Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

68 Pages«<6465666768>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1301 Posted : Wednesday, May 27, 2020 11:33:02 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
hongvulannhi  
#1302 Posted : Thursday, May 28, 2020 2:14:14 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,268

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

UserPostedImage

Hong Tuoc 5/28/2015
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 5/29/2020(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1303 Posted : Friday, May 29, 2020 12:41:47 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1304 Posted : Saturday, May 30, 2020 2:19:02 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage



The Beatles và album "Let it be" - Sức sống vượt thời gian

RFI = 30/05/2020
50 năm trước, vào tháng 5 năm 1970, album Let it be (Hãy mặc kệ nó), album cuối cùng của ban nhạc huyền thoại, The Beatles chính thức lên kệ đĩa. Được mệnh danh là nhóm nhạc của thế kỷ 20, The Beatles xác lập kỷ lục mà chưa có ban nhạc nào đánh bại được, tiêu thụ 183 triệu đĩa hát.

Ban nhạc huyền thoại của thế kỷ 20

Kênh Spotify còn tiết lộ có khoảng 20,6 triệu lượt nghe The Beatles hàng tháng trên kênh này. Trong đó, hơn 30% khán giả nghe nhạc The Beatles ngày nay đều là thế hệ Thiên niên kỷ (Millennials) với độ tuổi 18 đến 24.

Âm nhạc của The Beatles có sức hút kỳ lạ như nhịp cầu xuyên suốt các thế hệ. Thế hệ ông bà, cha mẹ ngân nga hát “Let it be, Let it be.” và giờ con cháu họ vẫn hát nối tiếp “Speaking words of wisdom” trong ca khúc kinh điển, theo Gia Trình, từ New Zealand.

Giải mã sức hút của Let it be

Nhóm The Beatles có vô vàn những bài hát đi cùng năm tháng như Yesterday, Hey Jude nhưng Let it be luôn có chỗ đứng rất đặc biệt. Đó là bài ca của hy vọng, giai điệu của niềm tin, những hoài niệm về tình bạn, tuổi trẻ tràn đầy nhựa sống của bốn chàng trai vàng xứ sở sương mù.

Không ai có thể phủ nhận được sức sống kỳ diệu của ca khúc chủ đề khi khúc nhạc dạo piano thánh thót vang lên. Nếu mỗi bài hát có một số phận thì số phận của Let it be là buộc người nghe phải nhớ đến nó. Vì cái tựa đề đơn giản đến mức khó quên, giai điệu hát mộc mạc nhưng lại thẩm thấu sâu như gia tài âm nhạc Bộ Tứ để lại.

Album như một lời chia tay khán giả

Không được đánh giá cao như các album trước đó, album Let it be (1970) đánh dấu nỗ lực hàn gắn bốn thành viên của nhóm, Paul McCartney, John Lennon, George Harrison và Ringo Stars trước khi nhóm tách ra theo đuổi sự nghiệp solo.

Chính vì vậy, cả album không có nhiều đột phá về phong cách, hay thể nghiệm mới mẻ như album Sergent Pepper’s Lonely Hearts Club Band (1967) hay Abbey Road (1969). Album Let it be cho thấy sự tan rã của nhóm là điều không thể tránh khỏi khi cá tính âm nhạc của mỗi thành viên đều định hình rõ nét, chín muồi và đầy xung đột.

Sau khi nhóm tan rã, John Lennon tiết lộ rằng Paul McCartney muốn chiếm lĩnh vị thế trụ cột và chi phối nhóm. Bộ đôi không còn sáng tác chung như ngày đầu mới thành lập nữa, cho dù luôn đề tựa tác giả dưới cái tên ghép quen thuộc Lennon/McCartney. Bỏ qua câu chuyện “bếp núc” hậu trường, Let it be vẫn là một album tương đối dễ nghe, mang âm hưởng buồn nhưng không nhạt nhòa nhờ một số ballad xuất sắc.

Dấu ấn của Paul McCartney

Hai ca khúc đinh nhất của album là Let it be và The long and winding road đều mang dấu ấn đậm nét của Paul McCartney. Ngoài ra còn có Across the universe sáng tác bởi John Lennon và Get back sáng tác bởi George Harrison.

Let it be là một ballad rất tươi sáng, nhẹ nhàng, nói về sự lạc quan khi con người gặp khó khăn, bế tắc trong cuộc sống. Mở đầu với nhạc dạo piano thánh thót, điệp khúc bài hát được tôn lên nhờ sự hòa giọng nhuẫn nhuyễn Paul, John và George. Ca từ bài hát có câu “Mother Mary comes to me” gây ra nhiều tranh luận. Tuy nhiên, Paul đã giải thích Mary trong bài hát ám chỉ mẹ anh, bà Mary McCartney mất sớm vì căn bệnh ung thư, không phải Đức mẹ Mary như các fan lầm tưởng.

Ca khúc Let it be ngầm truyền tải một thông điệp xung đột giữa thành viên trong ban nhạc. Cho dù họ có tan vỡ, bài hát chiếu sáng những tia hy vọng cho một ngày tái hợp không xa.

“For though they may be parted ; There is still a chance that they will see ; There will be an answer, let it be.”

“Với những ai có thể chia ly ; Vẫn có cơ hội mà họ có thể nhìn thấy ; Sẽ có câu trả lời, hãy mặc kệ nó.”

Bài hát nổi tiếng khác là The Long and winding road (Con đường dài và quanh co) được phối khí bởi piano cùng dàn nhạc dây. Tựa đề ca khúc được Paul nghĩ ra khi thăm nông trại High Park Farm của anh ở tại vùng quê Scotland bình yên. Ca từ đẹp, giai điệu mềm mại, khắc khoải khiến cho người nghe đắm chìm trong tâm trạng đang yêu ai đó hơn là tình yêu thiên nhiên đơn thuần.

Tác phẩm không có cấu trúc chuẩn mực như các sáng tác truyền thống của The Beatles. Giai điệu dạo đầu được lặp lại nhiều lần, cùng hiệu ứng lan tỏa của dàn nhạc dây khiến cho bài hát có độ mở về không gian và thời gian. Trong cuộc phỏng vấn năm 1994, Paul từng nói đây là một bản tình ca buồn, vì anh muốn tìm kiếm cảm xúc sâu thẳm, gói ghém hết vào một bài hát như vậy.

Rất nhiều nghệ sỹ thập niên 2000 như Faith Hill, The Corrs cover lại nhưng vẫn thiếu sự tinh tế và đặc biệt không có bản phối khí đẹp như tranh.

"Many times I've been alone ; And many times I've cried ; Anyway you'll never know ; The many ways I've tried ; And still they lead me back ; To the long winding road ; You left me standing here ; A long long time ago..."

"Rất nhiều lần tôi cô đơn ; Và nhiều lần tôi đã khóc ; Em có bao giờ biết đến không ; Rất nhiều lần tôi đã cố gắng ; Và đều dẫn tôi trở lại ; Con đường dài và quanh co ; Em để tôi đứng chờ nơi đây ; Rất rất lâu rồi…"

Album Let it be khép lại sự tồn tại của nhóm The Beatles nhưng nó đã mở ra trang sử mới cho âm nhạc pop/rock đương đại. John Lennon từng bị chỉ trích khi phát biểu The Beatles còn nối tiếng hơn chúa Jesus. Tuy nhiên, không ai phủ nhận rằng các thành viên The Beatles là những tài năng âm nhạc thực thụ. Họ vừa có thể tự sáng tác, biểu diễn, phối hợp ăn ý và định hướng thẩm mỹ cho cả thế hệ về sau.

Nửa thế kỷ nhìn lại, chúng ta phải thốt lên rằng “Let it be… classic music” (Hãy mặc kệ nó là… nhạc cổ điển) như cách Paul McCartney từng ví von về giá trị âm nhạc Beatles.

***

(Nguồn: The Rollingstone, Spotify, The Beatles)


Edited by user Saturday, May 30, 2020 9:03:01 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1305 Posted : Sunday, May 31, 2020 1:10:06 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1306 Posted : Monday, June 1, 2020 12:30:44 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1307 Posted : Tuesday, June 2, 2020 5:29:37 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1308 Posted : Wednesday, June 3, 2020 1:29:58 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
hongvulannhi on 6/6/2020(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1309 Posted : Wednesday, June 3, 2020 11:22:52 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage



??-??

Có chiều xưa hội ngộ
Có chiều nay chia ly
Có cuộc tình chưa trọn
Có một người xót xa

Mai sau lá đổ vàng
Tình sầu thôi đổ úa
Hay vẫn là cách biệt
Để lòng đau phân kỳ?

Một người phai màu tóc
Một người khóc tàn phai
Một mình đau và nhói
Trái tim hoen máu đời

Có một chiều chia ly
Có một chiều hội ngộ
Trăm năm không bến đổ
Ta đau Mình biết không!

Thôi cuộc sầu viễn xứ
Thôi một chuyện tình buồn
Thôi kiếp người dở tệ
Khép cửa đời đau suông!

Phong Cầm

(FB - 04/06/3030)

PS.
ah, PC có lại FB rồi,
vì hôm qua chị hơi bị nóng ruột - đã lâu không thấy PC đâu,
tìm chán chê mới thấy FB báo “người này đang tạm ngưng FB..”
>> thành ra, chị có phần lo lắng về sức khỏe của má em đấy... nên rất ngạc nhiên thấy PC bỗng nhiên xuất hiện !!
mạnh giỏi nhé và quên đi những chuyện tình buồn-khổ?


Edited by user Thursday, June 4, 2020 1:44:11 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1310 Posted : Friday, June 5, 2020 12:59:35 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1311 Posted : Saturday, June 6, 2020 2:09:51 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
hongvulannhi  
#1312 Posted : Saturday, June 6, 2020 6:53:33 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,268

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

Frederic Chopin - Chàng Nhạc Sĩ Đa Tình


Thursday, August 30, 2018 Biên Khảo,
Phạm Văn Tuấn

UserPostedImage

1/ Trường phái Cổ Điển và trường phái Lãng Mạn.

Các thời kỳ lịch sử của bộ môn Âm Nhạc được phân biệt bằng các trường phái hay giai đoạn trong đó một đường hướng diễn tả âm thanh đã được thịnh hành. Các nhà nghiên cứu đã dùng các danh từ như "cổ điển" và "lãng mạn" để phân biệt về tác giả, tác phẩm và thời kỳ.

Trong các năm từ 1770 tới 1800 và đôi khi tới tận 1830, nét nhạc của các nhạc sĩ lừng danh như Haydn, Mozart, Beethoven đã mang nhạc vẻ "cổ điển". Danh từ này hàm chứa các ý nghĩa về sự toàn hảo, tiêu chuẩn, dùng làm mẫu mực cho các sáng tác âm nhạc về sau. Việc phân loại cũng đã được căn cứ vào số lượng nhạc âm (musical sound) bị giới hạn, vào cách hòa âm căn bản, do cách sử dụng nhịp điệu (rhythm) và nhạc thức (form) và do cả cách truyền cảm đi từ nhạc sĩ sáng tác qua nhạc sĩ trình diễn tới thính giả.

Các nhạc sĩ sáng tác đã thí nghiệm, làm biến đổi và làm phát triển cách diễn tả âm nhạc từ các nguyên tắc căn bản. Như thế, cách nhận thức về mỹ thuật nói chung và về âm nhạc nói riêng đã thay đổi theo thời gian và trường phái "lãng mạn" dần dần xuất hiện.

Vào đầu thế kỷ 19, tinh thần lãng mạn đã thể hiện qua cách nhận thức về vẻ đẹp của các "khu vườn Anh" (English garden), tại nơi này không còn cách trồng tỉa cân đối, cách xếp đặt công phu nữa. Nhiều người đã bắt đầu đánh giá cao loại phong cảnh tự nhiên, mang vẻ hoang dã, phóng khoáng. Về kiến trúc, đường nét cổ điển với cách đối xứng và phức tạp đã nhường chỗ cho tính bất quy tắc và sự đổi mới về chi tiết. Cách thưởng thức nghệ thuật đã thay đổi từ năm 1764 với sự xuất hiện của lối kiến trúc Gothic mới.

Cách nhận thức mới về nghệ thuật đã làm nẩy sinh ra một thế giới xa xôi với thế giới "quen thuộc và mỗi ngày" và trường phái lãng mạn đã khác biệt với trường phái cổ điển về sự “xa lạ và xa vời” (strangeness and remoteness). Do đó Walter Pater đã định nghĩa trường phái lãng mạn là "sự thêm vào vẻ đẹp chất liệu xa lạ" (the addition of strangeness to beauty).

Một nét vẻ đặc biệt khác của trường phái lãng mạn (romanticism) là tính không giới hạn (boundlessness). Nghệ thuật lãng mạn lùi về quá khứ và hướng cả về tương lai, trải rộng tầm vóc phủ lên thế giới và lan ra vũ trụ. Trong khi các quy tắc cổ điển chú trọng đến tính trật tự, sự cân bằng về kiểm soát và sự hoàn hảo trong các giới hạn được hiểu rõ, thì trường phái lãng mạn lại ca ngợi tính tự do, sự say đắm, các chuyển động để theo đuổi những gì đạt tới được và không bao giờ đạt tới được. Nghệ thuật lãng mạn bị ám ảnh bởi tinh thần mong đợi, ước vọng về một hoàn thành rất xa vời.

Âm nhạc được định nghĩa là một loại ngôn ngữ không phải là lời nói thông thường. Các nhạc cụ vì vậy đã trở nên một phương tiện, một thứ xe chuyên chở tư tưởng và tình cảm.Trong các bộ môn nghệ thuật, Âm Nhạc là thứ dễ diễn tả, dễ bộc lộ nhất. Nhờ âm thanh và nhịp điệu, âm nhạc đã mô tả các cảm xúc, ấn tượng, làm lộ ra những xúc động nội tâm. Âm Nhạc đã dùng thứ ngôn ngữ riêng để nói lên thứ hình ảnh hiện thân của thế giới cũng như các cảm xúc trong cuộc đời của mọi người. Âm nhạc được định nghĩa là một loại ngôn ngữ không phải là lời nói thông thường. Các nhạc cụ vì vậy đã trở nên một phương tiện, một thứ xe chuyên chở tư tưởng và tình cảm.

Các nhạc sĩ lãng mạn đã khéo léo phối hợp âm nhạc với lời nói, thành lời ca, hòa vào tiếng đàn như trong thể nhạc Lied, một loại bài hát đã được sáng tác thành công vào thế kỷ 19 bởi Schubert, Schumann, Brahms và Hugo Wolf, hay trong loại nhạc kịch trường (music drama) của Wagner. Ngoài ra còn có loại nhạc chương trình (program music) phối hợp với thơ, với cách mô tả, cách tường thuật, cách bắt chước các âm thanh thiên nhiên và các âm thanh chuyển động, đã dùng tới các hình ảnh tưởng tượng và được diễn tả ra bằng âm thanh.

Nhạc chương trình của thế kỷ 19 khởi đầu bằng bản "Giao Hưởng Đồng Quê" (Pastoral Symphony) của Beethoven, kéo dài tới giữa thế kỷ với các nhạc sĩ Mendelssohn, Schumann, Berlioz, Liszt rồi với các nhạc sĩ đại diện của cuối thế kỷ là Debussy và Richard Strauss. Các nhạc sĩ của thời đại này đã cố gắng bằng cách dùng âm thanh, liên kết một câu chuyện, một bài thơ, một hoạt cảnh với một bản nhạc lãng mạn.

Thế kỷ 19 cũng gặp sự chuyển tiếp về thính giả và sự bảo trợ âm nhạc. Loại thính giả đồng nhất, thường có văn hóa cao và số lượng hạn hẹp như giới quý tộc, đã được thay thế bằng giới trung lưu đông đảo hơn nhưng không đồng nhất, không có trình độ cao về thưởng thức âm nhạc. Các bảo trợ về âm nhạc của các hầu tước, bá tước, các cung đình cũng bị nhường chỗ cho các hội hòa nhạc (concert societies) và các đại hội âm nhạc (musical festivals).
Nhạc sĩ sáng tác vào thế kỷ 19 đã đứng trước một sân khấu rộng lớn hơn, phải cố gắng làm sao cho nhạc phẩm của mình được nhiều người nghe và hiểu. Sự tương phản về tính phổ thông của thời đại này đối với thời đại trước đã được thể hiện qua các sáng tạo đồ sộ của Meyerbeer, Berlioz, Wagner, Strauss hay Mahler, hay qua các bản nhạc dương cầm ngắn của Schubert, Mendelssohn và Chopin.

Trường phái lãng mạn của thế kỷ 19 còn có một nét đặc thù, đó là sự khác biệt giữa các nhạc sĩ chuyên nghiệp và các nhạc sĩ tài tử. Các nhạc sĩ độc tấu với tài nghệ xuất sắc đã xuất hiện như Paganini về vĩ cầm và Liszt về dương cầm. Đã tăng thêm các tiêu chuẩn chuyên nghiệp khiến cho sang thế kỷ 20, vai trò của nhạc trưởng trở nên rất quan trọng và nhạc trưởng đôi khi còn được gọi là "nhà độc tài của dàn nhạc".

Trường phái cổ điển và trường phái lãng mạn có thể được coi là hai cực của nền nghệ thuật... Cả hai đặc tính trái ngược cổ điển và lãng mạn đã là hai xung lực căn bản của bản chất con người.Trường phái cổ điển và trường phái lãng mạn có thể được coi là hai cực của nền nghệ thuật. Tinh thần cổ điển đi tìm kiếm sự trật tự, sự cân đối, sự trong sáng của đề tài trong khi tinh thần lãng mạn lại đặt nặng sự xa lạ, tính ngạc nhiên và tình cảm ngây ngất (ecstasy), nhìn cuộc đời với tính chủ quan, khác hẳn yếu tố khách quan của tinh thần cổ điển. Chính vì thế nhà triết học người Đức Friedrich Nietzsche trong các bài viết về nghệ thuật, đã so sánh hai tinh thần cổ điển và lãng mạn bằng hình ảnh của Apollo, vị thần Hy Lạp của ánh sáng và đo lường, tương phản với Dionysus, vị thần của lòng đam mê và tính say sưa. Cả hai đặc tính trái ngược cổ điển và lãng mạn đã là hai xung lực căn bản của bản chất con người.


Franz Liszt
Các cải tiến kỹ thuật vào thế kỷ 19 đã làm phát minh ra các nhạc cụ mới, chẳng hạn như các kèn saxophone và tuba. Việc thêm các "van" (valves) vào loại kèn đồng (brass instruments) đã cho phép kèn tù và (horn) thổi được các giai điệu của Wagner và Tchaikovsky. Đàn dương cầm cũng nhờ các tiến bộ khoa học mà có một khung căng dây đàn (frame) đúc bằng gang, các dây đàn cứng cáp hơn và to dài hơn nên đã phát ra các âm thanh lộng lẫy hơn, sâu đậm hơn. Nhờ cây đàn dương cầm với các âm thanh từ nhẹ (soft) tới mạnh (forte), Liszt đã trình tấu các bản nhạc thuộc trường phái lãng mạn khác với các bản sônát của Mozart vào thế kỷ trước.

Trong thế kỷ trước, nhạc sĩ sáng tác cũng là nhạc sĩ trình diễn. Mozart và Beethoven đã trình bày các concerto của chính mình giống như Franz Liszt diễn tấu nhạc phẩm "Tưởng Khúc Hungari" (Hungarian Rhapsodie) hay Niccolo Paganini với các giai điệu vĩ cầm mang âm sắc quái dị. Sau đó, các nhạc sĩ trình diễn tài ba dần dần diễn tấu các nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ sáng tác khác.

Trong thời kỳ lãng mạn của thế kỷ 19, đàn dương cầm đã đóng một vai trò quan trọng trong bộ môn âm nhạc. Tại châu Âu và châu Mỹ trong thế kỷ này, cây đàn dương cầm trở nên nhạc cụ chính trong gia đình, đã hấp dẫn các nhạc sĩ tài tử vì khả năng của đàn có thể diễn tả vừa giai điệu, vừa hòa âm, khác với các loại nhạc cụ dây và gió.

UserPostedImage

Các bậc thầy về các nhạc bản dương cầm của thế kỷ 19 gồm Schubert, Chopin và Liszt, Mendelssohn, Schumann và Brahms… những nhạc sĩ đại tài này đã khai thác các nguồn vô tận của đàn dương cầm và diễn tả một cách xúc tích vẻ lãng mạn và kịch tính của các nhạc phẩm trữ tình.

2/ Thời niên thiếu của Frederic F. Chopin.

Frederic F. Chopin (1810 - 1849) được gọi là "nhà thi sĩ" của cây đàn dương cầm. Nghệ thuật âm nhạc của Chopin là trái tim của thời kỳ âm nhạc lãng mạn và nhờ Chopin, đàn dương cầm đã đạt được thời kỳ vàng son rực rỡ.

UserPostedImage

Cha của Chopin
ông Nicholas Chopin

Frederic Chopin sinh ngày 22 tháng 2 năm 1810 tại Zelazowa Wola gần Warsaw, nước Ba Lan, là con thứ hai trong bốn người của ông Nicholas Chopin, một người Pháp đã qua Ba Lan để dạy tiếng Pháp cho các gia đình quyền quý. Mẹ của Chopin là người Ba Lan, một người có giáo dục cao, thuộc gia đình quý tộc Skarbek nhưng đã bị sa sút và ông Nicholas đã là phụ giáo cho gia đình này.

Cậu bé Frederic đã tiếp thu được một nền giáo dục căn bản tốt đẹp và đã được học âm nhạc với nhạc sĩ Joseph Elsner, vị sáng lập và cũng là giám đốc của Nhạc Viện Warsaw mới được thành lập. Năm lên 7 tuổi, Frederic đã sáng tác nhạc và nhạc bản đầu tiên đó đã được trình diễn nơi công cộng. Năm sau, Frederic cũng đã biểu diễn âm nhạc trước công chúng bằng bản Concerto của Adalbert Gyrowetz.

Năm 1826, Frederic Chopin là sinh viên chính thức của Nhạc Viện Warsaw nhờ đó đã học hỏi được căn bản về nhạc lý, hòa âm và đối điểm. Chopin cũng làm quen với các nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ rồi từ đó đã sáng tác ra các biến khúc (variations) từ những ảnh hưởng của nhạc bản Don Giovanni của Wolfgang A. Mozart.

Nhạc phong của Chopin từ lúc đầu đã mang âm vẻ đặc biệt, khiến cho vị giáo sư âm nhạc là ông Elsner không muốn ép buộc môn đệ đi vào khuôn mẫu cổ điển và đã cho phép chàng nhạc sĩ trẻ tuổi này hoàn toàn tự do để phát triển những nét nhạc đặc sắc cá nhân. Chopin là một nhạc sĩ trẻ tuổi tài hoa và cũng sớm đa tình. Trong các năm còn là sinh viên âm nhạc, Chopin đã say đắm cô ca sĩ trẻ trung tên là Constantia Gladkowska, người đã gây nên trong nội tâm của chàng nhạc sĩ "nước mắt và tiếng thở dài", thứ lãng mạn phổ thông của thế kỷ 19. Chính trong hoàn cảnh đam mê này, Chophin vào tuổi 19 đã viết nên phần Adagio của Concerto cung Fa thứ vì nghĩ tới nàng ca sĩ trẻ đẹp đó.

Năm 1828, nhạc sĩ sáng tác kiêm dương cầm thủ tên là Johan Nepomuk Hummel, người thành phố Vienna, đã viếng thăm Warsaw và đã trình diễn các nhạc kịch kiểu Ý (Italian opera). Chopin nhờ thế làm quen được với nền âm nhạc của thế giới Tây phương thời bấy giờ. Sau đó, Frederic Chopin đã tới thăm thành phố Berlin, được nghe các nhạc phẩm của George Frederick Handel và của Felix Mendelssohn rồi lúc trở về Warsaw, lại được nghe Niccolo Paganini trình diễn âm nhạc. Tới lúc này Chopin cảm thấy rất cần phải ra khỏi nước Ba Lan. Cha của chàng xin chính phủ trợ cấp cho việc du học nhưng lời yêu cầu bị khước từ, vì thế Chopin đã tự túc ra đi, tới thành phố Vienna để dàn xếp việc xuất bản một số nhạc phẩm cũng như trình diễn âm nhạc tại vài địa điểm.

Ngày 11-8-1829 tại rạp hát Karntnerthor, Chopin đã biểu diễn âm nhạc trước công chúng rồi lúc trở về Warsaw năm sau, lại ra mắt thính giả bằng nhiều nhạc phẩm có tên là "Tùy hứng khúc" (fantasie) mang nhạc đề quốc gia (national themes) cùng với một loạt các luyện khúc (etudes) đầu tiên. Sau đó, Chopin đã du lịch qua nhiều thành phố như Breslau, Dresden và Prague, tới Vienna rồi vì hoàn cảnh chính trị không ổn định, Chopin đã không sang được nước Ý. Trong khi sống tại Vienna, Chopin đã sáng tác "nhạc khúc sinh động cung Si thứ" (B minor Scherzo) và "nhạc khúc kể chuyện cung Sol thứ" (G minor Ballade). Những tác phẩm này đã bộc lộ nơi Chopin các nét nhạc đặc sắc cá nhân trước khi Chopin gặp Franz Liszt, Vincenzo Bellini và Hector Berlioz. Chopin chịu ảnh hưởng âm nhạc của Hummel và của phong điệu dương cầm (piano style) từ nhà soạn nhạc người Ái Nhĩ Lan John Field, là người đầu tiên đã dùng danh từ "nhạc khúc đêm" (nocturne) cho các bản nhạc ngắn, trữ tình.

Frederic Chopin là nhạc sĩ dương cầm đồng thời là nhạc sĩ sáng tác ra các nhạc phẩm với đặc tính lãng mạn, tập trung vào một tượng ý (motive) trong các dạo khúc (preludes) và luyện khúc (etudes). Chopin cũng nghiên cứu kỹ lưỡng về nhịp điệu, hòa âm, nhạc thức và các nét giai điệu của nhạc phổ thông Ba Lan cùng các vũ điệu để viết ra các nhạc khúc Mazurka, luân khúc (waltzes), nhạc khúc Ba Lan (polonaises), nhạc điệu Bolero và Tarantella rồi do cảm xúc, các biểu tượng âm nhạc được Chopin viết ra bằng các nhạc khúc đêm (nocturne), nhạc khúc sinh động (scherzo), nhạc khúc kể chuyện (ballade), nhạc khúc ứng tác (impromptu) và nhạc khúc tùy hứng (fantasie). Tất cả các thể nhạc này đã phát triển vào thời kỳ đầu thế kỷ 19 là giai đoạn mà cây đàn dương cầm trở nên một nhạc cụ ưu việt, dùng để độc tấu tại gia đình lẫn nơi thính đường.

UserPostedImage

Chopin độc tấu dương cầm cho một gia đình quý tộc Ba Lan Radziwiłłs, 1829
(tranh của Henryk Siemiradzki, 1887)

Frederic Chopin đã không viết các bản giao hưởng, các nhạc kịch (opera), các bản tứ hòa (quartet) ngoài một bản hòa tấu ba đàn (trio) gồm dương cầm, vĩ cầm và hồ cầm (cello). Ngoài 2 sônát và 2 concerto dành cho dương cầm đặc sắc, Chopin nổi danh về những nhạc phẩm ngắn với kỹ thuật cao trong tầm tay của các nhạc sĩ tài tử.

Frederic Chopin cũng không phải là một nhạc trưởng hay một giáo sư âm nhạc trong nhiều năm mặc dù do dạy đàn, ông đã kiếm được những món tiền lớn. Trong cả cuộc đời, Frederic Chopin đã trình diễn trước công chúng khoảng 30 lần với những đặc điểm trầm buồn, với sắc nhạc đi từ rất khẽ (pianissimo) tới mạnh vừa (mezzo forte) và rất ít khi dùng sắc nhạc mạnh (forte).

3/ Thời trung niên và cuối đời của Frederic Chopin.

Khi Chopin đang sống tại thành phố Vienna, chàng nhạc sĩ được tin thủ đô Warsaw của Ba Lan đã bị quân đội Nga xâm lăng. Tin đau buồn này tới với Chopin và làm chàng nhạc sĩ cảm xúc và sáng tác ra "Luyện Khúc Cách Mạng" (the Revolutionary Etude).

UserPostedImage

George Sand
(tranh của Charles Louis Gratia c. 1835)

Tháng 9 năm 1831, chàng nhạc sĩ tài danh này tới Paris và làm quen với các văn nhân của thành phố hoa lệ này. Paris trong các năm của thập niên 1830 là nơi quy tụ những nhân tài gồm các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ…. như Victor Hugo, Honoré de Balzac, Bá Tước Alfred Victor Vigny, Alfonse de Lamartine, Henrich Heine, Ferdinand Delacroix… Trong số các nghệ sĩ lừng danh cũng có các nhạc sĩ như Liszt và Berlioz, Rossini và Meyerbeer. Qua sự giới thiệu của nhạc sĩ Liszt, Chopin làm quen với bà Aurore Dudevant là một phụ nữ có đôi mắt to, đen, u buồn và được giới văn chương biết đến qua bút hiệu George Sand. Bà này còn là một nhà hoạt động chính trị, một người phản kháng vương quyền, chống đối các tập tục và quy ước cổ điển của xã hội. Khi tình bạn bắt đầu, Chopin 28 tuổi còn nữ văn sĩ George Sand 34 xuân xanh. Hai người thấy các điểm hợp với nhau: nàng với tính tình ưa áp đảo, lãng mạn, thường hút thuốc lá luôn miệng và mặc bộ âu phục nam, còn chàng lại có tính ủy mị, dễ bị chinh phục. George Sand đã nhận thấy ở Chopin khả năng sáng tạo rất to lớn, rất kỳ diệu, đạt tới nghệ thuật rất dễ dàng. Tại Paris, Chopin đã dạy dương cầm cho một số mệnh phụ và đã nhận được các món thù lao rộng rãi.

Trong thời kỳ sống tại Paris, Chopin đã nhận thấy mình không đủ sức chịu đựng để tranh tài với các nhạc sĩ bậc thầy về diễn tấu (virtuoso) như Franz Liszt và Sigismund Thalberg, vì vậy Chopin đã dồn thời gian vào việc sáng tác âm nhạc. Chàng nhạc sĩ mảnh mai này đã đóng cửa, ở trong nhà nhiều ngày để dạo đàn và viết ra các nhạc phẩm mà công chúng đều khen ngợi.

Mùa đông năm 1838-39, do tình bạn, George Sand đã đưa Chopin đến sống tại đảo Majorca với hy vọng rằng nơi tĩnh dưỡng này sẽ sớm làm phục hồi sức khỏe cho chàng nhạc sĩ yếu đuối. Nhưng thời tiết đã trở nên xấu và sức khỏe của Chopin suy giảm, tuy thế nhạc sĩ thiên tài này đã sáng tác được 24 dạo khúc (preludes) tại Valldemosa khiến cho nơi này về sau trở thành Viện Bảo Tàng Chopin.

Trong các năm trường từ 1839 tới 1846, Chopin đã trải qua các mùa hè tại lâu đài Nohant của nữ văn sĩ, nơi thường quy tụ giới trí thức, tinh hoa của nước Pháp thời đó. Đây cũng là thời kỳ mà Chopin đã sáng tác phong phú nhất trong khi sức khỏe của chàng nhạc sĩ tài hoa này suy giảm dần, và rồi tình yêu đối với George Sand trở thành xung đột, ghen tuông và đố kỵ. Các người con của George Sand đã trở nên một vấn đề. Chopin đứng về phía Solange là người con gái của George Sand, còn phía kia là nữ văn sĩ và người con trai Maurice, họ thường bất đồng ý kiến trong nhiều chuyện tranh cãi. Hai người tình nghệ sĩ đã cách ly nhau. Sự việc này đã khiến cho Chopin mất đi nguồn cảm hứng và năng lực sáng tạo, cảm thấy thất vọng và bị suy sụp tinh thần. Tình cảm giữa Frederic Chopin và George Sand chấm dứt vào năm 1847. Chopin trở về Paris.

UserPostedImage

Jane Stirling
(tranh của Devéria, c. 1830)

Năm 1848, Frederic Chopin sang nước Anh do lời mời của một người học trò tên là Jane Stirling. Tại London, Chopin đã trình diễn âm nhạc nhiều lần và vào ngày 15-5, đã biểu diễn trước Nữ Hoàng Victoria của nước Anh. Sau một thời gian ngắn nghỉ ngơi tại Tô Cách Lan, Chopin trở về London và vào ngày 16-11-1848, đã biểu diễn các nhạc phẩm của mình tại Thính Đường Guildhall để gây quỹ cứu trợ cho các người tị nạn Ba Lan. Sau đó Chopin quay trở về Paris và sống nhờ sự giúp đỡ của gia đình Stirling.

Frederic Chopin chết vì bệnh lao phổi vào ngày 17-10-1849 tại thành phố Paris. Theo lời yêu cầu của chàng nhạc sĩ lãng mạn này, bản nhạc Cầu Hồn Requiem của Mozart đã được đàn lên trong buổi tang lễ. Đám tang của Frederic Chopin thật là rực rỡ. Các nhà quý tộc, các văn nghệ sĩ lừng danh đã đến viếng thăm quan tài trong đó có cả Meyerbeer, Berlioz và Delacroix nhưng nữ văn sĩ George Sand đã vắng mặt. Frederic Chopin được chôn trong lòng đất Paris cùng với nắm đất của xứ Ba Lan mà chàng nhạc sĩ đã mang theo khi rời khỏi quê hương.

4/ Các tác phẩm chính của Frederic Chopin.

Các tác phẩm của Chopin gồm phần âm nhạc dành cho dương cầm và dàn nhạc, với 2 concerto dương cầm, phần nhạc thính phòng và một số bài hát, nhưng quan trọng nhất là phần nhạc dương cầm gồm 4 bản nhạc khúc kể chuyện (ballades), nhạc khúc tùy hứng cung Fa thứ (Fantasy in F minor, 1841), nhạc khúc ru em (Berceuse, 1844), nhạc khúc đưa đò (Barcarolle, 1846), 3 sônát (sonatas), các dạo khúc, luyện khúc, nhạc khúc đêm, nhạc khúc sinh động, nhạc khúc mazurka, nhạc khúc rondo, hành khúc và biến khúc.

Các sáng tác của Chopin đều liên hệ chặt chẽ với cây đàn dương cầm, đặc biệt nhờ vào sự tăng thêm các phím đàn. Chopin lại là nhạc sĩ rất khéo léo, biết cách dùng bàn đạp (pedal) của đàn dương cầm để có được các cấp độ về sắc nhạc (color) và tiếng vang (sonority) cũng như thí nghiệm nhiều về các cách bấm phím mới (new fingerings), dùng hết khả năng của ngón cái hay ngón thứ 5 trên các phím đen, tận dụng cách trượt ngón từ phím đen xuống phím trắng hay dùng kỹ thuật bắt chéo tay.

Nhờ kỹ thuật ngón tay của Chopin, các bản đàn rất khó trình diễn trước kia, nay trở nên dễ dàng và do trí tưởng tượng sáng tạo về kỹ thuật, các luyện khúc của Chopin đã làm cho các bài tập tầm thường biến thành các nhạc phẩm mang tính chất trình diễn. Chopin còn cải tiến hòa âm với các nét nhạc trữ tình, bay bổng, nhờ đó đã đứng ngang hàng với Liszt và Wagner là hai nhạc sĩ đã nới rộng các quan niệm quy ước về cung điệu (tonality).

Chopin đã dùng kỹ thuật của đàn dương cầm để chuyển âm nhạc thành một nghệ thuật rất nên thơ, một cách diễn tả trữ tình bằng âm thanh. Các người Ba Lan luôn luôn suy tôn Chopin như một nhạc sĩ của đất nước Ba Lan. Miền quê hương này đã được lý tưởng hóa trong trí tưởng tượng của chàng nhạc sĩ lãng mạn với ước vọng về niềm hạnh phúc nơi quê mẹ, với lòng trông đợi hướng về đất tổ của kẻ lưu vong. Các nhạc khúc Ba Lan của Chopin có thể được coi là cách bày tỏ tinh thần quốc gia và là một nhạc thức đặc biệt, tới với nền âm nhạc tây phương bằng tinh thần hiệp sĩ và anh hùng.

Frederic Chopin là một nhạc sĩ lừng danh về các nhạc khúc đêm, nhạc khúc ứng tác và dạo khúc (nocturnes, impromptus & preludes) với cách sử dụng rất tài tình về hòa âm và chuyển cung bán âm (chromatic harmonies & modulations). Các nhân vật danh tiếng như các nhà văn Balzac và Heine, các nhạc sĩ tài danh như Liszt, Berlioz, Mendelssohn và Schumann đều ngưỡng mộ Chopin. Nhạc sĩ Schumann đã gọi Frederic Chopin là "một tinh thần thơ nhạc táo bạo nhất và hãnh diện nhất của thời đại" (the boldest and proudest poetic spirit of the time).

Phạm Văn Tuấn
(Đặc San Lâm Viên)

Tài liệu tham khảo: Wikipedia.org., A History of Western Music by Donald Jay Grout, W.W. Norton, N.Y. 1996; Masterworks by Dr. Kern Holoman, Prentice Hall, N.J. 1998…


https://en.wikipedia.org...r%C3%A9d%C3%A9ric_Chopin

Edited by user Saturday, June 6, 2020 7:29:19 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1313 Posted : Sunday, June 7, 2020 5:27:31 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1314 Posted : Monday, June 8, 2020 5:10:49 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage




Roy Orbinson, kẻ si tình mộng mơ

RFI - 06/06/2020
Một người đàn ông bước lên sân khấu với bộ vest đen, đeo kính đen, cất tiếng hát những bản nhạc buồn làm tan vỡ triệu con tim và ra đi đột ngột trong cơn đau tim ở tuổi 52. Đó là chính là Roy Orbison, người được Elvis Presley nhận xét là ca sỹ suất sắc nhất hành tinh.

Gia Trình nói về ngôi sao pop/rock chinh phục trái tim người nghe bởi chất giọng truyền cảm với những bản nhạc melancholy (đa sầu, đa cảm) như Only The Lonely, In Dreams, Crying.

Album vinh danh sự nghiệp

Gần ba mươi năm sau khi ông qua đời, năm 2017, dàn nhạc giao hưởng danh tiếng nhất London, Royal Philharmonic hồi sinh ký ức âm nhạc đẹp nhất khi kết hợp với gia đình ông biểu diễn các bài hát để đời của Roy Orbinson. Tạp chí âm nhạc uy tín Rolling Stone đã bình chọn cố nghệ sỹ (sinh năm 1936 - mất năm 1988) vào top 100 nghệ sỹ biểu diễn xuất sắc nhất mọi thời đại. Dàn nhạc giao hưởng thu âm tại studio nổi tiếng Abbey Road, các con trai của Orbison ghi âm tại Black River Studios, tại Nashville, một studio mà cha họ từng sở hữu.

Album ghi nhận đóng góp không nhỏ từ những người con của Roy Orbison trong vai trò nhạc sỹ: Wesley và Roy Jr cùng chơi guitar, Alex chơi trống và thậm chí cả cháu nội Roy III, chơi tambourine trong bản hit nổi tiếng Oh Pretty Woman (Ôi, người đàn bà đẹp).

Bản ghi âm mới không đánh mất đi kho cảm xúc của bản hát gốc, diễn tả sự mê hoặc trước người phụ nữ đẹp. Giai điệu không buồn bã, nhưng bài hát vẫn có nét ưu tư, phiền muộn của Roy trong sự theo đuổi của kẻ si tình cho đến khi người phụ nữ tìm đến bên anh.

Album A Love so beautiful (Một tình yêu rất đẹp, 2017) là hợp tuyển các bản nhạc gắn với tên tuổi của Roy Orbison xuyên suốt sự nghiệp sáng tác và biểu diễn từ thập niên 60 và cuối thập niên 80. Dưới bản phối khí dàn nhạc giao hưởng, người nghe được thưởng thức bữa tiệc âm nhạc thịnh soạn: chất giọng truyền cảm lồng trong tầng lớp âm thanh trầm bổng.

Đầu thập niên 1960, Roy Orbison đã từng dội bom liên tiếp bảng xếp hạng Billboard Top 10 với 9 ca khúc kinh điển như Oh Pretty Woman, In dreams, Only the lonely, Crying. Sau đó, tên tuổi của Roy chìm xuống trước làn sóng British Invasion (Cuộc xâm lăng của văn hóa Anh Quốc) điển hình như nhóm The Beatles hay The Rolling Stones trên xứ sở cờ hoa. Mặc dù ông vẫn tổ chức nhiều live concert suốt thập niên 70, nhưng không có bản hit xuất sắc, nổi trội như thập niên 1960.

Thập niên 1980 chứng kiến sự trở lại đầy thăng hoa của ông khi bản nhạc lừng lẫy một thời In dreams (Trong những giấc mơ) được chọn làm nhạc phim Blue Velvet (Màn nhung xanh, 1986) do nữ minh tinh Isabella Rosellini thủ vai.

Ca khúc ru khán giả trong mộng mị, lạc vào hồi ức cuộc tình tan vỡ. Kỳ lạ thay, nó rất khớp với nội dung bộ phim thriller bí ẩn, bi kịch mà đạo diễn David Lynch “mát tay” lựa chọn. Thành công của soundtrack phim Blue Velvet tạo nên đòn bẩy mạnh mẽ cho sự trỗi dậy của âm nhạc Roy với công chúng.

In dreams I walk with you, in dreams I talk to you ; In dreams you're mine, all of the time ; We're together in dreams, in dreams.

Trong những giấc mơ, anh đi dạo và nói chuyện cùng em ; Trong mơ, em thuộc về anh mọi lúc ; Chúng ta luôn bên nhau trong giấc mơ.

Âm nhạc buồn và bi kịch cuộc đời

Cho dù nhịp điệu bài hát nhanh hay chậm, hầu hết khán giả và thậm chí chính Roy Orbinson đều phải lòng chất giọng truyền cảm của ông. Một giọng nam không dày, không ấm, nhưng lại có độ rung tạo được thiện cảm đến không ngờ. Ca từ và giai điệu những bài hát ông đa phần đề cập tới nỗi buồn, sự cô đơn, sự tan vỡ tình cảm trong tiết tấu nhịp chậm rãi.

Phải chăng những bi kịch lặp lại trong cuộc đời của Roy đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới những sáng tác của ông? Người vợ đầu Claudette đã qua đời trong tai nạn xe phân khối năm 1966. Hai năm sau, hai trong số ba con trai của Orbison cũng qua đời vì hỏa hoạn năm 1968. Trong một cuộc phỏng vấn, Roy thổ lộ rằng “Để trở thành một nhạc sỹ kiêm ca sỹ biểu diễn, mỗi ca khúc phải đến từ sâu thẳm bên trong bạn, và bạn phải đối xử, tôn trọng nó như những nghệ sỹ thực thụ”. Vì thế, khán giả luôn mặc định tên tuổi của ông luôn gắn bó với những bản nhạc nói về sự cô đơn hay mất mát trong tình yêu.

Đáng chú ý, Billy Steinberg và Tom Kelly, hai tác giả của ca khúc I drove all night (Anh đã lái xe cả đêm) đo ni đóng giày cho Roy Orbison thể hiện. Ông ghi âm ca khúc này năm 1987, một năm trước khi qua đời, nhưng bản nhạc chỉ được phát hành 5 năm sau đó.

Với nhịp điệu nhanh, tác phẩm khơi gợi lại bi kịch đời tư của Roy Orbison khi nhân vật chính phải chạy đua với thời gian, khát khao gặp được người tình như trong một giấc mơ. Bản ballad Roy thể hiện tạo được sự bùng nổ của cảm xúc, sự đè nén của cô đơn trong ca từ và nhịp điệu thôi thúc.

What in this world keeps us from falling apart? No matter where I go ; I hear the beating of our one heart ; I think about you when the night is cold and dark ; Uh-huh, yeah ; No one can move me the way that you do ; Nothing erases this feeling between me and you.

Điều gì trên thế giới này khiến chúng ta phải chia xa ; Cho dù bất cứ nơi đâu ; Anh vẫn nghe thấy nhịp đập một con tim giữa đôi ta ; Anh nghĩ về em giữa màn đêm tối tăm và lạnh giá ; Không ai có thể lay động anh như cách em từng làm ; Không gì xóa nhòa cảm xúc giữa anh và em.

Cơn đau tim đột ngột đã cướp đi hơi thở cuối cùng của Roy ngày 6 tháng 12 năm 1988 tại nhà mẹ ông tại Nashville, Mỹ, trong khi còn rất nhiều kế hoạch dang dở. Album riêng đã ghi âm xong vào tháng 11, tham gia siêu nhóm nhạc Traveling Wilbury, xuất hiện trên hàng loạt chương trình truyền hình.

Một năm sau đó, album Mystery Girl (Cô gái bí ẩn, 1989) chính thức ra mắt, được giới phê bình và khán giả đánh giá cao, gồm các ca khúc xuất sắc như California Blue, You got it và nổi bật nhất A love so beautiful (Một tình yêu rất đẹp). Không phải ngẫu nhiên mà dàn nhạc Royal Philhamonic chọn tên ca khúc này làm tiêu đề cho album vinh danh Roy Orbinson. Nhắc đến ông, thứ âm nhạc buồn bã và giọng hát trữ tình đó, bất cứ nỗi đau nào đều thua xa nỗi đau Roy Orbison gây ra cho hàng triệu con tim vì khán thính giả phải nghe đi nghe lại Một tình yêu rất đẹp.

We were too young to understand, to ever know that lovers drift apart ; And that's the way love goes ; A love so beautiful ; A love so free ; A love so beautiful ; A love for you and me ; And when I think of you ; I fall in love again.

Chúng ta còn quá trẻ nên không thể hiểu, không biết rằng những người tình thường trôi xa ; Đó là cách tình yêu đến ; Một tình yêu rất đẹp ; Một tình yêu tự do ; Một tình yêu giữa anh và em. Khi anh nghĩ về em, anh muốn yêu em trở lại.

(Nguồn: Theo Rolling Stone, The Guardian, AllMusic)



Edited by user Monday, June 8, 2020 7:37:41 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
hongvulannhi on 6/8/2020(UTC)
hongvulannhi  
#1315 Posted : Monday, June 8, 2020 11:31:37 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,268

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

LỆ ĐÁ, CHẶNG ĐƯỜNG TỪ NHẠC ĐẾN LỜI


Feb 14, 2016 | Giai thoại, Nhạc Thơ

Lệ Đá, chặng đường từ nhạc đến lời

“Lệ đá” là một nhạc phẩm có một đời sống khá đặc biệt. Nhạc chào đời trước, lời ra sau. Khi lời quyện với nhạc thì như chắp đôi cánh và nhanh chóng thu hút. Thu hút ca sĩ, thu hút thính gỉa, thu hút thế hệ xưa, thu hút thế hệ nay.

1) Ngó Lui Mấy Chặng Đường Lệ Đá – Hà Huyền Chi

Trích đọan bài viết của thi sĩ Hà Huyền Chi:

Lệ Đá, trước hết, không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của Trần Trịnh mới đúng. Do một cơ duyên đặc biệt, Trung sĩ Nguyễn Văn Đông, chơi Clarinet, giới thiệu Trần Trịnh với tôi…

Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Độị Trần Trịnh ngồi vào Pianọ Và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ, rất Pianissimo ấỵ Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Khi ấy Đông đã kéo Dzương Ngọc Hoán qua và Hoán khen bản nhạc này không tiếc lời, khiến tôi có ngay quyết định giúp Trần Trịnh. Sau phần thảo luận, chúng tôi tự chế ra một quy ước riêng. Trần Trịnh ghi dưới các nốt nhạc chữ “o” cho những từ không dấu (bình thanh) / Dấu huyền cho các từ mang dấu huyền, hỏi Nặng./ Sắc cho các từ mang dấu sắc, ngã.

Tiếc là khi ấy loại máy cassette còn chưa được phổ biến. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hương của bản nhạc. Và tôi bắt đầu chơi ô chữ.

Kết quả ngoài sức tưởng tượng tôi, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hoà được cái rung cảm đích thực của thơ tôi cho nhạc Trịnh.Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn. Anh và Hoán cùng hân hoan hát Lệ Đá khiến tôi cũng choáng ngợp niềm vui:

“Hỏi đá xanh rêu bao nhiêu tuổi đời
Hỏi gió phiêu du qua bao đỉnh trời”

Lập tức tôi viết lời 2. Buổi trưa nắng gắt, dưới mái tôn thấp lè tè của quán cơm lính trong trạị Trên chiếc bàn bọc nhôm nóng bỏng, cáu bẩn, tôi thả hồn bay với Lệ Đá. Tôi viết thật dễ dàng, và khóc cũng dễ dàng với:

“Người đi, đi mãi không về

Thời gian xóa vội câu thề

Bóng anh nhạt nhoà bóng núi

Em với tình yêu trăng soi

Tượng đá kiên trinh ru con đợi chồng

Nhạc lá thu mưa hay chân ngựa hồng…”

Tôi cứ vừa viết vừa khóc thế đó, như khi ngồi chép lại những dòng này. Tôi bỏ dở bữa ăn, đem lời 2 lên đài Quân Độị. Gặp Nhật Trường trước phòng vi âm. Tôi đưa Lệ Đá ra khoe. Nhật Trường hát ngay với nỗi hân hoan bốc lửa. Hắn túm ngay lấy Trần Trịnh đòi soạn cấp kỳ hoà âm cho ban nhạc và 2 bè khác cho Mai Hương, Như Thuỷ. Khoảng nửa giờ sau Lệ Đá được thâu cấp kỳ. Nhật Trường, Mai Hương, Như Thuỷ, mỗi nguời trên tay một bản Lệ Đá “mì ăn liền” say mê hoà ca với nỗi xúc động đồng thiếp. Take one. Good take! Hát và thâu hoàn chỉnh ngay lần thứ nhất.

Sau đó, Lệ Đá góp mặt hàng đêm ở các phòng trà, tiệm nhảy. Lệ Đá vào khuê phòng, ra máy nước. Rồi quán cà phê cũng Lệ Đá, phim ảnh cũng Lệ Đá (với tiếng hát Khánh Ly, do Thanh Nga (?), Đoàn Châu Mậu diễn xuất, Bùi Sơn Ruân đạo diễn).

Lệ Đá 1 (sáng tác cuối thập niên 60)

1.

Hỏi đá xanh rêụ..bao nhiêu tuổi đời

Hỏi gió phiêu dụ..qua bao đỉnh trời

Hỏi những đêm sâụ..đèn vàng héo hắt

Ái ân…bây giờ là nước mắt

Cuối hồn một…thoáng nhớ mong manh

2.

Thuở ấy tôi nhự..con chim lạc đàn

Xoải cánh cô đơn…bay trong chiều vàng

Và ước mơ saọ..trời đừng bão tố

Để yêu thương…càng nhiều gắn bó

Tháng ngày là…men say nguồn thơ

Điệp khúc

Tình yêụ..đã vỗ…cánh rồi

Là hoạ..rót mật…cho đời

Chắt chiụ..kỷ niệm…dĩ vãng

Em nhớ gì…không em ơi

3

Mầu áo thiên thanh…thơ ngây ngày nào

Chìm khuất trong mưạ..mưa bay rạt rào

Đọc lá thư xưạ..một trời luyến tiếc

Nhớ môi em…và mầu mắt biếc

Suối hẹn hò…trăng xanh đầu non

Lệ Đá 2

1

Tượng đá kiên trinh…ru con đời đời

Là nét đan thanh…nêu cao tình người

Là ánh chiêu dương… đẩy lùi bóng tối

Tháng năm xạ..trùng trùng sóng gối

Ngóng nhìn từ…bát ngát chân mây

2.

Bài hát ca daọ..theo tôi vào đời

Và giữ cho tim…tôi xanh nụ cười

Nào biết trong em…còn nhiều trống vắng

Trái yêu đương…chỉ là trái đắng

Gã tật nguyền…buông trôi niềm tin

Điệp khúc

Tình yêụ..đã vỗ…cánh rồi

Là hoạ..rót mật…cho đời

Chắt chiụ..kỷ niệm…dĩ vãng

Em nhớ gì…không em ơi

3.

Tượng đá kiên trinh…ôm con đợi chồng

Nhạc lá thu mưạ..hay chân ngựa hồng

Lệ đá tuôn rơị..dòng dòng nối tiếp

Ngóng chinh phụ..đời đời kiếp kiếp

Suối vọng tìm…trăng xanh đầu non

2) Tâm tình nhạc sĩ Trần Trịnh

-Nguyễn Văn Đông (không phải nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông của Chiều Mưa Biên Giới) giới thiệu với Hà Huyền Chi năm 1968, Mậu Thân

-Chỉ một đêm viết xong. Lời 1

-Sau này là lời 2,3. Hiện giờ thi sĩ Hà Huyền Chi có viết thêm các lời 4, 5.

-Lúc đó có nhiều bài ở dạng melody. Rút ngẫu nhiên một bài và đưa thi sĩ Hà Huyền Chi

3) Thi sĩ Hà Huyền Chi nhận xét về các giọng hát Lệ Thu, Y Phương, Bằng Kiều:

Lệ Đá qua Y Phương là 1 giọng ca xanh trẻ đầy cảm tính, tôi mới nghe lần đầu. Giọng hát và thể điệu của Y Phương hơi gần với Lệ Thu ở thời mới lớn. Giống Lệ Thu ở trình bày và giống luôn cả lối sửa ngôi vị của lời ca:

Lệ Thu sửa thản nhiên: {Nhớ môi “anh” và màu mắt biếc}

Y Phương bắt chước y chang: {“anh” nhớ gì không “anh” ơi!}

Bằng Kiều cố làm mới thể cách trình diễn nhưng không đạt.

Y Phương làm dòng suối thanh thoả thành nhánh thác đìu hiu.

hhc

Trích từ Câu Chuyện Âm Nhạc là một chương trình trực thuộc đài TNT, Texas nhằm giới thiệu những vấn đề liên quan đến âm nhạc như tác giả với tác phẩm, thính giả với một dòng nhạc ưa thích và giới thiệu giọng ca mới. chương trình này do Hoàng Lan Chi thực hiện.

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 6/9/2020(UTC)
hongvulannhi  
#1316 Posted : Monday, June 8, 2020 11:40:45 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,268

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

Giai thoại về ‘Bến Xuân’:
đi tìm bóng hồng trong sáng tác bất hủ


Dòng Nhạc Xưa đã có một bài viết về bản “Bến Xuân” bất hủ của Văn Cao. Thế nhưng xung quanh bản nhạc này có rất nhiều giai thoại. Để các thế hệ trẻ có thêm tư liệu, chúng tôi xin mạn phép giới thiệu một bài viết hình ảnh người con gái đã gây cảm hứng cho nhà nhạc sỹ của chúng ta.

Hé lộ bóng hồng trong bài hát Bến Xuân của nhạc sĩ Văn Cao

(Nguồn: bài viết của tác giả Đào Bích đăng trên DanTri.com.vn ngày 2016-05-20)

Nàng là một cô gái đẹp của đất Hải Phòng xưa, vì trót yêu những sáng tác mà cảm mến luôn chàng trai hiền lành nhút nhát, nhạc sĩ Văn Cao.

UserPostedImage

Họa sĩ Văn Thảo là người nắm giữ nhiều tài liệu nhất về nhạc sĩ Văn Cao.

Mối tình nhiều trắc ẩn

Bài hát Bến Xuân là một trong những nhạc phẩm hay nhất trong cuộc đời sáng tác của nhạc sĩ Văn Cao và của nền tân nhạc Việt Nam. Ra đời đã hơn 70 năm, cho đến hôm nay, ca khúc này vẫn không hề cũ mà vẫn vẹn nguyên chất lãng mạn, thơ mộng, mới mẻ qua giọng hát của nhiều thế hệ nghệ sĩ.

Bến Xuân là cái tên đầu tiên được tác giả đặt cho nhạc phẩm. Sau này, vì những lý do khác nhau, ca khúc được thay đổi tên gọi, thêm lời. Nhiều người đều nghĩ đây là sáng tác chung của nhạc sĩ (NS) Văn Cao và nhạc sĩ Phạm Duy. Tuy nhiên, khẳng định mới nhất của họa sĩ Văn Thao, con trai cả nhạc sĩ Văn Cao, người nắm giữ nhiều tư liệu nhất về tác giả Quốc ca cho thấy, bài hát này hoàn toàn do NS Văn Cao sáng tác từ trước khi ông và NS Phạm Duy gặp nhau. Nhưng một điều thú vị là bài hát này đã chắp cánh cho một tình bạn nghệ sĩ, kết nối hai tâm hồn âm nhạc như một định mệnh, dù cuộc đời họ có những ngã rẽ khác nhau.

Họa sĩ Văn Thao nhớ lại, năm 1944, NS Phạm Duy theo gánh hát Đức Huy, một gánh hát cải lương đi từ trong Nam ra Bắc, Phạm Duy đi theo gánh hát Đức Huy đó với vai trò là người dựng phong cảnh. Ông có phong thái thư sinh, đẹp trai, áo sơ mi trắng và là người chịu trách nhiệm dựng cảnh giữa hai màn của buổi biểu diễn. Ông thường mang lại một hình ảnh đẹp trên sân khấu, không chỉ bởi cách dàn dựng nghệ thuật mà còn bởi vẻ bề ngoài thư sinh với cặp kính, vừa ngồi gảy đàn vừa đệm, vừa hát.

Gánh hát Đức Huy ra Hải Phòng, giọng hát tân nhạc của Phạm Duy ngay lập tức được chú ý. Thời điểm đó ông thể hiện bài Tàn Thu của Văn Cao rất hay. Bạn bè đi xem NS Phạm Duy biểu diễn ở Nhà hát Lớn Hải Phòng và về báo lại với NS Văn Cao. Sau đó có thêm buổi diễn, NS Văn Cao đã cùng họ đi xem. Không hiểu ai đã nói với Phạm Duy điều đó mà kết thúc buổi biểu diễn đã thấy ông chủ động đến làm quen với NS Văn Cao. Hai người gặp nhau như một mối lương duyên nghệ sĩ.

Thích giọng hát của Phạm Duy nhưng lời đầu tiên Văn Cao khuyên ông là nên đi theo con đường sáng tác. Và tình bạn của họ bắt đầu từ đó. Sinh thời, NS Văn Cao từng nói, chất giọng của ông Phạm Duy hát dân ca rất hay, nhưng tân nhạc lúc đó đã có nhiều người hát và sáng tác. Vì thế, để có một con đường cho riêng mình, hãy phát triển dòng nhạc dân ca. Đây cũng là sở trường của chất giọng Phạm Duy.

UserPostedImage

Nhạc sĩ Văn Thao có nhiều nét giống với cha mình – nhạc sĩ Văn Cao

Từ khi bắt đầu tình bạn, rất nhiều bài hát do mình sáng tác, Văn Cao đã đưa cho Phạm Duy thể hiện như Suối mơ, Bến Xuân, Trương Chi, Thiên Thai… Phạm Duy đã đưa âm nhạc của Văn Cao đến mọi miền đất nước cũng trên gánh hát đó. Kể cả sau này Phạm Duy không đi theo kháng chiến nữa mà trở về trong kia và hát trên đài Giải phóng Sài Gòn, thì những nhạc phẩm của NS Văn Cao vẫn theo ông vang lên.

“Sau này, khi sáng tác, NS Phạm Duy có nhiều bài hát ảnh hưởng bởi phong cách sáng tác của NS Văn Cao. Nhiều người nhầm tưởng đó là sáng tác của cả hai người nhưng kỳ thực không phải”, họa sĩ Văn Thảo cho biết.

Bến Xuân là ca khúc được NS Văn Cao sáng tác tặng một thiếu nữ mà ông từng thầm yêu trộm nhớ. Một người đẹp Hải Phòng. Nhưng trớ trêu thay là hai người bạn thân của ông lúc đó là ca sĩ Kim Tiêu và nhạc sĩ Vũ Quý cũng cùng yêu cô gái.

Nói thêm về thiếu nữ này, họa sĩ Văn Thao tiết lộ, cô gái là con của một nhà thầu giàu có ở Hải Phòng, rất yêu âm nhạc và có giọng hát hay. Chính vì thế mà nàng dành nhiều tình cảm cho NS Văn Cao bởi cảm mến những ca khúc mà ông viết.

Nhưng trớ trêu thay cho cả NS Văn Cao và cả cô gái. Hai người bạn kia đều vô tư không hề biết điều này, họ nhờ NS Văn Cao sáng tác để dành tặng cô gái đẹp nhiều nhạc phẩm, bài thơ.

Không lâu sau, một trong hai người bạn của NS Văn Cao có ý muốn đặt vấn đề với gia đình cô gái để tiến tới hôn nhân. Người con gái, vì muốn biết tình cảm thực sự của NS Văn Cao đã trốn gia đình tìm đến nhà ông để mong có một lời giải đáp.

Lúc nàng đến, chàng nhạc sĩ trẻ tuổi vẫn còn đang quần đùi, áo may ô ngồi bơm nước. Thấy người đẹp thì lúng túng, xấu hổ, vội vàng đi lấy quần áo dài mặc. Nhưng cuộc gặp gỡ hôm đó cũng chỉ diễn ra trong im lặng. Cô gái chờ đợi một lời hẹn từ chàng nhạc sĩ nhưng đáp lại chỉ là ánh mắt của một gã si tình nhưng nhút nhát. Họa sĩ Văn Thao nhớ lại, lúc đó gia đình ông bà nội đang nghèo lắm, nhạc sĩ Văn Cao lại chưa có điều kiện kinh tế để lấy vợ, lại là một nơi chốn con nhà quý tộc, nên ông … sợ.

UserPostedImage

UserPostedImage

Bức tượng của nhạc sĩ Văn Cao được đặt trang trọng trong ngôi nhà

Tình bạn đặc biệt giữa Văn Cao – Phạm Duy

Cuộc tình câm lặng, bao nhiêu cảm xúc được dồn nén, ông viết Bến Xuân, có câu “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước, em đến thăm một lần”. Bến Xuân tức là bến Bính vào mùa xuân. Sau này câu hát “em đến tôi một lần” được anh em tếu táo thay đổi là “Oanh đến thăm một lần”, Oanh là tên của người con gái đó. Bài Bến Xuân kỳ thực được Văn Cao sáng tác cho riêng một cuộc tình của mình. Sau này được đổi tên thành Đàn chim Việt, lại vì những lý do khác. NS Phạm Duy rất thích ca khúc này và ông đã mang nó đi biểu diễn trên sân khấu khắp cả nước. Ông cũng biết mối tình đó và đã thêm một số lời trong đoạn 2. Còn bản nguyên của bài hát được ra đời từ trước khi NS Văn Cao gặp NS Phạm Duy”, họa sĩ Văn Thao khẳng định.

Nói về NS Phạm Duy, họa sĩ Văn Thao không quên những kỉ niệm giữa ông và cha mình. “Sau này khi cả hai cùng lên Hà Nội, tình bạn càng trở nên khăng khít. Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ (1946), NS Văn Cao nhận nhiệm vụ động viên và đưa các anh em văn nghệ sĩ rời Hà Nội, di tản lên Việt Bắc. Đến lượt gặp NS Phạm Duy, thì ông gạt tay đi. Biết tính NS Phạm Duy ngang ngạnh, NS Văn Cao chỉ dặn: “Nếu chiến tranh có xảy ra thì cậu đến Đài phát thanh, người ta sẽ sắp xếp công việc cho cậu”. Nhưng sau đó Phạm Duy cũng không ở lại đài được lâu. Ông quyết định lên Việt Bắc cùng anh em nghệ sĩ và chính thức đi theo cách mạng.

Thời điểm đó, Văn Cao nhận nhiệm vụ của chỉ huy cấp trên, mở một quán cà phê ca nhạc Biên Thùy ở tỉnh Lào Cai làm nơi gặp gỡ, giao lưu của rất nhiều nghệ sĩ. Chủ yếu là thu hút người đến xem và tìm hiểu, nắm bắt thông tin cho cách mạng. NS Phạm Duy cũng tham gia biểu diễn tại quán. Thời điểm này, những sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy trở nên thăng hoa và đưa tên tuổi của ông trở nên nổi tiếng nhất. Phạm Duy ảnh hưởng phong cách dân ca nhưng ông không bắt chước, mà khai thác một cách nhuần nhuyễn, đầy sáng tạo. Vì thế mà các ca khúc của ông rất thành công. Nếu hỏi rằng giai đoạn nào đã khẳng định tên tuổi của Phạm Duy được đứng lại với nền âm nhạc dân tộc thì chính là giai đoạn ông tham gia kháng chiến. Trong đó có công lớn của NS Văn Cao. Sau này Phạm Duy về nước, tôi có hỏi điều này với ông thì Phạm Duy đã xác nhận”, họa sĩ Văn Thảo kể lại.

UserPostedImage

Ngôi nhà nhiều hoa được dựng lên bên một bờ suối đẹp của họa sĩ Văn Thao. Ông ví von dí dỏm: “Đời ông Văn Cao có suối mơ còn đời ông Văn Thao có suối thực”.

Còn một câu chuyện nữa, khi được mời giảng dạy tại khoa Phương Đông của một trường ĐH ở Mỹ, trong buổi gặp gỡ đầu tiên, Pham Duy đã nói: “Có được vinh dự dự ngày hôm nay, tôi phải cám ơn một người bạn, một người thầy, đấy là nhạc sĩ Văn Cao”.

Dĩ nhiên, tình bạn của hai người cũng có lúc có những vướng mắc với nhau. NS Phạm Duy là người phóng túng, yêu nhiều và điều này không hợp với NS Văn Cao. Giữa hai người từng có một cuộc cãi vã rất lớn khi NS Phạm Duy dính vào cuộc tình với một cô gái, người được phân công nhiệm vụ “an ninh, đặc tình” tại quán cà phê Biên Thùy. Đỉnh điểm của cuộc cãi vã là NS Phạm Duy đã bỏ quán và tham gia nhóm nghệ thuật của nhà thơ Hoàng Cầm. Theo họa sĩ Văn Thao, hình ảnh người con gái trong cuộc tình này chính là hình mẫu trong bài hát Bên cầu biên giới (Cầu Cốc Lếu, Lào Cai). Kỳ thực bài hát không phải được NS Phạm Duy viết tặng vợ Thái Hằng như sau này người ta vẫn nói.

Đào Bích

Edited by user Monday, June 8, 2020 11:45:52 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 6/9/2020(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1317 Posted : Tuesday, June 9, 2020 2:11:33 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1318 Posted : Wednesday, June 10, 2020 12:41:15 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage



The Mountains Sing: Nỗi đau chiến tranh của người Việt qua góc nhìn của những người phụ nữ

VOA Tiếng Việt - 16/05/2020
Nguyễn Phan Quế Mai viết cuốn sách bằng tiếng Anh đầu tiên "The Mountains Sing" để đưa góc nhìn về chiến tranh và nỗi đau của người Việt qua góc nhìn của những người phụ nữ.

“Chiến tranh là một con quỷ dữ, khi nó chạm vào ai đó nếu người đó không chết thì tâm trí của người đó sẽ bị lấy đi một phần để người đó không còn được toàn vẹn nữa.” Đó là lời người bà nói với cháu mình trong cuốn sách “The Mountains Sing” (Những ngọn núi ngân vang) của Nguyễn Phan Quế Mai, một tác phẩm mà nhà văn Nguyễn Thanh Việt, tác giả giành giải Pulitzer Prize với tiểu thuyết “The Sympathizer” (Cảm tình viên), ca ngợi là “cảm động và lôi cuốn.”

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên bằng tiếng Anh của Quế Mai, một nhà thơ và nhà văn được sinh ra 2 năm trước khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nói về thân phận của người Việt khi phải đối mặt với những biến cố lịch sử như “sự đô hộ của thực dân Pháp, sự xâm lược của phát xít Nhật, trận đói thảm khốc 1945, cải cách ruộng đất, và Việt Nam bị chia cắt qua hiệp định Geneva cùng cuộc chiến tranh Việt Nam với sự tham gia của quân đội Mỹ,” qua giọng kể của bà Diệu Lan với cháu ngoại của mình, Diệu Hương.

“Quế Mai kể lại câu chuyện về cuộc chiến tranh đã làm Việt Nam chia rẽ, và về một thế hệ bị đánh mất trong cuộc chiến đó, thông qua câu chuyện của hai nhân vật rất đẹp thuộc hai thế hệ - một già một trẻ - trong gia đình,” Thi Bùi, tác giả cuốn truyện tranh cũng về đề tài chiến tranh Việt Nam “The Best We Could Do” (Những điều tốt nhất chúng ta có thể làm), nói về “The Mountains Sing,” được New York Times và Washington Post bình chọn là cuốn sách hay nhất của tháng 3.

Không giống như các cuốn sách khác viết bằng tiếng Anh về chiến tranh Việt Nam khi đặt vai trò của người Mỹ hoặc đặt người Mỹ vào trung tâm, cuốn sách mới của Quế Mai “đặt người Việt vào vị trí trung tâm.”

“Những thử thách mà người Việt phải đương đầu qua những lịch sử cao vời vợi như những ngọn núi cao nhất,” Quế Mai nói về lý do vì sao cô đặt tên cuốn sách là "Những ngọn núi ngân vang" theo tiếng Việt.

“Tiểu thuyết cho bạn đọc một cách tiếp cận với một đất nước Việt Nam giàu có về truyền thống văn hoá, giàu có về tình yêu gia đình và lòng tốt con người, và cũng giàu có về sự độc ác của con người dành cho nhau,” Quế Mai nói với VOA về cuốn sách mà cô mất 7 năm để viết.

“Một ví dụ về sự độc ác của người Việt dành cho nhau là sự thảm khốc của cải cách ruộng đất,” Quế Mai cho biết.

Cuốn sách dựa trên những hư cấu từ trải nghiệm của cuộc đời Quế Mai cũng như những trải nghiệm của gia đình cô và những người Việt mà cô đã gặp. Trong đó, sau khi anh trai bị giết trong cải cách ruộng đất, một chương trình do những người Cộng sản thực hiện để ‘lập lại công bằng xã hội’ giữa thập niên 1950, bà Lan đã phải đưa con cái từ Nghệ An, là nơi ông Hồ Chí Minh được sinh ra, trốn chạy ra Hà Nội. Tuy nhiên, bà vẫn bị truy đuổi dù nghĩ rằng thành phố lớn như Hà Nội có thể giúp bà trốn thoát được sự tàn ác đó.

Sự độc ác đó còn thể hiện qua việc những người Việt cầm súng bắt giết nhau trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Quế Mai kể lại câu chuyện về cuộc chiến tranh đã làm Việt Nam chia rẽ, và về một thế hệ bị đánh mất trong cuộc chiến đó.
Thi Bùi, tác giả cuốn truyện tranh cũng về chiến tranh Việt Nam “The Best We Could Do”

Qua lời kể của người cháu bà Lan là Hương, thì cô có người chú tham gia chiến tranh trong quân đội Bắc Việt và một người bác tham gia quân đội Việt Nam Cộng hoà – đều là những nhân vật hư cấu từ người thân và họ hàng trong gia đình thật của tác giả.

“Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu như một trong những người đồng đội của tôi chĩa súng vào đầu anh? Tôi sẽ giết người anh em đồng đội của mình để cứu người anh em ruột của tôi?”, theo lời một nhân vật trong cuốn sách.

Nỗi buồn chiến tranh

“Có quá nhiều gia đình Việt Nam mà tôi biết, gia đình của họ người Bắc kẻ Nam và gia đình của họ phải tham gia cuộc chiến, họ phải cầm súng chống lại nhau,” Quế Mai nói và cho biết cuốn sách này chú trọng tới nỗi đau của người Việt Nam trong chiến tranh và nỗi đau của gia đình người Việt Nam dù sống ở bất cứ nơi nào.

Nỗi đau đó không chỉ được cảm nhận ở những người bại trận mà còn cả ở những người thắng trận.

“Họ là những người thắng trận nhưng trong họ vẫn là một nỗi buồn,” Quế Mai nói. “Có người bạn nói với tôi rằng họ không thể ngủ được vì liên tưởng đến tiếng quạt trần trên trần nhà với tiếng trực thăng đã đuổi và bắn họ trong chiến tranh.”

Quế Mai cho biết cô đã không thể viết được cuốn sách này nếu không trải qua những nỗi đau của cả hai phía.

Sinh ra ở Ninh Bình năm 1973, Quế Mai cùng gia đình di cư vào sống ở Bạc Liêu năm 1979. Trong những năm đầu, gia đình cô nhận những sự kỳ thị của người Nam đối với người Bắc. Nhưng khi nhận thấy những người bạn miền Nam của mình bỗng nhiên phải rời bỏ quê hương để vượt biên cùng gia đình, cô lại thấy buồn vì không biết họ còn sống hay đã chết.

Nhưng trong nỗi buồn chiến tranh đó, cuốn sách muốn nói về tình người của tất cả mọi bên, dù họ là những người lính Bắc Việt, Việt Nam Cộng hoà hay lính Mỹ.

Có quá nhiều gia đình Việt Nam mà tôi biết, gia đình của họ người Bắc kẻ Nam và gia đình của họ phải tham gia cuộc chiến, họ phải cầm súng chống lại nhau.
Nguyễn Phan Quế Mai, tác giả The Mountains Sing (Những ngọn núi ngân vang)

Trong cuốn sách có đoạn nói về những người lính Mỹ xuống suối tắm, bị một nhóm lính Bắc Việt gặp và xả súng bắn. Người cậu của Hương nhìn thấy máu của những người lính Mỹ đó trôi theo dòng suối. Người cậu của Hương lúc đó nghĩ về những người mẹ, những người chị của những lính Mỹ này.

“Cậy ấy nghĩ nếu mình chết thế này thì ai sẽ là người đau đớn – chính là những người mẹ và những người chị của mình. Lúc đó cậu của Hương nghĩ về những người mẹ và chị của những người lính Mỹ đó,” Quế Mai nói.

Và nỗi đau còn dai dẳng sau khi cuộc chiến kết thúc.

Hương, trong cuốn sách, được biết đến một khía cạnh khác của con người Mỹ, mà trước đó cô cho là “những người chỉ biết thống trị quốc gia khác” qua một cuốn truyện mà bà Lan mua cho cô có tên “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên.” Cô nhận thấy rằng người Mỹ cũng phải đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống và họ cũng thích ca hát, nấu nướng như người Việt.

Nhưng khi bố cô bị giết trong chiến tranh và khi mẹ cô trở về, sau khi xung phong làm y tá vào chiến trường để tìm bố cô, với nhiều nỗi đau, Hương thấy “căm hận những người Mỹ.” Và điều mà Hương có thể làm được là lấy cuốn sách “Ngôi nhà nhỏ trên Thảo nguyên” ra để xé những trang sách cuối cùng – những trang viết đẹp nhất về văn hoá về cuộc sống và con người Mỹ. “Cô muốn chối bỏ vẻ đẹp của họ bằng cách xé những trang cuối cùng của cuốn sách,” Quế Mai nói. “Nhưng đó là điều đau đớn nhất đối với cô và cô đã khóc khi làm điều đó.” Và Quế Mai cũng đã khóc khi viết những dòng đó.

Tha thứ

Bản thân Quế Mai cũng là một sự giằng xé về tha thứ.

Dù được tới Úc vào năm 20 tuổi để du học, Quế Mai vẫn là một người phụ nữ lớn lên ở Việt Nam và được nuôi dạy trong nước với cách tiếp cận của người Việt. Do đó, cô đã không dễ dàng có được sự tha thứ cho những người lính Mỹ khi nghĩ về cuộc chiến tranh Việt Nam.

“Nếu chúng ta không biết tha thứ cho người khác thì chúng ta chỉ gánh nặng cho bản thân mình.”
Lời bà Diệu Lan nói với cháu Diệu Hương trong cuốn sách

Năm 2008, trong lần đầu tiên tới thăm Washington DC cùng chồng, cô đã tới thăm Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam. Quế Mai đã cảm thấy “tức giận” khi bức tường đen chỉ có tên những người lính Mỹ mà không có tên những nạn nhân khác của cuộc chiến tranh, trong đó 3 triệu người Việt đã bị giết. Nhưng một bức thư đặt dưới chân bức tường mà Quế Mai đọc được đã làm cô thay đổi. Đó là bức thư một người con trai viết cho bố, người lính Mỹ tử trận có tên trên bức tường đen.

“Anh ấy viết là ‘cha ơi hôm nay là ngày sinh nhật của con gái con, ước gì cha không đến Việt Nam. Cha ơi tại sao cha phải đến Việt Nam. Tại sao cha phải chết,’” Quế Mai nói. “Tôi đã khóc. Lần đầu tiên tôi nghĩ đến những nỗi đau của người Mỹ cũng như gia đình của họ trong chiến tranh.”

Sau 45 năm, có thể người Việt và người Mỹ đã không còn nhìn nhau là kẻ thù nữa nhưng những người Việt từng ở hai chiến tuyến dường như vẫn không thể tha thứ cho nhau.

Một người bạn Mỹ của Quế Mai thắc mắc rằng “Tại sao sự hàn gắn của người Việt, sự hoà giải nó khó khăn đến như vậy?”

“Vì chúng ta ở cùng một gia đình, chúng ta là anh em,” Quế Mai nói về trải nghiệm của những gia đình có người thân chiến đấu ở 2 chiến tuyến hay những người Việt đã phải rời bỏ tổ quốc ra đi. “Khi anh em gây ra đau đớn cho nhau thì sự tha thứ cho nhau khó hơn rất nhiều so với việc tha thứ cho người ngoài.”

Quế Mai nói rằng cô viết cuốn sách này cho người Việt, dù rằng sách được viết bằng Tiếng Anh vì nằm trong chương trình thạc sỹ của cô ở trường Lancaster ở Anh nhưng sau này sẽ được dịch sang tiếng Việt, và cô mong rằng nó sẽ đến với những “người Việt, dù đã từng đứng ở phía nào của cuộc xung đột, có mong muốn được hiểu nhiều hơn câu chuyện của phía bên kia.”

“Nếu chúng ta không biết tha thứ cho người khác thì chúng ta chỉ gánh nặng cho bản thân mình,” lời bà Lan nói với cháu Hương trong cuốn sách.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1319 Posted : Thursday, June 11, 2020 1:01:15 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1320 Posted : Friday, June 12, 2020 4:37:28 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,109

Thanks: 6886 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (21)
68 Pages«<6465666768>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.