Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

2 Pages<12
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#21 Posted : Monday, November 16, 2020 1:33:58 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19: Ngành sản xuất hoa tươi ở Pháp cầu cứu

Tuấn Thảo - RFI - 16/11/2020
Cũng như ngành khách sạn, ngành trồng hoa ở Pháp nhằm cung cấp cho các tiệm hoa tươi hay các siêu thị lớn đã bị hai đợt phong tỏa tác hại nặng nề. Giới chuyên gia trong ngành đang lo lắng về sự tồn tại của các doanh nghiệp sản xuất cũng như về khối lượng hoa tươi khổng lồ đành phải vứt bỏ sau mỗi tuần bị đóng cửa.

Nửa buồn bã, nửa tức giận. Đó là tâm lý chung, theo nhật báo Le Parisien, của giới sản xuất cũng như các nhà phân phối hoa tươi. Tất cả đều cảm thấy bất lực, khi chứng kiến những cố gắng của họ đều trở nên vô ích, sau khi chính phủ Pháp ban hành quy định buộc các cửa hàng kinh doanh phải đóng cửa, các siêu thị lớn được phép hoạt động nhưng chỉ để bán ‘‘nhu yếu phẩm’’. Riêng tại Pháp, sách truyện cũng như hoa tươi không nằm trên danh sách các sản phẩm ‘‘không thể thiếu’’ trong cuộc sống thường nhật.

Đợt phong tỏa lần thứ nhì kể từ ngày 03/11/2020, theo thời báo kinh tế Les Échos, lại gây nhiều thiệt hại hơn cả lần trước (tính từ trung tuần tháng 03 đến cuối tháng 05/2020), phần lớn cũng vì doanh thu của ngành trồng hoa tươi (cũng như ngành sản xuất cây xanh và hoa kiểng) tuy khá quan trọng vào đầu mùa xuân, nhưng vẫn chưa có thể sánh bằng doanh thu khổng lồ của các dịch vụ ngành hoa tươi nhân dịp những ngày lễ cuối năm.

Noël : Mùa kinh doanh quan trọng nhất trong năm

Đối với ngành sản xuất và phân phối hoa tươi, lịch kinh doanh có một số thời điểm rất quan trọng không thể nào bỏ qua, trong đó có giai đoạn đặc biệt, tuy chỉ diễn ra trong vòng hai tháng (11 và 12) nhưng lại chiếm tới một phần tư doanh thu của cả năm. Nói cách khác, đối với các doanh nghiệp trong ngành, những khoản thất thu trong một năm vẫn có thể gỡ gạc được nhờ các hoạt động buôn bán cuối năm. Thế nhưng, đợt phong tỏa lần này đã làm tiêu tan niềm hy vọng ấy.

Tình trạng bế tắc này đã khiến cho giới chuyên ngành lên tiếng báo động và cầu cứu, yêu cầu chính phủ Pháp giúp đỡ họ một cách hữu hiệu hơn. Theo ông Nicolas Bigot, giám đốc của tập đoàn ‘‘Bigot Fleurs’’, các nhà sản xuất hầu như đã mất hết khách hàng. Các doanh nghiệp nói chung kể cả giới cung cấp (ở khâu thượng nguồn) và các nhà phân phối (khâu hạ nguồn) như ‘‘Monceau Fleurs’’ với hơn 300 cửa hàng bán hoa tươi tại Pháp, đã mất từ 75% đến 90% doanh thu, tức là còn tồi tệ hơn so với lần phong tỏa đầu tiên.

Từ ba đời nay, gia đình của ông Nicolas Bigot làm việc trong ngành trồng hoa, tập đoàn ‘‘Bigot Fleurs’’ quản lý hơn 1.200 nhân viên, nằm trong số 10 doanh nghiệp sản xuất hoa tươi lớn nhất ở Pháp. Tập đoàn này hiện có hai cơ sở hoạt động nằm gần thành phố Le Mans ở vùng Sarthe, chuyên trồng hoa tulip, muguet và hoa huệ. Ngoài ra, ‘‘Bigot Fleurs’’ còn khai thác thêm một đồn điền ở Kenya, cơ sở thứ ba này chủ yếu trồng hoa hồng quanh năm, để cung cấp cho thị trường Pháp.

Bán hàng trực tuyến : liều thuốc chữa bách bệnh ?

Theo báo Le Figaro, trong đợt phong tỏa đầu tiên, riêng trong ngành này, chỉ có các cửa hàng bán hoa tươi bị đóng cửa. Do vậy, các công ty sản xuất vẫn có thể cung cấp cho các nhà bán sỉ và các siêu thị lớn. Nhưng trong đợt phong tỏa thứ nhì, giới sản xuất mất gần như toàn bộ ‘‘nguồn tiêu dùng’’, do 70% khối lượng hoa tươi được đại đa số khách hàng mua tại các siêu thị lớn.

Trong trường hợp của các doanh nghiệp sản xuất hoa tươi, khi lệnh phong tỏa lần thứ nhì được áp dụng kể từ đầu tháng 11, cứ mỗi tuần các công ty này phải vứt bỏ khoảng 200.000 nhánh hoa tươi. Lệnh phong tỏa có khả năng kéo dài thêm và được triển hạn, riêng đối với ‘‘Bigot Fleurs’’, tập đoàn này sẽ buộc phải bán đổ bán tháo cho ngành sản xuất khí sinh học khoảng 6 triệu nhánh tulip và hoa hồng, tức là phải đành chịu thua lỗ đến một triệu rưỡi euro, trong khi doanh thu hàng năm của công ty là 25 triệu euro.

Nếu như trong nhiều ngành khác, các công ty chuyển qua khai thác việc bán hàng trên mạng, thì các dịch vụ trực tuyến vẫn không đủ để bù đắp thiệt hại cho các cửa hiệu bán hoa tươi, nhất là mặt hàng này không thể giữ được lâu. Theo ông Alban Bricout, Phó chủ tịch Liên đoàn các chủ tiệm hoa (FFAF), đa số các công ty do buộc phải đóng cửa cho nên chỉ có thể khuyến khích người mua trên mạng và tặng phí giao hàng tận nhà, hoặc là các cửa hiệu áp dụng hình thức ‘‘click & collect’’ theo đó khách hàng mua hoa trực tuyến rồi đến cửa tiệm để lấy hàng theo khung giờ ấn định. Thế nhưng, việc kinh doanh bằng công nghệ số không phải là liều thuốc chữa bách bệnh. Cho dù có cố gắng cách mấy, các tiệm hoa ở Pháp cũng chỉ thực hiện từ 10% đến 20% doanh thu so với mức bình thường.

2.500 tiệm hoa tại Pháp bị đóng cửa luôn

Theo khảo sát gần đây của Val'hor, liên đoàn quốc gia ngành cung cấp và phân phối hoa tươi và cây kiểng, sau đợt phong tỏa lần đầu tiên vào tháng 03/2020, đã có khoảng 2.500 tiệm hoa, tức 20% trên tổng số 13.000 tiệm hoa tại Pháp đã buộc phải đóng cửa vĩnh viễn. Đợt phong tỏa lần thứ nhì hẳn chắc một lần nữa sẽ gây thêm nhiều nạn nhân kinh tế, ít hay nhiều là còn tùy thuộc vào thời hạn phong tỏa, kéo dài trong bao lâu.

Tình hình lại càng đáng lo ngại vì so với các ngành nghề khác, giới cung cấp và phân phối hoa tươi, cho tới giờ này, cũng ít nhận được trợ cấp của nhà nước. Giá hoa tươi dành cho xuất khẩu cũng tuột dốc dữ dội, Hà Lan Bỉ cũng như Pháp, các thị trường hoa tươi lớn nhất châu Âu, đều không còn nguồn khách hàng, dẫn đến tình trạng dư thừa, hàng tồn kho quá tải, bị mất giá do không còn bán được.

Tình trạng bi quan ấy đã buộc ông Mikael Mercier, chủ tịch liên đoàn quốc gia Val'hor phải lên tiếng. Theo ông, câu hỏi đặt ra không phải là liệu mùa Noël năm nay sẽ còn đủ hoa tươi hay cây kiểng để trang trí trong nhà. Câu hỏi chính là một khi guồng máy vận hành ngành sản xuất và phân phối hoa tươi tại Pháp bị tê liệt đến mức sụp đổ, thì liệu có còn bao nhiêu kẻ bán cho dù có lắm người mua.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#22 Posted : Friday, November 27, 2020 7:56:40 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Disney sa thải 32 nghìn nhân viên

VOA - 26/11/2020
Tập đoàn Walt Disney hôm 25/11 thông báo sẽ sa thải khoảng 32 nghìn nhân viên, chủ yếu là tại các công viên giải trí của hãng, vì tác động của COVID-19, theo Reuters.

Hãng tin Anh nói thêm rằng con số này tăng thêm khoảng 4 nghìn so với 28 nghìn nhân viên công bố hồi tháng Chín.

Tin cho hay, việc sa thải sẽ được tiến hành vào quý đầu của năm 2021.

Một phát ngôn viên của Disney đã xác nhận với Reuters về con số sắp bị sa thải mới nhất.

Hồi đầu tháng này, Disney cho biết rằng hãng tính sa thải thêm nhân viên tại công viên giải trí ở Nam California vì sự bất định về thời gian tiểu bang này cho phép các công viên mở cửa trở lại.

Các công viên khác củ Disney ở Florida và những nơi khác bên ngoài Hoa Kỳ đã tái mở cửa trở lại đầu năm nay mà không chứng kiến sự bùng phát Corona lớn, nhưng áp dụng nghiêm ngặt việc giãn cách xã hội, xét nghiệm và sử dụng khẩu trang.

Disneyland Paris đã buộc phải đóng cửa trở lại cuối tháng trước, khi Pháp áp dụng biện pháp đóng cửa nền kinh tế mới để ngăn chặn đợt bùng phát COVID-19 thứ hai.

Các công viên giải trí của công ty ở Thượng Hải, Hong Kong và Tokyo vẫn mở cửa.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#23 Posted : Monday, December 7, 2020 7:42:57 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19: Thặng dư xuất khẩu Trung Quốc phá mọi kỷ lục nhờ dịch bệnh

Minh Anh - RFI - 07/12/2020
Ngành xuất khẩu Trung Quốc tiếp tục hưởng lợi nhờ Covid-19. Thặng dư mậu dịch Trung Quốc đã tăng vọt trong tháng 11/2020, trong khi các nước phương Tây vẫn tiếp tục « bế quan tỏa cảng » chống dịch bệnh. Điều trớ trêu là virus corona chủng mới còn đào sâu thêm thâm thủng mậu dịch giữa Mỹ với Trung Quốc, bất chấp cuộc chiến thương mại do tổng thống Donald Trump khởi xướng từ mấy năm qua.

AFP trích dẫn các số liệu do Hải Quan Trung Quốc công bố hôm nay, 07/12/2020, cho thấy là kim ngạch xuất khẩu của nước này trong tháng 11 tăng vọt 21,1% so với cùng kỳ năm 2019. Đây là mức tăng cao nhất của Trung Quốc kể từ đầu năm 2018. Với mức tăng này, thặng dư mậu dịch của Trung Quốc cũng đạt mức kỷ lục 75,42 tỷ đô la, cao nhất kể từ khi có các số liệu thống kê cách nay 40 năm.

Vẫn theo hãng tin Pháp, ngành xuất khẩu Trung Quốc hưởng lợi nhiều do nhu cầu về các loại trang thiết bị bảo hộ cá nhân, các trang thiết bị y tế (+42,5%), các loại sản phẩm điện tử cần thiết dùng để làm việc từ xa, và nhất là nhu cầu mua sắm cho Noel, đều tăng vọt.

Đáng chú ý là thặng dư mậu dịch của Trung Quốc với Hoa Kỳ, đầu mối của mọi sự căng thẳng hiện nay giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới, tiếp tục tăng lên trong tháng 11, đạt mức 37,4 tỷ đô la, mức cao nhất tính từ đầu năm đến nay, so với tháng 10 là 30,75 tỷ đô la.

Từ khi bước chân vào Nhà Trắng cách nay 4 năm, Donald Trump xem việc giảm thâm hụt mậu dịch với Trung Quốc là một ưu tiên hàng đầu. Năm 2018, Washington đã khai màn cuộc chiến thương mại với Bắc Kinh. Một thỏa thuận « hưu chiến » đã được ký kết hồi tháng Giêng năm 2020, ngay trước khi cả thế giới bị tê liệt vì Covid-19.

Với những kết quả này, Trung Quốc là một trong số các nước lớn hiếm hoi thông báo có mức tăng trưởng năm 2020. Tính trên toàn năm, tăng trưởng của Trung Quốc được dự báo sẽ là 4,9%.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#24 Posted : Monday, December 21, 2020 9:27:29 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19 : Ngành xa xỉ phẩm cũng bị chao đảo


Tuấn Thảo - RFI - 21/12/2020
Dịch Covid-19 lại thêm nạn nhân kinh tế. Sau hơn 70 năm hoạt động, cửa hàng nổi tiếng "La Maroquinerie Parisienne" chuyên bán đồ da và các phụ kiện thời trang cao cấp ở Paris quận 9, sẽ đóng cửa luôn vào cuối năm 2020. Trong khi đó, thương hiệu Burberry lâu đời của Anh cũng thông báo đóng 38 cửa hiệu trong số 300 địa điểm kinh doanh trên thế giới.

Trong làng thời trang hạng sang, các thương hiệu "xa xỉ phẩm" cũng đang bị tác hại nặng nề : doanh thu tuột dốc, nhân viên bị cắt giảm. Cuộc khủng hoảng do dịch Covid-19 gây ra, đã làm suy yếu nhiều doanh nghiệp chuyên sản xuất và phân phối các sản phẩm thời trang cao cấp, và càng làm nổi bật nhược điểm của các công ty đã không thực hiện được kịp thời tiến trình chuyển đổi sang công nghệ số cũng như phát triển các dịch vụ kinh doanh trên mạng.

Nhiều thương hiệu lâu đời bị phá sản

Đó là trường hợp của cửa hàng "La Maroquinerie Parisienne", được thành lập vào năm 1947. Tuy có khá nhiều uy tín và mặt bằng (hơn 900 m2) nằm ở một địa điểm kinh doanh thuận lợi, nhưng cửa hàng này do phụ thuộc nhiều vào lượng khách hàng nước ngoài đã không cầm cự nổi sau hai đợt phong tỏa. Hẳn chắc đây không phải là nạn nhân nổi tiếng đầu tiên của virus corona. Trong thời gian qua, tập đoàn Printemps đã thông báo đóng một phần tư các cửa hàng. Còn tập đoàn Mỹ Neiman Marcus thành lập vào năm 1907, cũng đành phải tuyên bố phá sản.

Theo ông Serge Carreira, giảng viên tại trường cao đẳng Sciences Po Paris, dịch Covid-19 đã làm lộ rõ những khuyết điểm của mô hình kinh doanh truyền thống. Các thương hiệu lớn phụ thuộc nhiều vào hệ thống các cửa hàng buôn bán, nhưng các mặt bằng kinh doanh đòi hỏi một chi phí cố định khá cao, cụ thể là giá thuê, tiền bảo hiểm cũng như các chi phí vận hành. Vấn đề ở đây, theo ông Serge Carreira, là các tên tuổi lớn trong ngành sản xuất và phân phối đã hứng chịu nhiều cuộc khủng hoảng dồn dập : phong trào áo vàng, đợt biểu tình đình công và kế đến nữa là dịch Covid-19 trong năm 2020 đã giáng đòn "chí tử" lên các doanh nghiệp hay công ty vốn đã bị suy yếu : nguồn khách du lịch nước ngoài bị cạn kiệt, trong khi các dịch vụ kinh doanh trên mạng chưa đủ phát triển để đáp ứng lượng khách hàng nội địa, trong thời kỳ có phong tỏa.

Làn sóng chấn động kinh tế nghiêm trọng đến mức ngay cả những tập đoàn thời trang hùng mạnh nhất cũng bị chao đảo, lung lay .Theo ông Arnaud Cadart, giám đốc điều hành công ty tư vấn đầu tư Flornoy & Associés, chưa bao giờ có một cú sốc dữ dội đến như vậy, hầu hết các tập đoàn hàng đầu của Pháp như LVMH, Kering hay Hermès đều chứng kiến mức doanh thu giảm mạnh trong quý hai, còn tình hình trong quý ba lạc quan hơn, doanh thu được duy trì nhờ vào sự năng động của thị trường châu Á, nơi đà lây lan của dịch bệnh có vẻ được kiểm soát tốt hơn.

Doanh thu các tập đoàn giảm gần một nửa

Tập đoàn Pháp LVMH, công ty hàng đầu thế giới chuyên về xa xỉ phẩm đã mất khoảng một phần ba doanh thu toàn cầu. Tập đoàn này tập hợp khoảng 70 thương hiệu (Louis Vuitton, Fendi, Dior, Givenchy, Guerlain, Moët Hennessy hay Sephora), nhưng đà phục hồi tương đối của thị trường châu Á vẫn chưa đủ để bù đắp thất thu khổng lồ của các thị trường châu Âu, Bắc Mỹ, Brazil hay Trung Đông. Nhiều cửa hàng và địa điểm kinh doanh trên thế giới buộc phải đóng cửa do lệnh phong tỏa, đã khiến cho tập đoàn này mất hàng tỷ euro doanh thu.

Các tập đoàn khác cũng bị sốc tương tự. Mức doanh thu của Kering (-43%) và Richemont (-47%) đều đã giảm mạnh trong 6 tháng đầu năm, trong khi doanh thu của tập đoàn Hermès cũng đã giảm gần một nửa (-45%). Các hiệu thời trang cao cấp của Ý cũng không khá gì hơn : doanh thu của Salvatore Ferragamo giảm 51%, còn hiệu Prada giảm hơn 40%. Tại Vương quốc Anh, các địa điểm mua sắm ở Luân Đôn có tiếng chuyên thu hút thành phần du khách giàu có, cũng mất rất nhiều doanh thu so với năm 2019. Thương hiệu Burberry có từ năm 1856 ngoài việc đóng 38 cửa hàng còn phải sa thải trước mắt từ 500 đến 1000 nhân viên. Các cửa hàng lớn tại Luân Đôn Selfridges hay Harrods, do hoạt động sút giảm, đành phải cắt giảm từ 450 đến 750 việc làm. Tại Hoa Kỳ, dịch Covid-19 đã buộc tập đoàn Neiman Marcus phải tuyên bố phá sản. Hơn 110 năm sau ngày ra đời, cửa hàng dây chuyền này phải tổ chức lại toàn bộ cơ cấu, tìm nguồn vốn tài trợ khác, nếu không muốn bị đóng cửa vĩnh viễn và sa thải hơn 14.000 nhân viên.

Theo cô Audrey Depraeter-Montacel, chuyên gia ngành xa xỉ phẩm tại công ty tư vấn Accenture, trong mùa dịch Covid-19, các công ty có thể cầm cự được lâu chính là những doanh nghiệp có nguồn vốn dự trữ và đã bắt đầu chuyển đổi sang công nghệ số. Trước đại dịch, các dịch vụ bán hàng trực tuyến chỉ chiếm một phần nhỏ trong doanh thu của các thương hiệu cao cấp. Rất nhiều doanh nghiệp đã chần chừ bởi vì công nghệ số đòi hỏi nhiều chi phí đầu tư nhưng các khoản lợi nhuận lại khá thấp, ít ra là trong thời gian đầu. Trong một thập niên qua, chỉ có các tập đoàn lớn mới làm được chuyện này, trong khi các công ty cỡ trung bình và nhỏ lại không có đủ tiền mặt để đầu tư vào khâu dịch vụ trực tuyến.

Thị trường châu Âu giảm mạnh đến 36%

Trước khi có đại dịch, dịch vụ kinh doanh trên mạng đối với các công ty thời trang chỉ tương đương với 12% doanh thu. Trong thời kỳ phong tỏa, mức doanh thu nhờ các dịch vụ trực tuyến đã nhân lên gấp ba, gấp bốn lần tức khoảng 35% đến 45%. Các doanh nghiệp đã chuyển đổi số kịp thời đã được trang bị tốt hơn để ứng phó với tình huống mới, nhờ vào doanh số bán hàng trực tuyến mà bù đắp thất thu.

Dịch Covid-19 chẳng những đã thay đổi cung cách kinh doanh, mà hẳn chắc sẽ cho thay đổi cục diện của ngành phân phối thời trang cao cấp. Tập đoàn Thụy Sĩ Richemont và mạng thời trang Farfetch chuẩn bị được sáp nhập, liên kết với nhau để có thêm khả năng vượt qua giông bão. Theo giảng viên Serge Carreira, diện mạo của ngành sản xuất và phân phối thời trang cao cấp đang được vẽ lại.

Theo khảo sát gần đây của công ty thăm dò thị trường Bain and Company, thị trường xa xỉ phẩm trên toàn cầu đã giảm một phần tư trong năm 2020, mức độ thiệt hại còn tùy theo từng châu lục.

Tại châu Âu, mức giảm lên tới mức cao nhất là 36%, thị trường Bắc Mỹ giảm 27%, Nhật Bản mất 24%, phần còn lại của châu Á (ngoài Trung Quốc) giảm 35%.

Tình hình vẫn còn nhiều rủi ro trong thời gain tới và giới chuyên gia trong ngành hy vọng châu Á sớm phục hồi để kích thích trở lại toàn chuỗi cung ứng, do các nước châu Á tương đương với 30% doanh thu toàn cầu của ngành xa xỉ phẩm. Tuy nhiên theo công ty Bain and Company, ngành này tìm lại mức doanh thu của năm 2019 sớm lắm là vào cuối năm 2022, đầu năm 2023. Từ đây cho tới đó, các ngành sản xuất bị tác động dài lâu nhất vẫn là đồ da, trang sức, đồng hồ, phụ kiện thời trang, mỹ phẩm và nước hoa.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#25 Posted : Tuesday, January 12, 2021 9:07:26 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19 : Các cửa hàng lớn ở Pháp mất một nửa doanh thu

Tuấn Thảo - RFI - 12/01/2021
Sau khi thương hiệu Printemps thông báo đóng một phần tư các cửa hàng, đến phiên tập đoàn Galeries Lafayette lên kế hoạch sa thải khoảng 190 nhân viên, sau khi đạt thỏa thuận với giới công đoàn. Cả hai trường hợp này cho thấy tác hại nặng nề của dịch Covid-19 lên ngành buôn bán. Tính trung bình, các cửa hàng lớn ở Pháp đã mất ít nhất 50% doanh thu trong năm 2020.

Trong hơn một thế kỷ tồn tại ( cửa hàng Le Bon Marché được khai trương vào năm 1852, còn Galeries Lafayette trên đại lộ Haussmann được xây dựng vào năm 1894 ), chưa bao giờ các cửa hàng lớn Paris lại phải đối đầu với một cuộc khủng hoảng trầm trọng đến như vậy. Ngay cả trong giai đoạn hai cuộc Thế chiến, các cửa hàng này vẫn duy trì hoạt động.

Mỗi lần gặp khó khăn do bối cảnh kinh tế không mấy thuận lợi, các tập đoàn này đều tìm cách thích nghi, điều chỉnh mô hình kinh doanh và thường nhắm vào khách du lịch nước ngoài thích mua hàng xa xỉ của Pháp, nhiều hơn là thành phần người tiêu dùng nội địa.

Giai đoạn khó khăn nhất trong hơn một thế kỷ

Tuy nhiên, ngay cả trong những giai đoạn khó khăn nhất, các cửa hàng lớn ở Pháp chưa bao giờ phải đóng cửa hơn cả trăm ngày trong vòng một năm. Các tập đoàn này cũng chưa bao giờ chứng kiến toàn bộ các khách hàng của mình biến mất chỉ trong vài ngày, sau khi các nước phong tỏa biên giới, ngành hàng không dân sự hủy hàng loạt chuyến bay. Việc các luồng du khách quốc tế bị gián đoạn đột ngột là một thảm họa kinh tế đối với các cửa hàng "đầu tàu" như Galeries Lafayette và Printemps trên đại lộ Haussmann, cửa hàng Le Bon Marché ở quận 7, BHV Marais ở quận 4, chưa kể đến các chi nhánh kinh doanh khác như Nation hay là Beaugrenelle.

Trong năm 2019, các cửa hàng lớn đã lập doanh thu kỷ lục. Chỉ riêng Galeries Lafayette trên đại lộ Haussmann đã thu về 2 tỷ euro trên tổng số 3 tỷ rưỡi doanh thu tại Pháp của tập đoàn này. Khách hàng từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nga và các nước vùng Vịnh đem về hơn 60% doanh thu trong năm cho công ty này.

Trong một cuộc phỏng vấn hồi cuối tháng 12, ông Nicolas Houzé, giám đốc điều hành Galeries Lafayette, thừa nhận rằng tập đoàn này sẽ mất khoảng 1,7 tỷ euro tức hơn một nửa doanh thu trong năm 2020. Đây là mức thất thu chưa từng thấy trong vòng ba thập niên qua.

Các cửa hàng lớn đã trải qua nhiều khó khăn dồn dập: phong trào biểu tình "Áo vàng", đợt đình công vào mùa đông 2019, rồi hai đợt phong tỏa do dịch Covid-19 trong năm 2020. Như thể vẫn chưa đủ, các cửa hàng lớn Paris cho dù có được phép mở lại ngay cả vào những ngày chủ nhật cuối năm để gỡ gạc thất thu, thì mức buôn bán cũng không nhiều như mong đợi, cửa hiệu tương đối vắng khách, chủ yếu cũng vì người tiêu dùng có tâm lý muốn né tránh chỗ đông người. Liệu mùa bán hàng đại hạ giá sắp tới có thể thay đổi xu hướng này ? Chưa có gì là chắc chắn cả.

2021 : Doanh thu ngành xa xỉ phẩm giảm 20%

Vào lúc Viện Thời trang Pháp dự đoán thị trường xa xỉ phẩm có nhiều nguy cơ giảm 20% doanh thu trong năm 2021 và mức mua sắm của du khách tại Pháp chỉ sẽ trở lại bình thường sớm nhất là vào cuối năm 2023, đầu năm 2024, ông Patrice Wagner giám đốc điều hành Le Bon Marché cho biết, đợt phong tỏa thứ nhì, tuy chỉ kéo dài trong 6 tuần, lại làm cho cửa hàng này bị mất đến một phần ba doanh thu, do mùa lễ cuối năm thường là mùa bội thu nhờ phục vụ nhiều khách hàng đi mua sắm.

Dù có lạc quan cách mấy, ban giám đốc Le Bon Marché cho biết người tiêu dùng ở Pháp sẽ chỉ tìm lại thói quen mua sắm sớm lắm là vào tháng 9 năm 2021, trong khi khách nước ngoài không thể trở lại Pháp trước cuối năm 2021. Đây là kịch bản tốt nhất, với điều kiện là chiến dịch chính ngừa diễn ra suôn sẻ, dịch bệnh không tái phát dữ dội dẫn đến các biện pháp như phong tỏa, giới nghiêm hay hạn chế đi lại giữa các vùng miền như đã từng thấy.

Về thói quen của khách nước ngoài, mức mua sắm xa xỉ phẩm cũng đang tự điều chỉnh : Trước đây khách Trung Quốc, Nga, Brazil hay vùng Vịnh thích mua hàng xa xỉ khi đi du lịch ở Pháp. Dịch Covid đã làm thay đổi phần nào thói quen này, khách nước ngoài không còn được đi du lịch, họ quay sang mua xa xỉ phẩm trên mạng hay tiêu thụ mặt hàng này ngay trên xứ họ (cho dù có nguy cơ gặp phải hàng giả).

Tương lai trước mắt còn nhiều rủi ro

Ngay cả sau khi dịch bệnh lắng xuống, tương lai chưa chắc gì sẽ sáng sủa hơn đối với các cửa hàng lớn, ít ta là một số công ty buộc phải "chuyển đổi số", phát triển các dịch vụ trực tuyến, hoàn chỉnh khâu kinh doanh trên mạng. Trong bối cảnh này, các tập đoàn sẽ khó tránh khỏi những biện pháp triệt để, kể cả việc tổ chức lại toàn bộ cơ cấu và sa thải. Song song với việc cắt giảm nhân viên (428 đối với Printemps, 129 đối với Galeries Lafayette), các cửa hàng lớn đã gấp rút đầu tư hàng chục triệu euro để triển khai mạng thương mại điện tử. Bằng cách này, Galeries Lafayette cũng như Printemps hy vọng nhân từ gấp hai đến gấp ba lần doanh thu bán hàng trực tuyến trong năm 2021.

Cuối cùng, các cửa hàng lớn đều phải hạn chế bớt các dự án đầu tư khổng lồ để huy động vốn dành cho các kế hoạch cấp bách hơn. Printemps đã dời lại hai dự án khai trương cửa hàng ở Doha (Qatar) và Milano (Ý), Galeries Lafayette cũng đình chỉ một số dự án hợp tác với nước ngoài. Cũng cần biết rằng các cửa hàng lớn ở Pháp nằm trong tay ba tập đoàn.

Nhóm Galeries Lafayette khai thác

Tổng doanh thu hàng năm của 65 cửa hàng tại Pháp và quốc tế, trong đó có Galeries Lafayette, BHV Marais, La Redoute, Eataly Paris, Louis Pion, Mauboussin hay BazarChic, đạt 4 tỷ rưỡi euro. Tập đoàn Printemps gồm 25 cửa hàng, ngoài thương hiệu truyền thống còn có các cửa hàng thời trang may sẵn Citadium với 1,7 tỷ euro doanh thu hàng năm.

Cuối cùng là tập đoàn LVMH đứng đầu thế giới về xa xỉ phẩm với hơn 50 tỷ euro doanh thu, trong đó có tới 4 tỷ euro được dành cho các cửa hàng lớn như Le Bon Marché, cửa hàng thực phẩm La Grande Épicerie và nhất là cửa hàng lớn La Samaritaine nằm ngay bên chân "Cầu mới" Pont Neuf . Được khánh thành vào năm 1870, tức là cách đây 150 năm, cửa hàng này đã đóng cửa trùng tu trong vòng 15 năm qua. Ngày khai trương đã được dự trù vào đầu năm 2021, thế nhưng rốt cuộc đã bị dời lại, chưa biết chừng nào mới đến ngày mở cửa. Tùy theo tình hình dịch bệnh, khả quan nhất là đến giữa năm nay, cửa hàng Samaritaine, tuy toàn bộ diện mạo đã được tân trang (trong một quần thể gồm khách sạn 5 sao và nhà hàng thượng hạng Michelin) chắc sẽ đành phải đóng cửa, chừng nào khách nước ngoài vẫn chưa trở lại viếng thăm thủ đô Paris.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#26 Posted : Saturday, January 30, 2021 7:27:32 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

2020 là năm tệ nhất cho tăng trưởng kinh tế Mỹ kể từ Thế chiến II

Voa - 30/01/2021
Nền kinh tế Mỹ co cụm 3,5% trong cả năm 2020 khi đại dịch virus corona gây tổn hại cho các công xưởng, doanh nghiệp và hộ gia đình, đẩy tăng trưởng kinh tế của Mỹ xuống mức thấp chưa từng thấy kể từ khi Mỹ cắt giảm chi tiêu thời chiến vào năm 1946.

Báo cáo do Cục Phân tích Kinh tế của chính phủ Mỹ công bố ngày thứ Năm ước tính tổng sản phẩm quốc nội của đất nước - tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ - đã giảm mạnh trong quý bốn từ tháng 10 tới tháng 12 so với mức tăng kỉ lục 33,4% trong quý ba từ tháng 7 tới tháng 9. Mức tăng đó diễn ra sau đợt lao dốc kỉ lục 31,4% hàng năm trong quý hai từ tháng 4 tới tháng 6, khi nền kinh tế rơi tự do.

“Năm 2020 chưa có tiền lệ trong lịch sử kinh tế hiện đại,” David Wilcox, nhà nghiên cứu cao cấp tại Viện Kinh tế Quốc tế Peterson và là cựu giám đốc bộ phận kinh tế nội địa tại Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ, được báo The Washington Post dẫn lời nói. “Đại dịch cúm năm 1918 và 1919 xảy ra trước hệ thống thống kê kinh tế hiện đại của chúng ta, và kể từ Thế chiến thứ Hai, chưa bao giờ có sự co cụm nào thậm chí gần giống như mức độ nghiêm trọng và phạm vi của sự sụp đổ lúc ban đầu trong năm 2020.”

Đây là lần đầu tiên nền kinh tế co cụm trong cả một năm kể từ 2009, khi GDP giảm 2,5% trong giai đoạn trầm trọng nhất của cuộc Đại suy thoái những năm 2008-2009. Lần lao dốc tồi tệ thứ hai là vào năm 1946. Lúc đó nền kinh tế co cụm 11,6% khi Mỹ điều chỉnh guồng máy thời hậu chiến.

Triển vọng cho năm 2021 vẫn còn mù mờ. Các nhà kinh tế cảnh báo một sự hồi phục bền vững khó có thể duy trì cho đến khi vaccine ngừa COVID-19 được phân phối và tiêm chủng trên toàn quốc và các khoản tiền cứu trợ do chính phủ cung cấp lan tỏa khắp nền kinh tế - một quá trình có thể mất nhiều tháng, theo AP. Trong khi đó, hàng triệu người Mỹ vẫn chật vật sinh tồn.

Chẳng hạn, hôm thứ Năm, chính phủ báo cáo số đơn xin trợ cấp thất nghiệp giảm vào tuần trước, song vẫn ở mức cao lịch sử 847.000. Đây là bằng chứng cho thấy các công ty tiếp tục cắt giảm việc làm trong khi đại dịch tiếp tục hoành hành. Trước khi virus bùng phát ở Mỹ vào tháng 3 năm ngoái, số đơn xin trợ giúp thất nghiệp hàng tuần chưa bao giờ lên đến con số 700.000, ngay cả trong thời kì Đại Suy thoái.

Tác động to lớn của đại dịch đối với nền kinh tế vào đầu mùa xuân năm ngoái chấm dứt quá trình tăng trưởng kinh tế dài nhất từng được ghi nhận của Mỹ - gần 11 năm. Thiệt hại do virus gây ra khiến GDP giảm với tốc độ 5% hàng năm trong quý một, từ tháng 1 đến tháng 3 năm ngoái. Kể từ đó, hàng ngàn doanh nghiệp đã đóng cửa, gần 10 triệu người không có việc làm và hơn 400.000 người Mỹ chết vì virus.

Đối với những chủ doanh nghiệp nhỏ như Tiffany Nguyen, 2020 là một năm thảm hại cho việc làm ăn buôn bán của bà ở Little Saigon, miền nam bang California, nơi đang bị ảnh hưởng nặng nề vì dịch bệnh.

Bang đông dân nhất của Mỹ này ngày thứ Hai đã dỡ bỏ các biện pháp phong tỏa vì tình hình COVID-19 được cải thiện, cho phép một số cơ sở kinh doanh mở cửa trở lại. Dù vậy quán phở của bà vẫn chưa được phép cho khách ngồi ăn bên trong mà phải ngồi ngoài trời với những hạn chế nhất định. Bà ước tính lượng khách của quán đã giảm 30-40% kể từ khi đại dịch bùng phát vào năm ngoái tới giờ.

Nhiều hàng quán xung quanh đã đóng cửa vì không thể kham nổi chi phí, bà nói. Nhưng bà không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc cố gắng duy trì hoạt động kinh doanh để bảo tồn một di sản của gia đình.

“Nhiều lúc hàng tháng cũng chưa đủ để trả tiền nhà, nhưng mà hiện thời cũng phải ráng chứ mẹ tôi mở tiệm này đã ba mươi mấy năm rồi, từ năm 1986,” bà nói.

Christie Nguyen, chủ tiệm làm móng ở thành phố Tustin, cho biết cô “phấn khởi” khi hay tin các cơ sở chăm sóc sắc đẹp ở California được phép hoạt động trở lại sau khi lệnh phong tỏa được dỡ bỏ. Mấy ngày qua, cô và các nhân viên tất bật chuẩn bị để mở cửa vào ngày thứ Sáu.

Cô nói 2020 là một năm vô cùng khó khăn vì cả năm tiệm của cô chỉ mở cửa được khoảng 15% thời gian. Nhưng cô hy vọng những ngày đen tối nhất đang dần qua đi ở California.

“Hành trình này đã thử thách chúng tôi, đẩy chúng tôi đến giới hạn và bây giờ chúng tôi đang bám víu một cách mong manh,” cô nói bằng tiếng Anh. “Nhưng chúng tôi hy vọng đây là lần đóng cửa cuối cùng và chúng tôi có thể phục vụ cộng đồng của mình.”

Trong khi các doanh nghiệp nhỏ chật vật sinh tồn giữa đại dịch, nhiều nhà kinh tế cảnh báo rằng nếu không có hỗ trợ tài chính của chính phủ, nền kinh tế có nguy cơ không chống chọi được với một cuộc suy thoái khác. Họ lưu ý rằng phần lớn viện trợ cho các cá nhân từ gói 900 tỉ đôla được cấp vào cuối năm ngoái sẽ hết hạn vào giữa tháng 3.

Tổng thống Biden đã đề xuất một gói cứu trợ kinh tế trị giá 1,9 ngàn tỉ đôla với tiền cứu trợ cho từng người dân Mỹ, các thành phố và các bang, cũng như cho hoạt động xét nghiệm virus và vaccine, cùng các điều khoản khác.

Lãnh đạo khối Đa số ở Thượng viện Chuck Schumer thuộc Đảng Dân chủ cho biết ông dự định sẽ xúc tiến gói cứu trợ này vào tuần tới, dù có hay không sự ủng hộ của các thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa. Nhiều thượng nghị sĩ của đảng này nói rằng đề xuất này quá tốn kém và không cần thiết vì Quốc hội đã thông qua gói cứu trợ 4 ngàn tỉ đôla, bao gồm 900 tỉ đôla hồi tháng 12.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#27 Posted : Friday, February 5, 2021 12:34:29 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19 : Ngành champagne Pháp mất 1 tỷ euro doanh thu

Tuấn Thảo - RFI - 01/02/2021
Sau một năm đầy biến động, dịch Covid-19 đã khiến cho doanh thu của ngành sản xuất rượu champagne (sâm banh) giảm gần 20%. Cũng cần biết rằng, rượu champagne là một trong những ngành xuất khẩu "mũi nhọn" của Pháp. Doanh thu hàng năm đạt 5 tỷ euro, trong đó có tới 3 tỷ euro là nhờ xuất khẩu. Cho nên, mức thiệt hại kinh tế do dịch bệnh được ước lượng khoảng 1 tỷ euro.

Theo tổng kết do liên đoàn ngành sản xuất công bố trong tuần qua, mức kinh doanh trong năm 2020 là 245 triệu chai rượu champagne, tức là đã giảm khá mạnh so với mức 297 triệu chai vào năm 2019. Ngành này hồi mùa hè năm 2020 đã từng yêu cầu chính phủ Pháp trợ cấp đến nửa tỷ euro, hầu giúp đỡ cả hai giới trồng nho và sản xuất trước nguy cơ mất đến 30% doanh thu thường niên. Tuy nhiên, tác hại của cuộc khủng hoảng ít nghiêm trọng hơn dự báo.

Cuộc khủng hoảng mạnh nhất từ nửa thế kỷ qua

Theo ông Jean-Marie Barillère, chủ tịch Liên đoàn các nhà sản xuất rượu champagne (UMC), trong số 245 triệu chai được bán trong năm qua, có 114 triệu chai champagne tiêu thụ trên thị trường Pháp, tức đã giảm 20%, trong khi mức xuất khẩu cũng đã giảm 16%, xuống còn 131 triệu chai. Ngành champagne đã từng trải qua nhiều cuộc khủng hoảng, kể cả tài chính hay cấm vận kinh tế, nhưng đây là lần đầu tiên kể từ 50 năm qua, ngành champagne lại gặp nhiều khó khăn đến như vậy. Thế nhưng, theo ông Jean-Marie Barillère, tình hình bị xáo trộn khó dự đoán, lượng xuất khẩu trong năm qua lại đạt được kết quả tương đối "tốt hơn" so với mức kinh doanh trên thị trường Pháp.

Còn đối với giới chuyên ngành, mặc dù năm 2020 là một năm đen tối, nhưng theo ông Maxime Toubart, Chủ tịch Liên đoàn các nhà trồng nho vùng Champagne (SGV), giới sản xuất đã tránh được kịch bản xấu nhất từng được dự trù vào tháng 07/2020. Có thể nói là ngành sản xuất rượu champagne đã có phản ứng nhanh chóng, khi cùng đạt thỏa thuận hạn chế mùa thu hoạch, giảm khối lượng rượu sản xuất trong năm. Các thương hiệu lớn hay các nhà sản xuất cỡ nhỏ và trung bình đã tỏ ra đoàn kết vì lợi ích chung : hạn chế sản xuất để tránh tình trạng hầm rượu quá tải, sản phẩm tồn kho ứ đọng. Rượu champagne không giống như các nông phẩm dễ bị hư thối như khoai tây, nhưng khi lượng hàng sản xuất được cung ứng quá nhiều trong khi mức cầu lại thấp, điều đó dễ dẫn đến tình trạng hàng bị mất giá trên thị trường.

Theo ông Jean-Marie Barillère, chủ tịch Liên đoàn các nhà sản xuất champagne (UMC), dù bị mất 1 tỷ euro doanh thu so với năm 2019, nhưng ngành này đã tránh rơi vào tình trạng nguy kịch nhất. Lượng kinh doanh champagne bị sụt giảm là do nhiều yếu tố gộp lại. Dù muốn hay không, hình ảnh của rượu champagne thường được gắn liền với các dịp liên hoan, lễ hội. Mùa dịch Covid-19 chẳng có gì đáng để ăn mừng, người tiêu dùng cũng tự hạn chế các buổi gặp gỡ vui chơi, trà dư tửu hậu. Trong bối cảnh đó, các hộ gia đình ở Pháp phần nào bị xuống tinh thần, họ mất đi nhiều cơ hội để tổ chức tiệc tùng. Vào dịp lễ cuối năm, người Pháp tuy mua ít champagne hơn nhưng bù lại họ dùng các sản phẩm cao cấp, có chất lượng hơn.

Brexit : Ngành champagne Pháp hạn chế thất thu

Bên cạnh đó, ngành du lịch bị ngưng hoạt động, cùng với việc đóng cửa các khách sạn, tiệm ăn, quán bar cũng như hộp đêm đã khiến cho lượng tiêu thụ rượu champagne bị giảm sút một cách rõ rệt. Trong các ngành này, doanh thu champagne trong năm 2020 mất tới 40% và còn giảm mạnh hơn nữa trong các ngành tổ chức sự kiện trong đó có các hội chợ, liên hoan, hội nghị, ngành dịch vụ lễ tân, sinh nhật và nhất là đám cưới.

Trong cái rủi lại có cái may, ngành champagne hạn chế phần nào mức thiệt hại sau khi Liên hiệp châu Âu đạt được thỏa thuận Brexit với Vương quốc Anh vào cuối tháng 12/2020. Thị trường Anh quốc là một thị trường xuất khẩu quan trọng đối với ngành champagne của Pháp, với từ 25 triệu đến 30 triệu chai rượu champagne được bán mỗi năm sang Anh. Giới chuyên ngành thở phào nhẹ nhõm vì câu chuyện dài nhiều tập kết thúc "có hậu". Thị trường Anh vẫn luôn chiếm hạng đầu về sản lượng champagne nhập khẩu, đứng trước các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức hay Thụy Sĩ.

Chẳng hạn một thương hiệu nổi tiếng như Bollinger sản xuất khoảng 3 triệu chai champagne mỗi năm, trong đó có tới hơn một phần ba được dành cho thị trường Anh quốc, tương đương với 45 triệu euro doanh thu xuất khẩu hàng năm. Còn nhà sản xuất champagne Joseph Perrier, nguyên là nhà cung cấp chính thức lâu năm cho Hoàng gia Anh, cũng dành đến 20% sản lượng (800.000 chai mỗi năm) riêng cho thị trường Anh.

Các doanh nghiệp thoát nạn nhưng trong bao lâu

Nhờ quyết định kịp thời trong việc giảm lượng nho thu hoạch và từ đó lượng tránh sản xuất quá mức đến nỗi bị phá giá, ngành champagne của Pháp vẫn đứng trước nhiều khó khăn trong năm 2021. Liệu các công ty cỡ nhỏ và trung bình thoát nạn trong bao lâu ? Tuy hiện giờ, đa số các doanh nghiệp trong ngành này tránh bị phá sản sau một năm đầy biến động, nhưng họ sẽ phải đoàn kết và hợp tác chặt chẽ hơn nữa, một số công ty nhỏ cũng buộc phải sát nhập để có thêm sức chịu đựng trước các cú sốc kinh tế.

Tương tự, cho dù ngành sản xuất champagne cố gắng tìm kiếm biện pháp hỗ trợ, thì giới chuyên ngành cũng chỉ có thể hạn chế thất thu, mong sớm trải qua giai đoạn khó khăn nhất. Tuy quỹ đoàn kết của Châu Âu cũng như của Pháp đã thi hành một loạt biện pháp nhằm tài trợ khẩn cấp các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn nhất, thế nhưng nguồn vốn hỗ trợ ở mức vài chục triệu euro chẳng có ý nghĩa gì nhiều so với toàn ngành champagne, với doanh thu lên tới 5 tỷ euro trong năm 2019. Các biện pháp hạn chế thu hoạch sản xuất để tránh phá giá trên thị trường nội địa hay quốc tế cũng chỉ mang tính tạm thời, chứ khó thể nào duy trì được lâu. Dịch Covid-19 càng kéo dài so với dự phóng ban đầu, khủng hoảng ngành champagne của Pháp lại càng rộng sâu.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#28 Posted : Tuesday, February 9, 2021 8:15:35 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19 : 30% các tiệm quần áo Pháp có nguy cơ đóng cửa luôn

Tuấn Thảo - RFI - 09/02/2021
Tại Pháp, đợt bán hàng hạ giá trong 4 tuần lễ mùa đông (soldes d'hiver) đã không thành công như mong đợi. Giới chuyên ngành hy vọng là truyền thống tặng quà nhân mùa lễ Valentine 2021 sẽ kích thích nhu cầu mua sắm. Nhưng hẳn chắc là mùa soldes đầu năm sẽ không có bội thu và tình trạng hàng tồn kho đang làm tê liệt ngành phân phối áo quần may sẵn.

Mùa bán hàng hạ giá tại Pháp đã bắt đầu từ hôm 20/01 và dự trù kết thúc vào ngày 16/02/2021, nhưng doanh thu của ngành y phục may sẵn sau 3 tuần lễ hoạt động vẫn ở một mức thấp. Cuộc khủng hoảng kinh tế do dịch Covid-19 tác hại cùng lúc trên nhiều mặt. Đa số người tiêu dùng ở Pháp bị xuống tinh thần, nên có tâm lý tiết kiệm nhiều hơn là mua sắm. Doanh thu của giới buôn bán bị sụt giảm trong khi các quy định giãn cách xã hội cũng như lệnh giới nghiêm 6 giờ chiều khiến cho nhiều tiệm quần áo cũng khó mà tranh thủ bán hàng thêm.

Hàng ế ẩm nhiều gấp 4 lần mức bình thường

Vấn đề đầu tiên là khối lượng quần áo không bán được đã tăng gấp ba hay gấp bốn lần so với mức bình thường. Các chủ tiệm phải làm gì đây khi hàng ế ẩm bị ứ đọng lại, chồng chất trong kho. Trong khi ngành thời trang y phục may sẵn chuẩn bị tung ra thị trường các bộ sưu tập mùa xuân và mùa hè. Từ các tiệm nhỏ cho đến các cửa hàng lớn, giới kinh doanh đều gặp cùng một khó khăn như nhau : lượng hàng tồn kho vẫn còn nhiều, cho dù ngay từ những ngày đầu tiên của mùa bán hàng hạ giá, nhiều chủ tiệm đã quyết định giảm giá từ -50% cho đến -65% với hy vọng thu hút thêm nhiều người mua.

Thế nhưng theo lời ông Eric Mertz, chủ tịch Liên đoàn Quốc gia ngành May mặc (FNH), trong 3 tuần vừa qua, người tiêu dùng ở Pháp vẫn ít lui tới các cửa hàng và mọi dấu hiệu đều cho thấy là đầu năm nay, khối lượng hàng tồn kho sẽ đạt mức kỷ lục, đủ để gây xáo trộn ở khâu cuối của chuỗi cung ứng, tức là các cửa hàng phân phối áo quần may sẵn.

Đối với cô Audrey Mercier, chủ một cửa hàng độc lập chuyên bán quần áo và phụ kiện thời trang ở Paris quận 9, vấn đề này là một tai họa bởi vì các chủ cửa hàng nhỏ thường phải ứng tiền mua kho hàng, giờ đây họ phải chịu thêm chi phí quản lý hàng ứ đọng, trong khi doanh thu buôn bán đang ở một mức thấp. Theo cô Audrey, đa số các chủ tiệm quần áo đã không thể bán bộ sưu tập thời trang mùa đông 2020. Thông thường lượng hàng tồn kho là khoảng 10% đến 15% sau mùa bán hạ giá, nhưng năm nay khối lượng hàng tồn đọng lên đến từ 50% đến 70%.

Covid-19 : Các cửa hàng độc lập bị tác hại mạnh nhất

Theo chủ tịch Liên đoàn ngành May mặc Eric Mertz, tình trạng này tạo ra vòng lẩn quẩn, các tiệm quần áo nhỏ cần bán nhiều vào mùa đông để sau đó có thể ứng tiền mua bộ sưu tập mùa xuân, đem hàng mới về trưng bày trong tiệm. Theo ông, giới tự làm ăn kinh doanh ở khâu cuối nguồn bị ràng buộc rất nhiều ở chỗ thiếu tiền mặt. Trong khi đó, giới sản xuất, các nhà cung cấp ở đầu nguồn cũng đang gặp khó khăn, cho nên họ cũng ít khi nào chấp nhận, để cho các nhà phân phối thanh toán chậm.

Phải ứng tiền trước, thì họ mới giao hàng cho các tiệm buôn bán. Vòng lẩn quẩn đó khiến cho nhiều chủ tiệm quần áo thêm lo lắng, tuyệt vọng. Cô Audrey cho biết nhiều chủ tiệm cầu mong cho mùa đông kéo dài sang tháng 03/2021, trời càng lạnh và càng đổ tuyết, thì các chủ cửa hàng mới hy vọng bán được thêm nhiều áo ấm, nếu không họ có nguy cơ bị phá sản từ đây cho tới cuối tháng 04/2021.

So với các công ty độc lập cỡ nhỏ, các cửa hàng lớn và các thương hiệu có uy tín quốc tế lớn tương đối may mắn hơn. Các cửa hàng chi nhánh có thể trả lại các sản phẩm không bán được cho công ty mẹ, sau đó công ty mẹ sẽ chuyển khối quần áo tồn đọng đến các cửa hàng outlet, bán với giá rất thấp với mục đích xử lý sản phẩm còn dư hay là hàng đã "hết thời". Thông thường, các hệ thống phân phối lớn hay lập ra một cửa hàng outlet cho 15 tiệm quần áo "truyền thống", làm như vậy để dễ xử lý các vấn đề liên quan tới mặt hàng dư thừa.

Họa người phúc ta : kinh doanh trực tuyến bội thu

Hiện giờ, chỉ có các dịch vụ chuyên bán quần áo trên mạng mới có thể hưởng lợi từ khối hàng tồn đọng. Các mạng này không có chủ trương phát triển bền vững, và chủ yếu khai thác mô hình "fast fashion" thông qua các kiểu thời trang "dùng liền" và thay đổi thường xuyên. Các công ty Pháp chuyên kinh doanh trực tuyến như VeePee (trước đây là VentePrivée) hoặc là ShowRoomPrivé, đều đã nhân gấp đôi số sản phẩm được rao bán trên mạng. Các dịch vụ này cũng đã tăng thêm hơn 30% các quan hệ đối tác chỉ trong vòng một năm. Các đối tác mới ở đây thường ít phát triển về mặt kinh doanh trực tuyến hay chưa chuyển đổi số kịp thời, cho nên đã chuyển qua hợp tác với các hệ thống dịch vụ này để bán thêm hàng. Kết quả là doanh thu của ShowRoomPrivé đã tăng thêm hơn 30 triệu euro trong năm vừa qua.

Theo ông Yohann Petiot, giám đốc của liên đoàn ngành kinh doanh độc lập, để giải quyết vấn đề hàng tồn đọng, nhiều chủ công ty có thể chịu bán sản phẩm với giá thấp hơn nữa để dễ xuất khẩu mặt hàng sang nước ngoài, chủ yếu là thị trường Trung Đông và các nước châu Phi. Một số doanh nghiệp chọn cách quyên góp và biếu tặng hàng tồn kho cho các đoàn thể hay hiệp hội từ thiện. Các hiệp hội này có thể đem bán lại nhằm mục đích gây quỹ giúp đỡ người nghèo. Biện pháp dùng quần áo cũ để tái chế thành sản phẩm mới cũng phần nào có giới hạn và buộc phải có thêm điều kiện tài chính, cùng cơ sở kỹ thuật để tái xử lý sản phẩm.

Tại Pháp nói riêng và tại châu Âu nói chung, việc tiêu hủy các khối hàng tồn đọng vẫn là phương sách cuối cùng, khi không còn biện pháp khả thi nào khác. Tuy nhiên, ngành công nghiệp may mặc châu Âu sẽ có thêm nhiều ràng buộc kể từ ngày 31/12/2021, thời điểm áp dụng luật về kinh tế tuần hoàn cũng như các quy định mới chống phung phí. Các doanh nghiệp chỉ có thể tiêu hủy sản phẩm với điều kiện là để tạo ra năng lượng.

Dù chọn cách nào đi chăng nữa để xử lý khối hàng tồn đọng, thì các doanh nghiệp ngành may mặc cũng lo lắng trước cú sốc tài chính thứ nhì. Theo dự phóng của Liên đoàn ngành May mặc (FNH), đầu năm 2021 là thời điểm cực kỳ khó khăn đối với giới sản xuất cũng như các nhà phân phối. Có ít nhất 30% các tiệm quần áo, hoạt động dưới dạng công ty độc lập hay công ty gia đình, có nguy cơ đóng cửa luôn trong vòng 60 ngày tới.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#29 Posted : Friday, July 9, 2021 12:35:22 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19 : Vết hằn kinh tế bên lề thảm đỏ Liên hoan Cannes

09/07/2021 - Thanh Hà / RFI
Nói đến Liên hoan phim quốc tế Cannes mọi người liên tưởng đến thảm đỏ, biển biếc và những ngôi sao điện ảnh rực rỡ cả một khung trời, đến những đêm không ngủ vì hội hè. Trong gần hai tuần lễ, Cannes là tủ kính của ngành thời trang và kim hoàn của Pháp, của thế giới. Truyền thống đó vẫn được duy trì dù vậy ngay cả Festival nổi tiếng này cũng đang trong quá trình "hồi sức" sau mùa dịch : virus corona để lại nhiều vết hằn kinh tế.

Boulevard de la Croisette nhìn ra bãi biển, nơi san sát những cửa hiệu thời trang hạng sang với những tên tuổi hàng đầu của ngành thời trang cao cấp của Pháp, những hiệu kim hoàn mà chỉ có những ông hoàng bà chúa, những ngôi sao màn bạc hay các nhà triệu phú, tỷ phú lui tới, năm nay cửa hàng vẫn lấp lánh ánh đèn, máy điều hòa nhiệt độ vẫn hoạt động hết công suất, nhưng rất vắng bóng người ra vào. Nhân viên bảo vệ và tiếp viên đông hơn khách hàng.

Đường Antibes, nằm song song với Boulevard de la Croisette, cũng trong khu vực gọi là « tấc đất, tấc vàng » của thành phố, không còn trông thấy người ta xếp hàng dài đợi mua bánh macaron La Durée hay trước cửa hiệu bánh ngọt thượng hạng Le Nôtre. Thê thảm hơn, ngay trên con lộ rất dài này, liên tục có những cửa hiệu vĩnh viễn đóng cửa, hay để bảng tìm chủ mới. Hai mùa liên hoan trước đây, khó có thể hình dung cảnh tượng trên đường Antibes sầm uất này lại có những nơi cửa đóng then cài ngay mùa cao điểm Festival. Vì đại dịch, Liên hoan đã phải dời lại đến tháng 7, tháng mà thành phố biển này thu hút biết bao nhiêu du khách. Năm nay thì không. Đường phố có đông người, vào giờ ăn trưa hay ăn tối, nhưng không khó để tìm được một chỗ trong nhà hàng, không ai phải đợi lâu khi đi tìm một ổ bánh mì sandwich.

Cũng khó có thể tin rằng vào thời điểm Liên hoan, nhiều khách sạn ở Cannes thông báo hạ giá. Những khách sạn 5 sao vẫn còn chỗ : dân Mỹ, dân châu Á không ồ ạt đổ bộ đến Pháp vào dịp này. Thế rồi ngay cả trên những trục chính của thành phố, nơi mà những chiếc xe bóng loáng chở các siêu sao thường phải đi qua, khách tham quan đã bất ngờ trông thấy khá nhiều người ăn xin, người vô gia cư bên lề đường.

Một ngạc nhiên khác, là mới chỉ 9 giờ tối, ngay trong khuôn viên Festival đã vắng lặng như tờ : có tiếng nhạc từ xa vọng lại nhưng không trông thấy cảnh người tấp nập qua lại. Những đoàn xe chính thức của Liên hoan được đi ngủ sớm. Những túp lều trắng là văn phòng của các tòa soạn báo chí, truyền thông, là trụ sở liên lạc của những hãng phân phối phim xưa kia vốn tấp nập gần như 24/24, nay mới chỉ 7-8 giờ tối là tối đen như mực.

Trước đại dịch Covid-19, Festival Cannes đồng nghĩa với tiệc tùng đủ cấp dành cho đủ mọi túi tiền… Lần này, đến 11 giờ đêm đã thấy cảnh hàng quán dọn dẹp cất bàn ghế vào bên trong, giải phóng vỉa hè.

Ban tổ chức báo trước : tối đa một bữa tiệc chỉ có thể mời 140 thực khách thay vì 300-400 và thậm chí là đôi khi có tới 600 người như “thời xưa”. Đại diện của một nhà sản xuất phim cho biết : lễ ra mắt phim năm nay với ngôi sao điện ảnh Catherine Deneuve đã phải hạn chế tối đa số khách mời : 300 người thay vì 1000. Đến hiệu kim hoàn Chopard, nhà cung cấp Cành Cọ Vàng vào giờ chót đã phải hủy bữa tiệc chiêu đãi, mà theo truyền thống thì đây là một ngọn hải đăng trong thế giới về đêm trên bầu trời điện ảnh Cannes hàng năm. Hệ quả kèm theo là số chai rượu champagne được khui, trong mùa liên hoan lần này chắc chắn cũng bị giảm đi đáng kể.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#30 Posted : Wednesday, July 28, 2021 8:17:25 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Virus corona đục khoét ngân sách của Thế Vận Hội Tokyo

27/07/2021 - Thanh Hà / RFI
Đại hội thể thao chưa tàn Olympic Tokyo đã đoạt huy chương vàng “Thế Vận Hội tốn kém nhất”. Các phí tổn dự trù ban đầu chưa đầy 8 tỷ đô la, nay được báo trước “tối thiểu sẽ phải nhân lên gấp đôi”. Thâm hụt ngân sách của ban tổ chức và nước chủ nhà cũng sẽ là một “kỷ lục” trước viễn cảnh phải hoàn trả lại toàn bộ tiền vé cho khán giả và Nhật Bản không dám đón bất kỳ một du khách nước ngoài nào đến dự sự kiện thể thao trọng đại này.

Sau 2.872 ngày đợi chờ kể từ khi Nhật Bản chính thức được chọn tổ chức Thế Vận Hội 2020, Olympic Tokyo mới khai mạc. Tám năm trước, công luận Nhật phấn khởi được tổ chức lễ hội thể thao lớn nhất thế giới và xem Thế Vận Hội Tokyo là một sự tái sinh sau thảm họa sóng thần và tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima năm 2011. Nhưng chỉ một con siêu vi nhỏ đã dập tắt sự hào hứng đó. Trong hai tuần lễ, Tokyo là nơi mà các phóng viên bị theo dõi chặt chẽ hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Lo ngại Covid-19 tái phát, Tokyo và vùng phụ cận đặt trong tình trạng khẩn cấp y tế. 80 % người Nhật cho rằng “nên hủy Olympic Tokyo thì hơn”. Sau lễ khai mạc, điểm tín nhiệm của thủ tướng Nhật, Yoshihide Suga rơi mất 9 điểm.

Nhưng đó chỉ là bề nổi của tảng băng. Đối với nước chủ nhà Thế Vận Hội 2020 là một cuộc chạy vượt rào. Lần đầu tiên trong thời bình, Thế Vận Hội mùa hè phải hoãn lại đến một năm ; đe dọa ngôi làng Olympic trở thành ổ dịch vẫn rập rình. Tokyo vào thời điểm này lẽ ra là điểm hẹn của những người yêu thể thao trên thế giới, nhưng Covid-19 đã buộc nước chủ nhà thông báo đóng cửa với toàn bộ 600.000 du khách nước ngoài. Thế rồi ngay cả khán giả Nhật Bản cũng bị cấm cửa các sân vận động, cấm lui tới các bể bơi, những phòng thi đấu để cổ vũ “gà nhà”.

Ủy ban Thế Vận Tokyo đang kỳ vọng virus corona không gây trở ngại cho 339 cuộc tranh tài, không len lỏi vào một vài trong số 42 địa điểm thi đấu.

Ai cũng biết, không thể có lễ hội thể thao này nếu không có khán giả, và nếu vắng các nhà tài trợ. Olympic chưa khai mạc, Ủy Ban Thế Vận Quốc Tế đã biết trước là sẽ phải hoàn lại tiền vé cho khán giản. Khoản thất thu ước tính lên tới 3 tỷ đô la. Nhà báo Anne Verdaguer phụ trách phần tin kinh tế của đài RFI tiếng Pháp giải thích rõ hơn :

“ Cần nói rõ ở đây chúng ta chỉ nói đến khoản liên quan đến các các nhà tài trợ và chưa đề cập đến những tác động kinh tế đối với thủ đô Tokyo. Việc khán giả không được vào xem các cuộc thi đấu có nghĩa là ban tổ chức không thu được tiền vé và cũng không mong bán được nhiều đồ lưu niệm chung quanh sự kiện Olympic Tokyo. Trung bình mỗi khán giả vào xem các cuộc thi đấu thường mua sắm thêm từ 50 đến 100 euro đủ mọi mặt hàng như là mũ, áo thun, túi xách với logo Thế Vận Hội Tokyo…

Thêm một khó khăn nữa là không có khán giả, các nhà tài trợ không biết được rằng chiến dịch quảng cáo có hiệu quả hay không và hiệu quả tới mức độ nào. Một hãng bỏ ra rất nhiều tiền để quảng cáo có thể hy vọng có thêm được bao nhiêu khách hàng ? Sẽ có bao nhiêu người trung thành với một nhãn hiệu ? Hiện tại, khoảng 60 tập đoàn tài trợ cho sự kiện thể thao trọng đại này và thêm vào đó là khoảng chừng 12 công ty đa quốc gia.

Michel Tapiro, sáng lập viên Trường Quản Lý Thể Thao nêu lên một ẩn số khác liên quan đến hình ảnh của các tập đoàn lớn, đó là một sân vận động khổng lồ không có khán giả báo trước một mùa thi đấu nhàm chán. Olympic lại diễn ra vào thời điểm mà Nhật Bản phải đối mặt với một đợt dịch mới, cho nên không mấy ai nghĩ đến chuyện giải trí. Sau cùng thành phố Tokyo cũng đang hồi hộp không biết rằng sau mùa Thế Vận Hội, hóa đơn phải thanh toán sẽ lên tới bao nhiêu tiền. Thành phố bị thua lỗ tới mức nào. Đừng quên rằng Tokyo có trọng lượng kinh tế tương đương với 19 % GDP của cả nước”.

Gáo nước lạnh cho các nhà tài trợ

68 doanh nghiệp hàng đầu của Nhật Bản tài trợ đến 3 tỷ đô la sự kiện Olympic Tokyo. Đây cũng là một mức tham gia tài chính cao chưa từng thấy. Vậy mà lãnh đạo các tập đoàn này lần lượt thoái lui khi được mời dự lễ khai mạc trên khán đài danh dự. Lại cũng không thấy xuất hiện trên các sân cỏ, tại các địa điểm thi đấu logo của Toyota hay Panasonic, của hãng bia Asahi hay của tập đoàn thực phẩm Ajinomoto, của ông vua mì ăn liền Nissin …

Thật ra tất cả những tên tuổi lớn này của nền công nghiệp Nhật Bản đã chuẩn bị để tham gia Thế Vận Hội Tokyo từ lâu. Họ đã chuẩn bị từ những chiến dịch quảng cáo để phát trên đài truyền hình, những áp phích quảng cáo trong hệ thống xe điện métro, những sự kiện thể thao, văn hóa để quảng cáo sản phẩm trên đường phố, những buổi chiêu đãi ngay trong ngôi làng Olympic, tổ chức xổ số tombola với phần thưởng là vé mời vào xem các cuộc tranh tài … Thế nhưng virus corona khiến những nỗ lực đó đã như dã tràng xe cát. Giờ đây không một công ty lớn nào dám phô trương hình ảnh, hay gắn liền tên tuổi của mình với Olympic Tokyo khi mà đại đa số dân Nhật “chống đối” việc tổ chức sự kiện thể thao này. Seth Kirby, một chuyên gia về các chiến dịch quảng cáo trong thế giới thể thao đại học Waseda nói đến một “hiện tượng chưa từng xảy ra trong lịch sử cận đại”. Hãng xe Toyota chẳng hạn dự trù Thế Vận Hội kỳ này sẽ biến đường phố Tokyo thành một “tủ kính quảng cáo” ngoài mong đợi để quảng bá với đại chúng về công nghệ hiện đại nhất, về những phát minh mới, những kiểu xe mới. Thế nhưng tất cả đã phải hủy vào giờ chót. Toyota không muốn trông thấy logo của mình xuất hiện tại các sân vận động khổng lồ chung quanh là những hàng ghế trống khán giả.

Nhưng cũng có những doanh nghiệp biết xoay xở, “tương kế, tựu kế” : do khủng hoảng y tế, hàng quán phải bị đóng cửa, hãng bia Asahi tuy không tiếp cận được với khán giả tại các sân vận động hay ngôi làng Thế Vận, tập đoàn này dồn nỗ lực cho ngân sách quảng cáo trên đài truyền hình. Một tính toán khôn ngoan bởi đây là kênh duy nhất đưa khán giả Nhật và quốc tế đến gần với Olympic Tokyo. Nhà cung cấp mạng NTT thì chọn mở rộng các dịch vụ để phục vụ tốt hơn các phái đoàn đến tranh tài trên xứ Nhật. Về phía các nhà tài trợ quốc tế như hãng nước ngọt của Mỹ Coca-Cola hay tạp đoàn Samsung của Hàn Quốc thì cũng khai thác tối đa hình ảnh của mình qua các chiến dịch quảng cáo trên tivi với toàn thế giới.

Dù vậy Thế Vận Hội lần này để lại nhiều vị đắng trên các nhiều lĩnh vực kinh tế khác. Các hãng hàng không quốc gia ANA hay JAL mất hẳn lượng khách nước ngoài đến tham quan xứ Hoa Anh Đào vào dịp này. Khách sạn, nhà hàng, những dịch vụ giải trí, cửa hàng bán hàng lưu niệm buồn tênh.

May mắn thay cho ban tổ chức là các nhà tài trợ dù có thất vọng nhưng đã không hủy hợp đồng để được quyền tham gia Olympic Tokyo.

Virus và lỗ hổng trong ngân sách của ban tổ chức

Năm 2013 chính phủ Nhật thuyết phục Ủy Ban Thế Vận Quốc Tế rằng Olympic Tokyo sẽ là một mùa thể thao “lành mạnh”, không quá tốn kém nhờ đã có sẵn nhiều cơ sở hạ tầng, Nhật Bản sẽ không để tiền bạc nhận chìm những giá trị Olympic. Thế Vận Hội 2020 sẽ là tủ kính của “công nghệ sạch” của những “phát minh mới”. Ngân sách ban đầu được ấn định ở mức 7,8 tỷ đô la. Tám năm sau, Olympic Tokyo đang trở thành Thế Vận Hội tốn kém nhất từ trước tới nay. Hơn cả mức chi tiêu đến chóng mặt của Bắc Kinh năm 2008 hay Luân Đôn năm năm 2012. Trước mắt các phí tổn dự trù lên tới gần 16 tỷ đô la. Một loạt các chi phí ngoài mong đợi để bảo đảm vệ sinh và an toàn cho các phái đoàn trong mùa đại dịch, và việc đã phải hoãn Thế Vận Hội Tokyo mất một năm giải thích phần lớn khoản phụ trội này. Bên cạnh những lo ngại về y tế, công luận Nhật cho rằng, viễn cảnh thua lỗ cũng là một lý do chính đáng để hủy Olympic Tokyo. Nhà báo Anne Vergaguer không quá bi quan như vậy :

“Chính một thành viên ủy ban Thế Vận Hội Tokyo cho rằng Nhật Bản đã bỏ lỡ cơ hội để tuyên bố hủy Olympic năm nay. Nhiều tiếng nói khác ngay cả trong hàng ngũ chính phủ cũng tán đồng quan điểm này. Về phía công luận hơn 80 % những người được hỏi chủ trương nên hủy sự kiện thể thao này là hơn. Nhật Bản đã chi ra hơn 15 tỷ euro cho Thế Vận Hội năm nay và đây là số tiền chưa từng thấy trong lịch sử Olympic. Về câu hỏi vắng bóng khán giả có ảnh hưởng gì đến kinh tế Nhật hay không, câu trả lời gần như là không, bởi vì giới tài chính đã dự trù kịch bản này xảy ra.

Dù vậy, một vài nhà tài trợ Nhật Bản đã trông thấy cổ phiếu của họ bị mất giá do chính phủ quyết định đóng cửa các địa điểm thi đấu với công chúng. Riêng ngành du lịch, khách sạn, nhà hàng, quán bar… thì bị thiệt hại nhiều vì không có du khách. Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể ngay cả trong trường hợp Nhật Bản có thể đón đến 600.000 du khách quốc tế, thì số này cũng chỉ tiêu xài một khoản tiền độ chừng 730 triệu euro trong thời gian tham quan Tokyo mà thôi. Số tiền nói trên tương đương với 0,02 % GDP của Nhật. Nói cách khác, kinh tế Nhật Bản không bị chao đảo vì vắng khách ngoại quốc đến xem Thế Vận Hội Tokyo”.

Kinh tế gia Takahide Kiuchi ngân hàng Nomura cũng cho rằng tác động kinh tế của đại hội thể thao Olympic khá giới hạn so với tổng thể GDP của toàn nước Nhật. Ngay cả trong trường hợp Thế Vận Hội kỳ này bị hủy bỏ thì “khoản thất thu cũng không thấm vào đâu so với những tổn thất mà các đợt phong tỏa và tình trạng khẩn cấp y tế để lại”.

Tuy nhiên nhà nghiên cứu này cũng "công bằng" với virus corona khi nhắc lại rằng, trong lịch sử Thế Vận Hội, từ năm 1960 tới nay ngân sách chưa bao giờ được “cân bằng” và cũng chưa một ai tôn trọng được ngân sách dự phóng ban đầu. Tuy vậy cũng chưa một mùa Olympic nào ngân sách lại bị nhân lên gấp đôi so với dự kiến ban đầu.

Ba năm trước Thế Vận Hội Paris 2024, chắc chắn là Pháp cũng đang lo lắng. Paris dự trù một ngân sách dưới 8 tỷ đô la cho Olympic 2024 và kỳ vọng thu về 11 tỷ nhờ sự kiện thể thao này. Nhưng đó là chưa kể đến những bất ngờ vào giờ chót, vào sự thận trọng của các nhà tài trợ, vào tình hình y tế, xã hội … Cầm chắc nước chủ nhà cũng sẽ bị thua lỗ nhưng liệu rằng Paris có may mắn hơn Tokyo tránh để ngân sách chi tiêu tăng lên gấp đôi hay không ?


Hoàng Thy Mai Thảo  
#31 Posted : Tuesday, August 31, 2021 11:21:47 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19 : Khủng hoảng dịch tễ tiêu tốn của Pháp hơn 240 tỷ euro

31/08/2021 - Minh Anh / RFI
Bộ trưởng Kinh tế Pháp Bruno Le Maire ngày 30/08/2021 cho biết kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát, Pháp đã chi ra tổng cộng hơn 240 tỷ euro để chống chọi với khủng hoảng.

Cụ thể, nước Pháp đã dành 80 tỷ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp và 160 tỷ cho các khoản vay do Nhà nước bảo đảm (PGE). Trước tình hình kinh tế khởi sắc trở lại, bộ trưởng Kinh Tế Pháp thông báo chấm dứt chương trình hỗ trợ bằng « bất cứ giá nào », vốn đã chiếm đến 9,5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chuyển sang mô hình hỗ trợ theo « từng mục » cho các doanh nghiệp.

Theo AFP, sau cuộc họp với lãnh đạo các nghiệp đoàn của các ngành thương mại, du lịch và tổ chức các sự kiện, vốn dĩ bị ảnh hưởng nặng do dịch bệnh, ông Bruno Le Maire cho biết sẽ triển hạn thêm một tháng Quỹ Liên đới cho đến cuối tháng 09/2021, nhưng với những điều kiện mới nhằm tránh trường hợp « lạm dụng » sự hỗ trợ của Nhà nước.

Trang mạng La Depeche cho biết Pháp chưa phải là quốc gia hào phóng nhất. Mức chi tiêu của Pháp chỉ ở mức trung bình so với các nước quốc gia châu Âu láng giềng. Cụ thể, Ý - quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của trận đại dịch - đã phải chi ra hơn 405,6 tỷ euro, trong đó có gần 183 tỷ dành cho các biện pháp khẩn cấp, và gần 223 tỷ euro cho kế hoạch phụ hồi kinh tế. Mức chi này tương ứng với 22,7% GDP của Ý.

Về phần Tây Ban Nha, nước này đã tiêu tốn hơn 172,1 tỷ euro kể từ khi dịch bệnh bùng phát, chiếm đến 13,8% GDP. Với mức chi hơn 240 tỷ, Pháp chỉ nhỉnh hơn Đức, với ngân sách dành cho đại dịch chiếm 8,3% của GDP.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#32 Posted : Monday, September 6, 2021 12:46:57 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Tác động của đợt dịch Covid mới lên nền kinh tế Việt Nam

06/09/2021 - Thanh Phương / RFI
Mặc dù Việt Nam vẫn được xem là quốc gia có nền kinh tế vững nhất trong ASEAN hiện nay, đợt dịch Covid mới và các biện pháp hạn chế nghiêm ngặt để phòng chống dịch đang ảnh hưởng đến mức tăng trưởng của Việt Nam trong năm nay. Đại dịch tại Việt Nam cũng sẽ phần nào gây xáo trộn chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đợt dịch lần này dữ dội hơn nhiều so với những lần trước do biến thể Delta lây lan rất nhanh và tâm dịch lại là Sài Gòn, thành phố rất đông dân và cũng là nơi tập trung rất nhiều cơ sở sản xuất lớn. Chính quyền địa phương đã phải phong tỏa gần như hoàn toàn, ra lệnh “ai ở đâu ở yên đó”, ban hành cả lệnh giới nghiêm buổi tối.

Chính phủ Việt Nam đang ráo riết tìm mua nguồn vac-xin để đẩy mạnh chiến dịch chích ngừa cho người dân, hy vọng sẽ sớm khôi phục hoạt động sản xuất. Nhưng tiến độ tiêm chủng không thể nhanh như mong muốn, vì nguồn cung vac-xin từ nước ngoài vẫn hạn chế, mà vac-xin nội địa thì chỉ năm sau mới có thể được sử dụng. Cho nên, không loại trừ khả năng là những biện pháp hạn chế nghiêm ngặt để phòng chống dịch sẽ còn kéo dài, ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất.

Tăng trưởng sụt giảm
Tổng cục Thống kê Việt Nam đã từng dự báo là tổng sản phẩm nội địa (GDP) trong quý 2 của năm 2021 tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2020, nhưng trong báo cáo đưa ra ngày 30/08 vừa qua, ngân hàng DBS của Singapore đã hạ mức dự báo tăng trưởng này xuống 5%, thay vì 6,7% như dự báo ban đầu.

Về phần hai nhà kinh tế của ngân hàng Maybank Kim Linda Liu và Chua Hak Bin, được tờ báo Business Times của Singapore trích dẫn ngày 31/08/2021, họ vẫn giữ nguyên mức tăng trưởng dự báo cho quý 2 là 5,4%, nhưng dự đoán là mức tăng trưởng của Việt Nam sẽ sụt xuống còn 3% trong quý 3.

Theo báo cáo ngày 01/09/2021 của công ty Anh Quốc IHS Markit, chuyên thu thập kết quả khảo sát chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI), một chỉ số tổng hợp đo lường kết quả hoạt động của ngành sản xuất, chỉ số này đã giảm xuống còn 40,2% trong tháng 8, so với mức 45,1% trong tháng 7.

Lý do là trong tháng 8, sản lượng đã giảm đáng kể vì nhiều nhà sản xuất phải tạm ngưng hoạt động, những doanh nghiệp khác thì bị khan hiếm nhân công và khả năng sản xuất bị hạn chế.

Những biện pháp hạn chế để phòng chống dịch cũng đã khiến số đơn đặt hàng mới sụt giảm nhanh hơn trong tháng thứ ba liên tiếp và với tốc độ nhanh nhất từ 16 tháng qua. Cũng theo báo cáo của IHS Markit, tâm lý của giới doanh nghiệp trong tháng 8 cũng sụt giảm đến mức thấp nhất từ 15 tháng qua, do tính chất nghiêm trọng của đợt dịch lần này khiến nhiều doanh nghiệp nghĩ rằng hoạt động của họ sẽ còn bị hạn chế hơn nữa.

Vị thế trung tâm sản xuất bị lung lay

Trong bài báo đăng trên mạng ngày 31/08, nhật báo tài chính của Anh Financial Times nhận định là đợt dịch Covid mới đang ảnh hưởng nặng nề đến vị thế của Việt Nam, vốn được xem là một trong những trung tâm sản xuất hàng đầu của châu Á.

Tờ báo cho biết là trang Nikkei Asia của Nhật nay xếp Việt Nam ở thứ hạng 120 về chỉ số Hồi phục Covid-19, tức là chỉ số về quản lý dịch bệnh và tỷ lệ tiêm chủng, hai mặt mà Việt Nam đều tỏ ra yếu kém.

Theo nhận định của Financial Times ngày 31/08, do chiến lược trước đây để phòng chống Covid-19 không còn hiệu nghiệm nữa, chính quyền Hà Nội nay phải tập trung vào việc kiềm chế đà lây nhiễm và cố giữ cho sản xuất không bị ngưng trệ. Một số doanh nghiệp đã áp dụng mô hình “3 tại chỗ” ( công nhân làm việc, ăn, ngủ ngay tại nơi sản xuất ), nhưng mô hình này rất khó được duy trì lâu dài đối với người lao động và rất tốn kém cho các doanh nghiệp.

Một số công ty đa quốc gia phải mướn phòng cho các lãnh đạo của họ tại các khách sạn gần trụ sở công ty. Nhưng vào tháng trước, tập đoàn đầu tư VinaCapital, trong một thông tin gởi đến các khách hàng, đã nhấn mạnh là các công ty lớn thì có thể chịu được các chi phí về khách sạn, nhưng còn các công ty sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng thấp như giày da, quần áo, … thì rất khó mà duy trì sản xuất. VinaCapital ghi nhận xuất khẩu các mặt hàng này của Việt Nam đã sụt giảm trong tháng 8 và sự sụt giảm này sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Financial Times trích lời bà Nguyễn Phương Linh, Phó GĐ công ty tư vấn Control Risks: “ Các biện pháp hạn chế đang kìm hãm nặng nề khả năng sản xuất của Việt Nam. Một số doanh nghiệp nay không dám nhận đơn đặt hàng mới nữa, vì sợ không thể đáp ứng được, do tình trạng thiếu nhân công".

Tuy vậy, đối với bà Nguyễn Phương Linh, sự ngưng trệ sản xuất có thể chỉ là một vấn đề ngắn hạn, “vì Việt Nam vẫn là một địa điểm hấp dẫn so với nhiều nước khác ở châu Á.” .

Chính phủ Hà Nội đã đề ra mục tiêu là đến ngày 15/09 sẽ kiềm chế được dịch Covid-19, cụ thể là phải làm sao đến ngày đó sẽ giảm được 20% số ca tử vong mỗi ngày và số ca xuất viện nhiều hơn số ca nhập viện. Nhưng vấn đề là Việt Nam có thể nhanh chóng khống chế khủng hoảng y tế để giữ chân các nhà đầu tư ngoại quốc hay không.

Ảnh hưởng đến nguồn cung thế giới

Theo Financial Times, các nhà máy của những thương hiệu quốc tế lớn như Nike và Adidas đã ngưng hoạt động, gây xáo trộn chuỗi cung ứng toàn cầu, đến mức có người tiên đoán mùa Noel năm nay thế giới sẽ khan hiếm giày! Hãng Toyota cũng đã đình chỉ sản xuất tại 27 dây chuyền tại 14 nhà máy của họ ở Nhật Bản, do khan hiếm các phụ tùng sản xuất tại Đông Nam Á, phần lớn là ở Việt Nam.

Các biện pháp hạn chế của Việt Nam để phòng chống dịch Covid-19 cũng đang gây lo ngại ngày càng nhiều cho chuỗi cung ứng cà phê toàn cầu, bởi vì Việt Nam là hiện là quốc gia xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ hai thế giới.

Nhật báo Anh Independent hôm 1/9 cho biết là do Sài Gòn, trung tâm xuất khẩu chính của Việt Nam, đang hạn chế đi lại, cho nên việc vận chuyển cà phê robusta từ Việt Nam bị ảnh hưởng rất nhiều, trong khi đây là loại cà phê được dùng nhiều nhất để sản xuất cà phê hòa tan uống liền và một số nhãn hiệu cà phê espresso. Số tàu container ít đi, thì chi phí vận chuyển tăng lên. Một số vùng trồng cà phê ở Việt Nam hiện cũng bị các biện pháp hạn chế phòng chống dịch.

Tình hình dịch Covid-19 ở Việt Nam gây thêm lo ngại cho các thị trường cà phê là bởi vì Brazil, quốc gia sản xuất nhiều nhất thế giới cà phê robusta dùng để chế biến cà phê cao cấp, năm nay đã bị hai thiên tai hạn hán và đông giá, sản lượng sụt giảm mạnh, cho nên rất có thể là giá bán cho người tiêu dùng sẽ tăng trong những tháng tới. Theo Independent, giá bán sỉ cà phê robusta đã tăng 50% trong năm nay. Tuy nhiên, do nhiều nhà buôn cà phê đã ấn định giá từ nhiều tháng trước, nên giá bán lẻ chưa tăng ngay.

Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam và các hiệp hội doanh nghiệp khác đã kêu gọi nới lỏng các biện pháp hạn chế để xuất khẩu trở lại bình thường hơn, tránh những sự chậm trễ và những chi phí không cần thiết. Chính phủ Việt Nam cho tới nay vẫn không đáp ứng yêu cầu nới lỏng các biện pháp hạn chế, nhưng bộ trưởng Giao Thông Việt Nam đã chỉ thị cho các chính quyền địa phương khu vực Sài Gòn giúp tháo gỡ các rào cản gây trở ngại việc vận chuyển hàng xuất khẩu, nhất là cà phê, ra khỏi Việt Nam.

Cả quần áo lẫn thủy sản

Nhưng không chỉ có cà phê, trang tin Yahoo News ngày 01/09/2021 cho biết là đợt Covid-19 lần này ở Việt Nam cũng đang góp phần làm chậm lại chuỗi cung ứng hàng may mặc toàn cầu.

Trong những năm gần đây, nhiều nhà bán lẻ và nhà cung cấp đã chuyển hoạt động từ Trung Quốc sang các nước Đông Nam Á để đa dạng hóa nguồn cung. Các thương hiệu lớn như Nike, Lululemon, Gap cho biết một số lượng đáng kể, nếu không muốn nói là đa số, các sản phẩm của họ nay được sản xuất từ Việt Nam. Nhưng do Việt Nam ban hành các biện pháp hạn chế nghiêm ngặt, các công ty buôn bán hàng may mặc nay còn gặp khó khăn hơn về nguồn cung.

Nói chung là do đợt dịch mới này, ngành dệt may hiện đang đối mặt với những khó khăn chưa từng có và dự báo khó có thể đạt con số xuất khẩu năm 2021 như dự kiến là 39 tỷ đôla.

Báo cáo của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cho biết chỉ trong vòng 1 tháng, "số lượng lao động tạm thời không thể đi làm của tập đoàn đã lên tới trên 40.000 người, chủ yếu tại khu vực phía Nam".

Còn theo một lãnh đạo của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), được Thông tấn xã Việt Nam trích dẫn ngày 20/08, "việc thực hiện giãn cách xã hội kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của các công ty dệt may với khoảng 50% nhà máy đặt tại miền Nam". Hiện tỷ lệ nhà máy phải đóng cửa đã lên tới 35% do không đủ kinh phí để thực hiện "3 tại chỗ."

Trang mạng SeafoodSource ngày 01/09 cho biết là các lãnh đạo ngành hải sản của Việt Nam cũng đang ngày càng lo ngại về tác động kinh tế của đợt dịch Covid-19 lần này.

Lý do là trong số hơn 390.000 người bị nhiễm virus corona từ ngày 27/04, đa số là sống ở miền nam, nơi tập trung nhiều cơ sở nuôi trồng thủy sản. Các biện pháp an toàn dịch tễ, giãn cách xã hội ở hàng chục tỉnh thành, cũng như việc các cơ sở chế biến thủy sản hạn chế hoạt động, khiến sản lượng thủy sản của Việt Nam giảm mạnh. Nay các doanh nghiệp trong ngành này lo ngại là những khó khăn trong hoạt động nuôi trồng thủy sản, cũng như sự bất định về mức cầu và về khả năng xuất khẩu sẽ ảnh hưởng nặng nề đến mùa thu hoạch tôm thứ hai trong năm.

Các hộ nuôi trồng tôm quy mô nhỏ vẫn ký hợp đồng bán sản phẩm của họ cho các công ty kinh doanh thủy sản lớn hơn thì ngại trữ nhiều tôm trong ao hồ của họ, và như vậy có nguy cơ là đến cuối năm sẽ khan hiếm tôm, theo lời bà Võ Thị Tường Oanh, công ty Siam Canadian Việt Nam, được trang SeafoodSource trích dẫn. Còn đối với những hộ nuôi tôm đã ký cam kết bán sản phẩm của họ, nhiều người gặp khó khăn khi tìm mua thức ăn cho tôm, do tình trạng khan hiếm xuất phát từ việc hai trong số nhà máy lớn nhất về thức ăn cho tôm, chiếm đến 70% nguồn cung cấp, đang đóng cửa do đại dịch. Tình hình lại còn khó khăn hơn, do phần lớn các trại nuôi tôm giống cũng đang đóng cửa.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#33 Posted : Wednesday, September 15, 2021 11:03:35 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
You have been a member since:: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,464

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Châu Âu ngạt thở vì thiếu chip điện tử của châu Á

14/09/2021 - Thanh Hà / RFI
Trung Quốc biết lo xa vơ vét chip điện tử. Châu Á, nguồn cung cấp đến 80 % linh kiện bán dẫn cho thị trường toàn cầu, bị tê liệt một phần dưới tác động của biến thể Delta, Covid-19. Hậu quả kèm theo là châu Âu bị vạ lây. Nhiều nhà máy trên Lục Địa Già phải tạm đóng cửa vì thiếu linh kiện bán dẫn.

Hàng loạt các nhà máy trên thế giới phải hoạt động chậm lại, công nhân bị cho nghỉ việc vì lý do « kỹ thuật », lỗi do thiếu « não bộ » của hàng tỷ máy móc điện tử, từ xe hơi, đến điện thoại thông minh, máy tính cá nhân, TV, thẻ tín dụng ngân hàng...

Châu Âu lệ thuộc đến 94 % vào chịp « nhập khẩu » bị nặng hơn cả. Trong chưa đầy một năm, các nhà máy sản xuất xe hơi ở Rennes (miền tây bắc nước Pháp), tại Sochaux (miền đông) hay ở Onnaing (miền bắc), đều đã phải tạm cho nhân viên nghỉ việc trong nhiều đợt. Nhìn rộng ra hơn tại châu Âu, các xưởng sản xuất của hãng xe Nhật Toyota chỉ hoạt động 40 % so với công suất bình thường. Lý do : nhà máy không còn chip điện tử để lắp ráp xe. Toyota không là trường hợp duy nhất. Đối thủ đáng gờm nhất của hãng xe Nhật này là tập đoàn Đức, Volkswagen cùng chung số phận. Tập đoàn sản xuất xe vận tải của Thụy Điển, Scania cuối tháng 8/2021 thông báo « ngưng sản xuất trong vòng một tuần » tại tất cả các nhà máy ở Thụy Điển, Pháp và Hà Lan.

Riêng chi nhánh của tập đoàn Peugeot tại Rennes, sau ba tuần lễ nghỉ hè trong tháng 8, nhân viên bất ngờ được kéo dài thời gian nghỉ phép ngoài ý muốn. Tổng giám đốc Emil Frey France, chuyên phân phối 28 hiệu xe khác nhau tại 250 văn phòng đại diện trên toàn quốc khẳng định : « Thời gian giao hàng bị trễ từ sáu đến 9 tháng ».

Theo thẩm định của cơ quan tư vấn Boston Consulting, hiện tượng khan hiếm linh kiện bán dẫn ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng 8 triệu chiếc xe bán ra trên thế giới chỉ riêng trong năm nay, tương đương với gần 10 % của thị trường toàn cầu. Khoản thất thu kèm theo, ước tính lên tới khoảng 110 tỷ đô la theo thẩm định của Alix Partners, trụ sở tại New York. Vấn đề đặt ra là hiện tượng khan hiếm chip điện tử có nguy cơ kéo dài.

Trả lời đài phát thanh tư nhân Radio Classique hôm 03/09/2021, Paul Boudre tổng giám đốc Soitec, tập đoàn cung cấp nguyên liệu để sản xuất công nghệ bán dấn của Pháp, chờ đợi « cơn khát » này sẽ kéo dài thêm « từ sáu đến chín quý nữa » có nghĩa là đến cuối 2023 : « Sự khan hiếm này được xác định ở nhiều cấp trước hết là từ phía các lò đúc. Như đã biết khoản đầu tư cần thiết trong ngành được tính hàng tỷ đô la. Các dây chuyền sản xuất đã hoạt động hết công suất. Bây giờ cần bắt buộc phải xây dựng những nhà máy máy mới và cần có thời gian để cân bằng mức cung và cầu ».

Trung Quốc « vơ vét » chip của thế giới

Có hai nguyên nhân dẫn tới hiện tượng khan hiếm nói trên, cả hai cùng xuất phát từ châu Á. Trên đài phát thanh France Info, chuyên gia kinh tế Rémi Bourgeot, cộng tác viên Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược - IRIS của Pháp chú ý đến chiến thuật của Trung Quốc trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung :

« Trung Quốc đã lo xa, tích trữ linh kiện từ trước cho một thời gian dài, tránh để bị thiếu hụt. Một cách cụ thể là thay vì dự trù khối lượng đủ để cung cấp cho các nhà máy trong một hay hai tuần hay cùng lắm là một tháng, thì Trung Quốc dự trù cho khoảng thời gian là từ một đến hai năm, vơ vét chip của thị trường thế giới. Bằng mọi giá, Bắc Kinh muốn tránh để dây chuyền sản xuất bị gián đoạn. Trung Quốc đã đầu tư 180 tỷ đô la để phát triển các nhà máy sản xuất linh kiện bán dẫn, không phải lệ thuộc vào Mỹ. Châu Âu thì mới bắt đầu nhập cuộc ».

5 nhà máy tại Malaysia bị tê liệt

Nguyên nhân thứ nhì khiến thị trường công nghệ bán dẫn càng lúc càng « căng », do dịch Covid-19 tái phát tại châu Á, nơi « tập trung đến 80 % các nhà máy sản xuất chip điện tử » để cung cấp cho toàn cầu : chỉ riêng tập đoàn TSMC của Đài Loan sản xuất 28 % những « con bọ điện tử bán ra cho thế giới. Một ông khổng lồ khác trong ngành là UMC cũng của Đài Loan chiếm 13 % thị phần toàn cầu. Nhật Bản bảo đảm 16,5 % nhu cầu tiêu thụ cho thế giới, Hàn Quốc là 21 %.

Theo thẩm định của cơ quan tư vấn Hoa Kỳ IC Insight, trong lĩnh vực điện tử, châu Âu lệ thuộc vào 94 % chịp điện tử châu Á. Năm nhà máy tại Malaysia là nguồn cung cấp chính phục vụ các nhà máy lắp ráp xe hơi tại châu Âu. Năm nhà máy đó được đặt tại Penang, (bờ biển tây bắc Malaysia), một nhà máy thứ nhì đặt tại tỉnh Kedah, sát biên giới với Thái Lan, một ở cảng Malacca, một ở khu vực cực nam là Johor và nhà máy quan trọng sau cùng được đặt tại Selangor, cách không xa thủ đô Kuala Lumpur. Có điều dịch Covid-19 kéo dài từ đầu 2020 và đã bùng phát mạnh trở lại từ mùa xuân vừa qua khiến các nhà máy này đã phải tạm đóng cửa, hoặc hoạt động với số lượng nhân viên ít hơn nhiều so với bình thường.

Những nhu cầu tiêu thụ mới

Ở góc đài bên kia, chính virus corona đã đẩy nhu cầu tiên thụ tăng cao và phát sinh thêm những nhu cầu mới. Paul Boudre, tổng giám đốc tập đoàn Soitec của Pháp, phân tích :

« Đại dịch là yếu tố thúc đẩy mọi việc : có nhiều thay đổi quan trọng, thậm chí là cả một sự đảo lộn, trong lối sống của chúng ta. Tiêu biểu nhất là trên phương diện y khoa và giáo dục. Linh kiện bán dẫn từ 40 năm nay đã đem lại nhiều thay đổi trong cuộc sống hàng ngày, qua máy điện toán, qua điện thoại thông minh… Ngành công nghệ bán dẫn càng lúc càng chiếm một vị trí quan trọng và cũng đã có nhiều tiến bộ trên thị trường này.

Trước đây, chủ yếu bên công nghiệp sử dụng chíp điện tử, như công nghệ xe hơi… Nhưng đừng quên rằng từ khi dịch Covid-19 bùng lên, trong giai đoạn phong tỏa, mọi người đã phải mua thêm đến 300 triệu chiếc máy tính cá nhân để làm việc, để theo học từ nhà. Nhu cầu linh kiện bán dẫn càng lúc càng lớn và ngành công nghiệp sản xuất chip điện tử vừa là một yếu tố làm thay đổi môi trường công nghiệp, vừa đứng trước nhiều thử thách ».

Chiến lược phát triển nào ?

Vào lúc Hoa Kỳ đã xem « công nghệ bán dẫn » là một ưu tiên chiến lược, Trung Quốc đầu tư 180 tỷ đô la để không còn lệ thuộc vào bọ điện tử của Mỹ, thì châu Âu đã có những bước chuẩn bị như thế nào ? Tổng giám đốc Soitec, Paul Boudre trả lời :

« Châu Âu có những công ty dẫn dầu thị trường trong ngành. Những công ty đó cần được hỗ trợ để tiếp tục là những con chim đầu đàn, để tiếp tục giữ thế thượng phong trong tương lai. Trong số những hãng lớn của châu Âu phải kể tới ST MicroElectronics, NSX Semiconductors hay Infeneon Technoligies… Các công ty này đã đầu tư rất nhiều và có hẳn những chiến lược phát triển linh kiện bán dẫn để phục vụ các ngành từ công nghệ viễn thông đến trí thông minh nhân tạo hay ngành công nghệ xe hơi.

Giờ đây chúng ta đã trông thấy là nhu cầu càng lúc càng lớn của ngành y tế, giáo dục. Các trung tâm nghiên cứu về công nghệ nano và microtechnologies lại càng cần được hỗ trợ nhiều hơn và đã đến lúc các tập đoàn của châu Âu cần đẩy mạnh chiến lược phát triển ».

Cụ thể hơn từ 2018, Pháp đã cùng với Đức, Ý và Áo hợp lưc trong một dự án chung mang tên PIIEC. Các bên cộng tác trong các khâu nghiên cứu và phát triển. Bộ Kinh Tế và Tài Chính Pháp đang tiếp tục vận động ba đối tác còn lại để triển hạn và tăng ngân sách cho khâu này.

Mùa xuân vừa qua, Paris triệu tập nhiều đối tác Pháp và châu Âu trong ngành công nghiệp bán dẫn để « cùng hoạch định những chiến lược lâu dài ». Như vừa trình bày, đầu tư trong lĩnh vực này là những dự án bạc tỷ, nhất là châu Âu phải bắt kịp những chậm trễ so với các đối tác châu Á, liệu rằng Bruxelles và 27 nước thành viên có sẵn sàng để nhận lấy gánh nặng đó hay không ? Nhà cung cấp nguyên liệu cho các công ty sản xuất chip điện tử Pháp, Paul Boudre, hãng Soitec một lần nữa nhấn mạnh đến hợp tác giữa các doanh nghiệp với chính phủ :

« Theo tôi tuyệt đối cần phải bảo đảm cho các doanh nghiệp châu Âu một môi trường phát triển an toàn, để cho các hãng này có hẳn một chiến lược rõ ràng trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Chính thế leadership về mặt công nghệ đó là lá chủ bài bảo đảm cho sự độc lập về mặt chủ quyền của châu Âu. Bước tiếp theo là cần quan sát xem làm thế nào để tiếp cận với những công nghệ càng lúc càng tân tiến. Cả hai bước này đều chỉ có thể được thực hiện cùng với các doanh nghiệp ».

18 tháng trước đây, khi đại dịch Covid-19 bắt đầu, Pháp nói riêng Liên Hiệp Châu Âu nói chung đặt ra vấn đề « tự chủ về mặt công nghiệp » không chỉ vì thiếu hụt từ khẩu trang đến trang thiết bị y tế, mà cả trên lĩnh vực công nghệ bán dẫn. Nhưng rồi các nhà máy chip điện tử của châu Á cho đến rất gần đây vẫn hoạt động gần như bình thường, hồ sơ « tự chủ về công nghiệp » có vẻ như đã tạm thời lắng xuống. Nhưng khi cả ngành công nghiệp xe hơi của châu Âu, với hai đầu tàu là các hãng lớn của Đức và Pháp điêu đứng vì thiếu linh kiện bán dẫn của châu Á, thất thu hàng chục tỷ đô la, đây có thể là cú hích thúc đẩy Lục Địa Già đổi chiến lược phát triển công nghiệp.

Users browsing this topic
Guest
2 Pages<12
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.