Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

38 Pages«<3233343536>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#661 Posted : Thursday, March 14, 2019 12:52:39 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage

Hoàng Thy Mai Thảo  
#662 Posted : Thursday, March 14, 2019 10:15:02 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#663 Posted : Saturday, March 16, 2019 12:28:28 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#664 Posted : Sunday, March 17, 2019 12:42:15 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#665 Posted : Sunday, March 17, 2019 11:47:44 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#666 Posted : Monday, March 18, 2019 11:50:33 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage
thao ly  
#667 Posted : Tuesday, March 19, 2019 1:07:31 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,465
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)

Chàng


Từ lâu tôi vẫn bảo với lòng tôi, nếu bây giờ may mắn gặp lại chàng trong bất cứ hoàn cảnh nào, tôi sẽ nói với chàng những lời rất thật: " Trong đời, người ta có những điều hối tiếc. Và em, điều hối tiếc lớn nhất với em là đã không nhận lời anh."

Nếu tôi nói được điều đó với chàng thì lòng tôi nhẹ lắm và tôi cũng cảm thấy đã làm xong một việc quan trọng phải làm, cho chính tôi và cho chàng.

Tôi chỉ có ý nghĩ này sau khi lấy chồng được vài năm. Có nghĩa là, sau khi tôi khôn hơn một chút. Ý nghĩ này càng thôi thúc trong tôi sau năm năm lặn lội thân cò nuôi chồng tù cải tạo, để lúc chồng về, nói với người bạn tôi một câu mà đến chết tôi vẫn không quên và không tha thứ được.

Ngày đó, tôi còn khờ khạo lắm. Là một cô giáo nhỏ mới nhận lớp lần đầu, tôi dạy lớp Tư B và chàng dạy lớp Nhứt A. Mỗi chiều thứ bảy đầu tháng, học sinh được nghỉ sớm một giờ để thày cô đi họp. Sau khi đưa học sinh ra khỏi cổng trường, chàng hay đi cùng thày giáo lớp Nhất B đến dãy lớp của tôi, chờ tôi vào lớp lấy xách tay và cùng lên phòng họp. Ý tứ và tế nhị, chàng để thày giáo lớp Nhứt B đi giữa. Thày giáo lớp Nhứt B lúc đó khoảng gần 60. Ông trọng tuổi nhất trong số giáo viên và chúng tôi rất quý ông. Như thế cả nửa năm, chúng tôi tôn trọng và quý mến nhau trong tình đồng nghiệp. Tôi thì quá khờ khạo, chàng thì quá khôn ngoan và kín đáo nên tôi chẳng hiểu lòng chàng. Ít tháng sau, chàng đi Thủ Đức. Chúng tôi làm bữa tiệc nhỏ tiễn chân và tôi vẫn vô tình.

Ngày còn trong quân trường, thỉnh thoảng, chiều Thứ Bảy chàng về thăm chúng tôi. Gặp những ngày Thứ bảy đầu tháng, chàng mặc quần áo Thủ Đức, đi với thày lớp Nhứt B đến dãy lớp đón tôi và cùng đi lên phòng họp như ngày nào. Thày Hiệu trưởng mời thày ở lại họp. Chàng chọn chiếc ghế ngồi đối diện tôi và tôi vẫn vô tình.

Mẹ tôi mất vào mùa Xuân năm sau khi những nhánh hoa mai còn vàng tươi màu xuân thắm. Tôi đổi về gần nhà trong niên học kế. Chàng ra trường, trấn giữ miền cao.

Gần nửa năm sau tôi mới gặp lại chàng. Hôm ấy, một chiều chủ nhật, tôi đi thăm một người bạn về thì thấy chàng và bé Thanh - cháu gọi chàng bằng chú ruột và cũng là cô học trò nhỏ của tôi trong năm đầu tiên tôi làm cô giáo - đang ngồi nói chuyện với bố tôi. Chúng tôi chào nhau vui vẻ. Chàng cười chỉ cô cháu, nói với tôi:

- Học trò nhớ cô giáo quá, đòi chú dẫn đến thăm cô.

Lúc ấy, tôi dạy lớp nhì ở một ngôi trường gần nhà và học trò thương mến tôi, cũng hay lại thăm như thế. Tôi nghe chàng nói và tưởng thật. Tôi vẫn lại vô tình.

Thấy trên bàn có một chục xoài chín vàng, tôi hỏi bố ai cho. Bố tôi bảo của anh Viên mang biếu. Tôi không vui hỏi sao bố nhận. Bố tôi bảo, anh ấy nói, anh ấy phải đi bay, không đem theo được và xin để lại. Tôi không vui vì Viên theo đuổi tôi hơn hai năm qua, Viên không có gì để tôi chê nhưng không hiểu sao lòng tôi vẫn không rung động, vì thế, tôi không muốn nhận quà chàng biếu. Nhân có khách và bố đã nhận xoài, tôi gọt mời học trò.

Từ đó, mỗi tuần tôi đều nhận thư chàng từ Pleiku gởi về trường. Trong thư, chàng bày tỏ lòng chàng. Tôi đọc nhưng không hồi âm.

Chàng về thăm, hỏi tôi có nhận thư chàng không, tôi sợ phải trả lời những câu chàng viết trong thư nên nói dối là không. Chàng lại viết thư về. Lần này, ngoài thư cho tôi, còn một phần cho chị gái chàng. Chàng nhờ tôi chuyển. Bà chị ở cách tôi độ nửa giờ và tôi vô tình vui vẻ chuyển thư. Tôi chuyển thư giúp chàng mà không biết là chàng đang cười cười và nói với tôi: " Này cô bé, cô học nói dối từ bao giờ mà tài thế, nhưng cô bé đừng tưởng rằng tôi không biết là cô bé nói dối tôi đâu nhé, tôi bắt được quả tang cô đang nói dối đây này!" Sau lá thư đó, chàng không gởi nữa.

Chàng lại về thăm. Lần này, chàng không để tôi trốn nữa mà chàng thẳng thắn mở đầu:

- Cô giáo, (chúng tôi vẫn gọi nhau bằng cô, thày) tôi về lần này, muốn bày tỏ với cô giáo một chuyện. Chắc cô biết chuyện gì tôi sắp nói. Chúng ta lớn rồi. Tôi rất quý mến cô giáo và rất mong được cùng cô nên vợ nên chồng. Chúng ta sẽ thương yêu nhau và sống một đời sống bình dị. Tôi muốn biết ý cô giáo trước khi đưa hai cụ tôi lên thưa chuyện với bố, (chàng gọi bố tôi bằng bố) cô giáo nghĩ sao?

Tôi biết sẽ một ngày tôi phải đối diện với chàng về chuyện này. Nhưng tôi lại không biết rằng nó đến trong lúc tôi chưa chuẩn bị. Bất ngờ quá, tôi không biết nói sao. Yêu chàng, tôi chưa yêu. Ghét chàng, tôi không ghét. Nếu chỉ muốn có một người chồng thông minh, hiền hòa, kiên nhẫn, tế nhị, biết yêu thương gia đình thì chàng có đủ những đức tính quý này. Chàng cũng có một nhân dáng, một địa vị xã hội cho người vợ hãnh diện được sánh vai. Tôi, lúc ấy, ước mơ về tương lai không dừng lại ở đó, mà hình như lòng còn mơ ước thêm một cõi trời xa. Hình như một tình yêu. Một tình yêu có hình ảnh một chàng chiến sĩ kiêu hùng, yêu quê hương trong từng hạt máu, cầm cờ vàng vượt dòng sông Bến Hải để giành lại quê hương và trong đó có một chuyện tình đẹp như thần thoại. Tôi vẫn mong chờ tình yêu thần thoại ấy, ngay cả giờ phút viết những dòng này.

Trước mặt chàng, tôi không trốn được nữa. Chàng hỏi tôi nghĩ sao? Tôi nghĩ đến bố tôi, đến hoàn cảnh hiện tại của tôi. A, cái phao đây rồi và tôi bám lấy:

- Thưa thày, thày biết hoàn cảnh tôi. Mẹ tôi mất rồi. Anh trai tôi đang trong quân đội, anh lại chưa có gia đình. Chị gái tôi lấy chồng ở xa. Nếu tôi lập gia đình, không có ai lo cho bố tôi giữa lúc này.

Chàng nhìn tôi với đôi mắt nồng nàn, thông cảm. Nói rất chậm. Cho đến bây giờ, hơn ba mươi năm sau, tôi như vẫn còn nghe rõ lời chàng. Và chính những điều chàng nói với tôi hôm đó là điều làm tôi thao thức suốt mấy chục năm nay:

- Tôi biết. Chỉ cần cô giáo đồng ý, mọi chuyện sẽ có lối giải quyết. Cô cứ xem quanh đây, căn nhà nào cô thích, chúng ta sẽ mua và mời bố về ở chung. Như thế, chúng ta vừa xây dựng hạnh phúc bên nhau, vừa chung lo cho bố. Còn căn nhà này, phần của con trai, của anh Quốc. Chúng ta không động đến.

Nghe thế, tôi cảm động vì biết lòng chàng tốt. Thương tôi, chàng đã nghĩ cả đến hoàn cảnh của tôi và có lối giải quyết rất là độ lượng.

Nhưng tôi vẫn vô tình, miệt mài theo đuổi một cõi trời huyễn mộng của riêng tôi.

Chờ mãi, không thấy tôi trả lời, chàng viết cho tôi một lá thư, bảo, có lẽ tôi cần một thời gian yên tĩnh mà suy nghĩ. Và chàng dành cho tôi thời gian cần thiết ấy. Chàng sẽ tôn trọng mọi quyết định của tôi. Lúc nào chàng cũng ở bên tôi. Khi nào tôi lên tiếng gọi, chàng sẽ sẵn sàng.

Hơn một năm sau bố tôi ngã bịnh. Một tháng trời nằm trong bịnh viện, khi biết mình không còn sống được, bố tôi bảo với tôi:

- Trước khi mẹ chết, dặn bố phải lo cho con. Con là con gái, lớn rồi, phải lấy chồng. Bây giờ bố xem mình không qua khỏi, bố muốn con lập gia đình cho bố yên tâm.

Khi nghe bố tôi nói thế, thương bố quá, tôi khóc nói với bố rằng:

- Bố, nếu điều đó làm bố yên tâm, con sẽ vâng lời.

Lúc đó, khung trời tình yêu trong lòng tôi vẫn không một bóng người hùng. Một tay tôi cầm tay bố, một tay chùi lệ, ngập ngừng...

- Nhưng bây giờ, bố muốn con lấy ai?

Bố tôi suy nghĩ một lúc, rồi mệt nhọc:

- Thì thằng Văn đấy, nó theo đuổi con từ khi con mới mười mấy tuổi. Nó lại là bạn của thằng Quốc nhà mình. Lấy nó.

Thế là tôi lấy Văn. Lễ hỏi và cưới chạy tang vội vàng, đơn giản. Tôi không có xe hoa, không khăn áo cưới. Bố tôi đã mệt, cũng không ăn được miếng bánh đám hỏi con gái khi tôi đem bánh vào nhà thương cho cụ.

Rồi bố tôi qua đời.

Sau đám tang bố tôi, tôi nói với Văn:

- Anh Quốc phải về đơn vị. Nhà không còn ai lo nhang khói. Anh cho em ở lại nhà lo chuyện nhang đèn cho bố trong 49 ngày.

Văn lạnh lùng:

- Không được. Thuyền theo lái, gái theo chồng. Anh là con trai trưởng, em phải về làm dâu thày mẹ.

Tôi khóc. Giọt nước mắt đầu tiên trong cuộc đời chồng vợ sao mà cô đơn chua xót. Nhưng cũng vẫn phải về làm dâu. Bàn thờ bố mẹ tôi nhang đèn lạnh lẽo. Văn trở về đơn vị và tôi ở lại nhà chồng.

Làm dâu, tôi vụng về nội trợ, tôi khờ khạo mọi đàng. Chị chồng và đám em chồng thấy thế dùng lời lẽ mỉa mai cay đắng. Tôi nhẫn nhịn, âm thầm. Người anh rể thứ hai của Văn ở chung trong nhà, thấy tôi thân cô thế độc, toan có hành vi bất chính. Tôi sợ hãi kể lại cho mẹ chồng. Mẹ chồng nói lại cho con gái. Thế là người chị chồng nhìn tôi với một đôi mắt không thiện cảm nhưng lại mong chờ thái độ cứng rắn của em trai tỏ với chồng mình. Tôi lên đơn vị thăm chồng, kể lại cho Văn nghe. Văn không có một phản ứng. Thấy thế, người chị một mặt phê phán em trai mình nhu nhược một mặt chị rửa mặt cho chồng bằng cách đổ lỗi tại tôi. Tại tôi lẳng lơ, tại tôi khêu gợi. Văn nghe thế, cũng không một lời binh vực cho tôi. Từ đó, cuộc đời làm dâu của tôi thêm cô đơn, khốn khổ. Có lần tôi giấu hai hộp Optalidon định kết liễu đời sống mình, nhưng số tôi chưa chết, Văn bất ngờ từ đơn vị về, thấy hai hộp thuốc, biết ý định của tôi, lấy vứt đi.

Tôi đem con gái đầu lòng về ăn giỗ bố tôi. Nhìn bàn thờ nhang tàn khói lạnh, tôi chợt nhớ đến chàng. Đây là lần đầu tiên tôi nhớ đến chàng từ sau ngày chàng gởi cho tôi phong thư cuối. Nhớ chàng, tôi nhớ những lời chàng đề nghị với tôi là mua cái nhà nào tôi thích, cưới nhau rồi mời bố tôi về cùng phụng dưỡng. Giọng nói ấm cúng ôn tồn của chàng vang lên trong tôi và theo tôi từ đó, làm tôi thêm xót xa cho cảnh bàn thờ bố mẹ tôi nhang đèn hoang lạnh, làm tôi nhớ đến nỗi thất vọng đau đớn trong tôi khi tôi nói với Văn cho tôi ở lại nhà thắp nhang cho bố tôi 49 ngày và bị Văn từ chối.

*Đứa con thứ hai của tôi là con trai nhưng sanh thiếu tháng. Nó chết. Mẹ chồng tôi bảo là phúc đức tại mẫu. Con trai nhờ đức mẹ. Tôi là mẹ nhưng tôi thất đức nên con trai tôi chết. Mẹ chồng tôi nói tôi thất đức nên con trai tôi chết nhưng lại không nói đến tối hôm trước cụ bảo tôi và chú em chồng kéo bao gạo 100kg từ cửa vào trong bếp, ngay đêm hôm đó tôi bị xuất huyết và một tuần sau thì tôi sanh. Thằng bé mới bảy tháng rưỡi và kỹ thuật y khoa ở VN lúc đó còn thô sơ nên không cứu được con tôi. Sau tám tiếng đồng hồ trong lồng ấp, con trai tôi chết.

Ở viện bảo sanh về, tôi bị bỏ đói. Cả gia đình chồng quây quần dùng bữa nhưng không gọi tôi xuống ăn và cũng không cho người đem cơm lên phòng cho tôi như lần tôi sanh con đầu lòng. Lần thứ hai tôi sanh đó, Văn nghỉ dưỡng thương nên có mặt ở nhà. Nghe lời bố mẹ, Văn cũng bỏ đói tôi. Đêm, tôi đói quá, nhìn đứa con đầu lòng say ngủ, tôi thấy phải sống vì tôi còn bổn phận và trách nhiệm với con tôi. Tôi nói với Văn tôi đói quá. Lúc đó, Văn mới xuống nhà lấy cho tôi lưng tô cơm nguội.

Khi có thai đứa con thứ ba, tôi nhất định rời bỏ nhà chồng. Không có tiền mua nhà, tôi đem con về ở căn nhà của bố mẹ tôi để trống từ ngày bố tôi mất và tôi lấy Văn. Trước khi tôi đi, Văn về phép hai ngày và tôi nói với Văn:

- Em quan niệm mục đích của hôn nhân là để hai người cùng xây đắp một tiểu gia đình, một hạnh phúc, một tổ ấm riêng tư cho chính họ. Vì thế, em không thấy là người con gái lấy chồng là phải nhận cả một đại gia đình chồng làm gia đình mình, có bổn phận gánh vác và làm vừa lòng tất cả mọi người trong đại gia đình đó. Nếu anh cưới vợ về chỉ để mong vợ xem đại gia đình đó là gia đình của riêng hai người và gánh vác giang sơn nhà chồng như các cụ ngày xưa gánh vác thì thú thật, em không đủ tài. Em lấy anh, em biết là phải xây dựng một gia đình với anh. Với cha mẹ anh, em có bổn phận tôn kính và hiếu thảo. Với anh chị em họ hàng của anh, em có bổn phận giúp đỡ những khi họ cần và nếu em có thể. Ngoài ra, gia đình của họ không phải là gia đình em. Bổn phận của họ càng không phải bổn phận của em. Nay em sắp có thêm con. Em cần có một chỗ ở riêng để lo cho con, cho gia đình của chúng ta. Nếu anh cùng quan niệm, thì cùng em ra riêng. Nếu không, anh ở lại với gia đình của anh.

Văn theo tôi ra riêng nhưng không vui. Gọi là ra riêng nhưng thực sự tôi vẫn sống đơn côi và nuôi con một mình một bóng. Là lính tác chiến nên vài tháng Văn mới về thăm nhà một đôi ngày. Có một lần Văn về thăm tôi, độ hơn nửa giờ sau, một người đàn bà còn rất trẻ đến tìm Văn. Từ bếp đi lên, tôi thấy hai người ngồi ngoài phòng khách. Người đàn bà gật đầu chào tôi và Văn không giới thiệu là ai. Sau đó, hai người song vai đi khỏi nhà. Văn bảo với tôi là Văn đi ra ngoài một chút. Vài giờ sau Văn về, tôi hỏi Văn đi đâu thì Văn nói là đi đến nhà một người bạn. Tôi hỏi người đàn bà đó là ai, Văn bảo là chị một người lính trong đơn vị. Tôi thật thà và tin chồng nên không hỏi thêm. Sau đó, qua tin tức từ những người vợ lính cùng đơn vị, tôi biết Văn đang dan díu tình ái với một cô gái bán bar, chị của một người lính và người lính này đang mang máy truyền tin cho Văn. Cô gái này thường lên đơn vị thăm em trai và Văn đã ăn nằm với cô ta. Sĩ quan trong tiểu đoàn thì tuyệt đối không nói về chuyện này với tôi nhưng những bà vợ lính trong trại gia binh thì ai cũng xầm xì bóng gió và cố tình để tin đến tai tôi.

Đến tháng 4 năm 1975 thì chúng tôi có 4 đứa con, con đầu chưa được năm tuổi và con út mới tròn 6 tháng, không kể bé trai chết vì sanh thiếu tháng.

Tháng 6 năm 1975 Văn đi tù cải tạo. Ba mẹ Văn gần như không còn biết có tôi, cũng không nhìn đến bầy cháu nội. Duy chỉ có vợ chồng một người chị gái lớn, một người em bạn dâu và vài người anh chị em con chú, con bác với Văn là thương tôi và thỉnh thoảng ghé thăm, an ủi. Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn đơn độc, một mình tôi xoay trở nuôi bày con và tiếp tế cho Văn.

Cũng may, tôi biết chút ít về tử vi, coi chơi cho bạn. Họ khen hay. Rồi tiếng đồn sao đó đến tai những người có ý định vượt biên. Họ tìm đến tôi, nhờ tôi xem hộ. Thấy họ năn nỉ quá, tôi xem giúp và cũng nhân đó, có người nói chuyện cho bớt buồn. Không biết do Trời thương tôi hay nhờ cái may mắn của riêng của họ, một số người vượt biên tránh được bắt bớ, lừa đảo. Đi thoát, họ nhớ đến tôi và gởi quà về. Tiền lương giáo viên của tôi ít ỏi, nhờ có những thùng quà này tôi mới nuôi nổi bốn con thơ và cũng nhờ có những thùng quà này mà trong bốn năm năm, tôi không bỏ sót một lần thăm nuôi Văn trong tù cải tạo.

Năm năm sau tôi có cơ hội vượt biên. Tôi quyết định đem con đi vì lý tưởng tự do và vì tương lai lũ trẻ. Trời thương, tôi đi một lần là thoát trong khi ba người bạn và ngay cả người cháu gọi tôi bằng dì đều mất tích. Định cư ở miền đất hứa, tôi vẫn một mình, vừa học, vừa làm, vừa nuôi dạy bầy con. Thỉnh thoảng, dành dụm được chút đỉnh, tôi mua chút trà, cà phê gởi về biếu cha mẹ Văn.

Hai năm sau khi tôi đi thì Văn được tha về. Không lâu, Văn có một người tình và hai người chính thức sống với nhau. Chị bạn đồng nghiệp cũ của tôi người thì nhắn tôi đừng gởi gì về cho Văn nữa. Một chị bạn đồng nghiệp khác và cũng là hàng xóm cũ, rất thân khi tôi còn ở nhà, trong một thư viết cho tôi, chị kể: "Một lần mình gặp hắn chở người tình đi chơi, mình giận, nói với hắn rằng:

- Anh biết không, hồi anh còn học tập cải tạo, chị Tú đã từng xin chúng tôi từng viên thuốc cảm để thăm nuôi anh.

Văn cười trả lời:

- Lương giáo viên của cô ấy có 60 đồng một tháng, làm sao cô ấy có thể nuôi nổi bầy nhỏ và thăm nuôi cải tạo. Cô ấy phải làm CÁI GÌ chứ!

- Trời đất, anh Văn. Tôi không thể tưởng tượng nổi là anh có thể nói câu nói đó. Tôi và chị Tú là bạn đồng nghiệp, vừa dạy chung một trường, vừa là bạn hàng xóm. Chị Tú làm gì, chúng tôi biết cả. Thôi Tú nhé, đừng buồn. Hãy quên con người bạc bẽo ấy đi."

"Hãy quên con người bạc bẽo ấy đi." Nhưng tôi lại không quên được những viên thuốc cảm mà tôi đã đi gom góp từ các bạn đồng nghiệp ngày nào. Hồi đó, trong phần nhu yếu phẩm của giáo viên, hàng tháng mỗi người còn được mua sáu viên thuốc cảm. Trong trường cả cấp một, cấp hai và nhân viên có tất cả hai mươi tám người nhưng có đến gần phân nửa số giáo viên có chồng tù cải tạo. Chị Hiệu trưởng nói, sáu viên thuốc cảm xuyên tâm liên cho mỗi người không đủ chữa cảm, vậy, hãy gom lại, chia đều cho các cô có phiếu thăm nuôi chồng trong tháng, gọi là chút tình tương thân, tương ái.

Tôi nhìn xuống lá thư từ quê hương của bạn tôi viết trên giấy học trò, loại giấy xấu, có màu nước dưa vàng úa. Lá thư còn dài nhưng tôi không đọc tiếp. Cũng như chị, tôi không ngờ Văn có thể nói câu nói đó. Tôi đau và hận.

Cuộc đời tôi từ đấy, có thêm một câu để mà nhớ, bên cạnh câu nói của chàng.

Nếu câu nói của chàng gợi cho tôi hình ảnh một tình yêu với đầy đủ nghĩa hy sinh, biết nghĩ đến nhau, sống cho nhau, vì nhau và tri ân nhau bao nhiêu thì câu nói của Văn, với tôi, là một chứng tích của bội phản, của bất nghĩa, bất nhân và tàn nhẫn không thể nào tha thứ được.

Trong những năm khốn khổ nhất của cuộc đời, tôi đã làm CÁI GÌ để nuôi bầy con và nuôi Văn tù cải tạo ư? Vâng, tôi đã làm tất cả những gì trong khả năng tôi miễn sao có những đồng tiền trong sạch để có đủ cơm áo cho bày con, để có đủ năm, sáu chục ký lô quà cho mỗi lần thăm nuôi dài bốn năm trời đằng đẵng. Tôi đã làm CÁI GÌ ? Muốn biết tôi đã làm cái gì, xin hãy hỏi bầy con tôi. Các con tôi, sống bên tôi từng ngày, chia sẻ với tôi mọi điều cơ cực, sẽ cho người hỏi câu hỏi đó một trả lời sự thật. Một trong những câu trả lời đó là tình trạng kiệt quệ về sức khoẻ và dấu tích của nó là những vết sẹo còn lưu lại trong hai lá phổi của tôi. Nếu như năm đó tôi không có cơ hội may mắn vượt biên thì chỉ vài năm sau tôi sẽ chết vì bịnh lao phổi này vì thời ấy, dưới chế độ CSVN chỉ có xuyên tâm liên. Bịnh gì cũng xuyên tâm liên. Những loại thuốc chữa bịnh, nhất là bịnh phổi, chỉ có người nào có thân nhân từ Pháp gởi về mới có, vì thế, rất đắt và rất hiếm. Với hoàn cảnh tôi nuôi bốn con nhỏ và thăm nuôi chồng tù, tôi không thể có đủ tiền mà chữa bịnh. Mà nếu tôi chết vào những năm đó thì các con tôi sẽ bơ vơ và không hiểu sẽ khốn khổ đến thế nào.

Riêng tôi, dù trong những lúc khó khăn tăm tối nhất của cuộc đời, tôi vẫn biết tôi phải làm gì, để cho tôi, khi nhìn vào cuộc đời, tôi nhìn thật thẳng mà không hề hổ thẹn. Để khi nhìn các con tôi, tôi hãnh diện đón nhận những tình cảm yêu thương kính mến tròn đầy mà không hề mặc cảm. Và, cũng để cho một ngày nào, nếu có được gặp lại chàng, tôi vẫn xứng đáng với tình yêu và lòng qúy mến của chàng, vẫn đủ tư cách để nói với chàng những lời nuối tiếc chân thật nhất của lòng tôi, dù những lời này có trễ.

Ngô Minh Hằng
thanks 1 user thanked thao ly for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 3/19/2019(UTC)
hongvulannhi  
#668 Posted : Tuesday, March 19, 2019 1:50:18 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,626

Thanks: 2437 times
Was thanked: 5232 time(s) in 3488 post(s)

ĐIÊN


Song Thao


Năm 1990, nhóm Việt Thường ở Montreal có xuất bản một cuốn thơ của Bùi Giáng gồm những bài chưa được phổ biến trước đây. Hình bìa là tranh chân dung Bùi Giáng do họa sĩ Đinh Cường vẽ, mang tên “Đôi Mắt Bùi Giáng”. Nhìn vào đôi mắt như tóe lửa của chàng thi sĩ được nói tới nhiều nhất, tôi thấy rờn rợn. Tôi tìm hình chụp của Bùi Giáng và tóm được một tấm hình có đôi mắt dữ dội như trong tranh vẽ. Đôi mắt của người điên!

Nhưng Bùi Giáng có điên không? Trong bài “Thay Lời Tựa” của cuốn sách, nhóm Việt Thường có nhắc tới hai giai thoại về Bùi Giáng. Sau 1975, ông đi qua chợ vỉa hè bán phụ tùng xe đạp ở cuối đường Trương Minh Ký, nhào vào lấy một cái ghi-đông xe và bỏ đi. Bà bán hàng chạy theo la thất thanh nhờ thiên hạ bắt giùm “thằng ăn cắp”. Ông nhẩn nha quay trả lại cái ghi-đông vào chỗ cũ và từ tốn phân bua: “Bà con coi! Mất cả nước không ai la, mất có cái ghi-đông xe mà la um sùm!”. Một giai thoại khác. Ông đang đi trên đường, thấy một phụ nữ Nga, vội chạy tới bóp vú bà này. Bà la choi chói, ông lầm bầm với người chung quanh: “Tao chỉ muốn thử xem cặp vú của nó có thể nuôi hết con dân Việt Nam không?”.

Hai hành động này có phải của người điên không? Điên chi mà khôn rứa! Hai giai thoại khác xảy ra trước năm 1975, do nhà văn Cung Tích Biền kể, lại làm chúng ta nghĩ ngợi. Vào đầu thập niên 60, Bùi Giáng dạy Việt văn tại một trường trung học ở tỉnh lỵ. Bữa giảng về Truyện Kiều, lúc nàng Kiều phải lưu lạc, ông òa khóc rồi nhảy qua cửa sổ của lớp, chạy thẳng ra bến xe, bắt xe đò về Sài Gòn. Báo hại học sinh ngồi chờ trong lớp, tưởng thầy sẽ quay lại vì sách vở, bao thuốc lá của thầy vẫn còn trên bàn. Được hỏi lý do, Bùi Giáng ngận ngùi nói: “Làm sao mà trở lại nơi em Kiều đã một lần hy sinh cho cái trò nhân gian kỳ ảo chỗ liên tồn!”.

Chuyện thứ hai cũng do nhà văn Cung Tích Biền, một người đồng hương với Bùi Giáng kể. Một lần Cung Tích Biền và Bùi Giáng đang đi long nhong gần nhà thờ Ba Chuông kiếm vài ly “quốc lủi” thì Bùi Giáng bỗng nói: “Cho ta về nhà chút đã!”. Hỏi ra ông nói về cho heo gà ăn kẻo chúng chết đói. Hai người về nhà ở gần cổng xe lửa số 6. Cung Tích Biền thấy ngay trước hàng hiên có mấy con heo đất, mấy con vịt nhựa được đặt trong rọ hoặc úp trong rổ. Bên con heo đất hãy còn mấy cọng rau tươi, trong rổ gà vịt còn những hạt gạo vung vãi. Một người bà con tiết lộ: “Phải chăm sóc cẩn thận, ảnh về thấy heo gà không có thức ăn ảnh khóc!”.

Bùi Giáng xuất hiện thường xuyên trên khu vực cầu Trương Minh Giảng. Nhà tôi ở Phú Nhuận, qua cầu hầu như hàng ngày, vậy mà chẳng bao giờ gặp Bùi Giáng. Thật khéo vô duyên. Phan Nhiên Hạo có duyên hơn tôi. Ông gặp Bùi thi sĩ rất thường: “Ông là một nhân vật khá nổi đình đám ở khu vực cầu Trương Minh Giảng. Có những buổi chiều đông đặc xe cộ, tôi ngồi uống cà phê bên đường nhìn ông đứng làm cảnh sát giao thông nơi đầu cầu Trương Minh Giảng. Ông đội một chiếc quần lót đỏ chói trên đầu, áo quần te tua, tay cầm chiếc roi tre dài, xoay ngang xoay dọc chỉ đường cho xe cộ. Người ta đi qua, cố gắng tránh xa ngọn roi tre dài, nhưng không ai chú ý đến ông. Ông loay hoay như vậy giữa dòng xe cộ hàng giờ liền, rồi chán, bỏ đi”.

Bùi Giáng đã có lần viết:

Làm thơ hay nhất trần đời
Cái điên cũng đến tuyệt vời cuồng điên
Cái khùng cũng vậy tuy nhiên
Cái tài hoa cũng muộn phiền lắm thay.

Vậy điên hay tỉnh? Bùi Giáng quả có vào Dưỡng Trí Viện Biên Hòa. Tác giả Võ Đắc Danh cho biết: hồ sơ Dưỡng Trí Viện Biên Hòa ghi nhận Bùi Giáng nhập viện hai lần, lần thứ nhất vào năm 1969, lần thứ hai vào năm 1977. Trong bệnh án của ông có đoạn ghi như sau: “Bệnh tái phát từ tháng 4/1969, có hôm thức suốt đêm để viết, nói huyên thuyên, chơi chữ, có khi la thất thanh, ý tưởng tự cao tự đại. Hay phát biểu ý kiến về những vấn đề chính trị, văn hoá trọng đại, có ý nghĩ bị người ta phá hoại sự nghiệp văn chương. Tháng 3/1969 bị cháy nhà và cháy tất cả sách vở quý báu nên đương sự bị bệnh mỗi ngày một nặng hơn...”

Nhưng theo nghiên cứu của Lê Minh Quốc thì Bùi Giáng đã điên trước đó khá lâu, khi vợ ông sinh đứa con đầu lòng trong một ca sanh khó khiến cả hai mẹ con đều qua đời.

Nhà văn Cung Tích Biền cũng kể về những ngày Biên Hòa của Bùi Giáng: “Khoảng đầu thập niên 70 người ta đưa ông vào nhà thương điên Biên Hòa chữa cái bệnh ‘đứng ngã ba nhìn ra ngã bảy’. Từ nhà thương điên trở ra, bữa gặp nhau thấy ông rất tỉnh. Bèn hỏi một câu thường tình: “Nhà thương Biên Hòa trị cái tẩu hỏa hay nhỉ!”. Ông trả lời tỉnh queo: “Chữa trị quái gì đâu. Chẳng là ở ngoài mình thấy mình điên số một, khi vô nhà thương điên mới hiểu ra mình là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp; trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn mình nhiều. Do vậy mà mình tự động thôi điên”.

Còn chính đương sự có nghĩ mình điên hay không, Bùi Giáng trả lời: “Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo rằng nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên, thì trước hết phải đáp vào câu hỏi: Sao gọi là điên? Nhưng mà? Nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có một lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậy”.

Cái điên của Bùi Giáng, nếu có, thì là một cái điên có lý lịch không rõ ràng! Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng, hiện định cư tại Melbourne, Úc, còn giữ được một bản tiểu sử của Bùi Giáng do chính đương sự ghi trong sổ tay của Thượng Tọa vào ngày 10/11/1993. Bùi Giáng đã kê ra từng năm trong cuộc đời của ông, khởi sự vào năm 1926, với hàng chữ: “được bà mẹ đẻ ra đời”. Khi ghi năm 1969, Bùi Giáng viết: “Bắt đầu điên rực rỡ”. Thời kỳ 1971 – 75 – 93, Bùi Giáng trộn chung với nhau, có một câu ghi: “Điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang”. Tôi nhận thấy trong bản lý lịch do chính đương sự ghi, có một vài điều vui vui. Năm 1942, ông ghi: “Trở ra Huế vì nhớ nhung gái Huế”. Mục năm 1970 có ghi: “Gái Châu Đốc thương yêu và gái Long Xuyên yêu dấu. Gái Chợ Lớn khiến bị bịnh lậu”. Cùng thời gian này ông còn ghi: “Bình sinh mộng tưởng vấp phải niềm thương yêu của Kim Cương Nương Tử, Hà Thanh cô nương và Mẫu Thân Phùng Khánh (tức Trí Hải Ni Cô)”.

Câu hỏi vẫn còn đó: Bùi Giáng có điên không? Tôi nghĩ Bùi Giáng không thuộc trần gian này, ông đứng đâu đó giữa những tầng mây. Vậy nên chữ “điên” của trần gian không mảy may dính được vào với ông. Nhà văn Mai Thảo, trong bài viết “Một Vài Kỷ Niệm Với Bùi Giáng”, đăng trên báo Văn, số tháng 8 năm 1984, đã luận như sau: “Bùi Giáng đã đem lại cho cuộc đời biết bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt. Bằng cõi ngôn ngữ ảo diệu, không tiền khoáng hậu. Có ông, thi ca mới đích thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng không tận. Đọc lại Mưa Nguồn, đọc lại Ngàn Thu Rớt Hột, Bài Ca Quần Đảo, tôi còn muốn bật cười với thơ Bùi Giáng. Vui thôi mà. Đúng vậy, vui thôi, có gì khác đâu. Mất Bùi Giáng, thơ ta lại trở về với những hữu hạn đời đời của thơ. Nhiều người bảo ông chỉ là một thằng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có thêm được ít người điên như Bùi Giáng, thi ca ta, văn học ta còn được lạ lùng, được kỳ ảo biết bao nhiêu”.

Tôi điên là bởi tôi điên
Cầm tay cô hỏi cho phiền lòng nhau
Tôi điên từ trước đến sau
Từ vô lượng kiếp yêu đào hây hây
Trở cơn tuế nguyệt chầy chầy
Cầm tay nhau ngắm từ ngày sang đêm

Người nữ là cái nghiệp của Bùi Giáng. Ông yêu là yêu, không cần biết có được yêu lại không. Cái sướng của người mê mê tỉnh tỉnh là vậy. Người nữ xuất hiện nhiều trong thơ của ông là nữ nghệ sĩ Kim Cương.

Tôi vẫn tưởng ông mê kỳ nữ một cách khơi khơi, nhưng “mối tình” này lại có đầu có đuôi hẳn hoi. Lúc Kim Cương chỉ mới 19 tuổi, đang theo đoàn cải lương của bà Bảy Nam, cô có tới dự đám cưới của cặp Hạnh-Thùy. Sau đám cưới, cô Thùy nói với Kim Cương: “Có một ông giáo sư Đại Học Văn Khoa, đi học ở Đức về, ái mộ chị lắm, muốn đến nhà thăm chị”. Kim Cương trả lời ngay: “Ừ, thì mời ổng tới”. Ông giáo sư đó là Bùi Giáng, lúc đó áo quần rất tươm tất nhưng đi xe đạp. Một lần, ông mời Kim Cương ngồi lên xe đạp ông chở đi chơi và bất thần cầu hôn. Kim Cương thấy ông có những biểu hiện kỳ kỳ nên rất sợ. Theo đuổi mãi không xong, Bùi Giáng thở dài nói: “Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô. Vậy, xin cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi”. Kim Cương ngần ngừ trả lời: “Thưa anh, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào hãy tính”. Ý cô muốn hoãn binh nhưng Bùi Giáng đã vội dắt thằng cháu tới. Thằng nhỏ mới 8 tuổi!

Trong suốt những năm sau này, bóng hình Kim Cương không bao giờ phai nhạt trong cuộc đời Bùi Giáng. Trong cuộc sống lang bạt khắp phố phường Sàigòn, nơi Bùi Giáng “nghỉ chân” thường là trước cửa nhà của Kim Cương. Nơi này như là cõi về an bình của Bùi Giáng mê mê tỉnh tỉnh. Kim Cương đã chịu đựng Bùi Giáng vì cảm kích mối tình đơn phương mà chàng trung niên thi sĩ ăn bờ ở bụi dành cho cô.

Kính thưa công chúa Kim Cương,
Trẫm từ vô tận ven đường ngồi đây.
Tờ thư rất mực mỏng dày,
Làm sao định nghĩa đêm ngày yêu nhau

Nói về mối tình Bùi Giáng dành cho cô, Kim Cương thổ lộ: “Đúng hơn đó là mối tình thơ, như một thi sĩ cần một nàng thơ, mà nàng thơ thì bao giờ cũng nên là một hình ảnh không chạm tới được. Thi hứng được nuôi sống bằng tình yêu bị bỏ đói là vậy. Bùi Giáng là một thiên tài, nhưng ngô nghê say say tỉnh tỉnh. Nói là yêu thì bảo sao yêu được ông nhà thơ liêu xiêu, mình treo trái cây tòng teng. Hôm nào vui thì làm thơ tặng, tôi còn giữ cả chục bài, hôm thì ổng qua ổng... chọi đá. Thơ thì tôi cất giữ, người thơ tôi trân quý. Ngày ổng mất tôi chỉ biết cám ơn anh đã là một thi sĩ thiên tài, và đã cho tôi một mối tình đơn phương chung thủy suốt bốn chục năm trời”.

Mối tình thơ tưởng là trong sáng nhưng Bùi Giáng không phải là người nhà trời. Ông là một nam nhi, có những mơ ước trần tục của một người đàn ông. Nhà thơ Phan Nhiên Hạo kể: - Một lần đang ngồi ăn cơm của một bà bán cơm gánh trước cổng trường, ông đến ngồi cạnh tôi. Bà bán hàng thấy ông, có vẻ rất ngán ngẩm nhưng không đuổi ngay. Ông cũng chẳng kêu cơm nước gì. Ông dùng ngón trỏ và ngón giữa móc vào nhau tạo thành một dấu hiệu tục tĩu mà trẻ con hay làm. Tay kia cầm một quả chanh, không biết kiếm đâu ra. Ông cố nhét quả chanh vào giữa cái hình ô-van tạo nên bởi hai ngón tay, miệng lẩm bẩm: "Ðây là con c. nhét vô cái l. Kim Cương. Con c. to quá nhét vô không đươc". Ông nói tiếng Quảng Nam, phát âm tiếng c. nghe như "kẹt". Tôi cố nín cười mà không được. Ông vẫn tỉnh bơ lặp đi lặp lại trò chơi quả chanh to và cái khe nhỏ đó cho đến khi bị bà bán cơm quát đuổi. Rồi ông nói ông mong được Kim Cương đái lên mồ ông. Ông còn nói một vài câu nữa về Kim Cương, toàn những câu rất tục, có vẻ ông bị ám ảnh ngày đêm bởi khao khát tình dục với người đàn bà này.

Người đàn bà thứ hai mà Bùi Giáng tôn thờ là một tu sĩ: ni sư Trí Hải. Bà sanh năm 1938 và mất năm 2003. Tên tục của bà là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh. Phùng Khánh là con của ông Nguyễn Phước Ưng Thiều. Cụ Thiều là cháu nội của Tuy Lý Vương Nguyễn Phước Miên Trinh. Ba Phùng Khánh là một trong những giảng viên đầu tiên giảng dậy tại Thiền Viện Vạn Hạnh và Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam đồng thời là Phó Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Bà đã dịch 41 tác phẩm về Phật học và văn học.

Bủi Giáng tôn sùng ni sư Trí Hải và gọi bà là “mẫu thân”.

Con về giũ áo đười ươi
Nực cười Trí Hải ngậm ngùi mẫu thân
Đẻ con một trận vô ngần
Mẹ còn đẻ nữa một lần nữa thôi
Mẫu thân Phùng Khánh tuyệt vời
Chiều xuân thơ mộng dưới trời bước đi.

Tại sao lại là “mẫu thân” trong khi ni sư Trí Hải còn thua ông tới 12 tuổi. Chuyện “đười ươi” đâu cần luận lý. Có lần chính Bùi Giáng lý luận: “Phùng Khánh Mẫu Thân là mẹ Việt Nam, tôi là con dân Việt Nam. Vậy thì tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ, thì chẳng ra tôi là người Lào? Hoặc là người Cao Miên? Hoặc con dân Âu Mỹ ư? Huống nữa là: Phùng Khánh là bà mẹ loài người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi không phải là con của Phùng Khánh, thì chẳng ra tôi chẳng phải con người? Chẳng ra tôi là con vật”.

Cái “tam đoạn luận” của Bùi Giáng khá chặt chẽ, ai tin được thi tin. Tin hay không tin, có lẽ Bùi Giáng cũng chẳng cần biết. Ông chỉ chơi với châu chấu, chuồn chuồn!

Nói vậy cũng chưa theo được bước chân của Bùi Giáng. Ông còn chơi với Marilyn Monroe và Brigitte Bardot. Hai cô ngồn ngộn này thuộc loại đào văm. Thi sĩ của chúng ta chắc cũng mết thân hình bốc lửa cùng những nét rất sexy của hai cô minh tinh bên trời Tây này. Đàn bà hình như là nỗi ám ảnh khôn nguôi của Bùi Giáng. Từ khi vợ ông mất.

Thấy một Bùi Giáng đầu đường xó chợ với đủ thứ lỉnh kỉnh trên người, ít ai nghĩ ông cũng đã từng có vợ như mọi người. Có rất sớm. Ông lập gia đình vào năm 1945, khi mới có 19 tuổi! Tác giả Vũ Đức Sao Biển đã về tận quê ông, thăm nhà thờ tộc họ Bùi để “khẳng định một điều mới mẻ: nhà thơ Bùi Giáng đã có vợ”. Người chăm lo hương khói cho Bùi tộc hiện nay cho biết: “Chị Bùi Giáng về làm dâu nhà ông bà bác tôi (cụ Bùi Thuyên và bà Huỳnh Thị Kiền – cha mẹ ông Bùi Giáng) năm 18 tuổi. Chị là người Duy Xuyên, đẹp lắm, tóc dài da trắng cái chi cũng đẹp. Tên thật của chị là Vạn Ninh”. Ông Bùi Luân, em ruột của Bùi Giáng, mô tả: “Phải nhận là chị xinh đẹp, cởi mở, vui tính, hồn nhiên… Gương mặt chị, hình ảnh chị đã nổi bật, sáng ngời mãi trong ký ức tôi. Duy có điều bất cứ ai, dù không biết gì nhiều về tướng số, gặp chị là cũng nhận ra ngay: chị không thể ở lâu với chúng ta trên cõi đời này, dù cõi đời vốn đã ngắn ngủi. Lấy chồng được ba năm, chị đã đột ngột lìa đời lúc mới ngoài hai mươi tuổi… Chị trút hơi thở một cách bình thản”. Bà Vạn Ninh mất vào năm 1948, chỉ ba năm sau ngày lập gia đình. Khi bà lâm chung, Bùi Giáng không có mặt tại nhà. Ông Bùi Luân cho biết tiếp: “Phút lâm chung, chị không thấy mặt chồng… Tôi chỉ biết là anh có mặt vào phút chót của buổi tiễn đưa chị về nơi an nghỉ cuối cùng – anh đứng bên cạnh chiếc quan tài với vành khăn trắng trên đầu”. Bùi Giáng rất yêu vợ nhưng vẫn thích bỏ nhà đi chơi. Thơ cho vợ của ông rất tình:

Mình ơi, tôi gọi bằng nhà
Nhà ơi, tôi gọi mình là nhà tôi.

Ông quay quắt nhớ cô vợ trẻ tới nỗi ít khi dám về lại cố quận. Nhưng bóng hình “con mọi nhỏ” vẫn chẳng bao giờ buông tha ông. Người Duy Xuyên có lệ thương yêu ai thì gọi là “con mọi”, “thằng mọi”.

Trung niên thi sĩ uống trà
Thưa em mọi nhỏ, em đà uống chưa

****

Bùi Giáng trước hết và trên hết là một nhà thơ. Thơ ông không trau chuốt mà hồn nhiên như cuộc sống của ông. Một lối thơ rất…Bùi Giáng:

Xin chào nhau giữa bàn tay
Có năm ngón nhỏ phơi bày bóng con
Thưa rằng những ngón thon thon
Chào nhau một bận sẽ còn nhớ nhau

Ông vung vãi thơ. Viết chữ là ra thơ, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào. Thơ ông viết trên mọi thứ ông có trên tay, nhiều nhất là trên mặt sau giấy bạc gói bao thuốc lá. Theo Mai Thảo kể lại thì vào năm 1962 hay 1965, ông không nhớ chắc, nhà xuất bản An Tiêm của thầy Thanh Tuệ in thơ và văn của Bùi Giáng mệt nghỉ, không còn in sách của các tác giả khác được nữa. “Tôi chỉ kể tới Bùi Giáng, bởi suốt thời kỳ đó, có thể nói, thầy Thanh Tuệ vì một tấm lòng liên tài đặc biệt, chỉ mê thích thơ văn Bùi Giáng, chỉ in Bùi Giáng, dành trọn phương tiện cho ưu tiên xuất bản Bùi Giáng trước mọi tác giả khác. Và giai đoạn có thể đặt tên là giai đoạn Bùi Giáng này, An Tiêm đã in đêm in ngày, in mệt nghỉ, vì những năm tháng đó chính là những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung mãn nhất của Bùi Giáng, cõi văn cõi thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng tôi bàng hoàng khiếp đảm, ngôn ngữ và tư duy của Bùi Giáng bấy giờ hiển lộng tới không bến không bờ, vô cùng vô tận, và tài năng ông cũng vậy”. Sao Bùi Giáng có thể viết nhiều như vậy trong khi thấy ông rong chơi tối ngày, ông chỉ nói: “Vui thôi mà!”.

Cho tới khi Mai Thảo làm số Văn đặc biệt về Bùi Giáng, muốn có thơ của ông nhưng chưa biết kiếm ông ở đâu thì bất ngờ ông ghé tòa soạn. Mai Thảo kể lại:

- Ông ấy chỉ còn là da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy. Kéo ông ra trước báo quán chụp chung một tấm hình làm kỷ niệm rồi tôi hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Ông gật. Tưởng lấy ở túi vải ra. Hoặc nói về lấy, hoặc nói hôm sau. Tất cả đều không đúng. Ông hỏi mượn một cây bút, xin một xấp giấy, một chai bia lớn nữa, đoạn ngồi xuống, và trước sự kinh ngạc cực điểm của chúng tôi, bắt đầu tại chỗ làm thơ. Ông không chép lại thơ đã làm. Ông làm thơ tại chỗ. Lần đầu tiên tôi thấy Bùi Giáng viết, thoăn thoắt, vùn vụt, nhanh không thể tả. Như thơ không thể từ đầu, từ tim chảy xuống, xa quá, lâu quá, mà ngay từ đầu ngọn bút từ đầu ngón tay thôi. Làm thơ ứng khẩu, làm thơ tại chỗ, nhiều người cũng làm được nhưng là thơ thù tạc và chỉ dăm bảy câu và một bài thôi. Bùi Giáng khác. Chai bia còn sủi bọt, ông ngồi viết không ngừng, tự dạng nắn nót chỉnh đốn, thấy bài nào cũng khác lạ, cũng thật hay, cũng đích thực là từng hạt ngọc của cái thơ thượng thừa Bùi Giáng. Lần đó, tôi đã hiểu tại sao Bùi Giáng cứ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu bồng lãng du mà vẫn có ngay nghìn câu một buổi. Đúng là ngủ ra thơ, thở ra thơ, uống la-de, hút thuốc lá ra thơ. Mà thơ không ai sánh bằng, thơ không ai đuổi kịp. Ông uống cạn chai la-de, lập lại ba tiếng bất hủ “Vui thôi mà” rồi đứng lên từ biệt.

Bùi Giáng không làm thơ. Thơ chảy ra từ máu trong người ông. Giáo sư Huỳnh Như Phương tiết lộ thêm về bệnh án của Bùi Giáng: “Theo lời kể của gia đình, bệnh án Bùi Giáng có ghi ông mắc bệnh “tâm thần phân liệt dạng sáng tạo chữ”. “Máu cuồng và hồn điên”, phải chăng là một tố chất nghệ sĩ? Điên là cách thoát khỏi thế giới thực tại để đi vào trong một thế giới huyễn ảo của tâm hồn. Nói cách khác, điên là lìa xa thế giới của người, ẩn sâu vào thế giới của mình, không còn bị gò bó, vướng bận…Điên như Bùi Giáng có hai cái lợi. Một mặt, ông không tùy thuộc vào đời sống vật chất, không theo những quy ước thông thường của con người xã hội. Mặt khác, ông có thể phóng mình vào thi giới của mình, một thi giới mang ít nhiều ảnh tượng của hiện thực nhưng lại do chính ông tái tạo và chế biến. Có thể nói ông là đấng toàn năng, là hoàng đế trong thế giới của riêng ông”.

Người khác nhìn vào cách làm thơ của Bùi Giáng như vậy. Còn chính ông thì sao? Một đồng hương của ông có lần hỏi: “Thầy thường làm thơ như thế nào?” Ông mỉm cười: “Qua làm thơ cũng giống như em là kỹ sư mà làm toán lớp ba rứa thôi”. Trong một dịp khác, ông tự tình:

"Thơ tôi làm (...) trong mấy cuốn thơ của tôi chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm bão dông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu, chuồn chuồn, đem phó thác thảm hoạ trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cách tay mỏng bay đi. Bay về Tử Trúc Lâm, bay về Sương Hy Lạp, ghé Calvaire viếng thăm một vong hồn bát ngát, rồi quay trở về đồng rộng, làm mục tử chăn trâu. Làm mục tử không xong bỏ trâu bò chạy lạc, phá phách mùa màng, khoai sắn, thì tôi chạy về bẩm báo với ni cô cho phép con chuồn chuồn của tôi cư lưu một phút giây trong linh hồn bao dung phương trượng. Ni cô xua đuổi tôi thì tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao..."

Không chỉ sáng tác thơ, Bùi Giáng lấn sân vào nhiều lãnh vực khác. Ông đã có 25 tập thơ, 26 cuốn sách nghiên cứu triết học và phê bình văn học, 16 dịch phẩm. Nhưng điều tôi mới biết khi tìm hiểu về Bùi Giáng là ông cũng đã cầm cọ. Tranh của ông rất lạ với những đường nét phóng túng, phóng túng như những câu thơ đột phá của ông. Một bức tranh của ông, bức “Gửi Đêm”, đã từng được bán đấu giá tới 27 ngàn đô Mỹ. Trong bài viết “Sự Thật Về Những Bức Tranh Của Bùi Giáng” của nhà văn Nguyễn Hữu Hồng Minh đăng trên tạp chí “Một Thế Giới”, số ngày 8/8/2017, ông viết: “Theo lời kể của tộc Bùi ở Vĩnh Trinh, Duy Xuyên - Quảng Nam, cụ thể là ông Bùi Vịnh, một bào đệ thì: "Năm 1950, Bùi Giáng đỗ tú tài II ban văn chương. Năm 1952 vào Sàigòn dạy học, viết sách và vẽ tranh". Và một người thầy của Bùi Giáng là giáo sư Vũ Ký khi gặp lại ở Sàigòn thời gian trên thì: "Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ở hẻm Trương Minh Giảng".

Họa sĩ Đinh Cường, trong bài “Bùi Giáng – Đi Về Với Gió Du Côn” cũng xác tín: "Anh (Bùi Giáng) đã ở qua rất nhiều nơi, những năm 1960, đường Phan Thanh Giản, nhà cháy, về đường Trương Tấn Bửu, có lúc ở trong Đại học Vạn Hạnh. Thời kỳ này anh vẽ nhiều tranh bột màu trên giấy, có khi là bút chì sáp, nhiều nhất là bút bi. Đã triển lãm tranh bột màu lần duy nhất tại nhà sách Albert Portail”.

Thi sĩ thường nghèo. Thi sĩ họ Bùi chắc phải nghèo tới ngặt. Nghèo nhưng ngông. Có những lúc ông thuê xích lô chạy lòng vòng. Mấy ông xích lô rất khoái chở ông thi sĩ đường phố này vì ông cho ăn nhậu no say. Tác giả Nguyễn Tấn Cử viết: “ - Nghe mấy anh xích lô này kể, mỗi lần chở Trung niên thi sĩ là vui nhất trên đời vì ông luôn luôn cho ăn nhậu no say. Không biết tiền ở đâu ông luôn cho anh em rất hậu, mỗi lần chở “bệ hạ” là có thể sống được ba bốn ngày. Nói “bệ hạ” vì Bùi Giáng có một lối xưng hô rất ư là phiêu bồng cà rỡn hảo hán Lương Sơn Bạc: “Cho Trẫm về Chợ Lớn đi Đại ca”. Chỉ cần nghe như vậy, đại ca xích lô đã sướng rân lên cười toe và cung kính hạ càng: “Dạ xin mời Bệ hạ an tọa, Đại ca xin hầu ngài”. Với nụ cười an nhiên vi tiếu, Bùi đại vương nhảy tót lên xe một cách điệu nghệ, hai thầy trò bắt đầu cuộc:

Sàigòn Chợ Lớn rong chơi
Đi lên đi xuống đã đời du côn.

Tiền bạc đâu mà anh thi sĩ ngông nghênh này chi bạo như vậy? Một “đại ca” xích lô cho biết có lần ông bảo dừng lại trước một biệt thự kín cổng cao tường, chó sủa ầm ỹ. Ông ra lệnh cho xe đậu sát vào nơi có nút chuông. Ông bấm. Một người chạy ra, reo vang: “Trời ơi, anh Dzoáng, ngọn gió nào đưa anh tới đây vậy?”. “Trẫm” vẫn an vị trên xe, hách dịch nói: “Thì đi rong chơi, mi có buồn không nếu tao vay mi ít tiền?”. Chủ nhân căn biệt thự vội quay vào mang ra một bao thư màu xanh. Thi sĩ nhét phong bì vào lưng quần: “Ta viết cho mi một bài thơ hí?”. Bùi thi sĩ phóng bút ngay trên chiếc phong bì: “Đây ta tặng!”. Rồi ra lệnh cho xích lô đi. Câu chuyện do tác giả Nguyễn Tấn Cử viết lại.

Có lúc ông tiêu hoang như vậy nhưng cũng có lúc Bùi Giáng rất chi ly tiền bạc. Tác giả Phạm Chu Sa viết: “Tôi mời ông uống cà phê, ông hỏi: “Cà phê sữa bao nhiêu, mi?”. Tôi bảo hai đồng. Ông nói: “Tau không uống cà phê. Tau uống nước trà, mi cho tau hai đồng rứa, hỉ?”. Tôi gọi cà phê và đưa ông mấy đồng. Bùi Giáng cười hề hề bảo uống cà phê mà lại có tiền thì tau tới tìm chú mi hoài. Té ra ông già tỉnh như sáo chứ có điên gì đâu! Thật ra bấy giờ Bùi Giáng mới 50 tuổi nhưng với râu tóc bù xù điểm bạc, lại ăn mặc xốc xếch nên trông như một ông già”.

Thơ là tiền tệ của Bùi Giáng. Ông tính tiền bằng thơ. Thơ thì lúc nào ông chẳng có sẵn. Cứ như ông là cái máy tự in tiền. Nhà văn Từ Kế Tường kể chuyện đánh xì phé với Bùi Giáng trước năm 1975, khi ông còn điên nhẹ. “Nhà của hai vợ chồng họa sĩ Hồ Thành Đức – Bé Ký ở trong con hẻm 220 đường Trương Minh Giảng, bên hông Đại học Vạn Hạnh. Con hẻm này khá dài, khá rộng chạy cặp bờ sông bên kia cầu Trương Minh Giảng. Lâu lâu hai vợ chồng Hồ Thành Đức rủ bạn bè tới đánh xì phé. Hội xì phé này gồm có: Cung Tích Biền, Huy Tưởng, tôi, Nguyễn Hữu Hiệu (Thích Chơn Pháp), Bùi Giáng và dĩ nhiên có cả chủ nhà là hai vợ chồng Hồ Thành Đức – Bé Ký. Trong hội xì phé lãng tử này Cung Tích Biền, Huy Tưởng, tôi được xếp hàng cao thủ 12 túi. Nguyễn Hữu Hiệu, Bùi Giáng và Hồ Thành Đức – Bé Ký là… “thầy cúng”, nghĩa là mang tiền ra “cúng” cho chúng tôi thôi vì họ đánh quá dở. Nguyễn Hữu Hiệu (em của nhà thơ Viên Linh) là nhà thơ, nhà phê bình, tức Đại đức Thích Chơn Pháp, tu và mặc áo tu đàng hoàng, đi đánh phé tiền kẹp trong cuốn kinh Phật, thua bao nhiêu rút tiền ra bấy nhiêu, tiền mới cáu mới ghê. Còn Bùi Giáng đâu có nhiều tiền, chủ yếu chơi cho vui, cho đủ tay là chính. Hết tiền, anh Sáu Giáng mượn búa xua, mượn rồi… không nhớ, mà có nhớ cũng không trả, cười trừ buông một câu: Bọn mi ăn gian, đánh lận, gạt tau hết tiền. Vậy là huề. Anh Sáu Giáng thua xiểng liểng, hết cửa mượn bèn nằm dài ra sàn nhà nghỉ xả hơi chờ cao thủ nào vừa gom tiền thì bật dậy mượn: Mi cho tau mượn để tau gỡ chứ, có tiền tau sẽ chuyển bại thành thắng, trả cả vốn lẫn lời hay tau trả bằng… thơ cũng được. Và thơ anh Sáu Giáng trả nợ thua xì phé chính là bài này, mang đầy khí chất tếu táo của Bùi Giáng, đồng thời cũng giải thích vì sao Bùi Giáng có nhiều biệt danh như Bùi Giàng Búi, Giáng Bùi Giàng, Sáu Giáng.

“Ủa, phải anh Sáu Giáng đó không?
Và cô có phải cô Bông năm nào
Anh còn nhớ rõ, ôi chao
Vợ chồng tôi cũng lúc nào nhớ anh
Anh điên mà dzui dzẻ thập thành
Còn chúng tôi tỉnh mà đành buồn thiu!”.

Bùi Giáng mê Truyện Kiều và thơ Huy Cận. Ông không có dịp gặp Nguyễn Du nhưng có gặp Huy Cận. La Toàn Vinh kể chuyện Bùi Giáng sau 1975, khi ông đi tới đi lui trước cửa trường Cao Đẳng Mỹ Thuật trong lúc Huy Cận nói chuyện ở bên trong. Ông đứng trước cửa trường chửi đổng: “Mẹ mày Huy Cận, mẹ mày Huy Cận”. Sinh viên báo cho ban Giám Hiệu biết nhưng tất cả đều im lặng.

Một lần khác, khi vào Nam, Huy Cận cho người đi tìm Bùi Giáng để thăm hỏi. Lúc đó Bùi Giáng đang “hành hiệp” trên đường phố, biết đâu tìm. Nhân viên của ông Thứ Trưởng Huy Cận phải nhờ tới họa sĩ Hồ Thành Đức. Đức khuyên Bùi Giáng nên ăn mặc đàng hoàng sạch sẽ nhưng Bùi Giáng coi như pha, mặc nguyên quần áo hôi hám rách rưới, quần xà lỏn, thắt cà vạt, lon hũ tùm lum trên người. Huy Cận ra tận cửa đón khách, chuyện trò thân mật và kêu Bùi Giáng là “tiên sinh”. Khi Huy Cận hỏi có cần ông giúp đỡ chi không, Bùi Giáng trả lời: “Ông Thứ Trưởng viết giúp cho mấy chữ để tôi trình công an chớ họ gặp là đánh tôi bầm mình bầm mẩy”. Huy Cận viết vào tờ giấy: “Nhà thơ Bùi Giáng, bạn tôi, ông ta có tính hay đi lang thang, các anh em công lực thông cảm giúp đỡ”. Hồ Thành Đức bảo Bùi Giáng đưa đi làm photocopy để cất bản chính nhưng ông không chịu. Kết quả, tuy có “bùa” nhưng ông vẫn bị công an đánh te tua. Được hỏi sao không đưa giấy ra, Bùi thi sĩ nói: “Tao chưa kịp lấy giấy ra thì nó đã đánh rồi!”.

Mê thơ Huy Cận không có nghĩa là bạn của ông Thứ Trưởng. Tình bạn giữa Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn chắc mặn mà hơn. Bùi Giáng đã từng châm chọc nhạc sĩ họ Trịnh:

Công Sơn Trịnh trọng phiêu bồng
Thưa rằng thơ nhạc có ngần ấy thôi.

Chưa hết, ông còn có thơ:

Anh Sơn vô tận bấy chầy
Tôi từ lẽo đẽo tháng ngày trải qua
Niềm thống khổ đứt ruột rà
Còn chăng? Chỉ một ấy là chi chi.

Khi Bùi Giáng qua đời, Trịnh Công Sơn đã ghi vào sổ tang:

Bùi Giang Bàng Giúi Bùi Giáng
Ô hay trăm ngõ bàng hoàng lỗ không
Lỗ không trời đất ngỡ ngàng
Nhớ thương vô cùng là từ
Là từ vô tận ứ ừ viển vông

Bùi Giáng đi rong chơi qua thế giới khác vào lúc 2 giờ chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998 sau một cơn tai biến mạch máu não. Nhà văn Nguyễn Viện, lúc đó là ký giả của báo Thanh Niên, đã vào thăm ông trong bệnh viện Chợ Rẫy. Ông ghi lại những giây phút chót của Bùi Giáng trong bài “Nhìn Thấy Bùi Giáng Lần Cuối”: - Lúc đó, tôi đang làm ở báo Thanh Niên. Sếp tôi, tổng thư ký tòa soạn Nguyễn Khắc Nhượng, bảo ông Bùi Giáng đang nằm cấp cứu trong bệnh viện Chợ Rẫy, ông vào xem thế nào. Tôi vào, cùng với một phóng viên ảnh. Lẽ ra, không một ai được phép vào gặp ông ấy trong thời điểm đó, nhưng nể tôi là nhà báo, bác sĩ trưởng khoa cấp cứu Tề Văn Tiếng đã đồng ý cho chúng tôi vào. Ở Sàigòn, không mấy ai (trong giới văn nghệ) lại đã không từng gặp Bùi Giáng. Bình thường ông ăn mặc kiểu "Cái bang", múa may ngoài đường, bất cứ ai có vài đồng lẻ cũng có thể mời ông uống một ly cà phê, nói dăm ba câu, hoặc được ông tặng vài câu thơ viết trên một tờ giấy vụn. Bảo ông điên cũng được, bảo tỉnh cũng không sai.Cái con người rất "bụi" ấy, giờ đây, trước mắt tôi, đang nằm trên chiếc giường sắt của bệnh viện, chuẩn bị giải phẫu. Toàn bộ thân thể ông đã được cạo trắng, sạch sẽ. Trần truồng. Được đắp trên người tấm drap trắng. Trông ông nhỏ bé và thơ dại, khuôn mặt hóm hém. Phóng viên ảnh nháy máy. Bác sĩ Châu, người phụ trách mổ cho Bùi Giáng, nói với tôi không hy vọng lắm, nhưng sẽ cố gắng. Bác sĩ Châu cũng cho tôi biết, ngoài gia đình nhà thơ, người đầu tiên và có lẽ cũng là người cuối cùng đến với Bùi Giáng trong bệnh viện là nghệ sĩ “mẫu thân” Kim Cương.

Vẫn theo nhà văn Nguyễn Viện thì một số văn nghệ sĩ đã vận động để mai táng thi sĩ họ Bùi tại nghĩa trang thành phố. Thành Ủy đã chấp thuận nhưng gia đình đã từ chối. Ông vốn sống là nhân dân, chết vẫn là nhân dân nên gia đình muốn ông an nghỉ ở nghĩa trang nhân dân Gò Dưa.

Nhà báo Nguyễn Viện cũng cho biết: có nhiều người đã tranh nhau đọc diễn văn trong tang lễ của ông. Tôi thử tưởng tượng Bùi Giáng nghe được chuyện này, ông sẽ nói sao?

Chắc ông sẽ nhắc lại câu nói thường ngày của ông: “Vui thôi mà!”.

01/2018
Website: songthao.com
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 3/19/2019(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#669 Posted : Tuesday, March 19, 2019 11:57:11 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#670 Posted : Wednesday, March 20, 2019 1:03:09 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
Thanh Phương - RFI - Thứ Sáu, ngày 15 tháng 3 năm 2019

500 năm ngày Leonardo Da Vinci qua đời: Kỷ niệm và tranh cãi


UserPostedImage
Bức tranh "Mona Lisa" (La Joconde) của Leonardo Da Vinci tại viện bảo tàng Louvre, Paris.
Ảnh chụp ngày 3/12/2018.REUTERS/Charles Platiau/File Photo

Năm 2019 là kỷ niệm 500 năm ngày danh họa người Ý Leonardo Da Vinci qua đời tại Pháp. Đây là một sự kiện văn hoá lớn đối với cả hai nước Pháp và Ý, nhưng lễ kỷ niệm 500 năm ngày giỗ nhà danh họa này lại đang gây bất hòa giữa hai nước láng giềng.

Sinh năm 1452 tại Toscana, Ý, Leonardo Da Vinci không chỉ là một nghệ sĩ, mà ông còn là nhà thiên văn học, kiến trúc sư, nhà sáng chế thiên tài, nhà triết học, nhà khoa học có tầm nhìn sâu rộng. Nhưng vào năm 64 tuổi, nhà danh họa đã rời bỏ quê hương để sang Pháp sống những ngày cuối đời. Trên lưng lừa băng qua dãy núi Alpes, ông mang theo những bức tranh nổi tiếng của ông, trong đó có bức Mona Lisa ( La Joconde – Tên đầy đủ là Chân dung Lisa Gherardini, vợ của Francesco del Giocondo ). Leonardo Da Vinci đến vùng sông Loire vào năm 1516, nơi có nhiều lâu đài nổi tiếng, trong đó có lâu đài Chambord.

Trả lời RFI Pháp ngữ, ông Jean d’Haussonville, giám đốc Domaine de Chambord, tức là cơ quan quản lý lâu đài Chambord, giải thích:

“ Ông đã được vua François Đệ nhất, lúc đó còn là công tước Milano, mời đến Pháp. Leonardo Da Vinci đang tìm đường kiếm sống. Thậm chí ông đã dự trù đến khả năng sang tận đế quốc Ottoman. Vào thời đó, vua François Đệ nhất, vừa mới lên ngôi, vẫn rất ngưỡng mộ các nghệ sĩ Ý. “

Vua François Đệ nhất tuy mới 22 tuổi nhưng rất say mê nghệ thuật và xem nghệ sĩ già người Ý Leonardo Da Vinci như một bậc cha chú. Mà bản thân Leonardo Da Vinci cũng cảm thấy nhẹ nhõm khi được sống trong một nước Pháp thanh bình, trong khi bên Ý, chiến tranh diễn ra triền miên giữa các quận công.

Chính là qua nước Ý của Leonardo Da Vinci mà nước Pháp đã khám phá một nghệ thuật sống mới, một quan điểm thẩm mỹ mới, rồi du nhập chúng vào vùng sông Loire. Đó cũng là khởi đầu của thời kỳ Phục Hưng, với việc tu bổ hai lâu đài hoàng gia Blois và Amboise, nơi mà Leonardo Da Vinci yên giấc ngàn thu. Cũng chính danh họa Ý đã gợi cảm hứng cho các nhà thiết kế lâu đài Chambord. Ông Jean d’Haussonville cho biết:

“ Ngoài Paris, chúng tôi là nơi duy nhất lưu trữ các bản vẽ gốc của Leonardo Da Vinci, các họa đồ kiến trúc của ông. Nghiên cứu các bản vẽ ấy cũng giống như một cuộc điều tra trinh thám để xem Leonardo Da Vinci cụ thể đã có ảnh hưởng như thế nào đối với việc thiết kế lâu đài Chambord.”

Hiện là lâu đài thời Phục Hưng lớn nhất thế giới, Chambord dĩ nhiên sẽ tham gia tổ chức các lễ kỷ niệm 500 năm ngày Leonardo Da Vinci qua đời tại Pháp. Trả lời RFI, ông François Bonneau, chủ tịch vùng Centre-Val de Loire, tức là vùng có các lâu đài sông Loire, cho biết:

“ Đây không phải là lúc mà chúng ta biến các lâu đài, các công viên, các khu vườn thành những viện bảo tàng. Mỗi ngôi làng, mỗi địa phương dọc theo sông Loire sẽ tham gia sáng tạo. Sẽ có các buổi hòa nhạc, các cuộc triển lãm và các cuộc hội thảo. Bên cạnh đó, Leonardo Da Vinci còn là một nhà khoa học vĩ đại, đã nghiên cứu để tạo ra các vật thể bay, là người đã sáng chế cho tương lai. Cách làm việc của ông rất cởi mở, mang đậm dấu ấn châu Âu và điều đó ngày nay rất có ý nghĩa. »

Nhưng 500 năm sau khi ông qua đời, các tác phẩm của người nghệ sĩ mang đậm dấu vết châu Âu lại đang gây chia rẽ giữa hai nước láng giềng Pháp,Ý.

Ngày 17/11/2018, Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa của Ý, bà Lucia Borgonzoni, thuộc đảng cực hữu Liên Đoàn (Lega), đã đòi xét lại một thỏa thuận năm 2017 về việc cho mượn tranh giữa nước Ý với viện bảo tàng Louvre của Pháp. Theo thỏa thuận này, Roma cam kết sẽ cho Pháp mượn gần như toàn bộ các bức tranh của Leonardo Da Vinci để triển lãm ở viện bảo tàng Louvre nhân dịp 500 năm ngày giỗ của nghệ sĩ Ý. Đổi lại, Viện bảo tàng Louvre cam kết cho Ý mượn các tác phẩm của danh họa Raphael để triển lãm ở Roma vào năm 2020.

Nhưng nay bà Borgonzoni cho nội dung của thỏa thuận này là “không thể chấp nhận được”. Quốc vụ khanh Ý cho rằng Leonardo Da Vinci là người Ý, ông ấy chỉ chết ở bên Pháp và theo bà, nếu cho viện bảo tàng Louvre mượn tranh của ông, nước Ý sẽ bị gạt sang bên lề một sự kiện văn hóa quan trọng.

Leonardo Da Vinci đúng là chỉ sống có vài năm cuối đời tại Pháp, nơi mà ông trút hơi thở cuối cùng vào năm 1519. Nhưng qua những tuyên bố như trên, chính phủ Ý đã phá vỡ một thông lệ giữa các viện bảo tàng hai nước, đồng thời kích động tinh thần dân tộc của người Ý, đến mức mà có người đã đòi Pháp phải trả lại bức tranh nổi tiếng La Joconde cho Ý.

Đối với ông Stéphane Bern, đại sứ đặc trách các lễ kỷ niệm Leonardo Da Vinci, trả lời RFI, không đáng có cuộc tranh cãi như vậy giữa hai nước Pháp, Ý:

“ Tranh cãi này là hơi buồn cười, bởi lẽ Leonardo Da Vinci đã bị đuổi khỏi nước Ý do ông là người đồng tính. Vua Pháp đã đón nhận ông vì đây là một vị vua có đầu óc rất cởi mở về vấn đề xã hội. Vua François Đệ nhất đã cho phép Leonardo mang theo các tác phẩm đến Pháp. Các tác phẩm đó thuộc về chúng tôi vì đã được nước Pháp mua lại. Như vậy chúng tôi coi như có giấy chủ quyền trên những tác phẩm ấy”.

Hiện nay viện bảo tàng Louvre lưu trữ bộ sưu tập tác phẩm Leonardo Da Vinci nhiều nhất thế giới. Các lễ kỷ niệm 500 năm ngày mất của Leonardo Da Vinci tại Pháp sẽ chỉ được tổ chức vào tháng 10, để không làm lu mờ các lễ kỷ niệm ở Firenze và Milano, đúng vào tháng 5, tháng mà danh họa Ý qua đời. Nhưng cho đến giờ hai nước vẫn chưa đạt được thỏa thuận nào để chấm dứt tranh cãi về chuyện vay mượn các tác phẩm của Leonardo Da Vinci.

Nhưng cho dù chuyện này có sẽ được giải quyết êm thắm giữa hai chính phủ, dân Ý vẫn không quên mối hận bị Pháp chiếm hữu bức tranh nổi tiếng nhất của Leonardo Da Vinci,La Joconde.

Số phận của bức tranh vẽ một phụ nữ với nụ cười huyền bí cũng khá là ly kỳ. Vào năm 1911, Vincenzo Peruggia, một người Ý làm việc trong viện bảo tàng Louvre đã đánh cắp bức tranh Mona Lisa, để đem tác phẩm này về phía bên kia dãy núi Alpes, quê hương của nó. Trước khi được tìm thấy và trả lại cho Pháp, bức tranh La Joconde đã có đủ thời gian để được trưng bày khắp nước Ý, từ Roma, Milano đến Firenze. La Joconde đi đến đâu cũng được dân Ý lũ lượt kéo đến chiêm ngưỡng, sùng bái như một thánh tích.

Nói chung là mỗi lần trong nước gặp khủng hoảng nội bộ thì các chính khách của Ý lại đánh lạc hướng dư luận bằng cách lôi chuyện nước Pháp giữ tranh của Leonardo Da Vinci ra để kích động tinh thần dân tộc của dân Ý. Như lời bà Sophie Chauveau, tác giả một cuốn tiểu sử Leonardo da Vinci ( Folio, 2008 ), trả lời tờ Le Parisien vào tháng trước, hơn cả dân Pháp, dân Ý rất tự hào về di sản văn hóa của họ. Cái gắn kết dân Ý thành một khối chính là mỹ thuật và Leonardo Da Vinci được ví như là xi măng.

Về phần Stefano Palombari, chủ tịch hội “L’Italie à Paris”, ông ghi nhận điều làm cho dân Ý khó chịu nhất, đó là thái độ kênh kiệu của người Pháp. Dân Ý vẫn có mặc cảm thua kém, với lịch sử của một quốc gia nghèo, bao gồm dân tứ xứ, một quốc gia từng bị chia năm sẻ bảy. Cho nên khi họ thấy báo chí Pháp viết Leonardo Da Vinci là người Pháp thì đương nhiên là họ rất phẫn nộ. Nay họ lại càng ganh tỵ khi thấy viện bảo tàng Louvre sẽ là trung tâm điểm của lễ kỷ niệm 500 ngày doanh họa người Ý qua đời.

Thật ra, như tác giả Sophie Chauveau có nhắc lại, bức tranh La Joconde đúng là đã được vua François Đệ nhất mua lại, nhưng điều mà dân Ý cho tới nay nuốt không trôi, đó là việc Leonardo Da Vinci đã sang sống lưu vong ở Pháp, như thể ông là “một chiến lợi phẩm của” vua Pháp.

Edited by user Wednesday, March 20, 2019 1:03:48 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#671 Posted : Wednesday, March 20, 2019 11:56:26 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#672 Posted : Thursday, March 21, 2019 12:57:07 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 16 tháng 3 năm 2019

20 năm giai thoại tình khúc của Hélène Ségara

UserPostedImage
Hélène Segara biểu diễn tại liên hoan Edineyat năm 2011
REUTERS/Jamal Saidi

Nhắc tới giọng ca Hélène Ségara, hầu hết những người yêu nhạc Pháp đều nghĩ đến cô ca sĩ người Pháp trong vai chính Esmeralda của vở nhạc kịch Nhà thờ Đức Bà Paris. Thành công của đoàn kịch là ‘‘bệ phóng’’ giúp cho cô chinh phục hạng đầu thị trường đĩa nhạc khối Pháp ngữ cách đây vừa đúng 20 năm.

Sau khi kết thúc đợt trình diễn với đoàn kịch Notre Dame de Paris, Hélène Ségara trình làng cuối năm 1999 ca khúc mang tựa đề "Il y a trop de gens qui t'aiment" (Có quá nhiều người yêu anh), một bài hát mà đáng lẽ ra không được chọn làm ca khúc chủ đạo. Nhóm sản xuất dự tính ban đầu phát hành ca khúc ‘‘Elle tu l’aimes’’ nguyên là bản phóng tác lời Pháp của nhạc phẩm tiếng Bồ Đào Nha ‘‘Canção do Mar’’. Bài này từng được đặt thêm lời Việt và từng được ca sĩ Mỹ Tâm ghi âm với tựa đề ‘‘Không còn Yêu’’.

Bất ngờ thay, sự chọn lựa (hơi rủi ro) của Hélène Ségara lại mang tính quyết định. Tuy mới nổi tiếng, nhưng cô chủ yếu thành công nhờ hát chung với Andrea Bocelli (Vivo Per Lei phiên bản tiếng Pháp) và sau đó là nhờ đi biểu diễn cùng với đoàn diễn viên vở nhạc kịch Nhà thờ Đức Bà Paris. Thế nhưng, trong sự nghiệp (đơn diễn) hát solo, bản thân Hélène Ségara chưa từng có một bản nhạc riêng thật sự ăn khách.

Rốt cuộc, cách đây đúng hai thập niên, tình khúc "Il y a trop de gens qui t'aiment" (Có quá nhiều người yêu anh) đã giành lấy hạng đầu bảng xếp hạng đĩa đơn trên các thị trường Pháp, Bỉ cũng như Thụy Sĩ (Top Ten) trong vòng nhiều tuần lễ liên tục. Đây cũng là ca khúc trích đoạn đầu tiên của album phòng thu thứ nhì của Hélène Ségara. Tập nhạc này (với tựa đề ‘‘Au nom d’une femme’’ Nhân danh một người đàn bà) đã lập kỷ lục số bán với gần một triệu rưỡi album bán chạy trong vòng sáu tháng (tương đương với đĩa kim cương).

Về mặt nội dung, tình khúc ‘‘Có quá nhiều người yêu anh’’ (Il y a trop de gens qui t'aiment) đơn thuần nói về một mối tình đơn phương. Nhân vật trong bài hát (một phụ nữ) thầm yêu trộm nhớ một người đàn ông, nhưng mối tình ấy không hề được đáp trả. Xung quanh chàng trai, lúc nào cũng có nhiều người săn đón mời mọc, cho nên anh không còn nhìn thấy thấy ai mới là người thật sự yêu mình.

Đoạn nhạc mở đầu bài hát hơi đơn điệu, cứ lặp đi lặp lại để thể hiện nỗi buồn cô độc của nhân vật chính, tuy được gần bên người mình yêu nhưng lại trở nên ‘‘vô hình’’ như thể giữa hai nhân vật vẫn còn muôn rào cản, cảm xúc đớn đau của người đàn bà về sau mới được thể hiện trong điệp khúc cao trào.

Bài hát ‘‘Có quá nhiều người yêu anh’’ được viết bởi hai ngòi bút : tác giả Thierry Geoffroy soạn nhạc, Christian Vié sáng tác lời. Nhóm tác giả này (cùng với Christian Loigerot) từng sáng tác cho Céline Dion (trong những năm đầu sự nghiệp) Fabienne Thibeault hay là Nicoletta. Riêng nhà soạn nhạc Thierry Geoffroy từng là nghệ sĩ chuyên nghiệp vào đầu những năm 1970, trước khi chuyển qua sáng tác, ban đầu cho cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision, rồi sau đó cho nhiều ca sĩ nổi tiếng.

Tác giả Thierry Geoffroy từng là học trò của ông Hubert Giraud được xem là một trong những tác giả lớn của làng nhạc Pháp những năm 1960-1970, ông nổi danh trên thế giới nhờ các bài hát "Mamy Blue" hay là Il est mort le Soleil (từng được tác giả Phạm Duy chuyển ngữ thành nhạc phẩm ‘‘Nắng đã tắt’’). Trong cách dùng hợp âm và nhất là trong cách phối khí, tác giả này chịu nhiều ảnh hưởng của bậc thầy Hubert Giraud, tạo nên sự dồn nén trong khúc nhạc mở đầu, để rồi cho vỡ bật mọi cảm xúc trong phần sau.

Theo lời kể của hai tác giả, bản nhạc ‘‘Có quá nhiều người yêu anh’’ đã được viết từ nhiều năm trước đó, nhưng vẫn chưa tìm ra được môt giọng ca thể hiện xứng cỡ vừa tầm. Bài hát này sau đó trở thành ca khúc ‘‘để đời’’, gắn liền với tên tuổi của Hélène Ségara. Cũng nhờ vào thành tích của tập nhạc solo thứ nhì, cô đoạt được giải Giọng ca nữ xuất sắc nhất trong năm 2000, nhân kỳ trao giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp.

Trái với các diva nhạc nhẹ chuyên khoe giọng ca đầy đặn khỏe khoắn, Hélène Ségara trong cách hát tiết chế không thích dùng nhiều vibrato rộng, làn hơi tuy mong manh nhưng lại biết dựa vào bộ đàn dây để đạt tới những nốt nhạc cao vút thánh thót nhất, như thể để thể hiện tột cùng nỗi đau khổ, tâm trí bị dày vò vì yêu mà chưa được thổ lộ, chữ thương không nói nên lời.

Hélène Ségara-- Il y a trop de gens qui t'aiment

https://www.youtube.com/watch?v=u7hHlB9Y0Cc
Hoàng Thy Mai Thảo  
#673 Posted : Friday, March 22, 2019 12:19:39 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#674 Posted : Friday, March 22, 2019 11:55:36 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage

UserPostedImage
for đại tỷ HVLN
Hoàng Thy Mai Thảo  
#675 Posted : Saturday, March 23, 2019 8:22:40 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 23 tháng 3 năm 2019

Tình ca Dalida, phiên bản mới

UserPostedImage
Các đĩa hát phát hành sau ngày Dalida qua đời, trong văn phòng của người em trai OrlandoAFP / FRANCOIS GUILLOT

"Dalida, những ca khúc huyền thoại" (Dalida : Les chansons de légende) là tựa đề tuyển tập được phát hành trong thời gian gần đây. Album này được trình làng trễ hơn dự kiến, gần một năm sau ngày ra mắt khán giả bộ phim tiểu sử cùng tên kể lại cuộc đời và sự nghiệp của thần tượng Dalida.

Tuy được quảng cáo rầm rộ, nhưng bộ phim tiểu sử này đã không thành công rực rỡ như mong đợi, thu hút chưa đầy một triệu lượt khán giả Pháp vào rạp, trong khi bộ phim biopic về cuộc đời của Édith Piaf (La Môme / La Vie En Rose) lại lôi cuốn hơn 5 triệu lượt người xem. Bộ phim tiểu sử Dalida đã được phát hành cùng lúc với tuyển tập chính thức (với sự đồng ý của gia đình) mang tựa đề ‘‘Dalida, 30 ans déjà’’ nhân dịp tưởng niệm 30 năm ngày giỗ của diva người Pháp gốc Ý.

Có lẽ để tránh dẫm chân nhau mà ngày tung ra thị trường của bộ đĩa “Những ca khúc huyền thoại” đã được lùi lại, danh sách các bài hát cũng đã phần nào thay đổi cho dù đa số các khúc nhạc ở đây đều là những bản tình ca từng được Dalida ghi âm trong giai đoạn đầu sự nghiệp của mình.

Vào thời ấy, Dalida vừa đoạt vương miện hoa hậu Ai Cập, và khi chân ướt chân ráo đến Paris lập nghiệp, bà đã được lăng xê để cạnh tranh trực tiếp với ca sĩ Gloria Lasso, vào thời làng nhạc Pháp đang có cái mốt yêu chuộng các giọng ca ‘‘exotique’’mang nhiều âm hưởng của Ý, Tây Ban Nha hay Địa Trung Hải. Điều đó giải thích vì sao Bambino đã trở thành ca khúc gắn liền với tên tuổi của Dalida (signature song).

Cũng trong giai đoạn này, Dalida cũng đã ghi âm rất nhiều ca khúc ăn khách của Ý, đa số đều được chuyển ngữ sang tiếng Pháp chẳng hạn như Portofino, Come Prima hoặc là Romantica, ngoài ra còn có những bài hát cực kỳ nổi tiếng của Anh Mỹ, đặt thêm lời tiếng Ý : điển hình là nhạc phẩm Summer Wine, tựa tiếng Ý là Ci Sono Fiori (bài hát này từng được tác giả Nhật Ngân đặt lời Việt thành bài Men rượu Tình hè).

Lúc sinh tiền, Dalida hát trong 11 thứ tiếng khác nhau : ngoài tiếng Pháp, còn có tiếng Ý, Anh, Tây Ban Nha, Đức, Hà Lan, Ả rập (của Ai Cập và của Liban), Hy Lạp, Do Thái, Nhật Bản và Thổ Nhĩ Kỳ. Số lượng ca khúc ghi âm lên tới hơn một ngàn bài, trong đó có khá nhiều trường hợp mỗi bài hát được ghi âm riêng cho từng thị trường, bài Summer Wine chẳng hạn được Dalida hát riêng cho thị trường Ý và không hề được khai thác tại Pháp (cho dù bài này từng được dịch sang tiếng Pháp thành nhạc phẩm Le Vin de l’Été). Một cách tương tự Tình khúc bán cổ điển Aranjuez (La Tua Voce) cũng được Dalida hát bằng tiếng Ý để tránh ‘‘đụng hàng’’ với phiên bản tiếng Pháp của Richard Anthony hay của Nana Mouskouri.

Sau ngày Dalida qua đời, các phiên bản ngoại ngữ đã được tập hợp lại thành nhiều album khác nhau. Trên các mạng trực tuyến, các fan được nghe các phiên bản hiếm hoặc là ít quen thuộc, do trước kia bài hát chỉ được phổ biến theo từng quốc gia hay từng châu lục. Hãng đĩa Barclay vừa tái bản bộ đĩa mang tựa đề ‘‘D’ici et d’ailleurs’’ (Nơi này và Chốn nọ) bao gồm 7 cuộn CD, mỗi đĩa hát được dành cho một ngôn ngữ : Ý, Anh, Đức, Pháp, Tây Ban Nha và Ả rập. Đĩa nhạc cuối cùng tập hợp các bài hát ghi âm trong các thứ tiếng còn lại (Hy Lạp, Do Thái, Thổ Nhĩ Kỳ, Hà Lan và Nhật Bản).

Gần đây, hãng đĩa Barclay cũng đã giao cho nhạc sĩ kèn đồng Ibrahim Maalouf phần thực hiện dự án ghi âm một album tưởng niệm Dalida. Tập nhạc này quy tụ rất nhiều nghệ sĩ không có cùng thế giới âm nhạc với Dalida chẳng hạn như Melody Gardot, Ben l'Oncle Soul, Rokia Traoré hay là Mika ..... Lối tiếp cận của họ mang nhiều tính tìm tòi thử nghiệm, ‘‘phá cách’’ khác lạ, khiến cho nhiều khách hâm mộ không tránh khỏi cái cảm giác hoang mang, hụt hẫng.

Khi vĩnh viễn ra đi ở tuổi 54 vào mùa xuân năm 1987, Dalida đã để lại một khối lượng ghi âm khổng lồ. Tuy nhiên, về mặt sáng tác thì lại không có nhiều ca khúc mới, chủ yếu là những phiên bản của cùng một bài hát ghi âm trong nhiều thứ tiếng khác nhau. Mãi đến năm 1995, tức là gần một thập niên sau khi Dalida qua đời, nhờ vào công nghệ hiện đại (và nhất là nhờ vào kỹ thuật sampling), các bài hát của Dalida bắt đầu được khoác áo mới, có thêm lối phối khí ‘‘tân thời’’, hoặc được ghi âm dưới dạng song ca ảo.

Tính tổng cộng, có 6 tuyển tập remix đã lần lượt được phát hành (trong giai đoạn những năm 1995-2012). Điều đó giải thích vì sao 30 năm sau ngày qua đời, các đĩa hát của Dalida vẫn ăn khách. Tính từ đầu những năm 1950 cho tới nay, diva người Pháp gốc Ý đã bán hơn 140 triệu đĩa nhạc, trong đó có 20 triệu bản được bán ra thị trường, sau khi bà từ trần.

Bên cạnh đó, cón có khá nhiều nghệ sĩ trẻ vinh danh Dalida bằng cách ghi âm lại các bản tình ca nổi tiếng. Bộ đĩa mang tựa đề “Kể từ ngày thần tượng ra đi” (Depuis qu’elle est partie) là một trường hợp khá tiêu biểu. Các nghệ sĩ thuộc thế hệ sau như Amel Bent, Luz Casal, Lara Fabian (các giọng ca nữ) hay là Christophe Willem, Patrick Fiori, Dany Brillant (phái nam) đều hát lại nhạc của Dalida.

Một trong những ca khúc huyền thoại gắn liền với tên tuổi của Dalida vẫn là bài Chuyện Tình Yêu do bà là người đầu tiên thành công với ca khúc này trong tiếng Pháp. Gần đây, sau nhóm Les Stentors và Hélène Ségara, đến phiên Ishtar và Tony Carreirra ghi âm lại bài này dưới dạng song ca trong tiếng Pháp và tiếng Bồ Đào Nha, một cách để làm sống hoài sống mãi các bản tình ca, mà đằng sau vẫn thấp thoáng bóng hình Dalida.

Dalida - Bambino (1957)

https://www.youtube.com/watch?v=nSmpbGHe8oE

Hoàng Thy Mai Thảo  
#676 Posted : Sunday, March 24, 2019 12:13:22 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#677 Posted : Sunday, March 24, 2019 10:01:01 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage


Hồn Xuân

miên man Xuân nở nụ cười
trao tinh khôi sưởi lòng người đa đoan

khúc Xuân rộn rã hân hoan
nghe như tình hát giữa ngàn cỏ xanh

khơi lòng một thoáng mong manh
hoa Xuân tươi thắm trên cành bâng khuâng

xuân thì một thuở phù vân
chợt vừa bừng nở trong ngần nỗi thơ

thềm Xuân dáng lụa mộng mơ
êm đềm ngọn gió tình cờ xôn xao ...

Hồng Hoang

Hoàng Thy Mai Thảo  
#678 Posted : Monday, March 25, 2019 12:28:45 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#679 Posted : Tuesday, March 26, 2019 12:02:14 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage


Bóng Xuân

mưa Xuân rớt ngọn trúc đào
hồn em nhan sắc rơi vào tim anh
chim lùa ngọn nắng mỏng manh
bờ vai thon nhỏ long lanh mắt người

nghiêng môi ru nhẹ nụ cười
lời sông suối chạm đầy vơi mắt huyền
trong như tiếng hát tinh tuyền
một lần sỏi đá lạc miền huyễn hư

ngọt mềm từng sợi tương tư
hương tràn ngây ngất hình như tơ trời
khói sương mây trải buông lơi
êm đềm áo lụa chơi vơi dáng huyền ...

Hồng Hoang

posted MGP 'Dạo Khúc Xuân' : 04-20-2010
Hoàng Thy Mai Thảo  
#680 Posted : Wednesday, March 27, 2019 12:19:32 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,905

Thanks: 6553 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage



Bất Chợt

bất chợt trên môi em
một chút tình vừa hé
bất chợt trên vai em
từng sợi nắng vuốt ve

bất chợt trên mi em
mùa xuân về..
… trở giấc
bất chợt trên tóc em
làn gió mới…
… thì thầm

anh với tay nhặt lấy
từ đôi mắt lung linh
một vì sao mới mọc
trong tia nắng bình minh

anh với tay hứng lấy
làn hơi ấm mùa xuân
để tình xuân phơi phới
sẽ bên nhau…
… thật gần

Chiêm Bao


MGP 'Dạo Khúc Mùa Xuân' : 03-23-2010

Users browsing this topic
Guest (4)
38 Pages«<3233343536>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.