Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1 Posted : Sunday, October 14, 2012 7:51:15 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
RFI - Chủ nhật 14 Tháng Mười 2012

Những khúc mắc đằng sau các giải Nobel Văn học

UserPostedImage

Thanh Hà
Vào lúc mọi người chờ đợi nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami được đăng quang, tiếp tục con đường Ysunari Kawabata và Kenzaburo Oe đã khai mở, thì giải Nobel Văn học 2012 lại về tay cây bút Trung Quốc Mạc Ngôn. Đâu là những tính toán đằng sau các chọn lựa của Ủy ban Nobel Thụy Điển ?

Nhân sự kiện lần đầu tiên một văn sĩ mang quốc tịch Trung Quốc được Ủy ban Nobel vinh danh, trả lời tuần báo Le Point, giáo sư François Comba, một chuyên gia về lịch sử văn học, giảng dậy tại Học viện Chính trị Paris, nêu lên nhiều điểm nổi bật qua các giải thưởng Nobel Văn học trong suốt thế kỷ XX.

Theo ông, trong thời gian đầu, từ năm 1902 cho đến 1913, Viện Hàn Lâm Thụy Điển đã vinh danh những nhà cầm bút có tinh thần dân tộc chủ nghĩa rất cao. Trong chiều hướng đó, giải Nobel Văn học năm 1902 được trao tặng nhà sử học người Đức, Theodor Mommsen, một chuyên gia về lịch sử La Mã từ thời Cổ đại cho đến thế kỷ thứ XIX, hay là giải Nobel dành cho nhà ngôn ngữ người Pháp, Frédéric Mistral (1904).

Trong Đại chiến thứ nhất (1914-1918) Viện Hàn Lâm Thụy Điển đã cố gắng giữ thế trung lập, khi tuyên dương nhà văn Pháp Romain Rolland, tác giả một loạt bài viết phê bình cả hai phe tham chiến là Pháp và Đức. Vào thập niên 1930, các viện sĩ bắt đầu chú ý đến các nhà văn ở bên kia bờ Đại Tây Dương. Năm 1930, Sinclair Lewis là tác giả người Mỹ đầu tiên được trao tặng giải thưởng Nobel.

Bước vào Thế chiến thứ hai (1939-1945), chính quyền Stockholm đã yêu cầu Viện Hàn Lâm ngưng trao giải từ năm 1940 đến 1943. Theo giáo sư Pháp, François Comba, thì đó là một sai lầm về mặt đạo đức. Hơn thế nữa, nhiều văn hào nổi tiếng như James Joyce (Ai Len), Virginia Woolf (Anh) đã qua đời trước khi tài năng của họ được công nhận.

Đáng tiếc hơn cả là trường hợp của nhà văn, nhà thơ và cũng là nhà triết học người Pháp, Paul Valéry : Sau 10 lần được đề cử, năm 1945, Viện Hàn Lâm quyết định trao tặng ông giải thưởng cao quý này. Thế nhưng, Valéry đã từ trần 3 tháng trước khi kết quả được chính thức công bố. Đâu đó, một nhà văn có tài, còn phải có tuổi thọ cao thì may ra mới được quyền hy vọng đi vào lịch sử Nobel. Văn hào Pháp, André Gide, mãi đến năm 80 tuổi, mới được bước vào đại sảnh của Viện Hàn Lâm Stockholm.

Trong thời gian từ năm 1955 đến đầu những thập niên 80, giải Nobel Văn học hướng tới những quốc gia chưa từng được vinh dự trông thấy nền văn học của họ được thế giới công nhận, như là trường hợp của các khôi nguyên người Island, Hy Lạp hay Guatemala.

Marquez, cột mốc quan trọng

Đối với lịch sử của Nobel Văn học, năm 1982 được coi là một cột mốc quan trọng, khi Viện Hàn Lâm Thụy Điển tìm đến với nền văn học của các nước thuộc Thế giới thứ ba. Giải thưởng năm ấy về tay nhà văn người Colombia, Gabriel Garcia Marquez.

Có một điều chắc chắn là sự chọn lựa của Ủy ban Nobel luôn kèm theo một ý nghĩa chính trị. Bản thân André Gide, khi được trao tặng giải thưởng cao quý này vào năm 1947, từng khẳng định, ông được giải nhờ tư tưởng bài chính sách thực dân nhiều hơn là nhờ tài năng viết lách của mình. Thế nhưng, dù muốn hay không, Nobel Văn học không thể được xem là một giải thưởng bổ sung cho Nobel Hòa bình. Bởi vì, người được vinh danh bắt buộc phải có một tầm vóc văn học nhất định. Đấy chính là lý do vì sao văn sĩ người Do Thái, mang quốc tịch Mỹ, sinh trưởng ở Rumani, Elie Wiesel, năm 1986, được trao tặng giải Nobel Hòa bình, chứ không lọt vào danh sách những người được đề cử nhận Nobel Văn học.

Bí mật được giữ kín 50 năm

Như những giải Nobel khác, danh tính những nhân vật được đề cử nhận giải thưởng Văn học của Viện Hàn Lâm Thụy Điển là một bí mật được giữ kín trong suốt 50 năm. Vì thế mà mãi sau này, mọi người mới được biết rằng, khi tác giả của « L’Etranger », « La Peste », Albert Camus, được vinh danh vào năm 1957 thì đối thủ nặng ký nhất của ông không phải là Jean Paul Sartre, mà lại chính là nhà văn André Malraux. Về phần Malraux, ông đã bị thua trong đường tơ kẽ tóc.

Cũng mãi sau này, người ta mới biết được rằng, Paris không hề ủng hộ Camus trong cuộc chạy đua giành Nobel Văn học : Giữa thế kỷ XX, Paris kỳ vọng và hỗ trợ cho hai nhà văn là Jules Romains và Georges Duhamel. Riêng Stockholm lại đặt niềm tin vào Albert Camus. Hai viện sĩ Hàn Lâm Thụy Điển đã bảo vệ hồ sơ của Camus trong sáu lần liên tiếp, lần đầu tiên là vào năm 1949, khi đó Albert Camus mới chỉ vừa 35 tuổi.

« L’Homme Révolté » (1951) của Camus bị đánh giá là « chưa đủ tầm cỡ » để cho phép tác giả đoạt bảng vàng. Phải đợi đến năm 1956, « La Chute » mới được coi là một « tuyệt tác ». Dù vậy, tác giả cũng đã phải kiên nhẫn thêm một năm, nữa giấc mơ Nobel mới trở thành hiện thực. Ngày 17/10/1957 Albert Camus đã qua mặt không chỉ Malraux mà cả những tên tuổi của văn đàn quốc tế như Pasternak, Saint-John Perse và Beckett để nhận 208 000 couronnes Thụy Điển.

Lịch sử của giải Nobel Văn học cũng cho thấy là trong trường hợp các thành viên trong Hàn Lâm Viện không đồng thuận qua các cuộc biểu quyết, thì đôi khi hai ứng viên được nhiều phiếu ủng hộ nhất lại ra về tay không và người may mắn trúng giải chỉ là người về thứ ba.

Thế rồi lại cũng có khi các thành viên ban giám khảo Nobel chợt nhận ra rằng họ sao nhãng với một thể loại văn học nào đó – như đối với thi ca chẳng hạn - và như để bắt lại nhịp cầu đã lỡ, Viện Hàn Lâm quyết định vinh danh một tên tuổi rất ít được biết đến một cách rộng rãi. Đó là trường hợp của nhà thơ người Thụy Điển, Tomas Transtromer : Năm 2011, ông được trao tặng giải Nobel để vinh danh 50 năm sự nghiệp sáng tác và cả một cuộc đời cống hiến cho nàng thơ. Dù rất nổi tiếng đối với các độc giả Thụy Điển và Bắc Âu, nhưng Transtromer cho đến mùa thu năm ngoái, vẫn là một ẩn số đối với đại đa số những người yêu thi ca. Tại Pháp chẳng hạn, tuyển tập thơ « Baltiques » của ông được xuất bản từ năm 2004, chỉ bán được khoảng từ 200 đến 300 ấn bản hàng năm. Nhờ giải Nobel Văn học, số cuốn «Baltiques» được bán ra năm 2011 nhảy vọt lên thành 15 000 ấn bản. Thế nhưng, rồi bước sang năm nay, thì lại rơi xuống còn vài trăm quyển mà thôi.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#2 Posted : Tuesday, February 19, 2013 12:58:19 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
RFI - Thứ hai 18 Tháng Hai 2013

Truyện ngắn chưa từng được công bố của Kawabata

UserPostedImage
Nhà văn Yasunari Kawabata, Nobel Văn học 1968 (Albin Michel)

Thanh Hà
Sau 86 năm bị bỏ quên, truyện ngắn chưa từng được xuất bản của nhà văn người Nhật, Kawabata Yasunari mang tên « Utsukushii ! -Tuyệt diệu ! » vừa được phát hiện. Kawabata là văn hào đầu tiên của xứ hoa anh đào được trao tặng giải Nobel Văn học năm 1968.

Nhà nghiên cứu Ishikawa Takumi, thuộc đại học Rikkyo - Tokyo đã cùng với chủ nhân nhà xuất bản Hiroshi Sakaguchi đã tình cờ tìm thấy bản thảo của Kawabata tại một kho lưu trữ tài liệu của một tờ báo địa phương, thuộc Fukuoka, miền đông nước Nhật.

Quỹ Kawabata đã đem tài liệu này đi chứng thực. Tác phẩm « Utsukushii ! - Tuyệt diệu ! » được xác nhận là một trong những truyện ngắn từng được giải Nobel văn học Nhật Bản sáng tác khi còn trẻ.

« Utsukushii!» là câu chuyện kể về một doanh nhân đang chôn cất một cô gái trẻ ngay trong nấm mộ của người con trai mình. Đó là một đứa con tàn tật. Cô gái trẻ kia đã chết khi đến viếng mộ con trai vị doanh nhân. Trên tấm mộ bia, có ghi dòng chữ « Nơi đây yên nghỉ một cặp trai tài gái sắc »

Cả câu chuyện xoay quanh nỗi cô đơn, sự đồng cảm. Tất cả đã toát lên từ ngòi bút của một nhà văn mới vừa 27 tuổi. Khi đó Kawabata Yasunari đã mồ côi cả cha lẫn mẹ và cũng đã mất đi người ông ngoại, người duy nhất đã ru êm tuổi thơ của Kawabata.

Theo lời nhà nghiên cứu Ishikawa Takumi thì truyện ngắn vừa được phát hiện có nội dung rất gần với một tác phẩm khác của Kawabata là « Utsukushiki Haka - Ngôi mộ đẹp » được sáng tác vào năm 1954.

Nhà văn Kawabata Yasunari sinh năm 1899 tại Osaka. Năm 1968, ông là người Nhật đầu tiên và là người châu Á thứ ba được trao tặng giải thưởng Nobel Văn học. Nối tiếng với những tác phẩm như « Xứ Tuyết – Yukiguni »; « Tiếng rền của Núi - Yama no Oto » hay « Người đẹp say ngủ - Nemueru bijo ». Năm 1972 Kawabata tự sát, kết liễu cuộc đời và sự nghiệp.

Edited by user Tuesday, February 19, 2013 1:20:36 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#3 Posted : Tuesday, April 9, 2013 2:02:30 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)

Chilê khai quật mộ nhà thơ đoạt giải Nobel


UserPostedImage
Ông Rodolfo Reyes (trái) cháu của nhà thơ Pablo Neruda,
khiêng chiếc quan tài phủ quốc kỳ Chilê sau khi được khai quật để giảo nghiệm


VOA - 08.04.2013
Thi hài của Pablo Neruda, nhà thơ Chilê từng đoạt giải Nobel đã được khai quật, trong cuộc điều tra để xác định xem ông có bị đầu độc dưới chế độ độc tài của tướng Augusto Pinochet hay không.

Nhà thơ cánh tả này đã chết 12 ngày sau khi có đảo chính năm 1973 lật đổ Tổng thống Salvador Allende, đưa Tướng Pinochet lên cầm quyền. Mọi người đều nghĩ ông bị ung thư tuyến tiền liệt.

Nhưng nhà chức trách đã yêu cầu mở cuộc điều tra vì người tài xế của ông nói rằng ông đã bị tay chân Tướng Pinochet đầu độc.

Neruda đoạt Nobel Văn chương năm 1971 với những bài thơ nổi tiếng về lịch sử và con người Nam Mỹ.

Có lẽ phải mất ít nhất 3 tháng nữa mới có kết quả điều tra.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#4 Posted : Thursday, October 10, 2013 7:19:00 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
RFI - Thứ năm 10 Tháng Mười 2013
Nữ văn sĩ Canada đoạt Nobel Văn học 2013

UserPostedImage
Nhà văn Canada Alice Munro giành giải Nobel Văn học 2013.
Ảnh chụp trong một sự kiện tại Toronto, Canada 2007.
REUTERS/Mike Cassese/Files

Thanh Hà
Ủy ban Nobel Thụy Điển vào đúng 1 giờ trưa ngày 10/10/2013 thông báo ngắn gọn: Giải thưởng Văn học 2013 được trao về tay nhà văn Canada Alice Munro, « bậc thầy của dòng văn học đương đại ở thể loại truyện ngắn ». Đây là lần đầu tiên giải Nobel Văn học vinh danh một nhà văn chỉ viết truyện ngắn.

Vào lúc mọi người chờ đợi giải Nobel Văn học 2013 được trao về tay nữ văn sĩ người Bélarus, Svetlana Alexievith hay tác giả Nhật Bản, Haruka Murakami thì Ủy ban Nobel Thụy Điển lại bất ngờ vinh danh một tác giả ít được biết đến : Nhà văn nữ Alice Munro, 82 tuổi. Bà được mệnh danh là « bà Hoàng của nghệ thuật viết truyện ngắn đương đại ». Alice Munro là phụ nữ Canada đầu tiên đoạt giải Nobel Văn học và là nhà văn nữ thứ 13 có tên trong bảng vàng.

Sinh năm 1931, sự nghiệp văn chương của Alice Munro khởi đầu từ cuối thập niên 1960. Tác phẩm đầu tay của Alice Munro mang tựa đề Dance of the Happy Shades - Vũ điệu của những chiếc bóng hạnh phúc- xuất bản năm 1968. Với tác phẩm này bà đoạt giải thưởng quan trọng nhất trên văn đàn Canada, Prix du Gouverneur général. Trong gần nửa thế kỷ qua, Alice Munro chỉ cho ấn bản chưa đầy 20 tuyển tập truyện ngắn. Hầu hết các sáng tác của bà đều xoay quanh thân phận của những người đàn bà sống ở những thị trấn nhỏ, trong vùng Ontario, Canada.

Tài viết truyện ngắn của giải Nobel Văn học 2013 thường được so sánh với một nhà văn nổi tiếng của Nga là Anton Tchekhov. Tác phẩm mới nhất của Alice Munro mang tựa đề « Dear Life – Cuộc đời yêu mến » chưa được dịch sang tiếng Pháp.

Văn phong trong sáng và tinh tế của bà khiến Alice Munro, từ nhiều năm qua được coi là một trong những nhà văn có nhiều triển vọng đoạt giải Nobel nhất trên thế giới. Trong mùa Nobel năm nay, bà được xem là một trong ba ứng viên nặng ký nhất trong số 48 nhà văn được Ủy ban Nobel Thụy Điển quan tâm.

Nobel Văn học năm ngoái được trao tặng cho nhà văn Trung Quốc, Mạc Ngôn. Người trúng giải được thưởng khoảng 1 triệu đô la.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#5 Posted : Tuesday, November 19, 2013 10:50:33 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
RFI - Chủ nhật 17 Tháng Mười Một 2013
Nobel Văn học 2007 Doris Lessing qua đời

UserPostedImage
Nữ văn sĩ Anh Doris Lessing và giải thưởng Nobel Văn học
(ảnh chụp 30/01/2008)
REUTERS

Thanh Hà
Nữ văn sĩ người Anh, Doris Lessing vừa từ trần tại Luân Đôn, thọ 94 tuổi. Độc giả Pháp biết đến bà qua tiểu thuyết « The Golden Notebook – Cuốn sổ vàng ». Năm 1976 tác phẩm này đoạt giải văn học Médicis dành cho các nhà văn ngoại quốc. Doris Lessing là tác giả của hơn 50 cuốn tiểu thuyết, tập thơ, tuyển tập truyện ngắn.

Năm 2007 bà đoạt giải Nobel Văn học. Cùng năm, bà cho phát hành cuốn tiểu thuyết được dịch sang tiếng Pháp mang tựa đề « Un Enfant de l’Amour – Đứa con của Tình yêu ».

Doris Lessing tên thật là Doris May Taylor, sinh năm 1919 tại Iran. Thân phụ của bà là một sĩ quan trong quân đội Hoàng gia bị trọng thương phải giải ngũ và sang sinh sống ở châu Phi. Hoàn cảnh khó khăn của những gia đình người Anh đến Zimbabwe –khi đó là thuộc địa của Vương quốc Anh- lập nghiệp, thân phận của một cô gái da trắng ở một xứ thuộc địa … là những chủ để mà sau này bà đã thường xuyên đưa vào văn học.

Doris Lessing đã rời khỏi học đường năm 15 tuổi và sống xa gia đình rất sớm. Nhưng bà lại là người rất đam mê với văn chương, đặc biệt là với dòng văn lãng mạn của các tác giả Nga, Pháp vào thế kỷ thứ 19. Năm 1938, bà bắt đầu sáng tác. Đối với độc giả Pháp, tên tuổi của Doris Lessing như thể gắn liền với Martha Quest . Đây là nhân vật chính trong tập truyện « Des enfants de la violence – Những đứa trẻ của bạo hành ». Tập truyện đó đã được sáng tác vào những năm 1950-1960. Chủ yếu tác giả lấy nguồn cảm hứng từ chính cuộc đời mình.

Tình yêu, sự phân biệt đối sử vì màu da, lòng tốt và sự phản bội … là những bài học mà Doris Lessing cũng như các nhân vật trong tiểu thuyết của bà đã phải trả giá.

Thủa trẻ, bà tham gia phong trào cách mạng, nhưng đến năm 1956, sau khi cuộc cách mạng Hungary bị đàn áp đẫm máu, thì Doris Lessing đã từ bỏ đảng Cộng sản. Có lần, bà đã giải thích : Vào đầu những năm 1950, ảnh hưởng của đảng Cộng sản đối với tầng lớp trí thức Châu Âu rất lớn, và bà đã bị chủ nghĩa ấy thu phục. Nhưng Lessing là một phụ nữ tự do và độc lập, khi nhìn thấy mặt trái của lý tưởng Cộng sản thì bà đã không một phút do dự để rút lui.
Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.