của Ethiopia như là một cường quốc khu vực có những đầy đủ các thuộc tính cho đến giờ vẫn còn thiếu : Một Ethiopia hùng mạnh, đóng một vai trò địa chính trị hàng đầu tại ba vùng ảnh hưởng : Hồng Hải, lưu vực sông Nil, và Đông Phi.

Ông nói :« Vấn đề là nhịp độ tích đầy nước vào hồ chứa nằm trong khoảng từ 7 – 21 năm, nhưng ở đây, đó chỉ là một cái cớ để lật đổ thế độc quyền kiểm soát lưu vực sông Nil. Ai Cập từng là một cường quốc, mà trước đây người ta hay gọi là cường quốc độc chiếm nước ngọt, khi khẳng định quyền thống trị trên lưu vực sống Nil và dựa vào các hiệp ước năm 1929 và năm 1959.

Những hiệp ước này nói rằng Ai Cập có những quyền đối với sông Nil trong khi mà Ethiopia tiến hành một chính sách chống thế bá quyền đó. Ethiopia cho rằng tất cả các nước nằm trên lưu vực sông Nil là phải bình đẳng và Ethiopia có quyền làm chủ những nguồn nước ngay trên lãnh thổ của mình với đập thủy điện này.

Đối với Ethiopia, vấn đề là phải khẳng định mình là cường quốc thủy điện, năng lượng, tại phần này của châu lục, nghĩa là vừa với Sudan, Kenya, Ouganda và với việc sản xuất thủy điện này, cần phải khẳng định như là một cường quốc công nghiệp mới trỗi dậy nhờ vào sự hỗ trợ của Trung Quốc. Do đó, ở đây có một bối cảnh chính trị vượt qua cả các vấn đề kỹ thuật là nhịp độ đổ đầy nước vào bể chứa. »

Lỗi ở thực dân Anh

Quả thật, là một nước ở hạ lưu, chặng cuối cùng của sông Nil trước khi đổ ra Địa Trung Hải, Ai Cập từ hơn hai thế kỷ qua, luôn tìm cách kiểm soát, trực tiếp hay gián tiếp những nguồn nước của sông Nil. Chính vì lý do này mà Mohammed Ali – tổng trấn Ai Cập (giai đoạn 5/1805 – 3/1848), từng đưa quân chiếm đóng Sudan ngay từ đầu thế kỷ XIX.

Cũng trong ngần ấy thời gian, Ai Cập không ngừng xác quyết « các quyền lịch sử » đối với sông Nil khi thường xuyên nhắc lại những thỏa thuận khác nhau được ký kết trong các năm 1902, 1929 và 1959, phần lớn dưới thời Anh Quốc còn hiện diện ở châu lục. Những văn bản này trao cho Ai Cập một thế gần như độc quyền kiểm soát việc quản lý và chia sẻ nguồn nước « xanh » quý giá, theo hướng có lợi cho Ai Cập.

Những hiệp ước này còn quy định rằng bất kỳ công trình xây dựng nào có thể làm biến đổi dòng chảy của sông Nil đều phải có sự đồng thuận của các nước ở hạ nguồn là Ai Cập và Sudan. Những thỏa thuận mà trong những thập niên cuối thế kỷ XX, Ethiopia nhiều lần đề nghị bãi bỏ nhưng không thành.

Đó là chuyện của thế kỷ trước. Nhà địa lý học David Blanchon lưu ý là tình hình địa chính trị của lưu vực sông Nil một thập niên gần đây đã có những thay đổi lớn. Bị phớt lờ hơn hai thế kỷ qua, Ethiopia – nơi xuất phát của khoảng 80% lưu lượng sông Nil – muốn áp đặt một tầm nhìn khác về lưu vực sông Nil và muốn có một cách thức phân chia mới.

« Ai Cập hoàn toàn dựa vào những hiệp ước đó, mang lại cho nước này những quyền hạn với một thế ưu việt trên lưu vực sông Nil. Thỏa thuận năm 1959 cho phép Ai Cập sử dụng đến 75% nguồn nước và Sudan là 25%. Nhưng thỏa thuận này được ký kết dưới thời thực dân Anh : Kenya và nhiều nước khác ở Thượng lưu sông Nil Trắng khi ấy còn là thuộc địa Anh.

Thế nên, họ phản đối thỏa thuận này và muốn thay thế chúng bằng một thỏa thuận mới trong khuôn khổ Sáng kiến Lưu vực sông Nil. Đương nhiên, trong thỏa thuận mới này sẽ không có những quyền lịch sử của Ai Cập và trong thỏa thuận mới đó, tất cả các nước sẽ được đối xử như nhau. Ethiopia thúc đẩy được các nước thượng nguồn ký kết thỏa thuận nhưng không có Ai Cập và Sudan. »

Gió đã đổi chiều ?

Giờ đây, Ai Cập mong muốn có một phương thức quản lý mang tính khu vực và một cơ chế để giải quyết các xung đột. Không có được một đồng thuận hợp pháp về những quy định sử dụng nguồn nước từ đập thủy điện Renaissance, đất nước Ai Cập có nguy cơ phải phụ thuộc Ethiopia vào những mùa khô hạn. Sự bất lực này có lẽ sẽ là một dấu hiệu suy yếu của Ai Cập và đây sẽ là một điều khó xử cho tổng thống Al - Sissi.

Trước những thất bại của nhiều cuộc đàm phán với Addis-Abeba, Cairo và Khartoum hồi tháng 4/2021 mở một cuộc tập trận chung mang tên « Những người bảo vệ sông Nil », gởi đi một thông điệp rõ ràng đến Ethiopia. Hai nước Ai Cập và Sudan, ngày 25/06 còn ký kết một thỏa thuận mới về hợp tác quân sự.

Liệu rằng chiến tranh giữa ba nước có xảy ra hay không ? Về điểm này, nhà nghiên cứu David Blanchon tin chắc là « Không ».

« Điều này rất khó xảy ra, bởi vì Ai Cập có lẽ sẽ không có được một sự hậu thuẫn nào nếu như nước này lao vào một cuộc xung đột vũ trang với Ethiopia. Về phần mình, chính quyền Addis – Abeba đã tạo lập một liên minh cả trong khu vực lẫn với Trung Quốc, và thậm chí trong quá trình xây dựng đập, còn có sự tham gia của một doanh nghiệp Ý và tập đoàn Alstom của Pháp, những hãng cung cấp tuốc-bin. Rõ ràng là có một liên minh đủ mạnh để tránh bất kỳ một cuộc xung đột nào. »

Và liên minh này của Ethiopia dường như còn được củng cố hơn nữa khi trong phiên họp ngày 07/07/2021, nước Nga của tổng thống Vladimir Putin đột ngột đổi thái độ vào phút chót trong phiên họp Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, khi chính thức thừa nhận tầm quan trọng của đập thủy điện Renaissance đối với Ethiopia. Động thái này của Matxcơva đi ngược với những tuyên bố nhấn mạnh rằng công trình thủy điện Renaissance không nên có những tác động đối với các nước láng giềng là một điều cần thiết.

Và trong cuộc đọ sức này, Ai Cập cùng với Sudan dường như đơn độc và bất lực hơn bao giờ hết trước những chính sách « sự đã rồi » từ Ethiopia. Gió đã đổi chiều rồi chăng ?


Hoàng Thy Mai Thảo  
#2064 Posted : Saturday, July 31, 2021 2:40:49 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Kinh tế Mỹ tăng trưởng 6,5% trong Quý 2, có quy mô lớn hơn lúc trước đại dịch

VOA / AP - 30/07/2021
Được thúc đẩy nhờ tiêm chủng và tiền cứu trợ của chính phủ, trong Quý 2 vừa qua, nền kinh tế Mỹ tăng trưởng ổn định, cao hơn 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Đây là một dấu hiệu nữa cho thấy Mỹ đạt được sự phục hồi bền vững sau khi bị suy thoái vì đại dịch. Tổng quy mô nền kinh tế Mỹ hiện đã vượt qua mức trước đại dịch.

Báo cáo do Bộ Thương mại Mỹ công bố hôm thứ Năm 29/7 ước tính rằng tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ - là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ - đã tăng tốc trong Quý 2 (từ tháng 4 đến tháng 6), với tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước cao hơn cả mức 6,3% vốn cũng được xem là mạnh mẽ trong quý đầu tiên của năm.

Chi tiêu tiêu dùng - là nhiên liệu chính của nền kinh tế Mỹ - tăng trong quý thứ hai liên tiếp, cao hơn 11,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Chi tiêu cho hàng hóa tăng 11,6%; còn chi tiêu cho các dịch vụ, từ ăn nhà hàng cho đến mua vé máy bay, tăng với tốc độ 12% vì việc tiêm chủng khuyến khích nhiều người Mỹ mua sắm, đi du lịch và ăn uống hơn.

Các công ty cũng chi tiêu một cách tự tin trong Quý 2. Đầu tư kinh doanh tăng với tốc độ 8% so với cùng kỳ năm trước trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6, giúp GDP tăng thêm 1,1 điểm phần trăm.

Với thực tế là người tiêu dùng và doanh nghiệp dự kiến sẽ tiếp tục chi tiêu, nhiều nhà phân tích kỳ vọng nền kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng với tốc độ mạnh mẽ khoảng 6,5% cho cả năm 2021, bất chấp nguồn cung bị thiếu hụt và nguy cơ dịch lại bùng lên do biến thể delta của virus corona rất dễ lây lan. Mức tăng trưởng đó sẽ là mức mạnh mẽ nhất tính theo một năm thông thường kể từ năm 1984.

Mức tăng trưởng mạnh mẽ đó cũng sẽ vượt xa mức trung bình hàng năm của Mỹ chỉ từ 2% đến 3% trong những thập kỷ gần đây. Và nó sẽ thể hiện một sự phục hồi nổi bật sau khi kinh tế Mỹ tăng trưởng âm 3,4% hồi năm ngoái trong bối cảnh có đại dịch, đó là sự suy giảm tồi tệ nhất kể từ những năm 1940.

Nền tảng cho sự phục hồi nhanh chóng là hàng nghìn tỷ đô la tiền cứu trợ của chính phủ liên bang Mỹ, từ các tấm séc kích thích tiêu dùng cho đến mở rộng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, tới các khoản bù thuế cho gia đình có trẻ em vừa được phân bổ. Ngoài ra, hàng triệu hộ gia đình giàu có đã được hưởng lợi khi tài sản của họ gia tăng đáng kể nhờ giá nhà và giá cổ phiếu đều tăng mạnh.

Mark Zandi, kinh tế gia trưởng tại hãng Moody's Analytics, nói: “Người tiêu dùng sẽ tiếp tục là động lực cho đoàn tàu kinh tế. Người ta thừa rất nhiều tiền tiết kiệm, họ cũng có rất nhiều tiền mặt trong tài khoản vãng lai".

Jen Psaki, thư ký báo chí của Nhà Trắng, ca ngợi báo cáo về GDP và kêu gọi quốc hội hành động nhiều hơn bằng cách thông qua các đề xuất của chính quyền nhằm phát triển mạnh hệ thống cơ sở hạ tầng to lớn của Mỹ.



Samoa xác nhận hủy dự án cảng do Trung Quốc tài trợ

31/07/2021 - Voa / Reuters
Tân Thủ tướng của Samoa xác nhận sẽ hủy bỏ dự án cảng do Trung Quốc tài trợ nhưng không quay lưng với Trung Quốc, giữa lúc bà tìm một con đường cho đảo quốc Thái Bình Dương chống lại hậu quả của việc cạnh tranh khu vực ngày càng tăng giữa Bắc kinh với Washington.

Thủ tướng Fiame Naomi Mataafa cho biết chỉ chấp thuận những đầu tư có lợi ích rõ ràng cho đất nước.

Samoa là một đảo quốc với khoảng 200.000 dân sinh sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, cùng với du lịch, đánh cá, xuất khẩu sản phẩm dừa và kiều hối từ nước ngoài.

Bất cứ sự liên hệ của nước ngoài nào vào các hạ tầng cơ sở thiết yếu như bến cảng và đường băng là đặc biệt nhạy cảm. Đề nghị của Trung Quốc về việc xây dựng một cầu tàu tại Vịnh Vaiusu đóng một vai trò quan trọng trong cuộc bầu cử tháng Tư vừa qua tại Samoa.

Cựu lãnh đạo Samoa, Tuilaepa Sailele Malielegaoi, hứa xây một bến cảng với sự giúp đỡ 100 triệu đô la của Trung Quốc, sau khi một dự án tương tự bị Ngân hàng Phát triển châu Á xem như không khả thi về phương diện kinh tế.

Từ tháng 5, bà Mataafa đã tuyên bố sẽ hủy bỏ dự án này, gọi đây là xa xỉ đối với một nước nhỏ vốn đã nợ Trung Quốc ngập đầu.

Trước động thái của tân Thủ tướng Samoa, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói trong một tuyên bố ngày 30/7: “Trung Quốc luôn luôn tuân thủ nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau và tham khảo trên căn bản bình đẳng trong việc hợp tác với nước ngoài”.



Luxembourg phạt Amazon 746 triệu euro vì vi phạm quy định về dữ liệu cá nhân

31/07/2021 - Trọng Nghĩa / RFI
Tập đoàn Mỹ Amazon một lần nữa lại bì phạt nặng trên vấn đề quản lý dữ liệu cá nhân của người dùng Internet. Vào hôm qua, 30/07/2021, tập đoàn này cho biết đã bị phạt 746 triệu euro ở Luxembourg vì không tuân thủ các quy định của châu Âu về dữ liệu cá nhân.

Trong một thông báo, Amazon tiết lộ rằng Ủy Ban Bảo Vệ Dữ Liệu Luxembourg (CNPD) đã thẩm định là việc xử lý dữ liệu của Amazon “không tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu của Liên Hiệp Châu Âu”. Amazon coi hình phạt kể trên là vô căn cứ, trong lúc hiệp hội La Quadrature du Net, đứng sau đơn kiện, lại coi đó là một hình thức xử phạt lịch sử.

Đơn kiện Amazon đã được đệ trình ở Pháp nhưng đã được chuyển đến Luxembourg vì đó là nơi Amazon đặt trụ sở chính. Như vậy, ba năm sau khi nhận đơn kiện, cơ quan quản lý Luxembourg đã giáng một đòn rất mạnh vào Amazon, với mức phạt cao nhất từ ​​trước đến nay đến từ một định chế cấp quốc gia.

Từ Bruxelles, thông tín viên Pierre Benazet giải thích:

“746 triệu euro tiền phạt của Luxembourg, cụ thể là của Ủy Ban Quốc Gia về Bảo Vệ Dữ liệu. Bản án được đưa ra vào giữa tháng 7, nhưng được giữ kín vì Ủy Ban không thông báo về các trường hợp cá nhân. Vì thế, chính nhờ Amazon mà ta mới biết về khoản tiền phạt kỷ lục này.

Kể từ tháng 5 năm 2018, các quy định chung của châu Âu về bảo vệ dữ liệu - tên tắt là RGPD, bắt đầu có hiệu lực và đây là quy định mà Amazon bị buộc tội là đã không tuân thủ. Phương thức hoạt động của tập đoàn Mỹ là sử dụng dữ liệu tìm kiếm và đơn đặt hàng của khách hàng rồi trên cơ sở đó, chào hàng các sản phẩm tương tự, một cách quảng cáo đồng nghĩa với việc sử dụng dữ liệu cá nhân mà quy định của châu Âu bảo vệ.

Về phần mình, Ủy Ban Châu Âu cho biết là trong hai mươi tháng đầu tiên từ khi áp dụng quy định RGPD, hàng trăm khoản tiền phạt đã được công bố, với trị giá tổng cộng là 114 triệu euro, kém xa mức phạt mà Luxembourg áp đặt trên Amazon”.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2065 Posted : Sunday, August 1, 2021 8:25:46 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Đông Nam Á: Ngoại trưởng Mỹ sẽ họp trực tuyến “mỗi ngày” với ASEAN vào tuần sau

01/08/2021 - Trọng Nghĩa / RFI
Kể từ ngày mai, 02/08/2021, khối Đông Nam Á ASEAN chính thức khai mạc Hội Nghị Ngoại Trưởng (thường niên) lần thứ 54 và các hội nghị cùng với các đối tác trong đó có Hoa Kỳ, dự trù kéo dài đến ngày 06/08. Theo hãng tin Anh Reuters, nhân dịp này, ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken sẽ có những cuộc họp trực tuyến “mỗi ngày” cùng các đối tác Đông Nam Á, một quyết định nhằm chứng minh rằng khu vực là ưu tiên của Mỹ.

Reuters trích dẫn một quan chức cao cấp tại bộ Ngoại Giao Mỹ xác định rằng ông Blinken sẽ tham gia các cuộc họp trực tuyến trong 5 ngày liên tiếp, bao gồm các buổi làm việc cùng 10 ngoại trưởng trong khối ASEAN cũng như của một số quốc gia khác. Quan chức này còn nói rõ thêm là ngoại trưởng Mỹ cũng sẽ họp với đại diện các quốc gia thuộc vùng hạ lưu sông Mêkông như Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam.

Trong khuôn khổ Hội Nghị Ngoại Trưởng ASEAN, ngoài các cuộc họp của nội bộ 10 nước trong khối, còn có một loạt hội nghị giữa ASEAN và các đối tác, từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, cho đến Nga, Mỹ, Ấn Độ và hai nước ở Châu Đại Dương là Úc và New Zealand. Một hội nghị quan trọng khác là Diễn Đàn An Ninh Khu Vực ASEAN ARF.

Đối với quan chức Mỹ, các hoạt động của ông Blinken là bằng chứng rõ rệt về quyết tâm dấn thân vào khu vực của Hoa Kỳ. Trong những năm gần đây, đặc biệt là dưới thời cựu tổng thống Donald Trump, các quan chức hàng đầu của Mỹ không thường xuyên tham gia những cuộc họp của ASEAN và thường cử cấp dưới tới làm việc tại các cuộc họp thượng đỉnh của khu vực.

Với chính quyền của tổng thống Biden, Đông Nam Á như đang nổi lên thành một ưu tiên với một loạt những chuyến thăm gần đây của các lãnh đạo cao cấp : thứ trưởng Ngoại Giao Wendy Sherman đã ghé thăm Indonesia, Cam Bốt và Thái Lan trong hai tháng 5 và tháng 6, tiếp đến là vòng công du ba nước Singapore, Việt Nam và Philippines trong tuần này của bộ trưởng Quốc Phòng Lloyd Austin. Đỉnh cao là vào tháng 08, với chuyến thăm Singapore và Việt Nam của phó tổng thống Mỹ.



Khí hậu : Liên Hiệp Quốc lo ngại về việc “quá ít” quốc gia có cam kết mới

01/08/2021 - Trọng Nghĩa / RFI
Chỉ có hơn một nửa số quốc gia đệ trình các cam kết mới về chống biến đổi khí hậu. Trong một thông cáo công bố ngày 31/07/2021, bà Patricia Espinosa, người phụ trách khí hậu của Liên Hiệp Quốc, đã tỏ ý lo ngại trước tình hình trên, đồng thời kêu gọi các nước đã đệ trình “tăng cường” thêm các kế hoạch của mình.

Theo Thỏa Thuận Khí Hậu Paris năm 2015, các bên trong số 200 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia vào hiệp định phải đệ trình trước cuối năm 2020 một phiên bản sửa đổi của các cam kết của mình trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, do đại dịch Covid-19 và việc Thượng Đỉnh Khí Hậu COP26 ở Glasgow (Scotland) bị hoãn một năm, cho đến tháng 11 năm 2021, nhiều chính phủ đã cho biết là họ không thể đáp ứng thời hạn. Kết quả là chỉ có 75 quốc gia, trong đó có rất ít nước phát thải nhiều, ngoại trừ Liên Hiệp Châu Âu, đã thực sự nộp bản kế hoạch mới trước ngày 01/01/2021.

Liên Hiệp Quốc đã gia hạn ngày 30/07 là thời hạn chót đệ trình các cam kết quốc gia, để có thể kịp đưa vào bản đánh giá toàn cầu sẽ được công bố trước COP26. Thế nhưng tính đến hết ngày 30/07, tổng cộng chỉ có 110 quốc gia đưa ra các cam kết sửa đổi, tăng thêm một chút so với đầu năm, nhưng “vẫn thua xa yêu cầu, vì chỉ có hơn một nửa số thành viên Thỏa Thuận Paris (54%) tôn trọng thời hạn”.

Trong số kế hoạch quốc gia mới được đệ trình, giới quan sát đặc biệt ghi nhận đề nghị của Mỹ đã quay trở lại Thỏa Thuận Paris sau khi tân tổng thống Joe Biden lên cầm quyền, cũng như của Canada. Thế nhưng, Trung Quốc, một quốc gia gây ô nhiễm hạng nặng, vốn cam kết đặt mức trung hòa các-bon vào năm 2060, đã không nộp bản kế hoạch điều chỉnh của mình. Tương tự là Ấn Độ và Nam Phi.

Groenland: Một đợt nóng bất thường làm băng tan chảy “mạnh”

Như để nhắc nhở các chính phủ về sự cấp bách của cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, giới nghiên cứu vừa cảnh báo là trong tuần này, một đợt nóng ở vùng Greenland, với nhiệt độ cao hơn 10 độ so với mức bình thường, đã gây ra một đợt tan chảy “khổng lồ” của băng tại nơi này.

Theo dữ liệu từ Polar Portal, một công cụ mô hình hóa do các viện nghiên cứu Đan Mạch quản lý, kể từ thứ Tư 28/07 vừa qua, mỏm băng bao phủ vùng đất rộng lớn ở Bắc Cực đã tan chảy với khối lượng khoảng 8 tỷ tấn mỗi ngày, gấp đôi tốc độ trung bình ghi nhận trong suốt mùa hè.

Theo Viện Khí Tượng Đan Mạch, nhiệt độ bất thường trên 20 độ, với các đỉnh cục bộ, đã được ghi nhận ở miền bắc Greenland trong những ngày gần đây. Tại sân bay nhỏ Nerlerit Inaat ở phía đông bắc của quốc gia này, nhiệt độ lên đến 23,4 độ vào hôm 29/07, mức cao nhất đo được kể từ khi trạm thời tiết bắt đầu thống kê nhiệt độ, và cao hơn nhiều so với nhiệt độ tối đa ghi nhận ở Đan Mạch ngày hôm đó.

Đợt nắng nóng cũng ảnh hưởng đến phần lớn lãnh thổ Bắc Cực rộng lớn, khiến cho tốc độ tan băng ngày càng nhanh. Theo Polar Portal, khối lượng nước do băng tan chảy thải ra hàng ngày trong những ngày gần đây - 8.000 tỷ lít - “đủ để bao phủ toàn bộ bề mặt tiểu bang Florida (Hoa Kỳ) với 5 cm nước”.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2066 Posted : Wednesday, August 4, 2021 1:19:35 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Tướng Andrey Vlasov : Muốn “giải phóng nước Nga” nhưng lại trở thành kẻ phản bội lớn nhất lịch sử

04/08/2021 - Hoàng Nguyễn / RFI
Tròn 75 năm trước, vào rạng sáng ngày 02/08/1946, tại sân nhà tù khét tiếng Butyrka, một cựu sĩ quan Liên Xô tên là Andrey Vlasov đã phải lên đoạn đầu đài : ông bị xử giảo hình khi mới 44 tuổi tại nơi giam giữ nhiều tù nhân chính trị thời Liên bang Xô-viết.

Là nhà tù lớn nhất của Matxcơva và lâu đời nhất, nổi tiếng nhất của nước Nga, đây là nơi đã cầm cố những tên tuổi lớn của đời sống chính trị, văn hóa và xã hội Nga - Xô và nhiều thế kỷ. Việc một sĩ quan bị tử hình dưới thời Stalin thì không có gì lạ, vì quá phổ biến. Nhưng Vlasov thì khác: Chẳng những là một vị tướng tài ba bậc nhất của Hồng quân trước đó ít năm, về sau, ông còn bị coi như kẻ phản bội lớn nhất trong lịch sử Liên Xô, trên cương vị nhà lãnh đạo Quân đội Giải phóng Nga (ROA) cùng phe với phát-xít Đức chống lại Stalin, và sau khi bị bắt giữ, ông đã bị buộc tội phản quốc với chiếc thòng lọng treo cổ đang chờ đợi.

Báo chí Xô-viết đương thời chỉ đưa tin về cái chết của Vlasov trong một mẩu tin vắn ở trang cuối, đương nhiên không xứng với tầm vóc của một nhân vật từng khiến nhà độc tài Stalin phải “điên đầu”, và hậu thế phải khổ sở khi nhìn nhận ông như một nhân vật lịch sử đầy mâu thuẫn và bi thảm của thời đại ông sống. Trong một thời gian rất dài, tiểu sử của ông toàn một màu đen, và cái tên của ông đồng nghĩa với sự bội bạc khủng khiếp nhất.

Vị tướng trẻ tài ba

Andrey Vlasov chào đời cách đây tròn 120 năm trong một gia đình nghèo có 13 người con và ông là con trai út. Thời thơ ấu, cậu bé Vlasov tốt nghiệp trường dòng rồi vào học Chủng viện Nhizegorod, nhưng rồi cậu sớm hiểu được chính quyền cộng sản không ưa gì tôn giáo, nên đã nhanh chóng bỏ nghề cha cố Chính thống giáo để học và trở thành kỹ sư Canh - Nông. Ông nhập ngũ năm 1919 và lập tức được để ý bởi khả năng lãnh đạo tài giỏi.

Trong nội chiến, Vlasov được cử đi học khóa đào tạo chỉ huy và sau đó, thể hiện phẩm chất can trường của một quân nhân có đầu óc sáng láng. Ông tiếp tục được đào tạo ở các khóa cao cấp, rồi gia nhập đảng Cộng Sản và luôn được sự đánh giá ưu ái. Mùa thu năm 1938, Vlasov nhận nhiệm vụ cố vấn quân sự cho chính quyền Tưởng Giới Thạch, một cương vị đòi hỏi sự tin tưởng cao và lòng trung thành với ban lãnh đạo cộng sản thượng đỉnh.

Trở về Liên Xô đầu năm 1940, Vlasov không chỉ thoát khỏi những cuộc thanh trừng đẫm máu của Stalin thời “Đại khủng bố” kéo dài nhiều năm trước đó, mà còn được bổ nhiệm đứng đầu Sư đoàn bộ binh số 99, và biến đơn vị này thành một trong những sư đoàn xuất sắc nhất của Hồng quân, theo đánh giá của bộ trưởng Quốc Phòng Semyon Timoshenko. Tư lệnh Vlasov trở thành một cá nhân “điển hình”, và được phong hàm thiếu tướng.

Ngày 22/06/1941, Đức quốc xã sau khi đã làm mưa làm gió ở Phương Tây mà không gặp phải sự chống cự nào thật đáng kể, đã quay sang tấn công đồng minh lớn nhất của mình là Liên Xô, cho dù đôi bên đã cùng ký Hiệp ước bất tương xâm cuối tháng 08/1939 làm bùng nổ Đệ Nhị Thế Chiến, với cuộc tấn công chung và xóa sổ Ba Lan hỏi bản đồ thế giới. Quân đội Liên Xô rơi vào tình cảnh bi đát hiếm thấy, vì các tướng tài đều đã bị thanh trừng.

Thống kê cho thấy trong những cuộc đàn áp, Stalin đã giết 3 trong số 5 nguyên soái lỗi lạc, được tấn phong năm 1935, rất nhiều đại tướng tài ba, các thủy sư đô đốc cũng bị ám hại. Tất cả 80 thành viên Hội đồng Quân sự (thành lập năm 1934) và nhiều tướng tá khác đã bị thủ tiêu, ước tính có tới 30.000 thượng và hạ sĩ quan bị xử bắn. Trên cái nền ấy, Vlasov trở thành một gương mặt tài ba, quả cảm và mẫu mực khi cuộc chiến bùng nổ.

Ông lập được nhiều công trạng trong cuộc phòng thủ Kiev và thoát khỏi vòng vây của phát-xít Đức trong một chiến dịch mà hàng trăm ngàn lính Hồng quân thiệt mạng hoặc bị bắt làm tù binh. Vlasov cũng đóng vai trò quan trọng trong trận chiến bảo vệ Matxcơva cuối năm 1941, và được phong hàm trung tướng khi mới 40 tuổi. Ông cũng sở hữu Huân chương Lênin và Huân chương Cờ Đỏ, 2 danh hiệu rất cao quý, chứng tỏ được tin tưởng.

Người tù binh đặc biệt

Mùa xuân năm 1942, Vlasov được giao nhiệm vụ nặng nề là lãnh đạo trận tấn công đầu tiên nhằm giải vây cho Leningrad. Trong những điều kiện rất khó khăn do các cánh quân khác gặp nhiều sai lầm thảm khốc, trên cương vị Tư lệnh Tập đoàn quân số 2, Vlasov đã bị bao vây hoàn toàn và lạc trong rừng sau khi từ chối được giải cứu bằng máy bay. Tại khu vực bị Đức chiếm đóng, một cư dân đã chỉ điểm Vlasov khiến ông lọt vào tay quân Đức.

Tồn tại nhiều giả thuyết về việc Vlasov đã sa lưới quân thù như thế nào, tuy nhiên rất có khả năng là ông đã không hề chống cự, và bằng lòng với việc ngả về phía Đức. Ông không hề bị ngược đãi, bù lại, ông đã ký mọi truyền đơn và lời kêu gọi nhân danh mình. Theo chính lời khai của Vlasov, trong 10 ngày lẩn trốn, ông nhận ra Stalin là kẻ thù chính của dân tộc Nga và nảy ra ý làm sao có được cuộc sống tốt đẹp hơn cho các đồng hương của mình.

Đã quen với lòng dũng cảm và sự kháng cự của đa số các tù binh Liên Xô khi sa cơ, nên người Đức ngạc nhiên trước thái độ “quy phục” của Vlasov, và nhận ra rằng họ đã “bắt được vàng” khi có thể sử dụng vị sĩ quan tài giỏi này cho mục đích tuyên truyền. Nhưng Vlasov thì có ý tưởng xa hơn thế nữa, khi ông muốn cùng người Đức lập ra các đơn vị chiến đấu từ những tù binh Xô-viết, mà chính vị bại tướng Nga là một sự bảo chứng đáng tin cậy.

“Sáng kiến” đó thoạt đầu không được thủ lĩnh Hitler hưởng ứng, vì nhà độc tài lo ngại Vlasov phải chăng muốn chiếm lĩnh vị trí của Stalin, và có thể ngăn chặn ý định cho quân Đức tràn vào khu vực phía đông của Liên Xô. Tuy nhiên, Vlasov cùng một số đồng sự tỏ ra rất tích cực: không chỉ bằng lòng với việc cho rải truyền đơn ký tên ông, mà Vlasov còn đi vận động tù binh Xô-viết đứng về phía Đức với lý do đã là tù binh thì Stalin đều coi là “phản quốc”.

Dầu vậy, sự thắng thế của phe Đồng minh khiến phát-xít Đức cảm thấy họ cần thêm từng người lính một và Hitler rốt cục đã cho phép thành lập một đạo quân gồm 10 sư đoàn do Vlasov chỉ huy. Ngày 14/11/1944, “Ủy ban Giải phóng các Dân tộc Nga” được thành lập tại Praha do Vlasov đứng đầu, trên cương vị một chính phủ Nga lưu vong, với lực lượng quân sự là “Quân đội giải phóng nước Nga” cũng do cựu trung tướng Hồng quân lãnh đạo.

Các quân nhân của Vlasov, khi quyết định chống lại Stalin, đều có nhiều lý do để làm việc đó. Nhiều người không quên họ đã bị dồn vào chảo lửa chiến tranh mà không được phép lùi bước kể cả khi đã trong cảnh vô vọng trước quân Đức: luôn có những họng súng sau lưng ngăn không cho họ lùi. Cũng không ít kẻ bất bình trước thể chế độc tài tàn bạo của Stalin, đã khiến họ và thân nhân lâm vào cảnh khốn cùng, nên đã rời sang phía bên kia.

Đoạn kết bất hạnh của một đạo quân

Các sư đoàn của “Quân đội giải phóng nước Nga” (ROA) chỉ được tung vào cuộc hồi cuối năm 1944, đầu năm 1945, tức là khi kết cục cuộc chiến coi như đã ngã ngũ và không một lãnh đạo quốc xã nào dám nghĩ là họ có thể xoay ngược thế cờ. Với quân trang, quân dụng và vũ khí nghèo nàn, ROA đã có đôi ba trận chiến quyết liệt trước Hồng quân vào tháng 2/1945, nhất là tại vùng sông Odera vào ngày 11/4 cùng năm, nhưng rồi cũng phải rút quân.

Những hồi ức để lại cho thấy “lính Vlasov” trực thuộc ROA đã chiến đấu rất ngoan cường và không hề quản ngại cái chết, vì họ tâm niệm rằng bằng việc hợp tác với Đức, họ đã cầm chắc cái chết nếu lọt vào tay Hồng quân. Vào cuối cuộc chiến, Vlasov và một nhóm quân ROA được chuyển sang Praha, Tiệp Khắc, và ở đây họ tìm cách đàm phán với Phương Tây để có thể trở thành một “lực lương thứ ba” mà không phải đầu hàng phía Liên Xô.

Là một nhà quân sự có đầu óc thực tiễn, Vlasov còn tính đến chuyện, các cường quốc Phương Tây và Liên Xô thế nào cũng có xung đột và chiến tranh, và ROA có thể đứng về phe Phương Tây để chống lại Stalin. Tuy nhiên, ý định đó đã bất thành: chỉ 1/3 số quân nhân ROA kịp thoát thân và đầu hàng quân đội Mỹ, là sống sót, và vào ngày 12/05/1945, Vlasov ẩn náu trong xe thì bị một thuộc cấp chỉ điểm, cũng như 3 năm trước đó!

Sau khi bị quân đội Nga bắt giữ gần Plzeň, Tiệp Khắc, lập tức ông bị đưa ngay về Matxcơva và thừa nhận mọi tội lỗi, ông cùng 11 sĩ quan khác của ROA bị Tòa án Quân sự trực thuộc Tòa án Tối cao Xô-viết tước quân hàm và kết án tử hình treo cổ trong phiên tòa diễn ra vào cuối tháng 07/1946. Đây là những bản án giảo hình cuối cùng của Liên Xô, vì sau đó quốc gia cộng sản này chuyển sang hình thức xử bắn với sự tham gia của đội hành quyết.

Các thành viên khác của “Quân đội giải phóng nước Nga” cũng đều bị cơ quan tư pháp Xô-viết kết án phản quốc, và đều bị án tử hình hoặc đày ải tại các trại lao động trừng giới. Khởi đầu như một tổ chức chống cộng sản có mong muốn tạo dựng một “nước Nga mới”, ROA và người đứng đầu, tướng Vlasov phải chịu sự nguyền rủa ghê gớm của người đương thời, và cho tới nay, nhìn chung vẫn bị xem là biểu tượng của sự bội phản, phản quốc.

Dưới thời Xô-viết, các sử gia Liên Xô tìm cách đưa vào quên lãng cái tên Andrey Vlasov, hoặc nếu có nhắc tới, thì coi ông như kẻ hèn nhát, đã đầu hàng quân Đức để cứu mạng sống của mình. Còn phe hữu và cực hữu Phương Tây cũng trong thời gian đó thường lại quá đề cao vị cựu trung tướng Hồng quân và đạo quân của ông cho dù ROA, tuy có gây nên cơn thịnh nộ cho Stalin và giới lãnh đạo quân sự Liên Xô, lại không có vai trò gì đáng kể.

Góc nhìn khác của lịch sử?

Như thế, trong nhiều thập niên, những hành động của Vlasov đã khiến công luận Nga luôn có quan điểm trái ngược. Năm 2016, một nhà nghiên cứu Nga - ông Kirill Aleksandrov - trong luận án tiến sĩ của mình, đã khảo sát câu chuyện của 180 sĩ quan thuộc đạo quân Vlasov, và chỉ ra rằng trái với góc nhìn “chính thống” của Nga - Xô xưa nay, đa số các sĩ quan tham gia ROA không phải vì sự xu thời, muốn thăng tiến, mà vì họ căm ghét thể chế Stalin.

Là những nạn nhân ở nhiều dạng khác nhau của bộ máy “khủng bố đỏ” Stalin, những sĩ quan ấy đã đứng về phe Đức. Điều này có cái gì đó tương đồng với phong trào dân tộc của Ukraina, hoặc một số lực lượng quân sự và cả người dân nhiều vùng bị Đức chiếm đóng trong Đệ Nhị Thế Chiến, đã tiếp đón quân đội Đức như những người giải phóng họ khỏi ách đàn áp của Stalin. Quan điểm ấy của vị sử gia Aleksandrov đương nhiên đã gây sóng gió rất lớn.

Một tháng sau ngày ông bảo vệ luận án tiến sĩ, vẫn có nhiều đám đông tụ tập trước trụ sở tại thành phố Saint Petersburg của Viện Sử học trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga để chỉ trích nhà sử học mà theo họ là đã “tuyên truyền cho chủ nghĩa quốc xã” do ông không lên án mạnh mẽ Vlasov trong công trình của mình. Nhưng cái nhìn của nhà nghiên cứu thật ra không quá dị biệt, mà ít nhiều là sự tiếp nối của những dòng suy nghĩ đã có từ cách đó 15 năm!

Năm 2001, tổ chức dân sự “Vì niềm tin và Tổ quốc” đã đề nghị Viện Công tố Quân sự Liên bang Nga xem xét lại vụ án xét xử Vlasov và các đồng sự. Theo tổ chức này, Vlasov là một nhà ái quốc, người đã trải qua một quá trình chiêm nghiệm dài để đánh giá lại những gì mà ông đã phục vụ trong Hồng quân và di sản tinh thần của thể chế Stalin trước khi đồng ý hợp tác với Đức. Dầu vậy, ủy viên công tố đã không đồng ý tái thẩm vụ án của Vlasov.

Tuy nhiên, cho dù cơ quan công tố nói rằng đạo luật phục hồi cho các nạn nhân của sự đàn áp chính trị thời cộng sản không có hiệu lực đối với Vlasov, những lời buộc tội ông “tuyên truyền phản Xô-viết” cũng đã được xóa bỏ. Một đài tưởng niệm dành cho Vlasov và các quân nhân thuộc đạo quân ROA của ông cũng đã được dựng lên trong khuôn viên một tu viện và nghĩa trang Chính thống Nga ở một thành phố nhỏ thuộc bang New York, Hoa Kỳ.

Ở đó, mỗi năm 1 lần, vào ngày kỷ niệm Vlasov - ngày Chủ Nhật sau lễ Phục Sinh theo Đạo Chính thống giáo - một lễ tưởng niệm lại được tổ chức cho vị tướng bất hạnh Andrey Vlasov và các chiến binh “Quân đội Giải phóng nước Nga”, một nét bi thảm của lịch sử Nga - Xô và lịch sử Đệ Nhị Thế Chiến.



Điều gì xảy ra khi Thế vận hội không thể tránh chuyện chính trị?

VOA / AP - 04/08/2021
Cho dù Ủy ban Olympic Quốc tế vẫn luôn nói về việc phải duy trì tính trung lập, song các cuộc thi đấu Thế vận hội từ lâu đã chứng tỏ rằng thực ra chúng rất có tính chính trị, thậm chí đôi khi quá đậm chất chính trị - ảnh hưởng tới tổng thể Thế vận hội nói chung và thường là ảnh hưởng đến các vận động viên mà đáng lẽ trọng tâm đối với họ là tranh tài cho thế giới xem trong chương trình kéo dài hai tuần.

Trường hợp để chứng minh: những sóng gió ngoại giao. Hàng trăm vận động viên đã đến tham gia Đại hội Olympic song không bao giờ quay trở lại tổ quốc mà họ đã đại diện để đi thi đấu. Những câu chuyện của họ diễn ra kể từ năm 1948, khi Thế vận hội lại tiếp tục diễn ra ở London sau một thời gian tạm dừng do chiến tranh, khẳng định rằng khi thế giới gặp nhau để thi đấu thể thao, thì chính trị cũng luôn hiện diện ở đó.

Vận động viên chạy nước rút người Belarus, Krystsina Tsimanouskaya, đã rời Tokyo vào sáng 4/8 để xin tị nạn, là một trường hợp như vậy - nhưng lần này cô ấy có lý do khác thường.

Trong quá khứ, hầu hết các vận động viên đào tẩu đều ra theo một cách khá thuận tiện cho họ - đi từ Đông Âu để tham gia thi đấu ở Thế vận hội Mùa hè nhưng trong đầu là kế hoạch chạy sang phương Tây. Thế vận hội đã mở ra cơ hội thoát khỏi các chế độ độc tài ở tổ quốc, và đã xảy ra nhiều vụ đào thoát nhất vào thời kỳ đỉnh điểm của Chiến tranh Lạnh.

Sau Thế vận hội Munich 1972, hơn 100 vận động viên đã ở lại Tây Đức để trước tiên là xin tị nạn, sau đó, nhiều người chuyển đến sinh sống ở các quốc gia dân chủ. Những người thực hiện được kế hoạch thành công đã nêu ra những lý do khác nhau - ý thức hệ chính trị, triển vọng về một cuộc sống yên bình hơn hoặc đơn giản là cơ hội đạt được giá trị thực sự của họ với tư cách là một vận động viên.

Tsimanouskaya không hề có kế hoạch chạy trốn khi đi từ Belarus đến Nhật Bản. Đất nước Belarus của cô rơi vào tình trạng hỗn loạn trong một năm nay kể từ khi tổng thống độc tài Alexander Lukashenko tái đắc cử, gây nhiều tranh cãi. Cô bất đồng với huấn luyện viên của mình về việc lựa chọn người thi đấu trong các cuộc đua tiếp sức và cô đã bày tỏ ý kiến trên mạng xã hội. Điều đó khiến cô trở thành một người nổi tiếng ở Belarus, nơi mà sự bất đồng chính kiến có thể đe dọa đến tính mạng.

Việc cô đào tẩu đã viết thêm một trang trong lịch sử lâu đời của Olympic. Trước cô, có những vận động viên Olympic nào khác đã ghi lại “những cú va chạm” giữa thể thao và ngoại giao?

London, 1948 (và cả về sau)

Oscar Charles liên tiếp gắn bó với 3 giải đấu bóng nước Thế vận hội mùa hè với những tư cách khác nhau.

Ra đời ở Hungary với tên khai sinh là Oszkar Csuvik, ông đã giúp đội tuyển quốc gia giành huy chương bạc ở London. Ông đã đào thoát để ở lại Anh và tránh phải quay trở về với chế độ cộng sản ở tổ quốc. Hai năm sau, ông đi định cư ở Úc và là huấn luyện viên đội Úc tại Thế vận hội Helsinki 1952.

Thế vận hội đến với Úc vào năm 1956, khai mạc tại Melbourne 3 tuần sau khi lực lượng quân sự Liên Xô xâm lược Hungary để dập tắt cuộc nổi dậy của người dân. Charles khi đó với tư cách là một bình luận viên đài phát thanh đã tường thuật trận đấu được đặt tên là "Máu hòa vào nước", trong trận này, đội Hungary đánh bại đội Liên Xô 4-0 và rất nhiều pha va chạm bạo lực đã diễn ra, đầy tai tiếng.

Charles “phải kiềm chế lắm mới không nhảy xuống bể thi đấu”, theo cáo phó của một tờ báo Úc viết khi ông qua đời vào năm 2008.

Melbourne, 1956

Được tổ chức vào mùa hè của nam bán cầu, Thế vận hội Melbourne khai mạc vào ngày 22/11/1956. Hungary cử hơn 100 vận động viên đến từ một quốc gia đang hỗn loạn sau khi quân đội Liên Xô xâm lược. Trong đoàn có vận động viên thể dục dụng cụ tuyệt vời là Ágnes Keleti, bà đã giành huy chương vàng và 2 huy chương bạc, rồi đào tẩu, ở lại Úc.

Bà và hàng chục vận động viên Đông Âu không chịu về nước. Hoa Kỳ cho phép tuyển mộ ít nhất 40 vận động viên Olympic, trong đó có 35 vận động viên của đội Hungary tại Melbourne.

Keleti đã đến Israel, bà sống ở đó cho đến thời điểm cách nay 6 sáu năm. Hiện nay, bà sống ở Hungary. Bà bước sang tuổi 100 hồi tháng 1 năm nay và là nhà vô địch Olympic lớn tuổi nhất còn sống.

Atlanta, 1996

Đào tẩu ở Hoa Kỳ là một viễn cảnh hấp dẫn. Atlanta mang lại một cơ hội.

Người cầm cờ của Iraq tại lễ khai mạc, Raed Ahmed, đã trốn khỏi Làng Olympic sau khi thi đấu môn cử tạ. Ông muốn thoát khỏi chế độ của Saddam Hussein.

Cầu thủ Rolando Arrojo đã giúp Cuba giành huy chương vàng bóng chày tại Thế vận hội Barcelona 1992 và chuẩn bị để giúp đội bảo vệ chức vô địch. Ông đã lẩn tránh khỏi bộ phận an ninh giám sát đội, trốn vào một khách sạn ở bang Georgia và nhanh chóng bị Chủ tịch Cuba Fidel Castro đặt tên là “Judas”. Chỉ 2 năm sau, với tư cách là cầu thủ đội Tampa Bay Devil Rays, ông trở thành một ngôi sao giải MLB.

London, 2012

Ayouba-Ali Sihame là vận động viên bơi lội duy nhất đại diện cho đảo Comoros của châu Phi ở London. Khi đó, cô 17 tuổi. Cô đã rời khỏi Làng Olympic sau khi thi đấu nội dung 100 mét tự do.

Sau này, cô nói rằng cô sợ phải về nhà và bị gia đình bán, bị ép phải kết hôn với một người đàn ông lớn hơn nhiều tuổi. Cô khẳng định gia đình cô muốn kiếm tiền từ việc cô nổi tiếng tại Olympic.

Những chi tiết đó được nêu ra tại một tòa án Anh vào năm 2013, ở đó, cô bị kết án vì sử dụng hộ chiếu giả để cố gắng nhập cảnh vào Pháp. Các luật sư của cô cho biết cô sẽ xin tị nạn sau khi chấp hành xong án tù, vì lúc trước cô không biết là có thể nộp đơn xin tị nạn hợp pháp khi tham gia Thế vận hội.

Một số vận động viên châu Phi cũng biến mất ở Anh khi họ có visa với hạn 6 tháng để tham gia Olympic.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2067 Posted : Thursday, August 5, 2021 7:57:41 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Trung Quốc: Tập Cận Bình và những chiến lược kiến tạo thế giới

05/08/2021 - Minh Anh / RFI
Đằng sau nét mặt có vẻ hiền từ là một con « quái thú » chính trị, một chính khách Pháp đã có nhận định như thế. Tập Cận Bình, lên cầm quyền từ năm 2013, sẵn sàng làm tất cả để biến Trung Quốc thành một cường quốc hàng đầu thế giới vào năm 2049, năm kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đổi lại, xã hội Trung Quốc phải chấp nhận chịu sự giám sát chặt chẽ của đảng Cộng Sản.

« Giấc mơ Trung Hoa » : Một sứ mệnh lịch sử ?

Nhiệm kỳ của Tập Cận Bình được kiến tạo xung quanh điều được gọi là « Giấc mơ Trung Hoa ». Nhưng sự phát triển kinh tế và chính trị này, trước hết phải bằng con đường chủ nghĩa chuyên chế, nhằm tạo dựng một sự ổn định. Một nhiệm vụ lớn cho đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ông François Bougon, tác giả tập sách « Trong suy nghĩ Tập Cận Bình », trên đài Arte cho rằng đây cũng chính là cách để Tập Cận Bình khẳng định lại vai trò và tính chính đáng của đảng Cộng Sản.

« Ông ấy tìm cách xây dựng một tính chính đáng mới cho chế độ cộng sản, vốn dĩ không còn mang tính cách mạng nữa. Người ta không còn ở thời kỳ Mao, giai đoạn mà mục tiêu chính là làm cách mạng thường trực để đi đến chủ nghĩa cộng sản. Ông ấy cũng không có được tính chính đáng của Đặng Tiểu Bình, người cam kết mang lại sự giầu sang cho người dân Trung Quốc. Thế nên, giờ đây, cần phải tìm ra một tính chính đáng mới. Và tính chính đáng mới này, ông ấy đã tìm thấy trong lòng chủ nghĩa dân tộc và do vậy cần phải nâng cao giá trị của tất cả những gì mang lại sự vĩ đại cho đất nước ».

Tập Cận Bình cho rằng giai đoạn « ẩn mình chờ thời » đã qua, Trung Quốc giờ phải đảm trách vai trò lãnh đạo thế giới. Để thực hiện giấc mơ này, cần phải khơi dậy tinh thần dân tộc. Tập Cận Bình không ngừng nhắc lại những giai đoạn lịch sử được cho là « nhục nhã » nhất : Sự sụp đổ của đế chế Trung Hoa, Cuộc chiến thuốc phiện…

Thế nên, ở trong nước, Tập Cận Bình vạch hẳn một kế hoạch đại thống nhất đất nước cả trên bình diện lãnh thổ, sắc tộc và hệ tư tưởng. Và « trong giấc mơ Trung Hoa của Tập Cận Bình, đất nước Trung Quốc chỉ có một bản sắc duy nhất, và sẽ không có một sự khác biệt nào. Mọi sự khác biệt là sẽ không được dung thứ », bà Dilnur Reyhan, chủ tịch Viện Duy Ngô Nhĩ tại Châu Âu trên Arte lưu ý.

Và bước đi đầu tiên của sự hợp nhất đó bắt đầu bằng chính sách đồng hóa cưỡng bức sắc dân chính Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, tiệt trừ phe dân chủ ở Hồng Kông và mơ một ngày nào đó, chiếm lại đảo Đài Loan, trên thực tế độc lập từ năm 1949.

Để củng cố quyền lực, Tập Cận Bình mở chiến dịch chống tham nhũng quy mô lớn « đả hổ, diệt ruồi » nhắm vào mọi tầng lớp xã hội. Đây cũng là cơ hội để Tập Cận Bình bắn đi một thông điệp mạnh mẽ cho xã hội Trung Quốc, theo đó, không một sự chệch hướng ý thức hệ nào được dung thứ. Nhờ vào những cuộc thanh trừng lớn như vậy, Trung Quốc đã nhanh chóng nghiêm chỉnh đi theo Tập Cận Bình trong sứ mệnh lịch sử này.

Những chiếc bẫy nợ và những con ngựa thành Troy

Ở bên ngoài, Tập Cận Bình cho khởi động dự án Những Con đường tơ lụa mới. Đây thật sự là một công cụ kinh tế hữu hiệu giúp Bắc Kinh « tránh né được thế mạnh của Mỹ, và gậm mòn dần những cơ sở hậu thuẫn của phương Tây trên thế giới », theo như quan sát của nhà Trung Quốc học, Jean-Pierre Cabestan, trường đại học Baptiste Hồng Kông.

Trong tầm nhìn dài hạn quan trọng này, Tập Cận Bình có một chiến lược áp dụng cực kỳ « uyển chuyển » tùy theo từng đối tượng hợp tác. Với những nước nghèo, Tập Cận Bình đề xuất cho vay những khoản cần thiết để phát triển cơ sở hạ tầng. Nhưng những đề nghị « đôi bên cùng có lợi », cám dỗ được ít nhất khoảng 60 quốc gia, đôi khi lại là những chiếc bẫy nợ khổng lồ, và cái giá phải trả có thể đi đến mất quyền kiểm soát một phần chủ quyền lãnh thổ. Bài học điển hình là Sri Lanka, đã phải nhượng quyền kiểm soát một cảng biển lớn cho Trung Quốc với một thời hạn là 99 năm.

Đến châu Âu, Tập Cận Bình không có cùng một cách tiếp cận, có những bước đi thận trọng vì đó là những nền dân chủ lớn, những quốc gia công nghiệp phát triển. Tập Cận Bình một mặt cho mua lại những cơ sở hạ tầng chiến lược như cảng biển Pirée của Hy Lạp, cảng hàng không dân dụng Toulouse ở Pháp, rồi sau này bán lại và đề nghị nhiều chương trình trao đổi hợp tác trong mọi lĩnh vực.

Mặt khác, Tập Cận Bình ra sức thiết lập một mạng lưới chính khách thân Trung Quốc, cho phép phát tán hình ảnh tích cực của đất nước ở phương Tây. Người ta có thể thấy trong số này có các nhân vật như cựu thủ tướng Anh David Cameron, cựu thủ tướng Pháp Jean-Pierre Raffarin...

Thái độ « có vẻ thân thiện » này của Tập Cận Bình, khiến nhiều lãnh đạo châu Âu tranh nhau trải thảm đỏ, gia tăng các cuộc gặp gỡ với Tập Cận Bình nhằm thu hút đầu tư Trung Quốc. Trong chiến lược này, Tập Cận Bình ra sức tìm kiếm « những con ngựa thành Troy », và đó cũng là « những gót chân Achille » châu Âu như Hy Lạp, Hungary, Serbia… Bị phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, những nước này có nguy cơ bị lệ thuộc cả về chính trị.

Cũng trên đài Arte, ông Stein Ringen, nhà chính trị học trường đại học Oxford, tác giả tập sách « Nhà độc tài hoàn hảo: Trung Quốc thế kỷ 21 » nhận định: « Trung Quốc có thể sử dụng sức mạnh kinh tế của họ để cản trở mọi chỉ trích có liên quan đến chính bản thân chế độ. Thứ mà họ muốn xuất khẩu, chính là tầm ảnh hưởng và điều mà họ muốn có được trước hết, chính là sự im lặng. Họ muốn ngăn chặn mọi bình phẩm khó nghe và chúng ta thừa nhận chính sách đối ngoại của họ. »

Không ở đâu, chiến lược gây ảnh hưởng của Bắc Kinh mạnh bằng ở Úc và New Zealand, hai quốc gia thí điểm cho phương pháp xâm nhập những nước dân chủ của Trung Quốc. Chính tại hai nước này, chính sách gây ảnh hưởng của Trung Quốc hoạt động tích cực nhất, từ trong lòng xã hội dân sự, giới doanh nhân, chính khách cho đến cả các trường đại học, theo như giải thích của ông Jean-Pierre Cabestan.

« Chiến lược mặt trận thống nhất của đảng Cộng Sản là tìm cách tập hợp xung quanh mục tiêu của mình những lực lượng phi cộng sản bằng cách vô hiệu hóa họ, mua chuộc họ, hay làm cách nào đó biến họ thành những đồng minh khách quan cho mục tiêu cộng sản. Thế nên, Trung Quốc triển khai nhiều phương tiện để tìm cách tác động lên diện mạo chính trị trong lòng những nước khác, các nước đối tác. (...) Trung Quốc thực hiện điều đó bằng cách gây ảnh hưởng lên cộng đồng người Hoa hải ngoại, tài trợ cho các ứng viên nào ủng hộ Trung Quốc ».

Châu Phi – châu lục đỏ và Biển Đông, sự đã rồi

Nhưng có lẽ chiến lược chinh phục thế giới của Tập Cận Bình gặt hái nhiều thành công nhất chính là tại châu Phi. Hằng năm, Tập Cận Bình đều dành một vòng công du châu lục đen này để đích thân ông quảng bá cho một mô hình chính trị mà Tập Cận Bình gọi là « giải pháp Trung Quốc ». Theo đó, quyền đầu tiên của con người là quyền phát triển kinh tế.

Trong vòng chưa đầy 10 năm, Trung Quốc đã cho châu lục này vay đến 120 tỷ đô la. Trung Quốc thời Tập Cận Bình là đối tác kinh tế - chính trị với hơn phân nửa số nước châu Phi. Để bảo đảm an ninh cho trao đổi thương mại với châu lục đen này và duy trì sự trường tồn các đầu tư của Trung Quốc, Tập Cận Bình còn bước sang một ngưỡng khác mà không một nhà lãnh đạo tiền nhiệm nào dám vượt qua : Mở một căn cứ quân sự tại Djibouti, một trong những con đường thương mại tấp nập nhất của thế giới. Đây cũng là căn cứ quân sự ở nước ngoài đầu tiên của Trung Quốc.

Trong « giấc mơ Trung Hoa » này, Tập Cận Bình luôn ao ước có một quân đội xếp hàng đầu thế giới. Giống Mao Trạch Đông, ông ấy nghĩ rằng sức mạnh nằm ở đầu họng súng. Kể từ khi lên cầm quyền, Tập Cận Bình liên tiếp biểu dương sức mạnh. Trên quảng trường Thiên An Môn, ông khai màn cho lễ diễu binh hoành tráng nhất mà Trung Quốc chưa từng biết đến.

Để cảnh báo là ông đang bắt kịp, khắc phục sự chậm trễ về công nghệ, năm 2019 ông phô trương những chiếc tên lửa siêu thanh mang tính cách mạng có khả năng tránh được các ra-đa của Mỹ và nhiều loại tên lửa răn đe hạt nhân mới liên lục địa. Chỉ trong vòng 4 năm, Trung Quốc cho lắp ráp một số lượng lớn tầu chiến và tầu ngầm ngang ngửa với hải quân Pháp.

Christopher Johnson, cựu chuyên gia phân tích cho CIA, cố vấn về châu Á cho Nhà Trắng phân tích : « Những gì mà chúng ta có thể thấy được chính là năng lực quân đội Trung Quốc ngày càng hoàn thiện, đáng gờm, có tính xâm lăng hơn và ngày càng hướng ngoại hơn. Đây sẽ là một thách thức lớn cho thế giới ».

Chính ở phía nam Trung Quốc, trên vùng Biển Đông và Thái Bình Dương mà Tập Cận Bình khẳng định sức mạnh quân sự khi liên tiếp biểu dương thế mạnh quân sự, đối diện với những căn cứ quân sự của Mỹ, hiện diện thường xuyên trong khu vực kể từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Với chính sách « sự đã rồi », Trung Quốc của Tập Cận Bình đang dần dần nuốt trọn biển đảo của các nước láng giềng, gây căng thẳng trong khu vực.

Cuối cùng, với thế mạnh quân sự, Tập Cận Bình giờ sẵn sàng đối đầu với phương Tây trên địa bàn các định chế quốc tế và hướng dẫn một trật tự thế giới mới, khi dựa vào sức ảnh hưởng mới của mình : Thượng đỉnh tổ chức hợp tác an ninh Thượng Hải (OCS), với sự tham dự của Nga, các nước Trung Á, Ấn Độ, Pakistan, và một số đối tác tiềm tàng như Iran, Thổ Nhĩ Kỳ…

Chuyên gia Jean-Pierre Cabestan phân tích : « Chiến lược của Tập Cận Bình để áp đặt một trật tự thế giới mới chính là đi bằng cả hai chân như là Mao đã từng nói đến, nghĩa là một mặt trở thành quốc gia có tầm ảnh hưởng nhiều hơn trong các tổ chức đa phương hiện có và mặt khác, thành lập những tổ chức đa phương mới, phi phương Tây, phỏng theo ý của Trung Quốc và đáp ứng được nhiều hơn cho những lợi ích và các giá trị của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên bình diện ý thức hệ. »

Tập Cận Bình : « Big Brother »

Tập Cận Bình mơ ước áp đặt được mô hình trật tự thế giới mới bất lợi cho châu Âu và Hoa Kỳ. Để thực hiện điều này, ông đề nghị xây dựng một sự thống nhất trên thế giới mà Trung Quốc là tâm lực hút.

Và thế giới của Tập Cận Bình dựa trên một lời hứa chủ đạo : Giầu có thịnh vượng cho tất cả, nhưng đổi lại, để đạt được những mục tiêu trên, toàn bộ xã hội phải đi theo cùng một hướng mà không có đối kháng. Thế giới của Tập Cận Bình là một thế giới mà mọi tầng lĩnh vực xã hội đều đặt dưới sự kiểm soát và truyền thông trước hết phải là tiếng nói của Trung Quốc.

Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, nhất là trí thông minh nhân tạo, và với mật độ camera dầy đặc nhất thế giới, « Anh Cả - Big Brother » Tập Cận Bình giờ có thể theo dõi khắp nơi, biết được « nhất cử, nhất động » của mọi người dân. Và chiếc vòi kiểm duyệt Trung Quốc vẫn có thể vươn xa ra ngoài lãnh thổ, tự do ngôn luận vẫn có thể bị hạn chế.

Để kết thúc, xin dẫn lời tổng thống Mỹ Joe Biden : « Tôi biết rõ Tập Cận Bình từ rất lâu. Tôi có thể nói với quý vị rằng ông ấy không có ấy một mẩu xương dân chủ trong người. Nhưng ông ấy là một con người rất rất ma mãnh ! »



Mỹ tính cải tổ chính sách xuất khẩu võ khí để tăng chú trọng vào nhân quyền

05/08/2021 - Voa / Reuters
Chính quyền của Tổng thống Joe Biden đang chuẩn bị cải tổ chính sách xuất khẩu võ khí để gia tăng chú trọng vào nhân quyền, bốn nguồn thạo tin cho Reuters biết.

Hai phó trợ lý Bộ Ngoại giao sẽ thuyết trình cho nhân viên Quốc hội về dự thảo Chính sách Chuyển giao Vũ khí Thông thường (CAT) vào ngày 6/8, hai nguồn thạo tin cho hay.

Chính quyền Biden đã thuyết trình cho một nhóm nhỏ các phụ tá Quốc hội cách đây khoảng hai tuần, nêu lên nguyện vọng của Bộ Ngoại giao về một cuộc duyệt xét mạnh mẽ hơn đối với việc bán võ khí mà trong đó có góp ý nhiều hơn từ văn phòng nhân quyền của Bộ, một nguồn tin bên chính quyền và một phụ tá Quốc hội tham dự buổi thuyết trình cho hay.

Chi tiết về các thay đổi đề nghị chưa được chung quyết và đang được truyền tay tới các cơ quan khác như Bộ Quốc phòng, các nguồn tin vừa kể cho hay.

Ngũ Giác Đài theo truyền thống thường ủng hộ việc trao võ khí vào tay đồng minh để các lực lượng Mỹ có thể trông cậy họ nhiều hơn trong các cuộc xung đột ở nước ngoài.

Một quan chức cao cấp trong chính quyền Biden xác nhận là chính sách CAT mới đang được soạn thảo và “sẽ giúp chúng ta xây dựng và giữ gìn các đối tác chiến lược phản ánh tốt nhất những gía trị và lợi ích của Hoa Kỳ.”

Chính sách mới cũng sẽ bàn thảo sâu rộng về các liên hệ giữa chuyển giao vũ khí và nhân quyền, quan chức này nói.

Mỹ là nhà buôn võ khí lớn nhất thế giới, trong một năm bán hơn 100 tỉ đô la võ khí, dịch vụ và huấn luyện.



Indonesia, Mỹ tập trận chung rầm rộ nhất, ghi dấu 'kỷ nguyên mới' trong quan hệ

05/08/2021 - Voa / Reuters
Nữ Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia hôm thứ Năm 5/8 nói nước này bước vào một "kỷ nguyên mới trong quan hệ song phương" với Hoa Kỳ, giữa lúc các lực lượng vũ trang hai nước tiến hành cuộc tập trận chung lớn nhất từ trước đến nay trong tuần này với sự tham gia của 3.000 binh sĩ.

Phát biểu tại Washington sau cuộc gặp với Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken và các quan chức khác, bà Retno Marsudi hoan nghênh việc Hoa Kỳ can dự nhiều hơn trong khu vực và bày tỏ hy vọng lạc quan về mối quan hệ chặt chẽ hơn với chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden.

"Là một quốc gia dân chủ và nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, quan hệ đối tác chiến lược mạnh mẽ với Indonesia sẽ mang lại giá trị gia tăng đáng kể cho sự can dự của Hoa Kỳ trong khu vực", nữ bộ trưởng nói trong một cuộc họp báo.

Bà cho biết "quan hệ đối tác chiến lược" giữa hai quốc gia bao gồm các lĩnh vực thương mại, đầu tư, an ninh và sức khỏe cộng đồng, với việc Mỹ tuyên bố trong tuần này sẽ viện trợ thêm 30 triệu đô la cho phòng chống COVID-19, cụ thể là để mua oxy, vật tư y tế cũng như tăng cường cho hoạt động tiêm vắc-xin cho Indonesia.

Indonesia phải vật lộn với số ca nhiễm virus corona gia tăng kể từ tháng 7, ghi nhận hơn 3,5 triệu ca và 100.000 ca tử vong kể từ khi bắt đầu đại dịch.

Hoa Kỳ đang tìm cách củng cố vị thế của mình trong khu vực để chống lại ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc, và chuyến thăm của bà Retno tới Washington trùng với cuộc tập trận quân sự chung lớn nhất từ trước đến nay của hai nước.

Indonesia cũng có quan hệ tốt với Bắc Kinh, và trong thời gian đại dịch xảy ra, nước này dựa nhiều vào vắc-xin từ Trung Quốc để thực hiện chương trình tiêm chủng quốc gia.

Tham mưu trưởng quân đội Indonesia Tướng Andika Perkasa và Tư lệnh Lục quân vùng Thái Bình Dương của Hoa Kỳ Charles A. Flynn cho biết hôm thứ Tư 4/8 rằng họ hy vọng các cuộc tập trận chung sẽ tăng cường khả năng quân sự và quan hệ song phương, theo một tuyên bố của quân đội Indonesia.

Cuộc tập trận chung "Lá chắn Garuda" diễn ra từ ngày 1-14 / 8 và có sự tham gia của hơn 3.000 binh sĩ.



Thượng Nghị sĩ Cornyn yêu cầu Hoa Kỳ thúc đẩy nhân quyền Việt Nam

05/08/2021 - VOA Tiếng Việt
Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ John Cornyn hôm 4/8 kêu gọi Ngoại trưởng Antony Blinken có biện pháp mạnh mẽ về nhân quyền trong khi thương thảo hợp tác với Việt Nam về an ninh và quốc phòng. Ông Cornyn đưa ra đề nghị này hai tuần trước khi Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Kamala Harris công du Việt Nam.

“Việt Nam chứng tỏ giá trị chiến lược trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, và vẫn là một đối tác được chào đón về mặt hợp tác an ninh. Tuy nhiên, chính quyền Việt Nam tiếp tục chứng tỏ các hành động đáng quan ngại về nhân quyền, tự do tôn giáo,” Thượng Nghị sĩ Cornyn viết trong bức thư gửi Ngoại trưởng Blinken.

Ông Cornyn nêu trường hợp nhà nước Việt Nam bắt bớ và bỏ tù các thành viên của Hội Nhà báo Độc lập với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước” như là một minh chứng cho các hành động sách nhiễu này.

TNS Cornyn yêu cầu Ngoại trưởng Blinken giải trình về những việc Bộ Ngoại Giao đang thực hiện để nâng vấn đề nhân quyền trong chính sách đối ngoại với Việt Nam.

Bức thư của TNS Cornyn cũng đồng gửi đến Bộ Trưởng Quốc Phòng Lloyd Austin, người vừa đi thăm Việt Nam để thảo luận việc hợp tác quốc phòng giữa hai nước.

“Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo Việt Nam bị lạm dụng thông qua việc diễn giải các điều khoản mập mờ cho phép áp đặt các hạn chế dựa trên an ninh quốc gia. Sự lạm dụng này bao gồm theo dõi, khảo tra, giam giữ tuỳ tiện, và kỳ thị một số cá nhân, ít ra là một phần nào đó, vì niềm tin hoặc nhóm tôn giáo họ theo.”

Như VOA đã loan tin, trong các ngày 16 – 18/7 vừa qua, công an Đắk Lắk bố ráp hàng loạt các tín đồ Tin Lành người Tây Nguyên, áp giải và thẩm vấn hàng giờ. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Uỷ hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế (USCIRF) đã lên án vụ bố ráp này.

Trong thư, TNS Cornyn yêu cầu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ chỉ định Việt Nam là quốc gia cần quan tâm đặc biệt (CPC) chiếu theo Luật Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 1998 vì dựa vào chính báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao, Việt Nam đàn áp tự do tôn giáo một cách nghiêm trọng.

Ngoài ra, TNS Cornyn cũng kêu gọi áp dụng biện pháp chế tài theo Luật Magnitsky Toàn cầu đối với các thủ phạm vi phạm nhân quyền trầm trọng.

Ông Y Nguyet Buon Krong, thầy truyền đạo của Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên, người vừa bị thẩm vấn trong cuộc bố ráp vừa qua, cho VOA biết ông ủng hộ việc Hoa Kỳ áp dụng Luật Magnitsky Toàn cầu để chế tài quan chức Việt Nam vi phạm nhân quyền. Ông nói:

“Tôi mong Hoa Kỳ và quốc tế gây áp lực cho chính quyền Việt Nam và đưa quan chức Việt Nam vào Luật Magnitsky vì họ đàn áp tôn giáo. Chúng tôi đang gặp khó khăn, như chính quyền nói họ sẽ xóa sổ Hội thánh Tin lành Đấng Christ này, và chúng tôi không thể sinh hoạt theo niềm tin của mình.”

Thượng Nghị sĩ Cornyn viết: “Tôi tin rằng quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là quan trọng đối với hòa bình và ổn định của mỗi quốc gia chúng ta và tất cả các quốc gia ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, tôi cũng tin rằng quan hệ bình đẳng ngày càng tăng của chúng ta phải được xây dựng dựa trên các giá trị nhân quyền, tự do dân sự và tôn giáo.”

Cuối thư, Thượng Nghị sĩ Cornyn yêu cầu Ngoại trưởng Blinken giải trình về những việc Bộ Ngoại Giao đang thực hiện để thúc đẩy vấn đề nhân quyền tại Việt Nam, song song với việc buộc chính quyền Việt Nam chịu trách nhiệm đảm bảo nhân quyền, tự do tôn giáo.

Như Nhà Trắng đã loan báo, Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Kamala Harris sẽ có chuyến công du Việt Nam từ ngày 24-26/8. Hiện nay, Bộ Ngoại Hoa Kỳ và Việt Nam đang thu xếp lịch trình cho chuyến thăm này.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng hôm 5/8 cho biết: “Hiện nay các cơ quan chức năng của 2 nước đang phối hợp để chuẩn bị, thu xếp cho chuyến thăm của Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris trên tinh thần quan hệ Đối tác toàn diện Việt-Mỹ, tiếp tục phát triển tốt đẹp, thực chất trên tất cả các lĩnh vực, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên toàn thế giới”.

Phía Việt Nam luôn nói rằng họ luôn bảo đảm các quyền căn bản của người dân, bao gồm các quyền tự do bày tỏ, nhóm họp và lập hội, cũng như quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#2068 Posted : Saturday, August 7, 2021 2:28:32 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Khí hậu hâm nóng : Đợt cháy rừng lớn thứ ba trong lịch sử California

07/08/2021 - Trọng Thành / RFI
Cháy rừng hoành hành tại phía bắc bang California, miền tây Hoa Kỳ. « Dixie Fire » được ghi nhận là trận cháy lớn thứ ba trong lịch sử bang. Theo các nhà khoa học, khô hạn kéo dài do Trái đất bị hâm nóng khiến cháy rừng trở nên nghiêm trọng gấp bội.

Theo AFP, trong tuần qua, Dixie Fire đã tiêu hủy hoàn toàn thị trấn Greenville, nơi cư trú của 800 cư dân. Tính đến ngày hôm qua, 06/08/2021, Dixi Fire tiêu hủy tổng cộng 175.000 hectare rừng và khu dân cư. Trận cháy rừng Dixi Fire bùng lên từ giữa tháng 7/2021 chưa có dấu hiệu chấm dứt. Hơn 5.000 lính cứu hỏa đang chống chọi với trận cháy kinh hoàng này.

Hôm qua, chính quyền địa phương cho biết là đám cháy có thể sẽ còn tiếp tục lan rộng do gió lớn thổi bùng tàn lửa. Rừng tại California với nhiều cây cối đang trong kỳ khô hạn, sẵn sàng bốc cháy khi gặp lửa, khiến hoạt động cứu hỏa trở nên khó khăn gấp bội.

Theo các nhà quan sát, trận cháy rừng khổng lồ Dixie Fire dữ dội đến mức tạo ra một vùng « tiểu khí hậu » riêng trong những ngày gần đây. Cháy rừng tạo thành các đám mây « pyrocumulus » hình nấm, còn gọi là « mây lửa », thường hình thành khi có cháy rừng, núi lửa phun trào, hay sau một đợt nóng dữ dội. Các đám « mây lửa » có thể gây sấm sét, gió lớn, khiến rừng cháy càng mạnh hơn.

Đợt cháy rừng đang diễn ra khiến người ta nhớ đến đợt cháy lớn nhất trong lịch sử California, xảy ra năm 2018. Đợt cháy Camp Fire phá hủy hoàn toàn thị xã Pardise, với 27.000 cư dân. Sau trận cháy, chỉ có 6.000 người trở lại nơi này.

Hỏa hoạn kinh hoàng tại Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ

Ở bên này Đại Tây Dương, tại nhiều vùng du lịch ven Địa Trung Hải, cháy lớn tiếp tục hoành hành đặc biệt tại Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, nơi nhiệt độ dao động trong khoảng 40 đến 45°C. Đây là ngày thứ 11 thần lửa hoành hành tại Hy Lạp. Hôm qua, hỏa hoạn lan đến một ngôi làng cách thủ đô Athens khoảng 30 km. Ít nhất hai người chết cho đến nay. Miền nam Thổ Nhĩ Kỳ cũng đối mặt với đợt cháy chưa từng có từ vài thập niên. Ít nhất 11 người chết do lửa.

Theo một dự thảo báo cáo của GIEC (nhóm chuyên gia liên chính phủ của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu), vùng Địa Trung Hải với 500 triệu dân được coi là một trong các nạn nhân hàng đầu của biến đổi khí hậu. Ít nhất 93 triệu dân tại khu vực này sẽ là nạn nhân trực tiếp của nạn nhiệt độ tăng cao.

Báo cáo GIEC : Biến đổi khí hậu đe dọa 500 triệu dân Địa Trung Hải

Nóng hạn là hệ quả lớn nhất của biến đổi khí hậu tại khu vực này. Nhiệt độ vùng Địa Trung Hải sẽ tăng mạnh hơn nhiều so với mức tăng nhiệt độ trung bình trên Trái đất. Cháy rừng sẽ tăng gấp hai, gấp ba lần so với hiện nay, tùy theo mức độ Trái đất bị hâm nóng đến đâu. Sản lượng nông nghiệp tại nhiều khu vực sẽ sụt giảm đến hai phần ba.

Báo cáo nói trên của GIEC - đã được 195 thành viên thông qua hôm thứ Sáu 06/08 - sẽ được chính thức công bố ngày thứ Hai 09/08. Báo cáo này được coi là cơ sở cho các đàm phán về cam kết khí hậu tại thượng đỉnh Khí hậu COP 26, tại Glasgow, Anh Quốc, tháng 11/2021. Theo các nhà khoa học, chỉ giới hạn nhiệt độ Trái đất tăng không quá 1,5°C so với thời tiền công nghiệp mới giúp nhân loại tránh được các thảm họa vượt quá khả năng khắc phục. Mục tiêu của Thỏa thuận Khí hậu Paris 2015 là giới hạn nhiệt độ Trái đất không tăng quá từ 1,5°C đến 2°C. Điều chỉnh theo hướng gia tăng cam kết cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính là thách thức lớn nhất đối với cộng đồng quốc tế hiện nay.

Theo một báo cáo đầu năm nay của Liên Hiệp Quốc, tổng cộng các cam kết cắt giảm khí thải mới cho đến nay mới chỉ góp phần giảm 1% khí thải vào năm 2030 (so với mức khí thải năm 2010), còn rất xa với mức 45% cần thiết để giữ mức tăng nhiệt độ không quá 1,5°C.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#2069 Posted : Saturday, August 14, 2021 11:48:52 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

« Kỷ lục » đáng buồn : Tháng nóng nhất trong Lịch sử

14/08/2021 - Trọng Thành / RFI
Một cơ quan khoa học Hoa Kỳ cho biết tháng Bảy năm nay là tháng nóng chưa từng được ghi nhận trên Trái đất. « Kỷ lục » đáng buồn này cho thấy rõ khí hậu Trái đất đang biến đổi nhanh chóng, chủ yếu do khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Nóng kỷ lục đi liền với thiên tai ngày càng dữ dội. Liệu con người có kịp thời hành động ?

Theo giám đốc Cơ quan Quốc gia về Đại dương và Khí quyển Mỹ (NOAA), ông Rick Spinrad, tháng 7 thường là tháng nóng nhất trong năm, nhiệt độ tháng 7 năm nay cao hơn nhiệt độ của mọi tháng 7, và trở thành tháng nóng nhất trong lịch sử nhân loại. Tháng 7 năm nay vượt 0,01°C so với tháng 7 năm 2016, là năm nóng kỷ lục (cùng với hai năm sau đó 2019 và 2020).

Kỷ lục tháng nóng nhất được Cơ quan NOAA đưa ra chỉ ít ngày sau khi GIEC, nhóm chuyên gia liên chính phủ của Liên Hiệp Quốc về khí hậu, công bố bản báo cáo gây sốc cho thấy khí hậu biến đổi nhanh hơn nhiều so với dự kiến. Cụ thể là chỉ trong 9 năm nữa, vào 2030, nhiệt độ Trái đất sẽ vượt quá 1,5°C so với thời tiền công nghiệp, sớm hơn 10 năm. Mà với nhiệt độ vượt quá mức này, nhân loại có nguy cơ phải gánh chịu các hiện tượng thời tiết cực đoan, như bão, lũ, hạn hán… với quy mô « chưa từng thấy ».

Thiên – nhân tai dồn dập

Đúng vào thời điểm NOAA trao « kỷ lục » đáng buồn nói trên cho tháng Bảy năm 2021, trên khắp hành tinh, từ Á sang Âu, từ châu Mỹ đến châu Phi, dân cư nhiều khu vực rộng lớn trên Trái đất đang đối mặt với các thiên tai dữ dội : cháy rừng ở miền tây nước Mỹ, miền nam châu Âu, đặc biệt là Hy Lạp, tại Algeri ở Bắc Phi, lũ lớn ở Thổ Nhĩ Kỳ, ở Trung Quốc, rừng cháy lớn tại Siberi, nạn đói ở Madagascar...

Các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng dồn dập và dữ dội hơn kia xảy ra vào lúc nhiệt độ Trái đất « mới » chỉ tăng 1,1°C so với thời tiền công nghiệp. Nếu nhiệt độ tăng quá 1,5°C thì sao ? Và từ đây đến đó chỉ còn ít năm !

Nhân loại bên bờ vực

Nhân loại, hay ít nhất một bộ phận lớn của nhân loại, đang bên bờ vực.

Mọi chú ý của giới quan tâm giờ đây đều hướng về thượng đỉnh khí hậu COP26 ở Glasgow, Anh Quốc, sẽ họp lại trong gần ba tháng tới. Chính tại thượng đỉnh này, lãnh đạo các nước phải thống nhất được với nhau để thông qua các cam kết nhằm bảo đảm lộ trình cắt giảm mạnh khí thải gây hiệu ứng nhà kính, do năng lượng hóa thạch, để giữ cho nhiệt độ Trái đất không tăng quá 1,5°C, như mục tiêu đặt ra trong Hiệp định Khí hậu Paris 2015.

Tổng số các cam kết cắt giảm khí thải của 75 quốc gia (trên 195 nước), được công bố hồi tháng 2/2021, tương ứng với 1% khí thải cắt giảm vào 2030 so với 2010. Mà, phải cắt giảm đến 45% mới có thể giữ nhiệt độ Trái đất không tăng quá 1,5°C, theo GIEC.

Năm 2015, cộng đồng quốc tế với các nỗ lực từ nhiều phía rút cuộc đã ký kết được Hiệp định Khí hậu, đặt được mục tiêu 1,5°C vào văn bản chung cuộc. Trong thượng đỉnh được coi là có ý nghĩa quyết định lần này, liệu cộng đồng có bỏ lỡ cơ hội ?


Hoàng Thy Mai Thảo  
#2070 Posted : Friday, August 20, 2021 12:27:48 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Có thật sự Biden bó tay vì thỏa thuận của Trump với Taliban tại Doha?

VOA / AP - 20/08/2021
Khi chính quyền Tổng thống Donald Trump ký hòa ước với Taliban vào tháng 2/2020, ông lạc quan tuyên bố rằng “chúng tôi nghĩ chúng tôi sẽ thành công lúc cuối cùng.” Ngoại trưởng của ông, Mike Pompeo, đánh giá là chính quyền “nắm được cơ hội hòa bình tốt nhất trong một thế hệ.”

Mười tám tháng sau đó, Tổng thống Joe Biden nhắc đến thỏa thuận ký tại Doha, Qatar, đổ lỗi cho Taliban chiếm Afghanistan trong một thời gian chớp nhoáng. Ông nói thỏa thuận này buộc ông phải rút quân Mỹ, gây nên tình trạng hỗn loạn bao trùm quốc gia này.

Tuy nhiên ông Biden chỉ đi xa đến đó thôi trong việc nói rằng thỏa thuận bó buộc ông. Mỹ có thể phải rút quân theo thỏa thuận nếu các cuộc hòa đàm Afghanistan thất bại. Thỏa thuận đã thất bại, nhưng ông Biden chọn ở lại, dù ông hoãn việc rút quân hoàn toàn từ tháng 5 đến tháng 9.

Ông Chris Miller, quyền Bộ trưởng Quốc phòng trong những tháng cuối cùng chính quyền Trump, chỉ trích ý kiến cho rằng ông Biden bị bó tay vì thỏa thuận này.

“Nếu ông nghĩ thỏa thuận không tốt, ông có thể thương thuyết trở lại. Ông có nhiều cơ hội nếu ông thật sự muốn,” ông Miller là viên chức chống khủng bố cao cấp vào lúc thỏa thuận Doha được ký, nói trong một cuộc phỏng vấn.

Dù sao tái thương thuyết sẽ khó khăn. Ông Biden sẽ có rất ít đòn bẩy. Ông cũng như ông Trump muốn rút quân Mỹ ra khỏi Afghanistan. Rút khỏi thỏa thuận có thể buộc ông phải gởi thêm nhiều binh sĩ nữa trở lại Afghanistan!

Ông nêu rõ điểm này vào ngày thứ Hai 16/8, trong diễn văn truyền hình từ Tòa Bạch Ốc, là ông sẽ không cam kết gởi thêm binh sĩ Mỹ để chiến đấu cho tương lai Afghanistan trong khi nhắc trở lại thỏa thuận của ông Trump cho thấy rằng con đường rút quân đã được người tiền nhiệm của ông định trước.

“Lựa chọn tôi phải quyết định, trong tư cách tổng thống của các bạn, hoặc là tuân thủ thỏa thuận này hay chuẩn bị trở lại chiến đấu chống Taliban giữa cuộc chiến mùa Xuân,” Biden nói.

Việc Taliban chiếm quyền, nhanh chóng hơn rất nhiều so với các giới chức trong hai chính quyền dự kiến, đã nêu lên những câu hỏi từ ngay cả những giới chức từ thời kỳ ông Trump về những điều khoản và điều kiện của thỏa thuận — và những quyết định tiếp sau đó - có đủ để bảo vệ người Afghanistan một khi quân đội Mỹ rút lui hay không.

Thỏa thuận lịch sử luôn mang tính ngoại giao và có nhiều rủi ro, đòi hỏi một mức độ tín nhiệm đối với Taliban như là đối tác hòa bình khả dĩ và được thỏa hiệp dù có những nghi ngờ từ phía Afghanistan, vốn đã mệt mỏi vì chiến tranh, lo ngại mất quyền hành trong bất cứ thỏa thuận chia sẻ quyền lực nào.

“Thỏa thuận Doha là thỏa thuận rất yếu, và Mỹ nên phải được Taliban nhượng bộ nhiều hơn,” bà Lisa Curtis, chuyên gia về Afghanistan, phục vụ trong chính quyền ông Trump với tư cách giám đốc về Nam và Trung Á của Hội đồng An ninh Quốc gia, nhận định.

Bà gọi đây là lối “suy nghĩ mong muốn” để tin là Taliban có thể quan tâm đến một nền hòa bình lâu dài. Bà nói, kết quả của thỏa thuận, cân nhắc nặng nề về phía Taliban, góp phần vào việc phá hoại Tổng thống Afghanistan Ashraf Ghani - ông này rời khỏi nước vào ngày Chủ Nhật 15/8 và hiện ở tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất - và tạo điều kiện dễ dàng cho việc phóng thích 5.000 tù nhân Taliban mà không có sự tương nhượng nào về phía Taliban.

“Họ muốn lực lượng Mỹ rút ra, và họ muốn chiếm đất nước này bằng quân sự và họ tin có thể làm được việc này,” bà Curtis nói về Taliban. “Việc này thật rõ ràng.”

Thỏa thuận kêu gọi nước Mỹ rút lực lượng xuống từ 13.000 còn 8.600 từ ba đến bốn tháng tiếp theo, và lực lượng còn lại trong 14 tháng, hay vào ngày 1/5.

Ông Biden trong cuộc phỏng vấn của đài ABC, phát hình vào ngày 18/8, nói ông phải đối đầu với hạn chót này ngay sau khi nhậm chức: “Tôi có nói chúng ta sẽ ở lại hay không? Và bạn có nghĩ là chúng ta sẽ không thêm quân hay không?”

Ngay cả khi không có thỏa thuận của ông Trump, ông Biden nói ông sẽ nỗ lực hình dung ra việc làm cách nào để rút các binh sĩ này ra” và rằng “không có thời điểm tốt để rời Afghanistan.”

Thỏa thuận qui định sự cam kết của Taliban để ngăn chận khủng bố, bao gồm nghĩa vụ từ bỏ al Qaida và ngăn tổ chức này hay các tổ chức khác dùng đất của Afghanistan để dự mưu tấn công Mỹ và các đồng minh. Dù thỏa thuận buộc Taliban ngưng các cuộc tấn công vào Mỹ và các lực lượng liên minh, thỏa thuận không minh thị đòi hỏi Taliban trục xuất al-Qaida hay ngưng các cuộc tấn công vào quân đội Afghanistan.

Thỏa thuận cung cấp tính hợp pháp cho Taliban, mà các lãnh đạo đã gặp ông Pompeo, ngoại trưởng đầu tiên của Mỹ có những giao tiếp như vậy. Cũng có những thảo luận về việc Taliban đến Mỹ gặp Tổng thống Trump.

Tuy nhiên, ông Trump dè đặt nói về khả năng thành công của thỏa thuận, ông cảnh báo sử dụng sức mạnh quân sự “nếu sự việc xảy ra.” Ông Pompeo cũng nói tương tự là Mỹ “thực tế” và “tự chế,” quyết định chấm dứt cuộc chiến không có kết thúc.

Một ngày trước thỏa thuận Doha, một phụ tá hàng đầu của trưởng đoàn thương thuyết Mỹ Zalmay Khalilzad nói thỏa thuận có thể đảo ngược được và “Mỹ không có nghĩa vụ rút quân nếu các bên Afghanistan không đạt được thỏa thuận hay Taliban chứng tỏ không có thiện chí” trong các cuộc thương thuyết.

Những cuộc đàm phán này dự trù bắt đầu trong vòng một tháng sau khi thỏa thuận được ký nhưng đã bị hoãn giữa những tranh chấp giữa Taliban và chính phủ Afghanistan về việc phóng thích tù nhân. Giữa những tranh chấp qua lại, các cuộc thương thuyết không đạt được kết quả nào vào lúc ông Biden loan báo quyết định rút quân vào tháng Tư. Từ đó, họ không làm gì cả.

Ông Miller nói đây là “khuynh hướng đúng” và cần thiết để buộc ông Ghani thương thuyết. Ông nói thỏa thuận Doha luôn được xem như “giai đoạn một” của tiến trình với giai đoạn kế tiếp là việc Mỹ sử dụng đòn bẩy để buộc ông Ghani thương thuyết về việc chia sẻ quyền hành với Taliban.

“Rõ ràng ông ấy không phấn khởi về việc này, nhưng ông sẽ làm - hay ông sẽ bị lật đổ,” ông Miller nói. “Chúng tôi sẽ áp lực mạnh mẽ lên ông ấy để buộc ông phải thỏa thuận với Taliban.”

Dù sao, bà Curtis nói, xét cho cùng Mỹ không nên đi vào các cuộc thảo luận Doha “trừ phi chúng ta chuẩn bị đại diện cho những quyền lợi của chính phủ Afghanistan. Đây là cuộc thương thuyết không công bằng và không ai để ý đến quyền lợi của chính phủ Afghanistan.”



Afghanistan: Chiến lợi phẩm để lại cho Taliban, một mối đau đầu khác cho Mỹ

20/08/2021 - Trọng Nghĩa / RFI
Sự sụp đổ nhanh chóng của lực lượng chính phủ Afghanistan, hầu như chỉ tháo chạy trước đà tiến của Taliban đã khiến cho một khối lượng vũ khí khổng lồ mà Mỹ trang bị cho quân đội nước này rơi vào tay phiến quân Hồi Giáo. Chính cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ Jake Sullivan ngày 17/08/2021 đã thừa nhận rằng một số lượng vũ khí “khá lớn” của Mỹ đã rơi vào tay lực lượng Taliban. Thực tế này đã làm dấy lên nhiều lo ngại về nguy cơ vũ khí tối tân của Mỹ bị các nhóm khủng bố sử dụng hoặc bị Taliban giao cho Trung Quốc hay Nga.

Hãng tin Anh Reuters ngày 19/08 đã nhắc lại một số sự kiện rất mỉa mai: Chỉ cách nay khoảng một tháng, bộ Quốc Phòng Afghanistan đã đăng trên mạng xã hội những bức ảnh chụp 7 chiếc trực thăng mới tinh vừa được Hoa Kỳ chuyển đến Kabul. Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Lloyd Austin vài hôm sau đã khoe với báo chí rằng Afghnistan “sẽ tiếp tục chứng kiến nhịp độ dồn dập” của viện trợ quân sự Mỹ.

Thế nhưng, chỉ trong vài tuần, Taliban đã chiếm được hầu hết lãnh thổ Afghanistan cũng như mọi loại vũ khí và thiết bị quân sự mà quân đội Afghanistan đã bỏ lại khi tháo chạy.

Nhiều đoạn video lưu hành trên mạng cho thấy phiến quân đang kiểm tra hàng dãy xe cơ giới và mở các thùng đựng nào là súng, nào là thiết bị liên lạc, thậm chí cả máy bay quân sự không người lái.

28 tỷ đô la vũ khí, từ Humvee đến Black Hawk

Trả lời Reuters, một quan chức Mỹ cho biết là mặc dù chưa có số chính xác, nhưng các thông tin tình báo hiện tại ước lượng là Taliban đang nắm trong tay hơn 2.000 xe thiết giáp, trong đó có loại Humvee hiện đại của Mỹ, và đến 40 phi cơ bao gồm loại trực thăng UH-60 Black Hawk, trực thăng trinh sát tấn công và máy bay quân sự không người lái ScanEagle.

Từ năm 2002 đến 2017, Hoa Kỳ đã cung cấp cho quân đội Afghanistan ước tính 28 tỷ đô la vũ khí, bao gồm súng, tên lửa, kính nhìn ban đêm và thậm chí cả máy bay không người lái nhỏ để thu thập thông tin tình báo.

Trực thăng Black Hawk là dấu hiệu dễ thấy nhất về hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ và được cho là lợi thế lớn nhất của quân đội Afghanistan trước Taliban. Theo cơ quan chính phủ Mỹ GAO, từ năm 2003 đến năm 2016, Hoa Kỳ đã cung cấp cho các lực lượng Afghanistan 208 máy bay các loại.

Vào tuần trước, theo một quan chức Mỹ, có khoảng từ 40 đến 50 máy bay do các phi công Afghanistan điều khiển đã bay qua Uzbekistan để tìm nơi ẩn náu. Ngoài ra một số khác đã được đưa về Mỹ để đươc bảo trì. Một số đã bảo trì xong và đang trên đường qua Afghanistan sẽ được quân đội Hoa Kỳ sử dụng vào chiến dịch di tản khỏi Kabul.

Vũ khí Mỹ trong tay Taliban: Mối đe dọa cho Mỹ và đồng minh

Các quan chức Mỹ đương nhiệm hay cựu quan chức đều đã lo ngại trước nguy cơ các loại vũ khí này có thể được Taliban sử dụng để giết dân thường, hay là bị các nhóm chiến binh khác như tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo chiếm giữ để tấn công vào các lợi ích của Hoa Kỳ trong khu vực.

Trả lời Reuters bằng email, dân biểu đảng Cộng Hòa Michael McCaul thuộc Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện Mỹ cho biết: “Chúng tôi đã thấy chiến binh Taliban dùng vũ khí do Mỹ sản xuất mà họ chiếm được từ tay lực lượng Afghanistan. Điều này gây ra mối đe dọa đáng kể đối với Mỹ và các đồng minh”.

Chính quyền của tổng thống Joe Biden đang cân nhắc một số phương án đối phó trong đó có việc tấn công phá hủy các loại thiết bị lớn, chẳng hạn như máy bay trực thăng. Tuy nhiên khả năng này tạo ra lo ngại là điều đó sẽ chọc giận phe Taliban vào thời điểm và mục tiêu chính của Hoa Kỳ là sơ tán người của mình ra khỏi Afghanistan.

Các quan chức Mỹ tuy nhiên nói rằng mặc dù họ lo ngại về việc Taliban có thể sử dụng trực thăng, nhưng loại phương tiện này đòi hỏi phải được bảo trì thường xuyên và nhiều loại không thể dùng được nếu không được đào tạo chuyên sâu.

Nguy cơ đến từ khối lượng vũ khí cá nhân khổng lồ dễ sử dụng

Tuy vậy có một mối lo ngại trước mắt về một số vũ khí và thiết bị dễ sử dụng hơn, chẳng hạn như vũ khí hạng nhẹ và các thiết bị như kính nhìn ban đêm.

Kể từ năm 2003, Hoa Kỳ đã cung cấp cho lực lượng Afghanistan ít nhất 600.000 vũ khí dùng cho bộ binh, bao gồm súng trường tấn công M16, 162.000 thiết bị liên lạc và 16.000 thiết bị kính nhìn ban đêm.

Một số chuyên gia cho rằng các loại súng mà Taliban chiếm được như đại liên, súng cối, cũng như các loại pháo bao gồm cả pháo tự hành, có thể mang lại lợi thế cho Taliban khi phải đánh vào các thành trì nổi tiếng là chống Taliban trong lịch sử như vùng Thung Lũng Panshir ở phía đông bắc Kabul.

Theo trang mạng thông tin The Hill ngày 19/08, Elias Yousif, phó giám đốc Trung Tâm Chính Sách Quốc tế (Center for International Policy’s Security Assistance Monitor), đặc biệt lo ngại trước khối lượng vũ khí cá nhân khổng lồ mà Taliban tịch thu được.

Trả lời phóng viên của The Hill, ông Yousif giải thích: “Chúng dễ bảo trì, dễ sử dụng, dễ vận chuyển. Điều đáng lo trong trường hợp các loại vũ khí nhẹ này là chúng là mặt hàng lâu bền và dễ chuyển nhượng hay bán đi. Chúng tôi đã thấy điều này trước đây mỗi khi một cuộc xung đột kết thúc và những vũ khí đã dùng ở đó được đưa đến mọi nơi trên thế giới.”

Theo tạp chí Mỹ Politico ngày 19/08, Colin Clarke, giám đốc chính sách và nghiên cứu của The Soufan Group cho biết: “Tôi tin chắc rằng một số vũ khí sẽ rơi vào tay Al Qaeda và những thành phần xấu khác, đây là điều không thể tránh khỏi”. Nguy cơ này lại càng cao khi lực lượng Taliban đang rất cần tiền để có thể điều hành đất nước Afghanistan.

Taliban sẽ cho Trung Quốc tiếp cận vũ khí Mỹ?

Một trong những mối lo ngại khác được gợi lên là nguy cơ Taliban chia sẻ thiết bị quân sự Mỹ mà họ tịch thu được với các quốc gia đối thủ của Hoa Kỳ như Trung Quốc, nước bị tình nghi là đã từng đánh cắp công nghệ vũ khí của Mỹ.

Andrew Small, một chuyên gia về chính sách đối ngoại Trung Quốc tại Quỹ Marshall của Hoa Kỳ, cho biết Taliban có khả năng cho Bắc Kinh quyền tiếp cận bất kỳ vũ khí nào của Hoa Kỳ mà họ nắm được trong tay.

Tuy nhiên, theo Reuters, một quan chức Mỹ cho biết Trung Quốc có lẽ không cần đến điều này vì Bắc Kinh có thể đã tiếp cận được các loại vũ khí và thiết bị từ trước.

Tướng Lục Quân Hoa Kỳ đã nghỉ hưu Joseph Votel, người từng giám sát các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Afghanistan khi còn là Tư lệnh Bộ Chỉ Huy Trung Tâm Hoa Kỳ CentCom từ năm 2016 đến năm 2019, cho biết là hầu hết các thiết bị cao cấp lọt vào tay Taliban, bao gồm cả máy bay, đều không được trang bị công nghệ nhạy cảm của Hoa Kỳ.

Theo ông Votel: “Trong một số trường hợp, nhiều loại vũ khí chỉ là chiến lợi phẩm để trưng bày mà thôi”.



Kinh qua ‘Sài Gòn thất thủ’, nghĩ gì về ‘Kabul thất thủ’?

18/08/2021 - Titi Mary Trần / VOA
Tiến sĩ Đinh Xuân Quân từng làm việc 7 năm tại Afghanistan qua bốn chuyến công tác về xây dựng phát triển. Là một người gốc Việt có kinh nghiệm lúc Sài Gòn thất thủ, ông chia sẻ cái nhìn chi tiết về tình hình chính trị và sự thất thủ của Afghanistan kỳ này.

VOA: Tiến sĩ Đinh Xuân Quân từng làm việc tại Kabul trong nhiều giai đoạn từ 2004 - 2016 qua bốn chuyến công tác về xây dựng phát triển. Lần đầu, ông làm việc cho World Bank – Liên Hiệp Quốc, từ 2004-2007, liên quan đến Tái Thiết Công Vụ. Sau đó là cho USAID, cơ quan phát triển quốc tế của Hoa Kỳ, từ 2010 – 2011. Tiếp theo là cố vấn cho Bộ Nông Nghiệp từ 2013 – 2015. Và lần cuối là cho USAID, 2016.

Tiến sĩ Quân từng cộng tác và làm chuyên viên tại Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), Liên Hiệp Quốc, và USAID. Ông từng thi hành công vụ tại Afghanistan, Azerbaijan, Iraq, Nam Sudan, Kosovo, Liberia, Zaire, Madagascar, Kenya, Rwanda, Indonesia, Việt Nam… với nhiệm vụ cố vấn liên quan đến kinh tế.

Tiến sĩ Quân có bằng cấp và được đào tạo tại các đại học Sorbonne, Paris; Temple, Philadelphia, Viện Đào Tạo của Ngân Hàng Dresdner Bank, Frankfurt am Main, Đức Quốc.

Hiện ông cư ngụ tại Garden Grove, California.

Dưới đây là trích đoạn phỏng vấn của VOA Tiếng Việt với tiến sĩ Đinh Xuân Quân.

***

VOA Tiếng Việt (VOA): Thưa tiến sĩ, cảm xúc ông ra sao khi nghe tin Kabul thất thủ?

Tiến sĩ Đinh Xuân Quân (Ts. ĐXQ): Từ thứ Tư, ngày 4 Tháng 8 vừa rồi, tôi không ngủ được. Vì những người bạn của tôi và những người tôi đã làm việc cùng ở Afghanistan và thường dân, nhất là vợ con của họ, không được đi làm và không được đi học nữa. Con gái của họ không được đi học, không được hành nghề nữa. Do đó cảm xúc rất là nhiều, và tôi liên tưởng tới năm [19]75 ở Việt Nam.

Không ngờ là quân đội Afghanistan đã không đánh và tan rã mau chóng. Không ai tưởng tượng nổi. Nhưng những người không mấy hiểu biết sẽ chính trị hóa và đổ tội cho nhau.

Trong những ngày qua, tôi ráng tìm liên lạc với những bạn cũ ở Afghanistan (internet vẫn còn hoạt động). Tôi ráng tìm họ và cho họ tin tức, và nhớ lại những ngày hoang mang tại Việt Nam trước đây, 30/4/75.

Tôi nhớ lại những ngày tại Việt Nam, những người tị nạn, việc hôi của, loạn tại Sài Gòn trong những ngày ấy.

VOA: So sánh giữa Sài Gòn thất thủ và Kabul thất thủ, ông thấy như thế nào?

Ts. ĐXQ: Khác! Ở đây (Afghanistan) không có chính sách lừa đảo và bắt [người]. Tương đối bây giờ tôi thấy có một cái hay là không có vấn đề hôi của, đó là một cái hay. Đối với Taliban, ăn cắp thì bị chặt tay. Ở Việt Nam năm 1975 có hôi của. Đây [Afghanistan] không có vụ hôi của.

Tôi thấy, và mấy người bạn tôi nói, là họ chưa đụng tới dân chúng. Có thể đó là đối với Kabul và mấy tỉnh lớn.

Ở Việt Nam, khi miền Bắc vào miền Nam là mấy trăm ngàn người, bao nhiêu sư đoàn vào. Trong khi ở đây đâu có. Họ đi xe mô tô vào. Vì không có đánh nhau!

Chính tôi cũng thấy bất ngờ, là tại sao không có đánh nhau.

Thứ hai là đa số trong chính phủ là người từ Hoa Kỳ trở về. Nhiều người Afghan từ Hoa Kỳ trở về là những người từng tị nạn từ hồi Liên Xô vào thập niên 80, 90, rồi năm 2000, 2005 họ trở về. Có cái hay và cũng có cái dở. Họ trở về có cái hay là tiến bộ hơn nhưng mà có cái dở là tham nhũng. Người nào cũng lo tìm nhà cũ, kiếm tiền làm tiền thành ra cái đầu óc, bộ não nó khác, không nhất quyết. Vì vậy, nửa chừng chưa gì đã bỏ chạy hết rồi.

Bây giờ so sánh giữa Việt Nam và Afghanistan. Việt Nam đã có truyền thống quốc gia từ lâu đời rồi. Còn Afghanistan thì đến 2004 mới có chính phủ trung ương. Tinh thần quốc gia Việt Nam đã có từ lâu, được hun đúc từ những cuộc chiến chống xâm lược Trung Quốc.

Khi Afghanistan nằm dưới sự cai trị của Taliban, mà Taliban không phải cộng sản, không có chính sách cải tạo. Khi Liên Xô thua thì các ông tướng cũng không bị cải tạo. Người Afghanistan theo cộng sản cũng không bị cải tạo. Họ chỉ về nhà thôi.

Trong khi đối với cộng sản Việt Nam, con cái sĩ quan trong Nam đâu có được đi học. Họ có một chính sách độc ác hơn nhiều.

Taliban thì dựa trên đạo, tôn giáo. Còn cộng sản là vô thần, và họ sử dụng tất cả chuyện nói láo, lừa đảo. Taliban không có vụ đó. Họ có cử chỉ hành động thời trung cổ thiệt, nhưng mà không có chính sách như là người cộng sản.

VOA: Theo ông, tại sao Afghanistan thất thủ?

Ts. ĐXQ: Câu hỏi là, quân đội Afghanistan có nhiều đơn vị thiện chiến, được huấn luyện kỹ càng nhưng tại sao không đánh? Đây là không phải vì thua trận, mà vì rắn mất đầu. Trong khi quân Taliban tiến vào các thành thị, về Kabul thì Tổng thống đương nhiệm Ashraf Ghani đã trốn chạy qua Tadjikistan, quốc gia kế cận Afghanistan.

Hai là quân đội không đánh nhau. Họ không muốn đánh nhau. Có thể hai bên điều đình với nhau. Vì đâu có trận nào đâu. Ở Việt Nam đánh nhau lớn lắm, chứ đâu có phải không. Bên này không có, không có chuyện đánh nhau. Mà có đánh nhau cũng lẻ tẻ thôi, không có chiến trường. Nếu có đánh, chỉ là đánh du kích nhỏ.

Việc này cho thấy không phải là quân đội Afghanistan thua mà vì mất đầu, các lãnh đạo bỏ chạy khi gặp khó khăn do đó đã làm nhiều đơn vị mất tinh thần.

Ông Ashraf Ghani, một cựu nhân viên World Bank, về và lúc nào cũng tin là “một mình có thể làm và thay đổi Afhganistan, một xã hội còn trong thời trung cổ với nhiều lãnh chúa…” Trong khi ông Ashraf Ghani sợ hãi thì các lãnh đạo khác như ông Karzai, ông Abdullah còn ở lại để thương thuyết với Taliban.

Và tôi nghĩ dân chúng họ cũng chán nản. Hiện giờ, Afghanistan còn hơn một triệu người tị nạn tại Iran, hơn 1.5 triệu người tại Pakistan. Rồi còn các nước xung quanh, ở cả Châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ…

Nếu nhìn lại lịch sử thì khi Liên Xô rút khỏi xứ này vào 1989, chính quyền tại đây còn chống cự tới ba năm sau. Phe Mujahideen tiến vào Kabul trong hòa bình, không có cuộc “tắm máu” nào xảy ra, các quan chức cấp cao của chính phủ cũng như binh sĩ của chính quyền thân Liên Xô đều được bảo toàn tính mạng, không như tại Việt Nam, đi cải tạo và con cháu không được đi học.

Nhưng phe Mujahideen gồm nhiều sứ quân, nhiều bộ tộc. Sau khi chiếm Kabul, họ đánh nhau liên tiếp không đoàn kết. Cho nên phe Taliban từ Pakistan vào 1994 đã nhân dịp “nước đục béo cò” đã chiếm Afghanistan.

Sau 9/11, phe Miền bắc do Hoa Kỳ hậu thuẫn đã đánh thắng Taliban. Sau 2001, hội nghị quốc tế tại Bonn (2001) đã hứa tái thiết lập Afghanistan dưới lãnh đạo của Liên Hiệp Quốc.

Trong nhiều năm qua, Afghanistan đã xây dựng bộ máy hành chính, một cơ sở hạ tầng khá tốt và đào tạo cho giới trẻ và phụ nữ giúp tiến bộ xã hội.

VOA: Ông nghĩ gì về quyết định rút quân của chính phủ Mỹ?

Ts. ĐXQ: Tôi nghĩ không có cách nào làm khác được vì ở Afghanistan không có đánh nhau, không có một viên đạn thì vấn đề ở đây cho thấy một là hai bên họ đi với nhau. Hai là họ không chịu đứng lên bảo vệ quyền tự do của họ. Nếu đã là vậy thì khó mà tiếp tục nữa.

Hoa Kỳ ở đó 20 năm mà chỉ có 2400 người chết thôi. Vào lúc chót, hai ba năm gần đây, họ rút còn chỉ 2500 người thôi, mà với 2500 người này Taliban không vô được. Thì đó là quyết định chính trị.

Đã có ba ông tổng thống muốn rút rồi, chứ không phải là tới ông tổng thống này. Ông tổng thống đầu tiên muốn rút là Obama, sau là ông Trump, và người thứ ba là ông Biden, muốn rút luôn một lúc.

VOA: Cuộc chiến Quốc – Cộng ở Việt Nam là 20 năm, người Mỹ dính dấp 10 năm. Thời gian Mỹ vào Afghanistan 20 năm. Ông nhìn nhận mọi chuyện như thế nào?

Ts. ĐXQ: Mỹ bắt đầu dính vào Việt Nam lúc còn Pháp, còn quân đội Pháp ở Việt Nam. Lúc đó, Mỹ giúp Pháp. Còn ở đây, Mỹ vào là Liên Hiệp Quốc vào và nhiều quân đội vào. Ảnh hưởng chính trị không phải lúc nào Mỹ cũng bắt buộc Afghanistan theo ý của Hoa Kỳ đâu. Thành ra hai lập trường khác nhau. Trường hợp Việt Nam, Việt Nam là thuộc địa của Pháp, trong khi Afghanistan đâu phải là thuộc địa của Hoa Kỳ. Mà Hoa Kỳ cũng đâu phải lấy làm thuộc địa. Hoa Kỳ vào với mục đích là đánh Al-Qaeda, đánh Bin Ladin, vì lúc đó Taliban cho Al-Qaeda đồn trú ở Afghanistan và do đó Hoa Kỳ đã vào đánh và triệt hạ Al-Qaeda.

Edited by user Friday, August 20, 2021 12:33:50 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2071 Posted : Saturday, August 21, 2021 12:52:11 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Nhìn Kabul nghĩ về Sài Gòn: Các cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa lên tiếng

21/08/2021 - Hoàng Long / VOA
Tại Sân bay Quốc tế Hamid Karzai ở Kabul, một cảnh tượng chấn động khắp thế giới. Một máy bay quân sự của Mỹ lăn bánh trên đường băng giữa đám đông những người Afghanistan vây kín cố ngăn nó cất cánh, một số người tuyệt vọng bám lên thân báy bay. Rồi vài phút sau, có người rơi xuống từ máy bay khi nó đang ở trên không trung.

Từ tư gia ở Reston thuộc bang Virginia của Mỹ, ông Đinh Hùng Cường không khỏi xúc động trước những hình ảnh đau lòng. Cảm xúc của ông không chỉ xuất phát từ vị thế một công dân Mỹ chứng kiến sự sụp đổ và kết cục hỗn loạn nơi quân đội nước ông đã tham chiến hơn 20 năm, nó còn đến từ tâm thế của một người tị nạn từng được di tản khỏi một sự sụp đổ tương tự gần 50 năm trước.

Những diễn biến ở Afghanistan đầu tuần này khiến ông nhớ lại những gì xảy ra ở miền Nam Việt Nam vào năm 1975 khi lực lượng cộng sản miền Bắc mở cuộc tiến công mang tính quyết định. Tại Đà Nẵng, người ta cố leo lên một máy bay dân sự của Mỹ bay vào Sài Gòn với một số người bám lấy cánh máy bay, ông kể. Một người được phát hiện đã chết trong hốc máy bay khi nó đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất.

“Cái thảm cảnh đó làm cho tôi rất xúc động và tôi thấy rằng sau mấy chục năm rồi tôi rất là thương dân chúng Afghanistan,” ông nói. “Họ đã chịu đựng cuộc chiến 20 năm mà trong vòng có mấy ngày thôi mà cả đất nước đó sụp đổ.”

Ông Cường, nay 78 tuổi, từng là Quận trưởng Quận Thủ Thừa của tỉnh Long An. Trong vai trò thiếu tá bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ông tham gia chiến đấu bảo vệ một tuyến đường tiếp tế vào đầu tháng 4 năm 1975. Ông được di tản trước khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4 trong khi đang được chữa trị thương tích, ông nói.

Trong những cuộc phỏng vấn với VOA, các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa ở khắp nước Mỹ bày tỏ xúc động và xót xa khi sự sụp đổ ở Afghanistan được đem ra so sánh với sự sụp đổ ở quê hương của họ. Hình ảnh máy bay trực thăng bốc người di tản trên nóc đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn cách đây gần nửa thế kỷ vẫn còn xuất hiện tràn ngập trên truyền thông ở Mỹ và khắp thế giới.

Nhưng sự so sánh về hình ảnh đó khỏa lấp bối cảnh lịch sử khác biệt mà những cựu quân nhân này hiểu rõ hơn ai hết. Họ nói binh sĩ của Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu “anh dũng” và “kiên cường” cho tới những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến trong khi quân đội Afghanistan tan rã một cách nhanh chóng và Taliban tiến vào Kabul mà gần như không vấp phải sự kháng cự nào.

Những binh sĩ cuối cùng của Mỹ rút khỏi Việt Nam vào tháng 3 năm 1973 sau khi Hiệp định Hòa bình Paris được kí vào tháng 1, chấm dứt sự can dự trực tiếp của Mỹ trong cuộc xung đột ở quốc gia Đông Nam Á này. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa cầm cự thêm hai năm nữa trước khi sụp đổ dưới cuộc tiến công của phe cộng sản.

Tại Afghanistan, sau gần 20 năm tham chiến, Mỹ kí thỏa thuận hòa bình với Taliban vào tháng 2 năm 2020 dưới thời chính quyền Tổng thống Donald Trump để rút hết lực lượng Mỹ khỏi quốc gia Trung Á này trong vòng 14 tháng. Chính quyền kế nhiệm của Tổng thống Joe Biden xúc tiến thỏa thuận và đặt ra hạn chót triệt thoái binh sĩ là ngày 31 tháng 8 năm 2021.

Taliban tiến vào Kabul ngày 15 tháng 8.

“Phía cộng sản Bắc Việt đã nhận được rất nhiều viện trợ từ hai nguồn tài trợ [Trung Quốc và Liên Xô] và khối cộng sản thế giới, ngược lại quân đội Việt Nam Cộng Hòa sau khi Mỹ rút đi thì viện trợ giảm sút rất là nhiều, 300 triệu đô la mà Hạ viện Hoa Kỳ dứt khoát không chấp nhận,” ông Đinh Văn, 73 tuổi, cựu binh nhảy dù từng tham gia chiến đấu ở Quảng Trị, nói. Ông hiện cư ngụ ở thành phố Houston thuộc bang Texas.

Ông Nguyễn Phương Lâm, 75 tuổi, cựu trung úy bộ binh và giảng viên sinh ngữ của Không quân Việt Nam Cộng Hòa, nhớ lại cụ thể việc Mỹ cắt giảm viện trợ đã ảnh hưởng nặng nề tới năng lực chiến đấu của đồng minh Việt Nam như thế nào, trong khi Afghanistan vẫn liên tục nhận được viện trợ quân sự của Mỹ và thậm chí còn nhiều hơn một chút trong năm nay, theo đề xuất ngân sách 2021 của Nhà Trắng.

“Mình thiếu vũ khí, thiếu quân trang quân dụng, Mỹ nói là ‘một đổi một’ nhưng mà thật sự là đâu có,” ông giải thích. “Những cái khẩu đại bác của mình bắn nhiều phải thay cò súng. Họ đưa đại bác sang mà không đưa cò súng thì làm sao mà bắn? Rồi xăng nhớt họ cúp, không quân không có đủ xăng mà bay nữa.”

“Khác biệt là ở đó, miền Nam vẫn anh dũng chiến đấu dù bị Mỹ bội phản.”

Ông Lâm kẹt lại ở Việt Nam khi Sài Gòn sụp đổ. Ông vượt biên và đến Mỹ năm 1979 và hiện đang cư ngụ ở thành phố Tampa ở bang Florida.

Sự sụp đổ nhanh chóng của lực lượng an ninh Afghanistan khơi lên nhiều câu hỏi về năng lực điều hành của giới lãnh đạo chính trị và quân sự nước này sau hơn 20 năm nhận được vô số hình thức hỗ trợ về quân sự và phát triển từ Mỹ. Nhưng một số cựu quân nhân gốc Việt cũng cho rằng sự lụn bại nhanh như vậy một phần lớn là do tinh thần chiến đấu của binh sĩ tiêu tan do quyết định rút quân của Mỹ.

“Khi mà con người ta mất tinh thần thì sự rã đám đến rất là nhanh,” ông Nguyễn Kim Khoa, 78 tuổi, cựu đại úy phi công trực thăng, nhận định. “Một khi họ thấy họ bị bỏ rơi và chung quanh họ họ không nhìn thấy sự yểm trợ nào khác nữa thì tinh thần họ sẽ xuống, mà một khi tinh thần xuống thì họ không còn tinh thần chiến đấu nữa.”

“Bản tính của người Việt chúng ta rất là quật cường cho nên quân nhân Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu rất là kiên cường. Mặc dầu là mình bị đồng minh bỏ rơi đó, nhưng mà mình vẫn chiến đấu với một sự hy vọng là mình có thể lật ngược thế cờ, có thể những thế lực ở các nước tự do khác yểm trợ mình. Có một chút hy vọng như vậy thành thử ra mình đã cầm cự được trong hai năm.”

Ông Khoa nói ông là một trong những phi công cuối cùng bay khỏi Căn cứ Không quân Biên Hòa vào ngày 29 tháng 4 năm 1975. Ông hiện cư ngụ tại thành phố Fresno ở bang California, nơi có cộng đồng người Afghanistan lớn nhất ở Mỹ.

Các cựu quân nhân người Việt nói với VOA họ hiểu và đồng ý với việc Mỹ cuối cùng phải triệt thoái lực lượng khỏi Afghanistan sau 20 năm chiến tranh, song hầu như tất cả họ đều chỉ trích cách thức mà chính quyền Biden tiến hành việc rút quân mà họ xem là nóng vội và thiếu sự chuẩn bị chu đáo, dẫn đến việc di tản hỗn loạn và nguy hiểm tại sân bay ở Kabul.

Ông Nguyễn Bình, cựu trung úy điều hành tiếp liệu hiện đang sinh sống ở khu vực thành phố Chicago thuộc bang Illinois, nói Tổng thống Biden đã “không làm tròn trách nhiệm” với việc gấp rút rời đi trong khi hàng ngàn công dân Mỹ và đồng minh người Afghanistan vẫn còn kẹt lại. Ông cho rằng vụ việc này gây tổn hại uy tín của Mỹ “rất nhiều.”

“Trung Cộng đã lợi dụng vấn đề Afghanistan này và bảo Đài Loan hãy coi chừng Mỹ sẽ bỏ Đài Loan,” ông Bình nói, nhưng nhấn mạnh rằng ông chỉ xem đó là lời đe dọa mang tính tuyên truyền.

“Nhưng chính vấn đề đó cũng làm cho nhiều người suy nghĩ, nhất là những người Việt Nam mình.”

Đối mặt với những chỉ trích dồn dập trong những ngày qua từ trong nước lẫn ở nước ngoài, Tổng thống Biden ngày thứ Sáu 20 tháng 8 cam kết sẽ đưa hết công dân Mỹ ra khỏi Afghanistan nếu họ muốn như vậy, cũng như những người Afghanistan đã hỗ trợ trong cuộc chiến. Ông cho biết 13.000 người đã được di tản tính đến thời điểm này.

Hàng ngàn người Afghanistan tuyệt vọng mang theo giấy tờ, trẻ nhỏ và một số đồ đạc đã vây kín sân bay Kabul, nơi các thành viên Taliban cầm súng kêu gọi những người không có giấy tờ quay về nhà. Tại sân bay và xung quanh, 12 người đã thiệt mạng kể từ 15 tháng 8, các quan chức NATO và Taliban cho biết.



Mỹ nói 12 nước sẽ cho quá cảnh các chuyến bay di tản từ Kabul

VOA - 21/08/2021
Chính phủ Mỹ ngày thứ Sáu nói rằng 12 quốc gia, từ châu Âu đến Trung Đông và Trung Á, sẽ cho phép người Mỹ và những người khác di tản khỏi Kabul được quá cảnh lãnh thổ của họ khi nước này đẩy mạnh nỗ lực di tản khỏi Afghanistan.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price cho biết Bahrain, Đan Mạch, Đức, Ý, Kazakhstan, Kuwait, Qatar, Tajikistan, Thổ Nhĩ Kỳ, UAE, Vương quốc Anh và Uzbekistan đã bắt đầu hoặc sẽ sớm bắt đầu quá cảnh người Mỹ, hoặc trong một số trường hợp khác, qua các vùng lãnh thổ của họ.

Mỹ đang chật vật di tản hàng ngàn người khỏi Afghanistan khi các báo cáo về những vụ trả đũa của Taliban nhắm vào những người Afghanistan từng làm việc với các lực lượng do Mỹ lãnh đạo gia tăng, buộc các cường quốc nước ngoài đẩy nhanh nỗ lực di tản, Reuters đưa tin.

Nhưng các quan chức cho biết không có chuyến bay di tản nào rời Kabul trong gần sáu giờ vào ngày thứ Sáu vì không có nơi nào để đi do quá đông người ở căn cứ không quân Al Udeid ở Qatar, nơi đang cho trú ẩn 8.000 người Afghanistan di tản. Các chuyến bay đó giờ đã khởi động lại.

Hơn 18.000 người đã được đưa ra ngoài kể từ khi các chiến binh Taliban chiếm thủ đô Kabul, theo liên minh xuyên Đại Tây Dương NATO.

Ông Price nói hầu hết các chuyến bay sẽ bay từ Kabul đến Qatar và sau đó là các nước này. Ông nói thêm rằng gần một chục quốc gia khác đã đưa ra “đề nghị hào phóng” liên quan đến việc di dời những người Afghanistan đang gặp rủi ro.

Liên hiệp Các Tiểu vương quốc Ả-rập đã đồng ý nhận 5.000 người Afghanistan di tản trong 10 ngày trên đường đến nước thứ ba theo yêu cầu của Mỹ, bộ ngoại giao nước này cho biết.

Một quan chức cao cấp của chính quyền Biden nói Washington đang ráo riết nỗ lực để đạt được thêm các thỏa thuận, Reuters cho biết.

Washington đang gấp rút đưa người ra khỏi Afghanistan trước hạn chót 31 tháng 8 khi các lực lượng của họ theo lịch trình rời khỏi quốc gia này. Tổng thống Joe Biden đầu tuần này cho biết các binh sĩ Mỹ cung cấp an ninh cho cuộc di tản có thể ở lại lâu hơn nếu cần thiết.

Một trong những trở ngại chính đối với những người muốn rời khỏi Afghanistan vẫn là hành trình đầy nguy hiểm đến sân bay Kabul. Mỹ cho đến nay không thể bảo đảm được việc đi lại an toàn cho công dân Mỹ hoặc những người khác, mặc dù Mỹ nói rằng họ đã nhận được sự bảo đảm từ Taliban rằng họ sẽ không chặn người đến đó.

Nhưng các báo cáo từ thực địa lại cho thấy khác. Hàng ngàn người Afghanistan ôm chặt giấy tờ, trẻ nhỏ và một số đồ đạc vẫn vây kín sân bay, nơi các chiến binh Taliban cầm súng ra lệnh cho những người không có giấy thông hành về nhà. Tại và xung quanh sân bay, 12 người đã thiệt mạng kể từ Chủ nhật, các quan chức NATO và Taliban cho biết.



Trung Quốc đã im lặng về sự can thiệp trong chiến tranh Đông Dương

21/08/2021 - Thanh Hà / RFI
« Nếu không được Trung Quốc giúp đỡ, Điện Biên Phủ đã không thành », điều đã được các nhà sử học ghi nhận. Thái độ im lặng của tất cả các bên liên quan trong một thời gian dài về sự trợ giúp đó phản ánh hiềm khích lâu đời trong quan hệ Việt - Trung và bối cảnh địa chính trị của thế kỷ XX.

Đảng Cộng Sản Trung Quốc trước khi giành được chính quyền năm 1949 đã quyết định giúp đỡ Việt Minh giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của Pháp. Đối với Pháp, sự cấu kết giữa đảng Cộng Sản Trung Quốc với Việt Minh là một bước ngoặt trong chiến tranh Đông Dương (1945-1954) và giải thích cho căng thẳng trong bang giao phức tạp giữa Paris với Bắc Kinh.

Trung Quốc đã hỗ trợ Việt Nam dưới những hình thức nào và với những mục đích gì ? Tại sao Trung Quốc và Việt Nam đã cùng im lặng khá lâu về sự can thiệp của Trung Quốc vào Đông Dương ? Đó là những câu hỏi mà nhà sử học Pháp Michel Bodin trả lời trong bài nghiên cứu L’aide de la Chine au Viet Minh (1947-1954) : un aspect des relations franco-chinoises (Trung Quốc giúp đỡ Việt Minh (1947-1954) : Một khía cạnh trong quan hệ Pháp - Trung). Bài viết đăng trên tạp chí quân sự Guerres Mondiales et Conflits Contemporains - số 187, tháng 7/1997, tức 6 năm trước sự kiện tại Pháp, lần đầu một nhà sử học Việt Nam có bài tham luận về đề tài Việt Nam đã được Trung Quốc hậu thuẫn như thế nào trong giai đoạn 1945-1954*.

1945, Pháp trở lại Đông Dương nhưng phải đợi đến năm 1950 Hoa Kỳ mới tích cực viện trợ quân sự trong nỗ lực ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản bắt rễ vào châu Á. Đến năm 1954, 85% chi phí quân sự tại Đông Dương do Mỹ đài thọ. Trong khi đó, Việt Minh đã được đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp sức trước khi Mao Trạch Đông giành được chính quyền. Một khi Bắc Kinh thiết lập bang giao với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Trung Quốc giúp chính quyền Hồ Chí Minh gây dựng đội quân chính quy hiện đại, trang bị vũ khí cho Việt Nam, đào tạo các cán bộ và kể cả nhân viên tình báo Việt Minh, điều các cố vấn quân sự đến tận Điện Biên Phủ. Đến giữa tháng 5/1954, mỗi tháng Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam 4.000 tấn viện trợ và gần 3/4 trong số đó là vũ khí đạn dược.

Căn cứ vào tài liệu của Viện Lưu Trữ Ban Sử Học Quân Đội Pháp, vào những nhân chứng trực tiếp trong chiến tranh Đông Dương, hay hồi ký của những nhân vật chủ chốt của thời cuộc, giáo sư Michel Bodin, chuyên nghiên cứu về lịch sử quân sự Đông Dương khẳng định Trung Quốc giúp Việt Nam từ năm 1947. Trong buổi trả lời dành cho RFI Tiếng Việt, ông điểm lại và phân tích tầm mức quan trọng của sự can thiệp Trung Quốc trong cuộc chiến 1945-1954.

« Đông Dương, mặt trận nóng của chiến tranh lạnh »

RFI : Kính chào Michel Bodin, cảm ơn ông dành cho RFI Việt ngữ buổi nói chuyện hôm nay để mở lại những trang sử trong chiến tranh Đông Dương, mà phía Việt Nam gọi là « cuộc chiến chống Pháp ». Phần lớn các tài liệu từ phía Việt Nam xem 1949/1950 là thời điểm Trung Quốc bắt đầu giúp đỡ Việt Minh. Nhưng giáo sư chứng minh rằng Việt Minh đã được tiếp sức gần như « ngay từ khi Pháp trở lại Đông Dương » và đấy không đơn thuần là một sự trợ giúp một dân tộc để giành lại độc lập. Câu hỏi đầu tiên xin ông điểm qua về toàn cảnh quốc tế ở thời điểm sau năm 1945 và Trung Quốc tính toán những gì khi viện trợ cho Việt Nam trong chiến tranh Đông Dương ?

Michel Bodin : Bối cảnh khi đó khá khó khăn bởi vì Mỹ không ưa gì các cường quốc thực dân và kể từ năm 1947, từng bước, thế giới lâm vào tình trạng chiến tranh lạnh. Xung đột tại Đông Dương là một mặt trận nóng của chiến tranh lạnh.

Trung Quốc theo đuổi mục đích gì qua việc giúp đỡ Việt Nam ? Thực ra đây là một hình thức phục thù trả đũa phương Tây xâm lược một phần lãnh thổ Trung Quốc hồi thế kỷ XIX. Trung Quốc cũng không quên rằng sau Hòa Ước Thiên Tân (1885) Pháp đã gạt nhà Thanh ra khỏi đất Bắc Kỳ. Kế tới, có một sự liên đới giữa các dân tộc bị đô hộ. Tuy nhiên, ban đầu với tư cách là một tổ chức cộng sản, phe của Mao đã giúp đỡ Việt Minh. Từ tháng Giêng 1950, sau khi đảng Cộng Sản Trung Quốc giành được chính quyền, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Kể từ đó, với tư cách là một nhà nước, Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam chống lại một đế quốc vì ở phía bên kia, Pháp được Mỹ yểm trợ.

Giúp Việt Nam, Trung Quốc nhắm tới hai mục tiêu : được cộng đồng quốc tế công nhận và vì an ninh của chính mình.

Nhìn qua thì rõ ràng Trung Quốc giúp đỡ một phong trào giải phóng dân tộc nhưng thực chất của vấn đề phức tạp hơn thế. Thứ nhất, Bắc Kinh muốn khối xã hội chủ nghĩa công nhận Trung Quốc là một quốc gia có thể giúp ích cho những dân tộc khác để giành độc lập và mục tiêu đó không thể hoàn thành nếu không có Trung Quốc.

Thứ hai, (ngay từ thời điểm đầu thập niên 1950), qua việc giúp đỡ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Trung Quốc muốn khẳng định vị trí của mình với Liên Xô và bắt đầu muốn được công nhận như một cường quốc trên thế giới.

Tuy nhiên Trung Quốc luôn áp dụng một phương châm đó là không bao giờ để nước láng giềng phương nam quá hùng mạnh, thành thử giúp Việt Nam cũng là cách để kiểm soát tình hình ngay sát cửa biên giới phía nam của chính họ. Giúp Việt Nam, Trung Quốc nhắm tới hai mục tiêu : được cộng đồng quốc tế công nhận và vì an ninh của chính mình.

Viện trợ về mọi mặt nhưng có giới hạn

RFI : Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam dưới hình thức nào ?

Michel Bodin : Những hình thức được biết đến hơn cả là sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật. Có những trại tập huấn được lập ra tại các vùng Vân Nam và Quảng Tây trên lãnh thổ Trung Quốc để đào tạo lực lượng quân sự của Việt Nam. Lại cũng có những trường đào tạo cho các cán bộ Việt Minh về phương pháp tác chiến. Ngoài ra, Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam nhiều về mặt vật chất, cung cấp từ vũ khí hiện đại, đạn dược, đạn pháo, đến trang bị, khí tài, lương thực, trang phục… Hình thức trợ giúp Việt Nam thứ ba, đặc biệt là kể từ năm 1952 trở đi, là công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, đường xá, nhà ga… đi thẳng từ lãnh thổ Trung Quốc đến Việt Nam.

Về mặt ngoại giao, Bắc Kinh cũng đã năng động, chẳng hạn như lính lê dương gốc Đông Âu đào ngũ khi trở về nguyên quán họ phải đi qua ngả Trung Quốc, rồi từ Trung Quốc đến Liên Xô.

Tình báo Pháp qua các cuộc nghe lén biết được là bộ tổng tham mưu Việt Nam than phiền Trung Quốc không cung cấp đủ đạn dược, súng cối, vũ khí phòng không như phía Việt Nam yêu cầu. Điều đó cho thấy Bắc Kinh luôn theo đuổi lôgic : giúp Việt Nam nhưng không thực sự đóng góp hết mình.
Sau cùng, chắc chắn là có một sự hợp tác giữa ngành tình báo Trung Quốc với Việt Nam, nhân viên mật vụ Trung Quốc được cài đặt tại Pháp với nhiệm vụ cung cấp thông tin cho phía Việt Minh. Nhưng điều ít được biết đến, đó là một sự trợ giúp trực tiếp : Ngay từ năm 1948, phe cộng sản Trung Quốc đã có một sự cấu kết với lực lượng Việt Minh, rất cụ thể là ở những địa điểm như Móng Cái (năm 1948), ở Lai Châu (năm 1949 và 1951). Trong thời gian 1951-1952, Trung Quốc thường xuyên điều quân đội chính quy sang Bắc Kỳ với nhiệm vụ tiêu diệt các lực lượng vũ trang do mật vụ Pháp đào tạo để chống lại Việt Minh. Thế rồi trong trận đánh Điện Biên Phủ, điều chắc chắn là đã có nhiều sĩ quan Trung Quốc có mặt ở hiện trường. Một số tài liệu thậm chí còn nêu lên khả năng có đến một phần tư dân quân trong trận đánh này là người Trung Quốc.

Tựu chung Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam về mọi mặt và các hình thức giúp đỡ đó đã thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam nhưng không để Việt Nam quá mạnh ở ngay sát cạnh cửa ngõ của họ. Tình báo Pháp qua các cuộc nghe lén, biết được là bộ tổng tham mưu Việt Nam than phiền Trung Quốc không cung cấp đủ đạn dược, súng cối, vũ khí phòng không như phía Việt Nam yêu cầu. Điều đó cho thấy Bắc Kinh luôn theo đuổi lôgic : giúp Việt Nam nhưng không thực sự đóng góp hết mình.

RFI : Báo Le Monde ấn bản ngày 19/03/1954 đánh giá mùa thu 1950 là một bước ngoặt bất lợi cho phía Pháp trong chiến tranh Đông Dương : « Viện trợ của Trung Quốc khiến Việt Minh trở thành một đối thủ càng lúc càng khó hạ gục ». Một cách cụ thể sự can thiệp của Trung Quốc gây ra những khó khăn nào cho bên quân đội Pháp ?

Thất bại của quân Pháp năm 1950 trên Quốc Lộ 4 - RC4 là thắng lợi đầu tiên của những tiểu đoàn được đào tạo tại Trung Quốc.
Michel Bodin : Hậu quả trước tiên đối với quân đội là phía Pháp vẫn duy trì trên quốc lộ RC4 (từ Lào Cai đến Móng Cái) dọc biên giới Việt - Trung những lô cốt và quyết định đó đòi hỏi nhiều hy sinh. Pháp đã do dự không muốn rút lui khỏi khu vực này vì cho rằng sự hiện diện của quân đội Pháp sẽ ngăn cản viện trợ của Trung Quốc đi qua ngả biên giới trên bộ. Đương nhiên đó là một ảo tưởng. Ngoài ra ở phía bắc Bắc Bộ, hải quân được huy động để chặn viện trợ của Trung Quốc vào Việt Nam qua đường biển.

Thất bại của quân Pháp năm 1950 trên Quốc Lộ 4 - RC4 là thắng lợi đầu tiên của những tiểu đoàn được đào tạo tại Trung Quốc. Quân Việt Minh đã chiếm được một số đồn bốt của Pháp nhờ có vũ khí của Trung Quốc. Cuối cùng, đương nhiên Điện Biên Phủ là hậu quả rõ rệt nhất từ sự can thiệp của Trung Quốc.

Những lý do để im lặng

RFI : Mãi đến thập niên 1980, Bắc Kinh mới công bố một số tài liệu về sự gúp đỡ cho Việt Nam trong giai đoạn 1945-1954. Rồi lại phải đợi đến năm 2003, lần đầu tại Pháp mới thấy một bài tham luận của một nhà sử học Việt Nam đề cập đến viện trợ của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương. Vì sao trong một thời gian dài các bên đều đã im lặng về tầm mức, về tác động của viện trợ Trung Quốc cho chính quyền Hồ Chí Minh ?

Michel Bodin : Tất cả các bên liên quan từng cố gắng che giấu quy mô của sự đóng góp này. Phía Pháp mặc dù chưa từng che giấu viện trợ vật chất của Trung Quốc, nhất là sau cuộc hành quân Chim Én/Hirondelle (tại Lạng Sơn ngày 17-18/07/1953) khi quân đội khám phá những kho tiếp vận với nhiều khí giới, đạn dược của Trung Quốc và Liên Xô. Dụng ý của Paris là nhằm đòi Mỹ trợ giúp nhiều hơn nữa.

Tuy nhiên, điều mà tất cả các bên cùng tránh né, đó là sự trợ giúp về mặt nhân sự : Không ai nói đến sự can thiệp của Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc ở miền Bắc Việt Nam. Pháp muốn tránh để các quân nhân, kể cả những người lính Đông Dương chiến đấu bên hàng ngũ Pháp, thối trí. Cũng không ai muốn mở ra một cuộc chiến với Trung Quốc vì ý thức được rằng, với quân số hiện diện ở Bắc Kỳ, Pháp không cầm cự được lâu. Paris đành rằng muốn Mỹ hỗ trợ về vật chất, nhưng lại không muốn Washington can thiệp quá sâu vào Đông Dương, vì đây là sân sau của Pháp.

Nhìn từ phía Trung Quốc, thái độ kín đáo của Bắc Kinh là do thứ nhất, chính quyền sợ Mỹ can thiệp trong bối cảnh Trung Quốc đang tiến hành một cuộc cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa. Thứ nhì là về mặt quân sự, Trung Quốc đang phải đối mặt với Hoa Kỳ ở Triều Tiên, do vậy Bắc Kinh muốn tránh mở thêm một mặt trận thứ hai với Mỹ ở Đông Dương. Điểm thứ ba là Trung Quốc, do không giúp đỡ Việt Nam hết mình, nên muốn tránh để bị chỉ trích về điểm này.

Việt Nam không muốn nhìn nhận là đã bất mãn vì đã không được Trung Quốc giúp đỡ như mong đợi.
Còn về phía Việt Nam, điều quan trọng là cần chứng minh chiến thắng chống Pháp là thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Phải đợi đến năm 1978 mới bắt đầu có một số tiếng nói cho rằng chiến thắng năm 1954 « có thể cũng là một thắng lợi của Trung Quốc ». Sự chậm trễ đó thể hiện hiềm khích lâu đời trong quan hệ Việt - Trung. Ở đây, một mặt Việt Nam tham gia khối Xô Viết, giữ một khoảng cách nào đó với Bắc Kinh. Mặt khác, Việt Nam không muốn nhìn nhận là đã bất mãn vì đã không được Trung Quốc giúp đỡ như mong đợi.

Thêm vào đó, trong quá trình đàm phán hiệp định Genève năm 1954, chính Trung Quốc đã kềm hãm một số những đòi hỏi của chính quyền Việt Minh. Thành thử phải đợi đến năm 2003 mới có những bài tham luận đầu tiên về chủ đề này và điều đó cho thấy tính chất phức tạp về địa chính trị tại châu Á.

RFI : Xin cảm ơn giáo sư Michel Bodin, chuyên gia về lịch sử quân đội, tác giả công trình nghiên cứu về Lực Lượng Viễn Chinh Pháp tại Đông Dương (1945-1954). Ông đã cho xuất bản nhiều cuốn sách nghiên cứu về những người lính tham gia chiến tranh Đông Dương - NXB L’Harmattan.

Bài nghiên cứu của Michel Bodin L’aide de la Chine au Viet Minh (1947-1954) : un aspect des relations franco-chinoises (Trung Quốc giúp đỡ Việt Minh (1947-1954) : Một khía cạnh trong quan hệ Pháp - Trung) đăng trên tạp chí quân sự Guerres Mondiales et Conflits Contemporains - số 187, tháng 7/1997 cho thấy sự can thiệp của Trung Quốc trong cuộc chiến Đông Dương từng đè nặng lên quan hệ giữa Paris với Bắc Kinh trong một thời gian dài. Còn sự im lặng trong nhiều năm của cả phía Việt Nam lẫn Trung Quốc trên hồ sơ này, giải thích phần nào xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1979.

-----

* Bài tham luận của giáo sư Ngô Đăng Tri, trường Đại Học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội, mang tựa đề Le service logistique du Vietnam dans la bataille de Dien Bien Phu (Bảo đảm hậu cần của Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ) được công bố trong khuôn khổ hội thảo khoa học tổ chức tại Paris vào tháng 11/2003 : « 1954-2004 La Bataille de Dien Bien Phu, Entre Histoire et Mémoire » (1954-2004 Trận Đánh Điện Biên Phủ, Lịch Sử và Ký Ức).

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2072 Posted : Wednesday, August 25, 2021 12:45:38 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Hoa Kỳ điều tra vụ ‘Hội chứng Havana’ làm trì hoãn chuyến bay của PTT Harris

25/08/2021 = VOA / AP
Các quan chức Hoa Kỳ đang tiếp tục điều tra khả năng hai trường hợp có thể bị “Hội chứng Havana”, vốn khiến chuyến bay của Phó Tổng thống Kamala Harris từ Singapore đến Việt Nam bị trì hoãn.

Cuộc điều tra đang ở giai đoạn đầu và các quan chức cho rằng chuyến thăm của bà Harris tới Việt Nam vẫn an toàn, sau khi trì hoãn chuyến bay trong vài giờ hôm 24/8.

“Hội chứng Havana” là tên gọi của một loạt các sự cố sức khỏe bí ẩn được báo cáo lần đầu tiên bởi các nhà ngoại giao Mỹ và các nhân viên chính phủ khác ở thủ đô Cuba bắt đầu từ năm 2016.

Các quan chức Hoa Kỳ vẫn chưa xác nhận trường hợp “Hội chứng Havana” mới được thông báo và nó không liên quan đến bất kỳ ai đi cùng bà Harris, phát ngôn viên Nhà Trắng Jen Psaki cho biết hôm 24/8. Sau khi có báo cáo về vụ việc, “đã có một đánh giá được thực hiện về mức độ an toàn của phó tổng thống và đã có quyết định rằng bà có thể tiếp tục chuyến đi cùng với nhân viên của mình”, bà Psaki nói.

Các quan chức Hoa Kỳ cho biết đã có hai trường hợp riêng rẽ về sự cố sức khỏe không rõ nguyên nhân được báo cáo bởi các nhân viên Hoa Kỳ tại Việt Nam trong tuần qua.

Hiện chưa rõ ngay ai bị ảnh hưởng bởi hội chứng này, mặc dù các quan chức cho biết đó không phải là người từng làm việc cho phó tổng thống hoặc Nhà Trắng, theo các quan chức, những người không được phép nói công khai về một cuộc điều tra đang diễn ra.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2073 Posted : Thursday, August 26, 2021 9:17:29 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Afghanistan : Sự đại bại của nền ngoại giao phương Tây ?

26/08/2021 - Minh Anh / RFI
Thất bại của Hoa Kỳ tại Afghanistan là dấu hiệu của sự tái định hình địa chính trị. Thách thức lớn giờ không còn là một cuộc chiến chống khủng bố mà là Nga và Trung Quốc. Tuy nhiên, theo quan điểm của nhà chính trị học, chuyên gia về Quan hệ quốc tế Bertrand Badie, việc Kabul sụp đổ còn là một sự đại bại của cả nền ngoại giao phương Tây.

Khi « người chăn cừu » đối đầu với cường quốc phương Tây

Taliban ngày nay khác xa với Taliban của năm 2001. Tờ Asia Times lưu ý, trong cuộc tiến công thần tốc 4 ngày, Taliban đã chứng tỏ những « người chăn cừu » đã có thể đánh bại Hoa Kỳ và các cường quốc phương Tây. Sự sụp đổ một cách nhanh chóng của chế độ Kabul do Mỹ và phương Tây bảo trợ thật sự là một cú sốc mạnh, một cơn địa chấn địa chính trị toàn cầu. Kabul gợi nhắc lại sự kiện Sài Gòn thất thủ ngày 30/04/1975, một cột mốc quan trọng cho lịch sử thế giới đương đại thế kỷ XX.

Thế nhưng, Bertrand Badie, giáo sư danh dự trường đại học khoa học chính trị Sciences Po tại Paris, trong một chương trình phát thanh trên đài France Culture, lưu ý rằng, thế giới ngày nay chịu nhiều áp lực xã hội, những căng thẳng, các xung đột và cả những bế tắc của xã hội. Các nhà lãnh đạo phương Tây đã lầm lẫn nghĩ rằng chỉ cần phô trương sức mạnh, dùng vũ lực thì mọi việc có thể an bài. « Khi một cường quốc thoái lui, tình trạng thực tế như vốn có của một đất nước sẽ được phơi bày », ông nói, do vậy « mọi cuộc can thiệp của nước ngoài là luôn đi đến thất bại ».

Nhà chính trị học này nhắc lại, cuộc can thiệp của Mỹ tại Afghanistan được tiến hành trong bối cảnh mang nặng tư tưởng tân bảo thủ, với một ý tưởng xây dựng điều mà tổng thống thời bấy giờ ông George W. Bush gọi là « Greater Middle East »: Vùng Đại Trung Đông này chỉ sẽ được bình ổn bằng cách đi theo con đường dân chủ hóa mà phương Tây vạch ra.

Giờ đây, khi mô hình đó không còn trụ được nữa thì sự hỗn loạn là điều không thể tránh khỏi. Hệ quả là uy tín của Mỹ, phương Tây, và nhất là NATO đã bị sứt mẻ nghiêm trọng. Vẫn theo ông Bertrand Badie, sự việc còn làm nổi rõ một sự cạnh tranh gay gắt giữa hai nền ngoại giao trong cách tiếp cận hồ sơ Afghanistan.

« Ngày nay, người ta có cảm giác là có một sự cạnh tranh giữa hai kiểu ngoại giao. Nền ngoại giao phương Tây vẫn còn bị đóng khung trong một mô hình hai cực. Đó là một ngoại giao mang xu hướng phe phái, phân loại thế giới, một bên là những nước bạn bè, đồng minh, khách hàng và bên kia là những kẻ thù. Đương nhiên, tầm nhìn này chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại gần như không thể tránh khỏi.

Ở phía đối diện, chúng ta có một kiểu ngoại giao khác đang được hình thành, cũng không mấy gì đạo đức cho lắm, nhưng có thể nói là láu lỉnh hơn, mà tôi gọi là "catch-all diplomacies", đó là một kiểu ngoại giao "không bỏ sót điều gì". Trong một thế giới như hiện nay, cần phải thiết lập các mối quan hệ ngoại giao với tất cả mọi người, với tất cả những gì tồn tại, và phải thỏa hiệp, cố gắng đi xa hơn nếu có thể, theo cách hướng đến một đồng thuận. »

Đây chính là kiểu ngoại giao thực dụng, đang được Nga và Trung Quốc tiến hành. Cả hai nước này lần lượt tiếp đón các phái đoàn của Taliban nhằm tìm cách thiết lập bang giao với Taliban tùy theo mục tiêu chính trị và lợi ích an ninh quốc gia của từng nước. Chuyên gia về Quan hệ quốc tế nhắc lại, chủ nghĩa thực dụng từng được phương Tây áp dụng trong suốt thời kỳ thế giới phân thành lưỡng cực, nhằm mở rộng, củng cố phe phương Tây để đối phó với mối đe dọa từ Liên Xô.

Taliban, Pakistan và phương Tây : Sao đã đổi ngôi ?

Giờ đây, trong bối cảnh này, phương Tây tự hỏi : Làm thế nào cư xử với Taliban ? Có nên nói chuyện với phe nổi dậy này hay không ? Những câu hỏi ít nhiều gây ngạc nhiên cho giới quan sát. Với ông Bertrand Badie, Châu Âu ngày nay rơi vào ngõ cụt. Trước tình hình Afghanistan hiện nay, các nền ngoại giao phương Tây hầu như trong một thế tồi. Họ chẳng có nhiều lá chủ bài trong ván cờ này:

« Ở đây chúng ta có nhiều hình ảnh để mà quan sát. Thứ nhất, phương Tây hầu như vắng bóng tại vùng mà người ta gọi là Đại Trung Đông, như tại Iran, Syria hay Irak chẳng hạn, trong một chừng mực nào đó, phương Tây gần như không thể nào nhúng tay vào bất cứ chuyện gì. Nếu như trong vòng hai thế kỷ, phương Tây là người giám hộ cho Trung Đông, thì giờ họ không còn có chút trọng lượng nào trong khu vực. Điều này quả thật là đáng lo ngại.

Yếu tố thứ hai, khi nhìn bản đồ Afghanistan, người ta cũng quan tâm đến các nước láng giềng. Chẳng hạn như Trung Quốc, tuy chỉ có một đường biên giới chung ngắn ngủi nhưng lại ẩn chứa một khả năng tranh chấp to lớn tiềm tàng, bởi vì còn có một tình liên đới giữa Taliban với người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, mà với Trung Quốc đây là một trong những mối họa gây bất ổn lớn.

Ngoại trưởng Vương Nghị đã tìm cách xử lý vấn đề này một cách khéo léo, một mặt ông ấy tiếp giáo sĩ Baradar (nhân vật số 2 của Taliban), nhưng mặt khác ông ấy tìm cách dựa vào đồng minh Pakistan, vốn dĩ được cho là đồng minh của Taliban. Đây là một cách thức chơi trò cân bằng. Và như vậy, điều này mang lại cho Trung Quốc một vị thế quan trọng trong khu vực, lớn hơn nhiều so với vị thế của Trung Quốc trước đây và nhất là của phương Tây ngày nay.

Rồi chúng ta còn có 2 hay 3 cường quốc khác trong khu vực, như Iran, cũng đang nỗ lực thiết lập một mối quan hệ đồng thuận với Afghanistan một cách uyển chuyển, nhưng không kém phần phức tạp. Nhất là chúng ta còn có một láng giềng lớn khác nữa, quan trọng không kém, vì đó còn là một cường quốc hạt nhân trong khu vực : Pakistan. Đây là quốc gia đỡ đầu cho Taliban và có thể đóng vai trò nhà trung gian giữa Afghanistan và Trung Quốc, và rất có thể là giữa Afghanistan với các cường quốc phương Tây, do Pakistan cũng có quan hệ truyền thống với nhiều cường quốc phương Tây.

Điều thú vị ở đây là chúng ta đang chứng kiến cảnh phương Tây, người giám hộ, nước đỡ đầu, ông chủ của ngày hôm qua, nay chỉ có thể bước vào cuộc chơi này qua ngả trung gian của một nhà nước xưa kia từng là nước được che chở như Pakistan chẳng hạn. »

Kabul thất thủ : Lỗi ở Ashraf Ghani ?

Điều hiển nhiên là việc Mỹ triệt thoái quân đều làm Nga và Trung Quốc hài lòng, khi thấy rằng cường quốc số một thế giới giờ không thể nào gây áp lực với hệ thống quốc tế. Nhất là, hình ảnh hỗn loạn tại Kabul còn là một « thảm kịch » cho NATO, minh chứng cho sự bất lực của khối quân sự này trong việc xử lý cuộc khủng hoảng. Thế nên, nhà nghiên cứu chính trị học này cho rằng, người ta khó có thể đổ hết mọi lỗi lầm lên vai ông Ashraf Ghani:

« Trong tình huống này, chúng ta có bên can thiệp, trên thực tế là nước giám hộ, và rồi chúng ta có một chính phủ được dựng lên, được bên can thiệp bảo vệ và chính phủ đó là một nhà nước được che chở.

Theo định nghĩa, một nhà nước được che chở thì không vận hành được, bởi vì một nhà nước được che chở thì bị lệ thuộc, điều đó có nghĩa là nhà nước này luôn trong trạng thái được viện trợ, điều đó cũng có nghĩa là họ được viện trợ những gì họ thấy phù hợp cho họ, cho các nhà lãnh đạo Afghanistan. Bởi vì họ đâu có nguồn thu nào khác, ai cũng ngạc nhiên là quân đội Afghanistan có quân số đông hơn phe Taliban mà hoàn toàn bại trận.

Cũng theo định nghĩa, các định chế của nhà nước được che chở là những định chế tham nhũng, yếu kém và không thể tự chủ, chẳng có chút năng lực riêng nào, cho nên, việc đổ hết mọi sai lầm lên ông Ashraf Ghazi đáng thương thì cũng hơi khó hiểu.

Điều này quả thật là phi lý, bởi vì ông Ghani chính là kết quả của một kiểu lập luận can thiệp. Ông ấy khá giống với Ngô Đình Diệm, người từng là tổng thống chính phủ miền Nam Việt Nam trong những năm 1960. »

Ngoại giao phương Tây thực sự trong sạch ?

Câu hỏi đặt ra : Ngoại giao phương Tây giờ có thể làm được gì ? Về mặt lý thuyết, mục tiêu của ngoại giao là xử lý các cuộc phân ly, các tranh chấp, căng thẳng hay xung đột. Phương Tây từ bao lâu nay đã hiểu nhầm ý nghĩa của « ngoại giao », khi luôn tỏ ra « xưng bá, xưng hùng », lập bè lập phái. Giáo sư Bertrand Badie lấy làm tiếc rằng, kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ, nền ngoại giao phương Tây đã không biết cách thay đổi « phần mềm » của mình để thích ứng với những thay đổi thời đại, mà Afghanistan là một ví dụ điển hình mới nhất:

« Chúng ta vẫn còn trong kiểu ngoại giao theo phe phái, được cho là một nền ngoại giao vì nhân quyền; trong khi thực tế lại cho thấy không đúng như vậy, bởi vì trong phe phương Tây, chúng ta thấy có nhiều nhà độc tài như thống chế Sissi của Ai Cập, hoàng thái tử Mohammed Ben Salmane (MBS) của Ả Rập Xê Út, hay như những gì đang xảy ra xung quanh vụ tai tiếng Pegasus.

Tất cả những điều đó cho thấy rõ là đặc tính của nền ngoại giao phương Tây chính là ý chí khẳng định một bản sắc trước đối thủ, chứ không phải là những đức tính.

Thế nhưng, ngoại giao lại là điều ngược lại, không phải là sự tự khẳng định bản sắc của mình trước những kẻ khác, mà là tìm kiếm một đồng thuận với những bản sắc, là sự thỏa hiệp để xây dựng một trật tự quốc tế ổn định ».



Ngoại trưởng Blinken : Mỹ không bỏ rơi những người kẹt lại ở Afghanistan

26/08/2021 - Thùy Dương / RFI
Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken hôm qua, 25/08/2021, tuyên bố rằng hạn chót 31/08 không có nghĩa là công cuộc di tản sẽ chấm dứt và các công dân Mỹ cũng như những người Afghanistan còn kẹt lại ở quốc gia này sẽ « không bị bỏ quên ».

Theo ông Blinken, từ giữa tháng 8, Washington đã di tản được khoảng 4.500 công dân Mỹ và cho đến nay còn khoảng 1.000 người Mỹ chưa rời khỏi Afghanistan.

Từ New York, thông tín viên RFI Loubna Anaki cho biết thêm chi tiết :

« Đối với ngoại trưởng Antony Blinken, ngày 31/08 không có nghĩa là hồi kết… Hôm qua, khi được hỏi về số phận của hàng ngàn người Afghanistan hoặc công dân Mỹ còn kẹt ở Afghanistan và những người muốn rời khỏi quốc gia này sau ngày 31/08, ngoại trưởng Mỹ Blinken khẳng định : "Họ sẽ không bị bỏ quên".

Ông Blinken phát biểu : "Chúng tôi sẽ sử dụng tất cả các phương tiện ngoại giao, kinh tế mà chúng tôi có, để bảo đảm là những người muốn rời khỏi Afghanistan sau ngày 31/08 vẫn có thể đi được. Và chắc chắn là chúng tôi có những phương tiện gây sức ép đối với chính phủ Afghanistan trong tương lai, nhằm bảo đảm mọi việc sẽ diễn ra tốt đẹp".

Ngoại trưởng Antony Blinken trấn an rằng chính quyền Mỹ vẫn liên lạc thường xuyên với phe Taliban và trong cộng đồng quốc tế, các cuộc thảo luận vẫn đang diễn ra để quyết định số phận của sân bay Kabul sau khi quân Mỹ rời đi. Ngoại trưởng Mỹ nói rằng chính lực lượng Taliban cũng muốn sân bay Kabul tiếp tục hoạt động và họ có lợi trong việc hợp tác.

Về phía Taliban, hôm thứ Ba, phe này đã tuyên bố là người Afghanistan sẽ không được phép rời khỏi đất nước, nhưng nay đã thay đổi quyết định. Hôm qua, khi trả lời phỏng vấn New York Times, phát ngôn viên phe Taliban cho biết cụ thể là những người Afghanistan có đủ giấy tờ cần thiết có thể sẽ được đến sân bay. Người phát ngôn của Taliban cam đoan : "Nếu giấy tờ của họ có giá trị thì chúng tôi sẽ không đặt thêm câu hỏi nào khác" ».



Pháp sẽ ngưng di tản khỏi Afghanistan vào tối 27/08

26/08/2021 - Thùy Dương / RFI
Thủ tướng Pháp Jean Castex thông báo chiến dịch di tản công dân Pháp và người Afghanistan sẽ chấm dứt hoàn toàn vào tối thứ Sáu 27/08/2021, chỉ ba ngày trước hạn chót Mỹ rút toàn bộ quân khỏi Afghanistan.

Trả lời đài phát thanh RTL ngày 26/08/2021, thủ tướng Pháp Jean Castex nhắc lại là kể từ khi phe Taliban chiếm được thủ đô Kabul ngày 15/08, có khoảng 2.500 người đã được Pháp di tản khỏi Afghanistan, bao gồm không chỉ công dân Pháp, mà cả rất nhiều người Afghanistan đã cộng tác với Pháp và nhiều nhà báo, nghệ sĩ.

Theo AFP, thời hạn Paris hoàn thành việc di tản công dân Pháp và công dân Afghanistan như vậy là đã lùi lại gần một ngày so với dự kiến ban đầu. Hôm thứ Ba 24/08, bộ Ngoại Giao Pháp thông báo nếu Mỹ vẫn giữ nguyên hạn chót rút toàn bộ binh lính khỏi sân bay Kabul vào ngày 31/08, thì Pháp phải ngưng di tản người Afghanistan vào tối 26/08 hoặc muộn nhất là sáng 27/08 để bảo đảm an ninh.

Về việc tiếp nhận di dân, hiện nay đa phần di dân Afghanistan đang sống tạm ở vùng Paris. Hôm qua, chính quyền tỉnh Bas-Rhin, miền đông bắc Pháp, thông báo thành phố Strasbourg bắt đầu tiếp nhận từ hôm nay 150 người tị nạn Afghanistan. Nhà nước trưng dụng một khách sạn trong vòng 1 tháng làm chỗ ở cho di dân Afghanistan.

Thổ Nhĩ Kỳ rút quân khỏi Afghanistan

Bộ Quốc Phòng Thổ Nhĩ Kỳ hôm qua 25/08 thông báo đã bắt đầu rút quân khỏi Afghanistan. Phát biểu trên đài NTV, phát ngôn viên phủ tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ cho biết chiến dịch triệt thoái sẽ được hoàn tất trong vòng 36 giờ đồng hồ. Máy bay đầu tiên chở quân về nước đã cất cánh.

Ankara cũng cho biết phe Taliban đã đề nghị Thổ Nhĩ Kỳ hỗ trợ kỹ thuật, an ninh cho sân bay Kabul sau ngày 31/08 với điều kiện Ankara phải rút hết quân khỏi Afghanistan trước thời điểm này.



Lo IS tấn công khủng bố, các bên giục người Afghanistan rời khỏi sân bay Kabul

26/08/2021 - Voa / Reuters
Hôm thứ Năm 26/8, Hoa Kỳ và các đồng minh kêu gọi mọi người rời ra xa sân bay Kabul do có nguy cơ về một cuộc tấn công khủng bố của các chiến binh Nhà nước Hồi giáo (IS) giữa lúc các binh sĩ phương Tây gấp rút sơ tán càng nhiều người càng tốt trước thời hạn 31/8.

Tất cả các quân nhân Mỹ và đồng minh sẽ rời khỏi sân bay vào tuần tới theo kế hoạch. Với thực tế đó, áp lực đã gia tăng đối với việc phải hoàn tất công tác sơ tán hàng nghìn người nước ngoài và người Afghanistan đã giúp đỡ các nước phương Tây trong cuộc chiến kéo dài 20 năm chống lại Taliban.

Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Kabul đưa ra một cảnh báo vào tối 25/8, khuyến cáo công dân tránh đi đến sân bay và cho biết những người đã có mặt ở các cổng nên rời đi ngay lập tức, với lý do là có "các mối đe dọa an ninh", nhưng không nói cụ thể.

Trong một lời cảnh báo tương tự, Anh nói rằng những người ở khu vực sân bay hãy di chuyển ra xa và bộ trưởng lực lượng vũ trang của nước này, James Heappey, cho biết đã có thông tin tình báo "chắc chắn hơn nhiều" về khả năng các chiến binh IS đánh bom liều chết.

Australia cũng đưa ra cảnh báo rằng mọi người hãy tránh xa sân bay, trong khi Bỉ đã chấm dứt hoạt động sơ tán do có nguy cơ bị tấn công. Chính phủ Hà Lan cũng đưa ra cảnh báo và cho biết họ dự kiến sẽ thực hiện chuyến bay sơ tán cuối cùng vào ngày 26/8, bỏ lại phía sau một số người đủ điều kiện đến Hà Lan.

Một nhà ngoại giao phương Tây ở Kabul cho biết các khu vực bên ngoài các cổng sân bay "cực kỳ đông đúc" trở lại bất chấp những lời cảnh báo.

Taliban bố trí các chiến binh canh gác bên ngoài sân bay. Bản thân Taliban cũng là kẻ thù của chi nhánh Nhà nước Hồi giáo ở Afghanistan, có tên là Nhà nước Hồi giáo Khorasan (ISIS-K), dùng tên gọi cũ của khu vực.

Không rõ có bao nhiêu người đủ điều kiện ra đi nhưng bị bỏ lại, chỉ biết rằng một quan chức phương Tây đưa ra ước tính là có khoảng 1.500 người mang hộ chiếu và thị thực Hoa Kỳ đang cố gắng đến sân bay.

Trong vòng 11 ngày kể từ khi Taliban tràn vào Kabul, Mỹ và các đồng minh đã tổ chức một trong những cuộc sơ tán bằng đường không lớn nhất trong lịch sử, đưa hơn 88.000 người ra khỏi Afghanistan, trong đó có 19.000 người vào hôm 24/8. Quân đội Mỹ cho biết các máy bay cất cánh với chu kỳ trung bình 39 phút một lần.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken cho biết ít nhất 4.500 công dân Mỹ và gia đình của họ đã được sơ tán khỏi Afghanistan kể từ giữa tháng 8.



Taliban: Xảy ra nổ bên ngoài sân bay Kabul, ít nhất 13 người thiệt mạng, có cả trẻ em

26/08/2021 - Voa / Reuters
Một quan chức Taliban cho biết đã xảy ra một vụ nổ, nghi là đánh bom tự sát, ở bên ngoài sân bay Kabul hôm thứ Năm 26/8, làm chết ít nhất 13 người, bao gồm cả trẻ em, sau khi Hoa Kỳ và các đồng minh kêu gọi người Afghanistan rời khỏi khu vực vì có mối đe dọa từ Nhà nước Hồi giáo.

Quan chức này cho biết nhiều lính gác của Taliban đã bị thương.

Một quan chức Hoa Kỳ cho biết các quân nhân Hoa Kỳ cũng nằm trong số những người bị thương, và nói thêm rằng ông đang dựa vào một báo cáo ban đầu và cho rằng thông tin còn có thể thay đổi. Ông cho biết đã có thương vong nhưng không biết có bao nhiêu người hoặc họ có quốc tịch gì.

Hàng nghìn người đã tập trung bên ngoài sân bay trong những ngày gần đây. Các binh sĩ phương Tây đang chạy đua với thời gian để sơ tán người nước ngoài và những người Afghanistan đã giúp đỡ các nước phương Tây trong cuộc chiến kéo dài 20 năm chống lại Taliban, cũng như tự rút quân trước hạn chót là ngày 31/8.

Hiện không có nhiều thông tin chi tiết về vụ tấn công, nhưng các nước phương Tây gần đây luôn cảnh báo về một cuộc tấn công tiềm tàng của các chiến binh Nhà nước Hồi giáo.

Taliban, hiện đang bố trí các chiến binh canh gác bên ngoài sân bay, là kẻ thù của tổ chức Nhà nước Hồi giáo Afghanistan, có tên là Nhà nước Hồi giáo Khorasan (ISIS-K), đặt theo tên cũ của khu vực.

Tổng thống Mỹ Joe Biden đã được báo cáo tóm tắt về vụ nổ, theo một quan chức Nhà Trắng. Ông Biden đang họp với các quan chức an ninh về tình hình ở Afghanistan thì được báo cáo lần thứ nhất về vụ nổ, theo một người nắm về vấn đề này.

Các lực lượng Canada tạm dừng việc sơ tán khoảng 3.700 công dân Canada và Afghanistan hôm 26/8.

Tổng thống Mỹ Biden đã ra lệnh cho tất cả các quân nhân rời khỏi Afghanistan vào cuối tháng để tuân thủ thỏa thuận rút quân với Taliban, bất chấp việc các đồng minh châu Âu nói rằng họ cần thêm thời gian.

Quân đội Mỹ cho biết họ sẽ ưu tiên sơ tán binh lính của mình, với số lượng khoảng 5.200 người, trong hai ngày trước thời hạn rời đi.

Kể từ thời điểm một ngày trước khi Taliban tràn vào Kabul, Mỹ và các đồng minh đã tiến hành một trong những cuộc sơ tán bằng đường không lớn nhất trong lịch sử, đưa khoảng 95.700 người ra khỏi Afghanistan, trong đó có 13.400 người riêng trong ngày 25/8, Nhà Trắng cho biết hôm thứ 26/8.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken cho biết ít nhất 4.500 công dân Mỹ và gia đình của họ đã được sơ tán khỏi Afghanistan kể từ giữa tháng 8.

Taliban đã khuyến khích người Afghanistan ở lại, đồng thời nói rằng những người được phép rời đi sẽ vẫn được làm như vậy khi các chuyến bay thương mại được nối lại.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2074 Posted : Friday, August 27, 2021 12:25:01 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Afghanistan: Daech nhận trách nhiệm vụ tấn công tự sát ở Kabul

27/08/2021 - Thu Hằng / RFI
Tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo đứng ra nhận trách nhiệm hai vụ tấn công tự sát và xả súng gần sân bay Kabul, Afghanistan, chiều tối 26/08/2021. Số nạn nhân loạt khủng bố tiếp tục tăng, với 85 người chết và hơn 160 người bị thương, theo thống kê tạm thời ngày 27/08. Đây cũng là loạt tấn công đẫm máu nhất vào quân đội Hoa Kỳ ở Afghanistan từ năm 2011, vì có đến 13 quân nhân Mỹ thiệt mạng.

Nhóm Nhà Nước Hồi Giáo Khorasan (IS-K), một chi nhánh của tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo khẳng định một trong số chiến binh của lực lượng khủng bố này đã đến sát gần « quân nhân Mỹ khoảng 5 mét » trước khi kích hoạt đai thuốc nổ. Ngoài 13 quân nhân Mỹ tử vong còn có 18 người khác bị thương, theo thông báo của Lầu Năm Góc. Phía quân Taliban cũng có ít nhất 28 người thiệt mạng và 52 người bị thương.

Một cựu quan chức Afghanistan cho AFP biết « trong số các nạn nhân còn có rất nhiều phụ nữ và trẻ em. Đa số người dân choáng váng, hoảng sợ ». Một số đoạn video trên mạng xã hội cho thấy nhiều thi thể nằm trong một kênh nước. Xe cấp cứu liên tục chở người bị thương đến các bệnh viện ở thủ đô, thậm chí, một số người bị thương được chở bằng xe cút-kít công trường.

Đặc phái viên RFI Vincent Souriau thuật lại tình hình ở Kabul :

« Tối hôm qua (26/08) sau hai vụ tấn công khủng bố, có thể cảm thấy áp lực rất lớn đang đè nặng, đặc biệt là đối với phe Taliban, vì trên nguyên tắc, Taliban là lực lượng duy trì an ninh ở Kabul, họ nắm giữ các trạm gác được cho là nhằm ngăn chặn các mối đe dọa khủng bố.

Họ rất căng thẳng và bị bồi thêm một vụ nổ khác trong đêm. Chúng tôi nghe thấy rõ tiếng nổ đó dù ở cách xa sân bay vài kilomét. Sau đó, người phát ngôn của Taliban đã nhanh chóng trấn an trên mạng xã hội rằng: « Không có gì phải lo sợ ». Vẫn theo nhân vật này, vụ nổ mới là do quân đội Mỹ phá hủy một phần thiết bị trước khi rút đi.

Hoa Kỳ nói là có kế hoạch, được thiết kế để tiến hành lúc nguy kịch. Nhưng trên thực tế, có một điểm yếu lớn ngay từ đầu cuộc khủng hoảng này là phải hộ tống được hàng trăm người từ trung tâm thành phố đến sân bay. Cho đến nay, họ vẫn sử dụng xe buýt để chở. Nhưng những chiếc xe này rất dễ bị tấn công, vì khi dừng lại ở cửa vào sân bay, những xe này phải xếp hàng chờ kiểm tra an ninh, để quân nhân Mỹ rà dưới gầm từng xe. Việc này cần thời gian và chính trong lúc này, những kẻ thánh chiến tận dụng để tấn công.

Tôi chưa quay lại sân bay từ tối hôm qua (26/08), nhưng tôi cho rằng lực lượng Mỹ thắt chặt hơn biện pháp kiểm tra an ninh ».

Di tản: Mỹ tiếp tục, nhiều nước phương Tây ngừng

Từ ngày 15/08, khi Taliban chiếm được Kabul, các nước phương Tây đã di tản hơn 100.000 người khỏi Afghanistan. Hai nước Anh và Tây Ban Nha thông báo chấm dứt hoạt động sơ tán ngày 27/08.

Trước đó, Pháp cũng cho biết chấm dứt các chuyến bay đưa người di tản khỏi Afghanistan vào tối 27/08, nhưng không loại trừ khả năng kéo dài chiến dịch di tản đến sau thời điểm này, theo lời Quốc vụ khanh đặc trách các vấn đề châu Âu Clément Beaune sáng nay. Đức cũng thông báo đã đưa hết quân nhân và nhân viên ngoại giao của nước này khỏi Afghanistan vào ngày 26/08. Còn Úc đã hồi hương những quân nhân cuối cùng chỉ một ngày trước khi xảy ra loạt tấn công khủng bố sân bay Kabul.



Tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo ở Afghanistan IS-K nguy hiểm tới mức nào?

27/08/2021 - Trọng Nghĩa / RFI
Hai vụ đánh bom tự sát bên ngoài sân bay Kabul vào hôm qua 26/08/2021 đã khiến ít nhất 60 người Afghanistan và 13 lính Mỹ thiệt mạng ngoài con số cả trăm người bị thương. Sau đó ít lâu, một nhóm mang tên Nhà Nước Hồi Giáo Khorasan (IS-K hay ISIS-K) hoạt động mạnh tại Afghanistan, đã tự nhận là tác giả vụ tấn công.

Theo hãng tin Mỹ AP, IS-K là một nhóm Hồi Giáo gồm hàng trăm tay súng, được biết đến từ cách nay 6 năm, thuộc thành phần còn cực đoan hơn cả Taliban. Hình thành tại miền đông Afghanistan, nhóm này đã nhanh chóng phát triển thành một trong những mối đe dọa khủng bố lớn, là thủ phạm nhiều vụ tấn công cực kỳ đẫm máu, bất chấp nhiều năm trời bị liên quân do Mỹ lãnh đạo tìm diệt.

Ngay sau vụ tấn công ngay giữa đám đông, khiến hàng chục người chết và hàng trăm người bị thương tại Kabul vào hôm qua, các nhà quan sát đã tìm hiểu trở lại xem nhóm IS-K, tức là Nhà Nước Hồi Giáo Khorasan là gì, và bao gồm những phần tử nào.

Tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo Khorasan là gì?

Theo AP, nhóm IS-K này là chi nhánh tại Afghanistan của tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo (tiếng Ả Rập gọi là Daech, tiếng Anh là ISIS hay IS), đã từng hoành hành tại Syria và Irak vào mùa hè năm 2014, chiếm lĩnh nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn, và lập ra một đế chế Hồi Giáo. Các chính quyền địa phương và lực lượng quốc tế phải mất 5 năm chiến đấu liên tục mới phá được “đế chế Hồi Giáo” đó.

Chi nhánh Afghanistan của Nhà Nước Hồi Giáo đã nổi lên vài tháng sau khi Daech xuất hiện, lấy tên từ tỉnh Khorasan, một khu vực bao gồm phần lớn lãnh thổ Afghanistan, Iran và Trung Á thời Trung Cổ.

Được gọi theo tên tắt tiếng Anh là IS-K, thoạt đầu nhóm này chỉ có vài trăm chiến binh Taliban người Pakistan, đã chạy qua Afghanistan lánh nạn tại vùng biên giới với Pakistan sau các chiến dịch tấn công của Quân Đội Pakistan.

Sau đó, nhóm này đã kết nạp thêm nhiều phần tử cực đoan khác, cùng chí hướng, trong đó có cả những chiến binh Taliban người Afghanistan bất mãn với những hành động mà họ cho là quá ôn hòa của phong trào Taliban nói chung.

Trong bối cảnh Taliban đàm phán hòa bình với Hoa Kỳ trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều phần tử Taliban bất mãn đầu quân vào tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo cực đoan hơn, giúp IS-K gia tăng quân số. Hầu hết những phần tử bất mãn này dều cho rằng giới lãnh đạo Taliban sai lầm khi đàm phán với Mỹ vào lúc mà phong trào này đang trên đà chiến thắng về mặt quân sự.

Ngoài ra IS-K còn thu hút được một số lớn chiến binh đến từ Phong Trào Hồi Giáo Uzbekistan, một nước láng giềng, từ tỉnh Hồi Giáo Sunni duy nhất của Iran và các thành viên của Đảng Hồi Giáo Turkistan trong đó có người Duy Ngô Nhĩ từ miền Tân Cương Trung Quốc.

Kẻ thù không đội trời chung của Taliban

Nhìn chung, các chiến binh IS-K đều bị hệ tư tưởng bạo lực và cực đoan của tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo thu hút, cũng như lời hứa về một vương quốc Hồi Giáo để thống nhất thế giới Hồi Giáo, một mục tiêu mà lực lượng Taliban không hề tán thành.

Trong khi Taliban giới hạn cuộc đấu tranh của phong trào trong nội bộ Afghanistan, nhóm Nhà Nước Hồi Giáo ở Afghanistan và Pakistan đã hưởng ứng lời kêu gọi của tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo mở thánh chiến trên toàn thế giới, chống lại những người không theo đạo Hồi.

Theo thống kê của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế CSIS tại Washington, IS-K là tác giả hàng chục cuộc tấn công vào thường dân ở Afghanistan và Pakistan, trong đó có cả người Hồi Giáo hệ phái Shiite thiểu số. Nhóm này cũng đã có hàng trăm cuộc đụng độ với liên quân Afghanistan, Pakistan và Mỹ kể từ tháng 1 năm 2017.

Cho đến lúc này, IS-K vẫn chưa có cuộc tấn công nào ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ, tuy nhiên chính phủ Mỹ cho rằng IS-K là một mối đe dọa trường kỳ đối với các lợi ích của Hoa Kỳ và đồng minh ở khu vực Nam và Trung Á.

Trên hiện trường, IS-K đã trở thành kẻ thù của Taliban. Trong thời gian qua, lực lượng Taliban đã mở nhiều cuộc tấn công lớn, có phối hợp chống lại nhóm Nhà Nước Hồi Giáo ở Afghanistan. Chiến binh Taliban đôi khi đã kết hợp với cả quân đội Mỹ lẫn quân đội chính phủ Afghanistan được Hoa Kỳ hậu thuẫn để đánh bật nhóm Nhà Nước Hồi Giáo Khorosan ra khỏi các vùng phía đông bắc Afghanistan.

Một quan chức bộ Quốc Phòng Mỹ xin ẩn danh từng tiết lộ với hãng tin Mỹ AP là sở dĩ chính quyền Trump tìm kiếm thỏa thuận rút quân năm 2020 với Taliban, đó một phần là vì hy vọng sẽ hợp lực với Taliban để triệt hạ tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo, bị coi là mối đe dọa thực sự ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

Nguy cơ trước mắt đến từ ISK là gì?

Theo các chuyên gia phân tích, tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo ngày càng trở thành một mối đe dọa to lớn đối với Hoa Kỳ, nhất là khi Mỹ không còn lực lượng tại chỗ để theo dõi và tiêu diệt đối thủ ngay khi phát hiện.

Trong một báo cáo của Trung Tâm Chống Khủng Bố thuộc trường võ bị Mỹ West Point, hai nhà nghiên cứu Amira Jadoon và Andrew Mines đã lưu ý rằng, ngay cả khi Hoa Kỳ có quân đội, máy bay và máy bay không người lái vũ trang đóng trên mặt đất ở Afghanistan để theo dõi và tấn công Nhà Nước Hồi Giáo, các chiến binh của nhóm này vẫn có thể tiếp tục hoành hành dù đã có hàng nghìn người thương vong.

Việc Mỹ triệt thoái khỏi Afghanistan đang tước đi năng lực tấn công trên bộ của Hoa Kỳ ở nước này, đồng thời có nguy cơ làm suy yếu khả năng theo dõi Nhà Nước Hồi Giáo, cũng như các kế hoạch tấn công của tổ chức này.

Tuy nhiên, các quan chức chính quyền Biden cho rằng nhóm IS-K chỉ là một trong nhiều mối đe dọa khủng bố mà Mỹ phải đối phó trên toàn cầu, và nhấn mạnh rằng Washington hoàn toàn có thể giám sát tổ chức này bằng những phương tiện tình báo và quân sự đặt tại các quốc gia vùng Vịnh, trên tàu sân bay hoặc các địa điểm khác xa hơn.

Một trong những nỗi sợ hãi lớn nhất của Hoa Kỳ sau khi rút quân ra khỏi Afghanistan sau hai thập kỷ hiện diện là, dưới sự cai trị của Taliban, nước này một lần nữa trở thành lại trở thành thỏi nam châm thu hút các phần tử cực đoan từ khắp nơi trên thế giới, về đấy lập cứ địa để từ đó tung ra những cuộc tấn công vào phương Tây.



Afghanistan: Phương Tây và Taliban có thể phối hợp chống IS?

27/08/2021 - Thu Hằng / RFI
Những lời báo động của Mỹ và nhiều nước châu Âu về nguy cơ khủng bố ở sân bay Kabul đã thành hiện thực. Tối 26/08/2021, tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo ở Afghanistan IS-K đã nhắm vào đám đông hàng nghìn người chờ được di tản để gieo rắc kinh hoàng. Lực lượng Taliban cũng lên án loạt tấn công này.

Trả lời đài RFI, nhà nghiên cứu Pháp Adam Baczko, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (CERI), trường Khoa học chính trị Sciences Po Paris, cho rằng có lẽ phương Tây và lực lượng Taliban sẽ hợp tác để chống tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo, đặc biệt sau khi Mỹ và phương Tây rút hết quân khỏi Afghanistan :

« Giữa các nước phương Tây và lực lượng Taliban có chung bận tâm chống tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo. Tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo từng dụ dỗ nhiều chiến binh của Taliban đào ngũ. Taliban rất lo lắng về sự xuất hiện của quân khủng bố ở Afghanistan, tương tự như các nước phương Tây.

Chúng ta từng thấy có nhiều lần hợp tác kỳ lạ trên thực tế giữa quân đội của chế độ trước đây, quân Taliban và lực lượng Hoa Kỳ để oanh kích tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo. Qua đó có thể thấy là trong trường hợp mà hai bên phần nào có chung lợi ích, thì không phải là không thể có những kiểu hợp tác giữa quân Taliban và lực lượng tình báo phương Tây.

Với thời gian, các nước phương Tây cần và họ có một số vũ khí để gây sức ép với Taliban, trong khi lực lượng này cũng cần đến sự trợ giúp của quốc tế và muốn được công nhận. Ngược lại, Taliban tuy có năng lực trên thực địa nhưng cũng ở thế yếu, yếu hơn là chúng ta hình dung khi họ lên nắm quyền. Tôi không đi vào chi tiết, nhưng họ sẽ phải gánh rất nhiều trách nhiệm, phải đáp ứng nhu cầu và trông đợi của người dân. Vì vậy, hiện họ đang ở thế yếu mà phương Tây có thể khai thác ».




Nhà nước Hồi giáo ở Afghanistan nguy hiểm ra sao?

27/08/2021 - VOA / AP
Cho dù bị liên quân do Hoa Kỳ đứng đầu nhắm mục tiêu quân sự trong nhiều năm, nhóm có tên Nhà nước Hồi giáo Khorasan vẫn trụ lại và đã thực hiện một cuộc tấn công lớn ở Kabul vào ngày 26/8.

ISIS K ở Afghanistan là ai?

Chi nhánh của Nhà nước Hồi giáo ở Afghanistan đặt tên theo tỉnh Khorasan, một khu vực bao gồm phần lớn Afghanistan, Iran và trung Á vào thời Trung cổ. Nhóm này xuất hiện lần đầu ở miền đông Afghanistan vào cuối năm 2014 và nhanh chóng trở nên khét tiếng vì tàn bạo tột độ. Nhóm này còn được gọi là ISK, hoặc ISIS K.

Nhóm này khởi đầu có vài trăm chiến binh Taliban người Pakistan, là những kẻ đã chạy qua biên giới sang Afghanistan sau khi bị các chiến dịch quân sự đẩy bật khỏi quê hương. Những kẻ cực đoan khác cùng chí hướng đã gia nhập cùng với chúng ở đó.

Khi Taliban tiến hành hòa đàm với Hoa Kỳ trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều những thành phần Taliban bất mãn chuyển phe, tham gia nhóm Nhà nước Hồi giáo cực đoan, giúp chúng gia tăng quân số.

Nhóm này cũng đã thu hút được một lượng lớn thành viên từ Phong trào Hồi giáo của Uzbekistan, các chiến binh từ tỉnh duy nhất có đa số người Hồi giáo Sunni của Iran, và các thành viên của Đảng Hồi giáo Turkistan bao gồm người Duy Ngô Nhĩ ở đông bắc của Trung Quốc.

Có nhiều kẻ thấy hấp dẫn về hệ tư tưởng bạo lực và cực đoan của Nhà nước Hồi giáo, bao gồm cả những lời hứa về một vương quốc Hồi giáo để thống nhất thế giới Hồi giáo. Nhưng Taliban không bao giờ tán thành mục tiêu đó.

Nhánh Nhà nước Hồi giáo ở Afghanistan và Pakistan đã chấp nhận lời kêu gọi của Nhà nước Hồi giáo về một cuộc thánh chiến trên toàn thế giới chống lại những người không theo đạo Hồi.

Mặc dù nhóm vẫn chưa tiến hành các cuộc tấn công ngay trên đất Mỹ, nhưng chính phủ Hoa Kỳ tin rằng nhóm này là mối đe dọa lâu dài đối với các lợi ích của Hoa Kỳ và đồng minh ở Nam và Trung Á.

Taliban và ISIS K khác gì nhau?

Taliban và ISIS K là kẻ thù của nhau. Trước đây, Taliban đã tiến hành các cuộc tấn công phối thuộc lớn đánh vào nhóm Nhà nước Hồi giáo ở Afghanistan. Các chiến binh Taliban đôi khi đã hợp lực với cả lính Mỹ và quân đội chính phủ Afghanistan do Mỹ hậu thuẫn để đánh bật Nhà nước Hồi giáo khỏi các vùng ở miền đông bắc Afghanistan.

Một quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ không muốn nêu tên vì đang hoạt động bí mật từng nói với hãng tin AP rằng chính quyền của ông Trump đã đi đến thỏa thuận rút quân năm 2020 với Taliban có một phần lý do là họ hy vọng hợp lực với Taliban để chống chi nhánh của Nhà nước Hồi giáo.

Việc rút các lực lượng của Mỹ sẽ làm mất đi năng lực tấn công trên bộ của Mỹ ở Afghanistan trong thời gian tới, đồng thời có nguy cơ làm suy yếu khả năng theo dõi Nhà nước Hồi giáo cũng như kế hoạch tấn công của chúng.

Một trong những mối lo ngại to lớn nhất của Hoa Kỳ về việc rút lực lượng tham chiến của mình sau hai thập kỷ là Afghanistan dưới sự cai trị của Taliban một lần nữa lại trở thành nơi thu hút và là căn cứ cho các phần tử cực đoan lập âm mưu tấn công phương Tây.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2075 Posted : Saturday, August 28, 2021 5:40:01 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Mỹ không kích Nhà nước Hồi giáo ở Afghanistan sau vụ đánh bom sân bay Kabul

28/08/2021 - Voa / Reuters
Các lực lượng phương Tây di tản người khỏi Afghanistan ngày thứ Bảy chuẩn bị đối phó với thêm những vụ tấn công nữa sau khi Mỹ tiến hành một cuộc không kích bằng máy bay không người lái (drone), dường như tiêu diệt được một “người hoạch định” của Nhà nước Hồi giáo, hai ngày sau khi nhóm này nhận trách nhiệm về một vụ đánh bom chết người bên ngoài sân bay Kabul.

Trong số 92 người thiệt mạng trong vụ đánh bom tự sát ngày thứ Năm, do chi nhánh Nhà nước Hồi giáo ở Afghanistan tuyên bố thực hiện, có 13 quân nhân Mỹ. Đây là vụ việc có chết người nhiều nhất đối với quân đội Mỹ ở Afghanistan trong một thập niên qua.

“Các chỉ dấu ban đầu cho thấy chúng tôi đã tiêu diệt được mục tiêu. Không có thường dân thương vong nào mà chúng tôi biết,” quân đội Mỹ nói trong một phát biểu, nhắc tới cuộc không kích bằng drone trong đêm.

Bộ Tư lệnh Trung tâm Hoa Kỳ cho biết cuộc không kích diễn ra ở tỉnh Nangarhar, phía đông Kabul và giáp biên giới với Pakistan. Họ không cho biết liệu mục tiêu có liên hệ tới vụ tấn công gần sân bay hay không.

Cư dân thành phố Jalalabad, thủ phủ Nangarhar, cho biết họ nghe thấy một vài vụ nổ từ một cuộc không kích vào khoảng nửa đêm ngày thứ Sáu dù không rõ liệu các vụ nổ có phải do drone của Mỹ gây ra hay không.

Nhà Trắng nói vài ngày tới có thể là thời điểm nguy hiểm nhất trong hoạt động di tản của Mỹ mà Lầu Năm Góc cho biết đã đưa khoảng 111.000 người ra khỏi Afghanistan trong hai tuần qua.

Phát ngôn viên Lầu Năm Góc John Kirby cho biết Mỹ tin rằng vẫn còn những mối đe dọa “cụ thể, khả tín” nhắm vào sân bay sau vụ đánh bom tại một trong các cổng của nó.

“Chúng tôi chắc chắn đã chuẩn bị và dự liệu những nỗ lực tấn công trong tương lai,” ông Kirby nói với các phóng viên ở Washington. “Chúng tôi đang theo dõi những mối đe dọa này, rất, rất cụ thể, hầu như trong thời gian thực.”

Đại sứ quán Mỹ tại Kabul cảnh báo người Mỹ tránh xa sân bay Kabul vì các mối đe dọa an ninh và những người đang ở cổng nên rời khỏi sân bay ngay lập tức.

Các lực lượng của Mỹ và liên minh đang chạy đua để hoàn tất di tản công dân của họ và những người Afghanistan gặp nguy và rút khỏi Afghanistan trước hạn chót là ngày thứ Ba do Tổng thống Joe Biden đặt ra sau hai thập niên quân đội Mỹ hiện diện ở đó.

Hầu hết trong số hơn 20 quốc gia đồng minh tham gia không vận người Afghanistan và công dân của họ ra khỏi Kabul cho biết họ đã hoàn tất di tản vào ngày thứ Sáu.

Anh nói sẽ kết thúc hoạt động vào ngày thứ Bảy, đồng thời thừa nhận rằng nước này cũng như các nước khác, đã không thể đưa tất cả mọi người ra ngoài.

Đông đảo người dân đã tụ tập bên ngoài sân bay để cố gắng lên các chuyến bay di tản kể từ khi Taliban nắm quyền kiểm soát Afghanistan vào ngày 15 tháng 8, mặc dù ngày thứ Sáu, lực lượng bảo vệ Taliban ngăn không cho người dân đến gần.

Ông Biden trước đó nói rằng ông đã ra lệnh cho Lầu Năm Góc lập kế hoạch tấn công ISIS-K, tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng nhận trách nhiệm về vụ đánh bom hôm thứ Năm.

Chi nhánh của Nhà nước Hồi giáo ở Afghanistan, được gọi là Nhà nước Hồi giáo Khorasan (ISIS-K) theo tên cũ của khu vực, xuất hiện ở miền đông Afghanistan vào năm 2014 và sau đó đã len lỏi vào các khu vực khác, đặc biệt là miền bắc.

Nhóm này là kẻ thù của nhóm Taliban cũng như phương Tây. Lầu Năm Góc cho biết vụ tấn công ngày thứ Năm được thực hiện bởi một kẻ đánh bom liều chết tại một cổng sân bay, chứ không phải hai như họ cho biết trước đó.



Lầu Năm Góc nói vụ tấn công ở Kabul do chỉ một người thực hiện

28/08/2021 - Voa / Reuters
Một vụ tấn công chết người ở thủ đô Kabul của Afghanistan ngày thứ Năm được thực hiện bởi một kẻ đánh bom liều chết duy nhất tại một cổng vào sân bay và không có vụ nổ thứ hai tại một khách sạn gần đó, Lầu Năm Góc cho biết ngày thứ Sáu.

Vụ tấn công sân bay Kabul, khiến 13 binh sĩ Mỹ và ít nhất 79 người Afghanistan thiệt mạng, do những kẻ chủ chiến Nhà nước Hồi giáo tự xưng tuyên bố thực hiện. Chi nhánh của Nhà nước Hồi giáo ở Afghanistan, hay ISIS-Khorosan, là kẻ thù của cả phương Tây lẫn Taliban.

Vụ tấn công gây ra những thương vong quân sự đầu tiên của quân đội Mỹ ở Afghanistan kể từ tháng 2 năm 2020 và là vụ việc nguy hiểm nhất đối với quân đội Mỹ ở đó trong một thập niên.

Tướng Frank McKenzie, người đứng đầu Bộ Chỉ huy Trung tâm Hoa Kỳ, hôm thứ Năm nói rằng thông tin ban đầu nói rằng có hai kẻ đánh bom tự sát tấn công cổng sân bay và khách sạn Baron gần đó.

"Tôi có thể xác nhận với các bạn rằng chúng tôi không tin rằng có một vụ nổ thứ hai tại hoặc gần khách sạn Baron, rằng chỉ có một kẻ đánh bom tự sát," Thiếu tướng Lục quân William Taylor nói với các phóng viên ngày thứ Sáu. Ông nói các binh sĩ Mỹ bị thương trong vụ tấn công hiện đang được điều trị tại Đức.

Ông Taylor cho biết khoảng 300 công dân Mỹ đã được di tản trong 24 giờ qua, nâng tổng số người Mỹ được di tản lên khoảng 5.100 người.

Phát ngôn viên Lầu Năm Góc John Kirby nói với các phóng viên trong cùng cuộc họp báo rằng Mỹ tin là vẫn còn những mối đe dọa "cụ thể, khả tín" đối với sân bay.

"Chúng tôi chắc chắn đã chuẩn bị và dự liệu sẽ có những nỗ lực tấn công trong tương lai," ông Kirby nói, và nói thêm: "Chúng tôi đang theo dõi những mối đe dọa này, rất, rất cụ thể, hầu như trong thời gian thực."

Các quan chức Mỹ cho biết mối đe dọa lớn nhất mà sân bay đối mặt là các vụ tấn công bằng tên lửa hoặc bom xe.

Vụ tấn công ngày thứ Năm xảy ra trong lúc hàng chục ngàn người đang được di tản trong một hoạt động do Mỹ dẫn đầu. Taliban lên nắm quyền gần hai tuần trước khi các lực lượng nước ngoài bắt đầu rút quân, kết thúc cuộc chiến kéo dài 20 năm.



Pháp chấm dứt chiến dịch di tản người Afghanistan

28/08/2021 - Thùy Dương / RFI
Tối 27/08/2021, Pháp chính thức chấm dứt cầu không vận đưa người Afghanistan có nguy cơ bị Taliban gây hại từ Kabul về Paris. Bên cạnh việc hồi hương kiều dân Pháp, chiến dịch di tản có tên gọi Apagan đã đưa được gần 3.000 người, trong đó có hơn 2.600 người Afghanistan đến Pháp.

Bộ trưởng Quân Lực Pháp Florence Parly hôm 27/08 viết trên Twitter : « Chiến dịch Apagan, được triển khai từ ngày 15/08/2021 theo yêu cầu của tống thống Emmanuel Macron, đã chấm dứt tối nay ». Trong một thông cáo chung, bộ trưởng Quân Lực Florence Parly và ngoại trưởng Jean-Yves Le Drian giải thích cầu không vận Apagan phải ngưng vì các điều kiện an ninh ở sân bay Kabul không được bảo đảm do việc rút quân nhanh chóng của lực lượng Mỹ, hạn chót dự kiến là ngày 31/08/2021.

Đội ngũ nhân viên của đại sứ quán Pháp tại Kabul cũng đã được đưa đến Abou Dhabi, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, trước khi trở về Paris. Những quân nhân cuối cùng của Pháp tại Afghanistan cũng đã rời sân bay Kabul. Tổng cộng, quân đội Pháp đã thực hiện 26 chuyến bay di tản từ Kabul đến căn cứ không quân 104 của Pháp tại Abou Dhabi và 16 chuyến bay từ Abou Dhabi về Paris.

Theo AFP, mặc dù ngưng cầu không vận di tản, nhưng Paris thông báo vẫn tiếp tục thảo luận với phe Taliban để hàng ngàn người Afghanistan muốn rời đất nước có thể được ra đi bằng những cách khác mà không bị Taliban cản trở.

Hôm 26/08, một phái đoàn của Pháp đã tiếp xúc với các đại diện của phe Taliban tại Doha, Qatar. Đây là lần đầu tiên hai bên gặp nhau kể từ khi Taliban chiếm thủ đô Kabul. Cả hai bên khẳng định cuộc gặp ở Doha là để bàn về tình hình ở sân bay Kabul và chiến dịch di tản. Cho đến nay, chính quyền Pháp vẫn bác bỏ mọi khả năng « thảo luận chính trị » với Taliban chừng nào phe Hồi giáo cực đoan chưa đáp ứng một số điều kiện của Paris.

Ấn Độ hủy 10.000 visa cấp cho người Afghanistan

Lo ngại về nguy cơ « buôn bán hộ chiếu » bị đánh cắp, New Delhi đã hủy 10.000 visa cấp cho người Afghanistan và kêu gọi những ai muốn đến Ấn Độ làm lại các thủ tục xin visa nhập cảnh trực tuyến. Từ new Delhi, thông tín viên Côme Bastin giải thích :

« Chờ đợi và xem mọi chuyện diễn ra thế nào. Ngoại trưởng Ấn Độ tóm tắt như trên về quan điểm của New Delhi liên quan đến tình hình phức tạp ở Afghanistan trong một cuộc họp của tất cả các đảng phái chính trị hôm thứ Năm 26/08. Ngành ngoại giao Ấn Độ có thể cảm nhận thái độ chờ đợi đó.

Cách nay 1 tuần, chính phủ Ấn Độ đã kêu gọi giúp đỡ những người anh em ở Afghanistan và đưa ra chính sách thị thực điện tử để tạo điều kiện thuận lợi cho những người xin tị nạn. Nhưng không lâu trước khi xảy ra vụ nổ ở sân bay Kabul, tất cả visa nhập cảnh Ấn Độ đã cấp cho người Afghanistan đều bị vô hiệu hóa.

Các cơ quan tình báo Ấn Độ dường như phát hiện ra là có 1.000 hộ chiếu Afghanistan đã bị một nhóm Hồi giáo cực đoan thân cận với mật vụ Pakistan đánh cắp. Vụ việc có thể đã xảy ra tại một công ty du lịch ở Kabul. Chính phủ Ấn Độ lo sợ là những kẻ khủng bố sẽ sử dụng các quyển hộ chiếu nói trên.

Tổng cộng, 11.000 người sẽ phải phải làm lại thủ tục xin visa trực tuyến, trong khi cảnh hỗn loạn ở thủ đô Kabul ngày càng gia tăng và quân Mỹ sắp rời đi. Chính phủ Ấn Độ đã khẳng định sẽ làm tất cả để dung hòa các yêu cầu an ninh cũng như sự cấp bách của tình hình. Trong 10 ngày, có 300 visa điện tử đã được cấp cho người Afghanistan ».

Liên Hiệp Quốc : Năm 2021 sẽ có thêm hơn nửa triệu di dân Afghanistan

Hiện nay, tình trạng di dân ồ ạt từ Afghanistan vẫn chưa xảy ra, nhưng Liên Hiệp Quốc hôm qua dự báo trong hoàn cảnh xấu nhất, năm 2021 thế giới sẽ ghi nhận thêm hơn nửa triệu di dân Afghanistan, trong đó 80% là phụ nữ và trẻ em.



Quan chức cao cấp quân đội Mỹ: TQ sẽ sớm vượt Nga trở thành mối đe dọa hạt nhân

28/08/2021 - Voa / Reuters
Trung Quốc, nước đang nhanh chóng phát triển vũ khí hạt nhân, sẽ sớm vượt qua Nga trở thành mối đe dọa hạt nhân hàng đầu của Mỹ, một quan chức quân sự cao cấp của Mỹ cho biết ngày thứ Sáu, cảnh báo rằng hai nước không có cơ chế để tránh hiểu lầm trong giao tiếp.

Trung tướng Không quân Hoa Kỳ Thomas Bussiere, phó tư lệnh Bộ Chỉ huy Chiến lược Hoa Kỳ, cơ quan giám sát kho vũ khí hạt nhân của nước này, cho biết việc Trung Quốc phát triển năng lực hạt nhân “không còn nhất quán” với tuyên bố công khai của họ rằng họ muốn duy trì khả năng răn đe hạt nhân tối thiểu.

“Sẽ tới một điểm mà số lượng các mối đe dọa do Trung Quốc đề ra sẽ vượt quá số lượng các mối đe dọa mà Nga đề ra,” ông Bussiere nói trên một diễn đàn trực tuyến.

Ông nói sự xác định này sẽ không chỉ dựa trên số lượng đầu đạn hạt nhân được dự trữ của Bắc Kinh mà còn dựa trên cách chúng được “bố trí hoạt động.”

“Chúng tôi tin rằng sẽ có một điểm vượt mức trong vài năm tới,” ông Bussiere nói.

Không như với Nga, Mỹ không có bất cứ hiệp ước hoặc cơ chế đối thoại nào với Trung Quốc về vấn đề này để “giảm bớt bất kì nhận thức sai lầm hoặc nhầm lẫn nào,” ông nói thêm.

Phát biểu của ông Bussiere được đưa ra trong bối cảnh Mỹ đang cố gắng điều chỉnh lại chính sách đối ngoại của mình để tập trung nhiều hơn vào khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương nhằm đối kháng sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã bày tỏ lo ngại sâu sắc về kho vũ khí hạt nhân ngày càng tăng của Trung Quốc trong cuộc họp với bộ trưởng ngoại giao các nước Châu Á và các quốc gia đối tác vào đầu tháng 8.

Báo cáo của các viện nghiên cứu dựa trên hình ảnh vệ tinh cho biết Trung Quốc dường như đang xây dựng hàng trăm hầm chứa mới cho phi đạn hạt nhân và Washington đã cáo buộc Bắc Kinh kháng cự các cuộc đàm phán về vũ khí hạt nhân.

Trung Quốc nói kho vũ khí của họ còn kém xa Mỹ và Nga, và họ sẵn sàng đối thoại, nhưng chỉ khi Washington giảm kho vũ khí hạt nhân xuống mức của Trung Quốc.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2076 Posted : Sunday, August 29, 2021 5:57:13 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Mỹ rút quân khỏi Afghanistan: Tương lai nào cho phi trường Kabul?

RFI - 29/08/2021
Cả Taliban lẫn phương Tây cùng đang đứng trước một bài toán nan giải: Làm thế nào kiểm soát sân bay quốc tế Hamid Karzai kể từ 0 giờ ngày 01/09/2021 tức là khi Mỹ và liên minh quốc tế hoàn tất kế hoạch rút quân khỏi Afghanistan ?

Ngày 27/08/2021 phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Ned Price xác nhận Mỹ sẽ rời khỏi Afghanistan “từ nay cho đến ngày 31/08/2021. Vào thời hạn đó, phi trường quốc tế tại Kabul sẽ được trao trả lại cho Afghanistan”, tức là sẽ được trao về tay Taliban. Washington bác bỏ những đồn đoán cho rằng, các đồng minh của Mỹ sẽ thế chân Hoa Kỳ, để quản lý cửa ngõ di tản duy nhất bằng đường hàng không.

Mỹ nhìn nhận “không dễ quản lý phi trường Hapid Karzai”. Vẫn Ned Price cảnh báo: Phi trường quốc tế Kabul “hoạt động bình thường vào ngày 01/09/2021 là điều không tưởng”.

AFP nhắc lại trong tuần, ngoại trưởng Antony Blinken đã nêu lên khả năng sân bay Kabul phải “tạm thời đóng cửa”. Đồng thời “nhiều quốc gia trong khu vực đang thảo luận ráo riết để sân bay vẫn hoạt động” hay “nếu cần thì sẽ mở cửa trở lại sau một thời gian bị gián đoạn”. Cũng ngoại trưởng Blinken tìm cách trấn an về thiện chí của Taliban trong thời gian tới khi cho rằng, phe Hồi Giáo cực đoan này không có ý định cách ly Afghanistan với phần còn lại của thế giới và bản thân Taliban theo Washington cũng đang trông chờ nhận được viện trợ quốc tế.

Mọi ánh mắt đang hướng về Thổ Nhĩ Kỳ. Theo giới quan sát, do muốn tiếp tục đưa người di tản ra khỏi Afghanistan sau thời hạn 31 tháng 8, nên phương Tây đang kỳ vọng nhiều vào Ankara.

Cho tới giờ phút này, Liên Minh Bắc Đại Tây Dương đang đóng một vai trò “then chốt”: Nhân viên dân sự đảm trách khâu không lưu, bảo đảm các nguồn tiếp liệu xăng dầu, chịu trách nhiệm về các phương tiện liên lạc. An ninh tại khu vực nhậy cảm này thì do lính Anh, Mỹ, Azerbaijan và Thổ Nhĩ Kỳ đảm nhiệm.

Càng đến gần kỳ hạn 31 tháng 8, câu hỏi liệu rằng Ankara có duy trì sự hiện diện của các quân nhân Thổ Nhĩ Kỳ tại Afghanistan hay không càng trở nên cấp bách. Ankara có hai lợi thế : vừa là một quốc gia Hồi Giáo vừa là thành viên NATO. Mọi người kỳ vọng Taliban dễ dàng chấp nhận sự hiện diện của lính Thổ Nhĩ Kỳ hơn so với quân nhân thuộc các quốc tịch khác. Thế nhưng theo AFP, “lính Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu rút lui” từ hôm 27/08/2021 tức một ngày sau vụ khủng bố ở Kabul.

Còn nước còn tát. Vẫn AFP cho biết đại diện của Ankara tiếp tục “đàm phán với Taliban” và theo lời tổng thống Erdogan, rất có thể “quân nổi dậy Afghanistan đồng ý để cho Thổ Nhĩ Kỳ bảo đảm về mặt hậu cần” cho dù khâu bảo đảm an ninh cho khu vực chung quanh phi trường Kabul sẽ được đặt trong tay phe Taliban.

Một hy vọng khác của hàng ngàn người đợi được di tản khỏi Afghanistan hiện nay là Qatar và một số công ty bảo vệ an ninh tư nhân. Tuy nhiên giới quan sát cho rằng “tình hình ở Kabul rối ren đến nỗi, ngoài lực lượng Mỹ, không mấy ai đủ sức đảm nhiệm trọng trách này trong một sớm một chiều”.

Điều hiển nhiên nhất là hiện tại một số quan chức Mỹ biết trước sẽ “không có nhiều hãng hàng không dám bảo đảm các chuyến bay đến hay xuất phát từ Kabul” trong thời gian sắp tới.



Afghanistan: Mỹ báo động về nguy cơ sắp có thêm một vụ khủng bố tại Kabul

29/08/2021 - Trọng Nghĩa / RFI
Cú sốc về vụ tấn công khủng bố đẫm máu ở cổng vào sân bay Kabul hôm thứ Năm - đã khiến 85 người thiệt mạng - chưa dứt, thì tổng thống Mỹ Joe Biden vào hôm qua, thứ Bảy 28/08/2021 đã lại cảnh báo về nguy cơ một cuộc tấn công khác “rất có thể xảy ra… trong vòng 24 đến 36 tiếng đồng hồ”.

Theo tổng thống Mỹ, chính các cố vấn của ông về các vấn đề quân sự và an ninh thông báo cho ông về nguy cơ sắp có thêm một vụ khủng bố.

Trong một thông cáo được công bố sau cuộc họp với các cố vấn quân sự và an ninh, ông Joe Biden cảnh báo: “Tình hình tại chỗ vẫn cực kỳ nguy hiểm và nguy cơ tấn công khủng bố vào sân bay vẫn ở mức cao”.

Riêng về vụ tấn công khủng bố hôm thứ Năm tại Kabul đã khiến 13 quân nhân Mỹ thiệt mạng, Washington đã có ngay phản ứng trả đũa, tung ra một vụ oanh kích bằng drone và giết chết hai đối tượng và làm bị thương một đối tượng khác, cả ba đều thuộc nhóm Nhà Nước Hồi Giáo ở Afghanistan, nhóm đã nhận trách nhiệm về vụ đánh bom hôm thứ Năm.

Từ New York, thông tín viên RFI Alexis Guilleux ghi nhận:

“Các mối đe dọa nhắm vào lực lượng Mỹ và chiến dich di tản này vẫn tồn tại thực sư và rất nghiêm trọng”. Theo tướng Lục Quân Hank Taylor, tình hình tại chố như tổng thống Joe Biden đã đánh giá, cực kỳ nguy hiểm, nhưng điều đó không ngăn cản Hoa Kỳ tiếp tục chiến dịch sơ tán. Trong 24 tiếng đồng hồ vừa qua, 1.800 người đã được đưa ra khỏi Kabul, nhưng vẫn còn 350 công dân Mỹ chưa đi được.

Cùng lúc, Hoa Kỳ đã cho tiến hành một chiến dịch tiêu diệt khủng bố trong đêm thứ Sáu, rạng sáng thứ Bảy, hạ sát hai đối tượng quan trọng thuộc tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo tại miền Đông Afghanistan.

Phát biểu với báo giới, ông John Kirby, phát ngôn viên Lầu Năm Góc cho biết: “Chúng đã bị mất một cán bộ lên kế hoạch và một cán bộ hỗ trợ, và thêm một người bị thương. Việc hai phần tử như vậy không còn trên cõi đời này là một điều tốt. Tốt cho cả dân chúng Afghanistan lẫn quân đội của chúng ta”.

Cuộc tấn công do một chiếc máy bay không người lái thực hiện khi các đối tượng đi chuyển bằng xe, nhưng Lầu Năm Góc không cho biết là họ có dính líu đến vụ khủng bố ở Kabul hay không.

Về phần mình, tổng thống Mỹ xác định rằng đó không phải là một vụ tấn công cuối cùng, và Washington sẽ tiếp tục truy nã tất cả những ai có dính líu đến vụ khủng bố dã man hôm thứ Năm, đã khiến 13 lính Mỹ thiệt mạng.

Danh tính những người này đã được công bố hôm qua, với 11 người chưa đầy 25 tuổi.

Mỹ sắp hoàn tất việc rút quân

Một lãnh đạo cơ quan an ninh Phương Tây xin ẩn danh hôm nay 29/08 cho Reuters biết quân đội Mỹ đã bước vào chặng cuối cùng để rời khỏi Kabul, và sẽ rút quân khi chiến dịch di tản hoàn tất. Thời điểm chính xác Mỹ chấm dứt chiến dịch di tản vẫn chưa được ấn định. Cho đến giờ, số thường dân dự kiến được Mỹ di tản nốt là khoảng hơn 1.000 người. Tổng cộng, trong hai tuần qua, Mỹ đã di tản được khoảng 115.000 người.

Hôm qua, một quan chức Mỹ nói rằng còn 4.000 quân Mỹ vẫn đang hiện diện tại sân bay Kabul, so với quân số 5.800 vào thời điểm căng thẳng nhất trong những ngày qua. Trong khi đó, một đại diện của lực lượng Hồi Giáo cực đoan cho biết Taliban cũng đã sẵn sàng để kiểm soát sân bay Kabul.



Afghanistan: TT Pháp xác nhận Paris đang thảo luận với Taliban

29/08/2021 - Thùy Dương / RFI
Từ Bagdad, bên lề hội nghị vùng Trung Cận Đông, trả lời phỏng vấn báo Journal Du Dimanche về việc di tản người Afghanistan, tổng thống Pháp Emmanuel Macron hôm qua 28/08/2021 cho biết chính quyền Pháp đang thảo luận với phe Taliban.

Nội dung thảo luận liên quan đến các chương trình cứu trợ nhân đạo và khả năng bảo vệ người Afghanistan hồi hương hay những người dân có thể gặp nguy hiểm tại quốc gia này, cho dù đó chỉ là các cuộc thảo luận « bấp bênh và tạm thời ».

Các cuộc thảo luận giữa Paris và Taliban diễn ra với sự giúp đỡ của Qatar, nước vốn từ nhiều năm nay vẫn duy trì quan hệ với lực lượng Taliban và đón nhiều phái đoàn đại diện của phe này.

Theo Reuters, nguyên thủ Pháp nhận định công cuộc di tản người Afghanistan sau ngày 31/08, hạn chót Mỹ rút quân khỏi Afghanistan, sẽ không được Pháp thực hiện từ sân bay quân sự Kabul mà ở một sân bay dân sự nào đó của thành phố này hoặc thông qua các nước láng giềng của Afghanistan, chẳng hạn Qatar có thể sẽ tái lập cầu không vận với Afghanistan.

Theo Journal du Dimanche, tổng thống Macron cũng thông báo Pháp và Anh Quốc ngày mai 30/08 sẽ đệ trình lên Liên Hiệp Quốc một dự thảo nghị quyết về việc tạo ra một « vùng an toàn » ở Kabul. Đây sẽ là khu vực được bảo vệ, cho phép các hoạt động nhân đạo tại chỗ tiếp tục được thực hiện. Năm thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An sẽ gặp nhau vào ngày mai để thảo luận về cuộc khủng hoảng Afghanistan.

Việc thiết lập « vùng an toàn » ở Kabul và đặt dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc theo nguyên thủ Pháp là rất quan trọng vì sẽ tạo ra một khuôn khổ để Liên Hiệp Quốc hành động trong trường hợp khẩn cấp và cho phép cộng đồng quốc tế duy trì sức ép đối với Taliban.

Taliban muốn lập quan hệ ngoại giao với Pháp

Về phía Taliban, hôm qua 28/08, trả lời phỏng vấn của đài France 24, cùng tập đoàn truyền thông FMM với đài RFI, Zabihula Muzahid, phát ngôn viên phe Taliban khẳng định lực lượng này mong muốn có quan hệ tốt với Pháp và « sự an toàn của kiều dân Pháp cũng như các đại điện ngoại giao » của Paris tại Afghanistan sẽ được Taliban bảo đảm. Đại diện phe Taliban nhấn mạnh hy vọng thiết lập « quan hệ ngoại giao » và « bằng hữu » với chính phủ Pháp.



TT Macron: Pháp sẽ duy trì lực lượng quân sự chống khủng bố ở Irak

29/08/2021 - Thùy Dương / RFI
Trong bối cảnh nguy cơ khủng bố do lực lượng thánh chiến thuộc tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo gia tăng tại Afghanistan sau khi quân Mỹ rút ra khỏi Kabul, tổng thống Pháp Macron đã đến Irak dự Hội Nghị về vùng Trung Cận Đông. Hôm qua 28/08/2021, ông khẳng định Pháp sẽ duy trì sự hiện diện quân sự ở Irak để chống chủ nghĩa khủng bố, bất kể lựa chọn của Mỹ.

Tổng thống Pháp Macron kêu gọi các nước « không mất cảnh giác » trước các phần tử Nhà Nước Hồi Giáo. Về phía Irak, thủ tướng Moustafa al-Kazimi khẳng định Pháp là « đối tác chủ chốt trong cuộc chiến chống khủng bố ».

Hội nghị lần này được tổ chức theo sáng kiến của Paris để tăng cường sự ổn định của Irak và tìm kiếm sự ủng hộ của khu vực dành cho quốc gia này. Pháp cũng là nước thành viên NATO duy nhất dự hội nghị Bagdad. Tham dự hội nghị còn có Iran, Ả Rập Xê Út, Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước khác trong vùng Trung Cận Đông.

Từ Bagdad, đặc phái viên Guilhem Delteil gửi về bài tường trình:

« Iran và Ả Rập Xê Út là hai nước đối địch từng cắt đứt quan hệ ngoại giao với nhau. Vì vậy, hình ảnh ngoại trưởng của hai nước này cùng hiện diện trong cùng một căn phòng tự nó đã là một thành công, được tổng thống Pháp Emmanuel Macron hoan nghênh.

Ông nói: “Thời gian giúp xoa dịu mọi chuyện. Tôi nghĩ rằng mọi cường quốc trong khu vực đều ý thức được là hoàn cảnh hiện nay đòi hỏi tất cả phải quay lại các cuộc thảo luận và hợp tác trở lại. Liệu điều đó có nghĩa là mọi bất đồng đều đã tan biến ? Không. Nhưng lựa chọn tập thể được đưa ra là không tiếp cận những bất đồng đó theo kiểu quá thẳng thắn, trực tiếp hoặc quá dữ dội”.

Tại Bagdad, lãnh đạo các nước hiện diện đều cam kết đẩy mạnh cuộc chiến chống khủng bố. Và trong suốt cả ngày, tổng thống Pháp cũng nhắc lại là ông cam kết duy trì sự hiện diện quân sự của Pháp trong khu vực.

Tổng thống Macron khẳng định: “Dù Hoa Kỳ có lựa chọn gì đi chăng nữa thì chúng tôi vẫn sẽ duy trì sự hiện diện của mình để chống khủng bố ở Irak, chừng nào mà các nhóm khủng bố còn tiếp tục hoạt động và chừng nào chính phủ Irak còn đề nghị được hỗ trợ. Và chúng tôi có đủ khả năng hành động để bảo đảm sự hiện diện đó, bất kể lựa chọn của Mỹ”.

Một nguồn tin chính thức của Pháp thừa nhận: “Có thể là không có kết quả rõ ràng nào ngay lập tức”, nhưng đối với Paris, điều thiết yếu là Irak có được hậu thuẫn của khu vực. Vẫn nguồn tin này khẳng định: “Chúng ta không thể bỏ rơi vùng này”.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#2077 Posted : Monday, August 30, 2021 7:24:35 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid : ''Mô hình'' quân đội đi chợ cho dân Sài Gòn thất bại

29/08/2021 - Trọng Thành / RFI
Tại tâm dịch Covid ở TP HCM, thủ phủ kinh tế của Việt Nam, một diễn biến gây nhiều chú ý hôm qua, 28/08/2021. Sở Công Thương thành phố yêu cầu cho 25.000 shipper trở lại vận chuyển hàng hóa phục vụ người dân.

Theo nhiều nhà quan sát, việc chính quyền đưa ra đề xuất nói trên cho thấy chính quyền đã thừa nhận chính sách đưa quân đội đảm nhận việc cung ứng thực phẩm cho toàn bộ dân cư thành phố, cùng với chính quyền cơ sở, là một thất bại. Ngay từ khi chính quyền ấn định kế hoạch bộ đội cung cấp thực phẩm cho hơn 10 triệu dân thành phố, bắt đầu thực hiện từ ngày đầu đợt siết chặt phong tỏa 23/08, nhiều chuyên gia, nhà hoạt động xã hội đã lên tiếng cảnh báo về thất bại được báo trước.

Từ Sài Gòn, giáo sư Hoàng Dũng nhận định với RFI Tiếng Việt về vấn đề này :

« Từ sự kiện này, có hai cách đánh giá khác nhau. Một cách nhìn có vẻ tươi sáng, là khen ông Nhà nước uyển chuyển, biết sửa lại các quyết định của mình sao cho phù hợp với thực tiễn hơn. Nhưng mặt khác, người ta cũng thấy điều mà Nhà nước không thấy. Đó là những người ở vị trí quyết định đã vội vàng đưa ra những chủ trương mà ngay từ đầu đã thấy sai lầm. Cụ thể là cấm hoàn toàn shipper trong một số quận. Còn một số quận còn lại vẫn cho hoạt động, nhưng trong phạm vi của một quận thôi. Việc giải quyết hàng hóa cho hơn 10 triệu dân, họ trông cậy hoàn toàn vào bộ đội. Khi sở Công Thương đề nghị cho 25.000 shipper hoạt động trở lại, điều đó có nghĩa là công khai thừa nhận mô hình cung cấp thực phẩm trước đây là hoàn toàn thất bại. Thất bại có thể biết trước được. Với một thành phố hơn 10 triệu dân, để đưa được đồ ăn thức uống đến cho dân, thì phải một lực lượng ước chừng 50 ngàn người. Không thể điều 50 ngàn lính làm việc đó được. Số lượng đó là quá lớn. Riêng việc đó đã đủ thất bại ! … Còn về việc di chuyển, các shipper khi cần ngay lập tức có thể tới ngay, còn với những người không chuyên nghiệp, đó là chuyện không dễ. Thêm một điểm khác, là shipper họ thường quen với hàng hóa… ».

Ông nhìn nhận ra sao về việc các hoạt động của thị trường, của xã hội dân sự gặp khó khăn trong giai đoạn đại dịch ?

GS Hoàng Dũng : « Có thể nói các tổ chức dân sự đi làm từ thiện này kia, ở Việt Nam có những khó khăn đặc biệt, mà nhiều xã hội khác không có. Đằng sau sự khó khăn đó, chính là sự sợ hãi của Nhà nước, sự ngờ vực của Nhà nước đối với các tổ chức như vậy. Người ta sợ các tổ chức mà Nhà nước không nắm được. Nhìn chung trong xã hội toàn trị, lo lắng đó là rất dễ hiểu, rất đúng quy luật điều hành của một xã hội toàn trị. Nhưng đại dịch Covid-19 đang diễn ra hiện nay, nó bộc lộ hết tất cả những điểm mà trước đây người ta đã thấy, nhưng bây giờ thấy sâu sắc hơn. Đó là xã hội dân sự là yếu tố cấu thành của xã hội hiện đại, không thể nào gạt bỏ ra được bằng mệnh lệnh hành chính. Cấm cản nó, gạt bỏ nó, xã hội sẽ chịu hậu quả. Cuối cùng, Nhà nước phải gánh hậu quả đó. Người dân phải gánh đã đành, nhưng Nhà nước cũng phải gánh.

Trước khi phong tỏa theo Chỉ thị 16, các tổ chức từ thiện trợ giúp thực phẩm cho người nghèo vẫn hoạt động được. Người ta nấu cơm, có nơi ngày nấu đến 2.000 phần cơm. Có lực lượng đem đến cho người dân bị đói. Nhưng sau đó, có lệnh là mỗi nơi chỉ được 2 người tham gia phục vụ. Như vậy trên thực tế là cấm họ. Vì chỉ 2 người làm thì làm sao tổ chức nấu ăn được nữa ? Tôi thấy những đoạn video cho thấy người đói - tại những chỗ tặng cơm đó bị buộc phải đóng cửa – phải quỳ xuống đưa tay vào nhận một phần cơm. Vì sao ? Vì cũng phải nhận giấu diếm, vì sợ Nhà nước biết. Đến bây giờ, tình hình có thay đổi rồi, tức là bắt đầu mở rộng, cho phép rồi.

Tất cả những điều đó cho thấy sự lúng túng, hoàn toàn không có chủ trương ngay từ đầu, với ảo tưởng là một mình Nhà nước có thể giải quyết tất cả. Thực tế là khi người dân đóng thuế, thì chính quyền phải trên cơ sở đó lo cho dân. Còn đối với người dân, Nhà nước cần phải để cho họ giúp nhau, đừng cấm cản họ. Trong khi đó, Nhà nước thoạt tiên cấm, nhưng cấm không được, sau đó phải mở, mở he hé. Hiện nay, 25.000 shipper được hoạt động, nhưng lại với điều kiện phải xét nghiệm hàng ngày, mỗi lần xét nghiệm tốn hơn 200 ngàn. Họ phải bỏ tiền túi ra, hoặc nơi thuê họ phải bỏ tiền ra để shipper được xét nghiệm. Cuối cùng thì giá cả hàng hóa tăng lên (do có thêm chi phí xét nghiệm), người dùng phải chịu. Mà điều này phi khoa học, vì chính Nhà nước đã nói rằng mỗi lần xét nghiệm có hiệu lực trong ba ngày. Vậy tại sao hàng ngày phải xét nghiệm ?

Cho nên việc 25.000 shipper được hoạt động trở lại là một bước tiến, nhưng đồng thời đầu này mở, đầu kia có hơi thắt lại chút. Nếu có một chứng cứ khoa học buộc phải xét nghiệm là một chuyện, nhưng đây không phải là như vậy. Tóm lại, đó là do họ sợ hãi những lực lượng không phải là Nhà nước.

Thực tiễn đã bắt phải thay đổi. Không thì phải trả giá bằng người chết, bằng oán thán. Người dân đói thì họ nổi loạn. Tất cả những cái đó đẩy anh vào thế không chấp nhận không được. Có điều là khi anh đã không có cái nhìn nhận đúng đắn, anh đưa ra những sai lầm, rồi sau đó lại sửa chữa, thì phải trả giá. Mà trả giá, thực ra là người dân trả giá. Còn Nhà nước chỉ trả giá bằng cái uy tín bị sứt mẻ.

Thành ra là, nếu đi tìm cái may mắn trong tai họa, thì trận dịch này đã bộc lộ tất cả những khuyết điểm của cách quản lý xã hội từ trước đến nay ».

Bộ trưởng Y Tế : Số tử vong Sài Gòn giảm dần

Trong hai ngày 28 và 29/08, bộ Y Tế ghi nhận 344 ca tử vong trên toàn quốc, số người chết cao nhất là tại TP Hồ Chí Minh (256), tiếp theo là tỉnh Bình Dương (31). Theo bộ trưởng Y Tế Nguyễn Thanh Long hôm nay, bệnh nhân Covid-19 tử vong ở TP HCM trong những ngày gần đây có xu hướng giảm, so với đỉnh điểm vào tuần thứ 2 và thứ 3 tháng 8/2021.

Hà Nội : Xét nghiệm 200 nghìn ca để chọn phương án phong tỏa

Chính quyền Hà Nội hôm qua, 28/08, thông báo sẽ xét nghiệm đợt cao điểm từ 27/08 đến 04/09, với tổng số 200 nghìn mẫu, và dựa trên kết quả này thành phố sẽ lựa chọn 1 trong 2 kịch bản sau ngày 06/09 : phong toả các quận nguy cơ cao hoặc phong tỏa toàn thành phố, giống như Sài Gòn đang làm, với đợt siết chặt phong tỏa từ ngày 23/08.



Covid ở Sài Gòn: Các dòng tu Công giáo cứu trợ dân nghèo

30/08/2021 - Thanh Phương / RFI
Sài Gòn hiện là thành phố đông dân nhất Việt Nam với hơn 9 triệu người theo thống kê chính thức, do là nơi thu hút rất nhiều dân từ các nơi khác đến kiếm sống, trong đó có nhiều công nhân làm việc cho các nhà máy trong khu vực. Nhưng Sài Gòn cũng đang là tâm chấn của đợt dịch Covid mới, dữ dội hơn những lần trước, do tác động của biến thể Delta lây lan rất nhanh.

Lệnh “giãn cách xã hội” được ban hành và đã được triển hạn cho đến 15/09 nhằm phòng chống đại dịch khiến đời sống dân nghèo ở Sài Gòn càng thêm khốn đốn, nhất là những lao động nhập cư từ mấy tháng qua bị thất nghiệp do các nhà máy đã đóng cửa. Ấy là chưa kể hiện nay Sài Gòn đang sống dưới lệnh phong tỏa tuyệt đối, “ ai ở đâu ở yên đó”, gần như là thiết quân luật, quân đội được huy động để bảo đảm việc tuân thủ lệnh phong tỏa trong thành phố.

Trong những tuần qua, rất nhiều tổ chức, nhiều cá nhân đã bỏ không ít công sức, tiền bạc để giúp đỡ những người lao động nghèo đã không thể trở về quê được và nay không còn một nguồn thu nhập nào khác, thậm chí không có đủ lương thực để ăn, do không phải ai cũng nhận được các trợ cấp của nhà nước. Tham gia tích cực vào chiến dịch cứu trợ này đặc biệt có Giáo hội Công Giáo Việt Nam, thông qua các giáo xứ, các dòng tu như Dòng Mến Thánh Giá, Dòng Tên...

Trả lời RFI Việt ngữ ngày 24/08, Linh mục Trương Văn Phúc, Trưởng Ban Bác Ái Xã Hội, Dòng Tên Việt Nam, trước hết nhắc lại tình trạng hiện nay của các lao động nhập cư ở Sài Gòn trong mùa đại dịch:

" Trước tiên là các vùng ven của Sài Gòn có các khu công nghiệp. Ở phía bắc, không chỉ trên đất Sài Gòn và Thủ Đức, mà còn ở ranh giới lấn qua Bình Dương, Biên Hòa, có khá nhiều gia đình trẻ hầu hết là công nhân của các xí nghiệp, nhà máy. Ở phía nam cũng vậy, ở khu vực giáp giới giữa Sài Gòn với Tây Ninh, có vùng Hóc Môn và giáp giới với Long An có vùng Đức Hòa, Bình Chánh, cũng tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp, thu hút cả triệu công nhân.

Trong thực tế, bệnh dịch đã bắt đầu từ cuối tháng 5, nhưng lệnh phong tỏa, hạn chế đi lại để hạn chế lây lan, bắt đầu từ 09/06, tới bây giờ đã 12 tuần rồi. Đối diện với khó khăn của đại dịch, một số bạn trẻ cảm thấy nên về quê thì họ đã lên đường về quê. Họ về bằng nhiều cách, trong đó có cách đi bằng honda, bằng xe của các mạnh thường quân, của các tổ chức này tổ chức khác. Nhà nước cũng giúp họ về quê.

Tuy vậy, số người ở lại thì cũng khá nhiều, khoảng 2/3 công nhân của các nhà máy, xí nghiệp, theo ước lượng của tôi. Mà ở lại như vậy thì có những chi phí phát sinh ngoài ý muốn. Chí phí đầu tiên là tiền phòng trọ, tiếp đến là tiền ăn uống, thuốc thang. Trước đây họ có thu nhập, còn bây giờ không có thu nhập, khó khăn là đương nhiên."

Cụ thể, các dòng tu tham gia như thế nào vào việc cứu trợ cho các gia đình nghèo nói trên, cha Phúc cho biết:

"Giáo hội Công Giáo cũng khá dấn thân trong mùa dịch này. Đức cha Linh, Đức tổng giám mục Huế, chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam" đã có một bức Thư chung "Thương quá Sài Gòn ơi", kêu gọi sự chia sẽ của tất cả các giáo phận trên toàn quốc cho miền Nam, đặc biệt là cho Sài Gòn. Nguồn quỹ đó đã giúp khá tốt trong tháng 7 vừa qua, không chỉ giúp lương thực, mà giúp cả tiền viện phí, tiền thuốc, tiền thuê nhà...

Dòng Tên cũng có dấn thân, nhưng chỉ là người điều phối. Cho tới lúc này, chúng tôi có sự tham gia ở vùng Thủ Đức với 28 giáo xứ và mỗi giáo xứ thì có các ban Caritas. Chúng tôi cũng làm việc với hai mươi mấy dòng tu trên địa bàn Thủ Đức. Ngoài ra, chúng tôi cũng lập một nhóm phân phối gạo mang tính cách liên đới giữa các dòng tu. Chúng tôi lập ra nhiều trạm phát gạo.

Chúng tôi kêu gọi sự liên đới, chia sẽ là chủ yếu, hầu hết là sự chia sẽ đến từ trong nước và từ một số mạnh thường quân ở nước ngoài. Tính về số lượng, sau 12 tuần, chúng tôi đã phân phối khoảng 220 tấn gạo và 70 tấn khoai. Con số có vẻ nhiều, nhưng trên thực tế không nhiều lắm đâu. Chúng tôi ước lượng số người mà chúng tôi tiếp cận được để giúp đỡ không nhiều, khoảng 15.000 gia đình."

Tham gia chương trình mang tên “Hạt gạo yêu thương” mà cha Phúc đề cập ở trên, có các tu sĩ nam nữ của Dòng Mến Thánh Giá và Dòng Tên. Họ đã lập 4 trạm phân phối lương thực tại 4 vùng biên Sài Gòn: Cộng đoàn Mến Thánh Giá Thủ Thiêm ở Xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Cộng đoàn Mến Thánh Giá Chợ Quán ở xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Cộng đoàn Mến Thánh Giá Tân Việt ở Phường Tân Quy, quận Tân Phú, và Cộng đoàn Dòng Tên ở phường Linh Trung, quận Thủ Đức.

Trả lời RFI Việt ngữ ngày 20/08, sơ Maria Trần Thị Thu Thủy, Hội Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán, cho biết về hoạt động của mạng lưới này:

“Chương trình "Hạt gạo yêu thương" dựa trên một mạng lưới gồm những người đã liên kết trong các mạng lưới công tác xã hội của các giáo dân, các dòng tu, kết hợp với các giáo xứ ở các vùng như Thủ Đức, Tân Phú, quận 8, Bình Chánh, Bình Hưng, Bình An, nói chung là liên kết với các dòng tu địa phương hay dòng tu quốc tế đang làm việc tại các vùng này. Bởi vì dịch này rất nguy hiểm, cho nên cần phải có các cơ sở với các đội ngũ các sơ hay các cha, có những nhà tập thể lớn, những khu để khi mình đưa hàng đến, phân phối xong rồi, mình mới kêu từng nơi đến lấy, tránh tình trạng dân nghèo cần thực phẩm quá nên họ bất chấp vấn đề an toàn.

Mình có tổ chức sẵn rồi, những ai mà mình chuẩn bị xong rồi, thì mình kêu trưởng nhóm của giáo xứ đó hay vùng đó, cho xe của các thiện nguyện viên chở đến để giao và phát, chụp hình ảnh, quay phim lại để cho biết là hàng cứu trợ đã tới tay người dân. Trước khi phân phối thì chúng tôi đã có một danh sách các giáo xứ, vùng trọ đó có bao nhiêu di dân. Những người nghèo đang cần thực phẩm mà chưa nhận được thì sẽ được phân phối sớm hơn."

Theo lời sơ Thủy, do các địa phương trong vùng Sài Gòn đều có các dòng tu, các nhà thờ, cho nên các tu sĩ và giáo dân thiện nguyện nắm bắt rất rõ nhu cầu của những người nghèo tại địa phương. Ví dụ như ở Tân Phú, Dòng Mến Thánh Giá Tân Việt có 30 sơ, gần đó các các khu nhà trọ, các sơ nắm rất rõ các khu nhà trợ đó qua việc liên kết với cha xứ, với các giáo dân của giáo xứ Tân Sơn Nhì. Trước khi phân phát thực phẩm, các sơ cũng đã đến tận nơi để quan sát tình hình.

Nhưng trong lúc Sài Gòn đang sống dưới lệnh phong tỏa, những chốt kiểm soát được dựng lên khắp nơi, các thiện nguyện viên của chương trình "Hạt gạo yêu thương", đặc biệt là các tài xế chở hàng cứu trợ gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng theo lời sơ Thủy, dù có thể bị phạt tiền, bị giữ xe, thậm chí bị tịch thu xe, các tài xế làm việc chương trình cứu trợ lượng thực vẫn không từ bỏ nhiệm vụ:

" Có một số người rất thiện chí, họ tìm mọi cách đưa thực phẩm đến người nghèo, tại vì khi đi quan sát thực tế như vậy, những người tài xế cũng thấy được những thiếu thốn của những người di dân, những công nhân nghèo đang cần thực phẩm như vậy. Những anh tài xế nhiệt tình hay có tâm đều không thể chịu nổi những cảnh như vậy, nên tìm mọi cách để hỗ trợ cho nhau.

Cái khó ở đây là chở về tới Sài Gòn nửa đêm rồi mà cũng bị giữ xe. Đi qua trạm này được rồi thì tới trạm khác phải nhờ Tòa Giám mục hoặc những người có uy tín trong công tác từ thiện can thiệp thì họ mới cho đi. Có giấy thông hành rồi, nhưng các trạm cũng kiếm một chuyện nào đó rồi mới cho qua. Thành ra nhiều tài xế từ các tỉnh vào cũng sợ lắm. Những xe phân khối nhỏ đi trong quận, đi liên quận thì cũng bị phạt, có khi 200 ngàn, 400 ngàn, 2 triệu.

Việc phân phối trong thời gian giới nghiêm này nói chung là gặp khó khăn. Cho nên, những thực phẩm ở dưới tỉnh thì có thừa, cần được "giải cứu" vì nông dân trồng mà bán không được, mình giải cứu về đến đây thì người nghèo đang cần, nhưng việc đến tay người nghèo cũng khó."

Mặt khác, làm công tác cứu trợ ngay giữa lúc Covid-19 đang hoành hành dữ dội, do tiếp xúc nhiều với người dân, nhiều sơ của Dòng Mến Thánh Giá cũng bị lây nhiễm theo lời Sơ Thủy:

" Cùng với mọi người, các dòng tu ở Việt Nam, chẳng hạn như dòng của mình thì cũng bị nhiều. Nhà chính bị nhiễm gần cả 200 người. Đó cũng là một khủng hoảng, nhưng sau ít ngày thì cũng được trấn tĩnh. Còn dòng Mến Thánh Giá Tân Việt, là dòng nhận các khối hàng lớn để phân phối, có 64 sơ mà cũng có đến 51 người bị nhiễm, nhưng bị nhiễm nhẹ thôi. Ở Bình Dương, cộng đoàn có bốn mươi mấy người, thì cũng bị nhiễm gần hết, chỉ có 3 người chưa bị nhiễm.

Nhưng về tinh thần, các sơ thấy người ta cần thực phẩm cho nên nghĩ rằng có thể mình bị Covid nhưng mình không chết, còn có những người có thể chết vì họ thiếu ăn, ăn thiếu chất, ăn không đủ vitamin, nên bị Covid bị quật chết, dễ dàng bị gục ngã, còn nếu họ có thức ăn đầy đủ trong mùa dịch này thì họ sẽ vượt qua được. Các sơ làm việc nhiệt tình quá nên có một số bị nhiễm nặng.

Như ghi nhận của cha Trương Văn Phúc, sự hy sinh của các tu sĩ, cũng như các giáo dân, cũng như của rất nhiều người khác tham gia cứu trợ người nghèo thể hiện một điều đó là tình liên đới xã hội đã trỗi dậy mạnh mẽ ở Sài Gòn trong cơn đại dịch. Và cũng chính trong lúc này mà Giáo hội Công Giáo càng thật sự là Giáo hội của người nghèo.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2078 Posted : Tuesday, August 31, 2021 11:13:42 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Afghanistan : Quân đội Mỹ rời khỏi Kabul, kết thúc cuộc chiến tranh 20 năm

31/08/2021 - Anh Vũ & Minh Anh / RFI
Theo thông báo của bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, rạng sáng ngày hôm nay 31/08/2021, những người lính Mỹ cuối cùng đã rời khỏi Kabul, để lại toàn bộ đất nước Afghanistan dưới sự kiểm soát cả Taliban, khép lại cuộc chiến tranh dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Trong một cuộc họp báo, tướng Kenneth McKenzie, chỉ huy trưởng các lực lượng Mỹ đóng tại Afghanistan, thông báo, vào lúc 19h29 phút, giờ quốc tế, ngày 30/08, chiếc máy bay vận tải quân sự C-17 cuối cùng của quân đội Mỹ đã cất cánh rời khỏi sân bay Kabul. Đại sứ Hoa Kỳ tại Kabul và một viên tướng nằm trong số những người Mỹ cuối cùng rời khỏi Afghanistan.

Ngay sau thông báo trên, Anas Haqqani, một lãnh đạo của phong trào Taliban đã hân hoan tuyên bố trên Twitter : « Chúng ta một lần nữa làm nên lịch sử. Hai mươi năm chiếm đóng Afghanistan của Hoa Kỳ và Nato đã kết thúc tối nay ».

Như vậy là Washington đã hoàn tất rút toàn bộ lực lượng ra khỏi Afghanistan 24 giờ trước khi hết ngày 31/08, hạn chót mà tổng thống Joe Biden đã ấn định. Hai mươi năm sau khi đưa quân vào Afghanistan lật đổ chính quyền Taliban năm 2001, và sau 15 ngày di tản trong hỗn loạn, Mỹ và các đồng minh phương Tây đã rời đi, để lại quyền cai quản đất nước cho phe Taliban.

Bộ Quốc Phòng Mỹ thừa nhận vẫn chưa thể đưa hết toàn bộ người Afghanistan muốn di tản như mong muốn. Theo số liệu của Lầu Năm Góc, cầu không vận bắt đầu từ ngày 14/08 đã đưa được tổng cộng 123.000 người. Ngày 30/08, ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken cho biết Washington hứa tiếp tục « giúp đỡ » tất cả những người Mỹ muốn rời Afghanistan và Hoa Kỳ sẽ làm việc với Taliban nếu họ giữ đúng cam kết. Theo ông Blinken, hiện vẫn còn khoảng từ 100 đến 200 công dân Mỹ kẹt lại ở Afghanistan. Cơ quan đại diện Mỹ tại Kabul đã được chuyển qua Doha (Qatar) để tiếp tục các hoạt động ngoại giao và lãnh sự.

Quân đội Mỹ cũng thông báo đã cho phá hủy toàn bộ các máy bay, xe bọc thép và hệ thống phòng không chống tên lửa trước khi rời khỏi sân bay Kabul.

Cuộc chiến tranh kéo dài và tiêu tốn tiền của nhất trong lịch sử nước Mỹ còn được khép lại bằng những mất mát đau thương trong những ngày cuối cùng. Vụ đánh bom khủng bố trước cửa sân bay Kabul nhóm Daech tại Afghanistan hôm 26/08 vừa rồi đã làm hơn 100 người chết, trong đó có 13 binh sĩ Mỹ.

Trong hai thập kỷ, ba đời tổng thống Mỹ nối tiếp sau George W. Bush đều muốn kết thúc cuộc chiến tranh Afghanistan. Chính quyền Donald Trump đã thương lượng thỏa thuận với Taliban năm 2020. Người kế nhiệm Joe Biden thực thi việc rút quân cuối cùng. Cuộc chiến tranh Afghanistan đã kết thúc như khi nó bắt đầu: Taliban nắm quyền.

Taliban ăn mừng chiến thắng

Ngay khi những người Mỹ sau cùng rời lãnh thổ, phe nổi dậy Taliban ngày 31/08/2021, đã tổ chức ăn mừng chiến thắng. Mang giày và áo chống đạn mầu be, bên trong là bộ quân phục rằn ri ngụy trang, tay cầm súng Mỹ, với lá cờ trắng in dòng tuyên thệ Shahada mầu đen, lực lượng đặc nhiệm của Taliban, có tên gọi « Badri 313 », diễu binh tại sân bay Kabul sáng nay, theo tường thuật của AFP.

Trước đó, những tiếng súng nổ vang lên ở Kabul mừng thắng lợi, ngay khi quân đội Mỹ thông báo kết thúc cuộc triệt thoái. Với Taliban, đây là một chiến thắng « lịch sử », 20 năm sau khi bị Mỹ - đứng đầu một liên quân quốc tế - đánh đuổi năm 2001, nay đã trở lại cầm quyền từ ngày 15/08/2021.

Tại sân bay Kabul, phát ngôn viên của Taliban, Zabihullah Mujahid, tuyên bố : « Chúc mừng Afghanistan (…) Chiến thắng này là của chúng ta, của mọi người dân Afghanistan ». Vẫn theo phát ngôn viên này, « đây là một bài học lớn cho bất kỳ kẻ xâm lược nào khác và cho cả thế hệ tương lai của chúng ta » và « đây cũng là một bài học cho cả thế giới ». « Hôm nay là một ngày lịch sử, đây là một thời khắc lịch sử và chúng ta tự hào về ngày hôm nay ». Trước báo giới, Zabihullah Mujahid còn tuyên bố « mong muốn có quan hệ tốt với Hoa Kỳ và thế giới ».

Nổi tiếng với những đạo luật hà khắc, trở lại cầm quyền lần này, Taliban đã ra sức chứng tỏ một diện mạo mới cởi mở và hòa dịu hơn, nhưng vẫn còn gây nghi ngại đối với nhiều nước và nhiều nhà quan sát.

Để trấn an phương Tây và thế giới, Taliban cam kết không trả thù những người từng cộng tác cho chính quyền cũ, tiến hành thành lập một chính phủ mở rộng cho nhiều phe phái khác, một khi toàn bộ các lực lượng quân sự nước ngoài rút đi.

Ông Zabihullah Mujahid nói tiếp : « Vương quốc Hồi Giáo tiến hành cuộc thánh chiến trong 20 năm qua. Giờ đây, vương quốc có đủ các quyền để điều hành một chính phủ sắp tới. Việc còn lại là thành lập một chính phủ bao gồm mọi thành phần ».

Vẫn theo AFP, Taliban chỉ trích phương Tây đã dẫn theo họ nhiều nhà trí thức giỏi nhất của Afghanistan. Taliban giờ phải bắt tay vào một nhiệm vụ to lớn mà không có giới trí thức : Vực dậy một đất nước và một nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề.



Afghanistan : Hội Đồng Bảo An ra nghị quyết về di tản, không đề cập "vùng an toàn"

31/08/2021 - Thụy My / RFI
Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc hôm qua 30/08/2021 đã thông qua một nghị quyết về Afghanistan, kêu gọi phe Taliban tôn trọng các lời hứa, và để cho những ai muốn di tản được ra đi. Nhưng nghị quyết không đề cập đến vùng an toàn như tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã đề nghị cuối tuần qua.

Từ New York, thông tín viên Loubna Anaki tường trình :

« Cuộc họp được cho là nhằm tìm ra giải pháp khẩn cấp để tiếp tục di tản, một khi người Mỹ đã ra đi. Nhưng rốt cuộc, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc chỉ đưa ra một nghị quyết kêu gọi ‘‘phe Taliban tôn trọng các lời hứa, và để cho những người ngoại quốc cũng như người Afghanistan nào muốn di tản được ra khỏi nước’’.

Như vậy đây chỉ mới là kêu gọi, và hiện chưa phải là một nghị quyết mang tính ràng buộc. Đại diện Estonia hôm qua cho biết đã hy vọng vào một chủ trương cứng rắn hơn, chỉ trích Hội Đồng Bảo An không có hành động nào.

Về phía Anh Quốc, Hoa Kỳ và Pháp, cuối tuần rồi đã loan báo sẽ thiết lập một vùng an toàn, các nước này nói rằng đó là bước đầu trong khi chờ đợi xem xét hành động của Taliban một khi họ lập xong chính phủ. Đại sứ Anh giải thích : ‘‘Chúng tôi có các phương tiện gây áp lực, và có thể áp đặt trừng phạt nếu cần thiết’’.

Trên thực tế, các thành viên Hội Đồng Bảo An đã phải giảm nhẹ tầm mức vì Nga và Trung Quốc hôm qua vắng mặt, không bỏ phiếu ».



Afghanistan: Taliban đề nghị Thổ Nhĩ Kỳ điều hành sân bay Kabul

RFI - 31/08/2021
Việc quân Mỹ kết thúc cuộc triệt thoái khỏi Afghanistan hôm nay, 31/08/2021, đang đặt ra vấn đề về kiểm soát sân bay quốc tế Kabul, địa điểm chính để tiến hành các hoạt động cứu trợ nhân đạo. Đây là vấn đề đang đuợc đàm phán giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Taliban.

Phía Taliban đã đề nghị với tổng thống Recep Tayyip Erdogan là Thổ Nhĩ Kỳ đảm nhiệm việc điều hành sân bay Kabul. Nếu như thoả thuận này được ký kết, lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ hy vọng sẽ có thêm nhiều lợi thế trên trường quốc tế.

Từ Istanbul, thông tín viên Anne Andlauer tường trình:

« Miễn là Taliban để họ bảo đảm an ninh cho các nhân viên tham gia vào sự vận hành của sân bay Kabul, chính quyền Ankara sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ đầy rủi ro này.

Khi báo chí trong nước hỏi về những động cơ thúc đầy họ chấp nhận điều hành sân bay Kabul, các lãnh đạo Thổ Nhỹ Kỳ giải thích rằng nước này muốn bảo đảm cho Afghanistan « không bị cắt đứt với thế giới hiện đại, văn minh », « duy trì các kênh chính trị, kinh tế rộng mở » và « giúp đỡ những người anh em Afghanistan ».

Chắc chắn Thổ Nhĩ Kỳ mong muốn có được các lợi ích kinh tế. Nhưng đây không phải là mục tiêu chính của tổng thống Recep Tayyip Erdogan. Cũng gần giống như cách mà ông đã làm với Libya vào năm ngoái, tổng thống Erdogan muốn Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một tác nhân quan trọng trong khu vực, nhất là trong khối các nước Hồi Giáo. Ông cũng muốn tìm cách cải thiện hình ảnh của Thổ nhĩ Kỳ đối với Mỹ và khối liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương, hy vọng thu được các mối lợi về chính trị nội bộ, bởi vì hiện nay vị thế đảng AKP của ông đang bị suy yếu.

Cuối cùng, giúp cho Afghanistan không rơi vào tình trạng hỗn loạn cũng là cách để hạn chế tối đa các đợt di cư mà chiến thắng của phe Taliban gây ra ».



Mỹ hoàn tất rút quân khỏi Afghanistan sau cuộc chiến 20 năm

31/08/2021 - Voa / Reuters
Mỹ hoàn tất việc rút quân khỏi Afghanistan, Ngũ Giác Đài tuyên bố ngày 30/8, sau cuộc di tản hỗn loạn hàng ngàn người Mỹ và đồng minh Afghanistan, chấm dứt sự can dự của Mỹ sau 20 năm chiến tranh.

Chiến dịch di tản chấm dứt trước hạn chót 31/8 do Tổng thống Joe Biden ấn định. Ông Biden bị chỉ trích mạnh mẽ từ hai đảng Dân chủ và Cộng hòa về cách xử lý vấn đề Afghanistan kể từ khi Taliban tiến nhanh và chiếm Kabul trong tháng này.

Tin mới được Đại tướng Frank McKenzie, tư lệnh Bộ Chỉ huy Trung tâm, loan báo và cho biết nhà ngoại giao trưởng của Mỹ tại Afghanistan, ông Ross Wilson, là người trên chuyến máy bay C-17 cuối cùng rời khỏi nước này.

Washington và các đồng minh NATO khẩn trương rút quân trước thời hạn chót 31/8, để lại đằng sau hàng ngàn người Afghanistan đã giúp các nước phương Tây và có thể đủ điều kiện để được di tản.

Tướng McKenzie cho hay chuyến bay cuối cùng thiếu vài chục người Mỹ không đến được phi trường.

Hơn 122.000 người đã được không vận ra khỏi Kabul kể từ ngày 14/8, một ngày trước khi Taliban chiếm quyền kiểm soát nước này hai thập niên sau khi bị lật đổ bởi cuộc xâm chiếm do Mỹ lãnh đạo vào năm 2001.

Mỹ và đồng minh phương Tây vội vã cứu công dân của mình cũng như các thông dịch viên, nhân viên địa phương làm việc cho tòa đại sứ, các nhà hoạt động nhân quyền, các nhà báo và những người Afghanistan khác dễ bị Taliban trả thù.

Cuộc di tản trở nên nguy hiểm hơn khi một cuộc tấn công tự sát do Nhà nước Hồi giáo nhận trách nhiệm thực hiện khiến 13 quân nhân Mỹ thiệt mạng và nhiều người Afghanistan chết trong khi chờ đợi tại cổng phi trường ngày 26/8. Nhà nước Hồi giáo vốn là kẻ thù của phương Tây và Taliban.

Đa số hơn 20 nước đồng minh tham gia di tản công dân của họ và những người Afghanistan ra khỏi Kabul loan báo đã hoàn tất di tản.

Hai giới chức Mỹ nói các nhân viên ngoại giao “quan trọng” nằm trong số 6.000 người Mỹ đã di tản.

Tuy nhiên, hàng ngàn người Afghanistan còn bị bỏ rơi phía sau, và cảnh tượng hỗn loạn bên ngoài phi trường Kabul trong hai tuần qua, nơi hàng ngàn người đổ xô đến mỗi ngày, là một hồi kết cay đắng đối với phương Tây sau hai thập niên can dự tại Afghanistan.




Taliban ăn mừng chiến thắng khi binh sĩ Mỹ cuối cùng rời Afghanistan

31/08/2021 - Voa / Reuters
Tiếng súng ăn mừng đã vang lên khắp thủ đô Kabul hôm 31/8 khi các tay súng Taliban giành quyền kiểm soát sân bay trước bình minh, sau khi binh sĩ Mỹ cuối cùng rút khỏi Afghanistan, theo Reuters.

Đoạn video được Taliban phát đi cho thấy các tay súng tiến vào sân bay sau khi các binh sĩ cuối cùng của Mỹ lên máy bay C-17 bay đi một phút trước nửa đêm.

“Đó là một ngày lịch sử và một thời khắc lịch sử”, phát ngôn viên của Taliban Zabihullah Mujahid nói trong một cuộc họp báo tại sân bay. “Chúng tôi tự hào về những khoảnh khắc này, rằng chúng tôi đã giải phóng đất nước mình khỏi một cường quốc.”

Một bức ảnh của Lầu Năm Góc được chụp bằng kính quang học nhìn đêm cho thấy người lính Mỹ cuối cùng bước lên chuyến bay cuối cùng rời khỏi Kabul – đó là Thiếu tướng Chris Donahue, tư lệnh Sư đoàn Dù 82.

Cuộc chiến dài nhất này của Mỹ đã cướp đi sinh mạng của gần 2.500 lính Mỹ và ước khoảng 240.000 người Afghanistan, và tiêu tốn khoảng 2 nghìn tỷ đôla.

Hàng nghìn người Afghanistan đã tháo chạy vì lo sợ bị Taliban trả đũa. Hơn 123.000 người đã được sơ tán khỏi Kabul trong một cuộc không vận khổng lồ với sự hỗn loạn của Hoa Kỳ và các đồng minh trong hai tuần qua, nhưng vẫn còn hàng chục nghìn người đã từng cộng tác làm việc cho lực lượng phương Tây trong cuộc chiến đã bị bỏ lại phía sau.

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken ước tính là vẫn còn từ 100 đến 200 người, hoặc ít hơn, muốn rời đi nhưng không thể lên chuyến bay cuối cùng.

Ngoại trưởng Anh Dominic Raab cho biết số công dân Anh còn ở lại Afghanistan khoảng một vài trăm người, sau khi khoảng 5.000 người đã sơ tán.

Vào đêm trước, quân đội Mỹ đã phá hủy hơn 70 máy bay, hàng chục xe bọc thép và vô hiệu hóa hệ thống phòng không dùng để ngăn chặn một cuộc tấn công bằng tên lửa của Nhà nước Hồi giáo.



Bắc Kinh đòi các tàu phải khai báo khi đi qua "lãnh hải" Trung Quốc

31/08/2021 - Thụy My / RFI
Cuối tuần qua, Bắc Kinh tuyên bố kể từ ngày 01/09/2021, tức là chỉ vài ngày sau khi thông báo, các tàu nước ngoài đi qua vùng biển được coi là « lãnh hải » của Trung Quốc phải khai báo các thông tin chi tiết.

Theo Hoàn Cầu Thời Báo, quy định mới của Cơ quan An ninh Hàng hải Trung Quốc yêu cầu các tàu ngầm, tàu nguyên tử, tàu chở vật liệu phóng xạ, dầu lửa, hóa chất, khí hóa lỏng và các chất độc hại khác phải cung cấp các thông tin khi đi qua « vùng lãnh hải » Trung Quốc. Ngoài ra, « các tàu có thể gây nguy hiểm cho an toàn hàng hải Trung Quốc » cũng phải tuân thủ quy định này.

Những tàu này phải khai báo tên, số hiệu, vị trí, cảng sắp ghé và giờ dự định đến nơi. Tên các vật liệu nguy hiểm và trọng tải của tàu cũng phải được báo cáo.

Trang The Interpreter của Lowy Institute có trụ sở tại Úc cho biết, việc dung hòa giữa vấn đề an toàn và tự do hàng hải đã được quy định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Theo công ước này, các quốc gia ven biển không được ngăn trở tàu ngoại quốc đi qua vô hại trong lãnh hải của mình, trừ trường hợp đe dọa đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các hoạt động vũ trang.

Vấn đề ở đây là khái niệm « lãnh hải » của Bắc Kinh. Theo điều 2 Luật Biển và vùng tiếp giáp của Trung Quốc ngày 25/02/1992, « vùng lãnh hải » là vùng nước tiếp giáp với lãnh thổ Trung Quốc, mà lãnh thổ đó được cho là bao gồm cả Đài Loan và các nhóm đảo khác như Điếu Ngư, Bành Hồ, Đông Sa, Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam), Nam Sa (tức Trường Sa). Có nghĩa là nằm trong « đường lưỡi bò » mà Bắc Kinh tự vẽ, bao phủ gần như toàn bộ Biển Đông.

Một điểm nhập nhằng khác là chiến hạm các nước nhất là của Mỹ có thể bị diễn giải là « tàu gây nguy hiểm cho an toàn hàng hải Trung Quốc ».

Hiện chưa biết Trung Quốc tìm cách áp đặt quy định mới như thế nào, và cộng đồng quốc tế phản ứng ra sao. Nhưng nếu không bảo đảm quyền đi qua vô hại vốn được Hoa Kỳ rất coi trọng, Bắc Kinh có thể gây thêm căng thẳng tại Biển Đông.

Phát hiện mới về chủ quyền Hoàng Sa

Riêng về yêu sách chủ quyền quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ Việt Nam Cộng Hòa năm 1974, nhà nghiên cứu Bill Hayton của Anh hôm 26/08 đã công bố một phát hiện mới. Đó là bản dịch sang tiếng Anh một lá thư từ năm 1899 của Tổng lý Nha môn, tức bộ Ngoại Giao của triều đình Mãn Thanh, xác nhận Hoàng Sa nằm ở vùng khơi xa, có nghĩa là không thuộc về Trung Quốc.

Tư liệu mới này bổ sung cho nghiên cứu trước đây của bà Monique Chemillier-Gendreau trích từ văn khố Pháp, nêu vài trường hợp từ thế kỷ 19. Hai chiếc tàu Bellona của Đức và Imegi Maru của Nhật chở nguyên liệu đồng được các hãng Anh bảo hiểm, đi qua Hoàng Sa năm 1895-1896 bị ngư dân Trung Quốc cướp. Trả lời bộ Ngoại Giao Anh, các viên chức Hải Nam bác bỏ mọi liên can, nói rằng Hoàng Sa là hoang đảo không thuộc chủ quyền Trung Quốc.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2079 Posted : Wednesday, September 1, 2021 8:26:47 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Tổng thống Biden : Rút quân khỏi Afghanistan là sự « lựa chọn tốt nhất »

01/09/2021 - Thanh Hà / RFI
Rút quân khỏi Afghanistan là một « quyết định khôn ngoan và tốt nhất đối với Hoa Kỳ », chiến dịch di tản hàng trăm ngàn người trong những ngày qua là một « thành công ngoạn mục ». Trong bài phát biểu hôm 31/08/2021, tổng thống Joe Biden đã tuyên bố như trên và một lần nữa mạnh mẽ bảo vệ quyết định kết thúc cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của nước Mỹ.

Vào lúc tại thủ đô Kabul quân Taliban reo hò chiến thắng sau khi những người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Afghanistan, tại Washington, với giọng điệu cứng rắn, tổng thống Biden cảnh báo Hoa Kỳ sẽ tiếp tục săn lùng quân khủng bố. Thông điệp này nhắm tới nhóm Hồi giáo cực đoan IS Khorasan, tác giả vụ tấn công làm 13 quân nhân Mỹ thiệt mạng và cả trăm người tử vong hôm 26/08/2021.

Nhưng theo giới quan sát, điều quan trọng nhất đối với ông Biden là dập tắt những chỉ trích của chính giới và công luận sau những hình ảnh hỗn loạn trong các cuộc di tản và vụ khủng bố đẫm máu gần phi trường quốc tế ở Kabul.

Thông tín viên RFI Guillaume Naudin từ Washington cho biết thêm :

« Trước ống kính truyền hình, tổng thống Mỹ thể hiện hình ảnh cương quyết và tinh thần chiến đấu cao. Sau chiến dịch di tản kéo dài 17 ngày ở quy mô lớn và sau một vụ khủng bố đẫm máu, Joe Biden nhắc lại vì sao ông đã quyết định rút quân. Nguyên thủ quốc gia Mỹ nói: “Trong cương vị ứng cử viên tổng thống, tôi từng cam kết với công dân Mỹ là sẽ chấm dứt cuộc chiến này. Hôm nay, tôi giữ lời cam kết đó. Đã đến lúc chúng ta phải thành thật trở lại với công luận”.

Đối với tổng thống Biden, không thể tiếp tục biện minh cho sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Afghanistan. Ông nói : “Sau hai thập niên, với những thành phần chủ trương tiếp tục chiến tranh Afghanistan, xin được hỏi rằng lợi ích quốc gia mang tính sống còn với chúng ta là gì ? Theo tôi, câu trả lời duy nhất đó là bảo đảm rằng Afghanistan không trở thành sào huyệt để khủng bố lại tiến hành những vụ tấn công nhắm vào đất nước chúng ta”.

Khủng bố, đó là kẻ thù của nước Mỹ. Ngay cả khi lính Mỹ không còn hiện diện tại chỗ, tổng tư lệnh tối cao của quân đội cảnh báo : Hoa Kỳ vẫn có thể ra tay. Joe Biden khẳng định : “Với những người muốn làm phương hại đến nước Mỹ, với những kẻ khủng bố chống lại chúng ta và những đồng minh của chúng ta, họ nên biết rằng Hoa Kỳ sẽ không dừng lại, sẽ không tha thứ và sẽ không quên. Mỹ sẽ tiếp tục truy đuổi đến cùng trời cuối đất và sẽ bắt những kẻ đó phải trả cái giá sau cùng”.

Trước mắt, hàng chục công dân Mỹ và hàng ngàn người Afghanistan vẫn đợi được di tản. Giải pháp ngoại giao được coi là một ưu tiên để thuyết phục quân Taliban giữ lời hứa ».

Về phản ứng trong nước, đảng Cộng Hòa đối lập mạnh mẽ chỉ trích Nhà Trắng về việc vẫn còn một số công dân Mỹ bị kẹt lại Afghanistan. Trong cuộc họp báo hôm 31/08/2021, dân biểu bang Texas Dan Crenshaw, từng tham chiến tại Afghanistan, đòi ông Biden phải « trả lời về những hành động, về những sai lầm » của chính quyền trong quyết định rút quân khỏi Afghanistan. Dan Crenshaw cho rằng Nhà Trắng đã quá nhân nhượng với Taliban, trong khi phong trào Hồi Giáo cực đoan này vẫn bị Washignton xếp vào danh sách các tổ chức khủng bố.



Các bài học về thất bại Afghanistan

30/08/2021 - Thụy My / RFI
Sự phân chia thế giới được đẩy nhanh ở châu Á, trung tâm của chiến tranh lạnh mới, với hai liên minh. Một bên là Trung Quốc, Nga, Iran, Pakistan, Afghanistan của Taliban, và bên kia là Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Đài Loan.

Bên cạnh việc bàn luận về chính trường Pháp trước cuộc bầu cử tổng thống sang năm, báo chí Paris tiếp tục đề cập đến những hệ lụy của việc Mỹ rút khỏi Afghanistan.

Đến lượt Taliban đối mặt với khủng bố

Le Monde nhận xét « Đến lượt Taliban phải đối mặt với thách thức khủng bố » : Trái với những khẳng định, phe này không diệt trừ được tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo (IS, Daech) tại Afghanistan, và nay phải chật vật với những chia rẽ nội bộ và sự hiện diện của «LKGFDSQ người bạn » Al Qaida.

Sự xuất hiện đột ngột của IS trên sân khấu là trở ngại lớn cho phe Taliban đang muốn chứng tỏ là người đối thoại đáng tin cậy. IS không hề bình luận gì về chiến thắng của Taliban hôm 15/08, trong khi tất cả các nhóm thánh chiến khác đều lên tiếng hoan nghênh. Theo Liên Hiệp Quốc, IS tại Afghanistan thiết lập được các tiếp xúc với những nhóm khủng bố khác, nhất là tại Pakistan, vốn thường xuyên tấn công các tiền đồn Pakistan dọc theo biên giới.

Bên cạnh đó, bất đồng trong nội bộ Taliban được nhận ra năm 2015 khi một nhóm ly khai mang tên Fedai Mahaz Tahrik Islami Afghanistan (Mặt trận Tự sát) công bố về cái chết của nhà lãnh đạo Taliban là giáo chủ Omar cách đó hai năm, dù ban lãnh đạo Taliban không muốn, để phản đối đường hướng của giáo chủ Mansour đang lãnh đạo trong bí mật. Hai bên đấu súng khiến Mansour bị thương nặng. Khi bắt đầu thương lượng với Mỹ tháng 10/2018, cũng đã có những đấu khẩu giữa phe muốn hòa giải và phe muốn tiếp tục chiến tranh, còn từ khi Kabul sụp đổ, là tranh cãi về một chính phủ « hòa hợp ».

Cạnh tranh với IS, nhưng mối quan hệ với Al Qaida vẫn gây lo ngại cho tương lai của Afghanistan trong tay Taliban. Quân thánh chiến Al Qaida lợi dụng mạng lưới tài chính ngầm của Taliban để đa dạng hóa nguồn thu, và có được sự trợ giúp đắc lực của thủ lãnh quân sự Taliban hiện nay, Sirajuddin Haqqani.

Afghanistan, bước ngoặt lịch sử như Sài Gòn 1975

Trong bài « Afghanistan : Các bài học từ một thất bại » đăng trên Le Figaro, tác giả Nicolas Baverez nhận định, 20 năm sau các vụ khủng bố ngày 11 tháng Chín, Taliban lại kiểm soát được Afghanistan, và việc triệt thoái của Hoa Kỳ trở thành cuộc tháo chạy tán loạn, đặc biệt với vụ khủng bố tự sát của quân thánh chiến ở phi trường Kabul. Nước Mỹ của Biden rời Afghanistan không chỉ bằng thất bại mà còn bị hạ nhục.

Chiến thắng của Taliban là một bước ngoặt lịch sử, có thể so sánh với sự kiện kênh đào Suez năm 1956, hay Sài Gòn sụp đổ năm 1975.

Đối với 40 triệu dân Afghanistan, đó là sự quay lại của thời kỳ đen tối trước đây, đất nước này lại trở thành hang ổ cho khủng bố quốc tế. Ngược lại, Taliban đã học được cách lãnh đạo và có kinh nghiệm ngoại giao. Họ tìm cách bù đắp lại việc mất viện trợ quốc tế chiếm 22% GDP qua việc bán cho Bắc Kinh các mỏ đồng, cobalt, lithium ; muốn dựa vào mối quan hệ với Trung Quốc, Nga, Iran, Pakistan để tránh bị cô lập như thời trước.

Sự sụp đổ của Kabul kích hoạt việc ngả sang một thế giới hậu Hoa Kỳ. Cung cách rút lui thảm hại làm mất uy tín của chính quyền Biden, làm lung lay niềm tin về việc bảo đảm an ninh của Mỹ. Bắc Kinh ngay lập tức lớn tiếng đe dọa Đài Loan. Cũng như hồi năm 2013, Barack Obama đặt ra lằn ranh đỏ với chế độ Damas, nhưng rốt cuộc thối lui không trừng phạt, đã mở đường cho việc Trung Quốc bành trướng trên Biển Đông và Nga xâm lược Crimée.

Hai liên minh của chiến tranh lạnh mới ở châu Á

Nguy cơ hiện nay là Trung Quốc dùng vũ lực tấn công Đài Loan để thử nghiệm quyết tâm của Mỹ. Sự phân chia thế giới được đẩy nhanh ở châu Á, trung tâm của chiến tranh lạnh mới, với hai liên minh. Một bên là Trung Quốc, Nga, Iran, Pakistan, Afghanistan của Taliban, và bên kia là Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Đài Loan.

Sau khủng hoảng tài chính năm 2008 và đại dịch Covid, thất bại Afghanistan là lời cảnh báo cho các nền dân chủ với mối đe dọa khủng bố và các thế lực đen tối đang lên. Theo tác giả Baverez, cần khẩn cấp tái lập một liên minh các quốc gia tự do, dựa trên ba cột trụ Mỹ, Âu, Á, không chỉ lệ thuộc vào Hoa Kỳ.

Sau thất bại ở Việt Nam, các nước này đã cùng với tổng thống Ronald Reagan thành công trong việc vượt qua khủng hoảng chính trị, đổi mới mô hình kinh tế, xây dựng lại quân đội, dẫn đến việc Liên Xô sụp đổ năm 1989 do hai điểm yếu là sản xuất và công nghệ. Tình hình hiện nay rất khác.

Hoa Kỳ đã đúng đắn khi đối đầu với Bắc Kinh, nhưng sức mạnh Mỹ đang đi xuống và quốc gia đang chia rẽ. Ngược lại, mối đe dọa Trung Quốc đáng ngại hơn Liên Xô cũ vì dựa vào tư bản và công nghệ chứ không chỉ ý thức hệ và năng lực quân sự. Về phía châu Âu đang là trung tâm hoạt động của quân thánh chiến, Mỹ triệt thoái mà không quan tâm đến các đồng minh. Không còn ảo tưởng về Joe Biden, châu Âu cần phải tự chủ chiến lược qua việc thành lập một liên minh an ninh. Riêng đối với Pháp, vấn đề an ninh trong và ngoài nước sẽ là chủ đề hàng đầu trong các cuộc tranh luận nhân kỳ bầu cử tổng thống 2022.

Trong cuộc chiến Afghanistan, thời gian đứng về phía Taliban

Nhà chính trị học Dominique Moisi trên Les Echos cho rằng « Afghanistan là một bi kịch đến từ xa ». Từ đầu thập niên 80, chính quyền Mỹ muốn biến Afghanistan thành « Việt Nam của Liên Xô ». Washington đã thành công, nhưng nay Afghanistan lại trở thành « Việt Nam thứ hai của nước Mỹ ».

Theo tác giả, phương Tây phải trả giá cho sự ngạo mạn và thiếu kiên nhẫn. Một tù nhân Taliban từng nói : « Các vị có đồng hồ, nhưng chúng tôi có thời gian ». Tại các nước dân chủ, các nhà lãnh đạo cần kết quả cụ thể và hầu như tức thời.

Bị cuốn theo người tiền nhiệm J.F.Kennedy vào cuộc chiến Việt Nam, tổng thống Lyndon Johnson chọn không ra tái ứng cử năm 1968. Ông Joe Biden khó thể biện minh với cử tri, không phải vì quyết định triệt thoái khỏi Afghanistan, mà vì sự nhục nhã khi ra đi : an ninh của các quân nhân Mỹ lệ thuộc vào IS và « lòng tốt » của Taliban. Phải chăng đó là « sự trở lại của nước Mỹ » ? Ông Moisi cho rằng không nên rơi vào cái bẫy bình thường hóa vô điều kiện với Taliban, vì như vậy là phản bội người Afghanistan thêm một lần nữa.

Việt Nam tháng Tư 1975 : Cuộc di tản ngoạn mục từ Cần Thơ

Về vấn đề di tản, trong bài viết « McNamara, vị lãnh sự Mỹ không bỏ rơi ai ở Việt Nam », Le Figaro cho biết ở tuổi 93, nhà cựu ngoại giao theo dõi thảm kịch Afghanistan và nhớ lại cuộc phiêu lưu lịch sử của mình. Tháng Tư năm 1975, chống lại chỉ thị của cấp trên, Terry McNamara, lãnh sự Mỹ ở Cần Thơ, đã cứu hàng ngàn người Việt bị Việt Cộng đe dọa, đưa các cộng sự ra đi bằng đường thủy.

Trong chiến dịch tấn công của quân Bắc Việt mùa xuân năm ấy, các thành phố lớn của Miền Nam lần lượt thất thủ, thủ đô Sài Gòn bị đe dọa. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa thiếu đạn dược trầm trọng, hỗ trợ về logistic và tài chính của Hoa Kỳ không còn, dù được cam kết khi ký hiệp định hòa bình năm 1973.

Người Mỹ âm thầm vạch ra kế hoạch di tản « Frequent Wind » (Gió Lốc), nhằm đưa tất cả công dân Mỹ khỏi Việt Nam, nhưng không báo cho các cộng sự người Việt. Đối với Cần Thơ, ba chiếc trực thăng được dành cho việc di tản 18 nhân viên lãnh sự trong đó có các nhân viên USAID, CIA và 6 thủy quân lục chiến. Nhưng Terry McNamara phản đối, nói với đại sứ Graham Martin ở Sài Gòn là sẽ đưa tất cả mọi người ra đi.

Bằng quan hệ, McNamara tìm được hai chiếc xà lan đổ bộ có sườn chống đạn chắc chắn, loại Mike Boat hay LCM (Landing Craft Mechanized), đưa về Cần Thơ, thận trọng cho đậu cách xa nhau. Cả hai được đổ đầy nhiên liệu, trữ lương thực và đạn dược. Trong suốt tháng Tư, ông lặng lẽ đóng cửa dần 16 chi nhánh ở đồng bằng sông Cửu Long, gởi từng nhóm người Mỹ và Việt ra đi ở Tân Sơn Nhứt theo những chuyến bay của Air America – biệt danh của công ty hàng không được CIA tài trợ, dành cho các hoạt động ở Đông Nam Á. Tổng cộng có 3.000 người, có những gia đình ra đi toàn bộ. Song song đó, ông liên lạc với Hải quân để có được điểm hẹn với một chiến hạm chỗ cửa sông đổ ra biển.

Những « boat people » đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa

Sáng 29 tháng Tư, đài phát thanh quân đội phát ra thông điệp mã hóa về việc di tản khẩn cấp công dân Mỹ « Nhiệt độ ở Sài Gòn là 105 độ và đang tăng lên », cùng với bài hát I’m Dreaming of a White Chrismas (Tôi Đang Mơ Một Giáng Sinh Tuyết Trắng). Ở Cần Thơ, những loạt đại bác bỗng nã vào trung tâm thành phố. Terry McNamara ra khỏi nhà, để nguyên tất cả đồ đạc để tránh nghi ngờ, cùng với những xấp đô la trong bao thư như đền bù cho những người phục vụ. Tại Tân Sơn Nhứt, nhiều trực thăng bị Việt Cộng bắn rơi, hai thủy quân lục chiến tử thương vì đạn moọc-chê.

Lãnh sự Cần Thơ gọi cho Jake Jacobson, người điều phối chiến dịch di tản, báo rằng sẽ ra đi bằng đường sông cùng với nhiều người Việt, không dùng đến ba chiếc trực thăng được phân bố. Dù bị phản đối kịch liệt, rốt cuộc ông thuyết phục được cấp trên. Khi khởi hành, ông ra lệnh tước tất cả vũ khí của hành khách, để tránh những cảnh như đã xảy ra ở Đà Nẵng, Nha Trang.

Rắc rối đầu tiên : Hai khinh hạm của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa áp sát đòi cho quay lại vì nghi ngờ hai chiếc Mike Boat chở lính đào ngũ, nhưng rốt cuộc được ra đi nhờ một cấp trên của họ can thiệp qua bộ đàm. Đi qua một nhóm đảo, rốc-kết của Việt Cộng bắn ra như mưa, thủy quân lục chiến Mỹ bắn trả, may mắn là mưa lớn ập xuống khiến hai bên không còn thấy nhau ở cách 10 mét.

Ra đến điểm hẹn, không có chiến hạm nào chờ đợi : Hải quân Mỹ đã quên họ. Những « thuyền nhân » đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa quyết định vẫn ra khơi. Đến tối, họ được chiếc Pioneer Contender vớt, đây là chiếc tàu được CIA gởi đi di tản nhân viên ở Đà Nẵng. Terry McNamara được coi như người hùng, nhưng ông bị Washington khiển trách vì bất tuân thượng lệnh. Nay thì chuyện cũ với bộ Ngoại Giao đã qua, nhưng không ai tham vấn ông về việc di tản khỏi Afghanistan. Nhà cựu ngoại giao mỉm cười : « Tôi hiểu. Ở Kabul, không cần đến nhà hàng hải ».

Đại sứ Pháp tận tụy vì người di tản Afghanistan

Cũng về di tản, một nhà ngoại giao khác được Le Figaro khen ngợi là ông David Martinon. Ông đã phục vụ đất nước đến giây phút cuối, tại vị trí nguy hiểm là đại sứ Pháp tại Afghanistan. Vì lý do an ninh, đại sứ sống một mình không mang theo vợ con, di chuyển bằng xe bọc thép và mang áo giáp chống đạn.

Đại sứ Martinon vừa rời Kabul tối thứ Sáu, khi Pháp kết thúc cầu không vận đã giúp di tản khoảng 100 người Pháp và 2.834 người Afghanistan. Ra được phi trường đã là một thành công vì đại sứ quán Pháp nằm sát Dinh tổng thống Afghanistan đã bị Taliban chiếm.

Thật ra nhờ quan sát kỹ tình hình tại chỗ, David Martinon đã tổ chức cho công dân Pháp và cộng sự người Afghanistan lần lượt ra đi từ tháng Năm, dù phải gánh chịu một số chỉ trích. Cựu đại sứ Pháp tại Mỹ Gérard Araud ca ngợi « thái độ gương mẫu của đại sứ và ê-kíp, làm bổn phận tại chỗ cho đến phút cuối », còn triết gia Bernard-Henri Lévy nhận xét « một vị thuyền trưởng là người cuối cùng rời khỏi con tàu sắp bị đắm ».



Mỹ rút quân khỏi Afghanistan, kết thúc kỷ nguyên tái thiết các nước bằng võ lực quân sự

01/09/2021 - Voa / Reuters
Trước những chỉ trích gay gắt về cuộc rút quân hỗn loạn của Mỹ ra khỏi Afghanistan, Tổng thống Mỹ Joe Biden ngày 31/8 tuyên bố đó là sự lựa chọn tốt nhất để kết thúc cuộc chiến dài nhất của Mỹ và nhiều chục năm nỗ lực tái thiết các nước bằng võ lực quân sự mà không hiệu quả.

Ông Biden mô tả cuộc rút quân trong hỗn loạn như một thành công về hậu cần mà cho dù có phát động sớm hơn nhiều tuần lễ cũng sẽ hỗn loạn như thế, trong khi lưu lại Afghanistan sẽ đòi hỏi tốn thêm binh sĩ Mỹ.

‘Tôi không để cho kéo dài cuộc chiến mãi mãi này,’ ông Biden phát biểu trong bài diễn văn từ Toà Bạch Ốc.

Trước đó cùng ngày, Taliban, phe chiếm quyền kiểm soát Afghanistan chớp nhoáng trong tháng này, ăn mừng chiến thắng, bắn súng chỉ thiên, đưa quan tài quấn cờ Mỹ và NATO đi diễu phố và sửa soạn thực thi quyền cai trị sau khi binh sĩ Mỹ cuối cùng rời đi.

Trong bài diễn văn đầu tuần này, Tổng thống Biden nói 90% người Mỹ muốn rời khỏi Afghanistan đã toại nguyện, và rằng Washington đã có đòn bẩy đối với Taliban để đảm bảo 100-200 người khác cũng có thể ra khỏi Afghanistan nếu họ muốn.

Tổng thống Mỹ nói Washington sẽ tiếp tục nhắm mục tiêu các phần tử chủ chiến ở Afghanistan nào đề ra mối đe doạ cho Hoa Kỳ, nhưng Mỹ sẽ không dùng quân sự để tìm cách xây dựng các xã hội dân chủ, liên kết tại những nơi chưa từng có những điều này.

“Quyết định này về vấn đề Afghanistan không chỉ liên quan tới Afghanistan mà là chấm dứt kỷ nguyên của các chiến dịch quân sự lớn nhằm tái thiết các nước.”

Phe Taliban hiện kiểm soát nhiều lãnh thổ hơn lần cai trị trước khi họ bị lật đổ vào năm 2001 khi cuộc chiến tranh dài nhất của Mỹ bắt đầu. Gần 2.500 binh sĩ Mỹ và khoảng 240.000 người Afghanistan thiệt mạng trong cuộc chiến. Phí tổn cho cuộc chiến này khoảng 2 ngàn tỷ đô la.

Hơn 123.000 người được di tản từ Kabul trong chiến dịch không vận khổng lồ đầy hỗn loạn do Mỹ và các đồng minh tiến hành trong hai tuần qua. Nhiều người từng hỗ trợ cho các nước Tây phương trong cuộc chiến vẫn còn bị kẹt lại ở Afghanistan.

Ông Biden nói giải pháp khác duy nhất có lẽ là tăng cường chiến đấu và tiếp tục cuộc chiến mà người Mỹ đã chán nản từ lâu. Nếu khởi sự rút quân vào tháng 6 hay tháng 7 như nhiều người đề nghị chỉ sẽ làm cho Taliban đạt thắng lợi nhanh hơn mà thôi, theo lời ông.

Tuy nhiên, quyết định của Tổng thống Biden không được lòng dân chúng: 51% người Mỹ không tán thành so với 38% ủng hộ cách rút quân của Tổng thống, theo cuộc thăm dò của Reuters/Ipsos.



Binh sĩ Mỹ rời Afghanistan, chuyện gì sắp xảy ra?

01/09/2021 - Voa / Reuters
Lần đầu tiên kể từ năm 2001, không có binh sĩ Mỹ tại Afghanistan sau khi Hoa Kỳ hoàn tất cuộc di tản hầu hết công dân Mỹ và hàng ngàn người Afghanistan rủi ro cao.

Hơn 114.000 người đã được không vận từ phi trường Kabul trong hai tuần qua trong khuôn khổ nỗ lực di tản của Mỹ.

Việc chấm dứt các can dự quân sự của Mỹ tại Asfghanistan đề ra một loạt các câu hỏi cho Tổng thống Joe Biden và chính quyền của ông.

Điều gì xảy ra cho người Mỹ và những người Afghanistan rủi ro cao bị bỏ lại phía sau?

Hoa Kỳ đã di tản hơn 5.500 công dân Mỹ kể từ khi những chuyến bay di tản khởi sự vào ngày 14/8. Một số nhỏ công dân Mỹ chọn giải pháp tiếp tục ở lại Afghanistan, nhiều người làm như vậy để có thể chung sống với thân nhân trong gia đình.

Chính quyền Biden nói họ hy vọng Taliban tiếp tục mở con đường an toàn cho công dân Mỹ và những người khác rời khỏi Afghanistan sau khi Mỹ hoàn tất cuộc rút quân.

Tuy nhiên người ta quan ngại làm thế nào các công dân ấy có thể rời đi khi mà không có một phi trường trong trạng thái hoạt động.

Hàng chục ngàn người Afghanistan rủi ro cao, như những thông dịch viên làm việc cho quân đội Mỹ, các ký giả và những người bênh vực cho nữ quyền, còn ở lại.

Hiện chưa rõ số phận của họ sẽ ra sao nhưng các giới chức quan ngại rằng Taliban có thể trả thù họ.

Taliban hứa sẽ cho phép rời khỏi Afghanistan tất cả người nước ngoài và công dân Afghanistan nào có giấy phép du hành từ một nước khác, theo tuyên bố chung được Anh, Mỹ và các nước khác công bố ngày 29/8.

Chuyện gì xảy ra cho phi trường Kabul sau khi lực lượng Mỹ rút đi?

Trong hai tuần qua, quân đội Mỹ bảo vệ và điều hành Phi trường Quốc tế Hamid Kazai tại Kabul với gần 6.000 binh sĩ.

Taliban đang thảo luận với các chính phủ như Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ mưu tìm sự giúp đỡ để tiếp tục vận hành các chuyến bay dân sự từ đây, con đường duy nhất đối với nhiều người để rời khỏi Afghanistan.

Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Mevlut Cavusoglu ngày 29/8 cho biết cần phải tu sửa phi trường Kabul trước khi có thể tái mở cửa cho những chuyến bay dân sự.

Thổ Nhĩ Kỳ, góp phần trong sứ mạng của NATO, chịu trách nhiệm giữ gìn an ninh phi trường trong 6 năm qua. Giữ cho phi trường này mở cửa sau khi các lực lượng nước ngoài trao lại quyền kiểm soát là điều thiết yếu không những chỉ giúp Afghanistan liên kết với thế giới mà còn giữ cho các hoạt động viện trợ được duy trì.

Quan hệ Mỹ-Taliban trong tương lai như thế nào?

Mỹ nói không có kế hoạch để lại các nhà ngoại giao tại Afghanistan và sẽ quyết định phải làm gì trong tương lai căn cứ trên hành động của Taliban.

Tuy nhiên chính quyền Biden sẽ phải quyết định làm thế nào có thể đảm bảo không bùng phát khủng hoảng nhân đạo và kinh tế tại Afghanistan.

Liên hiệp quốc cho hay hơn 18 triệu người- trên một nửa dân số Afghanistan- cần được viện trợ và phân nửa tổng số trẻ em Afghanistan dưới 5 tuổi đã bị suy dinh dưỡng kinh niên giữa đợt hạn thứ nhì trong bốn năm nay.

Một số nước, trong đó có Anh, tuyên bố không có nước nào nên công nhận song phương Taliban là chính phủ của Afghanistan.

Nhà nước Hồi giáo đề ra đe doạ gì?

Một lĩnh vực hợp tác giữa Mỹ và Taliban có thể xoay quanh mối đe dọa từ các phần tử chủ chiến Nhà nước Hồi giáo.

Có những câu hỏi về việc làm cách nào Washington và Taliban có thể phối hợp và thậm chí là có thể chia sẻ tin tức để chống lại ISIS.

Nhà nước Hồi giáo Khorasan (ISIS-K) lần đầu tiên xuất hiện tại miền đông Afghanistan vào cuối năm 2014 và nhanh chóng khét tiếng là cực kỳ tàn bạo.

Tổ chức này đã nhận trách nhiệm trong vụ đánh bom tự sát hôm 26/8 bên ngoài phi trường Kabul giết chết 13 binh sĩ Mỹ và nhiều thường dân Taliban khác.

Hoa Kỳ đã thực hiện ít nhất hai cuộc không kích bằng máy bay không người lái chống lại ISIS-K kể từ đó, và Tổng thống Biden cảnh báo chính quyền ông sẽ tiếp tục trả đũa vụ tấn công.

ISIS-K là kẻ thù không đội trời chung của Taliban. Tuy nhiên, theo các giới chức tình báo Mỹ, ISIS-K lợi dụng sự bất ổn dẫn tới sự sụp đổ trong tháng này của chính phủ Afghanistan do phương Tây hỗ trợ để củng cố vị thế và tăng cường tuyển mộ các thành viên bị loại của Taliban.



Các thủ lĩnh Taliban lên nắm quyền, đối mặt với các thách thức

VOA / AP - 01/09/2021
Những nhân vật Taliban nay là người cai trị mới ở Afghanistan đang đối mặt với những thách thức và khó khăn về kinh tế và an ninh khi họ trở lại nắm quyền tại một quốc gia khác rất nhiều so với 20 năm trước.

Khi họ cai trị lần gần đây nhất vào cuối những năm 1990, Afghanistan là một quốc gia nông nghiệp, nghèo nàn, và Taliban còn bận tâm đến việc áp đặt luật Hồi giáo khắc nghiệt theo cách của họ.

Lần này, họ được tiếp quản một xã hội phát triển hơn với một tầng lớp trung lưu nhỏ, nhưng với một nền kinh tế đã bị tàn phá bởi chiến tranh và tham nhũng.

Ngay cả trước khi Taliban đánh chiếm Kabul vào ngày 15/8, tỷ lệ thất nghiệp là hơn 30% và hơn một nửa người Afghanistan sống trong cảnh nghèo đói.

Một số thủ lĩnh Taliban hiện đang nắm quyền ở Kabul từng là người thuộc chế độ khắc nghiệt hơn hồi những năm 1990, nhưng họ dường như đã thay đổi trong những năm sống lưu vong.

Taliban ngày nay dường như có quan điểm hòa giải khi họ thúc giục các đối thủ cũ trở về nước và hứa sẽ không trả thù.

Cuộc trắc nghiệm lớn đầu tiên của họ là việc thành lập một chính phủ mới.

Họ đã hứa rằng nó sẽ bao gồm các nhân vật không thuộc Taliban, nhưng không rõ liệu họ có thực sự sẵn sàng chia sẻ quyền lực hay không.

Một chính phủ nhiều thành phần có thể giúp làm chậm một cuộc di cư ồ ạt của người Afghanistan, đặc biệt là những người trẻ tuổi và có học thức, và thuyết phục cộng đồng quốc tế tiếp tục gửi viện trợ đang rất cần thiết.



Taliban kêu gọi phương Tây mở lại đại sứ quán ở Afghanistan

01/09/2021 - Thu Hằng / RFI
Lực lượng Taliban vẫn đang đàm phán để thành lập chính phủ sau khi những người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Kabul. Ngoài đại sứ quán Nga và Trung Quốc vẫn hoạt động tại Afghanistan, lực lượng Taliban kêu gọi các nước phương Tây mở cửa trở lại cơ quan ngoại giao. Đây là hướng để Taliban tìm được tính chính đáng trên trường quốc tế.

Mỹ đã rút hết quân, nhưng lực lượng Taliban muốn có « những mối quan tốt » về ngoại giao với Washington. Cụ thể, theo phát biểu ngày 31/08 của người phát ngôn Zabiullah Mudjahed, Taliban « mong là họ (Hoa Kỳ) sẽ mở lại cửa đại sứ quán ở Kabul » và « cũng muốn có quan hệ thương mại với họ ».

Không chỉ kêu gọi Mỹ, Taliban cũng kêu gọi đại sứ quán các nước khác hoạt động trở lại với hy vọng được quốc tế ủng hộ và công nhận rộng rãi hơn. Một thành viên của ủy ban văn hóa Afghanistan phát biểu : « Thế giới nên công nhận chính phủ Afghanistan và hợp tác với chúng tôi để tái thiết và đầu tư ». Trước khi Taliban chiếm thủ đô ngày 15/08, có 36 nước có đại diện ngoại giao ở Kabul. Trong thời gian cầm quyền ở Afghanistan từ 1996 đến 2001, Taliban chỉ được 3 nước công nhận : Ả Rập Xê Út, Pakistan và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất.

Tuy nhiên, theo AFP, ngoài việc « tránh bị cô lập » trên trường quốc tế, chính quyền Taliban còn phải đối mặt với 4 thách thức khác : mất niềm tin, đặc biệt là ở phụ nữ và người dân thành thị có học thức ; khủng hoảng nhân đạo và kinh tế ; chảy máu chất xám và mối đe dọa khủng bố.

Qatar, nước đóng vai trò trung gian cho tiến trình hòa bình ở Afghanistan, đã kêu gọi lực lượng Taliban « cam kết » và « hợp tác chống khủng bố ». Trong buổi họp báo chung ngày 31/08 với đồng nhiệm Đức Heiko Maas ở Doha, ngoại trưởng Qatar Al Thani cho biết « Qatar sẽ tiếp tục mở các kênh liên lạc với các bên ở Afghanistan và hy vọng đạt được một đồng thuận quốc gia » để thành lập « chính phủ bao gồm tất cả các bên ».


Hoàng Thy Mai Thảo  
#2080 Posted : Thursday, September 2, 2021 8:26:37 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,405

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Người Việt giúp nhau trong bão Ida ở Mỹ

02/09/2021 - VOA Tiếng Việt
Siêu bão Ida quét qua bang Louisiana và Mississippi khiến gần một triệu người lâm vào cảnh khó khăn, mất điện trên diện rộng giữa lúc thời tiết nóng bức, thực phẩm khan hiếm và nguồn xăng dầu cạn kiệt. Các gia đình gốc Việt ở thành phố New Orleans, bang Louisiana, nơi bị thiệt hại nhiều nhất, tiếp tục chịu cảnh khổ như thế trong mấy ngày qua và nỗi lo của họ vẫn chưa dứt vì chưa biết bao giờ họ mới có thể quay lại cuộc sống bình thường.

Chính quyền thành phố New Orleans ban hành lệnh giới nghiêm vào ban đêm từ tối ngày 31/8 và những người đi sơ tán tránh bão vẫn chưa được quay về nhà vì không an toàn và tình trạng không điện, không nước, và rác rến trên đường phố vẫn chưa được xử lý.

Ông David Nguyễn, 55 tuổi, mô tả cảnh tang hoang sau bão ở thành phố New Orleans:

“Cả thành phố gần như thành phố chết. Không có điện. Nước thì lúc có lúc không. Trời nắng nóng trên 90 độ F (khoảng 33 độ C) kiểu này mà không có xăng chạy máy phát điện thì làm sao con nít chịu nổi.”

“Tất cả khách tại các cây xăng đều phải xếp hàng dài 3-4 miles (gần 5km-6.5km). Hai giờ sáng tôi đi xếp hàng gần đến sáng đến cây xăng thì hết xăng. Bây giờ chính quyền phải làm sao để xăng về đến khu West Bank, thành phố New Orleans!”, ông David Nguyễn khẩn thiết kêu cứu.

Hãng tin AP tường thuật rằng những người hàng xóm chia sẻ với nhau nguồn điện ít ỏi từ máy phát điện và xin từng xô nước lấy từ hồ bơi để tắm hoặc đổ vào bồn cầu.

Hơn 1 triệu ngôi nhà và cơ sở kinh doanh ở bang Louisiana - bao gồm toàn bộ thành phố New Orleans - và bang Mississippi đã bị mất điện khi bão Ida đánh sập mạng lưới điện vào hôm 29/8 với sức gió 240 km/giờ, lật đổ tháp tải điện lớn và đánh sập hàng nghìn km đường dây tải điện và hàng trăm trạm biến áp.

Đến nay chính quyền đã điều động hơn 25.000 công nhân làm việc để khôi phục lại điện, nước nhưng các quan chức cho biết việc phục hồi này có thể mất nhiều tuần. Theo đài CBS, tính đến ngày 2/9, đã có 6 người chết vì cơn bão Ida, trong đó có hai nhân viên điện lực thiệt mạng khi sửa chữa đường dây điện và một người đàn ông 71 tuổi bị cá sấu lôi đi trong nước lũ.

Người dân có một số nhà bị sập, bay mái… nhưng họ không ngủ được trong nhà vì trời quá nóng, xăng thì không có nên không thể chạy máy phát điện được. (Ông David Nguyễn)

Ông David Nguyễn mô tả thiệt sau bão:

“Người dân có một số nhà bị sập, bay mái… nhưng họ không ngủ được trong nhà vì trời quá nóng, xăng thì không có nên không thể chạy máy phát điện được.”

“Đa số người Việt chạy qua Texas hay Florida để tránh bão. Kế hoạch của tôi là đi qua Pensacola ở Florida, tạm thời sống với người anh một hai tuần, khi nào điện nước bình thường trở lại thì quay lại đây.”

Nhưng không phải ai cũng may mắn có được người thân để tá túc, bà Uyên Tô, một thợ làm móng, đã cùng chồng và bốn đứa con nhỏ di tản khỏi nhà trọ ở Kanner, New Orleans và tiến về thành phố Houston, bang Texas, để tránh bão trong khi chưa biết đích đến.

Nhưng như ông bà ta có câu “họa phúc tương sinh,” gia đình bà Uyên Tô gặp được ân nhân trợ giúp. Bà nói với VOA:

“Có một người bạn gửi cho tôi số phone của anh Côi Đinh, tôi gọi vô thì anh bắt máy, anh nói sẽ cho tụi tôi một nơi ở miễn phí.”

Bà Uyên Tô tâm sự rằng bà rất vui mừng vì bốn đứa con của vợ chồng bà, tuổi từ 5 đến 17, có được có chỗ ở tươm tất để tránh bão. “Nơi này rất tốt, nhà rộng rãi. Tụi tôi đi lánh nạn mà được chỗ ở như thế này là rất quý.”

Ông Côi Đinh, 56 tuổi, một nhà đầu tư bất động sản gốc Việt ở Houston, là người đã giúp cả chục gia đình người Việt tránh bão có được nơi nương tựa.

Ông Côi Đinh chia sẻ với VOA rằng ông không cầm được nước mắt khi chứng kiến các gia đình người Việt chật vật tránh bão Ida, cũng như các các cơn bão lớn trước đây.

Ông nói:

“Tôi là nhà đầu tư nhà cửa, mua nhà sửa chữa rồi bán lại. Nhưng thấy các gia đình bị bão tố, họ đi 24 tiếng mới tới đây vì thời tiết có bão, thay vì thông thường chỉ có 5-6 tiếng thôi, tôi cho họ vào ở.

“Những gia đình cũng cho tôi biết rằng nhà của họ ở New Orleans đã bị cúp điện và cúp nước, và họ không thể quay trở lại đó trong 7-30 ngày sắp đến.

“Hiện giờ các cơ quan chức năng đã khóa đường không cho họ quay trở lại New Orleans vì lý do an toàn,” nhà đầu tư địa ốc cho biết thêm. “Hiện giờ tôi giúp đỡ cho 8 gia đình vào trọ miễn phí để tránh bão,” ông Côi nói.

“Ai cũng lo lắng và sợ hãi. Có hai gia đình mang theo cả chó và mèo,” ông Côi chia sẻ.

Ông Côi Đinh viết trên Facebook: “Người ơi thương lấy dân New Orleans, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Hiện giờ tôi có 10 căn nhà mới tân trang xong rải rác quanh thành phố Houston, anh chị em nào ở New Orleans và phụ cận đang chạy bão cần chỗ ở tạm thời, vui lòng liên lạc tôi…Hoàn toàn miễn phí!”

Tôi rất vui vì được người Việt trong cộng đồng giúp đỡ” bà Uyên nói.

Điện, nước chưa có thì chưa thể quay về được. Công ăn việc làm vẫn không có vì tiệm nail mất điện nên không mở cửa, mấy đứa nhỏ vẫn chưa đến trường được. Phía trước vẫn còn khó khăn! (Bà Uyên Tô)

Bà Uyên Tô không tận mắt chứng kiến cảnh căn nhà thuê của gia đình bà ở New Orleans bị thiệt hại trong bão Ida do bà đã sơ tán trước đó. Bà kể qua lời của người bạn còn trụ lại ở News Orleans đang gồng mình khắc phục thiệt hại sau bão:

“Các cánh cửa bị đổ, trong nhà các tấm nệm bị ướt và hư hết rồi. Bạn tôi nói rằng chỗ đó các trụ điện bị gãy đổ hết, nước sinh hoạt thì không có. Nhà một số nơi bị tốc mái, tường bị đổ.”

“Điện, nước chưa có thì chưa thể quay về được. Công ăn việc làm vẫn không có vì tiệm nail mất điện nên không mở cửa, mấy đứa nhỏ vẫn chưa đến trường được. Phía trước vẫn còn khó khăn!”

Bà Uyên Tô nói ngày trở về New Orleans của gia đình bà vẫn còn xa.



Biến cố 11/9: Người đứng sau kế hoạch tái thiết khu Ground Zero

02/09/2021 - Voa / Reuters
Nhà phát triển địa ốc Larry Silverstein ký hợp đồng thuê Trung tâm Thương mại Thế giới tại New York trong thời hạn 99 năm với giá 3,2 tỉ đô la chỉ 6 tuần trước khi xảy ra cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9/2001. Ông nhớ lại đống đổ nát của Tòa Tháp Đôi ‘như là ngày xui xẻo nhất trong đời.”

Nay, sắp tới lễ tưởng niệm 20 năm biến cố 11/9, ông Silverstein nói điều đọng lại trong tâm trí ông chính là lòng tốt của người dân New York trong những ngày tháng sau đó.

“Hàng ngàn người New York quyết định xuống đó….Họ đơn giản là tình nguyện tự đặt mình vào vòng nguy hiểm khủng khiếp…và nỗ lực cứu người,” ông nói.

“Đây là lúc New York tốt nhất, đẹp nhất. Và tôi rất hãnh diện là người New York, Tôi rất hãnh diện khi thấy họ tới giúp hết sức có thể. Đó là điều tôi không bao giờ quên được.”

Tòa Tháp Đôi và những tòa nhà chung quanh bị phá hủy bởi những tay không tặc al Qaeda đánh cướp hai chiếc máy bay Mỹ, giết chết 2.753 người.

Ông Silverstein lúc đó 70 tuổi, đã sẵn sàng nghỉ hưu.

Hợp đồng ông Silverstein ký cho phép ông quyền quản lý và điều hành Tòa Tháp Đôi, Trung tâm Thương mại 4 và 5, và gần 40.000 mét vuông không gian kinh doanh bán lẻ. Hợp đồng cũng cho phép ông, trong vai trò người thuê, có quyền và nghĩa vụ phải xây dựng lại các toà nhà này nếu bị hủy hoại.

Ông Silverstein ngay lập tức quyết định tái thiết sau cuộc tấn công 11/9. Một cuộc chiến pháp lý dai dẳng với các công ty bảo hiểm đã diễn ra.

Vào năm 2007, thống đốc New York lúc bấy giờ Eliot Spitzer giúp chấm dứt gần 6 năm tranh chấp pháp lý giữa 7 công ty bảo hiểm Trung tâm Thương mại Thế giới với ông Silverstein.

Một kế hoạch được thành hình. Một quá trình thay hình biến dạng trong nhiều năm ròng đã biến khu vực thảm hoạ thành một hố khổng lồ, sau đó thành một địa điểm thi công được rào tường xung quanh, và cuối cùng, với khoảng 25 tỉ đô la, trở thành một địa điểm thu hút du khách và trung tâm thương mại với ba tòa nhà chọc trời, một trung tâm vận chuyển, một viện bảo tàng và một khu tưởng niệm.

Ông Silverstein tưởng toàn bộ địa điểm này sẽ được tái thiết trước năm 2020, nhưng mọi việc thay đổi sau khi một người thuê chính của hai Trung tâm Thương mại Thế giới rút chân.

“Chúng tôi vẫn chưa xong,” ông nói. “Nhưng vì tôi mới 90 tuổi. Tôi hãy còn nhiều thời gian.”



Afghanistan: Nguy cơ « dịch chuyển quyền xin tị nạn » ra ngoài Châu Âu

Đăng ngày: 02/09/2021 - Minh Anh / RFI
Vào lúc chính sách tiếp nhận người tị nạn Afghanistan trong những ngày gần đây đang gây ra tranh cãi, thì quyền xin tị nạn hơn bao giờ hết cũng làm dấy lên nhiều nghi vấn. Đan Mạch và Anh Quốc thông báo muốn « dịch chuyển các đơn xin tị nạn » sang những trung tâm xử lý nằm ngoài khu vực châu Âu. Một hình thức ủy thác nguyên tắc bảo vệ người tị nạn ? Công ước Genève về quyền tị nạn đang bị « chà đạp » ?

Công ước Geneve có còn giá trị sau 70 năm?

Ngày 15/08/2021, Taliban trở lại cầm quyền sau 20 năm tiến hành thánh chiến. Còn Hoa Kỳ và các đồng minh phương Tây vừa vội vã rút quân, vừa hối hả đưa những người Afghanistan trốn tránh Taliban. Những hình ảnh hỗn loạn tại sân bay Kabul đập vào mắt mọi người khiến thế giới quên đi rằng năm nay là đúng 70 năm ngày Công ước Geneve về quyền tị nạn được ký kết, chính xác là ngày 28/07/1951.

Bà Maria Arena1, nghị sĩ châu Âu người Bỉ, trên đài France Culture đã nhắc lại Công ước quy định : « Tất cả những ai gặp nguy hiểm tại nơi mình sinh sống và phải bỏ chạy khỏi đất nước đều có quyền được bảo vệ và người đó có quyền xin sự bảo hộ đó tại nơi nào mà họ muốn. Nghĩa là người đó có quyền tự do đi lại. Do vậy chúng ta không thể áp đặt nơi chốn nào họ phải xin sự bảo hộ đó »,

Những quyền này liệu có còn giá trị hay được tôn trọng, vào lúc phương Tây, nhất là nhiều nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu, trước những làn sóng di dân ồ ạt đã , cho di dời các trung tâm tị nạn sang các nước khác như Rwanda hay Erythréa?

Nhật báo kinh tế Les Echos cho biết ngày 03/06/2021, Đan Mạch – một trong số các nước có chính sách di dân nghiêm ngặt nhất – đã thông qua một đạo luật cho phép nước này mở nhiều trung tâm cho những người xin tị nạn. Theo luật đó, những ai xin tị nạn tại Đan Mạch, một khi đơn xin được nhận – ngoại trừ một số trường hợp được miễn như bệnh nặng, họ sẽ được chuyển đến một trung tâm tiếp nhận nằm ngoài lãnh thổ Liên Hiệp Châu Âu.

Luật cũng quy định, « nếu bị từ chối, người xin tị nạn buộc phải rời nước tiếp nhận. Ngay cả những ai được hưởng quy chế tị nạn cũng sẽ không được phép trở lại Đan Mạch, mà họ chỉ đơn giản có được quy chế tị nạn tại một nước thứ ba » mà Đan Mạch có ký kết thỏa thuận, theo như lưu ý của ông Martin Lemberg-Pedersen, chuyên gia về vấn đề di dân, trường đại học Copenhague. Và chính sách này dường như cũng được Anh Quốc quan tâm đến.

Việt Nam : Bài học kinh nghiệm xử lý tị nạn từ xa ?

Khủng hoảng Afghanistan đang làm dấy lên những cuộc tranh cãi về người tị nạn và quyền tị nạn. Cuối cùng rồi những người tị nạn Afghanistan sẽ đi về đâu ? Đến các nước châu Âu ? Hay đến Mỹ, nơi mà họ hy vọng làm lại cuộc đời ? Hay là bị đưa đến các nước thứ ba, những nước mà các quốc gia phát triển có ký kết những thỏa thuận như Rwanda hay Ouganda ?

Luật gia Jean-Pierre Alaux2, cũng trên đài phát thanh France Culture khẳng định xu hướng quản lý và xử lý hồ sơ xin tị nạn từ xa này không chỉ đã bắt đầu từ châu Âu, mà Mỹ cũng có những hợp đồng tương tự: « Khoảng 51 người tị nạn Afghanistan đã được đưa đến lãnh thổ Rwanda theo đề nghị của Mỹ. Ngoài ra, Somaliland, Colombia…cũng có các thỏa thuận với Hoa Kỳ ».

Tuy nhiên, giáo sư Gérard-François Dumont3, lưu ý rằng, về mặt bản chất, vấn đề di dân tự bản thân nó đã là một vấn đề nằm ngoài lãnh thổ. Và theo ông chí ít, có hai kiểu di dân: « Trong một số trường hợp, nước nhận đơn xin tị nạn không phải chịu một trách nhiệm nào về những nguyên nhân dẫn đến việc nộp đơn xin tị nạn (…) Ngược lại, còn có kiểu di dân dẫn đến việc xin tị nạn là vì chúng ta có những trách nhiệm trong vấn đề này. Đó là do những cuộc can thiệp của chúng ta đã dẫn đến sự bất ổn cho một đất nước. »

Đây chính là những gì người ta đã nhìn thấy tại Syria, Libya và giờ là Afghanistan. Trong những hồ sơ này, phương Tây đều có trách nhiệm. Cũng theo ông Gérard-François Dumont, nếu nhìn lại lịch sử, chính sách « giao khoán » hay « giao thầu » việc xử lý đơn xin tị nạn cho một nước khác đã tồn tại từ nhiều thập niên trước, mà Việt Nam sau năm 1975 là một ví dụ rõ nét nhất.

Vị giáo sư về địa lý học, dân số học này nhắc lại : « Những gì xảy ra sau năm 1975, dĩ nhiên, một mặt có chuyện thuyền nhân, nhưng mặt khác người ta thường hay quên là còn có hàng trăm ngàn người Việt Nam, và nhất là người Cam Bốt, bị nhốt trong những trại tị nạn ở Thái Lan. Bởi vì trên thực tế, đơn xin tị nạn phải được nộp ngay tại những trại này ở Thái Lan. Không có gì khổ bằng khi một số người nhìn thấy đơn xin tị nạn của mình bị từ chối, trong khi có những người khác lại được chấp nhận đến nước này hay nước kia ».

Công ước Geneve : Mỗi nước một phách

Trước những cuộc khủng hoảng di dân dồn dập, phải chăng Công ước Geneve, năm nay mừng 70 tuổi, đang bị « chà đạp » ? Việc Đan Mạch – quốc gia có tham gia ký kết Công ước – « dịch chuyển quyền tị nạn » sang một quốc gia không tham gia Công ước đã làm dấy lên nhiều lời chỉ trích.

Nếu như văn bản quốc tế này mang lại quyền tị nạn bình đẳng cho tất cả mọi người, thì việc áp dụng lại gặp nhiều trở ngại, tùy thuộc vào cách diễn giải của từng nước có ký kết Công ước Geneve, theo như giải thích của giáo sư Dumont;

« Trên thực tế, tùy theo các nước châu Âu và còn tùy cả sự hiểu biết, kỹ năng, mà việc áp dụng Công ước lại rất khác nhau. Đơn giản chỉ vì có vài nước châu Âu đã áp dụng Công ước này từ nhiều thập niên qua, trong khi nhiều nước khác áp dụng muộn hơn, do mới tham gia ký kết gần đây. Cho nên, sự khác biệt trong cách áp dụng là một điều quan trọng.

Ngoài ra, cần phải lưu ý thêm là người xin tị nạn cũng có quyền tự do trong việc lựa chọn nơi xin tị nạn. Họ có xu hướng chọn những nơi mà họ nghĩ rằng cơ hội được chấp nhận tị nạn cao hơn.

Hơn nữa, chúng ta còn chưa nói đến khái niệm quốc gia an toàn. Nghĩa là nước Đức có thể từ chối đơn xin tị nạn của một người đến từ một nước mà Đức cho là an toàn và không ai bị trấn áp cả. Danh sách các nước an toàn của Đức và của Pháp là không giống nhau ! »

Phương Tây luôn là điểm đến lý tưởng cho nhiều dòng di dân. Ông Jean-Pierre Alaux cho rằng đó còn là do hai đặc tính hấp dẫn. Thứ nhất là do đời sống kinh tế cao và nhiều khả năng hội nhập xã hội, tìm kiếm việc làm. Thứ hai, nền tư pháp rõ ràng, vững chắc, và một bộ máy hành chính hiệu quả.

Trước làn sóng di dân lớn, phương Tây có xu hướng tìm cách xóa tan hai tính hấp dẫn đó, khi giao phó việc quản lý đơn xin tị nạn cho một nước thứ ba. Nhưng bằng cách nào ? Vị luật gia này giải thích : « Về mặt địa lý, khi giữ người xin tị nạn ở xa, bằng cách cấm họ tiếp cận các cơ sở bảo đảm hợp pháp, cho phép họ cầu cứu, cầu viện đến tư pháp, và bằng cách hướng họ đến những quốc gia không có nhân quyền hay tình trạng nhân quyền tối thiểu, và như vậy họ không có một sự bảo đảm nào là sẽ được bảo vệ một cách hiệu quả. »

Hỗ trợ các nước lân cận và rủi ro di dân chọn lọc

Dẫu sao thì các chuyên gia cũng có cùng chung một nhận định : Khi một nước bất ổn, thì các nước lân cận là những quốc gia bị ảnh hưởng trước tiên. Liên Hiệp Quốc dự báo thế giới sẽ có thêm nửa triệu người tị nạn Afghanistan trong năm 2021. Để tránh tái diễn khủng hoảng di dân như năm 2015, Liên Hiệp Châu Âu đã có cuộc họp trong ngày thứ Ba 31/08/2021 nhằm tìm kiếm một chiến lược đối phó.

Một mặt nhiều nước thành viên Bắc Âu bày tỏ lập trường cứng rắn khi kêu gọi người dân Afghanistan « hãy ở gần nhà và gần nền văn hóa », « hãy ở tại chỗ, và chúng tôi sẽ hỗ trợ cho khu vực ». Mặt khác, Liên Hiệp Châu Âu dự trù một gói hỗ trợ tài chính cho các nước lân cận của Afghanistan như Pakistan và Tadjikistan. Liên Âu dự trù một khoản ngân sách 80 tỷ euro để hỗ trợ các nước này tiếp đón người tị nạn.

Cách tốt nhất để tránh một cuộc khủng hoảng di dân là tránh một cuộc khủng hoảng nhân đạo, theo như tuyên bố của ủy viên Châu Âu Ylva Johansson sau cuộc họp. Chỉ có điều, như lưu ý của nữ nghị sĩ châu Âu Maria Arena, giải pháp này có nguy cơ bị biến thành một kiểu chính sách « di dân có chọn lọc »:

« Điều quan trọng là có thể trao thêm khả năng cho các nước tiếp nhận những người chạy trốn chế độ Taliban. Liệu rằng ngay từ ban đầu, tại những nước đó, người ta có thể nộp đơn xin tị nạn ? Đương nhiên là Có. Đây chính là điều mà họ gọi là thủ tục tái định cư. Tuy nhiên, nên cẩn thận với thủ tục tái định cư này, bởi vì nó có thể được sử dụng như là một công cụ chọn lựa người tị nạn tốt. Người ta sẽ chọn những người nào mà họ thấy cần, đáng quan tâm như trường hợp của những Công giáo phương Đông, vốn dĩ đã gây ra nhiều cuộc tranh cãi. »

**********

Ghi chú:

1. Maria Arena: Nữ nghị sĩ châu Âu, thuộc nhóm Liên minh Cấp tiến Xã hội và Dân chủ ở Nghị Viện Châu Âu, chủ tịch Ban Nhân Quyền.

2. Jean-Pierre Alaux, luật gia, thành viên nhóm Thông tin và Hỗ trợ Di dân.

3. Gérard-François Dumont, nhà địa lý học, Dân số học, Kinh tế gia, giáo sư trường Đại học Paris IV Sorbonne.

Users browsing this topic
Guest (3)
105 Pages«<102103104105>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.