Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

73 Pages«<6869707172>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1381 Posted : Monday, August 10, 2020 7:02:41 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1382 Posted : Tuesday, August 11, 2020 6:41:46 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Rose Laurens, nụ hồng chưa phai

Tuấn Thảo - 02/05/2020
Đối với những ai yêu chuộng nhạc Pháp, Rose Laurens là một trong những giọng ca tiêu biểu nhất thập niên 1980, thời kỳ huy hoàng của dòng nhạc new wave. Trong tuần này, Rose Laurens từ giã cõi đời vào năm 65 tuổi, sau một thời gian dài chống chọi với bệnh ung thư. (Tạp chí phát lần đầu ngày 05/05/2018)

Sinh trưởng tại Paris (1953-2018) trong một gia đình người Ba Lan di cư sang Pháp, Rose Laurens (tên thật là Rose Podwojny) thừa hưởng năng khiếu âm nhạc của gia đình. Thời còn ở thủ đô Ba Lan, ông nội cô từng là nhạc sĩ dương cầm và vĩ cầm chuyên sáng tác nhạc nền cho các bộ phim. Năm lên 8, cô bé đoạt giải nhất nhân một cuộc thi hát địa phương dành cho thiếu nhi. Sau khi đỗ bằng tú tài Rose Laurens ghi tên vào trường đại học ngoại ngữ khoa tiếng Nga, nhưng chỉ sau một năm cô bỏ học để theo đuổi nghề sân khấu.

Trong nhiều năm liền, cô đi hát rồi ghi âm dưới nhiều nghệ danh khác nhau, nhưng vẫn gặp thất bại. Mãi tới khi cô hợp tác với nhà sản xuất kiêm tác giả Jean Pierre Goussaud, thì lúc ấy Rose Laurens mới bắt đầu gặt hái thành công vào năm 25 tuổi. Trong giới sản xuất nhạc, tác giả Goussaud nổi là người từng sáng tác cho Dalida, Nicole Croisille hay Fabienne Thibault (thời của vở ca nhạc kịch Starmania 1978).

Nhờ vào sự dìu dắt của người bạn đời, mà sự nghiệp của Rose Laurens cất cánh, thuyết phục được các nhà sản xuất giao cho cô một vai diễn quan trọng (vai Fantine) trong vở ca nhạc kịch Những người khốn khổ (Les Misérables của hai tác giả Alain Boublil và Claude-Michel Schönberg). Rose Laurens chính là người đầu tiên ghi âm khúc nhạc chủ đề J’avais rêvé d’une autre vie (tạm dịch Giấc mơ đổi đời) trong nguyên tác tiếng Pháp năm 1980. Vài thập niên sau, phiên bản tiếng Anh của bài ca này (I dreamed a dream) giúp cho Susan Boyle nổi danh trên khắp thế giới.

Trên đà thành công của vở ca nhạc kịch Những người khốn khổ, Rose Laurens tiếp tục hợp tác với người bạn đời để trình làng album đầu tiên. Tác giả Jean Pierre Goussaud muốn thực hiện một album trau chuốt về mặt giai điệu, có chiều sâu về mặt ca từ, bởi vì theo ông Rose Laurens sau khi nổi tiếng nhờ một vở nhạc kịch ‘‘nghiêm túc’’, không nên hát những ca khúc mang tính thương mại. Cho tới cái ngày Rose Laurens tình cờ nghe được một khúc nhạc lạ tai với nhịp điệu lôi cuốn.

Giai điệu này thật ra được viết cho một dự án ghi âm khác, nhưng Rose Laurens bằng mọi cách đòi ghi âm bài hát này trên album đầu tay của mình, bất chấp sự phản đối của nhóm sản xuất. Hơn ba thập niên sau ngày ra đời, giai điệu này vẫn chưa có một vết nhăn, tiếp tục cho ra đời nhiều phiên bản ghi âm lại (cover), kể cả phiên bản gần đây nhất của Julien Doré.

Một giai điệu tựa như câu thần chú thôi miên đầy ma lực quyến rũ, một tiếng gọi mời âm thầm khiến người nghe thả hồn phiêu lưu vào vùng đất hoang sơ bí ẩn, để rồi nhớ lại bao nhân duyên tiền kiếp. Khi được phát hành vào năm 1982, nhạc phẩm Africa lập kỷ lục số bán khi chiếm hạng đầu thị trường quốc tế, kể cả các nước nói tiếng Anh nhờ vào phiên bản Anh ngữ mang tựa đề Voodoo Master. Rốt cuộc quyết định đầy rũi ro này lại làm nên thành công rực rỡ nhất trong sự nghiệp ca hát của Rose Laurens.

Nhờ bản nhạc Africa, Rose Laurens trở thành một trong những giọng ca sáng giá nhất những năm 1980, hợp tác với nhiều tác giả ăn khách thời bấy giờ kể cả Francis Cabrel, Jean Jacques Goldman, Yves Duteil hay Yves Simon. Rose Laurens thành công trong vòng 10 năm liền cho tới năm 1991, tác giả Goussaud đột ngột qua đời vì bệnh ung thư. Một khi đã mất đi tác giả ruột, chuyên sáng tác nhiều bản nhạc ăn khách cho cô trong suốt thời gian hai người chung sống với nhau, vầng hào quang của Rose Laurens bắt đầu bị lu mờ. Tính tổng cộng, cô đã ghi âm 8 album nhưng ít còn đi hát kể từ giữa thập niên 1990 trở đi.

Mãi tới những năm gần đây, khi nhà sản xuất Olivier Kaefer tổ chức các vòng lưu diễn tập hợp các giọng ca vang bóng một thời, thì lúc ấy Rose Laurens mới xuất hiện trở lại trước công chúng. Album cuối cùng được ghi âm là vào năm 2015, cơ hội để cho giới hâm mộ khám phá lại giọng ca của Rose Laurens qua những ca khúc trầm buồn sâu lắng hơn so với những gì khán giả thường nghe ở nơi cô (Je suis avec toi), một tiếng hát đặc biệt nhờ giọng gió với một vibrato khá độc đáo, đầy đặn đầu câu, nồng nàn cuối chữ. Cũng như những dòng tin nhắn của giới hâm mộ tưởng niệm ca sĩ quá cố : Rose Laurens đã ra đi mãi mãi, nhưng mùi hương của nụ hồng vẫn tồn tại, sau bao năm tháng còn chưa phai.

Edited by user Tuesday, August 11, 2020 6:45:36 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1383 Posted : Wednesday, August 12, 2020 2:01:32 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Cuộc thi hát truyền hình Mỹ phóng tác từ Eurovision

Tuấn Thảo - RFI - 12/08/2020
Tại châu Âu, cuộc thi hát truyền hình Eurovision là một trong những sự kiện lớn nhất làng giải trí. Được tổ chức hàng năm vào mùa xuân, Eurovision thu hút gần 200 triệu khán giả nhờ được phát sóng trực tiếp tại 40 quốc gia. Hơn 60 năm sau ngày ra đời, Eurovision được "xuất khẩu" sang Hoa Kỳ. Phiên bản của Mỹ dự kiến ra mắt vào cuối năm 2021.

Được đặt tên là ‘‘American Song Contest’’, cuộc thi sẽ diễn ra ở quy mô lớn, áp dụng những điều lệ giống như cuộc tranh tài Eurovision. Thí sinh có thể là ca sĩ hát đơn, song ca hay diễn theo nhóm, bất kể là nghiệp dư hay chuyên nghiệp, miễn là nghệ sĩ này trình bày một ca khúc mới không quá 3 phút, có thể là sáng tác của chính mình, hay của một tác giả khác.

Tính tổng cộng, sẽ có 50 thí sinh, mỗi người đại diện cho một bang của nước Mỹ và như vậy quá trình tuyển chọn có thể làm nổi bật những nét đặc trưng âm nhạc của từng vùng miền. Do có khá nhiều người tham gia, chắc hẳn cuộc thi sẽ bắt đầu với nhiều vòng sơ tuyển ở cấp địa phương, rồi sau đó mới tới các vòng bán kết và chung kết toàn quốc.

Cho dù các cuộc thi hát truyền hình chẳng có gì thật sự là mới lạ tại Hoa Kỳ (khán giả Mỹ vẫn còn hưởng ứng các cuộc thi như ‘‘The Voice’’,‘‘American Idol’’ và trong một chừng mực nào đó cuộc thi AGT cũng thu hút nhiều thí sinh trỗ tài ca hát), thế nhưng nhà sản xuất người Thụy Điển Anders Lenhoff hứa hẹn là ‘‘American Song Contest’’ sẽ mang đến cho khán giả nhiều điều thú vị, khác lạ. Tất cả các thể loại âm nhạc đều có thể đưa vào các vòng thi đấu. Trong 50 bang nước Mỹ, có những bang là chiếc nôi của dòng nhạc blues, country, jazz, folk, rock …. Một số bang nổi tiếng nhờ các trường đào tạo thanh nhạc, kể cả cổ điển opera hay nhạc kịch. Cuộc tranh tài giữa 50 tiểu bang Hoa Kỳ vì thế mà hứa hẹn nhiều màn quyết liệt, hào hứng.

Còn theo lời nhà đồng sản xuất người Mỹ Ben Silverman, dự án chuyển thể phóng tác cuộc thi châu Âu Eurovision thành một phiên bản tiếng Anh dành cho thị trường Bắc Mỹ đã có từ lâu. Nhóm sản xuất đã ấp ủ giấc mơ này trong 20 năm qua. Theo ông Ben Silverman, vào lúc nước Mỹ đang bị chia rẽ bởi nhiều vấn đề xã hội, điều thực sự giúp cho người Mỹ có thể đoàn kết với nhau chính là nền văn hóa quốc gia. Âm nhạc có thể giúp cho con người vượt qua nhiều biên giới hay rào cản vô hình.

Để thích nghi nội dung cuộc thi với thị hiếu của khán giả Hoa Kỳ, phía châu Âu đã ký hợp đồng với công ty Propagate Content, chuyên sản xuất các chương trình truyền hình thực tế nổi tiếng, như ‘‘The Office’’ hay là ‘‘The Biggest Loser’’.

Thách thức đầu tiên của nhóm sản xuất là thành lập ban giám khảo sao cho hợp với các tiêu chuẩn của một cuộc thi ‘‘đa tài đa năng’’, tránh lặp lại khuyết điểm của một số chương trình thi hát, khi mà thí sinh khi hát trực tiếp, còn hay hơn cả một số thành viên trong ban giám khảo. Đồng thời, sự bình chọn của công chúng cũng mang tính quyết định, chứ không phải là chỉ để tham khảo, và như vậy có thể đi ngược lại với sự chọn lựa đầu tiên hay cách chấm điểm của ban giám khảo.

Theo ban giám đốc cơ quan châu Âu UER, chuyên về việc tổ chức và phát sóng truyền thanh cũng như truyền hình, nghiệp đoàn truyền thông này đã nhượng lại quyền khai thác và phát hành cuộc thi cho các đối tác Hoa Kỳ. Theo thông lệ, kể từ khi được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1956 cho tới nay, cuộc thi Eurovision luôn được phát trực tiếp trên kênh truyền hình nhà nước, tại Pháp kênh France 2 luôn phổ biến chương trình này vào tháng 5. Nhưng tại Mỹ, điều này không có gì là chắc chắn cả, hiện vẫn chưa có đài truyền hình nào được tuyển chọn để phát sóng cuộc thi ‘‘American Song Contest’’ trên toàn nước Mỹ.

Trong gần 65 năm hoạt động, Eurovision chưa bao giờ bị hủy bỏ. Thế nhưng năm nay, dịch Covid-19 đã buộc ban tổ chức châu Âu lần đầu tiên phải dời lại cuộc thi hát chính thức cho tới tháng 5 năm 2021. Thay thế vào đó là một phiên bản trực tuyến, nơi các nghệ sĩ biểu diễn trên mạng để bày tỏ tình đoàn kết với giới nhân viên y tế ở tuyến đầu chống dịch.

Còn trong kỳ thi năm 2019 tổ chức tại Israel, với sự tham gia đặc biệt của Madonna trong lúc chờ đợi phần công bố bảng điểm, rốt cuộc giải nhất đã về tay ca sĩ Duncan Laurence, đại diện cho Hà Lan. Chính nhân cuộc thi này, mà mạng Netflix đã quay khá nhiều cảnh phim cho tác phẩm hài hước ‘‘Eurovision Song Contest : The Story of Fire Saga’’ với cặp diễn viên Will Ferrell và Rachel McAdams trong vai chính.

Bộ phim kể lại câu chuyện khôi hài nhưng không kém phần dí dỏm, châm biếm về một ban song ca nghiệp dư, nuôi tham vọng đại diện cho Iceland tham gia cuộc thi hát truyền hình châu Âu, kể từ khi họ được xem ‘‘bộ tứ thần kỳ’’ Abba đoạt giải nhất cuộc thi vào năm 1974 với nhạc phẩm Waterloo. Ban đầu bị mọi người dèm pha chê bai, thậm chí chế nhạo giễu cợt, ban song ca Will Ferrell-Rachel McAdams bất chấp mọi chỉ trích vẫn đeo đuổi cho tới cùng giấc mơ của họ.

Theo lời Will Ferrell, vợ của anh là người gốc Thụy Điển và cuộc thi Eurovision đối với nhiều người Bắc Âu là một thứ gì đó khiến cho họ cảm thấy tự hào. Qua câu chuyện của những nghệ sĩ ‘‘ngoại khổ, lập dị’’, bộ phim The Story of Fire Saga cũng là câu chuyện ngụ ngôn về các cộng đồng thiểu số, buộc phải có nghị lực để phấn đấu vươn lên. Bộ phim còn khá thành công nhờ sự xuất hiện của các tên tuổi như ca sĩ người Áo Conchita Wurst, ca sĩ Pháp Bilal Hassani hay là thần đồng vĩ cầm người Na Uy Alexander Rybak. Phần âm nhạc do tác giả Savan Kotecha đảm trách, người đã từng hợp tác với Britney Spears hay là ban nhạc One Direction, để tạo ra những giai điệu dễ lọt tai, nằm lòng.

Một phần cũng vì bộ phim này được phát hành trên mạng Netflix, khán giả ở Bắc Mỹ bắt đầu làm quen với cuộc thi châu Âu Eurovision cách đây một năm, trước khi họ chính thức xem cuộc thi tại Mỹ dự trù diễn ra vào cuối tháng 11. Trong chiến lược đa dạng hóa các nội dung, mạng Netflix cũng đã khôn khéo quay một bộ phim truyện về Eurovision, để rồi sắp tới đây khi cuộc thi hát truyền hình châu Âu diễn ra trực tiếp, mạng Netflix mua lại quyền phát hành Eurovision dành cho khán giả Bắc Mỹ.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1384 Posted : Thursday, August 13, 2020 7:42:09 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Covid-19: Mùa hè đầy khó khăn với Hollywood


Tuấn Thảo - RFI - 13/08/2020
Kể từ khi mùa nghỉ hè bắt đầu, doanh thu của các rạp chiếu phim tại Pháp đã giảm 74% so với cùng thời kỳ năm 2019. Tình hình tại Mỹ cũng chẳng sáng sủa hơn, đối với các công ty sản xuất phim cũng như các nhà phân phối. Trong toàn ngành kỹ nghệ điện ảnh Mỹ, có tới gần 150.000 nhân viên vẫn còn bị thất nghiệp.

Theo công ty tư vấn Gower Street, tính tới đầu tháng 08/2020, 48% các rạp chiếu phim trên toàn cầu đã được mở lại. Tỷ lệ này vào giữa tháng 7 chỉ là 28%. Nhiều nước châu Âu, Nga và Trung Quốc đã dần dần nới lỏng các biện pháp phòng dịch, trong khi tình hình vẫn còn căng thẳng ở Nam Mỹ cũng như tại Hoa Kỳ. Các rạp chiếu phim tại hai thành phố Los Angeles và New York vẫn chưa được mở cửa trở lại.

Các biện pháp an toàn vệ sinh trong các rạp chiếu phim thay đổi tùy theo từng bang. Tại bang Montana, các rạp chiếu phim không được đón tiếp hơn 80% khán giả. Còn ở các bang Nevada, Colorado, Vermont, Florida hay Texas, số người xem tối đa trong phòng chiếu phim là khoảng 60%. Các bang California, New Mexico, North Carolina hay New York vẫn duy trì lệnh đóng cửa các rạp xinê.

Tính tổng cộng, chỉ có khoảng 950 rạp được mở cửa trên tổng số 40.759 rạp chiếu phim trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ, tức chỉ bằng 2,4%. Bù lại giới ghiền xinê vẫn có thể đi xem phim tại các drive-in, chuyên chiếu phim ở ngoài trời, chiếm 64% doanh thu của ngành điện ảnh Mỹ trong thời buổi hiện nay. Điều đó giải thích vì sao các hãng phim lớn không mấy sốt sắng trong việc cho ra mắt phim mới. Bộ phim Hoa Mộc Lan với Lưu Diệc Phi trong vai chính là một trường hợp cá biệt. Phim được phát hành trực tuyến trên mạng Disney+ nhưng người xem phải chịu trả giá đắt là 29 đô la, trong khi giá vé xinê ở Mỹ tính trung bình là 12 đô la. Điều đó đã khiến cho Disney+ bị cư dân mạng chỉ trích, cho rằng về mặt nội dung Disney+ chẳng những nghèo hơn Netflix, mà còn đòi chi phí ‘‘phụ trội’’ thật cao.

Ngay cả đối với những người lạc quan nhất trong ngành điện ảnh, tình hình ngày càng trở nên khó khăn đối với Hoa Kỳ. Bị buộc phải đóng cửa kể từ giữa tháng 3, hai hệ thống phân phối phim lớn nhất của Mỹ là AMC và Regal đã thông báo mở lại 35.000 rạp chiếu phim vào ngày 21/08/2020. Theo ông Adam Aron, giám đốc điều hành tập đoàn AMC Entertainment, công ty này đã lỗ hơn 560 triệu đô la trong thời gian qua.

Việc mở lại phòng vé chỉ có thể diễn ra sau khi tập đoàn này thuyết phục giới đầu triển hạn các món nợ cần phải thanh toán. Khoản nợ được giảm của AMC lên tới gần 300 triệu đô la. Trong thời gian ngưng hoạt động, AMC đã buộc phải tăng cường dịch vụ cho thuê phim trên mạng. Tập đoàn này cũng đã gây tranh cãi khi ký một thỏa thuận với công ty Universal, cho phép hãng phim này thuê một bộ phim mới, chỉ 17 ngày sau khi phim được chiếu ở rạp.

Tập đoàn Regal, công ty cạnh tranh với AMC hoàn toàn không tin tưởng vào chiến lược này, một biện pháp mà theo ban giám đốc điều hành Regal có thể có lợi ở trước mắt, nhưng lại hàm chứa nhiều điều tai hại về lâu về dài, nhất là trong bối cảnh các mạng phim trực tuyến Netflix, Amazon, Disney+ đều là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp, linh hoạt và nhanh nhẹn hơn trong các dịch vụ trên mạng so với các công ty phát hành phim ‘‘truyền thống’’.

Các rạp chiếu phim thuộc hai hệ thống phân phối AMC cũng như Regal sẽ mở lại kể từ ngày 21/08, nhưng trong thời gian đầu, khán giả Mỹ chỉ chủ yếu được xem những bộ phim cũ với giá mềm. Chẳng hạn như xem lại bộ phim Inception của đạo diễn Christopher Nolan với giá 5 đô la mỗi suất, còn trẻ em được xem bộ phim Sonic chỉ với giá 3 đô la. Thời điểm khởi động lại thực sự các rạp chiếu phim rơi vào ngày Labor Day, ngày Lễ Lao động 07/09 khi đại đa số người Mỹ được nghỉ ở nhà trong ba ngày liền.

Các rạp chiếu phim tại Mỹ khó thể chờ đợi lâu hơn được nữa, sự sống còn phụ thuộc nhiều vào doanh thu phòng vé. Các nhà quản lý các rạp chiếu phim đều hy vọng là các hãng phim lớn như Warner Bros, Paramount hay là Disney đều chấp nhận luật chơi mới : cho ra mắt các bộ phim blockbuster như Tenet, Mulan, tập nhì của Without A Noise hay là Top Gun : Maverick, mặc dù toàn bộ các rạp chiếu phim Mỹ vẫn chưa được mở lại và một số tiểu bang vẫn còn duy trì lệnh cấm.

Để tránh cho các rạp chiếu phim bị phá sản, Tổ chức quốc gia các chủ rạp hát (National Association of Theatre Owners) đã tung chiến dịch ‘‘Save Your Cinema’’. Qua cuộc vận động hành lang này, các nhà phân phối yêu cầu được triển hạn việc thanh toán các khoản tiền nợ, cho vay thêm vốn với điều kiện thuận lợi hơn, phía các khán giả cũng có thể ủng hộ các rạp phim bằng cách ứng tiền mua trước vé xinê, để tặng cho bạn bè hay người thân. Vé xem phim sau đó có thể được sử dụng vào một thời điểm thích hợp hơn.

Theo ông John Fithian, giám đốc điều hành Tổ chức các chủ rạp hát, vì vẫn còn thiếu nhiều rạp xinê, cho nên các hãng phim lớn liên tục dời lại việc ra mắt phim ở rạp. Nhưng các rạp chiếu phim lại cần phim blockbuster để thu hút khán giả. Thiếu phim thương mại, thì các phòng chiếu phim thà ngưng hoạt động, còn hơn là mở cửa nhưng lại vắng khách. Các hãng phim cũng như giới phân phối lâm vào bế tắc một khi rơi vào vòng luẩn quẩn. Theo ông John Fithian, tình trạng này càng kéo dài thì càng có nhiều người có nguy cơ bị phá sản trong tương lai. Theo dự đoán của giới chuyên ngành, từ đây cho tới cuối năm, có ít nhất là 20% các chủ rạp phim sẽ phải đóng cửa luôn các phòng vé, nhất là các công ty hoạt động theo mô hình độc lập.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1385 Posted : Friday, August 14, 2020 5:36:55 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage



Truyện Kiều đến với khán giả Paris qua nhạc kịch đàn ca tài tử

Thanh Phương - RFI - 07/03/2020
Vào cuối tháng 3/2020, lần đầu tiên Truyện Kiều sẽ đến với khán giả Paris qua một vở nhạc kịch đàn ca tài tử. RFI phỏng vấn nghệ sĩ Trúc Tiên, người đã chuyển thể Truyện Kiều và cũng là người thủ vai chính trong vở nhạc kịch này.

Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.



Có lẻ những ai được học về văn học Việt Nam cũng đều thuộc nằm lòng, hay ít ra đã từng đọc qua 4 câu thơ nổi tiếng của Truyện Kiều, một kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, người đã được tổ chức UNESCO tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới.

Cho đến nay Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ khác nhau với rất nhiều bản dịch, cho thấy đây là một kiệc tác mang tầm vóc quốc tế, một tài sản chung của nhân loại.

Lần đầu tiên Truyện Kiều sẽ đến với khán giả Paris qua một vở nhạc kịch đàn ca tài tử sẽ được trình diễn ngày Chủ nhật 29/03/2020 tại Théâtre Saint Léon, 11 Place du Cardinal Amette quận 15 Paris.

Đây là một trong những sinh hoạt của nhóm Cội Nguồn do nghệ sĩ Trúc Tiên sáng lập và cũng chính Trúc Tiên là người chuyển thể Truyện Kiều thành nhạc kịch đàn ca tài tử. Hôm nay, RFI Việt ngữ rất hân hạnh đón tiếp Trúc Tiên tại phòng thâu của đài.


RFI : Vì sao Trúc Tiên chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du để chuyển thể thành nhạc kịch đàn ca tài tử?

Trúc Tiên : Lý do thứ nhất là Truyện Kiều có rất nhiều ảnh hưởng vào tiếng Việt của mình. Phạm Quỳnh có nói : « Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn. Tiếng ta còn, thì nước ta còn ». Hồi nhỏ, khi học câu này thì Trúc Tiên không hiểu sâu lắm. Khi rời Việt Nam sang Pháp sống, mình thấy là con em của mình cần phải gìn giữ tiếng Việt. Lúc dạy tiếng Việt, Trúc Tiên đọc đi, đọc lại Truyện Kiều từng câu từng đoạn, thì mới thấy là trong Truyện Kiều có rất là nhiều thành ngữ mình dùng hằng ngày, mà có lúc mình quên đi, như là « xa chạy, cao bay », hay « mèo mả gà đồng », « kiến bò miệng chén ». Hay là có những câu thơ thường được dùng trong âm nhạc, như « có trời mà cũng tại ta », « tu là cõi phúc, tình là dây oan », hay những hình ảnh biểu tượng như Sở Khanh để chỉ những anh hay gạt gẫm, hay mấy chị ghen như Hoạn Thư.

RFI : Từ khi nào Trúc Tiên nảy ra ý định chuyển thể Truyện Kiều và khi nào thì bắt đầu chấp bút để soạn kịch bản ?

Trúc Tiên : Trúc Tiên mê Truyện Kiều từ nhỏ, vì thơ của ông rất là giản dị, thơ lục bát rất là hay. Trúc Tiên học Truyện Kiều cũng là để học thêm tiếng Việt, vì Trúc Tiên sang Pháp lúc mới 10 tuổi. Trúc Tiên đã rất mong có một ngày nào đó chuyển thể Truyện Kiều thành đàn ca tài tử, một thể loại nhạc mà Trúc Tiên rất yêu mến.

RFI : Truyện Kiều rất dài, chuyển thể thành đàn ca tài tử giống như là mình phổ nhạc nhiều bài thơ khác nhau, chắc rất là khó khăn ?

Trúc Tiên : Dạ phải. Khó khăn đầu tiên đó là mình phải để càng nhiều càng tốt những câu thơ của Nguyễn Du trong các điệu đàn ca tài tử. Những bài đàn ca tài tử có trước thì chỉ lác đác vài bài, mà là theo thể loại đàn ca tài tử kể chuyện, cho nên rất ít thơ của Nguyễn Du.

RFI : Cụ thể Trúc Tiên chọn chuyển thể những đoạn nào ?

Trúc Tiên : Truyện Kiều rất là dài, hơn 3.000 câu và đúng là trong đó có rất nhiều đoạn hay, nhưng Trúc Tiên không thể nào chuyển thể hết được, nên phải chọn. Đoạn đầu tiên mà Trúc Tiên chọn là « Trăng thề vườn Thúy », nói về mối tình đầu của Kiều với Kim Trọng, sau đó là một đoạn mà Nguyễn Du tả rất là dễ thương về hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân, đó là « Tình chị duyên em ».

Có những nhân vật như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh thì mình không thể nào quên được, đó là những người đã đưa Kiều vào kiếp đoạn trường. Nói đến Kiều thì cũng không thể nào quên được Hoạn Thư, ghen rất là thông minh để giữ chồng mình. Và mỗi lần Trúc Tiên nói chuyện với các bác thì các bác hay hỏi : « Có Từ Hải không ? », thì thưa có, sẽ có đoạn về Từ Hải và Kiều. Từ Hải rất anh hùng và cũng rất là đa tình.

RFI : Và có lẽ Trúc Tiên cũng thấy nội dung của Truyện Kiều cho tới nay vẫn mang tính thời sự, tức là ai trong chúng ta cũng nhận thấy mình trong một nhân vật nào đó trong Truyện Kiều?

Trúc Tiên : Đúng như vậy. Truyện Kiều rất là tân thời, dù Nguyễn Du đã viết đầu thế kỷ 19. Hồi nhỏ Trúc Tiên có xem được bói Kiều ở Mỹ Tho. Các bác để Truyện Kiều ở giữa, ngồi chung quanh, rồi có một người khấn, hỏi một câu gì đó cho tương lai, rồi nhắm mắt lại, mở Kiều ra. Hễ tay chỉ đến câu nào thì câu đó sẽ là câu trả lời. Những câu, những đoạn trong Kiều rất là tân thời, thời nào cũng nói lên được tâm trạng của một người nào đó.

RFI : Để thực hiện vở nhạc kịch đàn ca tài tử này, Trúc Tiên sẽ huy động những nghệ sĩ trong nước, cũng như ở Paris. Cụ thể đó là những ai ?

Trúc Tiên : Là nhạc kịch, nên nó có một số phần tân nhạc. Anh Ngô Càn Chiếu sẽ giúp Trúc Tiên phổ phần tân nhạc. Về phía nhạc sĩ, từ Việt Nam sang có anh Văn Môn ( đàn guitare phím lõm ), anh Huỳnh Tuấn ( đàn kềm và đàn bầu ). Ở Paris có chị Thu Thảo ( đàn tranh ), anh Mai Thanh Nam ( thổi sáo ), anh Trang Bá Tùng ( keyboard ) và nhóm Souppaya sẽ chơi nhạc classique.

Một trong những khó khăn trong việc thực hiện vở nhạc kịch này là Trúc Tiên muốn làm hai thứ tiếng Việt và Pháp, để các bạn Pháp cũng hiểu được văn hóa Việt Nam. Cho nên sẽ có chị Tố Lan kể chuyện bằng tiếng Pháp và nhóm Souppaya chơi nhạc classique. Ngoài ra có anh Linh Quang đóng vai Nguyễn Du. Về các ca sĩ thì có anh Đình Đại, chị Phương Khanh, chị Kim Hoa, anh Văn Đệ, anh Tri Văn ở giáo xứ Paris, anh Công và một số anh chị em khác nữa.

Bên này không có ai là chuyên nghiệp, ai cũng đi làm, nhưng đều rất yêu mến nghệ thuật cổ của mình và muốn gìn giữ nó. Cho nên Trúc Tiên cám ơn các anh chị đó rất nhiều đã giúp trong vở này.

RFI : Vì sao Trúc Tiên chọn nhà hát Saint-Léon làm nơi diễn vở nhạc kịch này ?

Trúc Tiên : Vì nhạc kịch này cần một không gian lắng đọng để thưởng thức những câu thơ của Nguyễn Du, nghe những tiếng đàn cổ. Trúc Tiên muốn có một không gian rất yên lặng, dễ thương và êm đềm để mình nhớ lại quê hương của mình và hiểu được mình phải gìn giữ văn hóa của mình, dù không còn trong nước mình. Đó cũng là mong muốn của Hội Cội Nguồn.

Thi ca nhạc kịch "Dòng Đời"

Một sinh hoạt văn nghệ đáng chú ý khác của cộng đồng người Việt tại vùng Paris, đó là chương trình Thi Ca Nhạc Kịch chủ đề "DÒNG ĐỜI", sẽ được được trình diễn ngày 08/05/2020 lúc 14g30, cũng tại Théâtre Saint Léon, 11 place Cardinal Amette 75015 Paris, do hai nghệ sĩ Mỹ Ly và Băng Nhân thực hiện, với có sự tham gia của các ca, nhạc sĩ được cộng đồng Việt Nam ái mộ. Phần lợi nhuận của chương trình này sẽ sẽ được tặng hết cho Hội Cứu trợ Thương Phế Binh VNCH.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1386 Posted : Friday, August 14, 2020 11:59:19 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1387 Posted : Sunday, August 16, 2020 5:39:12 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Chris Botti - Ngẫu hứng nhạc Jazz với cây kèn trumpet

RFI - 15/08/2020
Không chỉ là gương mặt điển trai, nghệ sỹ Chris Botti còn tạo nên dấu ấn riêng với cây kèn trumpet. Album Impression (2012) gặt hái thành công lớn với giải Grammy cho Album hòa tấu Pop xuất sắc nhất kể từ album đầu tay ra mắt 17 năm trước.

Hơn thế nữa, Chris Botti hợp tác với rất nhiều nghệ sỹ lớn, trong đó có tình bạn thân thiết với danh ca Paul Simon hay Sting. Gia Trình giới thiệu về sự nghiệp của Chris, chủ yếu gắn bó với cây kèn trumpet trên từng cây số lưu diễn hơn là trong studio.

Trumpet - Tài sản giá trị nhất cuộc đời

Trumpet là một nhạc cụ khá đặc biệt nếu chỉ đứng một mình. Âm thanh kém hấp dẫn hơn saxophone, chủ yếu phù hợp với nhạc jazz. Ngoài ra, các nghệ sỹ chơi trumpet thường chơi trong dàn nhạc giao hưởng thay vì tách ra trình diễn solo. Tuy nhiên, Chris Botti đã thay đổi quan niệm đó nhờ chiếc kèn trumpet hiệu Martin Committee, sản xuất từ năm 1939. Đó là tài sản quý giá nhất cuộc đời anh, một nghệ sỹ vô gia cư sống tại một căn khách sạn thuê ở New York, Mỹ.

Các tour lưu diễn miệt mài của nam nghệ sỹ khiến cho giá trị vô hình của cây trumpet nhân lên gấp bội. Không chỉ là nguồn thu nhập sống của nghệ sỹ sinh năm 1962, nó còn là tuyên ngôn nghệ thuật jazz cross-over. Trên thực tế, anh phải mất rất nhiều năm để tên tuổi được biết đến rộng rãi kể từ album đầu tay First Wish (Điều ước đầu tiên), ra mắt năm 1995. Xét cho cùng, trumpet không phải lúc nào cũng dễ nghe và dễ chơi.

Niềm đam mê với trumpet của Chris Botti đến từ rất sớm khi anh 9 tuổi. Từ đó đến nay, chưa bao giờ anh có ý định chuyển đổi sang chơi nhạc cụ khác. Anh từng trả lời phỏng vấn : “Trumpet là loại nhạc cụ gian nan nhất vì bạn phải luyện tập nguyên cả ngày. Rất nhiều vấn đề có thể xảy đến như lưng, dây thần kinh vì đó là thứ nhạc cụ đòi hỏi thể lực. Tuy nhiên, với cách ứng xử của trumpet, tôi rất hạnh phúc để tiếp tục chơi nó.”

Trong nỗ lực khuyếch trương hình ảnh hơn 30 năm, Chris Botti từng chia lửa sân khấu với nghệ sỹ hàng đầu trong làng âm nhạc, đặc biệt mối lương duyên với Sting trong tour lưu diễn Brand New Day. Ngoài ra, anh còn cộng tác với các tên tuổi gạo cuội khác như Paul Simon, Joni Mitchell, Barbara Streisand, Yo-Yo Ma, Lady Gaga, Josh Groban, Andrea Bocelli. Phải đến năm 2012, khán giả mới biết đến đến tài năng của Chris Botti, cũng như chấp nhận vai chính trên sàn diễn của chiếc kèn trumpet.

Lựa chọn con đường jazz cross-over

Thực tế, âm thanh trumpet của Chris Botti khá mượt mà khi anh đã áp dụng kỹ thuật nhạc cổ điển (bel canto) cộng thêm luyện tập vất vả để đạt được mục đích mong muốn. Chủ đích của anh là tạo được âm thanh có độ tối hơn, ngọt ngào hơn so với âm thanh trumpet truyền thống. Chiếc trumpet của Chris Botti được sản xuất năm 1939, cùng hãng sản xuất với chiếc kèn danh tiếng mà nghệ sỹ jazz Miles Davis chơi. Bên cạnh tình yêu với cây kèm trumpet, Chris còn phải lòng nhạc pop đương đại của Sting, Paul Simon, Peter Gabriel, Joni Mitchell.

Như bao nghệ sỹ khác, Chris Botti phải lựa chọn con đường riêng gắn với thể loại và gu âm nhạc. Trước ngã rẽ lớn : jazz truyền thống hay jazz cross-over (giao thoa), không có gì khó khăn với gu thẩm mỹ tinh tế và đầu óc sắc bén như Chris Botti. Lần đầu tiên tới New York, anh đã xem concert của Wynton Marsalis biểu diễn xuất sắc theo đúng kiểu jazz truyền thống của Armstrong hay Bubby Bolden. Anh nhận thấy rằng khó có nghệ sỹ trumpet nào vượt qua được cái bóng hay ngưỡng trần mà kèn trumpet tạo dựng. Vì thế, Chris Botti lựa chọn lối đi hoàn toàn khác biệt với Wynton Marsalis, không đụng độ với nhau và cả hai đều là fan của nhau.

Không thể phủ nhận rằng Chris Botti chịu ảnh hưởng của các ngôi sao đại thụ nhạc jazz chơi trumpet như Chet Baker hay Miles Davis. Anh thừa nhận màu sắc âm nhạc u ám nhưng đẹp của Miles Davis luôn là điều anh ngưỡng mộ. Hơn thế, anh theo đuổi không gian âm nhạc giàu cảm xúc (melancholy) xuyên suốt sự nghiệp. Vì vậy, phổ âm nhạc của Chris Botti còn lan tỏa rộng hơn thế và phiêu mạnh hơn thế khi anh chọn lối rẽ cross-over.

Cho dù là jazz nguyên bản hay sang nhạc cổ điển, soundtrack nhạc phim, hard rock, R&B/pop, Chris Botti không ngừng sáng tạo và thể nghiệm. Vì vậy, danh sách bài hát trong tour lưu diễn của Chris Botti luôn gây bất ngờ cho khán giả. Có thể là giây phút phiêu linh nhiệt huyết của The Look of Love (Cái nhìn tình tứ) với nữ ca sỹ da màu Sy Smith, Chris Botti có thể trình diễn bản nhạc đẹp, man mác buồn gợi nhớ về tuổi thơ trong Cinema Paradiso với nghệ sỹ cello YoYo Ma.

Cuộc đời lưu diễn và hợp tác

Nếu cuộc đời là những chuyến đi, thì những chuyến đi tour concert của Chris Botti dường như không có điểm dừng. Anh có quan điểm khá thú vị về live concert : phải tạo được cảm xúc cho khán giả, khác biệt với bản ghi âm album được đình hình và ít rủi ro.

Nghệ sỹ chia sẻ : “Tôi ghi âm các album để khán giả có thể thưởng thức tại nhà theo cách lãng mạn hay nghệ thuật. Nhưng nếu họ đến xem concert, mà tôi chơi lại đúng như trên đĩa nhạc, đó là cách tự sát. Nghề nghiệp của tôi phải tạo được cảm xúc mới mẻ, sự tự do hoàn toàn. Họ muốn khóc, vỡ òa, phiêu lưu cùng các nhạc công tài năng trong ban nhạc của tôi.”

Trên thực tế, concert của Paul Simon năm 1991 hoàn toàn thay đổi tầm nhìn của Chris Botti trong vai trò khán giả. Anh cho rằng trình diễn solo sẽ bó hẹp bản thân. Do đó, Chris Botti không ngừng hợp tác với các nghệ sỹ tên tuổi để mở rộng sân chơi và trải nghiệm mới mẻ. Tuy nhiên, ý tưởng đó không dễ dàng thực thi vì khớp lịch diễn với nghệ sỹ khác tương đối gian nan.

Chris đã tiết lộ lịch trình dày đặc trong việc ngỏ lời hợp tác : “Tôi đã phải săn đón các ca sỹ nổi tiếng trên khắp thế giới. Micheal Buble cũng lưu diễn nhiều như vậy, và tôi cuối cùng gặp được anh ấy ở Vancouver, Canada. Chúng tôi phải đến Las Vegas để gặp Gladys Knights, tới Philadelphia để hợp tác với Jill Scott, tới Anh để làm chung với Paul Buchanan.”

Ý tưởng cốt lõi của các concert cũng như âm nhạc của Chris Botti là sự giao thoa giữa giác quan nhạc pop với tinh thần phối hợp của nghệ sỹ jazz. Chiến lược này khiến anh trở nên trưởng thành và bài bản hơn.

Chris Botti chia sẻ mình không thể chơi trumpet giỏi năm 20 tuổi như cách Wynton chơi năm 17 tuổi. Tuy nhiên, khi kết hợp với pop music, lắng nghe các đồng nghiệp chơi jazz khác, anh nhận ra các nhược điểm bản thân và tìm cách khắc phục. Nam nghệ sỹ chứng minh một điều : sức sáng tạo là vô biên khi họ biết làm chủ kỹ thuật. Hơn thế nữa, tiếng kèn trumpet của Chris Botti trở thành điểm nhấn đẹp thay vì sự thờ ơ của khán giả.

(Theo JazzTimes)


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1388 Posted : Monday, August 17, 2020 4:56:19 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Các mạng phim độc lập trước thế ‘‘bá chủ’’ của Netflix


Tuấn Thảo - RFI - 17/08/2020
Thời gian phong tỏa vừa qua do dịch Covid-19 đã ít nhiều thay đổi cung cách tiêu dùng của người Pháp, đặc biệt là trong lãnh vực xem phim trực tuyến. Sau khi lệnh phong tỏa từng bước được dỡ bỏ, các rạp xinê bắt đầu hoạt động trở lại, nhưng người Pháp vẫn thích xem phim trên mạng, chứ chưa vội trở lại các rạp chiếu phim.

Hiện tại, mạng Netflix của Mỹ đang thống trị lãnh vực phát hành phim, bán hay thuê video trên Internet. Theo cuộc khảo sát gần đây của Integral Ad Science, một công ty tư nhân Mỹ chuyên phân tích các thông tin liên quan đến công nghệ số, cứ trên ba người thường xem phim hay thuê video trực tuyến, là có đến hai người (67%) đăng ký dịch vụ của mạng Netflix.

Về phía các mạng phát hành phim của Pháp nói riêng hay của châu Âu nói chung, các mạng này không thể nào có đủ sức để cạnh tranh trực tiếp với Netflix, cho nên phải tạo cho mình những nét khác lạ, đặc thù để lôi cuốn người xem hay đặc biệt nhắm vào một số thành phần khán giả. Mạng Netflix gần đây đã hợp tác với MK2 để mua lại quyền phát hành dòng phim ‘‘di sản’’, trong đó có các bộ phim của François Truffaut và Charlie Chaplin. Thế nhưng, Netflix chỉ mới đi bước đầu, trong khi đó là sở trường từ lâu của các mạng phim độc lập.

Bên cạnh đó, hầu hết các tập đoàn hay công ty cỡ lớn đều lao vào cuộc cạnh tranh để giành lấy thị phần, trong đó có Amazon Prime, Disney+ và gần đây hơn nữa là mạng Starzplay với các loạt phim truyện nhiều tập như ‘‘Outlander’’ hay là ‘‘American Gods’’. Tất cả các mạng này đều cố gắng sản xuất những nội dung ‘‘nguyên tác’’, phát hành theo mô hình độc quyền, gồm cả phim truyện hay phim truyền hình nhiều tập. Mục tiêu là để "giữ khách", cầm chân khán giả tránh cho họ lọt vào tay các đối phương, trong đó lợi hại nhất vẫn là mạng Netflix.

Công ty Disney+ gần đây đã "đi hớ" một bước khi tung lên mạng bộ phim ‘‘Hoa Mộc Lan’’ với Lưu Diệc Phi trong vai chính. Khán giả phải chi 29 đô la, chỉ để xem bộ phim mới này, nhưng nếu muốn xem các nội dung khác như Star Wars, Chiến binh Mandalorian hay các tuyến ngoại truyện của Avengers thì họ vẫn phải đăng ký dịch vụ của Disney+.

Bước đột phá ngoạn mục nhất, có lẽ là khi đạo diễn kỳ cựu Martin Scorsese về đầu quân cho mạng Apple TV+. Sau khi thành công rực rỡ với bộ phim "The Irishman" do Netflix phát hành, đạo diễn Martin Scorsese đã không tiếp tục làm việc với Netflix mà lại ký thỏa thuận hợp tác nhiều năm cho mạng Apple TV+, trong đó có việc sản xuất dự án phim truyện với kinh phí cao ‘‘Killers of the Flower Moon’’ quy tụ các ngôi sao hàng đầu như Leonardo DiCaprio và Robert De Niro.

Bộ phim đang ở trong giai đoạn tiền kỳ và theo dự kiến sẽ ra mắt khán giả vào năm 2021, tác phẩm mới của đạo diễn Martin Scorsese sẽ được hãng phim Paramount phân phối trên thị trường quốc tế. Còn trên mạng, bộ phim này sẽ do Apple TV+ độc quyền phát hành, sau khi công ty này trở thành nhà sản xuất chính thức, về đầu trong cuộc đấu giá với một ngân sách hơn 180 triệu đô la dành cho bộ phim, vượt trội hẳn so với các công ty sản xuất khác.

Tuy nhiên, theo đánh giá của công ty Integral Ad Science, ngoại trừ sự kiện đáng chú ý này ra, dường như vẫn chưa có đối thủ nặng ký nào có thể soán ngôi của mạng Netflix, phần lớn cũng vì theo phản hồi của các cư dân mạng, cho tới thời điểm này, Netflix vẫn có nhiều nội dung phong phú, hấp dẫn hơn so với các mạng phim khác. Một trong những điểm yếu của Netflix có lẽ nằm trong cách tổ chức và sắp xếp cơ sở dữ liệu, hầu tạo điều kiện thuận lợi dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm một tác phẩm, một nội dung hay một tựa phim.

Đối với giới thích xem phim Pháp, thì họ có thể tìm thấy rất nhiều tác phẩm mới trên mạng UniversCiné. Mạng này chẳng những khai thác phim Pháp mà còn hỗ trợ dòng phim ‘‘nghệ thuật’’ . Đáng chú ý hơn cả là bộ phim "Les Misérables" của đạo diễn Ladj Ly hay là "La Belle Époque" của Nicolas Bedos. Dòng phim ‘‘nghệ thuật’’ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng nhất, qua đó tác phẩm phản ánh nhãn quan riêng của một tác giả, khác với dòng phim thị trường chẳng hạn như dòng phim theo mô hình sản xuất của đạo diễn Luc Besson. Trên mạng UniversCiné, khán giả có thể thuê hoặc mua phim trực tuyến.

Về phía mạng Tënk, mạng này được dành riêng cho thể loại phim tài liệu nói chung, bao gồm dòng phim tài liệu theo chuyên đề như lịch sử, kiến trúc kỳ quan, khoa học không gian, động vật hoang dã. Ngoài ra còn có dòng phim tài liệu của những đạo diễn nổi tiếng như David Fincher hay là Martin Scorsese từng quay phim tài liệu về Bob Dylan hay nhóm The Rolling Stones. Trong thời gian gần đây, ngoài các đợt lưu diễn có thu hình hay phim tiểu sử dưới dạng tài liệu, Tënk đã cố gắng cập nhật dòng phim tài liệu của Pháp. Một cách tương tự, mạng phim Bref chủ yếu tập trung vào việc giới thiệu phim ngắn, trong đó có rất nhiều tác phẩm đầu tay các đạo diễn nổi tiếng hay là phim ngắn từng đoạt giải César hay là Oscar.

Cuối cùng, giới yêu chuộng phim Pháp không thể nào bỏ qua mạng La Toile, đặc biệt phong phú về mặt nội dung và khá chi tiết trong cách sắp xếp, giới thiệu và trình bày. Ngoài việc giới thiệu cả hai dòng phim nghệ thuật và thương mại, mạng La Toile đã có sáng kiến hỗ trợ các rạp chiếu phim cũng như các đạo diễn chuyên làm phim độc lập. Mạng này cung cấp dịch vụ xem phim theo yêu cầu, nhưng với đặc điểm là đại diện cho 230 rạp chiếu phim ở Pháp. Mỗi rạp chiếu phim độc lập ở đây tham gia cung cấp chương trình chiếu phim hàng tuần, khán giả dựa vào danh sách để tuyển chọn bộ phim mà họ muốn xem. Một phần thu nhập từ các dịch vụ của mạng La Toile sau đó được chia cho các chủ rạp phim. Có thể nói, đây là một trong những phương thức hỗ trợ tài chính hiệu quả nhất, vào lúc khán giả Pháp vẫn chưa vội đi xem phim ở rạp.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1389 Posted : Tuesday, August 18, 2020 4:23:46 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Bảo tàng Mỹ Metropolitan được mở lại sau 6 tháng đóng cửa

Tuấn Thảo - 18/08/2020
Metropolitan Museum of Art, còn được gọi ngắn gọn là Met tại New York, nổi tiếng là một trong những bảo tàng có uy tín nhất thế giới. Sau gần 6 tháng phải đóng cửa trong mùa dịch Covid-19, viện bảo tàng Metropolitan chuẩn bị đón tiếp công chúng trở lại vào ngày 29/08/2020 với nhiều ràng buộc do các quy định giãn cách xã hội.

Tính trung bình hàng năm, Viện bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan thu hút 7 triệu lượt khách tham quan. Thế nhưng, kể từ cuối tháng 8 trở đi, bảo tàng Met sẽ hạn chế lượt người thăm viếng thường nhật. Số khách được vào xem triển lãm cũng như các bộ sưu tập thường trực bị giới hạn ở mức 25%. Một cách cụ thể, chỉ có khoảng 5.000 khách tham quan mỗi ngày, tức chỉ bằng một phần tư so với mức độ bình thường. Vào những ngày cuối tuần và nhân dịp các cuộc triển lãm lớn viện bảo tàng Metropolitan có thể đạt tới mức 40 hay 50 ngàn khách mỗi ngày, tức là còn cao hơn cả bảo tàng Louvre ở Paris và bảo tàng Hermitage ở Saint Petersburg.

Ngoài các quy định giãn cách xã hội, khách vào thăm Viện bảo tàng Metropolitan sẽ phải đeo khẩu trang và các du khách buộc phải giữ khoảng cách với nhau tối thiểu là hai mét. Trước khi dịch Covid-19 bùng phát, bảo tàng Met chỉ đóng cửa vào ngày thứ Hai hàng tuần. Nay với thời hậu phong tỏa, Metropolitan sẽ đóng cửa mỗi tuần hai ngày. Với tất cả những điều kiện ràng buộc ấy, ban điều hành bảo tàng không hy vọng thu lời mà chỉ có thể hạn chế mức thất thu khi từng bước nối lại chương trình sinh hoạt văn hóa. Sau gần 6 tháng đóng cửa, Viện bảo tàng Metropolitan cho biết đã bị thua lỗ gần 100 triệu đô la.

Hầu như vào cùng một thời điểm với Metropolitan, Viện bảo tàng lớn thứ nhì của thành phố New York là Bảo tàng Whitney, chuyên trưng bày các tác phẩm nghệ thuật đương đại Mỹ thế kỷ XX và XXI cũng thông báo sẽ mở cửa trở lại, ban đầu là trong tuần lễ từ 24/08 đến 29/08, nhưng sau đó đã quyết định dời lại hơn một tuần và chính thức mở cửa đón tiếp khách tham quan vào ngày 03/09/2020.

Mặc dù chính quyền thành phố New York đã bật đèn xanh cho phép các cơ sở và trung tâm văn hóa hoạt động trở lại nhưng nhiều viện bảo tàng quan trọng, trong đó có Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (Museau of Modern Art) gọi tắt là MoMA, vẫn chưa thông báo ngày mở cửa trở lại.

Về phía nhà hát lớn Metropolitan của thành phố New York, sân khấu này theo dự kiến chỉ hoạt động lại vào dịp lễ cuối năm. Buổi biểu diễn đầu tiên được lên lịch là vào ngày 31/12/2020, trong khi đó, đa số các nhà hát chuyên ngành sân khấu nhạc kịch Broadway vẫn phải đóng cửa cho đến ít nhất là tháng Giêng năm 2021.

Sự kiện Viện bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan được mở lại là một điều đáng mừng, nhưng chỉ phản ánh một phần tất cả những khó khăn của giới chuyên ngành văn hóa ở Hoa Kỳ. Theo khảo sát gần đây của Viện nghiên cứu Brooking Institution (một cơ quan tư vấn có trụ sở tại Washington) có khoảng 2,7 triệu việc làm đã bị cắt giảm trong lãnh vực văn hóa tại Mỹ. Đối với các ngành kinh doanh dịch vụ và sản phẩm văn hóa, bao gồm các lãnh vực điện ảnh, ca nhạc, thời trang, mỹ thuật và nghệ thuật biểu diễn, mức thất thu lên lên tới hơn 150 tỷ đô la trong năm 2020.

Cũng theo báo cáo của Viện Brooking Institution, các viện bảo tàng, các phòng triển lãm cũng như các sân khấu biểu diễn nghệ thuật tron tình trạng ‘‘đứng mũi chịu sào’’, đã bị thiệt hại trực tiếp một cách nặng nề. Chỉ riêng trong ba ngành này, đã có gần 1,4 triệu việc làm bị cắt giảm, tức là tương đương với 50% số người bị mất việc trong toàn bộ ngành văn hóa ở Mỹ nói chung.

Do nghệ thuật biểu diễn phụ thuộc rất nhiều vào khán giả, các biện pháp phòng dịch hầu như đều cấm các cuộc tập hợp đông đảo, cho nên các ngành liễn quan đến sân khấu bị tác hại lâu dài, mức thua lỗ lên tới 42,5 tỷ đô la, tương đương với gần một phần ba mức thất thu chung của ngành văn hóa. Nhạc sĩ và ca sĩ bị ảnh hưởng đầu tiên, tiếp theo là giới nhà văn, tác giả và các diễn viên. Một lãnh vực khác cũng bị ảnh hưởng nhiều là nghệ thuật tạo hình (hội họa, điêu khắc, minh họa, quảng cáo …..) với hơn 120.000 người bị mất việc làm.

Mức thiệt hại còn tùy thuộc theo từng bang. Bang California đứng đầu danh sách, bị ảnh hưởng nặng nề nhất với 453.332 việc làm bị cắt giảm và mất 43,1 tỷ đô la doanh thu. Hai bang New York và Texas về hạng nhì và hạng ba. Chỉ riêng hai thành phố lớn New York và Los Angeles, mức thiệt hại lên tới hơn 15 tỷ đô la doanh thu và vì thế cho nên, hai thành phố này đã buộc phải cắt giảm 400.000 việc làm.

Trước một cuộc khủng hoảng chưa từng thấy, giới chuyên ngành văn hóa ở Hoa Kỳ đang kêu gọi chính phủ liên bang tiến hành một kế hoạch chấn hưng gọi là ‘‘New Deal của thế kỷ 21’’, giống như chính sách mà Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã từng ban hành hầu đưa nền kinh tế Mỹ thoát khỏi cuộc Đại Khủng Hoảng vào những năm 1930. Hiện giờ các biện pháp của chính quyền liên bang Mỹ nhằm hỗ trợ kinh tế chủ yếu liên quan các khâu sản xuất và dịch vụ.

Theo báo cáo của Viện Brooking Institution, các biện pháp hỗ trợ lãnh vực văn hóa cũng nên có một vị trí quan trọng trong kế hoạch phục hồi kinh tế, rất nhiều người làm việc trong ngành văn hóa thường hoạt động độc lập hay theo mô hình tự kinh doanh và vì thế cho nên họ không được tính vào các dữ liệu liên quan đến việc làm. Theo kết luận của Viện Brooking Institution, đã đến lúc cần phải xem xét cách giúp đỡ trực tiếp giới nghệ sĩ cũng như những người chuyên hoạt động trong các lãnh vực văn hóa và sáng tạo.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1390 Posted : Wednesday, August 19, 2020 5:10:15 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Covid-19 : Opéra de Paris và « nấc thang xuống địa ngục »

Thùy Dương - RFI - 19/08/2020
Đoàn ca vũ kịch quốc gia Paris (Opéra national de Paris), sau 350 năm thành lập, với dàn nhạc giao hưởng nằm trong tốp đầu thế giới, với 1.800 nhân viên cùng hai nhà hát Bastille và Garnier, đang trải qua một “tấn bi kịch” chưa từng có.

Sau 4 tháng « cửa đóng then cài » vì lệnh phong tỏa toàn quốc do dịch Covid-19, Opéra de Paris chính thức được mở cửa trở lại từ ngày 15/07. Thế nhưng, vì nhiều lý do, hai nhà hát opéra Bastille và Garnier vẫn đóng cửa lần lượt đến cuối tháng 11/2020 và đến tháng 01/2021. Trong chương trình Kinh Tế Văn Hóa phát trên đài France 24 ngày 25/07/2020, nhà báo Aude Kersulec, giải thích :

« Đó là một tấn bi kịch của năm nay. Đoàn ca vũ kịch Paris sẽ trải qua một mùa diễn thê thảm, mất tới 45 triệu euro. Điều này chưa từng xảy ra. Trong 7 tháng qua, bắt đầu từ tháng 12 năm 2019, Đoàn ca vũ kịch Paris đã phải hủy nhiều buổi công diễn do phong trào đình công của nhân viên trong đoàn. Họ đình công nhằm bảo vệ chế độ hưu bổng đặc biệt mà họ đang được hưởng. Rồi dịch bệnh bùng lên vào tháng 03, biện pháp phong tỏa đất nước đã đặt dấu chấm hết cho mùa diễn năm nay. »

Kéo dài từ ngày 05/12/2019 đến tận ngày 03/03, hai tuần trước khi cả nước Pháp bị phong tỏa vì dịch bệnh, đây là đợt đình công dài ngày nhất trong lịch sử Đoàn ca vũ kịch Paris kể từ khi được thành lập cách nay 350 năm. Tổng cộng trong 3 tháng đình công, 83 buổi diễn ballet và nhạc kịch, (61 buổi diễn của năm 2019 và 22 buổi diễn của năm 2020) đã bị hủy, thiệt hại lên đến 14,5 triệu euro (11 triệu eurro năm 2019 và 3,7 triệu euro năm 2020).

Thế nhưng, những mất mát nói trên vẫn chưa là gì so với những thiệt hại mà loại virus mắt thường không nhìn thấy được đã gây ra. Trong hơn 3 tháng đóng cửa vì dịch bệnh, Opéra de Paris phải hủy 156 buổi diễn và thất thu tới 31 triệu euro. Số khán giả bị ảnh hưởng do lịch diễn bị hủy lên tới 83.000 người.

« Tức giận », « buồn bã », « thất vọng » …, chừng đó vẫn chưa đủ để diễn tả hết những cảm xúc của ông Philippe Jordan, giám đốc âm nhạc của đoàn Opéra de Paris. Ông Jordan khẳng định: « Một dàn nhạc có thể vẫn trụ được nếu không chơi nhạc trong 3 tháng, nhưng 9 tháng thì quá dài và gây tác hại về mặt nghệ thuật. Một dàn nhạc không phải như một cái máy mà sau khi tắt, người ta chỉ cần bấm nút một cái mà khởi động lại được”. Còn một nhạc công chia sẻ trên Le Figaro : “Chúng tôi đang chết đói. Chúng tôi muốn và cần được chơi nhạc. »

Về tài chính, ngoài 45 triệu euro thất thu từ tiền vé, còn nhiều lý do khác khiến Đoàn ca vũ kịch Paris lâm cảnh khó khăn. Nhà báo Aude Kersulec, giải thích cụ thể :

« Đoàn ca vũ kịch Paris là một đơn vị công, không được hưởng các chế độ hỗ trợ của Nhà nước như đối với các các doanh nghiệp, không được hưởng các khoản vay được Nhà nước bảo lãnh và cũng không được hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp bán phần. Nhưng đoàn vẫn phải trả lương cho 1.800 người làm công ăn lương. Các khoản chi cố định thì đoàn vẫn phải bảo đảm, cho dù các nhà hát phải đóng cửa. Còn về các nguồn thu thì do không còn được biểu diễn nên Opéra de Paris đương nhiên là không còn khoản thu từ việc bán vé.

Không những thế, họ còn phải hoàn trả tiền cho những người đã mua vé. Trong khi đó, khoản thu từ hình thức thuê bao, đặt vé theo mùa, theo năm, không chỉ cho năm nay mà cho cả năm 2021, cũng sụt giảm. Bình thường thì đoàn Opéra de Paris có các nhà bảo trợ. Nhưng trong thời buổi khủng hoảng này, các doanh nghiệp cũng không thể hào phóng như trước đây, khoản tiền giới doanh nghiệp bảo trợ cho đoàn opera có lẽ giảm tới 30%.

Tóm lại, thật là khó để chúng ta có thể hình dung Đoàn ca vũ kịch Paris, cơ sở văn hóa được tài trợ nhiều nhất ở Pháp, làm thế nào để có thể trụ được nếu không được hưởng khoản tiền trợ cấp rất lớn của Nhà nước, thường chiếm tới 45% ngân sách hoạt động của đoàn ».

Tiền bảo trợ và nguồn thu từ thuê bao đều đang trên đà « rơi tự do »

Trong phiên điều trần trước Ủy ban văn hóa của Thượng Viện về những khó khăn của Đoàn ca vũ kịch quốc gia Paris, tổng giám đốc Stéphane Lissner và phó tổng giám đốc Martin Ajdari đã nói đến « đà rơi tự do » của khoản tiền bảo trợ từ các doanh nghiệp, cũng như thu nhập từ tiền thuê bao hàng năm.

Trong nhiệm kỳ lãnh đạo của tổng giám đốc Lissner, trong vòng 5 năm, số tiền bảo trợ Opéra de Paris có được đã tăng hơn 100%, từ 9 triệu eurro trong năm 2015 lên thành 19 triệu euro trong năm 2020. Đây là con số không hề nhỏ nếu so với khoản tiền tài trợ 95 triệu euro của Nhà nước. Thế nhưng, cú sốc Covid-19 đã khiến khoản tiền bảo trợ ước tính giảm 1/3 trong năm 2020, còn khoản thu từ thuê bao cho mùa diễn 2020-2021 sẽ giảm 35-45%.

Đài France Musique ngày 16/07 trích dẫn phó giám đốc Ajdari : « Chúng tôi có những đối tác lớn gắn bó, trung thành từ rất lâu nay, nhưng cũng có nhiều nhà hảo tâm, các nhà bảo trợ bậc trung có xu hướng rút lui, vì thế chúng tôi sẽ không thể dựa vào nguồn thu này ». Phó giám đốc Opéra de Paris, Martin Ajdari, giải thích là các doanh nghiệp, nhất là các danh nghiệp bậc trung còn « chần chừ, do dự trong việc đài thọ bởi vì chính họ cũng đang phải yêu cầu sự nỗ lực và hy sinh của người làm công ăn lương » do tác động khủng khiếp của đại dịch.

Không những vậy, theo tổng giám đốc Lissner, các cuộc đình công kéo dài kỷ lục của nhân viên Đoàn ca vũ kịch Paris đã khiến hàng trăm buổi diễn bị hủy, điều này khiến một phần công chúng và những người thuê bao vé xem biểu diễn cả năm sửng sốt. Nhiều nhà bảo trợ và công chúng đã rất giận dữ về những chuyện đó. Nhiều người không muốn đến các nhà hát opéra nữa, bởi nhiều khi họ phải đợi tới trước giờ diễn dự kiến ban đầu 30 phút mới biết hôm đó các nghệ sĩ có lên sân khấu hay không. Điều này đã gây ảnh hưởng đến nguồn thu của đoàn. Hàng năm, khoản thu từ vé xem biểu diễn lên tới 75 triệu euro (1/3 tổng ngân sách của Opéra de Paris).

Ngoài ra, còn phải kể tới khoản thất thu từ du khách tham quan hai nhà hát, đặc biệt là nhà hát Opéra Garnier, một trong những kiệt tác kiến trúc và lịch sử của Paris. Từ khi dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc và các nước châu Á khác, Paris hầu như không còn bóng du khách châu Á, nhất là khách Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, nhà hát opéra Garnier đẹp lung linh, tráng lệ, vốn thường ngày là một trong những điểm tham quan thu hút đông khách du lịch nhất Paris, cũng trở nên vắng vẻ khác thường, thậm chí còn bị ví mới một « lâu đài ma ».

Vậy tương lai của Opéra de Paris, một trong những « tượng đài văn hóa nghệ thuật » của Pháp, sẽ ra sao ? Nhà báo Aude Kersulec nhấn mạnh :

« Quả thực là rất khó để chúng ta có thể hình dung được về các điều kiện để Đoàn ca vũ kịch Paris có thể hoạt động trở lại, công chúng khi đến nhà hát xem biểu diễn phải giãn cách thế nào, các nghệ sĩ trên sân khấu phải giữ khoảng cách thế nào … Nhà hát ca vũ kịch không giống như rạp phim. Để một buổi biểu diễn mang lại lợi nhuận, lượng khán giả đến xem phải đạt mức ngồi kín 80% khán phòng.

Tạm thời, các nhà hát opéra dự kiến phải đóng cửa đến tháng 11, nhưng có những việc sửa chữa trùng tu ban đầu dự kiến vào hè năm sau thì lại được đẩy sớm lên vào năm nay. Đoàn opéra sẽ khởi động trở lại với những buổi hòa nhạc quy mô nhỏ, trong khi các buổi biểu diễn vẫn được tải lên trang mạng của Opéra Paris. Các chương trình biểu diễn được trình chiếu miễn phí trên mạng, cư dân mạng thì vui sướng đón xem nhưng về vấn đề tài chính, thì Đoàn ca vũ kịch Paris sẽ không cảm thấy thoải mái lắm. »

Về công tác phòng chống dịch bệnh, giám đốc Stéphane Lissner cho rằng những yêu cầu giãn cách xã hội là rất khó thực hiện triệt để, nếu không muốn nói là không thể. Chẳng hạn, trong nhà hát Opéra Bastille với sức chứa 2.700 khán giả, việc theo dõi, đảm bảo khán giả giữ khoảng cách an toàn theo quy định quả thực không dễ chút nào. Đó là chưa kể đến việc giữ khoảng cách giữa các nhạc công, nghệ sĩ biểu diễn trên sân khấu cũng là điều không thể, không phù hợp với các yêu cầu về nghệ thuật. Nói cách khác, Opéra de Paris không thể « hạ giá nghệ thuật » để đảm bảo các yêu cầu giãn cách xã hội.

Ngoài ra, 80% nghệ sĩ của đoàn là người nước ngoài, trong đó 55% sống ngoài khối Schengen, mà hiện giờ thì với sự hoành hành của virus corona, chưa ai dám chắc điều gì sẽ còn chờ đón thế giới, biên giới ngoại khối liệu sẽ được mở ở mức độ nào, các nghệ sĩ có được phép nhập cảnh để biểu diễn theo đúng lịch hay không … Tương lai của Opéra de Paris vẫn như bị một làn sương mờ che phủ, chưa có gì được soi tỏ …
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1391 Posted : Thursday, August 20, 2020 6:27:10 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Bày Hàng Lục Bác

Trang Y Hạ

Bày hàng lục bác thử xem
sạch trơn chẳng chút hơi hèm hơi men
và như vắng cả tiếng kèn *
và như yên lặng cài then lâu rồi

và như bậu đã xa xôi
và như bạn cũ thưa ngồi quán quen
và như bỏ hết bon chen
và như xóa sạch sang hèn trước sau

bày hàng lục bác trắng phau
mò tìm cây cọ tô màu quê xa
tô bồi để bớt phôi pha
bến chiều nước trở đậm đà ca dao

gió mưa khỏa lấp thông hào
và như vết rãnh cồn cào rát thân
và như bậu đã bao lần
đẩy xe gom cả hồng trần khuya lơ

ta xin san sẻ câu thơ
lau mồ hôi nóng đậu bờ môi run
ngày qua mưa lạnh bậu buồn
ngày mai sẽ gọi chuồn chuồn bay cao

nhớ chia sớt gởi vì sao
lung linh bắc đẩu đêm thao thức chờ
hẹn nhau mở bịch thiên cơ
bước ra khỏi khúc truông mờ bậu ơi.

Trang Y Hạ
*Kèn thúc quân.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1392 Posted : Friday, August 21, 2020 5:15:59 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Pháp: Khu bảo tồn Ecrins, xứ sở của những người yêu đá

Trọng Thành - RFI - 21/08/2020
Khu bảo tồn quốc gia Ecrins là một niềm tự hào của Pháp. Ecrins là xứ sở của hơn 150 đỉnh núi cao hơn 3.000 mét, của Briançon - thành phố núi cao nhất Liên Âu, của nhiều thung lũng với tiểu khí hậu khác biệt, nơi sinh sống của những loài thực vật hiếm có, trong đó có chardon bleur, được mệnh danh « nữ hoàng núi Alpes ». Khu bảo tồn Ecrins là địa điểm du lịch, thám hiểm hấp dẫn. Có nhiều nẻo đường đến với Ecrins: Tình yêu đá là một trong số đó.

Công viên Quốc gia Ecrins là trung tâm leo núi thứ hai của nước Pháp, sau Mont Blanc. Trước khi vùng Haute-Savoie cùng đỉnh Mont Blanc nhập vào Pháp giữa thế kỷ 19, Barre des Ecrins cao 4.102 mét từng là mái nhà của Pháp. Cùng các đỉnh Pelvoux và Meije (cao lần lượt 3.946 mét và 3.983 mét), Barre des Ecrins được coi như một biểu tượng của thiên nhiên hoang dã miền nam xứ Alpes.

Đá núi, phong cảnh thay đổi mỗi ngày

Vẻ đẹp của thiên nhiên Ecrins như biến mỗi người thành nghệ sĩ. Người tài xế xe khách, đưa chúng tôi đến cửa khu bảo tồn, giải thích vì sao ông chọn vùng núi này làm nơi sinh sống : « Tôi vốn là dân một thành phố lớn, tôi không chịu nổi bầu không khí bức bối ở đó. Ở đây ánh sáng thay đổi liên tục trong ngày. Mặt trời gần như quanh năm. Phong cảnh ở đây liên tục thay đổi sắc màu. Mỗi thung lũng một khác. Đá núi, cây cối, phong cảnh thay đổi mỗi ngày, thật là kỳ diệu: từ hè sang đông, từ xanh sang đỏ, rồi trắng. Thật là tuyệt vời ! Tôi thật khó lòng mà chia tay với vùng đất này…. ».

Tại bình nguyên Emparis (Khu bảo tồn Quốc gia Ecrins)Một tháp đá (cairn) ở cao nguyên Emparis, Khu bảo tồn Ecrins.Cánh đồng Pré de Madame Carle, đường lên Băng hà Trắng và Barre des Ecrins.Hồ Eychauda, Khu bảo tồn Ecrins, ở độ cao hơn 2.500 mét, thông thường quanh năm đóng băng, chỉ vài tháng hè là có nước.

Khu bảo tồn rộng nhất nước Pháp này nổi tiếng với phong cảnh hoang sơ. « Vùng lõi » của Parc national des Ecrins, rộng 925 km2, không có đường xe cơ giới, hoàn toàn không có dân cư, ngoại trừ một xóm nhỏ lịch sử, nơi ẩn náu của những người chạy trốn chiến tranh, đàn áp tôn giáo thời xưa. Pars National des Ecrins (bao gồm « các vùng giáp ranh ký giao kết tham gia » khu bảo tồn quốc gia (l’aire d’adhésion) rộng 1.784 km2) là nơi du khách có thể trải nghiệm nhiều môn thể thao của núi rừng : trượt tuyết, leo núi vào mùa đông ; mùa hè đa dạng hơn, với xe đạp địa hình, cưỡi ngựa, dù lượn, thuyền vượt suối, chạy bộ xuyên núi, thám hiểm hang động… Đi bộ trèo núi là môn được nhiều người thuộc mọi lứa tuổi tham gia nhất. Nhiều cha mẹ dẫn cả các em nhỏ mới ba, bốn tuổi làm quen với núi cao. Có người địu cả con trên lưng trèo núi.

Khu bảo tồn có tổng cộng khoảng 740 km đường đi bộ trèo núi được bảo trì và có biển báo, trong đó có tuyến đường chính GR 54 (tour de l’Oisans) vòng quanh khu. Những người leo núi, chinh phục các đỉnh núi, những ai muốn sống lâu hơn với núi non Ecrins, có thể trú chân, dùng bữa tại một trong khoảng 30 quán trọ, nằm rải rác trên các sườn núi cao ở « vùng lõi » khu bảo tồn.

Du khách đến với núi lần đầu chắc không quên được những tháp đá xếp rải rác ven đường, cao thấp, to nhỏ khác nhau, hình thù đủ kiểu. Với người đi núi lâu năm, những tháp đá khá mong manh ấy như có linh hồn, như mang chứa một giao ước thầm kín giữa con người với núi non từ bao đời nay. Những tháp đá ở một khúc quanh, thường giúp du khách không bị lạc đường (thường chứ không phải luôn luôn, vì cũng có tháp đá chỉ sai đường). Ai thân thuộc với núi, trên đường đi, thường góp vài viên đá phần mình vào một tháp đá dẫn đường cho người đến sau. Trong tiếng Pháp, những tháp đá như vậy gọi là « cairn ». Từ cairn du nhập vào thời Cách mạng, trực tiếp từ tiếng Scotland, nhưng âm cairn / tháp đá cũng đã hiện diện trong nhiều địa danh xứ Bretagne, miền tây nước Pháp, xứ sở của dân Celtic thời cổ đại. Cũng có người cho rằng cairn có thể bắt nguồn từ các ngôn ngữ còn xa xưa hơn nhiều.

« VIA FERRATA » - lơ lửng giữa không trung cùng đá

Đến với Ecrins có nhiều con đường: Tình yêu đá là một trong số đó. Đối với những ai không đủ khả năng leo núi (Esclade hay Alpinisme) - môn thể thao mạo hiểm, đòi hỏi các kỹ thuật và thể lực của vận động viên -, thì Via ferrata là một lựa chọn an toàn, cho phép nếm trải cảm giác lơ lửng giữa trời và đất, cùng với đá.

Via ferrata là một hoạt động giải trí với 6 cấp độ, từ rất dễ đến rất khó. Ở mức độ dễ, Via ferrata cho phép cả gia đình tham gia cuộc chơi, kể cả các em nhỏ. Người thực hành Via ferrata luôn nối mình với một dây cáp - « sợi dây bảo mạng », được gắn dọc theo những cung đường, với các mốc bám được bố trí sẵn, chân bước theo từng bậc thép, gắn chặt vào vách núi. Một khi có đủ trang bị an toàn và nắm vững các nguyên tắc bảo hiểm, người thực hành Via ferrata có thể bắt đầu cuộc chơi men theo vách đá, hay vượt những đoạn núi dốc đứng, cũng có thể vượt cầu khỉ trên dòng nước siết, hay đi thang dây qua một vực sâu, thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên trên từng bước chân, từng khoảnh khắc.

Vách đá Freissinières, ở phía đông khu bảo tồn, nổi tiếng trong giới là nơi khai sinh ra bộ môn Via ferrata ở Pháp, nơi lắp đặt tuyến Via ferrata đầu tiên vào năm 1988. Tại khu bảo tồn Ecrins hiện nay, có nhiều người hướng dẫn Via ferrata chuyên nghiệp, được các cơ quan phụ trách phát triển du lịch địa phương giới thiệu với du khách.

Người leo núi và tình yêu đá

Gắn bó với núi non Ecrins có lẽ ít ai hơn những người leo núi. Chúng tôi may mắn gặp được Carine, một nhà leo núi nghiệp dư. Đại dịch Covid-19 khiến cô quyết định đến ở hẳn với khu bảo tồn Ecrins, nửa năm sớm hơn dự định. Chọn làm việc trong ngành khách sạn, Carine muốn có cơ hội được sống với núi, được thường xuyên đi núi, leo núi. Vì sao Carine thích leo núi ?

Cô tâm sự : « Khi tôi leo núi, tôi không còn cảm thấy gì khác nữa. Tôi hoàn toàn trong cung đường (cung đường hay « une voie » - theo cách gọi của giới leo núi) của mình. Tôi hoàn toàn tập trung vào các điểm bám, vào mục tiêu hướng đến. Tâm hồn tôi hoàn toàn được giải phóng, tôi thư giãn. Có thể hơi mệt mỏi, đau đớn ở chân ở tay, nhưng điều quan trọng là tôi hoàn toàn được giải phóng ».

Tại vùng Ecrins, Carine có rất nhiều quan tâm. Khi rảnh, cô thường đi dạo trong rừng, ngắm nhìn cây cỏ, chụp ảnh các hoạt động của thú trong đêm, phát hiện các loại sinh vật lạ, trao đổi thông tin với người phụ trách khu bảo tồn, hay trò chuyện với du khách, để hướng dẫn họ khi cần thiết. Nhưng, tiếp xúc với đá vẫn là niềm đam mê sâu thẳm của Carine. Cô chia sẻ :

« Đá ở mỗi nơi một khác. Tại khu Ailefroide (đông bắc khu bảo tồn), có một loại đá đặc biệt. Các vách đá ở đây không thật dốc. Đá ở đây có vẻ như rất nhẵn, nhưng thực ra lại dính. Khi di chuyển có lúc không cần chạm tay vào đá. Lúc đó ta như bò lên đá bằng chân, bàn tay gần như không chạm. Có cảm giác biết chắc là giày và đá gắn chặt với nhau. Leo được hay không lúc này vấn đề hoàn toàn là ở tâm trí. Tin tưởng ở bản thân, tin tưởng hoàn toàn rằng chân dính vào đá…. Cũng có những loại đá mang theo các tinh thể sắc cạnh… có loại đá thì lấm chấm những lỗ nhỏ, với cây cỏ, với hoa… Tôi sung sướng với những phát hiện… Mỗi lần tiếp xúc với một loại đá mới là một lần khám phá…. Tôi có cảm giác mình đang thực sự được sống trên mặt đất này, sống với thiên nhiên… Khi còn nhỏ, tôi cũng thường mê cầm nắm, thu lượm sỏi đá… Thật khó lòng diễn tả cái cảm giác được tiếp xúc với khoáng chất như vậy… ».

« Mỗi cung đường »

Leo núi là một môn thể thao khắc nghiệt, đòi hỏi nhiều tố chất, về cơ bắp, về sự mềm dẻo, dai sức, khả năng cân bằng, khả năng phối hợp đồng bộ, cảm nhận chính xác. Nhưng leo núi cũng có thể là một môn nghệ thuật, người leo núi có thể là một nghệ sĩ. Câu chuyện của Carine khiến ta nhớ đến nhà leo núi Patrick Edlinger, một trong những người tiên phong của môn leo núi không phương tiện (Free solo climbing / Escalade en solo intégral). Patrick Edlinger được công chúng biết đến nhiều qua hai bộ phim: « Opéra vertical / Vũ điệu opéra theo chiều thẳng đứng » và « La vie au bout des doigts / Sự sống trên đầu những ngón tay ». Với Carine, điều quan trọng không phải là leo được nhiều cung đường, không phải là leo đến các đỉnh núi ngày một cao hơn, mà là phát hiện và tận hưởng mỗi cung đường núi cô đi, cùng với người bạn đồng hành mà cô hiểu và rất đỗi tin tưởng.

Kỳ quan Glacier Blanc

Ecrins là xứ sở của đá và băng. Trên các đỉnh núi, đá băng quyện vào nhau. Đến Khu bảo tồn Ecrins, khó mà bỏ qua Glacier Blanc - Băng hà Trắng. Những ai không có điều kiện lên cao, đứng ngay ở Pré de Madame Carle, cửa vào phía đông bắc khu bảo tồn, có thể nhìn thấy từ xa bằng mắt thường dòng sông băng trắng xám trên gần đỉnh núi. Băng hà Blanc được coi như một kỳ quan của vùng Ecrins.

Từ Pré de Madame Carle, ta có thể đi bộ trèo dần lên phía đỉnh núi. Đây cũng là con đường chính mà các nhà leo núi thường dùng để chinh phục những đỉnh cao huyền thoại của Ecrins. Con đường dẫn đến quán trọ đầu tiên, nằm sát Glacier Blanc, ở độ cao hơn 2.500 mét, gần như chỉ có đá và đá. Đá mênh mông, hùng vĩ, đủ hình đủ dạng. Đá lặng lẽ mà kì ảo, khắc khổ, lạnh lùng mà thi vị. Ánh sáng biến đổi khiến đá lung linh.

Bảo tàng sống về lịch sử Trái đất

Đứng ở giữa thung lũng đá, trên đường lên « Băng hà Trắng », du khách có dịp chiêm ngưỡng sự kỳ diệu của đá, vết tích của những biến động tạo thiên lập địa vĩ đại đã làm nên chính cái môi trường sống cho nhân loại chúng ta. « Địa chất » không chỉ là tác nhân lớn nhất với lịch sử địa phương, như ghi nhận tại thành Vauban, mà đá núi vùng Ecrins còn là chứng nhân cho những biến động địa chất mang tính châu lục và toàn cầu cách nay hàng chục, hàng trăm triệu năm.

Khu bảo tồn Ecrins là địa điểm tham quan, học tập ngoài trời quan trọng về lịch sử địa chất của Trái đất. Tổng cộng 79 địa điểm tiêu biểu được Khu bảo tồn Ecrins giới thiệu với công chúng (trang geologie.ecrins-parcnational.fr).

Trên vách đá vôi ở độ cao khoảng 2.250 mét thuộc xã Champsaur, phía tây khu bảo tồn, du khách có thể chứng kiến các hoá thạch cua biển, với các bộ phận gần như nguyên vẹn, dấu ấn của một đại dương tại nơi hiện nay là núi non. Tại xã Champcella, phía đông nam, có nhiều vết tích của quá trình tan vỡ của khối siêu lục địa (khi lục địa Á-Âu, châu Phi, châu Mỹ sau này vẫn còn là một khối), hình thành cách nay khoảng 300 triệu năm. Nhiều dấu tích về sự hình thành của dãy núi Alpes để lại trong vùng. Đá núi là sản phẩm của các quá trình biến động địa chất dữ dội, cũng là nhân chứng của các quá trình ấy. Qua các nhà chuyên môn, những tinh thể nằm trong đá kể với chúng ta về các điều kiện nhiệt độ và khí hậu cho phép chúng ra đời.

Khi băng hà tan chảy…

Trở lại với đường lên Băng hà Trắng, khoảng ba tiếng đồng hồ với khả năng đi lại bình thường (một tiếng rưỡi với người chuyên nghiệp), ta đến được chân dòng sông băng. Du khách trèo núi tụ tập nghỉ ngơi, dùng bữa tại khoảnh sân nhỏ trước cửa quán trọ Glacier Blanc, đối diện với băng hà. Ở đây có thể ngắm nhìn thỏa thích « băng hà vĩnh cửu », ngay dưới ánh mặt trời chói chang. Ngắm nhìn thỏa thích Glacier Blanc, mà một số người gọi là « Tháp Eiffel » của xứ Ecrins.

Tuy nhiên, ai biết rõ Glacier Blanc trong lòng không an. Nicolas, người phụ trách quán trọ, cho biết năm ngoái, lần đầu tiên quán trọ của anh bị thiếu nước, do băng hà thu hẹp. Trái đất bị hâm nóng, do các hoạt động của con người, với hậu quả nhiều mặt của nó là điều thấy ở khắp mọi nơi, nhưng ở xứ sở của băng tuyết, điều này diễn ra rõ rệt hơn rất nhiều. Nhiệt độ ở đây tăng nhanh hơn rất nhiều, băng hà thu hẹp ngay trước mắt, từ năm này qua năm khác.

Đọc thêm : "Con người" với "Tự nhiên" qua cái nhìn của nhà nhân chủng học
Nhưng khí hậu hâm nóng khiến băng tan chảy cũng đi kèm với một hệ quả ghê gớm khác, ít được biết đến hơn: Núi lở. Năm 2005, ngọn Bonatti, một kỳ quan của dãy Alpes, đột ngột tan vỡ, 700 mét chiều cao bị cắt cụt chỉ trong ít phút, cùng với cơn thác lũ 800.000 tấn đá. Mùa thu năm ngoái 2019, một phần phía dưới của ngọn Olan (ở Ecrins) (cao 3.564 mét) cũng đột ngột sụp xuống. Các nhà khoa học lo ngại tại nhiều nơi ở dãy Alpes, trong tương lai không xa, leo núi ở nhiều nơi vào mùa hè có thể sẽ không còn an toàn (*).

Tại xứ sở của băng đá, ở Khu bảo tồn Ecrins, du khách có cơ hội trở về nguồn, chiêm nghiệm về những biến đổi dữ dội của thế giới băng đá tưởng như vĩnh cửu : những gì mà thiên nhiên phải mất hàng triệu, hàng chục triệu năm mới tạo thành, nay có thể biến đổi chỉ trong một đời người, thậm chí trong thoáng chốc. Một số nhà khoa học nói đến một kỷ địa chất mới. Họ gọi đó là kỷ Nhân Sinh (Anthropocène), khi các hoạt động của con người làm biến đổi chính cái môi trường địa chất và khí hậu tương đối ổn định và thuận lợi trước đây, đã từng cho phép nhân loại sinh sôi, phát triển.

---

(*) Nhiều tuyến đường trong số « 100 tuyến đường đẹp nhất » dãy Alpes, do nhà leo núi Gaston Rébuffat giới thiệu nửa thế kỷ về trước, nay đã hoàn toàn biến mất do biến đổi địa chất (Gaston Rébuffat cũng là tác giả cuốn « 100 tuyến đường đẹp nhất » cho riêng vùng núi Ecrins - Les 100 plus belles courses - le massif des Écrins).



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1393 Posted : Saturday, August 22, 2020 6:59:39 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage



Mỹ : Xem phim ở rạp với giá 15 xu thay vì 12 đô la

Tuấn Thảo - RFI - 20/08/2020
Đúng vào ngày hôm nay 20/08, khán giả Mỹ có thể đi xem phim với giá thật mềm tại 100 rạp xinê trong chuỗi rạp hát AMC. Cùng với Regal Cinemas, AMC Theatres là chuỗi rạp hát lớn nhất Hoa Kỳ với 9.000 trên tổng số 40.000 phòng chiếu phim trên toàn lãnh thổ nước Mỹ. Sau nhiều tháng đóng cửa do dịch Covid-19, chuỗi rạp AMC được mở lại với giá khuyến mại mềm chưa từng thấy.

Mang tên ‘‘Xem phim của năm 2020 với giá của năm 1920’’, chiến dịch khuyến mại này được tổ chức tại 100 rạp hát lớn với tổng cộng là 1.200 phòng chiếu phim, tương đương với 18% số cơ sở kinh doanh của AMC tại Hoa Kỳ. Về phần mình, chuỗi rạp hát Regal sẽ được mở lại vào ngày 21/08/2020. Có thể xem đây là một bước đầu đáng khích lệ, trong bối cảnh nhiều tiểu bang của Mỹ, trong đó có hai bang lớn là California và New York vẫn còn duy trì lệnh đóng cửa các rạp chiếu phim, khiến cho việc phân phối phim ảnh càng thêm phức tạp.

Nhân ngày khai mạc trở lại, vé đi xem phim ở các rạp hát AMC sẽ là 15 xu cho mỗi bộ phim thay vì 12 đô la (giá trung bình của một vé xinê ở Mỹ). Giá 15 xu tức là giống hệt như giá vé của năm 1920, tức cách đây đúng một thế kỷ. Qua việc chào hàng với giá cực kỳ hấp dẫn, công ty điều hành AMC Theatres hy vọng gây tiếng vang để thu hút sự chú ý của giới truyền thông báo chí, đồng thời lôi cuốn đông đảo khán giả, trở lại xem phim tại các rạp hát, càng nhiều chừng nào càng tốt chừng nấy.

Đối với đại đa số khán giả Mỹ, đây cũng là cơ hội để cho họ khám phá hay xem lại những bộ phim nổi tiếng từng được phát hành trong thời gian qua. Phim siêu anh hùng có "Black Panther" (2018), phim gia đình có "Back to the future" (1985) hay là phiên bản mới của "Ghostbusters" (2016), phim ca nhạc thì có "Grease" (1978) hay là "FlashDance" (1983). Một số phim mới, từng được phát hành hồi đầu năm 2020 nhưng công việc khai thác cũng như phân phối đã đột ngột bị gián đoạn trong mùa dịch Covid-19, nhân dịp này cũng được chiếu lại. Sau ngày khai trương lại với giá vé 15 xu, các bộ phim sau đó tiếp tục được chiếu với giá từ 3 đô la (giá trẻ em) đến 5 đô la (giá người lớn), trong khi chờ đợi ngày mở lại một cách rộng rãi hơn hệ thống các rạp hát trên toàn nước Mỹ.

Riêng về lịch phát hành phim mới trong vài tuần tới, chuỗi rạp hát AMC đã xác nhận việc cho ra mắt vào ngày 28/08 bộ phim ‘‘The New Mutants’’, tác phẩm mới của dòng phim siêu anh hùng Marvel, đã bốn lần bị dời lại do các vấn đề liên tục chồng chất. Bộ phim hồi hộp "Unhinged" (tiếng Pháp là Enragé) với nam diễn viên Russell Crowe trong vai chính cũng được trình làng nhân dịp này. Tác phẩm ‘‘The Personal History of David Copperfield’’ với dàn diễn viên nổi tiếng Dev Patel, Tilda Swinton hay là Hugh Laurie cũng sắp ra mắt khán giả vào cuối tháng 8. Tất cả các bộ phim này dọn đường cho thời điểm công chiếu (dự trù vào ngày 03/09) bộ phim gián điệp viễn tưởng ‘‘Tenet’’ của đạo diễn trứ danh Christopher Nolan, tức là hầu như vào cùng một thời điểm với ngày phát hành trên thị trường quốc tế tại những nước cho phép chiếu phim tại các rạp hát.

Ban điều hành các rạp hát AMC hy vọng là từ đây cho tới ngày 03/09, tức là trước khi bước vào kỳ nghỉ lễ Lao Động (Labor Day) tại Mỹ, khoảng 70% các rạp hát đã được mở lại để chiếu bộ phim Tenet của đạo diễn Christopher Nolan, một tác phẩm đang được rất nhiều khán giả chờ đón. Về phía chuỗi rạp hát Regal Cinemas, lớn hàng thứ nhì tại Hoa Kỳ, cũng hy vọng mở lại nhiều rạp chiếu phim để không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh nhân mùa lễ Lao Động, mà theo truyền thống thu hút đông đảo người đi xem phim.

Các công ty khai thác các rạp chiếu phim tại Mỹ đã mừng hụt nhiều lần, ngày mở lại các rạp hát đã liên tục bị dời lại do tiến triển khó lường của dịch Covid-19. Để trấn an nhiều thành phần khán giả, các rạp chiếu phim ban đầu sẽ hoạt động bằng cách hạn chế số người xem trong cùng một suất, đồng thời tuân thủ tối đa các điều kiện giãn cách xã hội. Các rạp hát cũng được dọn dẹp sạch sẽ và ghế ngồi cũng được tẩy trùng thường xuyên.

Không phải chỉ có các rạp hát ở Mỹ mà ngay tại Pháp cũng vậy. Giới quản lý các rạp xinê đang nóng lòng chờ đợi ngày phát hành các tác phẩm thuộc dòng phim blockbuster của Mỹ, mà theo họ có nhiều khả năng hơn trong việc lôi cuốn khán giả trở lại các phòng chiếu phim. Sự kiện công ty AMC công bố lịch chiếu phim với nhiều tác phẩm ‘‘nặng ký’’ trong những tuần lễ tới là một tín hiệu tích cực khả quan, mặc dù chưa có gì thật sự đáng phải mừng vội.

Tại Pháp, khá nhiều rạp chiếu phim đã tạm thời đóng cửa trong suốt tháng 8 vì vắng khách. Một số rạp xinê như hai chuỗi rạp CGR và Kinepolis đã tìm cách khác để tạo thêm nguồn thu nhập thay vì phải đơn thuần ngưng hẳn các hoạt động. Sau khi ký thỏa thuận hợp tác với chi nhánh Pháp của hãng đĩa Universal, các rạp hát CGR và Kinepolis trong suốt tháng 8, lần lượt chiếu các buổi biểu diễn (live concert) ngoạn mục hoành tráng nhất trên màn ảnh lớn, cộng với hệ thống âm thanh ‘‘nổi’’ tối tân nhất hiện thời.

Tính tổng cộng, có 20 đợt biểu diễn từng được thu hình trên các sân khấu lớn. Giới yêu chuộng nhạc pop rock Anh Mỹ sẽ được dịp khám phá hay xem lại các nghệ sĩ hàng đầu như the Rolling Stones, The Cure, Amy Winehouse, Sting, PJ Harvey, Imagine Dragons hay là nhóm nhạc metal Black Sabbath.

Giới yêu chuộng nhạc Pháp kể từ hôm nay cho tới cuối tháng 8 có thể xem trên màn ảnh rộng các buổi biểu diễn của Vanessa Paradis, Mika, Étienne Daho, hay là Alain Bashung. Các fan trẻ tuổi nhất được xem các thần tượng của họ mới nổi danh trong thời gian gần đây như Angèle, Clara Luciani hay Eddy de Pretto. Đặc biệt hơn cả là chương trình ca nhạc thay vì chiếu phim sẽ kết thúc vào cuối tháng 8 với đợt biểu diễn cuối cùng của nam danh ca Christophe, trước khi thần tượng người Pháp vĩnh viễn ra đi vào trung tuần tháng 04/2020.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1394 Posted : Sunday, August 23, 2020 5:42:52 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Whitney Houston - Cơn sốt của giọng ca bất tử

RFI - 22/08/2020
Nếu Whitney Houston vẫn còn sống, giọng ca R&B/pop sinh năm 1963, chắc chắn sẽ mỉm cười hạnh phúc khi chứng kiến con sốt mang tên mình. Số lượng bài hát gắn liền tên tuổi Whitney được cover lại, cũng như tần suất dày đặc xuất hiện hình ảnh và giọng hát Whitney song ca nhiều nghệ sỹ tên tuổi.

Bi kịch cuộc đời không nhấn chìm được sức sống và tầm vóc của giọng hát bất tử đó. Theo Gia Trình, sự qua đời của Whitney Houston không phải là dấu chấm hết mà là sự mở đầu cho những nuối tiếc về một giọng ca đẹp.

Cơn sốt mang tên Whitney

Nổi tiếng từ năm 1985 với album đầu tay Whitney Houston, nhưng mất gần một thập kỷ sau, cô đạt độ chín và đỉnh cao nghề nghiệp với Giải thưởng Grammy Album của năm cho album The BodyGuardnăm 1994. Album này cùng với ba ca khúc nổi bật Run to you, I have nothing, đặc biệt là I will always love you, trở thành một dấu ấn cá nhân mang tên Whitney. Đồng thời là đỉnh cao của pop ballad thập niên 90 theo nhận xét của nhiều tạp chí âm nhạc uy tín như Rollingstone, USAToday.

Phải chăng vì thế Whitney trở thành nỗi ám ảnh các ca sỹ nhạc pop đương đại khi họ bị thôi miên, thách thức để cover các ca khúc của nữ hoàng R&B ? Từ các sự kiện lớn như giải Grammy, Billboard, các nghệ sỹ tên tuổi như Jennifer Hudson, John Legend, thậm chí nữ hoàng nhạc soul Aretha Franklin đều cover lại ca khúc của Whitney. Ngoài ra, DJ người Nauy, Kygo cũng cover lại ca khúc này năm 2019 với chất giọng Whitney trên bản phối đậm chất dance club cũng gặt hái thành công lớn. Thậm chí Glenis Grace, ngôi sao được phát hiện từ cuộc thi America’s got talent chuyên cover lại nhạc Whitney đến mức được gọi là bản sao Whitney Houston.

Không có gì lạ khi Whitney có thể phù phép bản nhạc đồng quê buồn bã I will always love you do Dolly Parton sáng tác năm 1974 thành một ca khúc pop sáng chói, lạ lẫm so với nguyên bản. Single này trụ hạng nhất trong 14 tuần liên tiếp của bảng xếp hạng Billboard. Giọng ca đầy nội lực, mượt mà, quãng rộng cũng như kỹ năng xử lý bài điêu luyện khiến cho Whitney trở thành một thần tượng mà hầu hết các sỹ đều ngưỡng mộ. Hơn thế nữa, kho bài hát của Whitney rất đa dạng, phong phú. Cô có nhiều bản hit pop ballad, R&B, dance/soul dễ nghe nhưng không dễ xử lý với tiết tấu nhanh, làn hơi khỏe.

Thế hệ diva của thời kỳ MTV

Cùng với hàng loạt ngôi sao pop cùng thời như Madonna, Mariah Carey, Whitney được tôn vinh như trong hàng ngũ diva nhạc pop hàng đầu vì tài năng cũng như tầm ảnh hưởng sâu rộng. Trong số đó, Whitney Houston hội tụ được hai yếu tố bản lề trong nghề nghiệp: giọng hát mượt như nhung và phong cách không thể lẫn.

Sự thăng hoa của Whitney Houston chọn được đúng điểm rơi khi khán giả thập niên 80-90 rất ưa thích các ca khúc pop về tình yêu với lời lẽ hoa mỹ. Thập niên này coi là thời điểm vàng son của nhạc pop kèm theo sự bành trướng của văn hóa MTV (kênh truyền hình âm nhạc). So với thế hệ ngày nay, ít có ca sỹ nào lập lại được kỳ tích và tầm ảnh hưởng như Whitney Houston xét về nghề nghiệp.

Hãy nghe các ca sỹ tên tuổi cover lại bài hát Whitney để có sự so sánh rõ nét. Đơn cử như Kelly Clarson dũng cảm cover lại ca khúc How will I Know của Whitney. Nhờ có chất giọng khỏe và tràn năng lượng của Kelly, chúng ta cảm nhận được làn hơi dày dặn của ca sỹ quá cố và sự nhẹ nhàng uyển chuyển. Không chỉ là vẻ đẹp của giọng hát, các ca khúc Whitney Houston hàm ý nội dung sâu sắc như The Greatest Love of All (Tình yêu vĩ đại nhất) nói về nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Chúng ta sẽ cảm nhận phần nào được tinh thần bài hát khi nghe John Legend cover để chứng kiến nghị lực vươn lên cô ca sỹ người Mỹ gốc Phi trong làng âm nhạc ra sao.

Ở một góc độ khác, giọng ca Christina Aguilera biểu diễn song ca với Whitney nhờ công nghệ hologram, tỏ ra cuốn hút khán giả và bộc lộ nhiều điểm thú vị. Chất giọng tốt như Christinacó thể làm hài lòng người nghe, nhưng không lấn lướt được đàn chị Whitney Houston. Khó ai có chuyển tông giọng nhịp nhàng và không phá hỏng bài hát như giọng ca quá cố.

Ngoài ra, cách xử lý bài hát cũng là điểm mạnh của Whitney mà khi hát solo hay song ca, giọng hát không hề mờ nhạt hay bị lấn át. Ít có ca sỹ chọn lối cách tân đột phá mà tạo được cao trào đặc sắc hơn Whitney từng làm trong các ballad như I have nothing hay I learn from the best. Cùng với sự nhảy vọt của công nghệ biểu diễn, khi đặt giọng ca trẻ bên cạnh thần tượng Whitney Houston chúng ta cảm nhận được rõ nét tài năng cũng như tầm vóc của diva nhạc pop.

Tài năng - bi kịch cuộc đời

Sinh trưởng trong gia đình trung lưu có truyền thống nghệ thuật, mẹ của Whitney là Cissy Houston, ca sỹ dòng nhạc gospel, chị họ Diana Warick cũng ca sỹ nhạc R&B. Điểm xuất phát của Whitney Houston khá thuận lợi khi được nuôi dưỡng trong môi trường âm nhạc gia đình. Tuy nhiên, không ai phủ nhận được nỗ lực vươn lên của cô khi vấn đề chủng tộc luôn nhức nhối nhất và chia rẽ nhất trong xã hội Mỹ. Sai lầm nhất của Whitney Houston có lẽ là lựa chọn người bạn đời chơi bời và đầy tai tiếng, ca sỹ R&B da màu Bobby Brown. Họ kết hôn năm 1992 sau 3 năm quen biết tại giải thưởng âm nhạc Soul Train Music Awards.

Được đánh giá là con người ấm áp, cởi mở và khá hài hước, Whitney vẫn được nhớ tới hình ảnh “gái ngoan” không có scandal nào từ thập niên 1980 đến đầu những năm 1990. Tuy nhiên, nửa cuối năm 1990, chứng kiến sự tụt dốc không phanh của nữ hoàng nhạc R&B pop với hàng loạt hủy lịch diễn, đến muộn các buổi tập hay chụp hình kèm theo hình ảnh sút cân nghiêm trọng.

Sự việc chỉ được sáng tỏ năm 2000 khi cô và chồng Bobby Brown bị bắt giữ trên phi trường Hawaii với nửa kilogram cần sa (1 ounce). Sau đó, Whitney và Bobby chính thức ly dị năm 2007 và cô giành được quyền nuôi con gái duy nhất Bobbi Kristina. Bi kịch chưa rời bỏ Whitney cho đến khi cô được phát hiện qua đời tại khách sạn Beverly Hilton ngày 11 tháng 2 năm 2012 với chẩn đoán bệnh tim và sử dụng cocaine.

Nửa cuối cuộc đời của Whitney phơi bày mặt trái của sự nổi tiếng nhưng nó không thể che khuất được độ sáng của tài năng, một giọng hát đẹp có tầm ảnh hưởng lớn thế giới nhạc pop. Dù cô đã ở thế giới bên kia, nhưng chúng ta vẫn cần học hỏi những điều tốt đẹp nhất từ Whitney Houston. Một nỗ lực phi thường tạo dựng vị trí trụ cột trong làng âm nhạc.

(Theo Rollingstone, USA Today)


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1395 Posted : Monday, August 24, 2020 5:22:05 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage



Covid-19 : Xem kịch Avignon miễn phí tại Paris

Tuấn Thảo - RFI - 24/08/2020
Liên hoan sân khấu và kịch nghệ thành phố Avignon diễn ra vào mỗi mùa hè, đã bị hủy bỏ do dịch Covid-19. Sau nhà hát độc lập ‘‘Théâtre 14’’, đến phiên Tòa đô chính Paris mời 8 đoàn nghệ sĩ đến biểu diễn tại thủ đô Pháp trong vòng hai tuần lễ, kể từ hôm nay 24/08 cho đến ngày 06/09/2020.

Trong khuôn khổ chương trình ‘’Tháng 8, tháng Văn hóa’’, thành phố Paris đã triệu mời các nghệ sĩ đến giới thiệu với công chúng thủ đô 8 tác phẩm chọn lọc. Các vở kịch này từng được lên lịch biểu diễn tại thành phố Avignon, trong khuôn khổ ‘‘Festival Off’’, tức là chương trình bên lề liên hoan chính thức, dành riêng cho giới nghệ sĩ cũng như các đoàn kịch độc lập. Tính tổng cộng, 8 đoàn nghệ sĩ được mời tới Paris lần này sẽ biểu diển đủ loại tác phẩm, bao gồm cả kịch nói, kịch múa, nhạc kịch hay là chuyện cổ tích kể cho thiếu nhi.

Trong số các tác phẩm đến từ liên hoan sân khấu thành phố Avignon, khán giả đặc biệt chú ý đến vở kịch ‘‘Callas, il était une voix’’ (Callas, huyền thoại một giọng ca) của tác giả Pháp Jean-François Viot, vở nhạc kịch ‘‘Une vie de pianiste’’ (Đời nghệ sĩ dương cầm) của hai đạo diễn Pháp và Rumani Agnès Boury và Paul Staïcu và nhất là phiên bản phóng tác tiếng Pháp của vở kịch mới ‘‘Boxing Shadows’’ của nam diễn viên kiêm tác giả người Mỹ Timothy Daly.

Do rất nhiều sân khấu cũng như nhà hát tại thủ đô Paris vẫn còn chưa hoạt động trở lại trong thời hậu phong tỏa, cho nên thành phố Paris đã biến các quảng trường, khuôn viên, vườn hoa hay sân trường học thành những sân khấu biểu diễn miễn phí ở ngoài trời. Phần biểu diễn các tác phẩm chọn lọc của liên hoan Avignon chủ yếu được tổ chức tại quảng trường mặt tiền Tòa thị chính quận 1 và quận 4, khuôn viên của Viện Văn hóa Thụy Điển (quận 3) hay là trong công viên Square Saint Lambert ở quận 15. Mỗi ngày đều có suất diễn miễn phí, cuối tuần có từ hai suất trở lên và khán giả được vào cửa tự do nhưng cũng nên đăng ký trước trên mạng, vì do các quy định giãn cách xã hội, cho nên số chỗ ngồi có giới hạn.

Sự kiện Paris mời các đoàn nghệ sĩ đến thủ đô biểu diễn, là một cách để hỗ trợ các tác giả, các đạo diễn và diễn viên trong thời hậu phong tỏa, những người mà đáng lẽ ra phải biểu diễn vào mùa hè này trong khuôn khổ chương trình Festival Off của Avignon. Sau khi liên hoan bị hủy bỏ, mặc dù ban điều hành đã tổ chức chương trình “Avignon Online”, giới thiệu các vở kịch trên mạng, qua các phần video trích đoạn, mục tiêu là tạo điều kiện cho giới nghệ sĩ độc lập cũng như các đoàn kịch ký được hợp đồng biểu diễn với các nhà hát trong năm tới, nhưng chương trình trực tuyến này đã không mang lại nhiều kết quả như mong đợi.

Về phía Paris, Tòa đô chính đã hợp sức với Nhà hát thành phố Théâtre de la Ville để chi trả toàn bộ các chi phí, khi mời 8 đoàn nghệ sĩ đến biểu diễn tại thủ đô. Các đoàn kịch có thêm cơ hội giới thiệu với khán giả việc làm của họ, nhưng đồng thời có thể thuyết phục giới quản lý các sân khấu kịch cũng như các nhà hát tại Paris ký thỏa thuận hợp tác với những đoàn kịch hoạt động theo quy chế độc lập. Các đoàn kịch này tự tìm nguồn vốn đầu tư tài trợ và vì thế cho nên cũng ít khi nào nhận được các khoản trợ cấp từ phía chính phủ.

Cho dù vào đầu tháng 08/2020, Bộ Văn hóa Pháp đã thông báo thành lập một quỹ đặc biệt với 800.000 euro, nhằm hỗ trợ các đoàn kịch tham gia Festival Off của Avignon nói riêng, giới nghệ sĩ độc lập nói chung, tuy nhiên biện pháp này chỉ mang tính ngoại lệ và tạm thời. Các khoản trợ cấp đều có mức hạn chế, được tính theo thu nhập trung bình và các doanh thu hoạt động sân khấu trong năm trước. Đối với các nhà quản lý rạp hát, biện pháp này tạo luồng dưỡng khí cho các rạp kịch bị đóng cửa, phải ngừng hoạt động trong một thời gian dài và giúp hoàn trả lại các khoản tiền đặt cọc, do liên hoan Avignon đã bị hủy bỏ trong mùa dịch Covid-19.

Đối với giới yêu chuộng kịch nghệ, sân khấu Avignon được xem là một trong những liên hoan lớn nhất thế giới dành riêng cho bộ môn kịch thoại nói riêng và cho nghệ thuật thứ sáu nói chung. Tương tự như Liên hoan điện ảnh Cannes, không những có uy tín nhờ giải Cành cọ vàng mà còn quan trọng nhờ Hội chợ phim quốc tế, liên hoan kịch Avignon là một tủ kính trưng bày hấp dẫn với gần 1.500 buổi biểu diễn và hơn 1.000 đoàn kịch cũng như nghệ sĩ đến tham gia hàng năm.

Liên hoan kịch Avignon được xem như là lễ hội lớn nhất của ngành sân khấu biểu diễn ở Pháp: khoảng 25% các hợp đồng kinh doanh phân phối các vở kịch tại Pháp được thực hiện tại Avignon. Còn đối với chính quyền địa phương, một mùa hè mà không có tổ chức liên hoan sân khấu và kịch nghệ, thành phố Avignon bị thất thu nặng nề, ở một mức chưa từng thấy, hơn 70 năm sau ngày liên hoan được thành lập.

Theo báo cáo gần đây nhất của Hội đồng cấp vùng, tuy thành phố Avignon có khoảng 90.000 dân, nhưng trong hai tháng hè, dân số tại chỗ được nhân lên gấp 8 lần, số khách tham quan lên đến gần 700.000 người. Nhờ vậy mà vào mỗi mùa hè, liên hoan kịch đem về cho thành phố Avignon khoảng 150 triệu euro doanh thu. Vì thế cho nên, ngoài các tác hại về mặt văn hóa kịch nghệ, dịch Covid-19 đối với thành phố Avignon, còn là một ‘‘thảm họa kinh tế’’.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1396 Posted : Tuesday, August 25, 2020 4:49:11 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage




Huyền thoại Verdi, niềm tự hào của dòng nhạc opéra Ý

Thanh Hà - RFI - 21/06/2020
2013 kỷ niệm 200 năm ngày sinh nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi. Với 28 vở ca nhạc kịch opéra để đời, Verdi đã khéo kết hợp nghệ thuật sân khấu với âm nhạc. Cho đến tận ngày nay Verdi vẫn còn là một trong hai nhà soạn nhạc opéra mà các tác phẩm được diễn nhiều nhất trên thế giới, bởi nhạc của ông dễ đi vào lòng người. Chương trình của các rạp hát opéra uy tín nhất không thể thiếu những Nabucco, Rigoletto, La Traviata hay Aida của Verdi. (Tạp chí phát lần đầu ngày 20/10/2013)

Vậy mà thiếu chút nữa Verdi đã gác bút sau nhiều tai họa đầu đời. Giuseppe Verdi sinh ngày 10/10/1813 tại một ngôi làng ở miền Bắc nước Ý, gần thành phố Parme trong một gia đình tương đối nghèo. Năm lên 6, Verdi được học nhạc và khi lên 10, Giuseppe được vinh dự đệm đàn trong mỗi buổi thánh lễ ở nhà thờ của làng. Khi mới vừa 15 tuổi, Verdi bắt đầu sáng tác, chủ yếu để tìm kế sinh nhai. Dù vậy Verdi đã sớm khẳng định mình vừa là một nhà soạn nhạc có tài, vừa là một nhạc sĩ chơi đàn Clavecin đầy triển vọng, dù chủ yếu tự học.

Năng khiếu của Verdi đã sớm khiến thương gia Antonio Berezzi động lòng trắc ẩn. Ông là người giúp đỡ tài chính và giới thiệu Giuseppe Verdi vào Nhạc viện Milano. Thế nhưng cánh cổng của học viện âm nhạc nổi tiếng đó đã khép chặt khi Giuseppe tìm đến – khi đó Verdi 19 tuổi. Và thế là Verdi phải tự tìm thầy học đạo. Dù có tài và được một vài người danh tiếng đỡ đầu, nhưng con đường sự nghiệp đã không mở rộng thênh thang trước mắt Verdi. Trớ trêu là sau này, chính nhạc viện Milano lại được vinh dự mang tên là Nhạc việnVerdi.

Chật vật lắm Verdi mới tìm được một chỗ đứng ở Milano. Năm 1836 ông lập gia đình với Margherita, cô con gái của ân nhân Antonio Berezzi. Margheritta chóng sinh cho Verdi hai đứa con, một gái một trai. Hạnh phúc gia đình bên vợ đẹp con khôn là nguồn cảm hứng giúp Verdi sáng tác và ông chủ yếu bắt đầu hướng tới thể loại opéra. Năm 1838 Giuseppe hoàn tất vở opéra đầu tiên Oberto, conte di San Bonifacio.

Đầy tự tin và kiêu hãnh, Verdi đề nghị thẳng với giám đốc điều nhà hát nổi tiếng La Scala của Milano cho diễn vở ca nhạc kịch opéra đầu tay. La Scala là nơi chỉ dành cho những vở opéra được coi là giá trị nhất, nơi phải là những tên tuổi như Rossini hay Bellini mới có chỗ đứng.

Nabucco điểm khởi đầu

Oberto vừa hoàn tất và trong lúc đang kỳ vọng được dựng vở diễn của mình trên sân khấu La Scala thì Verdi chẳng để lãng phí thời gian. Ông bắt tay ngay vào việc soạn một vở opéra thứ nhì. Chẳng ngờ định mệnh lần lượt cướp đi của ông cô con gái cả, cậu con trai mới hơn một tuổi và người vợ xinh đẹp Margherita.

Năm 1840, cửa nhà tan tác, Giuseppe Verdi rơi xuống tận cùng của tuyệt vọng. Chưa đầy 30 tuổi, Verdi đã cỗi già. Hơn một lần ông có ý định từ bỏ tất cả để tìm lại vợ con bên kia thế giới. Thành công của vở Oberto chỉ còn lại vị đắng đối với Verdi.

Vở nhạc kịch thứ nhì đang soạn giở trong ngõ cụt. Mùa đông năm đó, trên con đường trở về mái nhà đơn độc, Verdi tình cờ gặp Merelli, giám đốc điều hành nhà hát La Scala. Verdi nói với Merelli ông sẽ không bao giờ sáng tác nữa. Nhưng cũng chính cái đêm tối trời, lạnh giá hôm ấy, định mệnh của Verdi bước sang một ngã rẽ khác, khi Merelli dúi vào tay Verdi một bản thảo và khẩn khoản yêu cầu Verdi hãy đọc qua.

Trở về căn phòng lạnh lẽo, Verdi đọc lại Kinh Thánh, đoạn kể về nỗi khổ của người Do Thái lưu vong bị bắt về thành Babylone làm nô lệ, phục vụ cho tên bạo chúa Nabuchodonosor… Thế rồi đôi mắt đã khô lệ của Verdi vô tình đặt lên trên mớ giấy mà giám đốc nhà hát La Scala đã trao vội cho ông.

Verdi bị câu thơ đầu tiên trong bản thảo thôi miên : « Va, pensiero, sull’ali dorate … ». Suốt đêm ông đọc đi đọc lại những vần thơ của Temistocle Solera, dựa trên Thi Thiên 137 trong kinh thánh : Năm 589 trước Công Nguyên, nhà vua Nabuchodonosor của Babylone chiếm đóng Jérusalem, sát hại rất nhiều người Do Thái, đập phá không biết bao nhiêu đền thờ, cung điện của thành Jerusalem, đày người Do Thái về thành Babylone làm nô lệ.

Một dân tộc đi tìm dự do

« Va, pensiero, sull’ali dorate … » là nỗi đau của một dân tộc bị lưu đày hướng về quê cũ, là khát vọng tự do, là tiếng gọi vùng lên, là niềm tin nơi Thiên Chúa … Những tâm tư đó đã ngấm vào từng hơi thở của Verdi.

Cố hương của Verdi là thiên đường, nơi Verdi từng sống trong hạnh phúc với người vợ trẻ và hai đứa con thơ. Khát vọng tự do của nhà soạn nhạc là được giải phóng khỏi khổ đau, cô đơn và tuyệt vọng. Thế nhưng nỗi lòng người xa xứ trong Kinh thánh gần sáu trăm ngăm trước Công Nguyên cũng là tâm tư của một dân tộc, một đất nước đang bị vương quốc Áo đô hộ.

Người Ý ở vào thế kỷ XIX cũng ấp ủ giấc mơ tự do như người Do Thái sáu thể kỷ trước Công Nguyên. Chính vì thế mà Nabucco được coi là vở opéra mang nặng màu sắc chính trị nhất của Verdi.

Đêm ngày 09/03/1842 vở ca nhạc kịch Nabucco ra mắt khán giả lần đầu tiên trên sân khấu nhà hát La Scala, Milano. Những nốt nhạc đầu tiên của bản hợp ca « Va, pensiero … » của Verdi đã thôi miên khán giả Ý, tương tự như chính Verdi đã bị cuốn hút lần đầu tiên ông đọc bản thảo của Solera chưa đầy hai năm trước đó.

Một giai điệu dễ nhớ, cộng với lời ca rút tự đáy lòng là bí quyết đưa Nabucco lên đỉnh cao nghệ thuật. Sau này, bản thân tác giả nhìn nhận sự nghiệp của ông chỉ sự thực bắt đầu với vở opéra Nabucco. Giuseppe Verdi « đăng quang » với Nabucco để liên tục trị vì trên thế giới âm nhạc nghệ thuật của Ý trong suốt 61 năm, cho đến khi ông từ dã cõi đời ngày 27/01/1901.

Nhiều nhân chứng kể lại rằng, trong buổi ra mắt khán giả đầu tiên, Verdi trong bộ y phục đen từ đầu đến cuối đã vụng về bước ra sân khấu để cảm tạ nhiệt tình của khán giá và trong những tiếng hoan hô vang dậy, Verdi đã khóc rất nhiều : khóc vì tuyệt vọng vì ông hiểu rằng Margherita không bao giờ bước lên đỉnh cao danh vọng. Nhưng rồi, rồi những tràng pháo tay bất tận của khán giả đã phần nảo sưởi ấm cõi lòng Verdi. Thoạt đầu được dự trù cho tám buổi diễn, nhưng trước phản ứng của công chúng, Nabucco đã được ra mắt khán giả Milano đến 57 lần trong ba tháng ròng rã. Đây là một kỷ lục kể từ khi nhà hát nổi tiếng La Scala được hình thành.

Bản « hợp ca của những người nô lệ « Va, pensiero … » được cả nước Ý thuộc nằm lòng và thậm chí còn được xem là « bản quốc ca không chính thức » của một dân tộc trên con đường đi tìm tự do. Nhưng Giuseppe Verdi không chỉ là một nhà yêu nước, không chỉ là một nghệ sĩ dấn thân, là ngọn cờ kháng chiến chống ngoại xâm. Verdi trước hết là một nhà soạn nhạc để xưng tụng tình yêu và hơn thế nữa, ông là người đã đổi mới sân khấu nghệ thuật và âm nhạc của thế giới trong thế kỷ thứ XIX.

Làn gió mới của nghệ thuật sân khấu

Tình yêu luôn là cột trụ trong mỗi tác phẩm của Verdi. Lồng trong bối cảnh chính trị và lịch sử, Nabucco còn là một câu chuyện tình tay ba, khi Abigaille và Fenena, hai cô con gái của bạo chúa Nabuchodonosor cùng yêu tên nô lệ Do Thái Ismael. « Motif » một câu chuyện tình tay ba, giữa « người thắng và kẻ thua » này được Verdi lập lại qua vở ca nhạc kịch mang tên cô nô lệ Aïda, sáng tác năm 1870. Bị bắt về hầu hạ công chúa Amneris, con gái hoàng đế Ai Cập, Aida lại thầm yêu Radamès, một viên dũng tướng của triều đình. Nhưng Aïda không đơn thuần là một tên nô lệ mà cô chính là con gái của vua xứ Ethiopia, Amonasro.

Khi người yêu ra trận, Aïda thầm mong anh sống sót trở về, dù biết Radamès phải dẫm lên xương máu của dân tộc mình để có được ngày về. Tình yêu hóa Aïda và Radamès thành những kẻ thông đồng với giặc, phản lại tổ quốc. Trích đoạn nổi tiếng nhất trong vở Aïda là khúc khải hoàn chào mừng dũng tướng Radamès chiến thắng trở về. Ở đây Verdi đã huy động một dàn nhạccùng một ban hợp xướng hùng hậu để minh họa cho sức mạnh, vẻ oai nghi của nền văn hóa Ai Cập cổ đại.

Opéra Aïda được diễn lần đầu tiên tại nhà hát Cairo ngày 24/12/1871 trong khuôn khổ chương trình khánh thành thành kênh đào Suez. Thành công lại đúng hẹn với Verdi. Nhưng nhà soạn nhạc người Ý này không hoàn toàn mãn nguyện bởi vì buổi diễn đầu tiên chỉ mở cửa đón các hàng chức sắc mà không đến được với đại chúng.

Trong toàn bộ gần 30 vở opéra trong sự nghiệp, ông đã kết hợp nghệ thuật sân khấu với âm nhạc sao để dễ chinh phục khán giả, bất luận giàu nghèo, tuổi tác, bất luận vị trí trong nấc thang xã hội hay màu da.

Cũng để đến gần với khán giả, Verdi đã không ngừng đổi mới từ nội dung đến hình thức để tất cả mọi người cũng có thể cảm nhận được cái đẹp của thể loại opéra.

Về nội dung, Giuseppe Verdi luôn chọn những chủ đề rất gần gũi và dễ hiểu với mọi người như là sự hận thù, lòng đố kỵ, nỗi đam mê, tình yêu và hận thù, trăn trở của kẻ tha hương, sự hy sinh cao cả của một người tình như để chuộc lại lỗi lầm, sự giày vò của một nàng công chúa khi phải chọn giữa bên hiếu, bên tình …

Verdi thường mượn một vài tác phẩm nổi tiếng của những nhà văn đã được công chúng biết đến rộng rãi như là Voltaire, hay Victor Hugo, như Shakespear, Lord Byron, Schiller hay Alexandre Dumas … để sáng tác.

Vị trí riêng biệt của các bản đồng ca

Về hình thức Verdi đã thực sự đem lại một cuộc cách mạng trên sân khấu ở nhiều điểm.

Thứ nhất trong tất cả các vở opéra của Verdi đều được dàn dựng một cách hết sức sống động. Ông đem rất nhiều gam màu vào các tác phẩm của mình –từ trang phục của diễn viên cho đến nền phông sân khấu, từ chất giọng của các nghệ sĩ đến âm hưởng, tiết tấu và nhất là Verdi sử dụng rất nhiều nhạc cụ khác nhau để tạo nên sắc thái riêng biệt đó cho dòng nhạc của mình.

Nét tiêu biểu thứ nhì trong phong cách của Verdi là ông luôn dành hẳn một chỗ đứng riêng biệt cho các dàn hợp xướng. Khác với những soạn giả khác, những bản đồng ca trong các vở opérat của Verdi không chỉ để minh họa hay làm nền đệm cho những nhân vật chính trong vở tuồng. Những bài đồng ca của Verdi đều có cái hồn riêng của nó, đều có một vị trí độc lập trong tác phẩm của ông. Verdi soạn những bản đồng ca đó như ông tạo dựng một nhân vật trong vở ca nhạc kịch của mình.

Điển hình là bài hợp xướng trong hai tác phẩm Nabucco và Aida ở trên. Tác phẩm La Traviata, dựa trên cốt truyện Trà hoa nữ - La Dame aux Camélias của nhà văn Pháp, Alexandre Dumas (con), mở ra trong bầu không khí vui nhộn, trong một buổi tiếp tân tại nhà riêng của cô gái giang hồ Violetta Valéry. Bài hợp xướng Brindisi với nội dung xưng tụng rượu ngọt và tình yêu thể hiện được nếp sống buông thả của cô gái làng chơi thả mình trong hơi men và vòng tay của những bậc quân tử.

Bản hợp ca này tự nó đủ đem lại cho người nghe một bầu không khí vui nhộn,nhẹ nhàng dễ nghe và dễ nhớ. Thế nhưng nếu nhìn tổng thể vở diễn, thì những âm hưởng đó phản ánh cuộc sống bề ngoài và buông thả của cô gái làng chơi Violetta. Khía cạnh đó hoàn toàn tương phản với thế giới nội tâm của một má hồng phận bạc. Vai trò của bản hợp ca đó là nhằm báo trước tấn bi kịch sắp mở màn.

Nhưng bước đột phá về nghệ thuật sân khấu và âm nhạc của Giuseppe Verdi không dừng lại ở đó. Cũng chính với La Traviata, sáng tác năm 1853, nhà soạn nhạc người Ý này đã đưa thách thức công luận thời đó : lần đầu tiên nhân vật chính trong một vở nhạc opéra lại không phải là một người đàn bà đoan trang hiền thục, mà đó chỉ là một cô gái điếm hạng sang, quay cuồng với những cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Xưng tụng tấm còng cao cả của một cô gái giang hồ là một chủ đề quá mới mẻ và không phù hợp với đạo đức của thời bấy giờ. Một phần công luận Ý ở vào giữa thế kỷ thứ XIX không thể chấp nhận điều đó cho dù Violetta hy sinh cả tình yêu và sinh mạng để chuộc lại lỗi lầm.

Lại cũng lần đầu tiên Verdi chọn sáng tác dựa trên một tác phẩm văn học còn « mới tinh » chỉ vừa được Dumas hoàn tất trước đó một năm. La Traviata khi được trình làng đã bị chỉ trích gay gắt. Nhất là khi Verdi đã không ngần ngại đưa nhiều chi tiết riêng tư trong cuộc sống của ông vào tác phẩm : chỉ cần tinh ý một chút, sẽ thấy ngay trong nhân vật nữ của La Traviata, Violetta phảng phất bóng hìn diva Giuseppina Strepponi. Strepponi từng là người tình của giám đốc nhà hát La Scala, Milano, và trong một thời gian dài, bà đã chung sống ngoài hôn nhân với Verdi.

Verdi đã đi trước thời gian, và công luận Ý vào năm 1853 chưa sẵn sàng đón nhận một vở opéra như La Traviata. Buổi ra mắt đầu tiên tại nhà hát La Fenice ở Venise là một thất bại nặng nề. Nhưng riêng với tác giả, ông vẫn tin rằng công luận cần có thêm thời gian để đến với tác phẩm này.

Verdi đã không nhầm. Chỉ một năm sau thì cũng tại Venise, La Traviata đã được hoan nghênh hết chỗ nói và vở ca nhạc kịch này đã được diễn đi diễn lại nhiều lần trên đất Ý cũng như ở nước ngoài. Đến nay, La Traviata được xem là một trong những vở opéra công phu nhất, hoàn chỉnh nhất, được diễn nhiều nhất trên thế giới và được yêu chuộng nhất của mọi thời đại, kể từ khi nghệ thuật sân khấu opéra ra đời vào thế kỷ XVII.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1397 Posted : Wednesday, August 26, 2020 6:36:47 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Phim châu Á nổi bật tại liên hoan Pháp‘‘L’Étrange Festival’’

Tuấn Thảo - RFI - 25/08/2020
Vào lúc rất nhiều liên hoan điện ảnh tại Pháp bị hủy bỏ hay bị dời lại cho tới năm sau, các thành phố Deauville, Angoulême và Paris vẫn cố gắng duy trì các chương trình chiếu phim có tranh giải. Liên hoan Angoulême giới thiệu phim Pháp, Deauville dành cho phim Mỹ, còn Paris tổ chức ‘‘Liên hoan phim kỳ lạ’’ từ 02/09 đến 13/09/2020.

Được thành lập từ năm 1993, liên hoan này thường diễn ra tại hội trường Forum des Images tại phố Les Halles ở Paris quận 1. Dưới danh hiệu ‘‘L’Étrange Festival’’, chương trình chiếu phim không có ý nghĩa nào khác ngoài hình tượng một ‘‘ốc đảo điện ảnh’’, chuyên khai thác các thể loại không thuộc vào dòng phim chính thống. Các tác phẩm được đưa vào cuộc thi hàng năm, không phải là phim ‘‘chính kịch’’ mà thường là ‘‘film de genre’’ theo cách gọi của người Pháp bao gồm cả phim kinh dị, phim thử nghiệm, phim tâm lý, phim giải trí, phim hài … Sợi chỉ đỏ xuyên suốt vẫn là yếu tố ‘‘lạ kỳ, khác thường’’ trong nội dung hay trong cách thực hiện có đủ ‘‘ma lực’’ để lôi cuốn khán giả, họ bị câu chuyện ‘‘hớp hồn’’ từ lúc nào không hay.

Trong gần 30 năm hoạt động, ‘‘L’Étrange Festival’’ đã giúp công chúng khám phá một số tài năng mới mà sau đó đã trở thành những tên tuổi lớn của làng điện ảnh quốc tế như các đạo diễn Alex de la Iglesia (The Oxford Murders / Sát nhân thông minh), François Ozon (Huit Femmes / 8 người đàn bà) và nhất là Guillermo Del Toro (The Shape of Water / Giai nhân và Thủy quái) từng đoạt 4 giải Oscar của Mỹ và một Sư tử vàng tại liên hoan phim Venise dành cho tác phẩm xuất sắc nhất. Năm nay, chương trình chính thức với sự hợp tác của kênh truyền hình Canal+ Cinéma, giới thiệu 14 bộ phim đi tranh các giải quan trọng nhất : Giải thưởng của công chúng và Giải thưởng lớn của ban giám khảo. Ngoài giải thưởng bằng hiện vật, phim đoạt giải còn nhận được thêm hợp đồng phân phối cho thị trường Pháp.

Trong số 14 bộ phim truyện đi tranh giải, có phim đến từ các quốc gia Anh, Mỹ, Canada, Úc, Nga, Nam Phi …. về phía châu Á có phim của Kazakhstan, Đài Loan và Hàn Quốc. Nếu như phim Nga (Sputnik) tập trung khai thác thể loại khoa học viễn tưởng, phim Nam Phi (Fried Barry) kết hợp phim hài với kinh dị, phim Úc (Relic / Tàn tích Quỷ ám) đơn thuần là phim ma, thì giới ghiền xinê đặc biệt chú ý đến bộ phim ‘‘The Owners’’ (Chủ nhà), kể lại câu chuyện của một nhóm bạn trẻ tìm thấy một két sắt chứa đầy tiền mặt trong một ngôi nhà bị bỏ hoang.

Kế hoạch đột nhập vào ngôi nhà để ăn trộm trở nên vô cùng nguy hiểm khi căn nhà tưởng chừng bị bỏ trống lại có cài bẫy và chủ nhà ngỡ rằng vắng mặt đi xa, lại bỗng dưng về sớm. Ngoài sự xuất hiện trở lại của Maisie Wiliams (Game of Thrones) trên màn ảnh lớn, kịch bản bộ phim với nhiều đột biến bất ngờ, còn làm cho người xem liên tưởng đến bộ phim hồi hộp (Don’t Breath / Nín thở trong bóng tối) từng được khán giả liên hoan bình chọn làm bộ phim kinh dị đáng sợ nhất trong năm 2016.

Về phần các bộ phim đến từ châu Á, các tác phẩm ở đây được xếp vào hàng quan trọng, đủ để giới thiệu trong chương trình khai mạc cũng như bế mạc liên hoan ‘‘L’Étrange Festival’’ 2020. Trong buổi lễ khai mạc, ban tổ chức công chiếu bộ phim đến từ Kazakhstan mang tựa đề ‘‘Nữ hoàng Tomyris’’. Thuộc vào dòng phim dã sử cổ trang, bộ phim này kể lại cuộc đời của nữ hoàng chiến binh Tomyris, lãnh đạo các bộ tộc du mục ở vùng biển Aral, từng khởi nghĩa vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên để giải thoát dân tộc của mình khỏi ách đô hộ của Đế chế Ba Tư thời Cổ đại.

Bộ phim do đạo diễn Akan Katayev thực hiện với nhiều kinh phí đầu tư, có nhiều cảnh quay công phu trong ba tháng trên các vùng núi non hùng vĩ và hơn hai năm rưỡi phần hậu kỳ để tái tạo các hoạt cảnh vĩ đại lộng lẫy như những bức bích họa thời xa xưa. Trong bộ phim này, nhân vật phi thường này gần với truyền thuyết huyền thoại, hơn là một nhân vật có thật trong lịch sử, có thể được xem như là một ẩn dụ về nữ quyền. Ngoài cái tài lãnh đạo đáng gờm, nữ hoàng Tomyris còn là một nhà chiến lược tài ba, có khả năng xông pha trận mạc chiến trường không kém gì Alexandre Đại đế thời Hy Lạp cổ đại, hay là Thành Cát Tư Hãn, điều khiển các đạo quân Mông Cổ.

Khán giả thích phim châu Á nhân dịp này cũng khám phá một tác phẩm mới của Đài Loan mang tựa đề ‘‘Get The Hell Out’’ (tạm dịch Thoát khỏi Viện Lập pháp). Đây là một bộ phim zombie (xác sống) nhưng mang đầy tính trào phúng hài hước khi nói về tinh thần yêu nước của người dân Đài Loan. Người thực hiện bộ phim là đạo diễn Vương Dật Phàm, từng đoạt giải nhân liên hoan phim Đài Bắc 2018 và từng được đề cử đi tranh giải thưởng điện ảnh Kim Mã nổi tiếng của Đài Loan.

Trong thời gian gần đây, điện ảnh Hàn Quốc đã thật sự khởi sắc tại Pháp, thông qua bộ phim nhiều tập Kingdom (Vương quốc thây ma) và gần đây hơn với bộ phim Peninsula (tập nhì của ‘‘Chuyến tàu sinh tử’’ / Last Train to Busan). Lần này tại ‘‘L’Étrange Festival’’, công chúng sẽ được xem trong buổi lễ bế mạc bộ phim "Người Kế Tiếp" (The Man Standing Next / Namsanui Bujangdeul) của đạo diễn Woo Min Ho với ngôi sao Lee Byung Hun trong vai chính. Được chuyển thể từ một quyển tiểu thuyết rất ăn khách, bộ phim là một trong những tác phẩm đáng chú ý nhất của điện ảnh Hàn Quốc đầu năm 2020. Bộ phim kể lại âm mưu ám sát tổng thống (Park Chung Hee) vào tháng 10 năm 1979, kẻ chủ mưu chính là giám đốc cơ quan tình báo trung ương Hàn Quốc Kim Jae Kyu.

Một bộ phim ‘‘nặng ký’’ khác của Hàn Quốc là tác phẩm ‘‘Núi lửa Baekdu’’ (tựa tiếng Việt ‘‘Thảm họa núi Bạch đầu’’ còn tựa tiếng Anh là ‘‘Ashfall’’). Thuộc vào dòng phim thảm họa, tác phẩm này quy tụ một dàn diễn viên hùng hậu như Lee Byung Hun, Bae Suzy, Ha Jung Woo, Ma Dong Seok … kể lại câu chuyện của một đội chuyên viên chạy đua với thời gian để tìm cách giải cứu người dân, sau lần phun lửa đầu tiên của núi Bạch Đầu. Trước nguy cơ núi lửa tiếp tục gây thêm nhiều thiệt hại tàn phá, đội chuyên viên này phải hợp sức để ngăn chặn thiên tai đổ ập vào đầu người dân xứ Hàn.

Bên cạnh một dàn diễn viên đẹp như mơ, bộ phim tuy là blockbuster với nhiều đầu tư vào phần kỹ xảo nhưng vẫn biết gói ghém kịch bản chặt chẽ. Bộ phim từng đứng đầu danh sách các tác phẩm ăn khách ở Hàn Quốc hồi cuối năm 2019, trước khi có dịch Covid-19, từng có doanh thu cao gấp ba lần mức đầu tư ban đầu. Giờ đây, khi được chiếu tại liên hoan ‘‘L’Étrange Festival’’ tại Paris, bộ phim này càng có nhiều khả năng chinh phục giới yêu chuộng nghệ thuật thứ bảy.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1398 Posted : Thursday, August 27, 2020 3:58:37 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage


Bản Symphony số 9 của Beethoven và thế giới đại đồng

Thanh Hà - RFI
2020 là năm thế giới vinh danh Beethoven nhân kỷ niệm 250 năm ngày sinh người dành 30 năm cuộc đời để có được bản Symphony số 9. Qua tác phẩm này, Ludwig van Beethoven (1770-1827) đã tiến hành nhiều cuộc cách mạng cùng một lúc : Ông phá cách, đưa một dàn hợp xướng vào thể loại nhạc giao hưởng, đồng thời biến tác phẩm này thành một bản tuyên ngôn vì một thế giới đại đồng, xóa bỏ giai cấp.

Nhạc sĩ dương cầm François Frédéric Guy thổ lộ ông thật "hết ý" với Khúc Hoan Ca –Ode à la Joie (Ode an die Freude) trong bản Giao Hưởng Số 9 của Beethoven. Trong tác phẩm này, nhạc sĩ người Đức đã dùng một ngôn ngữ âm nhạc rất đơn giản – vừa dễ nghe, vừa dễ đàn, để đến gần với đại chúng, để thổi vào hồn người nghe tinh thần đấu tranh, tình yêu đồng loại, lý trí của những con người muốn được cùng nhau sống trong niềm hân hoan, tương ái. Chỉ cần nghe một vài nốt nhạc ấy cũng đủ để ta nở được nụ cười và cùng hướng đến một tập thể.

Beethoven là người mở đường cho cả một thế hệ các nhạc sĩ của trường phái lãng mạn, từ Schumann đến Chopin hay Liszt, Mendelssohn. Những bản giao hưởng của ông được xem là những tượng đài của âm nhạc thế giới. Trong số những đại tác phẩm ấy, bản Symphony số 9 được nhắc đến nhiều hơn cả bởi đấy chẳng những là di chúc ông để lại cho hậu thế, là tác phẩm khép lại sự nghiệp đồ sộ của Beethoven, mà nhạc phẩm ấy còn là "điểm đến cuối cùng" của thể loại Symphony như Richard Wagner, một cây đại thụ khác của nghệ thuật âm nhạc thế giới, từng nhận xét.

Không phải ngẫu nhiên mà bản thảo của Symphony số 9 được tổ chức UNESCO công nhận là di sản thế giới. Cũng không phải tình cờ tác phẩm này là nguồn cảm hứng vô tận cho các thể loại nghệ thuật từ sân khấu đến văn chương, từ hội họa đến điện ảnh. Vì sao bản Giao Hưởng số 9 được cất lên khi bức tường Berlin sụp đổ và đã được chọn là nhạc hiệu của Liên Hiệp Châu Âu ?

Được cho mắt công chúng lần đầu tại thành Vienne, vương quốc Áo, năm 1824, bản Symphony số 9 đã khẳng định chỗ đứng riêng biệt trong khu vườn âm nhạc của nhân loại.

Về hình thức, tác phẩm này gồm bốn phần và có độ dài hơi quá khổ. Khác với những người đi trước, trong phần mở đầu, tác giả cố tình bắt chúng ta đợi chờ, để rồi mãi đến khuông nhạc thứ 16 ông mới từng bước hé lộ tâm tư. Đằng sau vẻ ban đầu tĩnh lặng là những băn khoăn sôi sục, là khát vọng dâng trào, là những xung đột nội tâm, là con đường dài của sự tranh đấu.

Nếu như thông thường, sau chương một sôi động thì ở phần thứ nhì luôn có nhịp điệu dịu dàng hơn, trầm lắng hơn. Nhưng ở đây Beethoven lại chọn vũ điệu Scherzo vừa dồn dập vừa vũ bão. Các nhạc cụ ở đây lao vào một màn rượt đuổi, mãnh liệt và đam mê.

Dù vậy tất cả mọi chú ý đều tập trung vào phần cuối bản Symphony số 9. Beethoven là người đầu tiên đưa dàn hợp xướng và bốn tiếng hát đơn vào thể loại giao hưởng. Chương bốn bản Symphony số 9 cũng có thể xem như một bản giao hưởng hoàn toàn độc lập.

1792 là một cột mốc quan trọng trong cuộc đời Beethoven : ông từ bỏ hẳn Bonn đến định cư tại Vienne, theo lời mời của một nhạc sĩ bậc thầy đang ngự trị trên vương quốc Áo, là Joseph Haydn. Đấy cũng là thời điểm Beethoven bắt đầu tìm tòi để phổ nhạc bài thơ An die Freude hay còn được gọi là Ode An Die Freude – Khúc Hoan Ca thi sĩ Friedrich Schiller sáng tác năm 1785.

Bốn năm trước cuộc Cánh Mạng Pháp 1789, trong xã hội phong kiến của vương quốc Áo cuối thế kỷ 19, Schiller đã ngợi ca công bằng, bác ái, một xã hội mà người người bình đẳng không chỉ trước Phán Xét Cuối Cùng của Thượng Đế. Nhân loại bình đẳng dưới vòm trời của hạnh phúc và niềm hân hoan. Beethoven đồng cảm với khát vọng tự do, với lý tưởng về một thế giới đại đồng, nơi mà :

"Triệu triệu con người mở rộng vòng tay,

Là anh em một nhà"

Lời thơ của Schiller là ngọn đuốc dẫn đường, là tiếng chuông ngân vang suốt tuổi trẻ và cả cuộc đời của người nhạc sĩ. Đến nỗi trong 30 năm liền, Beethoven biến mỗi tác phẩm của ông như một cuộc thử nghiệm, như một viên đá lót đường để có được bản Giao Hưởng số 9.

Từ năm 1795 khi mới 25 tuổi Beethoven đã phác họa sơ cho một dàn đồng ca và piano. Tiết tấu đó được ông sử dụng lại trong một bản Fantaisie, sáng tác năm 1808. Mãi gần chục năm sau, vào quãng 1817, Beethoven mới thực sự phác họa sườn bản Symphony số 9. Ông chỉ giữ lại khoảng 1/3 lời thơ của Schiller để phổ nhạc, nhưng đã có chiếc đũa thần, để bài thơ của văn hào Đức Friedrich Schiller chắp ánh bay cao, để những dòng suối nhỏ cùng vươn ra biển lớn.

Bài thơ Ode à la Joie -Ode an die Freude của Friedrich Schiller và bản Giao Hưởng số 9 là một bản tuyên ngôn nhân quyền trước thời đại.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1399 Posted : Friday, August 28, 2020 5:37:24 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage




Liên hoan phim tiếng Pháp khai mạc tại Angoulême

Tuấn Thảo - RFI - 28/08/2020
Nổi tiếng từ lâu là một trong những chiếc nôi của làng truyện tranh, thành phố Angoulême giờ đây còn được biết đến nhờ tổ chức một chương trình chiếu phim có tranh giải dành riêng cho các tác phẩm điện ảnh tiếng Pháp. Liên hoan phim Angoulême khai mạc kể từ hôm nay 28/08 và sẽ kéo dài cho tới ngày 02/09/2020.


Được thành lập vào năm 2008, Liên hoan phim tiếng Pháp Angoulême đã nhanh chóng trở thành một sự kiện quan trọng, việc giới thiệu các bộ phim mới là một cách để bắt mạch thị trường điện ảnh Pháp nói riêng, của các quốc gia trong khối Pháp ngữ nói chung. Tuy nhiên, năm nay Liên hoan phim Angoulême lại diễn ra trong một bối cảnh hết sức đặc biệt. Các quy định giãn cách xã hội trong mùa dịch Covid-19, buộc ban tổ chức hạn chế ở mức 28.000 khách thay vì 48.000 khán giả thường xuyên đến dự liên hoan. Để tiện bề kiểm soát hơn, ban điều hành cũng yêu cầu khán giả phải đặt chỗ trước, thay vì đứng xếp hàng mua vé vào cửa tại các phòng chiếu phim.

Nếu như số lượng người tham gia bị hạn chế ở mức 60% so với năm ngoái, thì ngược lại nội dung chương trình của Liên hoan phim tiếng Pháp Angoulême lần thứ 13 lại dồi dào phong phú, hơn hẳn những năm trước. Chương trình năm nay có hơn 60 tác phẩm đủ loại, trong đó hơn hai phần ba là các bộ phim mới chưa từng được phổ biến, ngoài ra còn có trên 10 tác phẩm đầu tay được chiếu trong các chương trình có tranh giải. Hầu hết các phim này đều chờ được ra mắt công chúng Pháp tại các rạp hát, từ đầu mùa thu trở đi.

Trong thời gian phong tỏa vừa qua, nhiều liên hoan điện ảnh đã bị hủy bỏ, dời lại hoặc là được duy trì nhưng chủ yếu diễn ra ở trên mạng, như trường hợp của các liên hoan Cannes, Locarno, Annecy … Một cách ngẫu nhiên, Liên hoan phim tiếng Pháp Angoulême lại trở thành điểm hẹn ngoạn mục đầu tiên của làng điện ảnh Pháp, tập hợp về cùng một nơi nhiều nhà sản xuất và phân phối, các diễn viên cũng như đạo diễn nổi tiếng trong thời hậu phong tỏa. Đối với các đoàn làm phim, đây cũng là dịp để cho họ đến giới thiệu với công chúng nhưng dự án làm phim mà họ từng ấp ủ trong nhiều năm qua.

Theo đồng chủ tịch liên hoan Dominique Besnehard, ban tổ chức năm nay đã triệu mời nhiều ngôi sao của làng điện ảnh Pháp. Bên cạnh các tên tuổi lớn của làng điện ảnh Pháp như Isabelle Adjani, Catherine Frot, Elsa Zylberstein hay đạo diễn Claude Barras, còn có sự tham gia đặc biệt của Gérard Depardieu và nhất là của nữ diễn viên Isabelle Huppert, chẳng những xuất hiện trong một bộ phim mới, mà còn đến để giới thiệu cuộc triển lãm nhiếp ảnh của Sébastien Cauchon. Các bức ảnh chụp đưa người xem theo chân diễn viên Isabelle Huppert tại các phim trường và sự kiện tại Paris, Tokyo, Los Angeles và Toronto từ năm 2016 đến năm 2019.



Về phía ban giám khảo, hai đạo diễn Benoît Delépine và Gustave Kervern đã được mời làm chủ tịch ban chấm thi. Cặp bài trùng này thường hay hợp tác với nhau trong khâu viết kịch bản và quay phim. Hai đồng đạo diễn đã từng thực hiện các tác phẩm như ‘‘Saint-Amour’’ hay là ‘‘Mammuth’’ với ngôi sao Gérard Depardieu trong vai chính. Trong chương trình năm 2020, bộ phim mới của họ mang tựa đề ‘‘Effacer l'historique’’ được công chiếu đêm nay trong buổi lễ khai mạc liên hoan Angoulême lần thứ 13.

Cùng với các thành viên khác trong ban giám khảo, hai đồng chủ tịch Delépine và Kervern có trách nhiệm chấm điểm 10 tác phẩm dự thi đến từ các nước Bỉ, Thụy Sĩ, Liban, Maroc và Pháp. Đặc điểm năm nay là sau khi liên hoan Cannes đã bị hủy bỏ, nhiều tác phẩm tiếng Pháp từng được chọn đi tranh giải tại Cannes, lần này được đưa vào chương trình chiếu phim của Angoulême. Đó là trường hợp của bốn bộ phim từng hiện diện trong chương trình ‘‘Tuần lễ dành cho giới phê bình’’ (Semaine de la Critique). Bên cạnh đó, một số tác phẩm mới mang thương hiệu ‘‘Cannes 2020’’ cũng được đưa vào chương trình dự thi của Angoulême, chẳng hạn như phim ‘‘L'ennemi’’ của đạo diễn Bỉ Stephan Streker, phim ‘‘Antoinette dans les Cévennes’’ của đạo diễn Pháp Caroline Vignal hay là ‘‘Éléonore’’ của đạo diễn gốc Liban Amro Hamzawi.

Liên hoan phim tiếng Pháp Angoulême năm nay cũng đặc biệt dành trọn chương trình chiếu phim trong ngày 31/08/2020 để bày tỏ tình đoàn kết với thành phố Beyrouth nói riêng cũng như với người dân Liban nói chung. Nhân dịp này, ban tổ chức Angoulême giới thiệu với công chúng Pháp bộ phim “Capernaum”, tác phẩm gần đây nhất của đạo diễn Nadine Labak, từng được phát hành trên màn ảnh lớn vào năm 2018. Toàn bộ các khoản tiền quyên góp trong ngày này sau đó sẽ được trao tặng cho một hiệp hội quốc tế chuyên giúp đỡ các gia đình nạn nhân ở Liban.

Đối với giới yêu chuộng nghệ thuật thứ bảy, Liên hoan phim tiếng Pháp Angoulême đã trở thành một tủ kính trưng bày khá hấp dẫn của làng điện ảnh Pháp. Đa số các bộ phim được công chiếu trong khuôn khổ liên hoan đều ít nhiều dự báo các xu hướng hiện thời của làng phim Pháp, chuyên khai thác phim tình cảm tâm lý cũng như các đề tài lớn trong xã hội. Ban tổ chức liên hoan dĩ nhiên cũng nuôi tham vọng khám phá những tài năng mới hay là những tác phẩm để lại dấu ấn quan trọng trong nền điện ảnh Pháp như trường hợp của bộ phim ‘‘Intouchables’’ (Những kẻ bên lề), được chiếu lần đầu tiên tại Angoulême vào năm 2011. Tác phẩm của hai đạo diễn Olivier Nakache và Éric Toledano đã đoạt trên dưới 50 giải thưởng lớn nhỏ tại các lễ trao giải quốc tế và đồng thời là bộ phim Pháp (ngoài tiếng Anh) có lợi nhuận cao nhất trong lịch sử điện ảnh : 377 triệu euro doanh thu (445 triệu đô la), tức là cao gấp 38 lần so với chi phí đầu tư ban đầu của bộ phim là 10 triệu euro.

Riêng đối với các nhà sản xuất và phân phối, sự thành công (hay không) của Liên hoan phim tiếng Pháp Angoulême cũng khá là quan trọng trong thời hậu phong tỏa, bởi vì liên hoan này mở đầu cho hàng loạt sự kiện lớn khác, trong đó có liên hoan phim quốc tế Bruxelles gọi tắt BRIFF (Brussels International Film Festival) với sự tham gia của đạo diễn kỳ cựu Costa Gavras và bộ phim mới ‘‘Des hommes’’ (Đồng đội) nói về chiến tranh Algérie của đạo diễn Lucas Belvaux được công chiếu trong đêm khai mạc.

Bên cạnh đó, còn có hai liên hoan lớn khác là Liên hoan phim độc lập Mỹ tại thành phố Deauville với một chương trình đặc biệt dành cho các tác phẩm mang thương hiệu ‘‘Cannes 2020’’. Như vậy, Deauville năm nay phá thông lệ khi giới thiệu một số tác phẩm điện ảnh khác ngoài dòng phim độc lập đến từ Hoa Kỳ. Hầu như vào cùng một thời điểm, thành phố thơ mộng trên nước Venise sẽ khai mạc vào đầu tháng 9 liên hoan điện ảnh quốc tế. Tuy cách tổ chức tại chỗ được thu gọn lại, nhưng nội dung chương trình vẫn đa đạng, hấp dẫn xứng đáng với tầm vóc và uy tín của liên hoan điện ảnh lâu đời nhất trên thế giới.

Edited by user Friday, August 28, 2020 7:21:57 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1400 Posted : Saturday, August 29, 2020 12:29:21 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,503

Thanks: 6918 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage



Vừa đêm


vừa đêm vọng chút mải mê
từng không gọi gió lời thề sắc son
bao tình như ngấm mỏi mòn
hoang mang ai đến chợt tròn trăng xưa


chân tình trải lạnh song thưa
có nhành hoa mộng còn chưa bạc nhàu
cho dù trọn kiếp dãi dầu
tầng không thanh thoát nhuộm màu nắng phai


chênh vênh trọn dấu sông dài
tâm tư gõ mãi lạc loài gió sương
mai này còn đó thơ vương
trăm năm huyễn hoặc màu hương phấn người


ngọt ngào nhớ khoảng duyên đời
chơi vơi ai trọn một trời thương yêu
từ khi nắng vỡ đường chiều
còn chăng mãi chút nét kiều dáng mây


u hoài lạc chút thơ ngây
thôi đành xao lãng phút giây chạnh lòng
hẹn nhau về giữa thinh không
tình yêu còn lại mênh mông bạt ngàn


chập chùng một cõi trong ngần ...

vad
Hồng Hoang
posted MGP 12-13-2013

Users browsing this topic
Guest (6)
73 Pages«<6869707172>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.