Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

88 Pages«<868788
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#1741 Posted : Friday, March 27, 2020 8:14:37 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)

Wednesday, March 15, 2017

Giới thiệu cuốn “Tản mạn về ca dao lịch sử”
của nhà giáo Đào Đức Nhuận


Người là một sinh vật có những hoạt động tập thể và có ý thức rất rõ về sự cần thiết của những hoạt động tập thể ấy. Từ giai đoạn sơ khai đã có đời sống bộ lạc. Phát triển thêm có đời sống gia đình, gia tộc, thị tộc, làng xã …, tiến tới quốc gia, rồi xã hội, quốc tế. Ở mỗi cấp của hoạt động tập thể, đều có những lời nói, việc làm … đưa ảnh hưởng từ cá nhân vào tập thể và ngược lại. Những lời nói, việc làm ấy có khi đúng, có khi sai. Những ảnh hưởng ấy có khi tốt, có khi xấu. Nhưng điều hiển nhiên là cá nhân cũng như tập thể đều có quá khứ đáng ghi nhớ để có thể từ đó rút ra những kinh nghiệm, thu được những bài học hữu ích. Chúng ta biết “ôn cố nhi tri tân” (ôn lại chuyện cũ để biết thêm về sự việc mới). Nhân loại có lịch sử, và có thể học hỏi từ lịch sử của mình.

Trong những xã hội tiến bộ từ Đông sang Tây, chép sử là một việc làm quan trọng, không riêng của triều đình hay bộ máy cầm quyền, mà còn của nhiều bậc thức giả. Khi chép lại sử cũ, nhiều tác giả cũng nói rõ: Chép sử là đem những việc sai, việc hỏng đời trước viết vào sách để làm gương soi cho đời sau. Nhiều cuốn sử lấy tên là “thông giám,” trong ý nghĩa “giám” 鑑 là “gương soi.” Trung Hoa có Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang đời Tống. Việt Nam có Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn.

Sử do triều đình chép hẳn sẽ phản ảnh cách nhìn của triều đình. Sau những cuộc tranh bá đồ vương, sử do kẻ chiến thắng chép đương nhiên đưa ra cách nhìn một chiều của kẻ chiến thắng. Sau khi nhà Lý thay nhà Tiền Lê, sự thật về những năm cuối của nhà Tiền Lê không được trình bày một cách đầy đủ và đúng mức, thiếu tính cách khách quan. Sau khi nhà Nguyễn diệt nhà Tây Sơn, nhiều sự kiện về nhà Tây Sơn đã bị che dấu, hoặc trình bày lại một cách thiếu trung thực.

Cũng may dân gian thường có nhận định vô tư, khách quan hơn. Những thiếu sót, thiên lệch trong sách sử do triều đình biên soạn có thể được bổ khuyết bằng những truyện truyền miệng, những câu vè, ca dao … phổ biến trong dân gian. Nếu chỉ đọc sử của triều đình, chúng ta khó có thể biết những tồi tệ của tình trạng mua quan bán tước từng xảy ra trong một vài giai đoạn xã hội suy thoái:

Mười quan thì đặng tước hầu
Năm quan tước bá ai hầu kém ai.

Việc vua Tự Đức cho xây Khiêm lăng (đương thời gọi là “Vạn niên cơ”) cũng đưa tới nhiều oán than trong dân chúng. Nhưng nếu chỉ đọc chính sử của nhà Nguyễn, ta khó có thể biết tới những lời than oán ấy:

Vạn niên là vạn niên nào?
Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

Dùng ca dao để tìm hiểu thêm về quá khứ của dân tộc, đất nước … là một ngành nghiên cứu hữu ích và lý thú. Đây cũng là một việc khó, có một số giới hạn, đòi hỏi nơi người nghiên cứu và giải thích một trình độ kiến thức vững chắc, đọc nhiều, biết rộng …. Người làm được việc ấy cũng cần có những nhận thức tinh tế và giữ một tinh thần khách quan, vô tư, vì nếu không có những thứ ấy, dễ đi tới sai lạc.

Giáo sư Đào Đức Nhuận dạy Quốc văn và Sử Địa nhiều năm ở Việt Nam. Yêu văn chương, yêu quốc sử, thông thạo địa dư, ông sưu tầm những câu ca dao mang ý nghĩa lịch sử từ rất lâu, nghiền ngẫm thật kỹ về ý nghĩa của chúng. Ông còn đối chiếu những bản được truyền tụng khác nhau để tìm hiểu sự thật trước khi giới thiệu tới độc giả. Với kiến thức uyên bác và đặc tính cẩn trọng, cuốn biên khảo về tỉnh Quảng Ngãi của ông (Quảng Ngãi, quê hương thân yêu, xuất bản năm 2014), đã được biết là một tác phẩm có giá trị. Trong niềm mong đợi và với sự tin cậy, người viết những dòng này hân hoan đón nhận bản thảo cuốn Tản mạn về ca dao lịch sử của ông.

Với tinh thần tìm tòi công phu, Gs. Nhuận phát hiện và giới thiệu nhiều câu ca dao lịch sử ít người biết. Chẳng hạn những câu liên quan đến việc Đăng Quận công Nguyễn Khải ở Thanh Hóa vào đầu thế kỷ 17 bắt dân kéo đá, gánh đá xây khu vực sinh từ:

Cơm ăn mỗi bữa một lưng
Bao giờ gánh đá ông Đăng cho rồi!
Cơm ăn mỗi bữa một vơi
Bao giờ kéo đá cho rồi ông Đăng?

Ông còn đối chiếu với chính sử (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư) để tìm hiểu thêm về tình trạng sinh sống của người dân thời đó, với những tài liệu biên khảo có thẩm quyền (như Lịch triều Hiến chương Loại chí của Phan Huy Chú) để biết rõ hơn về những nhân vật ông muốn đề cập tới. Ông còn lưu tâm tới những tài liệu biên khảo khác về cùng đề tài, chẳng hạn những bài viết của học giả Huỳnh Sanh Thông, khi bàn về sự thật lịch sử cũng như về những dị bản của câu ca dao ông muốn giải thích.

Khi giới thiệu những câu ca dao liên quan đến nhà Tây Sơn, ông trình bày và phân tích những câu bộc lộ niềm hân hoan ủng hộ anh em Tây Sơn trong giai đoạn đầu, cho tới những câu bày tỏ niềm thất vọng, chán ngán, đôi khi oán trách nữa, trong giai đoạn sau. Ông phân tách một cách vô tư nhưng rất lý thú thái độ của dân chúng trong khu vực Tây Sơn cai trị đối với việc binh thuyền chúa Nguyễn từ trong Nam ra đánh trong giai đoạn đầu:

Gió nồm thổi rộ tháng ba
Giặc mùa trong ấy kéo ra hãi hùng

tương phản hẳn với giai đoạn sau:

Lạy trời cho cả gió nồm
Cho thuyền chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra.

Với câu nói lưu truyền trong dân gian, “Bỏ vua không Khả, bới mả không Bài” (hay “Phế vua không Khả, đào mả không Bài”), ông tìm tòi thật kỹ trong các sử liệu thời bấy giờ để giải thích ý nghĩa của câu ấy một cách tường tận. Ông biện luận một cách minh bạch tính cách hữu lý của những từ khác nhau, “bỏ vua, phế vua, đày vua,” và phản bác những người hoặc hiểu sai, hoặc cố tình xuyên tạc câu ấy thành “Đày vua có Khả, đào mả có Bài.” Theo thiển ý, bài viết của ông là tài liệu rõ và vô tư nhất về hai câu truyền miệng mang tính cách lịch sử này.

Bài viết của ông về câu ca dao:

Gái đâu có gái lạ lùng
Con vua mà lấy hai chồng làm vua

là bài viết đầy đủ, rõ, đưa ra nhiều chi tiết nhất về cuộc đời hai công chúa Ngọc Hân, Ngọc Bình, hai vị công chúa nhà Lê đã khiến nhiều người lẫn với nhau.

Ông còn cung cấp một bài viết phong phú và lý thú về những câu ca dao được coi là sấm ngữ, từ những câu được coi là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tới những câu sấm khác. Phạm vi bài của ông từ giai đoạn đầu của thời vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, qua thời vua Lê Chiêu Thống mất ngôi, tới những câu liên quan tới Nguyễn Công Trứ, Phan Bá Vành đời Nguyễn, kết thúc với việc Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier gặp tai nạn máy bay bốc cháy năm 1934. Người đọc sẽ tìm thấy từ tập sách của ông nhiều thông tin bổ ích và thật vui.

Với kiến thức rộng và đặc tính cẩn trọng, Gs. Đào Đức Nhuận tham khảo rất kỹ và chu đáo khi viết. Ông đã sử dụng Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Đại Nam Thực Lục, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí …, cho tới những sử liệu gần đây như Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn …. Về văn học, ông tham khảo những tài liệu được biên soạn công phu như Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên của Phạm Thế Ngũ, Văn Học Nam Hà của Nguyễn Văn Sâm… cùng nhiều tài liệu khác. Ông cũng đặc biệt sử dụng một tài liệu ít người biết tới và không dễ có tại quốc ngoại là Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ Lục kỷ Phụ biên. Đây là cuốn Đại Nam Thực Lục chép sự việc trong hai triều Thành Thái và Duy Tân, chỉ mới được phiên dịch và xuất bản năm 2011, số bản in khá giới hạn, trong nước cũng ít người có chứ không nói tới quốc ngoại. Ông cũng tham khảo và sử dụng một cách dè dặt một số tài liệu trên Net. Điều ấy cho ta thấy cuốn Tản mạn về ca dao lịch sử của Gs. Đào Đức Nhuận là một cuốn biên khảo nghiêm túc, công phu, hữu ích, rất đáng tin cậy.

Trong nhận thức rằng ca dao lịch sử là một nguồn tài liệu phong phú, có thể giúp chúng ta hiểu thêm một cách thích thú về lịch sử nước nhà, trong ý thức rằng những ca dao ấy cần được phân tích và chú giải do một nhà biên khảo có kiến thức đáng tin cậy với tinh thần cẩn trọng, vô tư, người viết những dòng này xin hân hoan giới thiệu cuốn Tản mạn về ca dao lịch sử của Gs. Đào Đức Nhuận tới với độc giả.
Trần Huy Bích

Thông tin bổ túc:

Tản mạn về ca dao lịch sử của Đào Đức Nhuận do Nhân Ảnh Tân Văn xuất bản đầu năm 2017. Sách gồm 295 trang với 19 bài phân tích một số câu ca dao lịch sử đáng chú.


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1742 Posted : Tuesday, March 31, 2020 3:47:13 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)

Nấu mì, đợi nước sôi mới cho vào là sai,
nhớ 3 mẹo đảm bảo mì dai ngon không dính


Ngày 31/03/2020 12:00 PM (GMT+7)

Để nấu được một bát mì có nước trong, sợi dai ngon, không dính nhau cũng cần có bí quyết.

Mì gạo được nhiều người sử dụng để làm các món ăn sáng, ăn trưa hay làm các bữa lót dạ trong ngày. Nấu mì gạo tiện hơn nấu cơm mà lại có thể biến tấu được thành nhiều món nhờ có các nguyên liệu nấu kèm như thịt bò, thịt lợn, ngan, gà, vịt...

Cách ăn mì như vậy quen thuộc và phổ biến nhưng nhiều người lại mắc lỗi sai khi nấu khiến sợi mì nát, thậm chí là dính bết vào nhau khiến bát mì mất đi phần hấp dẫn.

Để thành thạo kỹ năng nấu mì ngon như ngoài hàng, chị em cần nhớ 3 mẹo mà đầu bếp mách dưới đây.

Không đun sôi nước mới thả mì vào

Theo thói quen, nhiều người thường đun sôi nước dùng mới thả mì vào để nấu. Tuy nhiên cách làm này khiến mì dễ dính vào nhau và chúng không còn giòn ngon nữa. Nguyên nhân là do mì cho vào nước sôi dễ dẫn đến việc mì bị nóng không đề, bề mặt bị hồ hóa (tinh bột ở bề mặt mì nhanh chóng chảy ra), rất dễ dính bết vào nhau, khiến nước dùng không trong mà còn bị đục nữa.

Cách nấu mì chính xác là đợi cho đến khi nước dùng nóng và có bọt lăn tăn, thả mì vào, dùng đũa khuấy mì theo một hướng nhẹ nhàng để mì không bị dính và nấu cũng nhanh hơn.

UserPostedImage

Thêm một bát nước lạnh nhỏ

Nhiều người nấu mì thường gặp trường hợp nước dùng bị đục, có nhiều bọt trắng. Tuy nhiên không nên lo lắng, nếu chẳng may nấu nước dùng bị đục do tinh bột ở mì tan chảy ra thì chỉ cần thêm một bát nước lạnh vào nồi, lập tức nước sẽ trở nên trong hơn.

Ưu điểm của việc này là có thể làm cho mì được làm nóng đều, không khô cứng và duy trì hương vị của mì. Điều quan trọng nhất là làm giảm sự tiết ra kiềm của mì, tốt cho sức khỏe vì nếu quá nhiều kiềm sẽ không tốt cho dạ dày.

UserPostedImage

Nhỏ vài giọt dầu

Sợi mì chúng ta nấu ở nhà thường khô và trơn nhưng ở tiệm thì lại mềm mại và tinh tế. Đây thực sự là bí quyết của các nhà hàng. Đầu bếp tiết lộ, điều này là do khi nấu, mì được cho thêm ít dầu ăn, khiến sợi mì mềm hơn. Tuy nhiên, chỉ nên thêm ít dầu ô liu hoặc dầu hạt cải sẽ tốt cho sức khỏe hơn. Mì được nấu theo cách này không chỉ không dính nhau mà còn đàn hồi, dai ngon.

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1743 Posted : Tuesday, March 31, 2020 3:51:17 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)

Hầm xương theo cách kỳ lạ này, nước sẽ trong vắt,
ngọt lừ, càng nấu càng ngon


Ngày 30/03/2020 18:47 PM (GMT+7)

Để có được nồi nước xương nhanh nhừ, nước trong, thơm ngon, bạn cần chú ý ở tất cả các khâu, từ chọn xương, sơ chế xương đến khi hầm. Và đừng quên chuẩn bị sẵn 1 cũ hành tím được nướng thơm và đu đủ xanh, đảm bảo với cách này, nồi xương của bạn lúc nào cũng trong vắt, ngọt thơm.

Cách chọn xương lợn

UserPostedImage

Nếu thấy thịt có màu hồng nhạt, nhấn vào có độ đàn hồi và không bị nhớt thì đấy chính là phần xương ngon

Tùy vào món ăn mà bạn có thể chọn phần xương lợn phù hợp. Thế nhưng, khi chọn nguyên liệu bạn cần chú ý chọn được phần xương ngon. Nếu thấy thịt có màu hồng nhạt, nhấn vào có độ đàn hồi và không bị nhớt thì đấy chính là phần xương ngon.

Ngược lại, nếu thấy thịt có màu đỏ đậm, nhớt và không đàn hồi thì đấy là thịt đã để lâu ngày, bạn chớ dại mua kẻo rước bệnh vào người.

Cách sơ chế xương lợn

UserPostedImage

Bạn nên chần sơ xương lợn trước khi hầm

Việc làm sạch, khử mùi hôi của xương lợn trước khi chế biến rất quan trọng. Bởi nếu làm sai thì nồi nước hầm của bạn sẽ có mùi hôi, nhiều bọt và không ngọt.

Cách sơ chế xương lợn rất đơn giản, bạn chỉ cần rửa chúng với nước muối pha loãng và chút gừng đập dập. Sau đấy, chần sơ qua xương với nước sôi để mùi hôi, các tạp chất bị cuốn sạch.

Cách hầm xương nhanh nhừ, nước trong

UserPostedImage

Trong quá trình ninh xương, chú ý hớt bọt thường xuyên để nước xương được trong hơn

Bạn cho xương và một củ hành tím đã nướng và 1 thìa cafe muối vào nồi, sau đấy cho phần nước thích hợp vào ngập xương và đun với lửa lớn. Khi nước trong nồi sôi thì hạ nhỏ lửa.

Đun với lửa nhỏ sẽ giúp nước ngọt trong xương tiết ra từ từ, nước dùng vì thế mà đậm đà, hấp dẫn hơn. Khi hầm xương, bạn cũng đừng quên hớt bọt thường xuyên để nước dùng trong vắt.

Đặc biệt, muốn xương nhanh nhừ bạn đừng quên cho khoảng nửa quả đu đủ xanh vào hầm cùng. Đu đủ sẽ giúp xương nhanh mềm, nước dùng ngọt và hấp dẫn hơn.

Xử lý khi nước dùng bị đục

UserPostedImage

Lược lại với rây cũng là cách giúp nước hầm xương trong vắt

- Lược nước dùng qua một xoong khác với một khăn vải mỏng rồi đun lại.

- Lấy một lòng trắng trứng, đánh tan cho vào nồi nước dùng, khuấy đều lên cho bọt cuốn vào đó rồi hớt ra, nước dùng sẽ trong trở lại.

- Nếu ninh xương gà mà bị đục thì có thể cho tiếp xương gà vào đun cũng làm cho nước trong hơn.

- Cho vào nồi nước dùng vài tai nấm đông cô (nấm hương) hoặc vài lát khoai tây sống cũng là cách làm cho nồi nước dùng trong trở lại.

Lưu ý: Không nêm nếm nước xương bằng bột nêm vì loại gia vị này làm từ hạt xương hầm sẽ khiến cho nồi nước dùng bị đục. Thay vào đó, hãy nêm bằng muối. Bạn cũng có thể sử dụng rau củ như cà rốt, hành tây, củ cải... làm cho nồi nước dùng có vị ngọt tự nhiên thay vì cho bột ngọt.

Theo K.N

Edited by user Tuesday, March 31, 2020 3:59:54 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1744 Posted : Sunday, April 19, 2020 11:59:06 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)

ĐỒNG DAO và TRÒ CHƠI TRẺ CON


Trần thị LaiHồng


Tranh minh họa dân gian của Henry Oger và Võ đình

UserPostedImage

Chơi Chong chóng, tranh Võ đình, UNICEF 63

Đồng dao, đồng diêu : câu hát chơi, con nít hay hát. Đó là định nghĩa đơn giản nhất của Huình Tịnh Paulus Của, trong đại Nam Quấc Âm Tự Vị, cuốn tự điển đầu tiên của Việt Nam, xuất bản năm 1895 tại Sàigòn.
36 năm sau, Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến đức khởi thảo Việt Nam Tự điển, Mặc Lâm xuất bản tại Hà Nội năm 1931 và Nhà In Imprimarie Trung Bắc Tân Văn phát hành, cũng định nghĩa ngắn gọn. Đồng dao: câu hát trẻ con. Hơn thế kỷ sau, tức là cả 103 năm sau, Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, do Bộ Giáo dục và đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành năm 1998, định nghĩa đồng dao: lời hát truyền miệng của trẻ con, nhưng không đưa ra một câu nào.

Đồng dao được truyền từ đời này tiếp đời nọ, vùng này qua vùng kia, có khi thay đổi, có khi sai lạc, có khi thất truyền, và bị quên lãng. Tác giả hẩu hết vô danh, hay nói đúng hơn, chính dân gian là tác giả.

Dạy con từ thuở lên ba, nhưng từ lúc lọt lòng mẹ qua ba tháng biết lẩy bẩy tháng biết bò cho đến khi lổm ngổm tập ngồi bi bô tập nói lựng chựng bước đi, với Việt Nam ta, tiếp nối lời mẹ ru, đồng dao giữ phần quan trọng trong giáo dục gia đình, chuẩn bị cho trẻ đến trường với khoa sư phạm áp dụng phương pháp giúp trẻ con vừa vui chơi giải trí vừa học hỏi, phát triển các khả năng cơ thể và mở mang trí tuệ. Hát mà chơi. Hát mà học. Hát chơi mà học thật.

Thuở ban đầu, đồng dao chỉ được truyền miệng, nhưng nhờ ngắn gọn đơn giản ba, bốn hoặc năm chữ, có khi ngô nghê, nhưng vần điệu tiết tấu nhịp nhàng nên rất dễ hiểu dễ nhớ. Về sau, rất nhiều bài đồng dao được đặt nhạc nên được phổ biến rộng rãi. Trong hàng trăm bài đồng dao truyền miệng và hàng ngàn bản nhạc, chúng tôi chỉ nêu một số bài đồng dao truyền miệng từ Bắc qua Trung vào Nam, còn nhớ hoặc tìm tòi sưu tầm được, và đồng dao được phổ nhạc, cùng một số nhạc phụ lục. Chuyện bổ túc theo đà tiếp nối rất dễ dàng thuận tiện.

UserPostedImage

Chơi Diều, tranh Võ đình, UNICEF 69

Những trò chơi đầu tiên chỉ có mẹ và con. Khi trẻ bớt ngủ ngày, tức vào khoảng một tháng sau khi ra đời, trẻ bắt đầu biết nghe và nhìn. Bài học đầu tiên có thể chỉ tập cho con theo dõi, nhận xét, ghi nhận. Mẹ chỉ cho con biết những phần trên cơ thể, cả danh từ lẫn động từ tĩnh từ: mắt mở mắt nhắm, mắt đen mắt nâu, miệng nói môi cười, răng trắng, tai nghe, tóc đen tóc trắng, tóc ngắn tóc dài, tay nắm, chân đạp ...
Trẻ chưa biết ngổi, có thể cùng mẹ chơi trò Cất Rớ Chống Rớ , đặt con nằm ấp trên hai ống chân mẹ, mông con an vị trên hai bàn chân mẹ, hai tay nắm chặt hai tay con, mẹ nằm ngửa, vừa nâng hai chân lên cao vừa đọc:

Cất rớ lên! Bỏ rớ xuống!
Cá chi? Cá bống! Chống rớ!
Cá chi? Cá rô! Chống rớ!!
Cá chi? Cá hồng! Chống rớ! ...

Vẫn vị thế đó, có thể đổi cách chơi qua trò cỡi ngựa, hát mà chơi, nhún nhẩy đong đưa theo bài đồng dao:

Nhong nhong nhong nhong
Ngựa ông đã về
Cắt cỏ bồ đề
Cho ngựa ông ăn
Nhong nhong nhong nhong ...

Mẹ tập con chơi mà học, quan sát theo dõi:

Một ngón tay nhúc nhích này/ một ngón tay nhúc nhích này
Một ngón tay nhúc nhích cũng đủ cho ta vui vầy...
Hai ngón tay nhúc nhích này/ hai ngón tay nhúc nhích này!
Hai ngón tay nhúc nhích cũng đủ cho ta vui vầy! ...

và cứ thế tiếp tục cho đến mười ngón. Bài này có phần nhạc ở phụ lục.

Tay mẹ tay con có nhiều trò thú vị. Hát mà chơi với bài đồng dao Kéo Cưa Lừa Xẻ, khi con biết ngồi, hai mẹ con cùng nắm tay nhau kéo qua kéo lại:

Kéo cưa lừa xẻ/ ông thợ nào khỏe/ về ăn cơm trưa
Ông thợ nào thua/ về bú tí mẹ

hay: Cút ca cút kít/ làm ít ăn nhiều/ nằm đâu ngủ đấy
Nó lấy mất cưa/ lấy gì mà kéo!!!

Vẫn tay mẹ tay con:

Xỉa cá mè/ đè cá chép
Tay nào đẹp/ đi hái hoa
Tay nào thô/ đi mót củi
Tay dính bụi/ đừng dụi mắt ...

Cũng bài Xỉa Cá Mè nhưng chơi với hai chân:

Xỉa cá mè/ đè cá chép
Chân nào đẹp/ đi buôn men
Chân nào đen/ ở nhà làm... chó (hay mèo) và sủa gâu gâu như chó hoặc kêu meo meo như mèo để mẹ con cùng vui.

Mẹ con vuốt tay vỗ đập tay nhau nhịp hai theo bài đồng dao Vuốt hột nổ nói đến những vật dụng hàng ngày. Bảo con chắp tay lai, mẹ cũng chắp tay xong mở ra vuốt hai bàn tay con, vừa vuốt vừa đọc, mỗi lần vuốt xong là vỗ tay, và có thể tiếp nối vô tận:

Vuốt hột nổ
đổ bánh bèo
Xao xác ... quạ kêu
Nồi đồng vung méo/ cái kéo thợ may
Cái guộng đắp bờ/ cái cờ làng tế
Cái ghế để trèo/ cái khoèo mót củi
Cái chủi tòe loe/ cái khe nước chảy
Cái xảy xảy rơm/ cái nơm chơm cá
Cái ná bắn chim/ cái kim may áo
Cái gáo múc nước/ cái lược chải đầu
Cái câu câu cá/ cái rá vo gạo ...

Mẹ con ngồi đối mặt nhau, mẹ vừa hát vừa tập con vỗ tay. Hát mà học, vì khi lớn lên bé sẽ cùng vui chơi với anh hoặc chị, và cách chơi khó hơn: vừa đọc bài đồng dao vừa tự vỗ tay mình xong vỗ tay trái chéo vào tay trái người kia; trở lại tự vỗ tay, rồi vỗ tay phải mình chéo qua tay phải người kia, và tiếp tục ban đầu chậm sau nhanh dần cho đến hết bài. Một bài đồng dao khác cho trò chơi này là:

Tập tầm vông
Chị lấy chồng/ em ở góa/ chị ăn cá/ em mút xương
Chị nằm giường/ em nằm đất/ chị húp mật/ em liếm ve
Chị ăn chè/ em liếm bát/ chị coi hát/ em vỗ tay
Chị ăn mày/ em xách bị/ chị làm đĩ/ em thâu tiền
Chị đi thuyền/ em đi bộ/ chị kéo gỗ/ em lợp nhà
Chị trồng cà/ em trồng bí/ chị tuổi Tý/ em tuổi Thân
Chị tuổi Dần/ em tuổi Mẹo
Chị kéo kẹo/ em nấu đường/ chị trồng thơm/ em trồng khóm
Chị đi xóm/ em coi nhà/ chị thờ cha/ em nuôi mẹ
Chị trồng hẹ/ em trồng hành/ chị để dành/ em ăn hết
Chị đánh chết/ em la làng/ chị đào hang/ em chui tuốt ...

Vẫn trò chơi dùng hai tay nhưng đông người hơn, có thể dùng một cái gậy hay thanh trúc để các em nắm tay chồng lên nhau lần lượt và tiếp tục cho hết bài. Không có gậy thì chỉ cần chồng tay lên nhau. Trò chơi này gọi là Hát đúm/ Cùm nụm cùm nịu hay Tay tí tay tiên:

Cùm nụm cùm nịu/ tay tí tay tiên
đồng tiền chiếc đũa/ hột lúa ba bông
ăn trộm ăn cắp trứng gà
Bù xa bù xít/ con rắn con rít
Thì ra tay này!

Vẫn tay mẹ tay con, khi con biết xử dụng tay chân, mẹ con cùng chơi trò thi chân đẹp hoặc mẹ giúp con theo dõi chơi Nu na Nu nống cùng các anh chị. Ngồi trong lòng mẹ, bé chỉ tập trung theo dõi, chăm chú nghe và nhìn, lanh mắt lẹ tay nhanh chân học mà chơi theo luật chung:

Nu na nu nống/ cái cống nằm trong
Cái ong nằm ngoài/ củ khoai chấm mật
Phật ngồi Phật khóc/ con cóc nhảy ra/ con gà ú ụ
Nhà mụ thổi xôi/ nhà tôi nấu chè
Tè he cống rụt!
Nu na nu nống/ thằng công cái cạc
đá xỉa đá xoi/ đá đầu con voi/ đá lên đá xuống
đá ruộng bồ câu/ đá râu ông già
đá ra đường cái/ gặp gái đi đường
Có phường trống quân/ có chân thì rút!
Nu na nu nống/ đánh trống phất cờ/ mở cuộc thi đua
Thi chân đẹp đẽ/ chân ai sạch sẽ/ gót đỏ hồng hào
không bẩn tí nào/ được vào đánh trống!

Khi trẻ khá lớn đi đứng chạy nhảy vững vàng và đến trường, gia nhập những trò chơi tập thể dễ dàng cũng như học những bài đồng dao dần dà dài khó hơn, và mẹ chỉ để mắt theo dõi, hướng dẫn hoặc nhắc nhở giúp đỡ khi cần.

Có những bài đồng dao kết cấu liên hoàn lập đi lập lại, làm điệu bộ theo lời diễn đi diễn lại cho đến khi mệt nghỉ:

Con vỏi con voi/ cái vòi đi trước
Hai chân trước ịch đi ịch trước
Hai chân sau ịch đi ịch sau
Còn cái đuôi thì đi là sau rốt
Tôi xin kể nốt cái chuyện con voi i í ị con voi
Cái vòi í i ị đi trước ...
Con công hay múa/ nó múa làm sao?
Nó rụt cổ vào/ nó xòe cánh ra
Nó đỗ cành đa/ nó kêu ríu rít
Nó đỗ cành mít/ nó kêu vịt chè
Nó đỗ cành tre/ nó kêu bè muống
Nó đỗ dưới ruộng/ nó kêu tầm vông
Con công hay múa ...
Lúa ngô là cô đậu nành/ đậu nành là anh dưa chuột
Dưa chuột là ruột dưa gang/ dưa gang là nàng dưa hấu
Dưa hấu là cậu lúa ngô/ lúa ngô là cô đậu nành ...

Ba bài liên hoàn khác về chim:

Ác- là là cha ca-cưỡng/ ca-cưỡng là dượng bồ câu
Bồ câu là dâu ác- là/ ác-là là cha cà- cưỡng ...
Bồ-các là bác chim gi/ chim gi là dì sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen/ sáo đen là em tu-hú
Tu-hú là chú bồ-các/ bồ-các là bác chim gi ...
Cái cò mày mổ cái tôm/ cái tôm quắp lại mà ôm cái cò
Cái cò mày mổ cái trai/ cái trai quặp lại mà nhai cái cò
Cái cò mày mổ cái tôm ...

Một bài đồng dao liên hoàn khác được đức Quỳnh phổ nhạc và hát từ Bắc vào Nam, lời lẽ ngụ ý hài hước châm biếm:

Con chim chích chòe/ nó kêu chích chòe
Nó đậu cành chanh/ nó kêu chích chòe
Tôi ném hòn sành/ nó quay lông lốc
Tôi làm một chốc/ được ba mâm đầy
Ông thầy ăn một/ bà cốt ăn hai
Cái đầu cái tai/ đem về biếu chúa
Chúa hỏi chim gì? - Là con chim chích chòe!
Nó kêu chích chòe/ nó đậu cành chanh ...

Bài đồng dao có nhạc trong Nam lời hát như sau:

Con chim manh manh/ nó đậu cây chanh
Tôi vác miểng sành/ tôi liệng nó chết
Tôi làm được bảy mâm/ tôi dâng cho ông một mâm
Tôi dâng cho bà một đĩa/ bà hỏi tôi con chim gì?
Tôi nói con chim manh manh ...

Có một trò chơi trong Nam gọi là Bắc Kim thang, dùng bài đồng dao ngô nghê ngộ nghĩnh khi các em làm thành vòng tròn, chân trái xỏ rế ngoéo vào chân trái bạn, vừa vỗ tay vừa nhảy lò cò bằng chân phải và giữ không bị té, cùng hát:

Bắc kim thang, cà lang bí rợ
Cột qua kèo là kèo qua cột
Chú bán dầu qua cầu mà té
Chú bán ếch ở lại làm chi?
Con le le đánh trống thổi kèn
Con bìm bịp thổi tò te tí te ......

Em nào không vững thăng bằng bị té là thua, bị phạt búng tai hoặc khẻ tay nếu là con gái, hoặc phải cõng bạn cùng cặp chạy một vòng nếu là con trai. Vui tếu thì phạt bằng quẹt nhọ nồi/ lọ nghẹ lên mặt. Các em trai còn bị phạt làm ngựa cho bạn cỡi, nhẹ thì dùng bài đồng dao ngắn Nhong nhong nhong nhong, mà phạt nặng hoặc trẻ lớn thì dùng bài Lý Ngựa ô. Lý Ngựa ô cũng có ba điệu phổ nhạc, Bắc, Trung và Nam.

Trò trốn tìm/ ú tim/cút bắt được trẻ con khắp thế giới vui chơi, và đồng dao ta có rất nhiều bài cả đám cùng loạt đọc lên để chọn người phải đi tìm. Bài đặc biệt có tính cách một bài sấm dính đến lịch sử, nói về giai đoạn rối loạn của triều đình Nhà Nguyễn và phong trào Cần Vương, thời ta bị Pháp đô hộ:

Chu tri rành rành/ Cái đanh nổ lửa
Con ngựa đứt cương/ ba vương tập đế
Cấp kế đi tìm/ ú tim ... òa ập!

Bài đồng dao trốn tìm/ thả đỉa ba ba:

Thả đỉa ba ba/ con đỉa đeo bà
Con gà tục tác/ mỏ-nhát cầm chầu
Con mèo cầm lái/ con rái chạy buồm
Con tôm tát nước/ vọc nước giỡn trăng

Bài Thả đỉa ba ba khác:

Thả đỉa ba ba
Chớ bắt đàn bà/ phải tội đàn ông
Cơm trắng như bông/ gạo tiền như nước
Sang sông về đò/ đổ mắm đổ muối
đổ nải chuối tiêu/ đổ niêu cứt gà
đổ phải nhà nào/ nhà ấy phải chiu!

Khi đám trẻ chạy tìm chỗ nấp, em còn lại phải bịt mắt đọc bài đồng dao khác đến hết mới được mở mắt đi tìm:

Mít mật mít gai/ mười hai thứ mít
đi vào ăn thịt/ đi ra ăn xôi
Bởi chẳng nghe tôi/ tôi bịt mắt chú
ăn đâu ẩn kín/ lúa chín thì về!

UserPostedImage

Chơi bịt mắt bắt dê, tranh Võ đình

Ngoài Bắc có bài đồng dao khác và Phạm Duy đã mượn ý phổ nhạc:

Ông trẳng ông trăng
Xuống chơi với tôi/ có bầu có bạn
Có oản cơm xôi/ có nồi cơm nếp
Có nệp bánh chưng/ có lưng hũ rượu
Có chiếu bám đu/ thằng cù xí xoại
Bắt trai bỏ giỏ/ cái đỏ ẵm em
đi xem đánh cá/ đem rá vo gạo
Có gáo múc nước/ có lược chải đầu
Có trâu cầy ruộng/ có muống thả ao
Ông sao trên trời ...

Hoặc:

Ông tiễn ông tiên
Ông có đồng tiền/ ông giắt mái tai/ ông cài lưng khố
Ông ra hàng phố/ ông mua miếng trầu/ ông nhai tóp tép
Ông mua con tép/ về ông ăn cơm
Ông mua mớ rơm/ về ông đánh thổi
Ông mua cái chổi/ về ông quét nhà
Ông mua con gà/ về cho ăn thóc
Ông mua con cóc/ về thả gậm giường
Ông mua nén hương/ về cúng ông cụ!

UserPostedImage

Tranh dân gian của Henry Oger đầu thế kỷ XX,
chú thích bằng chữ Nôm: đánh Cờ Chân Chó

UserPostedImage

Làm Hùm Bắt Lợn, tranh dân gian Henry Oger

Khi trẻ đã lớn, đã đi học và có nhiều bạn cùng lứa, có rất nhiều trò chơi dùng những thứ kiếm được ngay chung quanh hoặc tự chế lấy, ví như bắn ná làm bằng nạng ổi, bắn súng bẹ sống lá chuối, bắn súng ống hóp đạn hạt sầu đông hoặc hạt mâm xôi, bắt chuồn chuồn, buôn bán bằng hoa lá, cái lung tung/ cái trống bỏi, chong chóng bằng lá dừa, cái tó he hay con gà đất có gắn ống cói ống sậy thổi te te, con giống, cối xay làm bằng hạt xoài cưa hai, đánh căn với hai khúc tre hay gỗ, đánh bi, đánh cờ chân chó, cờ gánh bằng vỏ nghêu vỏ sò, đánh đáo, đánh đu dựng bằng tre, đánh trận giả với cây cành hoa lá như Cờ Lau Tập Trận của đinh Bộ Lĩnh thuở còn chăn trâu, đánh thẻ, đánh vụ làm bằng gỗ, đá kiện làm bằng đồng xu buộc lông, đá cầu lông, đạp mạng, đạp lon, đi chợ về chợ, kéo co với giây dừa, làm hùm bắt lợn, lộn cầu vồng, lộn chuồn chuồn, liệng cống, năm tiền liền quan, ném còn làm bằng vải vụn, ném vòng làm bằng tre hoặc mây vào cọc tre hay gỗ, nhảy giây làm bằng giây dừa, nhảy lò cò với mảnh ngói mảnh sành mảnh sứ , rải ô quan/ rải ô làng dùng sỏi, sạn hay hạt đậu, xây khăn/ bỏ khăn/ chuyền khăn, thả diều làm bằng tre dán giấy ... vô số kể.

UserPostedImage

Cờ Lau Tập Trận, tranh Võ đình

Những trò chơi hầu hết cần vận dụng đầu óc bén nhạy tinh tế tính toán chính xác, điều động tay chân nhanh nhẹn, thích nghi với môi trường thiên nhiên và luyện tập quen dần với đời sống tập thể trong cộng đồng. Hát chơi mà học thật.

UserPostedImage

Đá cầu bằng đồng xu, tranh dân gian Henry Oger

Bài đồng dao trò chơi Xây khăn trong Nam, trẻ ngồi thành vòng tròn, một em cầm khăn chạy ngoài, cùng đọc cho đến hết thì bỏ khăn sau lưng một bạn. Em này phải chú ý theo dõi để nhặt khăn chạy vòng, nhường chỗ cho bạn, nếu không biết sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.

Xây khăn, khăn nổi khăn chìm
Ba bên bốn phía đi tìm cái khăn
Thằng chăn bận áo rách vai
Không ai may vá, thằng chăn bận hoài

Trò chơi Chuồn chuồn miền Trung và Lộn Cầu Vồng ngoài Bắc có cách chơi giống nhau nhưng khác bài đọc:

- Chuồn chuồn đạp nước kim cang/ bên tê mở cửa bên ni sang lòn
- Lộn cầu vồng nước trong nước chảy
Có anh mười bảy có chị mười ba
Hai chị em ta cùng lộn cầu vồng

Bài đồng dao trò Dung giăng dung giẻ đọc khi đi quanh nhiều vòng tròn, những vòng này luôn thiếu một để đến cuối khi ngồi xệp xuống sẽ có một em chậm chạp bị loại:

Dung giăng dung giẻ/ dắt trẻ đi chơi
đi tới cổng trời/ gặp cậu gặp mợ
Cho cháu về quê/ cho dê đi học
Cho cóc ở nhà/ cho gà bới bếp
Ngồi xệp xuống đây!

Một bài đồng dao về cuộc sống luẩn quẩn loanh quanh trong nhà ngoài vườn trong xóm ngoài làng là Ông Ninh Ông Nang được Lê Thương phổ nhạc:

Ông Nỉnh ông Ninh/ ông ra đầu đình/ ông gặp ông Nảng ông Nang
Ông Nảng ông Nang/ ông ra đầu làng/ ông gặp ông Nỉnh ông Ninh
Nang Ninh đầu đình/ và Ninh Nang đầu làng
Nang Ninh làng đình/ rồi Ninh Nang đình làng
Nang Ninh làng đình Nang Ninh/ Ninh Nang đình làngNang Ninh
Nang Ninh làng đình Ninh ...
Cô Chiểu cô Chiêu/ cô qua cầu Kiều/ cô gặp cô Thỏa cô Thoa
Cô Thỏa cô Thoa/ cô qua vườn cà/ cô gặp cô Chiểu cô Chiêu
Thoa Chiêu cầu Kiều/ và Chiêu Thoa vườn cà
Rồi Thoa Chiêu cầu Kiều/ rồi Chiêu Thoa vườn dừa
Cả Chiêu Thoa cầu Kiều Chiêu Thoa/ Thoa Chiêu vườn cà Chiêu Thoa
Thoa Chiêu vườn cà Thoa ...
Em Thở em Thơ/ em qua hàng dừa/ em gặp em hải em Hai
Em Hải em Hai/ em qua vườn xoài/ em gặp em Thở em Thơ
Thơ Hai vườn xoài/ và Hai Thơ vườn dừa
Rồi Thơ Hai vườn xoài/ và Hai Thơ vườn dừa
Cả Thơ Hai vườn xoài Thơ Hai/ Hai Thơ vườn dừa Thơ Hai
Thơ Hai vườn xoài Thơ ...

Một bài đồng dao khác được phổ nhạc là Thằng Bờm, nói lên đầu óc thực tiễn của dân quê không cần xa hoa phù phiếm cung ngũ long lầu ngũ phụng dinh thự cao ốc hay đặc sản miếng ngon vật lạ, mà chỉ muốn no bụng:

Thằng Bờm có cái quạt mo/ phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu/ phú ông xin đổi ao sâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè/ phú ông xin đổi ba bè gỗ lim
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim/ phú ông xin đổi một đôi chim mồi
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi... Bờm cười!!!

Thuở nhỏ tôi nghịch ngợm hát bài đồng dao Thằng Bờm và có nhịp điệu khác: Thì ra mo cau vàng mới tinh/ phú ông lập tâm mua liền! Thằng Bờm mà biết cóc chi/ Thằng Bờm mà biết cái cóc chi! Chăng chẳng lấy trâu/ Bờm rằng thì là Bờm chăng chẳng lấy trâu đâu!!!

Trò chơi tôi thích nhất hồi còn tiểu học là đánh thẻ chuyền/ đánh banh đũa, nhưng đến nay không nhớ được trọn bài đồng dao đọc đệm. Duyên may quen một gia đình nhà quê mộc mạc, bà mệ tám mươi sáu và bà mạ sáu mươi, không biết đọc biết viết nhưng còn nhớ kỹ. Bỏ một ngày thăm hỏi cùng ôn trí nhớ, ghi trọn được trò chơi này.

Dùng tay phải nắm nguyên bó đũa 6 chiếc hoặc nhiều hơn, cùng một trái banh, có khi chỉ là quả chanh hay một bó vải vụn cuộn thành hình trái banh. Vừa thảy banh lên là trải đũa ra nhanh cho kịp bắt chụp lại trái banh, rồi lần lượt ném banh vừa bắt từng cây đũa một, rồi hai, ba, bốn ... tức là phải tính chính xác làm sao vừa ném banh lên là phải nhanh mắt nhanh tay tính toán nắm đúng số đũa cần lấy đưa ngay sang tay kia và kịp thời bắt chụp lại trái banh. Trò chơi này hình như chỉ có trẻ Việt Nam ta yêu thích và hợp với con gái. Bài đồng dao đọc theo lúc ném banh, bắt đầu ném banh và bắt một đũa, đọc tối đa đến cuối câu phải tóm lại được trái banh, nếu trật phải nhường người kia chơi:

Cái mốt (bắt một đũa)
Cái mai/ con trai/ con hến
Con nhện/ giăng tơ/ quả táo/ cái gáo
Lên đôi (bắt hai đũa)
đôi cái mõ/ đôi nồi chõ
đôi thổi xôi/ đôi nấu chè/ đôi cành tre
Lên ba (bắt ba đũa)
..........

Khi nhặt hết đũa thì bỏ tất cả xuống để ném banh bốc cả nắm đổi sang các giai đoạn kế tiếp là con ba lại, con gang, sang tay cầm, kẹp nách, cầm quạt rẽ xương, sang tay giã, giã đơn hoặc giã đôi tùy giao ước ban đầu, nhập giã, rút ống, nhập ống, sang tay tao tức là chuyền. Mỗi giai đoạn này đọc tên báo sự thay đổi chuyển tiếp. Giai đoạn chuyền, một vòng hoặc hai vòng tùy giao ước trước khi chơi, vừa chuyền vừa ném banh rồi chụp banh lại và đọc:

Chuyền chuyền một/ chuyền chuyền hai/ chuyền chuyền ba
Chuyền chuyền bốn/ chuyền chuyền năm/ chuyền chuyền sáu

Cuối cùng là nẻ hay khẻ, tức là đập cả bó đũa vào chân người thua cuộc, vừa đập vừa thảy banh vừa đọc đoạn cuối bài đồng dao:

Qua cầu, lặn cỏ/ núi đỏ như ma/ hầm sa/ mây sắc
Bắt con cá, chặt đuôi, chặt đầu
Têm miềng trầu, hầu chén rượu
Ai có tiền, ngồi liền lên ghế
Ai không tiền, liệu thế liệu thần
Sang tay nẻ, khẻ chân

UserPostedImage

Chơi thẻ chuyền, Võđình vẽ Laihồng tuổi mười ba

Nẻ / khẻ chân xong là thắng, đoạn đồng dao cuối này lại khác nếu do các nữ sinh Đồng Khánh mà nay là những mệ có cháu nội ngoại đề huề:
Ai muốn cao, ngồi ghế / ai muốn thấp, ngồi đòn
Ai muốn đỏ, bôi son / ai muốn vàng, bôi nghệ
Qua cầu Chợ Kệ / về cầu Thanh Lương
Sang tay bắt con một. - Ăn! (tức là thắng)

Đoạn cuối lúc nẻ, mấy mệ ngoài Bắc lại đọc khác:

Đầu quạ quá giang/ sang sông về đò
Cò nhẩy gãy cây/ mây bay bèo trôi
Ổi xanh, hành bóc/ róc vỏ, đỏ lòng
Tôm cong đít vịt
Sang cành nẻ/ bẻ cành xanh
Vét bàn thiên hạ (tức là thắng)

Trong số 54 sắc dân sinh sống tại Việt Nam, người Mường là chị em của người Việt, cùng thờ Vua Hùng, cùng chung truyền thuyết một mẹ trăm con, cùng mặc yếm váy và áo tứ thân và đặc biệt cùng nói chung ngôn ngữ. Trẻ con Mường cũng có đồng dao kèm trò chơi. Ghi lại sau đây một:

Lếu lêu làng lôộc
Tộc ngộc ngọn cơn bo (cây hoang nhỏ có trái trẻ hay hái ăn)
Bò ăn no bò ngứa củ ráy
Ngứa củ ráy ngứa cả cơn rư (cây nưa)
đưa bò về Mường Tráng
Tám mươi người kiếm cỏ/ bò đỏ bò nhà lang
Bò vàng, bò nhà đạo Ống
Tùng tùng tùng tùng/ ai đánh trống mường trên
Lền khên con ca trống gáy (con gà)
Gáy gáy trong rẫy ngoài mường/ vườn như vườn nhà ai
Ông mo biểu mụ máy/ trấy bín biểu trấy bù (trái bí/bầu)
Măng mu biểu măng nứa/ bố đạo biểu mệ nàng
Quan sang biểu kẻ khó/ bó ló biểu bó nếp (bó lúa)
Cơm nếp biểu cơm chim/ cào cào biểu châu chấu (một loại gạo ngon)
Cắt nứa rào cho ta chào cấm/ lấy lưỡi lấm cho ta cầm tiền
Lấy lưỡi liềm cho ta cắt bái (cỏ tranh)
Lấy lưỡi hái cho ta hái ló (lúa)
Náng lấy chó cho ta ăn thịt / náng con vịt cho ta ăn đùi (nướng)
Nuôi con ca cho ta lấy mỡ (gà)
Dệt lấy mớ lụa điều/ dệt nhiều nhiều cho ta cưới vợ ...

Trẻ con miền Bắc ngày trước rất thích chơi Phụ đồng Phụ chổi, có tính cách huyền bí như lên đồng. Bài đồng dao được đọc đi đọc lại cho đến khi đứa trẻ ngổi đồng được vía nhập:

Phụ đồng phụ chổi/ thổi lổi mà lên
Ba bề bốn bên/ sôi lên cho chóng
Nhược bằng cửa đóng/ phá ra mà vào
Cách chuôm cách ao/ cách ba ngọn rào
Cũng vào cho lọt
Cái roi von vót/ cái vọt cho đau
Hàng trầu hàng cau/ hàng hương hàng hoa
Là đồ cúng Phật
Hàng chuối hàng mật/ hàng kẹo mạch nha
Nào cô bán quế/ vừa đi vừa tế
Một lũ học trò/ người cầm quạt mo
Là vợ Ông Chổi
Thổi lổi mà lên ...

Một trò chơi được đám trẻ gái yêu thích, cách chơi giống nhau nhưng ngoài Bắc gọi là là Trồng Nụ Trồng Cà/ Trồng Nụ Trồng Hoa, và miền Trung gọi là đi Chợ Về Chợ. Phải có bốn em, chia làm hai cặp. Một cặp ngồi, lần lượt duỗi chồng từng bàn chân lên nhau rồi chồng bàn tay làm hoa, trong khi cặp kia đi qua đi lai rồi nhảy qua nhảy lại, vừa đọc:

đi chợ/ về chợ (chưa đưa chân)
đi canh một/ về canh một (đưa một bàn chân)
đi canh hai/ về canh hai (chồng thêm một chân, là hai bàn chân)
đi canh ba/ về canh ba (chồng thêm, ba bàn chân)
đi canh tư/ về canh tư (chồng thêm, bốn bàn chân)
đi sen búp/ về sen búp (chồng thêm một bàn tay chụm lại)
đi sen nở/ về sen nở (chồng thêm bàn tay hơi xòe nở)
đi sen tàn/ về sen tàn (bàn tay hoa nở xòe rộng hết cỡ)

UserPostedImage

Đi Chợ Về Chợ, tranh Võ đình, XI-07

Trong trò chơi này, hai em ngồi chồng chân và xòe tay phải giữ thăng bằng, nếu bị đổ chân là thua. Hai em đi qua đi lại nhảy qua nhảy về nếu bị đụng chân hay tay hai em kia là thua. Cặp thua bị loại để hai em khác vào thay.

Nhưng trong mấy trò chơi tập thể nhân Tết Trung Thu và Ngày Nhi đồng Việt Nam, trẻ con Bắc Trung Nam đểu thích trò Rồng Rắn, gồm một đoàn ôm eo ếch nhau nối dài đi vòng vòng quanh sân, vừa đi vừa reo hò theo một em dẫn dầu làm thầy thuốc đọc :

- Này, rồng kia!
- Dạ!
- Rồng đen hay rồng trắng?
- Rồng trắng!
- Rồng trắng lấy nước gạo mùa
Rồng đen lấy nước cho vua đi cày!
- Anh em ta cùng kéo lúa về!
Dô ô ô ô ô ô ô ...

UserPostedImage

Tranh dân gian của Henry Oger
Chú thích bằng chữ Nôm: Trẻ Con Làm Rồng Rắn

Bài đồng dao Rồng Rắn cản thầy thuốc cầm cái quạt mo không cho ông bắt em nào trong đoàn, vừa đi vừa hát:
Rồng rồng rắn rắn/ kéo rắn lên mây
Thấy cây lúc lắc/ hỏi ông thầy thuốc có nhà hay không?
- Có!
- Mở cửa cho vào!
- Vào làm gì?
- Mượn cái liềm
- Liềm làm gì?
- Hái củi
- Củi làm gì?
- Nấu bánh chưng
- Cho thầy ăn không?
- Không!

Trò chơi Rồng Rắn không rõ có từ giai đoạn lịch sử nào, có thể liên hệ đến thảm kịch thời Trịnh Nguyễn phân tranh chiến tranh đẫm máu giữa đàng Ngoài đàng Trong, hay gần hơn, là cuộc nội chiến Quốc Cộng xốc nổi đến tận cùng đời sống ... với những nhân vật níu áo số mệnh nhau, như truyện dài Rồng Rắn của Lê Thị Huệ dẫn nhập. TròRồng Rắn được trẻ con tham dự đông đảo nhất, cũng ôm eo ếch nối dài làm con rồng, vừa chạy vòng vòng vừa cùng đọc:

Rồng rắn lên mây có cây xúc xắc
Xúc xắc xúc xẻ ... Có thầy thuốc ở nhà không?

Một trẻ lớn làm ông thầy thuốc cầm quạt nan phe phẩy đi ra, đủng đỉnh hỏi:

Thầy thuốc: - Rồng rắn đi đâu?
Rồng rắn: - Rồng rắn đi lấy thuốc cho con.
Thầy thuốc: - Con lên mấy?
Rồng rắn: - Dạ, con lên một.
Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!
Rồng rắn: - Con lên hai.
Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!
Rồng rắn: - Con lên ba.
Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!
Rồng rắn: - Con lên bốn.
Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!
Rồng rắn: .....
Thầy thuốc: .....
Rồng rắn: - Con lên chín.
Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!
Rồng rắn: - Con lên mười.
Thầy thuốc: - Thuốc ngon vậy! Xin khúc đầu!
Rồng rắn: - Những xương cùng xẩu!
Thầy thuốc: - Xin khúc giữa!
Rồng rắn: - Những máu cùng me!
Thầy thuốc: - Xin khúc đuôi!
Rồng rắn: - Tha hồ mà đuổi!

đến đây thì đoàn rồng rắn vẫn ôm eo ếch nối nhau chạy đuổi bắt ông thầy thuốc cho kỳ được mới tan cuộc, giữa những tiếng vỗ tay reo hò cổ võ của những người đứng xem, trong số có những bà mẹ chứng kiến con mình lớn khôn trong tập thể, trong cộng đồng. Bài đồng dao này có giá trị như một bài sấm, một bài học lịch sử, và cũng là một bài luân lý giáo khoa thư nói lên tình đoàn kết nhất trí của Rồng Rắn, toàn dân quyết giữ gìn trọn khối chung, đánh đuổi quân xâm lược lăm le chiếm đất đai, đã hớt khúc đầu Nam Quan, lại xén đoạn giữa Trường Sa và gây tai hại đồng bằng Cửu Long miền Nam.

Những bài đồng dao và trò chơi trẻ con góp nhặt ở đây chưa đầy đủ và cần bổ túc, nhưng có chủ đích góp phần gìn giữ kho tàng văn học dân gian trước khi bị thất truyền hay quên lãng, chôn vùi dưới hàng hàng lớp lớp đồ nhựa lắp ráp máy móc Toys 'R' Us, CDs, DVDs, video games, PC Games, puzzles, dominos, bingo, i-pods, cell phones ... và vô số trò khác ào ạt trên mạng lưới điện tử của thời đại @ còng. Ngay tại các nước Âu Mỹ, nhiều tài liệu cũng sưu tầm ghi lại trò chơi trẻ con kèm những ballads, là thơ xưa từ thế kỷ XV/ XVI được phổ nhạc có điệp khúc lập đi lập lại, và Shakespeare từng trích dẫn vào tác phẩm.

Chúng ta đang ở đầu thế kỷ XXI. Mai sau, dù có bao giờ, phần sưu tầm biên khảo nhỏ nhoi này mong còn được đôi khi lần giở trước đèn, để may ra có người mở trang sách cũ tìm hiểu về đất lề quê thói, thấy rõ ràng kho tàng văn học dân gian đặt nặng giáo dục gia đình trên vai người mẹ. Những lời ru ca dao ạ ơi ời hà hơi văn hóa mẹ vào tâm hồn trẻ từ lúc mở mắt chào đời cho đến khi chập chững lững thững những trò chơi đi kèm đồng dao, để từ đó vững bước vào xã hội.

Hát mà chơi. Hát mà học. Hát chơi mà học thật.
Học làm NGƯỜI.

Trần thị LaiHồng
Từ tiểu bang xanh 1987 qua Hoa bang 2007

Tài liệu tham khảo:

- Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến đức, Việt nam Tự điển, Mặc Lâm xuất bản, Hà Nội 1931
- Henry Oger, La Technique du Peuple Annamite, NXB Jouve & Cie, Paris 1908

- Hùynh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Imprimerie Rey, Curiol &Cie, Saigon 1895

- Hướng đạo Ca, Kỷ niệm70 năm Hướng đạo Việt Nam 1930-2000

- Jack Maguire, Hopscotch, Hangman, Hot Potato & Ha,Ha, Ha, Rockefeller Center, 1990

- Lê thị Huệ, Rồng Rắn, Lũy Tre Xanh xuất bản, San José 1989

- Lư Nhất Vũ / Lê Giang, Tìm Hiểu Dân ca Nam bộ, NXB TPHCM, 1983

- Mệ Bê, tài liệu sống, San Diego, CA

- Mệ Nguyễn đề, tài liệu sống, West Palm Beach, FL

- Minh Hiệu, Tục ngữ Dân ca Mường Thanh Hóa, NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội 1999

- Nguyễn Mạnh Hùng, Ký họa Việt nam, NXB trẻ, Saigon 1989

- Nguyễn Như Ý, Đại Tự diển Tiếng Việt, Bộ Giáo dục và Dân Tộc, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn Hóa CHXHCN, Hà Nội 1998

- Nguyễn Tấn Long/Phan Canh, Đất Lề Quê Thói, NXB Sống Mới, Saigon 1970

- Nguyễn Thuyết Phong and Patricia Shehan, From Rice Paddies and Temple Yards: Traditional Music of VietNam, World Music Press 1989

- Nguyễn Trúc Phượng, Văn học Bình dân, Nhà Sách Khai Trí, Saigon 1964

- Nguyễn Văn Vĩnh, Trẻ Con hát Trẻ Con Chơi, NXB Alexandre de Rhodes, Hà Nội 1943

- Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Thi Ca Bình Dân Việt Nam, NXB Sống Mới, Saigon 1978

- Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Tục Ngữ Phong Dao, NXB Vĩnh Hưng Long, Hà Nội 1928

- Trần Quang đức, 175 Trò Chơi Tập thể, NXB Thanh Niên, Hà Nội 2006

- Trương Anh Thụy, Trường ca Lời Mẹ Ru, NXB Cành Nam 1989

- Trương Tửu, Kinh Thi Việt Nam, Tủ Sách Văn Hóa Hàn Thuyên, Saigon 1940, Xuân Thu tái bản Houston, TX

- Vũ Ngọc Phan, Tục Ngữ và Dân ca Việt Nam, NXB Văn Sử địa, Hà Nội 1956

- William Wells Newell, Games and Songs of American Children, Dover Publications, Inc. New York 1903

Edited by user Sunday, April 19, 2020 12:11:55 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1745 Posted : Sunday, April 19, 2020 12:19:57 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)

THÁP BÀ NHA TRANG VÀ LƯỢC SỬ CHIÊM THÀNH


B.S. Trần Văn Ký


UserPostedImage

Nói đến Nhatrang, "phố biển hiền hòa", "miền thùy dương cát trắng", nằm cách Huế khoảng 624 cây số về phía nam và cách Sàigòn khoảng 442 cây số về phía bắc; không ai lại quên nhắc đến một thắng cảnh độc đáo và cũng là một thánh tích quan trọng, đó là Tháp Bà Nhatrang hay Tháp Po Nagar.

Tháp Po Nagar

UserPostedImage

Tháp Bà hiển nhiên là một kiến trúc tôn giáo đặc thù của người Chàm (hay Chăm, hay Champa) được họ gọi là Klmer. Người Chàm là cư dân bản địa xa xưa đã bị lịch xử oan khiên xóa nhòa trước đà Nam tiến của giống Việt càng ngày càng phát triển. Âu cũng là nạn nhân của luật đào thải, mạnh được yếu thua, thế nhưng thói thường thì kẻ xâm chiếm lại quay ra tôn sùng những thần linh, và tiếp thu dễ dãi văn hóa và tín ngưỡng của dân bị diệt vong. Nhiều nét của văn hóa Chàm từ ngôn ngữ, trang phục, ca dao, truyện cổ, âm nhạc, ca vũ, vv... đã thấm nhập êm ả vào đời sống của dân tộc Việt.

Tháp Bà nằm ở phía bắc thành phố Nhatrang khoảng 4, 5 cây số, trên một ngọn đồi cao cách mặt bể độ chừng 50 thước, được gọi là núi Cù Lao cạnh cửa sông lớn đổ ra biển Đông. Con sông này vốn mang khá nhiều tên theo thời gian là sông Cái, sông Ngọc Hội và cuối cùng là sông Nhatrang. Nhatrang mà thành phố biển này mang tên có nguồn gốc từ tiếng Chàm Eatran hay Yatran mà ra. "Ea" hay "Yja" hay "Ya": có nghĩa là nước là sông; còn "tran": là lau sậy, vì hai bên bờ sông toàn là lau sậy. (Có lẻ dân ta về sau biến chữ "tran" thành "trảng" như trảng bom, trảng bàng vv... chăng?) Như thế Eatran hay Nhatrang có nghĩa là "con sông sậy", thuộc vùng Kauthara của Chiêm thành mà tổ tiên ta tiếp thu vào năm 1653. Một điều đáng ghi nhận là hiện nay đồng bào thượng Rhadé hay Êđê vùng Ban Mê Thuột vẫn dùng nhiều từ ngữ gốc Chàm và vẫn gọi nước hay sông là Ea. Như thế cho thấy sự liên hệ của họ với người Chàm xưa cũng gần gũi lắm.

Dưới chân núi Cù Lao về phía đông, cạnh quốc lộ số 1 vốn là bến xe ngựa ở thời Pháp thuộc cho đến thời đệ Nhất Cộng hòa, về sau theo sự tăng tiến kỹ thuật trong đời sống, xe ngựa được thay thế bằng xe lam rồi xe buýt Renault. Bên kia quốc lộ là Xóm Bóng hay Xóm Chài, vì xóm này nguyên được lập nên bởi những người chuyên làm nghề đồng bóng ở tháp Bà (tiếng Chàm gọi là patjao), và về sau ngư phủ người Việt tập trung sinh sống quanh đấy càng ngày càng đông. Vào thời cao điểm của cuộc chiến vào khoảng năm 1969, công binh quân đội Đại hàn làm một xa lộ mang tên là "Cải lộ tuyến" hay "xa lộ Đại hàn" đi tắt từ phía bắc đèo Rù Rì đến Thành, và từ đó các chuyến vận tải xuyên Việt không còn phải chạy cạnh chân Tháp Bà, qua cầu Xóm Bóng, cầu Hà Ra để vào thành phố như trước.

Trong những năm cuối của thời Pháp thuộc, vùng phía bắc của Tháp Bà như Đồng Đế, Ba Làng vv.. vẫn còn hoang vu lắm. Việc đi thăm hay cắm trại ở Hòn chồng, bãi Dương là những dịp hãn hữu; còn việc lễ bái ở tháp thì chỉ náo nhiệt nhất là vào dịp tết âm lịch. Lý do dễ hiểu là thời ấy thành phố Nhatrang còn bé và việc đi lại còn lắm khó khăn, và chẳng ai có nhu cầu gì để phải đi xa như thế. Có lẻ nguồn giải trí lành mạnh của dân Nha thành vừa tiện lợi và ít tốn kém vẫn là bãi biển cát trắng và nước biển trong xanh bên cạnh.

UserPostedImage

Toàn bộ Tháp Bà được xây dựng khoảng từ đầu thế kỷ thứ 8, thời mà dân Việt vẫn còn bị Tàu đô hộ (dựa vào niên đại những bia ký dựng ở tháp) và tiếp tục được phát triển và trùng tu cho đến thế kỷ thứ 13. Thế kỷ thứ 8, cũng là thời kỳ vua Chàm ở phía bắc là Vikrantavarman II thôn tính vùng Kauthara (Khánh hòa) của các tiểu vương Chàm ở phía nam, nhưng vẫn chưa tiến chiếm hết vùng Panduranga (Ninh và Bình thuận).

Mặt tiền của các tháp đều hướng ra biển Đông. Tổng thể kiến trúc gồm ba tầng, đi từ dưới lên trên. Tầng thấp ngang mặt đất bằng là ngôi tháp cổng mà nay không còn nữa. Từ đấy có những bậc thang bằng đá dẫn lên tầng giữa, nơi đây hiện chỉ còn hai dãy cột chính bằng gạch hình bát giác, mỗi bên 5 cột có đường kính hơn 1 thước và cao hơn 3 thước. Ở hai bên các dãy cột lớn có 14 cột nhỏ và thấp hơn, và tất cả lại nằm trên một nền bằng gạch cao hơn 1 thước. Dựa vào cấu trúc này người ta cho rằng đây vốn là một tòa nhà rộng lớn có mái ngói, là nơi để khách hành hương nghỉ giải lao và sắm sửa lễ vật trước khi lên dâng cúng ở các điện bên trên. Từ tầng giữa này, lại có một dãy bậc thang bằng gạch dốc hơn dẫn lên tầng trên cùng, cũng là nơi các tháp được xây dựng, ngay trước mặt ngôi tháp chính. Những bậc thang này từ lâu đã không hề được xử dụng. Bậc thang bằng đá ong mà ta thấy hiện nay ở phía nam tháp Bà rộng lớn hơn được xây vào thập niên 60 do nhu cầu du lịch gia tăng.

Ở tầng trên, có hai dãy tháp được bao quanh bởi bốn bức tường đá mà nay chỉ còn lưu lại tường phía tây và nam mà thôi. Dãy tháp phía trước chỉ có 3 ngôi, và dãy phía sau vốn có dấu vết của 3 ngôi tháp khác, thế nhưng nay chỉ còn một. Tháp thờ chính khá lớn và cao khoảng 23 thước, là tháp Po Nagar, mà ta hay gọi là tháp Bà. Nguyên thủy chính là tháp thờ thần Parvati, vợ của Shiva (hay Xiva). Trên đỉnh tháp có tượng thần Shiva cỡi thần ngưu Nandin, và các tượng linh vật như chim thiên nga, dê, voi vv. Mặt ngoài tường tháp lại được trang trí bởi những hình điêu khắc vào đá như những vũ công, kẻ chèo thuyền, kẻ xay gạo hay kẻ đi săn với cung và tên. Cửa chính ở phía đông dẫn vào một tiền sảnh, ở hai bên cửa có hai trụ đá được khắc truyền ký, đỡ một phiến đá hiønh thuẩn có khắc hình nữ thần Durga đang múa giửa hai nhạc công. Bên trong tháp thì âm u và mát lạnh. Cuối tháp có một bệ thờ bằng đá bên dưới tượng Bà Po Nagar với mười cánh tay. Hai bàn tay dưới đặt trên hai đầu gối, các bàn tay khác thì cầm những vât dụng như đoản kiếm, mũi tên, chùy và cây lao ở bên phải và chuông, đĩa, cung và tù và ở bên trái.

Từ Yang Po Inư Nagar đến Thiên Y A-Na:

UserPostedImage

Trên các bia ký lưu lại ở tháp, nếu ghi bằng chữ Phạn cổ thì tên của Bà là Bhagavati Kautharesvati, và ghi bằng chữ Chàm thì gọi đầy đủ là Yang Po Inư Nagar, theo đó thiø "Yang" là Thần; "Pô" là tôn kính, là ngài; Inư là mẩu, là mẹ; và Nagar: xứ sở, đất nước. Người thượng tây nguyên vẫn còn duy trì những lễ cúng "Yang" (mà ta hay gọi là cúng Ông Giàng: có nghĩa là Thần đất, thần rừng) rất công phu tốn kém hằng năm. Nói gọn lại là Đức Thần Mẹ Đất Nước. Như thế Bà được tôn thờ vừa là Thổ mẫu, vừa là Nông thần vì đã dạy dân biết cách trồng trọt và làm ruộng. Tượng thờ của thần Po Nagar thực ra cứ bị quân xâm lăng tàn phá hoặc đánh cắp mãi. Bia đá ở tháp Bà còn ghi năm 918 vua Indravarman II dựng pho tượng Bhagavati (tức Po Nagar) bằng vàng; pho tượng này về sau bị người Chân Lạp (Khmer) xâm lăng cướp đi vào năm 950, và đã được thay thế bằng tượng bằng đá. Năm 1203 tháp Po Nagar lại bị quân Chân Lạp chiếm đóng tàn phá lần nữa, và 7 năm sau vua Paramesvaravarman II mới giải phóng được Chiêm thành cho trùng tu lại. Nhưng rồi loạn lạc vẫn tiếp diễn liên miên, cho đến gần đây pho tượng Bà vốn được tạc từ gỗ trầm hương, lại bị người Pháp cướp đi vào năm 1946, về sau được dân địa phương thay thế bằng một tượng khác mang màu sắc Việt, còn được gọi là Thánh mẫu Thiên Y A Na.

Những Tháp Thờ Khác

Bên cạnh tháp chính về phía nam khoảng 20 thước là một ngôi tháp khác bé và ít trang trí điêu khắc hơn, cao chừng 12 thước, có lẻ là tháp thờ thần Shiva. Cách ngôi này cũng về hướng nam là một tháp còn nhỏ hơn.ngôi thứ hai. Bên trong tháp không có bệ thờ mà chỉ có một linga (thạch trụ), và đây là tháp thờ thần Ganesa, thân người đầu voi, con của Shiva. Nhiều tác giả cho rằng linga là linh tượng có hình thù dương vật tượng trưng cho Shiva, dựa theo sự diễn dịch của Tây phương hơi thiên về tình dục. Điều này là một sự ngộ nhận đáng tiếc. Thực ra linga tiêu biểu là một trụ đá thấp có ba phần khác nhau tượng trưng cho ba linh thể: phần dưới là hình vuông tượng trưng cho Brahma, phần giữa hình bát giác tượng trưng cho Vishnu, và phần trên cùng hình tròn tượng trưng cho Rudra (hay còn gọi là Shiva). Vì thế ta nên gọi là "linh thạch trụ" thì thích hợp hơn.

Ở dãy tháp phía sau có một ngôi tháp tương đối ít hư hại nhất ở mạn bắc, với mái dài hình yên ngựa. Kiểu mái này chỉ thấy bắt đầu ở những tháp vùng Đồ Bàn - Vijaya (Bình định ngày nay) sau khi kinh đô được dời xuống từ Mỹ sơn, Trà Kiệu ở thế kỷ thứ 11. Ở tường lại có những hình điêu khắc như thần điểu Garuda, sư tử, các tiên nữ Apsara, xà thần Naga. Chính dưới nền của tháp này trong khi tu sửa đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp đã khám phá và cuổm mất một kho tàng được cất dấu gồm những vật cúng dường bằng vàng và bạc.

Huyền Thoại Việt Về Po Nagar

UserPostedImage

Có khá nhiều huyền thoại về nữ thần Po Nagar tùy theo ảnh hưởng cương thịnh từng thời. Khi tháp Bà rơi vào thay người Việt và biến thành Thiên Y Thánh Mẫu thì vào năm 1856 Phan Thanh Giản cho khắc một truyền thuyết đầy màu sắc Việt lên bia đá được dựng ở tháp, và toàn văn bài bia Tháp cổ Thiên Y đã được chép lại vào sách Đại Nam Nhất Thống Chí. Theo đó xin được tóm tắt đại khái như sau: Xưa trong vùng Đại Điền có hai vợ chồng già trồng dưa hấu sinh sống. Khi dưa chín thì về đêm cứ bị phá trộm. Ông lão rình và thấy một cô gái mới lớn dùng dưa để đùa giởn dưới trăng. Ông lão vặn hỏi thì biết là trẻ mồ côi bèn đem về làm con nuôi, và hai vợ chồng rất thương yêu cô gái. Một ngày mưa lụt lớn, nhớ chốn cũ ở Tam thần Sơn, cô nhập vào một khúc gổ kỳ nam đang trôi về phương bắc. Dân phương bắc thấy gổ thơm trôi giạt đua nhau gắng sức kéo về nhưng không nổi. Thái tử đang ở tuổi 20, con của vua cai trị nghe tin liền tiøm đến bải biển và lạ thay một mình khuân được gổ về cung. Từ đấy thường vổ về cây kỳ nam và bồi hồi ngẩn ngơ. Bỗng một đêm thấy có bóng một cô gái diễm kiều hiện ra, thái tử vội nắm tay giử lại gặn hỏi và biết được sự tích. Thái tử tâu rõ mọi chuyện với vua cha và được vua cho kết hôn. Hai vợ chồng sinh được hai đứa con, trai tên là Trí và gái là Quý. Một thời gian sau lại nhớ chốn cũ ở phương nam, vợ thái tử dắt hai con nhập vào gổ kỳ nam trôi về cửa Cù Huân, rồi lần về núi Đại Điền nhưng ông bà lão trồng dưa đã qua đời. Bà liền lập đền thờ. Từ đó bà dạy dân trong vùng biết cách trồng lúa. Về sau Bà còn cho đục đá ở núi Cù Lao tạc tượng bà, rồi giửa ban ngày bà thăng thiên biến mất.

UserPostedImage

Thái tử mãi sau cho người kéo thuyền đi tìm vợ, nhưng bọn người này khi đến cửa Cù Huân lại hiếp đáp dân lành và khinh miệt linh tượng, nên chợt có một trận cuồng phong nổi lên đánh úp thuyền biến thành một tảng đá to. Từ đó dân làng thấy Bà hiển linh thường cỡi voi trắng đi dạo trên đỉnh núi với tiếng sấm vang động. Có khi bà cỡi tấm lụa bay giữa không trung hay cỡi cá sấu trong vùng dảo Yến, núi Cù. Dân trong vùng bèn xây tháp thờ trên núi Cù Lao, cầu khấn việc gì cũng linh ứng. Tháp giửa thờ Chúa Tiên (tức Thần Thiên Y), tháp bên trái thờ vợ chồng lão trồng dưa, bên phải thờ thái tử. Phía sau lập đền nhỏ thờ hai ngừơi con. Người Chàm tôn Bà là Ana Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi. Triều Nguyễn phong tặng Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đằng Thần và cử ba người dân làng Cù Lao làm Từ phu.

Câu chuyện trên của cụ Phan cốt để giải thích một cách thi vị các nhân vật được thờ ở tháp Bà, và nó cũng tương tự như truyền thuyết nàng Mưjưk của người Chàm hiện đang được truyền tụng ở vùng Ninh thuận và Bình thuận. Khi ảnh hưởng Hồi giáo phát triển vào các thế kỷ 14 và 15 thì các huyền thoại về Thánh Mẫu lại biến đổi theo màu sắc Muslim với tên là Đại nữ thần Mơ-mai-sahai-cadông.

Các Bia Ký Lịch Sử

Khu tháp Bà còn lưu lại nhiều bia ký cổ nhất của người Chàm. Bergaigne, một nhà khảo cứu người Pháp đã liệt kê các bia ký theo thời gian như sau: Nhóm A: trên bia đá hình lục giác, do vua Satyavarman dựng năm 781 ghi chuyện tháp bị giặc biển đốt phá năm 774, việc xây dựng tượng thần Sri Satya Mukhalinga vào năm 784. Nhóm B: do vua Vikrantavarman III ghi lại công lao xây dựng của các tiên vương. Hai nhóm C và D: do vua Vikrantavarman II ghi các lễ vật dâng cúng chư thần. Nhóm E ghi việc vua Indravarman II dựng pho tượng Bhagavati (tức Po Nagar) bằng vàng vào năm 918 (thực ra chữ Bhagavati chỉ là tiếng xưng tôn kính, chứ chẳng phải là tên thần, mà tác giả Ngô Văn Doanh ở trong nước hiểu nhầm); pho tượng này về sau bị người Khmer xâm lăng cướp đi, và đã được thay thế bằng tượng bằng đá vào năm 965. Bia đá ở hai bên cửa của tháp chính ghi việc cúng ruộng và dân công nô lệ cho nữ thần. Bia ở phía nam của tháp chính ghi việc vua (Jaya) Harivarman I ca tụng thần Yang Po Nagar vào năm 1178. Bia ở phía bắc tháp chính ghi việc dựng đền thờ thần Bhagavati Matrilingesvara vào năm 1256.

Ngoài ra còn bia đá dựng năm 1050 của vua Paramesvaravarman I ghi việc tái lập tượng Bà, việc dâng cúng ruộng đất và nô lệ đủ sắc tộc: người Campa (Chàm), Kvir (Khmer), Lov (Tàu), Pukan (Mã), Syam (Xiêm) vv... Bia của vua Rudravarman III (Chế Củ) dựng năm 1064 ghi việc xây cổng tháp rất tốn kém, và liệt kê những cống phẩm quí giá. Bia năm 1143 ghi lời xưng tụng Bà. Bia năm 1165 của vua Indravarman IV ghi việc dâng cúng một kim mão cho nữ thần Bhagavati Kautharesvati (Dựa vào lời ghi này ta có thể tạm dịch là "Đức thánh mẫu vùng Kauthara" và so sánh với các bia khác, có thể đoán là người Chàm chỉ thờ thần Parvati như Thánh Mẫu của từng địa phương; ví dụ ở Phú Yên và Ninh thuận cũng có tháp thờ Thánh Mẫu của vùng đó, chứ chưa hẳn là ở mức độ toàn xứ Chiêm thành, như tác giả Ngô Văn Doanh quyết đoán). Các bia sau cùng ở thế kỷ thứ 13 hay 14 tiếp tục ghi những vật dâng cúng Bhagavati.

Nguồn Gốc Và Văn Hóa của Người Champa

Như thế thì tháp Bà có một lịch sử rất lâu đời. Nhìn ngắm những công trình xây dựng uy nghi thanh nhả đứng trơ gan cùng tuế nguyệt hằng bao thế kỷ, không khỏi làm kẻ lãm du chợt dậy một mối hoài niệm bồi hồi cho một dân tộc suy vong. Vậy người Chàm là ai?

Thực khó mà định được niên đại những giống dân cổ đã từng sinh sống ở giải giang sơn miền trung và nam Việt hiện nay. Năm 1909, người ta đào được khoảng 200 hũ cốt ở Sa Huỳnh, phía nam Đà Nẵng, và tiếp đến ở hơn 50 địa điểm khác gần đấy. Dùng phương pháp định tuổi theo phóng xạ Carbon, người ta thấy là nhóm cư dân thuộc văn hóa Sa huỳnh (từ Nghệ tỉnh đến Biønh định) hay là thời kỳ tiền-Champa, biết chế tạo đồ gốm và kim khí cùng thời với các nhóm thuộc văn hóa Đông sơn, tức khoảng 1500 năm trước CN. Không chừng hai nền văn hóa này có cùng một nguồn gốc từ lâu đời, nhưng hậu duệ của văn hóa Đông sơn đã chịu ảnh hưởng của Trung hoa quá sớm, có lẻ do sự xâm lược chiếm đóng của nước này, và cư dân ở phía nam lại chịu ảnh hưởng của Ấn bằng hòa nhập qua thương mãi. Mãi đến thế kỷ thứ 2, sử Tàu mới ghi nhận có nước Lâm Ấp với giống Chàm, hậu duệ của nền văn hóa Sa Huỳnh cư ngụ ở đấy. Họ có lẻ là dân thuộc các hải đảo vùng Đông Nam Á trôi dạt vào đất liền định cư, và đã tiếp nhận nền văn hóa và tín ngưỡng Ấn độ. Ngôn ngữ của họ thuộc nhóm Mã-Hải đảo (Malayo-polynesian). Chữ viết của họ dựa vào tiếng Bắc Phạn (Sanscrit) cổ cho mãi đến giữa thế kỷ 16 lại được canh tân với văn phạm Ả rập khi ảnh hưởng đạo Hồi bắt đầu lấn át các tôn giáo cũ, chữ Chàm được gọi là Khâr-Tapuk. Đơn cử một từ mà ta hay nói về đảo nhỏ là "cù lao"; nó lại bắt nguồn từ chữ Pulao (ví dụ Pulao Bidong).

Văn hóa Ấn anh hưởng rất sớm và khá sâu đậm trên xã hội Chàm và các kiến trúc tháp cổ. Cao điểm của sự du nhập nền văn hóa này có lẽ từ cuối thế kỷ thứ 6 do sự hùng mạnh của vương quốc Sri-Vijaya ở Java và Sumatra, và đế quốc này đã khống chế đường hàng hải huyết mạch ở vùng Đông Nam Á trong suốt 700 năm (từ thế kỷ thứ 7 đến 13). Người Chàm thờ phụng những thần linh của đạo Bà La Môn (Brahman), trong đó nổi bậc nhất là 1) Phạm Thiên (Brahma) là đấng sáng tạo ra những cảnh giới. Phạm Thiên có bốn tay và bốn mặt tượng trưng cho bốn hướng, thường cỡi con thiên nga Hamsa. Vợ của ngài là Saravasti. 2) Vishnu: Thần bảo bọc; thần có bốn tay mỗi tay cầm một khí cụ, thường cỡi thần điểu Garuda. Vợ ngài là Laksmi, nữ thần của sắc đẹp. Ngoài ra còn có ảnh tượng của những thần khác như Ganesa: thần thông minh, Indra: thần mưa, hay thần sấm, Kama: thần tình yêu, Apsara: đoàn vũ nữ thiên giới, và xà thần Naga. 3) Shiva (hay Xiva), thần hủy diệt (nói rõ hơn là diệt vô minh), có lúc cũng nhân ái và dâm dật. Shiva có nhiều tay, nhiều mặt và thêm một mắt ở giữa trán, thường cởi thần ngưu Nandin. Thần có nhiều vơ (nói đúng hơn là thần thể hiện ra năng lực chuyển động dưới dạng nữ tính - shakti), trong đó phải kể đến Parvati hay Uma: thổ mẫu; và Durga hay Kali: thần chiến đấu. Theo cách thờ phượng của người Chàm thì họ cò lẻ theo phái Sakta của Ấn độ giáo đã nâng thần Parvati lên cao cả hơn hết, trong khi phái chính thống thì chỉ cho là thứ yếu.

Vào thế kỷ thứ 8 và 10 (từ 758- 915), ảnh hưởng của Phật giáo lại thịnh hành, nhất là trong thời Hoàn Vương. Một tấm bia tại Đồng Dương (xưa chính là kinh đô Indrapura, thuộc huyện Thăng biønh, tỉnh Quảng nam ngày nay) được vua Chiêm Indravarman II dựng lên vào năm 875 đã ghi: "do lòng tin vào Phật, vua đã cho dựng lên một tu viện Phật giáo và đền thờ Laksmindra Lôkesvara Svabhayada". Cũng ở Đồng dương, vào năm 1901người Pháp đã đào được nhiều cổ vật mà đặc sắc nhất là một tượng Phật bằng đồng cao hơn 1 thước, mang nhiều nét vẻ của tượng Phật Amaravati ở Ấn độ. Một bia đá khác gọi là Ròn hay bia Bắc Hạ gần đèo Ngang ghi năm 889, vua Indravarman II xây dựng một tu viện Phật giáo thờ Bồ tát Avalokitesvara. Do đó có thể nói Phật giáo Đại thừa đã một thời rất hưng thịnh tại Indrapura (thành của thần Indra), đến nổi các vua Chiêm đặt tên cho lãnh thổ này là Amaravati. Sau khi người Chàm thiên đô về Đồ Bàn, cũng cùng lúc đế quốc Sri-Vijaya bắt đầu suy vi nhường chỗ cho các thế lực Hồi giáo phát triển, mạnh nhất là khoảng thế kỷ thứ 15 trở về sau, vì thời ấy nước Chiêm Thành giao thương nhiều với các vương quốc vùng Indonesia và Mã Lai, là những nước bắt đầu chuyển theo Hồi giáo từ thế kỷ 13. Đế quốc Hồi giáo Malacca sau rốt sụp đổ vào cuối thế kỷ 16, do sự xuất hiện của người Tây phương, nhất là người Bồ Đào Nha và người Hòa Lan. Theo thống kê trước năm 1975 thì hai phần ba người Chàm theo Ấn Độ giáo ở miền Trung, còn một phần ba theo Hồi giáo thì ở Nam phần.

Lược Sử Champa

Lịch sử Chiêm thành đầy rẩy can qua chinh chiến với các lân bang từ khi lập quốc. Xem lại sử ta thấy rằng năm 111 trước CN vua Vũ-đế nhà Hán sai Lộ Bác Đức và Dương Bộc sang diệt nhà Triệu lấy nước Nam Việt đổi lại thành Giao chỉ bộ, và chia ra làm 9 quận mà 3 quận phía nam là Giao-chỉ, Cửu-chân và Nhật-nam bao gồm đất Bắc Việt và bắc Trung Việt ngày nay, mở đầu thời kỳ Bắc thuộc của nước ta. Sách Khâm Định Việt Sử chép rằng phía nam quận Nhật-nam có huyện Tượng-lâm (khỏang Trà Kiệu, tỉnh Quảng Nam bây giờ), vào năm 102 đời vua Hòa-đế nhà Đông Hán, người huyện ấy cứ hay sang cướp phá quận Nhật-nam. Đến cuối đời nhà Hán, khoảng năm 192 ở huyện Tượng lâm có người tên Khu-Liên giết huyện lệnh đi rồi tự xưng làm vua, đặt tên nước là Lâm Ấp (Lin Yi: Ấp của dân Tượng lâm). Thực ra chữ Khu-Liên không phải là tên, mà là tiếng xưng tụng như "thủ lãnh". Dòng dõi Khu-Liên thất truyền nên cháu ngoại là Phạm-Hùng (ta dịch âm từ Fan Hiong trong sử Tàu; mà Fan lại âm theo Varman của tiếng Chàm) lên nối nghiệp.

Ban đầu thiø lãnh thổ Lâm Ấp còn gọi là Indrapura, là vùng từ phía nam đèo Ngang, cạnh sông Gianh, đến hết vùng Amaravati (Quảng nam ngày nay). Tiếp đến trở xuống là các vùng tự trị của các tiểu vương như Vijaya (Bình định), Aryaru (Phú yên), Kauthara (Khánh hòa) và Panduranga (Bình và Ninh thuận). Có nhiều tác giả cho là lãnh thổ của Lâm-Ấp bấy giờ chỉ đến đèo Hải Vân mà thôi. Điều này không đúng, bởi vì những bia ký ở thánh địa quan trọng Mỹ sơn - Srisanabhadresvara (nằm cách Đà nẵng hiện nay về hướng tây nam khoảng 70 km) đã ghi là thánh địa thờ thần Bhadresvara, là thần chủ giang sơn Chàm, do vua Lâm Ấp là Phạm Phật (Bhadravarman, trị vì từ 349 - 361) dâng cúng. Nhiều bia đá ở Mỹ Sơn đã cho biết khá nhiều về giai đoạn lịch sử ban đầu của Lâm Ấp.

Theo thời gian, Phù Nam (Fu-nan), một vương quốc ở phương nam hoàn toàn theo văn minh Ấn Độ - tồn tại từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ 6 tại vùng đồng bằng sông Cữu Long bây giờ, đã từng triều cống Trung Hoa trong khoảng thời gian từ năm 253 đến năm 519, và có cảng Óc Eo rất nhộn nhịp - mạnh dần và thôn tính Kauthara (Khánh hòa) và Panduranga (Bình và Ninh thuận). Còn Vijaya (Bình định) thì thuộc về Lâm Ấp. Vùng Aryaru (Phú yên) trở thành vùng trái độn.

Suốt thời Tam quốc sang đến nhà Tấn người Lâm ấp vẫn thường sang quấy nhiễu quận Nhật nam, có khi tiến đánh đến quận Cửu chân nữa. Năm 353 đời vua Mục đế nhà Đông Tấn sai quan thứ sử Giao châu là Nguyễn Phu đánh bại vua Lâm Ấp là Phạm Phật (Bhadravarman) phá hủy hơn 50 đồn lũy. Năm 399 vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt lại đánh phá đến tận Giao chỉ bị quan thái thú Đỗ Viện đánh đuổi. Năm 413 lại tái diễn, nên năm 420 con của Đỗ Viện là Đỗ tuệ Độ phải kéo quân sang tiểu trừ tận đất Lâm Ấp, từ đó ngưới Lâm Ấp mới chịu hàng phục cống tiến Trung hoa hàng năm.

Sang đến thời loạn lạc Nam Bắc triều ở Tàu (420-588) thì nhà Nam Tống cai trị đất Giao châu. Năm 433 vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại cho sứ sang Tàu xin làm chủ đất Giao châu, vua Tống không thuận, nên quân Lâm Ấp luôn sang quấy phá Nhật nam và Cửu chân. Vua Tống sai quan thứ sử Đàn hòa Chí đem quân sang đánh Lâm Ấp, tàn phá kinh đô Trà Kiệu (Đồng dương, Quảng nam bây giờ) và lấy được vô số vàng bạc châu báu. Sử chép Đàn Hòa Chí thu được một tượng bằng vàng nặng đến nổi mấy người khuân không xuể.

Cuối thế kỷ thứ 5 ảnh hưởng của Lâm Ấp mở rộng về phía tây đến Nam Lào (Champassak), nhưng đầu thế kỷ thứ 6 thì vùng này lọt vào tay người Khmer (Chân lạp), lãnh thổ Lâm Ấp bành trướng đến đèo Cù mông (Phú yên). Người ta đã tìm thấy tấm bia Vat Luang Kau gần chùa Vat Phou (Champassak, nam Lào), cho biết là vào thế kỷ thứ 5, biên giới Chiêm Thành mở rộng đến bờ sông Mekong.

Vào giửa thế kỷ thứ 6, nước Phù nam lại bị người Khmer thôn tính, trở thành Thủy Chân lạp. Vị vua cuối của Phù Nam được sử Tàu nhắc đến là khoảng năm 550. Nước Chân lạp (Chen-la hay Zhenla) được hình thành vào khoảng thế kỷ thứ 5, mà truyền thuyết thần thoại theo văn minh Ấn kể rằng thần Shiva kết hợp đạo sĩ Kambu Svayambhuva ở xứ Kambujadesha (nên mới có chữ Kampuchea hay Cambodia bây giờ) với tiên nữ của Đại hồ tên là Mera, từ đó có giống Khmer (do hai chữ Kambu và Mera ghép lại).

Năm 539- 577, dưới triều vua Rudravarman khu Mỹ sơn lại bị đốt phá, và đã được vua Sambhuvarman (mất năm 629) trùng tu lại. Đến đời nhà Tùy, năm 602 vua sai tướng Lưu Phương kéo quân sang Giao Châu dẹp cuộc nổi dậy của Lý Phật Tử, sau khi bình định xong Lưu Phương tiến xuống đánh Lâm Ấp để cướp của, vua Lâm Ấp là Phạm Phạm-Chí (Cambhuvarman) thất trận chạy thoát. Sau khi Lưu Phương vào kinh đô Trà Kiệu gom góp được vô số của cải, đã lấy đi 18 tấm miếu chủ đúc bằng vàng. Lâm Ấp từ đấy lại xin triều cống như cũ.

Đến đời nhà Đường có ba sự kiện đáng ghi là:

1) Vào đời Thái tông, nước Lâm Ấp đổi quốc hiệu là Hoàn Vương (?). Cụ Trần trọng Kim chép trong Việt nam sử lược trang 60: "Đến quãng năm Trinh-quan đời vua Thái tông nhà Đường, (tức khoảng từ năm 627 đến 630) vua Lâm Ấp là Phạm Đầu Lê mất, con là Phạm Trấn Long cũng bị người giết, người trong nước lập một người con của bà cô Phạm Đầu Lê, tên là Chư Cát Địa (? Vikrantavarman I) lên làm vua. Chư cát Địa đổi quốc hiệu là Hoàn Vương quốc." Họ Chư lại kéo quân sang đánh Giao châu và chiếm giữ châu Hoan và châu Ái.

Nhưng có tác giả lại viết là từ năm 758, sử Trung Hoa không còn gọi nước nầy là Lâm Ấp mà đổi tên gọi là nước Hoàn Vương (Huan Wang). Dựa vào các bia đá ở Mỹ Sơn thì năm 758 là triều vua Vikrântavarman II kế vị. Vikrântavarman II là thái tử Prakasadharma, con của một hoàng thân Chàm tên là Jagadharma đã sang Chân Lạp cưới công chúa Carvâni (con của vua Icanavarman). Về sau chính vua Chàm ở phía bắc Vikrantavarman II này (của bộ tộc Dừa - Narikelavamsa) đã thôn tính vùng Kauthara (Khánh hòa) của các tiểu vương Chàm ở phía nam (của bộ tộc Cau - Kramukavamsa). Như thế thì chưa rõ thuyết nào đúng về niên đại của sự đổi tên Hoàn Vương Quốc.

2) Năm 679 vua Đường Cao tông (Phụ chú: là ông vua yếu đuối đa tiønh đã tằng tịu với Võ Tắc Thiên, cung tần của vua cha và đã đưa bà lên ngôi Hoàng hậu. Vào năm này Cao tông đã ngã bệnh liệt giường, có lẽ bởi tai biến mạch máu não do chấn động sau cái chết đột ngột của Thái tử Lý Hoằng. Mọi việc triều chính đều do Võ hậu quyết định cả, và người ta nghi chính Võ hậu đã đầu độc con trai trưởng của miønh bởi vì sợ vai trò của bà bị đe dọa), ra lệnh chia đất Giao chỉ bộ ra làm 12 châu và đặt chức An nam đô hộ phủ, và từ đó có tên An nam.

3) Nạn giặc biển từ Java và Sumatra mà Sử chép là "Năm 767 có quân Côn lôn và quân Đồ bà từ hải đảo kéo vào cướp phá đất Giao châu. Quan kinh lược sứ Trương Bá Nghi (Tchang-po Yi) cho đắp La-thành để chống giữ." Thành Đại la về sau trở nên thành Thăng Long. Thực ra quân hải đảo là lực lượng hải thuyền của một vương quốc hùng mạnh Sri-Vijaya ở Sumatra lúc bấy giờ (đã từng khống chế đường hàng hải huyết mạch ở vùng Đông Nam Á trong suốt 700 năm (từ thế kỷ thứ 7 đến 13). Quân này không những đánh phá riêng Giao châu mà liên tục tàn hại dân Chàm ở ven biển như Eatran (Nhatrang ngày nay) năm 774 và Panra (Phan Rang ngày nay), vào năm 787. Một bia ký ở tháp Bà còn ghi lại nổi kinh hoàng này của năm 774. Nếu giả thử quân của đế quốc Sri-Vijaya chiếm đóng thành công vùng duyên hải Đông dương thì lịch sử khu vực này đã chắc không như bây giờ.

Vào đầu thế kỷ thứ 9, năm 802 vua Hoàn Vương là Harivarman I lại đem thủy quân lên đánh phá một số tỉnh Trung Hoa, và liên tiếp các năm 803 và 806, còn kéo quân xâm lấn Giao Châu. Để trừng phạt, năm 808 quan đô hộ Giao Châu là Trương Chu đem binh thuyền vào tàn sát dân quân Chàm làm cho vua Hoàn Vương phải dới kinh đô xuống vùng Bằng An ngày nay, còn gọi là Vệ thành (thuộc xã Thăng Bình, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, mà vết tích thành cũ nay không còn nữa - theo Sách Đại Nam Nhất Thống Chí). Để tránh áp lực từ phương bắc, các vua Chàm Saktivarman và Bhadravarman II bành trướng lãnh thổ dần về phía nam và phía tây, thâu gồm Panduranga (Ninh và Bình thuận) và vùng tây nguyên thành một vương quốc mới được gọi là Chiêm thành (Champapura - Champa: hoa sứ; pura: thành, hay quốc gia).

Trong thời kỳ này việc bang giao giữa Hoàn Vương và Chân Lạp trở nên căng thẳng và đưa đến cuộc tương tranh tàn phá lẫn nhau trong khoảng hai thế kỷ. Khởi đầu vào năm 810, không rõ vì lý do gì tướng Chiêm Senapati Par đem quân tấn công Chân Lạp, mà bia ký ở tháp Bà Po Nagar còn ghi chiến tích.

Năm 877 dưới đời vua Indravarman II Chiêm thành lại xin triều cống Trung quốc như xưa. Những bia đá ở đền Kok Klor trong thung lũng Bla trên miền cao nguyên gần Kontum đề năm 914 ghi việc một tộc trưởng là Mahindravarman xây dựng tháp thờ Bồ tát Mahindra-Lokesvara. Thời kỳ này sự giao hảo giữa Chiêm Thành và đế quốc Sri-Vijaya rất là mật thiết. Một bia đá ở Nhan Biểu (thuộc tỉnh Quảng trị) ghi chuyện một vị hoàng thân tên là Rajadvara đã dựng hai ngôi tháp vào các năm 908 và 911, và đã hai lần đi hành hương thánh tích Phật ở Yavadvirapura (tức Java ngày nay).

Năm 950, Chân Lạp dưới quyền vua Rajendravarman sang đánh phá vùng Kauthara (Khánh hòa) của Chiêm Thành vào thời vua Indravarman III, và đã cướp đi tượng Bà bằng vàng do nhà vua dựng lên ở Po Nagar vào năm 918. Nhưng bia ký của Chân Lạp tại Pre Rup lại ghi rõ hơn là thành Kauthara bị phá hủy san bằng, vua Chiêm bị bắt và sau khi bị hành hạ đã bị tế sống cho thần Harisvayambhu trên bờ sông Visnupadi.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế đổi tên nước ta là Đại Cồ Việt, sau khi An nam dành dược độc lập với Ngô Quyền xưng vương tại Giao Châu năm 939. Năm 979, Lê Hoàn kế vị xưng là Đại Hành Hoàng Đế, sai Từ Mục và Ngô Tử Canh đi sứ sang Chiêm Thành giao hảo. Vua Chiêm là Paramesvaravarman I, vốn liên kết với một trong 12 sứ quân thời hậu Ngô Quyền nhưng bất thành, đang đóng đô tại Indrapura (Đồng Dương, Quảng Nam) gần thánh địa Mỹ Sơn, bắt giam sứ giả. Năm 982 sau khi đuổi quân Tống, Lê Đại Hành bèn thân chinh đem quân đánh trừng phạt Chiêm, vua Chiêm bị giết ngay trong trận, vua Lê tiến vào kinh đô, đốt phá đền đài và lấy được rất nhiều của cải rồi rút về. Từ năm 983 kẻ kế vị ngôi Chiêm là (?) Lưu Kỳ Tông xin triều cống vua Lê và chịu làm chư hầu.

Để tránh áp lực ngày càng lớn của nước Đại Cồ Việt mới tự cường, nên năm 1000 vua Chiêm Thành Sriharivamadeva một năm sau khi lên ngôi đã dời đô từ Indrapura (Đồng Dương, Quảng Nam) xuống Vijaya (có nghĩa là chiến thắng, mà ta âm là Đồ Bàn hay Chà Bàn) ở vùng Bình Định ngày nay. Từ đó các bia ký ở Mỹ sơn gọi các vua mới là vua của Vijaya (hay Vijaya Sri), và vua Sriharivamadeva sau khi qua đời đã được thần hóa là Yang Pu Ku.

Năm 1068, vua Chiêm là Rudravarman III (Chế Củ), kế vị vua Harivarman II, đem quân xâm lấn đất Việt ở phía bắc. Bấy giờ vua Lý Thánh Tông, người đã dời đô về thành Đại la, cải danh là Thăng Long thành và đổi quốc hiệu ra Đại Việt khi mới lên ngôi, đã quyết định thân chinh xuống đánh Đồ Bàn năm 1069, bắt và giải Chế Củ về Thăng Long. Để đổi lấy tự do, Chế Củ xin dâng đất ba châu phía bắc Chiêm Thành là Bố Chánh (Hà Tĩnh và bắc Quảng Bình), Địa Lý (trung và nam Quảng Bình), và Ma Linh (bắc Quảng Trị).

Đến năm 1074, hoàng thân Than lên ngôi xưng là Harivarman IV (1074- 1080), nước Chiêm Thành hưng thịnh trở lại và vua Harivarman IV cho trùng tu khu thánh địa Mỹ sơn. Sau khi hòa hoãn với Đại Việt, vua Harivarman IV xua quân đánh Lục Chân Lạp, chiếm Sambor (bắc Phnom Penh và đông hồ Tonle Sap), giết vua Harshavarman III, tàn phá kinh thành Somesvara (Angkor), bắt nhiều người Chân Lạp làm tù binh. Năm 1145, vua Suryavarman II của Chân Lạp phục thù, đánh Chiêm Thành chiếm Đồ Bàn, tàn phá khu thánh địa Mỹ sơn. Mãi đến năm 1149 vua Chiêm mới đuổi được quân xâm lược. Khi tu bổ Mỹ sơn vua Harivarman IV cho dựng bia đá ghi lại cuộc tàn phá thánh địa này.

Năm 1166, vua Indravarman IV, một vị vua Chiêm Thành rất anh dũng lại xua đại quân xâm lăng Chân Lạp cướp được nhiều của cải. Sử Miên còn ghi "Jaya (vua) Indravarman IV, vua Chàm, có tính tự phụ như Râvana, đã vận chuyển quân trên những chiến xa, tiến đánh xứ 'Kam Bu". Mười năm sau, năm 1177, Indravarman IV lại gởi thuỷ quân xuống phía nam, vào cửa sông Cửu Long, tiến ngược dòng lên đánh thành Angkor, tàn phá kinh đô, giết vua Tribhuvanadityavarman và chiếm đóng Chân Lạp. Sau trận này vua Chiêm cũng thu đoạt được vô số châu báu, viø thế vua Indravarman IV đã dâng cúng nhiều vàng bạc cho các ngôi tháp ở Mỹ sơn. Mãi đến năm 1181, Hoàng thái tử Chân Lạp mới đẩy lui được quân Chiêm Thành, và lên ngôi vua là Jayavarman VII nuôi chí phục thù.

Năm 1190 vua Chân Lạp Jayavarman VII sai các tướng đem một hoàng thân Chiêm lưu vong tên là Vidyanandana về đánh Chiêm thành, chiếm đóng Đồ Bàn và cướp hết các linh tượng, bắt và giải vua Indravarman về Chân Lạp, chia nước Chiêm Thành làm hai chư hầu: tiểu quốc Vijaya (Đồ Bàn) do người em vợ của vua Chân Lạp cai trị với vương hiệu là Suryavarmadeva, và tiểu quốc Pandaranga (Phan Rang), do một hoàng thân Chiêm Vidyanandana cai trị, nhưng tùy thuộc vào Chân Lạp. Không lâu sau, một hoàng thân Chiêm tên là Rasupati nổi lên đánh đuổi quân Chân Lạp, lên ngôi là Indravarmadeva ở Vijaya nhưng lại không tồn tại lâu, và bị quân Chân Lạp quay lại bắt giết vào năm 1192. Vua Suryavarmadeva được tái lập nhưng lại quay ra không phục tùng Chân Lạp, mà bang giao với Đại Việt và Trung quốc. Vua Chân Lạp Jayavarman VII liền tấn công Chiêm Thành trong các năm 1192 và 1193 nhưng đều thất bại. Mãi đến năm 1203, vua Chân Lạp mới chiếm được Vijaya, và biến Chiêm Thành thành một lãnh địa của Chân Lạp. Nhưng sau khi Jayavarman VII chết quân Chân Lạp phải rút quân, và Chiêm Thành mới giành lại được độc lập năm 1220 dưới thời vua Paramesvaravarman II, khi Chân Lạp bận rộn đối phó với những cuộc xâm lăng của Xiêm La. Từ đó chấm dứt cuộc tương tranh giữa Chiêm Thành và Chân Lạp đã kéo dài 32 năm.

Vì cứ can qua chiến tranh liên tục nên Chiêm thành trở nên suy yếu. Khi vua nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt (Qubilai) sai tướng Toa Đô (Sogatu) cầm thủy quân xuống đánh Chiêm Thành năm 1282, quân Chiêm chống cự không nỗi nên quân Nguyên vào Thị Nại, tàn phá kinh đô Đồ Bàn và chiếm đóng nước Chiêm trong vòng 5 năm, Chiêm vương Indravarman V, cùng thái tử Bổ Đích (Harijit) thoát lên vùng cao nguyên và cầu cứu Đại Việt. Vua Trần Nhân Tông gởi hai vạn quân và 500 chiến thuyền sang giúp. Đến khi quân Việt đánh bại được quân Mông năm 1287, cũng giải phóng luôn nước Chiêm, nên năm 1307 tân vương Simhavarman III (Chế Mân) tặng vua Trần anh Tôn 2 châu Ô và Lý để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Vua Chế Mân cũng xây dựng thêm nhiều ngôi tháp thờ phượng thần linh ở vùng Mỹ Sơn. Ba năm sau khi Chế Mân mất, vua Chế bồng Nga (Pô Bin Swơr) từng nuôi chí phục thù nên năm 1370 đã kéo quân thủy bộ đánh phá vào tận kinh đô Thăng Long, nhưng đến năm 1382 lại bị tử trận. Tuy vậy các vua Chiêm kế tiếp vẫn luôn gây chiến với nước Việt.

Vào thời kỳ này, lãnh thổ Chiêm thành khá rộng. Lảnh thổ Chiêm Thành trải dài từ các bình nguyên duyên hải nhỏ hẹp cho đến vùng rừng núi Trường Sơn cũng như các cao nguyên nam Trung phần ngày nay. Người Chiêm Thành không chỉ là người Chàm ở duyên hải là đa số mà còn gồm những nhóm dân thiểu số khác như giống Jarai, Rhade, Churu, Raglai, Stieng hiện vẫn còn sinh sống ở vùng Tây nguyên mà những câu tục ngữ vẫn còn lưu truyền như "Chăm anh, Raglai em" (Cam saai, Raglai adei), hoặc "Chăm với Raglai như hai anh em ruột" (Cam saung Raglai yơu adei ai sa tiam). Ngoài ra lịch sử Chàm còn cho thấy đầu thế kỷ 14, quốc vương Jaya Simhavarman III (Chế Mân) xây đền Yang Prong ở lưu vực sông Se San. Đền Yang Mun (gần Cheo Reo) ở lưu vực sông Ba và đền Phú Thọ gần Pleiku được xây dựng vào cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15. Vua Po Romê (mà bia ở tháp thờ tại Ninh thuận ghi là Pa Rrame) là người sắc tộc Churu, trị vì Chiêm Thành từ 1627 đến 1651, mở đầu một triều đại gồm 14 quốc vương kéo dài cho đến 1786.

Năm 1402, Hồ Quý Ly xâm lăng Chiêm thành ép vua Campadhiraya (Ba Đích Lại) nhường đất Indrapura - Chiêm động hay Đồng dương (Phủ Thăng biønh, Quảng Nam) và đất Amaravati - Cổ lụy (Quảng Nghĩa), rồi cải thành bốn châu là Thăng, Hoa, Tư và Nghĩa, đặt quan An phủ sứ cai trị và di dân vào khai khẩn. Khi quân Minh xâm lăng nước ta năm 1407, Chiêm Vương liền đánh chiếm lại vùng đất đã nhường năm năm trước.

Đến thời Hậu Lê: Dưới đời Nhân tông viø vua Chiêm là Ma Ha Bí Cái (Maha Vijaya) gây hấn đánh Hóa châu năm 1444, nên hai năm sau các tướng Lê Thụ và Lê Khả cầm quân đánh phá Đồ Bàn, bắt Bí Cái, đưa người khác lên thay, rồi rút quân về. Đến đời Thánh tông, vua mới của Chiêm Thành là Trà Toàn lại xua quân hai lần xâm lấn Hóa châu vào những năm 1468 và 1469, vua Thánh tông phải thân chinh kéo quân đánh dẹp và chiếm Đồ Bàn năm 1471 bắt giải Trà Toàn về giam ở Thăng Long. Vua Lê lấy vùng Amaravâti (Quảng Nam, Quảng Ngãi) và Vijaya (Bình Định) đặt thành "Quảng Nam thừa tuyên đạo" lấy đèo Cù Mông làm ranh giới, và chia phần đất Chiêm Thành còn lại làm ba nước nhỏ là Hóa Anh (Phú Yên, Khánh Hòa), Chiêm Thành, chỉ còn lại từ Phú yên đến mũi Kê gà (Phan Rang - Bình thuận), và Nam Phan (Gia Lai, Kontum, Darlac). Theo những tài liệu Mã Lai, khi Chiêm Thành bị Lê Thánh Tông tấn công năm 1471, một số quan chức triều điønh Chiêm Thành bị bắt, một số bỏ trốn qua Chân Lạp, Mã Lai tỵ nạn.

Vào thế kỷ thứ 16, người Chiêm Thành thường buôn bán với người Bồ Đào Nha ở Macao (Trung Hoa). Người Bồ Đào Nha hay ghé đến vùng Panduranga (Cam Ranh và Phan Rang ngày nay) và tài liệu của người Bồ Đào Nha đã ghi nhận sự hiện diện của thương thuyền Chiêm thành ở cửa khẩu sông Maenam (Menam), là cửa khẩu chính của nền ngoại thương Xiêm La.

Qua thế kỷ thứ 17, thời chúa Nguyễn: Năm 1611, nhân các bộ tộc người Chàm liên kết lại cùng đánh phá vùng biên giới phía nam, Nguyễn Hoàng sai chủ sự Văn Phong đem quân vượt đèo Cù Mông tiến chiếm vùng Phú Yên ngày nay, giữa Vijaya và Kauthara, đổi thành hai huyện Đồng xuân và Tuyên hóa. Sau đó không lâu vì thấy thuyền bè các nước Tây phương như Bồ Đào Nha và Hòa Lan đang lân la đến các hải cảng của Chiêm Thành. Sãi Vương Nguyễn Phúc Chu rất lo ngại, nên năm 1631 đã gả người con gái thứ ba là Nguyễn Phúc Ngọc Khoa cho vua Chiêm là Pô-Rômê để tạo sự hòa hiếu với Chiêm Thành. Sau năm 1639 thì cuộc giao thương giữa Chiêm Thành và người Bồ Đào Nha hầu như chấm dứt và người Chàm quay sang buôn bán với người Hòa Lan sau khi người Hòa Lan làm chủ Malacca vào năm 1641 và làm chủ con đường buôn bán hồ tiêu qua eo biển Malacca. Năm 1653, vua Chiêm là Bà Thấm, vốn là hậu duệ của hoàng gia Chân lạp, đem quân đánh phá Phú Yên nên chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần bèn sai cai cơ Hùng Lộc vượt đèo Cả sang trừng trị. Bà Thấm thất trận dâng thư xin hàng. Chúa Hiền lấy hẳn vùng Kauthara, lập thành phủ Thái Ninh, sau đổi thành phủ Diên Khánh, trong đó có thánh tích Chiêm là Po Nagar (Tháp Bà, Nha Trang ngày nay). Chiêm Thành chỉ còn lại vùng Panduranga, phía nam sông Phan Rang. Khi rút về vùng Panduranga, người Chàm tiếp tục lập thờ Thánh Mẫu Po Nagar ở một ngôi đền nhỏ ở làng Hữu Đức, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh thuận ngày nay.

Khoảng thời gian từ 1675 đến 1685, theo sử liệu của Thái lan đã cho biết một người anh em của quốc vương Chiêm Thành đến viếng triều điønh Xiêm La, có lẽ để cầu viện; và năm 1680 vua Chiêm còn gởi hai phái bộ đến Batavia (tức Jakarta, Indonesia ngày nay) để liên lạc ngoại giao.

Năm 1692, vua mới là Bà Tranh tự bỏ lệ triều cống. Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh (hay Kính) kéo quân xuống hỏi tội và đánh bắt được Bà Tranh và giải về Phú Xuân. Chúa Nguyễn lấy đất Chiêm Thành còn lại đặt ra Thuận phủ, năm sau lại đổi ra Thuận thành trấn. Đến năm 1697 chúa Nguyễn đặt ra Phủ Biønh thuận, lấy đất Phan lang, Phan lý làm huyện Yên phúc và huyện Hòa đa. Từ đó nước Chiêm thành mất hẳn, tuy vậy chúa Nguyễn vẫn cho người Chiêm còn lại được tự trị một vùng đất ở Bình Thuận cho mãi đến năm 1832, khi vua Minh Mạng ra lệnh bãi bỏ vùng tự trị. Người Chàm nổi dậy chống đối nhưng hai cuộc khởi nghĩa do Katip Sumat lãnh đạo từ 1833 đến 1834 và Ja Thak Va cầm đầu từ 1834 đến 1835 đều bị quan quân dẹp yên nhanh chóng. Trước kia những người Chàm theo Hồi giáo di tản sang định cư ở Ayudhya (bắc Bangkok, Xiêm La) đã tham gia vào một âm mưu lật đổ quốc vương Xiêm La và thay thế bằng người em của ông ta, vì thế triều đình Xiêm La cho phép những người Chàm tị nạn về sau, đến định cư ở vùng Bangkok. Con cháu những người nầy hiện vẫn sống tại đó.

Tuy nước Chiêm thành đã bị xóa nhưng cuộc nam tiến của dân Việt vẫn tiếp tục cho mãi đến năm 1714 sau khi thôn tính luôn vùng Thủy Chân lạp.

Lời Kết

UserPostedImage

Tóm lại, tháp Bà Nhatrang là chứng tích lịch sử tương đối còn nguyên vẹn nằm cạnh sông Eatran thuộc vùng Kauthara của nước Chiêm thành xưa. Dân tộc Chàm lập quốc rất sớm và kéo dài hơn 15 thế kỷ, từ năm 192 TL. cho đến lúc vong quốc vào năm 1697, với nhiều quốc hiệu từ Lâm Ấp, đến Hoàn Vương và sau cùng là Chiêm thành. Người Chàm đã có một nền văn hóa khá rực rỡ nhưng vì cứ mãi lâm vào vòng chinh chiến nên kiệt quệ dần. Riêng vùng Kauthara đã bị Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần xáp nhập vào đất Việt vào năm 1653. Với ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Ấn độ, khu tháp Bà ban đầu được người Chàm xây dựng để thờ các vị thần Brama, Vishnu và Shiva của Ấn Độ giáo; nhưng họ lại đặc biệt tôn thờ các thần Parvati hay Uma là những biến tướng nữ của thần Shiva, được xưng tụng là Po Nagar (Thánh Mẫu) để cầu mong Bà che chở cho dân tộc Chàm. Đến khi người Việt làm chủ vùng này thì Bà được Việt hóa thành Thiên Y Ana.

Ngẫm cũng bồi hồi cho thế sự, thần linh cao cả rốt lại cũng không bảo vệ được cho một dân tộc luôn tôn thờ cầu khẩn khỏi bị diệt vong. Rồi một khi nước mất nhà tan, tín đồ phát tán để thần linh ở lại bơ vơ với kẻ lạ, cả tên cũng bị đổi. Thương thay!

B.S. Trần Văn Ký
Seattle, Mùa thu 2000 - bổ sung 2004.

Tái Liệu Tham Khảo

1) Việt Nam Sử Lược, Q. 1, Trần Trọng Kim, Bộ Giáo Dục, TTHL, SG 1971, Đại Nam CA tái bản.

2) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Dịch theo bản năm Chính hòa thứ 18, VKHXHVN, Hà Nội. 1998.

3) Tháp cổ Chămpa: Sự thật và Huyền thoại, Ngô Văn Doanh, NXBVHTT-Hà Nội, 1994.

4) Bí ẩn về những chiếc gương cổ được tiøm thấy trong các di chí Champa ở miền trung Việt

nam. Hồ Xuân Em, NXB Đà Nẵng, 1999.

5) The Encyclopedia of Eastern Philosophy & Religion, Shambhala, Boston 1994

6) The Encyclopedia of the World's Religions, R.C. Zaehner, Barnes & Noble Books, New York,

1997.

7) Chiêm Thành Vì Đâu Suy Thoái, TK 21, Trần Gia Phụng.

8) Khmer, The Lost Empire of Cambodia, Thierry Zéphir, Discoveries - Harry N. Abrams, Inc.

Publishers, N.Y. 1998.

9) The Land and People of Cambodia, David P. Chandler, 1991, Harper Collins Publishers, N.Y.

10) Angkor, Đế Thiên Đế Thích, Lê Hương, Xuân Thu CA tái bản

11) Discovery-The world of science, Mar 1996 - Empire of Uniformity, Jared Diamond

12) Microsoft Encarta 97.

13) Britannica.com

14) Nhiều tài liệu trên Internet.

Edited by user Sunday, April 19, 2020 12:31:34 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Mắt Buồn  
#1746 Posted : Friday, April 24, 2020 12:56:38 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,309

Thanks: 668 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
[b] Tu FB Sophie Hong Mai[/b]

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

Chiều qua làm 2 loại :

**GIÒ BÒ Tiêu,Tỏi ( Đà Nẵng).Mình rất ưa tiêu hạt,ăn chả cắn nhằm miếng tiêu hạt thơm thơm,thú vị lắm

**CHẢ BÒ Thì Là.Mình cũng mê thì là nên .....lỡ tay bỏ hơi nhiều .....nhưng ngon quá là ngon( ý riêng mình).

Có ai thích làm giò bò hương vị Đà Nẵng hoặc Chả Bò Thì Là huơng vị miền Bắc thì tối nay mình sẽ ghi CT ra nhé.

CÁCH LÀM:

Nguyên tắc chung cho sự thành công khi làm chả là khi xay xong thì thịt vẫn phải còn thật lạnh thì chả mới bảo đảm sự dai giòn.Nếu được máy xay mạnh có năng xuất cao thì lý tường vì ko phải xay lâu,thịt sẽ nguội dễ bỡ!!!!!

NGUYÊN LIỆU:

- 1 kg (2 lbs) thịt bò xay (ground beef loại thường bán sẵn ngoài chợ). Nhớ chọn loại ít mỡ 90-96% lean, tức chỉ có 4% -10%mỡ.
- 3Tbsp (M canh)nước mắm ngon
- 1Tbsp Hạt nêm
- 1 Tbsp đường hơi vung
- 2Tbsp bột khoai Tây (Potato Starch).Có thể thay thế bằng Corn starch(bột bắp)
- 1 tsp ( m cà phê)bột nổi Alsa( baking powder ).Mình thấy nhiều ng khen hiệu Alsa làm cho chả giòn dai hơn nên mình dùng hiệu này.

.- 3Tbsp dầu ăn.
-1/2 tsp tiêu xay
-1 tsp tiêu nguyên hạt
.- 1 Tbsp tỏi xay nhuyển
- 1tsp hành xay nhuyễn
- 6-7 Tbsp nước đá lạnh
-
***CÁCH LÀM:

Thịt để ngăn đá cho hơi đông đá như kem, sau đó lấy ra trộn với toàn bộ gia vị trên, trừ nước lạnh rồi cho từng ít một vào máy xay khoảng 1 phút, trong khi xay thì rót từ từ nước lạnh vào thịt. Thịt sau khi xay xong thì cho vào ngăn đá để cho đông lại như kem rồi lấy ra xay lần 2, cũng chia làm nhiều mẻ nhỏ và xay không quá 1 phút.

-Thịt sau khi xay xong lẩn 2.Sau đó lại cho vào tô bao kín để tủ lạnh khoảng 2 tiếng cho thịt lạnh rồi lấy ra gói (tham khảo nhiều video trên mạng để biết cách gói lá chuối)

Đợi nước sôi , hạ thấp lửa để chả vào hấp khoảng 30,35 ‘,tắt lửa nhưng vẫn để chả trong nồi cho đến khi nguội mới lấy ra.Như
thế chả mới giữ được độ dai giòn.

***Các bạn gia giảm gia vị tuỳ theo khẩu vị thích hợp nhé.

Lưu Ý:Thịt khi xay lúc nào cũng phải còn thật lạnh thì mới giòn,mới dai.Xay lâu quá thì thịt sẽ bị bỡ.( Nếu có máy công suất cao thì rất tốt).

CHẢ BÒ THÌ LÀ thì chỉ việc trộn một nắm tay thì là cắt nhỏ vào .Lấy khuôn tráng một ít dầu,kế ém chặt chả đem nướng ở nhiệt độ thấp cở 320F khoảng 40’ là chả chín (Nhớ canh chừng vì mỗi lò có nhiệt độ khác nhau).

Nhà ai ko có lò nướng thì có thể hấp chín,sau đó chiên lại với lửa nhỏ cho vàng đều 2 mặt.

Chúc cả nhà thành công .Lúc trước mình cũng sợ,ko dám thử các món chả.Nhưng khi thành công rồi lại thấy thích....ko còn ngại nữa

hongvulannhi  
#1747 Posted : Sunday, April 26, 2020 8:24:28 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)

3 cách tập dưỡng sinh dễ nhớ


April 15, 2018

Dưỡng Sinh

Gan, thận, não là 3 bộ phận quan trọng trên cơ thể cần phải chăm sóc mỗi ngày. GS Lý Thiết Hồng nhắn nhủ, nếu việc đơn giản còn chưa kiên trì làm được, thì sức khỏe sẽ tìm ở đâu?

Đông y quan niệm: Dưỡng sinh là dưỡng mệnh. Giáo sư Lý Thiết Hồng là một trong những nữ bác sĩ nổi danh ở Trung Hoa với những thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực y khoa, đóng góp lớn trong công cuộc chăm sóc sức khỏe toàn dân tại Trung Hoa.

Đặc biệt trong đó là các bí quyết dưỡng sinh đơn giản, hiệu quả. Giáo sư Hồng chia sẻ, nhiều người luôn nghĩ rằng mình rất quan tâm đến sức khỏe, trên thực tế lại chứng minh điều ngược lại. Không phải ai cũng “nói là làm”, mỗi người đều quan tâm chăm sóc sức khỏe hàng ngày và đúng cách.

Khi đề cập đến vấn đề dưỡng sinh (cách chăm sóc sức khỏe chủ động và dài hạn), nhiều người còn nghĩ rằng đó là một việc cao siêu xa vời, chỉ khi cảm thấy ốm mệt, đi khám, có bệnh thì mới cần đến sự chăm sóc.

Theo giáo sư Hồng, điều này là sai lầm nghiêm trọng nhưng rất nhiều người mắc phải.

Trên thực tế có nhiều cách dưỡng sinh không hề quá xa vời đối với khả năng của chúng ta. Vừa có thể thực hiện một cách dễ dàng, mang lại hiệu quả lâu dài. Chỉ có điều, sự khác biệt nằm ở chỗ, người kiên trì và người thiếu kiên trì sẽ nhận được những kết quả khác nhau. Sau đây là 3 cách dưỡng sinh tốt cho gan, thận, não trong chuỗi những bài tập dưỡng sinh phổ biến của Đông y. Giáo sư Hồng khuyên bạn đọc thử xem liệu có quá khó hay không?

1. Nhắm mắt để chăm sóc gan

◾Cổ nhân nói rằng, chỉ cần bạn nhắm mắt, là bạn đang chăm sóc gan của mình rồi đấy. Theo Đông y, gan kết nối với mắt. Khi mắt có các triệu chứng như khô, ngứa, gió thổi vào mà bị chảy nước mắt được xem là một trong những dấu hiệu bệnh về mắt phát sinh có liên quan đến sức khỏe của gan.

– Chảy nước mắt khi đi trong gió: Là dấu hiệu thể hiện chức năng thải độc, khả năng thu nạp của gan không đủ.

– Mắt bị khô: Là dấu hiệu cho biết tinh huyết trong gan bị thiếu. Cần bổ sung chất giúp máu trong gan trở nên đầy đủ và dồi dào hơn.

Cách thực hiện:

UserPostedImage

Nhắm mắt lại, dùng ngón tay trỏ ấn vào mí mắt, nhẹ nhàng ấn xoa vào vùng tròng mắt cho đến khi cảm thấy dễ chịu, thư giãn. Đây cũng là cách trực tiếp thực hiện việc tẩy rửa mắt khi có cặn bã do bụi tích tụ ở hốc mắt, làm sạch và sáng mắt. Nhắm mắt dưỡng gan có thể thực hiện bất kỳ lúc nào trong ngày, thời gian dài hay ngắn là tùy ở bạn. Phương pháp này không chỉ tốt cho gan, mà còn cải thiện thị lực, giảm mệt mỏi mắt và nhiều tác dụng khác.

2. Kiễng chân để chăm sóc thận

◾Kiễng chân là một bài tập thể dục có tác dụng bổ khí, dưỡng khí, nâng cao khả năng, sức mạnh cho hệ hô hấp. Việc làm này không chỉ thúc đẩy cung cấp đủ oxy vào máu để phục vụ cơ tim hoạt động, mà còn có thể đảm bảo sức khỏe tim mạch ổn định, tăng cường sức mạnh cơ chân, làm khỏe mắt cá chân và ổn định sức khỏe toàn bộ chi dưới.

Cách thực hiện:

UserPostedImage

Đứng kiễng chân cao nhất có thể, mỗi lần kiễng thì cố gắng làm sao để tăng dần thời gian kiễng chân. Khi mới tập nên bám vào tường hoặc vật bám thuận tiện. Sau khi đã thạo cách này thì bạn bắt đầu tập kiễng đi từ 30 đến 100 bước, tăng từ ít đến nhiều. Trong quá trình kiễng chân bước đi, có thể dừng lại nghỉ một chút rồi tiếp tục. Tự điều chỉnh độ cao khi kiễng và số bước chân trên nguyên tắc cảm thấy thoải mái dễ chịu, trong khả năng tập luyện của bản thân để không bị chán, bỏ cuộc. Nếu là nam giới, nên tranh thủ thực hiện động tác kiễng chân ngay cả khi đi tiểu tiện. Việc này mang lại tác dụng chăm sóc thận hiệu quả, đơn giản mà không mất nhiều công sức. Phụ nữ khi ngồi đi vệ sinh, cũng có thể nhón đạp chân liên tục, tận dụng thời gian để thực hiện và duy trì nó như một thói quen “một công đôi việc” để bổ thận, lợi tiểu.

3. Xoay cổ, đầu để chăm sóc não

◾Nhiều người mới chỉ quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe thân thể, mà chưa dành thời gian tham khảo các giải pháp để chăm sóc sức khỏe tinh thần, đặc biệt là não bộ và thần kinh.

Trong Đông y, quan niệm “tâm thân bất nhị” luôn là triết lý chữa bệnh hàng đầu. Tinh thần và thể chất luôn song hành với nhau, khỏe cùng khỏe và yếu cùng yếu. Tâm có an thì thân mới đỡ bệnh và ngược lại.

Vì vậy, theo giáo sư Lý Thiết Hồng, việc chăm sóc sức khỏe tinh thần là yêu cầu vô cùng quan trọng. Thậm chí trong nhiều trường hợp, chính tinh thần là “vũ khí” để chữa các bệnh cho thân thể, tấn công trở lại vào cơ thể để loại bỏ bệnh tật.

Cách thực hiện:

UserPostedImage

Khi bạn rảnh, ngồi xem tivi hay ngồi trò chuyện, có thể xoay các khớp cổ, cúi ngửa đầu. Ngồi hoặc đứng thẳng người, hai tay buông xuôi. Xoay cổ theo hình vòng tròn và ngược lại. Tối thiểu 5 vòng. Rồi cúi/ngửa đầu, nghiêng đầu sang trái/phải. Biên độ cúi ngửa cố gắng hết khả năng tối đa. Khi cúi cằm chạm ngực, khi ngửa, cổ thẳng căng hết cỡ, giữ trong tư thế đó 15 giây. Tối thiểu 5 lần. Thực hiện bất kỳ thời gian nào trong ngày đều được.

Cách làm này có tác dụng cải thiện sự vận hành của máu lên não, giúp cho não không bị thiếu khí huyết mà dẫn đến đau đầu, chóng mặt, tư duy chậm. Thường xuyên thực hiện sẽ cải thiện tình trạng sức khỏe của não bộ, từ đó tăng sức khỏe tinh thần, hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan đến hệ thần kinh. Cải thiện tình trạng bệnh thần kinh suy nhược dẫn đến khó ngủ, mất ngủ. Người mắc các bệnh này càng phải kiên trì thực hiện cho đến khi có thể dễ dàng đi vào giấc ngủ trong thời gian ngắn, ngủ sâu hơn.

Lý Thiết Hồng là giáo sư, viện trưởng Viện nghiên cứu Trung Y Dương Quan Bắc Kinh (TQ), bà cho rằng cả 3 việc trên đều đơn giản, ai cũng có thể thực hiện được. Nếu không kiên trì, thì bạn đang muốn tìm sức khỏe ở đâu?

*Theo Health/LiTieHong
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Mắt Buồn  
#1748 Posted : Friday, May 1, 2020 7:19:55 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,309

Thanks: 668 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Đừng Quên Xà Lách Xoong


Việt Hải
Los Angeles

Người viết xin dùng nhập đề luân khởi trước khi tiến vào mục tiêu, như đầu năm người ta cần dài dòng, cần tả oán.Đầu năm thì cái gì cũng cái gì dư thừa là sự biểu kiến tốt đẹp, sự khiếm hụt, ít lời, chúc ít, tí tẹo, kẹo kéo chắc chắn sẽ không nên. Hãy vô đề đi vậy.

Rau xà lách xoong vốn thông dụng với chúng ta, nó vốn phổ thông, và rẻ tiền. Các món về rau xà lách xoong như xà lách xoong nầu canh chả cá thác lác, nộm xà lách xoong (rau tươi trộn dầu dấm, hột gà luộc, tôm bò xào củ hành, cà tomate), xà lách xoong ăn với món cá chiên, hay xà lách xoong dùng trong các món lẩu hay tả pí lù,.. tùy theo ý thích của từng người.

UserPostedImage

Xà lách xoong có 2 loại: loại cọng nhỏ, loại thân to mà chúng ta thường thấy tại xứ Mỹ. Để tìm hiểu về rau xà lách xoong, mà tự điển Wikipedia gọi là Cải xoong, tiếng Anh là watercress, tiếng Pháp là cresson, theo danh pháp khoa học là Nasturtium officinale hoặc Nasturtium microphyllum; cải xoong là một loại thực vật thủy sinh hay bán thủy sinh, sống lâu năm và lớn nhanh, có nguồn gốc từ châu Âu tới Trung Á và là một trong số những loại rau ăn được con người dùng từ rất lâu. Các loài thực vật này là thành viên của họ Cải (Brassicaceae), về mặt thực vật học là có họ hàng với rau tần và rau mù-tạc (mustard), tất cả chúng đều đáng chú ý vì có mùi vị hăng hắt, hơi nhẫn và cay nhẹ.

Thân của cải xoong trôi nổi trên mặt nước và lá của nó là loại lá phức hình lông chim. Cải xoong sản sinh ra các hoa nhỏ màu trắng và xanh lục, mọc thành cụm. Nasturtium nasturtium-aquaticum và Sisymbrium nasturtium-aquaticum là các từ đồng nghĩa của N. officinale. Nasturtium officinale thứ microphyllum (Boenn. cũ Reich.) Thellung là từ đồng nghĩa của N. microphyllum (ITIS, 2004). Các loài này cũng được liệt kê trong một số nguồn là thuộc về chi Rorippa, mặc dù các chứng cứ phân tử chỉ ra rằng các loài thực vật thủy sinh với thân rỗng có quan hệ họ hàng gần gũi với Cardamine hơn là so với Rorippa (Al-Shehbaz & Price, 1998). Lưu ý là mặc dù tên khoa học của chi cải xoong là Nasturtium, nhưng chi này không có họ hàng gì với các loài sen cạn trong chi Tropaeolum (họ Tropaeolaceae) mà trong dược danh Anh ngữ thông thường người ta cũng gọi là "Nasturtium".

Về trồng trọt thì trên thực tế, người ta trồng cải xoong ở cả phạm vi lớn lẫn phạm vi trong vườn nhà. Là loại cây (bán) thủy sinh, cải xoong rất phù hợp đối với việc trồng trong nước, phát triển tốt nhất trong nước hơi kiềm. Thông thường người ta trồng nó xung quanh vùng thượng nguồn của các dòng nước chảy qua vùng đá phấn. Tại nhiều thị trường khu vực thì nhu cầu về cải xoong vượt xa khả năng cung cấp. Có điều này là do lá cải xoong không thích hợp cho việc phân phối trong dạng khô và chỉ có thể lưu giữ trong một thời gian ngắn. Nếu mọc hoang dã thì cải xoong có thể cao tới 50-120 cm. Người ta cũng bán cải xoong trong dạng cây rau non, trong trường hợp này người ta thu hoạch thân cây ăn được chỉ vài ngày sau khi hạt nảy mầm.

Bàn sâu về nguồn gốc và kỹ thuật trồng cải xà lách xoong, loài rau này có nguồn gốc Châu Âu, ngày nay được trồng ở phía Tây Châu Á và nhiều nước trong vùng nhiệt đới như Mã Lai, Ấn Độ, Nam Dương, Phi Luật Tân, Việt Nam,… và ở phía Bắc Châu Phi. Cải xoong giàu Calcium (64 mg), sắt (1,1 mg), vitamin A, C,… Ở Việt Nam cải xoong được trồng chủ yếu ở vùng cao, có khí hậu mát như miền Bắc, Đà Lạt, Bình Thuận. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, Quận Bình Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long là nơi trọng điểm trồng nhiều rau xà lách xoong, có truyền thống từ lâu đời, không những cung cấp cho vùng đồng bằng và cho cả Sài Gòn. Ngoài ra tỉnh An Giang, Cần Thơ cũng có trồng nhưng diện tích không đáng kể lắm.

Đặc tính sinh học, thân cải non, mềm, xốp dài 20 – 60 cm, mỗi lóng thân dài 1 – 5 cm tùy thuộc rất lớn vào thời tiết và sự chăm sóc, mỗi mắt có thể mọc một cành. Lá kép có 3 – 9 lá phụ, lá đỉnh to nhất, lá cải hình tròn nhỏ màu xanh đậm, rìa lá răng cưa. Cải xoong thuộc loại rễ chùm, có nhiều rễ phụ ở đốt thân có thể hút chất dinh dưỡng và nếu đem trồng sẽ thành cây độc lập. Cải xoong rất thích sống ở nơi nhiều đất bùn, sống dưới nước, độ ngập khoảng 4 – 5 cm nơi có dòng nước chảy như ở dưới chân của thác nước, mực nước sâu thì thân cải mọc dài. Cây sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 15 – 200C, ở độ cao trên 1000 m so với mặt nước biển (như vùng Đà Lạt). Độ pH của đất thích hợp nhất 6 – 7, không sống được trong đất phèn, đất mặn hoặc đất cát trong mùa nắng. Cây rất thích độ ẩm cao, cần nước tưới thường xuyên.

Về kỹ thuật canh tác, việc chọn giống rất quan trọng cho người nông dân vì năng suất, cũng như thị hiếu và nhu cầu. Các giống hiện đang canh tác là giống địa phương, qua chọn lọc cho thấy nó phù hợp với điều kiện canh tác ở địa phương như chống chịu sâu bệnh, chịu nhiệt cao, cho năng suất ổn định, phẩm chất rất ngon, phù hợp với thị hiếu người tiêu thụ.

Thời vụ của xà lách xoong là trồng được quanh năm, mùa thuận là trồng vào các tháng giáp Tết 11 – 12 dl, thời tiết mát mẻ, thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng và cho năng suất cao. Rau cần tưới đủ ẩm, tưới sương sương, mong mỏng lên lá, chĩu khó tưới nhiều lần trong ngày. Mùa nắng ta tưới trung bình 1 giờ một lần, chừng 10 – 16 lần trong ngày thôi nhe. Mùa thu hoạch là vào mùa nắng khoảng 60 ngày sau khi cắt lứa trước là thu hoạch. Trồng từ tháng 09 – 12 thì thu hoạch vào khoảng 35 ngày sau khi thu hoạch lứa trước. Thu hoạch trung bình từ 6 – 8 lứa trong năm. Năng suất trung bình từ 8 – 10 tấn/ ha/ vụ.

UserPostedImage

Giá trị dinh dưỡng, cải xà lách xoong chứa một lượng đáng kể sắt, calcium và folic acid cùng với các vitamin A và C. Tại một số khu vực, cải xoong được coi là cỏ dại nhưng tại những khu vực khác thì nó lại được coi là rau ăn hay cây thuốc. Ở những khu vực mà cải xoong mọc có nhiều chất thải động vật thì nó có thể là nơi trú ẩn cho các loại động vật ký sinh như sán lá gan cừu Fasciola hepatica.

UserPostedImage

Người ta cũng liệt kê một số lợi ích cho việc ăn cải xoong, chẳng hạn việc nó có tác dụng như một chất kích thích nhẹ, một nguồn hóa chất thực vật, có tác dụng chống ốc-xýt hóa, lợi tiểu, long đờm, hen suyển, bệnh đường phổi, nhuận trường và trợ giúp tiêu hóa. Phần kế của bài người viết sẽ bàn thêm về lợi ích của rau này cho sức khỏe con người.

Bây giờ hãy bàn về loại kỳ diệu này, tin cho biết là rau cải xoong có khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư ví. Tôi vốn kỵ danh từ "vú", nên xin phép được ghi trại như "ví" nghe thanh tao và bớt thô hơn. Món rau quen thuộc không chỉ mang lại 9 loại vitamin và khoáng chất, mà còn giúp ngăn chận căn bệnh ung thư ví, một nỗi kinh hoàng của chị em phụ nữ dễ thương trên hoàn vũ.

Rồi tin thêm từ tờ Telegraph và Foodconsumer cho biết, tìm hiểu trên một nhóm bệnh nhân ung thư ví sống sót, được ăn cải xoong mỗi ngày, nhóm nghiên cứu từ Đại học Southampton bên Anh quốc tìm thấy, chỉ vài giờ sau khi ăn 80 gram cải xoong, hàm lượng hợp chất chống ung thư trong máu của họ đã cao hơn đáng kể. Hợp chất này có tên gọi phenethyl isothiocyanate, nó vốn tạo vị cay nóng cho cải xoong đã ngăn chận protein kích thích sản xuất hypoxia - tác nhân khiến khối u tăng sinh. Cải xoong cũng giúp làm tắt nghẽn các tín hiệu mà tế bào ung thư gửi đi để yêu cầu cơ thể cung cấp thêm máu và oxygen.

“Tôi ngạc nhiên khi thấy chỉ ăn một lượng nhỏ cải xoong mỗi ngày cũng làm thay đổi đáng kể hợp chất chống ung thư trong máu. Nó có tiềm năng tạo ảnh hưởng tương tự trên các loại ung thư khác”, giáo sư Graham Packham, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết như thế.

UserPostedImage

Xà lách xoong với thịt bò xào

Thực tế, đây không phải là lần đầu tiên cải xoong được phát giác điều lý thú này là có thể chống lại bệnh ung thư. Năm 2007, công trình của các nhà khoa học Do Thái cũng đã tiết lộ rằng ăn một lượng cải xoong mỗi ngày sẽ làm giảm những hư tổn ADN trong tế bào máu và được xem là những yếu tố khơi mào cho ung thư.

Xà lách xoong vì chứa nhiều khoáng chất và có khả năng kháng ung thư. Chuyện xưa kể rằng khi đi tìm một nơi dùng để chữa bệnh, y tổ sư Hippocrates đã chọn địa điểm gần một bờ suối, nơi ấy mọc đầy những cọng xà lách xoong xanh tươi để ông có thể dùng chúng chữa trị cho bệnh nhân.Tôi tự hỏi nếu như y tổ sư đã biết chuyện này từ khuya mà tại sao các danh y Việt Nam ta không khai thác kịp thời, hỡi những me-sừ Peter Morita, Trần Văn Thuần, Vũ Văn Tùng, Vương Ngọc Long, Phạm Gia Cổn, Nguyễn Ý Đức, Trương Ngọc Thạch, Mùi Quý Bồng, Trần Văn Khang hay Phạm Anh Dũng? Mà thôi thì trễ còn hơn không nhé.

Rau xà lách xoong khi xưa mọc nơi hoang dã, nên nai, thỏ xơi líu lo, từ khi con người sinh mau đẻ nhanh, con người dành phần xà lách xoong thiên nhiên, rồi nảy sinh ra canh tác, sản xuất qui mô. Tuy vậy chợ Mễ nơi tôi ở khi nông gia được mùa thì xà lách xoong là thực phẩm của người nghèo, một đô xanh được 3 bó, chỉ mắc hơn hành xanh, ta trả một đô xanh được 4 bó hành. Giới y khoa dinh dưỡng cũng loan truyền là hành xanh cũng ngăn ngừa ung thư luôn. Nhưng bài viết này không dành chỗ dứng cho hành xanh, hẹn khi khác vậỵ

Voila, cỏ hoang xà lách xoong của những ngày xưa thân ái khi thiên nhiên vừa chớm nụ khai mở, nhưng rồi cũng có lúc xà lách xoong là vị cứu tinh cho nhân loại. Trong quá khứ, đã từng xảy ra những cơn đại hạn khắp châu Âu làm cho nguồn cung cấp lúa mì trở nên thiếu hụt trầm trọng, lúa mì chỉ dành để cung cấp cho những giới giàu có, danh gia vọng tộc, thời bấy giờ xà lách xoong bỗng được vinh danh là “thực phẩm của người nghèo”. Văn học ghi nhận cụ Nguyễn Công Trứ cho thơ "Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch", tôi không rõ cụ Uy Viễn tướng công này xơi luôn rau xà lách xoong vốn mang bản sắc bình dân trong những buổi ăn nhỉ?

UserPostedImage

Canh tôm xà lách xoong

Xà lách xoong rất dồi dào các chất beta-carotene, vitamin B1, vitamin B6 và những vitamin tan trong dầu như vitamin E, vitamin K. Nó cũng chứa một hàm lượng cao các khoáng chất cần thiết cho cơ thể như iodine, sắt, calcium, magnesium, kẽm... Đặc biệt, một thành phần vô cùng sáng giá hiện diện trong xà lách xoong chính là quercetin. Đây là một hợp chất flavonoid đóng vai trò quan trọng cho yếu tố kháng viêm, đồng thời cũng là một chất thiên nhiên có chức năng chống dị ứng. Bản thân quercetin cũng là một kháng tố hữu hiệu chống sự ôc-xýt hoá, giúp cơ thể loại trừ các phân tử gốc tự do (free radicals).

Này các bà nội trợ nhà ta khi cho xà lách xoong nấu ở nhiệt độ cao(high heat) sẽ hỏng bét cả nhé. Ở nhiệt độ cao những hợp chất quý giá hiện diện trong xà lách xoong sẽ bị vô hiệu hoá bởi sức nóng sẽ tiêu hủy những tinh chất dinh dưỡng.

Từ ngàn xưa, Y tổ sư Hippocrates đã từng dùng xà lách xoong để chữa các bệnh cảm, ho, các bệnh về đường phổi, suyễn, táo bón,... Y học cổ truyền ở một số nước đã dùng xà lách xoong để hỗ trợ cho bệnh nhân lao, thấp khớp, đau lưng, thiếu máu, nhuận trường, tiểu đường, tim mạch, giảm thị lực, sỏi mật. Đặc biệt, xà lách xoong có thể dùng để giúp bệnh nhân cai nghiện rượu, thuốc lá. Như đã đề cập, theo kết quả nghiên cứu từ bên Anh quốc, bản phúc trình đã kết luận rằng trong xà lách xoong có chứa một hợp chất gọi là phenylethyl isothio cyanate (PEITC), chất này có khả năng ngăn chặn lại những quá trình gây tổn hại DNA trong bạch cầu, sự tổn hại DNA trong bạch cầu sẽ gây ra cho các tiến trình phát sinh ung thư. Nhờ đó, xà lách xoong có khả năng kháng ung thư.

Như phần trên trình bày, rau xà lách xoong dễ trồng và dễ thu hoạch, có thể tìm thấy loài cây này mọc hoang dọc theo những bờ ao, bờ suối. Xà lách xoong cũng rất dễ chế biến trong kỹ thuật bếp núc.

Thôi thì tóm lại, ông bà ta bảo rằng "Đói ăn rau, đau uống thuốc". Nhưng rồi càng về sau giới y dược khoa, giới vi sinh hóa lại ngay tình hay cố ý quảng bá rầm rộ cho ý niệm "Đói ăn rau thì đau chả cần uống thuốc". Mấy ông y sĩ gia đình bảo là mỗi ngày xơi một quả táo thì ta sẽ chả cần các ông bác sĩ đề nghị ra ý niệm này nữa. Về rau xà lách xoong thì nam phụ lão ấu nên xơi nhiều vào, theo tin thống kê của cơ quan CDC (Trung Tâm Kiểm Soát và Ngăn Ngừa Bệnh Tật), NIH (National Cancer Institute, Viện Ung Thư Quốc Gia) và ACS (American Cancer Society, Hội Ung Thư Huê Kỳ) thì vào năm 2007 đã có 202,964 vị phụ nữ dễ thương được chẩn đoán bị ung thư ví, và đã có 40,598 vị phụ nữ dễ thương giả biệt kiếp nhân sinh. Phe húi cua testosterone xin đừng tưởng bỡ là phe ta được miễn nhiễm ung thư ví nhé. Hiện nay số đàn ông bị ung thư ví không nhiều, Mặc dù tỉ số còn khiêm nhường lắm, chỉ chiếm 1/100 các vụ ung thư ví, bệnh ung thư ở đàn ông cũng phát triển tương tự như ở phụ nữ vì ý niệm nam nữ bình quyền, người nam không chịu thua người nữ bao giờ và bệnh ung thư ví chủ yếu tấn công những người nam dễ thương ở độ tuổi sồn sồn như trên 60.

Lần đầu tiên một nhà nghiên cứu Mỹ đã quan tâm đến phản ứng của những người nam mày râu testosterone khi đối diện với căn bệnh ung thư ví đàn ông, giới nam nhi nhà ta sẽ xanh mặt khi khám phá ra ở đầu núm ví của mình bị nổi u sao mà ngồ ngộ, xin chớ xem thường nhé. Loại bệnh ung thư vú phổ biến nhất ở đàn ông xuất hiện bất thần trong các tuyến ví với những triệu chứng như sau: một khối u nhỏ không đau trong vú và núm vú hơi chảy nước. các bạn nam nhi dược khuyên là khi di tắm nhớ kiểm tra núm ví của mình xem nếu có khối u ngồ ngộ xuất hiện, ở thời buổi heo lỡ mồm, bò long móng thì giới nam nhi được khuyến khích đi khám mammogram hằng năm là chuyện thường tình, an toàn cho đời sống. Okay rồi nhé. Bản phúc trình y khoa Anh quốc cho biết bệnh ung thư ví ở các ông mày râu dễ thương được điều trị tương tự như ở phụ nữ dễ thương. Người viết bóp trán suy nghĩ có thể do sự việc nam nữ bình quyền, đúng không chứ?

Bà Édie Pituskin là nữ y tá ở Viện Ung Thư Cross và sinh viên thuộc Đại học Alberta (Canada). Bà đã thực hiện nghiên cứu ở 20 người đàn ông dễ thương mắc bệnh ung thư ví tuổi từ 44 đến 85. Bà đã tìm hiểu điều gì xảy ra trong cuộc sống của họ sau khi được chẩn đoán bệnh và phản ứng của họ đối với xã hội và người thân. Phản ứng đầu tiên là sốc. "Đàn ông thường không biết rằng họ có thể mắc căn bệnh này", bà Pituskin nói. Sau đó là các phản ứng khác nhau từ những người đàn ông dễ thương vì ngượng ngùng nên không dám tiết lộ cùng ai đến những người muốn phổ biến cho mọi người hiểu rõ.

Một người đàn ông đã can đảm quyết định báo động khi loan truyền nguy cơ ung thư ví ở người nam cho những người cùng phái, thậm chí đã cởi áo tại nơi làm việc để cho mọi người thấy căn bệnh của mình. Một người khác cho biết mình cảm thấy hoàn toàn sụp đổ, không còn ham muốn về tình dục đối với phụ nữ. Đa số khẳng định rằng không thể bơi nếu không mặc áo thun vì sợ gây sự chú ý của mọi người.

Với nghiên cứu này, bà Pituskin hy vọng tạo ý thức đối với đàn ông về căn bệnh này, không những khuyến khích họ đến khám bác sĩ, mà còn giúp các chuyên gia về y tế có kiến thức đặc biệt về căn bệnh để có thể chẩn đoán sớm. Quý vị đàn ông nghĩ sao khi ACS hay ACA ngày nào đó ra khuyến cáo hằng năm vợ chồng nên rũ nhau đi khám mammogram cho vui chung ? cho an toàn ? Cuộc sống không thể đoán điều gì sẽ xảy ra kế tiếp.

Lời cuối để tránh những phiền phức của căn bệnh hi hữu ung thư ví của đàn ông, những khuyến cáo của bà Édie Pituskin của Đại học Alberta bên Canada được trả lời bởi tờ Telegraph và Foodconsumer, như tin do giáo sư Graham Packham, cầm đầu nhóm nghiên cứu từ Đại học Southampton bên Anh quốc khuyến cáo bà con hãy xơi rau xà lách xoong thường hơn, toa thuốc thiên nhiên màu nhiệm, vốn rẻ tiền, mà lại dễ nuốt.



Mỗi dịp đầu năm mới, chúng ta cùng nhau làm một điều ước nguyện mới (New Year's resolution). Năm 2011 này xin các vị nam nhân mày râu can trường cùng những vị phụ nữ dễ thương hãy cùng nhau xơi rau xà lách xoong thì căn bệnh ung thư ví chỉ là chuyện nhỏ, không đáng lo ngại đâu quí vị nhé. Kính chúc tất cả vạn sự an bình trong cuộc sống.

Việt Hải Los Angeles

* Tham khảo:
Wikipedia, Best Health Magazine, Foodconsumer, Medical News Today, Telegraph, Science Daily, Tin net từ Việt Nam.

http://www.besthealthmag...event-cancer-cell-growth

http://www.calgarysun.co...2010/09/14/15345891.html

http://www.foodconsumer....t_cancer_2309100835.html

http://www.sciencedaily....2010/09/100914115240.htm

http://www.telegraph.co....y-help-fight-cancer.html

Edited by user Friday, May 1, 2020 7:24:39 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#1749 Posted : Friday, May 8, 2020 8:18:38 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,309

Thanks: 668 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Bật mí recipe gia truyền 3 đời..

UserPostedImage

UserPostedImage

Gà quay da dòn

Nguyên Liệu

10-12 cái đùi gà
500 ml nước lọc
20 g mạch nha (hay mật ong)
20 g dấm đen (hynos vinegar)
20 g hắc xì dầu (hynos soy sauce)
Dầu ăn loại olive hay canola

Cách quay

Gà quay đa dòn

1. Ướp gà trong 30 mns
2. Sối gà qua nước sôi khoảng 10 ~ 20 giây, sau đó rửa với nước lạnh.
3. Đun sôi hỗn hợp nước mạch nha, sối gà 20 giây. Sối đều đùi gà

Gà quay bỏ lò (bake time)

4. Nướng gà ở nhiệt độ 70C đến khi nhiệt độ bên trong đùi gà đạt 60C (khoảng 2.5 hrs.)

5. Để đùi gà nghỉ breaktime 30mns, sau đó đem đi sối dầu ở nhiệt độ high heat đến khi da gà ngã màu nâu như hình kèm, da mỏng pelure, dòn rụm.

Món gà này ăn mí xôi hay bột bánh bao, baguette hay mì khô, mì nuớc,... nhưng moa chuộng một tay cầm đùi gà quay da dòn, một tay nâng chai Heineken nhe bà cọn, no drink Tsingtao, anh Hai Chum no like nhe. Làm đi mấy bồ phây búc !!! Ngon và dễ ẹc, bảo đởm ngon dách lầu!

Bon appétit!!!

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1750 Posted : Sunday, May 17, 2020 8:09:22 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 16,436

Thanks: 6912 times
Was thanked: 2764 time(s) in 1954 post(s)

Nghĩ Về Hai Câu Ca Dao

Trang Y Hạ
(Nhớ Cha)

PHẦN MỘT:

Tôi sinh ra ở Quế Sơn, Quảng Nam. Vùng đất nầy từ mấy trăm năm về trước ông bà tổ tiên của tôi đã tới định cư và lập nghiệp cho tới tận bây chừ…! Là một người Quảng Nam tôi luôn tự hào mỗi khi đọc hai câu Ca Dao:

Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm.
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say.

Hai câu ca dao viết theo lối “biền ngẫu” có đối ý hoàn chỉnh. Đất vùng nào ca dao vùng đó; ca dao phản ảnh trung thực về mọi khía cạnh trong cuộc sống; ca dao là văn chương truyền khẩu đậm tình quê hương dân tộc - cho dù không ghi lại ngày tháng nhưng những sự kiện một khi đã trở thành ca dao thì đó là sự thật. Không một ai có thể phủ nhận sự thật trong ca dao!

Đất Quảng Nam là vùng đất có nhiều thổ sản nổi tiếng như: Mì Quảng (có khắp nơi ở Quảng Nam), Cao Lâu ở Hội An đã có từ rất lâu đời. Ngoài ra còn có cây quế ở Quế Sơn, lụa Mã Châu ở Duy Xuyên - Điện Bàn. Về khoáng sản thì có vàng ở Bồng Miêu và còn nhiều khoáng sản khác nữa… Về lịch sử - Đất Quảng Nam là địa giới cuối cùng của nước Việt với Chiêm Thành sau khi hai châu Ô Lý thuộc về vua Việt. Đất Quảng Nam có nhiều thổ sản là vậy nhưng trong ca dao ít nhắc tới các thổ sản mà chỉ nhắc tới rượu. Quảng Nam không là mảnh đất của các “Danh Tửu” mà lại có rượu ngon với tên gọi “Hồng Đào” thì kể ra cũng thiệt là lạ...! Ở Bình Định có rượu Bàu Đá, nhưng ca dao ở Bình Định không nhắc tới mà chỉ nhắc tới các thổ sản khác, như:

Nón ngựa Gò Găng
Bún Song thần An Ngãi
Xoài tượng chín Hưng Long
Mặc ai mơ táo ước hồng
Lòng quê em giữ một lòng trước sau.

Ở Việt nam, nói tới rượu nổi tiếng lâu đời thì có bốn loại rượu ở bốn địa danh. Và, cũng có thể gọi là “Việt Nam Tứ Tửu” gồm:

-Rượu Làng Vân ở ngoài Bắc. Làng Vân thuộc xã Vân Hà, Việt Yên, tỉnh (Bắc Giang). Nguyên liệu để chưng cất rượu Làng Vân chủ yếu là khoai mì. Dù là chưng cất bằng nguyên liệu khoai mì, nhưng nhờ có loại men tốt và nguồn nước đặc biệt mà đã chưng cất ra được một loại rượu trứ danh.

-Rượu Bàu Đá là thổ sản của xứ võ Bình Định. Rượu được chưng cất từ thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn. Rượu Bàu Đá tạo ra mùi thơm và cay nồng cũng do bởi nguồn nước có vị đặc biệt tại đó.

-Rượu Gò Đen được nấu ở Gò Đen, huyện Bến Lức và Huyện cần Đước, Tỉnh Long An. Trái nhàu khô ngâm rượu Gò Đen uống rất thơm ngon và cũng rất nổi tiếng!

-Rượu Kim Long ở tại làng Kim Long, xã Hải Quế, huyện Hải Lăng, tỉnh (Quảng Trị). Từ khi nước Pháp xâm chiếm nước Nam từ năm 1858. Họ cho lập công ty rượu Fontaine tại số 94 Lò Đúc Hà Nội năm 1898. Đây là nhà máy rượu lớn nhứt trong năm nhà máy rượu ở Đông Dương. Tại làng Kim Long, họ bắt dân chưng cất rượu ở làng Kim Long chuyển hết các lò rượu vào nhà máy của họ, đồng thời họ áp đặt lệnh cấm nấu rượu trong dân. Người Việt kêu rượu do người Pháp nấu là rượu “xi-ca”. Người Pháp cấm tiệt người Việt nấu rượu. Lính Pháp đi lùng sục bắt cũng như tịch thâu rượu và đồ nấu rượu... Người Việt chỉ được uống rượu do nhà máy rượu của Pháp sản xuất. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí - quyển 8 mục (thổ sản) có nhận xét “Tửu của Kim Long ở Hải Lăng, Quảng Trị ngon hơn hết”. Vậy là rượu mang nhãn hiễu Kim Long có thể nói là rượu nổi tiếng chẳng những trong nước mà ra cả thế giới. Bốn loại rượu nổi tiếng đó dân gian cũng không nhắc tới bằng các câu ca dao nào cả.

Cha tôi, ông sinh năm (1907) ở Quế Sơn (Quảng Nam) có kể cho tôi biết về nghề chưng cất rượu của ông rằng: Ông chưng cất rượu lậu, ở trong ruộng mía phía sau nhà. Một ngày nọ không biết ai đó đi báo cho lính Pháp biết… Vậy là Lính Pháp ùa vô bắt quả tang và tịch thâu mười hai lít rượu cùng tang vật để chưng cất rượu. Lính Pháp bắt ông cùng tang vật tống lên xe chở thẳng tới chợ Đàn… Lính Pháp đi ăn uống, bỏ cha tôi ngồi trên xe một mình. Cha tôi nghĩ - trước sau gì thì cũng bị ở tù và mất tiền chuộc... Ông đánh liều… khui hết mấy hủ rượu ra uống cho khoái cái đã, rồi tới đâu hay tới đó, khi đã uống rượu no bụng, số rượu còn lại ông đập đổ hết cho mất “tang chứng”. Lính Pháp ăn uống xong đi ra thấy cha tôi say nằm thẳng cẳng, tang chứng cũng chẳng còn nên chúng khiêng cha tôi quăng xuống bờ ruộng rồi lên xe chạy đi.

Lớn lên tôi đọc sách và biết tên rượu Hồng Đào ở Quảng Nam. Tôi có hỏi cha tôi về thứ rượu đó ngâm bằng thứ chi để có màu hồng (đỏ), thì cha tôi cho hay - Rượu chưng cất thì trở thành rượu có màu trắng, trắng hơi đục, thơm mùi men và mùi gạo hay nếp, nồng độ rượu cao có thể tới năm mươi độ… Muốn rượu có màu thì ngâm với các vị thuốc bắc, trái cây… - sau đó đem chôn dưới đất càng lâu rượu càng ngon. Cha tôi còn nói - ông có ngâm rượu bằng trái đào tiên để chữa bịnh. Trái đào tiên ngoài vỏ có màu hồng (đỏ), lấy ruột bên trong ngâm rượu - rượu cho ra màu đen. Ông nói ông còn ngâm rượu mít - tách múi mít ráo chín cây, bỏ hạt, lựa múi lớn đem phơi khô rồi sao cho vàng, ướp mật ong rừng, sau đó cho tất cả vô hủ sành khằn kín đem đi chôn…, cũng chôn càng lâu rượu càng ngon. Rượu mít cho màu hồng (đỏ) như rượu Tây. Ông còn nói - Trái dâu tằm ngâm rượu cũng cho màu hồng (đỏ) nhưng không thơm bằng múi mít. Tôi nhớ có lần cha tôi lấy rượu mít đó ra đãi ông Mục Sư người Anh, ông ta uống rồi khen ngon…! (khoảng năm 1970). Trái đào tiên có nhiều ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú yên… Vậy thì rượu có màu hồng đào (đỏ), có ở khắp xứ Quảng Nam, ai ai cũng biết ngâm để uống.

Sau lần bị bắt vì chưng cất rượu lậu. Cha tôi vẫn tiếp tục… chưng cất rượu, chưng cất xong là đem đi ngâm… cho có màu hồng (đỏ) rồi phân nhỏ ra từng bình sành - đem chôn giấu để bán cho người quen biết... Lỡ khi lính Pháp mà bắt được thì cũng có lý do biện bạch rằng - rượu nầy là rượu ngâm thuốc để chữa bịnh… Một khi mà rượu đã có màu… thì họ không thể phân biệt được rượu nào là rượu “xi-ca” của họ và loại rượu dân bản địa tự nấu… Vậy là họ hết lý do tịch thu rượu, chỉ tịch thu đồ chưng cất rượu hoặc đập bỏ nếu họ tìm thấy.

Để có được rượu ngon thì phải có men tốt. Người chưng cất rượu có câu nói: “Gạo là vua, men là hoàng hậu”. Muốn có men tốt thì phải dùng các vị thuốc Bắc và gạo ngon mà làm ra men rượu. Ba mươi sáu vị thuốc Bắc đơn cử như: Đại hồi. Tiểu hồi. Nhục Đậu Khấu. Nhục Quế. Cam Thảo. Bạc Hà. Uất Kim. Thảo Quả, Bạch Truật... Các vị thuốc Bắc còn lại là tùy kinh nghiệm cũng như bí quyết gia truyền của người chưng cất rượu mà gia giảm theo ý muốn - hễ cho ra rượu ngon là được. Từ đó dân gian mới có câu: “Uống rượu cũng như ăn cơm”. Câu nói rất đúng bởi có gạo ngon mới làm ra được men rượu tốt, có gạo ngon mới chưng cất ra rượu ngon. Trung bình một ký gạo chưng cất ra chưa tới một lít rượu. Rượu rất quý, rượu là chất tinh túy kết hợp giữa gạo, các vị thuốc và nguồn nước tinh khiết… Người Việt đã biết dùng rượu trong “Quan Hôn Tang Tế” từ lâu đời… Người xưa nói “Vô tửu bất thành lễ” là vậy. Đạo Công Giáo đã dùng rượu nho trong các thánh lễ trong mấy nghìn năm nay.

Một khi đã có rượu ngon, người xưa liền nghĩ ngay tới dùng rượu dẫn các chất thuốc để chữa nhiều loại bịnh cũng như dùng rượu thuốc để bồi bổ cơ thể cho thêm tráng kiện.

PHẦN HAI:

Thử nghĩ xem loại rượu “Hồng Đào” ở Quảng Nam đó, có sự liên hệ nào với “cuộc hôn nhân ngoại giao” của Huyền Trân Công Chúa và vua Chế Mân hay không? Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận được lời mời sang viếng thăm vương quốc Chiêm. Quốc Vương Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi rất nồng hậu Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông, nên Thái Thượng Hoàng ở lại trong cung điện Chiêm Thành chín tháng. Cảm khái tấm chân tình của Vua Chiêm, Thái Thượng Hoàng có hứa gả con gái cho vua Chiêm Thành là Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có Hoàng Hậu chính thất người Java. Tới năm 1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Rý (còn gọi là Lý) cho nước Việt làm của hồi môn để xin được “cưới vợ” là cô Công Chúa Huyền Trân! Vua Trần Anh Tông đồng ý gả Công chúa... Công chúa Huyền Trân về Chiêm Thành, được Vua Chiêm phong làm Vương Hậu thứ hai.

Cuộc hôn nhân ngoại giao nầy có người chê, kẻ khen - như bài thơ của Hoàng Cao Khải:

Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,
Vốn đà không mất lại thêm lời,
Hai châu Ô Lý vuông nghìn dặm,
Một gái Huyền Trân của mấy mươi !
Lòng đỏ khá khen lo việc nước,
Môi son phải giống mãi trên đời.
Châu đi rồi lại châu về đó,
Ngơ ngẩn nhìn nhau mấy đứa Hời.

Hoặc trong dân gian có các câu:

Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.

Tiếc thay hột gạo trắng ngần,
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm.

Ngày “đưa dâu về nhà chồng”. Đoàn người xe ngựa cùng Công Chúa đi qua đèo Hải Vân, rồi tiến thẳng tới đường phân ranh địa lý giữa hai nước Việt và Chiêm Thành, đó là dòng sông Tranh thuộc huyện Hiệp Đức. Dòng sông Tranh chảy xuống Đại Lộc đổi tên là Vu Gia… Đoàn người đưa dâu dừng lại chờ vua Chế Mân tới đón về thánh địa Mỹ Sơn ra mắt…, rồi sau đó sẽ đưa Công Chúa về Kinh Đô Đồ Bàn làm lễ hợp cẩn - chàng rễ và cô dâu sẽ nâng chén rượu giao bôi - trong đêm tân hôn.

Đứng trước cảnh núi non trùng trùng điệp điệp, sương khói phủ đầy… Người con gái sinh ra nơi hoàng cung cảm thấy vô cùng xa lạ và sợ hãi…, mà xót thương cho số phận của mình lênh đênh bèo dạt hoa trôi…! Thân gái dặm trường lại thêm nỗi nhớ nhà; nỗi lạc lõng cho thân phận mình trong những ngày tới, buồn và lẻ loi nơi đất khách...! Nàng công chúa khóc thầm... Tương truyền rằng: Chuyện thật là lạ, vì có một giọt nước mắt tròn trịa nóng hổi lăn xuống dòng sông nhưng không tan theo dòng nước chảy mà lại chìm xuống đáy... Và, cứ mỗi đêm đêm, giọt nước mắt ấy đã hóa thành hạt ngọc, nổi lên soi sáng cả một vùng sơn lâm vắng lặng sương đầy... Bến sông ở nơi nầy được người đời sau đặt cho cái tên là Bến Giằng, nhằm ghi nhớ lại sự giằng xé tâm tư - nửa như muốn ở, nửa như buộc phải ra đi của cô công chúa xinh đẹp xót xa cho cuộc "hôn nhân ngoại giao". Xót xa cho phận gái - vì nhà, vì nước mà phải ưng chịu lấy ngoại nhân làm chồng. Nàng Công Chúa nước Việt đành ngậm ngùi bước chân xuống thuyền qua bên kia bờ sông là biên giới giữa nước Chiêm và nước Việt để làm Hoàng Hậu - vĩnh viễn rời xa tổ quốc! Bữa tiễn đưa phận má hồng đi "lấy chồng" tràn đầy nước mắt. Tương truyền còn ghi lại rằng: Cây quế ở vùng núi non Quế Sơn ngày xưa chỉ có vị cay nồng chứ không tỏa ra mùi thơm… Chính mùi hương từ mái tóc dài, đen tuyền, óng ả của nàng Công Chúa tỏa khắp núi rừng rồi thấm sâu vô vỏ cây Quế... Và, từ đó cây quế tiết ra mùi hương êm dịu của quế cho tới ngày hôm nay... Người ta dùng vỏ quế để ngâm rượu chữa bịnh, và các công dụng khác, thân cây quế đẽo làm guốc cũng để chữa bịnh... Câu nói truyền tụng trong vùng Quảng Nam - "Gạo châu củi quế" đã nói lên giá trị của cây quế.

Công Chúa Huyền Trân là một vị Công Chúa nổi danh nhứt trong lịch sử Việt Nam từ xưa tới nay. Từ đó mà trong văn thơ, ca dao, sử ký và nhiều hơn là giả sử, giai thoại đã thêu dệt về Công Chúa rất đa dạng… Ngay cuộc đời của Công Chúa cũng không rõ ràng về lai lịch như: “Công chúa không rõ tên thật, theo dã sử trong Đền thờ Huyền Trân Công Chúa ở tại Huế, Công Chúa được sinh vào năm 1289, mẹ công chúa có thể là Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu - trưởng nữ của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Tuy nhiên, cũng có thể là con gái của Tuyên Từ Hoàng Hậu, em gái của Khâm Từ Hoàng Hậu”. Chuyện Công Chúa đưa lên giàn hỏa thiêu hay tư tình với Thương tướng Trần Khắc Chung… hoặc đi tu hay có con với vua Chế Mân… Tất cả đều là tưởng tượng và thêu dệt sau nầy mà thôi... Phải chăng Công Chúa Huyền Trân là một nàng Tiên?

PHẦN BA:

Câu ca dao thứ nhứt:

Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm.

(Người xứ Quảng không nói chữ đã). “…Chưa Mưa Đà Thấm”...? Chưa mưa đà thấm là thấm thứ nước chi rứa hỉ? (Câu ca dao nầy có thể được ra đời sau khi Công Chúa Huyền Trân về làm dâu xứ Chiêm Thành). Câu hỏi nầy xưa nay chẳng thấy ai đặt câu hỏi (?). Người xứ Quảng hễ đọc tới hai câu ca dao là tự hào về xứ Quảng Nam rồi! Là sướng rêm người rồi…! Chẳng cần suy nghĩ... phát xuất lúc nào cho thêm rắc rối…! Giả dụ cho rằng - đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, và có thể cho là, thấm - bởi mồ hôi, bởi nước mắt và bởi máu của người dân xứ Quảng Nam...? Nói vậy, thì đất ở mấy vùng lân cận Quảng Nam, hoặc xa hơn là cả nước Việt, bộ đất người dân ở các nơi đó không thấm - bởi mồ hôi, bởi nước mắt và bởi máu hay sao…? Qua mấy cuộc xâm lăng từ Phương bắc cho tới Phương Tây... trước kia - đôi khi các vùng đó còn thấm nhiều - mồ hôi, nước mắt và máu còn hơn xứ Quảng Nam đó chứ!... Từ bao đời nay, dải đất miền Trung nắng hạn gió lào, đồng chua nước mặn, mỗi năm lại hứng chịu nhiều cơn mưa bão từ đại dương trong đó có Quảng Nam, vậy thì cớ chi chỉ có một vùng đất Quảng Nam - chưa mưa đà thấm? Hơn nữa Quảng Nam là một vùng đất mới có được từ khi Vua Chế Mân Chiêm Thành dâng lên cho vua Trần để xin làm “sính lể” cưới Công Chúa Huyền Trân.

Giọt nước mắt của Công Chúa Huyền Trân nhỏ xuống làm ướt đất vùng Hiệp Đức (Quảng Nam) là có thật trong sách sử... Giọt nước mắt đau buồn của Công Chúa chỉ là một phần, một phần cũng là giọt nước mắt đau buồn của người dân cả nước cho nàng Công Chúa

“Tiếc thay cây quế giữa rừng,
để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo”.

Và, có thể nghĩ xa hơn nữa đó là giọt nước mắt mừng vui cho quê hương được vui hưởng những năm tháng thái bình, được mở mang bờ cõi nước Việt bởi từ hai châu Ô, châu Lý mà không xãy ra chiến tranh... Đất Quảng Nam là ranh giới cuối cùng giữa hai nước thời đó! Đó là lý do chính đáng để mà hiểu ra câu ca dao: “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm”. Nhưng đã thấm giọt nước mắt của nàng Công Chúa Huyền Trân!...

Còn câu thứ nhì:

Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say.

Rượu chi mà chưa nhấm đà say khướt như rứa hỉ…? Xưa nay chẳng có thứ rượu nào mà chưa nhấm đã say cả! Rượu trong ca dao có màu Hồng Đào (màu của giấy hồng (đỏ) bọc bên ngoài bình, hay màu rượu trong bình có màu hồng?). Đó chẳng qua là một thứ rượu (Tưởng Tượng) của ca dao (văn thơ); của người dân xứ Quảng thương nhớ tới nàng Công Chúa Huyền Trân, nàng đi lấy chồng vì quê hương, đất nước..., nên thứ rượu đó, nàng ..."chưa nhấm đà say...", một loại rượu "Hồng Đào" trong đêm hợp cẩn giao bôi... Công Chúa Huyền Trân say bởi sự hy sinh; say bởi sự đau khổ, say bởi nhớ thương, say bởi nuối tiếc cho phận nữ nhi...! Nếu có thứ rượu Hồng Đào thật thì cũng là do ngâm từ thuốc Bắc và các loại trái cây sau đó pha chế để cho ra màu Hồng Đào, hoặc gói bằng giấy có màu đỏ. Từ thuở xa xưa cho tới nay, trong chuyện cưới xin dù là thường dân cho tới vua quan, hễ là rượu lễ thì đều được bao bọc bằng giấy màu hồng (đỏ). Thử nêu lý do rằng - thứ rượu Hồng Đào là loại rượu chưng cất để dành riêng cho việc cưới hỏi hoặc khi giao bôi hợp cẩn, hay lễ hội - nhằm đãi đằng cho các ông vua bà chúa thượng lưu quý tộc, còn với dân dã thì uống rượu trắng, thường... Quả đúng có loại rượu dành riêng như vậy, thì người dân dã làm chi mà thấy - chứ nói chi tới chuyện - "chưa nhấm đà say". Tóm lại, rượu Hồng Đào chẳng qua là thứ - (rượu tình, rượu nghĩa), chủ đích là thương tiếc cuộc hôn nhân “chính trị” của Công Chúa Huyền Trân mà thôi.

Công Chúa Huyền Trân “đi lấy chồng”, hẳn nhiên sẽ được uống loại rượu Hồng Đào (nếu có) trong cung thất của vua Chiêm Thành trong đêm hợp cẩn... Rượu giao bôi mà chẳng có một chút tình yêu nào! Vậy, thì liệu Công Chúa có thích uống loại rượu ấy không? Hay Công Chúa chỉ nghĩ tới thôi… là, trong lòng dâng lên biết bao nỗi sợ hãi - Công Chúa chưa nhấm đà say lúy túy rồi…! Cuộc hôn nhân dị tộc bởi mưu đồ chính trị liệu có hạnh phúc chăng? Qua sự trình bày ở trong nội dung bài văn đã chứng minh rằng: Hai câu ca dao đó có thể là do tưởng tượng qua thơ văn của người Quảng Nam để "tri ân" một vùng đất - địa danh cuối cùng của đất Việt..., hoặc nhớ về cuộc “hôn nhân ngoại giao” của Công Chúa Huyền Trân nơi “biên giới” Hiệp Đức. Quảng Nam, ngày mà nàng "sang sông" về với vua Chiêm thành...! Dẫu mà bài viết phân tích chưa được lý… Vậy thì thử hỏi:

“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm.
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say”

Hai câu ca dao đã có từ xưa và tồn tại cho tới hôm nay đã nói lên ý nghĩa chi vậy...?

Trang Y Hạ - 1/1/2020

Bài nầy tôi viết theo “quan điểm” cá nhân để tưởng nhớ cha tôi...! Và, cũng theo yêu cầu của kỹ sư Trương Quang Tân, bài văn đã đăng trong Website liên mạng toàn cầu (Saigonbao…). Vậy, quý anh chị em - đọc, cảm nhận nội dung không vừa ý, thì viết nêu ra lý do…, chuyển qua email của tôi (trangyha@gmail.com)
hongvulannhi  
#1751 Posted : Wednesday, May 27, 2020 12:39:00 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)
UserPostedImage

Hong Tuoc 5/27/2015

UserPostedImage

Hong Tuoc 5/28/2015

Edited by user Thursday, May 28, 2020 2:15:28 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1752 Posted : Wednesday, May 27, 2020 1:59:28 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)

Vài cảm nghĩ về tình tự dân tộc Miền Nam và Ca Dao


Hòa Đa


Kính Tặng Má,
tặng Hồng, vợ tôi, người đã ru con bằng ca dao.


Một trong những thiếu sót trong chương trình học ở Việt Nam từ trước đến nay là sự mất cân đối trong việc giới thiệu đến học sinh những dữ kiện về văn học theo sự phân bố về địa dư. Nói cho rõ hơn, chương trình văn ở bậc trung học nghiêng nặng về những tác giả tác phẩm ở ngoài Bắc và đã bỏ quên những sinh hoạt văn học trong Nam. Không thể chối cãi là ở trung học, chúng ta học quá nhiều về Tự Lực Văn Đoàn, về Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo... mà không hề nói gì về những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc...chẳng hạn; chúng ta học quá nhiều về Nam Phong, Đông Dương tạp chí, học Nguyễn văn Vĩnh, Phạm Quỳnh... mà không nhắc gì về Gia Định Báo, Phụ Nữ Tân Văn, Phan Khôi... Có thể nói, trong mọi lãnh vực về văn học ở chương trình trung học, miền Nam đã bị bỏ quên, khiến cho sau bao nhiêu năm, sự lãnh hội về kiến thức trong chúng ta về văn học đã bị thiếu sót.

Ca dao miền Nam cũng chịu chung số phận như thế.

Mặc dù không hề được nhắc đến ở trường học, nhưng ca dao miền Nam vẫn có sức sống của nó. Chẳng những thế nó còn được phát triển mạnh và là một sinh hoạt tiềm tàng trong cuộc sống của người bình dân, cho dù chúng ta không còn thấy những màn hò đối đáp trong công việc hàng ngày ở trên đồng ruộng, sân lúa hay trên sông rạch như tiểu thuyết đã mô tả. Nó nằm ngay trên cửa miệng người bình dân, họ đọc ra như một phản xạ tự nhiên phù hạp với hoàn cảnh đang xảy ra không chê được.

Chẳng hạn, thấy một chàng trai ở rể bị lợi dụng, miệng đời đã có câu đàm tiếu:

Công anh làm rể đốn rào
Tào lao phất ngọn, chớ nào vợ anh? (1)

Câu này làm chúng ta nghĩ ngay đến câu tương tự ở ngoài Bắc:

Công anh làm rể chương đài
Một mình ăn hết mười hai vại cà,
Giếng đâu thì dắt anh ra
Không thì anh chết với cà nhà em.

Hay để trêu chọc sự dan díu ngoài khuôn phép của gia đình và xã hội của một đôi trai gái, chúng ta đã có sẵn câu:

Mùng ba thì có trăng non,
Anh đi lên xuống có con anh bồng

Nó cũng nằm ngay trong câu hát ru con của các mẹ, các chị bình dân, những câu ca dao cứ tuần tự tuôn ra một cách tự nhiên, không gò ép, không sửa soạn, cứ hết câu này đến câu khác, ru trẻ vào giấc ngủ. Nhiều khi họ còn dùng để diễn tả, kể lể tâm trạng của họ:

- Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.

- Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi

- Giả đò mua khế bán chanh
Giả đi đòi nợ thăm anh đỡ buồn

...
Năm 1970, tôi về làm việc tại một tỉnh nhỏ ở đồng bằng Cửu Long nên có dịp tiếp xúc với người bình dân, nông dân. Sau 1975, do chính sách của chính quyền Việt Nam lúc bấy giờ, tôi lại có dịp sống hẳn ở nông thôn, gần gũi với nếp sống bình dị, làm quen với cách ứng xử, sinh hoạt của họ. Do đó xin nêu lên vài cảm nhận có tính rất chủ quan về ca dao miền Nam. Tôi không có tham vọng trình bày về ca dao miền Nam như một bài khảo cứu, công việc này xin dành cho những nhà biên khảo hay cho những công trình luận văn cao học, tiến sĩ. Cũng xin nói thêm, vì sự thuần nhất (một cách tương đối) về âm sắc trong cách nói, sự tương đồng về sinh hoạt, xin được nới rộng yếu tố địa dư miền Nam ra đến phần đất tam Phan (Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết) mà do sự phân chia hành chánh, vùng này được xếp vào Trung phần. Và cũng xin nhấn mạnh bài viết chỉ nhằm đóng góp, nêu lên một phần di sản văn hóa bị bỏ quên trong văn học sử, tuyệt nhiên không có ý phân biệt địa phương.

I. Vài nét về sự hình thành cư dân Miền Nam

Kể từ sau cuộc hôn nhân Việt -Chiêm giữa Huyền Trân Công Chúa và Chế Mân , nước Việt chúng ta có thêm hai châu Ô, châu Rí (Thế kỷ XIV, XV). Để đối kháng với thế lực thống trị từ phía Bắc, Việt Nam cần phát triển hậu cứ, lập nền tảng kinh tế để phát triển tiềm năng kháng cự với Tàu, nên đã bắt đầu chú ý đến việc phát triển về địa lý vào phương Nam. Nhưng phải chờ đến khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá (năm 1558) và tuyên xưng là Chúa Nguyễn (năm 1600), hướng phát triển vào Nam mới được phát triển một cách có qui củ để tạo thành một thế lực ngang ngửa với chúa Trịnh ở miền Bắc. Với chính sách tầm ăn dâu, người Việt cứ bành trướng dần vào Nam. Những người tiền phong là những lính thú khai hoang lập ấp, họ là những người vừa chiến đấu vừa sản xuất. Họ cũng là những lưu dân từ vùng Thanh Nghệ, tìm đến phần đất của chúa Nguyễn để sinh sống, người có tài như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Cảnh... thì được trọng dụng, người bình dân thì được đưa vào dần trong Nam theo chân các tập đoàn quân sự khai hoang lập ấp. Họ cũng là những tù, hàng binh của Trịnh do Nguyễn bắt được, đưa sâu vào Nam để dễ bề quản thúc, kiểm soát... Cũng có những cuộc tình duyên có tính chính trị nhằm mở rộng lãnh thổ như cuộc tình duyên của công chúa Ngọc Hoan (hay Ngọc Vạn?) với vua Miên Chey Chetty dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi), bà hoàng người Việt này đã mang theo nhiều người Việt vào sinh sống ở vùng đất Chân Lạp. Sang thế kỷ XVII, các di thần nhà Minh không chấp nhận Thanh Triều đã đem bộ hạ và gia quyến vào xin đầu phục Chúa Nguyễn, Chúa Hiền cũng cho vào định cư vùng Đồng Nai, Biên Hòa (Trần Thắng Tài), Mỹ Tho (Dương Ngạn Địch, TrầnThượng Xuyên) và sau đó (2) vùng đất Hà Tiên do Mạc Cửu mộ dân khai thác được dâng cho Chúa Nguyễn.

Khi Gia Long lên ngôi, một trong những chính sách quan trọng ở miền Nam là ổn định đời sống về kinh tế, miễn thuế cho cư dân thuộc vùng đã giúp nhà vua khi còn bôn đào trong thời chiến tranh với Tây Sơn. Sau Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị đã cho phát triển những đơn vị bán quân sự, cho đào kinh (3) khuyến khích việc mộ dân lập làng, tiếp tục miễn giảm thuế cho những vùng vừa khai thác nên dân số ngày càng đông . Thành phần cư dân hình thành trong vùng gồm phần đông là binh lính, di dân Việt từ Thuận-Quảng chuyên làm ruộng ít học, sau đó là người Miên, sống rải rác trong các sốc (làng Miên) trên những vùng đất cao ráo và người Hoa làm rẫy hay buôn bán, tập trung cạnh các con sông lớn, tạo thành những thị tứ thịnh vượng. Phát triển của vùng này chỉ được chú trọng vào quân sự và kinh tế, còn văn hóa chỉ phát triển có hệ thống về phía tôn giáo ở các miếu, đình, chùa.

Hơn thế kỷ sau, Pháp xâm chiếm Việt Nam, chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ, miền Nam gần như mất hẳn ảnh hưởng chính quyền trung ương, văn hóa miền Nam cũng theo trào lưu đó mà biến đổi. Nền học cũ bị bãi bỏ, cái học mới chỉ để phục vụ cho chế độ thực dân. Đại đa số người dân miền Nam thiếu học, lại mất đi nguồn bổ sung nhân lực chính là các binh lính từ các phiên trấn thuộc chính quyền trung ương, sinh hoạt văn hóa thông thường và dễ dãi của người bình dân là hát hò với nhau.

Với sự hinh thành về thành phần cư dân cho vùng đất miền Nam như thế, Sự giao lưu về văn hóa giữa ba nhóm cư dân nói trên (Việt, Miên, Hoa) nhất định phải xảy ra và vì vậy, chúng ta không thể không để ý đến tính đa văn hóa sẽ phát triển trên vùng đất này và có thể giải thích được tại sao văn hóa miền Nam không bị gò bó vào khuôn mẫu và có tính cách thuần nhất như ở miền Bắc. Người bình dân, lính thú... thiếu học, đơn giản, sống tương đối rải rác sẽ khó có thể có những sinh hoạt văn hóa dựa trên chữ viết, sân khấu... mà sinh hoạt truyền miệng, phóng khoáng hơn, dễ dãi hơn được phát tirển mạnh. Có điều nhận xét khá lý thú là âm sắc trong ngôn ngữ càng vào sâu trong Nam càng nhẹ dần, nhưng vốn từ vựng từ phía nam Hải Vân vẫn còn được duy trì thống nhất và được phát triển thêm, làm giàu thêm trong suốt chiều dài phát triển lãnh thổ về phía nam (4) . Tinh thần văn hóa ở phần đất này có những độc đáo, tự nhiên, bình dị và đôi khi đi đến sỗ sàng, trong khi tinh thần văn hóa ở phần đất thuộc Đàng Ngoài (thuộc chúa Trịnh) đã đạt đến mức tinh luyện, khuôn mẫu, nghiêm túc.

Người dân miền Nam chịu ảnh hưởng của luồng văn hóa có tính bình dân của các văn nhân theo vào với Chúa Nguyễn trong giai đoạn đầu đan kết với những luồng văn hóa của Khmer, Hoa, Pháp, cộng với điều kiện sinh hoạt dễ dàng, đất rộng người thưa, sông sâu nước chảy, tài nguyên thiên nhiên thừa thải. Họ sống bình dị, không muốn bó mình trong những khuôn mẫu có sẵn là điều dễ hiểu. Có khi do điều kiện sinh hoạt riêng rẽ (trong giai đoạn đầu tiên không phải ở làng xã nào cũng có những bậc túc nho hay người biết chữ), nên sự tùy tiện trong giải thích hay trong sinh hoạt văn hóa làm nảy sinh tính dễ dãi, uyển chuyển, sao cũng được, miễn là mọi người vui và hạnh phúc là được rồi. Hơn nữa, đối với những con người tiền phong, sau những lúc phấn đấu với thiên nhiên còn mang tính hoang dã:

Xứ đâu có xứ lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh

hay

Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um

thì trong những lúc có dịp ngồi lại với nhau như sau vụ mùa, buổi chợ, trong những dịp ma chay cưới hỏi, cất nhà... người bình dân còn có nhu cầu giải trí nào khác ngoài những dạng nói thơ, kể chuyện tiếu lâm, hát, hò....? Họ không có khả năng ngâm vịnh, sáng tác.

Ca dao miền Nam đã phát triển trong chiều hướng đó. Chính yếu tố bình dị, nghĩ sao nói vậy, mộc mạc, dễ hiểu đã làm cho ca dao miền Nam có sức sống rất mạnh, được quần chúng chấp nhận dễ dàng và do đó làm ảnh hưởng đến sự sinh hoạt và tư tưởng của quần chúng:

- Hủ qua (khổ qua) xanh, hủ qua trắng
Hủ qua mắc nắng hủ qua đèo
Thương em, thì anh làm giấy giao kèo
Lăn tay điểm chỉ mới thiệt con mèo của em

- Thấy em gò má hồng hồng
Phải chi em đừng mắc cỡ, anh bồng anh hun
thật khó tìm thấy những câu tương tự như vậy ở ca dao miền Bắc.

II. Vài tính chất có tính đặc trưng

Ca dao, ở đâu cũng vậy, là sản phẩm của quần chúng. Chúng ta không biết tác giả hay hoàn cảnh sáng tác, nhưng chúng ta biết chắc một điều: ca dao được người bình dân biết đến, sử dụng và truyền bá. Không có quần chúng, ca dao nói riêng, văn chương bình dân nói chung không thể phát triển và lưu truyền. Qua ca dao, chúng ta có thể mường tượng được nếp sinh hoạt, hoàn cảnh sống và phần nào tâm tư của người bình dân. Do vậy, tuy ca dao có những cái chung nhưng cũng có những cái riêng của vùng. Chúng ta khó có thể tưởng tượng được ca dao miền Nam lại có những câu nói về núi cao, ao cá:

- Núi cao chi lắm núi ơi,
Che khuất mặt trời, không thấy người yêu.

- Tiếc công anh đào ao nuôi cá,
Năm bảy tháng trời, người lạ tới câu.

dù trên thực tế, không phải người dân miền Nam không biết núi, biết ao.
Chúng ta thử lược qua những tính chất đặc sắc của ca dao miền Nam.

1/ Tính uyển chuyển.

Một trong những nét dễ nhận thấy là người miền Nam không chịu bó trong những khuôn mẫu có sẵn, có lẽ do cuộc sống quá được ưu đãi từ thiên nhiên hào phóng, con người cũng trở nên phóng khoáng. Từ một câu có tính nhận xét trong đời sống hàng ngày, mà chúng ta thấy ở đâu cũng đúng:

Chiều chiều quạ nói với diều
Tìm nơi đống trấu có nhiều gà con

vào đến miền Nam chúng ta nghe thấy nó biến thể thành:

Chiều chiều quạ nói với diều
Cù Lao Ông Chưởng (5) có nhiều cá tôm

Người miền Nam có thể chuyển nhóm chữ "Cù Lao Ông Chưởng" thành một nhóm chữ nào đó thích hợp với địa danh họ đang sống, họ chẳng hề bị bó buộc phải rập khuôn theo câu ca có sẵn. Vùng Ô Môn, Bình Thủy (Cần thơ) cũng có câu tương tự, chỉ đổi bốn chữ cù lao Ông Chưởng bằng bốn chữ Ô Môn Bình Thủy. Chúng ta có thể tìm thấy dạng này khắp nơi ở miền Nam, lâu dần chúng ta không còn biết câu nào là nguyên bản, câu nào là sao chép. Ở vùng Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười chúng ta có câu:

Nước chảy Láng Linh, chảy ra Vàm Cú
Thấy dáng em chèo, cặp vú muốn hun

Nhưng vùng Trà Cú (Vĩnh Long - Vĩnh Bình), ta lại nghe:

Nước chảy sông xa, chảy qua Trà Cú
Thấy dáng em chèo, cặp vú muốn hun

Một câu khác mà chúng ta ai cũng biết:

Nam Vang đi dễ khó về,
Trai đi có vợ, gái về có con

để chỉ Nam Vang là xứ ở xa, rất xa, đi lại không tiện, ai đi Nam Vang (nghĩa là qua Miên) làm ăn thì thường lập gia đình luôn ở bên ấy. Ở miền Nam, chúng ta nghe không thiếu gì câu hát trên, chì đổi chữ Nam Vang thành Long Xuyên, Cần Thơ, Gò Công... và nghe những câu ấy, chúng ta cảm được cái tình ấm áp của người địa phương làm cho kẻ lãng du phải dừng chân:

Tới đây thì ở lại đây,
Chừng nào bén rễ xanh cây rồi về

Thật ra. tính uyển chuyển vừa nêu không phải là một đặc thù của ca dao miền Nam, nhưng ở miền Bắc và miền Trung, những dị bản của những câu ca dao ít tìm thấy hơn ở trong Nam. Một trong những câu điển hình là câu:

Gió đưa cành trúc la đà
Hồi chuông Trấn Quốc, canh gà Thọ Xương

ở ngoài Bắc, vào đến Huế biến thành:

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.

Cũng vì tính chất này mà ở miền Nam, chúng ta thấy ca dao thường ở dạng lục bát biến thể nhiều hơn. Số chữ trong mỗi câu hoàn toàn tùy thuộc vào cách nói, không bị gò cho đủ 6 hay 8 chữ, miễn sao diễn tả đủ ý muốn nói và có vần điệu dễ đọc, dễ nhớ. Phải chăng tính thực tiển và phóng khoáng của người dân Nam bộ đã làm cho sự uyển chuyển dễ xảy ra hơn? Nhân đây, xin nói thêm về tính uyển chuyển đó: ở trong Nam: Ai đã từng sống ở nông thôn vùng Cửu Long đều biết, khi cúng dựng nhà người nông dân miền Nam thường bày dĩa trái cây trên bàn thờ theo công thức: dừa, đu đủ, xoài; hay mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài biểu thị lòng mơ ước của họ: vừa đủ xài hay cầu vừa đủ xài, họ không bao giờ cúng chuối, dù trên bàn thờ của gia đình vào ngày Tết, cho rằng như vậy là chúi nhủi, khác với cư dân từ Nha Trang vào đến Xuân Lộc luôn có chuối trên bàn thờ, bất luận dịp nào- Đó là do cách phát âm trong Nam không phân biệt dừa và vừa, xoài và xài, chuối và chúi. Ở đồng bằng Nam Bộ người ta chỉ bày chuối trên bàn thờ Phật. Cũng do sự dễ dãi trong phát âm, không chàng trai gốc ngoài Bắc hay Trung nào, lần đầu tiên khi vào miền Nam (đặc biệt miệt vườn Cửu Long) không hết hồn khi gặp mấy cô gái ruộng tay cầm vòng hái (lưỡi hái) chấp lại kính cẩn chào xin vái thầy hay bị chới với khi cô gái vườn niềm nở mời hôm nào "quởn" ( hưởn), mời anh vô vườn em chơi. Xin nhắc lại là người miền Nam không phân biệt được âm v và âm d, gi .

2/ Tính cường điệu:

Người bình dân miền Nam nói riêng, và cả nước nói chung ít học, nhưng ở miền Nam, người bình dân lại thường ra vẻ "ta đây" hay chứng tỏ mình ngon lành, thích nói chữ như muốn chứng tỏ mình là người hay chữ, đôi khi không trúng trật vào dâu

- Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm
Bủa xua (6) ông Tham biện, chớ bạc tiền ông để ở đâu?

- Cách một khúc sông, kêu bằng cách thủy (?)
Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa (7) ...

Chính vì tính hay phô trương không đúng chỗ, nên chúng ta đừng chờ đợi ở ca dao miền Nam những cách sử dụng đúng từ ngữ, diễn tả đúng cách, đúng chỗ. Cái mà chúng ta thường gặp ở đó là những cách nói vô nghĩa, cốt chỉ có vần, có điệu; nhất là trong các câu hò, chúng ta thấy hình như họ cố ý kéo dài câu hò, nói lan man, cốt để tranh thủ thời gian tìm ý. Họ thường ưa nói quanh co, không đi ngay vào đề tài chính, mà đôi khi lối quanh co này chẳng dính dáng gì đền việc họ muốn nói. Muốn trêu chọc một cô gái, chàng trai nói lan man:

Đầu giồng có bụi chuối
Cuối giồng có cây đa
Ngã ba đường cái có cây tơ hồng
Con gái chưa chồng, cái lòng hực hở,
Con trai chưa vợ, ruột thắt tầm canh

để cuối cùng mới nói :

Ngó lên mây trắng trời xanh,
Ưng đâu cũng vậy, ưng anh cho rồi

hay cô gái muốn từ chối nhẹ nhàng lời tỏ tình của chàng trai vì còn phải lo phụng dưỡng cha mẹ già (không chừng đó chỉ là cái cớ nêu ra để từ chối), cô không nói thẳng vào vấn đề, mà xa xôi bóng gió trước:

Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc
Gió nào độc cho bằng gió Nam Vang
Một tiếng anh than, hai hàng lụy nhỏ
Có chút mẹ già, biết bỏ ai nuôi ?

Ta thấy ngay, tính chất này khác hẳn với cách nói có tính cách khuôn mẫu ở ngoài Bắc, người dân miền Bắc thường nghiêm túc hơn, trữ tình một cách khách sáo hơn, mang ít nhiều tính nghệ thuật hơn, và thường "đi thẳng" vào vấn đề hơn:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay...

hay khen tặng vẻ đẹp của cô gái một cách kín đáo trong:

...Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa chân tay,
Đừng rửa lông mày chết cá ao anh

Kiểu nói dông dài này gặp rất thường trong ca dao miền Nam, nơi mà con người thường ồn ào chứng tỏ sự "thông thái" của mình một cách rất dễ dãi, mà cũng rất dễ thương

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ

hay:

Tàu xúp lê một, còn thương còn nhớ
Tàu xúp lê hai, còn đợi còn chờ
Tàu xúp lê ba, tàu ra biển Bắc,
Tay vịn song sắt, nước mắt ròng ròng
Thương em từ thủa mẹ bồng
Bây giờ em lớn, em lấy chồng bỏ anh!

3/ Tính trữ tình

Trữ tình vốn là một thuộc tính của tình nam nữ, cho dù ở phần nào của đất nước, người bình dân diễn tả tình cảm của mình một cách rất nhẹ nhàng, thoải mái. Quả thật, kho tàng văn chương bình dân cho ta vô vàn những câu tỏ tình bóng gió có, lộ liễu có, và rất đậm tình quê hương. Miền Nam cũng không ra khỏi thông lệ đó. Ca dao miền Nam dùng để tỏ tình có nhiều như bất cứ vùng nào của đất nước. Ta có thể đơn cử vài câu:

-Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Đồng Nai,
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài,
Thương người xa xứ lạc loài tới đây.
-Thò tay anh ngắt ngọn ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ

- Mù u bông trắng, lá thắm, nhị (nhụy) vàng,
Anh đi khắp xứ, tới đây mới gặp nàng thiệt dễ thương

- Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh
Thương anh cũng muốn theo anh
Ngặt cha với mẹ không đành thì sao?

Cũng như các phần khác của đất nước, ca dao miền Nam thể hiện rõ nét phong cảnh, sinh hoạt, đồng ruộng màu mỡ, sông rạch của miền Nam. Đời sống tình cảm của người dân cũng trải rộng với thiên nhiên, sông nước:

-Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi
Qua khỏi chỗ này lùm bụi tối tăm.
- Cầu cao ván yếu,
Con ngựa nhỏ xíu nó kiệu tứ linh
Em đi đâu tăm tối một mình
Hay là em có tư tình với ai?

- Tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát,
Xuồng câu tôm bơi sát mé nga
Thấy em cha yếu mẹ già
Muốn vô hoạn dưỡng biết là được chăng

-Mười giờ xe lửa nhỏ bỏ chợ Bến Thành,
Xúp lê kia dạo thổi, bộ hành xôn xao.

Đối với những tình cảm nhẹ nhàng khác, tình gia đình chẳng hạn, cách diễn tả ở miền Nam cũng đơn giản và thực tế hơn:

- Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon
- Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

- Sông dài cá lội biệt tăm
Phải duyên chồng vợ, mấy năm cũng chờ
khác hẳn với tính sâu sắc, nên thơ như ở miền Bắc:
Hôm qua ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ...
...Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.

hay thâm trầm như ở miền Trung.

Chồng chài, vợ lưới, con câu
Sông Ngô, bể Sở, biết đâu bến bờ?
Khi nên tay kiếm tay cờ
Không nên thì cũng chẳng nhờ cậy ai

Qua ca dao chúng ta có thể tìm thấy nhiều từ rất thông dụng ở miền Nam. Đây là nguồn tài liệu quan trọng cho những ai muốn khảo cứu về ngữ âm miền Nam:

- Nước rong (8) nước chảy tràn đồng
Tơ duyên có đó, chỉ hồng chưa xe
- Nước ròng bỏ bãi xa cừ
Mặt em có thẹo, anh trừ đôi bông
- Bậu nói với qua bậu không hái mận bẻ đào
Chớ mận đâu bậu bọc, đào nào bậu cầm tay.

- Mưa lâm thâm, ướt dầm bông sói
Bậu đi lấy chồng, sao không nói anh hay?

...

4/ Tính chớt nhả, cắt cớ:

Tính phóng khoáng trong cuộc sống ở miền Nam thể hiện rất rõ nét trong ca dao miền Nam, tính chất này còn được đẩy xa hơn, trở thành chớt nhả. Hơn đâu hết, chính miền Nam là nơi người ta tìm thấy dễ dàng sự cắt cớ, sống sượng đến độ bất ngờ khiến người trong cuộc (dù có học) chưa chắc thoát ra được. Cô gái đang làm việc dưới ruộng, mình mẩy dầy bùn sình, hỏi chàng trai đang ở trên bờ:

Hai tay em cắm xuống bùn
Mình mẩy lấm hết, chớ anh hun chỗ nào?

chàng trai trả lời tỉnh bơ:

Cầu trời đổ trận mưa rào
Bùn sình trôi hết, chỗ nào anh cũng hun!

Chàng trai, muốn đặt cô gái vào tình trạng khó xử, sống sượng yêu cầu

Đôi mình mới gặp ngày nay
Cho hun một cái em Hai đừng phiền

chàng trai đắc ý, tưởng sẽ nhận được ở cô gái sự e thẹn, hay lời rủa sả hay một cái bộp tai; không dè cô gái không phải tay vừa, đốp chát liền:

Ừ, muốn hun thì hun cho liền
Đừng làm thố lộ xóm giềng cười em

trong trường hợp nếu bạn là chàng trai đó bạn làm sao? không biết bây giờ ai là người bị lúng túng, ở đây chàng trai chẳng những không lúng túng mà còn liều lĩnh sống sượng hơn, lỡ rồi đành tới luôn:

Tui hun mình dẫu có la làng
Thì tui ra đó hai đàng chịu chung
Tui hun mình dẫu có làm hung
Nhơn cùng tắc biến, tui chun xuống sàn (9)

Về tính cắt cớ, muốn đặt đối phương vào trong những tình huống khó tháo gỡ, chúng ta thường gặp trong những câu hò đố. Nếu ở ngoài Bắc những câu hát đố luôn có tính nghiêm trang, có tính "bác học" đến độ chúng ta phải đặt dấu hỏi liệu đó có phải là sản phẩm của lớp bình dân ít học? xin đơn cử:

...Chùa nào mà lại có hang
Ở đâu lắm gỗ thời chàng biết không?
Ai mà xin được túi đồng
Ở đâu lại có con sông ngân hà
Nước nào dệt gấm thêu hoa...

...Chùa Hương Tích mà lại có hang
Trên rừng lắm gỗ thời nàng biết không?
Ông Nguyễn Minh Không xin được túi đồng
Trên trời lại có con sông ngân hà
Nước Tàu dệt gấm thêu hoa...

hay những câu hát đố đẹp và hay như một bài thơ:

Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng
Đố ai quét sạch lá rừng
Để tôi khuyên gió, gió đừng rung cây...
ở miền Trung, chúng ta có câu:
Đố anh con rít mấy chưn
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người (10)

thì ở miền Nam, chúng ta khó tìm thấy những câu hò, câu hát đố có tính trữ tình như thế, nhưng chúng ta lại tim thây khá nhiều những câu có tính buộc thắt, khiến đối phương phải rất nhanh trí để thoát khỏi thế bí, và như chúng ta sẽ thấy, họ "thoát hiểm" rất dễ dàng và gài lại đối phương. Những câu sau đây sưu tập được từ Vĩnh Long (11)

-Thấy anh ăn học có thi
Em đây xin hỏi con chi không đầu
Sao em lại hỏi cơ cầu
Thượng cầm hạ thú, không đầu là con cua
- Thấy anh theo dõi bút nghiên
Em đây xin hỏi, trời nghiêng bên nào
Anh từng đọc sách bên Tàu
Đất nghiêng thì có, trời nào đâu nghiêng

- Thấy anh ăn học lảu thông
Em đây xin đố, khăn lông có mấy đường
Em về đếm hết cỏ vườn
Lại đây anh nói mấy đường khăn lông

- Thấy anh ăn nói có tài
Em đây xin đố cây xoài có mấy bông
Em về đếm cá dưới sông
Lại đây anh nói mấy bông cây xoài.

Những câu trên có cùng một dạng thức, điều đó chứng tỏ có thể từ một người làm ra, nhưng trong một đám cưới ở một vùng nông thôn thuộcVĩnh Long, trong đêm nhóm họ ở nhà cô dâu, chính người viết đã nghe ít nhất có hai câu đố trên, tất nhiên không thấy có câu trả lời thích đáng từ đối phương. Cũng có những câu đố mắc mỏ, không mong gì tìm được câu trả lời xác đáng:

Đố ai kiếm được
Cái vảy con cá trê vàng,
Lá gan con tép bạc
Mấy ngàn em cũng mua.

chỉ còn nước trả lời theo kiểu huề vốn:

Kiếm đâu cho được
Cái vảy con cá trê vàng,
Lá gan con tép bạc
Để nàng chịu mua?

III. Vài cảm nghĩ

Trong những phần trên, chúng ta đã lượt qua một vài đặc sắc của ca dao miền Nam. Trong khuôn khổ của bài báo, người viết không thể trình bày hết những nét đặc thù của ca dao miền Nam nói riêng cũng như những dạng văn chương truyền khẩu khác như hò, vè... nói chung. Điều đáng nói là văn hóa miền Nam chưa có chỗ đứng dúng đắn trong văn học sử của Việt Nam, cũng chưa được đề cập một cách đầy đủ trong chương trình học ngày trước (và cả ngay bây giờ). Chúng ta có thể có nhiều cách giải thích. (1) Có lẽ do người viết chương trình của bộ giáo dục trong những năm đầu chuyển tiếp từ chương trình Pháp sang chương trình Việt (và cả những vị về sau, trong các chương trình cải tổ) không có tài liệu nhiều về văn học trong Nam; hay (2) người viết chương trình không biết gì về văn học trong Nam; hay (3) người viết chương trình cho rằng văn học trong Nam quá nôm na, không có vẻ "bác học"; hay (4) đơn giản hơn hết là văn học trong Nam chưa có đủ chiều dài về thời gian để có chỗ đứng trong văn học sử... Dù vì bất cứ nguyên nhân nào, chúng ta đã không dành một chỗ đứng thích đáng cho văn học trong Nam. Chúng ta đã bỏ quên tính đại chúng trong giáo dục, phần nào, chúng ta đã tự tách rời người có học với quần chúng; và quần chúng này, tuyệt đại đa số là những người có rất ít những liên hệ văn hóa với những phần đã được dạy ở nhà trường. Làm thế nào đại đa số quần chúng ở miền Nam ấy có thể hiểu và thông cảm với những gì mà chính họ, hay con cái của họ đã nhận được từ trường, khi những điều đó không thấy được thể hiện quanh họ? - Mặc dù không thể không nói đến những đóng góp về văn học Việt Nam do những nhà văn, nhà báo tiền phong (mà hầu hết đều xuất thân từ phân nữa trên của đất nước), nhưng sự mất cân đối trong chương trình học đã làm học sinh trở thành xa lạ với môi trường họ đang sống, trở thành vong thân với chính xã hội của họ.

Ngày nay, phần nào văn chương bình dân của miền Nam đã đi vào đời sống qua các bài hát dựa vào các điệu lý, điệu hò. Nếu cách đây ít lâu, ngoại trừ lãnh vực cải lương, cổ nhạc Nam phần, ca sĩ dù người miền Nam, trình bày những bài hát về miền Nam cũng ráng tập phát âm bằng giọng Bắc, càng chuẩn càng tốt, không dám hát bằng giọng Nam sợ bị chê là quê mùa, thì bây giờ nhạc sĩ, ca sĩ (có cả người gốc ngoài Bắc) dùng hẳn giọng Nam để sáng tác, để hát, không có cái "mặc cảm" quê mùa như trước. Thử tưởng tượng Phi Nhung hát bài Lý con Sáo Bạc Liêu (Phan Ni Tấn) bằng giọng Bắc thì nó ra làm sao? Còn những bài khác nữa: Tiếng Hát Chim Đa Đa (Võ Đông Điền), Bài Tình Ca Đất phương Nam (Lư nhất Vũ - Lê Giang), Chiếc Áo Bà Ba (Trần Thiện Thanh), Còn Thương rau đắng mọc sau hè (Bắc Sơn), Điệu Buồn Phương Nam (Vũ Đức Sao Biển)... làm thế nào để ca sĩ diễn tả tính Nam bộ trong các bài hát đó bằng giọng Bắc. Cũng vậy, ngày xưa lúc ban Hợp Ca Thăng Long hát bài Tiếng Sông Cửu Long (trong trường ca Hội Trùng Dương), nghe Thái Thanh ngâm:

Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn ngang sông Mỹ, có ngày gặp em

hay thì có hay, nhưng thấy nó vẫn là lạ.

Cũng nhân đây, xin nói thêm về cái thiếu hiểu biết về miền Nam, hay coi nhẹ tinh thần Nam bộ, mà các tác giả về mọi lãnh vực đã không đặt nặng việc sử dụng đúng ngôn ngữ trong Nam cho các công việc của họ. Trong Việt Nam Sử Lược, khi nói về Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh, sử gia Trần Trọng Kim chỉ dùng Nguyễn Hữu Kính, người dân miền Nam không thể nhận ra đó là vị Chưởng Cơ đã có rất nhiều công trong việc xây dựng và bảo vệ phần đất này trong giai đoạn đầu. Cũng vậy, khi Phạm Duy viết đến miền Nam (trong Con Đường Cái Quan) đã dùng:

Giả ơn cái cối cái chày
Đêm khuya giả gạo có mày có tao
Giả ơn cái nhịp cầu ao
Đêm khuya vo gạo, có tao có mày

Không ai có ý kiến gì về lãnh vực âm nhạc mà nhạc sĩ Phạm Duy đã là bậc thầy, nhưng cách dùng chữ, rõ ràng là ông vẫn còn ảnh hưởng miền Bắc nên không dùng đúng những chữ mà người miền Nam đã dùng. Nghe nó ngọng nghịu và làm giảm ít nhiều giá trị đích thực của bài hát. Người miền Nam không ai nói "giả ơn" mà nói "trả ơn" hay "cám ơn". Chúng ta cũng có thể bỏ qua vì cứ xem người "lữ khách" của Phạm Duy chỉ mới vừa vào miền Nam, chưa đổi được thói quen của mình; nhưng "cầu ao" để vo gạo thì không có. Ở miền Nam chỉ có "cầu nước, cầu nhủi", đơn giản vì miền Nam không có ao (trừ ao Bà Om của Người Miên ở Trà Vinh, một địa điểm để du ngoạn, cắm trại), miền Nam chỉ có hồ, đìa, đầm, vũng, giếng...

Chúng ta phải chấp nhận tính đơn giản mộc mạc... của miền Nam như là một đặc thù của văn chương ở vùng đất non trẻ này của đât nước, chúng ta không có mặc cảm gì về sự nôm na, chất phác của lớp người bình dân ấy. Trả lại cho văn chương và văn hóa miền Nam chỗ đứng đúng đắn trong văn học sử là việc nên làm, phải làm. Công việc đó qui mô và cần công sức của nhiều học giả, nhà nghiên cứu, của nhiều người. Bài viết này xin được là một đóng góp nhỏ cho công việc to lớn ấy.

Tài liệu Tham Khảo:

1. Việt Nam Sử Lược (Quyển II) - Trần Trọng Kim -Trung Tâm học Liệu xb 1971

2. Việt Sử Tân Biên (Quyển 3) - Phạm văn Sơn - Cơ sở xuất bản Đại Nam (in lại)

3. Đồng Bằng Sông Cửu Long hay là Văn Minh Miệt Vườn - Sơn Nam - Nhà xuất bản Xuân Thu (in lại)

4. Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam - Sơn Nam - Nhà xuất bản Xuân Thu (in lại)

5. Tiến Trình Văn Nghệ Miền Nam - Nguyễn Q. Thắng - Văn Hiến xb 1994

6. Sưu tầm Ca Dao Đồng Bằng Cửu Long - Tài liệu in roneo, trung học Tống Phước Hiệp - Vĩnh Long.

Chú thich

(1) - Trong toàn bài, những câu in nghiêng, theo thiển ý của người viết,là những câu trong miền Nam.

(2) - Năm 1708, đời Nguyễn Phúc Chu

(3) - Kinh Vĩnh Tế, Kinh Thoại Hà (Kinh Núi Sập) do Thoại Ngọc Hầu đốc xuất dân binh đào.

(4) - Trong chuyện Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) ta thấy còn rất nhiều từ không có ở ngoài Bắc, nhưng lại vẫn còn dùng trên cửa miệng của dân miền Nam như dươn (duyên), làm riết, tu hoài tu huỷ, cho xuê, hây hây, ấm cật, bậu, xinh ghê...

(5) - Tức Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh, cù lao thuộc huyện Chợ Mới - Long Xuyên, An Giang,

(6) - Phiên âm chữ "bonjour" (tiếng Pháp)

(7) - Cũng có chỗ đọc: Cúc mọc dưới sông, kêu bằng cúc thủy

Chợ Sài gòn xa, chợ Mỹ cũng xa...

không biết có loại cúc nào mà mọc dưới sông?

(8) - Nước rong: nước lớn do thủy triều cao, nước từ sông không đổ ra biển được, chảy vào rạch, đồng ruộng; khác với nước ròng do thủy triều thấp, nước từ ruộng chảy ra rạch, sông lớn.

(9) - Một dị bản khác:

Tui ôm, bậu có la làng,
thì tui ôm riết hai đàng xấu chung.
Tui ôm bậu có làm hung,
nói cùng bất quá tui chun xuống sàn

(10) - Câu này nghe được ở vùng Phan Rang Nha Trang. Không biết Cầu Ô ở đâu, nhưng chợ Dinh có thể là chợ Kinh Dinh ở Phan Rang. Cũng có người cắt nghĩa cầu Ô là cầu Ô Thước (trong chuyện Ngưu Lang Chức Nữ), chợ Dinh là chợ tại các Dinh, các Trấn ở miền Nam, nơi dân cư đông đúc.

(11) - Sưu Tầm Ca Dao Đồng Bằng Cửu Long - Tài liệu lưu hành nội bộ, in roneo do Trung Học Tống Phước Hiệp - Vĩnh Long ấn hành

Edited by user Wednesday, May 27, 2020 2:07:40 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1753 Posted : Tuesday, June 30, 2020 4:36:15 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)
Món cá kho tiêu cay quê hương.


UserPostedImage

Nguyên liệu chế biến món cá kho tiêu:

Cá: 2 khúc (tùy vào lượng người ăn. Có thể là cá trắm, cá diếc hay những loại cá khác mà các bồ ưa thích

Tỏi: 1 củ
Ớt: 2 quả
Hành lá

Gia vị: muối, đường, nước mắm, nước màu, tiêu

Cách làm món cá kho tiêu:

Sơ chế nguyên liệu:

- Cá mua về làm sạch, để vào rổ cho ráo nước.
- Tỏi bóc vỏ bằm nhỏ
- Hành lá rửa sạch, thái nhỏ

Thực hiện:

Bước 1: Ướp cá tiêu, muối, đường, ớt, dầu ăn, tỏi cho ngấm.

Bước 2: Khi cá đã ngấm, cho nồi cá lên bếp kho với lửa nhỏ. Thêm khoảng 2 muỗng canh nước lạnh cho cá được chín, không cháy nồi.

Bước 3: Trở cá cho chín đều hai bên, khi cá chín, nước xốt sánh lại, thêm nước mắm và kho sôi lên. Tắt bếp thêm tiêu, hành tươi cho thơm.

Như vậy, bồ đã có nồi cá kho thơm ngon đúng điệu cho bữa cơm trưa ngày cuối tuần.

---

UserPostedImage

Cá cơm kho tiêu ớt


1 - Nguyên liệu:

300 grams cá cơm tươi
80 ml nước sôi
Ớt xắt nhỏ 3 trái

Gia vị: 1 muổng đường, 3 muổng nước mắm , 1 muổng dầu ăn, 1 muổng nước màu, 1 muổng tiêu

2 - Cách làm :

Bước 1:

Cá cơm mua con thật tươi.

Về nhà đổ cá ra thau, đổ nước và cho xíu muối vô, rửa sạch cá, xả lại vài lần với nước, bỏ đầu, rửa sạch cho ra rổ.

Bước 2:

Cho vô nồi đất, nêm các loại gia vị trong phần nguyên liệu vô.
Dùng đũa đảo nhẹ rồi ướp trong nửa tiếng.

Bước 3:

Cá ướp đủ thời gian, đặt nồi đất lên bếp, đổ 80ml nước sôi vô, kho với lửa lớn đến khi sôi thì hạ nhỏ lửa, hớt bỏ bọt.

Lấy mưởng múc nước chan lên mặt cá một lúc, sau đó đậy nắp nấu liu riu tới khi cá chín, nước kho sền sệt lại thì nêm nếm lần cuối rồi tắt bếp, rắc tiêu lên trên.

VietHai Tran

Edited by user Tuesday, June 30, 2020 4:39:07 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1754 Posted : Monday, July 6, 2020 6:37:40 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)

Chỉ 1 mẹo nhỏ của người Nhật mà cát trong nghêu
bị đánh bay không còn 1 hạt dù là nhỏ nhất


By amthuc -

June 30, 2020

Nghêu là một món ăn “khoái khẩu” vì chúng không chỉ ngon mà còn tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên, việc làm sạch cát trong nghêu trước khi chế biến lại là một “thách thức” với chúng ta.

Có nhiều cách để làm sạch cát trong nghêu mà mọi người thường sử dụng, như: Ngâm với ớt, ngâm nghêu với nước muối hoặc ngâm thời gian dài trong nước. Nhưng những cách này không đảm bảo là sẽ làm sạch cát và thậm chí sẽ dễ làm mất độ tươi và ngon của nghêu.

UserPostedImage

Sử dụng nước nóng 50oC để làm sạch cát trong nghêu

Đây là cách mà người Nhật Bản sử dụng để làm sạch cát trong nghêu hiệu quả nhất. Chỉ cần ngâm nghêu trong nước nóng 50oC khoảng 15 phút, đảm bảo nghêu sẽ sạch hết cát và vẫn giữ được độ tươi, ngon như ban đầu.

Ngoài ra, nước nóng 50oC còn được sử dụng để làm sạch và tăng độ tươi của trái cây cũng như rã đông đồ đông lạnh. Bằng cách này, độ tươi của trái cây có thể tăng thêm 5 ngày, đồ đông lạnh sau khi rã đông vẫn giữ được màu sắc tươi ngon.

UserPostedImage

Ngâm hoa quả trong nước nóng 50oC để làm sạch và tăng độ tươi.

UserPostedImage

Rã đông thịt bằng cách ngâm trong nước nóng 50oC

Đây là những mẹo vặt hữu ích giúp bạn có thêm sự lựa chọn cho việc làm sạch thực phẩm hàng ngày, vừa tiết kiệm lại vừa an toàn cho sức khỏe! Bạn hãy áp dụng thử xem sao nhé!

Edited by user Monday, July 6, 2020 6:44:17 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1755 Posted : Monday, July 6, 2020 9:37:40 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)

Bò kho dã chiến


UserPostedImage

Bò kho là một món nấu thịt bò nấu cho nhừ cùng với gia vị “quê hương”, người Pháp có món Daube và người Hoa Kỳ có món beef stew, nhưng vị không thích bằng bò kho dân mình đâu… ☺️

Nấu bò kho dã chiến thì có chút đổi khác về loại thịt, Lành thì nấu với các loại thịt bò như sau: - bò bắp (beek shank), - bò nạm (miếng nhỏ thôi), - bò ức (brisket), - sườn bò có thịt (rib), nếu ai mà trên 6 bó rồi có thích gân thì thêm 1 cây gân là đủ. Bạn nào mà thích "gặm" xương thì thêm đuôi bò vô thì... mắc tiền một chút.

UserPostedImage

- Các gia vị gồm có: - cốt phở Quốc Việt, - gia vị nấu bò kho 2 con voi, - tỏi (bầm nhỏ), - gừng (đập dập và sắc lát mỏng), - 3 cây xả (đập dập và cắt khoảng 20cm). Lý do mà Lành không có số lượng về gia vị vì mỗi người một ý thích. Nhưng bổ đồng thì 500gram (hay 1 lb.) thịt thì cho 2 búp tỏi, 1 củ gừng, 1 túi gia vị bò kho và v.v…

- Rau, củ quả: - rau quế (loại ăn phở), - rau ngò gai (tùy ý), - cà rốt, - hành tây hoặc Poirot (leek) cắt khúc chứ đừng ắt mỏng…

- Đồ phụ tùng: - bánh mì tây (chưa thấy bánh mì ta…), - phở tươi hay mì tươi. Chú ý nếu các bạn muốn ăn phở bò kho hay mì bò kho thì đừng có quên mua thêm giá nha.

- Mấy thứ trang trí: - hành tây trắn cắt khoanh mỏng, - ngò cắt nhỏ chung với ngò gai, - rau quế (ăn phở) để nguyên lá, - ớt to (jalapenos) cắt khoanh nhưng lấy hết hột, - chanh.

Sau khi cắt thịt theo khẩu vị nhưng đừng nhỏ quá vì khi nấu thịt bò sẽ teo lại bớt ngon miệng đó nha.

Đầu tiên là rửa thịt qua nước muối cho sạch, để cho ráo nước rồi ướp với gia vị nấu bò kho, tỏi bầm, gừng lát mỏng, chút xả bầm cũng ngon; và nếu ướp được qua đêm thì rất đúng điệu.

UserPostedImage

Kiếm một cái nồi để um nên dung tích cái nồi này cũng phải kha khá đó, bên Hoa Kỳ có nồi um gọi là crockpot, ngoài ra còn có nồi áp suất thì nấu rất mau chừng 1 tiếng là ăn được rồi. Đổ dầu ăn vô nồi để nóng rồi chiên mớ thịt bò và gân đã ướp sẵn, đừng có tiếc dầu chiên, chiên một lúc thì bắt đầu ngửi thấy mùi thơm.

Trước khi đổ nước vô um thịt thì để mấy cây sả đã cắt thành khúc và đập dập dưới đáy nồi, sau đó cho nước vô nồi và đổi bếp qua lửa trung bình.

Khi nước bắt đầu sôi nhiều nhiều thì phải vớt bọt ra vì mấy khúc thịt sường có xưởng đó ra nhiều bọt/cặn lắm.

Lúc này là lúc cho cà rốt và hành tây (cắt làm 6) hay Poirot cắt thành từng đoạn khoảng 2 lóng tay.

UserPostedImage

Nấu khoảng một tiếng thì cho cốt phở bò Quốc Việt vô và bớt lửa xưống còn1/3 cho riu riu. Các bạn nhớ là khi thêm nước là thêm nước sôi nha, rủi có quên mà thêm nước lạnh thì nấu lâu thêm mà tốn điện hay tốn ga.

Nếu thấy lạt (nhạt) thì thêm chút muối hột hay muối hồng (Himalaya salt) hột nhưng phải cẩn thận chứ không thì mặn chát đó. Nấu chừng 3 hay 4 tiếng, nếm thị thấy thịt mềm thì là ăn được.

Lúc bò kho nóng thì thấy hơi lạt là vừa chứ đừng nêm vừa miệng thì lúc món ăn nguội đi thì sẽ mặn hơn và ngày hôm sau hâm lại thì dễ có cảm tưởng bò kho + nước biển lắm đó... Nếu ăn thấy măn thì vắt chanh vô vừa thơm, vừa bớt mặn...

FB Lanh Tran

Edited by user Monday, July 6, 2020 9:38:52 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1756 Posted : Friday, July 10, 2020 12:44:38 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,399

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5340 time(s) in 3586 post(s)
* Cam on tac gia Le Anh Tuan ve bai suu khao rat gia tri. - hvln -


Monday, July 6, 2020

Những thành ngữ bạn có thể hiểu sai


UserPostedImage

Hàng ngày chúng ta vẫn sử dụng những thành ngữ quen thuộc do ông cha để lại trong khi nói chuyện hay viết lách. Tuy nhiên, có nhiều thành ngữ mặc dù thường xuyên sử dụng, nhưng câu gốc hay ý nghĩa của nó lại khác xa so với những gì ta nghĩ. Sau đây là một số những thành ngữ như vậy.

1_ Nghèo rớt mồng tơi

UserPostedImage

Nhiều người vẫn nhầm tưởng mồng tơi ở đây là cây mồng tơi mà chúng ta vẫn thường nấu canh hay dậu mồng tơi trong thơ Nguyễn Bính.

Nhưng thật ra, mồng tơi hoàn toàn khác với những gì bạn nghĩ. Trước đây người nông dân khi ra đồng thường khoác một chiếc áo được đan từ lá cọ để che nắng che mưa gọi là áo tơi. Phần trên cùng của áo tơi được khâu lại để luồn dây đeo qua vai gọi là mồng tơi.

UserPostedImage

Với những người rất nghèo, họ cứ đeo mãi một cái áo tơi cho đến khi phần dưới rách nát, rụng tơi tả còn mỗi cái mồng tơi sắp rớt (rụng ra mà vẫn phải sử dụng. Cho nên câu trên muốn nói đến người rất nghèo, nghèo đến tột cùng.

2_ Đều như vắt tranh

UserPostedImage

Chúng ta vẫn thường nói "đều như vắt chanh", nhưng thực ra câu này không có ý nghĩa. Vì vắt quả chanh thì làm sao mà đều được.

Với những bạn sinh ra trước những năm 7x, các bạn sẽ được biết đến hình ảnh nhà tranh vách đất. Khi lợp mái tranh, người ta sẽ đan những lá cọ (hoặc lá dừa vào với nhau thành một vắt gọi là vắt tranh. Từ những vắt tranh này mới được đưa lên mái nhà để lợp. Với những người thợ giỏi, họ biết sắp xếp các lá đều nhau nên vắt tranh rất đều và đẹp.

Đều như vắt tranh ý nói làm một cái gì đấy mà sản phẩm rất đồng đều.

3_ Lang bạt kỳ hồ

UserPostedImage

Khi nghe câu trên nhiều người nghĩ ngay đến hình ảnh một người sống phiêu bạt giang hồ, nay đây mai đó. Nhưng thực ra, đây là một câu thành ngữ Hán-Việt. Lang là con Sói, bạt là giẫm đạp, kỳ là đại từ chỉ chính con sói, hồ là vạt yếm dưới cổ.

Vậy Lang bạt kỳ hồ có nghĩa là con Sói dẫm vào chính cái yếm của nó. Ý nói người nào đó đang rất lúng túng, quẩn quanh không tìm ra lối thoát.

4_ Con cà con kê

UserPostedImage

Thoạt nghe nhiều người nghĩ ngay là con gà, con kê, tức muốn ám chỉ một người nói vòng vo vì con gà với con kê thực ra là một.

Nhưng nghĩa gốc của nó lại hoàn toàn khác. Ngày xưa làm nông nghiệp, người dân sau khi gieo cây cà, cây kê, đến thời điểm nhổ lên để trồng ra luống người ta cũng buộc lại thành từng bó như bó mạ mà các bạn thấy trên hình, được gọi là con cà, con kê. Việc trồng cà, trồng kê rất mất nhiều thời gian và tỉ mẩn vì phải tách từng cây trong bó ra rồi mới trồng.

Câu con cà con kê ý nói rất dài dòng, không biết bao giờ mới dứt như công việc trồng cà, trồng kê.

5_ Chạy như cờ lông công

UserPostedImage

Thoạt nghe cứ tưởng cờ lông công chỉ là một từ ghép nghe cho nó vần. Nhưng thực ra cờ lông công là một loại cờ hiệu được sử dụng từ thời xa xưa.

Ngày nay, việc trao đổi thông tin đã có hòm thư điện tử, bạn chỉ cần soạn thảo và một cái nháy chuột là xong. Tuy nhiên, từ thời xa xưa, khi việc di chuyển còn khó khăn thì việc trao đổi thông tin mất rất nhiều thời gian. Khi cần chuyển một thông tin hỏa tốc, người lính trạm dùng tín hiệu là một lá cờ có gắn thêm lông đuôi con công, gọi là cờ lông công. Vì là thông tin hỏa tốc nên người lính trạm khi gắn cờ này thường chạy rất nhanh, chạy qua chạy lại rất nhiều chặng đường.

Vì vậy, để nói đến những người suốt ngày chạy khắp nơi ngoài đường, hoặc chạy vội vã người ta thường sử dụng thành ngữ chạy như cờ lông công.

6_ Đanh đá cá cày

UserPostedImage

Câu này thường để chỉ những người phụ nữ có tính ương ngạnh, không được hiền lành, dịu dàng. Tuy nhiên, do ngôn ngữ vùng miền nên nhiều người đọc thành cá cầy khiến nhiều người tưởng đanh đá như con cá Cầy.

UserPostedImage

Thực ra, cá cày là một thứ làm bằng gỗ hoặc tre, có hình dáng gần giống với con cá được sử dụng trong chiếc cày thô sơ ngày xưa để điều khiển nâng hoặc hạ bắp cày để có đường cày nông hay sâu theo ý mình. Trong cấu tạo của cả chiếc cày, cá cày có hình dáng rất nhỏ nhưng nó có thể điều khiển được cả chiếc cày theo ý mình.

7_ Sư tử Hà Đông

UserPostedImage

Nhiều người vẫn dùng hình ảnh trên để nói về những bà vợ của mình. Tuy nhiên, không ít người lầm tưởng Hà Đông ở đây là quận Hà Đông, Hà Nội (trước đây thuộc tỉnh Hà Tây. Thực ra, Sư tử Hà Đông lại chẳng liên quan gì đến địa danh Hà Đông của chúng ta mà nó bắt nguồn từ một điển tích bên tận Trung cộng.

Trần Tạo tự Quý Thường, người đời nhà Tống, quê ở Vĩnh Gia. Vợ của Trần họ Liễu vốn có tính ghen dữ ghê gớm. Quý Thường rất sợ vợ nhưng rất có lòng tôn sùng đạo Phật. Hằng ngày ngồi đọc kinh, vợ lấy làm bực, la hét om sòm, nhưng Trần vẫn điềm nhiên, không dám cự một tiếng.

Tính của Trần cũng hào hoa, bằng hữu nhiều, nên ở nhà thường có yến tiệc. Để tăng phần hứng thú, long trọng của buổi tiệc, Trần chiều khách, mời kỹ nữ xướng ca. Liễu Thị trong phòng mượn điều này, điều nọ, quát tháo om sòm. Trần có lúc hốt hoảng, cầm gậy nơi tay bỏ rơi mất gậy. Bạn thân của Trần là Tô Đông Pha, nhân đó làm một bài thơ đùa cợt trong đó có hai câu như sau:

UserPostedImage

Từ đó, sư tử Hà Đông được dùng để chỉ những bà vợ có tính ghen tuông và mỗi khi xảy ra việc gì lập tức nổi cơn tam bành với chồng.

8_ Kẻ tám lạng người nửa cân

UserPostedImage

Mọi người vẫn thường dùng câu trên để nói về cuộc đấu giữa hai đội quân hay hai người cân sức, cân tài. Nhưng tại sao lại là tám lạng với nửa cân mà không phải năm lạng và nửa cân?

Thực ra, cân ở đây là cân ta từ ngày xưa: mỗi cân tương đương với 16 lạng, khoảng 0,6kg bây giờ. Vì vậy, nửa cân khi đó bằng đúng tám lạng.

9_ Công như công cốc

UserPostedImage

Nghe có vẻ như hai chữ công cốc người ta chỉ nói cho có vần, có điệu. Nhưng thực chất, chữ cốc ở trong câu thành ngữ này là một loài chim. Con chim Cốc cũng có màu đen và trông giống với con Quạ nhưng kích thước lớn hơn khá nhiều. Chúng là loài chim săn cá điệu nghệ nên nhiều ngư dân thuần hóa chim Cốc để đánh bắt cá. Thường các ngư dân sẽ đeo vào cổ con chim một chiếc vòng để sau khi chim bắt được cá to thì sẽ không thể nuốt được.

Vì vậy mà người ta thường dùng thành ngữ công như công cốc hay đơn giản là công cốc để ám chỉ những việc làm dù rất cố gắng mà không mang lại thành quả.

Lê Anh Tuấn
-

Edited by user Friday, July 10, 2020 1:01:47 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Mắt Buồn  
#1757 Posted : Friday, August 14, 2020 5:31:56 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,309

Thanks: 668 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

CANH SƯỜN NẤU SẤU


UserPostedImage

UserPostedImage

Chua thanh & ngọt mát cho ngày hè nóng nực (Pork ribs soup with sour fruit

https://www.youtube.com/...K14&feature=youtu.be

Cách làm món canh sườn nấu sấu chua dịu mát cho bữa cơm ngày hè Món canh sườn nấu sấu nổi bật bởi vị chua thanh, dễ ăn của những quả sấu làm giảm đi cảm giác oi bức ngày hè. Cách làm món ngon này rất đơn giản, bạn có thể tham khảo công thức trong bài viết dưới đây.

Nguyên liệu làm món canh sườn nấu sấu

Cách làm món canh sườn nấu sấu chua dịu mát cho bữa cơm ngày hè
- 1 kg sườn non (nên chọn sườn tươi, non, vì phần sườn này khi măm rất giòn, thịt mềm rất ngon)

- 8 quả sấu (hoặc nhiều, ít hơn tùy khẩu vị)

- 2 quả cà chua

- 2 thìa cà phê hạt nêm, 1 thìa cà phê nước mắm ngon, 1/2 thìa cà phê muối, 1/2 thìa cà phê dầu mè

- Hạt tiêu, hành lá, mùi tàu

Cách làm món canh sườn nấu sấu

- Bước 1 (sơ chế nguyên liệu): Sườn rửa sạch, chặt nhỏ. Cà chua rửa sạch, thái múi cau. Sấu cạo vỏ, dùng dao sắc nhỏ lạng 1 vòng quanh quả sấu.

- Bước 2: Chần sườn qua nước sôi rồi rửa sạch lại với nước. Để sườn có vị đậm đà hơn, các bạn ướp sườn với 1 thìa hạt nêm, ướp khoảng 30 phút, miếng sườn sẽ đậm đà thơm ngon hơn.

- Bước 3: Bắc chảo lên bếp đun nóng, cho vào trong chảo 1/2 thìa cà phê dầu mè. Dầu nóng cho đầu hành lá vào phi thơm, tiếp đến cho sườn vào đảo đều đến khi miếng sườn săn lại thì trút sườn sang nồi khác, cho nước sôi vào ngập sườn, thêm sấu, đun sôi. Tong quá trình đun sôi, bạn nên vớt bọt cho nước dùng được trong hơn. Sau khi sôi khoảng 5 phút, các bạn vặn lửa nhỏ đun khoảng 30 phút - 1 tiếng.

- Bước 4: Bắc chảo lên bếp, cho vào trong chảo 1 thìa con dầu ăn, trút cà chua vào, xào cà chua cho mềm. Khi cà chua đã mềm, đổ cà chua vào nồi sườn, đun thêm khoảng 1-3 phút, nêm nếm lại gia vị cho vừa ăn.

Cách làm món canh sườn nấu sấu chua dịu mát cho bữa cơm ngày hè
Cuối cùng, bạn tắt bếp, rắc thêm chút hành lá, mùi tàu và hạt tiêu là có ngay bát canh sườn nấu sấu chua ngon tuyệt.

Mắt Buồn  
#1758 Posted : Tuesday, September 15, 2020 12:15:31 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,309

Thanks: 668 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

UserPostedImage

CHÈ NẾP ĐẬU TRẮNG


Hôm nay là lễ Trung Nguơn
Nhờ người nhắc nhở ngọn nguồn mới hay
Dù rằng tôi chả ăn chay
Đã ăn cơm hến còn cay miệng mồm

Nhưng mà nghĩ đến gia môn
Cũng xin lấy đâu nếp thơm nấu chè
Đậu trắng bỏ hấp cho te
Liền xả nước lạnh cho se vỏ dầy

Gạo nếp lựa hột trắng đầy
Bật bếp nấu chín nước này phải căn
Đừng có lỏng quá không thành
Cũng đừng quá đặc quánh mành như cơm

Đậu trắng lúc đó bỏ chung
Nấu cho vừa quánh ký đường bỏ vô
Múc ra đem đến bàn thờ
Thắp hương cúng vái ông bà tổ tiên

Hôm nay là rằm Trung Nguyên
Chè xôi con nấu dành riêng ông bà
Không quên chan nước cốt dừa
Trung nguyên tranh đấu hơn thua với đời

Con xin khấn nguyện các người
Nước Nam sớm được an vui thanh bình

Peter Lý

Users browsing this topic
Guest
88 Pages«<868788
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.