Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

63 Pages«<4647484950>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#941 Posted : Wednesday, April 20, 2011 11:16:03 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)

UserPostedImage


Chúc tất cả các bạn cũng độc giả xa gần và Gia đình, hưởng mùa Phục Sinh đầm ấm, Thánh thiện.

HONG VU LAN NHI & Team LN
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 4/23/2011(UTC)
linhphuong  
#942 Posted : Friday, April 22, 2011 6:41:48 PM(UTC)
linhphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 2,187

Thanks: 300 times
Was thanked: 334 time(s) in 226 post(s)
Món Ăn Quê Nhà


- Bún Riêu Cua Đồng


"Người ta không cá thì tôm
Riêng em mắm cáy rau om qua ngày"

Ca dao của nước ta hay quá có phải không các bạn?

Chỉ trong một hai câu cũng đã có thể gói trọn cả tâm tình quê hương, hoặc có thể giới thiệu một vài món ăn độc đáo rồi. Gai muốn giới thiệu đến các bạn món ăn đậm đà hương vị quê hương - Bún riêu cua, Gai tin rằng hầu hết các bạn ít nhất cũng đã từng ăn món này vài lần qua các nhà bếp lừng danh : mẹ hoặc chị.

Khác với phở có vị béo ngậy và ngọt; khác với cháo có vị thanh thanh, man mát; bún riêu có vị ngọt đậm, nước dùng hơi dôn dốt chua, phảng phất mùi cua đồng. Món bún riêu là món ăn bình thường trong dân dã, nó xuất phát từ miền Bắc Việt Nam, tên gọi đủ của nó là Bún Riêu Cua. Món bún riêu cua ăn có vị ngọt thanh của cua đồng, pha chua chua của vị cà chua, khi lưỡi nếm vào nước bún sẽ có cảm giác re-fresh thanh thanh trôi từ từ xuống cổ...

Hơn nữa trong cua chứa chất calcium ăn vào tốt cho cơ thể , cà chua có chất anti-oxidant chống lão hóa, làm đẹp da, đậu hủ chứa nhiều chất soy protein rất tốt cho tiêu hoá.

Bún Riêu Cua làm không khó nhưng cần tỉ mỉ và công phu.

Ngày xưa, ở miền quê thì người ta thường làm riêu bằng cua đồng, thật tươi. Cua mua về phải ngâm, dùng đũa khoắng để xả nước bẩn, lột mai để riêng, bỏ vỏ yếm và miệng cua. Những bà bán bún riêu cua thường nói, gạch ở mai cua mới là vị chính tạo nên mùi vị rất riêng của bún riêu cua. Gạch cua khều ra phải phi hành mỡ cho thật thơm, vàng đều, đảo gạch cua nhanh tay sao cho không nát, tạo màu vàng sẫm mới đạt yêu cầu. Phần thân cua trước khi cho vào cối (hay nón sắt) giã nhuyễn phải xóc qua muối, dội nước lã cho sạch và để ráo nước, giã càng nhuyễn thì nước dùng càng có nhiều váng thịt cua, sau đó mới đổ nước lã vào lọc kỹ, gạn lấy nước trong, bỏ bã.
Còn ngày nay, có thể mua loại cua đồng đóng hộp sẵn. Có thể dùng loại: Frozen Crab With Shell Cooked (tên tiếng Việt trên vỏ hộp là Cua Đồng Xay, chữ màu đỏ). Loại này còn vỏ nên mình phải lược lại. Sau đây là cách lược của chị Măng

- Mang loại shell này về, bỏ trong nước, rồi quậy cho nó rã thịt ra. Làm hai lần, mỗi lần một nửa nước mình muốn nấu nha.
- Cho nó vô cái thau ngâm với tí muối, quậy đều, để lắng đọng chừng tí xíu, xong trút qua cái rổ không dày mà không thưa, lấy nước đầu. Rồi làm như vậy nước hai. Xong dùng cái rây lỗ nhỏ hơn tí, make sure không có vỏ lọt xuống nước, mà cũng không nhỏ quá đến nỗi nó không qua lọt. Lược lại lần hai. Như vậy là sạ ch sẽ rùi.
- Sau đó, dùng riêu cua trong lon thêm cho ngọt, trộn với trứng, rồi thả vô nồi nước cua quậy đều. Bắc lên lò nấu riu riu, cho đến khi gạch cua nổi lên mặt. Đừng nấu lửa lớn quá, sẽ bị cháy đít nồi.
(Còn nếu làm biếng thì có thể dùng loại thịt cua không vỏ hiệu: Oceanic Crab Meat Pure Water - tiếng Việt ghi là: Riêu Cua Đồng, của công ty EastWest - loại này ít ngon hơn loại có vỏ nhưng rất tiện.)
- Cà chua rửa sạch (nên chọn cà chua chín đỏ thì nấu ngon hơn là cà chua chưa chín, có thể dùng loại cà chua thường hay vine tomato chứ không cần phải dùng loại Roma tomato), bỏ hột và thái miếng như miếng cau ăn trầu.
- Hành rửa sạch, thái thật nhỏ là những gia vị không thể thiếu cho nồi riêu cua.
- Nồi nước cua đun lửa sao cho váng thịt cua nổi dần trên mặt nước, nêm vừa mắm muối, cho mẻ (tuỳ ý chứ không bắt buộc), cà chua vào đun sôi lăn tăn. Rắc hành hoa và rưới gạch cua trưng lên trên là bạn đã có nồi nước dùng thật ngon.
Để làm bún riêu cua ngon, cua phải được giã bằng tay, váng thịt cua mới mềm, mịn, và giữ được mùi vị đặc trưng. Nếu đem xay cua bằng máy xay, coi như nồi nước dùng bị giảm vị ngon đến 50%, váng thịt cua thường bị xốp, sạn.
- Bún rối được trần nóng bằng nước sôi lăn tăn, chan riêu cua ngập bún, ăn nóng cùng ớt bột trưng mỡ và rau diếp, rau kinh giới, va rau muống chẻ.

Yêu cầu đặc trưng nhất của bún riêu cua là váng thịt cua phải đông đặc, nổi màu vàng sẫm của gạch cua, nước dùng mang vị ngọt đậm, hơi chua, hơi cay.

Mặc dù là món ăn bình dân, nhưng bún riêu cua cũng được xếp vào thú "ẩm thực" của người bình dân. Bún riêu ở đâu ngon là người sành ăn không quản phải đi chục dãy phố tìm đến, cốt để thưởng thức vị ngọt của cua, vị chua của cà rồi đâm ghiền món bún này lúc nào không biết.

"Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon".

Tình cảm vợ chồng được diễn tả đậm đà dễ thương quá phải không các bạn

Người Việt viễn xứ chúng ta thường sống trong điều kiện thiếu thốn mọi vật liệu để có thể nấu được một món ăn ngon như ở quê nhà , tuy vậy, trong cái khó ló cái khôn , các món ăn được chế biến và phong phú hóa một cách thật tài tình

Hạt Nắng của chúng ta cũng không thiếu những đầu bếp lành nghề , phái nam cũng như phái nữ, các đầu bếp này trong điều kiện khó khăn như vậy nhưng họ cũng có thể nấu ra một món bún riêu không kém phần hấp dẫn.

Trên Net

Edited by user Friday, April 22, 2011 6:42:51 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 2 users thanked linhphuong for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 4/23/2011(UTC), lanthanh on 4/25/2011(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#943 Posted : Saturday, April 23, 2011 2:50:20 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2115 time(s) in 1487 post(s)

Đờn ca tài tử Nam Bộ


Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2011-04-23

Đờn ca tài tử Nam Bộ đã xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nguồn gốc bắt đầu từ nhạc Lễ của cung đình Huế.

UserPostedImage
Photo: RFA
Ban nhạc Đờn ca tài tử

Lịch sử phát triển

Nó theo chân những công thần nhà Nguyễn lưu lạc vào Nam và được nhào nặn lại theo cốt cách của người phương Nam vốn ưa chuộng đời sống sông nước giang hồ. Âm hưởng Quảng Nam Quảng Ngãi cũng dần dà mất dần nhường lại cho một làn điệu đặc thù phương Nam sau nhiều năm sống chung với người lao động và cả tài tử văn nhân miền Nam của nhiều thế hệ.
Đờn ca tài tử được diễn tấu bởi 4 loại đờn là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và độc huyền cầm, sau này khi vọng cổ xuất hiện cây đàn tranh được thay thế bằng cây guitar có phím sâu. Theo nhiều tài liệu còn lại cho thấy thuở mới xuất hiện nó được trình diễn trong những nhóm nhỏ tại các dịp lễ cưới hỏi, hay đám giỗ, đám thôi nôi hay sau các vụ thu hoạch khi mọi người rãnh rổi việc nông nhàn. Những đêm trăng sáng, nam nữ thanh niên tụ nhau lại nghe và tham gia nếu biết hát. Mọi người say sưa với những cuộc chơi như thế cho đến khi mỏi mệt thường thì vào lúc nửa đêm về sáng.
Tuy nhiên, đờn ca tài tử mất dần khi chiến tranh tràn vào miền Nam và nhất là khi các phương tiện truyền thông ngày một trở nên tân tiến. Một thời gian rất lâu loại hình này không còn xuất hiện như xưa mà chỉ rải rác trong các khu vực xa hẳn thị tứ nơi người dân không còn gì giải trí ngoài cây đờn guitar phím lõm của mình.

Kết hợp với du lịch sinh thái

Vài năm gần đây báo chí rộn lên những bài viết về phong trào đờn ca tài tử kết hợp với du lịch sinh thái. Loại hình nghệ thuật này đã biến mất rất lâu nay xuất hiện trở lại khiến nhiều người có hiểu biết lịch sử phát triển của nó không khỏi vui mừng và hy vọng cho loại hình nghệ thuật dân dã phát xuất từ vùng đất miền Nam này có cơ sống lại.
Khách du lịch sinh thái thường là người ngoại quốc và những nhóm nhỏ từ mười lăm tới hai mươi người. Một nhóm đờn ca tài tử thường là 5 người, hai ca sĩ và ba nhạc sĩ. Buổi trình diễn của họ kéo dài khoảng nửa giờ và sau đó khách lại lên ghe đi tham quan những nơi khác.
Bên dưới những bóng dừa rợp mát của Bến Tre hay Mỹ Tho, Vĩnh Long, ... khách lịch sự ngồi yên lặng nghe tiếng đờn dạo lên một điệu lý, điệu vắn trước khi bắt vào chương trình. Không loa, không micro những nghệ sĩ trình diễn cố hết sức chuyển chút âm thanh đến người tứ xứ mà ngôn ngữ của họ không cho phép đồng cảm một chút gì trong những luyến láy chữ nghĩa Việt Nam.
Một nghệ sĩ trong nhóm đờn ca tài tử này, anh Chín Nguyên người vào câu vọng cổ vừa rồi rất ngọt cho chúng tôi biết:
“Khách du lịch hiện nay thì có người hướng dẫn truyền đạt lại. Mình trình diễn bài gì hay đờn bài gì thì hướng dẫn sẽ dịch lại. Theo mình đoán thì khách cũng hài lòng vì có hướng dẫn dịch ra cho họ nghe liền. Cũng như bây giờ mình lên hát điệu gì đó nói về lịch sử của Việt Nam hay nói về tình yêu quê hương đất nước thì hướng dẫn sẽ phiên dịch nội dung cho khách nghe. Tại vì khách đi du lịch quốc tế thường thì có một hoặc hai hướng dẫn.”
Nhạc sĩ Tám Long, người chơi guitar trong ban cho biết thêm:
“Nó khác hơn như tụi tui đây phục vụ theo khách như anh đã biết rồi đó. Phục vụ theo khách thì mình chơi bài bản thì nó cũng hổng đa hệ. Tại vì khách nước ngoài người ta không hiểu tiếng Việt của mình thành ra tụi tôi chơi mấy bản ngắn ngắn, điệu lý vậy thôi.”
Người cố cựu còn nhớ thời khẩn hoang lập ấp ở Nam Bộ có hai nhóm đờn ca tài tử nổi tiếng là nhóm ông Kỳ Quờn và nhóm ông Ba Đợi. Ông Kỳ Quờn thì ở miền Tây còn nhóm ông Ba Đợi thì thuộc nhóm miền Đông. Hai bên đều có công phát triển bộ môn đờn ca tài tử bằng cách cải biên các bản nhạc gốc từ Cung đình Huế để phù hợp với tâm tình và con người miền Nam. Sông nước bao la thích hợp với những điệu hò, điệu lý hơn là nguyên mẫu các bài có gốc từ xứ Quảng...

Còn bài bản mà các nhóm đờn ca tài tử hiện nay đang dùng để hát phục vụ khách du lịch thì sao, anh Chín Nguyên cho biết:
“Đờn thì cũng học thầy hay ca cũng phải học thầy chỉ ba cái rồi mình có năng khiếu rồi cộng thêm. Bài ca nói chung là thường thì do soạn giả chứ không có tự biên ra. Những điệu nào mình am hiểu về ca đờn thì có thể theo để viết cũng được nhưng mà ít thôi chứ không nhiều.”
Nhạc sĩ Tám Long giải thích làm cách nào mà khách nước ngoài đồng cảm được với những bản nhạc mà nhóm cố gắng chuyển tải, anh nói:
“Có số anh em hướng dẫn người ta rành người ta dịch ra. Thí dụ tôi ca một bản quê hương thì nội dung của bài ca quê hương đó được hướng dẫn viên dịch ra quê hương là như thế nào! Chứ còn khách nước ngoài nói chung mình ca tiếng Việt làm sao người ta biết? Người ta chỉ biết dụng cụ đờn. Thí dụ cây đờn kìm, cây đờn cò, cây đờn guitar của mình tại sao móc phím như vậy. Rồi mình phải nhấn nhá như thế nào đó.
Tụi tôi ở đây nói thiệt với anh giờ lớn tuổi rồi mà ở nhà thì không có công việc gì làm thành thử ra vốn có biết đờn nên đi làm để có đồng ra đồng vô để đổ xăng đi chơi với bạn bè. Nói chung làm thì lương hỏng có..mà cũng hỏng có cơm trưa nữa.”

Đã mai một

Tình trạng nghèo nàn từ bài hát tới người thưởng thức khiến nhiều người để ý tới với loại hình nghệ thuật dân gian này không khỏi lo ngại. Giáo sư Trần Văn Khê, người bỏ cả đời để nghiên cứu và giới thiệu nền dân nhạc Việt Nam ra khắp thế giới, khi chúng tôi hỏi thăm sự hiểu biết của ông về đờn ca tài tử xưa và nay có khác nhau nhiều lắm không, ông nói:
“Khác nhiều lắm! Cái tinh thần hồi xưa hễ vui thì đờn chơi còn không vui thì để một chỉ hay một lượng vàng cũng không đờn! Còn bây giờ khác! Bây giờ hễ bỏ tiền ra thì nó đờn. Hồi xưa chơi tài tử nghĩa là chơi không phải chuyên nghiệp, tức là vui thì chơi không vui thì thôi. Bây giờ không còn là tài tử nữa mà trở thành bán chuyên nghiệp và chuyên nghiệp.
Thành ra đi đờn trên TV cũng phải trả tiền, rồi du lịch cũng phải trả tiền thì cái đó là lẽ đương nhiên bởi vì lấy tiền du lịch thì phải trả tiền cho họ chứ họ làm cho du lịch mà không trả tiền thì đâu có được. Thành ra cái tinh thần không còn nữa và đờn cho du lịch thì họ đâu biết gì, miễn cho có tiếng vậy thôi.
Cái chơi hồi xưa là cái chơi do mỗi người có tùy hứng, có sáng tác. Mỗi người làm cái chữ cho hay. Đờn thiệt hay để làng của mình hơn cái làng bên kia, hơn trong nghệ thuật đó. Chơi với nhau cho vui thì nó mới có tiến bộ. Ngày xưa có chất lượng ngày hôm nay có số lượng mà không có chất lượng.”
Cô Kim Nguyên, một ca sĩ nghiệp dư gia nhập vào nhóm như một công việc có thu nhập và cô cảm thấy rất thích nghề này mặc dù thu nhập không đủ để trang trải cuộc sống ngày một đắt đỏ. Cô kể sinh hoạt chính của mình khi tham gia nhóm đờn ca tài tử:

“Em hát nếu mà gom lại thì chắc khoảng hai năm tại vì bị gián đoạn. Lúc trước em nghỉ đi bán ở cửa hàng trên thành phố rồi mới về làm lại cả năm nay. Lúc trước xin vô làm em không biết bài gì hết. Bạn bè nó chép sao đó em học thuộc rồi xuống điểm làm rồi hát thôi chứ ở nhà không có tập thêm. Lúc trước chỉ hát được mấy bản lý bản vắn nhỏ thôi rồi sau này mới học thêm. Em làm suốt luôn, không nghỉ. Thu nhập của em bình quân khoảng ba triệu một tháng.”
Chúng tôi tò mò hỏi cô có bao giờ thấy khách nghe hát có cử chỉ chê bai một cách lộ liễu hay không. cô cho biết:
“Em làm đa số là khách Tây nên không gặp trường hợp này.”
Còn họ có khen? Không lẽ cứ ngồi im xem từ đầu tới cuối không chê không khen gì hết hay sao?
“Có, nhưng khi họ khen thì chỉ diễn tả mà thôi chứ hỏng biết khen gì chỉ hiểu thôi. Khi họ nói “good” thì mình biết là tốt mà hỏng biết tốt về cái gì vì họ nói tiếng Anh nên không biết!”
Nhạc sĩ Tám Long cho biết những nhận xét của mình về lớp trẻ hiện nay khi phong trào đờn ca tài tử tự phát trở lại:
“Bây giờ mình chơi nó đa dạng hơn. Cái phong trào đờn ca tài tử bây giờ nó mở rộng, hầu như là từ thành thị đến nông thôn rồi xóm ruộng vườn ….Thí dụ như bây giờ lâu lâu mình về dưới quê rồi mấy anh em mới gom lại rồi ngồi trải nệm trải chiếu làm bậy một xị rồi ngồi đờn ca chơi vậy đó…
Hồi thời mình còn nhỏ năm 68 tui mới mười mấy tuổi thôi rồi chiều lại thấy mấy anh lính nghĩa quân mấy ảnh đi học đờn với nhau rồi mình học. Lúc đó tôi mới học Đệ Thất, mình nghe rồi mình khoái….nghe rồi tự học thôi chớ nói chung tôi chưa học thầy nào hết.
Hồi xưa thì ở một huyện, một xã chỉ có một vài người biết đờn ca chơi thôi còn bây giờ mấy em mình nó thông minh lắm. Thí dụ như nó học khoảng vài ba tháng thì được chút đỉnh rồi. Hồi xưa tôi học 6 câu vọng cổ mà học cả năm trời vậy chớ…”


Dưới cặp mắt của một người cả đời nghiên cứu âm nhạc dân gian, GS Trần Văn Khê khẳng định tinh thần của đờn ca tài tử không còn nữa, hay ít ra nó đã mai một dần kể từ khi những chiếc radio đầu tiên phát sóng các bài vọng cổ đầu tiên.
“Tinh thần tài tử nó mất từ khi có radio và khi đài phát thanh kêu vô đờn thì bắt đầu mất rồi. Từ khi có du lịch thì càng mất nữa. Nhưng điều đó không thể nào mình tránh khỏi được, bởi vì bất cứ nghệ thuật nào thì nó không phải bất di bất dịch, nó cũng phải thay đổi theo môi trường, phải thay đổi theo quan điểm thẩm mỹ, theo thị hiếu của quần chúng thành ra cũng có nhiều chuyện lắm…
Nhưng mình phải làm sao giữ cho nó còn cái tinh thần đó để ít nhất cũng còn một số người chơi. Người nào làm ra tiền thì cứ làm ra tiền. Nhưng mà bây giờ phần nhiều sống trong thời đại mà đem tiền vô thì người ta thích, kể cả chính quyền không bao giờ làm chuyện gì về văn hóa. Bởi vì làm văn hóa thì phải bỏ tiền ra mà không cần thu tiền vô, chứ còn kinh doanh thì bỏ tiền ra phải có tiền vô! Bây giờ người ta chỉ sống trong thời đại kinh doanh mà không còn sống trong thời đại văn hóa nữa.”
Chúng tôi xin mượn lời của Giáo Sư Trần Văn Khê để kết thúc bài này. Với niềm hy vọng mong manh là loại hình đờn ca tài tử này sẽ giúp cho nhiều người kiếm sống, tuy vất vả và khá nhọc nhằn nhưng dù sao thì việc làm của họ cũng giới thiệu được phần nào một nét đẹp văn hóa Việt Nam, văn hóa dân gian Nam Bộ.
thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
lanthanh on 4/25/2011(UTC)
langthang09  
#944 Posted : Sunday, April 24, 2011 11:55:01 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,980

Thanks: 849 times
Was thanked: 1045 time(s) in 468 post(s)

UserPostedImage


KINH NGHIỆM SỐNG CỦA DÂN GIAN QUA VĂN CHƯƠNG BÌNH DÂN


Đã nhiều tháng qua, tôi bị hấp dẫn bởi những tiếng nổ của các kho đạn, những chuyện kỳ cục, những điều "trồi", "nổi" quanh mình nen trong một chừng mực nào đó, tôi đã quên bẵng đi những vần ca dao mà bà nhà Bắc Kỳ của tôi đã chép ra từ trong trí nhớ của bả, để trên bàn viết mỗi ngày như một sự nhắc nhở tôi đừng quên chuyện ngày xưa. Càng hít thở không khí trên cõi đời phiền muộn, đầy dẫy oái ăm này càng lâu chừng nào, người ta càng nhớ và sống với quá khứ nhiều chừng nấy. Vui hay buồn gì, ai trong chúng ta cũng đều có quá khứ và sống với nó ít hay nhiều thì tùy thuộc tâm trạng mỗi người. Thế nhưng, cái "chuyện xưa" mà tôi đề cập dưới đây là chuyện chung, không thuộc về ai cả. Và tôi cũng xin tầm phào tào lao một chút về những kinh nghiệm sống trong dân gian qua những vần ca dao, xem người xưa đã suy nghĩ, và sinh hoạt ra sao, âu cũng là một điều "vệ sinh và bổ". Bây giờ, xin mời bạn đọc những vần ca dao sau:

Rau răm ngắt ngọn lại trồng
Em thương anh lắm sợ lòng chị ghen.
Anh về bảo chị đừng ghen,
Để em thấp thoáng ánh đèn cho vui.

Bạn cũng như tôi, có lẽ đều thuộc "nòi tình"? Bạn nghĩ gì và có thấy vừa thương vừa tội nghiệp cho người con gái xưng "em" ấy không? Thương và tội nghiệp cho nàng vì nàng biết phận mình, không có cái chuyện "đến sau" mà cứ ghen ngược, đòi chiếm cứ làm của riêng như chúng ta thường thấy xảy ra trong đời sống hàng ngày. Nàng có đòi hỏi điều gì quá đáng đâu, chỉ xin "thấp thoáng ánh đèn" cho vui thôi mà. Dễ thương biết chừng nào! Đó là nói về nàng, còn người viết ra mấy câu trên thì tôi tin chắc cũng thuộc thành phần "Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu" (Chu Mạnh Trinh). Đó là một người ham thích của lạ, muốn đèo bòng chạy một lúc vài ba "máy" cho đời thêm vui, và thêm...rắc rối. Thật ra, trong 10 anh "đần ông" (không phải đàn ông) thì hết 11 anh có máu loạng quạng, léng phéng không ít thì nhiều. Quý vị nam nhi chi chí nào tự xưng mình là người mẫu mực, đạo đức, không hề phiêu lưu, mơ tưởng đến những "vùng đất xa lạ" thì người ấy có thể được sánh ngang với hàng "thánh sống" rồi. Đa phần còn lại, trong đó có tôi, thuộc loại phàm phu tục tử, một thứ "đần ông" chính hiệu ngất ngư con tàu đi. Cho nên, xin có lời bái phục! Phải bái phục các vị thánh sống đó là bởi vì, chính các cụ đạo đức cùng mình ngày xưa, đã không ngần ngại mà thốt lên rằng:

Thế gian ba sự không chừa,
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ.

Một nàng thì rất dịu dàng, e ấp, chịu phần lép vế chỉ xin "thấp thoáng ánh đèn" thôi, nàng kia thì can đảm hơn, chận anh giữa đường, níu áo anh lại để than thở với anh vài lời:

Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài lời.
Đi đâu vội thế anh ơi,
Công việc đã có chị tôi ở nhà.

Và một nàng khác, tuy cũng thương anh nhưng rất thực tế, nàng cảnh giác tối đa chỉ sợ bà cả vác dao chém cho vài nhát thì còn chi là đời nữa:

Gặp anh em cũng muốn chào
Sợ rằng chị cả dắt dao trong người.

Tục ngữ có câu "cái nết đánh chết cái đẹp", nghĩa là coi chuyện nhan sắc của người phụ nữ không quan trọng bằng tính nết. Tục ngữ nói vậy thì ta cứ biết như vậy, nhưng cái hấp dẫn đầu tiên của người phụ nữ đối với các đấng nam nhi là cái gì? Có phải nhan sắc của người phụ nữ ấy không? Tôi không biết người yêu của Chí Phèo trong tiểu thuyết của Nam Cao xấu xí ra sao nhưng các cụ ngày xưa vẫn một mực cương quyết:

Chẳng thà chịu lạnh nằm không,
Còn hơn có vợ lẹm cằm, răng hô.

Cằm lẹm, răng hô thì các cụ chê đã đành rồi mà ngay cả đến cô nàng có cái mặt mo phinh phinh, chân lại đi vòng kiền chữ bát thì có cho không, các cụ cũng chẳng thèm:

Người mà phinh phính mặt mo,
Chân đi chữ bát, có cho chẳng thèm

Ngược lại, người con gái có đôi mắt lá răm, chân mày lá liễu thì đúng là của quý, đáng trăm quan tiền:

Người mà con mắt lá răm,
Chân mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Đến đây các bạn có thể thắc mắc: thế cái loại nhan sắc nào của các nàng khiến cá cụ nhìn rồi muốn chửi(?):

Mặt má miếng bầu, nhìn lâu muốn chửi
Mặt chữ điền, tiền rưỡi cũng mua.

Các cụ có được những hiểu biết về cách ăn ở, đối xử của người chung quanh là do quan sát, tích lũy kinh nghiệm rồi đói chiếu, so sánh để có một nhận định chung. Theo đó, người phụ nữ nào mà đáy thắt lưng ong thì khéo chiều chồng và khéo nuôi con. Còn "mệ" nào béo trục béo tròn thì ăn vụng như mèo lại hay rầy rà con cái. Đúng được bao nhiêu phần trăm thì khó mà khẳng định, có điều những hình ảnh đó đã truyền lại cho con cháu suốt bao thế hệ và đã ở lại mãi mãi trong văn chương bình dân:

Người mà đáy thắt lưng ong,
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con.
Những người béo trục béo tròn,
Ăn vụng như chớp, cấu con cả ngày.

Cũng qua kinh nghiệm trên một số người mà các cụ có nhận xét:

Trai Nhâm Đinh Quý thì tài,
Gái Nhâm Đinh Quý phải hai lần đò.

Hai lần đò là trong cuộc đời của người phụ nữ có cái tuổi Nhâm Đinh Quý này sẽ có tới hai đời chồng. Ngày xưa, ít có vụ ly dị mà chỉ khi chồng chết rồi người đàn bà mới tái giá, đi thêm một bước nữa. Còn thời nay, nhất là ở trên xứ Mỹ tự do một cách kỳ cục này thì không hẳn là do chồng chết mà là do không còn "hợp" nhau nữa nên "anh đường anh, tôi đường tôi" đấy thôi. Không nói tới chuyện tiền bạc, dốp diếc làm chi, chỉ cần chàng ngủ ngáy hơi lớn tiếng là nàng vác đơn ra tòa ca bài "hai giòng sông ly biệt" rồi. (Nhân nói về một người đàn bà đi thêm bước nữa gọi là tái giá, tôi thấy Tiếng Việt ta thật hay và phong phú. Đàn ông vợ chết, lấy vợ khác gọi là tục huyền, còn đàn bà lấy chồng khác gọi là tái giá. Tôi đã lẩn thẩn nghĩ rằng trong trường hợp các bà, sao ta không gọi là "tục tỉu", có phải vui hơn không? Nghĩa là: đàn ông, vợ chết lấy vợ khác; gọi là tục huyền. Đàn bà, chồng chết, lấy chồng khác: gọi là tục tỉu. Cũng đều bắt đầu bằng chữ "tục" cả. Tái nạm, tái gầu vào đây làm chi cho thêm phiền toái!)

Trong khi đó, về cánh đàn ông, các cụ không e ngại gì mà tuyên bố thẳng thừng rằng:

Sông bao nhiêu nước cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa vừa lòng

Hoặc:

Trong nhà có sẵn yến ngâm,
Lại còn muốn những nhung sâm nước ngoài.

Và đây là một chàng tuy đã có vợ nhưng không lúc nào quên bồ nhí của mình:

Con quạ bay xa, bay qua vườn hoa kêu chua chát,
Con nhạn đậu lầu vàng nghỉ mát kêu sương
Nhạn kêu tiếng nhạn đau thương,
Đêm nằm nhớ vợ, ngày thường nhớ em.

Chàng có vợ bé hoặc bồ nhí hay cho rằng vợ người khác đẹp hơn vợ mình thì cũng là chuyện thường tình nhưng chàng sẽ là một tên "đại cà chớn" nếu có tà ý đem lòng thương yêu vợ bạn. Chàng cũng hiểu như thế là bất nhơn, là không đạo đức:

Ai xui ai khiến bất nhơn
Tui thấy vợ bạn tui thương hơn vợ nhà.

Còn chàng có thương vợ người khác mà không được thì thôi chứ chẳng lẽ ăn vạ hay tự tử(?):

Buồn tình chẳng muốn nói cười,
Bởi thương vợ người không được thì thôi.

Thương không được thì thôi chứ không như mấy anh chàng có máu "dê" đầy mình và gan góc, chết thì chịu chứ quyết theo đuổi nàng tới cùng:

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết tôi, tôi chịu, buông nàng không buông.

Nếu chàng gan dạ và can đảm cùng mình như thế thì hẳn chàng có nhiều lá gan và không chỉ chàng dành cho vợ mà còn cho người khác nữa.:

Đàn ông năm bảy lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.

Đó chỉ mới là "toan tính" thôi chứ chưa chắc đã dám hành động rõ ràng dứt khoát như trường hợp của phe tóc dài dưới đây:

Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều.

Như thế, cuộc sống lứa đôi của cặp vợ chồng trên đây không có gì bảo đảm sẽ tồn tại với thời gian, không thể nào ăn đời ở kiếp đến răng long đầu bạc được. Người chồng ở đây là một người chồng đau khổ. anh đau khổ là vì lỗi là do chính anh chứ không phải nguyên do nào khác. Vợ anh không thương anh mà đem lòng thương trai là do anh đần độn quá sức:

Một là em lấy chồng quan,
Hai là chồng lính, ba là chồng dân
Nhưng em không chịu lấy chồng đần,
Về nhà cha mẹ mắng, ra đường chị em khinh.

Cái quan niệm chọn chồng của người đàn bà ở trên thật minh bạch. Lấy ai cũng được, sang hèn gì cũng xong nhưng không thể đi nâng khăn sửa túi cho một anh ngu đần, ăn nói vụng về luôn luôn gây phật lòng người khác. Có một câu chuyện kể rất tiếu lâm về một anh chồng đần độn kiểu này như sau:

"Một anh chồng trong một gia đình nọ, vừa ngu vừa vụng về. Hễ mở miệng ra là đem bực mình đến cho người khác. Vì thế, trong mọi giao tiếp, bà vợ phải cấm chỉ anh ta, không nói gì hết. Một hôm, hai vợ chồng được mời dự bữa tiệc đầy tháng con của một người bạn. Bà vợ dặn chồng là suốt bữa tiệc phải im lặng hoàn toàn. Anh chồng nghe lời. Đến dự, mặc cho thiên hạ nói gì thì nói, suốt buổi anh thủ khẩu như bình. Đến khi tiệc tan, mọi người chia tay nhau ra về, mỗi người đều nói một lời chúc tụng nào đó cho cháu bé. Anh chồng buộc lời phải phát ngôn. Anh bèn nói với chủ nhà, là mẹ của đứa trẻ sơ sinh: Chị thấy đó, từ đầu tiệc đến giờ tôi hoàn toàn không có nói điều chi cả. Lỡ ngày mai cháu bé có chết, chị đừng có đổ thừa là tại tôi đấy nhá!"

Cánh đàn ông chúng ta thường tự nhận mình là "đần ông" để vuốt ve, thỏa mãn tự ái của các bà chứ nếu các bà thật sự chê chúng ta là ngốc, là đần thì ta đành phải xách xe không chạy mút chỉ cả tha thôi:

Một đêm quân tử nằm kề,
Còn hơn thằng ngốc vỗ về quanh năm.

Hay:

Một ngày dựa mạn thuyền rồng
Còn hơn chín tháng nằm trong thuyền chài

Từ Đông sang Tây, một ngàn năm trước hay hay một triệu năm sau, bất cứ ở đâu, thời nào cũng có những người đàn bà không đoan chính, tự do xả láng sáng về sớm. Có chồng thì càng dễ..."lăng ba vị bộ", vì đã có người đứng mũi chịu sào rồi mà.

Có chồng càng dễ chơi ngang,
Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai?

Và còn ra cái điều "thách thức" nữa các cụ ạ:

Con tôi đi kiếm về đây,
Có cho nó gọi bằng thầy thì cho.

Không những thách thức mà còn trân tráo, đanh đá, trơ mặt ngồi xổm trên luân thường đạo lý mới là kinh hãi. Trong đời, bạn đã từng gặp loại người đàn bà này chưa:

Lẳng lơ cũng chẳng có mòn ,
Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.

Trường hợp nàng gặp phải một anh chàng ba phải, phổi bò, không quan tâm thắc mắc gì đời sống của nàng, ra cái điều rộng lượng thì nàng cũng có quyền rong chơi với tháng ngày chứ:

Em đây là gái năm con,
Chồng em rộng lượng, em còn chơi Xuân.

Thà là như thế còn hơn cái cảnh đêm nay để cửa chờ chồng, đêm mai thì chờ ông láng giềng:

Đêm qua để cửa chờ chồng
Đêm nay để cửa chờ ông láng giềng.

Ngày xưa, khi người chồng qua đời, người vợ để tang 3 năm, sau đó có quyền lấy chồng khác. Tuy thế, cũng không ít trường hợp chưa mãn tang, người đàn bà đã vội có người đàn ông khác:

Mả chồng còn đó trơ trơ,
Đã cùng người khác đợi chờ năm canh.

Bên cạnh đó cũng có những người vợ rất đàng hoàng, đoan chính, nhỏ nhẹ, thưa với người đi theo tán tỉnh rằng "cám ơn những tình cảm anh dành cho tui nhưng xin anh đừng đến nhà tui nữa kẻo chồng tui ghen":

Có lòng thì tạ ơn lòng
Anh đừng đến nữa mà chồng em ghen.

Trong đời sống hàng ngay, vợ chồng chia bùi xẻ ngọt với nhau. Không ai có thể săn sóc lo lắng cho nhau tận tình như vợ với chồng. Thử hình dung ra cảnh người chồng đau nằm liệt giường, người vợ lo thuốc thang, chân thấp chân cao bưng thuốc đến cho chồng uống, vừa đi vừa vái trời cho chồng mạnh khỏe để cùng ăn đời ở kiếp...Làm sao ta không thương hết mình những người vợ như thế được:

Cầm con dao sắc cắt đôi củ gừng,
Bỏ vô nồi đất, sắc lại vài phân.
Cái tay em bưng, cái chân em bước
Mái tóc em xước, cái lược em rơi
Vừa đi vừa vái ông trời
Cho chồng em mạnh, ở đời với em.

Nếu người đàn bà thương chồng nhiều đến thế thì hẳn nhiên là cũng thương con ngập lòng. Nàng bương chải đi làm nuôi con, mặc cho áo rách sờn vai:

Em đi làm mướn nuôi ai,
Cho áo em rách, cho vai em mòn.
Em đi làm mướn nuôi con,
Áo rách mặc áo, vai sờn mặc vai.

Một vài hình ảnh khác cho thấy sự buôn tần bán tảo và bương chải ngược xuôi, đầu tắt mặt tối để lo sinh kế gia đình của người đàn bà đến nỗi vú xẹp, lưng nàng teo:

Một ngày ba bận trèo đèo,
Vì ai vú xẹp, lưng teo hỡi chàng?

Nhìn chung, qua những vần ca dao, chúng ta có thể hình dung và hiểu được những suy nghĩ cùng tâm tình và cách sống của dân gian. Cũng qua ca dao, người xưa đã để lại cho chúng ta một kho tàng về kinh nghiệm sống trên mọi lãnh vực, trong đó đáng kể nhất là kinh nghiệm nói về bản chất không thể thay đổi ở một số người, hay nói nôm na là khi đã thành "tật" rồi thì khó mà chữa được:

Trời nắng rồi trời lại mưa,
Tính nào tật nấy có chừa được đâu.

HUỲNH VĂN PHÚ

thanks 3 users thanked langthang09 for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 4/25/2011(UTC), Hoàng Nam on 5/14/2011(UTC), Hà Phương Hoài on 5/15/2011(UTC)
hongvulannhi  
#945 Posted : Monday, April 25, 2011 11:12:12 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)
Văn hóa làng


UserPostedImage


Dân cư Thái Bình phần lớn sống ở nông thôn, quây quần trong các làng - một đơn vị kinh tế tương đối độc lập bởi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu mang nặng tính tự cung tự cấp.

Nền văn hóa Thái Bình mang đậm chất văn hóa làng, có nguồn gốc và cơ sở là văn hóa làng.

Dòng họ - thành tố trực tiếp cấu thành văn hoá làng

Hầu hết các làng ở Thái Bình đều có rất nhiều dòng họ cùng sinh sống, thường từ 10 đến 20 dòng họ, phổ biến là họ Nguyễn, Lê, Trần,... có những dòng họ có bề dầy hàng ngàn năm như họ Bùi ở Tân Bình - Vũ Thư, từ đường họ thờ Bùi Quang Dũng từ thời Đinh (thế kỷ X). Mỗi dòng họ có người hiển đạt thường gắn liền với danh tiếng và niềm tự hào của cả làng, nhiều khi làng được biết đến qua những nhân vật lịch sử của một dòng họ cụ thể, như Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ quê ở làng Hải Triều thì gọi là Trạng Hải Triều. Về tên gọi, có khoảng 100 tên gọi các dòng họ, nhưng số chi phái thì rất nhiều.

Trong làng thường có một vài họ có số lượng vượt trội so với các họ còn lại, hôn nhân thường theo xu hướng lấy người trong làng khác họ, quan hệ "họ hàng" giao thoa với nhau chằng chịt; mối quan hệ giữa dòng họ này với dòng họ kia thường được xem xét bằng quan hệ đan xen từ những thành viên của bố họ, do vậy những mâu thuẫn nảy sinh thường được giải quyết nội bộ. Quan hệ giữa người làng với nhau trong các mối quan hệ cộng đồng, cộng cảm, cộng mệnh đã tạo nên nguyên lý cố kết bền chặt theo tâm thức "một giọt máu đào hơn ao nước lã". Cũng chính vì làng nhiều họ nên tính gia trưởng, cục bộ, bè phái ở Thái Bình vốn có từ xa xưa vẫn tồn tại đến nay nhưng trong chừng mực nào đó tính dân chủ làng xã thuở trước được hình thành và duy trì trong cơ chế làng nhiều họ.

Hương ước - một công cụ duy trì và điều chỉnh sự phát triển của văn hoá làng

Hương ước là những lệ làng thành văn, cũng có khi gọi là khoán ước, hương khoán hay hương biên. ở mỗi làng, trước đây thường tồn tại các qui ước sau:

Tộc ước: là những qui ước của một họ được ghi trong gia phả hoặc truyền miệng quy ước về đảm bảo trật tự kỷ cương, truyền thống dòng họ, nghi thức tế lễ tổ tiên.

Giáp ước: là những qui định của hàng giáp với các thành viên trong tế lễ, hiếu hỉ hay trong việc thực hiện nghĩa vụ của hàng giáp đối với làng nước.

Hương ước: có loại được soạn thành văn bản, có loại bất thành văn; có loại gồm đầy đủ các qui định về mọi lĩnh vực như cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng, về văn hoá giáo dục, tôn giáo tín ngưỡng, trật tự an ninh... được xem như một bộ luật tục của làng; nhưng có dạng chỉ qui định về một vấn đề cụ thể như sử dụng công điền, tế tự,... Hương ước thành văn có loại được viết trên giấy hàng năm đọc trước làng để duy trì, bổ sung, sửa đổi; có loại được khắc vào bia đá hoặc trên chuông đồng để lưu truyền (như thể lệ cúng giỗ, ruộng công...). Dù duy trì ở dạng nào thì hương ước cũng được coi là sản phẩm văn hoá của làng, là một thứ luật tục buộc mọi thành viên trong làng phải thực hiện.

Chợ

UserPostedImage

Một góc chợ quê


Hệ thống chợ làng ở Thái Bình hình thành rất sớm. Chợ là nơi không chỉ để mua bán, trao đổi hàng hoá mà còn là nơi giao lưu văn hoá giữa mọi người trong làng, với người làng khác, giữa vùng này với vùng khác. Chợ thường được đặt ở trung tâm làng, tên chợ thường trùng với tên làng.

Các chợ làng liên kết với nhau thành hệ thống, trong vòng bán kính từ 3 đến 5 km ngày nào cũng có chợ phiên của làng để những người buôn thúng bán mẹt có thể quanh năm chạy chợ.

Loại chợ nhỏ gọi là chợ Hôm, chợ Mai, mỗi ngày đều họp khoảng vài tiếng đồng hồ, người đi chợ ít, hàng hoá không nhiều, thường hình thành ở những làng ven biển làm nghề chài lưới. ở những làng lớn, chợ thường họp theo phiên vào những ngày cố định trong tháng, mỗi tháng có khoảng 6-12 phiên chợ. Các làng có chợ tự quyết định thời gian họp sao cho không trùng với ngày họp chợ của các làng lân cận.

Chợ lớn có tường xây, mái ngói bán cả gia súc gia cầm như trâu, bò, lợn, gà; còn chợ nhỏ thường mái rạ, lều tranh, ngày phiên cũng có cả gia cầm và hàng xén. Mặt hàng truyền thống của mỗi chợ gắn với sản xuất và nghề thủ công của từng làng, từng vùng; như chợ vùng trồng cói có chiếu và mặt hàng chế biến từ đay, cói; vùng ven biển có tôm, cua, cá biển; chợ làng rèn có sản phẩm nông cụ và vật dụng từ nghề rèn nghề đúc,.... Do vậy quá trình giao lưu giữa các vùng qua những phiên chợ làng là một nhu cầu tất yếu.

Nguồn: e-cadao

Edited by user Monday, April 25, 2011 11:26:13 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 5/12/2011(UTC)
hongvulannhi  
#946 Posted : Tuesday, April 26, 2011 10:13:18 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)
BÍ QUYẾT TRƯỜNG XUÂN QUA CA DAO TỤC NGỮ


PHẠM THỊ NHUNG
- đăng lúc 12:55:35 AM, Feb 22, 2005

Người xưa tuổi thọ kém, ai sống tới bảy mươi đã cho là hiếm hoi, nhân sinh thất thập cổ lai hi. Ðã vậy, nhiều người suốt đời chỉ hùng hục làm việc, chạy theo bả lợi danh, bo bo giữ của không biết hưởng đời là gì, tới khi già yếu, sắp xuôi tay nhắm mắt, tính sổ cuộc đời mới thấy là dại:

Một năm là mấy tháng xuân
Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa?

Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi
Bo bo giữ lấy của trời làm chi?
Bẩy mươi chống gậy ra đi
Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi.

Từ đó, người xưa rút kinh nghiệm, để lại cho con cháu biết bao là lời khuyên bảo chí lý, không ngoài mục đích khuyến khích chúng ta hãy biết tận hưởng những hương vị của cuộc sống ngay từ thuở thanh niên son trẻ, cùng cho chúng ta bí quyết để kéo dài tuổi xuân:

Ai ơi chơi lấy kẻo già
Măng mọc có lứa người ta có thì.
Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Cái già sồng sộc nó thì theo sau.
Mỗi năm, mỗi tuổi, mỗi già
Chẳng lo liệu trước ắt là luỵ sau.

Ngày nay, chúng ta đều biết rằng khoa học tiến bộ vượt bực đã giúp cho con người rất nhiều phương tiện để được hưởng một cuộc sống tiện nghi, thoải mái và lý thú hơn xưa. Ðồng thời ngành y dược cũng tiến bộ đáng kể, đã giúp cho con người chửa được lắm bệnh hiểm nghèo, tăng thêm phần sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ. Những kết quả nầy tuy đã đem lại nhiều phúc lợi cho nhân loại, nhưng vì thiếu tính chất nhân bản nên chúng vẫn không giúp cho con người đạt được chân hạnh phúc. Ðây chính là lý do khiến chúng ta thích đọc lại ca dao, tục ngữ, một loại văn chương bình dân truyền khẩu phong phú của dân tộc, để tìm hiểu xem đâu là quan niệm nhân sinh của người xưa, và qua đó, chúng ta lĩnh hội được những gì về bí quyết trường xuân để đem lại cho mình một đời sống hạnh phúc trọn vẹn, lâu dài?

Sau khi nghiên cứu tục ngữ, ca dao, chúng ta hẳn thấy bí quyết trường xuân của người xưa đã được qui vào những điểm sau đây:

1)- Người xưa trước hết phải biết sống qua triết lý tri túc, tiện túc, nghĩa là biết đủ ấy là đủ. Chính vì biết sống an phận, không đòi hỏi nhiều nên cuộc sống mới được nhàn nhã, tâm hồn được thảnh thơi:

Ông cả ngồi trên sập vàng
Cả ăn cả mặc lại càng cả lo.
Ông bếp ngồi trong xó tro,
Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm.

Huống chi cuộc đời qúa ngắn ngủi, làm nhiều làm chi cho khổ thân:

Ðời người sống mấy gang tay,
Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm.

2)- Phải biết quẳng gánh lo đi mà vui sống. Sự lo nghĩ buồn phiền làm cho tâm thần rã rượi, mặt mày héo úa, xấu xí, sức khoẻ sa sút. Ông Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc và bà Ðoàn Thị Ðiểm trong Chinh Phụ Ngâm đã phải công nhận điểm nầy:

Chiều ủ dột giấc mai trưa sớm
Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ.
(Cung Oán)

Võ vàng đổi khác dung nhan
Khuê ly mới biết tân toan dường này.
(Chinh Phụ)

Bởi vậy ca dao mới khuyên ta chớ nên cả lo như các bà mẹ xưa, mười chuyện lo cả mười, chuyện không đáng cũng lo, như thế thì lo cả đời chưa hết:

Mẹ già lo bẩy, lo ba
Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên.

Và phải biết xem nhẹ, xem thường mọi chuyện:

Lo gì mà lo, lo con bò trắng răng
Mua ba đồng thuốc nhuộm răng cho bò.

3)- Ðồng thời phải nuôi dưỡng các đức tính Từ Bi, Hỉ, Xả. Có biết cảm thông, xót thương, giúp đỡ và tha thứ cho người, tâm ta mới không vướng bận, ghét ghen, oán thù mà hằng giữ được trong sáng, hoan lạc:

Có câu tích đức tu thân
Hoạn nạn tương cứu, phú bần tương tri (trì)
Ðấng trượng phu đừng thù mới đáng
Ðấng anh hùng đừng oán mới hay.

4)- Cái tâm trong sáng, hoan lạc nầy lại cần được thể hiện qua nụ cười luôn tươi nở trên môi. Khi cười, không những các bắp thịt mặt được thư dãn, vẻ mặt trông tươi mát. Lòng ta cũng cảm thấy phấn khởi, hạnh phúc. Giá trị của nụ cười đã được người xưa xác nhận qua câu tục ngữ:

Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ.

Ngoài ra nụ cười tươi còn gây được ảnh hưởng vui sống cho những người xung quanh:

Ngó lên lỗ miệng em cười
Như búp hoa nở, như mặt trời mới lên.

Mình về mình nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.

Trăm quan mua mấy miệng cười
Nghìn quan chẳng tiếc,
Tiếc nụ cười em xinh.
(Ðúng ra là: nghìn quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen)

Giá trị nụ cười không chỉ được người Á Ðông chúng ta đề cao mà ngay cả ở Âu Mỹ cũng có nhiều câu danh ngôn được truyền tụng: chaque fois qu’un homme sourit et plus encore quand il rit, il ajoute quelque chose à ce brin de vie (mỗi khi người đàn ông mĩm cười và hay hơn nữa khi hắn cười, hắn đã thêm một chút gì có ý nghĩa cho cuộc đời mong manh này).

Le sourire appporte la chaleur à celui qui recoit, ne coute rien à celui qui donne (Nụ cười mang lại sự ấm áp cho người nhận, mà người cho chẳng mất mát gì cả).

5)- Phải biết giữ vệ sinh cho thân thể. Con người, thân thể có sạch sẽ, mới khoẻ mạnh, nhan sắc các bà, các cô phần lớn do cái răng, cái tóc quyết định:

Cái răng, cái tóc là góc con người

Ai muốn có một hàm răng đều đặn, tươi xinh, sáng ngời như những câu ca dao vừa dẫn chứng ở trên tất phải biết phép giữ vệ sinh và bồi dưỡng cho răng lợi. Bằng chẳng chịu giữ gìn, răng sẽ bị sâu, bị thối, bị sún, bị sứt, bị gẫy, nhan sắc trông chẳng còn đẹp tí nào, mà khi ăn khó nhai, khó cắn, mất cả ngon. Vậy, muốn sạch miệng, tốt răng người xưa dạy phải súc miệng bằng nước muối, phải ăn trầu và nhuộm răng đen. Muốn thơm da, mát thịt thì tắm nước nấu lá hương nhu, lá rau mùi hay cách hoa ngọc lan. Còn muốn tốt tóc sạch gầu thì:

Tốt tóc thì có mần trầu
Sạch ghét, sạch gầu bồ kết với chanh.

Người sạch sẽ là người biết tự trọng và dễ gây được thiện cảm với người xung quanh mình, nhất là người đó lại thuộc phái đẹp:

Nước trong ai chẳng rửa chân,
Cái má trắng ngần ai chẳng muốn hôn.

6)- Bổn phận làm đẹp. Nam hay nữ đều nên làm đẹp, riêng phái nữ thì làm đẹp còn phải kể là một bổn phận, để tạo hạnh phúc cho gia đình. Trong Chinh Phụ Ngâm, bà Ðoàn Thị Ðiểm cũng đã công nhận như thế:

Xin vì chàng xếp bào cởi giáp
Xin vì chàng rũ lớp phong sương.
Vì chàng tay chuốt chén vàng
Vì chàng điểm phấn, đeo hương não nùng.

Người ta làm đẹp qua cách điểm trang và cách ăn mặc. Làm đẹp giúp người ta trông trẻ ra, đẹp hơn và có duyên thêm:

Trắng da vì bởi phấn giồi
Ðen da vì bởi em ngồi chợ trưa.

Có trầu cho miếng đỏ môi
Có rượu cho chén thêm tươi má hồng.

Cau già, dao sắc lại non
Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa.

Người tốt về lụa
(Lúa tốt về phân)
Chân tốt về hài
Tai tốt về hoãn.

Và cũng vì trang điểm đẹp thêm nên ta cảm thấy tự tin hơn, yêu đời hơn và cuộc đời cũng vì đó mà lên hương thêm, cao giá thêm:

Còn duyên như tượng tô vàng
Hết duyên ngư tổ ong tàn ngày mưa.
Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa một mình.
Còn duyên kén những trai tơ
Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng.

7)- Phải biết ăn uống sao cho bổ và ngon. Tục ngữ có câu “dĩ thực vi tiên”. Người xưa xem chuyện ăn uống quan trọng hơn cả, vì hiểu rằng:

Ăn vóc học hay.
Hoặc:
Có thực mới vực được đạo
Và:
No nên bụt, đói ra ma.

Hiển nhiên có ăn mới khoẻ mạnh nên hình dạng con người đẹp đẽ, cũng như có học mới thành người giỏi, người tài. Sau nữa, có ăn no đủ người ta mới dễ dàng giữ được nhân cách, đạo đức, sống đời từ bi bác ái. Khi đã xem vấn đề ăn uống là chuyện hàng đầu ở đời, mà chuyện ăn uống lại là chuyện tế nhị, chuyện nghệ thuật, chuyện văn hoá chứ phải thường đâu, nên người ta mới cần đến tài nội trợ, bếp núc đảm đang, khéo léo của các bà các cô.

Tất nhiên không kể đến những người quá nghèo, hay đang gặp cơn bĩ cực, không tiền mua gạo đã phải ăn rau, ăn ráy, ăn khoai độn bụng để sống tạm qua ngày:

Ðói ăn rau, đau uống thuốc.
Ðói thì ăn ráy, ăn khoai
Chớ thấy lúa trỗ tháng hai mà mừng.

Còn người nội trợ bình thường nào cũng biết “liệu cơm gắp mắm”, nghĩa là biết tuỳ theo khả năng mà lo cho chồng con được cơm dẻo canh ngọt. Hai bữa ăn chính của dân ta, cơm là căn bản nên phải lo trước tiên. Theo người xưa:

Cơm ba bát, áo ba manh
Ðói chẳng xanh, rét chẳng chết

Như thế, một con người cơm đủ no (mỗi bữa ba bát) sẽ có đủ sức khoẻ để chống chọi với khí hậu khắc nghiệt. Cơm đủ ăn rồi, người ta mới nghĩ đến cách nấu nướng, chế biến thực phẩm thành những món ăn làm sao đem lại sự khoái khẩu và tăng thêm chất lượng dinh dưỡng cho cơ thể.

Nhiều tiền mua thịt
Ít tiền mua xương.

Ðúng vậy, người nội trợ khôn ngoan. Khéo léo dù ít tiền vẫn có thể sửa soạn những món ăn ngon cho gia đình:

Trời mưa cho ướt lá dừa
Cho tươi luống cải cho vừa lòng em.
Cho em hái đọt rau dền,
Nấu tô canh ngọt dâng lên mẹ già.
Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.
Bồng em đi dạo vườn cà,
Cà non chấm mắm, cà già làm dưa.
Chồng chê thì mặc chồng chê,
Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ.

Nói chung ở thôn quê Việt Nam xưa, nhà nào có đủ gạo ăn, lại có được cái ao rau muống với hai món tương cà gia bản thì có thể yên tâm là gia đình sẽ được đủ no và gia đạo sẽ được an vui:

Nhà em có vại cà đầy
Có ao rau muống, có đầy chĩnh tương.
Dầu không mỹ vị cao lương
Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em.
Một nhà vui vẻ êm đềm,
Ðói no tuỳ cảnh, không thèm luỵ ai.

Còn những gia đình khá giả hơn thì người nội trợ thường hay sửa soạn, nấu nướng những món ăn đắt tiền hơn, cầu kỳ hơn cốt làm tăng thêm khẩu vị cho mọi người. Cũng vì miếng ngon nhớ lâu nên người ta có thể kể lại vanh vách. Này đây là những món ngon dành cho mẹ già:

Tôm rằn lột bỏ đuôi
Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.
Ba tiền một khứa cá buôi
Cũng mua cho được để nuôi mẹ già.
Này đây là những món ngon dành cho vợ chồng con cái:
Cơm trắng ăn với chả chim
(Chồng đẹp vợ đẹp những nhìn mà no).
Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh bông bí, nấu chè hột sen.
Bậu câu cá bống, ngắt đầu kho tiêu
Kho tiêu, kho mở, kho hành
Kho ba lượng thịt để dành cho em ăn.
Sống thì cua nướng, ốc lùi
Chết cũng nên đời, ăn những miếng ngon.
Sống ở trên đời ăn miếng dồi chó
Chết xuống âm phủ biết có hay không?

Các bà nội trợ còn lo sắp xếp thực đơn mỗi ngày, mỗi bữa những món ăn khác nhau cho chồng con ăn không chán, lại thấy lạ và ngon miệng:

Sáng ngày bồ dục chấm chanh
Trưa gỏi cá cháy, tối canh cá chầy.

Việc bếp núc cũng lắm công phu, muốn thành công người ta phải nắm được một số bí quyết, như:
Mùa nào thức ấy. Như thế vừa rẻ vừa ngon, vừa tươi và có nhiều chất bổ dưỡng giúp phát triển và bảo trì cơ thể lành mạnh:

Chim, gà, cá, lợn, cành cau
Mùa nào thức ấy, giữ mầu nhà quê.

Biết cách chọn mua thực phẩm sao cho tươi và ngon:

Mua thịt thì chọn miếng mông
(Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi)

Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo thì lòng mới ngon.

Mua bầu xem cuống
Mua rau xem lá
Mua cá xem mang
Mua cua xem càng.

Món ăn nào phải dùng gia vị ấy. Ngoài ra làm ăn phải sạch sẽ, giữ cho đồ ăn được tinh khiết, trong lành mới là trọn vẹn:

Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi,
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng giềng.

- Cá không ăn muối cá ươn.
Thịt đầy canh không hành không ngon.

- Cái cò, cái vạc, cái nông
Ba con cùng béo, vặt lông con nào?
Vặt lông con vạc cho tao
Hành, răm, mắm muối bỏ vào mà thuôn.

Con lươn có tiếng hôi tanh
Xào nấu sạch sẽ cũng thành món ngon.

Rau cải nấu với cá rô
Gừng thêm một lát, cho cô giữ chồng.

Nên biết những đặc sản của mỗi vùng. Khi đã biết, ra chợ dễ mua bán, và khi đã mua được cây trái, thực phẩm ngon rồi, người nội trợ chắc chắn dễ thành công hơn trong việc cơm nước cho gia đình, hay những bữa tiệc tùng cho họ hàng, bè bạn:

Thí dụ 1, thổ sản miền Nam:

Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh
Vú sữa nào ngọt bằng vú sữa Cần Thơ?
Sầu riêng măng cụt Cái Mơn
Bắp thì Chợ Giữa, giồng khoai Mỹ Hoà.
Bến Tre nước ngọt lắm dừa
Ruộng vườn mầu mở, biển thừa cá tôm.
Bánh tráng Mỹ Lồng
Bánh phồng Sơn Ðốc.

Thí dụ 2, thổ sản miền Trung:

Ốc gạo Thanh Hãn
Mật rú Bát Phường
Măng cây Huyện Do
Gầm ghì Chợ Huyện
Thơm rượu Hà Trung
Mắm ruốc Cửa Tùng
Mắm nêm Chợ Sải.

Thí dụ 3, thổ sản Miền Bắc:

Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần
Nước mắm Vạn Vân, cá rô Ðầm Sét.

Biết chọn các món ăn đi cặp với nhau cho tăng khẩu vị. Cuối cùng người nội trợ tế nhị, từng trãi còn phải biết sắp xếp những món ăn nào đi cặp với nhau khiến ăn vào cho tăng khẩu vị, như:

Mâm cốm kẽo kẹt mâm hồng
(Bát bịt, mâm đồng kẽo kẹt một nơi).
Mâm thịt kẽo với mâm xôi
Thịt bùi, xôi dẽo kẽo nơi bà già
Cùi dừa kẽo kẹt bánh đa
Cái dĩa thịt gà kẽo kẹt lá chanh.
Nồi cơm kẽo với nồi canh
Quả bí trên nhành kẽo với tôm he
Bánh tráng kẽo với nước chè (trà)...
Cơm nắm ăn với thịt dim
Vừa bùi vừa dẻo lại thêm mặn mà.

Chính nhờ tài nội trợ cơm nước khéo léo và cách sắp xếp món ăn hợp khẩu vị này mà các bà vợ Việt Nam đã bảo vệ được hạnh phúc gia đình. Người chồng đi xa nhà, thấy nhớ món ăn ngon của vợ lại muốn mau mau trở về:

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

Nấu ăn ngon đã trở thành một trong những bí quyết tạo hạnh phúc và giữ hạnh phúc gia đình. Ðấy là lý do vì sao không một bà mẹ Việt Nam nào lại không dạy con gái nghệ thuật nấu nướng. Và cô gài nào có tiếng nấu nướng giỏi, có kém nhan sắc một chút vẫn lấy được chồng ngon lành như thường:

Có phúc lấy được vợ già
Vừa sạch cửa nhà, lại ngọt cơm canh.

8)- Ăn chơi phải có chừng mực. Ăn uống vừa bổ, vừa ngon miệng tất đem lại cho con người nhiều sức khoẻ. Có sức khoẻ lại có đạo đức, người ta mới mong sinh được những đứa con tốt lành:

Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu.

Có sức khoẻ người ta mới mong hưởng thụ được nhiều lạc thú ở đời. Thôi thì đủ cả:

Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải, Ðồng Nai cũng từng.

Già thì già tóc, già tai
Già răng, già lợi, đồ chơi không già.

Tuy nhiên chúng ta đều biết cái gì thái quá cũng không nên:

Ăn lắm thì hết miếng ngon
Nói lắm thì hết lời khôn hoá rồ.

Bởi vậy, nếu người ta cứ mặc sức ăn chơi, hưởng thụ theo cái lối buông thả, chơi cố:

Ðã sinh tài sắc ở đời
Chẳng ăn cũng thiệt, chẳng chơi cũng hoài.

Không tự giới hạn, kiềm chế được mình thì rồi trường xuân đâu chẳng thấy, tật bệnh đã theo nhau kéo đến. Lúc bấy giờ ăn chẳng được, mà ngủ cũng chẳng yên, người ta mới thấm thía được hết ý nghĩa của câu:

Ăn được, ngủ được là tiên
Không ăn, không ngủ, mất tiền thêm lo.

Thêm lo thì đã quá muộn rồi. Vậy, muốn được sống trường thọ, kéo dài tuổi xuân thì ăn chơi phải có điều độ, phải biết dè chừng, theo tinh thần tự chế:

Tay tiên chuốc chén rượu đào
Ðổ đi dẫu tiếc, uống vào tất say.
(Ðúng ra là: Ðổ đi thì tiếc, uống vào thì say).

Ngày nay, nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI. Sách báo và nhiều người xung quanh ta thường nói đến những vấn đề liên quan đến các phát minh tiến bộ vượt bực của khoa học như về các loại máy móc điện tử, về truyền thống vệ tinh, cùng các tiến bộ đáng kể của ngành y dược như đã tìm ra các phương thuốc trị bệnh hiểm nghèo, đã cứu được nhiều sinh mạng bằng phép ghép thận, ghép gan, thay tim, v... v...

Nhờ vậy, con người đã được hưởng một cuộc sống văn minh vật chất tiến bộ đáng kể, và sức khoẻ cũng được bảo vệ tối đa, tuổi th? vì thế đã gia tăng rất nhiều. Người xưa, năm mươi tuổi đã được liệt vào thọ cách, ai sống đến bảy mươi cho là hi hữu. Người nay, tuổi thọ trung bình đã vượt lên từ bảy mươi lên tới tám mươi tuổi. Có nhiều cụ đã sống trên cả trăm tuổi (cụ bà Jeanne Clément là người thọ nhất thế giới, đã ăn mừng sinh nhật lần thứ 126. Vậy mà chúng ta còn giở lại những câu ca dao, thành ngữ cổ truyền của dân tộc để tìm hiểu, học hỏi thêm về những bí quyết trường sinh của người xưa, không biết như thế có lạc hậu không?

Tôi thiết nghĩ là không. Thực vậy, nếu chúng ta nắm được nghệ thuật sống, nghĩa là biết dung nạp những ưu điểm của hai lối sống kia để bổ khuyết cho nhau, như chúng ta vẫn sống đời văn minh tiến bộ của Âu Mỹ để được bảo đảm sức khoẻ cùng những tiện nghi vật chất. Nhưng chúng ta sẽ không bắt chước tinh thần Aâu Mỹ chạy đua với kim đồng hồ, đua đòi, đuổi theo những tiện nghi để bị lệ thuộc tiện nghi, khiến lúc nào cũng phải sống vội vã: hùng hục làm việc, hùng hục hưởng thụ, để rồi suốt đời sống trong vòng quẩn quanh này, mà chúng ta nên sáng suốt trở về sống với quan niệm nhân sinh của ông cha ta: sống giản dị, tri túc tiện túc, thanh thản, hoà hợp với thiên nhiên, đồng thời hướng về những thú vui tinh thần thanh cao nhân ái và đạo nghĩa.

Chỉ có quan niệm sống dung hợp như thế chúng ta mới có nhiều cơ may kéo dài tuổi xuân, và tâm hồn lúc nào cũng được thoải, mái, hạnh phúc. Và chỉ có quan niệm sống dung hợp như thế mới thực sự thích hợp với bản chất và tâm tính con người Việt Nam.

Phạm Thị Nhung
(Giáo sư Gia Long)

Edited by user Tuesday, April 26, 2011 10:17:20 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hà Phương Hoài on 5/15/2011(UTC)
hongvulannhi  
#947 Posted : Monday, May 2, 2011 12:11:07 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)

Những Phụ Nữ Mở Nước


Sử Gia Trần Gia Phụng

Người phụ nữ Việt Nam mở nước đầu tiên không ai khác hơn là Hai Bà Trưng. Tiểu sử cũng như sự nghiệp của Hai Bà đã được nói đến nhiều. Có lẽ chỉ cần thêm một ý kiến về Hai Bà hầu như ít được nêu ra. Đó là trong lịch sử thế giới, Hai Bà khởi nghĩa chống ngoại xâm năm 40 sau Công nguyên, là những bậc nữ lưu đầu tiên đứng lên tranh đấu giành độc lập cho đất nước, trước nữ anh hùng Jeanne d'Arc (1412-1431) của Pháp gần 14 thế kỷ.

Sau Hai Bà Trưng, trong số những phụ nữ mở nước, phải kể đến các công chúa Huyền Trân, Ngọc Vạn và Ngọc Khoa.

1.- CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN

Vào cuối thế kỷ 13, sau khi cùng liên kết đẩy lui cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ, mối giao hảo giữa Đại Việt và Chiêm Thành (Champa) khá tốt đẹp. Tháng 2 năm tân sửu (1301), nước Chiêm Thành gởi sứ giả và phẩm vật sang thăm viếng ngoại giao. Khi đoàn sứ giả Chiêm Thành về nước, thái thượng hoàng Trần Nhân Tông đi theo. Lúc đó thượng hoàng đã xuất gia đi tu, gặp khi rảnh rỗi, ông qua thăm Chiêm Thành, vừa để trả lễ, vừa để du ngoạn, từ tháng 3 đến tháng 11 âm lịch cùng năm.

Vua Chiêm Thành là Chế Mân (Jaya Simhavarman IV, trị vì 1287-1307), nguyên là thái tử Bổ Đích (Harijit), con đầu của vua Jaya Simhavarman III hay Indravarman XI (trị vì 1257-1287). Thời kháng Nguyên, vua Jaya Simhavarman III đã già, Bổ Đích nắm trọng trách điều khiển việc nước, và đã chỉ huy quân Chiêm đẩy lui lực lượng của Toa Đô (Sogatu).

Trong cuộc gặp gỡ với vua Chế Mân, Trần Nhân Tông hứa gả con gái mình là công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Có thể lúc đó Trần Nhân Tông muốn làm cho nền bang giao giữa hai nước Việt Chiêm bền vững qua cuộc hôn nhân nầy. Lời hứa của thượng hoàng Trần Nhân Tông gặp nhiều phản bác về phía triều đình nước ta. Thời đó, quan niệm khắc khe về phân biệt chủng tộc đã khiến cho các quan và cả Trần Anh Tông, vị vua đương triều, ngăn trở cuộc hôn nhân nầy.

Mãi đến khi Chế Mân quyết định tặng hai châu Ô và Rí (Lý) ở phía bắc Chiêm Thành làm sính lễ, Trần Anh Tông mới nhận lời, và lễ cưới diễn ra năm 1306 (bính ngọ). Năm 1307 (đinh mùi), Trần Anh Tông đổi châu Ô thành Thuận Châu [Thuận = theo, theo lẽ phải], châu Lý thành Hóa Châu [Hóa = thay đổi, dạy dỗ]. So với ngày nay, Thuận Châu từ phía nam tỉnh Quảng Trị và phía bắc tỉnh Thừa Thiên ngày nay; Hóa Châu gồm phần còn lại của tỉnh Thừa Thiên và phía bắc tỉnh Quảng Nam ngày nay; diện tích tổng cộng vùng đất nầy khoảng 10.000 km2.

Huyền Trân được vua Chế Mân phong tước hoàng hậu Paramecvari. Đám cưới được hơn một năm, Chế Mân từ trần (1307). Vua Trần Anh Tông thương em, sợ Huyền Trân bị đưa lên giàn hỏa thiêu chết theo chồng trong tục lệ Chiêm Thành,(1) nên nhà vua cho tướng Trần Khắc Chung (tức Đỗ Khắc Chung) sang Chiêm lấy cớ viếng tang, rồi lập mưu đưa Huyền Trân và con là Đa Da trở về Đại Việt.(2) Theo Đại Nam nhất thống chí, quyển 16 viết về tỉnh Nam Định, sau khi trở về nước, Huyền Trân công chúa đã đến tu ở chùa Nộn Sơn, xã Hổ Sơn, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Sách nầy không cho biết chính xác thời điểm công chúa đi tu, nghĩa là công chúa đã đi tu ngay khi về nước hay sau khi đã về già?(3) Số phận hoàng tử Đa Da không được sử sách nhắc đến.

Cuộc hôn nhân Huyền Trân và Chế Mân tượng trưng cho sự phát triển một cách hòa thuận về phương nam theo truyền thống sống cùng và để người khác cùng sống của người Việt. Sự hy sinh của công chúa Huyền Trân đã được một tác giả vô danh đề cao trong một bài ca Huế theo điệu nam bình rất được truyền tụng cho đến ngày nay:

Nước non ngàn dặm ra đi, mối tình chi,
Mượn màu son phấn, đền nợ Ô Ly,
Đắng cay vì, đương độ xuân thì,
Số lao đao hay nợ duyên gì?
Má hồng da tuyết, quyết liều như hoa tàn trăng khuyết,
Vàng lộn với chì,
Khúc ly ca cớ sao mà mường tượng Nghê thường!
Thấy chim hồng nhạn bay đi, tình tha thiết.
Bóng dương hoa quỳ
Nhắn một lời Mân quân, nay chuyện mà như nguyện,
Đặng vài phân, vì lợi cho dân,
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay trăm phần...(4)

2.- CÔNG CHÚA NGỌC VẠN

Vào đầu thế kỷ 17, sau khi Nguyễn Hoàng từ trần năm 1613, con là Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên, lúc đó 51 tuổi (tuổi ta), lên kế vị và cầm quyền ở Đàng Trong từ 1613 đến 1635. Theo di mệnh của Nguyễn Hoàng, Sãi Vương quyết xây dựng Đàng Trong thật vững mạnh để chống lại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Do đó, ông giao hảo với các nước phương nam để củng cố vị thế của ông.

Phía nam nước ta là Chiêm Thành và Chân Lạp (tức Cambodia ngày nay). Lúc đó, vua Chân Lạp mới lên ngôi là Chey Chetta (trị vì 1618-1628). Ông nầy muốn kết thân với chúa Nguyễn để làm thế đối trọng với vua Xiêm La (Siam tức Thái Lan ngày nay), nên đã cầu hôn với con gái Sãi Vương.

Không có sử sách nào ghi lại diễn tiến đưa đến cuộc hôn nhân nầy. Có thể vì ngày trước, quan niệm người Chân Lạp là man di, nên các sách sử nhà Nguyễn tránh không ghi lại việc nầy. Bộ Đại Nam liệt truyện tiền biên, khi ghi chép về các con gái của Sãi Vương, đến mục „Ngọc Vạn“, đã ghi rằng: „Khuyết truyện“ tức thiếu truyện, nghĩa là không có tiểu sử. Gần đây, bộ gia phả mới ấn hành năm 1995 của gia đình chúa Nguyễn cho biết là vào năm 1620 (canh thân) Sãi Vương gả người con gái thứ nhì là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey-Chetta II.(5)

Ba năm sau cuộc hôn nhân của Ngọc Vạn, Sãi Vương cử một sứ bộ sang Chân Lạp xin vua Chey-Chetta II nhượng khu dinh điền ở vùng Mô Xoài, gần Bà Rịa ngày nay. Nhờ sự vận động của hoàng hậu Ngọc Vạn, vua Chân Lạp đồng ý cho người Việt đến đó canh tác. Đây là lần đầu tiên người Việt chính thức đặt chân lên đất Chân Lạp, và Mô Xoài là bàn đạp để người Việt dần dần tiến xuống đồng bằng sông Cửu Long.

Chồng công chúa Ngọc Vạn, vua Chey-Chetta II từ trần năm 1628. Từ đó triều đình Chân Lạp liên tục xảy ra cuộc tranh chấp ngôi báu giữa các hoàng thân. Năm 1658 (mậu tuất) hai hoàng thân So và Ang Tan nổi lên đánh vua Chân Lạp lúc bấy giờ là Nặc Ông Chân (trị vì 1642-1659), nhưng thất bại, xin nhờ thái hậu Ngọc Vạn giúp đỡ. Thái hậu Ngọc Vạn chỉ cách cho hai người nầy cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn lúc bấy giờ là Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần, cháu gọi thái hậu Ngọc Vạn bằng cô ruột, liền cử phó tướng Tôn Thất Yến (hay Nguyễn Phúc Yến), đang đóng ở Phú Yên (dinh Trấn Biên), đem 3.000 quân qua giúp, bắt được Nặc Ông Chân ở vùng Mô Xoài (Bà Rịa ngày nay), đưa về giam ở Quảng Bình vì lúc đó nhà chúa đang hành quân ở Quảng Bình. Tại đây, Nặc Ông Chân từ trần năm 1659.(6)

Chúa Nguyễn phong So lên làm vua Chân Lạp tức Batom Reachea (trị vì 1660-1672). Từ đó, nước ta càng ngày càng can thiệp vào công việc của Chân Lạp và đưa người thâm nhập nước nầy, dần dần tiến đến sinh sống tận mũi Cà Mau như ngày nay.

Như thế, đã hai lần bà Ngọc Vạn đã dẫn đường cho người Việt mở đất về phương nam. Lần thứ nhất sau cuộc hôn nhân năm 1620 và lần thứ nhì trong cuộc tranh chấp nội bộ vương quyền Chân Lạp năm 1658.

3.- CÔNG CHÚA NGỌC KHOA

Như trên đã viết, Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên có bốn cô con gái. Hai người lớn nhất và trẻ nhất có chồng Việt. Người thứ nhì là công chúa Ngọc Vạn kết hôn với vua Chân Lạp. Vậy số phận cô công chúa thứ ba tên là Nguyễn Phúc Ngọc Khoa như thế nào mà trong Đại Nam liệt truyện tiền biên, tiểu truyện của Ngọc Khoa cũng đề là „khuyết truyện“ ?

May thay, sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, do chính Hội Đồng Nguyễn Phúc tộc viết lại, đã chép rằng:"...Năm tân mùi [1631] bà [Ngọc Khoa] được đức Hy Tông [Sãi Vương] gả cho vua Chiêm Thành là Pôrômê. Nhờ có cuộc hôn phối nầy mà tình giao hảo giữa hai nước Việt Chiêm được tốt đẹp (7)

Vấn đề không đơn giản chỉ là tình giao hảo giữa hai nước, mà lý do cuộc hôn nhân nầy còn sâu xa hơn nhiều.

Thứ nhất, chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc vừa mới bùng nổ năm đinh mão (1627) tại vùng Bố Chính (Quảng Bình ngày nay).

Thứ nhì, năm 1629, lưu thủ Phú Yên là Văn Phong (không biết họ) liên kết vơi người Chiêm Thành nổi lên chống lại chúa Nguyễn. Sãi Vương liền cử Phó tướng Nguyễn Hữu Vinh, chồng của công chúa Ngọc Liên, đem quân dẹp yên, và đổi phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên.( Sãi Vương rất lo ngại nếu ở phía nam, Chiêm Thành mở cuộc chiến tranh chống chúa Nguyễn thì ông sẽ lâm vào tình trạng“lưỡng đầu thọ địch“.

Thứ ba, vào cuối thế kỷ 16, người Chiêm Thành thường buôn bán với người Bồ Đào Nha ở Macao, thuộc địa của Bồ trên đất Trung Hoa. Thương thuyền Bồ Đào Nha hay ghé buôn bán trao đổi với người Chiêm ở các hải cảng Cam Ranh và Phan Rang.(9) Do đó, nếu triều đình Chiêm Thành liên kết với người Bồ Đào Nha để chống lại Đại Việt, thì thật là nguy hiểm chẳng những cho chúa Nguyễn và nguy hiểm cho cả nước ta. Điều nầy làm cho chúa Nguyễn lo ngại, nhất là khi Pô Ro mê là một người anh hùng, lên làm vua Chiêm Thành (trị vì 1627-1651).(10)

Có thể vì các nguyên nhân trên, Sãi Vương quyết định phải dàn xếp với Chiêm Thành, và đưa đến cuộc hôn nhân hòa hiếu Việt Chiêm năm 1631 giữa Ngọc Khoa, con của Sãi Vương, với vua Chiêm là Poromê, nhắm rút ngòi nổ của phía Chiêm Thành, bảo đảm an ninh mặt nam.

Các sách tây phương ghi nhận rằng không hiểu vì sao, sau năm 1639 thì cuộc giao thương giữa Chiêm Thành và người Bồ Đào Nha không còn được nghe nói đến nữa.(11) Phải chăng việc nầy là hậu quả của chuyện công chúa Ngọc Khoa sang làm hoàng hậu Chiêm Thành tám năm trước đó (1631)?

Sử sách không ghi lại là bà Ngọc Khoa đã làm những gì ở triều đình Chiêm Thành, chỉ biết rằng truyền thuyết cũng như tục ngữ Chiêm Thành đều có ý trách cứ, nếu không muốn nói là phẫn nộ, cho rằng bà Ngọc Khoa đã làm cho vua Pô Ro mê trở nên mê muội và khiến cho nước Chiêm sụp đổ.

Trong sách Dân tộc Chàm lược sử, hai ông Dohamide và Dorohiem cho biết theo lời của một vị "Pô Thea", người phụ trách giữ tháp Pô Ro mê, kể cho tác giả E. Aymonier câu chuyện rằng vua Pô Ro mê có ba vợ. Bà vợ đầu là Bia Thanh Chih, con của vị vua tiền nhiệm đã truyền ngôi cho Pô Ro mê. Bà nầy không có con. Pô Ro mê cưới người vợ thứ nhì là một cô gái gốc Ra đê, tên là Bia Thanh Chanh. Bà nầy sinh được một công chúa, sau gả cho hoàng thân Phik Chơk. Hoàng thân Phik Chơk lại "liên kết với vua Yuôn [chỉ người Việt] và cho triều đình Huế rõ nhược điểm trong tâm tánh của Pô Ro mê: sự yếu đuối trước sắc đẹp mỹ nhân. Vua Yuôn đã cho một công chúa thật đẹp giả dạng làm khách thương sang nước Chàm. Do sự sắp xếp khéo léo, tin tức về nữ khách thương duyên dáng ngoại bang nầy đến tai Pô Ro mê, nên Pô Ro mê đã cho dời đến và khi vừa thấy mặt thì đã phải lòng ngay. Người Chàm gọi vị công chúa Yuôn nầy là Bia Ut hay Nữ Hoàng Ut cũng thế. (12)

Theo truyền thuyết Chiêm Thành, bà Ngọc Khoa hay Bia Ut đã dùng sắc đẹp mê hoặc Pô Ro mê, khiến ông chặt bỏ cây "kraik", biểu tượng thiêng liêng của vương quốc Chiêm Thành, vì vậy sau đó vương quốc nầy sụp đổ.(13) Dân chúng Chàm thường truyền tụng câu đố: "Ô hay ngài linh thiêng, rước vợ từ kinh, lim ngài mất ứng."(Sanak jak po ginrơh patrai, tok kamei Ywơn mưrai kraik po lihik ginrơh). Ngoài ra, người Chàm còn dùng tên bà Bia Ut trong một câu thành ngữ để mỉa mai những phụ nữ béo mập: "Béo như bà Ut " (Limuk you Bia Ut).(14)

Ngoài việc thần linh hóa câu chuyện, truyền thuyết trên đây đã phản ảnh một phần sự thật lịch sử, đó là nước Chiêm Thành, một lần nữa suy yếu hẳn đi sau cuộc hôn nhân Việt Chiêm năm 1631, nhờ đó, người Việt nhanh chóng vượt qua Chiêm Thành, xuống đồng bằng sông Cửu Long.

Như thế, hai công chúa Ngọc Khoa và Ngọc Vạn, tuy không chính thức đem lại đất đai về cho đất nước như công chúa Huyền Trân, nhưng cả hai đều đã mở đường cho cuộc Nam tiến, và quả thật khoảng một thế kỷ sau đó, chúa Nguyễn đã mở rộng biên cương về phía nam như địa hình nước Việt ngày nay.

Trong lịch sử, những chiến công oanh liệt để bảo vệ đất nước và mở nước ở dạng bùng nổ luôn luôn được ghi nhận đầy đủ, nhưng những cuộc mở nước âm thầm như việc làm của các bậc nữ lưu trên đây ít được chú ý đến. Thi sĩ Pierre Corneille (Pháp, 1606-1684), trong kịch phẩm cổ điển Le Cid, đã viết: „A vaincre sans péril, on triomphe sans gloire“ (Chiến thắng không gian nguy thì khải hoàn không vinh dự). Tuy nhiên những cuộc mở nước êm đềm, không tốn xương máu của dân tộc, thì chỉ có những bậc nữ lưu can đảm và anh hùng như trên mới có thể thực hiện.

TRẦN GIA PHỤNG

CHÚ THÍCH:

1. Nghi lễ vợ hỏa thiêu theo chồng trong Ấn giáo gọi là trà tỳ (suttee), còn thịnh hành ở Ấn Độ cho đến khi người Anh cai trị và bãi bỏ vào năm 1829.

2. Đại Việt sử ký toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: bản dịch Nxb. Khoa học Xã hội, 1993, tập 2, tr. 91.

3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, bản dịch tập 3 của Viện Sử học, Huế: Nxb. Thuận Hoá tái bản, 1997, tr. 358.

4. Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên, Trần Lê thời đại [Quyển 2], Nxb. Văn Hữu Á Châu, Sài Gòn, 1959, tt. 272-273.

5. Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nguyễn Phúc tộc thế phả, Huế: Nx. Thuận Hóa, 1995, tt. 113-114, 126. Trần Trọng Kim trong VNSL bỏ qua sự kiện nầy. Trong Việt sử xứ Đàng Trong, Phan Khoang chép việc nầy nhưng không đưa tên công chúa Ngọc Vạn. Trong phần chú thích, ông viết : "Việc nầy sử ta đều không chép, có lẽ các sử thần nhà Nguyễn cho là việc không đẹp nên giấu đi chăng? " Sau đó, Phan Khoang cẩn án rằng: "...Xem Liệt truyện tiền biên, mục công chúa, thấy chúa Hy Tông có bốn con gái, hai nàng Ngọc Liên và Ngọc Đảnh thì có chép rõ sự tích chồng con, còn hai nàng Ngọc Vạn, Ngọc Khoa thì chép là "khuyết truyện", nghĩa là không rõ tiểu truyện, tức là không biết chồng con như thế nào. Vậy người gả cho vua Chey Chetta II phải là Ngọc Vạn hay Ngọc Khoa." (Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong [Sài Gòn], Houston: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, gồm 2 quyển thượng và hạ, đánh số trang xuyên suốt từ q. thượng qua q. hạ, tt. 400-401) Phan Khoang có lý khi viết như vậy. Về khu dinh điền, sách Thế phả (tr. 113) nói vùng Mô Xoài (Bà Rịa ngày nay). Sách của Phan Khoang (trang 401) viết là Prey Kôr tức Sài Côn hay Sài Gòn ngày nay, nhưng dựa vào lời tấu trình của Nguyễn Cư Trinh năm 1755, nói rằng người Việt vào Hưng Phước, Đồng Nai (nói chung là Phước Long), rồi mới đến Sài Côn, vậy Thế phả đúng.

6. Phan Khoang, "Cuộc tranh giành ảnh hưởng ở nước Chân Lạp giữa Tiêm La và các chúa Nguyễn" , đăng trên tập sang Sử Địa, số 14, Sài Gòn: 1969, tr. 78. Phan Khoang dựa vào tài liệu của người Pháp viết như trên. Các sách trước đây chép rằng Nặc Ông Chân chịu thần phục nên được Hiền Vương cho đưa về nước tiếp tục cai trị.

7. Thế phả, sđd. tr. 126.

8. Trấn Biên: thường được dùng để đặt tên cho những dinh vùng biên giới. Khi biên giới được mở rộng, dinh Trấn Biên xuống đến vùng Biên Hòa ngày nay. Nguyễn Phúc Vinh: tên thật là Mạc Cảnh Vinh, con của Mạc Cảnh Huống, có vợ là Nguyễn Phúc Ngọc Liên, con gái đầu của Sãi Vương, nên được đổi qua quốc tính là Nguyễn Phúc.

9. Pierre Bernard Lafont, "On the Relations Between Champa and Southeast Asia", đăng trong sách Proceedings of the Seminar on Champa, gồm những bài thuyết trình trong cuộc hội thảo quốc tế về Chiêm Thành tại đại học Copenhagen (Đan Mạch) ngày 23-5-1987. Sách nầy nguyên bản bằng Pháp văn, do Hội Nghiên cứu Lịch sử và Văn hóa Bán đảo Đông Dương, Paris ấn hành năm 1988, đã được giáo sư Huỳnh Đình Tế dịch sang Anh văn, ấn hành tại California, Nxb. Southeast Asia Community Resource Center (viết tắt SACRC), 1994, tr. 73.

10. Pô Ro mê là một vị vua anh hùng của Chiêm Thành, cai trị khá lâu nước nầy trong thời gian 24 năm (1627-1651). "Với những chiến công hiển hách được tô thêm nhiều chi tiết huyền thoại, Pô Ro mê đã được người dân Chàm thần linh hóa..." (Dohamide và Dorohiem, Dân tộc Chàm lược sử, Sài Gòn: 1965. tr. 147.)

11. Pierre Bernard Lafont, bđd., sđd. tr. 73.

12. Dohamide và Doroheim, sđd. tr. 149.

13. Ngô Văn Doanh, Tháp cổ Chămpa, Sự thật & Huyền thoại, Hà Nội: Nxb Văn hóa Thông tin, 1994, tt. 187-196.

14. Inrasara, Văn học dân gian Chăm, tục ngữ - thành ngữ - câu đố, TpHCM: Nxb. Văn hóa Dân tộc, 1995, tr. 201, 230. [Tác giả Insara có tên Việt là Phú Trạm.]
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Nam on 5/14/2011(UTC)
langthang09  
#948 Posted : Monday, May 2, 2011 10:01:28 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,980

Thanks: 849 times
Was thanked: 1045 time(s) in 468 post(s)

UserPostedImage


CẢM XÚC VỀ SÔNG NƯỚC QUA CA DAO,
DÂN CA MIỀN NAM

Miền Nam là một vùng sông nước có hệ thống sông ngòi chằng chịt, cho nên từ lâu hình ảnh chiếc ghe, con đò, dòng sông, chiếc cầu... là hình ảnh hết sức quen thuộc với người dân nơi đây. Ngay từ thuở lọt lòng, họ đã được tắm mình giữa trời nước bao la rồi khi lớn lên họ phải đi qua những chiếc cầu tre nối nhịp đôi bờ, những khi buông câu, thả lưới, những lúc chở hàng bông ra chợ... họ cũng gắn chặt cuộc đời mình với dòng nước bao la.

Vì vậy, trong cuộc sống hàng ngày, cũng như trong những câu ca dao, hò, vè dù thể hiện chủ đề nào, tâm trạng nào thì ít nhiều hình ảnh dòng sông, chiếc ghe, con đò cũng hiển hiện trong đó. Người Miền Nam thường có thói quen dùng lối nói ví von, mượn các hình ảnh quen thuộc của đời thường gần gũi để thông qua đó nêu lên chủ đề mình định nói. Và các hình ảnh quen thuộc đó, được lặp đi lặp lại trong cách nói của họ cho đến khi thành tiềm thức, để khi có dịp thì tự động bật ra. Như: khi có khách ở xa đến thăm mình thì người Nam bộ nói: từ xa lặn lội tới đây. Mặc dù có thể người đó đi bằng xe đò hay xe Hon-đa. Hay từ "quá giang" vốn dùng cho việc đi nhờ ghe cộ lại dùng cho việc đi nhờ xe hay đi cùng đường. Tất cả đó phải chăng là dấu ấn của vùng sông nước đã ăn sâu vào huyết quản của họ.

Đi liền với hình ảnh sông nước là các hình ảnh: chiếc ghe, con đò, con cá, con cua, cần câu, đăng, đó, nò... Đây là hình ảnh mà ta thường gặp trong ca dao dân ca Nam bộ. Ngay cả việc trông ngóng người yêu, người Nam bộ cũng mượn hình ảnh chiếc ghe để nói lên nỗi lòng của mình, nói lên sự trông ngóng, khấp khởi chờ mong người yêu đến thăm mình:

Ghe ai đỏ mũi xanh lườn,
Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em.

Ở đây người con gái nhận dạng chiếc ghe của người yêu mình. Chiếc ghe của người yêu cô có đặc điểm: "đỏ mũi, xanh lườn" nên khi thấy chiếc ghe có đặc điểm này thì cô gái mừng thầm, đinh ninh là ghe của người yêu xuống thăm mình. Nhưng cô gái ở đây vẫn cẩn trọng, không hấp tấp vội vã. Vì cả vùng sông nước này có biết bao chiếc ghe có cùng đặc điểm đó, không khéo sẽ bị hớ. Nên cô gái mới đặt lời ướm hỏi. Từ "phải" là một từ để hỏi nhưng ở đây là dạng hỏi tu từ. Không cần người đáp. Hỏi để rào trước đón sau mà thôi. Có phải thì hãy đến nơi hẹn, hãy thẳng nơi mà đến. Còn không phải thì chỉ việc đi ngang qua. Câu ca dao này còn có một dị bản khác:

Ghe ai nhỏ mũi trảng lườn,
Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em.

Chiếc ghe cũng là hình ảnh của cuộc sống thương hồ, trên đó có chức năng như một ngôi nhà di động. Phía sau là cuộc sống sinh hoạt của cả gia đình. Phía trước là dùng để chất hàng hóa bán. Cứ thế, chiếc ghe vào từng con kinh, con rạch, hết nơi này đến nơi khác. Hết hàng thì quay ra chợ bổ hàng rồi đi bán tiếp. Con người cũng sống trôi nổi cùng chiếc ghe. Nhưng đôi khi chiếc ghe chở hàng chỉ có người chồng đảm nhận. Vợ con ở nhà, người chồng đi buôn bán xa, vài ba ngày mới về một lần. Cho nên trông chồng cũng là hình ảnh chiếc ghe và nhớ chiếc ghe cũng là nhớ chồng:

Ghe lui khỏi vịnh, em thọ bịnh liền,
Không tin anh hỏi xóm giềng mà coi.

Vì cuộc sống mưu sinh mà vợ chồng phải xa cách, vắng nhau bao ngày là bao nỗi lòng nhung nhớ. Về nhà chưa được bao lâu, lửa nồng chưa ấm anh đã vội ra đi. Nhưng vì cuộc sống không thể khác được nên ghe người chồng vừa đi thì người vợ cũng vừa "thọ bịnh". Quả là một tấm tình son sắt, thủy chung.

Hay giữa một đêm trăng thanh gió mát, một chiếc xuồng câu đang lờ lững giữa dòng, bắt gặp chiếc xuồng của cô gái chở hàng bông ra chợ đang chèo tới ở phía sau anh ta liền buông mấy lời chọc ghẹo:

Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi,
Kẻo giông khói đèn bờ bụi tối tăm.

Cách chọc ghẹo của chàng trai ở đây rất có lý, đồng thời thể hiện được sự quan tâm lo lắng của mình. Giữa trời nước bao la mà chỉ có một mình cô gái chèo ghe chở hàng ra chợ. Anh lo lắng cho cô gái bảo cô chèo mau lên, anh đợi, nếu không giông đến thổi tắt đèn mà cô thì có môt mình biết phải làm sao. Cô gái cũng cảm thấy ấm lòng khi giữa đêm khuya thanh vắng mà lại có người quan tâm đến mình, nên cô cũng hò đáp lại:

Nhứt nhựt tiểu thân chứ nhà của anh đâu mà em không biết,
Chứ gặp anh giữa đường, cái quyết chí mà thương anh.

Có khi họ nên duyên cũng từ đó. Chiếc ghe, chiếc xuồng, dòng sông cũng là những hình ảnh được người dân Miền Nam gởi gắm vào đó những nỗi niềm tâm sự, những cảm nhận của cuộc đời, than thân trách phận, nói lên cuộc sống nghèo khó của mình:

Không xuồng nên phải lội sông,
Đói lòng nên phải ăn ròng bè môn.

Như đã nói, Miền Nam có hê thống sông ngòi chằng chịt cho nên phương tiện đi lại của cư dân nơi đây trước kia chủ yếu là ghe, xuồng. Ghe, xuồng là chân đi là phương tiện vận chuyển chủ yếu, nên dù nghèo thiếu đến đâu người ta cũng cố dành dụm sắm cho mình một chiếc xuồng để làm phương tiện đi lại. Tác giả của câu ca dao này có lẽ do quá nghèo túng, nghèo đến nỗi không có chiếc xuồng để đi, mọi việc di chuyển chỉ bằng cách lội sông. Mà không có xuồng cũng có nghĩa là thiếu phương tiện đánh bắt, mà thiếu phương tiện đánh bắt thì làm sao có nhiều cá, tôm cho được. Mà không có nhiều cá, tôm có nghĩa là không có tiền nên phải ăn " ròng bè môn".

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi !
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.

Đây cũng là lời than, than cho việc buôn bán ế ẩm. Không có người mua nên phải chèo mãi, chèo đến mỏi mêt mà vẫn không bán được hàng. Bìm bịp là loài chim rất quen thuộc ở Nam bộ, hễ nó kêu là nước lớn, cho nên tiếng bìm bịp kêu cũng là lời dự báo cho con nước sắp lên. Ngoài ra tiếng bìm bịp cũng là dùng để chỉ thời gian, thời gian của con nước lớn, nước ròng, cũng là thời gian trong ngày. Lời than của cô gái ở đây phải chăng ngụ ý trong từng tiếng kêu của con bìm bịp. Bìm bịp kêu nước lớn rồi nước ròng, rồi bìm bịp kêu : nước lớn... cứ thế hết ngày mà bán buôn chẳng được gì. Sự ngao ngán của cô gái phải chăng là thế.

Dời chưn bước xuống ghe buôn,
Sóng bao nhiêu gợn dạ buồn bấy nhiêu.

Lại một tâm trạng buồn cho những kiếp thương hồ. Bước xuống ghe buồn cũng đồng nghĩa với việc xa nhà, phải đối mặt với cuộc sống cô đơn, một mình mình đối diện với sông nước đêm đen. Ngoài ra trong chuyến đi này, không biết buôn bán ra sao, lời lãi thế nào. Nhưng trên hết là nỗi nhớ nhà da diết, nhớ vợ, nhớ con... còn buồn nào hơn nỗi buồn chia ly. Ở đây tác giả so sánh nỗi lòng của mình với sóng nước. Sóng có bao nhiêu gợn thì lòng mình cũng buồn bấy nhiêu, nhưng gợn sóng là vô vàn, không sao đếm được. Cho nên tấm lòng của họ nhớ nhà, đau đáu chờ mong, buồn man mác cũng bấy nhiêu, không sao nói hết được.

Bên cạnh đó hình ảnh của cầu ván, cầu tre, các phương tiện đánh bắt cũng được người dân ở đây mượn làm phương tiện để nói nên nỗi lòng của mình:

Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.
Ví dầu mẹ chẳng có chi,
Chỉ con với mẹ chẳng khi nào mòn.

Cầu tre, cầu ván là hai hình ảnh rất quen thuộc đối với người dân Miền Nam. Nó thường được bắc qua những con kinh, con rạch, sông nhỏ. Ở đây, người phụ nữ mở đầu bằng một hình ảnh rất quen thuộc này như là một lời tâm sự của mình đối với con về tình mẫu tử thiêng liêng. Có thể người phụ nữ này đã bị chồng phụ bạc nên cô rất đau buồn, coi như là mất tất cả, cô chẳng còn thiết sống nữa. nhưng may còn được đứa con, nó là nguồn an ủi vô giá đối với cô, níu chân cô lại trên cõi đời này. Vì vậy, mọi tình yêu cô đều dành cho nó, xem như là nguồn an ủi duy nhất trong cuôc đời mình.

Không chỉ là lời than thân trách phận, không chỉ là tình mẫu tử bao la, lời tỏ tình dễ thương, sông nước Nam bộ còn phản ánh những nếp sinh hoạt, những buổi lao động hết sức đời thường của họ. Thể hiện được một cuộc sống đơn sơ, giản dị nhưng đầm ấm tình người, tình mẹ con, vợ chồng:

Cha chài mẹ lưới con câu,
Chàng rể đóng đáy, con dâu ngồi nò.

Đây là một bức tranh sinh hoạt đời thường, đầm ấm không khí gia đình ở miền Nam gắn chặt cuộc sống của mình với sông nước bao la. Không ai nạnh ai, mỗi người một việc, từ cha, mẹ đến rể dâu ai cũng phải lao động, lao động với một tinh thần hăng say, yêu thích, thể hiện được sự đoàn kết thương yêu lẫn nhau giữa các thành viên trong một gia đình.

Hay:

Chiều chiều ông Lữ đi câu,
Bà Lữ đi xúc con dâu đi mò.

Cảnh mẹ chồng nàng dâu từ xưa đến nay thiên hạ đã nói nhiều. Nhưng ở đây, ta thấy: mẹ chồng nàng dâu hết sức "ăn ý", mặc dù không nói ra, nhưng qua cảnh sinh hoạt ta vẫn thấy được nàng dâu và mẹ chồng rất hợp ý với nhau, ngay cả cha chồng cũng thế. Cả nhà cùng lao động, không khí gia đình thật đầm ấm vui tươi.

Sông nước là một đặc trưng không thể thiếu của miền Nam, mà gắn liền với sông nước là ghe, xuồng, lưới, câu, hò, cầu tre, cầu ván... tất cả đã trở thành rất quen thuôc với người dân Nam bộ. Cho nên trong ca dao dân ca Miền Nam, để bộc lộ tâm trạng của mình thì người dân nơi đây thường mượn các hình ảnh quen thuộc này để ví von, nhằm bộc lộ những gì mình muốn nói, bởi tất cả đó đã trở thành thị hiếu của người dân nơi đây.

Cùng nằm trong cái nôi văn hóa của quê hương, đất nước, ca dao dân ca Miền Nam đã mang đến cho kho tàng văn học dân gian những vần ca dao ngọt ngào, tình tứ. Ca dao dân ca Miền Nam là sản phẩm của sự suy tư, cảm xúc, sự trải nghiệm của con người, là tiếng nói của người Việt Nam, đặc biệt là của nguời dân vùng đồng bằng Nam bộ, góp phần làm phong phú kho tàng văn học dân gian của dân tộc.

TRẦN PHỎNG DIỀU

thanks 2 users thanked langthang09 for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 5/5/2011(UTC), Hà Phương Hoài on 5/15/2011(UTC)
hongvulannhi  
#949 Posted : Thursday, May 5, 2011 11:19:21 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)
UserPostedImage


Chúc Các Bà Mẹ hưởng ngày lễ Mẹ thật tuyệt vời trong đầm ấm và hạnh phúc

HONG VU LAN NHI

Edited by user Friday, May 6, 2011 12:13:19 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 5/9/2011(UTC)
hongvulannhi  
#950 Posted : Sunday, May 8, 2011 9:03:08 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)

Canh chua thơm


Trên mâm cơm gia đình Việt Nam thường có ba món ăn chánh tiêu biểu. Món mặn đậm đà nước mắm quê hương, món rau xanh tươi mượt mà cho mát bụng dạ, và một món không thể nào thiếu vắng: đó là món canh ngon ngọt.

Bữa cơm trưa cuối cùng trước khi chuẩn bị ra đi vượt biển, Mẹ tôi nấu canh chua thơm cho tôi ăn. Tâm ý của Mẹ là muốn tôi nhớ hoài mùi vị canh chua đúng nghĩa của quê hương vào giây phút mà tôi sắp sửa chia tay Mẹ để thực hiện một ước nguyện mơ hồ và đầy nguy hiểm, chưa biết được ngày mai.

Trên tay vỏn vẹn chỉ cầm một túi xách nhỏ, tôi thản nhiên, lặng lẽ đóng cửa rào. Ngoảnh mặt nhìn lại căn nhà lần cuối, giòng lệ khô đang lăn chảy trong lòng. Bước chân tôi nặng trĩu, bịn rịn, luyến tiếc như không muốn rời xa căn nhà đã chất chứa biết bao kỷ niệm êm đềm.

Quay lưng bỏ lại người thân trong nghẹn ngào ray rứt. Vẫy tay chào biệt hai đấng sinh thành đơn độc ở lại. Các con từng đứa tung cánh bay xa kiếm tìm vùng trời an lành có tự do, có tương lai, có nhiều cơ hội tiến thân. Ba Mẹ tôi vẫn ở yên trong nhà, không dám ra cửa để tiễn tôi đi. Thật đau lòng nhưng cũng chỉ vì không muốn hàng xóm dòm ngó, trông thấy cảnh bịn rịn chia tay này. Thời điểm đó, mọi hành vi đều bị theo dõi gắt gao, nhất là khi bị nghi ngờ “đi vượt biên”.

Những ngày tôi lênh đênh trên biển cả cũng là những ngày Mẹ tôi khoắc khoải chờ đợi mong tin, thấp thỏm vò võ lo âu. Bao nhiêu người vượt biển đã biệt tăm, ra đi không bao giờ trở lại, không biết sống chết ra sao. Có thể họ đã vùi thây dưới lòng đại dương thăm thẳm hay đã làm mồi trong bụng cá khổng lồ

Thời gian này Mẹ tôi đã mất ăn mất ngủ, chỉ còn biết van vái cầu xin để có được tin lành bay về. Lòng Mẹ thật bao la như biển rộng Thái bình Dương !

Những năm đầu vượt biển chui nhủi đó, thơ từ qua lại Việt Nam rất khó khăn. Thật may mắn, tôi đã đến được bến bờ sau chuyến viễn du thập tử nhất sinh và được định cư yên lành. Thỉnh thoảng nhận thư gia đình từ Việt Nam gởi sang, nước mắt cứ rưng rưng, chỉ mong sao Cha Mẹ được bình yên và nhất là không bị công an khu vực hoặc phường khóm làm khó dễ. Người ra đi đã thoát nạn nhưng người thân ở lại phải đối đầu với mọi theo dõi và chất vấn.

Con sông Nhà Bè hiền hòa đã lẳng lặng chuyển đưa biết bao thuyền nhân rời xa Quê Mẹ nhưng cũng không quên chuyên chở theo món canh ngọt ngào tình quê hương, đã được nhiều người ưa thích và đã trở thành món canh thuần túy Việt Nam . Canh chua là món ăn quá quen thuộc trong lòng người dân Việt cho dù cách xa quê Mẹ cả đại đương mênh mông. Tô canh pha đủ sắc màu, thơm vàng rộm cà chua đỏ rực, rau ngò ôm xanh ngắt, xen lẫn vài khoanh ớt mỏng dính cay nồng

Hương vị ngào ngạt tuyệt vời vừa chua, vừa ngọt, lại cay cay, rền rĩ cào xé nỗi lòng nhớ nhà trong những bữa cơm xum họp gia đình. Bây giờ Mẹ tôi không còn nữa. Kỷ niệm năm xưa, những ngày cuối ở thành phố Sàigòn, với bóng hình Từ Mẫu và tô canh chua thơm đậm đà vẫn còn vương vấn trong tôi mãi mãi.

Trời xứ lạ lắm điều bỡ ngỡ
Trường đời trôi con tập tễnh bước vào
Đường khúc khủy không may vấp ngã
Đừng nãn lòng hãy đứng vững đôi chân

Nguyễn Thị Bạch Liên
Mother’s Day
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 5/9/2011(UTC)
hongvulannhi  
#951 Posted : Monday, May 9, 2011 10:51:15 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)

Đậm đà mắm ruốc xào


5/5/2011
Chia sẻ bài này

Dân gian có câu: “Ăn được ngủ được là tiên”, còn cụ Phan Văn Trị thì viết trong đời có Tứ Khoái là: “Cơm Phiếu mẫu, gối Trần Đoàn/ Nửa đêm loan phụng, nhẹ nhàng nương long”. Tích xưa bên Tàu kể Hàn Tín đời nhà Hán thuở còn là anh học trò nghèo xác, một hôm đói quá phải xin chén cơm của bà già đang giặt quần áo (Phiếu mẫu) bên bờ sông. Ăn xong, Hàn Tín nói: “Ngày sau xin đa tạ ngàn vàng”. Sau này, Hàn Tín vinh hiển, được phong chức Tề Vương bèn đem ngàn vàng trở lại bến sông tìm bà già đền ơn thì bà không còn ở đó nữa. Thiên hạ cho rằng Phiếu mẫu là tiên xuống giúp kẻ có tài chưa gặp thời khỏi chết đói. Trần Đoàn là tên một vị tiên thời Gia Tĩnh Minh Thế Tông. Tương truyền khi buồn ngủ thì ông nằm đâu cũng ngáy pho pho được hết, thường gối đầu lên tảng đá ngoài đường mà ngủ, ai kêu cũng không dậy. Ngủ như Trần Đoàn nghĩa là ngủ rất ngon, ngủ rất say.

UserPostedImage


Người thôn quê miền Nam, dù cuộc sống cực nhọc “một nắng hai sương”, dù không phải là bậc túc Nho như cụ Phan Văn Trị, không phải anh hùng như Hàn Tín, cũng chẳng phải thần tiên như Trần Đoàn, họ vẫn tự hào: “Lựa là chợ búa kinh kỳ/ Ở đồng ở ruộng ăn gì cũng ngon/ Sáng thì rau ngổ xào lươn/ Trưa thì mắm ruốc cà um ngoài vườn...”. Xem ra thì dân quê miền Nam ngày nào cũng được hưởng cái “đệ nhất khoái” của đời người vậy.

Mắm ruốc dĩ nhiên được chế biến từ con ruốc. Tháng 4 âm lịch hàng năm là mùa ruốc ở cửa biển Sông Đốc (Cà Mau) cũng là mùa ngư dân làm mắm ruốc. Ruốc đánh bắt được đem về ngư dân bán tươi, phơi khô và làm mắm ruốc.

UserPostedImage

Phơi ruốc


Mắm ruốc miền Nam khác với mắm tôm miền Bắc. Trong miền Nam có một thứ màu sắc đỏ tím hơi tai tái kêu là màu mắm ruốc. Hôm nào bạn đi chợ, vào gian hàng vải nói với chị bán hàng: “Lấy cho tôi cái áo màu mắm ruốc” thì tức khắc chị bán vải sẽ đưa cho bạn khúc vải có cái màu tím đỏ tai tái đặc trưng đó. Đây mới mới chính là màu mắm ruốc thứ thiệt, màu nguyên thủy từ thời người miền Nam mới “khai sinh” ra món mắm ruốc và mắm ruốc chưa bị người ta dùng màu hóa học cho vào làm cho mắm hơi ngã màu tím đỏ cánh sen. So với màu mắm nêm thì màu mắm ruốc tươi hơn một chút nhưng cũng dễ lẫn lộn lắm. Vì vậy, dân gian mới có câu: “Mắm ruốc lộn với mắm nêm/ Ban ngày kêu chị, ban đêm kêu mình”. Tuy nhiên, mắm ruốc đặc sệt như bột khuấy hồ, còn mắm nêm thì lỏng bỏng.

Hồi trước, mắm ruốc thường được chứa trong khạp, vịm sành da lươn hay thau nhựa bán ngoài chợ, bên trên có đậy tấm ni-lông trắng kín lại chống ruồi. Khách mua thì người bán lấy cây dầm bằng gỗ (giống cái vá xới cơm) xục vào vịm (thau) mắm xúc một cái trét lên tấm lá sen hoặc lá chuối tươi. Tùy theo khách mua ít hay nhiều mà người bán xếp lá chuối lớn hay nhỏ, bỏ lên cân, xong gói lại như gói xôi đưa cho người mua. Mắm ruốc này làm thủ công, nên nhìn vào thấy còn lổn nhổn cái vỏ con ruốc. Bây giờ, người ta làm mắm ruốc văn minh, hiện đại hơn là làm bằng máy, nên mắm ruốc mịn như bột và đóng vào chai, vào lọ, dán nhãn đàng hoàng lịch sự, chớ ít thấy ai bưng bán từng thau mắm ruốc nữa. Cái kiểu mắm ruốc bán từng thau phải xuống tận miệt Sông Đốc, vào xóm chài chuyên làm mắm ruốc mới có. Bán thau chẳng qua là họ mới làm xong, chưa kịp đóng gói sản phẩm mà thôi.

UserPostedImage

Lưới ruốc


Mắm ruốc đem về bằm thêm chút ớt đỏ rải lên trên là có thể ăn liền với cơm nóng, rau luộc ngon lành. Hoặc buổi trưa hè cả đám xúm lại ngồi dưới gốc cây trong vườn gọt xoài xanh, khế chua, khóm, trái bần, cóc non... thành từng lát mỏng quệt vào tô mắm ruốc nhai rau ráu. Ăn sạch cả thúng đồ chua cũng còn thèm.

Thời tôi là sinh viên thì mắm ruốc quý lắm. Bạn tôi những đứa quê vùng biển lần nào về nhà cũng “cõng” mắm ruốc xào vô trường để dành ăn. Mắm này là gia đình tự đánh bắt, tự làm để ăn. Thịt heo ba rọi bằm nhuyễn xào với sả ớt, cũng bằm nhuyễn, rồi cho mắm ruốc vô xào. Xong để nguội múc vô lon nhôm (lon sữa Guigoz cũ) đem vô trường. Mắm ruốc xào không hư, mỗi lần ăn siêng thì hâm lại (mà thường thì... không siêng), làm biếng thì thôi, ăn vẫn ngon cho đến vét lon. Hồi đó, mắm ruốc đã hiếm mà thịt càng hiếm hơn, nên làm món này thịt thì ít, mà mắm với sả bằm thì nhiều. Nhiều lúc, ăn gần hết bữa cơm, quơ đũa tìm hoài trong chén mà không thấy miếng thịt nào hết.

Bây giờ làm món mắm ruốc xào thịt cầu kỳ hơn và ngon hơn vì có thêm nhiều gia vị. Nếu dùng mắm ruốc thô (nhìn thấy vỏ ruốc) thì phải lấy mắm cho vào cái tô lớn, đổ vô một chén nước nóng, khuấy đều cho mắm tan hết trong nước rồi dùng cái rây mịn lọc bỏ cát, sạn hoặc vỏ ruốc, lấy nước mắm bên dưới thôi. Nếu dùng mắm ruốc thượng hạng (được đóng vào lọ, hũ) thì không cần lọc.

Thịt heo ba rọi loại ngon xắt miếng mỏng nhỏ bằng ngón tay hay bằm nhỏ tùy ý thích. Thường thì 150 gram mắm ruốc xào với 200 gram thịt ba rọi, 2 cây sả tươi, vài trái ớt chỉ thiên đỏ. Muốn ăn lạt và béo thì dùng nhiều thịt, ai thích ăn hơi mặn đậm thì tăng mắm ruốc lên.

Cách làm món này đơn giản lắm. Sả và ớt băm nhuyễn. Cho dầu ăn (hoặc mỡ nước) vô chảo, khi dầu nóng thì cho sả bằm vào xào đến khi sả hơi vàng một chút và bay mùi thơm thì cho thịt vào xào cho săn thịt (chưa chín) rồi cho mắm ruốc, chút đường, chút bột ngọt vô xào cho đến khi thấy thịt chín mỡ trong là được. Lúc này có thể cho ớt vào xào chung sơ qua rồi nhắc xuống. Hoặc ớt bằm để riêng, lúc nào ăn mới rắc vào. Xào như vầy mắm ruốc bám xung quanh miếng thịt nhưng bên trong miếng thịt vẫn ngọt vị thịt chớ không mặn nhiều, ăn liền trong vài ngày rất ngon. Muốn xào để dành lâu thì phải pha mắm ruốc tan vào nước hơi lỏng lỏng một chút, thịt xào săn xong cho nước mắm ruốc và gia vị vô để lửa riu riu trên bếp cho mắm ruốc từ từ thấm vào thịt đến khi thịt và mắm khô sền sệt là được. Như vậy, thịt thấm mắm vào trong hơi mặn một chút nhưng không cần có tủ lạnh vẫn để dành được lâu, chờ mắm xào nguội xúc vô keo thủy tinh, đậy nắp kín đem cất chỗ khô ráo, mát mẻ là được.

UserPostedImage

Gom ruốc tại bãi


Khi ăn, múc mắm xào ra dĩa, ăn với dưa leo, cà chua (sống), đậu bắp luộc, rau xà lách, rau thơm, húng lủi, húng quế, ớt bằm. Có người còn rắc thêm chút hành lá sống hoặc củ hành tím cắt nhỏ lên trên dĩa mắm xào cho đẹp mắt.

Bất kể thời tiết nóng hay lạnh, trời mưa hay trời nắng, món mắm ruốc xào thịt ăn lúc nào cũng thấy bắt cơm. Lấy đũa gắp một miếng dưa leo, miếng đậu bắp luộc hay quấn vài lá rau xà lách, húng quệt vô dĩa mắm rồi đưa vào miệng nhai rau ráu, lùa thêm miếng cơm gạo trắng xốp nóng hôi hổi vào. Vị mặn đậm đà thơm đặc biệt của mắm ruốc, vị thơm hơi the the của sả, vị cay nồng của ớt, vị béo ngọt của thịt hòa vào vị nồng lẫn mát lạnh cổ họng của rau lẫn vị ngọt mềm của cơm, ăn no đến cành hông vẫn còn muốn ăn thêm. Dân gian có câu “Ăn thủng nồi trôi rế” chính là đây, mà hồn tổ quốc cũng là đây - món mắm ruốc xào thịt chấm rau đồng đậm đà, đằm thắm chất quê!

TPT
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



thao ly  
#952 Posted : Tuesday, May 10, 2011 12:58:49 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 1,962
Woman

Thanks: 426 times
Was thanked: 336 time(s) in 238 post(s)
Nhớ bánh khoai mì nướng


4/28/2011

Thời tôi còn nhỏ, trẻ con nhà quê không có nhiều quà bánh xanh đỏ chế biến kiểu công nghiệp hấp dẫn như bây giờ. Quanh năm suốt tháng chỉ là những thứ bánh do người nhà và người trong xóm tự “sản xuất” trong nhà bếp nhỏ xíu của mình. Còn “nguyên vật liệu” là: gạo, nếp, khoai lang, khoai mì, khoai môn và đường mía để sáng tạo ra hàng trăm thứ bánh trái mùi vị khác nhau, mỗi mùi một vẻ “mười phân vẹn mười” thiệt là hấp dẫn cái lỗ mũi, lỗ tai lẫn cái miệng.

Khoai mì (miền Bắc gọi là sắn) thì chế biến được nhiều thứ bánh độc đáo hơn khoai lang. Ngoài công dụng làm mứt, nấu chè, dùng như một thứ vật liệu đệm nấu món ăn mặn thay thế thịt (đỡ tốn nhiều tiền mua thịt mà món ăn vẫn ngon) thì khoai mì được chế biến thành nhiều thứ bánh thơm ngon hấp dẫn. Nào là bánh khoai mì nướng, bánh khoai mì hấp, bánh tằm khoai mì dẻo, khoai mì trộn dừa, khoai mì nước cốt dừa... Riêng bánh khoai mì nướng cũng đã chia làm nhiều “trường phái” nướng rồi.

UserPostedImage


Có khi củ khoai mì được lột bỏ vỏ rửa sạch hấp chín giã nhuyễn in thành bánh rồi nướng. Lúc khác, khoai mì được đem mài thành bột xong mới thêm thắt vô này nọ nữa rồi cho vô khuôn nướng. Hôm nay tôi chỉ nói về “trường phái” nướng thôi, còn các “trường phái” khoai mì khác để lần sau nói tiếp.

Muốn ăn khoai mì luộc muốn ngon phải lựa thứ khoai củ ốm mà dài, nhỏ vừa phải, kêu là khoai mì kè, luộc chín nhìn thấy củ khoai màu vàng trong vắt thì khoai ăn mới dẻo và thơm. Còn làm bánh khoai mì nướng (loại hấp trước nướng sau) thì phải lựa khoai mì củ thiệt bự, càng bự càng tốt, cho ra nhiều bột khoai bở, làm bánh mới “ngợi” (ra nhiều bánh). Tuy nhiên, khoai bự củ không có nghĩa là khoai già, nhiều xơ và bị vàng hay thâm. Phải lựa khoai lớn hết cỡ, bự củ nhưng lột vỏ ra thịt khoai trắng muốt.

UserPostedImage

Khoai mi lột vỏ


Khoai đem về lột vỏ rửa sạch rồi cho vô xửng hấp cách thủy cho khoai chín bở không bị đọng nước. Hấp xong đem ra để nguội, tách củ khoai lấy cọng xơ chính giữa bỏ rồi cho khoai vào cái túi vải nhồi bóp cho khoai nhuyễn ra, nhưng không cần phải nhuyễn như bột ăn cũng mất ngon, mà nó vừa hơi nhuyễn vừa còn lại lục cục khoai nho nhỏ bằng hột bắp là được. Lấy cái khuôn (bự nhỏ tùy ý) lót miếng ni-lông trắng mỏng vô khuôn, bốc bột khoai ép vô khuôn rồi lấy ra xếp vô xửng. Nếu ở nhà làm ăn mà không có khuôn thì lật úp cái tô lớn, ép bột khoai vào khu tô (trôn) cũng in thành cái bánh được luôn. In bánh xong rồi mới đốt một bếp than để bánh lên vỉ nướng vàng hai mặt là xong, có cháy chút đỉnh thì càng thơm, cái da ngoài nó giòn giòn lại càng hay. Phải nướng bằng bếp than, có than đước càng tốt, chớ nướng bằng các loại bếp gas hay lò nướng hiện đại nó mất mùi than, không thấy ngon nữa. Bánh nướng này vừa dẻo, vừa bùi, vừa béo, vừa thơm, vừa ngọt, ăn đến no cả bụng mà không ngán.

UserPostedImage

Khoai mì hấp chín


Một cách làm bánh khoai mì nướng khác là khoai mì lột vỏ rửa sạch để ráo rồi dùng cái bàn mài khoai mì mài củ khoai thành một thứ bột ướt. Mài xong cho vào túi vải vắt ráo nước. Có hai loại bánh nướng ướt: loại chỉ thuần khoai mì và loại có thêm sữa, bột mì, trứng gà, nước cốt dừa hoặc cơm dừa nạo mịn...

Nếu chỉ làm loại thuần khoai mì, sau khi vắt ráo nước thì cho thêm ít đường, va-ni vô trộn đều thành một thứ bột dẻo, nếu thích béo thì cho thêm nước cốt dừa đặc vô, không thích béo thì thôi. Vậy là có thể xúc bột này ém vô khuôn nướng chín là ăn được.

Thập niên 80 - 90, bánh khoai mì chỉ làm đơn giản có như vậy nhưng chúng là niềm khát khao của con trẻ trong làng xóm. Ngay cả củ khoai luộc, khoai cắt miếng hấp độn với cơm mà còn không có đủ để nhét vào những cái bụng lúc nào cũng trống rỗng kêu gào sùng sục, thì nhà nào khấm khá lắm và có “tài” giấu giếm mới có dư khoai mì làm bánh ăn chơi hay bán cho con nít trong xóm.
Bây giờ, đời sống tạm bớt vất vả hơn xưa, nên bánh khoai mì cũng biến đổi màu mè theo. Người ta làm bánh khoai mì nướng có thêm đường, sữa, bột mì, trứng gà, nước cốt dừa... (tùy ý thích) trộn đều, tạm gọi là bánh béo. Thoa bơ (dầu hoặc mỡ) cho láng mặt khuôn, ép bột khoai vô đều mặt rồi cho vào lò nướng thấy vàng đều bên ngoài và bốc mùi thơm phức là bánh chín. Nếu không có khuôn nướng thì lấy cái nồi gang hay nồi nhôm thay thế. Nướng bằng bếp than thì lấy than cháy đỏ để lên nắp nồi cho bánh chín đều. Bánh có nhiều “phụ gia” loại này khi chín mềm hơn và béo, thơm hơn bánh thuần bột khoai mì, nên người ta thường nướng trong những khuôn lớn cỡ cái dĩa bàn hay cái mâm nhỏ, khi ăn dùng dao cắt ra từng miếng hình bình hành.

UserPostedImage

Nghiền nhuyễn trước khi nướng


Bánh thuần bột khoai mì khi chín cứng và dẻo hơn nên thường nướng trong những cái khuôn nhỏ như khuôn bánh bông lan hoặc cái khuôn tròn bên trong chia làm 6 múi (sẽ ra 6 cái bánh) hình tam giác rất đơn giản.

Trên đường phố Sài Gòn bây giờ bánh khoai mì nướng béo được bày bán khắp nơi, từ tiệm bánh sang trọng cho đến những xe bánh nướng bán rong, và nó được coi như một thứ bánh “sang trọng”. Chỉ lâu lâu bạn mới bắt gặp những xe bán bánh khoai mì dẻo (không béo) của những cô hàng bánh đẩy đi nghêu ngao trên đường phố ở khu Gò Vấp hay khu lao động Cầu Kinh (Bình Thạnh), bán một khuôn bánh (6 cái) nho nhỏ deo dẻo nóng hôi hổi giá 10 ngàn đồng.

Muốn ăn bánh khoai mì dẻo, khoai mì hấp nướng thì buổi trưa có anh thanh niên đẩy xe bán rong trên đường Kỳ Đồng (quận 3), tầm xế hơn 5 giờ chiều, anh này đẩy xe qua bán ở ngã tư Trần Quốc Thảo (Trương Minh Giảng cũ) - Lý Chính Thắng (Yên Đỗ cũ). Bốn cái bánh nướng giá 10 ngàn đồng.

UserPostedImage

Bánh khoai mì nướng


Tôi vẫn thích ăn bánh khoai mì hấp nướng hay bánh dẻo nướng hơn. Không nhiều chất ngọt, chất béo, không cầu kỳ. Nhai cái bánh nóng hổi ngọt nhẹ, bùi bùi, dẻo dẻo trong miệng mà nhớ đến một thời lúc nào bụng cũng sôi lên vì đói.

Tạ Phong Tần

Edited by user Tuesday, May 10, 2011 1:10:06 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thao ly  
#953 Posted : Tuesday, May 10, 2011 8:51:43 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 1,962
Woman

Thanks: 426 times
Was thanked: 336 time(s) in 238 post(s)
Huyền thoại núi Ba Thê – An Giang


UserPostedImage


Núi Ba Thê còn có tên gọi là Vọng Thê, tên chữ là Hoa Thê Sơn. Đây là một ngọn núi nằm lẻ loi giữa đồng tứ giác Long Xuyên, ngày nay thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Núi Ba Thê còn có tên gọi là Vọng Thê, tên chữ là Hoa Thê Sơn. Đây là một ngọn núi nằm lẻ loi giữa đồng tứ giác Long Xuyên, ngày nay thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Xe chạy xuyên qua cánh đồng Thoại Sơn mênh mông, bát ngát, lúa chín vàng. Từ thành phố Long Xuyên theo tỉnh lộ 943, chúng ta đi về hướng Tây hướng về Núi Sập. Dòng Thoại Giang (còn gọi là Thoại Hà) là một công trình thế kỷ do ngài Thoại Ngọc Hầu chỉ huy. Đã có hàng vạn lượt dân công, cơm nắm mo cau, chân đất đầu trần, tứ phương tụ họp về đây phá rừng, đào đắp, nạo vét kênh bằng những công cụ thô sơ để cho hôm nay dòng Thoại Giang chảy xuôi về biển.

UserPostedImage


Dưới chân núi Ba Thê, du khách tập trung mua vé để lên núi, bảy ngàn đồng cho hai người, một xe. Có một con đường nhỏ lát bê tông bề ngang chừng ba mét, ngoằn ngoèo, uốn lượn chạy quanh co lên đỉnh. Hai bên sạn đạo là rừng cây thâm u, vách đá dựng, vực sâu thăm thẳm. Quãng đường dài chừng hai cây số nên xe chạy chừng 15 phút thì tới đỉnh. Con đường này có từ đời Pháp thuộc, đến năm 2002 được Nhà nước đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh, an toàn để phục vụ cho du lịch.

Hoa Thê Sơn đẹp như chốn bồng lai tiên cảnh, có nhiều sự tích và huyền thoại gắn liền với một nền văn minh một thời kỳ phồn thịnh, rực rỡ trong quá khứ. Trên đỉnh Vọng Thê có ngôi chùa cổ tên Sơn Tiên Tự được dựng vào năm 1933.

UserPostedImage


Trước sân chùa có tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát cao chừng tám mét, đứng trên tòa sen, khoác áo choàng đỏ, uy nghi, tự tại, bao quát khắp thế gian. Mây bay là đà mang hơi sương mát lạnh, cỏ cây xanh tốt ngút ngàn, chim hót líu lo khắp nơi. Thỉnh thoảng tiếng chuông chùa ngân vọng khắp núi rừng làm bâng khuâng, xao xuyến lòng người.

Có một di tích rất huyền thoại, lạ lùng gợi trí tò mò cho khách. Đó là hòn đá hoa cương cao chừng ba mét, to cỡ gốc cổ thụ bốn người ôm không xuể, nằm bên hông chánh điện của Sơn Tiên Tự. Trên mặt viên đá khổng lồ ấy có dấu bàn chân người, to hơn bình thường một chút, rất rõ. Đó là "bàn chân tiên"! Theo truyền thuyết được các sư trên núi kể lại, xưa kia, lúc mới tạo sơn, đá núi còn mềm như đất sét, có một vị tiên đã ấn bàn chân mình lên đá để làm dấu.

UserPostedImage


Dưới triền núi cách chùa Sơn Tiên chừng mười mét có một công trình rất lạ mắt là nhà trưng bày những cổ vật, hiện vật có liên quan đến lịch sử cũng như văn hóa của Ba Thê - Óc Eo. Công trình này có phong cách kiến trúc rất giống những đền đài của các nước vùng Nam Á nên dấu ấn của Ấn Độ giáo thể hiện rất rõ qua kiến trúc mái vòm tròn đứng, cửa hình chữ nhật cao, nhiều tầng, đầu vuốt chữ U ngược.

Các mặt vách chung quanh "đền" đều có tượng thần Ganesa mình người, mặt đầu voi, ngồi với tư thế nghiêm trang, nửa như trầm mặc thiền định, nửa như răn đe canh giữ. Lan can bao bọc sân đền trang trí tượng nhỏ, giống loài ngựa Ả Rập, lùn, hơi nhỏ con. Nhìn tổng thể, "đền" có bố cục kiến trúc sinh phồn thực, mô phỏng, nhân cách hóa hình tượng yoni, linga.

Các màu trang trí chủ đạo là nâu, xám, trắng được sử dụng tối đa, khác với phong cách Angkor - Khmer chi li, nhiều màu sắc. Khu nhà trưng bày có chu vi hình vuông chừng 40m, tam cấp cửa chính ở phía Mặt trời mọc, là nơi ngự trị của các thần linh theo quan niệm Ấn Độ giáo.

Đây là công trình có nét độc đáo, thể hiện bản sắc bắt nguồn từ văn minh Nam Á, được cải biên khi di thực và cộng cư ở bán đảo Đông Dương. Ở ngọn núi Nhỏ cạnh bên có một hòn đá chơ vơ, trên đầu có một phiến đá tròn giống cái nón. Người ta cho rằng vị sư kia đã hóa đá, giống như chuyện hòn Vọng Phu ở miền Trung và miền Bắc, nhưng đây lại là "vọng thê".

Ở phía Bắc của đỉnh Ba Thê còn có một tảng đá có dáng hình như một cây đao vĩ đại, là bửu bối của trời đất để trừng trị bọn gian ác.

Khi nắng đã xế về Tây, đứng trên đỉnh Ba Thê nhìn xuống đồng bằng xa xa mờ ảo trong khói lam chiều, bạn sẽ thấy tâm hồn như lắng lại, lòng lâng lâng cảm giác thoát tục giữa bốn bề sơn thủy hữu tình.

Edited by user Tuesday, May 10, 2011 9:23:35 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#954 Posted : Tuesday, May 10, 2011 3:01:52 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2115 time(s) in 1487 post(s)

UserPostedImage

TÔI RA XỨ HUẾ


Tùy bút:

Khoảng tháng Mười năm 1888, khi viên tổng trú-xứ ở Huế là Etienne Richaud vừa nhậm chức toàn quyền ít lâu, dịp này triều đình Việt-Nam mới cho thành lập một ban đại diện gồm cả ông Nguyễn-Văn-Mại tháp tùng, ông Mại là người vừa được thăng làm tự-vụ, sung hành tẩu, trực thuộc binh bộ thượng thơ cơ mật viện Hoàng-Hữu-Tường. Phái đoàn có nhiệm vụ tổ chức liên lạc định ngày đem vàng bạc châu báu, của hiếm vật lạ, sang chúc mừng quan tân toàn quyền Pháp tại Việt-Nam. Nhân tiện, thấy sẵn cơ hội, Hoàng-thái-hậu Từ-Dũ cũng gửi hai viên ngọc như-ý làm quà tặng người khách viễn phương.
Bên ni sông, là kinh thành của vua Đồng-Khánh, bờ bên kia có tòa tổng trú-xứ…sự qua lại còn phải dùng đò ngang chòng chành, diệu vợi…Hôm ấy chẳng may lại gặp mưa to gió lớn, các đồ tặng phẩm chia làm mấy chục thứ để ở long đình lập danh sách, sắp xếp kiểm tra canh gác, rồi cắt đặt nhiệm vụ người nào việc ấy cẩn thận che đậy đem xuống thuyền…vậy mà chẳng may mọi người lật đật nhiều việc cũng đã quên mất hai viên ngọc như-ý.
Đến tòa thì các quan chia nhau bưng tặng phẩm vào mà không thấy hai tráp đựng ngọc. Đoàn-trưởng Nguyễn-Hữu-Độ hỏi đi hỏi lại, các quan lớn đều sợ hãi bồn chồn lui ra, đổ lỗi cho Nguyễn-Văn-Mại, ông Mại bình tĩnh, một mặt ủy cho hai người thừa phái về viện kiếm tìm,ông nghĩ trong viện lẽ nào có người dám ăn trộm ngọc…,một mặt vào tòa thưa rằng:
“Hai tráp ngọc ấy để riêng một long đình, đem xuống một long thuyền nhỏ, nhân vì mưa gió nên chưa tới…”
Đình thần lấy làm lo lắng, biết là lời khai không thực, may sao, lát sau người thừa phái bưng ngọc đến…các quan mới vui mừng vào tiệc, rượu tây mới được khui ra, bồi bàn mới chạy lăng quăng, phong tục tuy khác biệt, ngôn ngữ lại bất đồng, chẳng thấy nói ở đấy có thông ngôn hiện diện làm việc hay không, nhưng điều đó nhằm nhò gì, gặp nhau đây, chủ khách đều hiểu vị trí của mình nên đã đãi ngộ thù tạc trong tinh thần “Pháp Việt đề huề”…thật thà, tha thiết, cởi mở!
Đúng ra đây là một sự việc nhỏ, nhưng cũng gây nhiều hồi hộp, cái tóc cái tội, giữa chốn quan quyền vua chúa, sơ xuất mất đầu như bỡn, về sau chính ông Nguyễn-Văn-Mại có kể trong tập Lô-Giang Tiểu-Sử còn lưu truyền đến bây giờ. Ngay đó các quan hỏi, nếu tìm không ra thì nói sao? Ong Mại trả lời “Thì tôi nhận chìm một con thuyền và đổ cho mưa gió…” Mọi người nghe vậy ai nấy trợn mắt kinh ngạc trước mưu toan sắp đặt to gan của đương sự.
Nguyễn-Văn-Mại (1858-1945) bút hiệu Tiểu-Cao, quê làng Niêm-Phò huyện Quảng-Điền đậu phó bảng hai lần (năm 1885 và 1889) sau được cử làm quản giáo chuyên về Hán văn song song với cụ Ngô Đình Khả làm quản giáo về Pháp văn cùng trường Khải-Định, ngoài cuốn Lô-Giang-Tiểu-Sử cụ Mại còn là tác giả tập Việt-Nam Phong Sử, cắt nghĩa rành mạch 100 câu phong dao lịch sử từ thời Hồng-Bàng…Đường công danh thênh thang, sáng lạn, cụ lên tới chức An Sát Quảng-Nam và rồi về hưu với hàm tổng đốc thọ gần 90 tuổi.
Việc quên ngọc như-ý hồi ấy chỉ là một trường hợp hãn hữu, nếu chẳng phải quá giang, phái đoàn sẽ tránh được nhiều phiền toái lỉnh kỉnh và biết đâu nhờ đó sẽ không sẩy ra vụ quên ngọc, tuy nhiên chẳng phải vì lý do quên ngọc mà người ta mới rõ sự ích lợi của việc xây cầu làm cống.
Thực tế đâu lạ gì, xưa nay hễ có sông, có dân là có cầu. Cầu cống là rất cần thiết.Nó giúp ích thuận lợi trong việc mưu sinh chợ búa đổi trao, tiện nghi qua lại họ hàng thân thuộc…thế thôi, Tình hình Việt-Nam hồi đó mà nói rằng cầu cống còn góp phần làm tăng trưởng kinh tế, văn hóa có lẽ hơi sớm. Dân làng giầu có làm cầu sắt, cầu bê-tông, cầu ngói… nếu nghèo làm cầu ván đóng đinh, cầu tre lắt lẻo thậm chí kiếm mấy thân cây dài cắm xuống nước buộc lại thành hình chữ X rồi để thêm một cây nữa bắc ngang như cái sào phơi làm cầu khỉ cao chênh vênh cũng được.
Khúc sông Hương chẩy qua kinh thành Huế là vùng đất quan trọng hơn nơi nào khác, với lâu đài vua chúa bên ni, với tòa Trú sứ của quan Đại Pháp bên kia, với “nhiều bà đầm ngoi đít vịt, lắm ông cử ngỏng đầu rồng.”. Thì lại càng cần nhiều cầu cho tiện việc sinh hoạt hàng ngày, nên nơi đây về sau thấy xuất hiện cây cầu khá quan trọng, khá nổi tiếng đó là cầu Trường-Tiền thì cũng chẳng có gì ngạc nhiên.
Theo sách Cố Đô Huế của học giả Thái Văn Kiểm, thì cầu Trường-Tiền làm từ năm Thành Thái thứ 9 (1897) cầu dài 400 mét và sở dĩ có tên Trường Tiền vì ngày trước gần đấy có một xưởng đúc tiền.
Nhớ bến Trường-Tiền có cây đa bóng mát
Gần bến Bồ-Đề có bãi cát phẳng lỳ.
Đại Nam Nhất Thống Chí nói rõ hơn: “Trường Tiền Thiết Kiều” ở đông nam kinh thành, bờ phía bắc thuộc về phường đệ nhất, tổng Phú Xuân huyện Hương Trà, bờ phía nam thuộc phường đệ bát. Khởi làm năm Thành Thái thứ 9 (1897), cầu có sáu gian, mỗi gian 66 thước 8 tấc 5 phân; Bề ngang 6 thước 2 tấc trọn bề dài 401 thước 1 tấc đến năm Thành Thái thứ 11 mới xong.
Lại theo cuốn L’Empire d’annam của Capitaine Ch. Gosselin thì cầu khởi công tháng 5 năm 1889 hoàn thành tháng 10 năm sau. Sàn cầu lát bằng gỗ lim, ra đời chưa được mấy năm bị gió bão năm Thìn, ngày 14 tháng 9 năm 1904, đánh xập, thế là thêm một lần phải… “đúc lại xi-moong!”.
Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại
Cầu Tràng Tiền đúc lại xi moong.
Từ ngày “đúc lại xi-moong” tưởng chiếc cầu sẽ bền vững dễ dàng cho cư dân hai bên bờ đi lại thân tình, cho “em tôi qua lấy chồng làng bên” hạnh phúc, nào dè nó vẫn còn nổi trôi theo vận nước bấp bênh:
Cầu Trường-Tiền bấy nhiêu năm qua lại
Kể từ đời Thành Thái đến nay
Chạnh lòng biết hỏi ai đây
Việc chi nên nỗi đang tay giựt cầu.
Ưng-Bình.
Nhân tiện đến đây xin kể một giai thoại liên quan đến chiếc cầu Trường-
Tiền trong tập hồi ký của Đặng-Thái-Mai ghi lại như sau:
“Một tin đồn rằng ngày cái cầu Trường-Tiền bắc qua sông Hương, được khởi công lần thứ nhất thì lão khâm-sứ, hôm bắt đầu đặt hòn đá móng cho công trình đã nói với vua:
- Khi nào cái cầu này gẫy thì nhà bảo hộ sẽ trả lại nước An-Nam cho bệ hạ!
Nào ngờ đâu, cái trận bão năm Thìn “1904” đã xô ngã nhịp cầu đầu tiên xuống sông. Thế là mấy ngày sau khi nhà vua gặp lại khâm sứ trong một buổi lễ, đã hỏi ngay hắn ta: “Thế nào, cái cầu gẫy rồi đấy!” Làm khâm sứ chỉ còn nước xanh mặt, cười nghê, đánh trống lảng.”
Theo giáo sư Hứa-Hoành trong “Sau Bức Cấm Thành Nhà Nguyễn” thì vua Thành-Thái lên ngôi vào đầu năm 1889 lúc mới 10 tuổi, về thể chất nhà vua có nước da ngăm đen, cao lớn, khỏe mạnh, cặp mắt sáng, thông minh đã biết một ít chữ Tầu và chữ Tây. Ong có nhiều cử chỉ, thái độ chống đối người Pháp làm cho họ lưu ý, nên đã cắt cử một vài đại thần theo dõi để báo cáo.
Trường Tiền là một cây cầu lớn, lâu đời và nổi tiếng ở cố đô nước ta, so với cầu Long-Biên (Paul Doumer) tại ngoại ô Hà-Nội nếu xét về mặt thâm niên nó còn là bậc đàn anh sinh trước tuy không dài, rộng, bề thế bằng.
Cầu Long-Biên do hãng Daydé & Pille xây cất (không phải công ty Eiffel như cầu Trường-Tiền). Cầu dài 2,300 m cầu chính 1,800 m , hiện tại chỉ còn 9 nhịp dài 767 m về phía Hà-Nội là tương đối nguyên vẹn, rộng 30,6 m có đường sắt và hai lằn đường dành riêng cho khách bộ hành cao khoảng 44 m tính từ mặt nước sông, đã khánh thành hồi tháng 2 năm 1902 với chuyến xe lửa đầu tiên chở vua Thành-Thái, toàn quyền Paul Doumer, vua Mã-Lai, đại diện, Lào, Campuchia, Trung Hoa..khởi hành từ ga Hàng-Cỏ Hà- Nội vượt qua sông Hồng rầm rộ khua chiêng đánh trống có tính cách quảng bá, hãnh diện về việc làm ích quốc lợi dân đã thực hiện.
Cầu Trường-Tiền có cái lợi hơn cầu Long-Biên là chiều dài vừa phải, chỉ
Có 400 thước, lại nằm giữa đôi bờ dân cư đông đúc, nên băng ngang cầu hàng ngày khách bộ hành sử dụng rất nhiều nhất là các nữ sinh áo trắng đã tận dụng môn thể thao đi bộ qua chiếc cầu lúc cắp sách tới lớp và khi tan trường về, tạo nên một hình ảnh đặc thù của Huế, làm tăng vẻ đẹp cho cây cầu, phát sinh những kỷ niệm, nhiều người nhớ đến trọn đời :
Nơi đây hương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ta có đậm đà!
Hàn-Mạc-Tử.
Không ai trối cãi là những cây cầu dù hùng vĩ dù đơn sơ ngoài sự ích lợi thiết thực, nó cũng giúp phần làm tăng vẻ đẹp thiên nhiên, nó như chứng tỏ có sức sống, có sự hòa hợp của thiên nhiên và sự hoạt động kiến tạo của bàn tay khối óc con người.
Các văn nghệ sĩ, hơn những người khác, đã nhìn thấy rõ và họ cũng biết là những vẻ đẹp này nếu lấy làm bối cảnh sẽ tô điểm thêm cái lãng mạn, cái tình tứ, nên thơ tức là cái giá trị nơi tác phẩm của ho, chẳng biết có đúng thế không mà đoạn kể lúc chia tay của “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt.” cùng “khách má hồng.” Bên cầu, trong tác phẩm Hán văn của Đặng Trần Côn “Chinh Phụ Ngâm Khúc” mà bà Đoàn-Thị-Điểm đã dịch, mô tả thì ai nghe, ai đọc dù chỉ mấy câu cũng thấy thật là… “Nhiều nỗi truân chuyên” vậy đó!
Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Đến đây ta sẽ mang tiếng là vô tình biết mấy vì nói tới Huế mà cứ kể lể về cầu Trường-Tiền sao chẳng đả động, nhắc nhớ chi đến sông Hương. Thử tưởng tượng coi, nếu không có sông Hương thì làm gì có cầu Trường Tiền, thì Huế lấy gì để hãnh diện là Huế đẹp Huế thơ, là “non xanh nước biếc như tranh họa đồ.” để hấp dẫn mọi người từ hàng dân giả tới các vị tài tử phong lưu, từ người địa phương lúc nào cũng ăn nói nhỏ nhẹ tới hàng du khách, kẻ ở xa đến… nhìn đâu đâu cũng mê mẩn tâm thần.
Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không rời.
Sông Hương bắt nguồn từ núi Tường-Động và Chấn-Sơn đổ xuống hợp lại từ ngã ba sông Bằng-Lãng quanh co trước Cơ-Thánh, núi Ngọc-Trản đến ngã ba Long-Hồ, cầu Gia Hội, Bao-Vinh, Triều-Sơn, Thanh-Phước, Bến Thái-Dương, thành Trấn-Hải rồi phóng ra cửa Thuận-An tổng cộng khoảng 55 dặm.
Theo một vị rất có tư cách để nói về Huế là học giả Nguyễn-Cúc, người đang miệt mài tiếp tục xuất bản hàng năm những dặc san Tiếng Sông Hương, thì, Ngày xưa, không lâu lắm, dọc theo bờ sông Hương, cỏ cây hoang dại còn nhiều từ đồng nội xa xăm, hay những đám đất vồng thoai thoải, lưng chừng, mọc lên một loài hoa, hương thơm nhè nhẹ gọi là DÃ CÚC sau này các nhà nho thích chữ nghĩa đặt thêm tên Hán Việt KHỔ Ý NHĨ.
Từ trường Chaigneau đến trường Jeanne d’Arc và gần đó dọc theo sông Hương, từ ngã ba tòa Khâm xuống đến Đập Đá, hoa thầu-đâu nở thênh thang và cũng có ngày hoa rụng tràn đầy. Hương Thơm hoa thầu-đâu không được dịu lắm Huế mình cho là hơi hắc.
Có thể vì những mùi thơm rải rác dọc đôi bờ, hay trên những vồng đất thoai thoải lưng chừng mà con sông được mang tên sông Hương.Rất có thể là như vậy, nhưng ai là người đặt tên “sông Hương” cho con sông có mùi hương thơ mộng ấy ? Thật khó trả lời. Và, nguyên do mùi thơm đó từ đâu thi mỗi người giải thích một khác, tiện đây cũng xin ghi lại bài thơ Hương Giang Hành trình bầy nguồn gốc danh từ “Sông Thơm” của cụ Vân-Bình Tôn Thất-Lương, (1887-1951) cảm tác lúc cụ tòng sự tại tòa khâm-Sứ Huế:
Hương Giang Hành.
Cỏ thơm có giống Thạch Xương Bồ
Sanh ở hai nguồn tả hữu trạch
Hoa thơm dầm nước, nước trong veo
Họp thành “sông thơm” chẩy róc rách
Quanh co rộng hẹp dài muôn sải
Thấm mát ruộng vườn gành với bãi
Em đềm theo dọc tỉnh Thừa-Thiên
Chẩy về Thuận An ra Đông Hải.
Nội dung Hương Giang Hành đại ý, từ hai bên bờ tận thượng nguồn sông Hương có một loài thảo mộc tên là Thạch Xương Bồ mọc nơi khe đá toát ra hương thơm hòa tan khiến cho nước sông có mùi thơm nên gọi là sông Hương, nước sông Hương đượm mui thơm của Thạch Xương Bồ chẩy róc rách thấm mát ruộng vườn gành bãi dọc theo tỉnh Thừa-Thiên về Thuận-An ra Đông Hải…
Thạch Xương Bồ là loài thảo mộc như thế nào có lẽ ít người rõ. Theo Tự điển Tiếng Việt định nghĩa thì ta cũng chỉ biết đại cương: Xương bồ là danh từ, cây họ ráy, mọc ở nước, lá hẹp dài, nhọn, thân rễ có mùi thơm, dùng làm thuốc... Kỳ hoa dị thảo trên mặt đất nhiều vô kể làm sao biết hết. Lại nữa cùng loài cây ấy chỗ này gọi khác, nơi kia gọi khác thật khó truyền đạt cho nhau dễ dàng. Năm 1945 nhà văn Đỗ Tốn cho xuất bản cuốn truyện ngắn nhan đề HOA VÔNG VANG Nhiều độc giả hỏi :”Hoa vông vang là hoa gì?” khiến lần sau do Xuân-Thu tái bản tác giả đã phải giải thích trong “Vài lời nói thêm.” In nơi cuối sách để mọi người cùng hay.
Trở lại vấn đề ai là người đặt tên sông Hương thì đến nay tôi cũng chưa tìm được tài liệu chắc chắn để trình bầy nơi đây, ước mong quý độc giả quý vị cao niên nếu biết vui lòng chỉ bảo ngõ hầu tác giả và một số các bạn trẻ được học hỏi thêm thì thật là vinh dự, thật là mãn nguyện, mặc dù hơn một lần, tạm thời, khi có dịp nói chuyện với ai tôi vẫn trình bầy quan điểm dè dặt là, có lẽ, xin nhấn mạnh chữ “có lẽ”, tên sông Hương nó đã thành hình từ từ qua sự cảm nhận và sử dụng thường nhật của người dân trong vùng…rồi lan rộng ra tới lúc được chấp thuận chính thức khi nào không hay. Cũng như ta gọi sông Hồng vì nước sông mang phù sa mầu hồng, sông Cửu-Long vì có chín nhánh uốn khúc vòng vèo như chín con rồng trước khi ra biển.
Hiện thời thì tôi chưa có cơ hội về Huế để trắc nghiệm lại những tài liệu quý báu vừa đề cập đến; để tìm hiểu học hỏi thêm xung quanh cái tên gọi của sông Hương. Nhưng tôi tin sự giải thích của hai vị Nguyễn Cúc và Tôn-Thất-Lương đưa ra đều đúng, nó bổ túc, hỗ trợ cho nhau cùng làm thành mùi thơm của sông Hương. Nói cách khác, hương thơm của dã cúc, của hoa thầu-đâu, của thạch-xương-bồ đã tạo ra mùi thơm cho sông Hương. Cũng có thể còn một vài yếu tố nhỏ nữa mà ta chưa hay.
Bây giờ viết đến đây, thú thực, tôi chỉ đang bồi hồi nhớ tới khoảng thời gian cũ vì những năm trước 1975 “Tôi Ra Xứ Huế.” nhiều lần và rất tiếc là hồi đó tôi đã không có nhiều thì giờ và cũng không lưu tâm lắm về chuyện này.
Những ngày công tác của tôi nơi một đơn vị quân đội ở đó ngắn ngủi, công việc xong ít hôm là trở về đàng trong, ít lâu sau hữu sự lại vội vàng ghi tên với phòng 4 sư đoàn xin chỗ ngồi trên máy bay C130 trở ra khi cần và hễ có dịp tới Huế như thế, nơi dừng chân đầu tiên sau khi đáp xuống sân bay Phú-Bài hồi đó phần nhiều là tại hậu trạm tạm thời đặt trong Đại Nội, rồi từ đó mới ra Hương-Điền, Quảng Trị…bằng trực thăng bay trên phá Tam-Giang hoặc bằng đường bộ qua quốc lộ số 1.
Bay bằng C130 hoặc trực thăng, riêng tôi thấy “khỏe” hơn là phải qua hãng Air VN vừa mất tiền, chậm chạp vừa ù tai nhức đầu với những chiếc DC4 quá cũ sử dụng trên các phi lộ nội địa.
Khi tới Đại Nội xen kẽ những bữa cơm xấy với thịt heo hộp thơm phức mùi vị húng lừu tịch thu được của quân địch, tôi thường rủ mấy anh em ra chợ Đông-Ba ở ngoài giại, ngay chân cầu Trường Tiền (Giại là giải đất trống dài dài dọc theo bờ sông và ngay trước mặt sông), ăn cơm thịt luộc mắm tôm chua, con nào con ấy còn nguyên hình thù cong cong, đỏ như trái ớt chín, lại còn ẩn hiện với những sợi giềng thái nhỏ, khiến chưa cầm đũa đã nghe hương vị đậm đà, rồi vừa ăn vừa nghe tiếng râm ran như ong vỡ tổ của người mua kẻ bán, vừa ngửi mùi bánh đa nướng thơm lừng, vừa nhìn nào mệ nào o qua lại ai nấy đều mặc áo dài đàng hoàng dù bận bịu quang gánh tay xách nách mang hàng họ bán mua…
Tối về… tụ tập trong sân Thế Miếu bên cạnh Cửu Đỉnh, cùng mấy quân nhân nằm ở hậu trạm ngổn ngang đây đó ba lô súng đạn và hàng trăm thứ quân cụ lỉnh kỉnh khác… khi thì đánh cờ, lúc binh xập xám trướng, chơi domino… cho giết thời giờ. Thực sự là giết thì giờ thôi chứ không phải tứ đổ tường vì:
Tôi ở nơi đây – Chỗ tận cùng.
Dẫu là giữa phố vẫn đầu sông.
Trần-Vấn-Lệ.
Một đêm trời thật nóng, vừa từ hành quân về tới hậu trạm, chúng tôi kiếm được bộ bài tổ tôm bèn quây quần chơi đánh chắn còm để thay đổi không khí. Đêm ấy mấy chân bài thay phiên ù tôm lèo…rất vui, rất phấn khởi. Tôi còn góp thêm vào một màn phấn khởi và vui hơn: Sau khi bốc nọc được cây cửu vạn, mầu hồng, tôi hạ bài xuống và hô bạch định! Mà đúng ra khi bài không có cây nào mầu hồng thì mới hô như vậy. Kết quả , thay vì được tiền lại phải bỏ thêm tiền ra…và làm mọi người cười lăn, muốn bể bụng!Thấy thế một ông gốc Bắc kỳ ngồi chầu rìa, tới chậm hêt chỗ chắc cũng ngứa ngáy chân tay, đề nghị cầm hộ mấy ván để tôi đi tắm cái… xả xui.
Ở bên đầu hồi phía tả của Thế-Miếu có một cái giếng đá ong rất trong và mát, đặc biệt lúc nào nước cũng đầy, không cần thả giây, cứ lấy cái nón sắt, lợi dụng chỗ thành giếng bể, cúi xuống múc cũng được, xung quanh giếng những bụi chuối xanh um tình cờ làm thành một cái màn che thật tiện lợi. Ban ngày chúng tôi thường tắm ở đó rất thoải mái, kín đáo, tự nhiên, nhưng ban đêm thì sợ rắn rết chẳng mấy an toàn. Nhiều người còn hù là giếng ấy xưa kia để các mệ, các o, các cung tần mỹ nữ rửa ráy sạch sẽ trước khi vô hầu thiên tử, bây giờ khi đêm đang ngủ chợt nghe tiếng nước xối và tiếng cười khúc khích, xúc phạm tới có thể bị bóp cổ, chết nhăn răng.
Nghe vậy tôi không tin. Các bậc quốc sắc nõn nà sống trong nhung lụa ăn trắng mặc chơn tháng ngày được cơm bưng nước rót, lúc nào cũng ngong ngóng chỉ chờ vinh dự độc nhất là tin vui: được vời vô đón nhận “long chủng” của thiên hoàng…Các bậc quốc sắc thiên hương với những hàm răng đen rưng rức này đều quây quần trong cung Khôn-Thái ngay sau điện Càn-Thành, gần chỗ ở của vua rất xa Thế-Miếu
Những mỹ nhân luôn luôn khao khát mong đợi thi hành nhiệm vụ như thế phải cư ngụ gần đó để khi động dụng quý quan thái-giám túc trực dễ dàng, sửa soạn đúng thủ tục “luật lâm-hạnh” rồi cõng trên lưng chạy thẳng tới đặt nằm trên long sàng mới tiện. Khi mọi việc xong xuôi viên thái giám trở vào lại cõng người cung nữ về phòng. Ngay lúc đó viên tổng thái giám cũng vào, quỳ trước long sàng chờ lệnh. Thái giám có năm bậc từ hàng tứ phẩm trở xuống. Ở bên Tầu hồi xưa Thái-Giám chia làm 10 bậc gọi là Thập Thường và đã một lần các thái giám, dù đã cắt phăng cái của nợ chẳng còn tha thiết chi cái sự đời cũng đã nổi giận, nổi loạn gọi là “Thập Thường Thị “ sử sách còn ghi.
Tổng thái giám quỳ trước long sàng yên lặng…Nếu vua nói “Lưu!” tổng thái giám sẽ ghi rành mạch ngày tháng tên tuổi người cung nữ vào một cuốn sổ để đối chiếu trường hợp sinh con cái sau này.( theo tài liệu của Vũ-Đức-Sao-Biển trong cuốn Oan-Khuất A Q.)
Nếu vua nói “Lưu” vậy tức là,dù ít dù nhiều cũng có đêm vua nói ngược lại “Không cần lưu.” Và khi vua nói không thì chuyện gì đã sẩy ra nhỉ? Hồi đó chưa phát minh ra bao cao-su. Mà vấn đề kế hoạch hóa gia đình thì đâu thành…”vấn đề” đối với các bậc vua chúa! (các vua triều Nguyễn, trừ vua Tự- Đức vô hậu, người nào cũng nhiều con, Vua Gia-Long 31 con; Vua Minh-Mạng 142 con; Thiệu-Trị 40; Đồng Khánh 9…) Quan trọng là chuyện gì đã sảy ra và chuyện sảy ra có làm thất vọng, buồn lòng mỹ nương chăng? Chả nhẽ vời người ta vào rồi để khơi khơi cơm treo mèo nhịn. Nhất ẩm nhất trắc giai do tiền định! Tâm sự của nàng được giãi bầy khá đầy đủ trong “Cung Oán Ngâm Khúc” của On-Như-Hầu Nguyễn-Gia-Thiều ( 1741-1798) nhưng chẳng thấy tác giả đề cập tới điểm này.
Mặt khác, nghĩ lẩn thẩn thấy cũng tội, như thế các quan thái giám phụ trách việc “Kính sự phòng” của nhà vua thường phải làm việc ca nhì (ban đêm.) hoặc ca ba (cũng ban đêm) và về đời Minh-Mạng các vị này nhiều phần cực nhọc hơn so với các đồng nghiệp triều đại khác vì nhà vua có khi cao hứng biểu diễn “Hoàn thành hảo sự” tới sáu lần một đêm (Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử!).
Đêm hôm đó tôi nhường cho người bạn cầm giùm rồi, không nỡ lấy lại chân bài,sau khi ra ngồi chầu rìa mấy ván, bèn nhờ một chú lính trẻ chở ra bờ sông Hương dọc theo đường Trần-Hưng-Đao ngủ đò:
Sông Hương dợn sóng khuynh thành
Đêm khuya một chiếc thuyền mành ngửa nghiêng.
Cũng như cơm hến, nón bài thơ, cơm âm phủ, kẹo mè xửng…ngủ đò trên sông Hương là một nét độc đáo của Huế, là nỗi tò mò, là niềm ao ước của hầu hết khách mày râu từ phương xa đến Huế. Không “dấn thân” một chuyến lúc về biết lấy mô kể chuyện làm quà. Câu chuyện có khi cần hư cấu thêm mắm muối cho đậm đa hơn thực tế, mục đích làm ngơ ngẩn thèm thuồng quý vị thính giả chưa từng bước chân tới chốn Thần Kinh “đêm tàn Bến Ngự!”
Thường thường ngủ đò là phải có ca Huế.
Riêng tôi ngủ đò để biết, để có cảm giác đơn giản vậy thôi chứ không bì được và không thực hiện được đúng cách như các giời quyền quý, quan lại, lắm bạc nhiều tiền nghĩa là cần thêm ca Huế, một hình thức nghệ thuật với ca nữ, đàn địch xênh phách, để thưởng thức những giọng ca, nhất là ca Nam như: Nam Cầm, Nam bình, Nam Ai đầy réo rắt nỉ non man mác…với rượu chè, ngắm trăng, ngâm vịnh… mà nghe nói thú chơi tao nhã đó rất thịnh hành nhất là vào thời cuối thế kỷ 19 ở đây, mặc dù có thể ca Huế đã xuất hiện từ thời chúa Nguyễn-Phúc-Chu (1691-1725) trên vùng đất mới chiếm của Chiêm-Thành này.
Đức Khổng Tử viết: “Nhac giả thiên địa chi hòa giã” (Nhạc là cái điều hòa của trời đất.) vì hoàn cảnh không thể thực hiện được sự hòa hợp âm nhạc và thiên nhiên dể thưởng thức cho đã, cho đúng điệu một đêm ngủ đò kể cũng tiếc.
Xuốt đêm trên con đò nhỏ cắm xào lơ lửng giữa đôi bờ cùng vợ chồng già chủ đò, nhớ lại, tôi không cảm thấy mùi hương của dòng sông phảng phất đâu đây, gió mát cũng không, gần xa thấp thoáng những chiếc thuyền nan bé tý teo bán chè bán cháo cho khách ăn đêm với ngọn đèn trai leo lét…có thể mùi hương đặc biệt ấy chỉ tỏa ra ở thượng nguồn sông Hương. Chỗ này đã là đồng bằng, gần tới cửa bể, lòng sông rộng, thuyền ghe nườm nượp, ngay cả đám cỏ cây hoang dã không còn nhiều nên cũng chẳng có hương thơm nhè nhẹ của loài cúc dại và thật xui cho tôi, lại nữa, bấy giờ chắc cũng chưa tới mùa hoa thầu-đâu.
Sóng chòng chành và không khí oi bức làm tôi không ngủ được. Hai vợ chông chủ đò cũng rì rầm lục đục hoài, cuối cùng thấy tôi còn thức họ mời ra ngoài khoang cho thoáng và uống trà. Tôi chui ra qua cửa tò vò, hỏi:
- Mấy giờ ông bà mới đi ngủ?
- Oi, già rồi thức ngủ chập chờn có chi quan trọng.
Nghe ông già nói vậy, tôi chưa biết trả lời sao thì ổng lại tiếp:
- Ban mai vắng khách ngủ cũng rứa khác chi!
- Vậy cứ ở dưới thuyền tối ngày, không cần nhà cửa sao?
Ong già trả lời tôi hơi có vẻ kiêu ngạo:
- Có chớ! Con gái tôi nó bán giải khát trên bờ kia tối về giữ nhà trông nom bốn đứa cháu ngoại. Còn tôi thì khi về khi không.
- Chắc con rể của ông cũng ở đó?
Tôi hỏi một câu hơi vô duyên nhưng người trả lời có vẻ ngậm ngùi:
- Trước kia ở đó chứ ở mô, nhưng nó đi lính sư đoàn 1 đã chết từ mấy năm rồi!
Tôi bối rối không muốn nói gì thêm.Tôi chưa đến nhà của ông bà chủ đò, không biết ở đâu, nhưng tưởng tượng cũng hình dung được đại khái như thế nào. Đất cầy lên sỏi đá. Trời hành cơn lụt mỗi năm… Với quán nước của người góa phụ, với chiếc đò trên sông Hương do cặp vợ chồng già lèo lái, với sự mất mát người trụ cột gia đình, gia đình bẩy miệng ăn, tương lai chẳng có gì tươi sáng phấn khởi. Sau một lúc im lặng đến lượt ông bà chủ đò hỏi tôi:
- Chắc thầy trong Nam mới ra?
- Thưa quê tôi ngoài Bắc!
Thiệt lạ, mỗi lần tới Huế, có dịp tôi lại muốn tự giới thiệu tôi người đàng ngoài. Sự thực đúng người đàng ngoài rồi, mà đàng ngoài đàng trong thì cũng rứa, cũng con Hồng cháu Lạc có khác chi mô! Bây giờ đàng ngoài đâu còn giữ độc quyền thưởng thức rau muống luộc chấm tương như xưa!
Rau muống rỗng ruột như cây tre nên còn gọi là rau vô tâm, nhiều chất sắt có thể dùng làm dược thảo, tốt! Tên khoa học là Ipomoea Aquatica Nam Bắc đều biết, đều dùng như những món ăn trong bữa cơm bình thường: ăn sống, sào, luộc, nấu canh v…v…rất rẻ, rất phổ thông.”Rau muống cơm tẻ mẹ ruột.” Vậy xét kỹ vẫn phải đi đến kết luận là chả có gì phân biệt Bắc Nam. Nhưng tôi vẫn nói thế vì đó là sự thật và có lẽ cũng muốn tự nhắc nhớ cho phù hợp với hai câu thơ mà tôi rất thích:
Yêu em anh cứ anh vô
Kệ truông Nhà Hồ,mặc phá Tam-Giang.
Hai câu thơ trên lấy ý từ câu ca dao “Yêu em anh cũng muốn vô. Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang.” trích trong bài thơ dài 88 câu của Tản-Đà nhan đề Chơi Huế trong tập Tản-Đà Vận-Văn toàn tập do Sống Mới xuất bản. Chữ “Em” ở đây trỏ vào xứ Huế, tác giả cẩn thận ghi chú như thế! Vâng, chữ “Em” trong hai câu thơ Tản-Đà dùng để chỉ cố đô Huế thì mình phải hiểu theo ý của tác giả. Nhưng với câu ca dao, với tinh thần bình dân, đại chúng, tôi nghĩ nó chẳng mang cùng nghĩa như vậy. Nó là một người nữ. Nó là em ngồi bên cửa mình em, nó là Công Tằng Tôn Nữ đang nhìn…nắng hàng cau…v…v…
Lần này, thấy câu trả lời chưa rõ, có thể bị nghi là người anh em phía bên kia, hồi đó là sau mùa hè đỏ lửa 1972 bom đạn vẫn còn mù trời, nên tôi tiếp:
- Thưa ông bà, tôi người Bắc, nhưng di cư vào Nam từ 1954 và đúng vậy, tôi mới ở Sài Gòn ra mấy hôm nay.
Bà già rót thêm nước cho tôi rồi nói một hơi, đầy thân tình:
- Mà thầy đã vãng cảnh chùa Linh Mụ chưa, ai ra đây cũng nên tới, trước là lễ phật sau là cầu duyên nợ vững bền! Linh Mụ thiêng lắm!
Với giọng Huế trầm bổng dịu dàng nghe êm đềm quyến rũ, dưới ánh sáng lờ mơ, bà chủ đò trạc ngũ tuần, trông mảnh khảnh, quý phái, mộ đạo không có vẻ là người lao động “nghiệp dư “. Có thể, biết đâu trước đây bà chẳng là một nữ sinh Đồng-Khánh, “ngày ngày đi học, chiều chiều đi chơi.” và hiện thời trong căn cước bọc nhựa, cũng như trên sổ Gia-Đình với mộc son, chữ ky chứng thực của phường xã đàng hoàng tên tuổi bà biết đâu chẳng là Công Tằng Tôn Nữ… làm cho vô tình ai thấy sự đời dâu bể sẽ hôi ngạc nhiên giữa quá khứ và hiện tại, tiếc thay cũng chỉ vì thời cuộc, vật đổi sao dời …tôi như thức tỉnh, chợt khám phá rằng, thì ra có thể còn nhiều sự việc âm thầm ở cố đô vẫn chưa hay, tôi nhớ đến hai câu thơ của Lương-Quân, nghĩ bụng giá dược bà đọc lên cho nghe chắc cũng đúng, cũng vui:
Ngẫm coi lầu các nắng mưa
Sông Hương, núi Ngự… đủ chưa? Lắc đầu!
Tôi và có lẽ rất nhiều người thích nghe giọng Huế nhỏ nhẹ, bình thản, đều đều… dấu sắc, dấu ngã thì xuống thấp, dấu huyền thì lên cao, khoảng cách cao thấp này nhạc sĩ Phạm-Duy gọi là âm vực. Tôi đáp, cố bắt trươc giọng Huế nhưng không thành công:
- Duyên nợ mô chừ, vợ con đùm đề rồi “mệ” ơi.
Bà già không chịu:
- Thầy nói chi lạ rứa! cứ cầu xin đâu thừa, các cụ nói tu nhân tích đức.. .
Sáng hôm sau trở dậy tôi thuê xe ôm viếng chùa Linh-Mụ.
Chùa Linh Mụ thuộc làng An-Ninh, một kiến trúc lâu đời nhất ở Huế, theo sách “Ô Châu Cận Lục” thoạt tiên từ 1553 về trước chỉ là một thảo am. Với câu truyện Bà Già Mặc Ao Đỏ rất thiêng, biến lên trời, được dân địa phương về sau kể cho chúa Nguyễn-Hoàng nghe khi qua đây năm Tân-Sửu (1601) kết quả là ngài đã cho xây chùa. Mới đầu chùa có tên Thiên Mụ (Hay thực ra làThiêng-Mụ? ) rồi về sau năm 1850 sợ phạm húy với trời (Thiên) nên vua Tự-Đức đổi là Linh-Mụ. Tuy nhiên nay vẫn còn nhiều người gọi là Thiên-Mụ. Chùa tọa lạc trên gò cao ngay bên bờ sông Hương.
Lại sông Hương!
Khúc sông này thật rộng. Xa xa, bờ đối diện là gò Thọ-Cương, cây xanh bao phủ, khói xanh êm đềm, tạo nên cảnh bên ni bên nớ:
Gió đưa cành trúc la đà,
Hồi chuông Thiên-Mụ canh gà Thọ Xương.
Ngoài chùa có một cái tháp hình bát giác cao hơn 21 m đặt tên là tháp Phúc Duyên gồm 7 tầng, mỗi tầng thờ một đức phật. Chùa Linh Mụ được kể đứng hàng thứ 14 trong 20 thắng cảnh của cố đô Huế với bài thơ ca tụng của vua Thiệu-Trị (1841-1847) để lại trong cuốn “Ngự Chế Thi Tập” nguyên văn như sau:
Thiên-Mụ Chung Thanh.
Cao cương cổ sát trấn tiền xuyên
Nguyệt tướng thường viên tự tại thiên
Bách bát hồng thanh tiêu bách kết
Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên
Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm
Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền
Phật tích thánh công thùy hải vũ
Thiện nhân tăng quả phổ cai diên.
Xin mạn phép tóm sơ đại ý: Chùa trên đồi cao trước sông thờ tượng phật phương phi phúc hậu, hãy tụng kinh, lần truỗi, đánh chuông để thức tỉnh đất nước,mang nhân lành quả tốt khắp cõi bờ.
Ý nghĩa bài thơ đầy tình bác ái nhân đạo hướng thượng bao dung, rõ ràng là khẩu khí của bậc thiên tử, chắc chắn thế nào “Thiên Mụ Chung Thanh” hàng ngày cũng là những âm vang hữu ích nhắc nhớ tạo nhân quả tốt lành cho, không những cư dân kề cận mà còn ngân nga ảnh hưởng khắp bờ cõi.
Tôi hy vọng có ngày tái ngộ Huế để ngó lại cầu Trường Tiền “sáu vài 12 nhịp”; Để đi thăm lăng tẩm lòng vòng, những nơi mà Phạm-Quỳnh hết sức ngợi ca :”Không biết lời gì mà tả được cái cảm giác lạ, êm đềm, ảo não, nó chìm đắm khách du quan trong cái cảnh tịch mịch u sầu này.” Và để làm một chuyến đò dọc, ngược dòng Hương giang hướng lên thượng nguồn cố gắng nhận biết cái hương thơm thoang thoảng của nước sông, để nghe xao xuyến âm vang Thiên Mụ chung thanh…và còn thật nhiều điều khác nữa mà tôi chưa có dịp…
Ngẫm coi lầu các nắng mưa
Sông Hương, núi Ngự… đủ chưa? Lắc đầu!
Thấm thoát vậy mà đã mấy chục năm. Núi sông ngăn cách. Ông bà già chủ đò cho tôi tá túc một đêm chắc đã ra người thiên cổ. Mấy “chiến hữu” tụ tập đánh chắn đêm nào giữa sân Thế Miếu người còn kẻ mất phiêu bạt bốn phương. Biệt vô âm tín. Mai sau, nếu hữu duyên có cơ hội trở về… lúc ngập ngừng bước chân vô Đại-Nội, dưới tàng phượng vĩ đỏ ối, chắc chẳng ai là cố nhân đón chờ, chẳng ai thỏ thẻ nhỏ nhẹ bên tai “Ôi chu choa! Lâu quá hỷ?”
Bây giớ mới tưởng tượng thôi mà nghe đã ngậm ngùi trạnh nhớ hai câu thơ của Chu-Mạnh-Trinh:
Tịch mịch tiên triều cung ngoại miếu
Đỗ quyên đề đoạn nguyệt âm âm.

Tác giả: Nguyễn Phú Long
hongvulannhi  
#955 Posted : Tuesday, May 10, 2011 8:22:58 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)

UserPostedImage


GỬI MẸ

Mẹ ơi!Con lại viết bài thơ
Vẫn ý thương trông, vẫn ý chờ
Một sáng cờ vàng bay rạng rỡ
Con về với mẹ đẹp như mơ

Nhớ buổi vào tù con xa mẹ
Ba đứng buồn im chẳng nói gì
Đôi mắt mẹ nhìn theo con trẻ
Mưa còn nhỏ lệ …buổi phân ly!

Nửa bước đời trai tủi phận hèn
Gió về ngược hướng tháng tư đen
Tương phùng sao mẹ rưng rưng khóc
Cổ lai chinh chiến- mấy ai quên

Thương ba, thương mẹ, thương anh chị
Một thóang tình quê- xót ý nhà
Khi lệnh hèn ban- bao dũng sĩ
Can trường hát lại khúc hùng ca.!

Con không làm được như danh tướng
Đã rất kiêu hùng với núi sông
Giã biệt vợ con cùng thuộc cấp
Thành tan- tự xữ, vết khuyên hồng !

Nhiều đêm thức trắng con buồn lắm
Nhớ bạn bè xưa thẹn phận mình
Bởi hèn nên vết nhơ sâu đậm
Tủi nhục nhìn trời nổi điêu linh

Nghìn trang sử sách con từng đọc
Kiếm sĩ mài gươm dưới ánh trăng
Nguyễn Trãi ôm cha già gượng khóc
Hàm Nghi từ biệt chiếc ngai vàng…

Tám năm con sống trong tù ngục
Vẫn rất ân cần với đắng cay
Vẫn ý trông chờ ngày quang phục
Xé cờ sao đỏ dựng tương lai…

Từ buổi lên đường con vượt thóat
Áo cơm vay trả đất quê người
Đếm tay hăm mấy mùa thu chết
Giữa tháng tư khô nát cảnh đời

Đất tạm dung lòng người đổi thay
Cơ hàn xưa- đổi nét trang đài
Có người quên hẳn mình dân Việt
Con khóc âm thầm trong đắng cay

Mẹ ơi! Đừng trách lòng con vẫn
Nhớ tháng tư đen nhục cả đời

THY LAN THẢO
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



hongvulannhi  
#956 Posted : Wednesday, May 11, 2011 2:33:00 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)

Từ Thần Thoại – Truyền Thuyết
Đến Truyện Tranh và Phim Hoạt Hình Của Dân Tộc Việt


TS. Ngô Đức Thịnh


UserPostedImage


BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC:

Là người Việt, không ai là không biết tới hai thần thoại - truyền thuyết, đó là Thánh Dóng và Sơn Tinh Thuỷ Tinh. Và đây cũng là hai thần thoại - truyền thuyết được xuất bản nhiều nhất, được vẽ thành truyện tranh và được dựng thành phim hoạt hình.

I. Hai thần thoại - truyền thuyết, hai biểu tượng của dân tộc

1. Là người Việt, không ai là không biết tới hai thần thoại - truyền thuyết, đó là Thánh Dóng và Sơn Tinh Thuỷ Tinh. Và đây cũng là hai thần thoại - truyền thuyết được xuất bản nhiều nhất, được vẽ thành truyện tranh và được dựng thành phim hoạt hình. Sau đây xin tóm tắt cốt truyện Thánh Dóng.

"Ở thôn Gióng Mốt, xã Phù Đổng có một dấu chân khổng lồ in trên mặt tảng đá lớn. Đó là dấu chân ông Đổng về hái cà trong một đêm mưa gió.

Mồng chín tháng tư âm lịch, vào tiết mưa dông đầu hè, ông Đổng về hái cà, gây nên gió bão, sấm chớp và mưa to.

Có một người đàn bà xấu xí nghèo khổ, tuổi đã muộn màng nhưng con cái không có. Bà phải sống một mình trong túp lều tranh. Một đêm mưa to gió lớn, ông Đổng về hái cà để lại dấu chân trong vườn cà của bà lão. Bà dẫm vào dấu chân ấy, tự nhiên, thấy tâm thần rung động, về nhà bà thụ thai, đẻ ra ông Đổng con (tức ông Dóng trong truyền thuyết Thánh Dóng sau này). Sinh ra, trong ba năm liền, ông Dóng cứ nằm yên trên chõng đá, không nói câu nào.

Vào thời Hùng Vương, giặc Ân đến xâm chiếm nước Văn Lang, vua triệu các bá quan đến bàn kế đánh giặc và cho sứ giả đi khắp nơi để loa truyền mời người tài ra cứu nước. Một hôm, sứ giả đi qua làng Phù Đổng gọi loa truyền lời thỉnh cầu của nhà vua. Nghe xong, ông Dóng cất tiếng nói đầu tiên, bảo mẹ ra mời sứ giả vào gặp mặt. ông Dóng yêu cầu sứ giả về trình với vua rèn ngựa sắt, roi sắt để ông đánh giặc Ân. Từ đó, ông Dóng vươn người đứng dậy, thành người khổng lồ, ăn bao nhiêu cơm cà mà vẫn không no.

Khi nhà vua sai người mang ngựa sắt, roi sắt tới, ông Dóng nhảy lên mình ngựa, vung roi sắt tiến đánh giặc Ân, khiến chúng tan tác. Giữa lúc đó roi sắt của ông Dóng bị gẫy, ông liền nhổ tre quất vào quân giặc, khiến chúng bỏ chạy, xác giặc chết đầy đồng.

Đánh tan quân giặc, ông Dóng đi đến núi Sóc Sơn, cởi bỏ áo giáp, cưỡi ngựa bay lên trời. Vua Hùng nhớ ơn ông, tôn là Phù Đổng Thiên Vương, sai lập miếu thờ ở làng Phù Đổng". Sau này, cứ đến ngày mở hội Dóng mồng chín tháng tư, thấy trời oi bức, mây kéo vần vũ, có các trận mưa nhỏ đầu tiên thì dân lại bảo nhau ông Dóng từ trời đã trở về(1).

Theo nhiều nhà nghiên cứu, truyện Thánh Dóng vốn từ một thần thoại (myth) đã chuyển hoá thành truyền thuyết (legend)(7). Hơn thế nữa, gắn với thần thoại và truyền thuyết này là các di tích, nghi lễ thờ phụng, lễ hội với các trò diễn dân gian tái hiện đời sống người anh hùng, như tục rước nước, tục rước kiệu 28 cô gái đóng vai giặc Ân, ba trận ông Dóng đánh giặc Ân..., tạo nên một diễn xướng nghi lễ với quy mô hoành tráng, khiến người nước ngoài được xem hội Dóng thế kỉ XIX cũng phải kinh ngạc về quy mô của nó .

Truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh có thể tóm lược như sau:

Thời Hùng Vương thứ 18 đóng đô ở đất Việt Trì, Phong Châu, quốc hiệu là Văn Lang. Vua có người con gái tên là Ngọc Hoa có sắc đẹp. Thục Phán cầu hôn, nhà vua không bằng lòng, muốn chọn rể hiền.

Mấy ngày sau, bỗng thấy hai người xưng là Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đến cầu hôn. Hùng Vương truyền để thi pháp thuật. Sơn Tinh chỉ núi núi lở, ra vào trong đá không có gì trở ngại. Thuỷ Tinh lấy nước phun lên không, biến thành mây mưa. Vua nói: "hai vị đều có phép thần thông, nhưng ta chỉ có một cô con gái, vậy ai mang sính lễ đến trước, ta khắc gả cho".

Tờ mờ sáng hôm sau, Sơn Tinh đã cho người mang đến dâng vua Hùng nào là vàng bạc, châu báu, nào là thú lạ, vật quý như voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao... Vua Hùng cả mừng và y lời, liền cho đón dâu về núi Tản Viên.

Thuỷ Tinh cũng cho đưa hàng trăm thứ trân châu, đồi mồi, san hô, cùng các giống tôm cá đặc biệt, nhưng vì chậm chân một chút đã mất Ngọc Hoa. Thuỷ Tinh nổi giận, sai khắp các loài thuỷ tộc dâng nước bao vây núi Tản Viên, quyết đánh Sơn Tinh để trả thù. Suốt mấy ngày đêm, đất trời đen tối, mưa gió mịt mùng, đồng ruộng nước băng như biển cả. Thần Tản Viên và bộ hạ vẫn vững lòng chống đỡ. Nước dâng bao nhiêu thì thần lại dâng núi cao lên chừng ấy. Dân chúng ở chân núi đóng một dãy cọc thưa để chắn nước, đánh trống mõ, gõ cối reo hò để hậu thuẫn cho quân Sơn Tinh. Qua mấy ngày đêm giao tranh, quân của Thuỷ Tinh chết rất nhiều, xác ba ba và thuồng luồng nổi đầy cả sông.

Thuỷ Tinh đánh mãi không thắng được Sơn Tinh, vội rút quân về. Sơn Tinh được sống yên ổn, hạnh phúc với Ngọc Hoa. Ngôi đền Và (nay tại thị xã Sơn Tây) được người dân dựng lên để ghi chiến công oanh liệt của Sơn Tinh. Tuy nhiên, Thuỷ Tinh vẫn không quên thù hận xưa, nên hằng năm vào tháng bảy, tháng tám, lại dâng nước đánh Sơn Tinh, gây thiệt hại cho dân. người ta truyền nhau rằng đó là Thuỷ Tinh đánh Sơn Tinh để giành lại Ngọc Hoa"(5).

Cũng giống như truyện Thánh Dóng, truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh không chỉ là truyện kể truyền miệng đơn thuần, mà nó tồn tại trong tâm thức nhân dân thông qua các di tích và nghi lễ thờ cúng ở cả vùng xứ Đoài (Phú Thọ, Sơn Tây ngày nay), qua lễ hội hằng năm với các diễn xướng phong tục, như tục đánh cá thờ, tục lấy 99 cái đuôi cá (biểu trưng cho quân Thuỷ Tinh) dâng Sơn Tinh, tục rước Chúa Gái, tái hiện sự tích Sơn Tinh rước Ngọc Hoa về núi Tản Viên trong ngày cưới ...

Trong tâm thức dân chúng đương đại, nhất là họ lại được củng cố bằng các công trình của các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, rằng hai thần thoại - truyền thuyết Thánh Dóng và Sơn Tinh Thuỷ Tinh là hai biểu tượng của bản sắc dân tộc, đó là chí khí quật cường chống ngoại xâm và chống lại sự tàn phá của thảm hoạ thiên tai bão lũ. Đó là hai biểu tượng của ý thức dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Chẳng thế mà từ lâu, Thánh Dóng và Sơn Tinh đã trở thành hai trong “Tứ bất tử" (bốn vị thần bất tử) của điện thần Việt Nam(6).

Việc xây dựng hình tượng Thánh Dóng và Sơn Tinh và coi đó như là hệ biểu tượng của bản sắc dân tộc là điều hoàn toàn dễ hiểu của thực tế lịch sử Việt Nam. Như mọi người đều biết, dân tộc Việt hình thành và sinh tồn đầu tiên ở châu thổ sông Hồng cách ngày nay gần ba ngàn năm. Suốt quá trình lịch sử lâu dài, dân tộc Việt, một mặt, đã liên tục phải đương đầu với các thế lực xâm lược từ phương bắc, trong đó đã mất gần một ngàn năm bị ngoại bang đô hộ, nhưng với tinh thần quật cường không chịu khuất phục, cuối cùng đã vùng lên đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc (thế kỉ X); mặt khác, để sinh tồn, các thế hệ người Việt đã kế tiếp nhau chinh phục, khai thác đồng bằng sông Hồng lầy trũng, đắp đê ngăn bão lũ, tạo nên hệ thống đê điều dài hàng ngàn km, được ví như là công trình “Kim Tự Tháp” của Việt Nam!

Thánh Dóng và Sơn Tinh, hai biểu tượng của tinh thần chống ngoại xâm và chống bão lũ là hai nhân tố cốt lõi của hệ ý thức Việt Nam. Đó là đòi hỏi khách quan của cộng đồng người Việt khi bước vào giai đoạn lịch sử hình thành nhà nước và nhất là giai đoạn xây dựng nhà nước phong kiến tự chủ tập quyền, mà triều Lý, Trần (thế kỉ XI-XIII) là sự thể hiện tập trung. Cộng đồng người Việt trong quá trình hợp nhất và thống nhất ấy, đòi hỏi sự tự nhận thức thế giới và nhận thức về bản thân mình, từ đó hình thành nên các hệ biểu tượng, hệ giá trị, mà càng ngày cùng với sự phát triển của xã hội phong kiến, giai cấp thống trị đại diện cho xã hội hiện tồn, có ý thức trong việc phát triển và củng cố các biểu tượng và hệ giá trị ấy, thành hệ ý thức xã hội, tuy về mặt này hay khác nó còn quyện chặt với yếu tố hoang đường, tín ngưỡng tôn giáo, nhưng không nghi ngờ gì nữa, nó là bức tranh phản ánh lịch sử đất nước và dân tộc. Đó chính là sự thâu tóm lịch sử cụ thể và hiện thực thành một thứ lịch sử tinh thần, một thứ lịch sử mang đầy chất thi hứng và thẩm mĩ, được truyền tụng mãi tới mai sau(6).

2. Bản chất của các hiện tượng folklore thường là tích hợp nhiều lớp biểu tượng và nhiều giá trị (đa biểu tượng, đa giá trị), do vậy, những biểu tượng và giá trị của hai thần thoại - truyền thuyết Thánh Dóng và Sơn Tinh Thuỷ Tinh mà chúng tôi vừa phân tích ở trên chỉ là lớp biểu tượng, lớp giá trị mang tính tiêu biểu, đặc trưng, mà thường đó là lớp hữu thức, lớp có sau, gắn liền với ý thức cộng đồng dân tộc và quốc gia và sớm được chính trị hoá. Còn lớp nhân lõi đầu tiên, lớp tiềm ẩn thì thường về sau trở thành cái vô thức, cái thói quen bản năng, cái mà chủ nhân văn hoá chỉ có thể cảm nhận chứ không thể ý thức được.

Với hệ thống thần thoại - truyền thuyết và nghi lễ Thánh Dóng, tuy nó mang trong mình tính biểu tượng rõ nét của ý chí chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, tuy nhiên, không phải khó khăn lắm khi nhận ra lớp biểu tượng, lớp giá trị cổ sơ hơn của nghi lễ nông nghiệp. Hội Dóng mở vào ngày “mồng chín tháng tư”, là thời điểm bắt đầu vào mùa mưa, mùa gieo trồng lúa, thời điểm vũ trụ chuyển từ “âm suy” sang “dương thịnh”. Ông Dóng với các tình tiết mô tả trong thần thoại hiển hiện hình trạng của vị thần sấm chớp mưa dông. Cuộc giao tranh của Dóng trước khi trở thành giao tranh giữa “ta” và “giặc”, giữa người bị xâm lược và kẻ xâm lược, thì vốn đã là cuộc “giao tranh giữa âm và dương”, mà trong thời điểm giao thời của vũ trụ ấy, bên “dương” tất thắng bên “âm”, mưa phải thắng hạn. Chẳng thế mà quân của Dóng là các chàng trai khoẻ mạnh, còn quân của giặc Ân là 28 cô gái trẻ mềm yếu. Trước khi cây tre được Dóng dùng làm vũ khí đánh quân xâm lược, thì nó đã là “hoa tre” thường dùng để tranh cướp trong ngày hội mang hình sinh thực khí dương (dương vật), mà theo quan niệm dân gian, ai cướp được hoa tre thì gia đình sẽ gặp may, vợ sẽ đẻ con trai. Theo hồi cố của dân gian, trước khi Dóng tiến hành ba trận đánh giặc Ân vào ngày mồng chín tháng tư, thì đêm trước đó trai gái làng Phù Đổng rủ nhau ra bãi sông trước đền Dóng, chơi trò đuổi bắt, trêu ghẹo nhau. Và còn nữa, đám rước nước từ đền Dóng sang đền Mẹ với ý nghĩa lấy nước của giếng Mẹ rửa khí giới của Dóng trước khi xung trận, thì đã là lễ rước nước cầu đảo (cầu mưa)... Rõ ràng là, thần thoại - truyền thuyết và các nghi lễ Thánh Dóng trước khi trở thành thần thoại - nghi lễ mang biểu tượng chống ngoại xâm thì nó đã là một thần thoại và nghi lễ mang biểu tượng cầu mưa của nghi lễ nông nghiệp. Sự đắp đổi biểu tượng này chỉ có thể hoàn tất vào thời nhà Lý (thế kỉ XI - XII) và các triều đại sau đó.

Còn với thần thoại Sơn Tinh Thuỷ Tinh thì cũng không nằm ngoài quy luật chung kể trên. GS. Nguyễn Tấn Đắc trong công trình Đọc lại Sơn Tinh Thuỷ Tinh, đã công phu bóc lớp biểu tượng “chống lũ lụt” mang tính hữu thức và đương đại, thì cũng đã làm hé lộ ra cái nhân lõi đầu tiên mà nay đã trở thành vô thức, đó là phản ánh một đặc trưng xã hội thời kì đầu của người Việt cổ với hình thái hôn nhân tranh cướp phụ nữ, mà tàn dư của nó còn để lại ở nhiều dân tộc, trong đó trạng thái nguyên vẹn còn thấy trong các cuộc chiến tranh tranh cướp phụ nữ phản ánh qua các sử thi Tây Nguyên(2). Theo tôi, sự đắp đổi biểu tượng này diễn ra vào thời Bắc thuộc (thế kỉ I - X), thời kì người Việt từ rìa trung du xuống khai thác đồng bằng lầy trũng của châu thổ sông Hồng.

Một đặc trưng khác của hệ thống thần thoại - truyền thuyết là nó không chỉ là truyện kể truyền miệng độc lập, mà thường kết hợp với các nghi lễ, lễ hội, phong tục và cả với các di tích vật thể như đền, phủ, đình..., nơi thờ cúng các thần linh, tạo nên một hệ thống mang tính tổng thể: Thần thoại - truyền thuyết - thần tích - di tích - nghi lễ, lễ hội, phong tục. Thậm chí, trong hệ thống này, các thần thoại - truyền thuyết nhiều khi mang tính bổ trợ cho hệ thống di tích, nghi lễ và lễ hội. Do vậy, xét cho cùng, đây là hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể. Từ đây dẫn đến một hệ quả mang tính phương pháp luận là, chúng ta sưu tầm và nghiên cứu các thần thoại - truyền thuyết thì không thể tách rời di tích, nghi lễ, lễ hội, phong tục, nếu không, chúng ta sẽ dễ rơi vào cách nhìn nhận phiến diện, sai lạc. Đây cũng là một thí dụ để nói lên tính gắn kết hữu cơ giữa các dạng vật thể và phi vật thể của nghiên cứu văn hoá. Có thể nói công trình Người anh hùng làng Dóng của nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh đã cho ta một thí dụ tuyệt vời của phương pháp sưu tầm, nghiên cứu mang tính gắn kết tổng thể này(3).

II. Từ thần thoại đến phim hoạt hình và truyện tranh, bản sắc dân tộc sẽ ra sao?

1. Như mọi người đều biết, truyện tranh và phim hoạt hình gắn bó chặt chẽ với văn hoá dân gian, trong đó các đề tài, cốt truyện của hai loại hình nghệ thuật nghe nhìn này đã, đang và sẽ khai thác từ kho tàng vô tận thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn, sử thi... của các dân tộc.

Làm truyện tranh cho thiếu nhi là lĩnh vực của Nhà xuất bản Kim Đồng. Trong tổng số hàng mấy trăm ấn phẩm đã xuất bản trong gần 50 năm qua, có 57 tác phẩm truyện tranh lấy đề tài từ truyện kể dân gian, như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích..., trong đó có truyện tranh Sơn Tinh Thuỷ Tinh(8) và Chuyện ông Dóng(4), xuất bản lần đầu vào thập kỉ 60. Từ đó đến nay, hàng năm đều tái bản với số lượng hơn 10.000 bản.

UserPostedImage


Ở Việt Nam, từ năm 1960, bộ phim hoạt hình đầu tiên ra mắt khán giả đến nay đã có hàng trăm phim hoạt hình được sản xuất, với các thể loại: hoạt hình, hoạt hoạ, búp bê. Chỉ tính riêng từ 1975 đến 1990, trong số 200 phim hoạt hình được sản xuất, thì đã có hơn 50 phim lấy chủ đề từ thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn...(9). Tất nhiên, trong số hơn 50 phim hoạt hình ấy có phim búp bê “Chuyện ông Gióng” của đạo diễn Ngô Mạnh Lân, sản xuất năm 1970 và phim “Sơn Tinh Thuỷ Tinh" của đạo diễn Trương Qua, sản xuất năm 1971. Cả hai bộ phim này đều xây dựng dựa vào cốt truyện của hai truyện tranh nêu trên.

Bây giờ chúng ta có thể đi sâu hơn nhận diện và phân tích các khía cạnh bản sắc dân tộc đã được chuyển hoá như thế nào trong quá trình chuyển thể từ thần thoại - truyền thuyết sang phim hoạt hình và truyện tranh?

2. Rõ ràng là, khi một thần thoại, truyền thuyết chuyển thể sang tranh truyện và phim hoạt hình thì những điều kiện hợp thành của nó cũng thay đổi và từ đó các khía cạnh bản sắc văn hoá cũng có sự khác biệt.

- Ở Việt Nam, theo truyền thống nhiều thập kỉ nay, truyện tranh và phim hoạt hình chủ yếu giành cho thiếu niên, nhi đồng, khác với nhiều nước, hai thể loại này phục vụ cho mọi lứa tuổi. Chính mục đích phục vụ này đã quyết định nhiều tới cách thức và cả nội dung thể hiện. Người thực hiện các tác phẩm truyện tranh và phim hoạt hình phải lựa chọn tuyến nội dung truyện sao cho thật đơn giản, lược bỏ đi khá nhiều tình tiết của thần thoại và truyền thuyết. Thí dụ, trong thần thoại -truyền thuyết Thánh Dóng, việc mô tả diện mạo và hành động của ông Đổng, như một vị thần sấm chớp, mây mưa, đều không được khai thác. Đặc biệt là các tình tiết của diễn xướng lễ hội Thánh Dóng đều không được thể hiện trong truyện tranh và phim hoạt hình, khiến cho tính “đa biểu tượng” của “Người anh hùng làng Dóng” cũng không rõ nét nữa. Ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật trong truyện tranh và phim hoạt hình cũng được “đơn giản hoá” để phù hợp hơn với lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng.

- Đặc biệt, từ thần thoại và truyền thuyết vốn mang tính tổng thể, đa nguyên của văn hoá dân gian, nay được thể hiện trong truyện tranh và phim hoạt hình mang tính đơn nhất, đơn nguyên, khiến cho nội dung thể hiện vừa tập trung hơn, nhưng cũng nghèo nàn hơn, các tình tiết mang tính vô thức đều bị tước bỏ, còn các tình tiết hữu thức, mà ở truyện Thánh Dóng là tinh thần chống ngoại xâm và trong truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinhlà chống lũ lụt lại được tập trung và tô đậm hơn.

- Từ truyện cổ dân gian đến truyện tranh và phim hoạt hình là quá trình chuyển thể loại, do vậy từ góc độ người thưởng thức cũng có sự khác biệt trong cảm thụ văn hoá. Con người từ việc nghe truyện cổ dân gian đến việc tham gia vào các hoạt động nghi lễ, lễ hội và phong tục liên quan, thực sự là quá trình nhập thân và trải nghiệm của người trong cuộc, từ đó làm nảy nở trí tưởng tượng và các hành động thực hành nghi lễ mang đầy chất tâm linh; còn khi đọc một truyện tranh hay xem một bộ phim hoạt hình với ngôn ngữ chủ yếu là đường nét, hình ảnh và màu sắc, thì dường như người đọc được tiếp nhận như một thông điệp từ bên ngoài không mang tính trải nghiệm và nhập thân. Tất nhiên, mỗi cách tiếp cận đều có mặt mạnh và mặt yếu của nó. Do vậy, đối với trẻ nhỏ, tôi nghĩ không nên quá lạm dụng kiểu “áp đặt” một hình tượng vốn đa bản sắc thành một hiện tượng đã được người vẽ tranh và làm phim “đơn nhất hoá”.

- Ý thức xã hội trong thời điểm làm phim và truyện tranh, thông qua ý thức cá nhân của tác giả, cũng tác động không nhỏ tới việc thể hiện nội dung tác phẩm. Việt Nam vào những năm 70 của thế kỉ XX là thời điểm diễn ra cuộc chiến tranh khốc liệt chống Mĩ, giải phóng miền Nam, do vậy cả đất nước dốc sức cho chiến tranh, kể cả việc huy động truyền thống yêu nước chống ngoại xâm mấy nghìn năm của dân tộc. Trong môi trường chính trị - xã hội như vậy, hơn lúc nào hết sự nghiệp dựng nước và giữ nước mà Sơn Tinh và Thánh Dóng là biểu tượng tập trung và sáng ngời được huy động hết “công suất” và được tô đậm hơn lúc nào hết. Mọi tình tiết của thần thoại và truyền thuyết nằm ngoài “tuyến tư tưởng” ấy đều bị gạt bỏ. Về phương diện này, cái bản sắc dân tộc thể hiện trong thần thoại và truyền thuyết vốn mang tính đa nguyên, nay được tô đậm và trở thành nhất nguyên.

Như vậy là, với tác động của nhiều nhân tố: Mục đích phục vụ của người làm phim và vẽ tranh là thiếu niên, nhi đồng; tính chất của thể loại, đặc biệt là môi trường chính trị - xã hội... đã tác động nhiều mặt đến quá trình chuyển thể từ thần thoại - truyền thuyết đến truyện tranh và phim hoạt hình ở Việt Nam, trong đó bản sắc dân tộc được tô đậm theo hướng nhất nguyên hoá. Điều này phải chăng là tất yếu với tất cả các nước và các dân tộc hay chỉ là đặc điểm mang tính đặc thù của Việt Nam? Rất tiếc, tôi không có được sự hiểu biết về phim hoạt hình và truyện tranh của Nhật Bản và các nước khác. Tuy nhiên, theo suy diễn mang tính lôgic thì những điều trình bày trên phần nhiều mang tính đặc thù Việt Nam hơn là tính phổ quát.

Nguồn: Tạp chí Văn hóa Dân gian (số 2/2006)

LAST_UPDATED2

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



hongvulannhi  
#957 Posted : Thursday, May 12, 2011 12:31:07 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)

Những khối đá huyền bí Bài 1

Phiến đá được phong thần


Đầu tiên là chuyện tảng đá khắc hình một nữ thần không mặc áo, để ngực trần, đã chìm xuống sông Trà, nằm im qua nhiều mùa trăng, rồi bất chợt “nổi lên” vào một buổi giông hè.

Nữ thần báo mộng

UserPostedImage

Chuyện xảy ra ở xã Thanh Phước, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên ngày trước, mà người viết bài này tình cờ được một cụ già kể cho nghe trong một chuyến về thăm Huế.

Rằng ở vùng ngã ba sông Hương và sông Bồ có một ông lão đánh cá nghèo, ngày ngày xuôi dòng nước của con sông chảy qua làng để quăng lưới. Một hôm từ mờ sớm đến mặt trời lên cao vẫn chưa bắt được con cá nào đủ to để ra chợ đổi gạo, ông buồn bã nằm trên vạt cỏ ven bờ, gối đầu lên một tảng đá lớn thiu thiu ngủ. Chợt ông nằm mơ thấy có một người thân hình to lớn, mặt mày đỏ gay giận dữ, tay cầm chiếc gậy dài thúc thúc vào người ông, quát: “Này ông lão kia, sao ông lại dám gối đầu lên người của ta mà ngáy?”. Ông lão sợ quá quỳ mọp xuống, vị thần đá liền trấn an và nêu một câu hỏi nếu ông trả lời được thì vị thần đó hứa sẽ cải biến số phận để ông được sung túc và mạnh khỏe, sống lâu. Câu hỏi đó là: “Thứ gì luôn im lặng và thiêng liêng như đá? Thứ gì luôn luôn ở với người, giúp ích cho người, mà không hề đòi hỏi đền đáp, hoặc lên tiếng kể lể lời nào?”.

Ông lão đánh cá ngẩn ngơ, chưa trả lời được, vì ông nghĩ trên đời đâu có thứ gì tốt bụng đến thế. Vị thần đá liền giải đáp: “Đó là hơi thở, nó có mặt để truyền sự sống cho các ngươi từ lúc mới ra đời cho đến khi nhắm mắt mà chẳng đòi ơn nghĩa gì, nó cũng im lặng như các loài đá mà các ngươi vẫn dùng để lót đường, xây nhà vậy”. Trước khi biến mất, thần đá quay lại nói thêm: “Thấy ngươi hiền lành, ta sẽ cho ngươi một món quà, ngươi hãy mau thức dậy và quăng lưới xuống sông, ngươi sẽ nhận được món quà ấy”. (Chúng ta sẽ trở lại với vị thần đá nói trên trong một câu chuyện khác của loạt bài này).

Khi giật mình thức giấc, ông lão vội vã quăng lưới xuống nước như lời vị thần ấy dặn. Không lâu sau, ông cảm thấy có vật gì nằng nặng cứ trì lấy chiếc lưới. Ông lặn xuống xem chẳng thấy gì quý báu mà chỉ là một phiến đá to đang làm vướng lưới. Ông gỡ lưới ra khỏi phiến đá rồi lên bờ về nhà lòng không vui. Đêm ấy đang chập chờn, ông lại mộng thấy một phụ nữ xuất hiện với ánh sáng chói quanh người, bảo ông: “Ta là nữ thần dưới sông kia, hồi trưa ngươi đã gặp ta tại sao không đem ta lên bờ? Nếu ngươi đem ta lên ta sẽ phù hộ cho ngươi thoát khỏi cảnh túng thiếu”. Sáng ra, ông lão rủ thêm vài người trong làng lại quãng sông lặn xuống và đem lên hai phiến đá to bên trên có khắc hình một nữ thần với nhiều tay đang vươn cao, chân đang ngồi xếp bằng, chung quanh có hình voi, hình người trông rất lạ mắt. Lúc ấy trời bỗng chuyển giông, mây kéo đen nghịt rồi mưa trút xối xả, hai viên đá sáng lên từng chặp theo những tia chớp trên cao lia xuống. Thấy vậy, người ta hoảng sợ đem các viên đá này vào gần làng, lấy gạch xây một cái bàn thờ để đặt đá lên trên.

UserPostedImage

Hình do họa sĩ Tôn Thất Sa vẽ năm 1915 về “Bững Chàm ở Thanh Phước”, tức phiến đá “Kỳ Thạch phu nhân”
(trích từ Bulletin des Amis du Vierx Hue năm 1915)


Kỳ Thạch phu nhân chi thần

Từ đó hễ ai đem lễ vật dâng cúng cầu gì thường được toại nguyện. Nhất là cứ đến tối 30 hoặc ngày rằm âm lịch mỗi tháng, người trong làng thường thấy bóng một nữ thần từ trong tảng đá bay ra, ban đêm ít ai dám lai vãng đến chỗ thờ.

Nghĩ đây chỉ là chuyện truyền khẩu, nhưng về sau chúng tôi được một nhà nghiên cứu cho biết chuyện trên được chép lại hẳn hoi trong bộ sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn với một số chi tiết có khác với lời kể của dân gian, song cốt lõi của chuyện vẫn giống nhau, với đoạn cuối khá huyền bí: “...Hai viên đá vuông to bằng tấm chiếu, sắc xanh trắng, mặt đá có nét chạm thân người mặt thú, 20 tay và 4 chân, người chài sợ cho là thần đem để ở chỗ sạch sẽ rồi dựng đền tranh để thờ. Từ đấy tỏ ra linh ứng. Hồi đầu bản triều (Nguyễn) phong làm “Kỳ Thạch phu nhân chi thần”. Gặp năm đại hạn, sai quan đến cầu đảo hàng mấy tuần không được mưa, bèn sai dời hai viên đá đến bờ sông, đêm hôm ấy liền nổi gió to mưa lớn, sáng hôm sau ra xem, thấy mất một viên, còn lại một viên, bèn rước về tế tạ. Viên đá ấy nay vẫn còn...”.

Vậy sự tích Kỳ Thạch phu nhân ra sao? Do đâu trên phiến đá to và dài một mét được triều đình phong thần kia lại khắc nhiều hình mà người ta cho là quái dị để mô tả cảnh thiên đường lẫn địa ngục?

Tác giả: Giao Hưởng
Nguồn: www.thanhnien.com.vn

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



hongvulannhi  
#958 Posted : Friday, May 13, 2011 11:57:21 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)
Những khối đá huyền bí Bài 2
Thứ năm, 12 Tháng 5 2011 12:10

Giải Mã Kỳ Thạch Phu Nhân


UserPostedImage

Các bô lão trong vùng bảo rằng phiến đá là của một đền thờ lâu đời bị gió mưa và lẽ vô thường chi phối nên sụp đổ và trôi dạt xuống sông như đã nói. Sau ngày được vớt lên lập miếu thờ, phiến đá được đặt trân trọng trên một cái bệ xây bằng gạch để hương khói và được tuần vũ Quảng Trị là ông Đào Thái Hanh mô tả khá rõ như sau: “Phiến đá này màu đen có hình dạng tựa nửa tấm bửng tròn, có đáy 1,2 mét; cao 0,9 mét và dày 0,23 mét, chạm nhiều hình người và con vật.

Các hình chạm chia làm hai nhóm. Phần trên là một hình người gần như trần truồng, ngồi trên tòa sen, chân xếp bằng và tay đặt trên đầu gối; bên phải có (chạm) một con thú kỳ lạ và vài hình phác họa về người, với nét vẽ non nớt; bên trái có 5 hình khắc đàn ông, đàn bà, con nít, người cầm ly rượu, kẻ thổi sáo.

Phần dưới (tảng đá) cách với phần trên bằng một đường viền được kẻ một cách thô sơ, có một đám người mặc kín nửa người, hình như muốn vươn lên bằng cách đưa những cánh tay hướng về người ở giữa (của phần trên). Có khoảng 20 cánh tay, mà 7 cái đeo vòng, có thể là tay đàn bà. Chân thì chỉ có 4. Cạnh con người kỳ dị ấy, bên phải có khắc chạm một người có 3 mặt đứng cầm cái chai và một người nữa bị trói gô ngồi chồm hổm ở phía dưới, bên góc đối diện.

Sau cùng, bên trái là hình một con voi lớn chổng đuôi lên trời. Qua các hình đó người ta có thể hiểu được tư tưởng của người xưa, với phần trên tượng trưng cho thiên đàng, phần dưới là trần gian và địa ngục. Phải chăng đây là tấm bửng trên đầu cửa của một chùa Phật giáo hoặc chùa Bà-la-môn là người có 3 mặt ”.

Đó là những chi tiết được tuần vũ Đào Thái Hanh giới thiệu trên tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hue cách đây gần 100 năm (1915), được Đặng Huy Tùng dịch và Bửu Ý nhuận sắc in lại trong bộ sách Những người bạn cố đô Huế do NXB Thuận Hóa ấn hành hơn chục năm trước (1997). Tài liệu này cũng ghi nhận miếu thờ Nữ thần đá Kỳ Thạch phu nhân quay mặt ra bờ sông, xây bằng gạch, bên trong đặt một số đồ thờ bằng gỗ, với đèn, lư trầm, đĩa đựng đồ cúng và nhắc lại sự xuất hiện của phiến đá: “Trên mặt tảng đá có chạm trổ những thân hình người mặt thú (...), các dân chài khiếp sợ trước cái hình dạng kỳ dị và đều nghĩ rằng tảng đá ấy có thần ở, tức thì họ chuyển các tảng đá đến một chỗ xa vắng và lập miếu để thờ cúng. Từ ngày ấy trở đi, cá đánh được nhiều và cơ nghiệp của các dân chài trong làng đã khá thấy rõ, người An-nam đến cầu nguyện với miếu điều gì thì được điều ấy. Vào đầu niên hiệu của triều đại hiện nay hai tảng đá được phong tước Kỳ Thạch phu nhân chi thần (Nữ thần đá kỳ lạ). Đó là tước do vua ban để thưởng công cho Nữ thần đã giúp nhiều điều có ích cho dân chúng địa phương”.

Đến nay, qua những công trình nghiên cứu mới nhất, cách giải thích về nội dung các hình chạm trổ kỳ lạ trên phiến đá có khác với cách giải thích ngày trước của tuần vũ Đào Thái Hanh, như lược ghi dưới đây.

Giữa bức chạm có một hình người kỳ dị với hàng chục cánh tay đưa lên chính là quỷ vương Ravana trong hệ thống thần thoại, tín ngưỡng Ấn Độ xưa, đang thi thố những quyền năng của mình để quấy phá gia đình thần Siva ngự trên ngọn núi thiêng Kailasa. Cũng ở giữa nhưng bên trên hình quỷ vương là hình thần Siva đang ngồi trên ngai, bên trái Siva là nữ thần Parvati, bên phải là bò thần Nandin. Những hình người khác trong bức chạm có thể là hiện thân của thần sáng tạo Brahma, Visnu hoặc thần Indra. Con thú là voi Airavata. Đại thể, toàn bộ bức chạm nhằm thể hiện sinh hoạt của các vị thần Ấn Độ xưa theo các thần tích nào đó bên sông Hằng. Điều ấy nói lên ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo trong sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa của người Chăm trên đất Thuận Hóa xưa, đưa tới nhận định rằng: Bức chạm được những điêu khắc gia vô danh người Chăm thực hiện và đã trở thành một tác phẩm mỹ thuật Chăm Pa cần được giữ gìn. Những lời giải mã này vẫn chỉ là phác thảo có tính chất gợi mở. Những phân tích và giải thích thích đáng hơn phải cần tham khảo công trình nghiên cứu của các nhà khảo cổ học mà chúng tôi sẽ nhắc đến ở phần sau.

Còn tới đây, bên cạnh Kỳ Thạch phu nhân, thiết tưởng cần ghi nhận thêm một trường hợp nữa về viên đá huyền bí khác. Đó là viên đá thần liên quan đến việc sắc lập đền thờ Thai Dương phu nhân dưới thời vua Gia Long. Đây không những là câu chuyện truyền khẩu suông mà còn được ghi lại trong sử sách triều Nguyễn. Để bạn đọc tiện tham khảo, chúng tôi giới thiệu nội dung chuyện viên đá thần với Thai Dương phu nhân chép trong Đại Nam nhất thống chí, tập I, quyển II, mục Phủ Thừa Thiên, tiêu đề Đền miếu, có đoạn: Ở xã Thai Dương, huyện Hương Trà, thờ thần vị Thai Dương phu nhân. Tương truyền trước có người dân trong xã tên là Bố, đánh cá ở cửa biển, một hôm mưa gió tối tăm, đến nửa đêm mưa tạnh trời quang, Bố thấy cạnh bờ có viên đá kỳ dị, bèn vỗ xoa, rồi ngủ đi, chợt mộng thấy một người đàn bà nhan sắc đẹp đẽ nói: “Ta đây là Thai Dương phu nhân, mi là người phàm, sao dám nhờn như thế? Phải đi ngay!”. Bố giật mình khi thấy đá biết hiện hình người, lại là mỹ nhân và biết nói tiếng người nữa, bèn vội ngồi dậy dụi mắt nhìn quanh, chưa biết phải làm gì vào nửa đêm hoang ấy...

Tác giả: Giao Hưởng
Nguồn: www.thanhnien.com.vn

Edited by user Friday, May 13, 2011 12:00:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



hongvulannhi  
#959 Posted : Friday, May 13, 2011 3:52:17 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)

Những khối đá huyền bí Bài 3
Thứ sáu, 13 Tháng 5 2011 11:57

Đám Cưới Của Nữ Thần Núi Tuyết


UserPostedImage


Sau lời khấn ấy “mỗi ngày (Bố) đánh cá càng được nhiều hơn, bèn (cùng dân làng) dựng đền tranh ở bến sông để thờ viên đá. Chợt có thuyền khách buôn từ Nhật Bản đi qua đền, trông thấy viên đá, họ bảo nhau rằng: “Đây là đá ngọc”, rồi họ lấy búa lớn để bổ, thì tự nhiên người lăn đùng ra. Khiêng xuống thuyền thì không có sóng gió mà thuyền bị đắm, người trong thuyền không một ai sống sót cả. Từ đấy (đá) lừng lẫy anh linh. Hồi đầu bản triều (Nguyễn) cầu gió thường được linh ứng, bèn sửa làm đền miếu, có lệ quốc tế. Năm Gia Long thứ 10 sắc lập đền riêng, hằng năm tế vào ngày quý của mùa xuân và mùa thu” (Đại Nam nhất thống chí).

Vậy đã có hai câu chuyện về Kỳ Thạch phu nhân và Thai Dương phu nhân liên quan đến thế giới của những phiến đá thần. Tiếp đây là chuyện về phiến đá thứ ba, cũng trên đất Thừa Thiên - Huế, ở làng Ưu Điềm, hiện vẫn đang được thờ tại ngôi chùa của làng này. Phiến đá hình vòng cung, có khắc chạm hình các vị thần mà theo một số nhà nghiên cứu như Trần Kỳ Phương và Võ Quang Yến, là nhằm mô tả đám cưới của hai vợ chồng thần Shiva và nữ thần núi Tuyết (có tên Parvati). Shiva là vị thần hết sức đặc biệt trong văn hóa tâm linh Ấn Độ, đặc biệt ở chỗ ông là vị thần vừa phá hoại mà lại vừa sáng tạo. Theo một số nhà nghiên cứu phương Tây, tên gọi Shiva có nghĩa là tốt lành, rõ ràng không hợp với những hành động hủy diệt và phá hoại của vị thần này. Nhưng GS Lê Xuân Khoa cho rằng, theo quan điểm triết học của Ấn Độ thì “không có sự sống nào mà không tiến tới hủy diệt, chính do hủy diệt mà lại có đời sống (mới). Sống và chết không những chỉ nối tiếp nhau mà còn đồng nhất với nhau. Sống tức là một hành động tự hủy diệt (vì) sống tức là đang chết dần. Bởi vậy: với tư cách là cứu cánh của mọi vật - Shiva là tử thần, nhưng với tư cách là nguyên lý của sáng tạo – Shiva lại là nguồn sống. Vì thế, Shiva vừa được coi là một hung thần phá hoại, hủy diệt muôn vật, lại vừa được coi là một phúc thần gieo rắc (mầm mống mới) và bảo vệ đời sống”. Ông có hai đời vợ, kết hôn với hai người, nhưng thực ra cũng chỉ... một người thôi. Vì “một người” ấy đã hóa thân thành hai thiếu nữ yêu thương Shiva trong hai kiếp.

Kiếp thứ nhất, chính là nàng Sati (hiền phụ) là con gái của một trong 8 vị thần của trí tuệ tên là Daksha. Daksha không có cảm tình trước bề ngoài tiều tụy của Shiva khi gặp Shiva hiện ra với dáng dấp của một đạo sĩ khất thực. Vì thế Daksha rất bực mình khi nàng Sati lấy Shiva làm chồng, nên ông đã thẳng tay đuổi Sati ra khỏi nhà sau khi đã nặng lời nhục mạ nàng và Shiva. Đứng trước tình cảnh ấy, Sati đã bay khỏi người, trút hồn đi mất lên dãy núi lạnh đầy tuyết, trả lại thân xác cho cha, sau đó nàng hóa thân vào kiếp thứ hai. Kiếp thứ hai, Sati tái sinh làm con gái của thần núi Himalaya và thường được biết đến với tên Parvati (nghĩa là Sơn nữ núi Tuyết hoặc nữ thần Tuyết) và kết hôn với Shiva lần nữa. Lần này, họ sinh đứa con đầu lòng là Karttikeya có sức mạnh diệt các loài quỷ và được tôn thờ là thần chiến thắng. Đứa con thứ hai đánh dẹp quỷ dữ, có quyền năng ban phát hạnh phúc và an vui đến cho mọi người dưới thế, tức là thần Ganesha mình người đầu voi được người Ấn Độ sùng bái. Đám cưới giữa Shiva và nữ thần Tuyết Parvati được thể hiện qua những hình khắc trên phiến đá khá lớn ở chùa Ưu Điềm nói trên.

Phiến đá ấy được nhà nghiên cứu người Pháp Henri Parmentier nhắc đến trong một tài liệu phổ biến đầu thế kỷ 20 (1918). Đúng 90 năm sau (2008), ông Võ Quang Yến đã tìm đến địa phận làng Ưu Điềm để tận mắt xem xét, mô tả và nhận định như sau: “Đây là một kiệt tác nghệ thuật và là tác phẩm duy nhất được biết đến nay trong nền điêu khắc Chămpa thể hiện đề tài lễ rước cưới Shiva – Parvati về ngọn núi thiêng Kailasa. Phiến đá có hình chữ U lật ngược, rộng hơn 1 mét, bề cao ngắn hơn chút ít, trán cửa đang còn tốt, không sứt nẻ, chỉ có ít nhiều rêu phong đóng lên nền sơn xanh đã phai màu. Đứng giữa và choán phần lớn bề mặt trán cửa là con bò thần trắng Nandin tiêu biểu cho quyền lực thế gian và cho sự đẻ con, đặc biệt không đeo vòng kiềng của những vật cưỡi Vahana thường thấy. Trên lưng bò thần, ngồi ngay sau bướu, hai chân hai bên, một chân duỗi thẳng, chân kia co lại là thần sáng tạo Shiva (...). Ngồi một bên là nữ thần Parvati với nét mặt dịu dàng và e thẹn của một nàng dâu”. Bao quanh đôi vợ chồng của nữ thần Tuyết trong lễ cưới còn có các nhân vật khác mà theo ông Võ Quang Yến đó là thần Brahma, làm chủ hôn, đầu đội mũ mukuta, đeo khuyên tai với nhiều vòng trên cổ tay và mắt cá, mặc áo sampot có thắt lưng lớn, hai tay chắp trên ngực, ngồi xếp bằng trên một tòa sen. Bên mặt có thần Vishnu cũng đội mũ và mang khuyên tai, vòng ngọc, có bốn tay, hai tay trước chắp trước ngực, hai tay sau giơ lên cao, tay trái cầm một cái vỏ ốc biển, tay mặt cầm một trong chín vật tiêu biểu của mình. Vishnu ngồi trên vai thần điểu Garuda, hai cánh của thần điểu đang giang rộng, hai tay nắm quanh hai chân của Vishnu như đang nâng vị thần này bay bổng dặt dìu theo nhạc cưới...

Tại sao đám cưới của Parvati - nữ thần Tuyết xuất thân từ dãy Himalaya xa xôi - lại có mặt trong tác phẩm điêu khắc đá ở làng Ưu Điềm như vậy?

Tác giả: Giao Hưởng
Nguồn: www.thanhnien.com.vn


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



hongvulannhi  
#960 Posted : Saturday, May 14, 2011 10:41:01 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 21,254

Thanks: 1169 times
Was thanked: 3040 time(s) in 1878 post(s)

Những khối đá huyền bí Bài 4
Thứ sáu, 13 Tháng 5 2011 12:18

Linga “Tam Vị Nhất Thể”


UserPostedImage


Đó là chiếc linga khá lớn mà theo các lão làng trong vùng đã hàng trăm năm dầm mưa dãi nắng. Linga này cùng một tượng nữ thần bằng đá để ngực trần mà dân chúng trong vùng hương khói kính cẩn gọi là Bà Phật Lồi, với rất nhiều mảnh vỡ lớn, cùng chịu chung số phận bị bỏ mặc giữa trời. Trước cảnh ấy, một số nhà hoạt động văn hóa thực sự quan tâm đến giá trị di tích như Võ Quang Yến, Trần Đình Sơn đến tận nơi bày tỏ mong muốn chùa Ưu Điềm hãy tôn trí những cổ vật trên ở nơi tương xứng.

Giữa năm 2009, nhà chùa đã cho dựng một căn nhà và đem hết những cổ vật trên vào thờ, trong đó có cả linga. Về việc này, đã có người thắc mắc sao nhà chùa lại đưa cả linga vào nơi trang nghiêm.

Thật ra linga - yoni không chỉ là biểu tượng sinh thực khí, mà theo quan niệm của văn hóa Ấn Độ xưa, một linga chứa đựng hình ảnh của ba ngôi tối cao là cả ba vị thần: Brahma - Vishnu và Shiva.

Trước hết là Brahma, đấng sáng tạo: “Vạn vật phát hiện tự nơi Ngài và vũ trụ đã có sẵn ở trong Ngài... Cũng như cây sồi có sẵn ở trong hạt sồi, như trái cây có sẵn ở trong mầm hạt, sẵn sàng nảy nở và phát triển, muôn vật hữu tình đã có sẵn ở Brahma, và mọi mầm mống đều phát sinh nơi Ngài”. Lời tôn vinh ấy được GS Lê Xuân Khoa trích dẫn trong một tài liệu về triết học Ấn Độ, đồng thời với rất nhiều sự tích từ Brahma. Tích về Brahma là kết quả hôn phối giữa đấng tối cao và năng lực của chính Ngài. Có tích cho rằng Brahma sinh ra từ một quả trứng vàng (kim noãn) bềnh bồng trên mặt biển nguyên thủy, sau đó trứng tự vỡ làm đôi, một nửa nâng lên thành trời phía trên, một nửa thành đất phía dưới, còn khoảng giữa là không trung vô hạn. Tích khác rất phổ biến, lại cho Brahma sinh ra từ một bông sen ở rốn của thần Vishnu. Vishnu là vị thần bảo vệ sự sống con người giữa hai đầu sinh - tử. Vishnu được lập đền thờ khắp nơi trên Ấn Độ xưa (được điêu khắc trên đá tại các công trình mỹ thuật ở Thuận Hóa xưa, trong đó có phiến đá ở làng Ưu Điềm).

Một hôm, khi Vishnu đang nằm trên một chiếc lá sen, Brahma bèn đến hỏi danh tính. Vishnu trả lời: “Chính ta đã sinh ra ngươi”, và Vishnu gọi Brahma là con. Nghe vậy, Brahma rất tức giận, tuyên bố rằng mình mới là đấng sáng tạo. Hai bên đang tranh cãi về ngôi thứ bỗng thấy xuất hiện một cột lửa cao ngất, vươn lên liếm sạch cả mây trời và chiếu sáng đại địa. Thấy thế, Brahma và Vishnu dừng ngay cuộc tranh cãi để đi tìm điểm xuất phát cũng như nơi tận cùng của cột lửa. Hai vị chia nhau đi tìm hai phía, Vishnu lặn sâu xuống mặt đất, còn Brahma bay vút lên đầu ngọn lửa nhưng bay tới đâu thì lửa cao tới đó. Nghĩa là cột lửa không thể biết điểm khởi đầu và điểm kết thúc nơi đâu. Cuối cùng, Vishnu và Brahma thâu thần lực và cùng gặp lại, đang ngẩn ngơ không biết đầu, cuối của cột lửa thiêng thì bỗng nhiên, âm thanh linh thiêng bắt đầu bằng chữ A (trong âm tiết AUM) vang lên, và Shiva xuất hiện giữa cột lửa tỏa hồng nhiều cánh như một đóa sen. Từ trong đóa sen lửa ấy, Shiva nói cho hai vị thần kia biết: “Không ai kém hơn ai trong ba ngôi tối linh bình đẳng gồm Brahma - Vishnu - Shiva. Ba ngôi đó chỉ là thể hiện của một linh thể thuần khiết và duy nhất”.

UserPostedImage

...và linga ở chùa Ưu Điềm - Ảnh do chùa Ưu Điềm cung cấp


Từ chuyện trên, người ta đã kết hợp ba vị thần trong hình ảnh của một linga đặt trên yoni với ý nghĩa: “Shiva là đấng ban mầm sống (bijavan), Vishnu là tử cung (yoni) và Brahma là mầm sống (bija)”. Khi văn hóa Ấn Độ du nhập vào đời sống tinh thần Chămpa, hình ảnh các thần linh tối thượng được thể hiện qua một linga, nhắc ta nhớ đến thần thoại về loài Atula gây chiến với các thiên thần, khi thua, Atula đã dẫn hàng vạn quyến thuộc của mình chạy trốn và tất cả nấp trong... một cọng sen! Phân tích về ba vị thần trong một linga - yoni, TS Bá Trung Phụ nêu rõ: “Linga được cấu tạo thành ba phần. Phần đầu tròn biểu tượng thần Shiva. Phần giữa là thần Brahma có bốn cạnh tượng trưng cho 4 hướng: bắc (kabráh), nam (kanaron), tây (karaykôh), đông (haraymư). Phần cuối cùng tượng trưng cho thần Vishnu 7 cạnh...”.

Cũng theo TS Bá Trung Phụ, cần biết người Chăm ở Việt Nam thời trước trong quá trình tiếp thu văn hóa Bà la môn đã không rời bỏ nguồn cội của mình mà để cho yếu tố bản địa dần phục sinh. Chính vì thế, các ngẫu tượng Mukha Linga như ở các tháp Pôklongiarai (xây năm 1303), hoặc tháp Pôromê (xây năm 1659) đều kết hợp tín ngưỡng Bà la môn của Ấn Độ với quan niệm riêng của người Chăm. Điều đó cần được đối chiếu thêm với linga đang được thờ tại chùa Ưu Điềm.

Để giải đáp câu hỏi tại sao phiến đá điêu khắc lễ cưới nữ thần Tuyết, tượng Bà Phật Lồi và cả linga bằng đá cùng nhiều cổ thạch của người Chăm lại có mặt trên đất Thừa Thiên - Huế (tức Thuận Hóa ngày xưa), nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Đình Đầu, Võ Quang Yến, Trần Ngọc Bảo cho biết: “Thuận Hóa là tên gọi của vùng đất Thừa Thiên - Huế đời nhà Trần sau khi vua Trần Anh Tông tiếp nhận hai châu Ô và Lý, là sính lễ của vua Chiêm Thành Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) dâng để cưới công chúa Huyền Trân. Vua Trần đổi tên châu Ô thành châu Thuận và châu Lý thành châu Hóa. Cuối đời Trần, năm 1404, hai châu này được ghép lại thành phủ Thuận Hóa. Vùng đất Thuận và Hóa này được nhập vào Đại Việt sau lễ cưới công chúa Huyền Trân với vua Chế Mân năm 1306. Trước đó người Chăm đã sống ở đây và để lại nhiều di tích như “tảng đá thiêng được phong thần”, tượng nữ thần Tuyết, tượng Bà Phật Lồi, linga “tam vị nhất thể”....

Đó là ở Thuận Hóa. Còn nhìn về hướng Bắc, các khối đá khắc những dòng chữ bí ẩn từ bãi đá nghìn xưa tại Sapa vẫn đang tiếp tục thách đố các nhà khoa học ngày nay giải mã..

Tác giả: Giao Hưởng
Nguồn: www.thanhnien.com.vn



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln



Users browsing this topic
Guest
63 Pages«<4647484950>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.