Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

91 Pages«<4445464748>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#901 Posted : Wednesday, February 9, 2011 10:56:49 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
MÈO TRONG KHOA HỌC- ĐỜI SỐNG -THI CA
Nguyễn Quý Đại


03 tháng 02 năm 2011

Theo Âm lịch Tết cổ truyền Việt Nam năm nay là ngày thứ Năm 03.02.2011 thuộc chi Mão, mèo đứng thứ 4 trong 12 con giáp. Mười hai con giáp xuất hiện trong Bát quái của Kinh dịch, lịch Tàu họ chọn Thỏ, nhưng người Việt chọn mèo vì nó gần với đời sống Văn hóa Việt Nam. Mèo dịu dàng dễ thương như chó, nhưng mèo được thuần hóa sau cùng.

Những nhà Khảo cổ học nghiên cứu dòng họ nhà mèo có từ thời tiền sử hàng triệu năm, đã hóa thạch từng tìm thấy ở các Châu lục. Mèo rừng (Wildkatze/ Forest cat) ở Phi Châu tên khoa học (Felis Silestris lybica), được thuần hóa trở nên mèo nhà (Hauskatze) tên khoa học (Felis Silestris Catus). Thời cổ đại người Ai Cập (Agypten) thuần hóa mèo khoảng 6000 năm trước Công nguyên (viết tắt TCN), tuy nhiên người ta cũng tìm thấy răng xương mèo khoảng 9000 năm TCN trong ngôi mộ cổ ở Jericho Isarel, ở đảo Zypern 5000 năm TCN và thung lũng Indus Harppa 4000 năm TCN. Thời cổ đại thuần hóa mèo vì chuột cắn phá mùa màn, mèo bắt chuột bảo vệ thực phẩm và săn các loại rắn độc nguy hiểm như Kobras và Vipern, từ đó mèo gắn liền với đời sống con người.
Nguồn gốc của mèo

Mèo thuộc bộ ăn thịt (carnivore) cùng họ Felidea, các thành viên cùng họ với mèo to lớn (Pantherinae) như: Leopard (Panthera pardus); Gepard (Acinonyx jubatus); Löwe (Panthera leo ) đều ở Phi Châu. Jaguar (Panthera onca) ở Nam Mỹ; Nebelparder (Neofelis nebulosa) sống ở Nepal và Tiger (Panthera tigris) sống vùng nhiệt đới.

Các loại mèo nhỏ (Felinae) ở Mỹ Châu (kleinkatzen Amerikas): Rotluchs/ Bobcat (Felis lynx rufus) và Ozelot/Ocelot (Felis pardalis) thường ngủ ngày ở Nam Mỹ; Kanadischer Luchs/ Canadian lynx (Felis lynx candenis) và Puma (Felis conolor) sống ở miền Nam Canada; Baumozelot (Felis wiedi) loại đuôi dài ở Mexiko đến Argentinien; Bergkatze (Felis jacobita) sống ở Nam Mỹ trên núi cao 5000m. Tiegerkatze (Felis tigrinus) ở Costa Rica và Kleinfleckkatze (Felis geoffroyi) ở Brasilien, Bolivien; Chilenische Waldkatze (Felis guigna)

Loại mèo ở Âu Châu và Á Châu. Schottische Wildkatze (Felis silvesstris grampia) loại đuôi ngắn ở Anh Quốc, Spanische Wildkatze (felis sivestris iberica) và europäische Wildkatze (felis silvestris europaca); Ở Ấn Độ Indische Steppenkatze (Felis silvestris ornate), Rostkatze (Felis prionailurus rubiginosus), Iromote Katze (Felis prinailurus iromotensis) bắt chim cua ở các đảo của Nhật, Fischkatze (Felis prinailurus vierrimus) ở Silanka và Trung Hoa bắt cá và rắn, Luchs (Felis lynx) tai dài ở Sibirien, Manul (Felis manul) tai nhỏ phủ đầy lông ở Iran…
Mèo nhà

Chúng ta có thể phân biệt được mèo nhà và mèo rừng, mèo nhà bộ lông thay đổi nhiều màu sắc, mèo rừng không giấu phân, nhưng mèo nhà thường tìm chổ kín để phóng uế, nên tục ngữ có câu “giấu như mèo giấu ***”. Các nhà khoa học khám phá ruột của mèo nhà dài hơn mèo rừng, bộ óc nhỏ hơn 30% vì ảnh hưởng đời sống và thực phẩm mèo nhà nhỏ con, xương mặt rộng và mõm ngắn , cấu tạo răng cũng khác.

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/meotrongkhoahocthica-1.gif[/img=left]
Mèo nhà có thể phân biệt hai nhóm: mèo lông ngắn và lông dài có lẽ nguồn gốc từ mèo rừng Châu Phi người Ai Cập đã thuần hóa đầu tiên. Từ đó du nhập đến các quốc gia đầu tiên Hy Lạp, La Mã, các thủy thủ mang về Ấn Độ khoảng 500 TCN; Trung Hoa 400 sau CN, Nhật 999 năm SCN; Norwegen; Byzanz (Istanbul) 400 năm SCN; Pháp và Quebec thế kỷ thứ 16, Mỹ 1620… Vùng Đông Nam Á có mèo Xiêm (Thái Lan), thông minh, dễ dạy, bắt chuột giỏi. Có giả thuyết cho rằng mèo Xiêm cũng bắt nguồn từ mèo Siam.

Những thế kỷ qua mèo được lai giống đẹp, được nhiều gia đình yêu thích nuôi dưỡng khắp nơi trên thế giới như: Mèo Iran (Ba Tư) lông dài mặt tịt (Persian); Mèo Maine Coon, Mèo Exotic (gần giống mèo Iran khuôn mặt tròn tịt dễ thương nên tạm gọi là Iran lông ngắn) Abyssinian; Mèo Siamese; Mèo Ragdoll; Mèo Sphynx không lông; Mèo Miến Điện (Birman); Mèo Mỹ lông ngắn (American Shorthair); Mèo Oriental; Mèo Tonkinese; Mèo Norwegian Forest Cat; Mèo Cornish Rex lông xoăn thanh mảnh, ngộ nghĩnh; Mèo British Shorthair; Mèo Devon Rex lông xoắn; Mèo Burmese; Mèo tai cụp (Scottish Fold); Mèo Ocicat; Mèo xanh Russian Blue; Gấu mèo Mau Ai Cập (Egyptian Mau); Mèo Somali cute; Mèo thỏ Manx không đuôi; Mèo Siberian cute; Mèo Nhật đuôi cụt (Japanese Bobtail); Mèo lông xoăn Selkirk Rex; Mèo Pháp Charteux; Mèo Thổ Nhĩ Kỳ Turkish Angora; Mèo Mỹ tai vểnh (American Curl); Mèo Colorpoin Short Hair; Mèo European Burmese; Mèo mun Ấn Độ (Bombay); Mèo Mã Lai Singapura; Mèo Mỹ đuôi cụt (American Bobtail); Mèo Korat; Mèo Bali (Balinese); Mèo Havana Brown; Mèo "hổ ưa nước" Tukish Van; Mèo Javanese; Mèo Ragamuffin; Mèo Mỹ lông dày (American Wirehair); Mèo lông xoăn dài LaPerm….

Mèo lông dài (Langhaarkatzen/longhair) có bộ lông xù tuyệt đẹp được lai giống thuần dưỡng các loại mèo: Balinse, Perserkatze từ 1620 ở Perien nhập cảng sang Ý rồi đến Anh Quốc từ thế kỷ 19, nặng từ 3,5- 7 kilo. Mũi ngắn, rộng, tai nhỏ nhọn lông phủ kín, mắt to tròn, chân ngắn mập.

[img=right] http://www.khoahoc.net/p...otrongkhoahocthica-2.gif[/img=right]
Norwergische Waldkatze khoảng 1000 năm sau Công nguyên (SCN) từ Byzanz nhập cảng sang Norwegen, nặng từ 3-9 kilo, đầu như hình tam giác, tai rộng cao, mắt lớn

Mèo Cymric còn có tên „Cymru“ (Walissch für Wales) ở Mỹ, Canada nguồn gốc từ Bắc Mỹ nặng 3,5- 5,5 kilo. Đầu tròn cổ ngắn, chân trước ngắn hơn chân sau, đặc biệt loại nầy không có đuôi (schwanzlos)

Mèo tai nhỏ Scottish Fold nặng 2,4- 6 kilo chân dài thon nhỏ, mắt to đầu tròn, tai nhỏ, vành tai cụp vào đầu như mèo bị cắt tai, thích sống yên tĩnh.

[img=left] http://www.khoahoc.net/p...otrongkhoahocthica-3.gif[/img=left]
Mèo Türkisch Van: có trước thế kỷ 18, nặng từ 3-8,5 kilo, tai lớn cao, mắt to hình oval, chân dài trung bình, đuôi dài nhiều lông

Mèo Türkisch Angora từ thế kỷ thứ 15, nặng từ 2-5 kilo thông minh nhanh nhẹn đầu nhỏ cổ thon, tai lớn dài, mắt hình oval, đuôi dài nhiều lông như một cái chổi, đẹp nhất loại lông màu tam thể. Từ thế kỷ thứ 17 nhập sang Anh-Pháp tới thế kỷ thứ 20 nhập cảng sang các quốc gia khác.

Mèo Nga (Russian cat) có lông xù dài, màu trắng, mắt xanh lơ chân to, giống như mèo Iran, nhưng mèo Iran có bộ lông 2 lớp với lớp lông dài phía ngoài và lớp lông ngắn khá dày ở bên trong. Đuôi của chúng luôn xù rất nhiều màu lông khác nhau, giống mèo này mũi nhỏ và mắt to

Mèo Mỹ lông ngắn được xem là mèo đến đất Mỹ đầu tiên năm 1620 trong con tàu Mayflower/ Hoa Tháng Năm. Thủy thủ của đoàn Pilgerväter/Pilgrims nuôi mèo bắt chuột phá phách hàng trên tàu đến vùng Plymouth/ Massachusetts (nguồn gốc Thanksgiving). Thời gian trôi qua, giống mèo sinh sản tại Bắc Mỹ được lai giống với các loại mèo lông dài, lông ngắn, để tạo ra một loạt các mèo con xinh xắn đủ chủng loại, thân dài hay mập, những bộ lông màu sắc đẹp, tính tình dịu dàng nhu mì và thân thiện. Năm 1906, hiệp hội CFA đã chính thức công nhận các giống mèo đáng yêu này.

Mèo Anh, loại lông ngắn phổ biến và được yêu thích. Hội đồng quản lý mèo Anh (UK's Governing Concil of the cat fancy) công nhận từ năm 1944, khi nó vượt qua giống mèo Thái.

[img=left] http://www.khoahoc.net/p...otrongkhoahocthica-4.gif[/img=left]


Mèo nhân sư không lông theo tên của Ai cập cổ „Sphinx“ (hay là loài mèo Canada) „haarlos/ Hairless“. Nặng 3,5-7 kilo, tai lớn đầu dài và rộng là giống mèo hiếm thấy trong họ hàng nhà mèo. Được tìm thấy từ năm 1966 khi tại Toronto, Canada có một chú mèo con không lông có tên Prune từ lúc sinh ra đến khi trưởng thành chỉ có những sợi lông tơ! toàn thân là những nếp da nhăn nheo, nên thân nhiệt cao hơn mèo có lông. Mèo Sphynx rất thân thiện và quý hiếm. Con mèo này sau đó còn giao phối với mẹ của nó và sinh ra thêm nhiều chú mèo không lông khác. Và đây được coi là tổ tiên của loài mèo không lông ngày nay.
Tập tính của Mèo

Mèo không có các xương đòn cứng, xương sống của mèo có nhiều đốt di chuyển dễ dàng, có thể chui qua những lỗ nhỏ leo trèo nhanh, mèo đi trên các ngón chân có lớp đệm, Xương đuôi dài để giữ thăng bằng, thân thể mèo cấu tạo 7 đốt sống cổ, 13 đốt sống ngực, 7 lưng và 3 hông, tùy theo đuôi dài hay ngắn mèo có từ 14 đến 28 đốt sống đuôi. Thân mèo mền mại nằm ngủ có thể cuộn tròn cơ thể, chân có vuốt nhọn, các vuốt chân trước sắc hơn chân sau đều thu lại nằm trong da và lông bao quanh đệm ngón chân, nên đi rất nhẹ. Từ trên cao rơi xuống mèo có phản xạ tự xoay thân tới vị trí thích hợp và rơi chân xuống trước. Mèo có bộ ria dài nhiều sợi đẹp, giúp mèo tránh không bị vướng cây lúc đi.

Mèo cái tìm mèo đực trong mùa động tình, thường tiết ra mùi và tiếng kêu đặc biệt hấp dẫn... Mèo mang thai từ 57 đến 70 ngày, khi sanh mèo thường tìm chổ kín, đẻ mèo con trong bọc mèo mẹ liếm sạch bao cho mèo con chào đời, đôi khi sinh một đàn 2 đến 6 con nhỏ khoảng 100gr, bú sữa mẹ một tuần sau mở mắt. Từ một tháng tuổi trở đi chạy nhảy leo trèo và bắt mồi nhỏ, lúc nhỏ mèo mẹ ngậm cổ mèo con mang đi, từ 4 tháng mèo trưởng thành có thể bắt mồi. Mèo sống lâu trên 10 năm, không thích tắm nước nhưng có thói quen thè lưỡi tiết nước bọt vào chân của nó bôi lên toàn thân để làm sạch cơ thể, chải chuốt lông. Ban ngày mèo thích ở chổ kín yên tĩnh ngủ nhiều giờ, hoạt động vào buổi sáng sớm hay về đêm, mắt mèo có tầm nhìn tốt nhất vì bóng tối tạo ra một màng lưới thị giác sáng hơn. Sự biến đổi màu sắc của mắt mèo giữa ánh sáng và màng trạch, ban ngày nơi trời sáng tròng đen của mèo khép lại để khỏi bị lóa mắt. Mèo nhìn rộng từ 200° bis 220°. Mắt mèo có 9 màu khác nhau: Braun/brown, Kupferfarbe /copper color, Golden, Babyblau, Siamblau, Birmablau, Meergrün/ Sea Green, Reines Grün/ Pure Green, Haselnussfarbe. Mèo uống nước rất nhanh lưỡi chạm nhẹ mặt nước kéo theo một lượng lớn nước, một tốc độ quá nhanh khó có thể nhìn thấy bằng mắt thường, mèo không nhận được vị ngọt của đường, nhưng xúc giác của mèo rất nhạy bén và tai mèo rất thính. Mèo ăn thịt cá nhưng đôi khi cũng nhai cỏ tươi để giúp cho sự tiêu hóa.
Mèo Trong Tín Ngưỡng

[img=right]http://www.khoahoc.net/photo/meotrongkhoahocthica-5.gif[/img=right]
Mèo gần đời sống con người, nên có nhiều truyền thuyết, thần thoại, tranh, tượng…được thần thánh hoá. Tuy nhiên, mèo thỉnh thoảng bị coi là ma quỷ, ví dụ như nó không mang lại may mắn hay thường đi liền với những mụ Phù thuỷ trong thời Trung cổ. Đặc điểm nền Văn hóa Ai Cập cổ đại về nông nghiệp, họ theo tôn giáo đa thần thờ nhiều thần linh. Biểu hiện nữ thần Bastet/ Pasht (Bastet được coi là vợ của thần mặt trời Re, mẹ của sư tử thần Mahes. Bastet mình sư tử đầu mèo là sức mạnh của mặt trời, bảo trợ cho sự phì nhiêu và tình Mẫu tử. Nữ thần Bastet được thờ ở thành phố Bubastis, cách Cairo khoảng 50 dặm, thuộc phía đông vùng đồng bằng sông Nile. Di tích còn sót lại của ngôi đền 2.200 năm tuổi tôn thờ một nữ thần mèo Ai Cập, được tìm thấy gần ga tàu điện ở Alexandria). Mèo sinh trưởng nhanh biểu tượng cho hạnh phúc và tình yêu. Theo nhà sử học người Hy Lạp Herodot (484-424 TCN) thời ấy nếu con mèo trong nhà chết, cả chủ nhà lẫn tôi tớ phải cạo lông mày và làm lễ tang long trọng. Nếu mèo nuôi trong các đền thờ thì cả xóm làng, thành phố đó phải để tang. Sau khi chết, mèo được ướp xác và chôn riêng ở một nghĩa trang, chọn nơi rất cao quý. Địa vị cao quý của loài mèo có lẽ bắt nguồn từ khả năng bắt chuột tài tình ở các vựa lúa của Ai Cập. Sự sùng kính quá độ này đã gây không ít tai họa, ai vô tình làm chết mèo bị kết tội tử hình.

Một số huyền thoại về mèo: con mèo của tiên tri Hồi giáo Mohammed, xe của nữ thần Freya luôn luôn vẽ hai con mèo, cầu Devil về mèo. Các ngôi đền đứng ở Tokyo Go-To-Ku-Ji, vinh danh mèo "Neko Maneki". Ở Trung Quốc và Thái Lan vẫn còn thờ mèo như vị thần, ở Đông Timor ai giết một con mèo bị nguyền rủa cho tới bảy đời…. Ngày nay các nước Tây phương có Hội bảo vệ súc vật, nếu ai đánh hay giết chó mèo cũng bị phạt.
Văn chương, chuyện cổ tích, Phim và tác phẩm nghệ thuật

Các chuyện cổ tích của nhà văn Äsop thế kỷ thứ 6 trước CN, đến nhà thơ La Fontain (1621-1695), Carlo Collodie (1826-1890), Rudyard Kipling (1865-1936), beatrix Potter (1866-1943), Kathleen Hale (1898), Humorist Edward Lear (1812-1888), Lewis Carroll (1832-1898), Theodor Suess Geisel(1904-1991) và nhiều tác giả viết về mèo hấp dẫn làm độc giả say mê. Truyện cổ Nước Nam sự tích con chuột và con mèo. Nhật có sự tích mèo Kitty không miệng..

Phim với hình ảnh mèo một thời nổi tiếng như: Batman (1966); Batman Returm (1992); Frühstück bei Tiffany (1961) do nữ tài tử Audry Hepburn đóng được giải thưởng PATSY (Picture Animal Top Star Awards of the Year).

Die unglaubliche reise (1963); Harry und Tonto (1973); Die schöne und das Tier (1945); Cat& Dogs (2001); Rosenkrieg (1989) Die Nacht der tausend Katzen (1972); Katzenmenschen (1942); Die Schwarze Katze (1985); Superman (1978); Die katze aus dem Weltraum/ The Cat from Outer Space (1978) …

Phim hoạt hình hiện đại, mèo là nhân vật chính: Họ Mèo tội phạm (1993), phim Walt Disney, mèo quý tộc (1970), Fritz the Cat (1972), Disney Chip und Chap . Những cuộc phiêu lưu của Al Katzone, những kẻ thù vĩnh cửu của chuột Mickey và Goofy, Pat Sullivan (1917), các nhân vật hoạt hình Felix the Cat, trong đó một con mèo đen được trình bày như là một diễn viên hài dễ thương. Các loạt phim hoạt hình Tom & Jerry (1939) mèo nhà Tom chơi với những con chuột Jerry thông minh, Alice in Wunderland, Petersburger Nacht.. Felidae (1994) Babe (1995), Stuart Little (2000)…

Mèo trong nghệ thuật, danh họa Pablo Picasso (1881-1973) rất yêu thích vẽ tranh mèo, tác phẩm nổi tiếng là „Cubist cat/Kubistische Katze“; Francesco Bassno (1549-1529) với tranh „Das letzte Abendmahl/ bửa ăn tối cuối cùng) có mèo và chó nằm dưới bàn; Joseph Wright (1734-1797) tranh „Das Ankleinden der Katze“; Hsuan Tsung ở thế kỷ 18 “vườn xuân mèo trèo cây“ trong bảo tàng viện New York. Các danh họa Nhật của thế kỷ 18 &19 Utamaro (1753-1806) Kokusai những tác phẩm „beginnings of racial breeding/anfänge der Rassezucht“; Mädchen, das eine diebische Katze bestraft/Girl who punished their impish cat“

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/meotrongkhoahocthica-6.gif[/img=left]

Hí hoạ quảng cáo khắp mọi nơi đều gặp mèo, hoạ sĩ Nga Zar Peter d.Gr „đám tang mèo “; Jean Cocteau (1889-1963) tranh “Club des amis des chats“; Louis Wain tác phẩn “dạo phố/ Stadtbummel“; Hiroshi Fujimoto (1934-1996) tác phẩm „Doraemon“ … Nhiều huy hiệu, tượng mèo bằng sứ, đồng, nhựa nổi tiếng qua nhiều thời đại…

Ngành Y Khoa, mèo được xem là mẫu thí nghiệm rất tốt. Schröginger đưa thí nghiệm mèo về “Hiện tượng cơ học lượng tử“. Việc phân tích trình tự genome của mèo có thể giúp dẫn đến những khám phá mới, tạp chí "Nghiên cứu bản đồ gene" các nhà khoa học Mỹ đã giải mã bản đồ gene hoàn chỉnh đầu tiên của mèo hy vọng tìm ra nguyên nhân và cách chữa trị nhiều căn bệnh hiểm nghèo ở người. Tuy nhiên nuôi mèo phải cẩn thận tránh bệnh truyền nhiễm do Toxocara Cati (giun đũa mèo), người bị bệnh có thể bị sốt, xanh xao, gầy ốm, ho khò khè kéo dài. Phải tắm mèo để tránh mồ hôi mèo gây nên bệnh dị ứng, nuôi mèo ở Tây phương tốn kém phải có bác sỹ Thú y khám sức khỏe định kỳ, chải lông, xỉa răng cho mèo…

Hà Nội „đổi mới“ có nghiã trang, Hotel, Chùa cho mèo chó có tên “Tề đồng vật ngã” nghĩa là vật và người cũng giống nhau, nhưng cũng lắm hàng quán bán thịt mèo „tiểu hổ“, mèo chó không dám thả ra ngoài sợ bắt ăn thịt…Bệnh viện „Pet Health“ chửa bệnh mèo chó, trong khi trẻ em Việt Nam còn thiếu ăn không đủ tiền đi học. Các „đại gia-cán bộ“ thích nuôi „mèo hai chân“.


Thực vật có loại cây Râu mèo/ Orthosiphon có dược tính dùng trị bệnh thận, phù thủng, tiểu đường. Loại Táo mèo gọi là Sơn tra trị áp huyết, an thần…nhiều cây mang tên mèo: cây râu mèo, nấm mèo, cây bút mèo, cây lưỡi mèo…
Mèo qua thi ca

Từ nông thôn đến thành thị, người ta đều nuôi mèo để bắt chuột, (người Tây phương nuôi mèo làm kiểng) trong dân gian có nhiều tranh như: „miêu thủ lễ“, „Đám rước ông Nghè Chuột vinh quy bái tổ“, mèo tha con cá, tranh mèo chuột, chuyện Trạng Qùynh ăn cắp mèo của vua. Bài quyền “Miêu tẩy diện” (mèo rửa mặt) nổi tiếng khắp làng võ Bình Định mô phỏng theo thế đánh nhu nhuyễn, linh hoạt của mèo..

Qua ca dao truyền khẩu rực rỡ tinh hoa của thi ca bình dân, diễn tả đơn sơ trong sáng nhẹ nhàng. Mèo già khóc chi chuột chết, ý nói người đạo đức giả không thực lòng mấy khi mèo chê thịt chuột, mèo nào chẳng ăn vụng, như mèo thấy mỡ, chỉ sự thèm khát danh lợi chạy chọt mua bằng giả để có điạ vị, uy thế trong xã hội dễ ăn hối lộ, tham nhũng như cán bộ CS thấy nơi nào có đất bán được thì bán để vinh thân phì gia, đúng là loại mèo mù vớ cá rán. Rình như mèo rình chuột, Mèo đàng gặp chó hoang là những kẻ vô loại kết bè tựu đảng với nhau.

Con mèo làm bể nổi rang,Con chó chạy lại phải mang lấy đòn những việc oan ức, Mèo tha miếng thịt thì đòi, Kễnh tha con lợn mắt coi chừng chừng Ám chỉ đời sống xã hội bất công, kẻ có quyền hành ăn hối lộ, cướp đất của dân làm việc sai trái thì được bao che, ngược lại khi kẻ dưới sai sót nhỏ bị trừng phạt nặng.

Đánh giặc mà đánh bằng tay, Thà về xó bếp giương cung bắn mèo.Trường hợp nầy rất giống hiện tình Việt Nam bị bọn Tàu xâm chiếm biển đảo, bắt ngư dân đánh cá trên biển Việt Nam để tống tiền, đánh đập giả man, nhưng đảng cầm quyền Việt Nam chỉ phản đối bằng miệng không dám cho tàu Hải quân hoạt động vùng biển tranh chấp, bảo vệ chủ quyền và ngư dân trên biển đảo mà cha ông chúng ta bỏ xương máu giữ vững hàng ngàn năm qua. Chúng ta là người thừa kế, phải bảo vệ bờ cõi để xứng đáng hãnh diện với tổ tiên, với chính bản thân và với con cháu chúng ta là tương lai đất nước sau này.

Đặng Tiểu Bình (邓小平理论) theo phe ủng hộ sự thay đổi nền kinh tế Trung Hoa, chủ trương cải cách mở cửa, tiếp xúc với văn minh Tây phương để phục hồi phục hồi kinh tế, ông đã nói: „Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng miễn là nó bắt được chuột.“. Mèo yếu đuối hơn chó, thường bị chó rượt cắn uy hiếp, nhưng đôi lúc mèo cũng tự hào ta ở trên cao để chọc tức con chó đang hầm hừ dưới gốc cây

Con mèo trèo lên cây vông
Con chó đứng dưới, ngó mông con mèo
Mèo rằng sao chó chẳng theo
Lên đây, mèo sẽ dạy leo cho mà.

Những câu ca dao ngụ ngôn là những bức tranh nhỏ có tính cách tâm lý, mèo chuột là hai địch thủ, không thể sống với nhau.

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/meotrongkhoahocthica-7.gif[/img=left]


Con mèo trèo lên cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắn mua muối giỗ cha chú mèo


Qua bốn câu ca dao hài hước trên, nói mèo đạo đức giả, để chế giễu những người giả nhân giả nghiã, vờ vĩnh của phường nham hiểm, con chuột cũng không vừa, thông minh biết mắng xéo, mỉa mai chú mèo. Ca dao tuy mang hình thức trào lộng về mèo, nhưng có nhiều ngụ ý khuyên răn ở đời dù ai có địa vị, có tài cũng phải khiêm tốn đừng tự cao, huênh hoang như mèo khen mèo dài đuôi.

Năm mèo nói chuyện mèo, dù không đầy đủ mong độc giả đóng góp cho đề tài về mèo phong phú hấp dẫn hơn. Kính chúc quý vị một mùa xuân an bình, khoẻ mạnh và may mắn
Tài liệu tham khảo
Katzen Die neue Enzyklopädie tác giả Dr. Bruce Fogle NXB Dorling Kindersley 2002
Hình trên Internet Tiere und Lebensräume Wissensbibliothek
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#902 Posted : Wednesday, February 9, 2011 3:06:06 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
HOA MAI VÀNG NGÀY TẾT
UserPostedImage
Trước tháng Tư Đen 1975, dân chúng miền Nam Việt Nam đón Xuân rộn ràng qua những cành mai nở vàng rực rỡ, rất nhiều nhà có trồng một vài cây mai ngay bên lối ra vào hay trong sân nhà. Người miền Nam quý bông mai lắm vì từ ngàn xưa người ta vẫn cho rằng hoa Mai đã đem đến nhiều may mắn nên được xếp vào loại hoa quý nhất trong hàng nhiều thứ hoa, nó nở rộ vào dịp Xuân về Tết đến, mà lại nở đúng vào ngày mà người chủ đã ước định, miễn là gia chủ khéo căn khi lặt lá trước thời gian, hoặc biết kích thích cho hoa nở đúng hạn kỳ. Trong nhiều bức tranh cổ xưa vẫn còn còn lưu truyền cho đến ngày nay thì bức tranh Tứ Bình, đã vẽ bốn loại hoa quý là Mai, Lan, Cúc, Trúc. Ngoài ra còn lưu truyền bức tranh tứ thời, cũng vẽ bốn loại hoa cảnh nổi tiếng nữa là Tùng, Cúc, Trúc, Mai hay Lan, Sen, Cúc, Mai. Tựu chung thì dù người ta ở thời đại nào, dù có thay đổi quan niệm việc thưởng ngoạn, có những năm tiết trời trở lạnh thì chúng ta vẫn thấy có sự hiện diện của hoa Mai:

Hoa mai năm cánh giữa mùa đông
Bừng ngát hương thơm thắm mộng lòng
Trong tôi bỗng nở mai vàng thắm
Một đóa hoa lòng thơm ngát trong. (Mai Vàng Nở Giữa Mùa Đông- Nguyễn Thị Tê Hát)
hay

Đua chen thu cúc, xuân đào
Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông (Bích Câu kỳ ngộ)

Như đã nói ở trên, trước 30-4-1975 (mà ta thường gọi là tháng Tư Đen -75), miền Nam Việt Nam chưa bị nạn Cộng sản nhuộm đỏthì nơi đây có rất nhiều hoa Mai, tại miền Trung có hoa Mai nhiều nhất là hai tỉnh Quảng Nam và Bình Thuận. Riêng tại thủ đô Sài Gòn vào những ngày sắp Tết nguyên đán thì những cây Mai hoặc cành Mai từ khắp các tỉnh miền lục tỉnh, nhiều nhất là từ Sa Đéc, và các tỉnh miền Trung như Đà Lạt, Lâm Đồng đổ vào Sài Gòn hàng trăm loại hoa, đáng kể nhất là hoa Mai vàng rực rỡ.

Giữa muôn hoa bày tại chợ hoa Nguyễn Huệ như hoa hồng, lay-ơn, hoa cúc v.v. khoe hương sắc, nhưng người ta vẫn nườm nượp ùa tới những gian hàng bán Hoa Mai, để tha hồ mà nhìn ngắm rồi so sánh để lựa chọn những cành mai vàng năm cánh mỏng như lụa, hay những cây Mai trồng trong chậu nở hoa vàng đang rung rung nhẹ trước cơn gió. Hoa Mai chính là bạn lâu đời nhất của dân Miền Nam, quanh năm sống gần gũi trước ngõ hay sau vườn. Mai còn sống heo hút trong rừng sâu núi thẳm, mà hy vọng của nó thì chỉ có những ngày Xuân về Tến đến thì mới được hiện diện vui Xuân nơi chốn thị thành vui với mọi nhà.

Hoa mai thường chỉ có năm cánh. Nhưng ngày nay theo phương pháp lai cành chiết giống nên người ta đã tạo ra được rất nhiều loại giống mai mới, có loại người ta tạo cho Hoa Mai nở tới mười cánh, có loại hoa mai tới hai mươi cánh với các màu sắc loè loẹt sặc sỡ đủ màu như trắng, vàng hoặc có tay chơi đã ghép đủ màu sặc sỡ nên nhiều khi trở lên lố bịch kịch cỡm. Đây là sản phẩm tự chế của những kẻ ở cái xã hội chủ nghĩa việt cộng, câu tục ngữ ‘’ở bầu thì tròn, ở ống thì dài’’ cho nên những kẻ ở với chế độ này đã làm biến đổi loạn xạ, họ quen xét đời qua giá trị của sản phẩm vật chất mà không cần biết tới cõi hồn tinh khiết bên trong, dù đó là hồn nước, hồn người hay hồn hoa tươi thắm đượm, bởi thế đã tạo hình hoa mai một cách kỳ quái như vậy.

Cây Mai có thân hình khẳng khiu nhưng khó gẫy nên vẫn ẻo lả duyên dáng dễ thương, cánh hoa thì màu sắc thắm tươi, mỏng manh cho đến khi lìa cành mà màu sắc vẫn không thay đổi. Mai được xếp đầu trong các loại hoa. Hoa mai nở rộ trong những ngày đầu Xuân. Hoa Mai cũng là đề tài tạo hứng nên đã làm cho các tâm hồn của những văn nhân thi sĩ, họa sĩ, hay nghệ nhân sáng tạo những tác phẩm để đời. Chính vì như thế mà họ đã lưu truyền cho hậu thế rất nhiều tác phẩm nghệ thuật, nói về các loại Hoa Mai rất đặc sắc và trữ tình, như loại Mai chiếu thuỷ dưới đây

Khiêm nhường đứng giữa mênh mông
Buồn vui thế sự… đục, trong… cõi người
Biết mình phận chẳng thắm tươi
Li ti cánh trắng mỉm cười trao hương
Không như muôn thuở lẽ thường
Nhởn nhơ khoe sắc, hướng dương phô mình
Thăng trầm lòng vẫn lặng thinh
Thản nhiên dưới lá, dấu mình sau cây.
Gương soi mặt nước hồ đầy
Bốn mùa thơm một sắc gầy thủy chung
Đơn côi quen với lạnh lùng
Nắng mưa chẳng cậy bách tùng chở che.
Xốn xang nắng dội trưa hè
Bóng mình nghiêng xuống lắng nghe nỗi đời…
Với ai cuối đất cùng trời
Một loài hoa… một kiếp người hóa thân! (Mai Chiếu Thủy - Lệ Thu)

Trong Văn Chương Cổ Điển còn kể đến những loại Hoa Mai như sau:

Mai Vàng tại miền Nam VN : Loại Mai này hoàn toàn khác biệt với giống Mai vàng đã có từ lâu đời tại Miền Nam VN. Một giống Mai có tên khoa học là Prunus Mume, nó thuộc họ Hoa Hồng (Rosaleal). Loại hoa Mai này rất khác với Mai giống Mai vàng đã hiện diện ở miền nam Việt Nam từ lâu đời ; loại Mai này họ hàng rất gần với cây Mơ mang tên khoa học Prunus Armeniaca Lin, hay cùng giống với cây Đào (Prunus Persica Stokes). Hoa Mai này có hoa năm cánh, có nhiều màu : trắng, hồng hay đỏ thẫm huyết dụ, toả hương thơm thoang thoảng. Trái Mai lúc chưa chín thì màu xanh, nó biến thành màu vàng khi đã chín. Ở miền Quý Châu Trung Quốc, người ta thường đem sấy khô thành quả Ô Mai hay Ô Môi và đem qua Việt Nam bán mà chúng ta thường gọi là Xí Muội. Trong văn chương cổ điển Trung Hoa lại gọi loại này là loại Mai trúc.

Tại Miền Nam VN có loại Mai vàng:

Tên khoa học của loại Mai vàng này là Dohna Harman, nó thuộc họ Hoàng Mai Ochnaceae. Mai vàng không có mùi thơm, còn trái của nó thì chỉ nhỏ bé bằng hạt đậu, khi còn tươi có màu xanh, khi cây chết thì trái biến thành màu đen, trái cây này không ăn được. Còn có một giống Mai thuộc họ Tre vì thân nó thì dài lại thẳng đứng, có nhiều đốt như cây tre mà vỏ thì dầy, có lá to. Loại Mai này thường mọc trong rừng, người ta thường đốn với tre đem về làm nhà cưa từng khúc làm ống đựng nước uống, tuy nó dược gọi là Mai nhưng lại rất khác biệt với hai loài hoa Mai vừa nói ở trên.

Miệng ăn măng trúc, măng mai
Những tre cùng nưa lấy ai bạn cùng (Tục ngữ Phong dao)

Được biết các giống Mai đều chịu đựng được các thời tiết đổi thay, dù cho ấm áp hay giá buốt, thường vào mùa Xuân về Tết đến, Mai luôn ngạo nghễ nở hoa, để chào đón chúa Xuân, trong phút giây giao mùa. Bởi vì Mai có bản sắc cuồng ngạo đó nên nó đã lôi cuốn nhiều người kể cả nghệ nhân vào cuộc chơi với Mai vì Mai chính là hiện thân của hàng kẻ sĩ, của các đấng trượng phu, anh hùng mã thượng, tượng trưng cho sức chịu đựng tất cả tang thương dâu biển của cuộc đời, bất chấp cả cuồng phong bão táp cốt sao đạt cho được mục đích cuối cùng đó là ích nước, lợi dân, làm đẹp cho xã hội loài người. Và chỉ có Mai mới đủ làm biểu tượng cho lớp người có chí anh hùng, đấng trượng phu, coi thường danh lợi và phú quý coi như tất cả là phù vân, trong mắt họ thì vua, quan hay những kẻ cầm quyền thối nát là loài cỏ rác, họ coi bọn khoa bảng trí thức là xu thời, nịnh bợ, a dua chỉ biết nhắm mắt chạy theo bả vinh hoa phú quí, chẳng khác nào sâu bọ, cầm thú đội lốt người. Thời đại của Chu Thần Cao Bá Quát, với chí hiên ngang ông đã viết:

Thập tái luận giao cần cổ kiếm
Nhất sinh đề thủ bái mai hoa

Cũng như hoa Đào, hoa Mai cũng được các văn nhân thi sĩ dùng làm cảm hứng để diễn tả nét đài trang, thanh nhã của những người đàn bà đẹp trong các thời đại cổ cũng như tân. Trong Đoạn Trường Tân Thanh mà ta thường biết với tên Kim Vân Kiều hay Truyện Kiều, cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã viết khi tả về sắc đẹp của hai chi em Thúy Kiều và Thuý Vân :

Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười. (Kim Vân Kiều - Nguyễn Du)

Những Người Lịch Lãm , Kẻ Bình Dân Với Mai:

Mỗi độ Xuân về, người chơi Mai một cách khác nhau chứ không ai giống ai cả, nhất là đối với những tao nhân mặc khách. Còn đối với giới bình dân, khi lựa chọn một cành mai để vui ba ngày tết thì chỉ cần có nhiều hoa nở đúng vào lúc giao thừa. Và sau đó hoa Mai vẫn còn tiếp tục nở rộ và lâu tàn ít nhất là trong ba ngày Tết, như thế cũng là quá đủ rồi vì đối với họ, đó là điềm báo trước có được sự may mắn cho năm mới mà họ mong chờ.

Nhưng đối với lớp người khá giả, tức là những người có tiền thì khi chọn mai để thưởng thức phải là Mai còn trong chậu, cây Mai phải to và cao, hoa lá xum xuê, nhìn vào là thấy cây hoa Mai đồ sộ để chứng tỏ với hàng xóm láng giềng về sự giàu sang sung túc của chủ nhân nó. Còn đối với những tao nhân mặc khách, hoặc giới nghệ sỹ sành điệu, thì cây hoa mai không phải là loài vô tri, mà nó có sức sống tiềm ẩn như là một sinh vật có cảm giác, biết vui biết buồn hoà chung với người thưởng ngoạn, nên nhiều người đã mệnh danh cho rằng “ Hoa Mai là hoàng hậu của các loài hoa” nên đã được ái mộ, nâng niu, chiều chuộng đúng với câu tục ngữ - Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa – Và tuỳ theo màu sắc người đã đặt tên cho hoa Mai :
- Bạch mai, Chi Mai, Mai Ngự sử là tên hoa Mai có màu sắc trắng như tuyết.
- Mai Thanh Đài là tên hoa mai có sắc màu xanh
- Hoàng Mai, Lạp Mai là tên hoa mai có sắc màu vàng (loại hoa Mai này chỉ nở vào những ngày cuối mùa đông)
- Hồng Mai là tên hoa mai có sắc màu đỏ.
- Mai Thanh Đài Lục Ngạc là tên hoa mai có 6 cánh đan chéo vào nhau như sừng nai, màu xanh. - -Mai Chuỗi là tên hoa mai có hoa và trái kết thành chuỗi.
- Mai Chiếu Thủy là tên hoa mai có sắc màu trắng, cánh nhỏ, thường mọc nghiêng xuống mặt nước, nếu ta trồng bên bờ hồ hay sông nước (loại hoa mai này quý hiếm).
- Mai tứ Thời, Mai tứ quý là tên hoa mai có hoa suốt năm, cả bốn mùa ta đều thấy nó trổ bông.

Không rõ loài Hoa Mai xuất hiện vào thời đại nào trên mặt địa cầu, có người cho rằng có lẽ nó xuất hiện từ lâu lắm rồi vì Mai là một loài hoa có sức chịu dẻo dai, không chết trong thời tiết băng giá của mùa đông để có thể trổ nụ đâm bông vào buổi giao mùa giữa tiết đông giá rét, trỗi dậy để nở hoa khi qua mùa xuân tiết trời ấm áp, có nghĩa là chuyển tiếp từ lạnh lẽo qua ấm áp, năm cũ qua năm mới.

Hoa Mai có năm cánh nó kết thành vòng tròn, ta có thể nói đó là biểu tượng ánh thái dương lan tỏa của tiết trời ấm áp, nắng ấm toả xuống chan hoà cho trái đất hồi sinh và nhân gian được vui vẻ, nhất là vào buổi sáng của những ngày đầu xuân. Với các đặc tính như thế nên loại hoa này mới được gọi là Hoa Mai.

Hoa Mai là giống hoa mà người ta đã đặt cho nó nhiều tên rất trân quí nên cũng có nhiều giai thoại làm nền cho văn chương phong phú thành những điển tích :

1. Cái ngày mà Vương Ông gặp nạn khiến con gái của ông là Vương Thuý Kiều phải bán mình chuộc mạng cho cha, khi nàng phải theo tên Mã Giám Sinh về Lâm Tri thì có một đêm nàng buồn bã và ôm mặt khóc dưới bóng đèn khuya leo loét, buồn đứt ruột tím gan khi nhớ đến Kim Trọng, người yêu của mình đang rong ruổi xa ngoài muôn dặm. Để diễn tả cảnh đau thương bi đát đó Nguyễn Du tiên sinh đã mượn điển tích Trúc Mai mà viết :

Tái Sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền bù Trúc Mai (Kim Vân Kiều - Nguyễn Du)

Vậy Trúc-Mai là gì ? Nó chính là hai loại cây vẫn xanh tốt trong mùa đông băng giá. Nói về đặc tính của hai loại cây này là ‘’Trúc bất chỉ thiên, Mai bất chỉ địa’’, nên cho là một sự hòa hợp âm dương tuyệt diệu. Cũng có sách lại cho rằng ‘’Lưỡng bạn thư vũ tùy bút ‘’ vì sách này có ghi lại câu chuyện Trúc Mai như sau: Vào những mùa đông, các tao nhân mặc khách, không ai bảo ai mà vẫn thường hay tới Đầm Long Môn của tỉnh Quảng Đông để vãn cảnh và thưởng ngoạn rừng Trúc-Mai vì nơi đây họ thích thú khi thấy những cây Trúc Mai vẫn xanh tươi giữa mùa đông trong cảnh tuyết rơi hay đã đóng băng giá buốt lạnh lẽo. Nơi đây có hai giai nhân tài tử tên Hoàng Kỳ Mai và Lam Bá Trúc đã có dịp làm quen với nhau rồi yêu nhau thắm thiết. Nhưng mà nghịch cảnh nào đó nên họ phải chia tay nhau, trước lúc phân kỳ Lam Bá Trúc bẻ một cành Mai còn Hoàng Kỳ Mai thì lại bẻ một nhánh Trúc trao đổi lẫn nhau để làm kỷ vật. Kết quả đôi trai tài gái sắc được kết hơp nên duyên vợ chồng nên từ đó hễ nói tới tình yêu trai gái, vợ chồng, người đời thường dùng điển tích Trúc Mai để tả lại cảnh đoàn tụ và sự yêu nhau khắng khít.

2. Trong tập ‘’Kiến Văn Tiểu Lục’’ của nhà học giả Lê Quý Đôn, nói về đời tư của Hồ Quý Ly có nhắc tới một điển tích Nhất Chi Mai.

Vậy Nhất Chi Mai là gì ? Theo sách vở cho biết tổ phụ của ông Hồ Quý Ly là người Tàu, đã tỵ nạn vì chiến tranh nên di cư sang Đại Việt và định cư tại đây. Khi ông khôn lớn đi tìm công việc làm và tạo danh giá cho chính bản thân mình, cho nên Hồ Quý Ly đã bỏ làng quê ra đi để đến chốn thị thành. Ông đã đi về phía kinh đô Thăng Long. Trên đường đi ông đã lượm được một cuốn sách lăn lóc cạnh đường đi, cầm lên đọc, ông thấy nhan đề là ‘’Quảng Hàn Cung Lý Nhất Chi Mai’’. Nhờ nó nên ông đã có được nhiều kiến thức chính trị và quân sự nên Ông được vua Trần Nghệ Tông trọng dụng, được thăng quan tiến chức thật nhanh. Rồi có một hôm nhân các triều thần hội họp, các quan văn võ đều có mặt trong cung, Vua Nghệ Tôn mới chỉ vào rừng quế, quanh điện Thiên Thủ mà ra một câu đối:

Thanh thủ điện tiền thiên phụ quốc

Trong lúc các quan chưa kịp ứng đối, thì Hồ Quý Ly chợt nhớ tới nhan đề của cuốn sách mà trước đây mình đã tình cờ lượm được trên đường đi khi đến Thăng Long, nên đã đối đáp được ngay:

Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai

Nhà vua vui mừng, cho đó là duyên kỳ ngộ nên đã đem công chúa gả cho Hồ Quý Ly. Từ lúc đó họ Hồ mới có được cơ hội xây dựng thế lực để cướp ngôi nhà Trần sau khi Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông băng hà.

3. Một điển tích nữa đó là “Mai Trường An” hay còn có tên là « Mai Tứ Quý »

Điển tích này được rút ra từ câu chuyện về nàng Tây Thi, một cô gái nước Việt đã giúp Vua Việt Câu Tiễn đánh bại Ngô Phù Sai, rửa nhục và thu hồi lại đất nước đã mất. Điển tích trên cũng như đã nhắc tới câu chuyện nàng Dương Thái Chân, tức là Dương Quý Phi, ái thiếp của vua Đường Minh Hoàng. Vào thời đó có Lục Khải làm quan tại tỉnh Giang Nam. Một hôm nhân có lính trạm (tức là người lính cỡi ngựa để đưa thư), người lính là phu trạm ấy mang thư về kinh đô Trường An nên ông Lục Khải đã bẻ một cành Mai để gửi về tặng bạn là Phạm Việp, có kèm theo một bài thơ:

Chiết Mai phùng dịch sứ
Ký dữ lũng đầu nhân
Giang Nam vô sở hữu
Liễu tặng Nhất Chi Mai

Cảm động và thương nhớ người bạn quý nên Phạm Việp đã đem cành mai đó trồng và chăm sóc vun xới cẩn thận. Sau đó cành Mai này trở thành cây Mai có hoa nở cả bốn mùa, các nhà văn nhà thơ đã lấy hình ảnh Mai Tứ Quý hay còn gọi là Mai trường An, để ám chỉ về nhan sắc chim sa cá lặn của các giai nhân nổi tiếng, mà ta đã thấy trong lịch sử Trung Hoa, nhất là về Tây Thi và về Thái Chân.

Hoa Mai trong thơ, văn :

Những văn nhân thi sĩ thường ưa chuộng hoa Mai, vì họ bị ảnh hưởng của nho giáo và vì quan niệm rằng Hoa Mai là biểu tượng cao quí của lớp sĩ phu, quân tử. Bởi vì cây Mai rất dẻo dai, đứng sừng sững giữa trời mưa gió, khi đã rụng hết lá, thân cây trơ trụi, nhưng vào cuối tháng chạp vào những ngày Tết sắp đến thì khắp thân cây Mai đột nhiên đầy những nốt nụ xanh và trở thành búp chờ đợi lúc giao mùa thì mãn khai Hoa Mai nở rộ. Nhìn cảnh vật đầy sức sống của Mai, một cao tăng đời nhà Lý (1045-1096) là Mẫn Giác đại sư đã hứng khởi viết ra mấy câu kệ rất nổi tiếng ‘’Cáo Tật Thị Chúng’’, cho dến bây giờ còn truyền tụng :

Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa tươi
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước nở cành mai

Ý nghĩa của những câu kệ này như là một thông điệp gửi đến cho mọi người rằng phải kiên trì khi cuộc sống gặp nghịch cảnh mà trái lại phải vươn lên như cây Hoa Mai cành lá khô héo tưởng chừng như đã chết, ấy thế mà cây Hoa Mai sân trước, đêm qua đã nở hoa đầy cành khi giao mùa.

Cùng một ý tưởng ấy, có một bài thơ ‘’Tảo Mai’’ của nhà sư Tế Kỷ sống vào thời nhà Đường như sau :

Vạn mộc đông dục chiết
Cô căn noãn độc hồi
Tiền thân thâm tuyết lý
Tạc nhật nhất chi khai

Xin được phép tạm dịch thoát:

Nhiều cây lạnh giá chết dần
Hoa Mai thì khác, dần dần hồi sinh
Sống trong một kiếp điêu linh
Chợt đêm qua đã tự mình nở hoa

Vào thời Đại Đường lại rất thịnh hành về lối thơ Thất Ngôn ngâm vịnh. Nhầt là vào thời Bắc Tống thì lại có rất nhiều thi sĩ nổi tiếng không kém gì Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị đời Đường đã ca ngơi Hoa Mai bằng những bài vịnh Mai.

Một thi sĩ đặc biệt tên là Lam Pha, ông mê Mai đến nỗi cả đời chỉ thích ngắm Hoa Mai chứ không thèm ngắm nghía… đàn bà, ngay cả đến đàn bà đẹp nghiêng nước đổ thành ông cũng chẳng ham ! Một người nữa là Vương An Thạch (1021-1086) ông là Tể Tướng đời nhà Tống Thần Tông, nổi tiếng về mặt chính trị nhưng về mặt văn chương thi phú cũng không kém nổi danh nên ông đã để lại cho hậu thế nhiều bài văn, thơ nổi tiếng mà ta phải kể đến bài thơ ‘’Mai Hoa’’ được nhiều người ưa chuộng :

Tường dốc sổ Chi Mai
Lăng Hàn độc tự khai
Dao tri bất thị khuyết
Dữ mai tinh tác thập phần xuân

Xin được phép tạm dịch thoát :

Góc tường có mấy nhánh mai
Vui trong giá rét, trổ tài nở hoa
Nhìn xa tưởng tuyết nhạt nhoà
Nhưng không, hương đã đồng hoà xuân sang.

Người mà chẳng những ca tụng hoa Mai, nhưng lại còn ca ngơi cả thơ lẫn tuyết đó là thi sĩ Lư Mai Pha vì theo ông thì bất cứ là ai nếu đã có trong tay ba thứ kể trên thì coi như là họ đã có cả một trời xuân hạnh phúc, sự tuyệt vời có được ba thứ vừa kể đó đã làm tươi vui cuộc đời của họ :

Nhật mộ thi thành, thiên hữu tuyết
Dữ Mai tinh tác, thập phần xuân

Xin được phép tạm dịch thoát :

Vừa viết thơ xong thì đêm tới
Ngoài trời gió hú, tuyết pha sương
Góc tường hoa mai vui nở rộ
Lòng ta vui hưởng lúc xuân sang

Chẳng những chỉ có văn nhân thi sĩ mới sáng tác qua cảm hứng Hoa Mai mà cả hoạ sĩ cũng tìm hứng để vẽ, hoạ sĩ Trọng Nhân đã vẽ một cành hoa Mai màu đen trắng (ông đã dùng mực nước), nhìn thật sống động và có hồn. Tuy nhiên vẫn còn có người vẽ hoa Mai nổi tiếng hơn, ta phải kể đến vua Tống Huy Tông (1100-1125), thời Bắc Tống. Nhưng vì ham vẽ, mê chơi, vua lại ưa nghe theo bọn nịnh thần như Sài Kính, Trương Ban Xương v.v. nên đã làm cơ nghiệp nhà Tống bị giặc Kim ở phương Bắc chiếm đoạt vào năm 1127, khi vua Tống Huy Tông (lúc đó đã là Thượng Hoàng), bị giặc bắt cùng với vua tại vị là Khâm Tôn cùng nhiều yếu nhân khác của triều đình đã bị nước Kim đem về giam giữ ở Nội Mông và sau này bị chết tại đó. Vua Tống Huy Tông chỉ trị vì được 27 năm (1108-1135) nhưng ông cũng đã để lại cho đời nhiều bức tranh giá trị, trong số này có bức danh họa ‘’Kết năm màu trên nhành Mai’’, bức tranh này hiện Viện Bảo Tàng Boston (Hoa Kỳ) là sở hữu chù, và đang được trưng bày tại nơi đây.

Theo cụ Vương Hồng Sển, nhà học giả và khảo cổ học nổi tiếng của miền Nam Việt Nam viết trong quyển sách có nhan đề là ‘’ Sai Gòn Năm Xưa’’, thì hiện VN có hai loài Mai, một của Trung Hoa đã xuất hiện từ thời thượng cổ (mà kinh thi đã từng đề cập đến). Một giống khác là loại Mai Vàng nổi tiếng của VN, mãi tới nay người ta vẫn chưa truy tìm được nguồn xuất xứ của Mai Vàng xuất hiện vào thời đại nào. Cũng nên nói thêm rằng Mai vàng chỉ mọc ở Miền Nam VN, nó xuất hiện nhiều nhất ở tỉnh Quảng Nam và tỉnh Bình Thuận.

Riêng ở chung quanh Sài Gòn chỉ có giống Mai Trắng (Bạch Mai) ta thấy rất nhiều tại Chùa Cây Mai, Gò Mai và Chùa Gò (Phụng Sơn Tự). Giống Bạch Mai này cũng theo tác giả Vương Hồng Sển thì nó đã được đem từ bên Cao Miên về nước ta, và được trồng tại các nơi nói trên.

Mỗi độ Xuân về Tết đến, như đã nói ở trên, dù cho ở giai cấp nào trong xã hội - giầu, nghèo, sang, hèn – ai cũng muốn có hoa mai để trong nhà trong ba ngày Tết như cầu mong có được sự may mắn vì họ tin rằng hoa Mai sẽ đem may mắn, hạnh phúc đến cho cả gia đình mình - Ngày Tết mà có hoa Mai trong nhà thì đó là nguồn vui cho mọi người, cũng đã là tập tục đáng lưu truyền của dân tộc Việt chúng ta.
DƯƠNG HÀ
Hoàng Thy Mai Thảo  
#903 Posted : Wednesday, February 9, 2011 8:02:54 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,612

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)


Năm Mão, Nói Chuyện Mèo



Phần I:

UserPostedImage
MÃO là “chi” thứ tư trong thập nhị Địa Chi (tức 12 nhánh hoặc giòng thuộc đất). TÂN là “can” thứ tám trong thập Thiên Can (tức là 10 khu vực thuộc trời). Năm TÂN Mão thuộc Thủy vận, nhưng là “Thủy bất cập”(không đầy đủ), thủy hư nên Thổ khí thừa thế vượng lên lất át, cùng với Hỏa khí hóa thành Thấp. Sách Đông Y gọi là “Hỏa Khí Dụng Sự” biến hóa không ngừng và nhanh chóng. Về thời tiết thì vừa nắng nóng vừa mưa lũ, các núi lửa bừng tỉnh dậy làm rung động địa cầu; về nông nghiệp, giống lúa đen lỗ nhưng không thành hạt (bị xép), các loại đậu và hao quả sinh trưởng muộn, trái mùa, lúa vàng cũng bị mất mùa, vũ trụ và vain vật không tươi nhuận, có phần thiếu sinh khí.

Về phương diện bệnh lý thì thấp nhiệt lan tràn, dễ sinh các bệnh phong lở, đau ở phần hạ thể (long, thận, đầu gối, gót chân); chứng phong chẩn (nổi mày đay, dị ứng) lạm vào trong làm đau bụng, đau vùng ngực, tim.
Thủy suy, nên thổ vượng. Khi Thổ mạnh quá, thì Mộc phục thù gió to, bão lớn đột ngột phát sinh...
Với thời khí này, con người đễ bị chứng mình nặng, phù thũng nhẹ, bụng đầy, da thịt máy giật (thủy chứng), tính khí hay giận...

Tóm lại:

Năm Tân Mão là năm Thổ thịnh, cây cỏ tốt tươi, nhưng vì thủy suy, thủy khí không đầy đủ (bất túc) nên trái, quả không nhiều, phẩm chất không ngon. Năm Tân Mão, Mộc khí sẽ tranh đấu với Thổ khí gây rung chuyển và trôi giạt... có gió to vào cuối các mùa trong năm. Mão thuộc âm Mộc, phương Đông, màu Xanh. Dần là tháng Giêng, đầu xuân, phối với Giáp, dương Mộc, Mão là tháng Hai, trực ở trọng xuân, phối ở Ất là âm mộc. Tân thuộc Mộc. Về số mạng, người tuổi Mão hợp với các tuổi Hợi và Mùi (trong Tam hạp: Hợi/Mão/Mùi); Xung đối với tuổi Sửu (trong Tứ Hành Xung: Thìn<->Tuất, Sửu<->Mùi). Riêng tuổi Tân Mão, mạng tùng bách Mộc, không bị ảnh hưởng bởi vận khí thủy bất cập.

NGÀY ĐẦU NĂM TÂN MÃO (mồng Một Tết), thuộc Hành HỎA, nhiều Hung Thần như: Hoang Vu, Địa Tặc, Hỏa Tai, Nguyệt Sát, Tứ Thời Cô Quả... là một ngày không thuận lợi đối với Việc Xuất Hành Cầu Phúc, Cầu Tài, Khai Trương, chỉ nên đi Chùa, nhà Thờ để cầu nguyện.
Năm Mão và Con Vật Biểu Tượng: Mèo hay Thỏ?

Tử vi Đông phương phát xuất từ Trung Hoa, 12 địa chi có 12 hai con vật tượng trưng: Tý (chuột), Sửu (trâu), Dần (cọp, hổ), Thố (thỏ), Thìn (rồng), Tị (rắn), Ngọ (ngựa), Mùi (dê), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (heo). Theo sách “A DICTIONARY OF CHINESE SYMBOLS” của Wolfram Eberhard, nhà xuất bản Routledge, thì con vật thứ tư trong Chu kỳ Hoàng Đạo (Chinese Zodiac) là con Thỏ rừng (Hare) chứ không phải là con mèo: “The hare is the fourth creature in the Chinese Zodiac. It is resident in the moon, juest as a raven is in the sun, and it is there still for everyone to see...”(trg 139). Chữ viết là:(), phát âm là “tu-z”, âm Hán Việt là “thố” Việt hóa thành “thỏ”. Chữ Mão của Việt Nam (có khi đọc là “Mẹo”) bắt nguồn từ tiếng “Mao” của Trung Hoa chỉ con mèo. Trung Hoa đọc là “mao”, tiếng Hán Việt đọc là “miêu”. Theo sách đã dẫn trên đây, thì con thỏ được xem như con mèo ở núi “The “mountain cat” is the hare” (sđd, trg 59). Phải chăng đây là nguồn mạch đưa đến sự thay thế con thỏ bằng con mèo trong tử vi đông phương tại Việt Nam? Sự khác nhau giữa hai con vật biểu tượng Thỏ và Mèo trong tử vi Tàu và Việt cần phải đặt ra và tìm hiểu, vì khi căn cứ vào tính tình và cuộc sống của con vật tượng trưng cho tuổi để luận đoán về con người, theo phương pháp loại suy (analogie-analogy) thì thỏ và mèo rất khác nhau về tính chất và về vị trí trong khu vực văn hóa.

Chẳng hạn, đối với người Việt, thỏ là biểu tượng của nhát gan (nhát như thỏ), nói dối (thỏ láo) còn mèo là biểu tượng của ung dung, dịu dàng, sung sướng, nhưng là điềm nghèo khó... vân vân. Trong lúc đó người Tàu rất trân trọng biểu tượng thỏ, xem nó là cư dân của cung trăng...

Vấn đề Mèo hay Thỏ này thật khó quyết đoán ngay được vì hiện chưa có tài liệu nào rõ rệt. Vậy thì tạm gác lại để cứ nói chuyện mèo trong năm Mão xem sao.
Trước hết cũng nên tìm xem họ hàng nhà mèo đã xuất hiện từ lúc nào trên trái đất, có những đặc điểm và sinh hoạt ra sao, sau đó mới tìm hiểu sự liên quan giữa mèo với đời sống loài người...
Họ Nhà Mèo
Theo sử sách thì những con mèo đầu tiên đã xuất hiện trên địa cầu vào cuối Nguyên đại Eocene, khoảng 38 triệu năm trước, tại vùng Bắc Mỹ và Eurasia, hình như đã tiến hóa từ loài chồn sơ thủy và giống xạ miêu...( mèo có mùi hôi).
Hầu hết loài mèo đều cô độc và dạ hành. Trừ loài sư tử thường được xếp vào các nhóm gọi là đàn (hùng mạnh) và loài báo đốm châu Phi là đi tìm mồi vào ban ngày. Con mồi của họ mèo nói chung, là những động vật khác nhau từ nhỏ như chuột đến những loài ăn cỏ, ăn lá lớn nhất như trâu, nai... Chúng thường bắt mồi bằng cách đứng hay nằm chờ và tấn công một cách nhanh chóng, chớp nhoáng. Các con mồi thường bị giết chết bởi một cú cắn vào phía sau cổ, những con lớn như trâu thì bị cắn vào cuống họng hoặc mũi làm cho ngộp thở.

Loài mèo thường có khả năng nghe rõ những âm thanh có tần số cao lên tới 50,000 chu kỳ/một giây hay nhiều hơn thính độ của loài người hai lần. Về thị giác, một thời người ta đã nghĩ rằng loài mèo không có khả năng nhìn màu sắc, nhưng các nghiên cứu từ thập niên 1950 đã cho thấy rằng mèo nuôi trong nhà, ít nhất cũng có một khả năng tri giác nào đó về màu sắc, có khả năng tri giác màu đỏ và màu xanh.

Đời sống sinh dục của loài mèo:

Các họ mèo thân hình nhỏ có thể trưởng thành về mặt sinh dục vào tuổi dưới một năm, còn các họ mèo lớn hơn thì thường không sinh sản hoặc gây giống cho đến khi chúng đạt đến lúc được vài ba tuổi. Nơi họ mèo bé nhỏ, thời gian mang thai là hai tháng và nơi họ mèo lớn là khoảng ba tháng. Mèo đẻ trung bình mỗi ổ hai hoặc ba mèo con, với số giới hạn trong vòng từ một đến tám.
Hầu hết các họ mèo đều sống lâu khoảng 15 năm tuổi, nhưng tuổi thọ này cũng thay đổi tùy theo chủng loại và tùy thuộc vào hoàn cảnh sống riêng của mỗi con.
Có Bao Nhiêu Loại Mèo?:
UserPostedImage
Các nhà sinh vật học đã đưa ra nhiều bảng phân loại về họ mèo khác nhau và hiện đang được sử dụng, nhưng qua một bảng phân loại được chấp thuận rộng rãi, thì họ nhà mèo được xem như gồm có 37 chủng loại hiện đang sống tập hợp thành bốn loài (genera) chính: Felis, Panthera, Neofelis và Acinomyx.

Theo truyền thống thì giống Felis bao gồm các giống mèo nhỏ có bộ răng 30 cái. (Giống sơn miêu hay mèo rừng (lynx) chỉ có 28 răng nên thường xếp riêng cho loài Lynx). Một giống thuộc họ mèo mà nhiều người biết đến đó là cọp.
Có khoảng chín giống mèo được tìm thấy trên địa cầu:

1/ Mèo hoang Âu châu (F. Silvestris) sinh sống tại Âu châu từ Tô Cách Lan đến vùng Tiểu Á ( Asia Minor) và lan tàn đến Bắc Á, giống này không thuần hóa được.. 2.- Mèo rừng (Jungle Cat, F. chaus) cũng có thân hình lớn như mèo hoang Âu châu chỉ khác ở chòm lông dài dọc theo đoạn chính giữa lưng. Giống này tìm thấy ở các rừng cây khô ráo và nương rẫy ở Đông Bắc Phi châu và lan tràn đến Á châu và Trung Hoa. Cả hai giống mèo này đều được tin là tổ tiên của giống mèo nhà. 3.- Mèo Kaffir (F. lybica) giống mèo hoang thông thường ở Phi châu, sống khắp nơi trên lục địa, nhất là tại các vùng có nương rẫn và cỏ cao. 4.- Mèo Pallas (F. manul), tai ngắn, lông xám bạc, có vài sọc đen hai bên vùng lưng, sống ở vùng thảo nguyên Siberia, sa mạc Mông cổ, và các vùng đá sỏi khô cằn của Tây Tạng. 5.- Mèo Beo (F. bengalensis): là giống mèo đốm thông thường tại Đông Á châu, rải rác trong các vùng từ phía Đông Tây Bá Lợi Á xuống Nam Mã Lai và Nam Dương (Indonesia), Tây Bangal, đến phía Đông Đài Loan và quần đảo Phi Luật Tân. Giống mèo này cả thân và đầu chỉ dài khoảng 25 inches tức 65 cm. Người Tàu gọi giống mèo này là”Mèo đồng tiền” (Chin oh ien mao) vì những đốm tròn trên thân mèo giống với đồng tiền Trung Hoa... 6.- Mèo bắt cá (Fishing cat) thuộc giống F. viverrina, gốc gác từ Ấn Độ đến Đài Loan và Nam Dương. Chúng thường lui tới trên những bờ kênh, lạch, khe suối, ao hồ để kiếm mồi nuôi sống. Các nhà quan sát nhận thấy rằng giống mèo này sông bằng những thịt của loài thủy tộc có vỏ cứng (loài giáp xác) chứ không phải loài cá theo nghĩa thông thường, đôi khi chúng cũng ăn thịt những con chim nhỏ và một số động vật khác. Loại này lớn, cân năng 25 pounds (11 kilô). 7.- Kim miêu hay Kim Mao (golden cat) thuộc giống F. temminckii, là một loại mèo to lớn tìm thấy ở Nam Á châu từ Trung quốc đến Mã Lai, Nepal và Nam Dương. Giống mèo này thân dài trên dưới 4 feet tức 1 mét 20 kể cả đuôi (18 in. = 45 cm) bộ lông màu vàng kim pha hồng sẩm, đôi khi có những chấm đặc biệt. Giống kim mao sống trong những vùng núi đá và rừng. Mồi của chúng là nai nhỏ, cừu, dê thỉnh thoảng là trâu nghé. 8.- Mèo mướp hay mèo cẩm thạch (marbled cat) thuộc giống F. marmorata, là loại mèo đẹp nhất và nhỏ bé của Á châu, sinh sản trong vùng từ Hi Mã Lạp Sơn (Himalayas) đến Mã Lai và Boeneo. Con vật này có thân dài khoảng 3 feet tức 90 cm kể cả cái đuôi lông xù dài bằng than hình (18 in. = 45 cm). Với bộ lông như cẩm thạch, giống mèo này dễ núp lén trong các khu rừng mà chúnh sing sống. 9.- Mèo hoang Nam Mỹ (Pampas cat) thuộc giống F. Colocolo, cũng còn gọi là mèo rơm, mèo cỏ... tìm thấy ở Nam Mỹ từ phía Nam Patagonia đến Ba Tây và Bolovia. Nó có bộ lông dài, dày và thô cứng, có cái bờm nổi cộm trên sống lưng, cái đầu có vẻ nặng nề, mặt tròn và ngắn, chân cũng thấp, sống ở các vùng đồng bằng nhiều cỏ, lông màu vàng nâu.

Những giống mèo kể ra trên đây đều sống tại những nơi hoang dã của thiên nhiên như núi, rừng... Ngoài chín giống trên, còn có một giống mèo thứ mười đó là mèo nhà hoặc đúng hơn “mèo nuôi trong nhà.” Mèo Nuôi Trong Nhà (The Domestic Cat):
UserPostedImage
Mèo nhà là tiếng thường dùng để chỉ một động vật thuộc loài có vú, nhỏ bé, linh hoạt (agile) và là một trong những con vật được nuôi trong gia đình như là bạn của con người.

Mèo nhà đã thích ứng để sống chung với loài người và lệ thuộc con người, nhưng nếu vì một lý do nào đó nó không thể sống cùng con người thì mèo vẫn có thể tồn sinh trong thế giới riêng của loài mèo nghĩa là như mèo hoang, tự tìm lấy cái ăn để sống.

Mèo nhà là thành viên nhỏ bé nhất trong họ nhà mèo gồm những thành viên như sư tử, cọp, beo (leopard) và báo đốm Mỹchâu (jaguar). Sở dĩ mèo nhà được liệt vào một họ với sư tử, cọp, beo, mà Mỹ thường gọi là Big Cat, là vì tuy nhỏ bé về thân hình, nhưng về căn bản, các đặc điểm cơ thể và tập tính, mèo nhà đều giống với các thành viên khác trong họ mèo.

Người ta ước lượng có khoảng chừng 50 triệu con mèo nhà trên toàn nước Mỹ. Dĩ nhiên là không phải tất cả đều thật sự đang được nuôi trong nhà. Một số nhà nghiên cứu cho rằng không có một giống mèo nào được hoàn toàn thuần hóa cả, mèo có thể trở thành mèo hoang (feral cats) cũng như đã trở thành thú vật nuôi trong nhà sống chung bên cạnh con người. Khi còn ở với người mèo hiền lành nhưng sau khi xa người, trở thành mèo hoang một thời gian, sẽ rất hung dữ.
Con Người Nuôi Mèo Từ Lúc Nào?

Nguồn gốc của mèo nhà được quy chiếu về với thời thượng cổ. Căn cứ vào những cuộc khai quật, các nghiên cứu về các hang động và những nét khắc họa cũng nét viết từ Trung Hoa, Á-rập (Arabia), Ai-cập và Ấn độ... thì mèo được nuôi trong nhà như bạn của con người (pet) đã ít nhất từ 5,000 năm về trước.

Tại Ai-cập, mèo được xem là vật thiêng liêng và được bảo vệ bởi luật pháp, do đó tại đây có nhiều mèo hơn bất cứ một nền văn minh nào trước đó hay từ đó.

Đã có rất nhiều huyền thoại và truyền thuyết liên quan đến loài mèo. Chẳng hạn, người Ai Cập đồng hóa mèo với nữ thần mặt trăng. Có lẽ là vì mèo có con mắt phản chiếu những hình ảnh kỳ bí...Vào thời Trung cổ, thời điểm mà sự tin tưởng vào ma thuật (witchcraft) đã trở thành phổ thông tại Âu Châu, thì nhiều người tin rằng mèo đen là bạn đồng hành của những tay phù thủy. Hậu quả là mèo thường bị hành hạ, đánh đập tàn nhẫn hoặc bị đốt trong các đống lửa lớn ở ngoài trời...

Những tin tưởng dị đoan về mèo vẫn tiếp tục tồn tại một thời gian sau khi mèo được những người đi chinh phục thuộc địa đem theo đến Bắc Mỹ. Khoa học đã dần dần đào thải các tin tưởng dị đoan. Mèo được nuôi trong nhà và năng khiếu bắt chuột, giết chuột của mèo ngày càng được nhìn nhận là hữu ích, cho nên số lượng mèo đã gia tăng nhanh chóng trong quần chúng. Tuy thế, vết tích của mê tín dị đoan liên quan đến mèo ngày nay vẫn còn trong quan niệm rằng trên đường ta đang đi nếu có một con mèo đen chạy ngang qua là điềm xấu.

Tại Hoa Kỳ, đa số những người nuôi mèo đều xem như nuôi con vật bạn hữu (pets), nhưng thực tế, mèo có một giá trị kinh tế rất lớn trong việc ngăn chặn được chuột phá hoại mùa màng. Nhiều nông dân và nhiều người chỉ nuôi mèo nhằm mục đích duy nhất là để trị chuột.

Và để phục vụ số lượng mèo nuôi trong nhà, tại Mỹ đã có những cơ sở sản xuất thức ăn cho mèo thu hút khá nhiều nhân công. Trị giá thức ăn của mèo tính vào cuối thập niên 1980 là hơn hai tỉ Mỹ kim/mỗi năm. Ngoài ra còn bao nhiêu thứ cần cho sự chăm sóc mèo cũng đòi hỏi có xí nghiệp sản xuất. Đặc điểm và Tính Tình của Mèo:

Mèo nhà khi đúng độ lớn trọnglượng trung bình từ 4 pounds (tức 1.8 kg) đến nhiều nhất là 18 pounds (tức 8.2 kg). Về cấu tạo cơ thể có nhiều sự khác biệt nhau rất rõ. Chẳng hạn, chiều dài của chân, của thân, của đuôi và kích thước của tai. Ngoài ra còn có sự khác biệt tổng hợp như mèo chân lùn với đuôi dài, chân dài đuôi cụt và nhiều thứ khác nữa.
Về phân loại các giống mèo thường căn cứ trên những khác biệt này cũng như trên màu sắc và phẩm chất của bộ lông.

Những đặc điểm của đầu và mặt cũng thay đổi rất nhiều. Có những con mèo với cái mặt lộn ngược hoặc lõm vào đến nỗi giống như loài chó Bắc Kinh; những con mèo này thường gọi là mang mặt chó Nhật Bản. Trong nhiều loài khác thì khuôn mặt dài và hẹp. Nơi mèo đực (tomcat) trưởng thành cái đầu phát triển rộng hơn nơi mèo cái (cattas) do đó đực hay cái đã phân biệt sẵn rồi.

Đời sống trung bình của mèo là từ 10 đến 15 năm nếu không chết yểu vì thươngtích hay bệnh tật. Thỉnh thoảng cũng có một số mèo sống tới trên 20 năm. Bộ Xương và Bắp Thịt:

Một trong những phương tiện tốt nhất giúp mèo tồn tại là cấu trúc của bộ xương và bắp thịt. Cách cấu trúc này đã làm cho con vật vô cùng uyển chuyển và mềm dẽo trong các cử động. Cái xương sống rất linh động và hai chân trước có thể xoay một cách tự do ra phía ngoài khớp vai, cho phép mèo chui qua những chỗ rất hẹp và lượn vòng nhờ đó mà mèo thường đáp xuống mặt đất trên bốn chân của nó khi bị rớt từ trên cao. Điều cần nói ở đây là người ta thường nghĩ rằng chính cái đuôi dài của mèo đã điều khiển khả năng đứng thẳng khi rơi xuống đất. Quan điểm này không được chấp nhận vì sự kiện rằng những con mèo cụt đuôi như loài mèo của đảo Manx cũng có cùng khả năng này. Nhờ khả năng này mà loài mèo đã có thể sống sót khi rơi từ các cao độ lớn.

Hiện nay, mèo đang là đối tuợng của một số cuộc khảo cứu liên quan đến tình trạng vô trọng lượng (weightlessness). Một cách khá kỳ qúai, các khảo cứu này đã chứng minh rằng dưới những điều kiện vô trọng lượng một con mèo sẽ không thể tự nó điều chỉnh hướng mà sẽ nổi trôi khắp mọi vị trí; trái lại, một con người sẽ tự điều chỉnh hướng của mình bằng phương tiện của thị giác.
Bộ Lông và Màu Sắc:
UserPostedImage
Bộ lông mèo có nhiều dạng: có thể có sọc, một màu hoặc tổng hợp nhiều màu, nhiều đường nét hay đốm khoang... Những màu căn bản thường là: mèo mướp (tabby), mèo mun (black), da cam, mai rùa, trắng và mèo Xiêm (Thái Lan). Mèo tam thể là mèo có bộ lông tổng hợp bởi ba màu. Màu sắc của lông mèo đều được quyết định bởi “Gene” và sự di truyền.

Mèo mướp thường gọi là “mèo cọp”. Có nhiều loại mèo mướp sọc đen trắng khác nhau: sọc rõ, hẹp và gần nhau, sọc đen có bề rộng trung bình phân biệt với sọc trắng và một loại thứ ba có ít sọc với nhiều đốm vòng. Mèo có lông xanh hoặc màu kem có thể là mèo mướp hay một màu thôi. Bộ lông “mai rùa” còn gọi là mèo hoa (calico) với một tổ hợp những mãng đỏ và đen. Kinh nghiệm cho thấy rằng hầu hết những mèo hoa với lông trắng hoặc không, đều là mèo cái. Màu Lông và Màu Mắt của Mèo:

Mắt mèo trong và thường có màu hồng vì ánh sáng phản chiếu từ những mạch máu trong mắt. Nơi một loại mèo khác thì bộ lông trắng, nhưng mắt màu đen lánh. Mắt mèo cũng còn có màu xanh hay lục và thỉnh thoảng một mắt xanh một mắt lục... Mèo trắng, mắt xanh thường là mèo điếc! Chân Mèo:

Mèo bình thường chân có bốn ngón xếp quanh bàn chân hơi tròn, có lông mọc giữa các ngón chân. Móng và vuốt của chân mèo có khả năng thu lại và bung ra, được điều khiển bằng các gân. Khi mèo đùa giỡn thì các móng vuốt sắc bén thu lại nhưng khi mèo chiến đấu thì giương móng vuốt ra. Trên mỗi cẳng chân trước của mèo có một cái ngón phụ, gọi là cái “đeo” một loại móng giả, móng này không đụng mặt đất. Nó có ích trong việc leo trèo. Một số ít mèo có nhiều ngón chân hơn bình thường, tuy vậy không thể gấp đôi số ngón chân trung bình.
Răng Mèo:

Một đời sống, mèo có hai bộ răng. Bộ thứ nhất, răng tạm (deciduous), 26 cái, mọc ra vào lúc mèo con được hai hay ba tuần tuổi. Khi được ba tháng rưỡi hoặc bốn tháng tuổi, bộ răng tạm rụng hết ra dần dần được thay thế bởi 30 cái răng vĩnh viễn. Bố trí như sau: hàm trên gồm 6 răng cửa (incisors), 2 răng nanh (canines), 6 răng hàm ngoài (premolars) và 2 răng hàm (molars) trong; hàm dưới cũng giống hàm trên chỉ không có hai răng hàm trong mà thôi. Răng nanh mèo nhọn và sắc để có thể cắn xuyên da thịt của loài gậm nhắm tạo nên cái chết nhanh chóng. Răng mèo có cạnh sắc để cắt thịt ra thành miếng nhỏ trước khi nuốt.
Tiếng Kêu:

Các nhà nghiên cứu đã phân ra ba thứ tiếng mèo kêu: tiếng gừ gừ (purring), tiếng mi-ao và tiếng rít xì dài (hisses). Tiếng Gừ gừ gồm những âm rì rầm và rung chuyển tạo nên khi miệng khép lại. Đây là những tiếng kêu khi mèo thích thú, hưng phấn thần kinh.Tri thức thông thường cho rằng khi mèo kêu gừ gừ là đang thỏa mãn, sự thật thì khi sợ hải chúng cũng gừ gừ... Tiếng Mi-ao là âm thanh căn bản của mèo, khi kêu “mi-ao, mi-ao” miệng mèo mở ra rồi khép lại ngay. Tiếng rít xì dài tạo nên khi miệng mèo há ra và giữ nguyên vị thế. Nói chung, mèo có thể thay đổi các tiếng kêu này như thay đổi ngôn ngữ nơi người (khi nói chuyện). Những tiếng kêu mang âm hưởng than vãn, kêu xin hay gào réo chỉ phát ra từ mèo cái khi các nàng sẵn sàng giao hợp. Mèo đực đáp ứng tiếng kêu, khi nó được lặp lại nhiều lần. Người Âu, Mỹ phiên âm tiếng mèo kêu là “mi-ao, mi-ao”; người Việt thì nghe là “meo... meo”.
Về Cảm Quan:

Trên nguyên tắc căn bản, mèo là một động vật sống về đêm. Do đó, mắt mèo nhìn rất rõ trong bóng tối. Cấu taọ của mắt mèo với võng mô (retinas) có một số lượng dồi dào những tế bào hình roi là những tế bào cảm quang hoạt động trong ánh sáng mờ nhạt. Trong tối tăm hoàn toàn mèo cũng như các sinh vật khác đều sẽ không thấy được gì cả. Mặc dù bẩm sinh mèo sống trong bóng tối, nhưng mèo vẫn có thể nhìn rõ trong ánh sáng ban ngày. Đồng tử mắt mèo tự điều chỉnh theo ánh sáng nhiều hay ít: trong ánh sáng rực rỡ, đồng tử mắt nhỏ lại và trong ánh sáng lờ mờ, đồng tử mắt nở lớn ra để nhận nhiều hơn. Mèo có thể nhìn rõ trong ánh sáng ban ngày nhưng tầm nhìn chỉ bằng một phần năm tầm nhìn của con người. Mèo có thể phân biệt các hình dạng và có thể nhìn nhận được vài màu sắc chứ không hoàn toàn mù về màu như người ta đã nghĩ trước đây.

Tai mèo rất thính, nhạy. Mèo có thể nghe tiếng sột soạt nhẹ của một con chuột trong đám cỏ dày. Sự thính tai này căn bản trên khả năng cảm nhận những sóng âm thanh. Mèo có thể nghe âm thanh cao đến 60,000 chu kỳ trong một giây trong lúc tai người không thể nghe âm thanh trên 20,000 chu kỳ. Mèo có khả năng định vị trí nguồn phát ra âm thanh giỏi hơn chó và người.
Ria hay Râu Mèo:

Những sợi lông cứng và dài mọc từ môi trên chỉa ngang ra từ hai bên mép gọi là ria mèo. Ria (whirkers) mèo là một bộ phận rất nhạy cảm thuốc xúc giác (touch) giúp cho mèo nhận phản xạ âm thanh và có chức năng giống như cần ăng-ten của mèo. Bằng chứng là những con mèo bị mù với bộ ria toàn vẹn có thể đi qua giữa các đồ vật chướng ngại mà không va vấp vào chúng. Nếu cắt hết ria mép của mèo thì ban đêm nó không có gì giúp để tránh va chạm vào đồ vật. Ngoài ra mèo còn có khứu giác (sense of smell) nhạy bén dùng để săn mồi và tìm đồ ăn. Về vị giác (taste)mèo cũng tương đương với người.

Về Thông Minh: Hình như mèo được xem như cũng thông minh như chó và một số thú vật nuôi trong nhà nhưng không bằng khỉ và vượn. Ngày nay người ta đã có thể dạy cho mèo một số việc như đã huấn luyện cho chó.Mèo được dạy nhào lộn, múa, sử dụng keyboard computer, đánh Piano vân vân.
Tập Tính và Cách Hành Xử:

Mèo sống lang thang khắp nơi. Không giống như các loài thú khác, loài mèo không chiếm lấy riêng một lãnh địa nào, và do đó không chiến đấu để bảo vệ.

Nuôi chung trong nhà với chó từ nhỏ, nếu không do người tập tính ác cảm, mèo và chó sẽ đi đôi với nhau rất thích thú và thân thiết. Dường như mèo thích thú được chó đuổi rồi đuổi ngược lại... Người Việt có thành ngữ “sống với nhau như chó với mèo” chỉ những cuộc sống chung không hòa thuận của một số người trong một số gia đình. Khái niệm này bắt nguồn từ chuyện chó với mèo ghét nhau vì sự phân biệt đối xử của chủ nhà, đặc biệt là trong bữa ăn, chó phải ở dưới đất còn mèo thì ngồi trên sạp, trên bàn ăn với chủ.

Phần 2
Mèo Và Chuột, Phải Chăng Kẻ Thù Truyền Kiếp?
UserPostedImage
Mèo khởi sự bắt chuột tự lúc nào? Tại sao? Đó là câu hỏi mà nhiều người đã và đang đặt ra nhưng chưa có câu trả lời thỏa đáng. Người ta thường nghĩ một cách đơn giản mèo và chuột có lẽ là kẻ thù của nhau trong vũ trụ thiên nhiên. Một vài nhà tâm lý học cho rằng trong thiên nhiên, mèo có thể yêu cũng như có thể ghét chuột. Chẳng hạn, trong một số thí nghiêm, khi được nuôi chung từ bé, lớn lên mèo và chuột rất thân thiện, có lẽ vì chuột đã quen một số mùi của mèo. Trong một số thí nghiệm khác, mèo nuôi chung với chuột trắng sẽ chỉ không ăn thịt chuột trắng mà lại bắt chuột đen. Sự đói không có ảnh hưởng gì đến chuyện mèo bắt chuột. Ngoài ra, những con mèo “ăn chay” không ăn thịt những con chuột mà nó bắt được, bản năng bắt chuột không bị ảnh hưởng bởi “ăn chay”. Người ta cũng đã chứng kiến cảnh mèo mẹ đi tha chuột về để dạy cho con tập bắt chuột. Một thí nghiệm khác cho thấy khi nuôi những con mèo con cô lập từ nhỏ đến trưởng thành, một nửa trong số chúng đã biết bắt chuột không cần học tập. Vậy phải chăng mèo sinh ra để bắt chuột?
UserPostedImage
Tại Hoa Kỳ, đôi khi người ta thấy mèo nhìn chuột một cách thanh bình, không có ý thù hận hoặc muốn bắt chuột. Chưa tìm thấy một thoại hay một truyền thuyết nào giải thích sự kiện này cả. Mèo Trong Văn Hóa và Đời Sống Loài Người Mèo và chó là hai con vật được nuôi và được sống chung dưới cùng một mái nhà với người. Trong xã hội Việt Nam, mèo xem như được nuông chiều hơn chó mặc dầu chủ nhà thường thừa nhận là chó có nhiều công lao và trung thành hơn mèo. Mèo đã đi vào cuộc sống con người trong các lãnh vực văn chương, tín ngưỡng, biểu tượng vân vân. Mèo được sống chung trong nhà với người, nhưng Mèo không có mặt trong cuộc “tranh công của lục súc”. Trong tác phẩm “Lục Súc Tranh Công” (Khuyết danh) chỉ có Trâu, Chó, Ngựa, Dê, Gà và Heo. Tại sao cùng là vật nuôi trong nhà mà Mèo không được liệt vào hàng “Súc”?

Muốn hiểu vấn đề cần tìm xem chữ “súc” nghĩa là gì? Từ Điển Hán Việt của Thiều Chửu định nghĩa: Súc là “Giống muông nuôi trong nhà, như: ngựa, trâu, dê, gà, chó, lợn, gọi là lục súc”...(trang 406 sđd). Định nghĩa này không soi sáng được gì mà còn tạo thêm hiểu lầm, vì mèo cũng được nuôi trong nhà! Trong phần mở đầu của “Lục Súc Tranh Công” tác giả đã viết: “Trời hóa sinh muôn vật Đất dong dưỡng mọi loài Giống nào là giống chẳng tài; Người đâu dễ không người nhờ vật. Long chức quản bổ thiên, dục nhật Lân quyền tư giúp thánh, phò thần Quy thông hay thành bại, kiết hung Phụng lảu biết thạnh suy, bỉ thái. Trong trời đất ba ngàn thế giái Đều xưng rằng tứ vật chí linh Nhẫn đến loài lục súc hi sinh Trời cho xuống hộ người dương thế.”

Căn cứ vào câu “Nhẫn đến loài lục súc hi sinh” tôi thấy rằng sở dĩ Mèo không liệt vào danh sách Lục Súc là vì mèo không phải là con vật nuôi để ăn thịt. Sáu con vật kia đều có thể dùng thịt để ăn khi cần cho nên mới nói “lục súc hi sinh” trong đó có ba con thường dùng trong việc tế lễ, cúng kiến gọi là “tam sanh” gồm heo, gà, dê. Tam sanh có nghĩa là ba con vật phải hi sinh để cho người tế thánh thần. “Lục súc hi sinh” thường gọi tắt là “súc sinh” tức vật nuôi để làm việc và ăn thịt. Về nghĩa bóng “Súc sinh” trở thành từ ngữ hàm ý miệt thị, hóa kiếp con người trong hiện tiền thành con vật.
Mèo Trong Văn Chương:

Văn chương bình dân và văn chương bác học đều có một số đề tài liên quan đến Mèo.

1/ Trong Ca Dao:

Có khá nhiều câu rất dí dỏm:

Nói về xích mích giữa chó với mèo:

"Con mèo trèo lên cây vông,
Con chó đứng dưới ngó mông con mèo
Mèo rằng: ”Sao chó chẳng theo?
Lên đây mèo sẽ dạy leo cho mà!”
(Vì vậy mà Mèo hay bị chó rượt, do chó tìm cách trả đũa)

Nói về mối thù giữa mèo với chuột:

“Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đàng xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo!”

Nói về tính khí tự đắc:

”Mèo nằm bồ lúa vĩnh râu
Thấy con chuột chạy ngóc đầu kêu ngao...”

Nói bóng gió về nỗi oan tình thường xảy ra trong đời:

“Con mèo đập bể nồi rang
Con chó chạy lại phải mang lấy đòn.”

Những câu hát vui, chuyên chở một sự đương nhiên:

“Con mèo, con mẻo, con meo
Muốn ăn thịt chuột, phải leo xà nhà.”

hoặc nói về nếp sống hằng ngày của mèo:

“Con mèo nằm bếp ro ro (co ro?)
Ít ăn, nên mới ít lo, ít làm...”

Về tính nết :
“Tuổi Mẹo là con mèo ngao
Hay quấu hay cào, ăn vụng quá tinh”

hoặc mỉa mai:

“Mèo nào mèo lại ăn than
Bởi chưng có mỡ đổ tràn lên trên”

2/ Trong Sấm Trạng Trình:

“Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi
Trâu cày ngóc lại chào đời bước ra
Hùm gầm khắp nẻo gần xa
Mèo kêu rộn tiếng quỷ ma tơi bời
Rồng bay năm vẻ sáng ngời
Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng
Ngựa lồng quỷ mới nhăn răng....”

Câu sấm trên đây, thiền sư Đại Lãng đã phiếm luận như sau: “Năm Tý (2008) là năm kinh tế dồi dào, chuột rơi vào gạo tức là no ấm, sung túc. Năm Sửu (2009) trâu cày lại bước ra chào đời chỉ sự vất vả lam lủ của năm mà kinh tế Á châu bị khủng hoảng trầm trọng, vì chịu ảnh hưởng suy thoái kinh tế khắp toàn cầu! Riêng Á châu là nơi có nhiều trâu đã phải cày cấy rất nhọc nhằn. Trâu làm việc nhiều mà không đủ cỏ, rơm để ăn, nên bị bệnh lỡ mồm, long móng.

Năm Dần (2010) “Hùm gầm khắp nẻo gần xa” vì những con cọp kinh tế Á châu đang bị vây trong vòng khủng hoảng trầm trọng của kinh tế tài chánh, đang lớn tiếng kêu cứu một cách khẩn thiết...các nước trên thế giới viện trợ. Riêng tại rừng chính trị Việt Nam, những con hùm một thời làm chủ sơn lâm như Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (nguyên Đại sứ CS Việt Nam tại Bắc Kinh), cựu phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình vân vân, như đang gầm rú đòi phá hủy chế độ xã hội đã và đang gây tàn hại đất nước, từ núi rừng, đến sông biển (họ đòi ngưng khai thác Bâu Xít ở Cao Nguyên Trung Việt, ngưng cho thuê Rừng Đầu Nguồn vân vân). Trong tất cả những tiếng gầm của những cựu đảng viên CS nhiều tuổi đảng nhất, tiếng gầm của Trần Độ trước đó đã gây tác động mạnh nhất về tư tưởng làm cho quỷ đỏ, ma mảnh phải tơi bời không chống nhưng khó đỡ nổi. Năm 2011 “Mèo kêu rộn tiếng quỷ ma tơi bời” ý nói năm Tân Mão này với các phong trào chống đối nổ ra khắp nơi, CS Việt Nam sẽ te tua vì phải đối phó với những cao thủ chính trị cùng với áp lực đòi nhân quyền, đòi Dân Chủ từ quốc nội đến hải ngoại...

Suốt năm con mèo CS sẽ vô cùng khốn nguy vì các cuộc chống đối của trí thức và tôn giáo tại quốc nội. Đến đây người ta nhớ lại câu sấm
“Mèo ngoao cắn cổ ông thầy,
ông thầy bắt được cả bầy mèo ngoao!”
của năm Quý Mão (1963). Cho đến năm Thìn (2012), “Rồng bay năm vẻ sáng ngời” tức là rồng năm sắc sẽ bay về với chính nghĩa quốc gia ngời sáng trời Đông, chuẩn bị cho năm Tị “Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng” tức là quỷ ở Địa Ngục đỏ hấp hối, khắc khoải... cho đến năm Ngọ (2014) “Ngựa lồng” đạp cho quỷ nhăn răng mà chết. Chế độ cộng sản chấm dứt...” Theo Đại Lãng thiền sư thì tuy Sấm Trạng Trình áp dụng để đoán thời cuộc “tam bách niên tiền và tam bách niên hậu” nhưng vì lịch sử có những chu kỳ tái diễn, nên những câu sấm này chắc có thể đúng một lần nữa. Quý vị có tin như thế không? Nếu có hãy cầu anh linh tiền nhân hộ trì.

3/ Mèo Trong Chuyện Trạng Quỳnh:

Chuyện: “Đánh Cắp Mèo Của Vua” “Vua Lê có một con mèo rất quý. Vua cho làm một cái xích bằng vàng để buộc mèo. Hằng ngày mèo vua thường ăn toàn cao lương mỹ vị. Một hôm vào cung vua, nhân lúc vắng người, Quỳnh liền ôm con mèo ấy về nhà. Quỳnh bỏ cái xích bằng vàng đi, thay bằng một sợi giây chuối. Đến bữa ăn, Quỳnh đặt trước con mèo, một bên là bát cơm rau muối, một bên là bát thịt cá. Hễ con mèo bước đến bát thịt cá là Quỳnh cầm roi vụt. Ngày nào cũng thế, bữa nào cũng thế, mèo đói quá đành phải ăn bát cơm rau muối. Được rèn luyện như thế chừng mươi hôm, thì khi mèo đứng trước hai bát cơm rau muối và thịt cá, con mèo cứ cơm rau muối mà ăn. Một hôm, vua Lê cho gọi Quỳnh vào cung và phán rằng: - “Ta nghe nói nhà ngươi có con mèo giống như con mèo của ta đã mất, vậy ngươi mang con mèo đó vào cho ta xem thử có phải mèo của ta không?” Quỳnh về mang mèo vào cho vua xem. Vua nhận ra đó là con mèo mà vua đã mất. Quỳnh tâu rằng: -“Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ muốn biết con mèo là của bệ hạ hay của hạ thần, xin bệ hạ cho thử. Mèo của hạ thầmn là mèo của nhà nghèo, nó chỉ quen ăn cơm rau, cơm muối. Mèo của bệ hạ là mèo của nơi tôn quý, quenă cao lương mỹ vị. Bệ hạ cho đặt trước con mèo này một bát cơm rau muối và một bát cơm thịt cá, nếu mèo ăn bát thịt cá thì đó là mèo của bệ hạ, trái lại nó ăn bát cơm rau muối, thì đó làmèo của thần”. Vua Lê nghe lời, cho để hai bát thức ăn như thế ở trước con mèo. Quả nhiên con mèo chỉ ăn bát cơm rau. Quỳnh cười chỉ vào mèo, nói: - “Tâu bệ hạ, đó là mèo của nhà nghèo.” Thế là vua đành phải để Quỳnh ôm con mèo quý về nhà. (theo Việt Nam Văn Học Toàn Thư - Hoàng Trọng Miên)

Các nhà phân tích cho rằng câu chuyện trên đây mượn cớ con mèo để nói lên ý thức phản kháng đối với chế độ quân chủ, nói lên sự tranh chấp đấu trí của hai lớp người trong xã hội. Thật ra, không phải chỉ có khía cạnh xã hội được bao hàm trong câu chuyện này. Nó còn một khía cạnh khoa học nữa. Đó là kinh nghiệm về “hành động theo phản xạ có điều kiện”(réflexe conditionné) như trong thí nghiệm sinh vật học của nhà khoa học người Nga, thế kỷ 19, ông Pavlov. Pavlov đã thí nghiệm với con chó: cứ mỗi lần cho ăn, đánh một tiếng chuông, sau nhiều ngày, phản ứng của chó khi ăn liên kết với tiếng chuông. Do đó, sau này, mỗi lần nghe tiếng chuông là dịch vị trong miệng và dạ dày chó tiết ra, dù không có đồ ăn trước mặt. Trường hợp con mèo mà Trạng Quỳnh luyện tập cũng vậy: việc bước tới bát cá cơm liên kết với sự đau đớn do roi vụt, cho nên cứ nghe tiếng roi vụt là phải tránh xa bát cơm có cá thịt. Như thế là vào thế kỷ thứ 18, trạng Quỳnh của Việt Nam đã có kinh nghiệm về “phản xạ có điều kiện” để áp dụng mà huấn luyện con mèo của vua thành mèo nhà nghèo. Chỉ tiếc là sự kiện này vẫn nằm trong tri thức thường nghiệm (connaissance empirique), không có công trình hay sáng kiến để biến nó thành khoa học thực nghiệm (expérimentale) như tại Âu Mỹ!

4/ Mèo Trong Truyện Kiều:

Chữ “mèo” chỉ xuất hiện một lần trong thành ngữ “mèo mả gà đồng” “Con này chẳng phải thiện nhân Chẳng phường trốn chúa, thì quân lộn chồng Ra tuồng mèo mả gà đồng...” (cc 1729-1731) “Mèo mả gà đồng” ám chỉ những mèo hoang, lang thang trong nghĩa địa, sống quanh các mồ mả, gà rừng sống ở ngoài đồng, ý chỉ những người không có nơi ăn, chốn ở đàng hoàng, con gái, đàn bà bất chính... 5/ Mèo và Người: - Người Mèo: Là một trong các sắc dân thiểu số tại vùng thượng du miền Bắc Việt Nam từ biên giới Trung Quốc xuống gần lưu vực phía bắc sông Gianh, như: Nùng, Thổ, Mán, Lô Lô, Mèo, Khả, Lư, Phủ-nội, Thái, Mường...

- Mèo hai chân:
UserPostedImage
Một người đàn bà tự trang điểm làm cho mình trở nên hấp dẫn để quyến rũ những người đàn ông hiếu sắc, tỏ ra khao khát yêu đương, thích được vuốt ve, âu yếm... thường bị xem như một “con mèo đen” ma mảnh, có sức thu hút kỳ diệu. “Có mèo” hay “theo mèo” là từ ngữ chỉ một người đàn ông có gia đình bị rơi vào vòng tình ái với một người nữ đầy sức quyến rũ. Đây chính là loại “mèo hai chân”. Người đàn bà có sức quyến rũ về thể xác và tâm hồn, bằng lòng ăn ở không chính thức với một người đàn ông có gia đình, được gọi là “mèo.” Nguyên do từ đâu? Về mặt phân tích tâm lý, có thể tạm giải thích bằng những nguyên cớ sau đây:

a/ Về cử chỉ và cung cách: “Cô Mèo” thường dịu dàng, ngoan ngoãn, thuần phục... như dáng điệu con mèo khi được vuốt ve, âu yếm... mắt nhìn “tình tứ” xuyên suốt, tiếng kêu nhỏ nũng nịu, rên rỉ, khi được vuốt ve, thân hình mềm ra... đây là những yếu tố tâm lý có khả năng lôi cuốn lòng ái dục nơi nam giới...nhất là những người đầy “anh hùng tính,” ưa chiều chuộng...

b/ Tính cách hấp dẫn của sự vụng trộm, thầm lén và sự đuổi bắt (mèo-chuột), “mèo” là đối tượng, tuy có thể chiếm hữu, nhưng vẫn không thể sở hữu vô điều kiện như vợ ở nhà được, cho nên vẫn phải cần sự chinh phục...Vợ thì khó mất, vì người vợ chỉ bỏ chồng khi đã cố gắng hết sức mà vô phương cứu chữa. Trái lại, “mèo” thay “kép”, đổi chủ là chuyện có thể xẩy ra trong giây phút và rất nhanh chóng, nhẹ nhàng! Đây chính là tác động ma quái làm cho nhiều người đàn ông bị hóa thân biến thành con chuột thú vị và tội nghiệp trước móng vuốt nhung êm của loại mèo hai chân này...Đây là loài mèo không bắt chuột nhưng lại thường gây đổ vỡ cho bao trong gia đình...chẳng may gặp người chồng ưa mèo-mỡ.

6/ Mèo Trong Ngôn Ngữ:

Hình tượng “mèo” đã xuất hiện trong ngôn ngữ loài người có lẽ vì mèo sống gần gũi với người nhiều hơn các vật khác. Trong các thành ngữ người ta đã nhân cách hoá mèo để qua mèo nói về những hành vi cử chỉ của con người. Chẳng hạn:”mèo khen mèo dài đuôi” là ám chỉ những người khoe khoang khoác lác về bản thân mình; “mèo nào cắn mĩu nào” ý nói chưa biết ai sẽ thiệt hại trong một cuộc tranh chấp;”như mèo thấy mỡ” chỉ sự khao khát thèm thuồng biểu lộ rõ rệt của con trai khi thấy con gái đẹp; “mèo mỡ” là từ ngữ chỉ sự ham thích tình dục ngoài hôn nhân...; “trò mèo chuột” chỉ cuộc đuổi bắt, trốn tìm trong đó có sự thiếu sòng phẳng... ”Như Mèo giấu ***” chỉ sự kín đáo về chuyện riêng tư.

Mèo Mà Chẳng Phải Mèo! Đó là những đồ vật hay sinh vật có tên ghép với Mèo. Chẳng hạn: cú Mèo, nấm Mèo, mắt Mèo... Trong tiếng Anh có rất nhiều tiếng ghép với chữ “cat” như: Cat-block (dây kéo neo tàu thủy); Cat-burglar (trộm leo tường); Cat-eyed; Cat-fish; Cat-harpings (thừng buộc buồm với nhau); Cat-head (bộ phận móc neo tàu);Cat-hole (lỗ thả neo); Cat-lap (Rượu nhạt, trà loãng); Catnap (giấc ngủ trưa ngắn)...v...v.

Thành Ngữ có chữ “mèo”:

- Mèo già hóa cáo
- Mèo khen mèo dài đuôi
- Mèo mù vớ cá rán
- Trò mèo chuột
- Chuột khóc mèo
- Chó treo, mèo đậy
- Chó chết, mèo le lưỡi
- Mèo mả gà đồng
- Nam thực như hổ, nữ thực như miêu
- Như mèo thấy mỡ
- Chưa biết mèo nào cắn mĩu nào
- Đem chuông đi buộc cổ mèo (Ngụ ngôn Lafontaine “Hội Đồng Chuột”)

Mèo Vạc: (địa danh) tên một huyện ở tỉnh Hà Giang, Bắc Việt Nam.
Râu Mèo: một loại dược thảo, còn gọi là “bông bạc” tên khoa học là Orthsiphon Stamineus. Tính mát, vị ngọt (hơi ngọt thôi), có tác dụng: lợi tiểu, giải độc, làm mát huyết, thông tiểu tiện trong bệnh sỏi túi mật, chữa sốt phát ban, cúm, tê thấp, phù thũng, viêm gan vàng da. Dùng lá, ngọn và hoa khô hãm với nước sôi. Mỗi ngày dùng từ 16 tới 40 gam, hãm trong 1/2 lít nước sôi khoảng 10 phút. Chia làm hai, uống trước bữa ăn 20 hoặc 30 phút, uống nóng.

7/ Một vài tin tưởng dân gian liên quan đến Mèo:

a/.- Mèo đem lại điềm xấu: Mèo lạ đem theo bầy con vào nhà mình là một dấu hiệu rất xấu: dù là chúng chỉ vào nhà mà thôi cũng là một điềm báo trước sự nghèo khó. Tại sao? Người ta giải thích rằng: vì con mèo biết rằng có nhiều chuột đang xâm nhập vào nhà đó để ăn, để cắn làm cho gia đình đó phải tan gia bại sản (out of house and home). Nhà nghèo thường nhiều chuột. Dân gian Việt Nam cũng tin rằng “Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang!” b/.- Mèo là con vật mà các bà mẹ dùng để dọa trẻ con: “Nếu không đi ngủ mèo sẽ đến tha đi.” Và thường giả làm tiếng mèo kêu “ngao ngao” để hù trẻ không chịu ngủ. c/.- Mèo linh (Linh miêu): Người Trung Hoa cho rằng, mèo có cặp mắt rất tinh nên nó có thể thấy được các linh hồn trong bóng tối. Tại tỉnh Zhejiang, mèo trắng không bao giờ được nuôi, là vì chúng trèo lên mái nhà vào ban đêm và trộm hết ánh trăng; chúng cũng có thể biến thành những hồn ma tinh quá, tai hại. Chính vì lý do này mà người ta không bao giờ chôn những con mèo chết, sợ chúng sẽ hóa thành những con quỷ. Để bảo đảm sự an toàn, người ta treo xác mèo chết lên cành cây. Tại Đài Loan, hiện nay thỉnh thoảng người ta vẫn còn thấy những cây có treo từng dãi xác mèo chết lủng lẳng trên các cành.. d/.- Mèo làm người chết sống lại: Người ta cũng tin rằng, nếu một con mèo, nhất là mèo đen (mèo mực) nhảy ngang qua quan tài (hòm người chết) thi thể sẽ sống lại và trở thành quỷ ám ảnh trong vùng...Dân gian Việt Nam thường gọi hiện tượng này là “quỷ nhập tràng.” Để trừ “quỷ nhập tràng” ngoài việc tìm cách ngăn chặn mèo ngảy qua cơ thể người mới chết, người ta còn để một con dao phay dưới gối người chết. Hiện tượng mèo mực nhảy qua xác người mới chết làm cho xác đứng bật dậy được một số người giải thích bằng hấp lực của điện từ nơi mèo và nơi người. Mèo mực được xem là có điện từ mạnh có thể hút làm xác chết chuyển động. Do đó, con dao là vật bằng thép sẽ thu hết từ điện mà cơ thể mèo phát ra để không còn sức tác dụng vào người chết(?). Tại Âu, Mỹ, con mèo mực thường đi đôi với các mụ phù thủy hung ác. Nó là tay sai của phù thủy. e/.- Mèo mực đối với Người Ai cập và Người Anh Cát Lợi Tại Ai Cập, từ xưa, tất cả các loại mèo đều rất được quí trọng, nhất là mèo mực. Mèo lông đen tuyền được xem là biểu tượng thiêng liêng của Chúa JSIS qua huyền thoại kể rằng: mèo mực là tướng tinh của nàng BEST ái nữ cưng quý của JSIS. Nếu ai vô tình giết chết một con mèo bị coi như xúc phạm đến sự thiêng liêng cao quý, kẻ đó phải đền tội, bị phạt khổ hình cho đến khi tắt thở. Người Ai Cập tin rằng gặp được mèo mực ở bất cứ nơi nào họ đều được may mắn. Khi được mèo đen đem nhau đến cho, họ tưởng như sống thêm trăm tuổi. Người Ai Cập lấy nhau mèo sấy khô trộn với trầm hương đem đến nhgĩa địa Mèo và dâng cúng trước bàn thờ của BEST. Nhau mèo sẽ đem lại cho họ sự may mắn về tiền bạc và tình ái. Chuyện nhau mèo đem lại giàu sang cũng được một số ít người Việt tin là có thật. Trái với người Ai Cập, người Anh Cát Lợi xem mèo mực là điềm xui xẻo. Họ cho rằng mèo mực là biểu tượng của ác độc nham hiểm vì nó là phù thủy hóa thân. Quan niệm này có từ thời trung cổ, nhưng ngày nay nhiều người vẫn ghê sợ mèo đen. Người ta đã truyền tụng câu chuyện ở tỉnh Lincolshire kể rằng có hai cha con một nhà nọ thấy một con mèo đen to lớn và kỳ dị, cho đó là mụ phù thủy độc ác hóa ra, liền hô hoán mọi người giết chết nó. Quả nhiên sau khi mèo bị đập chết, mụ phù thủy hung tợn đã hiện nguyên hình mắt lộ như mắt mèo, răng nanh nhọn hoắt... f) Mèo Tam Thể đem lại may mắn, thịnh vượng

8/ Mèo Trong Văn Hóa Trung Hoa (theo A Dictionary Of Chinese Symbols - Hidden Symbols in Chinese Life & Thought/ Wolfram Eberhard) Mèo- Tiếng Tàu phát âm là “MAO”, âm Hán Việt đọc là “Miêu” chẳng hạn trong truyện “Ly Miêu Hoán Chúa” (Truyện tích “Bao Công Xử Án Quách Hòe”)
Một vài ý nghĩa tượng trưng:

UserPostedImage
Mèo được tượng trưng cho sự “sống lâu”, bởi vì “mèo” chữ Hán là “miêu”, người Tàu phát âm là “máo” gần giống với tiếng “mạo” có nghĩa là “cụ già 90 tuổi”. Cách phát âm chữ “Mao” trong tiếng Trung Hoa nghe giống như chữ “Lão” (octogenarian). Sự trường thọ cũng được tượng trưng bằng hình con bướm. Bướm, chữ Hán là “hồ điệp”, người Tàu phát âm chữ “điệp” gần giống với tiếng “điệt” có nghĩa là “ông già 80 tuổi”. Do đó, khi người Tàu vẽ một bức tranh trong đó có những con mèo và những con bướm là hàm ý chúc người nhận tranh sống thọ từ 80 đến 90 tuổi.

Bức tranh vẽ một con mèo với cây mẫu đơn (plum, TH đọc là “Mei”, đồng âm với “Mei” có nghĩa là “mỗi, một, mãi mãi (each, every, always) và một bụi tre. Tre tiếng Trung Hoa đọc là “Zhu” (âm Hán Việt là “Trúc”), “Zhu” đồng âm với “Chúc” (wish, pray), tượng trưng cho một lời chúc tụng về trường thọ với ý nghĩa “Trong mọi lúc chúng tôi xin chúc rằng ông bà sẽ sống đến tuổi chín muồi”.

Nói tóm lại, từ xưa nhiều người đã tin rằng loài mèo có một năng lực quỷ quái (demoniac), biến hóa (demonic). Loài người đã thuần hóa Mèo và nuôi trong nhà, lúc đầu có lẽ là nhằm mục đích dùng vào việc bắt chuột, dần dần vì “tính tình dễ thương” mèo được xem như bạn, được nuông chiều... và từ đó nhiều người nuôi mèo để cho có bạn những lúc cô quạnh. Mèo dễ thương, hiền lành nhưng bản chất của mèo thuộc loài ăn thịt nên khi mèo tức giận thì móng sắc vuốt nhọn sẽ dương ra. Cho nên chơi với mèo, nên nhớ lời nhắn nhủ của thi sĩ Jane Taylor trong bài thơ “I Like Little *****”:

“I like little *****,
her coat is so warm,
And if I don't hurt her,
she'll do no harm.”

Trong cuộc sống chắc loại mèo nào cũng như thế chỉ hiền với người tử tế... Chuyện Mèo thì nói mấy cho vừa, cho nên một vài điều bàn bạc tổng quát để quý vị đọc cho vui nhân đầu năm Mão.
NGUYỄN CHÂU
Mắt Buồn  
#904 Posted : Friday, February 11, 2011 3:44:23 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,725

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Trên giòng sông Hương 1994

Tôi đã cùng gia đình về lại
Thăm quê hương yêu dấu thuở thiếu thời
Chúng tôi đi từ Bắc trãi vô Nam
Đi để biết, thật tuyệt vời, quê hương tôi đẹp lắm!
Chúng tôi ngồi trên thuyền êm êm lướt
Giòng sông hiền nhẹ sóng, gió hiu hiu
Đêm thanh tịch, ánh trăng vàng óng mật
Sao trên trời ngàn sao sáng lung linh
Tiếng đàn trong đêm khuya: tịch liêu, thổn thức
Giọng hát buồn như ai oán, như than
Giòng sông Hương phản chiếu ánh trăng vàng
Thương quê hương, rớt nước mắt hai hàng
Nhạt nhòa khóc, nghẹn nghào lên thành tiếng
Vâng, tôi khóc, thấy lòng nhiều cảm xúc
Cố âm thầm lặng lẽ, cố ngăn giòng nước mắt -cứ rơi rơi
Quê hương ơi, thương lắm lắm quê hương!
Lần đầu tiên về thăm
Việt Nam ơi, sao quê hương ngọt ngào, yêu dấu quá!
Như Nguyệt Feb. 10th, 2011





hongvulannhi  
#905 Posted : Saturday, February 12, 2011 3:40:10 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

UserPostedImage
Chúc các bạn và độc giả thân thương hưởng trọn Hạnh Phúc trong ngày LỄ TÌNH YÊU
HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#906 Posted : Monday, February 14, 2011 4:29:51 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
CA DAO, DÂN CA KINH XÁNG CỬU LONG
NGUYỄN VĂN BA


Đồng bằng sông Cửu Long, phần đất cuối cùng của tổ quốc, chặng đường chót của cuộc Nam Tiến mở rộng cõi bờ, nơi có điều kiện khí hậu thuận lợi, đất đai màu mỡ, thường được nhắc đến như là kho lương thực của cả nước. Lúa vàng nặng trĩu trên đồng ruộng, cá tôm dẫy đầy trên sông rạch... Ngoài cá lớn, tôm to còn có lươn dài, ếch bự, rùa vàng... Đời sống vật chất phong phú, sung túc.

Nhưng khi nói chuyện văn chương, thi phú, phần đất phía cực nam này ít được nói đến so với những vùng phía bắc. Sự việc tương đối dễ hiểu. Lịch sử văn minh Việt Nam ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ được trên dưới bốn thế kỷ, nên đóng góp của cư dân vùng nầy vào kho tàng văn chương phải giới hạn, khiêm tốn nếu đem so sánh với chiều dài văn hiến bốn ngàn năm chung của cả dân tộc. Sự giới hạn, khiêm tốn của văn chương truyền khẩu ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long một phần còn do việc ghi chép chưa đầy đủ, hệ thống hóa chưa hoàn hảo nên chưa được phổ biến sâu rộng trong dân gian. Dù vậy, ngoài tính chất thừa kế và phát huy, những gì còn tồn tại đến ngày nay đã cho thấy nhiều điều mới lạ, thể hiện tính chất đặc thù của môi sinh cùng với đời sống dân cư trong vùng.

Ca dao,dân ca vùng đồng bằng sông Cửu Long, một cách tổng quát, là đề tài khá rộng lớn, bao hàm nhiều lãnh vực khác nhau. Bài này được giới hạn trong phạm vi hai yếu tố thiên nhiên quan trọng đã là môi trường xúc tác cho việc sáng tác: đất và nước. Đất ở đây là nơi có ruộng, vườn, rừng tràm, rừng đước. Còn nước là sông cái, sông con, ao hồ, kinh rạch... Như vậy vẫn còn khá rộng. Xin giới hạn thêm, trong một trường hợp cụ thể, rõ ràng: Chỉ ghi lại một số ca dao, dân ca cận đại liên quan tới môi trường sông nước, không do thiên nhiên tạo ra mà do con người. Đó là những kinh rạch nhân tạo, đầu tiên được đào bằng tay chân, về sau đào bằng máy và gọi là kinh xáng.
Những kinh đào tay dùng toàn sức người và dụng cụ thô sơ như xuổng, len, cuốc... Công việc vất vả, mất nhiều thời giờ lại tùy thuộc thời tiết. Kinh loại nầy thường ngắn như kinh Thủ Thừa nối liền hai nhánh sông Vàm Cỏ Đông Tây, dài 9 cây số do ông Mai Văn Thừa xuất tiền mộ phu. Kinh Ba Thê, còn gọi là Kinh Núi Sập (Thoại Sơn) hay Thoại Hà, do Nguyễn Văn Thoại đốc suất, rộng khoảng 30 m, dài 32 km, nối liền một số thủy đạo giữa hai tỉnh Long Xuyên Rạch Giá, đào mất một tháng (năm 1818), sử dụng 1500 dân làm xâu. Kinh Vĩnh Tế (Vĩnh Tế Hà) qui mô và quan trọng nhất, do Tổng Trấn Gia Định Lê Văn Duyệt đề nghị với triều đình Huế, cũng được Trấn Thủ Vĩnh Thành Nguyễn Văn Thoại trực tiếp đôn đốc. Kinh rộng 20 m, dài 72 km, dọc theo biên giới Cao Miên từ sông Hậu đến cửa Giang Thành Hà Tiên, sử dụng hơn 80 ngàn dân làm xấu, ròng rã 5 năm, từ tháng chạp năm 1819 đến tháng 5 năm 1824. Việc đào kinh Vĩnh Tế đã làm hàng trăm dân phu thiệt mạng do nặng nhọc, nền đá cứng, sơn lam chướng khí, thời tiết khắc nghiệt, muỗi, vắt, ác thú... cùng với số người bỏ trốn, chết trong rừng hay vô bụng cá mập Vàm Nao.

Về sự lao khổ của dân phu đào kinh, có thể dẫn chứng bằng đoạn vè sau đây:

... Chia ba người một thước
Đào sâu xuống nước
Hai thước sáu ba
Bề ngang đào qua
Là sáu thước chẵn
Việc mần mệt nặng
Kẻ cuốc người rinh
Chừa hai bên kinh
Đắp hai đường lộ
Việc mần cực khổ
Mệt đổ hết hơi
Không dám nghỉ ngơi
Cực đà quá cực
Phần thời nắng nực
Lại không nước uống...

Dù gian lao, khó nhọc, hao tồn sanh linh, nhưng việc hoàn thành kinh Vĩnh Tế quả có đem lại nhiều lợi ích thiết thực và lâu dài về quốc phòng (án ngữ biên giới), canh nông (dẫn nước phèn ra vịnh Thái Lan, nước ngọt từ sông Hậu vô ruộng), mua bán, giao thông... Dân chúng tự hào về kinh Vĩnh Tế qua câu tục ngữ:

Mắm Châu Đốc, dốc Nam Vang,
Bò Châu Giang, kinh Vĩnh Tế.

Trai gái dùng con kinh làm đề tài đối đáp. Gái hò:

Hò ơ ơ... Đường từ Châu Đốc Hà Tiên
Đường nào chạy thẳng nối liền hai nơi
Đất nào lắm dốc nhiều đồi
Đèn nào cao nhứt người người đều nghe
Sông nào tấp nập thuyền bè
Hồ nào với biển cặp kè bên nhau
Trai nào nổi tiếng anh hào
Anh mà đối đặng má đào em xin trao ơ...

Trai đáp:

Hò ơ ơ... Em ơi!
Đường từ Châu Đốc Hà Tiên
Có kinh Vĩnh Tế nối liền hai nơi
Đất Nam Vang lắm dốc nhiều đồi
Đèn cao Châu Đốc mọi người đều nghe
Sông Cửu Long tấp nập thuyền bè
Biển Hồ hai chữ cặp kè bên nhau
Trai Việt Nam nổi tiếng anh hào
Anh đà đối đặng, vậy mà đào em trao đây ơ...

Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu 20, một hệ thống kinh rạch đã hình thành khắp nơi ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bằng phương tiện cơ giới gọi là xáng. Thời đó kỹ thuật móc đất còn thô sơ, chưa có xáng thổi, chỉ có xáng cạp. Xáng cạp gồm hai miếng sắt rất nặng hình cong như hai cái muỗng, đưa lên cao, mở rộng ra, hay đổi vị trí, buông xuống, khép lại... Bởi cần cẩu và dây cáp, động tác cạp đất của xáng tương tự cầm cái muỗng múc nên được gọi nôm na là xáng múc. Sức làm việc của xáng nhanh chóng, mạnh mẻ, tương đương với cả trăm nhân công, nên để chỉ người lười biếng, ăn nhiều, ăn nhanh, làm ít, chậm chạp, thời ấy có câu:

Ăn như xáng múc,
Làm như lục bình trôi.

Chuyên viên trắc địa phóng đường trước, xáng theo sau, rầm rộ cả đoàn người và máy móc. Công trường xáng cạp giống như cái chợ nhỏ lưu động. Đất mới đổ lên hai bên bờ kinh, chưa kịp khô đã có nông dân và gia đình bơi xuồng, chèo ghe tới, giành địa thế kinh sâu nước chảy ngã ba (ngã ba vàm xáng) để cất nhà, bắt đầu lập nghiệp dẫu rằng chỉ cách chưa đầy trăm thước phía trong vẫn còn khung cảnh hoang dã với đồng chua, rừng tràm dày đặc cỏ, gai.

Rồi kinh xáng hoàn thành. Trên con kinh xanh dài mút mắt bắt đầu có tiếng tàu Tây chạy xập xình. Những đêm trăng thanh gió mát, tiếng hò giao duyên văng vẳng:

Hò hơ ơ ơ...
Kinh xáng mới đào
Tàu Tây mới chạy
Thương thì thương đại
Bớ điệu chung tình
Chớ con nhạn bay cao khó bắn
Còn con cá ở ao quỳnh ơ ơ khó câu!

Hò hơ ơ ơ...
Kinh xáng mới múc
Chiếc tàu xà lúp nó chạy cũng thường
Em muốn ăn con lươn nấu với thịt sườn
Muốn về Trà Ba Lớn nọ ơ ơ ờ...
Cho tiện đường thăm anh ơ...

Có hai loại kinh xáng ở đồng bằng sông Cửu. Thứ nhứt là kinh xuôi, thường dài, rộng, giúp nước lưu thông giữa đồng ruộng và sông lớn hoặc vịnh Thái Lan như kinh xáng An Long, kinh Tháp Mười thuộc tỉnh Kiến Phong (Cao Lãnh) đổ nước ra Tiền Giang; kinh Ba Thê-Mai Dung, Rạch Giá-Long Xuyên, Rạch Giá-Hà Tiên, Cái Sắn thuộc địa phận các tỉnh An Giang và Kiên Giang, kinh Cái Lớn, Long Mỹ, Quan Lộ-Phụng Hiệp thuộc các tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), Chương Thiện, Bạc Liêu... đổ nước ra sông Hậu hoặc vịnh Thái Lan.

Thứ hai là kinh ngang, thường hẹp, ngắn, như cây cầu nối những kinh xuôi lại với nhau.

Hệ thống kinh xuôi và kinh ngang dày đặc như lưới nhện. Chỉ riêng trong tỉnh Phong Dinh, từ bắc xuống nam bên hữu ngạn sông Hậu đã có nhiều kinh xuôi lớn: Kinh Thị Đội từ Thới Lai đi Rạch Giá; kinh Saintenoy theo tuyến đường Rạch Gòi-Phụng Hiệp-Sóc Trăng; kinh Lacote từ Rạch Gòi đến Cái Dứa... Và chỉ riêng kinh Xà No từ rạch Cần Thơ (Cái Răng) chạy qua chợ Vị Thanh tỉnh Chương Thiện, ăn thông với kinh Ô Môn và nhiều kinh rạch của Rạch Giá đã là một công trình lớn, bề mặt 60 m, đáy rộng 40 m, dài gần 40 km.

Nước ngọt sông Cửu Long theo kinh xáng vô ruộng; nước phèn, nước tù theo kinh xáng ra biển. Những khu vực trước kia là đồng chua đầy năng, lác, đế, sậy, là rừng tràm hoang vu... trở thành đồng lúa phì nhiêu, vườn cây ăn trái xanh tốt, năng suất lúa gia tăng gấp hai, ba lần. Song song với đời sống vật chất ngày thêm dồi dào, dân cư dọc theo kinh xáng trở nên văn minh hơn, đời sống tinh thần cao hơn. Họ tổ chức những cuộc hát hò, đối đáp giữa thanh niên và thiếu nữ trong vùng do hương chức hội tề bô lão làm giám khảo. Có nơi tổ chức lớp dạy hò, hay hát đối. Thầy dạy hò ở Cần Thơ (Long Tuyền, Cái Tắc, Phong Điền) nổi tiếng có tài. Ca dao, câu hò, lời đối đáp mang địa danh mới, chuyên chở sinh hoạt cùng tâm tình, suy nghĩ... của cư dân trong vùng. Sau đây là một bài tiên biểu theo điệu Lý Ngựa Ô:
Ngó kìa mà ngó lên vàm xáng ý xáng Xà No. Dưới sông đông đảo, trên bờ lạo xạo lại có chiếc tàu đò. Lăng xăng chạy xuống Sóc Trăng, chạy về Long Mỹ. Tình nhân ôi! Đạo vợ chồng anh không nghĩ thì thôi!
Cũng có những câu ca dao hóm hỉnh, cợt đùa hay lãng mạn, tình tứ:

Chiều chiều ra đứng bờ kinh
Gặp người góa bụa tui rinh vô nhà.
Anh về để áo lại đây,
Khuya nay em đắp, gió tây lạnh lùng.
Gió lạnh lùng lấy mùng mà đắp,
Trả áo anh về đi học kẻo trưa.

Sự hấp dẫn muôn đời của ca dao và dân ca vẫn luôn là những mẫu đối đáp qua lại giữa trai và gái như đoạn hò theo điệu huê tình sau đây:

Ơ ơ ớ...
Đèn treo dưới xáng
Tỏ rạng bờ kinh (ờ)
Em có thương anh
Em nói cho thiệt tình (ờ)
Để anh lên xuống
Ơ ơ chớ một ơ ơ mình ờ bơ vơ

Đối với sự mở lời của một chàng trai như trên, các cô có nhiều cách trả lời. Nếu muốn dùng thời gian để thử thách, cô nàng ỡm ờ:

Đèn treo dưới xáng
Tỏ rạng bờ kinh
Đường Bình Thủy lưu linh
Đáo tại Long Tuyền
Xin anh giữ dạ, chịu phiền đôi năm.

Bình Thủy là một chợ nhỏ nằm trên đường liên tỉnh từ Cần Thơ đi Long Xuyên, thuộc xã Long Tuyền. Cụ Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa, con rồng vàng đất Đồng Nai thuở sanh tiền sống tại đây và khi qua đời phần mộ cũng tại nơi nầy.

Nếu như cô thôn nữ thuận tình nhưng còn bị vòng lễ giáo trói buộc, cô sẽ trả lời:

Nay em còn cha còn mẹ
Còn cô còn bác,
Nên em không dám tự tung tự tác một mình
Anh có thương em
Xin cậy mai dong tới nói,
Cha mẹ đành thì em cũng sẽ ưng.

Trường hợp chàng trai miệng ve vãn, tay nắm chưn khều, giở trò xàm xỡ, có thể bị cô gái "sửa lưng" như sau:

Cá lý ngư sầu tư biếng lội
Chim phượng hoàng nhớ cội biếng bay
Anh thương em đừng vội nắm tay
Miệng thế gian ngôn dực
Phụ mẫu hay sẽ rầy rà.

Và cũng có trường hợp rất đau, rất ngỡ ngàng, vì nàng đã có chồng:

Nước mắm ngon chấm con cá liệt,
Em có chồng rồi, nói thiệt anh hay.

Hãy tưởng tượng một đêm trăng trên lòng kinh xáng, hai chiếc ghe, một trước một sau, lướt nhẹ theo dòng nước. Chàng trai phía sau ướm thử mấy câu:

Bớ chiếc thuyền loan,
Khoan khoan bớt mái
Đặng đây tỏ mấy lời phải trái nghe chơi...

Câu hò lơ lửng vì chàng không biết người ở ghe trước là ai, tâm tính thế nào, nhưng thật may, phía trước là một cô gái, cô biết hát hò, lại ngọt ngào hưởng ứng sự giao duyên:

Bớ chiếc ghe sâu,
Chèo mau em đợi,
Kẻo khỏi đoạn kinh nầy bờ bụi tối tăm!

Đúng vậy, qua khỏi một đoạn kinh trống trải, nước rẽ vào nhánh sông, rạch nhỏ, những bụi ô rô, cóc kèn, dừa nước, đám bần, đám lác... sẽ làm phong cảnh trở nên tối tăm, hoang dại. Chàng trai một mặt ra sức đẩy mạnh mái chèo, một mặt hò với mấy câu:

Thuyền em đã nhẹ,
Chèo lẹ khôn theo
Em ơi, bớt mái khoan lèo chờ anh!

Hữu tình ta lại gặp ta, nàng sẵn lòng chờ, một lần nữa dịu ngọt đáp lời:

Đây đã chèo lơi,
Đặng chờ người tri kỷ
Gặp mặt chuyện trò cho phỉ ước mơ!

Rồi tiếp theo là biết bao nhiêu lời hỏi đáp, thơ mộng có, mà rắc rối khó khăn cũng nhiều, để thử thách, tìm hiểu tài năng, kiến thức, nết na của nhau, tạo nên biết bao nhiêu bài ca dao trữ tình, bất hủ.
Tâm tình của mấy cô thôn nữ miệt kinh xáng ra sao? Họ muốn anh bạn tình mua sắm cho mình cái gì?

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No
Anh có thương em xin sắm một con đò
Để em qua lại mua cò gởi thơ.

Tùy người, tùy hoàn cảnh có thể được sửa đổi thành:

Cái Răng, Ba Láng Vàm Xáng, Xà No
Anh có thương em hãy mua chiếc đò
Để em qua lại đặng thăm dò ý anh.

Hoặc:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền
Anh có thương em thì cho bạc cho tiền
Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê.

Phong Điền, quận thứ 6 của tỉnh Phong Dinh, nằm trên bờ sông Cần Thơ, gần kinh xáng Xà No với 5 xã Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Mỹ Khánh, Trường Long, Cầu Nhiến là một trung tâm văn minh miệt vườn của miền Tây, rất nhiều lúa gạo. Cụ cử Phan Văn Trị lúc tuổi già có về xã Nhơn Ái mở trường dạy học, phần mộ còn nơi đây.

Từ khi kinh xáng xuất hiện, lòng sâu, mặt rộng, mỗi mùa lúa, ghe chài của người Hoa ở Chợ Lớn theo kinh Chợ Gạo, đổ xuống miệt sông Tiền sông Hậu mua lúa đem về chà gạo bán cho dân Sài Gòn và xuất cảng ra nước ngoài. Từ sông lớn, ghe theo kinh xáng Xà No, kinh xáng Thị Đội... tới đồng ruộng tỉnh Cần Thơ, hoặc theo kinh xáng Phụng Hiệp xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu. Ghe chài cần người vác lúa. Thanh niên nông dân ở các địa phương phần muốn kiếm thêm tiền, phần nghe đất Sài Gòn hòn ngọc Viễn Đông, đèn màu rực rỡ, phố xá tân kỳ, muốn đi chơi cho biết nên xin làm bạn (phu) vác lúa cho ghe chài. Được tin, cô thôn nữ lo lắng, ngăn cản người yêu:

Em khuyên anh đừng làm bạn ghe chài.
Cột buồm cao, bao lúa nặng, tấm đòn dài khó đi.

Lời khuyên thật chi lý, chí tình. Việc vác lúa cho ghe chài quả có nặng nhọc, hiểm nguy, nhưng sự tò mò, óc cầu tiến, máu giang hồ, chí làm trai... đã thúc giục người nông dân trẻ quyết ý ra đi. Chàng đã trả lời nàng cũng thật đầy đủ lý tình:

Lúa mùa rồi trả nợ nần sạch ráo,
Để anh đi kiếm chén cháo đổi lấy chén cơm,
Trước là cho biết cái xứ Sài Gòn,

Sau nữa mua cái quần lãnh với gói bòn bon tặng con bạn tình.
Tặng quần lãnh và bòn bon (một loại kẹo nhỏ nhiều màu, tròn, lớn bằng đầu ngón tay) là cách biểu lộ tình cảm chân thật, đơn giản, không kiểu cách, màu mè của người nông dân trẻ.

Rồi chàng thanh niên theo ghe chài, cả mấy tháng không tin tức, tăm hơi. Cô thôn nữ lòng son héo hắt, nhớ ghe chài gởi lên Sài Gòn cho chàng bức thơ như sau:

Trời chiều bóng ngả về tây,
Em thương nhớ bạn như cây nhớ rừng.
Con kinh xanh nước chảy không cùng,
Em đây với bạn, khi nào trùng lai?
Phượng hoàng đậu nhánh cẩm lai,
Dặn lòng người ngãi chớ sai lời thề.
Đường đi kinh xáng dầm dề.
Sao anh không gởi thơ về thăm em?

Từ đất Sài Gòn hoa lệ, chàng vội vã hồi âm:

Gió lung lay mới biết tùng bá cứng
Lửa có hồng mới rõ thức vàng thau.
Thân tằm còn trả nợ dâu,
Bước lên ghe mặt ủ gan rầu,
Qua đây với bậu hẹn có ngày gần nhau
Tình qua với bậu làm sao phụ phàng
Sài Gòn thiên hạ nhộn nhàng,
Qua đây nhớ bậu, chẳng ham màng cuộc chơi.

Thắm thoát tháng lại ngày qua, thời gian vác lúa cho ông chủ Huê kiều sắp hết, người nông phu trẻ trở lại miền quê kinh xáng với biết bao rạo rực, nhớ thương. Từ trên mui chiếc ghe chài cao nghệu, anh thấy ở đàng xa, thật xa, khói lên mù mịt cánh đồng, khói quyện dãy nhà lá đơn sơ dọc theo bờ kinh xáng...

Ngồi trên mui ghe chài lớn
Cầm lái về kinh xáng Thời Lai
Nhìn thấy khói đốt đồng mù mịt lên khơi,
Bây giờ anh mới biết chán đời đi ghe.
Con gà nó gáy te te,
Phải chăng nó kêu người lưu lạc trở về rừng xanh?
Em ơi, chờ cho ghe lúa tới chành,

Anh biểu thằng cha tài phú tính sổ đề anh dứt nợ ghe chài.
Nợ ghe chài đã dứt nhưng con bạn tình đầu chẳng thấy đón, hay nó chờ đợi không nổi, nó bỏ anh rồi? Cầm xấp vải Mỹ A trơn với gói bòn bon trên tay, anh đi kiếm bạn.

Thật sự là ghe chài anh về bến, cô bạn tình bạn nghĩa cồn cả ra ngã ba vàm xáng, tới chành lúa đón anh, nhưng dọc đường cô hay tin anh đã bịt mấy cái răng vàng. Cô ghét người bịt răng vàng lắm, mở miệng cười nụ là thấy "vàng khè", "cười lên đi cho răng vàng sáng chói". Cô lại bị tụi con nít hát hò chế giễu nên cô mắc cỡ và quay về nhà:

Cây vông đồng không trồng mà mọc,
Rễ vông đồng đâm dọc trổ ngang.
Cám trong nong trộn lẫn trấu càng,
Thấy anh đi làm mướn mà bịt răng vàng, thiệt khó coi!

Dân kinh xáng tuy có văn minh hơn hồi ở rừng, ở ruộng, nhưng vẫn còn khá bảo thủ, không ưa những kiểu mới, kiểu Sài Gòn nên họ chê bai, dèm pha hầu hết những cái mới mang từ Sài Gòn về như bịt răng vàng, bao lưới đầu tóc, tô son môi, đeo kiếng mát...

Đầu bao lưới như chài mắc gốc,
Miệng tô son như té dập môi,
Mắt đeo kiếng mát giống như thòi lòi.

Thòi lòi đây là một loại cá nhỏ sống trong hang, cạnh bãi bùn. Mỗi khi trời mưa lớn, nước ngập hang, cá thòi lòi bị ngộp chun ra, giương cặp mắt đen to tướng ra nhìn bàng quan thiên hạ. Thấy người đeo kiếng mát, dân quê hay ghẹo là bữa nay trời mưa, cá thòi lòi bò ra khỏi hang.

Tuy nhiên, đâu có vì cái chuyện bịt răng vàng lẻ tẻ đó mà con bạn tình bỏ anh. Cô chỉ mắc cỡ chút thôi, làm nũng chờ anh tới nhà để thủ thỉ:

Quả năm ngăn trong lòng sơn đỏ,
Mấy lời anh to nhỏ, em bỏ bạn sao đành!
Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành,
Tàu Tây liệt máy, em mới đành bỏ anh.

Chàng và nàng có biết đâu, với sức mạnh trường kỳ chiến đấu của toàn dân Việt Nam, quyết giành tự do, độc lập, cuối cùng thực dân Pháp đã rút quân ra khỏi nước ta, khác nào tàu Tây liệt máy, xáng Tây bung vành. Nhưng câu hò tiếng hát của chàng và nàng đã đi vào văn chương bình dân miền kinh xáng trên phần đất cực nam của quê hương.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi nào có đồng ruộng, vườn cây ăn trái, có sông nước, kinh rạch, có ghe xuồng, chợ búa, khói bếp, ánh đèn,... nơi đó có ca dao, câu hò, tiếng hát thắm đượm tình quê. Nơi đây, chốn hải ngoại ngàn trùng xa cách quê hương, với tấm lòng hoài niệm, bằng chủ đích bảo tồn những di sản văn hóa tốt đẹp của cha ông, chúng ta, mỗi người hồi tưởng, góp tay ghi lại, tập trung, hệ thống hóa, như số báo đặc biệt này, những gì còn nhớ được trước khi chúng mờ nhạt theo thời gian.

Hồn quê nương cánh ca dao, Bay qua biển rộng thấm vào tâm can.

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#907 Posted : Tuesday, February 15, 2011 1:02:52 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,612

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Động Sơn Đoòng
"Vườn địa đàng" trong hang động lớn nhất thế giới ở Việt Nam


Tạp chí National Geographic tiếp tục cho công bố những bức ảnh tuyệt đẹp về hang động lớn nhất thế giới - hang Sơn Đoòng (Kẻ Bàng, Quảng Bình, Việt Nam).

Hang Sơn Đoòng được khám phá lần đầu tiên vào tháng 4 năm 2009 và được chính thức cho công bố trong tháng 7 cùng năm. Hang có chiều rộng 200 mét, cao hơn 150 mét, dài ít nhất là 6,5 km. Hang có thể còn dài hơn nữa, tuy nhiên do điều kiện kỹ thuật, các nhà thám hiểm thuộc Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh đã không thể đi hết chiều dài của hang để kết luận hang dài bao nhiêu.

Kích thước khổng lồ của hang động này cũng như vẻ đẹp hiếm thấy của nó đã nhanh chóng thu hút nhiều hãng thông tấn lớn trên thế giới. Rất nhiều tạp chí danh tiếng đã nhiều lần đưa tin bài và hình ảnh ngợi ca hang Sơn Đoòng như:National Geographic, Telegraph...

Hang Sơn Đoòng hấp dẫn các nhà nghiên cứu bởi những cánh rừng nguyên sinh mọc ngay ở trong hang, một đoạn hang có thể chứa được cả tòa nhà chọc trời, những cột nhũ đá đầy kỳ ảo...

Một đoạn hang lớn với những cột nhũ đá khổng lồ. Bên dưới là một nhà thám hiểm đang bơi trong hồ nước sâu bên trong Hang Kén - một trong số 20 hang động mới được phát hiện tại Việt Nam trong năm 2010.

Một người leo núi đang leo lên cổng trời ở Loọng Con, nơi có độ ẩm khá cao và không khí mát mẻ, tạo ra những đám sương mù trong hang.

Đoạn hang rộng khoảng 90m, cao 250m có thể chứa được cả tòa nhà 40 tầng ở trong hang Sơn Đoòng.

Một khu rừng mọc bên trong đoạn hang Sơn Đoòng đã bị sập mái. Các nhà thám hiểm đặt tên cho nó là Vườn địa đàng

Quanh cảnh rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Những hố bom được trưng dụng làm ao cá

Hang Én - một hang động ngầm được tạo ra bởi sông Rào Thương. Mùa khô lòng sông thu nhỏ lại thành những chiếc hồ nhỏ nhưng mùa mưa nó dâng cao vài chục mét.

Một đoạn hang có trần thấp bên trong Hang Én. Dòng sông ngầm mang theo vỏ sò tích tụ lại thành lớp ở lòng sông. Dòng sông này có một đoạn nằm trần trên mặt đất và sau đó lại chảy vào bên trong hang Sơn Đoòng vài km.

Bức tường giống như một thác nước đã hóa đá nằm ở gần lối ra của Hang Én. Nó được tạo lên bởi đá vôi bị biến dạng và được tô xanh bởi rêu phủ.

"Dù những hang động là rất lớn, nhưng chúng gần như là ‘vô hình’ cho đến khi bạn bước đến rất gần”, Mark Jenkins, thành viên đoàn thám hiểm nhận xét. Những người thợ săn địa phương đã tìm thấy các hang động bởi luồng gió thổi lên từ lòng đất

Nơi nào có ánh sáng là nơi ấy có rừng. Cây dương xỉ và nhiều loài thảo mộc khác đua nhau mọc ở những đoạn hang Sơn Đoòng có ánh sáng. Ngoài thực vật, các nhà nghiên cứu còn tìm thấy cả khỉ, rắn, và các loài chim sống trong những khu rừng bên trong hang.

Qua hàng vạn năm, tinh thể canxi đã bao bọc những hạt cát nhỏ để tạo thành những “viên ngọc trai” khổng lồ. “Bộ sưu tập ngọc trai” vô giá này nằm cách không xa Vườn địa đàng trong lòng hang

Các nhà thám hiểm vượt qua những tác phẩm điêu khắc tuyệt mỹ được phủ xanh bằng rêu của bàn tay thiên nhiên.

Một cơn bão vừa qua đã đổ đầy nước cho các con sông ngầm và hồ nước trong hang Sơn Đoòng báo hiệu mùa thám hiểm sắp kết thúc.

Thách thức lớn nhất của các nhà thám hiểm là tìm cách vượt qua bức tường "Great Wall of Viet Nam" nằm sâu bên trong hang. Sau khi vượt qua bức tường trơn trượt và xốp này, họ đã tìm thấy một lối đi thứ 2 để vào bên trong hang Sơn Đoòng

Được mệnh danh là "Great Wall of Viet Nam", khối đá sừng sững này cao tới 70m, sâu hơn 6 km. Nó là chướng ngại vật khiến các nhà thám hiểm phải tạm dừng cuộc thám hiểm trong năm 2009 và trở lại vào năm 2010 với những dụng cụ đặc biệt để vượt qua nó. Vạch trắng ở bên dưới bức tường đối diện đánh dấu mực nước tăng lên vào mùa mưa.

Một thác nước lớn trong hang Sơn Đoòng. Theo các nhà thám hiểm, vào mùa khô, lượng nước mưa ít nhưng tiếng chảy của nó đã nghe như tiếng sấm

Vào mùa khô, từ tháng 11 tới tháng 4, những nhà thám hiểm mới có thể an toàn khám phá Hang Kén khi hồ nước trong hang cạn. Mùa mưa hầu hết các đoạn hang bị ngập không thể qua được.

Cách duy nhất để đi vào vào hang Loọng Con là leo dây thừng. Hang được phát hiện trong năm 2010 và các nhà nghiên cứu đang hy vọng nó có thể thông với hang Sơn Đoòng. Một đoạn hang bị chặn bởi một tảng đá lớn mà theo phán đoán của họ, bên kia tảng đá là một hang động khá lớn.

Ánh sáng chiếu vào hang Loọng Con soi rõ những khối đá kỳ dị mà các nhà thám hiểm đặt tên cho nó là Vườn Xương rồng.

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

* theo web baomoi
Linh Phuong  
#908 Posted : Friday, February 18, 2011 7:49:12 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

QUI NHƠN, TÔI VÀ KỶ NIỆM HỌC TRÒ
LÊ NGỌC CHÂU


UserPostedImage

Sau 1954 ba tôi rời nơi chôn nhau cắt rún, tạm xa gia đình vì sinh kế. Vài năm sau đó tôi được nối gót theo ba tôi vào Qui Nhơn là nơi ba tôi định cư và đã tìm ra công ăn việc làm khá chắc chắn. Lý do vì tôi là con trai trưởng trong gia đình khá đông anh chị em và một phần, ba má tôi muốn cho con trai đầu lòng gần ba để được trông nom, kèm dạy kỹ lưỡng hơn. Rồi thời gian trôi qua không dừng lại, thắm thoát tôi đã sống ở Qui Nhơn 11 năm, lâu hơn ở quê hương tôi sinh ra, Quảng Nam. Vì thế đối với riêng tôi, có thể nói Qui Nhơn là quê hương thứ hai của mình, nơi mà tôi đã trải qua những tháng ngày đầy kỷ niệm của lứa tuổi học trò nhưng chỉ tiếc một điều là tôi đã không ôm ấp trọn vẹn tất cả những kỷ niệm của chuổi ngày sống tại đây, vì thú thật chẳng bao giờ nghĩ là có lần mình phải ngồi nặn óc, ngược giòng thời gian lục tìm kỷ niệm để ghi lại … trả nợ anh NMAD mỗi lần nhìn quyển lịch tháng ba ngày vơi dần và thời điểm 31.03 hạn chót nộp bài lại đến, chưa kể đến chuyện gần 40 năm rồi chưa về thăm lại “vùng đất hứa” ngày nào vì thế đâu biết Qui Nhơn giờ này ra sao??, nên mỗi lần bị yêu cầu viết bài đóng góp cho Đặc San CĐ & NTH_QN là một cực hình đối với tôi nhưng cũng cố nhắm mắt qua sông!

Vâng, Qui Nhơn ngày tôi đến khi mới vừa lên bảy, sau khi học xong lớp năm nên với lứa tuổi còn quá thơ ngây tôi chưa có cái nhìn rõ ràng về thành phố này. Chỉ biết lúc đó thành phố còn nghèo nàn lắm, nhà cửa thưa thớt và tôi được ở cùng với cha tôi trong căn nhà nhỏ của hãng ba tôi làm việc trên đường Phan Bội Châu. Sau đó ba tôi xin cho tôi vào học lớp tư trường tư thục Bồ Đề, không xa lắm từ nơi tôi ở nên hằng ngày đi bộ tới trường. Từ đó hai cha con hủ hỉ với nhau, có thể nói, vì xa gia đình nên tình yêu lúc đó ba tôi dành trọn vẹn cho đưa con trai sống gần, nơi đất khách quê người.

Ai đã từng sống trong hoàn cảnh tương tự đều biết, đối với tôi lúc đó tất cả đều xa lạ. Từ thầy giáo cho tới bạn bè và ngoại cảnh xung quanh… Nhưng rồi sau thời gian ngắn tôi cũng đã hội nhập được với cuôc sống mới. May mắn được ba tôi chỉ dạy, xem bài vở mỗi tối khi rảnh tay nên nhờ đó tôi theo kịp bạn bè. Hết năm lớp tư, ba tôi lo làm thủ tục giấy tờ và tôi được tham dự một “khoá thi đặc biệt vào lớp ba, tuyển thêm vài học sinh để cho đủ túc số” do trường tiểu học công lập Nguyễn Huệ tổ chức vào năm 1958. Trẻ con biết gì, ba bảo đi thi thì tôi dự thi và may mắn, tôi có tên trong danh sách những học sinh thi đỗ và từ đó ba tôi không phải trích tiền lương trả học phí cho con. Ba tôi nói riêng hãnh diện với bạn bè trong khi tôi còn ngây thơ chẳng biết gì. Đường công danh, thi cử của tôi vì thế có thể nói bắt đầu sau lớp tư. Thế rồi tôi vào học trường Nguyễn Huệ, còn nhớ rõ cô Phượng làm giáo viên hướng dẫn, cô rất trẻ, xinh ở sát trường và rất thương tôi sau nầy vì … tôi thuộc loại học sinh ngồi bàn đầu, học cũng chẳng đến nỗi tệ cho lắm nên về sau thỉnh thoảng được diễm phúc cô cho phép tháp tùng qua nhà cô khi hết giờ học, “mang mấy cuốn vở” mà chúng tôi làm bài kiểm dùm cô cho cô nhẹ tay tí. Khi đó thầy Đệ làm hiệu trưởng. Thầy rất khó tính làm học sinh đứa nào cũng sợ mỗi khi gặp!

Sau này, nhờ ba tôi tận tụy làm ăn, dành dụm và tìm thuê được một căn nhà nhỏ ở đường Hoàng Diệu, gần khu nhà Thờ và đưa tất cả gia đình vào Qui Nhơn sinh sống. Đường Hoàng Diệu nằm gần chợ Qui Nhơn. Đi chừng vài trăm mét quẹo trái góc đường Phan Bội Châu đến đường Lê Thánh Tôn rẽ phải, đi thẳng là tới bải biển Qui Nhơn. Khu “Chợ” và phía Bắc lúc đó nhà cửa không nhiều, không sầm uất như khu phố Gia Long. Chị tôi sau đó vào học trường Trưng Vương gần nhà, sau qua trường Tân Bình, các em tôi cũng được cho ăn học đầy đủ. Sau khi tôi đi du học thì chúng nó đều vào được trường Cường Để và Nữ Trung Học, nhưng đó là chuyện về sau, chỉ trừ có đứa em trai kế vào học trường La San cho đến khi rời trường này, vào Sài Gòn học tiếp và về sau nhập ngủ vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.

Từ đầu niên học 1958, tôi đạp xe đạp đi từ nhà thay vì quẹo trái sang đường Trần Cao Vân, qua rạp hát Cộng Hoà để đến trường Bồ Đề thì tôi chạy dọc theo đường Phan Bội Châu, ngang qua khu bưu điện đến trường Nguyễn Huệ, nơi tôi đã mài đít ngồi cho đến hết lớp nhất. Sau niên học này, tôi và các bạn cùng lớp của trường Nguyễn Huệ lại có cơ hội so tài với các bạn cùng trang lứa từ các trường tiểu học Ấu Triệu (trường nữ), Mai Xuân Thưởng, Bồ Đề và nhiều trường khác trong tỉnh về dự thi vào lớp đệ thất của trường Trung Học Cường Để, một trường trung học công lập duy nhất tại Thị Xã Qui Nhơn, tỉnh Bình Định. Trong số hơn hai ngàn thí sinh, trường tuyển chọn khoảng hai trăm vào lớp đệ thất và tôi lần nữa lại may mắn lọt vào số học sinh được tuyển chọn. Ba má tôi vui mừng và hãnh diện không ít vì đây là một vinh dự không nhỏ khi một gia đình nào đó có con thi đậu và được học ở trường Cường Để.

Má tôi lo phụ ba buôn bán làm ăn nuôi đàn con, để dành và sau thuê một căn nhà lớn hơn ở đường Hai bà Trưng trước khi tạo được một căn nhà ở đường Nguyễn Du, với nhiều phòng ốc, tiện nghi hơn và gia đình chúng tôi dọn về đó, nơi mà tôi nói riêng cùng gia đình và chị em chung sống với nhau cho đến khi tôi xong bậc trung học, rời gia đình đi thật xa. Cũng tại nơi này tôi mới có nhiều bạn bè, như Văn Công Định (Định 1 nghe đâu giờ là võ sư dạy Thái cực Đạo ở Mỹ), Cương học dưới tôi một lớp, Định 2 (biệt danh là Định đầu đá vì cứng), Công, Khánh, Đôi … Chắc ai cũng tưởng tôi chỉ biết học. Không như vậy đâu, tôi rất ham mộ thể thao nên cái gì cũng biết chơi chút chút, không tệ lắm nhưng phân biệt rõ ràng giữa chuyện chơi và học. Chúng tôi thường gặp nhau sau giờ học và con đường đất Nguyễn Du là chỗ chúng tôi đá banh khi vắng xe, rũ nhau chia hai phe u mọi, đánh vũ cầu, bắn bi, tạt bao thuốc, bắn giây thung, sang nhà Cương đánh bóng bàn … không thiếu trò chơi nào hết. Nhiều khi chúng tôi, đội bóng khu chợ lớn trèo tường vào sân vận động Qui Nhơn để đấu với mấy bạn cùng trang lứa cư ngụ gần Ty Thông Tin, vì thế chúng tôi đã từng có dịp tranh tài với những “cầu thủ nổi danh” thời đó thuộc khu vực này như anh em Hà Long, Diệp, Sơn … và cũng hân hạnh được ông Xin thỉnh thoảng làm trọng tài khi đội banh tí hon xóm chợ lớn Qui Nhơn tranh tài cùng đội banh khu Võ Tánh-Ty thông Tin. Nghe đâu sau này Diệp trở thành cầu thủ nổi tiếng của tỉnh nhà. Nhớ lúc đó có lần đá banh cả buổi chiều, quên luôn giờ giấc đến tối mới về nhà mà chẳng biết mệt là gì. Làm sao quên những chiều đẹp trời tôi đánh vũ cầu với những người bạn gái trong xóm, tuy học cùng lớp nhưng lớn tuổi hơn nên tôi phải gọi bằng chị như chị Helène, chị H.Vân trước nhà, ngay trên con đường đất bay đầy bụi mỗi lần xe chạy ngang. Xa hơn nữa, con đường Nguyễn Du đã in đầy dấu chân tôi. Đi về hướng Bắc, dọc theo con đường đất này nếu không đi theo đường Hoàng Diệu ngang qua nhà thương và trường Tân Bình (sau là Nữ Trung Học) thì cứ việc đi thẳng, ngang qua tiệm ăn và ty cảnh sát, đụng Lê Thánh Tôn quẹo phải là chúng tôi ra tới bờ biển Qui Nhơn, nơi mà chiều về những đôi nhân tình hẹn hò gặp nhau tâm tình, nắm tay đi dạo và cũng là nơi chúng tôi đá banh trên cát, bơi lội thoải mái vào buổi sáng sớm hay sau giờ tan học, chưa kể đến những lúc nghịch ngợm chạy theo bắt mấy con dã tràng tránh sự săn đuổi của chúng tôi đang tìm cách chui xuống hang trốn. … Thỉnh thoảng, để thay đổi không khí, M. T., Cương và tôi cuối tuần rũ nhau đi ghé vào tiệm Bi-da ông Hoành hay tiệm Bi-da ở đường Lê Lợi hoặc tiệm gần rạp hát Tân Châu “chơi vài cơ” để giải trí đở buồn khi không còn hứng thú học hay làm bài tập. Ôi kỷ niệm thì nhiều, nhớ sao cho hết.

Trở lại chuyện học, vào đệ thất học ở trường Cường Để cũ mà anh chị đồng môn ai cũng biết (rõ hơn tôi) nên cho tôi lướt qua. Chỉ xin nhắc lại một kỷ niệm nhỏ. Nhớ lúc đó chúng tôi học Pháp Văn với thầy Nghĩa. Thỉnh thoảng cuối tuần ghé thăm thầy vì tôi ở không xa nhà thầy ở đường Phan bội Châu, gần nhà thầy Dương Minh Ninh, dạy nhạc. Đôi khi đến thăm khi thầy vừa ngủ dậy nên thầy Nghĩa có lần nhờ tôi mua bánh mì thịt quay bán gần đó để Thầy ăn sáng. Phải nói, bánh mì của bác này bày bán trước khu nhà Lê Đức Viên ngon số dách, chính tôi mê bánh mì này lắm. Thầy Nghĩa mến tôi nên đôi khi chỉ thêm Pháp văn mỗi lần ghé thăm nhưng tiếc một điều là học của thầy bao nhiêu trả lại thầy hết. Một hôm thầy cho tôi biết bị động viên đi Thủ Đức và nói sau đó có thể được biệt phái về trường dạy lại. Thế rồi Thầy rời trường, rời Qui Nhơn nhập ngủ. Đùng một cái tin buồn đưa đến, Thầy Nghĩa bị tai nạn xa lìa chúng tôi. Nhớ đến Thầy tôi không sao quên được những cảm tình tốt Thầy đã dành cho riêng tôi ngày nào… Và rồi cuộc đời, thời gian vẫn đi qua không ngừng nghỉ. Tôi được dịp học với quí Thầy Quan, thầy Tấn, Thầy Phong, Cô Hoa, Thầy Tùng …. Có lẽ số tôi không tránh khỏi được chuyện thi cử nên sau khi học xong năm đệ tứ, tôi lại xách bút mực đi thi kỳ thi trung học lần chót. Kỷ niệm nhớ mãi là kỳ thi này tôi được thi tại trung tâm Nguyễn Huệ, nơi tôi học khi còn theo học bậc tiểu học. Ngồi cạnh tôi là anh lính còn trẻ, bận đồ lính mang lon binh I, hỏi chuyện thì anh cho biết ráng học thêm thi kiếm cái bằng Trung Học để đi Quang Trung/Đồng Đế tìm cơ hội tiến thân. Tội nghiệp anh ta, Toán, Lý Hoá anh có vấn đề nên nói nhỏ nhờ tôi giúp. Tôi cẩn thận xê bài sang để anh xem nhưng không biết có giúp được gì anh?. Mỗi lần thi như vậy chúng tôi có vài kỷ niệm để nhớ. Bài thi vừa phát ra là có người tìm cách bắn ra ngoài, thế là có màn chia nhau giải. Mấy tay thứ thiệt, giỏi đã qua cầu ở bên ngoài ra tay nghĩa hiệp giải bài nhanh như có thể và rồi tìm cách dùng giây thung hay ná bắn bài giải vào phòng thi. Xui mà không đến tay người mình muốn đưa bài giải thì làm tiếp. Tôi phần sợ mấy người giám thị, phần “cũng có chút bản lãnh” nên chưa cần đến những tài liệu nói trên và kỳ thi này tôi lại gặp hên không bị trượt vỏ chuối.

Thời gian cứ thế mà trôi. Ngày nào mới đến Qui Nhơn chân ướt chân ráo, giờ đây tôi trở thành học sinh đệ nhị cấp sau khi thi đậu trung học, hãnh diện vì trên áo bắt đầu từ đó có thêu một bông hoa thị màu đỏ, dấu hiệu cho biết đang học đệ tam trường Cường Để. Tôi bắt đầu ngẫng mặt lên tí trên con đường đi học và đi về nhà, nhất là những giờ tan học khi có mấy cô nữ sinh trường Nữ Trung Học hay Bồ Đề tình cờ đi ngược chiều mỗi ngày tôi thả bộ dọc theo đường Tăng bạt Hổ đến trường Cường Để mới. Phải nói thưở học trò thời đó, lúc mà đất nước đang sống an bình sao mà đẹp quá. Chúng tôi sống tương đối khá hồn nhiên, ít lo lắng. Nhưng rồi tất cả từ từ thay đổi sau cuộc chính biến vào năm 1963. Như đã nói năm 1965 tôi lên đệ tam, con đường học vấn chưa bị trở ngại nào cả. Năm 1967 tôi lại xách bút đi thi Tú Tài I. Đây là ngõ cụt của học sinh thời đó vì phải đậu Tú Tài I mới được lên học lớp đệ nhất. Nhiều đàn anh trong xóm trước học trên tôi, lận đận nên bị trượt mãi, có anh phải thay đổi tên tuổi để học lại, có người từ giã bạn bè, trường học đi lính. Tôi may mắn hơn, qua được Tú Tài I trở thành học trò lớp đệ nhất B với ba bông hoa thị màu đỏ trên áo. Lại thêm một hãnh diện làm tôi “tự tin” hơn trên đường đi học và về, cũng con đường Tăng bạt Hổ khi tình cờ hội ngộ những bông hồng biết nói, xinh xắn mà tôi chỉ nhìn thấy tên và ghi nhận được như Hồng (học Tam C), Thảo, Liên Châu hay T.T ..v.v… học lớp thấp hơn, đi ngược chiều. Đệ nhất thời đó là số một vì đàn anh xong Tú Tài Hai đã đi xa học Đại Học rồi nên chúng tôi ”cảm thấy lên giá tí “ và thường hay xách xe gắn máy chạy dọc theo biển để ngắm mấy “bông hồng trường nữ” duyên dáng với chiếc nón lá, yểu điệu và tha thướt trong chiếc áo dài màu trắng mỗi lần tan trường. Nhớ có lần tôi ngã xe bị thương nhẹ khi quẹo trên đường Nguyễn Huệ, gần khu bùng binh góc đường Lê Lợi mà vết thẹo nhỏ nơi chân cho đến bây giờ cũng còn thấy vì cái tội làm le lấy xe gắn máy chạy đón đường ngắm mấy người đẹp tan học về, trong đó có B.T. N. Diễm xinh xinh, con của ông chánh án có quen với ba tôi mà tôi đã từng có dịp ngắm từ lúc cô nàng học đệ thất vào mỗi thứ hai trong dịp lễ chào cờ (vì lớp tôi được xếp đứng đối diện!) khi còn học đệ ngũ ở trường Cường Để cũ nên … quên mất đi chuyện con đường tráng nhựa dọc theo bải biển Qui Nhơn vốn được trải cát nên dễ trượt. Cũng đáng đời thôi!

Rồi năm học cuối trôi qua, tôi đi thi Tú Tài II, sau khi có được số vốn do sự chỉ dạy tận tụy của quí Thầy Sanh, Thầy Tài, Thầy Quan, Thầy Tấn, Thầy Trác, Thầy Tùng … Chỉ tiếc một điều, Anh và Pháp ngữ học ngày nào của Cô Hoa, thầy Trác hay Thầy Sanh sau Bac II tôi đã “trả lại thầy cô” vì kém trí nhớ và lười biếng, không chịu thực hành, xin quí thầy cô thông cảm và thứ lỗi cho đứa học trò cũ!

Chị tôi lúc đó đã lập gia đình nên ba má, chị em và thân nhân tôi hồi hộp vì tôi là người đầu tiên trong gia tộc thi Bac II. Ông trời lại đãi ngộ và thêm lần nữa, tôi may mắn qua cầu. Gia đình tôi hãnh diện vì khu đường Nguyễn Du gần Lê Lợi tôi ở, ngoài Hoài Sơn học trên một lớp thì tôi (nếu nhớ không lầm) là người thứ hai may mắn đậu Bac II, chính thức được gia đình gọi “cậu tú” từ đó.. M. T bạn thân tôi và T.S ở đối diện, học Bồ Đề đều lận đận. Nữ thì có Thùy Hân xinh xắn cũng vượt qua khổ ải này. Nghe đâu cô nàng về sau vào Sài Gòn học, lập gia đình và giờ đang ở Mỹ mà tôi có vài lần phôn thăm hỏi nhưng Thùy Hân bận bịu gia đình nên ít liên lạc được với cô bạn cùng lớp và cùng xóm ngày nào.

Con đường học vấn của tôi tưởng sẽ dừng chân vào thời điểm nào đó ở Sài Gòn sau khi tôi từ giả gia đình vào Thủ Đô miền Nam VNCH để theo học bậc Đại Học. Nhưng tất cả đã vượt qua mọi dự tính của tôi. Đúng là “mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”. Do tình cờ đẩy đưa, tôi nộp đơn xin đi du học và được chính phủ VNCH cho phép xuất ngoại du học Tây Đức. Cuối năm 1968 tôi có mặt tại Munich, thủ phủ của vùng Nam Đức. Cuộc sống tha hương bắt đầu từ đó, dù tự lập sau khi biết chút ít tiếng Đức nhưng cuối cùng tôi cũng đã học ra trường, tuy có phần vất vả về tài chính.

Tháng ba năm 1975, về thăm nhà tưởng những ở chơi với gia đình 3 tháng sau nhiều năm xa cách, ước mong sẽ đi thăm lại những thành phố mà tôi đã từng sống hay dừng chân như quê nội ngoại, Đà Nẳng, Huế, Nha Trang … nhưng hoàn cảnh không cho phép nên 4 tuần sau đó tôi lại phải khăn gói ra đi khi tình hình NVN trở nên căng thẳng. Không ngờ lần chia tay này có thể là lần chia tay cuối cùng với quê hương và Qui Nhơn! Qua lại Đức vào tháng 04.1975 và sau đó thì VNCH bị cộng sản cưỡng chiếm kể từ 30.04.1975. Sài Gòn, nơi tôi đã sống thời gian ngắn và có nhiều kỷ niệm mang theo, bị đổi tên. Căn nhà thân yêu của gia đình tôi về sau cũng bị đổi chủ, phải bán cho cán bộ. Cha mẹ, chị em phân tán mỗi người mỗi ngã vì mưu sinh. Tôi mất nước, mất quê hương và mất luôn mái ấm gia đình từ đó, chưa một lần về thăm (dầu có thể nói cũng có điều kiện!) nên chỉ biết gởi nhớ thương về quê mẹ bên kia trùng dương và …thêm lần nữa, đành chọn nước Đức làm quê hương thứ ba, quê hương tạm dung của tôi nói riêng, sau thành phố Qui Nhơn, nơi tôi lớn lên và học xong bậc trung học tại đó cách đây 39 năm.

Tôi đang làm thợ khách xứ người, có một mái ấm gia đình là niềm an ủi nhỏ cho kiếp sống tha hương. Rồi tình cơ biết được mái nhà chung của những đứa con hai trường Cường Để và Nữ Trung Học Qui Nhơn ở Houston/Mỹ, nghe theo tiếng chim gọi đàn tôi tìm đến. Âu Mỹ hai phương trời cách biệt nên qua sự réo gọi của anh NMAD tôi viết tài tử đóng góp, ghi lại những gì còn nhớ được sau 39 năm xa xứ mà nhiều lúc tôi đã nghẹn lời, đau buồn khi nghĩ đến vì chưa biết ngày nào mình mới có dịp trở về quê mẹ, trở về “thăm vùng đất hứa Qui Nhơn” để có dịp thả bộ trên những con đường một thời tôi đã đi qua, nào là Hoàng Diệu, Hai bà Trưng, Nguyễn Du, Lê Lợi, Phan bội Châu, Gia Long, Lê Thánh Tôn, Võ Tánh, Nguyễn Huệ, Tăng Bạt Hổ ..v..v…để thăm lại bải biển Qui Nhơn, để thưởng thức món nem nướng mà tôi và mấy đứa bạn thân đêm nào ra ngồi hóng gió biển, ngắm trăng, nghe sóng vỗ và cùng nhau ngồi quanh gánh hàng rong vừa ăn vừa khen ngon rối rít. Biết đến khi nào mới có dịp ghé thăm những ngôi trường xưa như Nguyễn Huệ, Cường Để, thăm Ghềng Ráng, Nguyên Thiều, được sống lại không khí ngày đại Lễ Kỷ Niệm Đống Đa tại Phú Phong, ghé thăm rạp hát Lê Lợi và nhà hát lớn Kim Khánh, xem những màn đấu võ đài ngoạn mục do môn đệ của các võ sư nổi tiếng như Hà Trọng Sơn, Kim Bửu …biểu diễn để rồi sau đó ghé ăn kem Phi Điệp hay lót lòng với tô mì Trường Đề của hơn 30 năm về trước??

Vâng chưa biết khi nào, đúng như bà xã tôi thỉnh thoảng khẽ ngâm:

“Quê hương ơi …thương nhớ trọn đời,

Quê hương ơi … bao giờ ta về ?"

Tôi chưa có thể về để nhìn lại quê hương trong lúc này! Cho tôi được nhắc lại đây một ít kỷ niệm nhỏ xa xưa và cũng xin mượn ngòi bút ghi lại những “hình ảnh đơn sơ” này thay cho những giây phút xem như chính tôi đang được đứng trên quê hương VN, đang ghé thăm Qui Nhơn của tôi ngày nào…dù đó chỉ là những hình ảnh mộc mạc tôi còn giữ lại được trong ký ức nhỏ bé của mình, từ thời tuổi còn ngây thơ, vụng dại ngày hai buổi cắp sách đến trường.
Lê Ngọc Châu (Munich, 30.03.2007)


hongvulannhi  
#909 Posted : Saturday, February 19, 2011 9:37:21 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Originally posted by langthang09

UserPostedImage
HÌNH ẢNH PHẬT QUAN ÂM TRONG THI CA VIỆT NAM

Từ bi là một trong những đặc điểm tiêu biểu của đạo Phật. Trong sự gắn bó với đời sống của dân tộc Việt Nam cũng như với thi ca, một phần tính chất từ bi của đạo Phật đã được hình tượng hóa với hình ảnh Đức Phật Quan Âm, cụ thể hơn là Phật Bà Quan Âm.

Bài viết này, xin giới thiệu hình ảnh Phật Bà Quan Âm trong thi ca Việt Nam.

Chúng ta đều biết, Đức Bồ Tát Quan Thế Âm đã được nói đến trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Phổ Môn, đó là một nam nhân; trong khi hình ảnh được thờ phụng nơi chùa chiền Việt Nam, được truyền tụng trong dân gian và thể hiện qua thi ca, lại là một Phật Bà. Về điểm này, Nguyễn Lang viết:

Bồ Tát Quan Thế Âm được mô tả trong phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa là một nam nhân. Sang Tây Tạng, Trung Hoa và Việt Nam, Quan Thế Âm biến thành nữ nhân thân, trong lúc đó Phật tử các nước này vẫn tụng đọc kinh Pháp Hoa mà không thấy có sự mâu thuẫn. Lý do là kinh Pháp Hoa có nói: "Nếu cần hiện ra thân gì mà cứu độ thì Quan Âm hiện ra thân đó, như thân quốc vương, thân tể tướng, thân nhi đồng, thân phụ nữ...". Cho nên bất cứ ở đâu xuất hiện một con người với lòng từ bi rộng lớn, là ở đó người ta cho là Đức Quan Âm hiện thân. Danh từ Quan Thế Âm (Avalokitesvara) có nghĩa là người lắng nghe tiếng kêu của cuộc đời; lắng nghe để tìm tới mà cứu giúp..." (VNPGSLT, Nhà xb VH, H, 1992, tr 99).

Vậy hình ảnh Phật Bà Quan Âm đã thể hiện trong thi ca Việt Nam như thế nào?

- Ca dao Việt Nam có câu:

"Cha già là Phật Thích Ca
Mẹ già như thể Phật Bà Quan Âm
Nhớ ngày xá tội vọng nhân
Lên chùa lễ Phật, đền ơn sinh thành"

- Hình ảnh Phật Bà Quan Âm cũng được tác giả Truyện Phan Trần nhắc đến, qua hình dạng ni cô Diệu Thường-tức Phan Kiều Liên sau khi vào chùa tu - với cái nhìn của Phan Tất Chánh:

"Thẩn thơ trước dãy hành lang
Vin cành biếc, hái hoa vàng, làm thinh
Xa xa phảng phất dạng hình
Đức Quan Âm đã giáng sinh bao giờ..."

(Truyện Phan Trần, câu 389-392, theo bản của sách VNTVHT của Dương Quảng Hàm, bản in 1968, tr.18)

- Trong tác phẩm "Sơ kính tân trang", Phạm Thái (1777-1814) đã hai lần nhắc tới hình ảnh Phật Quan Âm:

"Tu hành nhờ Đức Thế Tôn
Ắt say sưa đạo lại buồn bồng duyên
Lọ là khấn vái tiên thiên
Cậy Quan Âm với Mục Liên xót tình..."

(SKTTr, câu 1141-1142, sđd, tr 135)

- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) qua tác phẩm Lục Vân Tiên, cũng hai lần giới thiệu Phật Bà Quan Âm:

"Quan Âm thường đứng thảo ngay
Bèn đem nàng lại bỏ rày vườn hoa
Dặn rằng nàng hỡi Nguyệt Nga
Tìm nơi nương náo cho qua tháng ngày
Đôi ba năm nữa gần đây
Vợ chồng sao cũng sum vầy một nơi..."

(Truyện Lục Vân Tiên, câu 1523-1528, theo bản trong sách NĐC toàn tập, T1, Nhà xb ĐH và THCN, H 1980, tr.153).

Đó là đoạn nói Kiều Nguyệt Nga, trên đường đi cống Hồ đã nhảy biển trầm mình cho tròn tiết nghĩa với người bạn tình cũ, được sóng thần đẩy vào nơi bãi và được Phật Bà Quan Âm xót thương đem nàng đến nơi chốn cao ráo, sạch sẽ...Sau này khi bỏ trốn khỏi nhà cha con Bùi Kiệm, Nguyệt Nga trong cảnh đêm tối tăm mờ mịt, đã gặp được bà lão cưu mang, thì chính bà lão ấy cũng đã được Phật Quan Âm mách bảo trước:

"Người ngay trời Phật cũng vưng
Lão bà chống gậy trong rừng bước ra
Hỏi rằng nàng phải Nguyệt Nga
Khá tua gắng gượng về nhà cùng ta
Khi khuya nằm thấy Phật Bà
Người đà mách bảo nên già đến đây..."

(Truyện LVT, câu 1651-1656, sđd, tr 159).

-Nếu ngược về với không khí Thiền học đời Trần (1225 - 1400), chúng ta cũng sẽ gặp hình ảnh Đức Phật Quan Âm.

Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230- 1291), trong bài thơ "Lui về (Thối cư), đã viết:

"Thẹn bao mình đục sinh thời đục
Nhờ chút lòng yên gặp nước yên
Đêm mộng Quan Âm vào cỏ nội
Sông thu trong vắt dáng sương huyền".

(Trúc Thiên dịch, Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục, ĐH Vạn Hạnh xb, S, 1969, tr 167).

Đối với vua Trần Nhân Tông, tức Trúc Lâm đệ nhất Tổ (1258-1308), hình ảnh Phật Quan Âm còn có thể tạo nên sức khơi gợi lớn giúp kẻ tu hành đạt đạo. Trong buổi tham vấn Thiền học tại chùa Sùng Nghiêm, một vị Tăng hỏi: "Bậc tu hành lớn còn có thể rơi vào vòng tròn nhân quả nữa chăng?"

Điều Ngự đã đáp bằng bốn câu kệ:

"Miệng tợ huyết hồng phun Phật, Tổ
Răng như gươm bén đốn thiền lâm
Sáng kia chết xuống A Tỳ ngục
Vội niệm Nam mô Quan Thế Âm".

(Dẫn theo Nguyễn Lang, VNPGSL, t1, Nhà xb Lá Bối, S, 1974, tr 321)

- Chùa Diên Hựu còn gọi là Liên Hoa đài hay Nhất Trụ tự (chùa Một Cột) được xây dựng vào năm 1049 đời vua Lý Thái Tông (1028-1054) với hình ảnh một đóa hoa sen mọc từ dưới nước lên. Cuối thế kỷ XVIII, danh sĩ Trần Bá Lãm đã có bài thơ, không chỉ là ca ngợi cảnh đẹp mà còn ngợi ca tính chất linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm:

"Xóm hoa trong thành, chùa trong xóm
Danh là Diên Hựu, Lý triều xây
Trong cung hòa hợp mộng hoàn tử
Bồ Tát Quan Âm mới linh thay"

(Nguyễn Đăng Thục dịch, Phật giáo Việt Nam, Nhà xb Mặt Đất, S, 1974, tr 79)

Tính chất linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm còn gắn liền với những sinh hoạt bình thường của người dân Việt Nam và cũng được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, nhà thơ của chùa Hương, nhắc đến:

"...Mẹ bảo đường còn lâu
Cứ vừa đi vừa cầu
Quan Thế Âm Bồ Tát
Là tha hồ đi mau..."

(Bài Chùa Hương, dẫn theo Thi ca VN hiện đại, Khai Trí xb, S, 1968, tr 238).

-Trong văn chương chữ Nôm, hai tác phẩm trường thiên viết về sự hóa thân của Phật Bà Quan Âm được truyền tụng khá sâu rộng trong dân gian Việt Nam là Quan Âm Nam Hải và Quan Âm Thị Kính.

* Quan Âm Nam Hải gồm 1426 câu thơ lục bát, giới thiệu về quá trình dốc chí tu Phật của công chúa Diệu Thiện-được gọi là Bà Chúa Ba-con gái út của vua Trang Vương với nơi chốn tu hành và đắc đạo là chùa Hương Tích:

"Đức Phật mới chỉ đường tu
Rằng có một chùa tại Hương Tích sơn
Gần biển Nam Việt thanh nhàn
Sang tu chốn ấy sẽ toan viên thành ..."

(Dẫn theo Nguyễn Lang, VNPGSL, 72, sđd, tr 102).

* Quan Âm Thị Kính gồm 788 câu thơ lục bát, lời thơ chải chuốt, bác học hơn. Tác giả hẳn là một người am hiểu cả Nho, Phật, viết về cuộc đời Thị Kính với đức tính Nhẫn nhục và Từ bi-hiếu sinh, nhờ đấy mà bà đã đắc đạo. Nhà văn Vũ Khắc Khoan đã có những nhận xét rất xác đáng về nội dung tư tưởng của tác phẩm:

"Tư tưởng Phật giáo lại càng tỏ rõ khi Thị Kính cam chịu tiếng oan, vì lòng từ bi, vì đức hiếu sinh, hy sinh cuộc sống của mình để nuôi đứa bé sơ sinh của Thị Mầu. Nỗi oan mưu sát chồng đã đưa Thị Kính đến con đường giải thoát, nỗi oan quyến rũ Thị Mầu không làm cho nàng nản chí trên con đường giải thoát; nhưng chính lòng từ bi, đức hiếu sinh, chính hành động tích cực nuôi con Thị Mầu mới thực sự đưa nàng lên cõi giải thoát.

Trên hành trình vượt sông mê để cập bến giác, tinh thần Phật giáo đã là một ngọn hải đăng soi sáng bước chân Thị Kính. Để Thị Kính trở thành Tiểu Kính Tâm, để tiểu Kinh Tâm trở thành Đức Phật Quan Âm ". (Lời giới thiệu của sách "Vở chèo Quan Âm Thị Kính, Nhà xb Đào Tấn, S, 1966, tr 14).

Hình ảnh Quan Âm Thị Kính còn bước sang lãnh vực sân khấu chèo, với nhiều kịch bản chèo được lưu hành khá rộng rãi trong dân gian. Bản in "Vở chèo Quan Âm Thị Kính" do Nhà xb Đào Tấn ấn hành năm 1966 do Vũ Khắc Khoan giới thiệu, là bản in được hình thành do sự góp trí nhớ của nhiều nghệ sĩ ngành chèo và một số bạn hữu vốn hâm mộ bộ môn này. Chèo Quan Âm Thị Kính là một trong số ít vở chèo cổ nổi tiếng .

Tóm lại, từ ca dao đến thơ, từ thơ đến Nôm, kịch bản chèo, hình ảnh Đức Phật Quan Âm gắn bó đậm đà với văn học nghệ thuật Việt Nam vậy.
Đào Nguyên

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#910 Posted : Sunday, February 20, 2011 11:22:31 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG CUỘC ĐỜI VÀ TRONG VĂN CHƯƠNG

UserPostedImage

Thời chiến cũng như thời bình, người phụ nữ Việt Nam, hiện diện ở nhiều vị trí trong cuộc đời và để lại nhiều hình ảnh, bóng sắc trong văn chương.

Không tuổi trẻ nào ở Việt Nam ngày trước không nhớ bài học lịch sử nhắc nhở đến võ công oanh liệt của Hai Bà Trưng, nổi dậy chống quân xâm lược Đông Hán, qua những câu thơ trong cuốn Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái:

Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng công
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ gót chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên Biên Thành
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta …

Triệu Nữ Vương cũng được sử gia mô tả:

Đầu voi phất ngọn cờ vàng khi bà xông trận đánh quân Đông Ngô. Chí khí của bà thường bộc lộ trong câu nói bất hủ: “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng làm tì thiếp cho người ta…”

Thời vua Lý Thánh Tông mang quân đi đánh Chiêm, ở triều đình Ỷ Lan Thái Phi làm giám quốc với sự phụ chính của đại thần Lý Đạo Thành. Ỷ Lan vốn là một thôn nữ ở Bắc Ninh, vua Lý Thánh Tông gặp được nhân dịp tuần du, bèn tuyển vào cung. Sau một thời gian được trau dồi văn hóa, với trí thông minh thiên phú, đã tỏ ra là một phụ nữ có khả năng tham chính đắc lực, giúp điều hành việc nước, trong lúc vua Lý Thánh Tông bận chinh chiến phương xa. Ỷ Lan có thể xem là một phụ nữ đầu tiên làm chính trị trong lịch sử nước ta, kể cả lúc vua Lý Thánh Tông còn trị vì, cho đến khi vua Lý Nhân Tông (con của Ỷ Lan) lên ngôi. Trong việc phá Tống bình Chiêm dưới triều Nhân Tông, do Lý Thường Kiệt và các đại thần chủ trương, cũng có sự góp ý và quyết định của Ỷ Lan Thái Phi, tham chính bên cạnh ấu quân.

Người con gái đất Việt có lúc gặp phải số phận bi đát khi sinh vào thời buổi nhiễu nhương, ly loạn và bị áp đặt bởi mưu đồ chính trị như trường hợp Huyền Trân Công Chúa mà vua Trần Anh Tông đem gả cho vua Chiêm. Sự gả bán này cũng là một công lao đóng góp cho đất nước của công chúa với hai vùng đất Ô, Lý, mở rộng bờ cõi, nhưng cũng là niềm đau khổ về mặt tình cảm của người con gái ở thời phong kiến, không được tự do chọn ý trung nhân cho mình. Hoàng Cao Khải trong bài “Vịnh Huyền Trân” có ý thiên về lợi quyền chính trị:

Đổi chác xưa nay khéo nực cười
Vốn đã không mất lại thêm lời
Hai châu Ô Lý vuông nghìn dặm
Một gái Huyền Trân đáng mấy mươi …

Nhưng thời trước, Ngô Thời Nhiệm, một danh sĩ Bắc Hà, lại có cảm nghĩ khác về thân phận của vị công chúa “cành vàng lá ngọc”, qua bài “Tích Vũ Huyền Trân” (Mưa Lệ Huyền Trân):

Huyền Trân sái tận u sầu lệ
Hóa tác xuân mai dạ vũ thanh …
Nhị châu sính vật cung thiên cổ
Vạn lý giai nhân ngộ nhất sinh …

Dịch:

Cành mai xuân vắng tiếng mưa đêm
Ấy lệ Huyền Trân trĩu muộn phiền …
Hai châu lễ vật công muôn thuở
Muôn dặm đời hoa lỡ phận riêng …

Trong cuộc chiến tranh Nguyễn – Tây Sơn, vua Quang Trung có một số tướng lãnh trung thành, dù sau khi vua mất, họ vẫn hết lòng phò tá vua con là Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản). Trong số đó có Trần Quang Diệu và vợ là Bùi Thị Xuân. Tháng giêng năm Nhâm Tuất (1802), vua Cảnh Thịnh đem quân vào Nam đánh nhà Nguyễn, tấn công lũy Trấn Ninh, nhưng thất bại. Vua định triệt thoái quân, nhưng nữ tướng Bùi Thị Xuân vẫn thúc voi tiến đánh, gan dạ phi thường, nhưng rồi cũng rút lui theo chiến cuộc bất thành của quân Tây Sơn ở các nơi khác.

Người đời sau có thơ vịnh bà:

Vận nước đang xoay chuyển
Quần thoa cũng vẫy vùng
Liều thân lo cứu chúa
Công trận quyết thay chồng.
Khảng khái khi lâm nạn!
Kiên trinh lúc khốn cùng
Ngàn thu gương nữ liệt
Gương sáng hãy soi chung.

Khi vua Quang Trung ra Bắc diệt Trịnh phù Lê, được vua Lê Hiển Tông gả con gái là Ngọc Hân Công Chúa. Ngọc Hân có tài thi văn, khi vua Quang Trung mất đã sáng tác bài “Ai Tử Vãn” để khóc vua, lời văn rất thống thiết, mô tả thân thế và sự nghiệp của vua, có thể tóm gọn trong câu thơ:

Mà nay áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước biết bao công trình

Suốt hơn bốn ngàn năm lịch sử, không thời nào mà không có các vị anh thư nữ kiệt, hữu danh hoặc vô danh, có lẽ không nhiều, đóng góp vào công cuộc cứu nước, có tầm vóc hào hùng như các bậc nam tử.

Thời Pháp ra Bắc đánh dẹp quân Văn Thân, Đề Thám (tức Hoàng Hoa Thám) lập chiến khu ở vùng Yên Thế, xưng hùng một phương, được dân gian mệnh danh là “Hùm Thiêng Yên Thế”. Người Pháp phải trải nhiều năm gian lao mới dẹp được. Trong số tướng tá tùy tùng, Đề Thám có một nữ kiệt, tức là bà vợ ba của ông, đã nhiều phen “phất cờ nương tử” làm cho các võ tướng Pháp phải khiếp phục.

Dù người Pháp đã hoàn tất việc xâm chiếm, tổ chức việc cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nhưng người Việt vẫn liên tục nổi dậy đấu tranh giải phóng ách nô lệ cho nhân dân. Trong các tổ chức phục quốc, nổi tiếng có Việt Nam Quốc Dân Đảng do Nguyễn Thái Học cầm đầu. Trong đảng có một số nữ đồng chí từng sát cánh với lãnh tụ Nguyễn Thái Học, đáng kể nhất là hai chị em Nguyễn Thị Bắc và Nguyễn Thị Giang. Cô Giang về sau được đảng tác thành làm vị hôn thê của Nguyễn Thái Học. Cô Giang vốn là một giáo viên đã giúp Nguyễn Thái Học trong nhiều công tác hoạt động cách mạng chống Pháp. Khi Nguyễn Thái Học bị xử tử hình, cô đã dùng súng tự vẫn theo sau đó. Trước khi chết, cô đã để lại hai bức thư tuyệt mệnh. Một bức gởi cho cha mẹ để vĩnh biệt, bức kia gởi cho Nguyễn Thái Học, có những câu: “Anh là người yêu nước! Không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước ! Anh giữ lấy linh hồn cao cả để về chiêu binh rèn lính ở dưới suối vàng! Phải chịu đựng được nhục nhã mới có ngày mong được vẻ vang! Các bạn đồng chí phải sống lại sau anh để đánh đổ cường quyền mà cứu lấy đồng bào đau khổ!”

Kèm hai bức thư, còn có một bài thơ với những câu đầy xúc cảm, nhưng không kém vẻ kiêu hùng:

Thân không giúp ích cho đời
Thù không trả được cho người tình chung
Dẫu rằng đương độ trẻ trung
Quyết vì dân chúng thể lòng hy sinh …
Bây giờ hết kiếp thơ đào
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây …
Đảng kỳ phất phới trên thành
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ …
o0o

Cũng như một số dân tộc Á Đông khác là Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, người Việt vốn yêu chuộng văn chương, thi phú. Thời Nho học toàn thịnh, chịu ảnh hưởng Trung Hoa, nhiều nho sĩ trước tác các tác phẩm văn xuôi cũng như văn vần bằng chữ Hán. Qua đến đời Trần, có ông Hàn Thuyên đặt ra Hàn Luật (dựa theo Đường Luật), khởi đầu sáng tác thơ Nôm. Dưới triều Hồ, được Hồ Quý Ly khuyến khích, cũng như triều vua Quang Trung trọng dụng chữ Nôm, phong trào sáng tác văn, thơ Nôm phát triển. Làm giàu kho tàng văn học chữ Nôm, người phụ nữ Việt đã đóng góp không ít công trình có giá trị.

Dưới đời Trịnh, Hồng Hà Nữ Sĩ (tức là Đoàn Thị Điểm) đã chuyển tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm Khúc” bằng Hán Văn của Đặng Trần Côn thành một áng thơ Nôm tuyệt tác. Thời đó, Đặng Trần Côn đã cảm thông thân phận người phụ nữ trong thời loạn:

Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Du du bỉ thương hề
Thùy tạo nhân?

(Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?)

Và mô tả hoàn cảnh bi thương của họ trong thời loạn, với những cảm xúc chân thành, nên tác phẩm này được lưu truyền lâu dài về sau.

Tương truyền khi bà Đoàn Thị Điểm nổi tiếng là một phụ nữ có tài văn thơ, ông Đặng Trần Côn có đưa tặng bài thơ. Bà xem xong cười nói: “Trẻ con mới cắp sách đi học, đã biết gì!” Ông Côn nghe vậy tức mình, quyết học thành tài để có dịp rửa hận. Mấy năm đèn sách, ông trở nên một tay học vấn uyên bác, sáng tác tập “Chinh Phụ Ngâm Khúc” bằng Hán Văn và tìm đến trao cho bà Điểm xem. Bà Điểm khen hay, phục tài ông Côn, rồi dụng công dịch ra quốc âm và bản dịch này cũng được truyền tụng đến ngày nay.

Thời Trịnh Mạc, với cuộc chiến tranh trường kỳ đã tạo nên một xã hội rối loạn, phức tạp. Con người chỉ biết vui chơi, đùa cợt, để quên cuộc sống bấp bênh, vô thường. Hoàn cảnh này đã tạo nên một hiện tượng văn học kỳ lạ: nữ sĩ Hồ Xuân Hương, thường được mệnh danh là Bà Chúa thơ Nôm. Thơ của bà hầu hết đều mang tính chất tục, nhưng nền văn học Việt Nam không chối bỏ các tác phẩm có giá trị này. Thật vậy, trong văn học nước ta chưa có một thi nhân thứ hai nào làm được những bài thơ độc đáo như vậy. Dù thơ Hồ Xuân Hương diễn tả những đề tài tục, nhưng có một kỹ thuật cấu tạo thơ tài tình, cả hình thức lẫn nội dung, nên đọc lên người ta cảm nhận tính chất văn chương hơn là phàm tục. Thơ nữ sĩ họ Hồ đáp ứng nhu cầu giải tỏa những ẩn ức dục tính của nhân gian, cả giới bình dân lẫn giới bác học, mà vì luân lý đạo đức người ta không dám nói ra, nên thơ của bà vẫn được người đời ưa chuộng. Một số thơ Hồ Xuân Hương mang tính chất đả kích những tật hư, thói xấu của các hạng người trong xã hội (như bài đề Đền Sầm Nghi Đống, Sư bị Ong Châm, Đề Đền Trấn Võ, Bỡn Học Trò, Mắng Chiêu Hổ …) Một số bài khác là tiếng than thân trách phận giùm cho người phụ nữ trong nhiều hoàn cảnh (các bài Làm Lẽ, Quả Mít, Bánh Trôi Nước, Con Ốc, Bỡn Bà Lang Khóc Chồng…) Quả thật, các tác phẩm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một sự nghiệp văn học “không tiền khoáng hậu”, một phần do tài năng sáng tác của nhà thơ, một phần do cấu trúc đặc biệt của ngôn ngữ Việt Nam (về lối ẩn dụ, nói lái, lời thanh ý tục hoặc ngược lại v..v…)

Cùng thời, dưới triều Nguyễn, một nữ sĩ khác, Bà Huyện Thanh Quan, hầu như đối lập với với nữ sĩ Hồ Xuân Hương, qua những tác phẩm thi ca có tính nghiêm cẩn, đoan trang. Thơ bà không nhiều, chỉ có một số bài, nhưng bài nào cũng có giá trị, với tinh thần hoài cổ và tràn đầy cảm xúc. Học sinh bậc trung học nào ở Việt Nam ngày trước lại không nhớ đến bài thơ “Thăng Long Thành Hoài Cổ” đã học trong giờ Việt văn:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa: hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài: bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

hoặc không quên những vần thơ đầy tính chất yêu nước trong bài “Qua đèo Ngang tức cảnh”:

… Nhớ nước đau lòng con quốc quốc (chim cuốc)
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia (chim đa đa)
Dừng chân đứng lại: trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.

Bà Thanh Quan, đến nay chưa rõ tên thật, có tài liệu ghi là Nguyễn Thị Hinh, hiệu Nhàn Khanh, là vợ của ông Lưu Nguyên Uẩn (có bản ghi là Lưu Nghị), từng làm tri huyện ở huyện Thanh Quan (tỉnh Thái Bình, Bắc Việt) nên người ta thường gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan. Bà vốn hay chữ, có thời kỳ được vời vào cung nhà Nguyễn (hình như triều Minh Mạng) làm Cung Trung Giáo Tập để dạy cho các công chúa và các cung phi.

Tương truyền có lần ông huyện đi vắng, bà Thanh Quan lên ngồi ở công đường xem giấy tờ, chiếu biểu hộ chồng cùng xét những việc có liên quan đến dân chúng trong huyện. Dịp này, thư lại đưa đến một quả phụ với đơn xin cải giá. Với tấm lòng rộng lượng, thông cảm người cùng giới, bà phê ngay vào đơn:

Phó cho con Nguyễn Thị Đào
Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai
Chữ rằng xuân bất tái lai
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.

Cùng trường hợp bà Thanh Quan, có bà Nguyễn Nhược Thị là một phụ nữ có học thức rộng, dưới triều vua Tự Đức được tuyển vào cung và từng dạy học trong nội đình. Nhân mục kích việc thất thủ kinh đô Huế năm Ất Dậu (1885), vua Hàm Nghi phải bôn tẩu, bà soạn tập “Hạnh Thục Ca” (Bài ca vào đất Thục), mô tả việc lánh chạy của vua ra khỏi kinh thành và tình trạng khốn khổ của dân chúng lúc bấy giờ, cùng chỉ trích các quyền thần đã gây nên tình trạng đó.

Thời kỳ Pháp thuộc, Việt ngữ thông dụng, các nữ sĩ đóng góp công trình thi ca cho văn học Việt Nam khá nhiều. Ở Bắc, có bà Cao Ngọc Anh, bà Tương Phố, bà này từng nổi tiếng với tập “Giọt Lệ Thu”. Ở Nam, có bà Sương Nguyệt Ánh (con ông Nguyễn Đình Chiểu), từng làm chủ báo “Nữ Giới Chung”.

Trong nền văn học lãng mạn vào thập niên 1930, có những nhà thơ nữ nổi tiếng như Vân Đài, Hằng Phương, Mộng Tuyết, Anh Thơ, Thu Hồng, Ngân Giang, T.T. Kh một thời gây tiéng tăm trong làng văn với bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn”; Quỳnh Dao có mấy vần thơ duyên dáng mô tả các nàng thôn nữ ở Huế:

Một hàng tôn nữ cười trong nón
Sông mở lòng ra đón bóng yêu
o0o

Người phụ nữ Việt Nam từng lưu lại những tấm gương cao đẹp trong lịch sử với các hoạt động cứu quốc, trong văn học với những trước tác tuyệt vời. Đó là những phụ nữ hữu danh.

Thời xưa, trong cuộc sống hằng ngày ở gia đình, người phụ nữ Việt Nam bình thường có những đức tính tiêu biểu cho truyền thống dân tộc: tam tùng (tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử) và tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh). Dù các đức tính này chịu ảnh hưởng của lễ giáo Trung Hoa, nhưng khi thâm nhập vào đất Việt lâu đời cũng trở thành những thuần phong mỹ tục của người Việt. Thời nay, các đức tính trên không tồn tại ở đa số phụ nữ, nhất là tam tùng, nhưng tứ đức vẫn còn nét tô điểm cho cái đẹp vừa tinh thần vừa thể chất, nói cách khác đó là cái duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam. Từ xưa, dân gian Việt vốn yêu thích mẫu người con gái:

Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón Thượng quai tua dịu dàng
Bảy thương nết ở khôn ngoan
Tám thương ăn mặc lại càng thêm xinh
Chín thương cô ngủ một mình
Mười thương con mắt hữu tình với ai (Ca Dao)

Trải qua thời đại, mẫu người này không hoàn toàn thích hợp, nhưng cũng còn biểu lộ ít nhiều vẻ đẹp đa diện của người phụ nữ Việt Nam. Trong văn chương, ta còn có thể thấy vẻ đẹp thể chất của người phụ nữ. Từ làn môi, khoé mắt cho đến hình dung, cốt cách.

Yên Thao, nhiều năm sống đời chiến binh vẫn không quên được đôi mắt đen của người yêu, vốn là nữ sinh thường đi guốc mộc theo thời trang thuở đó:

Năm xưa em nữ sinh
Mắt huyền lung linh
Đu đưa mái tóc
Tiếng guốc thanh bình

Hay Quang Dũng, lúc hành quân cũng nhớ đến đôi mắt, có lẽ cũng đen, của người con gái Sơn Tây, chứa nhiều u uẩn mà đượm nét buồn:

Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc …
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương.

hoặc mơ về vóc dáng của người thiếu nữ Hà Nội, với vẻ kiều diễm tự nhiên, không nhờ hương phấn:

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Người thiếu nữ Việt Nam đẹp ở mái tóc thề (Tóc thề vừa chấm ngang vai – Kiều), hoặc đen mướt sắc mun, buông dài xuống tận lưng, khi ngồi hong tóc vừa gội xong:

Trời đẹp như trời mới tráng gương
Chim ca tiếng sáng rộn ven tường
Có ai bên cửa ngồi hong tóc
Cho chảy lan thành một suối hương (Hồ Dzếnh)

Mái tóc đen huyền gợi nên hình ảnh đầy thơ mộng cùng với làn môi không tô son:

Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi (Bích Khê)

Cái tơ cái tóc là góc con người, như tục ngữ thường nói, cho nên người phụ nữ Việt luôn chăm sóc mái tóc, chải chuốc kỹ lưỡng hàng ngày như chị Hoài, một nhân vật nữ đặc biệt của Huế, trong tác phẩm “Tóc Chị Hoài” của Nguyễn Tuân.

Tóc mây với dáng bồng bềnh của người con gái Việt cũng được yêu chuộng:

Tóc mây một món chiếc dao vàng
Ngàn trùng e lệ phụng quân vương (Đoàn Phú Tứ)

Mây chẳng khi nào chẳng có nhiều
Trên trời cao bay những sớm chiều
Nhưng trong đời tôi nào thấy nữ
Mây bồng trên mái tóc tôi yêu (Huyền Lang)

Người phụ nữ Việt còn có dáng vóc đẹp với lưng thon, bờ vai mềm:

Phong thư tình ngây dại
Nhưng vai mềm môi ngoan (Hoàng Hy Thanh)

Với đôi bàn tay có ngón thuôn búp măng:

Em đẹp bàn tay ngón ngón thon
Em duyên đôi má nắng hoe tròn (Huy Cận)

Và bước đi tự nhiên mà ẩn nhiều vẻ đẹp rạng rỡ:

Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững đững chẳng theo gần (Xuân Diệu)

Nở bừng ánh sáng anh đi đến
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng (Huy Cận)

Thời hiện đại, dù người ta chuộng phụ nữ có vẻ đẹp thể chất mạnh khỏe do luyện tập thể dục, như Hiền, một nhân vật nữ trong truyện “Trống Mái” của Khái Hưng, nhưng cốt cách hình dung yểu điệu:

Nét buồn như cúc điệu gầy như mai (Kiều)

vẫn là đối tượng thẩm mỹ của thi ca, bởi vì thể chất này có vẻ thích hợp với chiếc áo dài Việt Nam.

Thật vậy, trang phục gợi nhiều đến sự chú ý về nét duyên dáng của người phụ nữ. Và phần chính của trang phục phụ nữ Việt là chiếc áo dài. Và chiếc áo dài này đang có nhiều hình thức qua không gian và thời gian.

Ngày xưa, đàn bà nông thôn lẫn thành thị mặc áo tứ thân:

Nào đâu cái yếm lụa sồi
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân
Nào đâu cái áo tứ thân
Cái khăn mỏ quạ cái quần nái đen (Nguyễn Bính)

Qua thời thuộc Pháp, có loại áo dài cải cách “Lemur”, theo mẫu của họa sĩ Cát Tường, dành cho phụ nữ tân thời. Áo này khá hấp dẫn với các thiếu nữ theo mới thời ấy. Dần dần xuất hiện loại áo dài cao cổ, thấp cổ, không cổ, cho đến ngày nay thì rất nhiều kiểu áo dài khác lạ được giới thiệu ở các buổi trình diễn thời trang của người Việt ở nhiều nơi trên thế giới. Đặc biệt, chiếc áo dài Việt Nam có vẻ duyên dáng, nên thơ khi tà áo phất phơ trong gió:

Em đi trong bóng chiều sa
Hay trong nắng sớm cho tà áo bay
Phất phơ cuối nẻo trời mây
Trời xanh mây trắng cho đầy mộng mơ (Mây Tần)

Một hôm trận gió tình yêu lại
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ (Huy Cận)

Phụ nữ miền Bắc và Trung thường mặc áo dài, phụ nữ miền Nam đến nay còn chuộng áo ngắn, tức là “áo bà ba”, cũng có vẻ đẹp riêng. Về giới nữ sinh, thì các trường nữ học thường buộc họ mặc đồng phục với chiếc áo dài xanh, tím hoặc trắng. Ngày trước, nữ sinh trường Đồng Khánh, Huế có thời kỳ mặc áo dài tím, xanh, trắng, trường Trưng Vương, Gia Long Sài Gòn cũng vậy, tùy theo qui định của nhà trường. Tà áo dài nữ sinh còn để lại nhiều vang bóng trong thơ:

Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
Hôm xưa em đến mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng em đi đến
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng (Huy Cận)

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Anh pha mực cho vừa màu áo tím (Nguyên Sa)

Màu áo tím chính là màu của tình thơ mộng:
Tôi cài trên áo nàng
Màu hoa như màu áo
Thi vị hóa cuộc đời
Làm tình yêu diễm ảo (Huyền Lang)

Và đặc biệt, một chiếc áo phụ nữ khác không kém vẻ quyến rũ với chất, màu:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng (Nguyên Sa)

Người phụ nữ Huế, nhất là nữ sinh, còn được điểm thêm vẻ duyên dáng với tà áo trắng và chiếc nón bài thơ:

Chiếc nón bài thơ sáng ánh chiều tà
Vẽ lên không dáng người thơ khép nép
Và hình dung cả một miền Huế đẹp
Mà thời gian đã khép một thời xưa (Thùy Việt Lân)

Hình ảnh người phụ nữ còn để lại nhiều nét đáng yêu trong ca dao ở đồng nội, nơi họ từng vất vả với công việc đồng áng, nhưng vẫn biểu lộ một đời sống tình cảm dồi dào:

- Thương nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chìu

- Rồi mùa tót rạ rơm khô
Bạn về quê bạn biết mô mà tìm

- Thuyền về Đại Lược duyên ngược Kim Long
Đến đây là chỗ rẽ của đôi lòng
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào

- Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Thập bát giang cũng lội tam thập lục đèo cũng qua

-… Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra

Người phụ nữ Việt ngày xưa, nông thôn cũng như thành thị, có nhiều đức tính cao quí. Ngoài việc chăm lo ruộng nương, đảm trách nội trợ, họ còn có bổn phận thờ chồng, nuôi dạy con:

- Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai (Chinh phụ Ngâm)

- Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân (Chinh Phụ Ngâm)

- Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Em về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng (Ca Dao)

Trong thời hiện đại, họ là thành phần tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam mới, tham gia hoạt động cách mạng và kháng chiến chống ngoại xâm như các nhân vật Thu Hương, Chị Tập trong tác phẩm của Hồ Hữu Tường. Hoặc họ là những nữ cứu thương, hiện diện ở các mặt trận, trong thơ Bân Bân nữ sĩ:

Có những bàn tay đẹp dịu dàng
Bàn tay không vướng nét kiêu sang
Cũng không tô chuốt màu hồng hạnh
Mà vẫn hồng tươi vẫn nhẹ nhàng

Bao nỗi niềm riêng đành phủi bỏ
Những bàn tay ấy quyết đeo mang
Đem bao êm dịu cho đau đớn
Hàn vá lành cho những vết thương

Là ngọc ngà đem giữa chiến trường
Là ngà ngọc điểm khí hiên ngang
Là ngà ngọc kết nên đôi nét
Chữ thập hồng tươi ánh nắng vàng

Đây một trời thương phủ chiến công
Nơi đây ve vuốt chí anh hùng
Nơi đây an ủi hờn chinh khách
Trên cánh tay in chữ thập hồng
o0o

Ngày trước, nhà văn Hồ Hữu Tường đã nêu câu hỏi: “Gái nước Nam làm gì?” đặt tiêu đề cho 2 tập tiểu thuyết “Thu Hương” và “Chị Tập” của ông.

Trong cuộc đời, “Gái nước Nam” đã đi vào lịch sử bằng sự nghiệp cứu quốc, xây dựng gia đình, đi vào văn học sử bằng sự nghiệp thi ca.

Trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, hình ảnh người phụ nữ vẫn thường là nguồn cảm hứng cho vô số sáng tác làm nên thơ mộng của cuộc đời và chính cuộc đời được tô điểm bằng văn chương nghệ thuật giúp cho con người sống có ý nghĩa và lạc thú.
Phương Nghi
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#911 Posted : Monday, February 21, 2011 9:51:21 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
TÌNH NGHĨA VỢ CHỒNG QUA CA DAO
Dân gian ta ngày xưa quan niệm rằng hễ đã có tình thì tất nhiên phải có nghĩa.

Và trong quan hệ vợ chồng, hai chữ "tình", "nghĩa" được ghép liền với nhau, như trong các thành ngữ: "tình nghĩa vợ chồng", hay "tình chồng nghĩa vợ" chẳng hạn.

Nói về tình, dân ta vốn là giống đa tình và lãng mạn không ít. Chẳng yêu thì thôi, mà đã yêu thì thật là say mê đắm đuối:

"Đã nhuộm thì nhuộm cho đen,
Đã khêu, khêu tỏ ngọ đèn mới thôi!
Ăn trầu thì phải đỏ môi,
Thương nhau thì phải thắm đôi nghĩa tình".

Yêu nhau say đắm đến mức có bị giết chết cũng đành, chớ nhất định không xa lìa nhau:

"Gươm vàng để đó anh ơi,
Chết thì chịu chết, lìa đôi không lìa".

Và đến nỗi con gái có thể bỏ cha mẹ để ra đi theo chồng:

"Cha mẹ bú mớm nâng niu,
Tội trời đành chịu, không yêu bằng chồng.
Ai kêu ai hú bên sông,
Mẹ gọi con dạ, có chồng phải theo".

Cái tình ấy có khi lãng mạn đến quên cả thực tế sinh hoạt, lấy nhau cũng bất chấp giàu nghèo, sướng cực:

"Bạn ra về lòng ta khô, dạ ta héo,
Bạn ra về không lẽ ta réo, ta kêu.
Nghiêng tay giữa gió, ta bảo nhỏ đôi điều,
Ai xa mặc họ, hai đứa mình nghèo đừng xa".

Cái mộng "một túp lều tranh, một trái tim" không phải riêng gì cho các thanh niên lãng mạn thời tiền chiến, mà từ ngày xưa trai gái nông thôn cũng đã từng mơ ước như vậy:

"Đêm hè gió mát, trăng thanh,
Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp thừng.
Lạt chẳng mỏng sao thừng được tốt,
Duyên đôi ta đã trót cùng nhau...
Trăm năm thề những bạc đầu,
Chớ ham phú quí đi cầu trăng hoa".

Còn chữ nghĩa trong thành ngữ "tình nghĩa vợ chồng", bao gồm "lòng chung thủy" và "nghĩa vụ giữa vợ chồng".

Lòng chung thủy là tấm lòng yêu thương giữa vợ chồng trước sau như một:

"Non non, nước nước khơi chừng,
Ái ân đôi chữ xin đừng có quên.
Tình sâu mong trả nghĩa đền,
Đừng vui chốn khác mà quên chốn này".

Và ngay lúc đang sống trong hiện tại, nhưng vẫn không hề quên những giờ phút vui, buôn, sướng, khổ mà vợ chồng đã từng chia sẻ với nhau:

"Rủ nhau xuống bể mò cua,
Đem về nấu với mơ chua trên rừng.
Em ơi chua ngọt đã từng,
Non xanh nước biếc ta đừng quên nhau".

Thật vậy, trong cái ta gọi là "nghĩa" ấy đã chứa đựng biết bao kỷ niệm của cả một cuộc đời đôi bên, mà đối với những con người còn mang ít nhiều tâm tình, bản sắc của giống nòi Việt Nam, không mấy ai có thể gạt bỏ ra khỏi tâm tư, ký ức của mình được.

Phần đông người phương Tây khó mà quan niệm được chữ "nghĩa" của chúng ta. Đối với họ, hễ không thương yêu nhau nữa thì thường dứt bỏ ra đi, để làm lại cuộc đời. Họ chú trọng đến hạnh phúc cá nhân của bản thân nhiều hơn. Nhưng dân ta ngày xưa, trái lại, một khi yêu nhau thường chỉ nghĩ đến hạnh phúc của người mình yêu mà thôi. Nên vợ chồng ăn ở với nhau, phải có cả "tình" lẫn "nghĩa". Khi "tình" vì một lẽ gì mà phai nhạt, thì cũng vẫn còn cái "nghĩa" để giữ cho hai bên tiếp tục gắn bó với nhau.

Gắn bó nhau như thế, có thể là đã chịu ảnh hưởng của Nho giáo, mà cũng có thể vì tin vào thuyết nghiệp quả của Phật giáo mà cam lòng với duyên phận của mình, hay vào đạo đức, vào luật phép của Trời, vào sự lý khôn ngoan đương nhiên của dân tộc ta, mà suốt đời vợ chồng chung thủy với nhau, không nghĩ đến sự thay đổi, phân ly:

"Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,
Rượu hồng đào chưa nhấm đã say.
Nợ nhà giàu trả hết lại vay,
Chớ nợ duyên chồng vợ, trả mấy ngàn ngày cho xong!".

Vì thế mà:

"Trăm năm trăm tuổi, may rủi một chồng,
Dầu ai thêu phụng, vẽ rồng mặc ai".

"...Nghe lời bạn nói đậm đà,
Chồng em không phải, rứa mà em thương".
"...Chồng ta áo rách ta thương,
Chồng người áo gấm xông hương, mặc người."

Cho nên đàn bà ta ngày xưa thường nghĩ rằng:

"...Rau răm ngắt ngọn khó trồng,
Cho say mê đi nữa, cũng là chồng người ta".

"...Đã thành gia thất thì thôi,
Đèo bòng chi lắm, tội Trời ai mang".

Chính cái "nghĩa" (hay "nghĩa vụ giữa vợ chồng") là sự thể hiện cụ thể của cái tình, thể hiện qua các quan hệ đối xử hàng ngày giữa vợ chồng với nhau cho đúng với đạo lý tự nhiên của dân tộc, thể hiện cao độ trong lòng hy sinh không bờ bến, thể hiện trong cái mà dân gian gọi là đắc nghĩa cùng chồng:

"Lạy cha ba lạy, một quì,
Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm hồng,
Lời mẹ ghi khắc trong lòng nhớ không?
Ở sao đắc nghĩa cùng chồng,
Sao cho họ mạc cũng không chê cười..."

Nhưng thực hiện cho được cái mà dân gian thường gọi là "đắc-nghĩa cùng chồng" ấy, tưởng không phỉa là dễ. Từ thời xa xưa, khi xã hội ta còn ở chế độ mẫu hệ, người đàn bà không những là "nối tướng" của gia đình, mà đã từng là những "tướng lãnh" đầu tiên trong lịch sử nước ta, đứng lên điều khiển các cuộc kháng chiến chống xâm lăng, như các Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị và Bà Triệu Nữ Vương...

Thời xa xưa ấy, bao nhiêu trách nhiệm trong gia đình đều qui về người mẹ, và mãi đến ngày nay, dân gian vẫn còn quen miệng bảo "Con dại cái mang" (chớ không nói: "Con dại bố mang"), và cũng quen miệng nói "tình nghĩa vợ chồng" (chớ ít khi nói "tình nghĩa chồng vợ").
Ngày nay, xã hội ta bước sang chế độ phụ hệ, người đàn bà tuy bị mất nhiều quyền lực, song vẫn phải tiếp tục đảm nhận nghĩa vụ quan trọng "gánh vác giang sơn nhà chồng" của mình:

"Anh về hái đậu chảy cà,
Để em đi chợ kẻo mà lỡ phiên.
Chợ lỡ phiên tốn công thiệt của,
Miệng tiếng người cười rủa sao nên.
Lấy chồng phải gánh giang sơn
Chợ phiên còn lỡ, giang sơn còn gì?"

Và luôn luôn tận tình chăm lo cho chồng khi đau, khi ốm:

"Tại em nghe anh đau đầu chưa khá,
Em băng đồng chỉ sá (a) bẻ ngọn lá nọ sang xông.
Có làm ri mới trọn đạo vợ chồng,
Đổ mồ hôi ra em quạt, ngọn gió lồng em che".

Chú giải: -(a) Có tác giả cho rằng hai chữ này là một địa danh: "Chỉ xá", tên một làng thuộc quận Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên.

Nhất là lam lũ làm ăn, cho chồng có thì giờ học hành, thi cử để nên sự nghiệp, công danh:

"Canh một dọn cửa nhà,
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.
Canh tư bước sang canh năm,
Khuyên chàng dậy học, chớ nằm làm chi.
Nữa mai Chúa mở khoa thi,
Bảng vàng choi chói kia để tên anh.
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiêng, sắm bút, cho anh học hành".

Cũng vì yêu chồng, người vợ đã hy sinh, chịu mọi thiệt thòi, gian khổ cho chồng được đầy đủ, yên vui:

"Vì chồng thiếp phải bắt cua,
Những như thân thiếp, thiếp mua ba đồng.
Vì chồng thiếp phải gắng công,
Nào ai xương sắt dạ đồng chi đây!"

Vì yêu chồng mà cũng phải nhịn mẹ chồng cho "êm cửa ấm nhà":

"Mẹ già khó lắm, em ơi!
Nhịn ăn, nhịn nói, nhịn lời mẹ cha.
Nhịn cho êm cửa, nên nhà,
Nên kèo, nên cột, nên xà tầm vông.
Nhịn cho nên vợ, nên chồng,
Nhịn cho êm ấm ở trong cửa nhà".

Rồi vì yêu chồng mà tha thứ, chịu đựng tất cả:

"Yêu nhau vạn sự chẳng nề,
Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng".

"...Đốn cây ai nỡ dứt chồi,
Đạo chồng, nghĩa vợ, giận rồi lại thương".

Cuối cùng vì yêu chồng mà nhiều bà vợ đã tự nguyện hy sinh, để cho chồng an tâm ra đi tranh đấu với đời:

"Anh đi, em ở lại nhà,
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ.
Lầm than bao quản muối dưa,
Anh đi! Anh liệu chen đua với đời".

Trong lịch sử của dân tộc ta, "người vợ hiền" đã hy sinh, giúp đỡ, khuyến khích chông làm nên sự nghiệp vẻ vang như thế không phải là ít. Nhà cách mệnh Phan Bội Châu trước khi qua đời, đã có mấy lời về Cụ Bà, trối lại với con, có đoạn như sau:

"Bây giờ ta lúc sắp sửa chết, mà chưa chết, đem lịch sử mẹ mầy nói với mầy:
Mầy nên biết, nếu không có mẹ mầy thì chí của cha mầy đã hư hỏng những bao giờ kia!...
Từ năm ta ba mươi sáu tuổi, cho tới ngày xuất dương, những công việc kinh dinh việc nước, mẹ mầy ngầm biết hết thảy, nhưng chưa từng hé răng một lời. Duy có một ngày kia, ta tình cờ ngồi một mình, mẹ mầy đứng tựa cột kề một bên ta mà nói:
-Thầy toan bắt cọp đó mà? Cọp chưa thấy bắt, người ta đều biết nhiều, sao thế?

Mẹ mầy tuy có câu nói ấy mà lúc đó ta làm ngơ, ta thiệt dở quá. Bây giờ nhắc lại, trước khi ta xuất dương, khoảng hơn mười năm, nghèo đói mà bạn bè nhiều, khốn cùng mà chí vững, thiệt một phần nửa là nhờ ơn mẹ mầy.

Tới ngày ta bị bắt về nước, mẹ mầy được gặp ta một lần ở thành tỉnh Nghệ, hơn nửa tiếng đồng hồ, chỉ có một câu nói với ta:

-Vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay được một lần gặp lại mặt thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi. Từ đây về sau, chỉ trông mong cho thầy giữ được lòng xưa, thầy làm những gì mặc thầy, thầy chớ nghĩ tới vợ con.

Hỡi ơi! Câu nói ấy bây giờ còn phảng phất ở bên tai ta, mà ta chầy chà năm tháng, chẳng việc gì làm, chốc đã chẵn mười năm. Phỏng khiến mẹ mầy chết trước ta thì trách nhiệm của ta e còn nặng mãi mãi.

Suối vàng quan cách, biết lối nào thăm; đầu bạc trăm năm còn lời thề cũ. Mẹ mầy thiệt chẳng phụ ta, ta phụ mẹ mầy! "Công nhĩ vong tư", chắc mẹ mầy cũng lượng thứ cho ta chứ".

Xét cho kỹ, cái "nghĩa" trong "tình nghĩa vợ chồng" đó chưa hẳn đã do Nho giáo ngoại lai đem đến, mà vốn là một bản tính tự hữu trong tâm hồn các bà vợ Việt Nam từ ngàn xưa. Có thể về sau, các nho sĩ đã đem những hành động hy sinh cao đẹp đã có sẵn của phụ nữ Việt Nam, lồng vào các lễ giáo của đạo Nho Trung Quốc. Để rồi các ông chồng Việt lợi dụng vịn vào đấy, mà áp bức, bắt buộc vợ mình phải tuân theo một cách rất là phi lý bất công.

Một bất công lớn nhất ở chế độ phụ quyền là tục đa thê: "Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng".

Nhưng ở thời Nho giáo phong kiến, nếu có người đàn bà nào lên tiếng trực tiếp chỉ trích, chống đối, thì không thể nào khỏi bị ghép vào tội "dâm loạn". Cho nên họ chỉ có thể mượn những lời nửa đùa nửa thật để tự chế giễu : đem cái tội mà người ta gán cho mình, thậm xưng lên, phóng đại ra một cách quá đáng, để chọc cười, theo lối nói lẫy, cho đã nư, đã tức. Đồng thời cũng để gián tiếp châm biếm, chống đối cái lạm quyền phi lý, cái quan niệm hẹp hòi, lố lăng về hai chữ "tiết trinh" của bọ đàn ông:

"Chữ trinh đáng giá nghìn vàng,
Từ anh chông cũ đến chàng là năm.
Còn như yêu vụng giấu thầm,
Họp chợ trên bụng đến trăm con người".

Và cũng tự chế giễu cái tính lẳng lơ hoa nguyệt mà khi anh chồng hay ghen bóng, ghen gió đem vu khống cho mình:

"Chồng ăn chả, (thì) vợ ăn nem,
Đứa ở có thèm mua thịt mà ăn".

"... Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.

Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít, nhớ trai thì nhiều".

"...Anh đánh thì tôi chịu đòn,
Tánh tôi hoa nguyệt mười con chưa chừa.
Anh đánh thì tôi xin thưa,
Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu!
Ăn quen chừa chẳng được lâu,
Lệ làng, làng bắt mất trâu, mặc làng".

"...Có chồng còn dễ chơi ngang,
Đẻ ra con thiếp con chàng, con ai?"

Thứ đến, dân gian còn dùng cách tự chế giễu để tố cáo, chống đối tục lệ bất nhân của thời xưa buộc người đàn bà chồng chết phải thủ tiết, không được làm lại cuộc đời của mình theo ý muốn:

"Hỡi thằng cu lớn, cu bé, cu tí, cu tị, cu tỉ, cu tì,
Con dậy, con ăn, con ngủ, con bú với bà,
Để mẹ đi xuất giá kiếm thêm một vài đứa em.
Kể từ ngày bố con gục đi, bố con thác đi, bố con chết đi, lòng mẹ đây nó vẫn còn thèm,
Mẹ xem quẻ bói nói, nó vẫn còn có đàn em ở trong bụng này.
Con ra, con gọi chú con vào đây.
Để mẹ trao trả cái cơ nghiệp này, mẹ mới bước đi.
Mẹ nào có dám tiếc gì!"

Và cuối cùng, người đàn bà góa khốn khổ kia thốt lên một lời kêu van não ruột:

"Ngày sau con tế ba bò,
Sao bằng lúc sống con cho lấy chồng".

Phải chăng dân gian tự chế giễu cho hả hơi, hả giận! Vì "đối với những hỗn xược, xã hội trả lời bằng tiếng cười, là một hỗn xược còn mạnh hơn nữa... Cái cười trước hết là một phương tiện để trừng phạt. Cuời lên cốt để sỉ nhục..."(1)

Ngoài ra, qua những trào lộng trên đây, ta thấy được nỗi khốn khổ của người đàn bà dưới chế độ phong kiến phụ quyền. Trong tiếng cười có pha lẫn tiếng khóc, trong cái hài có cái bi! Đó cũng là một giá trị nghệ thuật đáng kể của các văn nghệ phẩm cổ kim, vì một sáng tác văn nghệ xứng với danh vị ấy, trước tiên phải phán ánh cho trung thực cuộc sống con người giữa xã hội cũng như thân phận con người trước định mệnh. Mà ở thế gian này, không có trạng huống nào hoàn toàn vui hay hoàn toàn buồn. Đời người bao giờ cũng đầy dẫy những nỗi niềm vui buồn lẫn lộn.

Mặt khác, có nhà phân tâm lý học cho rằng trào lộng, chế giễu ở đây còn là một phương tiện để nữ giới bộc lộ những niềm u ẩn, uất ức, những khát vọng thầm kín bị dồn ép trong tâm tư của họ.

Không rõ có phải quả như thế không? Nhưng chắc chắn là trào lộng đã phần nào có công dụng chế ngự, ngăn ngừa những kẻ làm chồng không được lợi dụng chữ "nghĩa" để trắng trợn hiếp đáp vợ con mình. Như thế trào lộng cũng đã gián tiếp củng cố bốn chữ "tình nghĩa vợ chồng" ở thời xa xưa.

Tóm lại, chính diện hay phản diện, tình và nghĩa, từ nghìn xưa và trải qua bao thế kỷ, đã khắng khít nhau, để điều hòa, và thăng hoa mối quan hệ giữa vợ và chồng trong gia đình Việt Nam, trong một khí thế cao đẹp cho xã hội và cho dân tộc:

"Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn,
Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên.
Đường mòn đi xuống đi lên,
Tình qua, nghĩa bạn, quyết nên vợ chồng".
Tài liệu tham khảo:
(1) Henri Bergson, Lê Rice, Ed. France Loisirs, Paris, 1940, trang 128-129 (A ces impertinences, la société réplique par le rire, qui est une impertinence plus fort encore...Le rire est avant tout une correction. Fail pour humillier).
nguồn:SaigonBao.com




Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#912 Posted : Tuesday, February 22, 2011 1:03:14 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)

Hình ảnh xua của VN Bộ sưu tập quí giá gồm khoảng 13 ngàn bức ảnh về VN.

http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/show/with/4514239546/
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#913 Posted : Monday, February 28, 2011 10:47:44 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
* Cám ơn Thu Giang.-hvln- ---------------------------------
Thăm Gò Công

UserPostedImage

Thăm Gò Công một phen đi bạn, bạn sẽ thấy dân Gò cần nước đến dường nào !

"Lạy trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đài bắt cơm,
Lấy rơm đun bếp."

thể hiện đúng tâm tình người dân Gò rõ nét. Mùa nắng, ao làng là nơi tập trung thanh niên thiếu nữ quảy thùng gánh nước, thi đua, chọc phá, tán tỉnh, hẹn hò. Hình ảnh chiếc đòn gánh còn gợi lên hình thể chữ S, dáng đứng của Mẹ Việt nam với hai thúng gạo quê hương hoặc cha anh với hai thùng nước sông Hồng và Cửu Long. Từ tấm bé đã được thấm nhuần ơn "mưa móc" nên người dân thường trọng nghĩa biết ơn..

Viếng Gò Công một chuyến đi bạn, bạn sẽ thấy người dân hiếu khách như thế nào. Ở đây bạn không tìm được nhiều vườn trái cây ngon tươi mát, cũng không có tôm cá chim chóc bạt ngàn nhưng tình người không thiếu. Họ đãi bạn bằng món ăn ngon nhất của họ qua cách nấu nướng trình bày riêng theo địa phương, với tâm tình "nghèo cho sạch rách cho thơm", ân cần, niềm nở, không môi miếng, khách sáo, chứ không phải "miệng mời vái trời đừng ăn" đâu. Cũng có lẽ vì "cảm" tấm lòng chân chất ấy mà tỉnh nhỏ đất mẳn đồng khô nầy có thêm bao rể quí dâu hiền và bạn bè đồng hương mới.

Tuy nhiên phải công nhận ở đây trái cây tuy không nhiều nhưng thường lạ và đặc biệt ngon vì vị ngọt mặn càng ăn càng thấm. Không những chỉ có sơ ri mà còn táo nữa, táo ta táo Tàu táo Thái Lan hột tròn hột hình thoi giòn rụm ngọt mẳn chua chuạ Ngay cả trái bần mà giàu sụ vitamine C, cũng có loại bần rạch bần sông bần ổi, quẹt với mắm ruốc sậm nâu, cắn "nhí" một tí miếng ớt cay xé miệng chảy nước mắt, nhâm nhi thêm chút rượu nếp nhum làm quên bẵng đi mùi vị chát chua của đặc sản nầy. Còn me nữa, me ván cong như vòng liềm lưỡi hái, bản dầy mắt to từng chùm nặng quằn sai quả, me đậu phộng hình dáng như hạt đậu phộng được kéo dài rạ Me vốn là chua thế mà ở đây có thứ me ngọt lịm ít vùng nào trồng được.

Gần Mỹ tho, người dân Gò vẫn thích lên Saigon hơn qua Mỹ Tho dù bao lần Gò Công thuộc hàng quận lớn của tỉnh Tiền Giang vì:

"Đèn Saigon ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ tho ngọn tỏ ngọn lu"

Cũng có thể là niềm tự hào vùng địa linh nhân kiệt đã thấm khắc vào tâm khảm của người dân nên dường như ở họ luôn luôn có hai dòng tư tưởng như khắc chế nhau vừa cầu tiến và vừa bảo thủ. Người trẻ thường đi học hoặc làm ăn xa, thường mọc gốc rễ ở vùng đất khác. Nhưng những ngày giỗ chạp, quan hôn tang tế, ngày Tết họ luôn về bên nội ngoại thăm viếng, trở về nguồn. Hàng xóm láng giềng lâu đời trở thành như thân thuộc, và bà con từ mấy thế hệ mà tưởng chừng như trực hệ chú bác cô dì.

Ngày xưa, gia đình giàu có thường có nhà thờ Tổ cho cả mấy đời dòng họ. Họ dành riêng một số ruộng đất gọi là "hương hỏa" cho người thừa tự phụng thờ. Nếu con trai đông, mỗi "chi" trai được "luân phiên" nhau cúng giỗ hằng năm. Do đó đại gia đình ở đây nói chung không chỉ gồm từ ông nội, ngoại trở xuống mà thôi. Vậy khi nào bạn nghe trả lời là "bà con từ đời Hồng Bàng" tức là không họ hàng gì cả, còn bà con mấy đời từ đời ông cố, ông sơ là có họ hàng thật sự, và bà con từ hồi ông "cố lỹ cố lai" tức là xa "tí mú tí tè" không có gia phả để xác định.

Hơn thế nữa, người quen dễ nhận diện được dân Gò Công qua cách dùng vài từ ngữ đặc biệt, ngày nay thì không còn nữa, như "đeo giày, đeo guốc", tên thường thêm chữ "bé" như Bé Hai, Bé Tí..., nói trại vì cữ tên như "đồng giờ" thay vì "đồng hồ", "đà đạc" thay vì "đồ đạc"...

Có lẽ vốn đã được hun đúc theo gương người trước nên người dân ở đây thường biết giữ tiếng tăm, chịu khó, siêng năng, tự lập, thẳng ngay, trung hậu và ham học hỏịBằng chứng là ngay cả phụ nữ như cô Nguyễn Thị Châu là Hiệu trưởng Việt đầu tiên ở Nữ Trung học Gialong, nữ sĩ Manh Manh với phong trào thơ mới đã gây bao cuộc bút chiến sôi nổi...

Thật ra quê hương nơi nào cũng có điểm độc đáo của nơi ấy nhưng quê mình thì mình biết rõ ràng hơn. VN ta bao lần bị lệ thuộc xâm lăng nên chứng tích anh hùng tràn đầy khắp nẻo. Đây cũng là mồ chôn của bao dân tộc khác đủ giống màu đau khổ như nhau. Đâu đâu cũng có những trang sử oai hùng, dấu vết thịnh suy của thời dựng giữ nước. Thành phố làng mạc xa xôi đầu non góc bể, bạn cũng sẽ được nghe bao chuyện kể về thành tích vẻ vang vui buồn đủ loại. Bạn cũng như tôi, người dân nào cũng thế, tự hào ngầm về nơi chôn nhau cắt rún của mình, tưởng chừng như độc nhất vô nhị, bất cứ ở đâu thành thị hay thôn quê, núi non hay biển cả. Có dịp viếng thăm vùng đất khác trao đổi kiến thức tâm tình, gia vị biến thiên của cuộc đời phong phú hóa tâm hồn khi thì làm mặn môi cay mắt, khơi dậy bao sợi luyến thương cảm phục, khi khỏa lấp chôn giấu dứt khoát với bao kỷ niệm buồn vuị Anh và tôi kể chuyện quê mình cho nhau nghe như anh em cùng mẹ, dù ở phương trời nào hay xa xôi cách trở luôn luôn vẫn nhớ đến gốc gác cội nguồn.

Quê hương mình giăng mắc đầy sợi tình sợi nghĩa, những mắt võng làng mạc tỉnh thành đan quyện đong đưa. Anh thương quê anh, tôi quê tôi. Anh viếng quê tôi để tìm thấy cái hay lạ của mỗi vùng đất nước, tôi đến quê anh để học, suy bao chứng tích kinh nghiệm hào hùng. Lịch sử nước mình là kết hợp của bao cuộn sóng thủy triều lan dần từ Bắc vào Nam, từ màu nước đỏ vùng lên của sông Hồng, trong êm của Hương Giang trầm mặc, đến chín cửa ngọt ngào trù phú Cửu Long. Quê của anh hay của tôi tuy hai mà là một vì đều phát xuất từ mẫu đất VN.
Một nhóm Gò Công
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#914 Posted : Monday, February 28, 2011 2:25:44 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Ghé Bắc Ninh nghe quan họ, nếm đặc sản

Thứ tư, 16 Tháng hai 2011, 10:57 GMT+7

Ở vùng quê Kinh Bắc không chỉ có làn điệu quan họ, mà còn có rất nhiều món ăn đặc sản. Có bánh tẻ làng Chờ, bánh phu thê, bánh khúc làng Diềm là thứ đặc sản mang đậm chất quê hương. Ai chưa được ăn thì bị hấp dẫn bởi cái tên, còn ai đã từng một lần thưởng thức thì không thể quên hương vị độc đáo của những món ăn này...
Bánh phu thê Đình Bảng

Bánh phu thê được đặt úp bụng hai chiếc bánh vào nhau rồi dùng lạt đỏ buộc thành cặp;
có lẽ vì vậy mà người đời gọi là bánh phu thê.

Được gói bằng những tấm lá dong giản dị, rồi luộc lên, bánh phu thê không khoe mùi tỏa hương như bánh rán, bánh khúc; chỉ tới khi bóc bánh người ta mới thật sự ngỡ ngàng.

Bánh sắc vàng trong suốt, lấm tấm những hạt vừng đen. Nhân bánh được làm bằng đỗ xanh đãi sạch vỏ đã được hấp chín đánh tơi, cho thêm đường trắng, cùi dừa, hạt sen và hương ngũ vị. Bột làm bánh phải được làm từ gạo nếp, xay bằng cối nước, sau đó lọc lấy chất tinh, ép cho ráo nước rồi phơi khô (còn bột thô thì bán cho hàng bánh rán). Tới khi làm bánh phải dùng nước quả dành dành nhào bột để lấy mầu sắc tự nhiên chứ không được pha phẩm mầu. Người ta còn nạo đu đủ xanh, ngâm phèn rồi cắt nhỏ nhào lẫn với bột để bánh có thêm độ giòn.

Bánh phu thê Đình Bảng khi ăn thấy độ dẻo của nếp, độ giòn của đu đủ, độ ngậy của đỗ xanh, vị béo của cùi dừa, vị bùi của hạt sen, vị ngọt của đường..., tất cả hòa quyện vào nhau làm thành hương vị rất riêng của bánh. Nhân bánh hình tròn nằm trong vỏ bánh bẻ khuôn hình vuông bằng lá dừa.

Khi làm bánh, người ta dàn mỏng bột lên khuôn, đặt nhân vào một đầu rồi đắp phần bột còn lại lên nhân như thể hiện sự ôm ấp, che chở của tình phu thê.

Ở Bắc Ninh, mỗi nhà đều có một bí quyết làm bánh riêng vì vậy bánh của mỗi nhà đều có hương vị riêng, một nhãn hiệu riêng. Tất cả các khâu từ nhào bột, nặn bánh, làm nhân, tước lá, luộc bánh... đều phải làm bằng tay. Bánh gói xong được buộc dây rơm nếp, luộc xong, người ta tháo bỏ dây rơm, úp bụng hai chiếc bánh vào nhau rồi dùng lạt đỏ buộc thành cặp; có lẽ vì vậy mà người đời gọi là bánh phu thê.
Bánh tẻ làng Chờ

Bánh tẻ làng Chờ vừa có độ giòn lại vừa có vị đậm, vị béo của nhân, nồng nàn của mùi lá,
không thể lẫn vào thứ bánh tẻ nào khác được.

Những ngày lễ tết ở vùng Yên Phong đã đành, nay thì ở hội Lim (Tiên Du), hội Đền Đô (Từ Sơn)... các nhà hàng khách sạn ở Bắc Ninh, Hà Nội rồi đến những ngày khánh thành, lễ cưới sang trọng đều thấy có bánh tẻ làng Chờ.

Gọi là bánh tẻ làng Chờ là cách gọi dân dã cho dễ nhớ dễ thuộc. Người Bắc Ninh có câu: Ba làng Mịn, bảy làng Chờ Một làng Ô Cách chơ vơ giữa đồng. Chờ là tên gọi chung của 7 làng: Phú Mẫn, Nghiêm Xá, Trung Bạn, Ngân Cầu (thị trấn Chờ), Ngô Nội, Tiên Trà, Phù Lưu (xã Trung Nghĩa) thuộc tổng Chờ xưa, kết nghĩa với nhau tổ chức ngày hội “thất thôn giao liệt” từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 3 âm lịch hàng năm.

Bánh tẻ ngon nhất lại là của các làng Chờ: Ngô Nội, Tiên Trà, Phù Lưu, Nghiêm Xá. Có lẽ đây là những làng nhiều đồng chiêm cấy được những giống lúa có gạo thơm ngon.

Bánh tẻ là thức quà dân dã, vừa dẻo vừa dai, vừa giòn vừa thơm, vừa thanh vừa mát làm cho người ăn thêm tỉnh táo, lại chắc dạ. Bánh tẻ ăn lúc còn nóng mới ngon. Bánh tẻ làng Chờ dẻo chứ không nhão, nát như thứ bánh giò mà bạn thường thấy, vừa có độ giòn lại vừa có vị đậm, vị béo của nhân, nồng nàn của mùi lá, không thể lẫn vào thứ bánh tẻ nào khác được.
Bánh khúc làng Diềm

Bánh khúc làng Diềm có 2 loại: nhân hành và nhân đỗ.

Bánh khúc làng Diềm chẳng biết có tự bao giờ, chỉ biết rằng, trước đây món bánh này quý lắm, chỉ được làm khi có khách quý đến chơi hay các dịp nhất niên, nhất lệ. Tuy không phải là quy định khắt khe như trầu thuốc, song đây chính là nét văn hoá ẩm thực riêng có ở quê hương Quan họ.

Bánh khúc làng Diềm có 2 loại: nhân hành và nhân đỗ.
Bánh khúc nhân đỗ có vị bùi của đỗ, béo của thịt mỡ và thơm của hạt tiêu. Ba thứ nguyên liệu này được nấu lên, trộn lẫn với nhau làm thành nhân bánh.
Bánh khúc nhân hành có khác hơn đôi chút. Hành được dùng làm nhân bánh khúc nhất thiết phải là hành khô, cộng thêm mộc nhĩ, hạt tiêu, răm, thịt ba chỉ băm nhỏ trộn lẫn với nhau. Dù là bánh nhân đỗ hay nhân hành thì vỏ bánh và nhân cũng đều phải nêm một lượng gia vị vừa đủ, bánh mặn làm mất đi vị bùi, béo song nếu nhạt bánh sẽ có mùi ngai ngái. Bánh khúc thường được người dân làng Diềm nặn với 2 hình thức: tròn như bánh rán hoặc hình tai voi, nhưng dù với hình thức nào, vỏ bánh cũng phải dát mỏng mà không để lộ nhân. Không ai luộc bánh khúc bao giờ mà người ta đồ bằng chõ như đồ xôi. Cứ một lượt bánh lại rắc một lượt gạo nếp mỏng đã ngâm mềm vừa đủ để dính đều vào bánh.

Bánh khúc ăn lúc nóng là ngon nhất, có thể thay thế cơm tẻ nhưng người làng Diềm chỉ làm khi khách quý đến chơi nhà và các dịp rằm tháng giêng, lễ hội Đền Vua bà 6 - 2 và Hội Tát giếng 3 - 3 âm lịch. Đó cũng chính là mùa của cây khúc.
Bánh đa Kế

Những chiếc bánh đa với hình yên ngựa vàng bóng, vị bùi, thơm mùi lạc, vừng, khoai lang...

Xã Dĩnh Kế, xưa kia vốn có tên là Phượng Nhỡn thuộc Phủ Lạng Thương - Trấn Kinh Bắc. Những ngày nắng, ai đi qua Dĩnh Kế cũng thấy một màu trắng của những chiếc bánh đa to, tròn trên những chiếc giàn phơi, dọc theo quốc lộ 1A, trong đường làng, ngõ xóm, sân nhà. Và như thế, thử hỏi ai không tò mò, ai không muốn khám phá, thử ăn chiếc bánh ngay tại làng nghề?

Bánh đa Kế là một món ăn bình dị, dân dã nhưng chứa đựng trong đó bao hương vị, đậm đà quê chất Bắc Ninh. Những chiếc bánh đa với hình yên ngựa vàng bóng, vị bùi, thơm mùi lạc, vừng, khoai lang... đã trở thành món quà không thể thiếu đối với du khách đến thăm hoặc chỉ ghé qua Bắc Ninh một lần.

Ban đầu chiếc bánh đa làm từ nguyên liệu chính là sắn. Nhưng trong quá trình làm thì người dân nơi đây thấy rằng sắn là nguyên liệu khó làm vì nó rất dính, bắt bụi và cả những côn trùng, không đảm bảo vệ sinh, chất lượng chiếc không cao nên họ tìm cách cải tiến, thay thế sắn dần bằng gạo tẻ. Từ đó, họ thấy chất lượng chiếc bánh được nâng lên rõ rệt. Để làm nên những chiếc bánh thơm ngon, béo giòn, vị bùi thì phải trải qua nhiều công đoạn, thao tác của người thợ. Họ chọn gạo tẻ ngon, không dính, đem ngâm khoảng 12-13 tiếng, sau đó đem xay vỡ, phải xay hai lần để bột được kĩ, nhuyễn, mịn, sờ tay vào bột phải mát, lọc hết bụi bẩn.

Bánh đa Kế đã trở thành một đặc sản, một món ăn dân dã, bình dị nổi tiếng trong và ngoài nước: Nga, Singapore. Du khách đến đây không chỉ được thưởng thức vị ngon của bánh đa ngay nơi làm ra, mua được bánh đa chính gốc làng nghề về làm quà mà còn được thăm đền Dĩnh Kế(còn gọi là Nghè Cả).
Việt Báo (Theo YeuDuLich.vn)


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#915 Posted : Wednesday, March 2, 2011 10:36:38 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Em Về Miệt Thứ

Nhạc: Em Về Miệt Thứ
Nhạc Sĩ: Hà Phương
Ca Sĩ: Hương Lan

"Dắt dìu nhau vào đến Cà Mau" chỉ mấy dòng ấy (Phạm Duy) đã vẽ lên được vùng đất được khai hoang sau cùng của Dân tộc Việt, bắt đầu từ đâu đó tận miệt sông Hồng. Con cháu đời sau không biết được chính xác "Miệt Thứ" (Đàng tân) để phân biệt với "Miệt trên" (Đàng cựu) có tự bao giờ, giống như Dân gốc Anh gọi Úc là "DownUnder" vậy. Sách cổ nhất của (Sư) Thích Đại Sáng, người Trung Hoa đến vùng này, viết vào thế kỷ 16 có ghi "Dân chống xuồng đi xem hát ban đêm, đốt đuốc soi sáng, được bao bọc bỡi hàng rào tre mà bên ngoài cá sấu gát mõ nhìn vào" thì biết nó hoang sơ đến chừng nào. Rõ nhất là năm 1869, người dân ngũ Quảng theo chân Kinh lược sứ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào lập nghiệp ở vùng đất Đồng Nai (Biên Hòa ngày nay), Gia Định (Sài Gòn) làm nên địa danh "Miệt Trên" để phân biệt với "Miệt Dưới" đối với sông Cửu Long. 2 Tiếng "Miệt Thứ" thân thương còn khởi đầu hàm ý "coi thường" từ Dân "Miệt Vườn" (đã định cư vững vàn về Nông nghiệp), giống như "Thị Dân" gọi người sống ở ruộng đồng là "Nhà Quê" , thì ngược lại người "Nhà Quê" gọi Dân ở Thành là "Kẻ Chợ"..hi..hi.. Khổ thật..

Vùng đất miền Nam đầy cam go này, bắt đầu được bồi đắp từ lòng biển do phù sa sông Cửu Long. gồm nước Cam-bốt và miền Nam Việt nam. Mới đầu thuộc đế quốc Phù Nam, với những sắc dân đến từ biển, nhất là từ Indonesia và từ ấn Độ qua ngả Miến Điện và Thái Lan. Phù Nam đã mau chóng biến thành một đế quốc hiếu chiến. Vào thế kỷ thứ 7, người Khmer, một sắc dân theo văn minh ấn Độ, từ miền Nam Lào tràn xuống tiêu diệt đế quốc Phù Nam và dần dần khắc phục các sắc dân địa phương, chiếm quyền bá chủ trong một vùng rộng lớn, lập nên Vương quốc Khmer. Đế quốc Khmer này tỏ ra hiếu chiến và bạo ngược hơn hẳn đế quốc Phù Nam, mở rộng dần đến cả Thái Lan, một phần Miến Điện và cả miền Nam Việt nam bây giờ. Vào thế kỷ 12, còn bành trướng về hướng Bắc, chiếm gần hết đất Chiêm Thành, đến tận đèo Hải Vân của Việt nam hiện nay. Nhưng lãnh thổ thực sự của nó tập trung ở vùng Angkor là di tích của sự tàn bạo hơn là một nền Văn minh đã suy tàn. Theo Chu Tá Quan, một sứ giả của nhà Nguyễn có mặt tại Cam-bốt sớm nhất, mô tả cảnh những người nô lệ bị xiềng xích vào nhau để xây đền đài dưới sự điều động tàn bạo của các tăng lữ và đạo quân Khmer. Họ phải lao lực đến kiệt sức và khi chết thi hài được lôi ra làm thức ăn cho cầm thú. Từ thế kỷ 13 trở đi, người Thái Lan bắt đầu tiến lên, sức mạnh của họ đã dần dần bắt kịp và vượt người Khmer. Họ giành được độc lập rồi tiến đánh trả thù người Khmer trong hàng thế kỷ, đã hủy diệt đế quốc Khmer, tàn phá Angkor Vát và bắt người Khmer về làm nô lệ xây đền đài cho họ. Nền văn minh Angkor cáo chung vào năm 1431 với sự phá hủy lần cuối cùng thủ đô Angkor. Cuối cùng Đế quốc Khmer xây dựng trên sự tàn bạo, đã sụp đổ trong sự bạo tàn. Sự tàn phá và tàn sát của người Thái Lan đã khủng khiếp đến độ tất cả dấu tích đồ sộ của trung tâm Angkor bị chìm mất trong rừng sâu nhiều thế kỷ, không còn nhân chứng để nhớ lại sự hiện hữu huy hoàng của nó ngày nào.. Phải đợi đến năm 1850, một nhà khảo cứu Pháp mới tình cờ khám phá lại di tích Angkor mà ngay những người Cam-bốt cách đó hai trăm cây số không hề biết đến nữa.

Kể từ 1431 chung quanh Phnom Penh chỉ còn lại một triều đại Chân Lạp suy yếu . Và Cuộc nam tiến của người Việt đã đến rất lâu sau khi vùng đất miền Nam trở thành vô chủ.

Nực cười là những người Việt đầu tiên khai phá miền Nam, rồi dẫn dắt nhau vào tận Cà mau, không phải là những đạo quân viễn chinh mà phần lớn là những người nông dân nghèo khổ, chạy trốn cuộc chiến phân tranh Trịnh - Nguyễn. Từ năm 1623 trở đi, trong khoảng một thế kỷ rưởi, Việt nam đã sát nhập nhiều vùng đất mới ở phía Nam. Những những sát nhập hành chánh này chỉ là sự hợp thức hóa một thực tại; những phần đất ấy từ lâu đã do người Việt sinh sống và khai thác. Cuộc Nam tiến của nước ta chủ yếu là một sự bành trướng trong hòa bình. Sự mở mang lãnh thổ Việt nam đã chấm dứt khi anh em Tây Sơn nổi lên năm 1771 và Việt nam bắt đầu lâm vào nội chiến...để cuối cùng triều Nguyễn thu gom Sơn hà từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau.

Hôm kia, NNS có nói về miền đất Sơn Tây (Tôi nhớ Xứ Đoài Mây Trắng lắm) với pps "Nàng Dâu Xứ Đoài", gần tận cùng miền Bắc, thì nay, mời Thân Hữu cùng NNS cùng đi thăm "Miệt Thứ", đất phương Nam, qua giọng hát thật "Miệt Thứ" của Cô Hương Lan.

Tình Thân,
Kính. NNS
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#916 Posted : Wednesday, March 2, 2011 10:41:27 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Về U Minh - Thăm Lại Vùng Đất Của Nền Văn Minh "Miệt Thứ".
Vương Liêm

1. Khái quát về U Minh – Cà Mau :

Vùng rừng tràm ngập mặn U Minh nay là huyện U Minh tỉnh Cà Mau. Thị xã Cà Mau trước có tên là An Xuyên, ngày nay là thành phố Cà Mau.. Toàn tỉnh rộng 5.211 km2 với trên 1.123.000 dân. Tỉnh gồm có một thành phố và sáu huyện, trong đó huyện U Minh có dân số thấp nhất : 81.000 người trong khi diện tích đất đứng vào hàng thứ tư của tỉnh : gần 758 km2. U Minh có U Minh Thượng (vùng trên giáp tỉnh Kiên Giang – Rạch Giá) và U Minh Hạ (vùng dưới giáp đất mũi) nằm dọc theo bờ biển của vịnh Thái Lan, lấy sông Trẹm và sông Cái Tàu làm ranh giới. Diện tích ruộng lúa 130.513 ha. Diện tích nuôi thủy sản 204.381 ha. Diện tích vườn 8.334 ha và diện tích cây công nghiệp 33.591 ha.

Nói đến huyện U Minh tỉnh Cà Mau là nói đến rừng tràm và lau sậy, có đến 100.600 ha. Phương dao sau đây cho thấy cảnh quan vùng đất mũi này vào thời trước :

U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường
Gió đưa bông sậy dạ buồn nhớ ai.

hay là:

Má ơi, đừng gã con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu

Thơ ca Cà Mau còn lưu truyền nhiều loại đặc sản nghe qua rất hãi hùng :

Cà Mau là xứ quê mùa
Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu!
Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội, trong vườn cọp um

Trong sách “Đồng bằng sông Cửu Long hay là Văn minh miệt Vườn” xuất bản năm 1970, cố nhà văn Sơn Nam đã gọi là vùng đất lục tỉnh nằm phía trên và phía dưới hai sông Tiền, sông Hậu thuộc đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành nên một nền văn minh mới – văn minh miệt vườn. Phương dao Nam Bộ có câu :

Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.
2. Từ “miệt vườn” đến “miệt thứ “:

Cố mhà văn Sơn Nam còn cho rằng khu vực Cà Mau gồm có U Minh và đất mũi là “miệt thứ”. Trên hai trăm năm trước (1869), người dân ngũ Quảng theo chân Kinh lược sứ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào lập nghiệp ở vùng đất Đồng Nai (Biên Hòa), Gia Định (Sài Gòn) làm nên địa danh Miệt Trên (Đàng cựu) để phân biệt với “Miệt Dưới” (Đàng tân) đối với sông Cửu Long. Trước đó nữa, trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh vào thề kỷ thứ 15-16, nước ta chia hai miền : Đàng Trong và Đàng Ngoài.

Nhà văn Sơn Nam không xác định “văn minh miệt vườn” xuất hiện từ thời gian nào. Thế nhưng qua nghiên cứu, chúng ta nhận thấy rằng đường giao thông là điều kiện tạo nên sự phát triển về kinh tế, từ đó đời sống văn hóa – xã hội được nâng lên theo.

Đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho được thiếp lập năm 1883 đã góp phần đắc lực cho nền văn minh này sau hệ thống đường liên tỉnh số 4 (nay là quốc lộ 1 A). Các con kinh chính Xà No, kinh Xáng, kinh Ngã Bảy, Ngã Năm đào trong những năm 1901-1908 đã làm cho khu vực thuộc khu tứ giác Rạch Giá, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng phát triển nhanh chóng.

Như vậy, “Văn minh miệt vườn” của Sơn Nam là khu vực Tiền giang và Hậu Giang, tuyệt đối không có U Minh – Cà Mau. Ông đã giải thích “Miệt U Minh” chưa khai thác vì thiếu nhơn công, thiếu phương tiện kỹ thuật. Theo ông, trước năm 1945 gọi tên U Minh chưa có từ “rừng” ghép vào. “U Minh nghĩa là tối và mờ, u u minh minh, cõi U Minh là cõi âm phủ ! Ở đây, cây cỏ dày bịt (U Minh hạ), nước ngập linh láng, đất quá thấp, trước kia gọi là Láng Biển hay Láng U Minh” (Sđd trang 19).

Địa danh “Chắc băng”, “Cạnh đền” còn lưu lại tới ngày nay, trở thành con kinh Chắc Băng và kinh Cạnh Đền đều có liên quan tới vùng đất mới của triều đình nhà Nguyễn sơ tán lúc ban đầu. Chính đoàn tùy tùng tẩu quốc của chúa Nguyễn đã trụ lại “đóng đô” ở Thới Bình một thời gian. Ngày nay, thị trấn Thới Bình (thuộc huyện cùng tên ở phía Bắc của tỉnh Cà Mau giáp với tỉnh Kiên Giang và Bạc Liệu) còn lưu lại một số nhà cổ, tương tợ một góc phố cổ Hội An. Tên gọi “Chắc băng” là ý nghĩa câu nói của Nguyễn Ánh trong cơn bệnh nặng cảm thấy mình khó qua khỏi cái chết. “Cạnh đền” là nơi cao ráo nằm gần kề “đền vua” được chọn làm chỗ để an táng một công nương qua đời. Một lời nói của vua thời phong kiến coi như lời vàng ngọc được mọi người nhắc tới và trở thành địa danh cổ.

Đối với vùng Cà Mau - U Minh, Thới Bình là một thị tứ phồn hoa với nhà cửa, phố xá, dân cư đông đúc, đời sống kinh tế - xã hội khá nhất trong vùng. Theo nhà văn Sơn Nam, trong hai năm 1853-1854 nơi đây quy tụ trên 5.000 dân đinh đến từ Trung, Bắc nước ta.

Có lẽ, dân cựu trào thời Nguyễn Ánh tẩu quốc còn lưu lại đây lập nghiệp đã lôi cuốn dân cư mới láng diềng của mình nên người Thới Bình trong đó phụ nữ có truyền thống và máu huyết của dân đất Bắc và di dân người Hoa của dòng dõi Mạc Cửu nên có trình độ văn hóa và đời sống xã hội cao hơn so với dân cư trong khu vực, đặc biệt về con người, phụ nữ được hình thành nên dáng vẻ và màu da có nổi trội hơn dân địa phương thuộc chủng tộc Indonesien – Mã Lai – Nam Đảo (căn cứ một số cốt sọ cổ đào được ở Cạnh Đền - 1944) gần gũi với dân tộc Tây Nguyên và Khmer.

Nhà văn Sơn Nam còn cho biết những danh sĩ miền Bắc, miền Trung đến đồng bằng sông Cửu Long thường ca ngợi vùng đất này không tiếc lời. Phạm Quỳnh tả lại khung cảnh Tiền Giang (ông đi tàu thủy từ Mỹ Tho đến Long Xuyên - VL), thi hào Tản Đà ca ngợi con cá tra và cái thú ngồi ca nô trên sông Cửu Long ở vùng Cao Lãnh. Vào năm 1927, thi hào Phan Khôi đã lưu lạc đến tận ven rừng U Minh – nói rõ hơn là vùng Tân Bằng, trên sông Trèm Trẹm, con sông ranh giới của U Minh thượng (đất cao) và U Minh hạ với dãy rừng tràm cầm thủy, mũi Cà Mau. Phan Khôi tả lại vùng Tân Bằng (U Minh hạ), Cán Gáo (U Minh thượng) ghê rợn, nào khỉ, nào sấu, nào rắn độc. Sông Trèm Trẹm được mô tả như sông Xích Bích bên Trung Quốc thời Tam Quốc, thi hào nhìn thực tế của đất nước đau thương vào năm 1927 mà ngâm nga…

Trong thời kháng chiến chống Pháp, nhiều nhà thơ, nhà văn yêu nước đã nghe theo tiếng gọi “sơn hà nguy biến” vào chiến khu Cà Mau – U Minh hoạt động cách mạng như Nguyễn Bính, Sơn Nam, Hà Huy Hà v.v..
3. Cuộc hành trình với nhiều cổ tích:

Không ngờ chuyến đi về Cà mau của tôi lần này lại tới tận huyện U Minh, có dịp thăm các nơi trong thời kháng chiến như vừa nói nhưng ngày nay những nơi này đã đổi khác, hoàn toàn mới như nhiều thị trấn, phố thị khác mà nền kinh tế thị trường của thời kỳ mới đã làm nên, làm thay da đổi thịt một U Minh không còn cảnh quan “muỗi kêu như sáo thổi” và “dĩa lội như bánh canh” nữa.

Đoàn chúng tôi gồm đúng 20 người đi làm công tác xã hội – từ thiện, một kiểu hoạt động đang thu hút nhiều người có tâm, có tiền, có nghĩa vụ và ưa thích tham quan du lịch. Đoàn chúng tôi lưu trú ở Cà Mau – U Minh tới ba ngày làm các việc như sau : tặng một hệ thống âm thanh khuếch đại cho trường trung học cơ sở ở phường 4 thành phố Cà Mau, bàn giao một nhà công vụ cho các giáo viên tình nguyện dạy học ở vùng sâu vùng xa gồm bốn căn nhà cho trường trung học cơ sở ở xã Khánh Tiến, bàn giao ba nhà tình nghĩa cho ba đối tượng là Mẹ VNAH, gia đình liệt sĩ và thương binh ở xã Nguyễn Phích và khánh thành một cầu giao thông bê tông bắc qua kinh Bảy Tài thuộc xã Khánh Lâm.

Trước năm 1945, đất Bạc Liêu bao gồm Cà Mau – U Minh, vốn có hai sự kiện văn hóa – xã hội khá độc đáo mà ai cũng biết đến. Đó là nghệ sĩ Cao Văn Lầu với bài hát nổi tiếng “Dạ cổ hoài lang”, được coi là hoàng đế của bài ca vọng cổ ngày nay và công tử Bạc Liêu, một hiện tượng xã hội thời Pháp thuộc, thời vàng son của những nhà bá hộ hay ông hàm mua chức mua quyền là những đại điền chủ có đất nhiều đến nỗi “cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi”.

Từ chính sách thuộc địa tàn ác của thực dân Pháp đến lề lối làm ăn cướp công cướp của, cướp đất của các tay đại địa chủ tay sai cậy thế ỷ quyền đã gây nên vụ án “Nọc nạn” năm 1910. Nọc nạn là một cánh đồng thuộc xã Phong Thạnh huyện Giá Rai tỉnh Bạc Liêu không xa với Cà Mau. Ngày nay, ai qua Nọc Nạn tại ngã ba vàm Cá Rô đều xót xa khi nghe chuyện kể về cuộc chém giết đẩm máu không cân sức của một gia đình nông dân nghèo mạt bị tên điền chủ ác độc cấu kết với thực dân Pháp cướp ruộng, cướp lúa đưa đến bước đường cùng phải liều mạng chống lại và tất cả đều tử vong và sau đó nhiều người thân khác còn bị tù đầy nhiều năm. Biến cố này tuy chỉ xảy ra trong một ấp, một xã nhưng nó có tác động rất lớn liên quan tới thực dân kết cấu với phong kiến và địa chủ đàn áp, hãm hại, bần cùng hóa nông dân chân lấm tay bùn, nghèo xơ nghèo xác, nó tiêu biểu cho cuộc nổi dậy tự phát của nông dân chống lại nạn cướp nước, cướp đất của thực dân Pháp.
4. Cà Mau với khu Vườn quốc gia quý hiếm :

Thành phố Cà Mau nằm ở vị trí có mối nối với bốn con sông lớn : sông Ông Đôc, sống Cái Tàu, sông Gành Hào và kinh Xáng Bạc Liêu – Cà Mau, kinh này được đào để lấy đất xây dựng tuyến đường độc đạo thuộc đoạn cuối của QL 1A từ Bắc tới Nam của Tổ quốc. Ra khỏi thành phố Cà mau một đoạn thì gặp sông Ông Đốc từ vịnh Thái Lan chảy vòng lên phía Bắc huyện U Minh nhập chung với sông Cái Tàu cũng từ Thái Lan đổ vào từ hướng Tây của U Minh. Song song với sông Cái Tàu có sông Trẹm cách nhau vài chục km làm ngăn cách U Minh hạ với U Minh thượng. U Minh thượng chạy dài tới huyện An Biên, An Minh và Vĩnh Thuận tỉnh Kiên Giang. Rừng này được công nhận là Vườn Quốc gia năm 2002 với diện tích 8.055 ha. Tiền thân của nó là rừng úng phèn có tên là “Hồ rừng”. Khoảng giữa hai sông này có trên mười con kinh đào nhỏ thẳng tắp nối hai sông được đặt tên từ Zéro (số 0) lần lượt tới trên 10. Từ phía dưới sông Cái Tàu xuống tới sông Ông Đốc là rừng ngập mặn U Minh hạ trong đó có thị trấn U Minh được Chính phủ công nhận là Vươn quốc gia năm 2006 có diện tích 8.286 ha mà phần dưới giáp với huyện Trần Văn Thời rộng hơn 3.600 ha là khu rừng nguyên sinh duy nhất còn sót lại ở tỉnh Cà Mau.

Hệ động vật, thực vật ở khu vực trên đang phục hồi khá tốt. Vườn có hơn 25.000 ha rừng đệm thuộc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng rừng ngập, lâm ngư trường U Minh 1, U Minh 3. Đây là khu bảo vệ thiết yếu bảo đảm cho sự phục sinh của các giống loài đặc hữu của hệ sinh thái ngập nước với nhiều loại được ghi trong sách đỏ của Việt Nam như rắn hổ mang chúa, tê tê, rái cá lông mũi … và còn được coi là một bảo tàng sinh thái sống về các loài thực vật thuộc hệ sinh thái ngập úng của khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Cả hai khu rừng hiện có gần 250 loài thực vật trong đó có loài ưu thế như tràm, móp, mật cật, nhiều loải dương xỉ, tảo, nhiều loài cá có giá trị khoa học và kinh tế như cá bông, sặc rằn, sặc bướm, trê vàng, thác lác…, hơn 10 loài bò sát và lưỡng thê quý hiếm như chàng hiu, trăn gấm, kỳ đà, cá sấu, rùa vàng, cần đước, nhiều loài rắn..., có 182 loài chim, hơn 40 loài thú, nhiều loài côn trùng. Từ đó tỉnh Cà mau đã quy hoạch Khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia U Minh hạ với quy mô 1.708 ha, trong đó có công trình vui chơi giải trí, khu văn hóa truyền thống, tái tạo làng rừng, khu ẩm thực dân gian, nhà nghỉ truyền thống, khu nuôi thú và bến bãi câu cá. Đây cũng là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống lịch sử cho các thế hệ bởi trong hai cuộc chiến, rừng U Minh là chiến khu kiên cường, anh dũng đã góp phần rất lớn vào chiến thắng giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước thân yêu sau hàng trăm năm mở đất, trong đó gần trăm năm bị đô hộ bởi các nước phương Tây.

Như đã trình bày ở phần trên, Cà Mau là vùng tân lập so với công cuộc khẩn hoàng lập ấp của sự nghiệp mở đất phương Nam từ thời kỳ đầu nhà Nguyễn. Sự nghiệp mở đất phương Nam khởi đầu là của Nguyễn Hoàng theo lời tư vấn bí hiểm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm :”Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” và tiếp nối suốt 9 đời chúa Nguyễn mà chúa Nguyễn Phúc Khoát (Chúa thứ 8) có công đầu cử Kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh vào đất Gia Định tổ chức bộ máy hành chính đầu tiên cho miền Nam, Chúa Nguyễn đời thứ 9 là Nguyễn Phúc Thuần bị quân Tây Sơn truy bắt ở miền Tây đưa về sát hại ở Sài Gòn thì cháu là Nguyễn Phúc Ánh lên thay ngôi chúa, sau khi đánh thắng nhà Tây Sơn đã lên ngôi vua thống nhất đất nước liền một dải như ngày nay và tiếp tục quy dân lập ấp ở miền Nam, nhất là vùng có nền văn minh miệt vườn và miệt thứ.
5. Cà Mau với nền văn học nghệ thuật mới :

Thực dân Pháp chỉ là người đến sau, tiếp tục khai phá vùng đất U Minh- Cà Mau nhằm mục đích củng cố chính quyền đô hộ và khai thác đầu tư đồn điền để hưởng lợi, làm giàu cho giới tư bản trong và nước ngoài, nhất là người Pháp. Tuy là vùng đất sinh sau đẻ muộn của Việt Nam, đất mũi vẩn có nền văn học – nghệ thuật khá độc đáo, trong đó có di tích Hồng Anh Quán và đình Tân Hưng. Nhà văn Sơn Nam quê ở Rạch Giá nhưng có nhiều năm sống trong khu căn cứ U Minh đã hình thành tập truyện ngắn nổi tiếng viết nhiều mẩu chuyện lý thú về đời sống xã hội, kinh tế của người dân địa phương “mộc mạc, chất phác, hiền hòa”, cuộc sống giản dị về ăn ở, ẩm thực. Đó là tác phẩm Hương Rừng Cà Mau (xuất bàn năm 1967) nói về những câu chuyện của dân quê thời kỳ 1930-1940 gồm có 18 chuyện rất đặc sắc mang tên nhiều địa danh như Hòn Cổ Tron, Miễu bà chúa Xứ, bắt sấu rừng U Minh hạ, sông Gành Hào v.v…

Bài ca vọng cổ “Tình anh bán chiếu” một thời nổi tiếng qua giọng ca ngọt ngào đầy chất liệu văn học trữ tình Nam Bộ của siêu danh ca Út Trà Ôn quê ở Vĩnh Long (thuộc vùng đất của văn minh miệt vườn) đã mang đến cho đồng bào mê cải lương biết đến mối tình trai trẻ đầy chất thơ lãng mạng của vùng sông nước Cà Mau (vùng văn minh miệt thứ) như phần mở đầu bài ca giới thiệu :”Chiếu Cà Mau đem bán ở sông Ngã Bảy…”

Trước thời kỳ đổi mới năm (1986) có tiểu thuyết gây nhiều tiếng vang và lúc đầu bị cấm phát hành, có tên Cù lao Tràm. Sau đổi mới gần đây có tiểu thuyết Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư cũng gây xôn xao dư luận một thời và bị chính quyền Cà Mau cấm phát hành nay được lên phim. Nhưng nổi tiếng nhất vùng đất mũi có một nhân vật đời thường mang tính chất văn học dân gian khá cao nhưng có những sáng tác mang tính truyền khẩu huyền thoại độc đáo trong dân gian được công nhận là nghệ nhân tên Ba Phi có tên thật là Nguyễn Ngọc Phi (1884-1964), người tỉnh Đồng Tháp, làm ăn cư ngụ ở huyện Đầm Dơi và qua đời ở rừng U Minh Hạ nay là huyện U Minh. Khu nhà và phần mộ của Ba Phi được xây dựng thành tuyến du lich văn hóa của tỉnh Cà Mau.

Người đời thường gọi tên “Bác Ba Phi” thuộc lớp hậu duệ của những tiền nhân đi khai mở đất rừng U Minh. Cả quãng đời mà đặc biệt là thời tuổi trẻ của bác Ba Phi là quá trình khai phá đất rừng U Minh nguyên sinh, vốn rất hào phóng mà cũng rất khắc nghiệt. Với tinh thần khai phá, tính lạc quan yêu đời, thế giới quan của ông hiện ra thật sinh động và đáng yêu. Nhựng chuyện kể của ông, truyện nào cũng mang lại cho người nghe trước hết là tiếng cười sảng khoái, mượt mà âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba Phi, đồng thời nó còn ẩn chứa tính hào hiệp của người đi mở đất, tính đặc trưng Nam Bộ, lòng yêu nước, yêu thiên nhiên và yêu con người.

Những chuyện kể của ông không có văn bản, không ai ghi chép lại và chỉ là truyền miệng nhưng có đầy đủ hình thức cấu trúc văn học : có mở đề, có thân bài và kết thúc đầy đủ gần như một truyện ngắn, tiểu thuyết có chương hồi rút gọn. Chuyện kể của ông cốt đề mua vui, chọc cười mang tính trào lộng ở nơi có thiên nhiên khắc nghiệt, cuộc sống khó khăn, con người bị bó rọ ở miệt “khỉ ho cò gáy” thiếu nhiều điều kiện sinh hoạt cần phải “cười” cho hả hơi như văn hào Nguyễn Văn Vĩnh từng viết “Cười khì một tiếng là quên hết mọi sự đời”.

Chuyện cười để mua vui dù là dóc tổ và khoác lác nhưng rất có ý nghĩa dân gian và nhất là lôi cuốn, hấp dẫn khiến người nghe say mê và tin như thật. Một số chuyện kể ngắn gọn mang tính trào phúng cao như : Nếp dẻo, Cọp xây lúa, Câu ếch…(Theo Wikipedia).

(Hết trích).
Vương Liêm. (Mùa Giáng sinh 2010)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#917 Posted : Thursday, March 3, 2011 10:48:06 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,612

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Sự tích bài thơ "Trèo lên cây bưởi..."


Trèo Lên Cây Bưởi…
(Trích trong cuốn“Những điều nên biết” của Nguyễn Văn Thái)

1
“Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay!

2
“Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?

3
“Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!”



Chùm thơ này đã có trong dân gian từ lâu; nhiều người tưởng rằng nó là chỉ một bài ca dao thuần túy; mà đã là ca dao thì không biết ai là tác giả. Gọi nó là chùm thơ vì đây không phải là một bài mà là ba bài hợp lại, gieo theo thể liên vận, gắn với “Giai thoại Đào Duy Từ”.

Truyện kể rằng: “Năm Đinh Mão (1627), chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương (chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và đòi Sãi Vương phải cho con vào chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh. Chúa Sãi không chịu, nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao, bèn hội họp triều thần hỏi mưu kế. Lộc Khê hầu Đào Duy Từ khuyên chúa Sãi bước đầu cứ nhận sắc phong, rồi sau sẽ tìm kế đối phó.


Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, bấy giờ Lộc Khê hầu mới bàn với Sãi Vương, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa, rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bày nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi cử Lại Văn Khuông làm sứ giả mang ra Thăng Long (Hà Nội này nay), tạ ơn vua Lê và chúa Trịnh.

Nhờ có chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến chúa Trịnh, Lại Văn Khuông ứng đối rất trôi chảy. Chúa Trịnh hậu đãi, cho phép Khuông cùng phái đoàn sứ giả đi thăm kinh thành, để chờ Chúa dạy bảo. Trên đường đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước. Đọc xong, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam. Thấy phái đoàn sứ giả đột ngột trốn về, chúa Trịnh sinh nghi, bèn cho người đập vỡ mâm lễ, lại thấy tờ sắc phong khi
trước, và 1 tờ giấy viết bốn câu thơ chữ Hán sau:


“Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch.”

Cả triều đình không ai hiểu ý nghĩa bài thơ, cuối cùng Trịnh Tráng phải cho mời một nhà nho thông thái uyên bác tới giải nghĩa. Đọc xong, nhà nho giải thích rằng:


Mâu nhi vô dịch nghĩa là chữ Mâu không có dấu phẩy là chữ Dư;
Mịch phi kiến tích nghĩa là chữ Mịch bỏ bớt chữ Kiến còn lại là chữ Bất;
Ái lạc tâm trường nghĩa là chữ Ái để mất (lạc) chữ Tâm thì thành chữ Thụ; và
Lực lai tương địch nghĩa là chữ Lực đối địch (tương địch) với chữ Lai là chữ Sắc.

Vậy, gộp cả bốn chữ mới lại thành câu:
“DƯ BẤT THỤ SẮC,” nghĩa là “Ta không nhận sắc phong.”

Nghe xong, Trịnh Tráng vội thét lính đuổi bắt Lại Văn Khuông, nhưng lúc đó Khuông cùng cả phái đoàn đã cao chạy xa bay rồi.

Trịnh Tráng muốn ra quân đánh chúa Nguyễn nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc giã nổi lên, đành phải hoãn lại.

Trịnh Tráng cho người dò la biết được việc Sãi Vương không nhận sắc phong đều do một tay Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa Trịnh tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ chúa Nguyễn (Đàng Trong) về với triều đình vua Lê và chúa Trịnh (Đàng Ngoài).

Chúa Trịnh lập mưu, sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ, kèm một bức thư riêng với bốn câu thơ:


1

“Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay!”.




Lời thơ nói đến chuyện anh (chúa Trịnh) và em (Đào Duy Từ) thuở nhỏ, trèo cây hái hoa bưởi, bước xuống vườn cà hái nụ hoa tầm xuân. Ý thơ trong như ngọc, là lời nhắn nghĩa tình, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng còn nếu không thì ngầm ý đe dọa.

Người ta đồn rằng Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ tại Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế theo cách làm của Gia Cát Lượng đón mẹ của Khương Duy vào Hán Trung thuở xưa. Vì thế Đào Duy Từ không sợ hãi chúa Trịnh trả thù; và ông đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp chúa Trịnh như sau:



2

“Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?”



Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của chúa Trịnh vào gặp Đào Duy Từ lần nữa.


Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh. Hai câu đó như sau:


3

“Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa mà chồng (*) em ghen!”

(*) Chồng, có ý nói là chúa Nguyễn.

Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền trong, mở mang bờ cõi đất nước ta cho đến lúc qua đời…”
(Nguồn: My Opera/Danh nhân story)


Vài điều nói thêm về Đào Duy Từ

Đào Duy Từ (1572- 1634) sinh tại tỉnh Thanh Hóa. Ông rất thông minh nhưng ông không đươc dự thi vì cha ông làm nghề ca hát. Ông giận chúa Trịnh đối xử bất công cho nên ông bỏ vào Nam (dưới sự cai trị của chúa Nguyễn)

Đào Duy Từ vào Nam, sống bằng nghề chăn trâu thuê cho một nhà giàu ở Bình Định. Chủ nhà là người ham mê văn học, đã phát hiện ra Đào Duy Từ là người có tài, nên đã tiến cử Đào Duy Từ cho quan Khám lý Trần Đức Hòa. Vì mến tài của Đào Duy Từ, Trần Đức Hòa đã gả con gái cho, đồng thời tiến cử Đào Duy Từ cho Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau cuộc gặp gỡ với Đào Duy Từ, Chúa Sãi đã phong cho ông làm Nha Úy Nội Tán.

Trong chín năm, từ 1625 đến 1634, Đào Duy Từ đã giúp chúa Nguyễn xây dựng và mở mang bờ cõi về phương nam vì ông có tài cả về chính trị, kinh tế, quân sự, và văn chương thơ phú nữa.

Trong cuộc chiến Trịnh – Nguyễn, ông đã xây một chiến lũy để ngăn ngừa quân Trịnh. Chiến lũy này chạy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Người dân gọi chiến lũy này là Lũy Thầy (tức là lũy do Thầy Đào Duy Từ xây dựng).


***
Ngày 20 tháng 5 năm 2010
mc/nvt
hongvulannhi  
#918 Posted : Sunday, March 6, 2011 4:44:11 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ XỨ BẮC
NGUYỄN HIẾN LÊ


Nam Việt là một “tặng phẩm” của sông Cửu Long. Hàng vạn năm trước là biển, sông Cửu Long chở phù sa xuống, rồi lần lần mà thành đồng ruộng. Thời tiền chiến, tôi không nhớ rõ là năm một ngàn chín trăm ba mươi mấy, người ta đào được những đồng tiền vàng La Mã ở Óc Eo (gần chân núi Ba Thê), vậy thì khoảng đầu công nguyên, biển vô tới Óc Eo hoặc cách Óc Eo không bao xa, chỉ vài ba cây số. Hồi đó các núi ở Hà Tiên, Ba Hòn, Hòn Trẹm chắc còn nằm ở ngoài biển, không biết từ thế kỷ thứ mấy, miền ấy mới được bồi xong. Ngày nay ai đi ngang qua Ba Hòn, còn thấy trên những núi đá vôi ở sát lộ Rạch Giá – Hà Tiên, có những ngấn nước cao hơn mặt đất khoảng một thước. Vậy thì vùng bờ biển ở đó chắc cũng đã dâng lên nữa, ngoài hiện tượng được phù sa bồi.

Dãy núi từ Hà Tiên tới Hòn Trẹm ấy hiện nay nằm sát hoặc gần bờ biển, nhìn ra các hòn ngoài khơi: hòn Phụ tử, hòn Heo, hòn Phú Quốc...và quay lưng lại một cánh đồng bát ngát (xưa là rừng, nay vẫn là còn đất phèn), xa xa vài chục cây số mới có dãy núi Thất Sơn. Như vậy Hà Tiên là một miền hẻo lánh ở nơi chân trời góc biển. Trước năm 1930, khi chưa có con đường trải đá Rạch Giá Hà Tiên thì thị trấn ấy gần như cô lập với các miền chung quanh: muốn xuống Rạch Giá phải dùng đường biển, mất nửa ngày, mà muốn vô Châu Đốc thì phải đi vòng lên biên giới, mượn một con đường trên phần đất Cao Miên.

Nó đã cô lập mà lại kỳ đặc, không giống một miền nào khác. Thi sĩ Đông Hồ trong cuốn Văn Học Hà Tiên(1) đã tả nó như sau:
“Ở đó (Hà Tiên), kỳ thú thay, như gồm hầu đủ hết. Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng Sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ Long. Có một ít núi vôi ở Ninh Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương Tích. Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, lăng tẩm của Thuận Hóa. Có một ít Đồ Sơn, cửa Tùng, có một ít Nha Trang, Long Hải. Ở đây không có một cảnh nào to lớn đầy đủ; ở đây chỉ nhỏ nhắn, xinh xinh, mà cảnh nào cũng có.”
Tóm lại, nó là một tiểu vũ trụ biệt lập, rất hợp cho kẻ nào có chí vẫy vùng, muốn nghênh ngang một cõi.
HỌ MẠC

Kế đó là họ Mạc ở cuối thế kỷ 17. Cũng như Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu không chịu nhận chủ quyền Mãn Thanh, bỏ quê hương mà dắt bộ hạ xuống miền Nam Hải, nhưng Trần và Dương ghé vào Quảng Nam (1679) qui phục chúa Nguyễn Phúc Tần, được chúa cho vào chiếm đất Đồng Nai và Mỹ Tho để tự kinh lý lấy mà lập nên một nơi buôn bán thịnh vượng là Cù Lao Phố(Biên Hòa); còn Mạc thì tiến xa hơn, tới địa phận Chân Lạp (cũng gọi là Giản Phố trại) – tức Cao Miên, tức Campuchia – vào khoảng 1671 (theo Trần Kinh Hòa trong Hà Tiên Mạc Thị Thế Hệ Khảo – Hoa Cương học báo) làm chức “ốc nha”, một chức quan lớn Chân Lạp năm 1700 xin vua Chân Lạp ra khai khẩn miền Banteay Meas, tức Mang Khảm, mới đầu mở sòng bạc, sau qui tụ các người Hoa, Việt, Miên lập ấp, mở hải khẩu, thành lập một tiểu quốc nhưng thường bị giặc Xiêm quấy nhiễu, nên năm 1708, nhận sự bảo hộ của chúa Nguyễn Phúc Chu. Mang Khảm từ đó đổi tên là Hà Tiên, thành một cửa ngõ Chân Lạp mà thuộc về Việt Nam, xuất cảng hầu hết các sản phẩm Chân Lạp.

Nếu chỉ là một hải khẩu thì dù tàu ghe tấp nập, cũng chưa có gì đặc biệt. Điều đáng cho ngày nay chúng ta nhắc nhở nhất là tiểu quốc đó chỉ trong nửa thế kỷ đã thành “một văn hiến quốc” ở giữa một miền hẻo lánh, y như một đầm sen giữa cánh đồng hoang vậy, khiến ai cũng phải ngạc nhiên.

Công ấy là nhờ Mạc Thiên Tích (2), con của Mạc Cửu. Thiên Tích kế nghiệp cha, là đô đốc Hà Tiên năm 1735, thì ngay năm sau, 1736, thành lập Chiêu Anh các, một tao đàn kiêm một nghĩa thục, có thờ Khổng Tử. Ông cha Trung Hoa, mẹ Việt (3), rất đa tài: trị nước, ngoại giao, cầm quân, đặc biệt là có tài văn thơ mà lại rất trọng tiếng Nôm, chiêu tập được 36 (có sách chép là 32) văn nhân thi sĩ vô Chiêu Anh các (gọi là tam thập lục kiệt), trong số đó sáu vị là người Việt còn thì là người Trung Hoa, người Minh Hương, họ từ Thuận, Quảng vô hoặc từ Gia Định tới, hoặc từ Quảng Đông, Phúc Kiến sang. Thiên Tích làm nguyên soái.

Theo Trịnh Hoài Đức, họ sáng tác được sáu bộ sách gồm ba tập truyện và ba tập thơ. Ba tập truyện này đã lạc con ba tập thơ thì có lẽ là:
_Tập Hà Tiên Thập Vịnh gồm 320 bài (4), toàn bằng thơ Hán, mỗi bài do Mạc Thiên Tích chủ xướng, còn các bài kia do các vị trong Chiêu Anh các họa.
_Tập Hà Tiên Thập Cảnh Khúc Vịnh bằng thơ Nôm của Mạc Thiên Tích.
_Tập Minh Bột Di Ngư Thi Thảo gồm những bài thi, phú chữ Hán cũng của Thiên Tích.
Hai tập truyện trên còn truyền được trọn vẹn, tập cuối nay chỉ còn sót được vài bài.

Những sáng tác của nhóm Chiêu Anh các nổi tiếng ngay từ thời đó, và Lê Quí Đôn trong tập Phủ Biên Tạp Lục (1776) đoạn chép về họ Mạc ở trấn Hà Tiên, khen rằng: “Không thể bảo ở hải ngoại xa xôi không có văn chương”, rồi trong Kiến Văn Tiểu Lục lại khen: “Văn thơ nhiều bài hay lắm”. Có giá trị nhất là những bài thơ cả Hán lẫn Nôm của Mạc Thiên Tích. Ngay những người ngoại quốc cũng nhận Hà Tiên là đất văn hiến. Các giáo sĩ dòng Franciscan bảo: “Trong xứ (Hà Tiên) có miếu thờ Khổng Tử mà từ vương (tức Thiên Tích) đến dân ai cũng thờ. Có một nhà nghĩa học dạy các thanh niên ưu tú, nghèo không thể tự túc theo học được. Những người Trung Hoa sang đây mà có khả năng văn học thời mới được mời đến đó dạy học” (5).

Còn sách Văn Hiến Thông Khảo đời Thanh vào năm 1747 chép rằng “phong tục (Hà Tiên) trong văn học , thích thi thơ, có cả một hàn lâm viện nhỏ”(6).

Trong khi đó thì đừng nói chi Gia Định, ngay ở Thuận Hóa cũng chẳng có một thi đàn nào cả. Sự kiện ấy quả thực chưa hề xảy ra trong lịch sử văn học. Ta thử tưởng tượng một nhóm người di cư qua một nước tuy là đồng văn nhưng vẫn là lạ, dựng nghiệp ở một nơi hẻo lánh nhất, mà chỉ nửa thế kỷ sau, làm cho nơi đó trở thành một đất văn bậc nhất trong cõi góp công vào văn học xứ đó bằng chữ của mình và bằng cả thổ ngữ, thì có lạ không chứ?

Tiếc thay nền văn học Hà Tiên bừng lên rực rỡ được 31 năm; đến năm 1771, Hà Tiên bị quân Xiêm đánh chiếm, Thiên Tích phải chạy về Gia Định. Chiêu Anh các tan rã, sách vở bị thiêu hủy, năm 1778 Thiên Tích phải trốn tránh Tây Sơn, qua Xiêm, và hai năm sau, 1780 ông tuẫn tiết ở kinh đô Xiêm; từ đó Hà Tiên cũng cùng với họ Mạc mà suy tàn.
HỌ LÂM

Trong một trăm rưỡi năm, Hà Tiên thiêm thiếp ngủ yên trên bờ vịnh Thái Lan, chỉ còn là một thị trấn nhỏ ở biên giới không ai nhớ tới. Tới khoảng 1926-1928 nó mới được nhắc nhở, vì là quê hương của Đông Hồ Lâm Tấn Phác, một nhà văn mới cầm bút mà đã nổi tiếng ngay về bài khóc vợ Linh Phượng (tức Trác Chi lệ ký tập – Trác Chi là tên tự của ông, Đông Hồ là tên hiệu), và bài phú Đông Hồ, lại sáng lập Trí Đức học xá, trường đầu tiên trong nước chuyên dạy tiếng Việt.

Ngày nay tên Đông Hồ đã quá quen thuộc, phải lùi lại thời đó, trên bốn chục năm trước, mới thấy ngôi sao Đông Hồ rực rỡ ra sao. Khắp nước chỉ có mỗi một tạp chí văn học, tờ Nam Phong; ai muốn được coi là trí thức cũng phải đọc Nam Phong, có thể nói ở Nam Việt làng nào cũng có người mua dài hạn Nam Phong; mà nhóm Nam Phong hầu hết gồm các học giả Bắc, chỉ có vài nhà gốc ở Trung. Vậy mà một người Nam, lại ở Hà Tiên nữa, mới ngoài hai mươi tuổi, chẳng có bằng cấp thành tích gì cả mà chen chân được vào cái “hội” đó thì quả là phi thường. Chẳng những chen chân lại còn được sắp vào hàng kiện tướng, viết nhiều và đủ loại, thơ, nghị luận, tùy bút, lịch sử, du ký. Đặc biệt nhất là giọng văn, y như của một nhà cựu học đất Bắc có pha chút tân học, bóng bẩy, tô chuốt, du dương, trang trọng, thường dùng tiếng Bắc, khác hẳn giọng quá tự nhiên và hơi thô của các cây bút trong Nam thời đó.

Sở trường ấy của ông, khoảng mười năm nay một số người chê là sở đoản. Trong văn chương cũng như trong mọi nghệ thuật khác, thị hiếu thường thay đổi, có vậy mới tiến hóa, nhưng có người quá khích không nhận ông là nhà văn miền Nam nữa, trách ông sao không theo trào lưu văn học miền Nam từ trước tới đầu thế chiến vừa rồi, nghĩa là trào lưu văn học bình dân, giữ màu sắc và ngôn ngữ địa phương, chẳng hạn như văn Hồ Biểu Chánh.

Dĩ nhiên những lời chê đó tới tai ông, nhưng tôi không bao giờ thấy ông lên tiếng, chỉ mới rồi trong cuốn Văn Học Hà Tiên, ông gián tiếp trả lời như sau:

“Đọc những sách báo quốc ngữ miền Nam xuất bản khoảng từ 1900 đến 1920, chúng ta thấy có một lối viết lỏng lẻo hời hợt, mất hẳn văn hóa cố hữu, tế nhị, cổ truyền của hai miền Trung, Bắc(...) Mãi cho đến sau thế chiến thứ nhất 1914-1918, nhờ cuộc giao thông tiện lợi, phong tráo sách báo ở Hà Nội truyền được vào Nam, tình trạng bế tắc này mới thay đổi: Bắt đầu là Nam Phong tạp chí (1917-1934), rồi đến báo Phong Hóa, Ngày Nay ở Hà Nội (1932-1940), báo Tiếng Dân ở Huế (1927) (...) Và từ năm 1925 về sau, có những nhà thơ, nhà văn già từ miền Bắc, miền Trung vào làm báo ở Sài Gòn, như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Bùi Thế Mỹ, Thiếu Sơn v.v... Chính họ là sứ giả văn hóa cho thời kỷ này (...) Từ đó văn học miền Nam dần dần khởi sắc và cũng từ đó mất dần tính cách đặc thù địa phương mà hòa đồng, thống nhất với văn học dân tộc hai miền Trung, Bắc.”

Vậy chủ trương của ông thật rõ rệt: phụng sự văn hóa dân tộc chứ không phải văn học địa phương, để thống nhất ba miền. Sở dĩ ông có chủ trương ấy – từ hồi nào tôi không rõ, nhưng chắc là sớm lắm – là nhờ ông sinh ở Hà Tiên trong một gia đình nho học.

Hà Tiên thuộc về miền Tây mà miền Tây chịu ảnh hưởng đậm của lưu dân Trung Hoa. Sách Văn Hiến Thông Khảo (do Hãng Nguyên trích bài dẫn trên) chép về sinh hoạt ở Hà Tiên thời Mạc Thiên đến Hà Tiên, để độc giả thấy rõ hai ông bà đã đền đáp cho nơi chôn nhau cắt rốn được những gì. Phần đó là phần hai ông bà quan tâm tới suốt đời mà cũng rất quan trọng, nhưng từ trước tới nay ít ai để ý tới.

Ở trên tôi đã dẫn một đoạn Đông Hồ tả Hà Tiên, và độc giả đã thấy lòng yêu quê hương của ông ra sao, ông cho Hà Tiên gồm đủ các thắng cảnh trong nước, không khác gì một Việt Nam thu nhỏ lại cho thêm phần xinh xinh mà dễ thưởng ngoạn.

Ngay từ khi mới nhập tịch làng văn, Đông Hồ đã giới thiệu quê hương với độc giả Nam Phong. Năm 1926 ông viết thêm Hà Tiên Mạc Thị Sử (Nam Phong số 107) theo một bản Nôm của Trần Đình Quang hồi đầu thế kỷ. Ba năm sau ông can đảm nhận rằng “vì sở học còn kém mà không tìm được bản chánh gia phả họ Mạc” nên thiên đó “còn khiếm khuyết, sai suyển rất nhiều, không thể để lầm cho người đời sau được”, và ông viết lại, Nam Phong số 143 (năm 1929) đăng lại. Lần này ông dùng bản Hán văn Mạc Thị Gia Phả của Vũ Thế Dinh, tự là Thân Vi, viết năm 1818. Tài liệu này tới nay vẫn được coi là tài liệu chính, đầy đủ hơn cả, tuy nhiên có nhiều chỗ cần phải xét lại, nhất là về địa danh, niên đại.

Đông Hồ không dịch nguyên văn, chỉ dùng để viết lại, chưa ra chương tiết, sau khi đã “tham khảo thêm ở các sách Nam sử và ngoại truyện” tăng bổ những chỗ thiếu sót, cải chính những chỗ sai lầm. Năm 1948 ông sửa chữa, cho in lại trong cuốn Danh Nhân Nước Nhà của Đào Văn Hội. Sau khi lên Sài Gòn rồi, ông kiếm thêm được nhiều tài liệu khác trong các bộ sử Việt, như bộ Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, cuốn Un Chinois des mers du Sud, le fondateur de Hà Tiên, Journal asiatique 1952 của Gaspardone, bản dịch và chú thích rất kỹ lưỡng cuốn Mạc Thị Gia Phả đã kể trên, của Trần Kinh Hòa, Văn Hóa Á Châu số 7 tháng 10 năm 1958, ông thấy cần sửa lại lần nữa tập Hà Tiên Mạc Thị Sử nhưng chưa kịp làm thì đã qui tiên. Ông thực là kiên nhẫn và thận trọng. Mặc dầu chưa sửa lại, tập đó hiện nay vẫn còn tạm dùng được.

Năm 1927, nhân dịp đi chấm thi ở Phú Quốc, ông được thăm gần hết cảnh đẹp và di tích trên đảo, về viết một thiên du ký rất đầy đủ, đăng trong Nam Phong số 124 (1927), nhan đề là Thăm Đảo Phú Quốc. Ông nhận xét, ghi chép tỉ mỉ, mà văn du ký của ông tươi đẹp, nên ngày nay đọc lại còn thấy thú.

Trong khoảng mấy năm sau, ông cho đăng trên Nam Phong nhiều thơ văn tả cảnh Hà Tiên như Bơi Thuyền chơi Đông Hồ, Đông Hồ cảnh sớm, Lên chơi núi Đại Tô Châu, Chơi Tô Châu, Cảnh trăng trên Đông Hồ... đáng để ý hơn cả là bài ký Chơi Châu Nham (Nam Phong số 154, năm 1930). Núi Châu Nham tức núi Đá Dựng cách chợ Hà Tiên sáu bảy cây số, cảnh hoang tịch mà đẹp hơn Thạch động. Và bài Phú Đông Hồ rất nổi tiếng. Non hai chục năm sau, hai ông bà cho ra chung một tập nhan đề là Hà Tiên Thập Cảnh và Đường vào Hà Tiên (Bốn Phương 1969). Tập này mỏng, nhỏ chỉ bằng bàn tay, giúp độc giả biết rõ về mười thắng cảnh Hà Tiên. Về mỗi cảnh, Đông Hồ dẫn một bài thơ Nôm, thất ngôn đường luật của Mạc Thiên Tích rồi giảng giải, tả cảnh, kể tích xưa cho ta hiểu rõ thêm. Cuối tập có mươi trang tả bốn năm con đường đưa vào Hà Tiên. Tác phẩm có ích cho khách du lịch.

Trong mấy chục năm đó, Đông Hồ vẫn tiếp tục khảo cứu thêm về Hà Tiên, thu thập tất cả những sách báo Việt, Hán, Pháp viết về Hà Tiên được trên mười tập... Tôi đã thấy ông ghi chú kỹ lưỡng từng tài liệu một, gom lại thành một bó lớn, một phần được dùng trong cuốn Văn Học Hà Tiên (Quỳnh Lâm – 1970). Cuốn này dày trên ba trăm trang khổ lớn, có nhiều hình ảnh, gồm những bài giảng của ông ở Đại học Văn Khoa Saigon. Ta nhận thấy công trình khảo cứu công phu, cách trình bày sáng sủa – giọng ông ở đây là giọng một giáo sư kiêm một nghệ sĩ. Ông rất thận trọng trong phần chú giải, nhất là trong những bài dịch thơ chữ Hán của Mạc Thiên Tích. Ông dịch sát mà giữ đúng cả thể lẫn vần trong nguyên tác, như bài Lộc Trĩ Thôn Cư nguyên tác là thất ngôn Đường luật, dùng các vần tinh, thinh, thanh, linh, đình thì ông cũng dịch ra thất ngôn Đường luật và dùng những vần mình, tranh, xanh, thanh, thinh.

Ông đã trình bày cặn kẽ chẳng riêng mười bài thơ Nôm, mà trọn tập ngâm khúc Nôm và mười bài thơ Hán của Mạc Thiên Tích về mười cảnh Hà Tiên. Về phần giới thiệu nhóm Chiêu Anh các, tiểu sử Mạc Thiên Tích, tài liệu cũng dồi dào, sau này khó có ai viết hơn ông được.

Đó là công Đông Hồ đối với Hà Tiên. Tích:
“Nhà cửa không khác Trung Quốc, từ nhà Vương (Mạc Thiên Tích) tất cả đều làm bằng gạch lợp nhói. Trong cách ăn mặc, họ bắt chước triều đại trước (nhà Minh). Vương bới tóc lưới, đội khăn hay mũ bằng nhiều, mình mặc áo thêu rồng, đai bằng sưng, mang hia. Ngày thường họ dùng đủ màu (...) Gặp thì họ chắp tay chào nhau”.

Tới gần đây, nghĩa là sau hơn hai thế kỷ, Hà Tiên còn giữ được ít nhiều màu sắc Trung Hòa từ phong tục, cách ăn ở tới ngôn ngữ, giao tế; còn miền Đông, từ Vĩnh Long trở ra Biên Hòa, Bà Rịa, chịu ảnh hưởng của những lớp nam tiến cuồn cuộn từ miền Trung vô; hạng người tiền đạo này tháo vát, phóng khoáng, tự tạo một nếp sống mới, có tinh thần bình dân, tự nhiên, nên ưa thích văn học bình dân hơn.
Tổ tiên của Đông Hồ gốc gác ở Phúc Kiến (Hoa Nam) có lẽ cùng qua Việt Nam với họ Mạc (Mạc Cửu có dùng một quan ký lục họ Lâm), đời đời theo Nho học, và cụ Hữu Lân, bá phụ của Đông Hồ là một nhà nho nổi tiếng văn hay chữ tốt. Thiếu thời, Đông Hồ được cụ dạy dỗ, đào tạo trong nền cổ học, gần như không ra khỏi Hà Tiên, không được đọc gì khác ngoài văn Hán và Nôm. Vì vậy tâm hồn ông gần với tâm hồn các nhà nho Bắc, Trung hơn các người Nam đồng thời với ông ở miền đông, chẳng hạn Hồ Biểu Chánh. Vì vậy mà hai mươi hai tuổi ông làm được bài phú Đông Hồ, khiến các nhà Nho phải phục. Vì vậy mà ông được nhận ngay và phái Nam Phong và suốt đời có nếp sống của nhà Nho, có thiện cảm với các nhà văn Bắc, Trung. Lần lần tinh thần ông hơi thay đổi, mới hơn nhiều nhà Nho trong nhóm Nam Phong, mà ráng hòa với trào lưu mới, nhưng cốt cách, bút pháp thì hồi ba mươi tuổi đã định rồi. Nhờ vậy, ông là nhà văn, nhà thơ đầu tiên trong Nam bắc cầu Nam Bắc, mở đường cho sự “thống nhất văn hóa dân tộc” như ông nói.
Đó là mục đích thứ nhất trong đời sống. Mục đích thứ nhì là nối lại sự nghiệp văn học của Mạc Thiên Tích đã bị gián đoạn trong một thế kỷ rưỡi. Một thanh niên sanh trong một gia đình có truyền thống văn học, tại một nơi danh thắng đã có thời nổi tiếng là “Văn hiến quốc”, từ hồi nhỏ, mắt đã được thấy làn nước Đông Hồ, ngọn núi Tô Châu, chân được dạo những chốn còn lưu lại di tích tiên nhân như Kim Dự, Bình San, Tiêu Tự, Giang Thành, tai được nghe những chuyện hồi thịnh thời Mạc Thiên Tích cùng những nhà văn Hán, Nôm của nhóm Chiêu Anh các, một thanh niên được gặp những hoàn cảnh may mắn đó mà lại anh tuấn, mới mười bốn mười lăm tuổi đã được khen là thơ có khẩu khí, rồi hai mươi tuổi danh vang ra tới đất Bắc, nhờ một bài có giọng lãng mạn như từ Trẩm Á (bài Linh Phượng) và một bài cổ kính mà hoa mỹ như văn Lục Triều (bài phú Đông Hồ); một thanh niên như vậy nhất định là yêu quê hương tha thiết, tự hào về nó nữa và hoài bão cái chí làm vẻ vang cho quê hương, nếu không nối nghiệp được tiền nhân thì ít nhất cũng làm cho người trong nước nhớ rằng “nơi hải ngoại xa xôi này không phải không có văn chương” (lời Đông Hồ).

Ông nhũn nhặn, kín đáo, không thổ lộ tâm sự, chí hướng với bạn, nhưng trong một lúc xúc động mạnh, viết thư cho tôi đã thú rằng “làm con, tôi đã để cho bác tôi nỗi khổ tâm vì tôi nghĩ rằng tôi “quá” thông minh”. Như vậy ông đã tự tin lắm, nhận được giá trị của mình ngay từ thiếu thời và tôi đoán trúng ông có lúc muốn lập nên một sự nghiệp về văn học như Mạc Thiên Tích, điều đó chắc không xa sự thực.
Thời đại ông không phải là thời Mạc Thiên Tích, Hà Tiên không còn là một tiểu quốc mà chỉ là một thị trấn nhỏ, mà địa vị một giáo viên sơ học dưới thời Pháp thuộc lại càng không thể so sánh được với địa vị một vị hầu dưới triều chúa Nguyễn(Thiên Tích được phong là Tông Đức hầu); cho nên sự nghiệp của ông khác hẳn Thiên Tích. Không thể lập được một Chiêu Anh các nữa thì ông ráng dựng Trí Đức học xá, cũng là một nghĩa thục như nghĩa thục của Chiêu Anh các, chưa có đủ tư cách kết nạp các anh tài trong nước để thành lập một tao đàn thì ông đào tạo lấy một số môn sinh cho giỏi Việt ngữ, hiểu được thơ văn, nhất là thơ văn cổ, rồi ông lại khuếch trương thêm, mở lớp hàm thụ đầu tiên dạy Việt văn, và ảnh hưởng của ông lan khắp lục tỉnh, nhiều người yêu văn chương ở Hà Tiên, Biên Hòa, Tây Ninh...nghe tiếng gọi “hồn Đại Việt” của ông mà cùng với ông trau dồi “giọng Hàn Thuyên”.

Không có Đại Thành Điện, Khuê Văn Lâu... như Tông Đức Hầu, thì ông có Vạn Quyển thư lâu, Vương Giả hương đình, Quỳnh Lâm thư thất... tuy chẳng lộng lẫy, nhưng sách quí, tranh quí và nét bút của cố nhân và của chính ông thì chất, treo đầy tường; mà hương lan, hương huệ thường tỏa ra ngào ngạt mỗi khi có bạn văn tới; ai cũng phải nhận rằng về phương diện đó ông đúng là bậc “vương giả” trong giới tao nhân Việt Nam. Cho nên năm 1961, khi viên thư ký Hàn Lâm Viện Ấn Độ, K.F. Kripalani, qua Saigon để tìm những kỷ niệm về thi hào Tagore thì nhà Văn Hóa bối rối, không biết tiếp vị khách quí ấy ở đâu cho trang nhã, có vẻ “văn hóa” một chút, phải xin mượn Yễm Yễm thư trang vậy.

Những hoạt động cùng phong cách đó của họ Lâm có thể chỉ là ngẫu nhiên ám hợp với những hoạt động cùng phong cách họ Mạc, nghĩa là xuất phát từ phần tiềm thức, nhưng dù vậy chăng nữa, tôi nghĩ cũng cần ghi lại cho văn học sử.

Tôi không rõ môn sinh của Đông Hồ tại Trí Đức học xá và trong các lớp hàm thụ, trước sau được bao nhiêu người; một số có khiếu văn chương, nhưng rồi chẳng viết lách gì cả và ruốt cuộc chỉ còn một mình nữ sĩ Mộng Tuyết, sau thành bạn văn và bạn trăm năm của ông, là không phụ công lao của ông. Bà viết ít hơn ông, nhưng văn thơ đều có giọng như ông, cũng trang trọng, du dương, tô chuốt, có phần đa cảm hơn và nhiều khi miêu tả cảnh vật, như một khóm cây, một con ong, một cành hoa... nhận xét có phần sắc bén hơn ông. Ai đọc văn thơ của bà cũng nhận thấy ngay rằng bà chịu ảnh hưởng của ông rất đậm, mà văn thơ của hai ông bà có một địa vị riêng, phái Hà Tiên.

Phái này chỉ còn vài ba nhà nữa ( như Trúc Hà, có họ hàng với Đông Hồ, cũng quê ở Hà Tiên, hơi có tiếng tăm, mất trước 1945, và ông Trọng Toàn), nhưng sự nghiệp không kém gì phái Chiêu Anh các.
Không kể rất nhiều bài dài ngắn đăng rải rác trên các tạp chí, hiện nay chưa in thành sách, Đông Hồ đã lưu lại cho chúng ta mười lăm tác phẩm, trong số đó có sáu bảy tập thơ.

Nữ sĩ Mộng Tuyết cũng đã đăng lác đác ít bài thơ, hồi ký, đã xuất bản một lịch sử tiểu thuyết: Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp, một tập tùy bút Dưới Mái Trăng Non và một tập văn cảo Hà Tiên Tạp Thuyết. Bà vẫn còn sáng tác và chắc còn cống hiến cho quốc dân được vài tập nữa.
Đã có người nhận định về phần mà người ta gọi là “văn chương thuần túy”, tức thơ, tùy bút... trong sự nghiệp của Đông Hồ; ở đây tôi chỉ xin giới thiệu những trứ tác của hai ông bà liên quan. Sự đóng góp của Mộng Tuyết cũng rất đặc biệt. Bà chỉ mới có một tập truyện Nàng Ái Cơ Trong Chậu Up (Bốn phương – 1961) và vài bài ngắn, chép hồi ký về Hà Tiên trong tập Dưới Mái Trăng Non (Mặc Lâm – 1969) nhưng nội cuốn Ái Cơ cũng đáng được chú ý rồi.

Mộng Tuyết bổ túc công việc của Đông Hồ. Đông Hồ cho ta biết lịch sử của Hà Tiên, đời sống và sự nghiệp các nhân vật Hà Tiên, Mộng Tuyết cho ta thở cái không khí cổ của Hà Tiên, sống với các nhân vật Hà Tiên.

Truyện có thực còn lưu lại di tích, tức chùa Phù Dung ở Hà Tiên mà Đại Nam Nhất Thống Chí chắp đúng, là chùa Phù Cừ, người sau không hiểu nghĩa đổi là Phù Dung. Nhân vật chính, Dì Tự, một ái cơ của Mạc Thiến Tích, đã đẹp lại hay chữ, khiến bà chính thất họ Nguyễn ghen tuông mà lập mưu hãm hại, nhốt vào một cái chậu úp cho ngộp mà chết, may được Thiên Tích ngẫu nhiên cứu sống, rồi chán chường thế sự bà xin phép chồng đi tu. Thiên Tích cất cho bà ngôi chùa Phù Cừ đó để bà lánh đời.

Truyện chỉ có như vậy, tác giả đã tưởng tượng thêm để viết thành một lịch sử tiểu thuyết dài non hai trăm trang làm sống lại một thịnh thời ở Hà Tiên với những hội hoa đăng, hội thơ, cảnh duyệt binh, cảnh Tết Đoan Ngọ... Tuy là tưởng tượng nhưng vẫn dựa vào sử, theo sát tài liệu lịch sử, giữ đúng niên đại trong sử. Tác giả đã khảo cứu công phu, dựng truyện chặt chẽ mà văn thì đẽo gọt, đối với một tiểu thuyết, có lẽ đẽo gọt quá theo quan niệm hiện thời. Từ đầu thế kỷ đến nay, ít cuốn trong loại đó có thể so sánh được: tiểu thuyết của Lan Khai chỉ là chuyện tình mượn tên “lịch sử”, còn tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật ngoài cuốn Bốn con yêu và ba ông đồ chỉ là lịch sử ký sự tiểu thuyết, thì chỉ có Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp. Tiếc thay, tác phẩm được ít người hoan nghênh có lẽ chỉ vì xuất hiện không đúng lúc.

Tuy là của Mộng Tuyết nhưng công của Đông Hồ cũng đáng kể, không phải trong việc đề tựa và trình bày (có mấy bức tranh của ông) mà cả trong việc thu thập tài liệu, xây dựng cốt truyện nữa.

Vậy ông đã trở ơn quê hương một cách xứng đáng. Hiện nay chúng ta biết được chút gì về Hà Tiên hầu hết là nhờ ông cả. Thật cũng lạ! Hai họ Mạc và họ Lâm đều gốc gác ở Hoa Nam: Mạc ở Quang Đông, Lâm ở Phúc Kiến, cùng qua Nam Việt một thời, cùng yêu ngay quê hương thứ hai của mình, rồi coi quê hương đó là quê hương thứ nhất, cùng tận tâm phục vụ cho tiếng mẹ đẻ. Họ Mạc đến đời thứ bảy chỉ còn hai người con gái, còn họ Lâm đến đời thứ tám cũng chỉ có hai người con gái (Đông Hồ là người con trai duy nhất đời thứ bảy, sanh hai con trai, đều không nuôi được).

Hiện nay ngoài nữ sĩ Mộng Tuyết ra, còn có nhà văn, nhà thơ nào gốc gác Hà Tiên nữa không? Và bao giờ Hà Tiên mới lại có được một họ làm rạng danh Hà Tiên như họ Lâm? Nếu có thì thời đại đã thay đổi, Hà Tiên sẽ không con là nơi hẻo lánh nữa, văn học Việt Nam đã thống nhất thì sự nghiệp của người sau tất khác của người trước. Và chúng ta có thể nói rằng lịch sử văn học Hà Tiên sẽ vĩnh viễn gắn liền với hai họ Mạc, Lâm. Họ Mạc làm cho Hà Tiên thành một “văn hiến quốc”, họ Mạc mở đường, họ Lâm nối nghiệp; người sau sẽ chuyển qua một hướng khác chứ không tiếp tục nữa.

1. Quỳnh Lâm xuất bản – 1970.
2. Chính tên là Tông, tự là Thiên Tứ. Chữ Tứ này bộ bối, có nghĩa là cho; sau chúa Nguyễn Phúc Chu (1725-1738) tứ danh cho, mới đổi bộ bối ra bộ kim, thành chữ tích cũng có nghĩa là cho.
3. Theo Đông Hồ (Văn học Hà Tiên – tr. 142), “căn cứ trên mộ bia dựng ở núi Bình San (Hà Tiên), hiện hãy còn, khi Thiên Tích lập thạch cho mẹ, đề thái phu nhân là họ Nguyễn, thì chúng ta có thể quyết được mẹ Thiên Tích là người Việt. Bởi người Tàu ít có người họ Nguyễn”.

Theo Gia Đinh Thành Thông Chí (quyển II), ông Hãn Nguyên dẫn trong bài “Hà Tiên, chìa khóa nam tiến của dân tộc Việt xuống đồng bằng sông Cửu Long”, tập san Sử Địa số 19-20, năm 1970 tr. 165 thì mẹ Mạc Thiên Tích là người Việt, tên Bùi Thị Lẫm, gốc ở Đồng Môn, thuộc Biên Hòa. Cũng trong bài ấy, ông Hãn Nguyên còn dẫn lời của Pierre Poivré, cũng nhận Thiên Tích là người lai. Chúng ta có thể tin lời trên mộ bia hơn lời trong Thông Chí. Dù theo thuyết nào thì mẹ Thiên Tích cũng là người Việt, cho nên Thiên Tích mới giỏi thơ Nôm được.
Lịch sử Hà Tiên còn nhiều nghi vấn: như năm sinh của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, mỗi thuyết một khác.
4. Có 320 bài thì ta có thể đoán rằng Chiêu Anh các gồm 32 thi sĩ thôi (mỗi nhà 1 làm 10 bài) kể cả Thiên Tích. Con số 36 cũng như con số 12, 72... không đáng tin.
5. Hãn Nguyên – Bài đã dẫn. Tập san Sử Địa 19-20 tr. 270. 6. Theo gaspardone – Hãn Nguyên trong bài kể trên. Hàn Lâm viện đó là Chiêu Anh các.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#919 Posted : Wednesday, March 9, 2011 6:35:24 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
CA DAO, DÂN CA KINH XÁNG, CỬU LONG
NGUYỄN VĂN BA


Đồng bằng sông Cửu Long, phần đất cuối cùng của tổ quốc, chặng đường chót của cuộc Nam Tiến mở rộng cõi bờ, nơi có điều kiện khí hậu thuận lợi, đất đai màu mỡ, thường được nhắc đến như là kho lương thực của cả nước. Lúa vàng nặng trĩu trên đồng ruộng, cá tôm dẫy đầy trên sông rạch... Ngoài cá lớn, tôm to còn có lươn dài, ếch bự, rùa vàng... Đời sống vật chất phong phú, sung túc.

Nhưng khi nói chuyện văn chương, thi phú, phần đất phía cực nam này ít được nói đến so với những vùng phía bắc. Sự việc tương đối dễ hiểu. Lịch sử văn minh Việt Nam ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ được trên dưới bốn thế kỷ, nên đóng góp của cư dân vùng nầy vào kho tàng văn chương phải giới hạn, khiêm tốn nếu đem so sánh với chiều dài văn hiến bốn ngàn năm chung của cả dân tộc. Sự giới hạn, khiêm tốn của văn chương truyền khẩu ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long một phần còn do việc ghi chép chưa đầy đủ, hệ thống hóa chưa hoàn hảo nên chưa được phổ biến sâu rộng trong dân gian. Dù vậy, ngoài tính chất thừa kế và phát huy, những gì còn tồn tại đến ngày nay đã cho thấy nhiều điều mới lạ, thể hiện tính chất đặc thù của môi sinh cùng với đời sống dân cư trong vùng.

Ca dao,dân ca vùng đồng bằng sông Cửu Long, một cách tổng quát, là đề tài khá rộng lớn, bao hàm nhiều lãnh vực khác nhau. Bài này được giới hạn trong phạm vi hai yếu tố thiên nhiên quan trọng đã là môi trường xúc tác cho việc sáng tác: đất và nước. Đất ở đây là nơi có ruộng, vườn, rừng tràm, rừng đước. Còn nước là sông cái, sông con, ao hồ, kinh rạch... Như vậy vẫn còn khá rộng. Xin giới hạn thêm, trong một trường hợp cụ thể, rõ ràng: Chỉ ghi lại một số ca dao, dân ca cận đại liên quan tới môi trường sông nước, không do thiên nhiên tạo ra mà do con người. Đó là những kinh rạch nhân tạo, đầu tiên được đào bằng tay chân, về sau đào bằng máy và gọi là kinh xáng.
Những kinh đào tay dùng toàn sức người và dụng cụ thô sơ như xuổng, len, cuốc... Công việc vất vả, mất nhiều thời giờ lại tùy thuộc thời tiết. Kinh loại nầy thường ngắn như kinh Thủ Thừa nối liền hai nhánh sông Vàm Cỏ Đông Tây, dài 9 cây số do ông Mai Văn Thừa xuất tiền mộ phu. Kinh Ba Thê, còn gọi là Kinh Núi Sập (Thoại Sơn) hay Thoại Hà, do Nguyễn Văn Thoại đốc suất, rộng khoảng 30 m, dài 32 km, nối liền một số thủy đạo giữa hai tỉnh Long Xuyên Rạch Giá, đào mất một tháng (năm 1818), sử dụng 1500 dân làm xâu. Kinh Vĩnh Tế (Vĩnh Tế Hà) qui mô và quan trọng nhất, do Tổng Trấn Gia Định Lê Văn Duyệt đề nghị với triều đình Huế, cũng được Trấn Thủ Vĩnh Thành Nguyễn Văn Thoại trực tiếp đôn đốc. Kinh rộng 20 m, dài 72 km, dọc theo biên giới Cao Miên từ sông Hậu đến cửa Giang Thành Hà Tiên, sử dụng hơn 80 ngàn dân làm xấu, ròng rã 5 năm, từ tháng chạp năm 1819 đến tháng 5 năm 1824. Việc đào kinh Vĩnh Tế đã làm hàng trăm dân phu thiệt mạng do nặng nhọc, nền đá cứng, sơn lam chướng khí, thời tiết khắc nghiệt, muỗi, vắt, ác thú... cùng với số người bỏ trốn, chết trong rừng hay vô bụng cá mập Vàm Nao.

Về sự lao khổ của dân phu đào kinh, có thể dẫn chứng bằng đoạn vè sau đây:

... Chia ba người một thước
Đào sâu xuống nước
Hai thước sáu ba
Bề ngang đào qua
Là sáu thước chẵn
Việc mần mệt nặng
Kẻ cuốc người rinh
Chừa hai bên kinh
Đắp hai đường lộ
Việc mần cực khổ
Mệt đổ hết hơi
Không dám nghỉ ngơi
Cực đà quá cực
Phần thời nắng nực
Lại không nước uống...

Dù gian lao, khó nhọc, hao tồn sanh linh, nhưng việc hoàn thành kinh Vĩnh Tế quả có đem lại nhiều lợi ích thiết thực và lâu dài về quốc phòng (án ngữ biên giới), canh nông (dẫn nước phèn ra vịnh Thái Lan, nước ngọt từ sông Hậu vô ruộng), mua bán, giao thông... Dân chúng tự hào về kinh Vĩnh Tế qua câu tục ngữ:

Mắm Châu Đốc, dốc Nam Vang,
Bò Châu Giang, kinh Vĩnh Tế.
Trai gái dùng con kinh làm đề tài đối đáp. Gái hò:
Hò ơ ơ... Đường từ Châu Đốc Hà Tiên
Đường nào chạy thẳng nối liền hai nơi
Đất nào lắm dốc nhiều đồi
Đèn nào cao nhứt người người đều nghe
Sông nào tấp nập thuyền bè
Hồ nào với biển cặp kè bên nhau
Trai nào nổi tiếng anh hào
Anh mà đối đặng má đào em xin trao ơ...

Trai đáp:

Hò ơ ơ... Em ơi!
Đường từ Châu Đốc Hà Tiên
Có kinh Vĩnh Tế nối liền hai nơi
Đất Nam Vang lắm dốc nhiều đồi
Đèn cao Châu Đốc mọi người đều nghe
Sông Cửu Long tấp nập thuyền bè
Biển Hồ hai chữ cặp kè bên nhau
Trai Việt Nam nổi tiếng anh hào
Anh đà đối đặng, vậy mà đào em trao đây ơ...

Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu 20, một hệ thống kinh rạch đã hình thành khắp nơi ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bằng phương tiện cơ giới gọi là xáng. Thời đó kỹ thuật móc đất còn thô sơ, chưa có xáng thổi, chỉ có xáng cạp. Xáng cạp gồm hai miếng sắt rất nặng hình cong như hai cái muỗng, đưa lên cao, mở rộng ra, hay đổi vị trí, buông xuống, khép lại... Bởi cần cẩu và dây cáp, động tác cạp đất của xáng tương tự cầm cái muỗng múc nên được gọi nôm na là xáng múc. Sức làm việc của xáng nhanh chóng, mạnh mẻ, tương đương với cả trăm nhân công, nên để chỉ người lười biếng, ăn nhiều, ăn nhanh, làm ít, chậm chạp, thời ấy có câu:

Ăn như xáng múc,
Làm như lục bình trôi.

Chuyên viên trắc địa phóng đường trước, xáng theo sau, rầm rộ cả đoàn người và máy móc. Công trường xáng cạp giống như cái chợ nhỏ lưu động. Đất mới đổ lên hai bên bờ kinh, chưa kịp khô đã có nông dân và gia đình bơi xuồng, chèo ghe tới, giành địa thế kinh sâu nước chảy ngã ba (ngã ba vàm xáng) để cất nhà, bắt đầu lập nghiệp dẫu rằng chỉ cách chưa đầy trăm thước phía trong vẫn còn khung cảnh hoang dã với đồng chua, rừng tràm dày đặc cỏ, gai.

Rồi kinh xáng hoàn thành. Trên con kinh xanh dài mút mắt bắt đầu có tiếng tàu Tây chạy xập xình. Những đêm trăng thanh gió mát, tiếng hò giao duyên văng vẳng:

Hò hơ ơ ơ...
Kinh xáng mới đào
Tàu Tây mới chạy
Thương thì thương đại
Bớ điệu chung tình
Chớ con nhạn bay cao khó bắn
Còn con cá ở ao quỳnh ơ ơ khó câu!
Hò hơ ơ ơ...
Kinh xáng mới múc
Chiếc tàu xà lúp nó chạy cũng thường
Em muốn ăn con lươn nấu với thịt sườn
Muốn về Trà Ba Lớn nọ ơ ơ ờ...
Cho tiện đường thăm anh ơ...

Có hai loại kinh xáng ở đồng bằng sông Cửu. Thứ nhứt là kinh xuôi, thường dài, rộng, giúp nước lưu thông giữa đồng ruộng và sông lớn hoặc vịnh Thái Lan như kinh xáng An Long, kinh Tháp Mười thuộc tỉnh Kiến Phong (Cao Lãnh) đổ nước ra Tiền Giang; kinh Ba Thê-Mai Dung, Rạch Giá-Long Xuyên, Rạch Giá-Hà Tiên, Cái Sắn thuộc địa phận các tỉnh An Giang và Kiên Giang, kinh Cái Lớn, Long Mỹ, Quan Lộ-Phụng Hiệp thuộc các tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), Chương Thiện, Bạc Liêu... đổ nước ra sông Hậu hoặc vịnh Thái Lan.

Thứ hai là kinh ngang, thường hẹp, ngắn, như cây cầu nối những kinh xuôi lại với nhau.

Hệ thống kinh xuôi và kinh ngang dày đặc như lưới nhện. Chỉ riêng trong tỉnh Phong Dinh, từ bắc xuống nam bên hữu ngạn sông Hậu đã có nhiều kinh xuôi lớn: Kinh Thị Đội từ Thới Lai đi Rạch Giá; kinh Saintenoy theo tuyến đường Rạch Gòi-Phụng Hiệp-Sóc Trăng; kinh Lacote từ Rạch Gòi đến Cái Dứa... Và chỉ riêng kinh Xà No từ rạch Cần Thơ (Cái Răng) chạy qua chợ Vị Thanh tỉnh Chương Thiện, ăn thông với kinh Ô Môn và nhiều kinh rạch của Rạch Giá đã là một công trình lớn, bề mặt 60 m, đáy rộng 40 m, dài gần 40 km.

Nước ngọt sông Cửu Long theo kinh xáng vô ruộng; nước phèn, nước tù theo kinh xáng ra biển. Những khu vực trước kia là đồng chua đầy năng, lác, đế, sậy, là rừng tràm hoang vu... trở thành đồng lúa phì nhiêu, vườn cây ăn trái xanh tốt, năng suất lúa gia tăng gấp hai, ba lần. Song song với đời sống vật chất ngày thêm dồi dào, dân cư dọc theo kinh xáng trở nên văn minh hơn, đời sống tinh thần cao hơn. Họ tổ chức những cuộc hát hò, đối đáp giữa thanh niên và thiếu nữ trong vùng do hương chức hội tề bô lão làm giám khảo. Có nơi tổ chức lớp dạy hò, hay hát đối. Thầy dạy hò ở Cần Thơ (Long Tuyền, Cái Tắc, Phong Điền) nổi tiếng có tài. Ca dao, câu hò, lời đối đáp mang địa danh mới, chuyên chở sinh hoạt cùng tâm tình, suy nghĩ... của cư dân trong vùng. Sau đây là một bài tiên biểu theo điệu Lý Ngựa Ô:
Ngó kìa mà ngó lên vàm xáng ý xáng Xà No. Dưới sông đông đảo, trên bờ lạo xạo lại có chiếc tàu đò. Lăng xăng chạy xuống Sóc Trăng, chạy về Long Mỹ. Tình nhân ôi! Đạo vợ chồng anh không nghĩ thì thôi!
Cũng có những câu ca dao hóm hỉnh, cợt đùa hay lãng mạn, tình tứ:

Chiều chiều ra đứng bờ kinh
Gặp người góa bụa tui rinh vô nhà.
Anh về để áo lại đây,
Khuya nay em đắp, gió tây lạnh lùng.
Gió lạnh lùng lấy mùng mà đắp,
Trả áo anh về đi học kẻo trưa.

Sự hấp dẫn muôn đời của ca dao và dân ca vẫn luôn là những mẫu đối đáp qua lại giữa trai và gái như đoạn hò theo điệu huê tình sau đây:

Ơ ơ ớ...
Đèn treo dưới xáng
Tỏ rạng bờ kinh (ờ)
Em có thương anh
Em nói cho thiệt tình (ờ)
Để anh lên xuống
Ơ ơ chớ một ơ ơ mình ờ bơ vơ

Đối với sự mở lời của một chàng trai như trên, các cô có nhiều cách trả lời. Nếu muốn dùng thời gian để thử thách, cô nàng ỡm ờ:

Đèn treo dưới xáng
Tỏ rạng bờ kinh
Đường Bình Thủy lưu linh
Đáo tại Long Tuyền
Xin anh giữ dạ, chịu phiền đôi năm.

Bình Thủy là một chợ nhỏ nằm trên đường liên tỉnh từ Cần Thơ đi Long Xuyên, thuộc xã Long Tuyền. Cụ Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa, con rồng vàng đất Đồng Nai thuở sanh tiền sống tại đây và khi qua đời phần mộ cũng tại nơi nầy.

Nếu như cô thôn nữ thuận tình nhưng còn bị vòng lễ giáo trói buộc, cô sẽ trả lời:

Nay em còn cha còn mẹ
Còn cô còn bác,
Nên em không dám tự tung tự tác một mình
Anh có thương em
Xin cậy mai dong tới nói,
Cha mẹ đành thì em cũng sẽ ưng.

Trường hợp chàng trai miệng ve vãn, tay nắm chưn khều, giở trò xàm xỡ, có thể bị cô gái "sửa lưng" như sau:

Cá lý ngư sầu tư biếng lội
Chim phượng hoàng nhớ cội biếng bay
Anh thương em đừng vội nắm tay
Miệng thế gian ngôn dực
Phụ mẫu hay sẽ rầy rà.

Và cũng có trường hợp rất đau, rất ngỡ ngàng, vì nàng đã có chồng:

Nước mắm ngon chấm con cá liệt,
Em có chồng rồi, nói thiệt anh hay.

Hãy tưởng tượng một đêm trăng trên lòng kinh xáng, hai chiếc ghe, một trước một sau, lướt nhẹ theo dòng nước. Chàng trai phía sau ướm thử mấy câu:

Bớ chiếc thuyền loan,
Khoan khoan bớt mái
Đặng đây tỏ mấy lời phải trái nghe chơi...

Câu hò lơ lửng vì chàng không biết người ở ghe trước là ai, tâm tính thế nào, nhưng thật may, phía trước là một cô gái, cô biết hát hò, lại ngọt ngào hưởng ứng sự giao duyên:

Bớ chiếc ghe sâu,
Chèo mau em đợi,
Kẻo khỏi đoạn kinh nầy bờ bụi tối tăm!

Đúng vậy, qua khỏi một đoạn kinh trống trải, nước rẽ vào nhánh sông, rạch nhỏ, những bụi ô rô, cóc kèn, dừa nước, đám bần, đám lác... sẽ làm phong cảnh trở nên tối tăm, hoang dại. Chàng trai một mặt ra sức đẩy mạnh mái chèo, một mặt hò với mấy câu:

Thuyền em đã nhẹ,
Chèo lẹ khôn theo
Em ơi, bớt mái khoan lèo chờ anh!

Hữu tình ta lại gặp ta, nàng sẵn lòng chờ, một lần nữa dịu ngọt đáp lời:

Đây đã chèo lơi,
Đặng chờ người tri kỷ
Gặp mặt chuyện trò cho phỉ ước mơ!

Rồi tiếp theo là biết bao nhiêu lời hỏi đáp, thơ mộng có, mà rắc rối khó khăn cũng nhiều, để thử thách, tìm hiểu tài năng, kiến thức, nết na của nhau, tạo nên biết bao nhiêu bài ca dao trữ tình, bất hủ.
Tâm tình của mấy cô thôn nữ miệt kinh xáng ra sao? Họ muốn anh bạn tình mua sắm cho mình cái gì?

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No
Anh có thương em xin sắm một con đò
Để em qua lại mua cò gởi thơ.
Tùy người, tùy hoàn cảnh có thể được sửa đổi thành:
Cái Răng, Ba Láng Vàm Xáng, Xà No
Anh có thương em hãy mua chiếc đò
Để em qua lại đặng thăm dò ý anh.

Hoặc:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền
Anh có thương em thì cho bạc cho tiền
Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê.

Phong Điền, quận thứ 6 của tỉnh Phong Dinh, nằm trên bờ sông Cần Thơ, gần kinh xáng Xà No với 5 xã Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Mỹ Khánh, Trường Long, Cầu Nhiến là một trung tâm văn minh miệt vườn của miền Tây, rất nhiều lúa gạo. Cụ cử Phan Văn Trị lúc tuổi già có về xã Nhơn Ái mở trường dạy học, phần mộ còn nơi đây.

Từ khi kinh xáng xuất hiện, lòng sâu, mặt rộng, mỗi mùa lúa, ghe chài của người Hoa ở Chợ Lớn theo kinh Chợ Gạo, đổ xuống miệt sông Tiền sông Hậu mua lúa đem về chà gạo bán cho dân Sài Gòn và xuất cảng ra nước ngoài. Từ sông lớn, ghe theo kinh xáng Xà No, kinh xáng Thị Đội... tới đồng ruộng tỉnh Cần Thơ, hoặc theo kinh xáng Phụng Hiệp xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu. Ghe chài cần người vác lúa. Thanh niên nông dân ở các địa phương phần muốn kiếm thêm tiền, phần nghe đất Sài Gòn hòn ngọc Viễn Đông, đèn màu rực rỡ, phố xá tân kỳ, muốn đi chơi cho biết nên xin làm bạn (phu) vác lúa cho ghe chài. Được tin, cô thôn nữ lo lắng, ngăn cản người yêu:

Em khuyên anh đừng làm bạn ghe chài.
Cột buồm cao, bao lúa nặng, tấm đòn dài khó đi.
Lời khuyên thật chi lý, chí tình. Việc vác lúa cho ghe chài quả có nặng nhọc, hiểm nguy, nhưng sự tò mò, óc cầu tiến, máu giang hồ, chí làm trai... đã thúc giục người nông dân trẻ quyết ý ra đi. Chàng đã trả lời nàng cũng thật đầy đủ lý tình:
Lúa mùa rồi trả nợ nần sạch ráo,
Để anh đi kiếm chén cháo đổi lấy chén cơm,
Trước là cho biết cái xứ Sài Gòn,
Sau nữa mua cái quần lãnh với gói bòn bon tặng con bạn tình.

Tặng quần lãnh và bòn bon (một loại kẹo nhỏ nhiều màu, tròn, lớn bằng đầu ngón tay) là cách biểu lộ tình cảm chân thật, đơn giản, không kiểu cách, màu mè của người nông dân trẻ.

Rồi chàng thanh niên theo ghe chài, cả mấy tháng không tin tức, tăm hơi. Cô thôn nữ lòng son héo hắt, nhớ ghe chài gởi lên Sài Gòn cho chàng bức thơ như sau:

Trời chiều bóng ngả về tây,
Em thương nhớ bạn như cây nhớ rừng.
Con kinh xanh nước chảy không cùng,
Em đây với bạn, khi nào trùng lai?
Phượng hoàng đậu nhánh cẩm lai,
Dặn lòng người ngãi chớ sai lời thề.
Đường đi kinh xáng dầm dề.
Sao anh không gởi thơ về thăm em?
Từ đất Sài Gòn hoa lệ, chàng vội vã hồi âm:
Gió lung lay mới biết tùng bá cứng
Lửa có hồng mới rõ thức vàng thau.
Thân tằm còn trả nợ dâu,
Bước lên ghe mặt ủ gan rầu,
Qua đây với bậu hẹn có ngày gần nhau
Tình qua với bậu làm sao phụ phàng
Sài Gòn thiên hạ nhộn nhàng,
Qua đây nhớ bậu, chẳng ham màng cuộc chơi.

Thắm thoát tháng lại ngày qua, thời gian vác lúa cho ông chủ Huê kiều sắp hết, người nông phu trẻ trở lại miền quê kinh xáng với biết bao rạo rực, nhớ thương. Từ trên mui chiếc ghe chài cao nghệu, anh thấy ở đàng xa, thật xa, khói lên mù mịt cánh đồng, khói quyện dãy nhà lá đơn sơ dọc theo bờ kinh xáng...

Ngồi trên mui ghe chài lớn
Cầm lái về kinh xáng Thời Lai
Nhìn thấy khói đốt đồng mù mịt lên khơi,
Bây giờ anh mới biết chán đời đi ghe.
Con gà nó gáy te te,
Phải chăng nó kêu người lưu lạc trở về rừng xanh?
Em ơi, chờ cho ghe lúa tới chành,
Anh biểu thằng cha tài phú tính sổ đề anh dứt nợ ghe chài.

Nợ ghe chài đã dứt nhưng con bạn tình đầu chẳng thấy đón, hay nó chờ đợi không nổi, nó bỏ anh rồi? Cầm xấp vải Mỹ A trơn với gói bòn bon trên tay, anh đi kiếm bạn.

Thật sự là ghe chài anh về bến, cô bạn tình bạn nghĩa cồn cả ra ngã ba vàm xáng, tới chành lúa đón anh, nhưng dọc đường cô hay tin anh đã bịt mấy cái răng vàng. Cô ghét người bịt răng vàng lắm, mở miệng cười nụ là thấy "vàng khè", "cười lên đi cho răng vàng sáng chói". Cô lại bị tụi con nít hát hò chế giễu nên cô mắc cỡ và quay về nhà:

Cây vông đồng không trồng mà mọc,
Rễ vông đồng đâm dọc trổ ngang.
Cám trong nong trộn lẫn trấu càng,
Thấy anh đi làm mướn mà bịt răng vàng, thiệt khó coi!

Dân kinh xáng tuy có văn minh hơn hồi ở rừng, ở ruộng, nhưng vẫn còn khá bảo thủ, không ưa những kiểu mới, kiểu Sài Gòn nên họ chê bai, dèm pha hầu hết những cái mới mang từ Sài Gòn về như bịt răng vàng, bao lưới đầu tóc, tô son môi, đeo kiếng mát...

Đầu bao lưới như chài mắc gốc,
Miệng tô son như té dập môi,
Mắt đeo kiếng mát giống như thòi lòi.

Thòi lòi đây là một loại cá nhỏ sống trong hang, cạnh bãi bùn. Mỗi khi trời mưa lớn, nước ngập hang, cá thòi lòi bị ngộp chun ra, giương cặp mắt đen to tướng ra nhìn bàng quan thiên hạ. Thấy người đeo kiếng mát, dân quê hay ghẹo là bữa nay trời mưa, cá thòi lòi bò ra khỏi hang.

Tuy nhiên, đâu có vì cái chuyện bịt răng vàng lẻ tẻ đó mà con bạn tình bỏ anh. Cô chỉ mắc cỡ chút thôi, làm nũng chờ anh tới nhà để thủ thỉ:

Quả năm ngăn trong lòng sơn đỏ,
Mấy lời anh to nhỏ, em bỏ bạn sao đành!
Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành,
Tàu Tây liệt máy, em mới đành bỏ anh.

Chàng và nàng có biết đâu, với sức mạnh trường kỳ chiến đấu của toàn dân Việt Nam, quyết giành tự do, độc lập, cuối cùng thực dân Pháp đã rút quân ra khỏi nước ta, khác nào tàu Tây liệt máy, xáng Tây bung vành. Nhưng câu hò tiếng hát của chàng và nàng đã đi vào văn chương bình dân miền kinh xáng trên phần đất cực nam của quê hương.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi nào có đồng ruộng, vườn cây ăn trái, có sông nước, kinh rạch, có ghe xuồng, chợ búa, khói bếp, ánh đèn,... nơi đó có ca dao, câu hò, tiếng hát thắm đượm tình quê. Nơi đây, chốn hải ngoại ngàn trùng xa cách quê hương, với tấm lòng hoài niệm, bằng chủ đích bảo tồn những di sản văn hóa tốt đẹp của cha ông, chúng ta, mỗi người hồi tưởng, góp tay ghi lại, tập trung, hệ thống hóa, như số báo đặc biệt này, những gì còn nhớ được trước khi chúng mờ nhạt theo thời gian.

Hồn quê nương cánh ca dao, Bay qua biển rộng thấm vào tâm can.

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#920 Posted : Thursday, March 10, 2011 7:42:39 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,839

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
Xuân và người lính Việt Nam Cộng Hòa trong nhạc Việt

UserPostedImage

http://dvtnradio.com/aud...n_va_Nguoi_Linh_VNCH.wma
Lê Hoàng Thanh
(Để tưởng nhớ đến anh tôi, bạn bè và những chiến sĩ VNCH đã hy sinh vì tổ quốc)
***

Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về.

(Ca Dao)

Vâng, đó là truyền thống của người Việt chúng ta từ xưa đến nay.

Hể mỗi độ Xuân về là mọi người đều muốn sum họp với cha mẹ, gia đình con cái và bạn bè quyến thuộc nói chung để cùng vui Tết, cho dù suốt năm phải xa gia đình vì sinh kế. Tuy nhiên vẫn có những người gánh chịu nhiều thiệt thòi, phải dầm sương, ngủ ở ven rừng, bờ suối để trấn thủ biên thùy. Họ chỉ hưởng được chút hương vị Tết qua những món quà do thân nhân gởi đến, thiếu hẳn cái không khí Tết giống như ở hậu phương, thiếu hẳn tiếng trống tiếng kèn rộn ràng, không có những màn múa Lân ngoạn mục v.v…

Nhưng họ là ai?. Họ chính là những người lính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Những người đã anh dũng chiến đấu trong suốt gần 21 năm để bảo vệ miền Nam tự do, từ 1954 cho đến khi bị thượng cấp ra lệnh bắt buộc buông súng đầu hàng cuối tháng 4.1975. Nhiều người đã nằm xuống hay đã chết trong các trại tù được mệnh danh là „trại cải tạo“. Cũng có nhiều người còn sống, đang hiện diện trên đất mẹ hoặc đang định cư tại một đệ tam quốc gia nào đó trên thế giới. Để tri ơn những người lính VNCH nói trên, còn sống cũng như đã chết, người viết xin phóng tác một số bản nhạc viết về „Xuân và Người Lính“ thành bài tạp ghi này để kính tặng tất cả những người lính VNCH đã anh dũng chiến đấu bảo vệ miền Nam VN cho đến ngày 30.04.1975, cũng như vinh danh sự hy sinh cao cả của những chiến binh đã nằm xuống cho chúng ta được sống.

Trước khi chính thức đi vào chủ đề của bài tạp ghi, người viết xin được mượn bài hát sau đây để giới thiệu đến quý độc giả là người lính VNCH tuy rất anh hùng, rất sắt đá trên chiến trường nhưng họ cũng là con người, là những chàng trai trẻ nên con tim của họ cũng chất chứa nhiều tình cảm, cũng biết rung rộng và vì tình yêu quê hương đất nước nên họ sẳn sàng hy sinh tình cảm riêng tư để lên đường theo tiếng gọi non sông. Tình cảm của những người lính được thể hiện rõ nét qua tác phẩm rất sôi động của Nhạc sĩ Y Vân:

Anh là lính đa tình
Tình non sông rất nặng
Tình hải hồ ôm mộng
Tình vũ trụ ngát xanh
Và mối tình rất êm đềm là tình riêng trong lòng anh yêu em ...
Có lúc muốn lấy hoa rừng, anh gửi về em thêu áo
Và ngàn vì sao trên trời, kết thành một chuỗi em đeoo
Dù rằng đời lính không giầu,
mà chắc không nghèo tình yêu ...

Lính Đa Tình (Y Vân)

Có thể nói, khi đề cập đến hay bàn về chiến tranh, hầu như ai trong chúng ta đều chán ngán. Nhưng hoàn cảnh đẩy đưa vì cộng sản Bắc Việt (csBV) luôn nuôi tham vọng thôn tính miền Nam nên mới gây ra cảnh chinh chiến. Nếu nhà ai nấy ở, kẻ Bắc người Nam, mạnh ai nấy lo thì làm gì có chuyện đổ máu xảy ra, theo ý tôi. Sau nhiều mùa Xuân tương đối thanh bình đi qua thì phải nói Tết Mậu Thân 1968 là cái Tết mà dân miền Nam VN không bao giờ quên được, nhất là dân xứ Huế. CsBV đã xem thường hiệp ước đình chiến trong ba ngày Tết, lợi dụng sự tin cậy của dân miền Nam và lợi dụng cơ hội biên thùy bị bỏ ngõ và các tiền đồn của các tỉnh hay thị xã không được canh gác cẩn thận như xưa nay vì binh sĩ VNCH các cấp được nghỉ phép về quê ăn Tết với gia đình vợ con, csBV đã ra lệnh tổng tấn công, tràn về thành phố đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Chúng đã dày nát nhiều tỉnh lị của miền Nam, nhẫn tâm giết hại không biết bao nhiêu người dân vô tội gây tang thương cho biết bao gia đình trong khi mọi người đang vui mừng đón Xuân.

Chiến chinh từ xưa đến nay, dầu xảy ra bất cứ ở đâu đều gây nên nhiều đau khổ, tang tóc. Chuyện cha xa con, vợ xa chồng, gia đình ly tán là chuyện không thể tránh được. Bên cạnh những mất mát về vật lực cũng như tài lực, người dân và nhất là những người lính trận chẳng những đã hy sinh máu huyết của mình, đã bị tổn thương và trở thành phế binh mà đôi khi còn phải bỏ mạng để cho bà con, thân nhân và đồng hương được sống. Vì thế mơ ước quê hương thanh bình là ước mơ của mọi người, từ quân cán chính cho tới phó thường dân, học trò… Nhạc sĩ Hoài Linh và Tấn An đã mượn lời ca tiếng hát chuyển đạt nỗi niềm của những chàng trai khóat áo chiến y vừa mới từ biên cương trở về thăm người yêu ở hậu phương với lời cầu chúc đầu năm chân thành, rất nồng nàn:

Ngày đầu Xuân chúc non nước thanh bình,
ngày mồng hai chúc cho lứa đôi mình
Và mồng ba anh chúc cho đôi mắt em xinh,
Má em hồng cho nét Xuân mãi trong lòng anh.
Từ ngoài biên anh vừa về đến, đôi lời trìu-mến chân thành chúc em ...
Đầu Xuân xin chúc quê hương yên bình thành đô đến nơi đồng xanh,
Ý lành nước non vươn màu xanh mới đón Xuân thắm trong niềm vui.

Đầu Xuân Lính Chúc ( Hoài Linh - Tấn An)

Ước mong quê hương không còn chiến tranh cũng là tâm trạng của cố nhạc sĩ đa tài Trần Thiện Thanh (TTT). Nhưng sự mong ước của nhạc sĩ TTT, một nhạc sĩ thuộc ngành tâm lý chiến dù, không ủy mỵ và ru ngủ như đã được thể hiện qua một số nhạc sĩ phản chiến thân cộng thời bấy giờ. Trần Thiện Thanh tế nhị hơn khi diễn tả tâm trạng mình, tâm trạng của một người lính VNCH. Anh đã nhẹ nhàng thố lộ cùng người yêu:

Hẹn em khi khắp nơi yên vui
Mùa xuân ngày đó riêng đôi mình
Phút giây mộng mơ nâng cánh hoa mai
Nhẹ rớt trên vai đầy, hồn chơi vơi
Ngỡ giữa xuân vàng, dáng em sang

(Đồn Vắng Chiều Xuân )

Trong khi mọi người ở hậu phương, từ thôn quê đến thành phố đang chờ đón nàng Xuân, đang đợi Giao Thừa về để đốt pháo mừng năm mới thì có rất nhiều người lính trận của quân đội VNCH không có được diễm phúc này. Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông đã mượn lời nhạc phát hoạ nên một khung cảnh buồn, đơn lẻ mà khi tiếng hát được cất lên chúng ta không thể nào quên được hình ảnh người lính đang đồn trú nơi rừng sâu giữa lúc quê hương còn chinh chiến:

Đón Giao Thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi

Phiên Gác Đêm Xuân (Nguyễn văn Đông)

Vì hoàn cảnh, bạn bè có kẻ phải lên đường làm bổn phận người trai thời loạn, người thì may mắn được ở lại hậu phương nhưng chiến tranh vẫn luôn hiện hữu trong tâm cảm của hầu hết mọi người dân miền Nam Việt Nam nói riêng. Tâm trạng đó đã được nhạc sĩ Hoài Linh diễn tả như sau:

Tôi đón xuân giữa lúc còn chiến chinh
Chúc mừng xuân bên ly rượu hành trình
Chúc người trai đi xây dựng hòa bình
Để cho đất nước vui trọn mùa xuân thắm xinh

(Tâm Sự Nàng Xuân)

Thời gian qua đi không chờ đợi. Đông qua và mùa Xuân lại trở về. Tình cảm của những người ở hậu phương dành cho những anh lính chiến ngoài miền biên cương lúc nào cũng đong đầy. Tâm cảm này đã được Lê Dinh và Minh Kỳ khéo léo diễn đạt qua bản nhạc rất trữ tình:

Thấm thoát là đây ... một mùa Xuân mới ... với ngàn cánh mai vàng
Nụ cười trên môi ... trên làn má ai ... đón Xuân tươi vừa sang …
Xuân nay tôi chúc ... người miền biên cương ... muôn ngàn câu mến thuơng
Mong Xuân yên lành ... trong bao hương tình
Để rồi người thêm vui ... cuộc sống thanh bình

Hạnh Phúc Đầu Xuân của Lê Dinh - Minh Kỳ

Tình thương mẹ con trong xã hội Việt chúng ta rất đậm đà thắm thiết. Bất cứ ở đâu, dù đang sống xa nhà hay đang trấn đóng ngoài biên thùy, ven rừng, người con lúc nào cũng nghĩ đến gia đình, đặc biệt nghĩ rất nhiều đến mẹ, có lẽ vì từ nhỏ được mẹ bồng bế, nâng niu. Lắm khi ôn lại quá khứ thanh bình ngày nào, để rồi tiếc thương và thầm mơ mau có ngày hội ngộ cùng mẹ hiền. Nhật Ngân đã dùng lời nhạc để diễn đạt thay tâm trạng của những chàng trai hùng thời chiến chinh như sau:

Đêm nay núi rừng gió nhẹ sang xuânn
Thoáng mùi mai nở đâu đây
Nghe lòng lạc loài chơi vơi
Khi xưa, những ngày binh lửa chưa sang
Bếp hồng quây quần bên nhau
Nghe Mẹ kể chuyện đời xưa
Mẹ ơi con hứa con sẽ trở về
Dù cho, dù cho xuân đã đi qua
Dù cho én từng bầy bay về ngàn
Dẫu gì rồi con cũng về
Chỉ bên Mẹ là mùa xuân thôi

Mùa Xuân Của Mẹ ((của nhạc sĩ Nhật Ngân)

Nhưng éo le cũng không thiếu. Vì hoàn cảnh nên vợ chồng chia cách. Còn đâu những giây phút đầm ấm, gần gủi bên nhau ngày nào … để rồi giờ đây trong cảnh cô đơn, người vợ (người yêu) đã ôn lại hình ảnh đẹp thuở nào với chồng (với người tình) lúc đất nước còn an lành:

Nhớ xuân sang năm nào,
bên bếp lửa vui, ngồi đan áo cho anh
đôi mắt anh dịu buồn, nói anh sẽ về
khi máu sương thôi ngừng rơi.
Để giờ mình em và manh áo xám trên tay
Dù rằng ngoài kia vang tiếng pháo đón giao thừa
Bánh chưng rất xanh, với hoa rất vàng
mà ngỡ là giấc mơ thanh bình.

Đan Áo Mùa Xuân (Phạm Thế Mỹ)

Kẻ ở lại buồn đơn côi, luyến tiếc kỷ niệm. Người ra đi cũng chẳng khác gì hơn. Chúng ta hãy nghe những người lính VNCH đã để con tim mình rung động:

Tôi đến đơn vị lại đi, nhọc hơi đâu đếm mỏi tháng ngày
Khi cánh dù mang tin lại những cánh thư xinh hậu tuyến
Tôi ngẩn ngơ biết mùa Xuân sang ...
Ở đây không có hoa Mai, không có hoa Đào trang điểm trần ai
Những lá khô rơi suốt năm dài như trong một chiều lòng tôi biết yêu ai.

(Mùa Xuân Lá Khô của Ns Trần thiện Thanh)

Dầu vậy người trai Việt vẫn ngạo nghễ chấp nhận định mệnh đã dành riêng cho mình trong thời buổi loạn ly với sự kiêu hảnh đáng khâm phục:

Quê hương trong thời đau thương
Mùa Xuân chia ly là thường
bao nhiêu khổ nhục tủi hờn
Hát lên nhân loại, trả buồn cho đông

Mùa Xuân Trên Cao của Ns Trầm tử Thiêng

Họ, những người lính VNCH luôn làm tròn bổn phận làm trai, chấp nhận gian khổ. Tuy vậy người lính vẫn có vài phút giây để tâm hồn bay bỗng với những thương nhớ khó quên:

Đầu xuân năm đó anh ra đi
Mùa xuân này đến anh chưa về
Những hôm vừa xong phiên gác chiều
Ven rừng kín hoa mai vàng
Chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ

Đồn Vắng Đầu Xuân của Ns Trần Thiện Thanh

Xuân về, Tết đến là dịp để thân nhân, họ hàng hay những cặp tình nhân gặp gỡ, đoàn tụ nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, trước 30.4.1975 đã có biết bao nhiêu người lính thiếu hẳn diễm phúc này. Họ đã thi hành bổn phận người trai thời chiến để trấn giữ biên thùy, bảo vệ an ninh cho đồng bào ở hậu phương an lòng hưởng Tết. Dầu vậy, người lính Việt Nam Cộng Hoà chẳng buồn lòng, dù cho tâm trạng của họ lúc nào cũng nhớ nàng Xuân. Họ vẫn hy sinh, kiên trì nhất định:

Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
nhưng nếu con về bạn bè thương mong
bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
không lẻ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này vắng nhà
Mẹ thương con xin đợi ngày mai...

Xuân này con không về của NS Trịnh Lâm Ngân

Người lính VNCH rày đây mai đó, tung hoành khắp 4 vùng chiến thuật. Khi được nghỉ phép, trở về mong tìm gặp lại nàng Xuân, người yêu nhưng định mệnh nghiệt ngả làm họ chỉ còn biết tiếc thương mùa Xuân nào đã đi qua. Hãy nghe Nhạc sĩ Châu Kỳ bộc lộ:

Bước sông hồ như đắm như mơ
Trở về đây khi gió sang mùa
Mong ước tìm cô gái Xuân xưa, cho vơi bao niềm nhớ
Có ngờ đâu Xuân vắng người thơ

Đón Xuân này nhớ Xuân kia của Ns Châu Kỳ

Ước nguyện của mọi người: dân, quân, cán, chính là mong đất nước Việt Nam sớm thanh bình, không còn chinh chiến, một cuộc chiến công tâm mà nói là do Cs Bắc Việt chủ trương vì chúng luôn nuôi tham vọng chiếm trọn miền Nam, điều mà cộng sản đã đạt được vào cuối tháng tư 1975. Nhạc sĩ Minh Kỳ qua nhạc phẩm „Cánh Thiệp đầu Xuân“ đã diễn tả ước mơ thầm kín, cầu mong sao cho khói lửa đi qua nhanh trên đất mẹ để mọi người, nhất là người lính VNCH có cơ hội được về sống gần gia đình, bạn bè thân thuộc và hưởng một cái Tết đúng nghĩa:

Tôi chúc muôn người mọi đều ước muốn
Non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình
Để người anh yêu dấu quay về gia đình
Tìm vui bên lửa ấm
Tôi chúc yên lành người người khắp chốn
Mong gió đưa duyên cho cô gái Xuân thì
ước nguyện sao chóng thành rượu hồng xe duyên

Cánh Thiệp Đầu Xuân của Ns Minh Kỳ

Nhiều nhạc sĩ, nhất là những nhạc sĩ tâm lý chiến (một ngành mà Cs rất sợ nên trả thù không nương tay những chiến sĩ này sau tháng 4.1975), đã sáng tác những bài ca rất giá trị viết về đời lính và người lính VNCH, sáng tác nhạc Xuân, đặc biệt những bản nhạc viết về Tết và người lính VNCH, gắn liền với sự hy sinh cao cả của họ trước 30.4.1975 lo trấn thủ biên cương để bảo vệ cho người dân ở hậu phương được hưởng những mùa Xuân, tháng năm an bình. Còn rất nhiều bản nhạc khác đã được sáng tác với chủ đề này nhưng tôi chỉ trích dẫn vài bản nhạc „Xuân, viết về người lính VNCH“ tiêu biểu kê trên. Rất tiếc bài viết có giới hạn nên tôi không thể trích dẫn hết để trình bày cùng quí vị, xin thông cảm. Nhưng qua đó cũng đủ nói lên tình cảm, tình yêu quê hương nồng nàn và cuộc đời đầy gian khổ và sự hy sinh cao cả của người lính VNCH đối với người Việt tại miền Nam VN trước 30.04.1975, nói riêng…

Người miền Nam và những người lính VNCH tuy đã nằm xuống nhưng không hề uổng phí vì chính qua những mất mát đó đã cho chúng ta hiểu rằng sự tự do không phải tự nhiên mà có. Tự do đã được trả với một giá rất đắt, chẳng những bằng máu và nước mắt, đôi khi ngay cả bằng mạng sống. Điều này đã được minh chứng qua lịch sử của nhân loại và cũng nhờ sự hy sinh cao cả của những người lính VNCH mà người dân miền Nam Việt Nam đã được hưởng ít nhiều tự do trong hơn 20 năm, cho đến ngày NVN bị cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm.
Lê Hoàng Thanh - Nhạc góp nhặt từ In- tơ - nét (Internet)

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (3)
91 Pages«<4445464748>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.