Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
NNT  
#1 Posted : Friday, October 12, 2012 6:18:57 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,834
Man
Location: USA

Thanks: 1843 times
Was thanked: 3565 time(s) in 1883 post(s)
NHO SĨ VIỆT-NAM
Tạ-quốc-Tuấn
Phần 1 : Nhận Diện Một Nho Sĩ

http://www.dunglac.org/i...mp;v=detail&ia=10616


Tại Việt nam trong khoảng thời gian từ sau khi giành lại được độc lập khỏi tay Trung-quốc năm 939 cho đến trước thời Pháp thuộc (1862-1945), giai cấp nho sĩ đã giữ một vai trò rất hệ trọng trong các sinh hoạt quốc gia, hơn bốn giai cấp khác là nông, công, thương, và binh. Tuy chúng ta thường nghe thấy nói "Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ " những khi người ta muốn nói về sự quan trọng của một giai cấp cho sự sống của xã hội là giai cấp nông gia, nhưng vai trò lãnh đạo quốc gia và địa vị độc tôn của nho sĩ không một giai cấp nào khác có thể thay thế được. Mặt khác, trong khoảng thời gian ngót một ngàn năm ấy, những nỗ lực nho hóa Việt-nam, tức là những nỗ lực biến Việt-nam thành một quốc gia được tổ chức hoàn toàn theo đường lối, chủ trương, chính sách của Nho giáo, đều do giai cấp nho sĩ đảm nhận.

Muốn hiểu rõ công cuộc nho hóa quốc gia, điều quan trọng nhất là cần phải tìm hiểu xem thế nào là một nho sĩ.


I. Thế Nào là Một Nho Sĩ?

Nho sĩ 儒士, gọi nôm na là "nhà nho", vẫn thường được hiểu là người đã học hỏi và tinh thông học thuyết của Khổng-tử 孔子 (551-479 TCN), của các môn đệ của ngài cũng như của các môn sinh của những người này. Họ là những người muốn đem học thuyết đó ra áp dụng để cải biến xã hội mình đang sống theo phương thức của Nho giáo.

Tự điển Từ Hải 辭海 của nhóm Từ Hạc-tiên 徐鶴仙 định nghĩa nho 儒 là "hữu đạo học chi sĩ dã " 有道學之士也 (kẻ sĩ có học vấn về

đạo) và dẫn câu chú thích sau của quyển Tư-mã Tương-như Truyện 司馬相如傳 trong bộ Hán Thư 漢書 của Ban-Cố 班固: "phàm hữu đạo thuật giai vi nho" 凡有道術皆為儒 (phàm [những người] có đạo đức học thuật đều là nho). Còn theo Khang-hi tự điển 康熙字典 thì nho là "học giả chi xưng" 學者之稱 (tiếng gọi người có học).

Mặt khác, Dương-quảng-Hàm đã đưa ra một định nghĩa vắn tắt về hai từ nho và nho sĩ như sau:

"Nho nghĩa đen là học giả. Nhà nho là người đã theo Nho học, hiểu đạo lý của thánh hiền đời xưa, có thể dạy bảo người đời cư xử cho phải đạo và, nếu được đắc dụng, thì đem tài đức của mình mà giúp dân giúp nước." [1]

Định nghĩa của Dương-quảng-Hàm phỏng theo câu sau trong quyển Thiên Quan 天官 sách Châu Lễ 周禮: "nhu, dĩ đạo đắc nhân dã " 儒以道得人也 (nhu [là] lấy đạo mà được người).


II. Nguồn Gốc của Từ Nho và Nho Sĩ [2]

Trước khi đi sâu vào việc tìm hiểu ý nghĩa của danh xưng “nho” chúng ta nên biết qua cách đọc của từ này.

Từ nho 儒 viết bằng Hán tự với bộ nhân 人 (= người) ở bên trái và chữ nhu 需 (= cần, cần thiết; lần lữa, chần chờ không quyết) ở bên phải và đọc theo âm Hoa ngữ Quan thoại là jú (phiên âm theo phương pháp Wade-Giles) hay rú (phiên âm theo phương pháp pinyin hay phanh âm). Tự điển Từ Hải ghi âm cách đọc từ này theo phép phiên thiết là "nhục vu thiết, âm nhu, ngu vận" 縟于切音襦虞韻; hai bộ tự điển Thuyết Văn Giải Tự 說文解字 của Hứa-Thận 許慎 (bộ tự điển cổ nhất của Trung-quốc ngày nay còn tồn tại, biên soạn từ năm 100 đến năm 121) và Đường Vận 唐韻 của Tôn-Miến 孫愐 (có tài liệu viết là Tôn-Miên 孫綿, biên soạn khoảng năm 742-756) ghi cách đọc là "nhân chu thiết " 人朱切; còn hai sách Tập Vận 集韻 do Đinh-Độ 丁度 làm chủ biên (soạn từ năm 1037 đến năm 1067) và Cổ Kim Vận Hội 古 今韻會 của Hoàng Công-thiệu 黃公紹, người thời nhà Nguyên (1280-1368), thì ghi cách đọc là "nhữ chu thiết, âm nhu " 汝朱切音襦. Tuy nhiên, dù phiên thiết như thế nào đi chăng nữa thì từ này đọc theo âm Hán-Việt đúng ra là “nhu ”, nhưng người Việt lại quen đọc là “nho”.

Từ nhu 儒 nói trên bắt nguồn từ chữ nhu 柔, viết với chữ mâu 矛 (= cái giáo) ở bên trên và bộ mộc 木 (= gỗ; cây) ở bên dưới. Thuyết Văn Giải Tự giải thích rằng "nhu: nhu dã, thuật sĩ chi xưng" 儒柔也術士之 稱 (nhu: [có nghĩa là] nhu, tiếng gọi người có học thức và tài giỏi về nghệ thuật). Từ nhu 柔 vốn có nghĩa là "yếu đuối", "nhu nhược," lại đồng thời có nghĩa là "thuận theo", "phục theo", "nhượng bộ" .

Sở dĩ nhu 柔 được chuyển thành nhu hay nho 儒 là vì từ “nho” (bắt đầu từ đây trở đi chúng tôi chỉ dùng từ “nho” khi nói về từ 儒 cho gọn, trừ phi cần phải phân biệt) mới đầu được dùng để chỉ những người quí tộc có học thức trong thời nhà Thương/Ân bên Trung-quốc (gọi là Thương năm 1766-1401 TCN và Ân năm 1401-1122 TCN).

Sau khi nhà Thương/Ân bị nhà Châu (1122-256 TCN) diệt năm 1122 TCN, các nho Thương/Ân phải phục vụ các ông chủ mới, với tư cách là những chuyên gia về lễ nghi và kỹ thuật điều hành chính quyền. Là những người của một chế độ đã bị lật đổ, họ trở nên dễ bảo, khiêm nhường, và chẳng có chút quyền hành gì trong Châu triều. Họ đã phải hy sinh, đem kiến thức và tài năng của mình ra phục vụ nhà Châu, mặc dù họ biết mình tài giỏi hơn các kẻ gọi là "sĩ " 士 của nhà Châu, nghĩa là những con nhà võ, những người tinh thông chiến thuật, dũng mãnh, chỉ tài giỏi việc binh thôi, còn ngu dốt về các việc khác.

Hai nét đặc biệt của các nho Thương/Ân là tôn sùng tập tục và đề cao kiến thức về kỹ thuật điều hành chính quyền. Sự tôn sùng tập tục của họ được biểu hiện qua các nghi lễ trong triều đình cũng như ngoài dân gian mà họ là những nhà chuyên môn. Mặt khác, tuy tổ chức chính quyền ở Trung-quốc chỉ thực sự phát triển từ thời nhà Châu, định chế chính trị của nhà Châu lại mô phỏng theo định chế của nhà Thương/Ân. Vì vậy, đối với nhà Châu, các nho Thương/Ân là những người thiết yếu (một trong những nghĩa của từ đồng âm nhu 需), không có không được.

Các người tông thất nhà Châu tin rằng kiến thức về nghi lễ giúp họ có thể cảm thông với thượng đế, mà, trong quan niệm của nhà Châu, thượng đế chính là tổ tiên của họ. Trong khi đó căn bản tinh thần của nhà Châu là tổ tiên. Vua nhà Châu có thói quen là trước khi làm việc gì quan trọng đều cầu xin sự chỉ bảo của tổ tiên, mà, muốn thực hiện việc cầu xin này, họ cần phải có người có thể hội thông với tổ tiên nhà Châu được. Cũng vì lý do này, Khang-hi Tự Điển 康熙字 典, để diễn giảng nghĩa của từ nhu/nho 儒 đã dẫn câu sau trong sách Pháp Ngôn 法言 của Dương-Hùng 揚雄 (53-18 TCN) "thông thiên địa nhân viết nhu " 通天地人曰儒, nghĩa là người cảm thông được với trời đất gọi là nhu (nho). Mặt khác, kỹ thuật điều hành chính quyền của các nho Thương/Ân là vấn đề sinh tử trong việc nhà Châu duy trì địa vị và uy quyền cuả mình.

Như vậy, có thể nói được rằng trong thời nhà Châu, các nho Thương/Ân là những người bác học làm quân sư hay phụ tá cho triều đình nhà Châu và đóng một vai trò quan trọng, có nhiều ảnh hưởng trong triều đình cũng như ngoài dân gian.

Đến khi nhà Châu suy yếu, nghĩa là từ thời Xuân-thu Chiến- quốc 春秋戰國 (770-221 TCN), và trở thành một vương triều hữu danh vô thực, vai trò của nho Thương/Ân lại càng quan trọng hơn vai trò của các sĩ Châu là những người vào thời kỳ này đã bị xếp vào hạng thấp nhất trong giai tầng tổ chức xã hội của nhà Châu.

Thực vậy, một hiện tượng trái ngược đã xảy ra trong thời kỳ này. Các cải cách về kỹ thuật quân sự của nhà Châu (như: chiến xa trở nên không cần thiết vì đã lỗi thời trong các cuộc hành quân, chiến mã được sử dụng nhiều, quân đội gồm những người bị bắt đi lính chứ không còn là tình nguyện, v.v.) đã khiến cho các sĩ Châu không còn được ưu đãi nữa. Tình trạng của họ khi đó không khác gì tình trạng của các nho Thương/Ân vào đầu triều đại nhà Châu. Vì vậy nếu vào đầu thời nhà Châu các sĩ Châu luôn luôn thù nghịch và tranh chấp với các nho Thương/Ân thì đến lúc này lại quay ra làm thân với họ, muốn kết hợp với những người này để tạo thành một giai cấp mới.

Cũng vì thế tới cuối thời nhà Châu, hai giai cấp nho và sĩ hầu như là hợp thành một vậy. Nếu vào đầu thời nhà Châu các sĩ Châu là những người bảo vệ thế lực quân sự của nhà Châu thì từ giữa thời nhà Châu trở đi các nho Thương/Ân trở nên các người bảo vệ tính cách thần bí uy quyền nhà Châu, vào lúc mà cái thần bí này đã thay thế thế lực quân sự rồi. Với tư cách người bảo vệ các tập tục làm căn bản cho tính cách thần bí uy quyền của nhà Châu, các nho Thương/ Ân đã khéo dùng kiến thức chuyên môn của mình để giúp duy trì thế lực của nhà Châu được thêm 500 năm nữa. Thành tích này là bằng chứng cụ thể và chắc chắn nhất cho thấy cái tài của các nho Thương/ Ân đã bầy mưu lập kế để bảo vệ uy quyền của nhà Châu trong một thời gian lâu dài sau khi nhà Châu đã mất hết thực quyền rồi.

Đúng vào thời gian đó vai trò của Khổng-tử 孔子 (551-479 TCN) xuất hiện. Chúng ta có thể nói được rằng Khổng-tử là một người bản thân mang cả hai đặc tính nho và sĩ .

Thực vậy, ngài đã tự xưng mình là dòng dõi nhà Thương/Ân và là người có học thức, tức là một nho Thương/Ân, đồng thời lại có đức tính cương trực của một sĩ Châu. Nói cách khác, Khổng-tử đã thừa hưởng hai tinh thần nho và sĩ . Điều này còn cho thấy là đến thời của Khổng-tử hai giai cấp nho và sĩ đã hợp nhất thành một giai cấp xã hội mới, với một bản thể đồng nhất, đó là giai cấp nho sĩ.

Xét về một phương diện khác, học thuyết của Khổng-tử là một tổng hợp tính chất của nho và sĩ mà chúng ta có thể thấy rõ trong thuyết "người quân tử ", một mẫu người lý tưởng, dung hoà sự tương phản của hai mẫu người sĩ (cương) và nho (nhu).

Các môn sinh của Khổng-tử đã kế tiếp khai triển học thuyết của ngài. Dù họ đôi khi bất đồng với ngài ở một vài điểm, nhưng tựu trung sự khác biệt chỉ là ở chỗ điểm nào cần được nhấn mạnh hay cần chú trọng hơn. Họ dần dần tạo thành một trường tư tưởng và một chương trình hành động có thể áp dụng cho mọi thế hệ, gọi là Khổng giáo 孔 教, Nho giáo 儒教, Khổng học 孔學, hay Nho học 儒學.

Tiện đây, tưởng cũng cần phải nói là các từ Khổng giáo hay Nho giáo không nên hiểu là một tôn giáo như một số người vẫn lầm tưởng. Khổng/Nho giáo không bao giờ tổ chức thành một giáo hội như Thiên chúa giáo, Hồi giáo, v.v. Nói cho đúng ra, Khổng/Nho giáo không có một tổ chức nào cả. Khổng-tử và các môn sinh của ngài không hề chủ trương một lý thuyết thần học nào. Chữ "giáo" 教 ở đây phải hiểu là dạy dỗ, chỉ dẫn, đồng nghĩa với giáo dục 教育 hơn là với tôn giáo 宗教. Đáng lẽ chúng ta nên dùng danh từ "Khổng học" hay "Nho học" thì chính xác hơn nhưng vì danh từ "Khổng giáo", "Nho giáo" đã được dùng từ lâu lắm rồi và trở nên thông dụng, do đó bốn từ "Khổng giáo", "Nho giáo", "Khổng học" và "Nho học" thường được dùng thay thế cho nhau không chút phân biệt.

Mặt khác, điều đáng chú ý là Khổng-tử không tự xưng mình là nho và cũng không gọi đạo (道, với nghĩa là con đường, học thuyết, chứ không với nghĩa là tôn giáo) của ngài là đạo nho, mặc dù nhiều bộ tự điển Hoa ngữ, chẳng hạn tự điển Từ Hải, đã định nghĩa từ “nhu/nho” 儒 là "Khổng-tử chi đạo dã " 孔子之道也 (đạo của Khổng-tử). Ngài chỉ khuyên các môn đồ nên sống cho ra một "chân nho" 真儒, hay như có lần ngài đã bảo môn sinh Tử-hạ 子夏 là "Nhữ vi quân tử nho, vô vi tiểu nhân nho" 女為君子儒無為小人儒 (Luận ngữ, Ung Dã, q. 6, ch. 11), nghĩa là ngươi nên làm nhà nho thuộc loại quân tử, chớ nên làm nhà nho thuộc loại tiểu nhân. Theo gương ngài, các môn sinh của ngài đã sống cũng như giảng dạy, truyền bá tư tưởng của ngài như một "chân nho" hay “quân tử nho”.

Lâu dần, từ nho hay nho sĩ được dùng để chỉ những người theo Khổng học, dù họ có đủ hai đặc tính nho và sĩ hay không. Vì thế tự điển Từ Hải đã có bốn định nghĩa của từ “nho” là: (a) người có đạo học (hữu đạo học chi sĩ dã 有道學之士也) và đã dẫn câu "phàm hữu đạo thuật giai vi nho " trong quyển Tư-mã Tương-như Truyện bộ Hán Thư của Ban-Cố đã nói ở phần I bên trên; (b) đạo của Khổng-tử (Khổng-tử chi đạo dã 孔子之道也); (c) (người) nhu nhược (nọa nhược dã 懦弱也); và (d) người lùn (chu nhu 侏儒). Ba nghĩa đầu tiên có liên quan tới vấn đề chúng ta đang tìm hiểu. Ngoài ra, Từ Hải còn định nghĩa "nho sĩ " là “người tôn đạo của Khổng-tử ” (tôn Khổng-tử chi đạo giả 宗孔子之道者).

Tới đây chúng ta cũng nên biết thêm rằng trong thời nhà Thanh (1644-1911) từ "nho sĩ " ngoài nghĩa thông dụng chỉ một người theo học đạo Khổng ra (nghĩa thứ nhất), còn là tên một chức của lại viên (tương đương với nhân viên hành chính hay thư ký ngày nay) quản lý công việc của một văn phòng trong triều đình hay hoàng cung, như tôn nhân phủ 宗人府, nội các 內閣, thượng dụ quán 上諭館, văn uyên các 文苑閣, hàn lâm viện 翰林院, chiêm sự phủ 詹事府, trung thư khoa 中書科, Lễ bộ 禮部, v.v.

III. Các Loại Nho Sĩ

Nho sĩ thường được chia làm hai loại, tham chính hay không tham chính.

Những nho sĩ sau khi thi đỗ thường ra làm quan ở các cấp trung ương hay địa phương. Họ là các nho sĩ tham chính (hay xuất chính), còn gọi là hiển nho 顯儒. Họ có nhiều quyền hành, có địa vị trong xã hội, được coi như là cha mẹ của dân (dân chi phụ mẫu 民之父母). Họ chính là những người trực tiếp và tích cực thực hiện các lý thuyết và chính sách của Nho giáo.

Bên cạnh các nho sĩ tham chính là những nho sĩ học thức cũng uyên thâm, tài trí cao như các nho sĩ tham chính, nhưng vì một lý do nào đó đã không tham chính (như: không thi đậu, con cháu người làm nghề ca xướng, không muốn dính vào quan trường thối nát hay hắc ám, không muốn bon chen với đời, không ham danh vọng), hoặc là đã tham chính một thời gian rồi rút lui (chẳng hạn: từ nhiệm để về thụ tang cha mẹ, từ quan vì không tán thành phương pháp làm việc hay cách cai trị của cấp trên hoặc chính sách của triều đình, về hưu), hoặc không muốn ủng hộ hay phục vụ một triều đại mới hay một chế độ mới, v.v. Vì nhiều người ẩn náu một nơi, sơn lâm hay thôn dã, vui hưởng cuộc sống an nhàn trong sạch (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) nên họ thường được gọi là ẩn nho 隱儒. Họ thường sống trong nghèo túng, cơ hàn, nên còn được gọi là hàn nho 寒儒. Tính cách ẩn tàng của các nho sĩ không tham chính khiến chúng ta chỉ có thể cảm thấy ảnh hưởng và vai trò của họ nhưng khó xác định, khó thẩm định hơn như đối với các nho sĩ tham chính.

Tuy nhiên, dù là ẩn nho hay là hiển nho, tham chính hay không tham chính, họ đã tạo thành một giai cấp trong xã hội và thường được kính trọng bởi vì, như lời giáo sư Dương-quảng-Hàm:

"… dù cảnh ngộ có khác, các nhà nho đều có một tư cách và một chí hướng chung, đều muốn bồi đắp cho cương thường, giữ gìn lấy chính giáo, hoặc lấy sự nghiệp mà giúp vua giúp dân hoặc lấy phẩm hạnh mà làm mẫu mực cho người đời, hoặc lấy giáo hóa mà tác thành bọn hậu tiến, nên đều được xã hội tôn trọng, dù chẳng được triều đình ban cho chức vị, bổng lộc cũng được dân chúng quí mến phục tùng." [3]

Nho sĩ dù là ở Trung-hoa, Nhật-bản, Triều-tiên, hay Việt-nam, và dù ở cảnh ngộ nào, hiển đạt, ẩn dật hay hàn bạc, lúc nào cũng tự cho mình một chức vụ, hay, theo lời họ, một thiên chức, là nho hóa xã hội nơi họ sinh sống. Phạm-Quỳnh đã viết như sau về giai cấp và vai trò của nho sĩ trong xã hội Việt-nam:

"Cái tên 'nhà nho' không những là để chỉ người biết chữ, học đạo thánh hiền trong Nho giáo; lại là chỉ một giai cấp trong xã hội, tức là hạng thượng lưu trí thức trong nước. Vì xưa kia ngoài Nho học không có cái học nào khác nữa, nên phàm người đi học là học đạo Nho hết cả. Đạo Nho có cái địa vị độc tôn, nên hầu như thành một tôn giáo; mà thực ra cũng chính là cái quốc giáo của nước Nam từ xưa đến giờ. Những người phụng sự cái quốc giáo đó, tức là nhà nho. Vậy thời nhà nho là kẻ có học hành biết chữ nghĩa; nhà nho là bậc thức giả xã hội trong nước; nhà nho là tín đồ của cái tôn giáo họ Khổng. Về đường xã hội, về đường chính trị, về đường trí thức, tinh thần đều có một cái địa vị đặc biệt, đối với một chức vụ đặc biệt.

"Chức vụ này cao quí, có thể gọi là một thiên chức được, vì là chức vụ hướng đạo cho quốc dân, làm tiêu biểu cho cả nước... Xã hội nước ta chỉ có hai giai cấp lớn: một hạng bình dân, là dân quê làm ruộng, một hạng học thức, tức là nhà nho. Hạng bình dân coi hạng học thức là thầy dạy bảo, là người đưa đường, sẵn lòng phục tùng, không có đố kỵ. Hạng học thức cũng tự nhận cái chức trách đó,

không lạm dụng, không kiêu căng, vì coi mình như là kẻ giáo sĩ của đạo Khổng, Mạnh, thiên hạ thờ là thờ đạo, kính là kính đạo, mà nhờ cái dư oai của tôn giáo mới khiến cho mình có một địa vị tôn trọng vậy. Muốn cho xứng đáng với địa vị đó, thời như ông linh mục tuyên truyền đạo giáo, phải đem cái đạo của thánh hiền, cái học của tiên nho mà truyền dạy trong dân gian, đem thân tiêu biểu cho danh giáo, hộ vệ cho đạo đức. Mà thật thế: nhà nho chân chính thật là chức linh mục của đạo Khổng, Mạnh. Đạo này là một đạo thông thường, một đạo nhập thế không có gì là siêu nhiên thần bí cho nên những người tuyên truyền phụng sự cũng không cần phải phát nguyện tu hành gì. Nhưng cái chức vụ truyền đạo dạy đời thời cũng chẳng khác gì nhà giáo sĩ, chức linh mục của các đạo khác vậy." [4]

Chú Thích Phần 1
[1] Dương-quảng-Hàm, Việt-nam Văn Học Sử Yếu, Bộ Giáo dục, Sài-gòn, in lần thứ 10, 1968; Sống Mới, Ft. Smith, Arkansas, tái bản năm 1979, tr. 80.

[2] Xin xem thêm: (a) Frederick W. Mote, Intellectual Foundations of China, nxb. Alfred A. Knopf, New York, 1971, tr. 29-65; (b) Herrlee G. Creel, The Origins of Statecraft in China, Volume I: The Western Chou Empire, The University of Chicago Press, Chicago & London, 1970.

[3] Hàm, sđd, tr. 80.

[4] Phạm-Quỳnh, "Nhà Nho,” trong Nam Phong Tạp Chí, Hà-nội, tập XXX, số 172, tháng 5/1932. Phạm-Quỳnh tiêu biểu cho những người hiểu Khổng giáo hay Nho giáo như là tôn giáo.

Tác giả : Tạ Quốc Tuấn

Lưu ý :
Sau khi đọc xong phần 1 của bài viết (kể trên), xin quí vị vô link dưới đây để tiếp tục đọc các phần 2,3,4,5,6 của toàn bộ bài viết cũng như các links của foot notes cuả tác giả :

http://www.dunglac.org/i...mp;v=detail&ia=10616


Mời coi 5 phần còn lại đã đuợc post tiếp theo.

Edited by user Friday, October 12, 2012 7:58:03 PM(UTC)  | Reason: Not specified

NNT  
#2 Posted : Friday, October 12, 2012 6:35:10 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,834
Man
Location: USA

Thanks: 1843 times
Was thanked: 3565 time(s) in 1883 post(s)

Phần 2 : Các Tiêu Chuẩn Để Nghiên Cứu Nỗ Lực Nho Hóa Một Quốc Gia

Nho giáo là một thuyết mang ước vọng tạo được một trật tự trong mọi tầng lớp xã hội nhân loại để bảo đảm là cá nhân, đoàn thể và xã hội điều hòa với nhau, vớI trời, với đất, với âm dương, ngũ hành của vũ trụ. Sự điều hòa này chỉ thực hiện được khi nào các tiêu chuẩn xã hội được giữ.


I. Mục Đích Chính của Nho Giáo

Do đó, Nho giáo chủ trương hướng dẫn quốc gia dân tộc theo đường lối, phương pháp và lý thuyết do Khổng-tử và các môn đệ chủ trương. Chủ trương đó là nho hóa xã hội, nghĩa là áp dụng những giáo điều Khổng học trong quốc gia để biến quốc gia thành quốc gia Khổng giáo, lấy Khổng giáo làm quốc giáo (với nghĩa là một học thuyết, một đường lối phải theo của quốc gia, chứ không phải là tôn giáo chính, hay độc nhất, độc tôn của quốc gia, vì Khổng giáo không phải là một tôn giáo theo đúng nghĩa của danh từ "giáo") và gạt bỏ ảnh hưởng của các giáo khác. Vốn mang tính cách nhập thế và tích cực, chủ trương này một phần nào đã được thực hiện chẳng những là ở Trung-quốc mà còn ở các nước Đông và Đông-nam Á-châu khác, trong đó có Việt-nam.

Công cuộc nho hóa một quốc gia chỉ có thể thực hiện được khi có một số ngườI đứng ra đảm trách. Họ được gọi là "nho sĩ" 儒士. Các nho sĩ tại các quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung-quốc đã tự cho mình sứ mạng nho hóa quốc-gia. Họ đã hăng hái, bền bỉ và tích cực phát huy Nho giáo trong các tầng lớp xã hội. Trải qua các thời đại, họ đã cố gắng nắm giữ chính quyền bằng mọi cách để thực hiện ý muốn nho hóa quốc gia. Các cố gắng của họ thật lắm trở ngại, thành công cũng nhiều mà thất bại không phải là ít. Dù sao kết quả họ cuối cùng đã đạt được là một xã hội tuy không hoàn toàn nho hóa nhưng cũng đã mang nhiều ảnh hưởng của Nho giáo hơn của bất cứ giáo nào khác.


II. Các Tiêu Chuẩn Hướng Dẫn Việc Nghiên Cứu Các Nỗ Lực Nho Hóa Một Quốc Gia

Muốn cứu xét các nỗ lực nho hóa một quốc gia chúng ta cần phải có một số tiêu chuẩn hướng dẫn sự nghiên cứu. Các tiêu chuẩn đó gồm có năm:

A. Sự Quan Tâm của Nhà Cầm Quyền Đối Với Lễ

Như trên đã nói, Khổng giáo muốn tạo nên được một sự điều hoà giữa con người và vũ trụ. Sự điều hoà này chỉ có thể thực hiện được khi các tiêu chuẩn xã hộI được tuân thủ, tượng trưng bằng sự giữ “lễ”. Do đó “lễ” được coi là trọng tâm của Khổng giáo.

“Lễ” 禮 không chỉ có nghĩa là các nghi lễ dùng trong các hội hè, cúng bái, tế lễ, mà còn là các qui ước ấn định các cử chỉ, hành động, thái độ, lời ăn tiếng nói, sự suy tưởng, v.v., mà một người phải có đối với chính mình, đối với những ngườI chung quanh mình, và đối với cả vũ trụ nữa. “Lễ” là để chi phối mọi hoạt động của con người, nhờ đó xã hội nhân loại mới có thể hòa đồng với vũ trụ, thiên nhiên, và mới tiến hoá được. Với quan niệm này, Khổng giáo chủ trương là trong một quốc gia nhà cầm quyền phải làm sao cho mọi người tuân giữ “lễ”.

Do đó tiêu chuẩn đầu tiên để cứu xét nỗ lực nho hóa một quốc gia là sự quan tâm của nhà cầm quyền đối với “lễ”.

Hễ khi nào nhà cầm quyền chú trọng nhiều đến “lễ” thì Nho giáo sẽ mạnh, còn khi nào nhà cầm quyền lơ là với lễ, Nho giáo sẽ yếu. Nói cách khác, trong nước, hễ ảnh hưởng của Nho giáo mạnh thì nhà cầm quyền sẽ quan tâm tới “lễ” nhiều hơn là khi ảnh hưởng của Nho giáo yếu. Mặt khác, hễ “lễ” được quan tâm tới nhiều thì nhà cầm quyền thường ban hành những luật lệ, những huấn thị mang tính cách giáo dục và vun xới phần đạo đức của nhân dân nhiều hơn, với mục đích sửa đổi họ và cảI thiện xã hội hướng về thuần phong mỹ tục, làm nhiều điều thiện, tránh điều ác. Văn chương, thi ca, nghệ thuật và mọi ngành hoạt động thượng tầng trong xã hộI cũng đều hướng về mục tiêu này.

Ngược lại, hễ “lễ” bị coi nhẹ, nhà cầm quyền tốt lắm là sẽ đề ra những luật lệ nhằm trừng trị con người, bắt con người vào khuôn vào phép một cách cứng nhắc, cưỡng ép, gò bó, sống trong sợ hãi và oán hận. Những lúc này ít thấy có những tác phẩm văn chương, nghệ thuật có giá trị để nâng cao trí đức con người.

B. Đức Độ của Nhà Cầm Quyền

Lại nữa, ảnh hưởng và uy thế của nho sĩ mạnh hay yếu có liên quan tới đức độ của nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền ở đây phải hiểu là gồm cả những nho sĩ tham chính lẫn những người không thuộc giới Nho học.

Khi ảnh hưởng và uy thế của các nho sĩ mạnh, đức độ của nhà cầm quyền sẽ cao, vì lúc đó các nho sĩ trong cũng như ngoài chính quyền sẽ khuyến khích, thúc giục nhà cầm quyền tôn trọng “lễ” nhiều hơn. Nhà cầm quyền sẽ phải hành động và cư xử theo tiêu chuẩn Khổng giáo, nhất là tiêu chuẩn "nhân" 仁. Cũng như đối vớI cá nhân, Khổng giáo đòi hỏi ở nhà cầm quyền năm đức tính là nhân 仁, nghĩa 義, lễ 禮, trí 智 và tín 信. Một khi nhà cầm quyền giữ vững được năm đức tính này, đức độ của họ sẽ cao. Với ảnh hưởng và uy thế của nho sĩ mạnh, dù muốn dù không, nhà cầm quyền không thể làm khác được mà phải hành động, cư xử, theo tiêu chuẩn của Nho giáo, nếu không thì sẽ bị giai cấp nho sĩ phản đối mạnh hay có thể bị mất hết quyền hành.

Trái lại, khi ảnh hưởng và uy thế của nho sĩ suy yếu, nhà cầm quyền sẽ ít khi lo đến phần đức độ của mình nữa, vì họ không sợ bị nho sĩ phản kháng, hoặc vì sẽ có sự làm ngơ hay đồng lõa của nho sĩ, nhất là những nho sĩ tham chính. Nhà cầm quyền tha hồ bức bách nhân dân, bóc lột dân chúng, làm cho họ điêu đứng, khổ sở, làm cho quốc gia bị suy yếu, phong hóa đồi trụy, v.v.

Vì trong một quốc gia ảnh-hưởng và uy thế của nho sĩ có lúc thăng, có lúc trầm, nên chúng ta có thể nói tới các chu kỳ nho hóa quốc gia theo nghĩa của Nho giáo [1]. Một chu kỳ nho hóa là một giai đoạn của lịch sử một quốc gia trong đó ảnh hưởng và uy thế của giai cấp nho sĩ mạnh hay yếu có liên hệ tới quốc gia.

C. Biên Sử

Hơn nữa, thông thường thì hễ ảnh hưởng của Nho giáo mạnh chúng ta thấy nhà cầm quyền hay ra lệnh cho biên sử vì sử không phải chỉ là một môn học khách quan mà còn là một phương tiện thông dụng để giáo dục dân chúng.

Các huấn thị, luật lệ, qui tắc thường rất khô khan, rườm rà, khiến cho người dân, nhất là những ngườI vô học, ít học, khó hiểu, khó nhớ, nên rất dễ quên. Ngược lại, sử bao giờ cũng hấp dẫn hơn, thích thú hơn, nên dễ nhớ hơn nhiều, nhất là sử biên soạn bằng văn vần [2].

Sử còn mang nhiều dữ kiện liên quan mật thiết đến nhân dân nên họ dễ chú ý đến những gương đạo đức, trung quân, ái quốc của tiền nhân để học hỏi, bắt chước, cũng như đến những khuyết điểm của các người này mà tránh. Nói cách khác, sử dạy cho người ta đạo xử thế trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh, theo gương người trước.

Lại nữa, sử còn nêu cao những giá trị xã hội, cũng như là chỉ trích những sai lầm, những gì không xứng đáng. Bộ sử cổ nhất của Trung-quốc hiện nay còn lưu lại là Thượng Thư 尚書 (còn gọi là Thư Kinh 書經, người Việt-nam gọi là Kinh Thư) do chính Khổng-tử biên soạn, là một thí dụ điển hình [3].

Các nhà biên sử khi xưa vốn là những nho sĩ tinh thông lý thuyết Nho giáo nên thường ngoài việc tường thuật các dữ kiện lịch sử họ lại còn giải thích, phụ chú, hay bình luận những dữ kiện này theo quan điểm của Nho giáo. Ngay cả việc lựa chọn các dữ kiện lịch sử để tường thuật cũng được họ dựa vào lý thuyết, nguyên tắc, qui tắc của Nho giáo mà quyết định nên dùng hay nên bỏ một chi tiết nào. Nhiều khi, để duy trì hay nâng cao giáo lý Khổng giáo, các nhà biên sử xưa đã không ngần ngại thay đổi chi tiết hay sự thực. Chẳng hạn việc Ngô-sĩ-Liên 吳仕連, soạn giả bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大 越史記全 書, đã thay đổi thân phận của bà Âu-Cơ 嫗姬, từ là vợ của Đế Lai 帝來 (theo Truyện Hồng-bàng 鴻龐傳 trong sách Lĩnh-nam Chích Quái 嶺南摭怪 của Trần-thế-Pháp 陳世法) sang thành là con gái của Đế Lai [4].

D. Sự Hiện Hữu của Giai Cấp Nho Sĩ Trong Nước

Như vậy yếu tố quan trọng nhất của công cuộc nho hóa một quốc gia là yếu tố tác nhân, tức là nho sĩ, những người trực tiếp phụ trách việc truyền bá Khổng học trong nước và hướng dẫn quốc gia dân tộc theo con đường do Khổng-tử và các môn đệ đề xướng. Do đó, muốn xét xem một quốc gia có thể nho hóa được không thì cần phải căn cứ vào sự hiện hữu và vai trò của giai cấp nho sĩ trong nước.

Một quốc gia nho hóa là một quốc gia trong đó tất cả các sinh hoạt quốc gia và mọi quyết định chính trị do các nho sĩ, nhất là những nho sĩ tham chính, hoạch định. Họ là những người đã học hỏi, nghiên cứu, thấm nhuần tư tưởng, học thuyết của Nho giáo. Hơn nữa, họ đã được lựa chọn qua các kỳ thi mà các đề thi đều đặt trên căn bản các kinh sách của Nho giáo. Vì thế, khi tham chính họ đem các giáo điều của Nho giáo ra áp dụng trong việc cai trị nước.

Ngoài ra, như đã nói trong phần 1, "Nhận Diện Một Nho Sĩ ", có nhiều nho sĩ vì một lý do nào đó không muốn hay không thể xuất chính: đang ở thời kỳ cư tang (chẳng hạn trường hợp Nguyễn-đình-Chiểu 阮廷炤, 1822-1888), không qua được các kỳ thi để đủ điều kiện tham gia chính quyền (như trường hợp Trần-tế-Xương 陳濟昌, tức Tú Xương, 1869-1907), hay thuộc vào hạng không được phép dự thi (thí dụ con cháu những người con hát, như trường hợp Đào-duy-Từ 陶維 慈, 1572-1634). Cũng có nhiều người mới đầu không tham chính, chỉ ở nhà dạy học, sau vì một nguyên nhân nào khác đã tham dự chính quyền một thờI gian, rồi lại rút lui (như trường hợp Chu-văn-An 朱文 安, ?-1370). Cũng có người sau một thời gian phục vụ trong chính quyền đã treo ấn từ quan (chẳng hạn Nguyễn-Trãi 阮廌, 1380-1442) hay về hưu (thí dụ Nguyễn-công-Trứ 阮公著, 1778-1858; Nguyễn-Khuyến 阮勸, 1835-1909).

Những người này, hoặc là suốt đời hoặc là trong một phần nào của cuộc đời, cũng đóng góp một phần không nhỏ và không kém phần quan trọng trong nỗ lực nho hóa quốc gia. Ảnh hưởng của họ có thể không mạnh và tức thời như những người đang tham chính, nhưng, ngược lại, nó lại lâu bền và sâu rộng hơn, nhất là ảnh hưởng của các nho sĩ đảm nhiệm trọng trách dạy dỗ thanh thiếu niên. Đấy là chưa kể đến sự kiện là đại đa số các nho sĩ không tham chính đã giữ được lòng mình trong sạch hơn, đã sống đức độ hơn nhiều người đang làm quan, nên họ giữ được tiếng thơm nhiều hơn. Họ thường được kính nể, mến chuộng nhiều hơn, nên họ dễ có ảnh hưởng trong dân gian hơn.

E. Ảnh Hưởng của Lão Giáo và Phật Giáo

Ở Trung-quốc và những nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung-quốc, ngoài Nho giáo ra còn có hai giáo khác là Lão giáo và Phật giáo. Vì ít khi muốn dính dấp tới thế sự, nên tại những nước này Lão giáo ít có ảnh hưởng chính trị quan trọng. Ngược lại, Phật giáo đã nhiều lần tranh giành ảnh hưởng với Nho giáo, đôi khi đắc thắng, nhưng phần nhiều là thất bại. Chẳng hạn tại Việt-nam, ảnh hưởng của Phật-giáo rất mạnh [4], nhất là vào thời các nhà Đinh (968-980), Tiền-Lê (980-1009), Hậu-Lý (1010-1225), Trần (1225-1400), thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1788), mạnh đến nỗi các nho sĩ Việt-nam nhiều lần tìm cách gạt bỏ mà không được, đấy là chưa kể nhiều khi nỗ lực của họ còn bị thất bại nặng nề nữa.

Các nho sĩ muốn cai trị quốc gia theo các nguyên tắc của Nho giáo, tức là muốn nho hóa quốc gia dưới hình thức chế độ quân chủ. Vì thế, họ phải cố chiếm đoạt hay bảo vệ ngai vàng cho các người thuộc giai cấp của họ hay chịu sự điều khiển của họ để khỏi rơi vào ảnh hưởng của Lão giáo hay Phật giáo. Vì thế, nỗ lực nho hóa còn có thể được coi là một cuộc đấu tranh chính trị giành quyền hành giữa nho sĩ và Phật tử, cũng như là giữa nho sĩ và các nhân vật chính trị khác như quân đội, v.v. Chúng ta thấy rất ít, nếu không thể nói được là không có, những tranh chấp giữa nho sĩ và đạo sĩ ở Việt-nam.

Mặc dù có tranh chấp giữa Nho giáo và Lão-giáo, Phật giáo, chúng ta luôn luôn thấy một hình thái hợp nhất nơi các nho-sĩ Việt-nam. Nhiều nho sĩ đã đồng thời chịu ảnh hưởng của cả Lão giáo lẫn Phật giáo. Có lắm nho sĩ lúc tham chính thì tích cực theo Nho giáo, nhưng đến lúc từ quan hay hồi hưu đã sống cuộc đời theo chủ trương của Lão-giáo hay Phật giáo. Nếu con số nho sĩ theo Phật giáo không nhiều, ngược lại, đại đa số nho sĩ đã sống cuộc đời tiêu diêu, vui thú với thiên nhiên của Lão giáo. Nho sĩ Nguyễn-công-Trứ là một thí dụ điển hình.


Kết Luận

Nói tóm lại, năm tiêu chuẩn kể trên sẽ hướng dẫn chúng ta trong việc nghiên cứu các nỗ lực nho hóa ở Trung-quốc nói chung và ở Việt-nam nói riêng. Trong số các tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn 4 quan trọng hơn cả vì nho sĩ là yếu tố chỉ huy tất cả mọi nỗ lực nho hóa quốc gia. Do đó, khi xét công cuộc nho hóa Việt-nam chúng ta phải dùng tiêu chuẩn này làm căn bản, để từ đó đi tìm hiểu các nỗ lực nho hóa Việt-nam cũng như các sự thành công và thất bại của công cuộc này.

Chú Thích Phần 2
[1] Về trường hợp chu kỳ nho hóa ở Việt-nam, xin xem R.B. Smith, "The Cycle of Confucianization in Vietnam," trong sách Aspects of Vietnamese History do Walter F. Vella chủ biên, The University Press of Hawaii, Honolulu, xuất bản năm 1973, tr. 1-29.

[2] Ở Việt-nam chúng ta có những bộ sử bằng văn vần như Thiên Nam Ngữ Lục 天南語錄 của tác giả khuyết danh (biên soạn khoảng thế kỷ thứ 17), Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca 大南國史演歌 của Lê-ngô-Cát 黎吳吉 và Phạm-đình-Toái 范廷碎 (theo Dương-quảng-Hàm, sách này nguyên do một tác giả khuyết danh biên soạn vào cuối thời nhà Hậu-Lê và nộp vào viện Tập-hiền năm 1857; rồi năm 1859, Lê-ngô-Cát sửa lạI và chép thêm đến hồi vua Lê Chiêu-thống chạy sang Trung-quốc, và Phạm-xuân-Quế 范春桂 nhuận sắc lại; năm 1873, Phạm-đình-Toái theo bản của Lê-ngô-Cát, bốn phần rút lấy một, Phan-đình-Thực 潘廷植 và các danh sĩ thời đó nhuận sắc lại, rồi Phạm-đình-Toái cho khắc in. Việt-nam Văn Học Sử Yếu, Trung tâm Học liệu bộ Quốc gia Giáo dục, Sài-gòn, xuất bản năm 1968, Sống Mới, Fort Smith, Arkansas, in lại năm 1979, tr. 287)

[3] Xem thêm bài "Beginning, and Preservation, of Recorded History," trong The Chinese Heritage của K.C. Wu (tức Wu Kuo-chen 吳國楨, Ngô Quốc-trinh, 1903-1984), Crown Publishers, New York, 1982, tr. 35-44.

[4] Xem thêm: (a) Trần-văn-Giáp, "Le Bouddhisme en Annam," đăng trong Bulletin de l' Ecole Française d'Extrême-Orient (B.E.F.E.O.), tập 32, năm 1932, tr. 191-268; (b) Thượng tọa Mật-thể, Việt-nam Phật Giáo Sử Lược, Tân Việt, Sài-gòn, 1944, Chùa Pháp-vân, Los Angeles, California, in lại năm 1979; (c) Nguyễn-Lang, Việt-nam Phật Giáo Sử Luận, Lá Bối, q. I, Sài-gòn, 1973 (in lần 1), Paris, 1977 (in lần 2); q. II, Paris, 1978; q. 3, Paris, 1985 (in lần 1), San Jose, California, 1993 (in lần 2).

Tác giả Tạ Quốc Tuấn
dunglac@gmail.com
Site Meter

NNT  
#3 Posted : Friday, October 12, 2012 6:43:24 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,834
Man
Location: USA

Thanks: 1843 times
Was thanked: 3565 time(s) in 1883 post(s)
NHO SĨ VIỆT NAM (PHẦN 3)

Giai Cấp Nho Sĩ Việt-nam
Tạ-quốc-Tuấn
http://www.dunglac.org/i...mp;v=detail&ia=10770

Vì Khổng giáo chỉ là một triết thuyết, chứ không phải là một tôn giáo, cho nên Khổng-tử cũng như các môn đệ của ngài không hề tổ chức một đảng, một phái, hay bất cứ một cơ cấu nào để thống nhất các phương pháp và chính sách hoạt động nhằm truyền bá Khổng học, và nhất là để làm chính trị, nhưng từ khi Khổng giáo phát triển ở Trung-quốc, cũng như ở các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung-quốc, với thời gian một giai cấp đã thành hình trong các nước này. Đó là giai cấp nho sĩ. Giai cấp này đã đóng vai trò lãnh đạo quốc gia rất quan trọng từ thế kỷ thứ 3 TCN ở Trung-quốc và sau đó không lâu ở Việt-nam (cũng như ở các quốc gia khác) mãi cho tới đầu thế kỷ thứ 20. Họ đã tích cực hoạt động trong và ngoài chính quyền với mục đích thực hiện các giáo điều của Khổng học, ngõ hầu có thể nho hóa quốc gia.

I. Sự Hình Thành Giai Cấp Nho Sĩ ở Việt-nam

Tại Việt-nam, giai cấp nho sĩ xuất hiện từ bao giờ không rõ. Chúng ta không biết chắc Nho giáo du nhập Việt-nam vào năm nào, hay thế kỷ nào, có lẽ sớm lắm cũng phải từ sau năm 207/179 TCN [1].

Thực vậy, trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 1, mà nhiều người gọi là Triệu kỷ 趙紀 hay thời đại nhà Triệu (207/179-111 TCN), tuy văn hoá Trung-quốc chính thức được truyền bá tại phần đất của dân Việt do sự nâng dỡ của nhà Triệu, nhưng không chắc Nho giáo đã được giảng dạy ở đây. Điều này dễ hiểu.

Năm 214 TCN, Triệu-Đà 趙佗, một võ quan người Hán tộc [2], được nhà Tần 秦 (221-206 TCN) phái giữ chức huyện lệnh huyện Long-xuyên 龍川 (nay thuộc tỉnh Quảng-đông 廣東 bên Trung-quốc) dưới quyền Nhâm-Ngao 壬囂 (còn đọc là Nhâm-Hiêu), quận úy quận Nam-hải 南海 (nay là địa khu gồm gần hết tỉnh Quảng-đông, ngoại trừ ven ranh giới tây nam bộ).

Theo hai bộ chính sử Toàn Thư và Cương Mục, năm 210 TCN, hai người đã đem quân xâm lăng nước Âu-Lạc, lúc đó ở dưới quyền cai trị của vua An-dương Thục-Phán 安陽王蜀泮 (257-207/179 TCN) nhưng đã bị đánh bại. Rồi Nhâm-Ngao trước khi chết (208 TCN) đã tự ý phong cho Triệu-Đà làm quận úy Nam-hải. Sau khi thanh toán những kẻ dưới quyền không theo mình, Triệu-Đà đã cải biến quận Nam-hải thành nước Nam-Việt 南越, tự xưng là Nam-Việt Vũ-vương 南越武王 (năm 207 TCN), rồi đem quân xâm lăng Âu-Lạc một lần nữa và đã chiếm được nước Âu-Lạc [3].

Mặt khác ở bên Trung-quốc, lúc sinh thời, Tần Thủy-hoàng-đế Doanh-Chính 秦始皇帝嬴政 (Tần-vương 秦王 năm 246-221 TCN, Thủy-hoàng-đế năm 221-209 TCN) đã ra lệnh cấm giảng dạy và truyền bá Khổng giáo, đốt sách vở, chôn sống nho sinh. Như vậy không chắc gì Triệu-Đà đã cho giảng dạy Nho giáo trong phần đất ông ta cai trị. Nếu Triệu-Đà muốn làm như vậy thì cũng chỉ từ sau khi nhà Hán 漢 (206 TCN - 220 SCN) đã lật đổ nhà Tần thôi. Đấy là chưa kể khi mới thôn tính Âu-Lạc chắc họ Triệu còn phải dùng mấy năm đầu tiên để củng cố địa vị và tổ chức guồng máy đô hộ trước khi có thể khởi phát việc truyền bá văn hóa Trung-quốc nhằm mục đích Hán hóa dân tộc Việt.

Vì vậy, nếu Nho giáo có được truyền bá đại qui mô trên đất Việt thì cũng chỉ từ thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 2 (111 TCN - 40 SCN) trở đi, nhất là từ thế kỷ thứ 1 SCN. Sở dĩ chúng tôi nghĩ rằng Nho giáo được giảng dạy trên đất Việt từ thế kỷ này trở đi là vì hai lý do.

Thứ nhất, tới thời nhà Hán thì Nho giáo đã phát triển mạnh ở Trung-quốc và hầu như được coi là quốc giáo.

Thứ hai, năm 9 SCN, khi Vương-Mãng 王莽 (9-23) chiếm đoạt ngôi vua nhà Hán, khai sáng vương triều Tân 新 (9-25), nhiều quan lại và nho sĩ vẫn còn trung thành với nhà Hán, không chịu thần phục, không muốn thờ nhà Tân, nên đã chạy sang Giao-chỉ 交趾 lánh nạn. Tại đây họ đã khuyến khích và giúp các viên quan đô hộ Hán truyền bá văn hóa Trung-quốc, kể cả Nho học. Họ còn mở trường dạy dân bản xứ không ngoài mục đích đồng hóa dân Việt và thay thế văn hóa bản xứ Lạc-Việt ngõ hầu khiến người dân Việt quên đi quá khứ vẻ vang, huy hoàng của mình, chịu thần phục Trung-quốc, không còn chống đối nữa.

Trong số các viên chức đô hộ Hán này, thư tịch Trung-quốc (được sử sách Việt-nam nhắc lại) kể tên vài người đã cho mở mang việc học ở đây và truyền bá văn hóa Trung-quốc. Tích cực hoạt động nhất là Tích-Quang 錫光, thái thú quận Giao-chỉ đời Hán Bình-đế Lưu-Khản 漢平帝劉衎 (1-6 SCN), và Nhâm-Diên 壬延, thái thú quận Cửu-chân 九真 (29-33). Tích-Quang đã cải đổi phong tục tập quán của dân bản xứ và bắt họ phải theo lễ nghi Trung-quốc, còn Nhâm-Diên bắt dân Việt lấy vợ lấy chồng theo nghi lễ giá thú Trung-quốc, tất cả đều chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo.

Công cuộc truyền bá văn hóa Trung-quốc, kể cả Nho giáo, gia tăng trong những thế kỷ sau. Sau khi Hán Linh-đế Lưu-Hoành 漢靈帝 劉宏 (168-189) băng hà, Trung-quốc lại bị rối loạn tơi bời, chỉ có đất Giao-chỉ là yên ổn, nên nhiều người danh vọng Trung-quốc đã chạy sang lánh nạn. Họ cũng góp công nhiều vào việc truyền bá văn hóa Trung-quốc. Hai viên quan đô hộ được nói tới nhiều nhất trong việc này và ở giai đoạn này là thái thú Giao-chỉ Sĩ-Tiếp 士燮 (ngườI Việt-nam quen gọi là Sĩ-Nhiếp, 187-226) và thứ sử Giao-châu Đỗ Tuệ-độ 杜慧度 (411-420).

Bên cạnh các quan lại và sĩ phu Trung-quốc, còn phải kể tới hai giới nữa cũng đã góp phần tích cực vào việc phổ biến văn hóa Trung-quốc trên đất Việt. Đó là các tu sĩ Phật giáo Trung-quốc và các học sinh Việt.

Các tu sĩ Phật giáo Trung-quốc đã sang Giao-chỉ vừa để truyền bá đạo Phật vừa để phổ biến văn hóa Trung-quốc, nhất là từ sau đời Hán Linh-đế. Vai trò này của các sư Phật giáo rất quan trọng. Họ đã mở trường dạy học và đóng vai trò chủ yếu trong các lãnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội. Vai trò đó không thay đổi ngay cả sau khi dân Việt đã giành lại độc lập năm 939, cho tới hết thời nhà Trần 陳 (1225-1400).

Các học sinh Việt, nhất là những người từng du học bên Trung-quốc, họ cũng đã đóng góp rất nhiều vào việc phổ biến văn hoá Trung-quốc nói chung và Nho giáo nói riêng. Chính quyền đô hộ Trung-quốc chỉ dạy dân Việt với mục đích đào tạo những người làm lại thuộc (tức là các nhân viên cấp hành chính) ở các cơ quan, chứ không nhằm đào tạo nhân tài làm quan. Do đó, muốn học cao hơn, nhiều học sinh Việt, đa số là người gốc Hoa sinh đẻ ở trên đất Việt, sang Trung-quốc du học. Trong số những du học sinh hiển đạt đáng kể có Trương-Trọng 張重, Lý-Tiến 李進, Lý-Cầm 李琴, Khương-công-Phụ 姜公輔, v.v. [4]. Khi thành tài, tuy phần lớn ở lại Trung-quốc để phục vụ triều đình Trung-quốc, nhưng cũng có một vài người đã hồi hương đem những điều học hỏi truyền dạy cho người trong nước.

Lại nữa, sau khi giành được độc lập khỏi tay người Trung-quốc, trong những năm đầu từ nhà Ngô 吳 (939-965), qua nhà Đinh 丁(968-980) tới nhà Tiền-Lê 前黎 (980-1009), việc học vẫn không được tổ chức chu đáo và thi cử thì chưa có. Tình hình chính trị trong nước lại chưa ổn định, nên các vua còn phải lo trong phòng nội loạn, ngoài chống ngoại xâm, mà các triều đại lại ngắn-ngủi (Ngô 26 năm, Đinh 12 năm và Tiền-Lê 29 năm), nên các vấn đề chính trị và quân sự đã chiếm hết sự quan tâm của nhà cầm quyền. Việc học vì thế vẫn phải phó mặc cho các tăng sĩ Phật giáo đảm nhận, vì bấy giờ Phật giáo đang thịnh và các tăng sĩ lại thông thạo Hán học.

Mặt khác, các nhu cầu hành chính trong nước mới độc lập chưa nhiều đến độ cần phải tổ chức các khóa thi để tuyển lựa những ngườI tài giỏi có khả năng đảm đương các chức vụ hành chính. Đấy là chưa kể lý do vì muốn bảo vệ ngôi vua khỏi bị người khác có khả năng nhưng không được bảo đảm chiếm đoạt, các dòng họ trị vì chỉ chọn những người được các quan chức trong triều đình hay người thân cận, hoặc quá lắm là các quan chức địa phương, tiến cử thôi.

Sang tới thời nhà Hậu-Lý 後李 (1010-1225) việc học mới được tổ chức và thi cử mới được coi là một trong các phương thức tuyển dụng nhân tài.

Vua Lý Thái-tổ 李太祖 (tại vị năm 1009-1028), không có cha, từ năm ba tuổI được mẹ đem cho sư Lý-khánh-Văn 李慶文 làm con nuôi, nên lúc còn nhỏ được theo học ở chùa Lục-tổ 六祖寺 (còn gọi là chùa Cổ-pháp 古法寺, nay ở xã Đình-bảng, huyện Tiên-sơn, tỉnh Hà-bắc). Khi lên ngôi thay thế nhà Tiền-Lê, vì tình hình chính trị và quân sự trong nước đã khả quan hơn nhiều, mặc dù nhà Tống 宋 (960-1279) bên Trung-quốc vẫn dòm ngó muốn xâm chiếm nước Việt, nên nhà vua đã chú ý tới việc học hành của nhân-dân và đã giúp đỡ phát triển việc dạy học. Tuy nhiên, việc học vẫn chỉ giới hạn trong phạm vi nhà chùa, nghĩa là vẫn do các chùa đảm nhiệm. Triều đình chưa nghĩ tới việc mở trường bên ngoài chùa và chưa nghĩ đến việc tổ chức các kỳ thi kén chọn những người có khả năng phục vụ quốc gia.

Tới đời vua Lý Thánh-tông 李聖宗 (tại vị năm 1054-1072), cháu nội vua Thái-tổ, việc học mới được tổ chức hẳn hoi. Ngoài các chùa ra, trong dân gian cũng bắt đầu có mở trường dạy học. Điểm đáng nói là vào thời kỳ này Nho học bắt đầu được coi trọng.

Năm 1070 nhà vua cho dựng Văn miếu 文廟 ở phía nam thành Thăng-long để thờ Châu-công Cơ-Đán 周公姬旦 và Khổng-tử 孔子, tạc tượng hai vị này cùng tứ phối 四配 (tức Nhan-tử 顏子, Tăng-tử 曾子, Tử-tư 子思 và Mạnh-tử 孟子) và vẽ hình tượng Thất thập nhị hiền 七十二賢 (72 học trò giỏi của Khổng-tử) bày ở Văn miếu, bốn mùa tế lễ. Ngoài ra, nhà vua còn sai thái tử Lý-càn-Đức 李乾德 (sau là vua Lý Nhân-tông 李仁宗, tại vị năm 1072-1127) đến đấy học. Các trấn, các xã cũng lần lượt xây các văn chỉ 文 址 tại địa phương. Năm 1156, vua Lý Anh-tông 李英宗 (tại vị năm 1138-1175) cho lập miếu thờ riêng Khổng-tử, không thờ chung với Châu-công như trước nữa.

Việc học được mở mang nhiều hơn trong đời vua Lý Nhân-tông. Ba năm sau khi lên ngôi, nhà vua đã cho mở khóa thi đầu tiên năm 1075 để kén chọn nhân tài. Đây là khóa thi tuyển Minh kinh bác học 明經博學 và thi Nho học tam trường 儒學三場. Khóa thi này chọn 10 người đỗ. Năm sau (1076), nhà vua còn cho lập Quốc tử giám 國子監 để cho con cháu công thần vào học. Việc giảng dạy ở đây trao cho các quan có văn học.

Ngoài ra, năm 1086 nhà vua còn cho mở một khóa thi chọn người tài giỏi để sung vào Viện Hàn-lâm 翰林院.

Trong dân gian, việc học cũng được phổ biến. Ngoài việc triều đình khuyến khích sự học, người học còn ôm mộng dùng khoa cử làm phương thức tiến thân, tuy không thịnh hành như phương thức có người tiến cử. Việc dạy học ở bên ngoài phạm vi chùa đã do các nho sĩ đảm trách, mở đầu cho công cuộc giáo dục theo đường lối Nho giáo trực tiếp, sâu rộng, đại qui mô, mang tính cách thế tục nhiều hơn.

Các triều đại kế tiếp nhà Hậu-Lý tiếp tục mở mang việc học và cải thiện chế độ thi cử. Từ nhà Hồ 胡 (1400-1407), thi cử được chọn làm phương thức chính để tuyển chọn người có tài năng giúp nước. Ngay trong thời kỳ Nam Bắc triều 南北朝 (1527-1592) rồi đến Trịnh-Nguyễn phân tranh 鄭阮分爭 (1570-1788), các việc học hành và thi cử bị sao lãng, dù đôi khi không được chú trọng hay không được thi hành nghiêm chỉnh. Chỉ sau khi người Pháp đặt nền đô hộ ở Việt-nam (1862-1945), chế độ thi cử và học hành theo Nho giáo này mới cáo chung (năm 1884 tại Nam-kỳ, 1915 tại Bắc-kỳ và 1918 tại Trung-kỳ).

Với sự phát triển hệ thống thi cử làm phương tiện chính thức (từ nhà Hậu-Lý) và duy nhất (từ nhà Hồ) để tuyển chọn những người có khả năng điều khiển guồng máy quốc gia, chẳng bao lâu giai cấp nho sĩ thành hình.

Thực ra, nho sĩ đã xuất hiện ngay từ thời Bắc thuộc nhưng vì họ chưa có ảnh hưởng mạnh trong xã hội, vì rất ít người được tuyển dụng vào hàng điều khiển trong chính quyền ở các cấp, nên vai trò của họ không mấy quan trọng và chưa thể coi là một giai cấp áp lực được. Chỉ từ sau khi dân Việt giành lại được độc lập và nhất là từ thời Hồ trở đi, vì nhu cầu quốc gia gia tăng và vì Nho giáo đã được phổ biến một cách đại qui mô, các nho sĩ mới được nắm các chức vụ quan trọng trong chính quyền từ trung ương tới địa phương.

Vì thi cử là con đường tiến thân chắc chắn nhất nên số người theo con đường này ngày một đông. Mặt khác, dần dà các chương trình thi đều quay quanh giáo điều Nho giáo, các sĩ tử chuyên về Nho học nhiều hơn. Do đó, một giai cấp mới được tạo lập ở Việt-nam là giai cấp nho sĩ.

II. Đặc Tính của Giai Cấp Nho Sĩ Việt-nam

Giai cấp nho sĩ Việt-nam trước thời Pháp thuộc mang nhiều đặc tính đáng chú ý.

Tổ chức chính quyền ở Việt-nam, từ cấp trung ương đến cấp địa phương, từ lúc thoát khỏi ách đô hộ của Trung-quốc cho tới khi bị Pháp thống trị, phần lớn đã mô phỏng theo tổ chức của Trung-quốc, mà tổ chức của Trung-quốc lại đặt nền tảng trên giáo lý của Nho giáo. Lại nữa, các kỳ thi tổ chức trong thời gian này đều dựa vào kinh sách của Nho giáo, nguồn cung cấp các đề thi. Do đó, dù muốn dù không, các người giúp vua trị nước đều xuất thân từ giới nho sĩ, là những người am hiểu đạo lý của Nho giáo. Vốn tinh thông Nho học, họ đã cố gắng giải quyết các vấn đề cai trị bằng các phương thức dựa trên giáo lý của đạo Nho.

Mặt khác, các nho sĩ này đều được tuyển dụng qua các kỳ thi, thành ra giáo lý của Nho giáo là con đường tiến thân hữu hiệu nhất của các nho sĩ [5] trước thời Pháp thuộc, nhất là những người có khả năng nhưng không sinh vào gia đình quyền quí, không phải là con ông cháu cha hay thân thích của những người đang nắm chính quyền. Bất cứ ai, dù ở vào giai cấp nào, tuổi nào, địa vị nào, hoàn cảnh nào (ngoại trừ con cháu của những người bị luật cấm đoán, kể cả những người sống bằng nghề ca hát, đóng kịch) nếu có vốn kiến thức về Nho học, học vấn dồi dào, đều có quyền dự thi. Một khi trúng tuyển, người đó được tuyển dụng, trừ phi không muốn vướng vào hoạn lộ, quan trường (trường hợp hãn hữu). Ngay việc thăng thưởng phần lớn cũng dựa vào tài năng và học vấn (hiểu là có kiến thức về Nho học) bên cạnh các yếu tố khác như là kinh nghiệm, thâm niên, đức độ, v.v.

Tuy trong thời hai nhà Hậu-Lý và Trần 陳 (1225-1400) có tổ chức các khóa thi tam giáo, trong đó Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo được đối xử quân bình, nhưng dần dần ảnh hưởng của Nho giáo đã lấn át hai giáo kia để trở nên độc tôn trong các khóa thi. Ngay dưới đời vua Lê Thái-tổ 黎太祖 (tại vị năm 1428-1433), dù các người đi tu đạo Lão hay đạo Phật cũng phải đi thi, vẫn có điểm khác biệt là các khóa thi Nho giáo hoàn toàn biệt lập với các khóa thi của Lão giáo và Phật giáo, không những là về đề tài mà còn cả về người thi nữa: chỉ có những người đi tu đạo Lão và Phật mới phải dự thi và việc thi này có tính cách bắt buộc, chứ không phải tự ý như thi Nho giáo. Hơn nữa, những người trúng tuyển không được tuyển dụng vào các cơ quan chính quyền. Sau hết, dù khi ảnh hưởng của Phật giáo chiếm ưu thế, các khóa thi tuyển người làm việc trong các cơ quan chính quyền vẫn mang tính chất Nho giáo như thường.

Vì thế các nho sĩ, nhất là những người tham chính, đều xuất thân từ cửa Khổng. Họ dùng chung một số kinh sách nhất định, được giảng dạy các tín điều, giáo lý giống nhau, được huấn luyện về một số phương thức giải quyết vấn đề giống nhau, nên họ đều có một lối nhìn giống nhau về bất cứ một vấn đề nào. Nếu có khác thì chỉ khác về tiểu tiết, cường độ nhấn mạnh hay mức độ áp dụng các giáo điều hay nguyên tắc Nho giáo vào việc giải quyết vấn đề thôi.

Do đó, khi hiển đạt và được tuyển dụng, cấc nho sĩ đều mang các điều đã học hỏi ra áp dụng giống nhau. Ít khi có người đưa ra sáng kiến hay phương thức khác với giáo lý Khổng-Mạnh để tạo nên một chính sách cai trị mới lạ. Cũng vì lý do này mà, chẳng hạn, các bộ luật ban hành trong các vương triều cai trị Việt-nam đều rất giống nhau cả về hình thức lẫn nội dung, và cũng có rất nhiều điểm giống các bộ luật của người Trung-quốc. Đặc biệt là bộ Hoàng Việt Luật Lệ 皇越律例 (ban hành năm 1812), thường gọi là bộ luật Gia-long (vì được ban hành trong đời vua Gia-long 嘉隆, tại vị năm 1802-1820) hay bộ luật nhà Nguyễn (Gia-long là vua đầu tiên của vương triều Nguyễn, 1802-1945) hầu như là sao chép nguyên văn bộ Đại Thanh Luật Lệ 大清律例 [6] của Trung-quốc.

Hơn nữa, vì cùng được đúc từ một khuôn ra nên trong chính quyền việc chuyển giao quyền hành hay việc kế nhiệm không mấy khi thành vấn đề. Tổ chức chính quyền do đó có thể nói là lúc nào cũng ổn định, ít khi có xáo trộn hay khoảng trống và guồng máy chính quyền không mấy khi có những khủng hoảng do một sự thay đổi nhân viên nào gây ra.

Đó là ưu điểm, nhưng đồng thờI cũng là nhược điểm.

Sự đào luyện nho sĩ trong một khuôn khổ cứng nhắc đã có ảnh hưởng tới sự phán đoán của họ. Vì có một lối nhìn vấn đề như nhau, họ không thể nào chấp nhận những gì không giải thích bằng khuôn thước Nho giáo được, những gì không thích hợp hay trái ngược với giáo điều Nho giáo. Hơn nữa, vì được đào luyện theo một phương thức như nhau, các nho sĩ có một phương pháp làm việc và giải quyết vấn đề như nhau, không mấy thay đổi.

Chúng ta hãy lấy việc biên sử, một trong những hoạt động quan trọng và chính yếu để nho hóa quốc gia [7], làm thí dụ.

Trước thời Pháp đô hộ, các nhà soạn sử Việt-nam đều là sử quan của triều đình, nên tuy công việc chính của họ là ghi chép các biến cố xảy ra trong nước, hoặc những gì có liên hệ đến vị vua đương thời và dòng họ đang cai trị, nhưng họ chỉ biên soạn sử (chúng tôi muốn nói đến chính sử) khi có lệnh của nhà vua thôi, chứ không được tự ý làm, và sau khi biên soạn xong phải trình lên nhà vua duyệt lãm và tài liệu của họ chỉ được ấn hành khi được nhà vua cho phép. Do đó, họ chỉ toàn kể lại các sự kiện có liên quan đến vương triều trị vì. Họ ít ghi chép cặn kẽ tình trạng xã hội, kinh tế, quân sự, tư tưởng, văn hóa, v.v. Các cảm nghĩ hay ước vọng của nhân dân cũng chỉ được nói một cách sơ sài, vắn tắt, và phần nhiều là gián tiếp.

Ngay cả việc phê bình một sử kiện cũng vậy, phải dựa trên những khuôn thước của Nho giáo. Việc gì theo đúng tín điều Nho giáo thì được ca tụng, còn việc nào trái với tín điều thì bị chỉ trích, phê bình, lên án, chứ không mấy khi các sử quan đứng trên quan điểm của nhân dân hay văn hóa dân tộc. Các phê bình của Ngô-sĩ-Liên trong Toàn Thư là những thí dụ điển hình. Xin kể một trường hợp.

Toàn Thư thuật rằng năm 1040 vua Lý Thái-tông 李太宗 (tại vị năm 1028-1054) xuống chiếu rằng phàm nhân dân trong nước ai có việc kiện tụng gì đều giao cho thái tử Khai-hoàng vương Lý-nhật-Tôn 開皇王李日尊 (sau là vua Lý Thánh-tông) xử đoán rồi tâu lên và còn cho lấy điện Quảng-vũ 廣武殿 làm nơi nghe kiện (BK, q. 2, tờ 28b-29a) với mục đích là huấn luyện thái tử có thêm kiến thức và kinh nghiệm trong việc trị nước mai sau. Tuy nhiên, Ngô-sĩ-Liên đã phê bình việc làm này của nhà vua như sau, phản chiếu quan niệm của Khổng giáo:

"Chức vụ của thái tử, ngoài việc vấn an hầu cơm vua ra, khi ở lại giữ nước thì gọi là giám quốc, khi hành quân thì gọi là phủ quân, có thế mà thôi, chưa nghe thấy [vua] sai xử kiện bao giờ. Phàm xử kiện là việc của hữu ty, Thái-tông sai Khai-hoàng vương làm việc đó không phải là chức phận của thái tử, lại lấy điện Quảng-vũ làm nơi vương xử kiện là không đúng chỗ." (TTBK, q. 2, tờ 29a)

Trong hoàn cảnh này, cái nhìn của các nho sĩ, dù tham chính hay không tham chính, chẳng khác gì cái nhìn của con ngựa bị che mắt chỉ có thể nhìn thấy trước mặt mà không nhìn thấy cảnh vật hai bên đường. Do đó phát sinh lối giải quyết vấn đề một chiều của nho sĩ và, qua họ, của chính quyền nước Việt thời tiền Pháp thuộc.

Chính nhược điểm này của các nho sĩ đã làm quốc gia suy yếu, đưa nước Việt đến chỗ làm mồi cho thực dân Pháp, giống như các nho sĩ Trung-quốc vào cuối thời nhà Thanh (1644-1911), đã khiến cho Trung-quốc bị các cường quốc Âu-Mỹ xâu xé. Nó cũng đưa đến chỗ chôn vùi giai cấp nho sĩ vào đầu thế kỷ thứ 20.

Mặt khác, dù tham chính hay không tham chính, các nho sĩ Việt-nam, một giai cấp đứng đầu trong giai tầng xã hội Việt-nam (sĩ, nông, công, thương và binh), đều có ảnh hưởng sâu rộng trong nước.

Phần lớn những người trúng tuyển trong các kỳ thi đều tham gia chính quyền, phục vụ tại các cơ quan trung ương hay địa phương. Họ là những người có quyền hành, có địa vị trong xã hội, nên dễ trực tiếp thực hiện các lý thuyết, các chính sách của Nho giáo. Đồng thời họ cũng trực tiếp có ảnh hưởng tức thì đối với những người mà họ phục vụ hay cai trị, dài ngắn tùy nhiệm kỳ của họ cũng như tùy nơi hay cơ quan họ làm việc. Họ là những người có quyền thế và chức vụ của họ càng cao bao nhiêu và càng gần triều đình bao nhiêu thì quyền thế của họ càng lớn bấy nhiêu. Tuy nhiên vì là người của triều đình, họ cũng phải tuân theo mệnh lệnh và chiều ý của nhà vua và của triều đình nhiều hơn, nên lại càng dễ bị hủ hóa. Với tư cách cha mẹ dân (dân chi phụ mẫu 民之父母), họ xa nhân dân và ít tiếp xúc với nhân dân. Mỗi khi có việc, người dân đến với họ một cách sợ sệt, chứ không thân mật, bởi vì họ có nhiều quyền hành có thể gây hại cho nhân dân. Nhân dân ít tin cậy nơi họ và họ ít hiểu rõ dân tình. Chỉ khi nào triều đình gồm đại đa số nho sĩ tham chính có cùng một chí hướng giống nhau (trường hợp hãn hữu) thì các nho sĩ mới có thể tạo nên một thay đổi, hay đề xuất một sáng kiến để nho hóa quốc gia.

Còn các nho sĩ không tham chính hay không còn tham chính, tuy ảnh hưởng của họ không có hay không còn mạnh, rộng, trực tiếp và tức thời hay trong đoản kỳ cho bằng ảnh hưởng của các nho sĩ tham chính, nhưng về bề sâu, họ lại không thua gì các nho sĩ đang tham chính. Họ sống và hoạt động bên cạnh nhân dân. Vì gần gũi với nhân dân nên họ hiểu rõ các nhu cầu và ước vọng của nhân dân nhiều hơn. Họ dễ được dân tin theo hơn vì họ không hay không còn phục vụ trong chính quyền, không phải bận tâm thỏa mãn các đòi hỏi, các yêu sách của chính quyền, của cấp trên, nên sống trong sạch hơn. Vì được nhân dân tín cẩn, vì nhân dân dễ tiếp xúc với họ hơn, họ được coi là tai mắt, là tiếng nói, là đại diện của nhân dân.

Họ vừa là thầy vừa là bạn của nhân dân, và ngang hàng với nhân dân, chứ không phải là thứ “dân chi phụ mẫu” chỉ biết hành hạ nhân dân, yêu sách quá đáng, coi nhân dân như cỏ rác. Mỗi khi cần, nhân dân dễ dàng chạy đến hỏi ý kiến họ, xin họ chỉ dẫn, cố vấn, dạy bảo. Do đó, ảnh hưởng của các nho sĩ không hay không còn tham chính thường sâu rộng, lâu dài và bền vững hơn.


Kết Luận
Sinh trong nô lệ (thời Bắc thuộc) và chết cũng trong nô lệ (thời Pháp thuộc), đó là số phận của các nho sĩ Việt-nam. Trong khoảng thời gian ngót 900 năm quốc gia được độc lập, giai cấp nho sĩ Việt-nam đã trưởng thành qua các triều đại. Tuy nhiên, ảnh hưởng và uy thế của họ chỉ đáng kể từ đời vua Lê Thánh-tông, tức là từ hậu bán thế kỷ thứ 15, trở đi. Mặc dù đôi lúc ảnh hưởng của họ có suy thoái, họ vẫn giữ được ngôi vị độc tôn cho đến hậu bán thế kỷ thứ 19.

Tới lúc người Pháp xâm chiếm Việt-nam, một số nho sĩ tham chính, vì quyền lợi cá nhân và cũng vì triều đình nhà Nguyễn ươn hèn lệ thuộc vào người Pháp để sống, đã ra tay tàn sát các nho sĩ ái quốc chống Pháp (sẽ xét trong phần 5). Các nho sĩ theo Pháp này không còn tuân giữ các giáo điều của Nho giáo, khiến cho nhân dân nghi ngờ giáo lý đạo Nho, mất tin tưởng nơi các nho sĩ nói riêng cùng giới lãnh đạo quốc gia nói chung, một thái độ còn kéo dài cho tới hiện tại.

Khi người Pháp bãi bỏ chế độ học hành và thi cử truyền thống của nước Việt vào cuối thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ thứ 20, họ đã thay vào đó một hệ thống giáo dục và chế độ thi cử rập theo khuôn mẫu Pháp. Biến đổi này đã chôn vùi giai cấp nho sĩ Việt-nam và thay vào đó là giai cấp trí thức Tây học.


Chú Thích Phần 3
[1] Vấn đề năm Triệu-Đà thôn tính nước Âu-lạc 甌駱 hiện nay có hai thuyết: thuyết thứ nhất là năm 207 TCN (thuyết này bắt đầu từ bộ sử ĐạI Việt Sử Ký Toàn Thư 大越史記全書 của Ngô-sĩ-Liên 吳仕連 và được tuyệt đại đa số người theo) và thuyết thứ hai là năm 179 TCN (thuyết này căn cứ vào những điều ghi chép trong quyển Nam-Việt Úy Đà Liệt Truyện 南越尉佗列傳 sách Sử Ký 史記 của Tư-mã Thiên 司馬遷).

[2] Nhiều người, nhất là trong những năm gần đây, đã đưa ra nhiều lý do để cố chứng minh rằng Triệu-Đà không phải là ngườI Hán tộc mà là người Việt (theo một số người) hay người Bách Việt (theo một số người khác). Tuy nhiên, các lý do họ nêu ra có nhiều sai lầm hay ngộ nhận nên không thể chấp nhận được. Nếu có cơ hội, chúng tôi sẽ viết bài chứng minh những sai lầm, ngộ nhận này. Xin xem bài “Ngoại Thuộc: Nhà Triệu” trong sách Việt Sử Tiêu Án 越史標案 của Ngô-thời-Sĩ 吳時仕, bản dịch Việt ngữ của Hội Việt-nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á-châu, Sài-gòn, 1969, nhà xuất bản Văn Sử, San Jose, California, in lại, 1991, tr. 22-36 (quan điểm của Ngô-thời-Sĩ đã bị những ngườI trên chỉ trích nhiều); hay bài “Bản Chất Thực của Nhà Triệu” của chúng tôi đăng trong tạp chí Văn Học, Garden Grove, California, số 92, tháng 12/1993, tr. 3-17.

[3] Theo quyển Nam-Việt Úy Đà Liệt Truyện, Triệu-Đà đã dùng tài vật hối lộ nên được Âu-lạc thần phục.

[4] (a) Trương-Trọng (theo sách Lĩnh-nam Di Thư 嶺南遺書 của Âu Đại-nhâm 歐大壬 ông là người quận Hợp-phố, còn Ngô-sĩ-Liên trong Toàn Thư chép ông là người quận Nhật-nam) du học ở kinh đô Lạc-dương 洛陽 (nay là thành phố thuộc tỉnh Hà-nam bên Trung-quốc) trong đời Hán Minh-đế Lưu-Trang 漢明帝劉莊 (58-75), sau làm thái thú quận Kim-thành 金城 (ngày nay là vùng đất ở nam bộ tây cảnh tỉnh Cam-túc, từ 2 huyện Du-trung 榆中 và Cao-lan 皋蘭 chạy về phía tây). (b) Lý-Tiến (người đất Cao-hưng 高興, quận Giao-chỉ) và Lý-Cầm (sử sách chỉ chép ông là người châu Giao) học ở đâu và trong khoảng thời gian nào không rõ, chỉ biết là về sau Lý-Tiến được bổ làm thứ sử bộ Giao-chỉ từ niên hiệu Trung-bình 中平 (năm 184-189) đời Hán Linh-đế Lưu-Hoành 漢靈帝劉宏 (168-189) đến đời Hán Hiến-đế Lưu-Hiệp 漢獻帝劉協 (189-220) và Lý-Cầm làm quan đến chức Tư lệ hiệu úy 司隸校尉 cũng trong đời Hiến-đế. (c) Khương-công-Phụ (người quận Cử-chân) đậu tiến sĩ năm 784 đời Đường Đức-tông Lý-Quát 唐德宗李适 (780-805), mới đầu được bổ làm Hiệu thư lang 校書 郎, sau làm Hữu thập di Hàn lâm Học sĩ 右拾遺翰林學士 kiêm chức Kinh triệu Hộ tào Tham quân 京兆戶曹參軍, rồi được thăng làm Gián nghị đại phu Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự 諫議大夫同中書 門下平章事; sau vì can gián vua đã chôn cất công chúa Đường-an 唐 安公主 quá hậu, trái ý vua nên bị giáng xuống làm Thái tử Tả thứ tử 太子左庶子, rồi bị biếm làm Tuyền-châu Biệt giá 泉州別駕. Khi Đường Thuận-tông Lý-Tụng 唐順宗李誦 (805-806) lên ngôi đã cho ông làm Thứ sử châu Cát 吉州, nhưng ông chưa đến nơi nhậm chức thì chết.

[5] Ngay cả dưới thời Pháp thuộc và sau khi Việt-nam giành được độc lập năm 1945 cho tới nay thi cử vẫn là con đường tiến thân thông dụng của những người có học.

[6] Lúc mới ban hành năm 1646 bộ luật này được gọi là Đại Thanh Luật, sau vài lần sửa đổi (năm 1670, nhất là năm 1723-1727) đã trở thành định hình năm 1740 và gọi là Đại Thanh Luật Lệ.

[7] Đã đề cập tới trong phần 2, "Các Tiêu Chuẩn để Nghiên Cứu Nỗ Lực Nho Hóa Một Quốc Gia".




Tác giả Tạ Quốc Tuấn

Edited by user Friday, October 12, 2012 6:44:01 PM(UTC)  | Reason: Not specified

NNT  
#4 Posted : Friday, October 12, 2012 7:00:55 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,834
Man
Location: USA

Thanks: 1843 times
Was thanked: 3565 time(s) in 1883 post(s)
[color=darkblue]
NHO SĨ VIỆT NAM (PHẦN 4)
Sự Thăng Trầm của Giai Cấp Nho Sĩ Việt-nam
Tạ-quốc-Tuấn

http://www.dunglac.org/i...mp;v=detail&ia=10789


Để thực hiện các giáo điều, các học thuyết, các chủ trương của Nho giáo tại nước Việt, các nho sĩ, nhất là những người tham chính, với thời gian đã nắm được vai trò lãnh đạo quốc gia và đã cố gắng ảnh hưởng các vua chúa đi theo đường hướng cai trị quốc gia đặt nền tảng trên các nguyên tắc và chính sách của đạo Nho. Tuy nhiên con đường họ đi rất nhiều chông gai. Trong suốt thời gian từ khi có người Việt theo Nho học cho đến khi Nho học bị thay thế bằng Tây học, hay nói cho đúng hơn Pháp học, họ đã vấp phải nhiều trở ngại, đã trải qua nhiều giai đọan thăng trầm, khiến cho vai trò của họ trong sinh hoạt quốc gia lúc tỏ, lúc mờ. Vai trò của họ, nhất là của những nho sĩ tham chính, chỉ bắt đầu quan trọng từ thế kỷ thứ 15 trở đi thôi.

1

Giai Cấp Nho Sĩ Trong Thời Phôi Thai

(thế kỷ 3 TCN - 1075 SCN):

Chưa Có Mấy Ảnh Hưởng Trong Xã Hội

Suốt trong 14 thế kỷ đầu tiên, kể từ thời kỳ người Trung-quốc đô hộ nước Việt và du nhập văn hóa Trung-quốc nói chung và Nho học nói riêng cho đến khi có khóa thi dựa trên căn bản Nho học đầu tiên trên đất Việt vào năm 1075, tuy có nhiều người Việt thông đạt Nho học, nhưng con số người theo Nho học, nhất là những người tham chính, không được bao nhiêu.

Thực vậy, trong thời Bắc thuộc, các viên chức đô hộ Trung-quốc đã bóc lột người dân Việt một cách quá dã man, đến tận xương tận tủy. Người dân Việt ngày đêm phải lên rừng, xuống biển, tìm những đồ quí, vật hiếm, hay dầm mưa dãi nắng, đổ mồ hôi, máu mắt, cày cấy, trồng trọt để nộp cho nhà cầm quyền đô hộ. Vì thế tuyệt đại đa số người dân Việt không có thời giờ cũng như phương tiện và khả năng để đi học. Con cháu họ ai có đủ sức làm việc, không kể tuổi tác, đều được dùng vào các việc trên, nên cũng không được đi học. Đối với người dân Việt lúc bấy giờ, học là một thứ xa xỉ phẩm, quá tầm tay của họ. Học chỉ dành cho những gia đình quyền thế, giàu sang, có liên hệ với chính quyền đô hộ hoặc vốn gốc Trung-quốc. Mặt khác, nhà cầm quyền đô hộ Trung-quốc còn áp dụng chính sách ngu dân, không khuyến khích hay bắt buộc người dân Việt đi học, sợ là có học rồi họ sẽ chống đối chính quyền đô hộ nhiều hơn. Do đó, số người Việt đi học càng rất ít hơn nữa.

Ngay những người nào có thể đi học được thì họ cũng chỉ được huấn luyện đủ để làm lại thuộc trong các cơ quan đô hộ Trung-quốc thôi. Đồng thời, chính quyền đô hộ cũng chưa tổ chức thi cử để làm phương tiện tuyển chọn người có tài, có khả năng, một cách khách quan và duy nhất. Những người này được bổ nhiệm không phải do học lực và tài năng mà chỉ là nhờ đến liên hệ giữa gia đình họ và chính quyền đô hộ. Hầu như không có ai được trao cho một chức vụ quan trọng nào cả.

Chúng ta không phủ nhận là trong thời Bắc thuộc cũng có một số người hiển đạt, như Trương-Trọng, Lý-Cầm, Lý-Tiến, Khương-công-Phụ, v.v. (đã nói trong phần 3 "Giai Cấp Nho Sĩ Việt-nam"), nhưng thực ra thì cũng chỉ có lèo tèo vài người, phần lớn lại là người gốc Hoa, và họ phải sang Trung-quốc học ở cấp cao hơn. Hơn nữa, họ đều chỉ làm quan cho triều đình Trung-quốc trên đất Trung-quốc, chứ không phải ở trên đất Việt để phục vụ nước Việt và dân Việt. Ngoại lệ là Lý-Tiến, người đã được cử giữ chức thứ sử bộ Giao-châu. Chỉ tới cuối thời Bắc thuộc lần thứ tư (644-939) mới lác đác có một vài người giữ chức vụ lãnh đạo, nhưng họ đã tự đảm nhận những chức vụ lãnh đạo quốc gia trước rồi mới được triều đình Trung-quốc nhìn nhận.

Sau khi nước Việt giành lại được độc lập (năm 939), trong khoảng thời gian 136 năm đầu (939-1075), vì tình hình chính trị trong nước chưa được ổn định, có nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, nhiều cuộc nội loạn, nên vai trò của phe võ quan trọng hơn nhiều. Phe võ là những người có khả năng bảo vệ ngai vàng của dòng họ đang trị vì hay giúp một dòng họ đoạt chính quyền, cũng như duy trì trật tự an ninh trong nước.

Ngoài ra, các vương triều kế tiếp nhau cai trị nước Việt vẫn theo đường lối cũ của chính quyền đô hộ Trung-quốc. Quyền bính quốc gia cũng như các chức vụ trọng yếu đều do những người trong hoàng tộc hay có liên hệ thân thuộc với hoàng tộc, các đại công thần (hiểu là những người có công lớn đối với dòng họ đang trị vì) nắm giữ. Các quyết định của những người này mới có ảnh hưởng và có tính cách hướng dẫn, lãnh đạo. Không mấy nho sĩ, dù có thực tài, có thể chen chân vào lọt nếu họ không có ai tiến cử.

Mặt khác, vì kinh tế quốc gia chưa được phát triển sau hơn 11 thế kỷ suy sụp vì sự bóc lột của người Trung-quốc và hơn trăm năm nội chiến, giặc giã, bất an tàn phá, nên số người có phương tiện và khả năng học vẫn chưa đáng kể, tuy con số có gia tăng.

Vì những lý do đó, trong thời kỳ này công cuộc nho hóa Việt-nam phần lớn do các nho sĩ không hay chưa tham chính đảm nhận.

Họ là những người làm công việc có tính cách giáo huấn nhân dân địa phương. Người dân khi có việc thường đến với họ để xin chỉ dẫn, ý kiến, nghe những lời khuyên bảo của họ và những ý kiến, những lời khuyên bảo ấy đều dựa trên giáo điều Khổng-Mạnh. Vốn gần gũi với dân chúng nên họ hiểu dân chúng nhiều hơn. Đặc biệt là những nho sĩ dạy học. Họ có một ảnh hưởng lớn lao và sâu rộng, chẳng những là đối với đám đệ tử môn sinh của họ mà còn cả đối với các phụ huynh, thân thích, bạn bè, hàng xóm láng giềng nữa. Lâu dần ảnh hưởng của họ đã nâng cao vai trò của nho sĩ trong xã hội, đã đặt họ lên hàng thứ hai trong trật tự "quân, sư, phụ " 君師父.

Nói cách khác, trong giai đoạn này (cũng như trong các thời kỳ sau), dạy học được coi là phương tiện trọng yếu nhất để nho hóa xã hội Việt.

Ngược lại, vì số nho sĩ tham chính không đáng kể nên Nho giáo không có ảnh hưởng gì mấy đối với triều đình sau khi nước nhà độc lập. Thời gian 939-1075 có thể nói là thời thịnh trị của các người không phải là nho sĩ, nhất là của Phật đồ.

Thực vậy, Phật giáo đã du nhập nước Việt vào thế kỷ thứ 1 SCN và đã phổ cập trong dân gian nhiều hơn Nho giáo và Lão giáo. Việc văn hóa trong nước hầu như nằm trong tay các tu sĩ Phật giáo. Từ sau khi giành được độc lập năm 939, trong thời các vương triều Ngô, Đinh, Tiền-Lê, và ngay cả sau này trong thời hai vương triều Hậu-Lý và Trần, Phật giáo được triều đình trọng đãi nên đã giữ một địa vị ưu thế trong triều đình cũng như ngoài dân gian.

Sử chép rằng năm 971, sau khi Đinh-bộ-Lĩnh 丁部嶺 dẹp yên loạn Thập Nhị Sứ Quân 十二使君 và lên ngôi hoàng đế, tức Đinh Tiên-hoàng 丁先皇 (tại vị năm 968-979), nhà vua đã ấn định giai cấp văn võ cùng là triệu các tăng sĩ Phật giáo lỗi lạc vào Thái miếu 太廟 và định phẩm trật cho họ: Tăng thống Ngô-chân-Lưu 僧統吳真流 được ban hiệu Khuông-Việt đại sư 匡越大師, Trương-ma-Ni 張麻尼 làm Tăng lục 僧錄, đạo sĩ Đặng-huyền-Quang 道士鄧玄光 làm Sùng chân uy nghi 崇真威儀 [1]. Còn vua Lê Đại-hành 黎大行 (tại vị năm 980-1005) thì thường triệu các vị tăng thống vào triều để hỏi việc chính trị, ngoại giao, quân sự, cũng như Phật sự, để tiếp đón sứ giả Trung-quốc, hoặc cử các tu sĩ sang Trung-quốc thỉnh kinh, v.v. Chỉ có vào đời Lê-long-Đĩnh 黎龍鋌, tức Ngọa triều hoàng đế 臥朝皇帝 (tại vị năm 1005-1009), nhà vua tính bạo ngược, thích giết người, có khi bắt sư rồi lấy mía để lên đầu mà róc vỏ, thỉnh thoảng giả vờ lỡ tay bổ dao xuống đầu sư cho chảy máu mà vui cười. Tuy nhiên, đây chỉ là hành động của một cá nhân, dù cá nhân đó là một quân vương, chứ không phải là chính sách bách hại Phật giáo của triều đình.

Cũng vì trong thời gian này giới nho sĩ chưa có ảnh hưởng mấy cho nên chúng ta không thấy có những hành động nào của họ đáng kể trong nỗ lực nho hóa nước Việt của họ. Sử sách chỉ ghi chép có mấy việc sau:

Thứ nhất, chế định triều nghi, phẩm phục năm 939 thời nhà Ngô.

Thứ hai, qui định cấp bậc văn võ năm 971 thời nhà Đinh (vừa nói bên trên).

Thứ ba, định luật lệnh năm 1002 thời nhà Tiền-Lê.

Thứ tư, đổi lại quan chế và triều phục của các quan văn võ và tăng đạo năm 1006 cũng thời nhà Tiền-Lê.

Những việc này tuy mang ảnh hưởng của văn hóa Trung-quốc nói chung và Nho giáo nói riêng, nhưng tất cả chỉ là những việc có ảnh hưởng tới triều cương thôi, ngoại trừ việc định luật lệnh năm 1002. Tuy nhiên, vì các luật lệnh này đã mất từ lâu và vì các tài liệu đề cập tới các luật lệnh này lại không cho rõ những luật lệnh này là những gì, nên không thể tìm hiểu được dấu vết của Nho giáo (có lẽ có) cùng là ảnh hưởng của chúng trong dân gian.

2

Giai Cấp Nho Sĩ Trong Thời Hình Thành

(1075-1407):
Chỉ Giữ Vai Trò Thứ Yếu

Ngay cả trong thời hình thành của giai cấp nho sĩ, mặc dù triều đình đã tổ chức thi cử để tuyển chọn nhân tài, tình hình cũng chưa được cải thiện nhiều, nhất là trong hai thế kỷ 11 và 12. Trong ngót bốn trăm năm, kể từ khi có khóa thi thứ nhất 1075 đến khi nhà Hồ (1400-1407) sụp đổ, có mấy sự kiện quan trọng có ảnh hưởng nhiều tới vai trò của các nho sĩ, nhất là những người tham chính.


I. Số Kỳ Thi Tổ Chức Quá Ít và Không Đều Đặn

Theo sử sách, trong suốt 215 năm triều Hậu-Lý chỉ có 7 kỳ thi được tổ chức. Đó là các khóa thi năm 1075, 1086, 1152, 1165, 1185, 1193 và 1195. Những khóa thi này nhằm mục đích tuyển người ra làm quan. Ngoài ra, cũng nên kể thêm khóa thi năm 1077 để tuyển lại viên 吏員 (tức nhân viên cấp hành chính). Như vậy, trong 150 năm, kể từ khi có khóa thi đầu tiên cho đến hết thời nhà Hậu-Lý (năm 1225), tính trung bình cứ 21 năm mới có một khóa thi, và nếu kể cả khóa thi lại viên thì trung bình là 19 năm.

Mặt khác, khoảng cách giữa hai khóa thi không đều: 2 năm (giữa hai khóa 1193 và 1195, hay giữa hai khóa 1075 và 1077 nếu kể cả khóa thi lại viên), 8 năm (giữa hai khóa 1185 và 1193), 11 năm (giữa hai khóa 1075 và 1086), 13 năm (giữa hai khóa 1152 và 1165), 20 năm (giữa hai khóa 1165 và 1185) và 66 năm (giữa hai khóa 1086 và 1152).

Khoảng cách giữa khóa thi cuối cùng của nhà Hậu-Lý năm 1195 và khóa thi đầu tiên vào thời nhà Trần năm 1232 là 37 năm.

Nhà Trần, trong 175 năm cai trị nước Việt, đã tổ chức 13 khóa thi thái học sinh 太學生 (tức tiến sĩ 進士) vào các năm 1232, 1239, 1247, 1256, 1266, 1275, 1304, 1314, 1345, 1347, 1381, 1383 và 1393. Tính trung bình cứ hơn 12 năm có một khóa thi.

Khoảng cách giữa hai khóa thi có thể là 3 năm (giữa hai khóa 1381 và 1384), 7 năm (giữa hai khóa 1232 và 1239, hay 1374 và 1381), 8 năm (giữa hai khóa 1239 và 1247), 9 năm (giữa hai khóa 1247 và 1256, hay 1266 và 1275, hoặc 1384 và 1393), 10 năm (giữa hai khóa 1256 và 1266, hay 1304 và 1314), 25 năm (giữa hai khóa 1275 và 1304), 29 năm (giữa hai khóa 1245 và 1374), hay 31 năm (giữa hai khóa 1314 và 1345). Nếu kể cả các khóa thi loại khác như thi lại viên (các năm 1228, 1261, 1304, 1363, 1373 và 1393), thi tam giáo 三教 (các năm 1227 và 1247), thi các tăng nhân 僧人 (năm 1321), thi chọn nho sinh cho vào chầu hậu (năm 1236), thi con các quan văn (năm 1295), thi các sĩ văn để sung vào các quán 館 hay các 閣 (năm 1363), v.v., thì tổng cộng có 25 khóa thi trong đời Trần, với trung bình 7 năm có một khoá thi.

Sau hết, tuy nhà Hồ chỉ cai trị nước Việt 7 năm nhưng cũng tổ chức được một khóa thi năm 1404. Khoảng cách giữa khóa thi này và khóa thi cuối cùng năm 1393 thời nhà Trần là 11 năm.

Nói tóm lại, trong 397 năm nước Việt dưới quyền cai trị của ba vương triều Hậu-Lý, Trần và Hồ có tất cả 21 khóa thi, với trung bình 19 năm một khóa thi. Nếu tính cả các loại khác thì có tổng cộng 34 khóa thi, trung bình ngót 12 năm một khoá.


II. Số Thí Sinh Lấy Đỗ Không Nhiều

Mặt khác, số các thí sinh lấy đỗ trong các khóa thi dưới ba vương triều này cũng không được nhiều.

Thời Hậu-Lý, khóa 1075 lấy 10 người đỗ, khóa 1185 lấy 30 người, nhưng không phải là để làm quan ngay mà là để lên kinh học. Còn các khóa khác lấy bao nhiêu người đỗ thì sử sách không nói rõ.

Sử sách cũng không nói rõ số các thí sinh được lấy đỗ trong thời nhà Trần. Về hai khóa thi năm 1232 và 1239, Toàn Thư chỉ kể tên ba người đỗ đệ nhất giáp 第一甲, đệ nhị giáp 第二甲, và đệ tam giáp 第三甲 của mỗi khóa. Các khóa năm 1247 lấy 51 người đỗ, hai khóa năm 1256 và 1266 mỗi khóa lấy 47 người, khóa năm 1304 lấy 44 người, và các khóa năm 1275, 1384 và 1393 mỗi khóa lấy 30 người. Còn các khóa khác thì không thấy nói tới, tuy có lúc Toàn Thư nói rằng trước năm 1374 mỗi khóa lấy 30 người đỗ (Bản Kỷ, q. 7, tờ 42a).

Nếu tính trung bình cứ mỗi khóa lấy 30 người đỗ thì trong 175 năm triều Trần với 13 khóa thi chúng ta có tổng cộng 390 người được lấy đỗ. Trái lại, đối với 6 khóa thi mà chúng ta không rõ số người thi đỗ, nếu chúng ta cứ giả thiết mỗI khóa cũng có 30 người được lấy đỗ, rồi đem cộng với những con số chúng ta biết rõ đã nói bên trên thì tổng số thí sinh lấy đỗ có thể là 459 người.

Tuy nhiên, dù là 390 người hay 459 người trong 175 năm thì cũng vẫn là ít nếu đem so với số 170 người được lấy đỗ trong chỉ có một khóa thi thời nhà Hồ.

Mặt khác, vì không có tài liệu nào nói rõ số người tham dự mỗi khóa thi nên chúng ta cũng không thể tính tỷ lệ những người lấy đỗ trên tổng số các thí sinh mỗi khóa cả.


III. Rất Ít Nho Sĩ Được Giữ Các Chức Vụ Quan Trọng
Hơn nữa, ngoại trừ một tối thiểu số nho sĩ trúng tuyển được đặt vào chức vụ cao [2], đại đa số chỉ được giữ các chức vụ nhỏ thôi, còn các chức vụ quan trọng, có tính cách quyết định, vẫn nằm trong tay các hoàng thân quốc thích, hay các người có công với vương triều đương thời.

Dưới triều Trần còn có một hiện tượng đặc biệt đáng chú ý. Để tránh cho ngai vàng khỏi lọt vào tay người ngoài họ [3], nhà Trần một mặt tập trung các chức vụ lãnh đạo trong tay các hoàng thân, những người mang tước vương, đại vương, và mặt khác, bảo đảm ngai vàng bằng phương thức là mỗi vị vua sau khi trị vì một thời gian lại nhường ngôi cho con, em, trong lúc mình còn sống và giữ chức thái thượng hoàng [4]. Phần lớn các người giúp việc cho vua này vẫn được giữ lại sau khi vua thoái vị. Ít khi có một nho sĩ nào lọt vào chức vụ lãnh đạo hay nắm giữ quyền bính trong tay.


IV. Uy Thế của Phật Giáo Rất Cao

Một yếu tố quan trọng khác đã ngăn chặn ảnh hưởng của nho sĩ là uy thế của Phật giáo. Nói một cách chung, các vua Hậu-Lý và Trần đã hấp thụ nền giáo dục và chịu ảnh hưởng của Phật giáo rất nhiều.

Như đã nói ở phần 3, “Giai Cấp Nho Sĩ Việt-nam”, Lý-công-Uẩn, tức vua Lý Thái-tổ, người khai sáng vương triều Hậu-Lý, khi còn nhỏ đã theo học ở chùa Lục-tổ (còn gọI là chùa Cổ-pháp), sau làm quan đến chức Điện tiền chỉ huy sứ 殿前指揮使 trong triều đình nhà Tiền-Lê. Khi hoàng đế Lê-long-Đĩnh chết, ông đã được nhóm ông Đào-cam-Mộc 陶甘沐 trong triều và tăng thống Vạn-hạnh 萬行 tôn làm vua. Sau khi lên ngôi, nhà vua trọng dụng và ưu đãi các nhà lãnh đạo Phật giáo, nhất là thiền sư Vạn-hạnh, ban phẩm phục cho các hàng tăng sĩ, sai sư sang Trung-quốc thỉnh kinh, xây chùa, v.v.

Mặc dù năm 1070 vua Lý Thánh-tông, với ý định khai hóa văn học đã cho lập Văn miếu, làm tượng Châu-công Cơ-Đán, Khổng-tử, tứ phối, và 72 tiên hiền để thờ, mở đầu cho việc thờ Khổng-tử và chư hiền ở Đại Việt, nhưng vua và các vua kế nghiệp vẫn tôn sùng đạo Phật. Có vị lại còn bỏ ngai đi tu: đó là trường hợp vua Lý Huệ-tông 李惠宗 (sinh năm 1194, tại vị năm 1211-1224, mất năm 1226), sau khi truyền ngôi cho con gái còn nhỏ tuổi (7 tuổi) là công chúa Chiêu-thánh 昭聖公主, tức bà Lý Chiêu-hoàng 李昭皇 [5], đã vào tu ở chùa Chân-giáo 真教禪寺 trong đại nội, hiệu là Huệ-quang đại sư 惠光大師.

Nhiều tăng sĩ cũng được phong làm quốc sư, như: thiền sư Minh-không 明空 (tục danh Nguyễn-chí-Thành 阮至誠, không rõ năm sinh, mất năm 1141) và thiền sư Thông-biện 通辯 (không rõ tục danh, chỉ biết là họ Ngô 吳) đời vua Lý Thần-tông 李神宗 (tại vị năm 1127-1138), thiền sư Viên-thông 圓通 (tục danh Nguyễn-Ức 阮憶) đời vua Lý Anh-tông 李英宗 (tại vị năm 1138-1175), v.v.

Triều Trần cũng không kém. Nhà Trần thiên về Phật giáo rất nhiều mà bằng chứng là việc thành lập phái thiền Trúc-lâm Yên-tử 安子竹林單派 với tổ đệ nhất là vua Trần Nhân-tông 陳仁宗 (sinh năm 1258, tại vị năm 1278-1293, mất năm 1308), tổ đệ nhị là tôn sư Pháp-loa 法螺 (họ Đồng 童, không rõ tục danh, năm sinh và mất, chỉ biết thọ 47 tuổi), tổ đệ tam tôn sư Huyền-quang 玄光 (họ Lý 李, không rõ tục danh; 1254-1334), tổ đệ tứ vua Trần Minh-tông 陳 明宗 (sinh năm 1300, tại vị năm 1314-1329, mất năm 1357). Ngoài ra, hầu hết các vua, kể từ vua Trần Thái-tông 陳太宗 (sinh năm 1218, tại vị năm 1225-1258, mất năm 1277) trở đi, sau khi thoái vị đều đi tu ở các chùa.

Ảnh hưởng của Phật giáo ở đời Trần mạnh đến nỗi R.B. Smith đã nói nước Đại Việt dưới triều Trần là một quốc gia quân chủ mang tính cách Phật giáo hơn là Khổng giáo [6]. Nhận xét này rất chính xác.

Mặc dù Phật giáo đã thịnh và giữ được địa vị độc tôn từ thời nhà Đinh qua thời nhà Tiền-Lê tới thời nhà Hậu-Lý, và tuy các vị vua của ba vương triều này đều mộ đạo, trọng đãi các tăng sĩ, nhưng không có ai làm vẻ vang đạo Phật cùng là góp công vào việc truyền bá đạo này trong dân gian để được lưu truyền đến hậu thế cho bằng các vua Trần. Thực vậy, các vua trước nhà Trần chỉ có tham cứu, học hỏi đạo Phật thôi, chứ không ai sáng tác những sách giảng giải giáo lý nhà Phật như vua Trần Thái-tông với các sách Thiền Tông Chỉ Nam 單宗旨南 (giãi bày đạo lý tu thiền), Khóa Hư Lục 課虛錄 (nói rõ về cái khổ của sinh, lão, bệnh, từ và phá tan các tính cố chấp, thành kiến của thế gian), Kim-cương Kinh Sớ 金綱經疏 (chú giải bình luận về kinh Kim-cương); vua Trần Nhân-tông với các bài kệ ý nghĩa thâm trầm; Tuệ-trung thượng sĩ 慧忠上士 [7] với những giảng dạy giáo lý đạo Phật một cách phiêu dật, phóng khoáng, không câu nệ, cố chấp.

Chỉ tới cuối thời nhà Trần vai trò của nho sĩ mới bắt đầu nổi bật lên được. Đó là vì vào thờI kỳ này các tăng sĩ Phật giáo đã làm lạc mất đạo gốc, biến đạo thành một thứ tôn giáo mê tín pha lẫn với tà giáo, với những cúng cấp, phù chú, khiến cho các nhà thuần nho phải lên tiếng bài xích, khởi đầu cho sự hưng thịnh của giai cấp nho sĩ Eight Ball.

3

Giai Cấp Nho sĩ Trong Thời Hưng Thịnh

(1427-1527):

Đoạt Được Địa Vị Độc Tôn

Phải từ thế kỷ thứ 15 trở đi, nhất là từ hậu bán thế kỷ này, giai cấp nho sĩ mới được giữ vai trò ảnh hưởng quan trọng trong triều đình.

Tuy nhiên, trong những năm đầu triều Hậu-Lê (1428-1788), ảnh hưởng của nho sĩ tuy đáng kể nhưng vẫn chưa được mạnh lắm, nhất là vì trong khoảng thời gian 1428-1460 đã có những sự xung đột giữa các đại thần võ quan và các văn thần. Trong các cuộc xung đột này phe đại thần võ quan đã nắm phần ưu thế. Ngoài ra, còn phải kể đến một yếu tố mới và quan trọng khác nữa đã xuất hiện kể từ nhà Hậu-Lê trở về sau: yếu tố địa phương.

Trong thời kỳ này, các đại thần Hậu-Lê phần lớn là những quan võ gốc Thanh-hóa, quê của Lê-Lợi 黎利, tức Lê Thái-tổ 黎太祖 (tại vị năm 1428-1433).

Thanh-hóa là một tỉnh biên cảnh nước Đại Việt mới được phát triển trong cuộc Nam tiến của dân Việt và hãy còn mang nhiều sắc thái cùng tính chất biên cương, chưa chịu nhiều ảnh hưởng thuần hóa của Nho giáo. Nho giáo được truyền bá nơi đây rất muộn. Một thí dụ cụ thể là trong số 40 thí sinh trúng tuyển khóa thi năm 1463 đời vua Lê Thánh-tông 黎聖宗 (tại vị năm 1460-1497), nghĩa là 35 năm sau khi vai trò của địa phương này nổi bật trên chính đàn quốc gia bắt nguồn từ cuộc khởi nghĩa của nhân dân Việt do Lê-Lợi lãnh đạo đánh đuổi chính quyền đô hộ Minh (1407-1427), chỉ có 5 người gốc Thanh-hóa, tức 12.5%, còn 35 người kia đều gốc Bắc.

Do đó, vì đầu óc địa phương, các đại thần võ quan không muốn để cho quyền bính quốc gia lọt vào tay đám văn quan nho sĩ mà tuyệt đại đa số là người gốc Bắc. Điển hình cho sự xung đột này là vụ án Lệ-chi Viên 荔枝園 (hay Vườn Vải, thuộc xã Đại-lại, huyện Gia-định -- sau đổi là huyện Gia-bình, nay là một phần huyện Gia-lương -- tỉnh Bắc-ninh) năm 1442 liên quan đến Nguyễn-Trãi 阮廌, một đại công thần nhà Hậu-Lê, và ái thiếp của ông là Nguyễn-thị-Lộ 阮氏路.

Nguyễn-Trãi (1380-1442) là một nho sĩ, đỗ thái học sinh năm 1400. Phụ thân ông là bảng nhãn Nguyễn-ứng-Long 阮應龍 (sau đổi tên là Nguyễn-phi-Khanh 阮飛卿) và mẫu thân là Trần-thị-Thái 太, con gái lớn của Trần-nguyên-Đán 陳元旦, người tôn thất nhà Trần (con trai thứ của vua Trần Minh-tông).

Sau khi nhà Hồ bị quân xâm lăng Minh bên Trung-quốc lấy danh nghĩa phù trợ nhà Trần đã bị nhà Hồ cướp ngôi sang lật đổ, Nguyễn-Trãi theo phò Lê-Lợi. Từ năm 1417 (có thuyết nói là năm 1420), ông đã theo giúp Lê-Lợi đánh đuổi chính quyền đô hộ Minh. Mới đầu ông được dùng với chức Hàn-lâm viện thừa chỉ học sĩ 翰林 院承旨學士. Sau vì lập được nhiều công rất lớn, nhiều lần bàn mưu lập kế, vạch chiến lược, định chiến thuật đánh quân Minh, giao thiệp và dụ hàng chúng, nên năm 1427 ông được dùng làm Triều-liệt đại phu nhập nội hành khiển, Lại bộ thượng thư, kiêm hành Xu-mật viện sự 朝列大夫入內行遣, 吏部尚書, 兼行樞密院事 và năm sau (1428) ông được ban tước Quan-phục hầu 冠服侯 cùng quốc tính Lê.

Sự tín nhiệm của hai vua Lê là Thái-tổ và Thái-tông 太宗 (tại vị năm 1434-1442) nơi ông -- một người không thuộc hoàng tộc (đối với nhà Hậu-Lê), không cùng quê quán (ông sinh ở Thăng-long đất Bắc) và cũng không thuộc phe võ như các đại thần (dù ông đã làm quân sư cố vấn cả về quân sự cho Lê-Lợi) -- đã như một cái gai trước mắt các đại thần, buộc họ phải nhổ đi.

Dịp may cho bọn chúng đến khi vua Lê Thái-tông đã chết ở Vườn Vải, mà chúng vu là lúc vua chết có Nguyễn-thị-Lộ hầu hạ bên cạnh. Mượn việc này, chúng đã làm tội hai vợ chồng ông và tru di cả ba họ ông, tuy vụ này có nhiều uẩn khúc, không minh bạch.

Vụ án Nguyễn-Trãi và Nguyễn-thị-Lộ không thể coi là một vụ án tình tay ba thông thường, liên quan đến Lê Thái-tông, Nguyễn-Trãi và Nguyễn-thị-Lộ (nhiều người cho rằng bà là con rắn đã bị người nhà Nguyễn-Trãi khi xưa giết lầm nên hiện ra để báo thù gia đình ông) như rất nhiều người vẫn nghĩ và viết về vấn đề này, mà phải nhìn nó dưới khía cạnh của một cuộc tranh chấp quyền hành và ảnh hưởng giữa hai phe quan văn và quan võ, hay, nói cho đúng hơn, giữa các văn quan nho sĩ và võ quan đại thần không theo học cửa Khổng.

Sự kết án tử hình và tru di tam tộc Nguyễn-Trãi năm 1442 có thể coi là một sự thất bại nặng nề của giới nho sĩ. Ngoài ra, có thể nói được là sự thất bại của giới nho sĩ đã bắt đầu từ hơn 10 năm trước vụ án Vườn Vải.

Thực vậy, ngay sau khi lên ngôi hoàng đế, vua Lê Thái-tổ bắt đầu sinh lòng đố kỵ đốI vớI những người có công giúp nhà vua đánh đuổi chính quyền đô hộ Minh, nhất là những người không phải gốc Thanh-hóa, nên đã nghe lời xàm tấu của bọn võ quan đại thần, nhất là Lê-Sát 黎察 (người Thanh-hóa), mà giết hại hay bách hại một số đại công thần. Do đó, ba đại công thần không phải là người gốc Thanh-hóa và cũng không phải là người thuộc dòng họ Lê (mặc dù cả ba đều được ban quốc tính Lê), đã trở thành nạn nhân: Trần-nguyên-Hãn 陳元扞, Phạm-văn-Xảo 范文巧 và Nguyễn-Trãi.

Năm 1429 vua nghe lời xàm tấu vu oan của bọn võ quan đại thần cho bắt tả tướng quốc Trần-nguyên-Hãn, cháu nội của Trần-nguyên-Đán (và là anh em con cô con cậu với Nguyễn-Trãi). Trần-nguyên-Hãn có học thức và rất giỏi về binh pháp. Từ khi theo Lê-Lợi, ông đã tham dự rất nhiều trận chiến và lập được nhiều chiến công, nên được Lê-Lợi hậu đãi, và được tham dự bàn những việc bí mật. Sau khi thắng quân Minh, ông được dùng làm tả tướng quốc 左相國 và cũng được ban quốc tính Lê cùng ngày với Nguyễn-Trãi.

Dù vậy, ông có lần nói riêng với người thân tín rằng vua Lê Thái-tổ có tướng như Việt-vương Tự Câu-tiễn越王姒勾踐 [9], nên không thể sống yên ổn được lâu. Sau đó ông xin về hưu. Tuy vua Lê Thái-tổ chấp thuận, nhưng vẫn nghi kỵ, vì dù sao ông cũng là dòng dõi nhà Trần. Khi về hưu ở ấp Sơn-đông (thuộc huyện Lập-thạch tỉnh Vĩnh-phúc ngày nay), ông đã xây dựng phủ đệ, đóng thuyền mà không chút dè dặt, đề phòng. Vì vậy có nhiều kẻ gièm pha với vua là ông mưu toan làm phản. Lê Thái-tổ tin lời và ra lệnh cho người đến bắt mang về xét hỏi. Khi thuyền đến bến Sơn-đông, ông nhảy xuống sông tự tử.

Hai năm sau (1431) đến lượt Phạm-văn-Xảo là nạn nhân.

Phạm-văn-Xảo cũng đi theo Lê-Lợi vào khoảng thời gian với Trần-nguyên-Hãn và Nguyễn-Trãi. Ông là người trội cả về tài lẫn trí, nên rất được Lê-Lợi tin dùng. Ông đã từng cầm quân đi đánh dẹp, lập được nhiều chiến công hiển hách, và nhất là năm 1427 đã đánh bại hai tướng Minh là Đô-ti Vương An-lão 都司王安老 và Kiềm-quốc công Mộc-Thịnh 鈐國公沐晟 [10], nên được làm Xu mật sứ 樞密使 (người Việt-nam quen đọc là Khu mật sứ) và năm 1428 được dùng làm thái úy 太尉 (có tài liệu nói ông mới đầu được phong làm thái bảo 太 保, sau được gia phong làm thái úy) và cũng được ban quốc tính Lê.

Sau khi vua Thái-tổ ở ngôi được vài năm, nhà vua thì tuổi đã cao mà lại nhiều bệnh tật, con trưởng là Lê-tư-Tề 黎思齊 thì ngông cuồng càn bậy [11], con thứ hai là thái tử Lê-nguyên-Long 黎元龍 (tức vua Lê Thái-tông) thì hãy còn thơ ấu (sinh năm 1423), trong khi đó thì Phạm-văn-Xảo lại là người kinh lộ (tức người Bắc), có danh vọng đối với mọi người, nên Lê Thái-tổ sợ có ngày không kìm chế được ông, do đó đem lòng nghi kỵ tuy bề ngoài vẫn đối xử theo lễ tiết. Bọn Trình-hoành-Bá 程宏伯 và Lê-quốc-Khí 黎國器 (cháu ruột của vua) đón biết ý vua, muốn tâng công, bèn dâng mật sớ cáo rằng Phạm-văn-Xảo âm mưu làm việc trái phép, khuyên vua giết đi (Toàn Thư, Bản Kỷ Thực Lục, q.11, tờ 5a-5b). Vua tin lời, bắt Phạm-văn-Xảo phải chết và tịch thu tất cả tài sản.

Nạn nhân thứ ba là Nguyễn-Trãi. Tuy ông tổ đời thứ nhất của Nguyễn-Trãi là Nguyễn-Bặc 阮匐 gốc người Thanh-hóa (ở Gia-miêu ngoại trang, nay là xã Hà-long thuộc huyện Trung-sơn, tỉnh Thanh-hóa), nhưng khi theo Đinh-bộ-Lĩnh dẹp Loạn Thập Nhị Sứ Quân (năm 945-967), ông Nguyễn-Bặc đã đặt căn cứ hành quân ở núi Hun (tức Côn-sơn), thuộc xã Chi-ngại, huyện Chí-linh, tỉnh Hải-dương, nên tại đây phát sinh một chi họ truyền đến đời thứ 11 là Nguyễn-Trãi. Vì thế Nguyễn-Trãi không được coi là người Thanh-hóa. Hơn nữa, Nguyễn-Trãi là quan văn, chứ không phải là quan võ.

Năm 1429 Nguyễn-Trãi cũng bị Lê Thái-tổ cho bắt giam một thời gian, có lẽ vì ông có liên hệ gia tộc với Trần-nguyên-Hãn.

Chúng ta phải đợi tới đời vua Lê Thánh-tông, người đã ổn định được tình hình chính trị trong nước, mới thấy lần đầu tiên các quyền hành trong nước hoàn toàn lọt vào tay nho sĩ.

Được như vậy là nhờ nhà vua trước khi lên ngôi đã thụ huấn nơi các nho sĩ danh tiếng. Lại nữa, nhà vua được tôn phù lên ngôi báu là nhờ sự liên kết giữa các nho sĩ và một số đại thần không thuộc thế hệ Lê-Lợi (như: Nguyễn-Xí 阮熾, Đinh-Liệt 丁列, v.v.) sau vụ Lê Nghi-Dân 黎宜民, tức Lạng-sơn vương 諒山王, con của vua Lê Thái-tông và anh của vua Lê Nhân-tông 黎仁宗 (1442-1459). Nguyên Nghi-Dân trước đã được phong làm thái tử, nhưng sau vì mẹ phải tội nên bị phế đi. Năm 1459, Nghi-Dân đồng mưu với bọn Lê-đắc-Ninh 黎得寧, Phạm-Truân 范屯 [12], Phan-Ban 潘般, Trần-Lăng 陳陵, giết vua Nhân-tông và hoàng thái hậu Tuyên-từ 宣慈皇太后, rồi tự xưng làm vua, nhưng chỉ được 8 tháng thì bị nhóm Nguyễn-Xí, Đinh-Liệt bắt giết và tôn vua Lê Thánh-tông lên ngôi.

Mặt khác, các khóa thi từ đây đã được tổ chức nhiều hơn và đều đặn hơn. Từ năm 1463 trở đi, cứ 3 năm triều đình cho mở một khóa thi và cứ năm trước thi hương thì năm sau thi hội và thi đình. Trong khoảng thời gian 51 năm (1463-1514) từ khi có lệ thi này đã có tới 18 khóa thi. Số người trúng tuyển nhờ vậy đã gia tăng rất nhiều: tổng cộng 1816 người, trung bình 110 người một khóa. Đây là một sự kiện đáng kể.

Ngoài ra, để biểu dương sự học và khuyến khích người học, nhà vua thường đích thân làm chủ các kỳ thi đình với mục đích làm cho các khóa thi thêm phần long trọng. Hơn nữa, nhà vua còn đặt ra lệ xướng danh các tiến sĩ, lệ vinh qui 榮歸, tức là rước người thi đậu trạng nguyên 狀元 về nguyên quán (từ năm 1467), lệ ban yến và thưởng mũ áo cho các tiến sĩ tân khoa (từ năm 1486), lệ khắc tên các tiến sĩ mỗi khoa vào một tấm bia đá dựng ở Văn miếu trong thành Thăng-long, v.v. Triều đình còn trọng dụng các người trúng tuyển.

Vì thế số người theo học càng ngày càng tăng. Phẩm chất của các nho sĩ cũng cải tiến nhiều, vì triều đình đã loại bỏ những kẻ không có tư cách. Ngoài ra, các kẻ bất hiếu bất mục, con cháu bọn phản loạn, con cháu những người làm nghề ca xướng, v.v., đều không được phép dự thi. Triều đình còn bắt buộc các người làm quan không xuất thân khoa bảng phải dự các kỳ thi. Đấy là chưa kể từ đời vua Lê Hiến-tông 黎憲宗 (tại vị năm 1497-1504) các xã trưởng được phép đề cử sĩ nhân trong xã đi thi hương: xã lớn được cử 20 người, xã trung bình 15 người, xã nhỏ 10 người.

Mặt khác, đến khoảng hậu bán thế kỷ thứ 15, đời vua Lê Thánh-tông, các nho sĩ đã nắm được nhiều chức vụ quan trọng trong guồng máy cai trị quốc gia. Nhờ đó họ đã thi hành được một số cải cách cơ cấu chính quyền, như:

1.- Trao cho lục bộ 六部 (các bộ Lại, Lễ, Binh, Hình, Hộ và Công) và lục khoa 六科 (các khoa Lại, Lễ, Binh, Hình, Hộ và Công), tức là các cơ quan hành chính trung ương, nhiều quyền hành hơn [13].

2.- Đề cao vai trò của lục bộ cùng là Hàn-lâm viện, một cơ quan đã cung cấp cho họ nhiều chức viên để thi hành các kế hoạch cải cách của họ.

3.- Đặt thêm lục tự 六寺 là Đại-lý tự 大理寺, Thái-thường tự 太常 寺, Quang-lộc tự 光祿寺, Thái-bộc tự 太僕寺, Hồng-lô tự 鴻臚寺 và Thượng-bảo tự 尚寶寺 với các chức quan điều khiển như: Tự khanh 寺卿, Thiếu khanh 少卿, và Tự thừa 寺承.

4.- Cho các quan văn võ hưởng lợi (như: ruộng đất và tiền tuế bổng).

5.- Đặt chức quan giám sát ngự sử 監察御史, v.v.

Họ cũng định quan chế, nhấn mạnh nhiều vào việc tuân giữ các lễ nghi cổ truyền Nho giáo, kể cả thời kỳ cư tang cũng như việc hiến tế trong nghi thức phụng tự Khổng-tử. Đi xa hơn nữa, họ còn giới hạn cả số chùa Phật giáo (như năm 1461 cấm không cho làm chùa mới), cũng như là hạn chế các tiếp xúc của các tăng đạo với nhân dân (thí dụ năm 1460 cấm các tăng đạo không được qua lại với nhân dân trong thành), v.v.

Về phương diện văn học, các nho sĩ đã đóng góp rất nhiều vào việc hướng dẫn quốc gia dân tộc đi theo chiều hướng Nho giáo trong đời sống quốc gia cũng như cá nhân. Việc làm của họ rất nhiều. Xin kể vài thí dụ:

Năm 1495 vua Lê Thánh-tông đã lập hội Tao-đàn 騷壇 gồm có 28 văn thần tham dự (thường gọi là Tao-đàn nhị thập bát tú 騷壇二十 八宿), cùng nhau bàn bạc sách vở, xướng họa thơ văn và phê bình văn học. Nhà vua làm Tao-đàn nguyên súy 騷壇元帥, các ông Thân-nhân-Trung 申仁中, Đỗ-Nhuận 杜潤 làm phó nguyên súy 副元帥 và Lương-thế-Vinh 梁世榮 làm sái phu 灑夫. Hội đã sáng tác nhiều thi văn phẩm còn được lưu truyền đến ngày nay.

Ngoài ra, hai tác phẩm quan trọng nhất được thực hiện trong đời vua Lê Thánh-tông là bộ Thiên Nam Dư Hạ Tập 天南餘暇集 và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大越史記全書.

Bộ Thiên Nam Dư Hạ Tập do Thân-nhân-Trung và Đỗ-Nhuận biên soạn, gồm 100 quyển nói về các luật lệ trong niên hiệu Hồng-đức (1470-1497) đời vua Lê Thánh-tông cũng như là các thơ văn của hội Tao-đàn (trong đó có Quỳnh-uyển Cửu Ca Thi Tập 瓊苑九歌詩集, gồm các bài thơ ngự chế của vua và các bài phụng họa của các quan trong hội Tao-đàn nói về đạo làm vua, khí tiết bề tôi, vua giỏi tôi hiền, nhớ bậc anh tài kỳ tuấn, v.v.; và Minh Lương Cẩm Tú 明良錦繡, cũng gồm những bài thơ ngự chế của vua làm nói về cảnh quê hương gấm vóc vua thấy được trong lúc vua thân chinh đi đánh Chiêm-thành năm 1470-1471, và thơ phụng họa của các hội viên Tao-đàn).

Bộ Đại Việt Sử Ký Toàn-thư do Ngô-sĩ-Liên biên-soạn (1479), là bộ chính sử gồm 2 phần: (a) Ngoại Kỷ Toàn Thư 外紀全書, 5 quyển, ghi chép các sự việc, biến cố, nhân vật từ thời nhà Hồng-bàng (2879-258 TCN) tới thời Thập Nhị Sứ Quân (945-967); và (b) Bản Kỷ Toàn Thư 本紀全書, 10 quyển, từ vua Đinh Tiên-hoàng đến Lê Thái-tổ. Bộ sử này rất quan trọng vì ngoài việc trình bày các dữ kiện lịch sử trong các triều đại còn có thêm những lời bình chú mang sắc thái Nho học về một số sự kiện lịch sử.

Tuy nhiên, việc làm quan trọng nhất là do ảnh hưởng và khuyến cáo của nho sĩ, vua Lê Thánh-tông đã ban một số huấn thị nhằm sửa đổi phong tục và đặt ra 24 điều giáo huấn bắt dân chúng học tập để giữ lấy thói tốt [14].

Trước đời vua Lê Thánh-tông, người dân trong nước mỗi khi có cuộc hôn nhân thì thường kéo dài hàng ba bốn năm rồi mới cho rước dâu về nhà chồng, còn lễ tang thì làm cỗ bàn linh đình để ăn uống, hát xướng, vui chơi trong một thời gian. Do đó nhà vua mới ra lệnh việc hôn thì một khi đã nhận lễ hỏi rồi nhà gái phảI chọn ngày cho rước dâu và lễ cưới ngày hôm trước thì ngày hôm sau (nhị hỉ 二喜) phải đi chào cha mẹ và ba ngày thì đi lễ từ đường 祠堂. Mặt khác, nhà nào có lễ tang thì không được hát xướng vui chơi.

Hơn nữa, 24 điều giáo huấn còn dạy bảo bổn phận của cha mẹ, con cái, anh chị em, vợ chồng, hàng xóm láng giềng, đàn bà góa, sĩ phu, quan dân, thương gia, v.v., cũng như là nghiêm hành nguyên tắc nam nữ thụ thụ bất thân 男女授受不親, bảo vệ phụ nữ. Những điều giáo huấn này còn nhằm ấn định bổn phận của các nhà chức trách các cấp bảo vệ người dân.

Đấy là chưa kể lần đầu tiên trong lịch sử, các nho sĩ đã soạn một bộ địa dư nước Việt: bộ Hồng-đức Bàn Đồ 洪德版圖 (hoàn tất năm 1490). Trước kia nước Việt không có địa đồ. Tới đời vua Lê Thánh-tông, các quan ở các đạo (tương đương với tỉnh sau này) được lệnh xem xét ở trong hạt mình có những sông núi gì, hiểm trở thế nào, phải vẽ bản đồ rõ ràng, và ghi cả sự tích nữa, để làm thành quyển địa dư, gọi là Hồng-đức Bản Đồ. Tuy trước đó 55 năm cũng có bộ Dư Địa Chí 輿地志 do Nguyễn-Trãi biên soạn (xong năm 1435), thường được gọi là An-nam Vũ Cống 安南禹貢 [15], nhưng tài liệu này không được đầy đủ, tỉ mỉ, như bộ Hồng-đức Bản Đồ.

Sau hết, còn phải kể đến một số bộ luật được ban hành trong thời nhà Hậu-Lê là bộ Quốc Triều Hình Luật 國朝刑律 (còn gọi là bộ Luật Hồng-đức hay bộ Luật Nhà Lê), bộ Hồng-đức Thiện Chính Thư 洪德善政書, bộ Quốc Triều Chiếu Lệnh Thiện Chính 國朝詔令善政 và bộ Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ 國朝勘訟條例 [16]. Tuy trước đó nhà Hậu-Lý cũng ban hành một bộ luật, gọi là Hình Thư 刑書 (1042), nhà Trần ban hành bộ Quốc Triều Thông Chế 國朝通制 (năm 1230), bộ Hoàng Triều Đại Điển 皇朝大典, bộ Hình Thư 刑書 (có tài liệu viết là Hình Luật Thư 刑律書), cả hai được biên soạn và ban hành dưới đời vua Trần Dụ-tông 陳裕宗 (tại vị năm 1341-1369), nhưng các bộ luật này đã thất lạc từ lâu nên nội dung và tinh thần của chúng ngày nay không ai rõ. Dựa theo các đạo luật riêng rẽ về một số vấn đề cũng như phương thức xử án thì chúng ta có thể nói rằng có lẽ các bộ luật của hai vương triều này tuy chịu ảnh hưởng không ít các bộ luật của Trung-quốc nhưng cũng đã dung hòa với quan niệm pháp lý đặc biệt của dân tộc Việt, nhất là ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo. Các bộ luật của nhà Lê cũng vậy, tuy mượn kỹ thuật, và cả thuật ngữ pháp lý nữa, của Trung-quốc nhưng đã mang nhiều đặc điểm của triết lý thuần túy Việt, như là bảo vệ quyền lợi tư nhân, quyền kế thừa của phụ nữ, địa vị của phụ nữ, qui chế hôn sản, v.v.

Nói tóm lại, đời vua Lê Thánh-tông có lẽ là thời cực thịnh của giai cấp nho sĩ và của công cuộc nho hóa quốc gia. Các nho sĩ đã chiếm được một ảnh hưởng trọng đại trên từ vua quan dưới xuống đến thứ dân. Trong lúc nắm giữ vai trò ảnh hưởng ở trong cũng như ngoài chính quyền, các nho sĩ đã tận lực phát triển học thuyết Khổng-Mạnh trong chiều hướng biến cải nước Việt thành một quốc gia nho hóa. Chính những nỗ lực của họ đã tạo nên một bức tường văn hóa Nho giáo kiên cố mà hơn ba trăm năm sau văn hóa Pháp tuy có sự hỗ trợ bằng mọi biện pháp, mạnh cũng như nhẹ, của chính phủ bảo hộ Pháp vẫn không sao diệt trừ nổi. Nói một cách khác, giai cấp nho sĩ Việt từ đó đã không chịu thua kém giai cấp nho sĩ Trung-quốc, Nhật-bản hay Triều-tiên trong công cuộc phục vụ Nho giáo và có thể tự hào với thiên chức lãnh đạo quốc gia dân tộc của họ.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của các nho sĩ không lâu dài. Trong các triều vua sau, mặc dù ảnh hưởng của họ vẫn còn mạnh, nhưng so với thời vua Lê Thánh-tông đã kém đi rất nhiều.

4

Giai Cấp Nho Sĩ Trong Thời Thoái Hóa

(1527-1917):

Ảnh Hưởng Lu Mờ

Những nỗ lực cải biến quốc gia theo đường hướng và chính sách của Nho giáo mà các nho sĩ theo đuổi trải qua bao nhiêu thế kỷ đã bị nhiều biến cố lịch sử quan trọng phá hỏng, với hậu quả là làm giảm ngôi vị của giai cấp nho sĩ, làm lu mờ ảnh hưởng của họ, và làm trì trệ rồi đi đến chấm dứt công cuộc nho hóa nước Việt.

I. Vai Trò của Nho Sĩ Trong Thời Nam-Bắc Triều và Trịnh-Nguyễn Phân Tranh

Việc tranh chấp giữa nhà Mạc 莫 hay Bắc triều 北朝 (1527-1592) và nhà Hậu-Lê hay Nam triều 南朝, cũng như giữa hai họ Trịnh 鄭 và Nguyễn 阮 (1627-1775) là một đại họa cho quốc gia dân tộc suốt 248 năm (1527-1775). Tài nguyên quốc gia bị kiệt quệ. Tệ nhất là nhân dân bị chia rẽ trầm trọng, ảnh hưởng cho tới tận ngày nay.

Trong thời gian này chỉ có phe võ mới thỏa mãn được các nhu cầu của các phe tranh chấp. Do đó, chúng ta thấy một lần nữa phe võ đã nổi bật chẳng những là trên chiến trường mà còn cả trên chính trường nữa. Vai trò của nho sĩ bị lu mờ vì họ không thể giúp ích gì mấy cho các phe. Họ cũng chẳng làm được một cải cách gì đáng kể khả dĩ thực hiện được học thuyết Khổng-Mạnh.

Vì quan niệm nhà Mạc là thoán nghịch nên các sử gia, tất cả là người thuộc phe nhà Hậu-Lê, đã không nói gì mấy về tình hình văn hóa học thuật nói chung và giai cấp nho sĩ nói riêng ở vùng đất do nhà Mạc cai trị. Chúng ta chỉ biết được là trong suốt thời Nam-Bắc triều có một số ít nho sĩ vì không thần phục nhà Mạc đã bỏ miền Bắc vào Nam, còn đa số vẫn ở lại phục vụ Mạc triều hay tham dự các khóa thi do Mạc triều tổ chức.

Ba mươi năm sau khi chiếm đoạt chính quyền (năm 1527), nhà Mạc đã cho tổ chức khóa thi đầu tiên của triều đại năm 1556. Trong 36 năm kế tiếp (1556-1592), cho đến khi sụp đổ hoàn toàn, nhà Mạc đã tổ chức 12 khóa thi (trung bình 3 năm một khóa) và lấy 220 người đậu tiến sĩ (trung bình 18 người một khóa). Các người trúng tuyển chỉ được trao cho những chức vụ kém quan trọng hơn dưới thời vua Lê Thánh-tông. Tuy nhiên, con số người tham dự các khóa thi cho thấy vẫn có nhiều người coi sự nghiệp cá nhân là quan trọng và không mấy quan tâm đến một vương triều đang đi vào con đường suy vong là Hậu-Lê.

Tại vùng do nhà Hậu-Lê cai trị, nghĩa là từ tỉnh Thanh-hóa trở vào nam, tình hình tệ hơn nhiều.

Hai mươi mốt năm sau khi nhà Hậu-Lê trung hưng (1533-1789), năm 1554, triều đình mới mở một khoa thi. Ban đầu thỉnh thoảng mở một chế khoa 制科; đến năm 1590 lại mở một khoa thi hội. Ngoài ra, còn có những khóa thi bất thường, như khoa Sĩ vọng 士望科, khoa Đông-các 東閣科, khoa Hoành-từ 宏詞科, khoa Tuyển-cử 選舉科. Mặt khác, trong 38 năm, 1554- 1592, chỉ có 8 khóa thi đã được tổ chức (trung bình ngót 5 năm một khóa) và chỉ có 65 người được lấy đậu tiến sĩ (trung bình 8 người một khóa).

Nói cách khác, tại miền Nam, thi cử có một thời đã không được coi là yếu tố quan trọng trong việc tuyển chọn các viên chức thừa hành, chứ không phải là vì nhu cầu hành chính ở trong vùng đất Nam triều có ít hơn ở trong vùng đất Bắc triều. Tình trạng này còn kéo dài sang thế kỷ thứ 17.

Hơn nữa, trong 40 năm, từ năm 1595 đến năm 1634, có tất cả 13 khóa thi được tổ chức (trung bình 3 năm một khóa), nhưng chỉ lấy tổng cộng 93 người đậu tiến sĩ (trung bình mỗi khóa 7 người), một con số ít nhất trong 228 năm, nghĩa là trong khoảng thời gian từ năm 1463 khi có lệ thi 3 năm một lần tới năm 1691 khi có khóa thi 3 năm một lần cuối cùng trước khi có tổ chức thi Văn chức 文職 và thi Tam ti 三司 trong phủ Chúa Trịnh. Để dễ so sánh, chúng tôi xin ghi lại đây vài con số thống kê những người đậu tiến sĩ trong 228 năm này.

Bảng 1

Thống kê những người đậu tiến sĩ trong khoảng thời gian 1463-1691
Thời gian Số năm Số khóa thi Số tiến sĩ Trung bình mỗi khóa
1463-1514 51 18 816 45
1518-1553 35 13 330 25
1554-1592(Lê) 38 8 65 8
1556-1592(Mạc) 36 12 220 18
1595-1634 39 13 93 7
1637-1691 54 19 270 14

Mặt khác, từ sau khi nhà Lê trung hưng, ở phần đất do chúa Trịnh kiểm soát (gọi là Đàng Ngoài), việc thi cử không được nghiêm minh. Xin kể mấy thí dụ.

Đời vua Lê Dụ-tông 黎裕宗 (tại vị năm 1706-1729) ai đi thi cũng phải nộp “tiền minh kinh” 明經錢, gọi là để lấy tiền làm nhà trường và khoản đãi quan trường.

Rồi đến năm 1750, đời vua Lê Hiển-tông 黎顯宗 (tại vị năm 1740-1786), vì nhà nước thiếu tiền, hễ ai nộp 3 quan tiền, gọi là "tiền thông kinh" 通 經錢, thì có thể dự thi hương mà không cần phải qua kỳ khảo hạch. Do đó, lúc bấy giờ người làm ruộng, kẻ đi buôn, bán thịt, dù học kém vẫn được nộp quyển đi thi. Lúc thi đông quá, người tranh nhau vào trường xéo đạp lên nhau, có người chết. Ở trong trường thi, người dùng sách, kẻ thuê người làm bài, học trò và quan trường thông đồng với nhau. Những thí sinh này được gọi là "sinh đồ ba quan" 三串生徒, vì xưa kia chỉ có sinh đồ mới được miễn khảo hạch.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của Nho giáo chẳng những bị suy giảm về thi cử mà còn cả về văn học nữa. Từ thời Nam-Bắc triều cho tới tiền bán thế kỷ thứ 17 không có một tác phẩm quan trọng nào được biên sọan cả, dù là bằng chữ nôm hay bằng chữ Hán.

Ngược lại, cũng trong khoảng thời gian này, Phật giáo lại nổi dậy.

Từ 1461, năm mà triều đình hạn chế sự bành trướng của Phật giáo bằng việc cấm dựng chùa mới (tuy Phật giáo ít khi được triều đình khuyến khích), trong suốt 150 năm kế tiếp [17], đạo này không vì thế mà bị tiêu diệt hẳn. Đến đầu thế kỷ thứ 17 các hoạt động của Phật giáo lại gia tăng nhiều hơn. Hơn nữa còn có một số tăng sĩ Phật giáo Trung-quốc sang Việt-nam tị nạn lúc nhà Minh (1368-1644) sụp đổ và Trung-quốc bị vương triều Thanh 清 của người Mãn-châu cai trị (1644-1911). Ngoài ra, cần phải nói tới việc chúa Trịnh-Tráng 鄭梉 (tại vị năm 1623-1657) đã bảo trợ Phật giáo, cho lập chùa Phúc-long ở làng Lãng-ngâm, huyện Gia-định năm 1648 mà sau này chúa Trịnh-Cương 鄭棡 (tại vị năm 1709-1729) sức cho dân ba huyện Gia-định, Lương-tài và Quế-dương trùng tu lại năm 1719; việc vợ vua Lê Thần-tông 黎神宗 (tại vị năm 1619-1643) đã qui y đạo Phật khoảng năm 1630; v.v.

Ngay cả ở vùng đất của chúa Nguyễn, Phật giáo cũng phục hưng. Chúa Nguyễn-phúc-Tần 阮福瀕 (tục gọi là Chúa Hiền 主賢, tại vị năm 1648-1687) theo Phật giáo và đã che trở cho một số tăng sĩ Trung-quốc sang lánh nạn khi người Mãn-châu chiếm được trung nguyên, như đã nói ở một đoạn bên trên.

Mãi tới hậu bán thế kỷ thứ 17 Nho giáo mới phục hồi ảnh hưởng đôi chút, ít nhất là ở trong vùng đất do chúa Trịnh kiểm soát. Con số người lấy đậu tiến sĩ đã tăng dần, năm 1670 có tới 31 người. Tuy nhiên, có 3 khóa mỗi khóa lấy không quá 10 người đậu tiến sĩ.

Sự phục hồi này đi đôi với một vài sự kiện đáng chú ý khác.

Năm 1662 (Cương Mục chép là năm 1663), chúa Trịnh-Tạc 鄭 柞 (tại vị năm 1657-1682) đã ban hành một tập huấn thị 47 điều về việc cải cách phong tục. Tập huấn thị này mang nhiều ảnh hưởng của Nho giáo nên đã bị giới Phật giáo chỉ trích.

Năm sau (1663), chúa còn ra lệnh cho Tham tụng Phạm-công-Trứ 范公著 và một số nho sĩ tu chính và tăng bổ lại bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô-sĩ-Liên. Bộ sách tu bổ này, có tài liệu kể tên là Việt Sử Toàn Thư 越史全書, chép thêm những sử kiện từ đời vua Lê Trang-tông 黎莊宗 (tại vị năm 1533-1548) đến đời vua Lê Thần-tông 黎神宗 (tại vị lần thứ 1 năm 1619-1643 và lần thứ 2 năm 1649-1662) và chia làm 23 quyển. Công việc hoàn tất năm 1665 và theo sách Việt-nam Sử Lược của Trần-trọng-Kim sách không được in (quyển II, tr. 62), còn theo nhiều tài liệu khác, sách được ấn hành năm 1667.

Tiếp theo là năm 1676, Hồ-sĩ-Dương 胡士楊 được lệnh của chúa Trịnh-Tạc xét lại bộ quốc sử, nhưng chưa được bao lâu ông tạ thế, nên hai ông Lê-Hi 黎僖 và Nguyễn-quí-Đức 阮貴德 được lệnh chép nối từ đời vua Lê Huyền-tông 黎玄宗 (tại vị năm 1663-1671) đến đời vua Lê Gia-tông 黎嘉宗 (tại vị năm 1672-1675), thêm vào 13 quyển. Bộ sách mới này mang tên là Quốc Sử Thực Lục 國史實.

Đoạn năm 1775, chúa Trịnh-Sâm 鄭森 (tại vị năm 1767-1782) sai các ông Nguyễn-Hoàn 阮俒, Lê-quí-Đôn 黎貴惇, Ngô-thời-Sĩ 吳時 仕 và Nguyễn-Du 阮攸 biên soạn quốc sử, chép thêm từ đời vua Lê Hi-tông 黎熙宗 (tại vị năm 1676-1705) đến đời vua Lê Ý-tông 黎懿宗 (tại vị năm 1735-1740), gồm 6 quyển, gọi là Quốc Sử Tục Biên 國史 續扁.

Mặt khác, năm 1669, ông Phạm-công-Trứ đã tâu xin cải cách thuế má, đặt ra phép bình lệ平例 [18].

Những thí dụ này cho thấy dấu hiệu của một luồng sinh khí mới mang tính chất Nho giáo thổi vào trong giới chính quyền và trong giai cấp nho sĩ dù nó không được mạnh bằng dưới đời vua Lê Thánh-tông. Tuy nhiên, chẳng bao lâu lại có những việc khiến vai trò của nho sĩ một lần nữa bị lu mờ, nhường chỗ cho Phật giáo.

Năm 1731 vua Lê-duy-Phương 黎維祊 (tại vị năm 1729-1731) bị chúa Trịnh-Giang 鄭杠 (tại vị năm 1729-1740) vu cho là đã tư thông với vợ chúa Trịnh-Cương, phải bỏ ngôi, bị giáng làm Hôn-đức công 惛德公, rồi đến năm sau (1732) thì bị giết. Đây không phải là một trường hợp duy nhất vua Lê bị chúa Trịnh áp bức bắt nhường ngôi. Trước Lê-duy-Phương, vua Lê Dụ-tông 黎裕宗 (tại vị năm 1706-1729) cũng đã bị Trịnh-Cương bắt phải nhường ngôi cho Duy-Phương rồi, và sau Duy-Phương, vua Lê Ý-tông năm 1740 cũng lại bị chúa Trịnh-Doanh 鄭楹 (tại vị năm 1740-1767) bắt phải nhường ngôi cho vua Lê Hiển-tông 黎顯宗 (tại vị năm 1740-1786).

Cùng với những biến cố chính trị này còn có những sự việc khác không hay cho giai cấp nho sĩ. Mọi đề nghị cải cách của một số nho sĩ tham chính đều bị dẹp bỏ.

Năm 1718, đời vua Lê Dụ-tông, chúa Trịnh-Cương đặt ở bên phủ Chúa lục phiên 六番 tương đương với lục bộ của nhà vua để coi mọi việc chính trị. Ngoài các văn ban 文班 và võ ban 武班 ra còn có thêm giám ban 鋻班 nữa. Các quan bên phủ Chúa thường là các nội

giám 內監 được cho ra làm quan coi việc chính trị. Hơn nữa, các việc chính trị và quân dân đều do Phủ liêu 府僚 của Chúa định đoạt hết, chứ không phải là triều đình 朝廷 của vua Lê.

Từ đời chúa Trịnh-Giang trở đi, các quan tứ phẩm trở xuống muốn được thăng chức phải nộp 600 quan, còn dân bạch đinh muốn được bổ tri huyện phải nộp 1.800 quan, tri phủ 2.000 quan [19]. Tuy trước kia, trong đời hai vua Trần Dụ-tông và Lê Thánh-tông cũng có việc bán phẩm hàm, nhưng thời bấy giờ chỉ là mua lấy hàm danh dự thôi, chứ không có mua thực chức. Với việc bán chác từ đời chúa

Trịnh-Giang này, hễ kẻ có tiền là có quyền trị dân, không cần có tài năng, không cần phải qua bất cứ một cuộc thi cử nào.

Mặt khác, từ năm 1723, Tham tụng Nguyễn-công-Hàng 阮公沆, một nho sĩ, đã phỏng theo phép nhà Đường 唐 (618-907) bên Trung-quốc sửa đổi lại cách đánh thuế theo phép tô 租 (thuế điền thổ), dung 庸 (thuế thân) và điệu 調 (tiền sưu dịch). Ngoài ra còn có vài biện pháp khắc nghiệt khác, khiến cho nhân dân ta thán nhiều, nhất là chúa Trịnh-Giang lại xa phí quá đáng, cộng thêm nạn giặc giã liên miên khiến chính quyền lại càng phải gia tăng thuế má.

Xét về một phương diện khác, năm 1734 chúa Trịnh-Giang ra lệnh cấm nhập cảng các sách Nho giáo từ Trung-quốc và bắt khắc bản in trong nước để in các sách này phát ra mọi nơi. Trần-trọng-Kim trong sách Việt-nam Sử Lược cho rằng hành động này có lợi cho tài chính nước nhà (tập II, tr. 60), nhưng không giải thích lý do tại sao chỉ ít lâu sau chúa lại cử phái đoàn sang Trung-quốc thỉnh kinh Phật giáo. Theo thiển ý của chúng tôi, hai việc này nói lên sự phục hưng của đạo Phật và sự suy thoái của vai trò các nho sĩ. Chúng ta cũng không nên quên rằng năm 1737, chúa còn buộc triều đình cúng một pho tượng Phật lớn cho chùa Quỳnh-lâm, một ngôi chùa Phật quan trọng, và sắc cho các quan thay phiên đến làm lễ.

Đáng chú ý là trong khoảng thời gian 1719-1737 chỉ thấy nói các chúa làm chùa thôi. Năm 1719 chúa Trịnh-Cương cho trùng tu chùa Phúc-long. Năm 1727 chúa lại cho các nội giám lập chùa Thiên-tây (tại làng Sơn-đình, huyện Tam-dương, trấn Sơn-tây) và chùa Độc-tôn (làng Cát-nê, huyện Phổ-an, tỉnh Thái-nguyên) và chúa ra nghỉ ở đó. Năm 1730 chúa Trịnh-Giang sức dân 3 huyện Đông-triều, Thủy-đường và Chí-linh, trấn Hải-dương, trùng tu chùa Quỳnh-lâm và chùa Sùng-nghiên. Năm 1736, chúa cho phép dân các huyện Đông-triều, Kim-thành, Giáp-sơn, Thủy-đường dựng chùa Hồ-thiên (ở huyện Bảo-lộc, trấn Kinh-bắc) và chùa Hương-hải (ở làng Phụ-vệ, huyện Chí-linh, trấn Hải-dương). Năm 1731, chúa Trịnh-Sâm (1767-1782) cho dựng chùa Tiên-tích ở ngoài cửa Đại-hưng (làng Nam-ngư, huyện Thọ-xương, phủ Hoài-đức, nay là phố Hàng Bột, Hà-nội).

Tuy nhiên, khi cần, chúa lại tịch thu chuông đồng hay đồ đồng ở các chùa để đúc binh khí (như: năm 1740 chúa Trịnh-Giang tịch thu chuông để lấy đồng đúc binh khí) hay đúc tiền (chẳng hạn: năm 1788 chúa Trịnh-Bồng, 1787-1788, tịch thu các đồ đồng ở chùa để đúc tiền).

Nhận xét về tình hình Nho giáo và Phật giáo vào thời kỳ này, ít nhất là ở ngoài Bắc-hà, Thượng tọa Mật-thể đã viết như sau:

"Phật giáo về thời này tuy có cơ hưng thạnh, nhưng sự thực đã yếu thế nhiều, nên phải xướng thuyết 'nhất thể' để cầu thân với Nho, Lão. Và đồng thời đẳng cấp Nho giáo lúc này cũng đã bước vào tình thế suy lạc, nên lại phải mượn Phật giáo làm chỗ an ủi. Bởi vậy, thời này có rất nhiều vị Nho sĩ đầu Thuyền...

"Lại cũng trong thời này, ông Trịnh-Huệ cũng xướng thuyết 'Nhất thể' làm sách 'Tam giáo nhất nguyên thuyết' để giải rõ ba giáo vốn đồng một gốc. Sách tuy có lợi cho những người muốn theo học cả ba giáo, sự thật điều đó càng giúp ta chứng rõ khuynh hướng ấy." [20].

Còn ở Đàng Trong, nơi chúa Nguyễn cai trị, ảnh hưởng của Nho giáo trong hai thế kỷ thứ 17 và 18 không mạnh lắm, các nho sĩ không làm được một điều gì đáng chú ý khiến có thể hướng dẫn quốc gia theo con đường Nho giáo.

II. Sự Bất Hợp Tác của Đa Số Nho Sĩ Thời Nhà Tây-sơn (1788-1802)

Bước sang thời nhà Tây-sơn, ảnh hưởng của nho sĩ vẫn không đáng kể, nếu không thể nói là đã thoái hóa.

Hoàng đế Quang-trung Nguyễn-Huệ 光中阮惠 (tại vị năm 1788-1792) đã quyết định dùng chữ nôm thay thế chữ Hán trong các kỳ thi cũng như trong các công văn giấy tờ, vì nhà vua muốn người Việt phải dùng tiếng Việt để gây thành tinh thần quốc gia và văn chương đặc biệt, chứ không phải đi mượn chữ nước người. Do đó, trong thời kỳ này văn học chữ nôm đã phát triển mạnh.

Chỉ đáng tiếc là sau khi nhà Tây-sơn bị nhà Nguyễn (1802-1945) diệt, chữ nôm lại không được chính thức dùng nữa, nhất là trong các kỳ thi tuyển lựa người ra làm quan, mặc dù đã có không ít người dùng chữ nôm trong các tác phẩm văn học của mình. Người đương thời, nhất là các nho sĩ, quan niệm sai lầm rằng "nôm na là cha mách qué " chỉ nên dùng trong những việc làm có tính cách mua vui thôi, chứ không thể dùng trong những công việc có tính cách nghiêm trang như thi cử, công văn, luật lệ.

Sự thực là vì các nho sĩ đã mang đầu óc nô lệ văn hóa. Họ đã tôn thờ Hán tự, cho là chữ của thánh hiền, đến độ không dám làm gì có thể làm nhơ bẩn đến kinh sách chữ Hán, như là vứt xuống đất, dẫm lên trang giấy chữ Hán, v.v. Ngoài ra, họ còn có đầu óc vọng ngọai, cho bất cứ cái gì của ngoại quốc, ở đây hiểu là của Trung-quốc, cũng là hay, là đẹp, mà coi khinh cái gì là nội hóa, trong đó chữ nôm là một [21]. Hơn nữa, các nho sĩ cũng hiểu rằng nếu chữ nôm hoàn toàn thay thế chữ Hán thì sớm muộn gì ảnh hưởng của Nho giáo thế nào cũng bị phai nhạt, không còn được chú trọng đến nữa và vai trò cũng như quyền hành của họ sẽ bị tiêu tan. Do đó, lẽ tất nhiên là họ phải chống đối việc dùng chữ nôm làm văn tự chính thức.

Sự chống đối của các nho sĩ trong thời nhà Tây-sơn chẳng phải là chỉ về mặt văn tự, mà còn cả về chính trị nữa. Họ vu cáo cho là nhà Tây-sơn đã dùng chính sách hà khắc ức hiếp nhân dân. Hơn nữa, họ đã coi nhà Tây-sơn là soán nghịch, đã cướp ngôi nhà Hậu-Lê. Vì thế rất nhiều người không chịu ra cộng tác giúp nhà Tây-sơn. Họ biện minh cho thái độ của họ bằng câu "trung thần bất sự nhị quân" 忠臣不事二君. Tiêu biểu cho các nho sĩ này là Nguyễn-Du 阮 攸, tác giả tương lai của Đoạn Trường Tân Thanh 斷腸新聲 [22].

Thực ra vua Quang-trung Nguyễn-Huệ là người rất trọng đãi những bậc hiền tài, văn học, nói cách khác là các nho sĩ, như là Ngô-thời-Nhiệm 吳時任, Phan-huy-Ích 潘煇益, v.v. Người được nhà vua kính trọng nhất và coi như bậc thầy của mình là xử sĩ Nguyễn-Thiệp 阮浹 [23]. Nhà vua đã nhiều lần đem lễ vật biếu và mời ông ra giúp nước. Tuy ông không nhận lễ và từ chối không ra tham chính, nhà vua vẫn tôn kính ông và việc chính trị trong nước thường theo khuyến cáo của ông.

Mặc dù không được nhiều nho sĩ ủng hộ, nhà Tây-sơn đã cố gắng cải tổ công việc triều chính và cai trị quốc gia, cố tạo nên một nước Đại Việt hùng cường về văn học, kinh tế, binh bị, khiến cho các nước lân cận, kể cả Trung-quốc, phải nể vì. Ngay cả về phương diện tinh thần nhà Tây-sơn cũng lo chấn chỉnh. Trong thời nhà Tây-sơn, các làng phải bỏ các chùa nhỏ, thay bằng một chùa thật to và đẹp ở mỗi phủ hay huyện. Giới tăng sĩ thì chọn những người có học thức và đạo đức cho coi chùa thờ Phật và bắt các kẻ tu hành ngu dốt, chuyên mượn tiếng thần thánh đánh lừa ngu dân phải hoàn tục.

Như vậy, nếu có sự suy hóa của Nho giáo trong thời nhà Tây-sơn, đó không phải là do chính sách hà khắc của vương triều nay, mà chính là do thái độ hẹp hòi, ý nghĩ thiển cận, đầu óc hủ lậu, tư tưởng vọng ngoại của nhiều nho sĩ, đã đồng hóa vua với nước và nước với vua, nên chỉ lo bo bo trung với vua mà quên cả trung với nước, mặc dù vua chỉ có hư vị như là các vua Hậu-Lê hay thối nát tham nhũng bạo tàn như chúa Trịnh, hoặc là cố bám quyền hành đến độ rước cả ngoại bang (Xiêm-la, tức Thái-lan ngày nay, và Pháp) vào để đưa quốc gia vào vòng nô lệ như Nguyễn-Ánh 阮暎. Thái độ này cuối cùng đã đưa đến sự suy vong của giai cấp nho sĩ vào đầu thế kỷ thứ 20.

)Còn tiếp)
NNT  
#5 Posted : Friday, October 12, 2012 7:11:13 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,834
Man
Location: USA

Thanks: 1843 times
Was thanked: 3565 time(s) in 1883 post(s)

NHO SĨ VIỆT NAM (PHẦN 4, tiếp theo)
Sự Thăng Trầm của Giai Cấp Nho Sĩ Việt-nam
Tạ-quốc-Tuấn

http://www.dunglac.org/i...mp;v=detail&ia=10789


III. Ảnh Hưởng của Nho Sĩ Thời Nhà Nguyễn (1802-1945)

Dưới triều Gia-long 嘉隆 (1802-1820), vai trò của nho sĩ không được sáng lạn cho lắm. Ngoài việc cho người Pháp làm quan trong triều, cho con trưởng là hoàng tử Cảnh 景 theo học với người Pháp, nhà vua chỉ cho tổ chức thi hương ở trong nước thôi, chứ không cho tổ chức thi hội và thi đình. Điều này chứng tỏ ảnh hưởng của Nho giáo chưa được phục hưng đầy đủ trong thời Gia-long. Hơn thế nữa, mấy sự kiện xảy ra trong đời Gia-long cho thấy sự suy yếu của giai cấp nho sĩ.

Khi lên ngôi hoàng đế, Gia-long đã chọn Phú-xuân 富春 (Huế ngày nay) làm kinh đô và đổi Bắc hà ra làm Bắc-thành. Đây là một trong những thất bại của giai cấp nho sĩ.

Từ ngày vua Lý Thái-tổ chọn Thăng-long làm kinh đô năm 1010, các vương triều khác đều tiếp tục đóng đô ở đây, tuy có một trường hợp ngoại lệ là trong thời Nam-Bắc triều, trong một khoảng thời gian ngắn nhà Mạc hay Bắc-triều đóng đô ở Đông-đô tức Thăng-long, còn nhà Hậu-Lê hay Nam-triều đóng đô ở Tây-đô tức Nghệ-an.

Trong ngót 800 năm, Thăng-long là đất văn học, nơi phát sinh và phát triển của giai cấp nho sĩ. Tại Thăng-long có Văn-miếu thờ Khổng-tử, tượng trưng cho Nho giáo. Các nho sĩ dù xuất sinh ở đâu, khi đã đỗ đạt rồi, hay cả khi chưa đỗ đạt nữa, đã chọn Thăng-long làm nơi tập trung để thi thố tài năng cũng như để mưu tìm danh vọng. Có thể nói Thăng-long là đất dụng võ của giai cấp nho sĩ. Tương lai của nó dính liền với tương lai của nho sĩ. Ngay sau khi trung hưng và diệt xong nhà Mạc, nhà Hậu-Lê cũng lại bỏ Đông-đô trở về Thăng-long.

Với sự chọn Phú-xuân làm kinh đô của nhà Nguyễn này, ảnh hưởng của Thăng-long bắt đầu lu mờ và vai trò chính trị của nó ngày một suy yếu để được thay thế bằng vai trò của Huế (và của Sài-gòn sau này). Cùng với sự lu mờ của Thăng-long, giai cấp nho sĩ bước vào giai đoạn tàn tạ, mặc dù các nho sĩ đã theo kinh đô tập trung ở Phú-xuân nhiều, nhưng không thể bằng ở Thăng-long được. Vì nhiều yếu tố, kể cả yếu tố địa thế, nhân văn, trường sở, Phú-xuân không bao giờ có thể trở thành trung tâm văn học cả, mặc dù các vua Nguyễn cố tạo nên nó, chẳng hạn lập một trường thi cho toàn Bắc-thành, còn riêng tại Thừa-thiên có một trường thi riêng, hay mở nhà Quốc tử giám ở kinh đô, v.v.

Mặt khác, vì nhờ võ mới lập nên cơ nghiệp nhà Nguyễn, do đó Gia-long đã cho các quan võ đứng đầu triều và lục bộ. Ngay cả hai người đứng đầu Bắc-thành cũng như Nam-thành là cũng là hai quan võ, Tổng trấn Bắc-thành Nguyễn-văn-Thành 阮文誠 và Tổng trấn Nam-thành Lê-văn-Duyệt 黎文悅. Chỉ có các quan dưới mới thuộc hàng quan văn.

Lại nữa, sau khi đánh bại nhà Tây-sơn, Gia-long đã có một số hành động không xứng đáng của một người quân tử, chứ đừng nói là của một vị quân vương theo quan niệm của Nho giáo.

Gia-long đã đem vua Cảnh-thịnh Nguyễn-quang-Toản 景盛阮光 纘 (1792-1802) và các triều thần nhà Tây-sơn về làm lễ hiến phù ở thái miếu rồi đem ra pháp trường xử lăng trì, một hình phạt dã man nhất, hay cho voi giày (như bà Bùi-thị-Xuân 裴氏春 và con gái còn nhỏ tuổi), sai quật mả vua Thái-đức Nguyễn-Nhạc 泰德阮岳 và hoàng đế Quang-trung Nguyễn-Huệ lên, chặt đầu bỏ vào hũ giam ở ngục tối, còn thây thì đem vứt đi. Đây là một việc làm không tiền khoáng hậu trong lịch sử dân tộc Việt-nam và trái với chủ trương nhân ái 仁 愛, kiêm ái 兼愛 của Nho giáo.

Còn đối với các văn thần Tây-sơn đã đầu hàng thì Gia-long cho đem nọc đánh ở trước Văn miếu rồi thả cho về. Việc đánh đòn văn thần Tây-sơn được Gia-long trao cho Đặng-trần-Thường 鄧陳常, một nho sĩ, thi hành. Vì trước kia Thường đã có hiềm khích với Ngô-thời-Nhiệm, một nho sĩ được vua Quang-trung Nguyễn-Huệ sủng ái và tôn kính nhất, nên đã nhân cơ hội này sai người đánh chết Ngô-thời-Nhiệm.

Hành động của Gia-long rõ ràng là hành động trả thù cá nhân và chứng tỏ ông không chịu ảnh hưởng của nho sĩ, không trọng Nho học như các vua Hậu-Lê và Tây-sơn. Vì thế trong đời Gia-long nho sĩ hầu như không có quyền hành gì cả.

Chúng ta có thể kể thêm vài thí dụ về vai trò lu mờ của giai cấp nho sĩ đầu thời nhà Nguyễn.

Năm 1811, Gia-long sai Nguyễn-văn-Thành, một võ quan, làm tổng tài coi việc soạn một bộ luật mới cho nhà Nguyễn. Theo lệnh của nhà vua, các người soạn luật này phải tham chước bộ Quốc Triều Hình Luật của nhà Hậu-Lê là luật đang được áp dụng lúc đó và Đại Thanh Luật Lệ của Trung-quốc (được ban hành năm 1646 với tên gọi là Đại Thanh Luật; sau nhiều lần thay đổi đã trở thành nhất định năm 1740 với tên gọi mới là Đại Thanh Luật Lệ). Tuy nhiên, bộ luật của nhà Nguyễn, gọi là Hoàng Việt Luật Lệ (1815), đã không theo mấy những nguyên tắc của bộ luật của nhà Hậu-Lê, mà, trái lại, đã hầu như là sao y chính bản bộ Đại Thanh Luật Lệ [24]. Nguyễn-văn-Thành còn được trao trọng trách sửa lại quốc sử nữa.

Tại sao những việc quan trọng như vậy Gia-long không trao cho văn thần mà lại trao cho võ-tướng? Chắc chắn không phải vì đời Gia-long phe văn không có nhân tài mà chính vì các văn quan không được Gia-long tin dùng và các nho sĩ không có mấy ảnh hưởng đối với nhà vua cả.

Nói nho sĩ không có mấy ảnh hưởng không có nghĩa là họ hoàn toàn không có chút ảnh hưởng nào. Thực ra họ cũng có đôi chút.

Do ảnh hưởng của nho sĩ, Gia-long đã phong tước cho con cháu hai nhà Lê và Trịnh, cấp cho họ ruộng đất và cho dòng dõi hai họ ấy giữ việc thờ cúng tổ tiên.

Ngoài ra, công việc triều chính đại khái vẫn theo chế độ nhà Hậu-Lê, không có thay đổi quan trọng nào, ngoại trừ bỏ các chức Tham-tụng 參從, Bồi-tụng 陪從 (tức chức tể tướng 宰相 xưa) và trao phó mọi việc cho lục bộ chủ trương và lập đô sát viện 都察院 để giữ việc can gián vua và đàn hạch các quan.

Mặt khác, nhà vua cũng cho sửa sang lại phong tục, cấm dân gian không cho lấy việc thần Phật làm cớ ăn uống rượu chè, v.v. Đối với Nho giáo, nhà vua cũng có một vài hành động đáng kể, như cho lập Văn miếu ở các doanh các trấn, mở quốc tử giám ở kinh đô để dạy con các quan và sĩ tử, đặt chức đốc học ở các trấn, v.v.

Sau hết, nhà vua sai Binh bộ Thượng thư Lê-quang-Định 黎光定 làm sách Nhất Thống Địa Dư Chí 一統地輿志 (soạn xong năm 1806) trong đó kê cứu các sơn xuyên, đường xá, cầu quán, sông hồ, chợ búa, phong tục, thổ sản ở các trấn, các doanh trong nước.

Tới đời Minh-mệnh 明命 (tại vị năm 1820-1840) và Thiệu-trị 紹 治 (tạivị năm 1840-1847), vì hai vua đã được một số nho sĩ dạy bảo nên giai cấp nho sĩ mới phục hồi được một phần nào ảnh hưởng và công cuộc nho hóa Việt-nam mới lại chiếm được ưu thế một lần nữa.

Chế độ thi cử đã được sửa đổi. Từ đời Minh-mệnh có lệ cứ ba năm thi một lần và cũng từ đời này mới có tổ chức lại thi hội và thi đình.

Trong 20 năm đời Minh-mệnh có 6 khoá thi (trung bình hơn 3 năm một khóa) được tổ chức, nhưng sang tới đời Thiệu-trị chỉ có 7 năm mà lại có tới 5 khóa thi (ngót một năm rưỡi một khóa). Số tiến sĩ trong hai đời vua này đã tăng, từ 66 người dưới đời Minh-mệnh (trung bình 11 người một khóa) lên tới 79 người trong đời Thiệu-trị (trung bình 16 người một khóa). Nếu tính luôn cả 35 năm đời Tự-đức 嗣德 (tại vị năm 1848-1883) nữa, với 14 khóa thi (trung bình 2 năm rưỡi một khóa) và 205 người đậu tiến sĩ (trung bình 14 người một khóa), thì trong 63 năm của ba triều vua này đã có 25 khóa thi (trung bình 2 năm rưỡi một khóa) và tổng cộng 350 người được lấy đậu tiến sĩ (trung bình 14 người một khóa).

Bảng 2

Thống kê những người đậu tiến sĩ

trong khoảng thời gian 1820-1883

Niên đại Số năm Số khóa thi Số tiến sĩ Trung bình mỗi khóa
Minh-mệnh 20 6 66 11
Thiệu-trị 7 5 79 16
Tự-đức 35 14 205 15
Tổng cộng: 63 25 350 14

Tuy đây là một thực hiện đáng kể nhưng so với thời nhà Hậu-Lê thì vẫn chưa sánh bằng. Thực vậy, dưới thời nhà Hậu-Lê trong năm 1463-1514 (51 năm) có 18 khóa thi với 816 tiến sĩ (khoảng 45 người một khóa), hay trong năm 1518-1553 (35 năm) có 13 khóa thi với 330 tiến sĩ (khoảng 25 người một khóa). Nó chỉ có thể so sánh với thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, trong 54 năm, 1637-1691, có 19 khóa thi với 270 người được lấy đậu tiến sĩ (lối 14 người một khóa).

Xét về phương diện địa phương, từ đời Minh-mệnh trở đi, Nho học đã có một thế đứng khá vững ở Trung-bộ, gần ngang với Bắc-bộ, và bắt đầu lan xuống Nam-bộ.

Mặt khác, triều đình đã được cải tổ, đặt thêm các tự 寺, các viện 院, trong đó Nội các 內閣 và Cơ mật viện 機密院 đóng vai trò quan trọng hơn cả. Điểm đáng chú ý là Nội các thường xuyên có những liên lạc chặt chẽ với Hàn-lâm viện 翰林院. Hơn nữa, triều đình đã ấn định lại các phẩm cấp quan chế cùng là qui định lại cách tổ chức các cấp hành chính địa phương. Cũng giống đời Hồng-đức nhà Hậu-Lê, đời Minh-mệnh đã ấn định lại lương bổng và tiền dưỡng liễm của các quan chức.

Tuy nhiên, thành tựu đáng kể đời Minh-mệnh là các cố gắng về phương diện văn hóa theo chiều hướng của Nho giáo. Vốn là một người tinh thông Nho học và sùng đạo Khổng-Mạnh, Minh-mệnh đã trọng sự văn học.

Với quan niệm là đạo trị nước trước hết cần phải gây lấy nhân tài và vì nhận thấy sự học theo lối cử nghiệp thời đó là sai lầm, khiến cho nhân tài ngày một kém đi, nhà vua đã chấn chỉnh lại việc học hành, thi cử và trọng dụng các nho sĩ. Nhà vua cho các người đỗ hương cống 鄉貢 (tức đỗ cử nhân 舉人) vào làm hành tẩu 行走 (chức quan nhỏ, không có chuyên nhiệm) ở trong lục bộ để học tập việc chính trị, và còn cho mở quốc tử giám để các giám sinh 監生 được lương bổng ở ăn học.

Quốc sử quán 國史館 được lập trong đời Minh-mệnh để góp nhặt những dữ kiện, sự kiện dùng vào việc làm quốc sử, nhờ đó sau này đến đời Tự-đức các sử quan mới có tài liệu soạn hai bộ Đại Nam Thực Lục 大南實錄 và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục 欽定越史通鑑綱目 [25].

Ngoài ra, những người biên soạn sách vở mới hoặc tìm được sách cũ đều được tưởng lệ. Trong đời Minh-mệnh có nhiều sách giá trị được biên soạn, chẳng hạn: Gia-định Thông Chí 嘉定通志 và Minh Bột Di Hoán Văn Thảo 明渤遺渙文草 của Trịnh-hoài-Đức 鄭懷德, Bản Triều Ngọc Phả 本朝玉譜 và Kỷ Sự 紀事 của Hoàng-công-Tài 黃公才, Khai Quốc Công Nghiệp Diễn Chí 開國功業演志 của Cung-văn-Hi 龔 文曦, Minh Lương Khải Cáo Lục 明良啟告錄 của Nguyễn-đình-Chính 阮廷正, v.v.

Minh-mệnh còn ra lệnh cho các quan soạn hai bộ Liệt Thánh Thực Lục Tiền Biên 列聖實錄前編 và Khâm Định Tiễu Bình Lưỡng Kỳ Phỉ Khấu Phương Lược 欽定勦平兩圻匪寇方略, và chính nhà vua cũng tự soạn hai bộ Ngự Chế Tiễu Bình Nam-kỳ Tặc Khấu Thi Tập 御製勦平南圻賊寇詩集 và Ngự Chế Thi Tập 御製詩集.

Vì thấy trong nước vào cuối đời Minh-mệnh có lắm giạc giã (ngoài có quân xâm lăng Xiêm-la đánh vào, trong có các vụ nổi loạn của Lê-văn-Khôi 黎文悝, Lê-duy-Lương 黎維良, Nông-văn-Vân 農文 雲, Phan-bá-Vành 潘伯鑅, v.v.) nên phong hóa suy đồi, dân sự lắm người cờ bạc, rượu chè, mê hoặc theo tà giáo, còn các cường hào thì cậy thế hống hách, điêu toa chống quan trên, bắt nạt dân ngu, nên nhà vua đã soạn 10 điều huấn dụ để sửa đổi phong tục và nghiêm trị các kẻ làm bậy, làm càn. Các huấn dụ này mang nhiều ảnh hưởng của Nho giáo.

Về phương diện tinh thần, Minh-mệnh không ưa Thiên chúa giáo, cho là một tả đạo, lấy trời thánh ra mê hoặc lòng người, nên mới nghiêm cấm và trừng trị những người theo đạo này và không cho giáo sĩ Thiên chúa giáo ngoại quốc vào giảng đạo. Đó cũng là một trong những nguyên nhân sau này người Pháp và người Tây-ban-nha vin vào để thực hiện dã tâm xâm chiếm Việt-nam. Quyết định của nhà vua có thể hiểu được.

Nhà vua sùng đạo Khổng-Mạnh, lại được sự tán đồng của các nho sĩ, một giai cấp bắt đầu thịnh trở lại sau khi nhà vua lên ngôi. Mặt khác, xã hội Việt-nam, do ảnh hưởng của Nho giáo, đã được tổ chức trên căn bản tam cương ngũ thường 三綱五常 của Nho giáo. Từ vua quan đến dân đen ai ai cũng theo lý tưởng ấy, cho là hay, là phải, nên không thể chấp nhận bất cứ một tôn giáo nào đi ngược với căn bản ấy. Sự cấm đạo chỉ là sự đương nhiên.

Lại nữa, sự truyền bá Thiên chúa giáo lúc đó thường đi đôi với sự nổi loạn tại các địa phương và sự can thiệp trắng trợn vào nội bộ Việt-nam của người Pháp và người Tây-ban-nha khiến cho, dù không muốn, mọi người bắt buộc phải nghi ngờ thực tâm của giáo sĩ và tín đồ Thiên chúa giáo.

V. Giai Cấp Nho Sĩ Trong Thời Suy Vong (1848-1917): Đánh Mất Vai Trò Lãnh Đạo Quốc Gia Dân Tộc

Sự phục hồi của giai cấp nho sĩ trong đời Minh-mệnh chỉ như là một ngọn đèn lúc sắp tàn lụi, bùng lên một chút để rồi vĩnh viễn tắt hẳn. Sau khi Minh-mệnh qua đời, sự hưng thịnh của các nho sĩ cũng tàn dần.

Mặc dù con số các nho sĩ được lấy đậu tiến sĩ trong đời Thiệu-trị nhiều hơn trong đời Minh-mệnh, các nho sĩ không thể thi thố tài năng được mấy vì nhà vua không hay bày ra nhiều việc. Trong đời này, học hiệu, chế độ, thuế má, điều gì cũng theo như đời Minh-mệnh cả.

Tới đời Tự-đức, tuy nhà vua cũng là người tinh thông Nho học và cố gắng áp dụng giáo điều Khổng-Mạnh trong việc trị nước, nhưng thời đại này là thời đại khó khăn, trong nước lắm việc, nhất là phải chống đối với dã tâm xâm lăng của đế quốc Pháp. Các nho sĩ tuy có một số thanh liêm, trung liệt, nhưng con số đó lại ít và nhiều người không thức thời, không am hiểu tình thế mới. Lại nữa, thế lực của quốc gia lại quá kém hèn nên mọi cố gắng cải cách duy tân đều hỏng vì không kịp thời nữa.

Tự-đức hết sức trọng Nho học, chăm việc khoa giáp, cải tổ việc thi cử, đặt ra Nhã-sĩ khoa 雅士科 và Cát-sĩ khoa 吉士 科 để chọn người văn học ra làm quan. Do đó, như đã nói bên trên, trong 35 năm triều Tự-đức có tới 14 khóa thi, với trung bình hai năm rưỡi một khóa, và có tất cả 205 người được lấy đậu tiến sĩ hay khoảng 14 người một khóa. Nhà vua lại đặt ra Tập-hiền viện 集賢院 và Khai-kinh diên 開經延 để thường cùng các quan nói chuyện chính trị, bàn sách vở, làm thơ phú. Nhà vua đã làm ba tập Ngự Chế Thi Văn 御製詩詩文 in thành sách và còn làm một số sách chữ nôm để dạy dân, như Thập Điều 十條, Tự Học Diễn Ca 自學演歌, Luận Ngữ Diễn Ca 論語演歌,

v.v. Ngoài ra, như đã nói ở một đoạn bên trên, trong đời Tự-đức đã có hai bộ sử là Đại Nam Thực Lục và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục được biên soạn xong.

Ngoài các việc đáng kể trên, mọi việc cai trị nước đời Tự-đức không khác mấy hai đời Minh-mệnh và Thiệu-trị. Vai trò của nho sĩ vì vậy dần dần giảm đi và lu mờ rất nhiều.

Đáng chú ý là trong đời Tự-đức, một vài nho sĩ như Phan-thanh-Giản 潘清簡 được ủy thác trọng trách thương thuyết ngoại giao với người Pháp. Tuy nhiên, ở điểm này họ cũng không thành công. Trước sức tấn công như vũ như bão của người Âu-châu về quân sự, kỹ thuật và tôn giáo, các nho sĩ hầu như chịu bó tay. Họ không thể nào cứu vãn tình thế quốc gia được, chứ đừng nói là tiếp tục công cuộc nho hóa xã hội.

Sau khi Tự-đức qua đời, các vua khác liên tiếp hoặc bị đám quyền thần phế, giết hay bị chính quyền đô hộ Pháp (1862-1945) bắt đưa đi đày nên chỉ trị vì được từ dăm tháng đến vài năm thôi, chẳng hạn: Dục-đức 育德 (1883), Hiệp-hòa 協和 (1883), Kiến-phúc 建福 (1883-1884), Hàm-nghi 咸宜 (1885-1886), Đồng-khánh 同慶 (1886-1889), Thành-thái 成泰 (1889-1907), Duy-tân 維新 (1907-1916). Trong đời các vua đó, các nho sĩ đã chia làm hai phe: một phe chống Pháp và một phe hợp tác với họ.

Phe chống Pháp, chẳng hạn Phan-đình-Phùng 潘廷逢, Trần-Tấn 陳瑨, Hoàng-Diệu 黃耀, Đặng-như-Mai 鄧如梅, Nguyễn-tri-Phương 阮知方, Mai-xuân-Thưởng 枚春賞, Bùi-Điền 裴佃, Lê-Trực 黎直, Nguyễn-đức-Nhuận 阮德潤, Nguyễn-phạm-Tuân 阮范遵, v.v., tiêu biểu cho tinh thần Nho giáo. Dù họ rất yêu nước thương nòi, nhưng đa số có các quan niệm lỗi thời, thủ cựu, hẹp hòi.

Trái lại, trong các nho sĩ hợp tác với Pháp chỉ có một vài người thức thời, biết rằng thế lực của Việt-nam tuy có thể hùng cứ ở địa phương, nhưng không thể nào chống chọi lại Âu-tây với một nền văn minh cơ khí đã lên rất cao. Họ chỉ hy vọng là sự cộng tác của họ có thể đem lại an ninh, khai hóa cho người Việt. Tuy nhiên các nho sĩ này chỉ là một tối thiểu số, nên họ cũng chẳng làm gì giúp dân đỡ nước cả. Còn đại đa số nho sĩ theo Pháp, như Tôn-thọ-Tường 孫壽 祥, Tôn-thất-Bá 尊室伯, Nguyễn-hữu-Độ 阮有度, Phan-đình-Bình 潘廷評, Trần-bá-Lộc 陳伯祿, Nguyễn-Thân 阮紳, tất cả chỉ vì lợi ích cá nhân. Họ cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp, sẵn sàng bán đứng quốc gia dân tộc. Họ đã không từ bất cứ việc nào khiến cho họ có thể tâng công với chủ mới. Họ lại có quyền thế trong tay cho nên đã tận lực giết hại đồng bào và tàn sát các nho sĩ chống Pháp.

Sự phân rẽ của các nho sĩ báo hiệu sự cáo chung của giai cấp. Họ không còn đóng được một vai trò ảnh hưởng nào nữa và đã mất hết sự tín nhiệm của người dân, ngoại trừ những người chống lại Pháp còn giữ được một phần nào sự tin tưởng của người dân.

Các nho sĩ chống Pháp phải lo chiến đấu, bảo toàn sinh mệnh của mình và của đồng bọn nên đã không có cơ hội nào thực thi giáo điều của Nho giáo, dù họ vẫn mong muốn. Sự tồn vong của quốc gia và sinh tử của cá nhân họ quan trọng hơn sự nho hóa xã hội.

Ngược lại các nho sĩ theo Pháp tự biết rằng hành động của họ đi trái với chủ trương của Nho giáo nên càng không muốn xúc tiến công cuộc nho hóa quốc gia. Hơn thế nữa, họ cho rằng văn minh Việt-nam, và cả văn minh Trung-quốc, thua kém văn minh Âu-tây. Vì thế, họ đã nỗ lực tiếp tay vào công cuộc Pháp hóa xã hội vừa để làm vừa lòng quan thầy, vừa để tỏ ra mình cấp tiến, vừa để trục lợi. Họ tin rằng công của họ đối với người Pháp sẽ được quan thầy mới ban thưởng một địa vị mới, một danh vọng mới trong một trật tự mới. Do đó, họ càng cố gắng tận diệt các nho sĩ chống Pháp và cũng chống lại mọi nỗ lực nho hóa quốc gia.

Trong hoàn cảnh này, vai trò lãnh đạo quốc gia của nho sĩ dĩ nhiên phải cáo chung. Cùng với sự tan rã của giai cấp nho sĩ, nỗ lực nho hóa Việt-nam cũng chấm dứt luôn. Thay vào đó là một giai cấp mới, giai cấp trí thức Tây học, vớI một sứ mạng mới là Âu hóa nước Việt-nam.


Chú Thích Phần 4
[1] Tăng thống là chức quan phong cho vị sư mà triều đình coi là đứng đầu Phật giáo; tăng lục là chức quan trông coi Phật giáo dưới chức tăng thống; và sùng chân uy nghi là chức quan trông coi về Lão giáo.

[2] Thí dụ Lê-văn-Thịnh 黎文盛, thủ khoa khóa thi đầu tiên năm 1075, mới đầu được cho vào hầu vua Lý Nhân-tông 李仁宗 (1072-1127) học, sau thăng chức Binh bộ Thị lang 兵部侍郎, đến chức cuối cùng là Thái sư 太師.

[3] Nhà Trần rút kinh nghiệm chính họ đã đoạt ngôi vua nhà Hậu-Lý qua việc Trần-Cảnh (sau là vua Trần Thái-tông) lấy bà Lý Chiêu-hoàng . Xem thêm chú thích 5 bên dưới.

[4] Theo R.B. Smith, tuy nhường ngôi, các thái thượng hoàng nhà Trần vẫn giữ quyền bính trong tay ("The Cycle of Confucianization in Vietnam" trong Aspects of Vietnamese History do Walter F. Vella chủ biên, The University Press of Hawaii, Honolulu, 1973, tr. 7). Thực ra chỉ có vài vị lúc đầu còn cùng vua con trị vì với mục đích huấn luyện họ về mọi cách trị nước và để giữ cho anh em sau này không tranh giành nhau; còn đại đa số các thái thượng hoàng sau khi nhường

ngôi đã xuất gia đi tu. Vả lại, nếu quả thực các vị ấy vẫn nắm quyền bính trong tay, việc nhường ngôi sẽ trở nên vô nghĩa, vì nó biến các vua con kế vị thành bù nhìn, một việc không hề có dưới triều Trần. Nếu còn ham quyền các vị ấy có thể tiếp tục trị vì chứ không nhường ngôi cho con. Căn cứ vào sử sách, chúng ta thấy thái thượng hoàng chỉ can thiệp vào quốc sự khi vua con có những hành động xét ra có hại cho quốc gia thôi.

[5] Bà Lý Chiêu-hoàng sinh năm 1218, được vua Lý Huệ-tông nhường ngôi cho năm 1224, tại vị đến năm 1225, thì do mưu kế của Trần-thủ-Độ 陳守度, đã kết hôn vớI Trần-Cảnh 陳煚, rồi nhường lạI ngôi cho chồng, tức vua Trần Thái-tông. Vua Trân Thái-tông phong cho bà làm Chiêu-thánh hoàng hậu 昭聖皇后. Đến năm 1237 Trần-thủ-Độ ép vua Thái-tông bỏ bà vì lý do không có con (thực ra bà đã sinh một người con trai, tên Trần-Trịnh 陳鄭, năm 1233, nhưng vừa sinh ra đã chết ngay) để lấy chị ruột bà và đồng thờI cũng là chị dâu của vua là công chúa Thuận-thiên 順天公主, vợ của anh ruột vua là Hoài-vương Trần-Liễu 懷王陳柳 (phụ thân của Hưng-đạo vương Trần-quốc-Tuấn 興道王陳國峻), lúc đó đã có mang 3 tháng. Bà Chiêu-thánh bị giáng làm công chúa Chiêu-thánh, cho đến năm 1258 được vua Thái-tông gả cho ngự sử đại phu Lê-phụ-Trần 御史大夫黎 輔陳. Bà mất năm 1278.

[6] Smith, sđd., tr. 8.

[7] Không rõ họ tên và năm sinh, năm mất của Tuệ-trung thượng sĩ. Nhiều người (thí dụ: Thượng tọa Mật-thể trong sách Việt-nam Phật Giáo Sử Lược, sđd., tr. 153-156; Thích Thiện-ân trong sách Buddhism and Zen in Vietnam in Relation to the Development of Buddhism in Asia, Charles E. Tuttle, Rutland, Vermont & Tokyo, Japan, 1975, tr. 114-117) cho là Hưng-nhượng vương Trần-quốc-Tảng 興讓王陳國顙, con trai thứ của Hưng-đạo vương Trần-quốc-Tuấn và là nhạc phụ của vua Trần Anh-tông.

Eight Ball Khả năng của các tăng sĩ Phật giáo vào cuối đời Trần kém đến nỗi triều đình phải cho mở các kỳ thi khảo kinh nghĩa (năm 1321), thi sát hạch tăng chúng để được coi các cung, đền, chùa (năm 1396). Xem Thượng tọa Mật-thể, sđd., tr. 167.

[9] Việt-vương Tự Câu-tiễn (tại vị từ năm 505 hay 497 TCN đến năm 465 TCN) trong khi còn gian truân, nhất là lúc bị Ngô-vương Phù-Sai bắt giữ làm nô lệ ở nước Ngô, đã được nhiều công thần phò tá, quan trọng nhất là Phạm-Lãi 范蠡, Văn-Chủng 文種, nhưng sau khi diệt được nước Ngô, Tự Câu-tiễn đã giết họ hoặc bạc đãi họ.

[10] Từ 晟 có hai cách đọc: (a) thịnh (thừa chính thiết 承正切; thời chính thiết âm thịnh 時正切音盛); (b) thành (thời chinh thiết, âm thành 時征切音成; tư doanh thiết 咨盈切; thi doanh thiết, âm thành, canh vận 匙盈切音成庚韻). Tuy nhiên, người Việt-nam quen đọc là “thạnh”.

[11] Vì vậy tháng 8 năm Quí-sửu (1433) Lê-tư-Tề đã bị vua giáng xuống làm quận vương.

[12] Từ 屯 có hai cách đọc là truân (trư xuân thiết, âm truân, chân vận 豬春切音迍真韻) và đồn (đồ hồn thiết, âm đồn, nguyên vận 徒 魂切音 豚元韻) nên có tài liệu Việt-nam viết là Phạm-Đồn.

[13] Xem Lê-kim-Ngân, Tổ-chức Chính-quyền Trung-ương Dưới Triều Lê Thánh-tôn, Viện Sử học, Sài-gòn, 1963.

[14] Các điều giáo huấn này được tóm lược trong sách Việt-nam Sử Lược của Trần-trọng-Kim (q. I, tr. 258-260, ấn bản 1971 của Trung tâm Học liệu bộ Giáo dục, Sài-gòn; Sống MớI, Fort Smith, Arkansas, in lại, 1978).

[15] Vũ Cống là tên một thiên trong bộ Thượng Thư 尚書 (còn gọi là Thư Kinh 書經) của người Trung-quốc, nói về việc Tự Văn-mệnh 姒文 命 (sau này là vua Vũ 禹 hay Đại Vũ 大禹,tại vị năm 2205-2197 TCN, người khai sáng vương triều Hạ 夏, 2205-1766 TCN) trị nạn đại hồng thủy (kéo dài 23 năm, 2297-2274 TCN) và phân chia đất nước ra làm 9 châu. Vũ Cống là tài liệu địa dư đầu tiên của người Trung-quốc. Vì Dư Địa Chí của Nguyễn-Trãi cũng là tài liệu đầu tiên về địa dư nước Việt nên mới được gọi là An-nam Vũ Cống.

[16] Về thời điểm soạn thảo và ban hành các bộ luật này, xem Nguyễn-ngọc-Huy, Quốc Triều Hình Luật, Viet Publisher, không ghi nơi xuất bản, Quyển A, 1989, tr. 108-111 và 149-175.

[17] Theo Trần-văn-Giáp, từ năm 1465 đến đầu thế kỷ thứ 17 sử sách chỉ nói tới Phật giáo có một lần, đó là việc trùng tu một ngôi chùa vào năm 1498. Xem "Le Bouddhisme en Annam," trong Bulletin de l'Ecole Francaise d'Etrême-Orient, tập 32, năm 1932, tr. 191-268.

[18] Đó là việc làm sổ đinh. Làng nào phải đóng bao nhiêu suất đinh cứ theo như thế mà đóng mãi, có đẻ thêm ra cũng không kể, hay có chết đi cũng không được trừ. Phép bình lệ có cái lợi là người dân khỏi phải làm sổ và quan cũng không phải tra xét. Điều bất tiện là về sau số đinh hơn kém bao nhiêu, quan không sao biết được.

[19] Theo Đào-duy-Anh, trong đời Cảnh-hưng, tức đời vua Lê Hiển-tông, 1 lượng bạc giá 2 quan tiền quí, mà 1 quan tiền quí giá 60 đồng (Việt-nam Văn Hóa Sử Cương, Quan-hải tùng thư, Hà-nội, 1938; Bốn Phương, Sài-gòn, tái bản năm 1951; Sống Mới, Fort Smith, Arkansas, in lại theo bản tái bản, không đề năm in lại, tr. 97 và cước chú 2). Như vậy 600 quan = 36.000 đồng, 1800 quan = 108.000 đồng, 2.000 quan = 120.000 đồng.

[20] Mật-thể, sđd., tr. 183-184.

[21] Cũng như các nhà Tây học từ thế kỷ thứ 20 đã coi Pháp ngữ, và gần đây là Anh ngữ, là ngôn ngữ của giới thượng lưu trí thức. Họ đã coi khinh tiếng mẹ đẻ, luôn luôn nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, hoặc có nói tiếng mẹ đẻ thì cũng phải luôn mồm đệm thêm những câu, những từ tiếng Pháp, tiếng Anh. Thậm chí đến cả họ tên cũng phải đảo ngược theo kiểu Âu-Mỹ, dù là khi dùng với đồng bào. Ngay các sử gia, học giả, giáo sư hiện tại ở Việt-nam mỗi khi

viết gì, nói gì cũng phải cố đệm thêm một chữ, một từ ngoại ngữ, mặc dù trong Việt ngữ cũng có những từ diễn tả được hết những ý như chữ hay từ ngoại ngữ. Mặt khác, họ rất tôn sùng học thuật, tư tưởng, chính sách, vật dụng, v.v., của ngoại quốc mà quên đi văn hóa của quốc gia dân tộc, hoặc có nhớ thì cũng chỉ là để cho có cái mẽ thôi.

[22] Hoa-Bằng, "Thân Thế và Văn Nghiệp của Nhà Thi Hào Nguyễn-Du (1765-1820)",Tạp chí Tri tân, năm thứ 2, số 63, tuần lễ 9-15 tháng 9 năm1942 (chúng tôi quên mất số trang); Lê-xuân-Giáo, "Thân Thế, Sự Nghiệp và Tâm Tình của Nguyễn-Du," Văn Hiến, Los Angeles, California, số 1, tr. 18-42.

[23] Từ 浹 có hai cách đọc: thiếp (tức thiếp thiết, âm thiếp, diệp vận 即帖切音帖葉韻); (b) giáp (cát áp thiết, âm giáp, hiệp vận 吉押切音夾

洽韻). Tuy nhiên, người Việt-nam quen đọc tên ông Nguyễn-Thiếp là Nguyễn-Thiệp. Ở đây chúng tôi dùng tên Nguyễn-Thiệp để tránh độc giả bị bỡ ngỡ.

[24] John Quigley, giáo sư luật tại Ohio State University, đã nói về bộ luật này là “practically a carbon copy of the Chinese code of the period, that of China’s Ch’ing dynasty.” (Book Review, “The Lê Code: Law in Traditional Vietnam: A Comparative Sino-Vietnamese Legal Study with Historical-Juridical Analysis and Annotations”, by Nguyen-ngoc-Huy, Ta-van-Tai, with the cooperation of Tran-van-Liem”, đăng trong The American Journal of Comparative Law, tập 36, số 2, Xuân 1988, tr. 388).

[25] (a) Đại Nam Thực Lục: gồm hai phần, phần Tiền Biên 前編 soạn xong năm 1841, và phần Chính Biên 正編 soạn từ năm 1852 trở đi. (b) Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục: soạn từ năm 1856 đến năm 1859, kiểm duyệt năm 1871-1884, tiến trình và khắc in năm 1884.



Tác giả Tạ Quốc Tuấn
dunglac@gmail.com
Site Meter


Edited by user Friday, October 12, 2012 7:19:53 PM(UTC)  | Reason: Not specified

NNT  
#6 Posted : Friday, October 12, 2012 7:36:11 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,834
Man
Location: USA

Thanks: 1843 times
Was thanked: 3565 time(s) in 1883 post(s)

NHO SĨ VIỆT NAM (PHẦN 5)
Cuộc Tương Tàn của Giai Cấp Nho Sĩ Việt-nam Trong Hậu Bán Thế Kỷ Thứ 19
Tạ-quốc-Tuấn

http://www.dunglac.org/i...mp;v=detail&ia=10816


Phát súng đầu tiên của người Pháp bắn vào cửa bể Đà-nẵng năm 1847[1] chẳng những đã mở màn cho cuộc đô hộ của người Pháp kéo dài 83 năm (1862-1945) mà còn báo hiệu một cuộc tương tàn không tiền khoáng hậu trong lịch sử giai cấp nho sĩ Việt-nam. Cuộc tương tàn này còn đồng thời chấm dứt vai trò lãnh đạo của nho sĩ trong xã hội vì họ không còn được nhân dân tin tưởng và tín nhiệm như xưa nữa.


I. Tình Trạng Giai Cấp Nho Sĩ Trước Hậu Bán Thế Kỷ Thứ 19

Trong ngót tám trăm năm hiện diện trong xã hội Việt-nam, giai cấp nho sĩ tuy cũng phải trải qua nhiều cuộc thăng trầm cùng với vận nước và số mệnh của các triều đại trị vì, nhưng dù ở cấp bậc nào, địa vị nào, tham chính hay không tham chính, lúc nào họ cũng cố gắng tuân thủ những giáo điều của đạo Nho, chẳng những là đối với bản thân họ, đối với quốc gia dân tộc, mà còn cả đối với những người trong giai cấp, tức là đối với các nho sĩ khác nữa. Họ luôn luôn nêu cao gương sáng của đạo bằng cư xử, bằng hành động, bằng thái độ của họ.

Bên trong giới nho sĩ, họ đối đãi với nhau nếu không tương thân thì ít ra cũng tương kính. Tuy họ có thể khác nhau về ý kiến hay chính kiến, họ không hề có thái độ tận diệt nhau như vào hậu bán thế kỷ thứ 19. Nếu trong giới nho sĩ cùng tham chính cách đối đãi đường hoàng, thành thực bao nhiêu thì giữa các nho sĩ tham chính và nho sĩ không tham chính cách cư xử lại càng hết sức thẳng thắn, bao dung, quảng đại bấy nhiêu.

Tiêu chuẩn chi phối cách đối đãi, cư xử này là sự đồng môn, đồng khóa. Các người cùng học một trường, một thầy, một khóa với nhau thì đối đãi với nhau rất thân mật như anh em trong một nhà, bao giờ cũng che chở nhau, bênh vực nhau, nâng đỡ nhau. Nếu không cùng thày, cùng trường, cùng khóa thì cách đối đãi đặt trên căn bản kính trọng lẫn nhau. Người tham chính dù có thể giữ chức vụ cao trong triều đình bao giờ cũng kính nể, tôn trọng người không tham chính, nhất là khi người không tham chính có học vấn cao.

Nói tóm lại, cách đối đãi nhau của các nho sĩ đã lấy chữ "lễ " làm đầu, vì "lễ " chính là trọng-tâm của Khổng giáo. Bên cạnh "lễ " còn có tiêu chuẩn "nhân" nữa. "Nhân" khiến cho các nho-sĩ cư xử với nhau một cách quảng đại, bao dung, ngay cả khi bị làm cho nhau đau khổ. Trong văn chương Việt nam không thiếu gì giai thoại về nho sĩ này bị nho sĩ kia nhạo báng, chỉ trích, mà không trả thù hay giết hại. Nhiều lắm là họ chỉ đón nhận bằng cả một sự tha thứ, mặc dù người bị nhạo báng, chỉ trích có quyền hành trong tay.

Tình trạng này kéo dài ngót 8 thế kỷ. Ngay cả khi đất nước bị qua phân thành Nam-triều (nhà Lê, 1428-1788) và Bắc triều (nhà Mạc, 1553-1592) hay trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1788), các nho sĩ tùy chính kiến đã phục vụ các phe đối nghịch. Tuy nhiên, đối với nhau họ vẫn giữ được lễ và nhân. Nếu có thể được, họ cố trọng dụng nhau; còn nếu không thì cũng không làm hại nhau hay tàn sát nhau tận tình.


II. Cuộc Tương Tàn
Việc các nho sĩ tàn sát nhau bắt đầu từ lúc người Pháp xâm chiếm Việt-nam. Tuy nhiên, sự rạn nứt trong giai cấp nho sĩ bắt đầu sớm hơn nữa, ngay từ đầu đời Gia-long (1802-1819), mà điển hình là việc Đặng-trần-Thường cho đánh chết Ngô-thời-Nhiệm.

Khi nhà Tây-sơn (1788-1802) khởi nghĩa với mục đích cứu nước khỏi cảnh loạn ly do cuộc phân tranh Trịnh-Nguyễn gây ra, có hai nho sĩ hưởng ứng theo là Đặng-trần-Thường và Ngô-thời- Nhiệm. Tuy nhiên, chỉ có Ngô-thời-Nhiệm được trọng dụng. Đặng-trần-Thường tức giận, cho là vì có sự gièm pha của Ngô-thời-Nhiệm, nên bỏ vào Nam theo Nguyễn-Ánh chống lại Tây-sơn. VớI sự giúp đỡ của người Pháp, Nguyễn-Ánh sau khi đánh bại nhà Tây-sơn và lên ngôi vua, tức Gia-long, đã mang vua tôi Tây-sơn ra xử tội. Gia-long trao việc trừng phạt các văn thần Tây-sơn cho Đặng-trần-Thường.

Đối với các người khác, Thường theo lệnh Gia-long chỉ đánh đòn ở trước Văn-miếu ngoài Bắc-thành rồi tha cho về. Riêng đối với Ngô-thời-Nhiệm thì Thường sai người đánh chết[2]. Hành động của Thường không thể coi là một hành động riêng rẽ, cá nhân, một cuộc trả thù tư, mà phải đặt nó vào trong một khung cảnh lớn hơn. Chúng ta sẽ quay trở lại vấn đề này trong đoạn III, khi xét về các nguyên nhân đưa đến cuộc tương tàn.

Cuộc tàn sát lẫn nhau trong giai cấp nho sĩ chỉ bắt đầu thực sự bộc phát mạnh, công khai và hợp pháp, khi người Pháp đánh chiếm nước Việt-nam. Nói là công khai vì hành động tàn sát nho sĩ không còn dấu diếm nữa mà trở thành đương nhiên, với sự tham dự của chính triều đình Huế. Mặt khác, hành động tàn sát nho sĩ hợp pháp vì đã được triều đình nhà Nguyễn cho phép hay ra lệnh.

Thực vậy, với mục đích bành trướng lãnh thổ và khu vực ảnh hưởng, người Pháp từ giữa thế kỷ thứ 19 đã đem quân sang đánh chiếm các tỉnh của Việt-nam. Mới đầu triều đình đã chống lại cuộc xâm lược của Pháp và được sự ủng hộ của các nhóm văn thân, vốn là những tổ chức kháng chiến chống Pháp. Các nho sĩ quan lại nào không tán đồng việc chống Pháp thì vì muốn giữ nguyên chức vị và quyền lợi cá nhân cũng phải giữ im lặng, không dám làm một hành động phản kháng nào.

Tuy nhiên, sau khi hoà ước Patenôtre được ký năm Giáp-thân (1884) hoàn tất kế hoạch đô hộ Việt-nam của người Pháp và triều đình Huế phải chịu sự đô hộ của Pháp[3] thì các cuộc kháng chiến chống Pháp do các văn thân hay các nhóm người khác điều khiển đều bị triều đình Huế coi là phản nghịch và bị trừng trị.

Trong công cuộc đánh dẹp các nhóm kháng chiến này, người Pháp đã được sự giúp đỡ tích cực của các nho sĩ tay sai như Nguyễn-Thân, Tôn-thất-Bá, Nguyễn-hữu-Độ, Phan-đình-Bình, Trần-bá-Lộc, Nguyễn-trọng-Hợp, Hoàng-cao-Khải, v.v... Để tâng công với quan thầy mới, các nho sĩ tay sai của Pháp đã ra sức tận diệt các tổ chức kháng chiến và tìm đủ mọi cách để tàn sát các nho sĩ ái quốc chống Pháp. Ngay cả các nho sĩ văn thân đã chết rồi cũng bị họ quật mồ để trừng trị (ví dụ vụ Phan-đình-Phùng), y hệt như hành vi trả thù nhà Tây-sơn của Gia-long khi trước. Kết quả của cuộc tàn sát là mọi cuộc kháng chiến văn thân đều bị dẹp tan và giai cấp nho sĩ bị lung lay đến tận gốc rễ để không bao giờ có thể ngóc đầu lên được nữa.

Đành rằng những nho sĩ tay sai này đều do triều đình Huế bổ nhiệm cho nên họ có thể cho rằng hành động của họ hợp pháp. Thực ra, hành động đó chỉ nhằm phục vụ người Pháp, chứ không phải là vì quốc gia dân tộc. Các nho sĩ văn thân cùng các tổ chức kháng chiến khác không hề chống lại triều đình, mặc dù đó là một triều đình thối nát, ươn hèn, và nhất là họ không phản bội lại tổ quốc và đồng bào.

Đấy là chưa kể trong việc đàn áp các tổ chức văn thân kháng chiến các nho sĩ tay sai của Pháp đã có nhiều hành động quá đáng không xứng với tư cách môn đệ Khổng-Mạnh. Nghiên cứu các hành động của những người này, chúng ta thấy rõ bản chất tàn sát dã man của chúng và không sao tìm thấy một điểm nào có thể tiêu biểu cho hai đức tính "lễ " và "nhân" mà Khổng giáo đòi hỏi nơi người nho sĩ.

Các nho sĩ kháng Pháp không chống trả nổi các nho sĩ tay sai của Pháp bởi vì họ thiếu mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh, và kỹ thuật. Họ cũng không được sự ủng hộ hay tán trợ, dù là ngấm ngầm, của triều đình. Trong khi đó, các nho sĩ tay sai của Pháp có cả một hậu thuẫn hùng hậu là quân xâm lăng Pháp với kỹ thuật tân kỳ, phương tiện dồi dào, binh lực tinh nhuệ. Ngoài ra, họ còn được Nguyễn triều ra lệnh cho dẹp tan những cuộc kháng chiến này.

Chúng ta không phủ nhận là có vài vua Nguyễn cũng mang ý định chống Pháp, như Hàm-nghi, Thành-thái, Duy-tân (1907-1916). Tuy nhiên không có ông vua nào công khai ủng hộ các nho sĩ văn thân và các tổ chức kháng chiến, cũng như không có ai ra lệnh ngăn cấm các nho sĩ tay sai của Pháp chấm dứt việc tàn sát các nho sĩ ái quốc. Lý do này dễ hiểu. Từ sau hoà ước Patenôtre mọi quyền hành quốc gia Việt-nam đều nằm trong tay thực dân Pháp. Các vua Việt- nam chỉ là bù nhìn vô quyền. Do đó các nho sĩ tay sai của Pháp chỉ nghe lệnh của chủ Pháp, dù họ vẫn do triều đình Việt-nam bổ nhiệm hay thăng thưởng. Chính họ còn là người tâu báo với người Pháp âm mưu chống Pháp của các vị vua nói trên.

Một điểm khác đáng chú ý là vai trò của các quan võ Việt-nam. Nếu như trước khi người Pháp xâm chiếm Việt-nam các quan võ thường mang thái độ hiềm khích hoặc tranh chấp với các nho sĩ thì nay họ tỏ ra thân thiện, cộng tác, ủng hộ và nâng đỡ các nho sĩ văn thân. Phần lớn các cuộc nổi dạy chống Pháp do các nho sĩ văn thân khởi xướng đều được sự tán thành và tham gia của nhiều quan võ. Nếu gặp trường hợp không thể ủng hộ, tham gia trực tiếp được, các quan võ gián tiếp hay bí mật che chở phe kháng chiến. Hơn nữa, số các quan võ theo Pháp ít hơn các quan văn theo Pháp. Ngay cả những người phe võ theo Pháp này tuy phải dẹp các cuộc khởi nghĩa theo lệnh của Pháp, họ cũng không tàn sát nhiều và dữ dội cho bằng các nho sĩ tay sai của Pháp.

Nói tóm lại, cuộc bách hại các nho sĩ chống Pháp đúng là một cuộc tương tàn trong nội bộ giai cấp nho sĩ, chứ không thể gán cho một bản chất nào khác.


III. Các Nguyên Nhân Đưa Đến Cuộc Tương Tàn
Triều Nguyễn là vương triều đã chứng kiến cuộc tương tàn của giai cấp nho sĩ. Điều này không có gì là lạ. Đó là hậu quả các chính sách của vương triều này, những chính sách có thể nói là độc nhất vô nhị trong lịch sử dân tộc Việt-nam. Nói một cách khác, triều Nguyễn phải chịu trách nhiệm về cuộc tương tàn này.

Thực vậy, dấu hiệu của cuộc tương tàn chớm nở ngay từ đầu đời Gia-long, tuy không bộc phát như khi người Pháp đánh chiếm Việt-nam, nhưng là đầu mối của sự rạn nứt trong giai cấp nho sĩ.

Như đã nói ở đầu đoạn II bên trên, Gia-long tuy không trực tiếp ra lệnh tàn sát các nho sĩ, vì lúc đó chưa có việc Pháp xâm chiếm Việt-nam, nhưng đã làm nhiều hành động hạ phẩm giá con người, kể cả đối với những người đã chết, trái ngược với đạo đức Việt-nam và luân lý Khổng-Mạnh mà ông ta luôn luôn nói là phải duy trì và phát huy.

Thí dụ điển hình là việc Gia-long cho quật mả vua Thái-đức Nguyễn-Nhạc và hoàng đế Quang-trung Nguyễn-Huệ nhà Tây-sơn, chặt lấy đầu hai vị này bỏ vào chum giam ở ngục tối, còn thây thì đem vứt đi[4].

Trong ngót năm ngàn năm lịch sử Việt-nam, trong số 11 vương triều cai trị Việt-nam chỉ có Gia-long đã có hành động bỉ ổi này. Ngay cả việc Trần-thủ-Độ, sau khi cướp được ngai vàng nhà Hậu-Lý cho người cháu là Trần-Cảnh để sáng lập triều Trần, cũng chỉ làm áp lực khiến cho vua Lý Huệ-tông phải tự vẫn, chứ không có chặt đầu và liệng thây nhà vua. Ngược lại, ông còn cho tổ chức lễ an táng linh đình cho nhà vua. Theo quan niệm của người Việt-nam, người chết cần được tha thứ, dù lúc sinh thời người ấy đã làm nhiều tội ác. Kẻ chết là kẻ đáng thương chứ không đáng ghét. Trong khi đó, nhà Tây- sơn không có phạm tội bán nước cho ngoại bang, không rước ngoại bang vào giúp mình đoạt quyền, như Gia-long đã làm. Ngược lại, nhà Tây-sơn đã có công dẹp bỏ được nhà Trịnh, thống nhất quốc gia, nhất là công đánh bại quân Thanh do Lê Chiêu-thống 黎昭統 (tại vị năm 1787-1788) mời sang và quân Xiêm-la (nay gọi là Thái-lan) do Gia-long rước về, cả hai đều nhằm đoạt lại ngôi vị, là công rất lớn vì đã bảo vệ được lãnh thổ và nâng cao uy tín quốc gia, một việc Gia-long không làm được. Hành động của Gia-long không cách biện minh. Đó không phải là hành động của bậc vương giả, của người tự xưng là thiên tử, thế thiên hành đạo. Đạo trời là đạo bao dung, đạo cứu nhân, chứ không phải đạo trả thù, đạo sát nhân.

Đối với các triều-thần Tây-sơn khác, Gia-long cho xử lăng trì, một hình phạt dã man nhất trong lịch sử nhân loại vì tội nhân bị xẻo từng miếng thịt trên người cho đến chết, hay cho voi giày (trường hợp bà Bùi-thị-Xuân, nữ danh tướng nhà Tây-sơn, cùng con gái bà đã bị Gia-long cho chính con voi của bà giày xéo cho đến chết). Riêng các văn thần nho sĩ, như đã nói ở đầu đoạn II, Gia-long đã có hành động xỉ nhục và coi khinh giai cấp nho sĩ khi ông ra lệnh đã cho đánh đòn họ trước Văn miếu ở ngoài Bắc thành, mặc dù họ không có tội đối với quốc gia dân tộc. Tệ hơn nữa, ông còn gây ra sự chia rẽ trong giai cấp nho sĩ bằng cách trao việc trừng trị họ cho một nho sĩ theo ông là Đặng-trần-Thường để Thường có cơ hội cho đánh chết nho sĩ Ngô- thời-Nhiệm. Như vậy, mầm chia rẽ giai cấp nho sĩ bắt đầu được cấy từ Gia-long.

Cũng ở đoạn II chúng tôi đã nói rằng không thể coi vụ Đặng- trần-Thường giết Ngô-thời-Nhiệm là một vụ trả thù cá nhân như quan niệm của một số nhà viết sử. Trong một nước theo chế độ quân chủ tuyệt đối như Việt-nam thời nhà Nguyễn, một ông quan dù có thù sâu với một người, như trường hợp Đặng-trần-Thường đối với Ngô-thời- Nhiệm, cũng không dám to gan làm trái lệnh vua nếu không được vua cho phép, minh thị hay mặc thị. Ở đây chúng ta phải tin là Gia- long đã mặc thị cho phép Thường làm ngược lệnh của mình, bởi vì bằng chứng là sau khi giết Ngô-thờI-Nhiệm, Thường không hề bị Gia-long hỏi tội hay trừng phạt. Một sự vi lệnh quá rõ ràng như vậy không thể nào cho rằng Gia-long không biết.

Trong trường hợp này, Gia-long đã có hành động không phải của một chính nhân quân tử. Các ông vua trước Gia-long nếu không bằng lòng một nho sĩ nào thì chỉ cách chức, cho về vườn, không lưu dụng. Nếu họ có tội với quốc gia dân tộc hay chống lại mình thì chỉ cho xử tội sau khi đã trao cho đình thần nghị án. Chưa có ông vua nào đánh đòn công khai nho sĩ chỉ vì mỗi một tội là theo một vương triều khác, chứ không theo mình. Đấy là chưa kể việc trừng phạt những người này có tính cách máy móc và bất công vì họ không được xét xử công tội đối với quốc gia dân tộc gì cả. Nếu họ thực sự có tội thì chỉ là tội giúp nhà Tây-sơn chống lại ông mà thôi.

Hành động cho nho sĩ thi hành lệnh đánh đòn nho sĩ đã gây ra sự chia rẽ trầm trọng trong giai cấp nho sĩ, không sao hàn gắn được nữa. Đồng thời, nó còn tạo nên một tiền lệ nguy hiểm, khi sau này các vua con cháu của Gia-long đã bắt chước mà đào thêm hố sâu chia rẽ trong giai cấp nho sĩ bằng cách ra lệnh cho các nho sĩ tay sai của Pháp tàn sát, tận diệt nho sĩ chống Pháp.

Phát súng đầu tiên của thực dân Pháp bắn vào cửa bể Đà-nẵng đã mở màn cho việc giai cấp nho sĩ Việt-nam rạn nứt thành hai phe, phe chống Pháp và phe theo Pháp, kình chống nhau kịch liệt, một sống một còn.

Phe chống Pháp tiêu biểu cho nền văn hóa Lạc-Việt và cho tinh thần Nho giáo. Họ đã làm những gì mà lương tâm cũng như nền giáo dục đã đào luyện ra họ dạy họ phải làm. Họ chống Pháp bởi vì họ tin đó là một việc phải làm và có chính nghĩa. Họ không đếm xỉa đến hậu quả cho bản thân, không nghĩ tới quyền lợi cá nhân. Đó là đức tính "nghĩa", một trong năm đức tính Khổng giáo đã dạy (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín).

Ngược lại, phe theo Pháp có lẽ vì tin rằng Việt-nam quá suy yếu, không thể nào chống cự lại Pháp được, cho nên tốt nhất là chấp nhận sự đô hộ của người Pháp để được sống yên ổn. Họ phần nhiều theo Pháp vì mưu lợi ích cá nhân, tuy cũng có vài người thức thời, như Trương-vĩnh-Ký (Petrus Ký). Họ cũng quan niệm là vì lòng trung quân, họ phải theo chính sách của triều đình, bất kể chính sách đó đúng hay sai, mà chính sách của Nguyễn triều khi đó là đầu hàng và thần phục Pháp. Vì vậy, họ cho rằng kẻ nào không theo chính sách của triều đình là phản quốc. Đối với họ, "quốc" chính là ông vua đang ngồi trên ngai vàng, dù là do thực dân Pháp đặt ngồi ở đó. Với quan niệm này, họ chủ trương là những người chống lại chính sách đầu hàng và thần phục Pháp của Nguyễn triều đều đáng tội chết, trời đất không dung tha, ai cũng có quyền giết. Họ đã không ngần ngại thực hiện sự tin tưởng đó, nhất là họ còn được sự tán đồng của Nguyễn triều và sự chấp thuận với đầy hứa hẹn cho quyền lợi cá nhân của thực dân Pháp.

Cũng cần phải kể thêm một nguyên nhân nữa cho việc các nho sĩ tay sai của Pháp tàn sát các nho sĩ chống Pháp: đó là lòng đố kỵ của các nho sĩ tay sai. Họ thấy các nho sĩ chống Pháp đã lãnh đạo được nhân dân, đã được đại đa số nhân dân ủng hộ. Trong khi đó, triều đình và các nho sĩ theo Pháp mất dần ảnh hưởng đối với dân chúng. Người dân phải tuân lệnh triều đình và các nho sĩ tay sai của Pháp vì sợ uy quyền và bạo lực của nhóm này, chứ không phải do lòng kính mến, khâm phục. Do đó, vì đố kỵ, các nho sĩ tay sai của Pháp phải ra sức tận diệt các nho sĩ chống Pháp với mục đích tranh giành ảnh hưởng.


IV. Hậu Quả của Cuộc Tương Tàn

Việc nho sĩ tàn sát nho sĩ đã làm tan vỡ giai cấp nho sĩ, đồng thời khiến nhân dân mất hết tín nhiệm và không còn tin tưởng nơi họ nói riêng và giai cấp lãnh đạo quốc gia nói chung.

Trong ngót tám thế kỷ, từ khi có khóa thi đầu tiên để tuyển chọn người có khả năng phục vụ trong các cơ quan cai trị quốc gia, giai cấp nho sĩ đã đóng một vai trò rất quan trọng tại Việt-nam. Họ tạo nên một lớp người lãnh đạo quốc gia qua các triều đại. Dù muốn dù không, họ là những người tinh thông Khổng học; trong khi đó tổ chức quốc gia ở bất cứ địa hạt nào từ sau khi Việt-nam giành lại được độc lập năm 939 lại theo khuôn mẫu Trung-quốc, vốn được tổ chức theo ý thức hệ Khổng giáo. Mặt khác, công cuộc tuyển chọn những người tài năng đều dựa vào phương thức thi cử, một phương thức nặng tính chất Khổng học, với bài vở đề thi đều dựa trên kinh sách của Khổng học.

Do đó, ngay ở các thời kỳ phe võ được ưu đãi, các nho sĩ vẫn giữ các chức vụ quan trọng (dù không được ở cấp hoạch định chính sách) trong guồng máy hành chính quốc gia ở các cấp, trung ương cũng như địa phương. Điều này cũng dễ hiểu. Tại Việt nam trước thời Pháp thuộc, các quan võ đều được tuyển chọn trong những người chỉ tinh thông võ nghệ, chiến lược. Thỉnh thoảng mới có người văn võ toàn tài hay tinh thông cả kinh điển Nho học lẫn võ kinh.

Mặt khác, trong việc trị nước, các nho sĩ tham chính được sự phụ giúp đắc lực, dù là gián tiếp hay mặc thị, của các nho sĩ không tham chính. Vì cùng được đúc trong một khuôn chung, khuôn Khổng- Mạnh, các nho sĩ tham chính và không tham chính đã hỗ trợ nhau để dìu dắt quốc gia theo một chiều hướng do Khổng giáo vạch sẵn. Chính sách quốc gia vì thế được ổn định.

Thực vậy, vì cùng học chung các sách như nhau, được giảng dạy các tín điều như nhau, được huấn luyện về các phương thức giải quyết các vấn đề quốc gia xã hội như nhau, họ có một lối nhìn vấn đề như nhau và, khi cần, có phản ứng như nhau. Vì thế, dù tham chính hay không tham chính, các nho sĩ đều theo một chủ trương giống nhau: chủ trương của Khổng học. Nếu họ có khác nhau thì chỉ ở điểm cần nhấn mạnh phương diện nào của học thuyết Khổng-Mạnh mà thôi. Cũng vì lý do này, mọi sự thuyên chuyển nhân viên cũng như thay đổi vương triều đều không gây xáo trộn hay khoảng trống chính trị trong quốc gia.

Sự ổn định và liên tục của chính sách quốc gia đã tạo nên sự tin tưởng và tín nhiệm của nhân dân vào giai cấp lãnh đạo quốc gia. Thêm vào đó, việc các nho sĩ cư xử với nhau một cách tương thân tương kính, dù họ ở trong hay ngoài chính quyền, dù có những ý kiến, những chủ trương trái nghịch nhau, cũng đã làm cho nhân dân tín nhiệm họ và lấy họ làm gương mẫu xử thế. Sự tin tưởng và tín nhiệm này đã nâng cao địa vị của nho sĩ, xếp họ vào hàng thứ hai trong trật tự xã hộI (quân sư phụ), chỉ sau có vua thôi.

Nay với việc tàn sát nhau của giai cấp nho sĩ, sự tin tưởng và tín nhiệm đó không còn nữa.

Trước hết, việc tàn sát đó đã khiến cho chính sách quốc gia mất sự ổn định vững bền. Triều đình cũng không biết phải theo chiều hướng nào: theo phe chống Pháp hay theo phe thần phục Pháp? nên hay không nên diệt trừ những người chống Pháp? quốc gia nên tiếp tục con đường văn minh nhân bản cố hữu của Khổng học hay đi theo con đường văn minh vật chất cơ khí và phi nhân bản của Âu Tây?, v.v... Sự không ổn định của chính sách còn trầm trọng hơn khi người nho sĩ được ưu đãi hôm nay có thể biến thành kẻ phản nghịch tử thù ngày mai, và cũng có thể là một nho sĩ này bị mất đi được thay thế bằng một nho sĩ có khuynh hướng hay tư tưởng hoàn toàn khác hẳn nền tảng hiện hữu quốc gia, làm mất đi sự liên tục của chính sách.

Sự tàn sát nhau của các nho sĩ còn cho thấy rõ là những giáo điều của Khổng học đã không được các nho sĩ, ít nhất là các nho sĩ theo Pháp, tuân giữ. Người dân đâm ra nghi ngờ giá trị của những giáo điều đó. Nếu những giáo điều Khổng-Mạnh thực sự có giá trị thì đã được mọi nho sĩ tuân theo, còn đâu có cảnh chém giết nhau mà quên đi những lời thày dạy cũng như những gì mà các nho sĩ vẫn giảng dạy cho nhân dân. Từ sự nghi ngờ này đến sự mất tin tưởng và mất tín nhiệm không cách nhau bao xa. Lại nữa, vì các nho sĩ chính là những người lãnh đạo quốc gia, cho nên sự mất tin tưởng, mất tín nhiệm của nhân dân đối với nho sĩ đã lan rộng mà bao gồm luôn cả toàn thể giới lãnh đạo quốc gia nữa.

Đó là tình trạng chúng ta thấy xuất hiện từ đầu thế kỳ thứ 20 cho tới hiện tại, dù ngày nay các nho sĩ Khổng-Mạnh đã được thay thế bằng các trí thức Tây học. Rất ít người trí thức Tây học được toàn dân kính nể, mến chuộng, khâm phục, nhất là khi đại đa số các nhà trí thức Tây học đã đánh mất căn bản gốc rễ Việt-nam của mình; đã say mê danh vọng, quyền lợi cá nhân đến nỗi càng ngày càng xa lánh nhân dân; đã đem thân làm nô lệ cho ngoại bang, dù là ngoại bang phương Đông hay là ngoại bang phương Tây.

Nói tóm lại khi người Pháp bắn phá cửa bể Đà-nẵng năm 1847 họ đã chôn vùi giai cấp nho sĩ Việt-nam, dù là chôn vùi gián tiếp qua cuộc tương tàn của giai cấp này.


Chú Thích Phần 5
[1] Biến cố này xảy ra khi chính quyền Pháp sai đại tá De Lapierre và trung tá Rigault de Genouilly đem hai chiến thuyền vào Đà-nẵng để điều đình với triều đình Huế xin bãi bỏ chỉ dụ cấm đạo Thiên-chúa đang được thi hành do lệnh của vua Thiệu-trị và xin cho người Việt-nam được tự do theo đạo. Lúc hai bên còn đang thương nghị, người Pháp thấy thuyền của Việt-nam ra đóng gần tàu Pháp và ở trên bờ thì quân Việt-nam đang sắp sửa đồn luỹ mới nghi ngờ bèn bắn đắm các

thuyền của Việt-nam rồi nhổ neo kéo buồm ra khơi. Xem Trần-trọng-Kim, Việt-nam Sử Lược, Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục, Sài-gòn, 1971, Sống Mới, Fort Smith, Arkansas, in lại, 1978, q. II, tr. 233-234 (viết tắt: VNSL).

[2] VNSL, II, tr. 170. Cũng nên nhắc là sau này vì nhiều sự gian lận và vì có hiềm khích với Lê-Chất 黎質, Đặng-trần-Thường đã bị Lê-Chất tố cáo mà bị xử giảo. VNSL, II, tr. 183.

[3] Hoà ước đầu tiên đặt nền đô hộ Pháp là hòa ước năm 1862, kế tiếp là các hòa ước năm 1873, 1883, và 1884.

[4] VNSL, II, tr. 170.

Tác giả Tạ Quốc Tuấn
dunglac@gmail.com
Site Meter

NNT  
#7 Posted : Friday, October 12, 2012 7:42:38 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,834
Man
Location: USA

Thanks: 1843 times
Was thanked: 3565 time(s) in 1883 post(s)
NHO SĨ VIỆT NAM (PHẦN 6, HẾT)
Kết Luận
Tạ-quốc-Tuấn

http://www.dunglac.org/i...mp;v=detail&ia=10846


Trong ngót một ngàn năm lịch-sử của giai cấp nho sĩ Việt-nam, chúng ta đã chứng kiến các nỗ lực của họ cố thực hiện giáo lý của đạo Khổng-Mạnh theo chiều hướng nho hóa xã hội Việt-nam. Trong sứ mạng này họ không hoàn toàn thành công. Xã hội Việt-nam không hoàn toàn cải biến thành một quốc gia Khổng giáo. Sở dĩ như vậy một phần vì sức mạnh của văn hóa Lạc-Việt thuần túy quốc gia, một phần vì hoàn cảnh lịch sử, và một phần tại chính các nho sĩ.

Trước khi người Trung-quốc đô hộ Việt-nam và du nhập văn hóa của họ, Việt-nam đã có một nền văn hóa riêng biệt. Nền văn hóa ấy đã đạt tới một trình độ tiến bộ rất cao như được chứng tỏ về nhiều phương diện:

1. Về phương diện vật chất: lúa ruộng nước; đũa ăn cơm; đóng thuyền và đi thuyền; cung và nỏ; nhà sàn; nhất là trống đồng.

2. Về phương diện tinh thần: quan niệm con người ngang hàng với trời và đất, tín ngưỡng dân tộc (thờ cúng tổ tiên trong khuôn khổ gia đình, thờ thành hoàng trong lĩnh vực cộng đồng, thờ anh hùng liệt nữ trên bình diện quốc gia).

3. Về phương diện xã hội và chính trị: bình đẳng giữa con người với con ngườI không phân biệt giai cấp; bình sản và không phân biệt chủ nô; nam nữ bình đẳng, người nữ có địa vị cao và nhiều tự do; xã thôn tự trị, v.v.

Để xóa bỏ nền văn hóa đó với dụng ý làm người Việt quên hết nguồn gốc của mình để khỏi nổi dạy chống đối họ, nhà cầm quyền đô hộ Trung-quốc đã bắt ép người Việt phải học tập văn hóa Trung-quốc. Sau này khi nước Việt đã giành lại được độc lập, văn hóa Trung-quốc vẫn tiếp tục có ảnh hưởng và ảnh hưởng đó càng ngày càng trở nên sâu đậm. Tuy nhiên, vì gốc văn hóa chính là văn hóa Lạc-Việt, vẫn còn mạnh nên dù có đón nhận văn hóa Trung-quốc, người Việt cũng chỉ đón nhận một phần nào thôi, dù phần đó rất lớn, và có nhiều khía cạnh văn hóa Trung-quốc không được người Việt theo.

Mặt khác, lịch sử Việt nam là lịch sử của ngót 5.000 năm chống nội loạn và ngoại xâm. Hầu như không có thế kỷ nào lại không có giặc giã, binh biến.

Trong hoàn cảnh ấy, dù muốn dù không, vai trò của phe võ rất quan trọng thiết yếu. Ngoại trừ vua Hùng đầu tiên không rõ được tôn vương trong trường hợp nào, đại đa-số các vị vua sáng lập các vương triều đều xuất thân từ phái võ hoặc được phái võ ủng hộ tôn lên ngai vàng. Do đó, phần lớn các vị này dễ nghe, dễ tin theo các võ quan nhiều hơn. Các vua con cháu kế nghiệp cũng vậy: tuy thụ huấn các văn quan nho sĩ, rất ít người có tài hay có nghị lực để nghiêng hẳn về phía các văn quan nho sĩ. Vì vậy trong bất cứ thời nào, ở Việt-nam ảnh hưởng của phe võ cũng rất mạnh và nhiều khi còn lấn át cả phe văn nữa.

Ngoài phe võ ra, các nho sĩ Việt-nam phải luôn luôn đương đầu với ảnh hưởng của Phật giáo, một lực lượng hùng mạnh cho tới đầu thế kỷ thứ 20.

So với Nho giáo, Phật giáo đã được truyền giảng ở Việt-nam sớm hơn [1] và từ lâu đã tạo nên một ảnh hưởng sâu rộng, cả về phương diện chính trị, nhất là trong thời các nhà Đinh, Tiền-Lê, Hậu-Lý, Trần. Điểm đáng chú ý là ngay cả khi Nho-giáo đã chiếm ngôi vị độc tôn trong các chương trình giáo dục và thi cử ở Việt-nam, Phật giáo vẫn có ảnh hưởng mạnh, nhất là dưới các triều có nhiều loạn lạc, chẳng hạn trong thời Trịnh-Nguyễn phân-tranh. Chỉ mãi đến khi người Pháp đặt được nền đô hộ ở Việt-nam thì vai trò của Phật giáo mới bị lu mờ, nhường chỗ cho một tôn giáo mới: Thiên chúa giáo.

Thiên chúa giáo được truyền giảng ở Việt-nam từ thế kỷ thứ 16, vào thời Trịnh-Nguyễn phân tranh. Trong hai thế kỷ đầu, đạo này chưa đóng được một vai trò đáng kể nào vì hãy còn ở trong thời phôi thai, mặc dù đã có những tín đồ quan trọng như vợ chúa hay quan triều thần trong phủ chúa Nguyễn. Phải tới cuối thế kỷ thứ 18, khi Nguyễn-Ánh vì nhu cầu phục hồi quyền lực của chúa Nguyễn đã trọng dụng một số tu sĩ truyền giáo Pháp, đặc biệt là giám mục Bá-đa-lộc (Pigneau de Béhaine), Thiên chúa giáo mới có ảnh-hưởng quan trọng có thể tranh giành ảnh hưởng với Phật giáo.

Nếu như trong cuộc tranh giành giữa Nho giáo và Phật giáo, các nho sĩ thường đắc thắng, trong cuộc tranh giành với Thiên chúa giáo họ đã hoàn toàn thất bại, mặc dù đã được sự ủng hộ hay tán thành của các vua chúa. Cuối cùng họ bị thay thế bằng lớp người Tây học (trực tiếp cũng như gián tiếp chịu ảnh hưởng của giáo dục Thiên chúa giáo) đầu thế kỷ thứ 20.

Tuy nhiên, sự suy vong của giai cấp nho sĩ chính do họ tự tạo ra.

Họ đã quá cố chấp, coi những lời giảng dạy, giáo lý của học phái Khổng-Mạnh như khuôn vàng thước ngọc bất di bất dịch, như thánh kinh, tuyệt đối không thể sai lầm được. Vì thế họ đã hoàn toàn bác bỏ những gì trái nghịch với chủ thuyết, chủ trương, giáo lý đạo Khổng-Mạnh. Từ đó họ sinh ra có đầu óc bảo thủ.

Họ đã bác bỏ những đề nghị cải cách nào mà theo quan điểm của họ không thích hợp với giáo lý Khổng-Mạnh, dù những đề nghị này hợp lý và có thể thực hiện được, dù chúng có thể thúc đẩy quốc gia dân tộc theo kịp đà tiến triển của các quốc gia dân tộc khác. Họ đã quá coi trọng văn minh văn hóa Trung-quốc cho là tuyệt hảo đáng bắt chước. Một thí dụ điển hình, như đã nói ở phần 4, là bộ Hoàng Việt Luật Lệ của triều Nguyễn đã hầu như là sao y chính bản bộ Đại Thanh Luật Lệ của Trung-quốc vì các luật lệ trong đó là luật lệ Trung-quốc chứ không phải Việt-nam, không thích hợp với người Việt-nam chút nào, không còn giữ được chút nào những đặc trưng của văn hóa Lạc-Việt. Với bộ luật này, ngành luật học Việt-nam đã thụt lùi một bước rất dài so với nhũng thành tựu của bộ Quốc Triều Hình Luật của nhà Hậu-Lê.

Cũng vì đầu óc bảo thủ họ không chịu chấp nhận các nền văn hóa khác vì cho là thấp kém hơn văn hóa Trung-quốc. Họ đã mãn nguyện với hiện trạng của quốc gia, mặc dù đó là một tình trạng trì trệ cả về vật chất lẫn tinh thần, từ kinh tế tài chính đến giáo dục thi cử.

Mặt khác, các nho sĩ tham chính lại hết lòng xu phụ nhà Nguyễn, một triều đại ươn hèn thối nát, vọng ngoại, đã có những chính sách phản lại quyền lợi của quốc gia dân tộc. Rất nhiều người (Nguyễn-Du là một điển hình) đầu óc quá hẹp hòi, khư khư ôm lấy giáo điều quá ư lạc hậu và thiển cận "trung thần bất sự nhị quân", đồng hóa vua với quốc gia, để rồi luôn luôn vọng tưởng đến nhà Hậu-Lê mà họ cho là chính triều, không chịu hợp tác với nhà Tây-sơn, một ngụy triều thoán nghịch trong con mắt của họ, mặc dù Tây-sơn đã có công, trong thì diệt được nhà Trịnh tiếm quyền bạo ngược và ngoài thì phá tan mưu đồ của nhà Mãn-Thanh Trung-quốc muốn thôn tính nước Việt cùng là bẻ gẫy cuộc xâm lăng của Xiêm-la do Nguyễn-Ánh rước về, nhưng cuối cùng lại vẫn cúi đầu thờ phụng nhà Nguyễn, dù là thờ phụng một cách miễn cưỡng (như là thái độ của Nguyễn-Du).

Mặt khác, các nho sĩ tham chính vốn từ xưa đến nay vẫn sống xa nhân dân nay lại càng xa cách nhân dân hơn nữa. Họ không quan tâm đến nguyện vọng, đến sự sống còn của nhân dân, mà chỉ biết kiếm lợi cho vương triều đang cai trị cùng thủ tư lợi.

Kịp khi người Pháp xâm chiếm Việt-nam, đại đa số nho sĩ tham chính quay ra thờ lạy quan thầy mới, sẵn lòng làm tay sai cho thực dân Pháp làm hại đồng bào. Không gì nhục nhã cho bằng, thí dụ, cảnh những quan chánh án Việt-nam, vốn là những nho sĩ xuất thân và do triều đình Việt-nam bổ nhiệm, trước ngày tòa xử một vụ hình hay hộ chẳng có liên quan gì đến người Pháp, những người được biệt đãi như người Pháp (tức là những người Âu, Mỹ), hay những người được đồng hóa với người Pháp (tức là những Hoa kiều ở Việt-nam), lại phải ôm hồ sơ đến tòa Công sứ Pháp, đại diện của chính phủ Pháp ở cấp tỉnh, xin chỉ thị về vụ án sắp xét xử.

Núp sau chiêu bài canh tân xã hội họ đã tiếp tay với các quan thầy Pháp, ra sức đập tan văn hóa Việt-nam để thay bằng văn hóa Âu-tây. Họ hết lòng ca ngợi, tán tụng văn hóa và văn minh Pháp mà chỉ trước đó ít lâu họ đã thẳng tay bác bỏ.

Tuy nhiên, trong lúc hăng say thi hành chính sách của thực dân Pháp họ đã vô tình tự chôn sống mình. Chỉ ít lâu sau khi thống trị nước Việt-nam, người Pháp đã dẹp bỏ hệ thống giáo dục thi cử cố hữu, vốn là nền tảng của sự sinh tồn của giai cấp nho sĩ Việt-nam, thay bằng hệ thống giáo dục và thi cử Pháp, mở đầu cho sự hình thành một giai cấp mới: giai cấp trí thức Tây học. Giai cấp nho sĩ Việt-nam đã cáo chung từ đó.


Chú Thích Phần 6
[1] Xem Mai-thọ-Truyền, "Le Bouddhisme au Viet-nam," trong Présence du Bouddhisme, France-Asie, Sài-gòn, tháng 2-6.1958, tr. 801-810.

Tác giả Tạ Quốc Tuấn
Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.